Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc

02/06/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc & Minh Lê NT

(Ghi chú: Là những trao đổi qua email, không phải phỏng vấn trực tiếp)

 

1 Trong cuộc đời mỗi người thường có ít nhất một lần tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?” Có bao giờ anh tự hỏi mình câu đó không?

Không, Tôi chưa bao giờ tự hỏi mình câu đó. Có lẽ tôi sống quá hồn nhiên và ngây thơ đó không? Chắc vậy. Theo tôi, người tự đặt cho mình câu hỏi đó phải là một người có một đời sống phong phú, sôi nổi và có tâm hồn của một triết gia. Nếu là một người trẻ, có thể do nếp sống gia đình, thiếu tình thương và/hoặc ngược lại quá dư thừa tình thương yêu, nên bị ngộp. Rồi ngạt. Muốn giải thoát! Và rất có thể là người sống thiếu thiên nhiên, thiếu cộng đồng. Đặc biệt có thể đó là một người luôn sống trong sự so sánh. Khi có lòng so sánh, ta luôn không hài lòng vì hơn thua, vì ngang bằng. So sánh luôn mang đến khổ đau. Tham sân si quấn quít. Liệu pháp là nên về lại với thiên nhiên, gần gũi thiên nhiên, gần gũi với cộng đồng, với “bộ lạc” của mình. Lỗi thường từ phụ huynh, nhưng cũng do tự bản thân, từ môi trường, từ di truyền (chánh báo và y báo). Khi một người tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?”, sẽ phải tiếp tục hỏi: “Tôi chết vì điều gì?”.

2 Có khi nào anh dành thời gian và tâm sức để theo đuổi một điều, rồi lúc nào đó nhận ra mình không muốn đi tiếp con đường đó nữa? 

Chưa. Có lẽ do tôi chọn nhiều “con đường” cùng lúc. Tại sao lại chỉ có một con đường kia chớ?

3 Có người trẻ thấy cuộc đời thật vô nghĩa: học để có điểm cao, đậu đại học, ra đi làm, gắng sức kiếm tiền, lập gia đình, lo cho con cái, rồi hết. Nếu có người nói với anh như vậy, anh sẽ nói gì với họ?

Lỗi ở chỗ không biết sống “ở đây và bây giờ”! Ở mỗi giai đoạn trong cuộc đời như thế đều là những niềm vui, niềm hạnh phúc, nếu biết khám phá và thưởng thức! Học cách yêu thương. Nếu hiểu biết thêm về nghiệp về duyên, sẽ an nhiên tự tại. Khi nhỏ thì muốn mau lớn, già thì muốn trẻ lại, đó là do lòng tham, lòng “muốn”.

4 Làm sao để ổn định cảm xúc, không quá buồn hay quá vui mà vẫn thấy đời đáng để sống?

Chính cái “quá” đó mới là vấn đề. Cái gì đã quá thì không tốt rồi. “Quá nhanh quá nguy hiểm” nhớ không? Kiểm soát cảm xúc là chuyện không dễ. Cần có một nền văn hóa cơ bản để thấy đủ rộng, không bị thành kiến chi phối, mới có thể kiểm soát được cảm xúc. Cảm xúc thường do “nhận thức” sai, dẫn tới cảm xúc “quá”, từ đó dẫn đến hành vi không đúng, mất kiểm soát.

5 Có nên tin vào một đấng thiêng liêng nào đó sẽ giúp ta không?

Có cái “đấng” đó không? Có râu hay không râu? “Đấng” thì chắc không có, nhưng “thiêng liêng” thì có.  Cao Huy Thuần bảo cái má lúm đồng tiền, cái răng khểnh đều “thiêng liêng”. Tôi cũng thấy vậy. Nó làm ta xao xuyến, rạo rực, và thế là nó đưa ta vào thiên đàng hay địa ngục. Dĩ nhiên, nếu có một “Đấng” cho riêng mình thì cũng tốt. Ta sẽ có chỗ để nương tựa, để nhõng nhẽo, để đổ thừa… nhẹ khỏe biết bao! Phật thì bảo hãy nương tựa chính mình, hãy tự đốt đuốc lên mà đí, hãy xây một hải đảo tự thân.

6 Có khi nào anh thấy con người hiện đại “biết nhiều nhưng sống không sâu” không?

Sống không đủ sâu là sao? Là cạn cợt?  Ai biết sâu cạn thế nào! Nhiều người chết đuối vì tưởng chỗ không sâu đó nhe.

