Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Đính chính về Nguiễn Ngu Í

19/07/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Tp.HCM ngày 19.07.2012

Tg Nguyễn Hòa vcv,

Đọc trên Vanchuongviet 15/07/2012 thấy có bài viết của Trần Văn Nam (phê bình): Những chi tiết mới về văn học qua phỏng vấn của Nguyễn Ngu Í, có vài chỗ sai lầm cần được đính chính.
Vậy xin gởi Nguyễn Hòa để thông tin lại cho tác giả và đính chính trên vanchuongviet.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Bài viết của Trần Văn Nam có câu: Có một thời gian ngồi tù Côn Đảo cùng Hồ Hữu Tường, nhà phỏng vấn Nguyễn Ngu Í (tên thật là Nguyễn Hữu Ngư, quê quán Quảng Ngãi)
Xin được nói rõ:

1) Nguiễn Ngu Í, nên được viết đúng như thế ( không dùng chữ Y dài). Ngay trên cuốn sách Sống và Viết với… do Xuân Thu tái bản tại California sau 1975 cũng ghi rõ tác giả là NGUIỄN NGU Í thay vì NGUYỄN NGU Í.
2) Ông Nguiễn Ngu Í (1921-1979) tên thật là Nguyễn Hữu Ngư, còn có bút hiệu Ngê Bá Lí, Tân Fong Hiệb, Trần Hồng Hừng, Fạm Hoàn Mĩ … (theo cách viết của ông) sinh tại làng Tam Tân (nay là xã Tân Hải) huyện Hàm Tân (nay là Thị xã Lagi) thuộc tỉnh Bình Thuận. (Không phải quê quán Quảng Ngãi như bài viết. Vợ ông, bà Nguyễn thị Thoại Dung mới là người Quãng Ngãi).
3) Ông Nguiễn Ngu Í không có ở tù Côn Đảo cùng với ông Hồ Hữu Tường (như bài viết đã nêu).

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Cựu học sinh “lão thành” trường Phan Bội Châu PT

02/07/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Ghi chép lang thang

Buổi gặp gỡ của cựu học sinh “lão thành” PBC

Đỗ Hồng Ngọc

Trường Trung học Phan Bội Châu Phan Thiết được thành lập vào năm 1952, đến nay vừa tròn 60 năm. Nghe nói đến tháng 11 này, trường sẽ có một “đại lễ” kỷ niệm 60 năm, cũng là dịp thầy trò nhiều thế hệ gặp nhau ở thành Phan.
Không hẹn mà hôm 30/6/2012, tình cờ một nhóm bạn cựu học sinh “lão thành” PBC lại gặp nhau ở buổi khai mạc phòng Triển lãm tranh của một người bạn chung: Họa sĩ Cù Nguyễn, huy chương vàng 1966. Sau đó, kéo nhau ra một quán café bờ hồ, ngồi nhâm nhi biết bao chuyện cũ!xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Một chút tiểu sử, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang: Bãi Phan Thiết

22/06/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 17 Bình luận

“Bãi” Phan Thiết

tặng các bạn PBC

“Bãi” đây dĩ nhiên là bãi biển rồi! Không thể không thiên vị khi nói về bãi biển Phan Thiết của tôi. Với tôi, đó là một bãi biển tuyệt đẹp, đẹp nhất… thế giới, chạy dài từ Cà Ná đến Cù Mi, qua Cổ Thạch, Mũi Né, Lagi, Kê gà… Hồi nhỏ, ở Phan Thiết nghe người ta hay nói “Đá một đá ra Cà Ná cá nuốt”, cứ á, á vậy mà không biết tại sao. Lớn lên, có dịp đi xe lửa ra Nha Trang, ngang Cà Ná mới “á, á” vì đẹp đến nín thở! Bãi sâu mà xanh tận chân trời. Đá từ trên núi cao đổ ập xuống… chỉ chừa một con đường lắc lẻo cho xe vụt qua. Cổ Thạch thì bãi toàn đá bảy màu lổn nhổn, mênh mông. Các cô gái chỉ cần lượm vài cục đá nhỏ, xỏ sợi dây, đeo lên cổ, đủ biến thành một nàng tiên. Mũi Né ngày xưa thì tuyệt vời với Rạng, với những rặng dừa không thua Honolulu, nhưng bây giờ bãi đã bê tông hóa thật đáng tiếc. Các resorts mọc lên như nấm, chia cắt bãi biển thành những lãnh địa, hùng cứ một phương, bảo vệ tuần tra đằng đằng sát khí…

<!.. more..>
Ngay tại Phan Thiết thì xưa có bãi Thương Chánh nổi tiếng (Ơi những con đường ta đã đi/ Gia Long Đồng Khánh mượt xuân thì/ Chân run rẩy cát bờ Thương Chánh/ Gió ở đâu về thơm bước khuya – Đỗ Nghê), nay chỉ còn một chút bãi Đồi Dương, Vĩnh Thủy!
Thế nhưng bãi Phan Thiết luôn có cái hay riêng. Không mơ màng như Đại Lãnh, Dốc Lết… phẳng lặng quá, trong xanh quá, chẳng gợn tí sóng, làm ngại ngần những bước chân. Nha Trang thì ra vài bước đã sụp sâu như cái hồ nước mặn với những đảo nhỏ xung quanh chắn sóng, y như một hòn non bộ. Phan Thiết không vậy. Nước mặn chát, khi đục khi trong, bãi khi trồi khi sụt, chỗ cao chỗ thấp, sóng đập ầm ầm, sơ sẩy lăn cù… Đặc biệt là cát. Cát ở đây hạt to, lởm chởm, như sỏi chưa kịp tán nhuyễn. Đi nghe rào rạo, đau điếng. Nhờ vậy mà… tốt cho sức khỏe. Giống như được châm cứu vào các huyệt ở hai lòng bàn chân, nhất là huyệt dũng tuyền. Sóng ầm ầm như biết xoáy vào các huyệt thận du, chí thất, phế du… Bãi Lagi cũng giống Phan Thiết, cũng trồi sụt bất thường, cũng đầy đe dọa, cũng sóng ầm ầm, cát to lởm chởm … nhưng Lagi hoang sơ hơn nhiều, tắm một mình trên biển vắng cũng hay!
Mỗi lần về Phan Thiết bao giờ tôi cũng tắm biển cho… khỏe người. Bước rào rạo trên cát lởm chởm để được châm chích. Đưa lưng cho sóng dần, xoa bóp. Nhớ nhà thơ Từ Thế Mộng, ngày nào cũng đạp xe đi tắm biển, có lần than: Mấy hôm nay biển thở dài/ Thì ra em bệnh đã vài bốn hôm… Rồi nhớ Nguyễn Bắc Sơn, vào tận Viện Y dược học dân tộc, gặp Trương Thìn, nèo nẹo đòi phổ biến “ý châm”: chỉ dùng ý tưởng, châm đến đâu người ta nhảy dựng lên đến đó, bệnh gì cũng khỏi. Rồi… Nguyễn Như Mây, Liên Tâm, Nguyễn Hiệp, Ngô Đình Miên, Phan Anh Dũng, Lưu Văn Trung … Ghé chùa thăm thầy Huệ Tánh, ghé nhà thờ thăm cha Diễn, thăm Đức ông- nhà thơ Xuân Ly Băng…
Cho nên nói gì thì nói, tôi vẫn cứ mê bãi Phan Thiết.

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Một chuyến về quê

17/06/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 15 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Còn một tháng nữa mới tới ngày giỗ đầu của mẹ mình, nhưng mình đã “tranh thủ” lúc mấy đứa cháu nội ngoại vừa nghỉ hè, cho tụi nhóc đi một chuyến về thăm mộ ông bà Cố và thăm “đất nước quê hương” cho biết đó biết đây.
Quê ngoại mình ngay dưới chân núi Tà Cú, nơi có tượng Phật nằm, dài 49 m, xưa thuộc huyện Hàm Tân, Bình Tuy, nay là Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, cách Phan Thiết 30km, một nơi chưa kịp đô thị hóa, nên còn mang dáng dấp “nhà quê”, rất hạp với mình.

<!.. more..>

Bạn biết không, bọn trẻ bây giờ – nói chung – sinh đẻ và lớn lên ở thành phố lớn thì chỉ có hít bụi khói, ra đường thì che mặt che mũi, giải trí thì vùi đầu vào vi tính, TV… thảng hoặc có đi biển thì ở resort, tắm… hồ bơi (nước ngọt), còn khi muốn tắm biển thì đã có những khu vui chơi giải trí có biển giả, sóng giả! Cho nên cho tụi nhỏ vọc đất vọc cát, đá dế thả diều, đôi ba ngày “nhảy nhót ở miền quê” vẫn là mơ ước của mình.
Quê ngoại mình bây giờ cũng đã bắt đầu thấy phá dần vườn tược, dừa cau, chuối bưởi, mảng cầu, cam quít… để thay bằng thanh long, một loại cây công nghiệp, mà nhờ nó, nhiều mái ngói đã bắt đầu kiểu cọ vươn lên. Chẳng mấy chốc rồi đây sẽ chẳng còn chút nhà quê thứ thiệt nào nữa đâu bạn ơi!
Khi mẹ mất, mình đưa bà về bên ngoại ở Phong Điền, Hiệp Nghĩa cho gần gũi với dòng họ, ông bà, dì cậu, bà con cô bác… Ba mình thì mất đã từ 60 năm trước, cũng được chôn cất nơi đây, chắc chờ đợi cũng đã lâu. Còn quê nội mình thì ở Lagi, nay đã là một Thị xã, cách Hiệp Nghĩa chừng 15 km, đi ngang qua Tam Tân (Tân Hải) là nơi sinh quán của cậu Nguiễn Ngu Í – cho nên ông còn có bút danh Tân Fong Hiệb (theo lối viết của ông), ghép từ Tam Tân, Phong Điền, Hiệp Nghĩa, miền đất quê hương.
Miền đất này vốn xưa của người Chăm nên có những địa danh ngộ lắm, nào Tà Cú, Tà Đặng, Tà Dôn, Tà Lài, Tà Mon… nào Hàm Tân, Hàm Thuận, Hàm Cường, Hàm Kiệm, Hàm Thắng… nào LaGi, La Ngà, La Gàn, La Ngâu… Nghe nói hình như Tà có nghĩa là núi, Hàm là ruộng còn La là sông thì phải! Ngoài núi non, đồng ruộng, vườn tược, động cát, bãi biển… còn có mũi Kê Gà, nơi có ngọn hải đăng nổi tiếng, được xây lắp từ hơn trăm năm trước vẫn sừng sừng giữa biển khơi.
Xe dừng ở Long Khánh để ăn bánh căn rồi đi thẳng một mạch đến Cây số 30, quẹo phải về Hiệp Nghĩa. Con đường ruộng từ nhà cậu Năm ra giồng – một động cát mênh mông- nơi nghĩa trang gia đình đã bị hư hỏng nặng vào đầu mùa mưa này nên mình quyết định cho tụi nhỏ đi xe… bò! Xe bò vùng này lâu nay chỉ quen chở đất, chở cát, chở thanh long, nay chở mấy nhóc xanh xanh đỏ đỏ xí xô xí xào khiến con bò đực hoảng sợ, kéo xe vụt chạy… Mấy nhóc lần đầu được đi xe bò khoái chí lắm! Đường ruộng gập ghềnh, toàn lỗ chân trâu, chân voi, nhiều vũng nước đọng, hai bên là ruộng lúa xanh rờn, vườn thanh long đỏ chóe, núi Tà Cú xa mờ, bóng dừa nghiêng nghiêng bên triền dốc…
Bò cứ phom phom kéo xe lên đồi cát. Nghĩa trang đầy nắng và gió. Con cháu đốt nhang vái lạy ông bà Cố, ông bà Sơ, bà con dòng họ mộ khắp xung quanh.
Trưa cả nhà về nghỉ ở một resort ven biển, trên đường từ Ngảnh về Bàu Dòi, qua khỏi Dinh Thầy Thím một chút. Biển nơi này vẫn còn hoang sơ lắm. Mình cứ đi lang thang trên bãi, ngược về phía Ngảnh, nơi đó có mộ Cậu Ngu Í và ông bà Giáo. Một con rạch nhỏ chảy từ hồ nước ra biển. Nơi này, mùa nước lũ, rạch trở thành sông, hung hãn, có chỗ sụp sâu rất khó qua. Hồi còn nhỏ, mỗi lần đi dọc biển về quê ngoại ngang qua đó mình sợ lắm, cứ tưởng tượng có những con quái vật từ lòng hồ vươn ra… Mẹ mình thì kể hồi đám cưới bà, rước dâu từ Hiệp Nghĩa về Lagi, đi dọc biển, cô dâu được cỡi ngựa qua con lạch này đây!
Mình vốn mê biển nên chiều đó đã cùng bọn nhỏ ào xuống nước cho đã.
Hôm sau, ghé thăm căn nhà nhỏ của mẹ mình ở Lagi. Mình vốn thích căn nhà đơn sơ tuềnh toàng này. Trước kia có cây xoài thật to đầy trái trước sân nhưng từ khi mẹ mình qua đời thì cây xoài cũng héo khô rồi qua đời theo! Mấy nhóc về nhà bà cố, được nằm võng, được nằm ván ngựa mát rượi cũng rất khoái trá!
Trên đường về Saigon, cả nhà ghé ăn trưa ở Vên Vên, rồi thăm rừng nguyên sinh Bưng Riềng một chút.
Bạn coi, một chuyến về quê… tốc hành có 2 ngày vậy mà tham quá, leo trèo nhảy nhót cùng mấy nhóc, hết lên rừng lại xuống biển nên về đến nhà mình đã oải thực sự mất cả tuần! Hóa ra già mà không hay! Vì vậy mà thư này viết cho bạn hơi trễ.
Bù lại, mình gởi bạn mấy tấm hình “phóng sự” để bạn coi chơi cho đỡ nhớ!
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang: GIA ĐÌNH NỮ HỘ SINH

04/06/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 11 Bình luận

GIA ĐÌNH NỮ HỘ SINH

Ghi Chú: Trường Nữ hộ sinh Quốc gia tại Sài gòn được thành lập năm 1947. Năm 1975 trở thành ngành Nữ hộ sinh trường Trung học Kỹ thuật Y tế 3- Bộ Y tế. Năm 1998 sáp nhập vào Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh, trở thành Bộ môn Hộ sinh. Gia đình Nữ Hộ Sinh được hình thành vào năm 2001, do một số các chị em NHS đứng ra tổ chức nhằm họp mặt hằng năm, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, tặng học bổng cho đàn em và ra một tập san kỷ niệm. Năm 2011, Gia đình Nữ Hộ Sinh tổ chức họp mặt kỷ niệm 10 năm. Hôm đó tôi nhớ chỉ có 3 vị “đàn ông” là BS Nguyễn Lân Đính, Đỗ Hồng Ngọc và anh Mai Huỳnh, phu quân của cô Tâm Giao (cô là huấn luyện viên nội trú, đã mất 2003). Tôi được mời phát biểu như một cựu giảng viên của trường những ngày xa xưa. Tính ra cũng đã 40 năm!  Bạch Nhạn, NHS khóa 28 (1973-1976), sau khi gắn huy hiệu Gia đình NHS cho tôi đã nhắc lại một kỷ niệm ngày thi “vấn đáp” năm đó, có cô Nguyễn Thị Ngọc Phượng và thầy Đỗ Hồng Ngọc ngồi giám khảo, cô Phương đã “quay” cô tận tình đến nỗi thầy Ngọc phải kêu “Thôi, tha cho nó đi!”. Mới đó mà đã 35 năm rồi! Các cô đã ghi băng lời phát biểu của tôi và gởi lại tặng. Nay xin chia sẻ cùng các bạn, các chị NHS gần xa như một kỷ niệm. (ĐHN).

Phát biểu của BS. ĐỔ HỒNG NGỌC
Nguyên giảng viên Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia Sài Gòn

Kính chào các chị và các bạn,

Tôi thật hết sức cảm động thấy hôm nay có buổi họp mặt nhiều thế hệ Nữ hộ sinh Saigon như thế này. Tôi có khá nhiều kỷ niệm tại Bệnh viện Từ Dũ và Trường Nữ hộ sinh quốc gia, bởi vì từ năm 1965, tôi đã được thực tập tại đây và năm 1972 tôi đã có dịp tham gia giảng dạy cho  Trường về môn Nhi khoa. Bà mẹ đương nhiên là dính tới trẻ em rồi, nên NHS phải học môn Nhi khoa để biết chăm sóc trẻ sơ sinh. Lúc đó tôi đang làm việc tại B.V Nhi Đồng Saigon và đã có ít nhiều kinh nghiệm, nên được BS Dương Thị Thanh Liên – một đàn chị, một bậc thầy của tôi ở Nhi Đồng- mời giảng dạy khoảng 40 tiết Nhi khoa cho trường NHS.

Tôi vẫn còn nhớ những năm đó dạy ở Trường Nữ hộ sinh rất là thú vị, vui lắm, các cô rất chịu khó học. Bây giờ thỉnh thoảng tôi đi các tỉnh làm việc, ngạc nhiên gặp lại các chị NHS tuy đã nhiều tuổi vẫn còn nhớ “Thầy Ngọc” và ân cần niềm nở nhắc lại những kỷ niệm xưa.

Hôm nay được dự buổi họp mặt này, nghe các chị các cô nhắc lại những hình ảnh cũ tôi rất xúc động. Bởi vì đã sống và lớn lên ở Sài Gòn này và  gắn bó với trường Nữ hộ sinh cả 10 năm trời nên có nhiều kỷ niệm lắm. Sau năm 1975, tôi vẫn được chị Ba Thương mời tiếp tục giảng dạy môn Nhi khoa như cũ. Đặc biệt những năm đó tôi còn nhớ BS Nguyễn thị Ngọc Phượng và tôi ngồi hỏi thi vấn đáp tốt nghiệp NHS rất vui. Buổi thi vấn đáp thực chất là một buổi học mở rộng, với những tình huống “hốc búa” dựa trên thực tế. Khi một cô sinh viên được mời lên thì tất cả các cô khác đều có mặt để dự nghe. Đó là cơ hội rất tốt để được học thêm.  Dĩ nhiên không cô nào phải bị rớt ở phần “vấn đáp” này.

Tôi tiếc đến trễ,  nên chưa được gắn huy hiệu Gia đình NHS này. Đẹp và ý nghĩa lắm. Lát nữa nhớ cho xin một cái nhé! Những bài phát biểu của các chị nãy giờ rất cảm động, nhắc nhở những kỷ niệm dưới mái trường. Có một chị có nhận xét rất hay là trên huy hiệu thay vì vẽ cái hình ảnh tử cung thì vẽ trái tim, bây giờ tôi mới nhớ hình ảnh tử cung cũng giống như trái tim thôi!

Kỷ niệm mà tôi nhớ nhất đối với Bệnh viện Từ Dũ đó là năm 1965 tôi đang là sinh viên y khoa năm thứ 3 đi thực tập tại đây, còn lớ ngớ lắm. Thời đó sinh viên y khoa học 7 năm,  năm thứ 3 mới được đi thực tập đở đẻ, mà phải đỡ được 20 cas sanh thường. Những lần đầu lớ ngớ không biết gì, nhờ các chị NHS hướng dẫn cho. Lúc đó có chị Hạ Thị Dung, chị Trương thị Lệ… mấy chị rành lắm và rất tử tế, giúp tôi đợi ở phòng trực để “bắt ca”. Phải lựa những “ca” dễ dễ một chút,  đừng có chọn trường hợp mới sanh con đầu lòng hay đã có nhiều con mà phải chọn sanh con thứ 2 chẳng hạn, nhất là đừng có bệnh hoạn gì hết. Tôi nhớ cái phòng sanh trên lầu, hình vòng cung, che kiếng, nhìn ra ngã tư đường Cao Thắng và Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn thị Minh Khai).  Những năm đó Saigon rất lộn xộn, thời chiến tranh mà! Đường phố nhộn nhịp những nhóm người đi biểu tình. Nhưng ở bên trong phòng sanh yên ả, mọi người lo nhiệm vụ của mình. Tôi theo dõi, chăm sóc sản phụ, đến gần sáng thì sanh xong. Lúc đỡ được em bé ra mẹ tròn con vuông thì tôi rất là xúc động và ngay tức khắc viết một bài thơ. Vậy thì không có lý do gì mà hôm nay tôi không đọc cho các cô các chị nghe, đúng không? Bài thơ đó có tên là THƯ CHO BÉ SƠ SINH, giống như mình là đàn anh viết cho em bé mình mới đỡ đẻ ra, nên tôi gọi là cái “thư”. Bài thơ đó như vầy:

Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen

Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ

 Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến

Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút đó
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu

Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng, với hoang mang,
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người…

Bài thơ tôi viết rất nhanh, chừng mươi phút là xong. Lúc làm rapport (báo cáo bệnh án) cho thầy, tôi cao hứng chép luôn bài thơ vào đó. Sáng hôm sau  Giáo sư Hoàng Ngọc Minh, chắc các chị còn nhớ thầy Hồng, thầy Minh, coi bệnh án, kêu tôi vô rầy : “Đỡ đẻ không lo đỡ đẻ, lo làm thơ !”. Tôi nói tôi đỡ đẻ đàng hoàng rồi mới làm thơ, thì thầy cười. Sáng hôm sau tôi ngạc nhiên thấy bài thơ đã được ai chép trên bảng đen và các bạn sinh viên y khoa với các NHS thời đó thuộc bài thơ này rất nhanh. Rồi bài thơ được đăng ngay trên báo Tình Thương của SV Y khoa Saigon nữa. Năm 1973, tôi bất ngờ thấy BS Lương Phán, giám đốc một bệnh viện  đến gặp, nói xin bài thơ đó để đăng trong tập san Y học của ông.  Sau đó bài thơ lại được nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu -lúc đó đang ở trong tù- đọc được (từ tạp chí y học này) và đem phổ nhạc. Năm 1975 anh Phạm Trọng Cầu ra tù, chống nạng tìm đến nhà thăm tôi, tặng tôi bài nhạc. Ổng nói bài này ổng phổ Thư cho bé sơ sinh là có ý để cho Thái Thanh hát, bây giờ không còn phù hợp nữa rồi nên tặng tôi làm kỷ niệm thôi!