7 Trong hành trình làm bác sĩ, khoảnh khắc nào khiến anh thay đổi cách nhìn về sự sống và cái chết rõ nhất?

Không đợi đến khi làm bác sĩ. Tôi có may mắn học Y từ những năm 60 của… thế kỷ trước ở Saigon, tại Cơ thể học viện. Ngay năm thứ I y khoa, các sinh viên chúng tôi được phát một giõ cần xé xương người để mân mê, học thuộc từng đốt, từng mối, từng mẩu, từng dây thần kinh, từ sớ thịt. Nhiều sinh viên lén ôm một cái đầu lâu xương người mang về nhà để học suốt đêm… Điều tôi cảm nhận là để tạo ra vài trăm loại xương người như thế, phải có 2 thứ tế bào xương gọi là Osteoblast (tế bào tạo xương) và Osteoclast (tế bào hủy xương) “phối hợp” nhịp nhàng với nhau mới nên hình nên dạng! Rồi sang năm thứ II, chúng tôi được mổ xác ướp, mỗi 2 sinh viên “ôm” một xác ướp, không biết của ai đã hiến tặng cho y học… Mỗi ngày mân mê hì hục, rạch rạch, xẻ xẻ cái xác ướp formol nồng nặc đó mà lòng nao nao, đầy cảm xúc về kiếp người, về “tạo” và “hủy”, và tràn dâng một niềm biết ơn…

8 Anh có nghĩ rằng nỗi đau (thể chất hoặc tinh thần) là một người thầy cần thiết không?

Đúng vậy. Nhưng để thấy biết người Thầy đó không dễ. Phải chiêm nghiệm. Phải hiểu nghiệp duyên, nhân quả.

9 Khi một người bị bệnh nặng, anh nghĩ điều họ sợ nhất là gì?

Là cái chết. Và những hệ lụy của nó. Người bệnh nặng gần gũi với cái chết nhất, nên họ sợ vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Một người có tu tập, thiền định có thể họ thấy khác. Họ quen sống trong cái chết mỗi sát na. Họ thấy sống và chết không phải là một nhưng không khác. Họ thấy “pháp”: “bất sinh bất diệt”. Họ biết “tịch diệt vi lạc”.  Ái dà, lan man chuyện đời thành chuyện đạo rồi!

10 Làm sao để phân biệt “chấp nhận” và “buông xuôi”?

“Chấp nhận” là còn tìm kiếm, tìm giải pháp để cải tiến, thay đổi. Thua keo này bày keo khác. Thất bại là mẹ thành công. Còn “buông xuôi” thường là “hết thuốc chữa”!

11 Nhiều người muốn sống chậm, nhưng áp lực cơm áo gạo tiền không cho phép. Anh nghĩ họ nên làm gì?

Thì họ cứ tiếp tục sống nhanh chớ sao! The Fast and The Furious! Có cái phim tên vậy? Vấn đề là họ có thực sự muốn “sống chậm” không?  Muốn sống chậm thì họ phải “thiểu dục, tri túc”. Nguyễn Công Trứ nói: Tri túc tiện tức, tri nhàn tiện nhàn. Nghĩa là biết đủ thì đủ, biết nhàn thì nhàn. Đợi đủ biết bao giờ cho đủ.  Lòng tham không đáy mà! Đợi nhàn biết bao giờ cho nhàn?

12 Theo anh, sự cô đơn của người trẻ hôm nay khác ra sao so với thế hệ trước?

Khác xa chứ! Người xưa, vài thế hệ trước đây thôi, cô đơn là vì thiếu bạn, mất bạn. “Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua” (Nguyễn Khuyến). Còn người trẻ hôm nay cô đơn vì có quá nhiều bạn! Các mạng xã hội giăng đầy. Cả thế giới nằm gọn trong lòng bàn tay. List bạn bè dày đặc, hết chỗ chứa! Vậy sao cô đơn? Vì ta thiếu những bạn bè biết “nhìn nhau không nói”. Bây giờ ồn ào quá, cá mè quá, tràn ngập quá. Nên người trẻ cô đơn là phải rồi.

13 Khi còn trẻ, anh có khi nào “nghĩ nhiều” (overthinking) không? 

Nghĩ nhiều là sao? Là nghĩ đi nghĩ lại nghĩ tới nghĩ lui? Có chớ sao không. Khi ta chưa có “đầy đủ thông tin” để đi đến một quyết định nào đó (mà ta cho là tốt nhất), thì ta phải nghĩ tớii nghĩ lui đó thôi. Có khi phải xin ý kiến người có kinh nghiệm mà ta tin cậy. Khi tôi thi đậu tú tài II xong thì băn khoăn trước ngã ba đường: Học y khoa theo ý muốn của gia đình, học văn khoa theo sở thích mình, hay học sư phạm? Tôi đến hỏi ông Nguyễn Hiến Lê, ông suy nghĩ một chút rồi khuyên tôi nên học y khoa để có thể giúp ích cụ thể cho gia đình, cho bà con lối xóm; nếu học giỏi, có thể dạy học và nếu có năng khiếu văn chương, thì sau mươi năm hành nghề, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều con người có thể viết lách được. Anton Chekhov, Summerset Maugham, A.J Cronin… Lỗ Tấn cũng là những nhà y học.