Chị Thúy Hiền, Trưởng BĐD thay mặt Gia đình NHS nhận tập thơ "Thư cho bé sơ sinh" thầy Ngọc tặng.

Cách đây hơn mười năm, có 3 vị bác sĩ ở ngoài Bắc, là giảng viên trường Trung học y tế tỉnh Phú Thọ vào thực tập chỗ tôi, Trung tâm Truyền thông- Giáo dục sức khỏe Tp.HCM, trong lúc trò chuyện bất ngờ biết tôi là tác giả bài thơ Thư cho bé sơ sinh thì thầy Nguyễn Hồng Hải đã ôm chầm lấy tôi cảm động hỏi ủa anh là tác giả bài thơ này đó hả ? Thầy nói mười mấy năm nay, năm nào thầy cũng đọc cho lớp NHS ở trường Trung học y tế Phú Thọ nghe mà không biết tác giả là ai, chỉ nói là của « khuyết danh » thôi. Gần đây, tôi lại thấy bài thơ xuất hiện trên Internet, với bản dịch tiếng Anh. Tìm hiểu mới biết là của một kỷ sư trẻ, hình như đang làm việc ở nước ngoài (?), một bản dịch với lời bình khá hay trên Phát’Blog 2004.

Hôm nay rất mừng được biết các hoạt động của « Gia đình Nữ Hộ Sinh », và nghe đã được mở rộng ra trên toàn quốc,  một điều rất quý. Tôi nghĩ  ngoài những hoạt động như cấp học bổng, tổ chức những buổi giao lưu, du ngoạn… cho các chị đa số có tuổi cũng nên mở rộng cho những NHS trẻ tham gia. Tre già măng mọc. Tre mà còn làm việc được thì cứ tiếp tục, nhưng măng cứ mọc thì nó sẽ sôi động hơn. Nếu có thể thì tổ chức thêm các buổi sinh hoạt khoa học kỹ thuật của ngành Hộ sinh để nâng cao trình độ, cập nhật những tiến bộ mới mẻ của ngành này trên thế giới, tiếp tục duy trì chuyện học của mình, chớ đừng để thời gian trôi mà mình không có tiến bộ. Chẳng hạn gần đây tôi thấy bên Thụy Điển có những phương pháp hộ sinh rất hay, và tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh thấp hơn cả ở Mỹ và Nhật. Họ không bắt sản phụ nằm dạng chân khó chịu trên giường sanh nữa, mà để họ tùy nghi, đi lại, bò, lăn, ôm chân giường, chân bàn, chân ghế… miễn sao thấy dễ chịu. Nằm trên bàn, cột tay cột chân rặn đẻ rất khó, nó không tự nhiên! Trở lại với thiên nhiên, giống như hồi xưa sản phụ đau đẻ, chạy vào rừng, ôm gốc cây rặn đẻ, xong bồng đứa nhỏ nhúng xuống nước suối cho nó khóc thét lên giống như mình xịt alcool, vỗ mông bây giờ vậy. Nhưng có điều là phải vệ sinh vô trùng, tránh tétanos. Nhờ học mãi, chúng ta thấy chúng ta còn trẻ lâu hơn chứ không thì thời gian nó trôi mau lắm!

Tôi có đọc tập san Gia đình Nữ hộ sinh của các chị, thấy rất dễ thương và  cảm động, có cả những bài viết tay cũng được đưa vào với hình ảnh nhiều thế hệ, kẻ còn người mất. Nhưng nếu được chúng ta tập hợp nhiều người viết hơn nữa, rồi sắp xếp lại cho nó hay hơn. Nhờ giới trẻ, mấy em sinh viên trẻ giỏi vi tính hơn mình,  giúp dàn trang, trình bày thì tập san sẽ là một sợi dây để nối kết tốt lắm.

Xin chân thành cảm ơn và chúc sức khỏe.

 

( Từ Dũ 4.12.2011)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang: 3 năm “.COM”

22/05/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 19 Bình luận

3 năm “.COM”: Một vài ghi chú

“.Com” 3 năm là một quãng thời gian … hơi dài ngoài dự kiến ban đầu của tôi. Thế nhưng, phải công nhận “thế giới ảo” cũng có cái hay của nó. Trong một lúc, cùng một lúc, mình như tiếp cận được với mọi người trong… thế giới thật! Nối kết bạn bè anh em năm châu bốn bể thật đông vui, thật bất ngờ. “Văn là người” nên nhiều khi chỉ cần đọc nhau một chút thôi thì người ta đã là bạn thiết của nhau. Nhờ “.Com” tôi học được nhiều mà cũng chia sẻ được nhiều, được gặp lại các bạn bè xưa, các thân chủ cũ vẫn còn nhớ đến mình. Có những vị là tu sĩ, cư sĩ nhiều nơi biết tiếng mà chưa từng được gặp, lại hẹn hò đàm đạo bên tách cà phê cạnh hồ Đông vắng vẻ; có những buổi gần giống như “offline” với một nhóm bạn trẻ nào đó chưa quen…
Dịp này có một bài viết của NguyễnThanh Thúy, Hội Quán Các bà mẹ, một ghi nhận từ Phùng Minh Bảo, SGC, người đã giúp hình thành và phát triển www.dohongngoc.com/web/ này.
Xin được chia sẻ và chân thành cảm ơn tất cả.
Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon 22.5.2012)

Nguyễn Thanh Thúy
Viết nhân 3 năm www.dohongngoc.com/web/

Thế hệ của chúng tôi được nghe đến tên bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc rất nhiều qua báo Mực Tím. Rồi một lần tình cờ, cách đây 15 năm khi làm việc tại Phan Thiết, tôi tìm mua vài thứ làm quà tặng cho cô em chồng sắp làm mẹ. Không biết run rủi thế nào tôi vào nhà sách và mua được cuốn “ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của ông để gửi về quê. Ngày đó, cuốn sách chưa được quấn quanh bằng một vòng bao nylon như bây giờ nên tôi có dịp đọc qua nội dung. Bẵng đi 5 năm sau, khi được làm cha mẹ, vợ chồng tôi lại trang bị ngay cuốn sách ấy làm “ bửu bối” nuôi con. Thực sự, tôi chỉ biết đến ông là một bác sĩ nhi khoa và bỗng một hôm lại phát hiện bác sĩ còn là một nhà thơ với bài “ Nhờ nguồn sữa mẹ” mà nhạc sĩ Quang Tứ (giáo viên trường Phú Định, Quận 6 ) phổ nhạc (1984) được in lại trong cuốn “ Trông vào sữa mẹ” của Bác sĩ Nguyễn Lân Đính. Đã 25 năm rồi và tôi vẫn còn giữ cuốn này.

Thế rồi, trong những ngày đầu thành lập Hội Quán Các Bà Mẹ tôi thường tìm đến Hội Quán Đến Với Nhau do Cô Nguyễn Thị Oanh sáng lập để sinh hoạt, tôi lại được nghe Cô nhắc đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nghe chị Thúy Ái kể về chuyện nuôi con theo sách của bác sĩ, tôi cũng không nghĩ mình có cơ duyên gặp ông. Đến một ngày, cách đây 3 năm, trong lúc mon men tìm một số thông tin để đưa lên trang www.hoiquancacbame.com ( trang gốc này đã bị mất sau 3 năm, cuối năm 2011) tôi bị lạc vào www.dohongngoc.com/web/ và đọc mê mẩn. Nhìn thấy trên website có ghi “ Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả”. Rõ ràng, mình có mục đích khác: phổ biến kiến thức trên website của các bà mẹ nên tôi mạo muội viết e-mail để liên lạc với tác giả. Tôi hồi hộp chờ đợi ý kiến của bác sĩ và nhận được câu trả lời đồng ý của ông. Tôi xúc động lắm vì không ngờ, nhờ có “.COM” đã kết nối được với một nhân vật hết sức đặc biệt.
Những buổi đầu lên tận Pleiku để chia sẻ kiến thức sinh con, làm mẹ với các bà mẹ tương lai, tôi và cô bạn Quế Phương ( người đồng sáng lập Hội Quán Các Bà Mẹ ) đã tham khảo bài viết “ Con vào dạ, Mạ đi tu” của bác sĩ trong tạp chí YÊU CON ngày 14/7/2008 để trò chuyện cùng chị em. Cả hai chúng tôi cùng bảo: vị bác sĩ này giống bác sĩ sản khoa quá, cổ động cho sữa mẹ và giúp cho người làm mẹ được thoải mái tâm thần, không bị ức chế trong lúc nuôi con… Tôi lưu tâm đến chuyện này và sau một số lần thực hiện chuyên đề Thai giáo, chúng tôi có điện thoại mời anh nhưng chưa được gặp. Một lần, đọc bài viết “ Đôi bạn bên hồ” của Ngân Hà viết về bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn, tôi điện thoại hỏi ngay “ Hà quen bác sĩ ĐHN sao?”… Thế rồi, trong chuyến ra Hà Nội hợp tác cùng O2TV, tôi và chị Hà Nguyệt Thu thống nhất mời 2 bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và Nguyễn Chấn Hùng cùng tham gia chương trình. Rất tiếc bác sĩ Ngọc không đi Hà Nội lần đó được.