14 Anh có nghĩ rằng nhiều khi cơ thể con người biết nhiều hơn tâm trí không?

Thân và tâm không tách rời nhau. Thân tâm nhất như. Cho nên nó… liên hệ với nhau chặt chẽ, nó hiểu nhau rất tốt. Tâm mà an thì thân mới lạc. Thân mà an thì tâm mới lạc. Đừng dại mà tách rời ra. Bộ não chỉ chiếm 2% thể trọng nhưng sử dụng đến 25-30% năng lượng, là vì dùng để gây gỗ, oán thù, hờn giận, đấu đá, tranh giành… Cơ thể dùng 40% năng lượng để căng cơ, co cơ, sẵn sàng chiến đấu hay… bỏ chạy. Một người biết giãn cơ, thả lỏng cơ, một người biết buông bỏ tâm tham, tâm sân thì cơ thể dư năng lượng, tích lũy, để dành chữa lành tất cả các thứ bệnh thân-tâm. Vì thế ta thấy cơ thể tự nó có khả năng tự điều chỉnh.  Lỗi tại ta xài phí năng lượng một cách vô ích. Hãy quay về nương tựa chính mình là vậy. Thầy thuốc không “chữa lành” cho ta nổi đâu!

15 Có khi nào việc cố gắng hiểu mình lại trở thành một áp lực mới không?

Cố gắng hiểu mình, để tự thay đổi mình ư? Còn lâu! Sự cố gắng như vậy rõ ràng là một áp lực. Dĩ nhiên mình sẽ “giác ngộ” dần theo thởi gian. Đó là sự thích nghi, điều chỉnh chớ không phải cưỡng bức mình, ép mình, đè nén mình.

16 Một người trẻ nên chuẩn bị gì cho tuổi già từ bây giờ, ngoài tài chính? 

Nhiều thứ chớ. Cách sống mới quyết định. Tài chánh là một phần quan trọng thôi. Tuổi già cần thích nghi và chấp nhận những thay đổi về thể chất, tâm lý và cả về mặt xã hôi, ương tác trong gia đình, bè bạn…  Thích nghi với những mất mát, thiếu hụt cả về tình cảm, thích nghi với những stress trong đời sống, các bệnh lý như bênh về chuyển hóa (ba cao một thấp), môi trường, viêm nhiễm (do đề kháng yếu kém), tai nạn té ngã, các hoạt động của não bộ, hormones… Tế bào não tuy già cỗi nhưng vẫn duy trì sự nhu nhuyến, có khả năng sản sinh những nối kết mới. Người già cần giúp não bộ hoat động liên tục như học thêm ngoại ngữ, mỹ thuật, thể thao phù hợp, và quan trọng, duy trì một “cộng đồng” sinh hoạt thường xuyên với nhau.

17 Có người đi chữa lành, đến khi chữa lành xong thì không muốn làm gì nữa. Anh nghĩ thế nào về trường hợp này?

Ý nói là tại vì “bệnh” nên mới ham lam ham làm quá đó chớ gì! Phải đó. Ham, muốn, mong, cầu, tiếc nuối… nói chung là mọi thứ “dục” nó hành ta, nó làm ta khổ triền miên, đáng đời ta!  “Lòng muốn còn nhiều… Đập gương xưa tìm bóng!” (Đoàn Chuẩn). Khi nhận ra “Nhưng… thôi tiếc mà chi/ Chim rồi bay…” là hết chuyện!

“Chữa lành” xong thì lòng “dục” đã cạn, lòng tham đã vơi. Nhưng coi chừng, bệnh chỉ dứt tạm rồi biến chứng tùm lum, khó chữa hơn. Thiền là một phương pháp tốt có thể giúp chữa lành. Thiền luôn bắt đầu từ “ly dục”, “ly bất thiện pháp” và thực hành chánh niệm. Các phương pháp MBSR (Mindfulness Based Stress Redaction) và MBCT (Mindfulness Based Cognitive Therapy) thường được dùng giúp “chữa lành” các bệnh S.A.D (Stress/ Anxiety/ Depression) đó.

18 Có nhiều người nhìn bên ngoài rất thành công, nhưng bên trong họ cứ thấy có gì đó “sai sai”. Theo anh, họ cần làm gì với cảm giác “sai sai” đó?

Họ sẽ phải tự vấn. Phải thức tỉnh. Nếu vẫn còn mù mờ thì tìm đến một người “khai vấn” (coach), một người tham vấn (counseller) tốt. Nhưng nếu không may dễ gặp trường hợp làm rối bời thêm, rồi đi vào mê tín, dị đoan nguy hiểm hơn.

19 Có điều gì trong cuộc sống mà con người chỉ có thể hiểu khi đã qua một độ tuổi nhất định?

Người ta không thể không trải nghiệm, thể nghiệm, mà có kinh nghiệm sống được. Nói thất bại là mẹ thành công là vậy. Nhưng coi chừng thất bại có khi lại dẫn tới… đại bại. Nên phải tỉnh thức…

20 Khi mất một người thân, điều gì giúp con người đi qua mất mát một cách an yên nhất?

Khó mà an yên. Có thể nguôi ngoai do thời gian cuốn đi. Nhưng khó mà dứt bỏ, buông bỏ, xả bỏ dễ dàng được.  Người có tu tập, thấy biết sanh trụ dị diệt của Pháp (dharma), biết “bất sinh bất diệt” thì có thể vượt qua chăng?…

21 Anh có tin rằng một người có thể chữa lành hoàn toàn những tổn thương sâu trong quá khứ không?

Có những trường hợp người ta còn nuôi dưỡng các “tổn thương” sâu đó nữa! “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thú độc” (Xuân Diệu). Cái “thú độc” đó, “thú đau thương” đó nó… lạ lắm. Phải hỏi các thi sĩ mới biết!

22 Nhiều người biết một điều gì đó nhưng không thực hành được, ví dụ biết về “tham sân si” nhưng hết lần này đến lần khác bị chúng dẫn dắt. Anh nghĩ sao về chuyện này? 

Biết là một chuyện. Thực hành là một chuyện khác. Thực hành đâu có dễ. Biết sai thực hành sẽ sai. Tham sân si là gì? Ai làm ra mấy thứ “quỉ quái” đó? Si là “Vô minh”, là không biết hoặc biết không đúng, nhưng Tâm Kinh viết: “Vô vô mình diệc vô vô minh tận” nghĩa là không có vô minh, cũng không dứt được vô minh. Vô minh còn dài dài đó thôi. Cũng như “tham” vậy. Từ con kiến, con chuột, con sư tử, con người…  đều tham ăn, giành ăn, nhưng con người còn hơn vậy: Tham danh, tham tiền, tam sắc, tham ăn, tham ngủ, nói chung là “ngũ dục”, cho nên con người mới khổ đau hơn đó chăng?

23 Một người nên dựa vào điều gì để đưa ra những quyết định quan trọng trong đời: lý trí, cảm xúc, hay một dạng trực giác nào đó?

Người ta thường bảo phải dựa vào lý trí, khi có đủ thông tin để có quyết định sáng suốt. Tôi thì không. Tôi thấy mình nặng về cảm xúc và trực giác hơn. Có những người mới gặp đã thấy như quen từ… muôn kiếp trước!

24 Nếu phải chọn một điều đơn giản nhất nhưng quan trọng nhất để giữ gìn sức khỏe tinh thần, anh sẽ chọn điều gì?

Đó là phải giữ sức khỏe thể chất (physical well being) trước hết.  Cái “tứ niệm xứ” (satipathana) “thân thọ tâm pháp” Phật nói đó, có người phát triển cái thọ, lấy “thọ” làm gốc, có người giữ lấy cái tâm, lấy tâm làm gốc, có người giữ cái pháp, lấy pháp làm gốc. Tôi người thầy thuốc, nghĩ phải lấy cái thân làm gốc mới là cốt lõi. Vì có thân thì mới có thọ. Có thọ mới có tâm. Có tâm mới sinh… các pháp. Tâm Kinh nói “Vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý” đã xác nhận “Sắc” phải có trước rồi mới nói gì thì nói! Cho nên “Thân hành niệm” với Chánh niệm hơi thở (Anapanasati) là phương pháp khoa học và hiệu quả trong Thiền định.

25 Trong những điều anh từng chắc chắn là đúng về cách sống, có điều gì theo thời gian trở nên không còn tuyệt đối đúng nữa?