Tuy vậy, tôi vẫn thường trao đổi và xin ý kiến cố vấn của ông qua e-mail. Là khách thường xuyên ghé trang nhà của bác sĩ, tôi thật không ngờ, nhờ trang mạng tưởng chừng như ảo mà lại rất thật này, tôi được gặp GS Trần Văn Khê giữa đời thường và phát hiện giáo sư là người đã được “thai giáo” một cách bài bản và đã áp dụng để dạy lại cho con trai đầu của mình. Ngay chuyên đề đầu tiên: “ Thai giáo và tác dụng của hát ru đối với Thai nhi” được tổ chức ở nhà GS Khê, bác sĩ đã đưa lên trang dohongngoc.com, giúp nhiều người biết đến Thai giáo. Điều làm chúng tôi xúc động hơn cả, chính là sự có mặt lần đầu tiên của ông trong buổi ra mắt cuốn sách “ Thai giáo- Phương pháp khoa học dạy con từ trong bụng mẹ” . Sau đó là những buổi trò chuyện của ông về Stress trong đời sống, Thiền và thai phụ… Không chỉ dừng lại ở đó, nhờ trang www.dohongngoc.com/web/ mà chúng tôi được biết đến nhiều nhân vật nổi tiếng khác như BS Trương Thìn, nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương…
Ngày xưa, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã nhờ có những cuốn sách của ông Nguyễn Hiến Lê làm “kim chỉ nam”, thì nay chúng tôi nhờ www.dohongngoc.com/web/ , một “ thế giới phẳng”, mà chúng tôi học và khám phá được nhiều thứ hơn nữa: khi là một danh thắng (chùa Phật Quang, Phan Thiết ), lúc lại là một nhân vật ( Thầy Huệ Tánh)… và hơn cả là những nội dung đầy cảm xúc ghi lại từ những buổi gặp mặt các bà mẹ ( Người lớn học gì từ con trẻ?), những Lá thư gửi bạn xa xôi…
Và điều quan trọng là chúng tôi đã phát hiện ra chính vị chủ nhà hết sức uyên bác này mới đầu nhìn thấy “ khó đăm đăm” khiến chúng tôi “ kính nhi viễn chi” gần 3 năm trời, không chỉ là “một nhân vật vốn rất đỗi quen thuộc của các … bà mẹ” mà còn là một người hết sức chân tình, hóm hỉnh và đầy tài hoa: với rất nhiều chữ sĩ: bác sĩ, họa sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ…!
Cám ơn trang nhà www.dohongngoc.com/web/.

Sài Gòn 18/5/2012
Thanh Thúy- Hội Quán Các Bà Mẹ

 

Phùng Minh Bảo, SGC:

• Tính đến 22/5/2012, đã có 321.089 lượt truy cập, với 732.776 trang được xem, số bạn đọc online thường xuyên từ 5-10 người trong một lúc.
• Có 488 Bài viết, 34 Categories, 1258 Thẻ và 2914 Comments.
• Hệ điều hành (HĐH) máy tính sử dụng phổ biến nhất theo thứ tự là: Windows XP, Windows 7,… và có HĐH của smartphone như Symbian (Nokia), Android, OSx (iPhone)
• Các trình duyệt sử dụng phổ biến nhất là: Chrome, Firefox, Safari mobile (Iphone), Internet Explorer 8, Opera Mini (mobile)
• Quốc gia truy cập nhiều nhất là Vietnam (90%) Mỹ (5%), Úc (3%), phần còn lại rất nhiều nước: Nga, Balan, Tiệp khắc, Na Uy, Thụy Điển, Nhật, Kampuchia…
• Nhiều người thường xuyên cập nhật bài viết mới qua email và có phản hồi tích cực.
Góp ý cải tiến: Nên tích hợp website với Facebook và Google+. Thỉnh thoảng nên làm 1 buổi live interview (3 tháng /lần chẳng hạn) với một số khách mời, hỏi đáp và tương tác.

Bao Phung Minh (bao.pm@sgc.vn)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang: Đọc Thơ bạn… già

11/05/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Đọc Thơ bạn… già

Thơ thì không có thơ già thơ trẻ, chỉ có thơ hay và thơ dở, nhưng bạn thì có bạn già, cho nên thử đọc:

Lâm Anh

Nghe qua điện thoại, giọng khao khao, cứ tưởng Lâm Anh đang ốm nặng. Nhưng không, anh vẫn bệ vệ và oai phong, hết ly này đến ly khác cùng bè bạn anh em trong buổi ra mắt tập thơ Quá Giang Thuyền Ngược (Nxb VHTT, 2012) khá hoành tráng ở Café Hoa Hồng, Kỳ Hòa ngày Chủ nhật 6/5 vừa qua với hằng trăm văn hữu khắp nơi đến chung vui.
Thơ Lâm Anh như Trần Hoài Thư viết: “… Thơ ông chính là hơi thở. Và hơi thở chính là thơ ông. Ông gánh giùm khổ nạn. Ông chở giùm hạnh phúc. Ông mang giùm quê hương…”.
……
“Áo thu xanh vàng nắng
Đẫm xót tình quê hương
Ta sờ tay vào túi
Bỗng đụng nhầm khói sương”
……..
(Chiếc áo cũ, tr 53)

Đỗ Nghê và Lâm Anh (6/5/2012)

Từ nhiều năm nay Lâm Anh “quy ẩn” ở Cát Tiên, giọng vẫn khao khao qua điện thoại, đến nhé, anh Đỗ Nghê, nhớ đến nhé:

Lửa chiều hôm em thổi bùng hồng
Tôi chợt cháy và sương chợt đỏ
Nồi cơm trắng như sôi cùng gió
Cây ngoài vườn dường cũng sôi xanh.
( Chiều hôm ở Cát Tiên, tr 96)

 

Trần Vấn Lệ

Tôi không nhớ nổi Trần Vấn Lệ có bao nhiêu bút danh, nhưng cứ đọc là biết ngay của Trần Vấn Lệ, mặc cho anh muốn ký bên dưới bài thơ bút hiệu nào!

Một Tháng Vô Duyên Một Ngày Vô Nghĩa

Một tháng, vô duyên vào bệnh viện, đòi ra Bác Sĩ chẳng cho ra! Đọc chồng báo cũ mờ con mắt, nào có thấy gì, cả thấy ta!

Nằm ngữa thì không sao ngủ được, nghiêng qua bên trái, ngực đau đau, nghiêng qua bên mặt rồi co cẳng, ngồi dậy mà đi chắc té nhào?

Anh Ngọc Hoài Phương vừa mới gọi, nói lời buồn quá, nói về Thơ: “Cuối đời thôi thế là Thơ cạn, ngày mới chiều qua thôi đã xưa!”.

Quả thật hôm qua đã mịt mù, hôm nay rồi cũng sắp mờ lu! Huơ tay làm rớt dăm tờ báo, ngó xuống tưởng vườn ngập lá Thu!

Một tháng…buồn chân đi khám bệnh, tưởng là khám giỡn té ra…đau! Đau tim, đau phổi, đau gan, ruột, đau hết châu thân, chẳng chỗ nào!

Buồn nhỉ, cái câu “Sinh Lão Bệnh…”, giấu chơi chữ Tử để lòng vui. Lòng vui không thể vì đau ruột. Mai mốt có người viết tiếp thôi!

Một tháng vô duyên mà hữu lý! Tưởng là Thơ cạn lại còn Thơ! Chưa bao giờ vậy, Thơ mình dở, muốn xé đi thì sợ xót xa…

Phải chi mình xé được thơ mình, sống chết an nhiên cảnh thái bình…dẫu biết là mơ, không có thật, mỗi ngày vô nghĩa – một bình minh!

 

Hoàng Lộc

Cho Dẫu Phù Vân (Nxb Hội Nhà Văn 2012) là tập thơ mới nhất của Hoàng Lộc. Anh là tác giả của Thơ học trò (1965), Trái tim còn lại (1971), Qua mấy trời sương mưa (1999). Bài thơ dưới đây không thấy trong tập “Cho dẫu phù vân” nhưng… nó đúng giọng Hoàng Lộc, dù anh nói bài thơ đã viết hồi trẻ, chớ bây giờ… bực cũng hết nổi rồi, tôi vẫn không tin! Bài này thấy trên xunau.org, với rất nhiều lời bình của bạn bè… vui đáo để! Xin chia sẻ.

Bực tức ca
Hoàng Lộc

cái bụng tròn và cổ nổi gân xanh
hắn đã làm chi em mà em ra thế ấy ?
một chút đắng cay, vô số bất bình
lạy trời cho ta thôi đừng ngó thấy !
.
chính hắn đã làm em ra nông nỗi vậy
để xa lơ thời má đỏ môi hồng
ta đã từng trời xanh cho lòng em dong ruỗi
tình mười năm còn lặng lẽ vầng trăng…
một thuở diệu kỳ mười ngón búp măng
ta đã từng nước trong khi bàn tay dính mực
đã từng cỏ non khi em vừa cao gót
trắng hoa khôi phơ phất áo sân trường
.
chỉ mấy tháng nhà người – em nỡ nào thiếu phụ
lạ vườn chiều thê thiết một mùi hương….
.
cổ nổi gân xanh và cái bụng tròn
em ngốn trái khế chua bên hè phố chợ
lạy trời cho ta thôi đừng thấy nữa
để xin một đời nhớ nhớ quên quên
để khỏi một đời lực bực với chồng em.

(6.5.2012 xunauvn)

Trích vài comments trên xunau.org:

Do Hong Ngoc

Tôi có gởi tặng Hoàng Lộc một bài thơ nhỏ:
LÁ
Lá chín vàng
Lá rụng
Về cội…
Em chín vàng
Chắc rụng
Về anh…
(Đỗ Nghê)
Như vậy thì Hoàng Lộc cũng như những nhà thơ… “trời gầm” (chữ TranDzaLu) mình cứ yên tâm chờ… vậy!
Nhưng chữ “chắc” nghe sao không…chắc lắm nhỉ?!

Hoa Ti Gôn

Em
chín vàng
rụng xuống
cho anh
….
rụng rời!

VinhRùa

cho anh
(…nghe nặng…)
(…trái sầu…)
rụng rơi [chữ “rời” dư dấu huyền]

Hoàng Lộc

Đọc bực tức – anh chị em bực là đúng rồi
Mang Viên Long cũng tức như Nguyễn Quy vậy mà.
Chỉ mừng cho những Áo Lụa Vàng, Yến Du.. nghe bài thơ buồn
và…dễ thương!
Thăm Trần Dzạ Lữ. Chúc vui khỏe. Mong gặp một ngày…
Xin thăm luôn Nguyễn Đăng Trình, Văn Công Mỹ.
Bực tức ca chơi hồi còn trẻ. Bây giờ cũng hết hơi để… bực !
…….
Anh Đỗ Hồng Ngọc ơi – bài thơ nhỏ của anh đã post lên trang thơ
Hoàng Lộc mấy ngày trước đây. Đúng là chắc chi mà…em ấy rụng về !

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

VIỆT LINH “Xin lỗi bản thân”

11/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

VIỆT LINH “Xin lỗi bản thân”
Đỗ Hồng Ngọc
“Chuyện và truyện” của Việt Linh là một tập sách đáng đọc. Bài nào cũng đọc được nhưng với tôi, tôi chỉ chọn một bài thôi: Xin lỗi bản thân (trg 127).
Nói lời xin lỗi với ai đó thì dễ chớ xin lỗi chính mình chẳng dễ chút nào đâu! Cho nên không lạ khi Việt Linh phải bày ra cái cách viết thư cho một người nào đó mà thực ra là cho chính mình, thì thầm bên gối, vẻ như ân cần, nhỏ nhẹ mà nghe ra chì chiết, đắng cay. “Với những gì đã xảy ra, nếu là con chị đáng bị đánh đòn. Nếu là cha mẹ chị đáng bị lên án. Nếu là nguyên thủ, chị đáng bị phế truất!”.