Không có điều gì là tuyệt đối đúng cả! Bám vào ý niệm tuyệt đối đúng chắc chắn sẽ “tuyệt đối” sai. Từ nhỏ đã được học “Chân lý ở bên này dãy núi Pyrénées là sự sai lầm ở phía bên kia” (Vérité en-deçà des Pyrénées, erreur au-delà) nhớ không?  Cách sống giản đơn, thiểu dục tri túc, gần gũi thiên nhiên theo tôi là tốt nhất.

26.Có điều gì anh chưa từng nói ra trong các bài viết hay cuộc trò chuyện trước đây, nhưng nếu có cơ hội nói một lần, anh nghĩ mình nên nói?

Tôi nay gần 90 rồi. Tôi nghĩ phải có niềm tin nào đó thiện lành để có hạnh phúc bây giờ và mai sau. Tôi nghĩ chắc chắn phải có kiếp trước kiếp sau, nối tiếp nhau mới công bằng trong pháp giới.

27.Có điều gì anh từng cố giữ, nhưng cuối cùng phải buông? Việc buông đó dạy anh điều gì?

Nhiều lắm. Dạy mình đừng có tham để rồi sân si. “Ly dục”, “ly bất thiện pháp” là bước đầu vào thiền. Tôi nhờ hành thiền 30 năm nay nên thấy có ít nhiều “hiệu quả”, giúp mình buông xả, giúp thân tâm có phần an lạc.

28.Trong những lựa chọn lớn của đời mình, có lựa chọn nào anh vẫn còn lưỡng lự khi nhìn lại, không hẳn hối tiếc, nhưng cũng không hoàn toàn hài lòng?

Tôi tin có nghiệp, có duyên. Có cái gì đó dẫn dắt, đưa đẩy, nối kết. Tuy nhà bác học Stephen Hawking nói “Có một thiết kế vĩ đại nhưng không có nhà thiết kế”. Tôi ngờ ông chưa thấy biết hết.

29.Anh đã học được điều gì về việc tha thứ, không phải tha thứ cho người khác, mà tha thứ cho chính mình?

Tha thứ cho chính mình mới khó. Phải tập chấp nhận. Nếu được, học và hành hạnh thứ 3 trong 10 hạnh nguyện Phổ Hiền: “sám hối nghiệp chướng”.

30. Có sự thật nào về cuộc sống mà anh hiểu khá muộn, và nếu hiểu sớm hơn, có lẽ anh đã sống khác đi?

Không. Tôi thấy mình vẫn là mình. Nó vậy là nó vậy. Hình như không có cách nào khác.

31. Khi một người già đi, điều gì thay đổi nhiều nhất: cách họ nhìn thế giới, hay cách họ nhìn chính mình?

Cách họ nhìn chính mình. Họ sẽ thở ra, nhẹ nhõm. Ủa, vậy đó hả?

32 Anh có nghĩ rằng con người cuối cùng sẽ trở về với một vài điều rất đơn giản không? Nếu có, đó là những điều gì? 

Thiểu dục, tri túc. Thấy biết Như Lai. Sống với Như Lai. Cười với Như Lai.

33. Nếu cần nhắc lại một nguyên tắc sống duy nhất, một điều anh đã tự kiểm chứng, anh sẽ chọn điều gì?

Từ bi với mình để từ bi với người.

 

Đỗ Hồng Ngọc-Minh Lê NT

(Saigon, 18.5.2026)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né

31/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

Tháng 3 về Mũi Né

Bạn thân mến,

Viết “Tháng Năm về Lagi Phan Thiết” mà không nhắc đến Tháng Ba về Mũi Né là… không ổn rồi!

Một người bạn “tung” cái hình mình ngồi “cô đơn” dưới gốc dừa ở Mũi Né và hỏi thêm đôi điều.

Bèn gởi vài tấm hình coi vui thôi nha.

Đỗ Hồng Ngọc.

(Sg 31.5.2026)

 

Bạn thấy đó. Đúng là mình tới lúc “đi chỗ khác chơi” rồi phải không. Nhưng không hẳn vậy. Dịp khóa Thiền thực hành dành cho Doanh nhân Saigon tại Mũi Né (25-29/3/2026), mình được bạn Lê Bá Thông – người bạn trẻ – BTC mời đi dự “cho vui”. LBT nói “Anh không phải thiền sinh, không phải doanh nhân, đi chơi thôi cho thanh thản, nhẹ nhàng, anh ăn mặc thế nào tùy ý, hoàn toàn tự tại, muốn tham gia chỗ nào phú hợp thì tùy nghi…”. Đây không phải lần đầu, vì mình đã dự vài khóa trước ở Mũi Né, ở Cam Ranh với LBT. Chỉ tham gia mục nào mình thích, còn chuyện đi thiền hành, thiền tọa, thiền buông thư. lửa trại… gì đó và rất nhiều hoạt động khác trong khóa thực hành thiền Làng Mai thì mình chỉ đi lang thang, dựa gốc dừa…  Vậy thôi.