Chuyện gì đó vậy? Chuyện Việt Linh làm việc như điên, hút thuốc lá như ống khói tàu, thức trắng đêm này qua đêm khác, đầu óc lúc nào cũng căng như sợi dây đàn… để rồi một hôm run rẩy đánh rơi cái ly đang cầm trên tay, gục xuống và phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện vì… tai biến mạch máu não! May mà qua khỏi, nhưng di chứng đeo đẳng…
Việt Linh bảo mình đã thực sự “thảng thốt, chao choáng” lúc bắt đầu viết bức thư này. Dễ hiểu thôi. Làm cái nghề đạo diễn, bóc tách tâm lý nhân vật, hô phong hoán vũ ở phim trường thì dễ chứ khi chính mình “bóc tách” mình quả là khó. Cho nên khi kết thúc bức thư, cô nói: “Như trả xong một món nợ”. Phải. Nợ ân tình. Nợ chính mình. Một cảm giác nhẹ nhàng như một người xưng tội và được tự mình tha thứ cho mình. Thế nhưng, Việt Linh không dừng ở đó, cô muốn làm một điều gì khác nữa, cho những ai khác nữa, mà trước hết cho những người thân, bức thư đã như “Một lời kêu gọi thiết tha”, một cảnh báo, một nhắc nhở.
“Ngoài di chứng tê đau khiến chị luôn phải cắn răng chịu đựng, trong chị còn có thêm một di chứng khác: chị hay rùng mình run sợ. Rùng mình khi nghe người thân nói đau đầu. Rùng mình khi thấy người thân thức khuya, hút thuốc, ăn mặn…”
Lần đó, sau cơn bạo bệnh, Việt Linh về Pháp, gởi tôi cái “email” hỏi cách chữa các di chứng tê đau chịu không nổi của cô. Tôi “reply” liền. Nhưng Việt Linh “đổ quạu”: “Em hỏi anh là hỏi kinh nghiệm cá nhân anh, một bệnh nhân, nếm trải và phục hồi thế nào sau cơn bệnh… chứ bên Tây này em có tới 3 bác sĩ chuyên khoa thần kinh, tim mạch, vật lý trị liệu chăm sóc cho mình rồi, đâu có cần ông bác sĩ trong anh nữa. Em cần là cần ông bệnh nhân trong anh kìa!” Vậy là tôi đành chia sẻ với Việt Linh cách khác.
Bây giờ thì Việt Linh “khôn” rồi, chẳng thèm “dại” nữa. Việt Linh biết nghe ngóng tiếng nói của từng tế bào trong cơ thể mình. Việt Linh biết đi nghiêng nghiêng kiểu của mình, dựa vào ai đó cùng đi cho khỏi ngã mà người ngoài nhìn vào tưởng cô đang có một cử chỉ… âu yếm! Việt Linh đã biết nuông chiều mình bằng cách đóng riêng một chiếc giày có đế ngang cho hợp với cái chân cà khêu…

Chia sẻ trong buổi giao lưu ở Hội sách (24.3.2012) cô nói: Tôi đã biết chấp nhận. Tôi hiểu cơ thể mình. Tôi làm quen với bệnh. Tôi sống chung với nó và “có giải pháp cho nó”. Nghĩa là đã biết thích nghi. Biết “hòa hợp”.

“Từ bi với mình” không dễ đâu! Người ta có khuynh hướng hành hạ mình, bốc lột mình, than thở phiền trách mình, thậm chí nguyền rủa, căm thù mình nữa. Viết Linh viết: “Từ nay chị sẽ không ảo tưởng sự hồi phục toàn diện, sẽ an lòng sống chung với đau, với tê, với yếu ớt, mong manh… để hiểu sự trả giá hôm nay là đích đáng. Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, rất nhiều đêm chị đã thầm rơi nước mắt, tiếc đau những sai lầm trước đó: hàng chục lần nhức đầu, hàng trăm đêm thức trắng, hàng vạn điếu thuốc trong vòng mấy mươi năm… Các mạch máu trong người chị hẳn đã vô cùng đau đớn, đã nhẫn nại kêu than, chịu đựng biết bao ngày…”

Và rồi, qua một cơn bệnh ngặt nghèo, cô còn nhận ra “biết bao nghĩa tình sâu nặng” đó đây của bè bạn, người thân, thầy thuốc… chung quanh: “Cùng với lời xin lỗi, chị cảm ơn bản thân đã giúp chị sáng mắt. Chị đã bỏ hẳn thuốc lá, sinh hoạt điều độ, bớt ăn mặn, tập yoga, đi bác sĩ thường xuyên, biết sưu tầm những bài thuốc hay cho cơ thể… Tóm lại, từ chỗ nhơn nhơn sức mạnh, chị đã biết lắng nghe tiếng nói của các “thần dân” cơ thể, biết thấu hiểu, chia sẻ. Và một lời cảm ơn quan trọng nữa: trong bấp bênh phù sinh chị đã nhận biết bao nghĩa tình sâu nặng…”.
Việt Linh tâm sự thêm: “Tôi coi như mình đã chết rồi. Tôi biết buông bỏ. Biết sống có ích. Biết làm từ thiện”. Rõ rồi. Cô không còn hò hét ở trường quay nữa mà lặng lẻ viết, dịch để chia sẻ những kinh nghiệm nghề nghiệp với đồng nghiệp, với người đi sau. Một loạt tác phẩm về điện ảnh đã ra mắt. Các tản văn ngày càng thấm đẫm yêu thương. Tôi mến Việt Linh ở đó và cô cũng tự nguyện làm một người “em gái” của tôi, không phải “người em sầu mộng của muôn đời” mà là người em biết yêu cuộc sống, biết chia sẻ và biết “Cảm ơn mình” như một bài viết của tôi trong cuốn Già ơi… Chào bạn! mươi năm về trước./.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Gặp lại Hoài Khanh

07/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi
Gặp lại Hoài Khanh

tặng TVL

Đỗ Hồng Ngọc
Lâu lắm mới gặp lại anh. Hoài Khanh bây giờ đã 79 tuổi ta rồi chớ ít gì. Tóc bạc phơ. Nét nhăn nhàu của người có tuổi. Chỉ vụt tươi khi nói về thơ!
Thơ Hoài Khanh thời mình ai cũng biết, cũng thuộc ít nhiều. Lúc còn quá trẻ mà thơ anh đã làm cho Bùi Giáng giật mình, tưởng là của một… cụ già, với triết lý nhân sinh sâu sắc. “Từ Dâng Rừng tới Thân Phận, Hoài Khanh đi một bước riêng biệt choáng váng trong dòng lục bát của ông. Ông không bị một ảnh hưởng nào gò bó. Ông chỉ chịu ảnh hưởng của trời, của sương, của giòng sông, bến quạnh quê hương” (Bùi Giáng- Đi vào cõi thơ).

Một thời Hoài Khanh làm cho Giữ Thơm Quê Mẹ và chính anh đã chọn đăng “Bài thơ trên xương cụt” của Chinh Ba. Cách đây mươi năm, mình ghé thăm anh ở Biên Hòa, gởi tặng tập “Già Ơi… Chào Bạn!”. Ít lâu sau anh gởi một lá thư: “Đọc Già ơi… của Đỗ Hồng Ngọc xong mình muốn già mau đi … cho đã!”. Và bây giờ thì anh đã già thiệt, “già đã” rồi!
Gặp lại anh trong bữa họp mặt anh em Xunau.org ở Sông Trăng. Vui quá vì không ngờ. Có cả Chinh Văn, Cao Quảng Văn, Trần Dzạ Lữ, Bùi Chí Vinh, Nam Thi, Ngô Quang Hiển, Văn Công Mỹ… và nhiều bạn bè khác.

Từ trái: Chinh Văn, Hoài Khanh, Đỗ Nghê, Cao Quảng Văn...và Trần Dzạ Lữ (áo xanh)

Lần nào về Phan Thiết, đi qua Núi Cú, Ba Hòn, sông Cà Ty… mình cũng nhớ Hoài Khanh. Nhất là khi đi ngang Ba Hòn mình thường lẩm nhẩm “Người đi để dãy Ba Hòn chơ vơ”. Thế nhưng, không phải, anh nhắc:“Người đi nhớ dãy Ba Hòn trơ vơ” chớ! Nhưng mình thì vẫn cứ thích “Người đi để dãy Ba Hòn chơ vơ” hơn. Nó hay ở chỗ người đi nỡ bỏ lại… chơ vơ Ba Hòn!
Hoài Khanh sinh ra và lớn lên ở Đức Nghĩa, Phan Thiết. Nhà anh cách chỗ mình ở không xa. Anh lớn hơn mình mấy tuổi và đã phiêu bạt… giang hồ tự thuở nào, lúc mình còn cắp sách đến trường tiểu học bên bờ Cà Ty! Anh vào Saigon, làm thơ, làm báo và một mình dựng nên Nhà xuất bản Ca Dao nổi tiếng một thời, in được hằng 70 tựa sách có giá trị. Anh kể một mình anh thôi, vừa… giám đốc, biên tập, dịch thuật, lon ton, thầy cò, phát hành, tài xế, thu ngân… Giỏi thiêt.
Khi nhắc Xa quê nghe gió nồm của anh, anh nói anh thích gió nồm lắm, mát mẻ, còn mình, mình ưa gió bấc hơn, nhất là những buổi tan trường. Trời se se lạnh. Mùa cốm sắp về. Những tà áo trắng… “Mùa ơi, gió bấc nhớ không ngờ/ Năm nay người có về ăn Tết/ Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ” (Đỗ Nghê, 1970). Anh cười lỏn lẻn. Hóa ra anh cũng ưa gió bấc.
Chép lại ở đây vài bài thơ của anh. Chắc bạn cũng đã thuộc rồi. Một thứ thơ cho người ta thuộc. Không dễ đâu!

Ngồi Lại Bên Cầu

người em xưa trở về đây một bận
con đường câm bỗng ánh sáng diệu kỳ
tôi lẫn trốn vì thấy mình không thể
mây của trời rồi gió sẽ mang đi

em – thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
màu cô đơn trên suối tóc la đà
còn gì nữa với mây trời đang trắng
đã vô tình trôi mãi bến sông xa

thôi nước mắt đã ghi lời trên đá
và cô đơn đã ghi dấu trên tay
chân đã bước trên lối về hoang vắng
còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy

quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ

rồi em lại ra đi như đã đến
dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù
ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu

Hoài Khanh

Đức Nghĩa

Biển mang niềm nhớ đi hoang
Gió Trường Sơn luyến mây ngàn Tà Dôn
Ôi sương Núi Cú lạnh hồn
Người đi nhớ dẫy Ba Hòn trơ vơ
Cành dương cát trắng hững hờ
Nhìn nhau thuở ấy bây giờ nhớ nhau.

Hoài Khanh

Cà Ty

Một dòng xanh mấy niềm sâu
Ngẩn ngơ gió lạnh từ đâu thổi về
Trở mình sương rụng trên đê
Người đi rồi chẳng thấy về, chao ôi.

Hoài Khanh

“Người đi rồi chẳng thấy về, chao ôi!” là Hoài Khanh nói về bạn đó, phải chăng?

(ĐHN)
Saigon 30.3.2012

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Trường Phan Bội Châu Phan Thiết…

23/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

60 NĂM,
Trường Phan Bội Châu Phan Thiết…

Thư gởi bạn xa xôi,
tặng Trần Vấn Lệ
Tôi thi đậu vào Đệ thất (lớp 6) trường Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1954, đứng hạng 7, được học bổng. Hồi đó, đậu vào Phan Bội Châu là một vinh dự lớn. Đến bây giờ, mỗi khi nhắc đến trường Phan Bội Châu Phan Thiết tôi vẫn còn nghe một chút gì đó nao nao!

Mãi đến năm 1952, Bình Thuận mới có một ngôi trường trung học công lập đầu tiên. Lúc đầu trường chỉ có vài lớp, mượn tạm một cơ sở nằm trên đường Saigon, nay là đường Trần Hưng Đạo. Năm 1954 cả trường cũng mới chỉ có mấy lớp, đệ thất, lục, ngũ. Đệ tứ thì phải ra Nha Trang hoặc vào Saigon học tiếp để thi Đíp-lôm (Trung học đệ nhất cấp). Thời đó, Trung học đệ nhất cấp là một kỳ thi cực kỳ khó, chỉ đậu chừng 10%, thi tất cả các môn học, có cả vào vấn đáp. Ai đậu Pri-me (tiểu học) đã là “oai” rồi, đậu Đip-lôm thì “nhất”!
Vào Đệ thất Phan Bội Châu được mấy tháng, chưa kịp biết hết bạn bè thầy cô thì tôi đã phải rời trường, khăn gói theo gia đình về quê Lagi, Hàm Tân sinh sống. Lúc đó Hàm Tân là tỉnh lỵ của Bình Tuy, tỉnh mới được thành lập, tách khỏi Bình Thuận, trực thuộc Nam phần. Thế là bỏ trường bỏ lớp, xa thầy xa bạn. Tôi tiếc và buồn lắm. Nhưng không cách nào khác. Mãi 3 năm sau Bình Tuy mới có lớp đệ thất đầu tiên trong một nhà thờ, tôi mới đi học lại. Hồi lớp Nhất, tôi học ở Bạch Vân, trong chùa Bà Đức sanh hội. Hết học chùa nay tới học nhà thờ là vậy! Nhờ học nhảy mà tôi đuổi gần kịp bạn bè cùng thời.
Bây giờ mỗi lần về Phan Thiết, tôi thấy mình vẫn quyến luyến nhiều hơn với ngôi trường Phan Bội Châu nhỏ bé, xinh xắn, xưa cũ đó của mình- ngôi trường nằm trên đại lộ Trần Hưng Đạo- khi chưa dời về đường Nguyễn Hoàng (Lê Hồng Phong) ngày nay.

Trường Phan Bội Châu cũ, nằm trên đường Saigon (nay là Trần Hưng Đạo)


Năm 2002, trường Phan Bội Châu kỷ niệm 50 năm ngày thành lập. Thầy Bình hiệu trưởng có mời tôi về nói chuyện với học sinh về “Tuổi mới lớn”. Dịp này trường có một cuộc triển lãm. Một quyển sổ cũ kỹ rất to gọi là Sổ Trước Sách ghi tên học sinh của trường từ lúc thành lập đến nay được trưng bày ở phòng truyền thống. Bạn ơi, có tên tôi trong đó đàng hoàng nhé! Anh Nguyễn Đình Tư (Tư Đình, nhà thơ Từ Thế Mộng, học sinh khóa đầu tiên, 1952) thấy tôi đứng nấn ná hoài bèn tìm cách photo gởi tặng tôi mấy trang.
Trong quyển Sổ Trước Sách của trường Phan Bội Châu lúc đó, tôi đứng số thứ tự 276. (Khóa tôi có 111 người vào đệ thất, từ số thứ tự 234 đến 345). Ở mục họ tên “Đỗ hồng Ngọc” – thời đó chữ lót viết không hoa- thấy ghi “ Ở lại đệ thất”, rồi lại có dấu đánh chéo, xóa tên. Tôi đoán lúc đầu chắc trường xét cho tôi ở lại lớp thôi nhưng lỗi “nghỉ lâu không xin phép” là quá nặng nên quyết định “xóa sổ” luôn! Mục năm sinh bạn thấy ghi 1942. Đó chỉ là “Thế vì khai sanh” thôi chớ tôi tuổi thiệt 1940. Thời chiến tranh, đa số trẻ con đi học trễ. Ở mục Lý lịch cũng ngộ: ghi con ông Đỗ đơn Trì, nghề: “chết” và bà Nghê thị Như, nghề: buôn bán. Thực ra cha tôi chết trong kháng chiến chống Pháp nhưng chỉ cần ghi nghề: “chết” , là đủ, không cần “ngày tháng nào? làm gì? ở đâu? ai biết?”… như kiểu bây giờ!
Bạn để ý địa chỉ: ở chùa Hải Nam, đường Trại cưa Phan Thiết (thuộc Đức Nghĩa). Gọi là đường Trại cưa vì ở đó có rất nhiều trại cưa dọc ven sông, chuyên xẻ gỗ cho người ta đóng thuyền cá. Tôi thường lang thang coi người ta đóng những chiếc thuyền khổng lồ ở đó. Đường Trại Cưa (nay là đường Trưng Nhị) dọc hữu ngạn sông Mương Mán (khu Trường Dục Thanh bây giờ), nơi có bến đò qua Chợ Gò bên kia sông, là nơi tôi thường qua lại để đến Nhà thương chữa bệnh. Nối tiếp đường Trưng Nhị, qua khỏi cầu, là đường Trưng Trắc, nơi có nhà những bạn bè tôi như Tải (Tâm), Quế, Tốt, Tươi…
Ở mục Ngày vào học thấy ghi: Đệ thất I, ngày 14/9/54. Ngày thôi học ghi: 30/11/55.
Tôi chưa học hết đệ thất, mới mấy tháng đã bỏ trường vậy mà trường vẫn “bảo lưu” danh sách học sinh cho tôi, mãi đến 30/11/55 mới chính thức xóa sổ.
Trong Lời phê của ông hiệu trưởng thấy ghi: “Khá, nhưng cần phải gắng học thêm”. Rồi trên đó lại có dòng chữ nhỏ hơn: “Xóa sổ vì nghỉ lâu không xin phép”- chắc là của người thư ký ghi sau khi có quyết định của hội đồng.
Trong quyển Sổ Trước Sách đó, mỗi học sinh có dán cái hình. Cười chết được. Mặt nào mặt nấy ngây ngô. Dễ thương làm sao! Mỗi người một vẻ. Con trai con gái. Ngộ nghỉnh. Tức cười. Cái hình tôi chụp ở Liên Hoa lúc 12 tuổi, mặc pyjama, đi guốc xuồng. Xanh lè, ốm nhom, suy dinh dưỡng nặng, cân được 25 kg ở nhà thuốc tây Phạm Tư Tề: mắt lồi (ốc bươu), mũi bự, tai vễnh, mặt quạu…!
Dù đã bị “xóa sổ”, bị… đuổi học gần 60 năm về trước tôi vẫn luôn coi mình là một “cựu học sinh” của trường, vẫn luôn tự hào đã từng là học sinh của Phan Bội Châu Phan Thiết ngay từ thuở ban sơ…
Năm nay trường kỷ niệm 60 năm ngày thành lập, tôi chắc cũng sẽ ghé về thăm một chút để mong gặp lại cái anh chàng mắt lồi, mũi to, tai vễnh… như hôm nào kia, nơi vườn Luxambourg, có người trông thấy một cậu học trò nhỏ, tay đút túi quần, cặp sách trên vai, vừa đi vừa nhảy nhót như một chú chim sẻ… Je vais vous dire ce que me rappellent… le ciel agité de l’automne… les arbres qui fissonnent…(Anatole France).
Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon 3.2012)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Thơ: Rùng Mình (bản dịch Ý và Pháp)

05/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Ghi chú: Nhà văn Trương Văn Dân, tác giả tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” cùng vợ là Elena Pucillo Truong, người Ý, nói đã xúc cảm, “rùng mình” dịch bài thơ Rùng Mình của tôi sang tiếng Ý và tiếng Pháp. Chị Elena là tiến sĩ ngữ văn, tác giả vài truyện ngắn có tiếng gần đây trên báo chí, theo chồng về nước dạy tiếng Ý và tiếng Pháp, hiện đang sống và làm việc tại Tp.HCM. Xin được chia sẻ cùng các bạn.
Cảm ơn Trương Văn Dân và Elena.

ĐHN

Rùng mình…
Tùng địa dũng xuất
(Pháp Hoa)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
Vì sao núi lửa cứ phun trào?
Vì sao băng tan vì sao bão táp…?
Vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt
thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
Vì sao và vì sao?…

Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát

Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mủi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
Vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
Vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
Vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
Vì sao và vì sao?

Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)

BRIVIDI !

Rabbrividendo, l’Uomo chiede :
Perche’i terremoti e gli tsunami
Continuano ad arrivare un giorno dopo l’altro?

Perche’ i vulcani continuano ad eruttare?
Perche’ i ghiacciai si sciolgono, i tifoni distruggono?
Perche’ i bambini e i vecchi vengono trascinati e inceneriti?
Le case crollano e le citta’ sono distrutte come fossero i giocattoli
di un bambino arrabbiato.
E perche’, perche’..???

Ed ora ascolta
Solo un istante……

Rabbrividendo anche la Terra chiede:
Perche’ le montagne continuano a crollare ?
Perche’ i fiumi vengono bloccati?
Perche’ si continua a perforare il fondo della terra?
Perche’ gli uccelli delle foreste, i pesci del mare non hanno un posto dove stare?
Perche’ gli alberi secolari vengono sradicati?
Perche’ il riso, il granoturco vengono modificati geneticamente?

E perche’, perche’ ?

Una volta ci si appoggiava uno all’altro
Sembra che ora non abbiamo più bisogno l’uno dell’altro
La Terra rabbrividisce
L’Uomo rabbrividisce
Ognuno per proprio conto.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Ý của Trương Văn Dân e Elena Pucillo Truong)

FRISSONS !

Frissonant, l’Homme demande:
Pourquoi les tremblements de terre et les tsunamis
Continuent à arriver un jour après l’autre?

Pourquoi les volcans continuent à éclater ?
Comment arrive-t-il que les glaciers fondent, les typhons détruisent?
Pourquoi les enfants et les personnes âgées
Sont entraînés et sont reduits en cendres ?

Les maisons s’effondrent et les ville sont détruites
Comme si elles étaient des jouets d’un enfant en colère.
Et pourquoi, pourquoi ?

Et maintenant écoute
Seulement un instant…..

Frissonant la Terre demande également:
Comment arrive-t-il que les montagne continuent à s’effriter ?
Pourquoi les rivières viennent bloquées?
Comment arrive-t-il qu’on continue à percer le fond de la terre?
Pourquoi les oiseaux de forêts, les poissons de la mer
n’ont plus un endroit où vivre?
Pourquoi les arbres sont déracinés?
Pourquoi le riz , le maïs sont génétiquement modifiés?