 

Chủ đề của khóa thiền này là “Còn biết ơn là còn hạnh phúc” nên khi BTC mời, mình đã  có buổi trình bày chủ đề: BIẾT ƠN MÌNH. Vì thực tế thấy ai cũng biết ơn nhiều người, nhiều thứ lắm, mà thường hay “ghét mình”, nào già, nào xấu, nào bệnh, nào nghèo, nào khổ… Sáng hôm sau, các bạn trẻ, cả các Thầy cô cũng chia sẻ.

Trong buổi trò chuyện này, mình cho chiếu bài hát Bông Hồng Cho Mẹ và Mũi Né qua giọng ca Thu Vàng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Buổi sáng, ngày chia tay khóa Thiền, mình đọc một bài thơ nhỏ  tặng mọi người. Không ngờ một bạn trẻ đã kịp chép lại rất đẹp…

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Thiền và Sức khỏe, Uncategorized

SÁCH SONG NGỮ: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace & Joy”

17/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Giới thiệu sách song ngữ

“Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc

|| The Path Leading to Peace & Joy”

 

Song ngữ Việt-Anh
CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC
THE PATH LEADING TO PEACE & JOY

Tác giả: ĐỖ HỒNG NGỌC
Dịch giả: Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Nhà xuất bản Triết Văn 2026

“Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” là một tuyển tập song ngữ, phần tiếng Việt in nơi nửa đầu sách, và tiếng Anh in ở phần sau, sẽ thích hợp cho tất cả các gia đình gồm 15 bài viết về Phật học của Đỗ Hồng Ngọc, tất cả đều rất cụ thể, giải thích về thực hành cụ thể. Trong khi đó phần tiếng Anh của sách sẽ thích hợp cho thế hệ trẻ ở hải ngoại không đọc được tiếng Việt.

Sách được lưu hành ở mạng Amazon,
xin bấm vào link sau đây để mua: https://www.amazon com/

 

(Nguồn: tranthinguyetmai.wordpress)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay

Bv Đại học Y Dược Tp HCM: Bs Đỗ Hồng Ngọc – Thiền và Sức Khỏe.

16/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thiền và Sức Khỏe

Góc nhìn khoa  học

Bv Đại học Y Dược Tp HCM

(10.4.2026)

 

Bs Đỗ Hồng Ngọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vui lòng bấm “Watch on Youtube” (góc phải) để xem va gởi bình luận.

Trân trọng.

Đỗ Hồng Ngọc.

(16.5.2026)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

15/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

Tâm Nhiên

(Đà Nẵng)

 

Đỗ Nghê là bút hiệu của Đỗ Hồng Ngọc. Anh sinh năm 1940 tại Phan Thiết, Bình Thuận. Tốt nghiệp Tiến sỹ Y khoa Quốc gia, Sài Gòn (1969) là bác sỹ chuyên khoa Nhi.

Ngoài việc làm giảng viên thỉnh giảng tại Đại học Y Dược, Trưởng Bộ môn KHHV tại Đại học Y khoa Phạm  Ngọc Thạch Tp HCM,  anh còn là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng.

Viết nhiều thể loại đa dạng, đặc biệt gần đây, anh viết chuyên sâu về Phật học, Thiền học với các tác phẩm giá trị, được rất nhiều độc giả mến mộ, ưa thích.

Bình đạm mà thiết tha với thi ca, Đỗ Nghê đã xuất bản 6 thi phẩm, tập mới nhất gần đây là Thơ ngắn Đỗ Nghê, do Văn Hoá – Văn Nghệ xuất bản năm 2017.

Mở đầu tập thơ là bài Trái đất:

“Giữa đêm
Thức giấc
Giữa ngày…”

Bài thơ được viết tại Boston, Hoa Kỳ (1993) Giữa đêm bên Mỹ là đúng giữa ngày ở Việt Nam. Một cái nhìn toàn diện trái đất đang xoay quanh mặt trời. Chỗ này tối thì chỗ kia sáng, tùy theo thời tiết, nhân duyên, địa phương mỗi nơi mà thấy mỗi khác đó thôi. Thấy được như vậy là hiểu lý Bất nhị, dung thông Sóng là nước:

“Sóng
Quằn quại
Thét gào

Không nhớ
Mình
Là nước”

Nước tức là sóng, sóng tức là nước, thanh âm Tâm kinh đồng vọng đâu đây: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng, hành, thức diệc phục như thị…”

Khi hiểu như thế rồi thì không ai phải mất công đi hỏi nước từ đâu đến hay nước trôi về nơi đâu nữa:

“Nước vẫn muôn đời
Không đi chẳng đến
Ai người nỡ hỏi
Nước đến từ đâu?
Ai người nỡ hỏi
Nước trôi về đâu?”