Et pourquoi, pourquoi?
Une fois on s’appuyait l’un à l’autre
Il semble que maintenant nous n’avons plus besoin les uns des autres.
La Terre frissonne
L’Homme frissonne
Chacun pour son propre compte.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Pháp của Elena Pucillo Truong)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Vài đoạn hồi ký

Đi khám bệnh: thơ Trần Vấn Lệ

02/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Đi Khám Bệnh

Bác Sĩ cười vui:
“Anh chẳng bệnh, chỉ buồn, không thuốc chữa buồn đâu!”.
Ông đưa tay bắt, bàn tay ấm.
Tôi nói:
“Cám ơn”
Và cúi chào.

Tôi đi ra cửa. Ngang vườn hoa. Trời đã gần trưa, nắng chói lòa.
Hoa nở nhiều hơn hồi nãy tới. Tôi mừng. Không bệnh, khỏi âu lo.

Mà kỳ, khi bước vào xe, mở, máy nổ rồi sao lại ngẩn ngơ?
Sao lại…Như là nghe tức tức, nghe tim đập mạnh, nhặt rồi thưa…

Nhìn sang bên cạnh, em không có. “Lâu lắm mình không ở cạnh nhau”.
Tôi nhớ bốn câu ai đó viết nói về đau lắm một cơn đau (*).

Gục đầu trên cái volant ấm, tôi nhớ bàn tay Bác Sĩ ghê…
Thôi, phải về thôi, không nán được, vườn hoa con bướm cũng vừa bay.

(*) Thơ TchyA:
Em đi từ đó phòng anh vắng
Bút gỉ hồn tan sách bụi nhàu
Mực bỗng khô khan, tim bỗng héo
Can tràng bỗng rạn vết thương đau!

Trần Vấn Lệ

Viết thêm: Sáng nay Trần Vấn Lệ gởi tôi bài thơ này và hỏi bạn có khám bệnh cho ai như vậy chưa? Tôi nhớ mình có khám cho nhiều nhà thơ rồi nhưng không ai kỳ cục vậy. Trần Vấn Lệ và tôi cùng học chung lớp Đệ thất Phan Bội Châu, Phan Thiết, năm 1954, khi trường vừa thành lập được hai năm. (Năm nay, 2012, PBC vừa đúng 60 năm!). Bây giờ lớp chúng tôi mỗi đứa một phương, và đều trên dưới 70 cả rồi! Trần Vấn Lệ làm thơ rất “ướt át”, – chắc tại cái tên của anh- mặc dù, anh thừa biết thực ra, Lệ ở đây là tráng lệ, là nguy nga, mà anh cứ làm bộ như là “nước mắt”! Anh vốn mê những tà áo dài, những con đường nhỏ, những ngọn đồi, những sông hồ núi biển…từ Phan Thiết cho đến Đà Lạt của ngày xưa.
Hôm qua tôi ngồi với mấy người bạn cũ Phan Bội Châu Phan Thiết, cùng nhắc Trần Vấn Lệ, kẻ quên người nhớ… nhưng biết bao kỷ niệm của tuổi thơ đã gợi lên một Phan Thiết của ngày nào. Nói về cái “giọng phan thiết”, sao mà nghe như cộc lốc, thô lỗ, “dùi đục chấm mắm nêm”. Thì ra ở một nơi “ăn đầu sóng nói đầu gió” như vậy người ta không thể không to tiếng, không thể không vắn tắt, nghe cứ như gắt gỏng, gây gổ, lạnh lùng. Nghe quen rồi mới biết nó tha thiết, nó thắm thiết là dường nào!
Rồi cái kiểu “ngồi phan thiết”. Cái kiểu ngồi “chồm hổm” hơi khó coi- rồi biến tướng thành “chè hẻ”, “chò hỏ” nữa- nhưng đều mang những ý nghĩa thâm thúy khác nhau mà chỉ dân Phan Thiết mới hiểu nổi! Thực ra, ở một vùng biển đầy gió cát như thế, muốn ngồi cho vững chỉ có cách “chồm hổm” là tốt nhất! Nhưng “chè hẻ” thì khác. Các bà má hay rầy: con gái gì mà ngồi chè hẻ, không ý tứ gì hết! “Chò hỏ” lại khác nữa! Mày hết chuyện làm rồi sao ngồi chò hỏ đó?
Lại nói chuyện “bánh căn”. Tôi kể bài “Bánh Căn phan thiết” của tôi được báo Bình Thuận Du lịch đăng lại một cách trang trọng. Khi viết tôi dùng chữ “đổ” – đổ bánh căn– thì Trần Vấn Lệ nhắc còn có từ “đúc” nữa – “đúc bánh căn”! Ừ, “đúc”, tôi cũng có biết. Mấy đứa con gái hay bày trò chơi “đúc bánh căn” thì phải. Cát trộn với nước cho vào khuôn đúc một cái… là xong! Tiền bằng lá cây. Vô số!
Rồi cùng nhắc Dũng Chinh, Minh Quốc, Trần Thiện Thanh, nhắc Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn… rồi cả Hàn Mặc Tử, Mộng Cầm…
Ôi, cái Phan Thiết nhỏ xíu!
Đỗ Hồng Ngọc.
(2.3.2012)

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Đọc: NHỮNG NGƯỜI TRẺ LẠ LÙNG

21/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Nguyễn Duy Chính là tác giả của nhiều bài nghiên cứu lịch sử có giá trị, anh cũng là một dịch giả nổi tiếng về Kim Dung, hiện đang sống tại Hoa Kỳ. Bài viết này anh nhờ Lê Anh Dũng chuyển tới tôi từ năm 2002, những cảm nghĩ của anh khi đọc Những Người Trẻ Lạ Lùng.
Mười năm chứ ít chi?
DHN.

Cảm nghĩ khi đọc: NHỮNG NGƯỜI TRẺ LẠ LÙNG của Đỗ Hồng Ngọc.
1. Ở Pasadena, cách chỗ tôi ở chừng 40 dặm, có một khu vườn bách thảo với mấy thư viện tàng trữ sách cổ ( để ngắm), những bức danh họa, những pho tượng bằng cẩm thạch và bằng đồng của thời Trung Cổ… Mỗi lần ghé đến, tôi không bao giờ quên khu vườn Nhật, với những cây tre thẳng tắp, nhẵn nhụi trên có khắc tên những cặp tình nhân – mặc dù có những bảng nhắc cho du khách biết rằng đừng vì tình cảm riêng tư của mình mà làm mất vẻ thiên nhiên và mỹ quan của khu rừng. Bên cạnh đó là một dòng suối róc rách, một cái cầu gỗ cong, bên dưới hồ sen là những con cá koi lượn qua lượn lại.

Xế lên chút nữa là một vườn trưng cây bonsai, những cây cổ thụ được trồng trong bồn sứ nhỏ, một nét đặc thù của dân tộc Phù Tang mà nay đã là thú thưởng ngoạn của nhiều dân tộc khác. Nhìn những cây xanh tươi đã mấy trăm năm, dưới gốc sần sùi là rêu xanh mướt, nhưng hoa quả vẫn xuất hiện mùa nào ra mùa nấy, đúng như Trời đã định riêng cho mỗi loại cây tôi vẫn tự hỏi rằng, liệu con người có được như cây cỏ chăng, khi đến cuối cuộc đời vẫn còn đơm bông kết trái?
Nỗi lo lắng của tôi – và cũng là ước mơ – là làm thế nào mình có thể tiếp tục sáng tạo và đóng góp cho đến khi buông xuôi hai tay chứ đừng để phải sống như những bóng ma vật vờ mà tôi đã thấy những người già nơi trại dưỡng lão, bởi vì sống mà không sản xuất là một cuộc sống thừa, cũng như cây không đâm chồi nẩy lộc thì là một cây chết.
Chiều hôm 28 tháng 12 năm 2002 tôi nhận được cuốn sách của một văn hữu chưa từng gặp mặt từ Việt Nam gửi tặng, cuốn Những Người Trẻ Lạ Lùng của BS.Đỗ Hồng Ngọc ( NXB TPHCM, 2001). Đọc qua một mạch 23 đoản văn của anh, tôi mới thấy rằng những điều tôi thầm mơ là có thật. Nó không phải là suy nghĩ của một người bất bình thường, cũng không phải có cái gì trái khoáy. Những cây già vẫn có thể cho ta bông trái như cây non, và nó vẫn đượm mùi, vẫn đầy hương sắc – và không hề giả tạo chút nào. Chỉ có điều nó hiếm hoi hơn, khó khăn hơn, cũng như những cây bonsai kia, không phải là thứ cây kỹ nghệ để có thể thu hoạch hàng rổ mỗi năm. Nó lưa thưa vài chỗ, và nghệ nhân phải biết tỉa bỏ những bông trái èo uột để những hoa trái sau cùng này tô điểm thêm cho niên kỷ, xứng đáng với những thu hoạch cuối cùng chứ không thì là… “già dịch” rồi còn gì.
2. Có một cái lạ là đọc những đoản văn của Đỗ Hồng Ngọc, thỉnh thoảng dường như ta thấy cái bóng mình trong đó, có khi là một giấc mơ ám ảnh từ thuở nào, nhưng cũng có khi chập chờn như thật, mặc dầu tác giả viết về một người khác có thật mà anh là chứng nhân.
Mỗi một nhân vật, cũng như những bức chân dung anh phác thảo, đều chỉ là những nét thật đơn giản, đơn giản hơn cả lối tranh thủy mặc của Trung Hoa, nhưng Đỗ Hồng Ngọc để cho người đọc tự vẽ lấy những chỗ anh không vẽ, để hình dung ra cái đối tượng mà anh đang miêu tả. Cái may của tôi là tất cả những người anh đề cập đến tôi không quen một người nào, mặc dù đều là những bậc tiền bối thành danh. Chính vì thế, tôi có thể tưởng tượng rất nhiều, cũng như tôi chưa từng xem một bộ phim kiếm hiệp nào cả, chỉ vì muốn giữ mãi hình ảnh mà mình có trong đầu chứ không muốn mượn cái hình ảnh mà người khác đã tạo nên, dẫu biết rằng có những phim mà tài tử còn đẹp hơn những gì mình có thể hình dung ra được.
3. Có hai phát minh (?) mới độ mươi năm nay mà ngẫm nghĩ có cái gì tương đồng – tương đồng mà lại tương phản với lối viết của Đỗ quân.
Một là ngày nay người ta đã in hình những bức tranh chẳng có gì đặc biệt, ngoài những patterns được lặp đi lặp lại. Thế nhưng nếu chúng ta nhìn xuyên qua nó để tập trung vào phía sau bức tranh, ta sẽ thấy một hình ba chiều linh động, lắm khi chẳng liên quan gì đến những hình mẫu. Tôi cũng chẳng biết lối đó gọi tên là gì cả tiếng Mỹ lẫn tiếng Việt nhưng tôi tin rằng nói ra nhiều người sẽ biết ngay. Bản chất của bức tranh chỉ là sắp xếp làm sao để từ những cái thường kia hiện ra một cái bất thường như một bông cúc đen giữa những bông hoa trắng.
Lối viết của Đỗ Hồng Ngọc cũng vậy. Trong những cái hết sức tầm thường anh lại sắp xếp hết sức khéo léo nhưng rất nhạt để rồi đọc qua, đọc trở lại người ta sẽ… bắt được một cái gì mà tác giả cố tình đánh rơi.
Thứ hai là người ta dùng hàng ngàn bức tranh hay ảnh khác nhau thu nhỏ lại để cho computer lựa chọn rồi kết lại thành một bức tranh, hay chân dung một danh nhân. Nhìn xa chúng ta chỉ tưởng đó là một bức ảnh mà hột hơi to nhưng khi nhìn kỹ thì đó là những bức ảnh được ghép lại. Người ta đã ghép thành Tổng Thống Lincoln với hàng ngàn bức ảnh thời Nội Chiến (Cicil War), Bill Gates với hàng ngàn bức ảnh đủ mọi loại tiền trên thế giới, hay cô đào Marilyn Monroe với hàng ngàn bức ảnh của chính cô ta. Mấy năm trước, có kẻ cắc cớ đã thực hiện một bức ảnh Tổng Thống Mỹ Bill Clinton với hàng nghìn centerfolds và ảnh của tạp chí Playboy khiến những chàng trai ái mộ ông đổ xô đi mua như tôm tươi.
Lối viết của Đỗ Hồng Ngọc thì ngược lại. Anh đi từ ngoài vào trong, và người tinh ý đọc mỗi đoản văn lại nhón ra được một viên sỏi đẹp cho riêng mình. Có thể bạn và tôi cùng nhìn ra một điểm tương đồng nào đó nhưng cũng có thể hoàn toàn khác nhau như một bài thơ cắt rời rồi xếp lại một cách bâng quơ. Tôi tin rằng cái mà mình thấy chưa hẳn đã là chủ đích của người viết. Thoạt nhìn người ta tưởng anh viết hồi ký về một số người anh quen, nhưng thực ra anh đã vẽ họ bằng những góc ít người để ý nhất. Cái ông già nổi tiếng kia không đáng kể bằng tập album ông cất riêng cho ông để một lúc nào đó chia sẻ với một người hiểu ông, cũng như một ông lão khác phải giấu cây gai bàn chải trên sân thượng, chắc hẳn cũng để… lâu lâu lại dòm.
Thế nhưng đọc hết những đoản văn của anh, dường như ta thấy có một cái gì xuyên suốt và nhất quán, cái nọ lồng vào cái kia, xen kẽ và bổ túc cho nhau.
4. Một trong những cái tôi muốn tìm nhưng không thấy – mà tôi chắc là tác giả còn giấu ở đâu đó mà mình chưa có duyên được đọc. Cũng rất có thể tôi hiểu sai, sai vì đã suy bụng ta ra bụng người.
Tôi vẫn nghĩ rằng những người đa tài thì thường hay đa tình. Ba cái vẽ, thơ và văn không thể tách rời với cái yêu vẻ đẹp, mà đã yêu vẻ đẹp thì phải yêu người, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Mà đã yêu vẻ đẹp thì phải yêu rất sớm, rất nhiều,… và rất lâu.
Một trong những cái mất vui của nơi tôi đang sống là người ta thực tế quá. Thành ra tuổi trẻ không còn những cái thú như chúng tôi khi còn học tiểu học hay trung học. Không biết người khác thì sao nhưng khi tôi đi học, bọn trẻ con hay chơi trò gán ghép, gán đứa con trai này với đứa con gái nọ một cách tinh quái, lắm khi nhảm nhí. Tôi rất thông cảm với những nạn nhân bởi vì chính tôi là một nạn nhân của những đứa bạn rắn mắt.
Năm lớp Nhất (lớp 5 ngày nay) tôi học ở một trường làng, nam nữ học chung. Tôi ngồi ngay sau lưng một cô gái có mái tóc dài xõa xuống vai, thỉnh thoảng cô lại lúc lắc đầu khiến tóc cô lại chạm vào cuốn vở tôi đang viết. Tên cô ta là Duyên.
Những đứa trẻ tinh nghịch lắm khi hay kéo tóc con gái, và cô Duyên – của tôi – cũng hay bị chọc ghẹo. Tôi nói “của tôi” vì bọn kia hay chơi trò gán ghép nên lắm khi phải nổi cộc và ảnh hưởng không ít đến thái độ của mình, khi muốn mượn một cục gôm mà không dám.
Cô bé đó cũng bằng cỡ tôi, con một bà giáo (bố cô ta là thầy giảo, đã mất chứ không phải bà ta dạy học) nên thỉnh thoảng ba tôi cũng đến thăm gia đình người bạn cũ. Một hôm ông cho tôi đi theo và ngạc nhiên xiết bao khi thấy cô bé thập thò sau cửa, nhìn tôi cười nháy mắt. Ôi, bao nhiêu e thẹn ở trong lớp đều tan biến khi hai đứa trẻ đưa nhau ra sau nhà thăm cái vườn hoa nho nhỏ của nàng. Hóa ra không phải nàng lạnh lùng với tôi như tôi tưởng, và chắc cũng thích thầm cái trò nghịch ngợm của đám “du côn” kia.
Những chuyện như thế tôi chưa tìm ra trong các đoản văn của BS Đỗ Hồng Ngọc. Dĩ nhiên không phải trong đề tài “Những Người Trẻ Lạ Lùng”. Tôi đi tìm bởi vì những chuyện như thế thì anh sẽ không thể “vẽ” từ người khác mà chỉ có thể “self-portrait” được thôi.
Nguyễn Duy Chính
(2002)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Những ngày xưa đó…

10/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Những Kỷ Niệm Về Một Thời Ý Thức
Lữ Quỳnh
Ghi chú: Tôi không có ý định viết Hồi Ký, nhưng thỉnh thoảng gặp lại bạn bè xưa, không khỏi có chút “bần thần”. Đây là những dòng của Lữ Quỳnh, viết về những ngày xưa đó… Xin được chia sẻ.
Do Hong Ngoc

Từ trái: Châu Văn Thuận, Đỗ Nghê, Nguyên Minh, Lữ Kiều, ông bà Lữ Quỳnh, Trương Thìn

Năm mươi năm trôi qua kể từ ngày ấy, ngày mà Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hữu Ngũ, Hoài Linh ở tuổi mười tám hai mươi ngồi với nhau bàn chuyện văn nghệ, chuyện làm báo. Ngày mà những tác phẩm của Camus, Sartre bắt đầu nhập vào miền Nam. Ngày mà tôi còn nhớ cuốn “Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ Hiện Ðại” của Phạm Công Thiện được lớp trẻ đón đọc nồng nhiệt.

Ngẫm lại mỗi thế hệ có nếp sống, nếp nghĩ khác nhau. Quan niệm về tình yêu mỗi thời mỗi khác. Thú đọc, chơi sách cũng vậy.

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

“Bàn tay nhỏ dưới mưa”

15/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

Bàn tay nhỏ dưới mưa
Trương Văn Dân du học ở Italia hơn 40 năm trước mà còn viết tiếng Việt giỏi, đáng khen. Một người bạn nói với tôi như vậy sau khi đọc BTNDM. Chẳng những vậy, anh dịch cũng được lắm. Anh vừa dịch một truyện ngắn của vợ, chị Elena Truong, viết bằng tiếng Ý đăng trên Tuổi trẻ Chủ nhật hôm nọ, một câu chuyện cảm động về tình yêu của cặp vợ chồng già!
Bàn tay nhỏ dưới mưa là cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, sau khi anh chị quyết định rời bỏ Italia về sống với quê nhà. Dân và vợ, chị Elena gởi tặng tôi BTNDM ở một quán café góc phố xóm nhỏ Bàn cờ, với lời ghi trân trọng: “Quý tặng anh, bác sĩ nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, người trị đau và chữa khổ – một tấm lòng tha thiết với đời- để cùng chia sẻ niềm đam mê văn học”. Còn chị Elena thì ghi bên cạnh nét chữ của chồng: « Un morceau de notre vie / comme un cadeau pour vous”.

Bàn tay nhỏ dưới mưa đúng là một mảnh đời của họ. Một mảnh đời với bao nỗi lo toan, buồn vui, hy vọng rồi tuyệt vọng, chạy đuổi miệt mài rồi dừng lại ngẩn ngơ… để rồi cuối cùng có vẻ như đã tìm ra một exit : Con đường quê hương. Con đường văn học. Con đường giải thoát. « Cuối cùng tôi nghĩ mình không cần phải tự xót thương. Chính cuộc hẹn với cái chết sẽ giúp tôi xóa bỏ những điều vô vị tạp nhạp, dừng ngay nhưng bận rộn, để đứng lại và hỏi xem thực sự mình muốn gì… Đi tìm ý nghĩa thực sự của đời sống! (tr 236)

Bàn tay nhỏ dưới mưa có vẻ như là một chuyện tình buồn, một cái chết, một nỗi chia lìa, nhưng với tôi, là một cuốn tiểu thuyết luận đề, là một tiếng kêu thống thiết, chới với của một bàn tay nhỏ không che nổi cơn mưa nặng hạt đời. Câu chuyện tình lãng mạn, cái sống cái chết, chỉ là một cái cớ để trên đó bày ra, vẽ lại những vấn đề lớn của xã hội hôm nay, những vấn đề có vẻ như bế tắc, không lối thoát, thể hiện rõ nét nhất trên quê hương anh. Vấn đề môi trường, vấn đề giao thông, vấn đề vệ sinh thực phẩm, vấn đề y tế, giáo dục…

« Đang thất thần và ngẩn ngơ thì có tiếng chuông chùa từ đâu vẳng đến. Cái sống, cái chết nối đuôi nhau trôi trong thinh không… bờ bên này bờ bên kia như không còn ranh giới ». (tr 410)

Và ở một đoạn kết khi gấp cuốn truyện lại: «Vì chúng tôi chẳng hoài chi đến cõi thiên đường. Có lẽ bởi chúng tôi đã từng là con người, đã từng hội đủ tâm hồn, si mê và trí tuệ, tham lam cùng sân hận… nên vẫn còn say mê trần gian, còn tha thiết làm người… »(tr 412)
Tôi nhớ Trịnh Công Sơn: Tôi là ai mà còn trần gian thế/ Tôi là ai, là ai… mà yêu quá đời này…
Và bỗng muốn nói với bạn : « Đừng tuyệt vọng, Dân ơi, đừng tuyệt vọng ! ».!

Đỗ Hồng Ngọc.
(12.2011)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 38
  • Trang 39
  • Trang 40
  • Trang 41
  • Trang 42
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email