Thi nhân bỗng nhiên thấy ra ngay cả thân xác tứ đại giả hợp của mình cũng chính là Đất:

“Đất động ta cũng động
Sóng thần ta cũng sóng
Giật mình chợt nhớ ra
Vốn xưa ta là đất”

Đó là cái thấy bằng con mắt Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi: “Tất cả là một, một là tất cả.”

Hoà trong vô thủy vô chung, vô cùng vô tận giữa thiên hà, vũ trụ càn khôn, con người là một sinh thể nhỏ bé thì bận tâm chi chuyện Có hay không:

“Chắt ra cho hết
Giọt hơi cuối cùng
Thả mình như lá
Rơi vào hư không

Tràn vào khắp ngả
Đất trời mênh mông
Nhẹ như không có
Có mà như không…”

***
Suốt mấy nghìn năm qua, vô số các triết gia, đạo sỹ khắp Đông Tây kim cổ đều luận thuyết, triết lý om sòm về có không, sống chết, đến đi, được mất, chân vọng, thật giả, hơn thua, đúng sai, phải trái, tốt xấu, trí ngu, phàm thánh, tỉnh điên, thiện ác, mê ngộ…mà chẳng ai chấp nhận ai, chẳng đưa đến một kết luận nào cả.

Kể từ khi cư sỹ Duy Ma Cật tuyên bố lý Bất nhị thì thiên hạ “Ồ lên một tiếng” bàng hoàng.

Họ bừng sáng ra, bước đi trên con đường Trung đạo, vào ra giữa có và không một cách tự do tự tại, thong dong.

Không và có…tuy hai mà một, cùng viên dung vô ngại trong lý sự huyền đồng Chân Không Diệu Hữu. Diêu hữu là thấy ngay trong bất cứ sự vật gì cũng đều vi diệu, như thấy hơi Thở:

“Lắng nghe hơi thở của mình
Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…”

Phải chăng, đó là hơi thở sát na thường trụ vĩnh hằng của một con người hoát nhiên chứng Ngộ:

“Tham chẳng còn
Sân cũng hết
Si đã tuyệt

Niết bàn
Tịch diệt
Để mà chi?”

Một câu hỏi nêu ra quá bất ngờ, bức bách. Trả lời đi, trả lời đi…Vô ngôn là hồi đáp tối thượng nhất. Phủi tay, cất bước rỗng rang Thiền:

Thực chẳng dễ dàng
Sống trong cái chết
Và chết trong cái sống…”

Chết trong cái sống là chết đi hết những danh từ, khái niệm mà mình thường vướng mắc, kẹt dính, chết đi cái chấp ngã thâm căn cố đế, chết đi sự nô lệ vào danh lợi, tài sắc, thần tượng, tôn giáo, tổ quốc…

Không chấp trước vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì thênh thang, phóng khoáng, tiêu dao du chơi giữa vô thường. Tuy giữa vô thường nhưng vẫn Chân thường, đó là niềm hân hoan sáng tạo của Đỗ Nghê, một thi nhân đã đến tận đầu nguồn, nếm được giọt nước trong ngần của mạch suối Tào Khê.

Để rồi trở về nhập cuộc, hoà điệu chịu chơi với bụi cát trần gian, thõng tay vào chợ, cười vang giọng cười hào sảng như Duy Ma Cật ngay giữa cái Đang là, luôn luôn mới lạ và mới lạ…

Tâm Nhiên

(10. 2024)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Tâm Nhiên: “DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC

14/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

“DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC

Tâm Nhiên

Bác sỹ, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, một sớm mùa Đông năm 2016 đến thăm Thầy Tuệ Sỹ tại Hương Tích Thư Quán. Tâm đầu ý hợp, hai người nói chuyện nhiều về Duy Ma Cật, Thắng Man, Tô Đông Pha, Tuệ Trung Thượng Sỹ…

Khi ra về, Tuệ Sỹ ký tặng tác phẩm Huyền Thoại Duy Ma Cật có ghi mấy chữ: “Quý tặng Duy Ma cư sỹ Đỗ Hồng Ngọc”.

Khi đọc xong Cõi Phật Đâu Xa – Thấp Thoáng Lời Kinh Duy Ma Cật của Đỗ Hồng Ngọc, Tuệ Sỹ viết vài lời cảm hứng:

“Cho tới một lúc, giữa xã hội xô bồ đảo điên…Bấy giờ bỗng xuất hiện những cư sỹ lão thành cự phách mà trình độ thâm hiểu giáo lý không nhường các bậc trưởng lão trong sơn môn.

Bên trong, hiểu và hành sâu xa nội điển, bên ngoài nhạy bén trước các biến cố đảo điên của xã hội, hiểu đạo sâu mà hiểu đời rộng. Tài và trí ấy, hiểu và hành ấy đã góp phần rất lớn trong những đoạn đường khỏi lạc nguồn mạch tư duy.

Không chỉ một Duy Ma Cật mà có rất nhiều Duy Ma Cật, khoác nhiều hành trạng khác nhau trong nhiều địa vị xã hội khác nhau đã từng xuất hiện ở đây, sống giữa chúng ta. Họ lăn lóc trong bụi đời, nếm đủ thứ mùi tục lụy, nhưng vẫn không ngừng vươn lên theo chiều cao của Đạo Pháp.

Trong một thời đại mà không còn tìm thấy thấp thoáng bóng dáng của Duy Ma Cật thì Phật pháp đạo lý có thể chỉ như món hàng trong siêu thị, có lúc chỉ như gánh hàng rong trên hè phố…”

Rồi gần đây, đầu tháng 9. 2023 khi nghe Tuệ Sỹ sau 3 tháng an cư dưới Long Thành, Đồng Nai về lại Sài Gòn, Đỗ  Hồng Ngọc liền đến Hương Tích viếng thăm, hàn huyên tâm đắc nhiều điều…

Về nhà, anh viết một bài Chén Trà Lão Triệu Mà Chưng Hoa Ngàn, kể lại buổi hạnh ngộ đó:

“Thị giả của Thầy Tuệ Sỹ nhắn tin tôi: “Thầy Tuệ Sỹ đang ở Sài Gòn. Mời Bác đến Hương Tích chơi”. Tôi đến, Tuệ Sỹ gầy ốm, xanh xao lắm. Nhưng vui vẻ, hoạt bát, thông tuệ như bao giờ.

Thầy viết tặng tôi tập thơ song ngữ Dreaming The Mountain do Nguyễn Bá Chung và Martha Collins dịch (2023) cùng với cuốn Ý Thức Mới Nghiên Cứu Về Tư Tưởng Phạm Công Thiện của Nohira Munehiro (Võ Thị Vân Anh dịch) và Phật Học Luận Tập số mới nhất.
Phần tôi gởi tặng Thầy bản thảo“Một Ngày Kia…Đến Bờ” vừa mới viết xong. Trong đó tôi viết: “Phật cũng già cũng bệnh và…cũng chết, viết về Phật là Như Lai, nhưng…Như Lai không phải Phật, về Thiền và những hormones hạnh phúc, về Chất lượng cuộc chết…

Tuệ Sỹ viết trong Tổng Quan Về Nghiệp (2021): “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi, thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người.

“Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai như ánh chớp mây chiều…”

Trong bài Phương Nào Cõi Tịnh, Tuệ Sỹ viết từ cảm hứng khi đọc cuốn Cõi Phật Đâu Xa của tôi về Kinh Duy Ma Cật (2017) ông dẫn 4 câu thơ, trích từ Giấc Mơ Trường Sơn:

“Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh
Ngoài hư không có dấu chim bay?
Từ tiếng gọi màu đen đất khổ
Thắp tâm tư thay ánh mặt trời”

Phải, chỉ có Trí tuệ (thắp tâm tư thay ánh mặt trời) mới có thể, Từ bi giúp ta vượt thoát màu đen đất khổ đó vậy.

Tuệ Sỹ cho rằng: “Vì trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn” (Phương Nào Cõi Tịnh) Ông chủ trương thơ, nhạc, vũ, kịch…có thể là ngõ đạo…

Ông thường nói về vở nhạc vũ kịch Duy Ma Cật, ở đó có hình tượng một Thiên nữ rải hoa trời tán thưởng một lời không nói (của Duy Ma…) và cõi của một lời không nói đó chính là cõi thơ…

Da mồi tóc trắng, chính là cảnh giới của Duy Ma. Cảnh giới đó là cõi đối biện thượng thừa, cõi im lặng vô ngôn, bát ngát của cư sỹ Duy Ma Cật. Và cũng là cõi tịch mặc nhưng tráng lệ của thi ca.

“Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mua hạ buồn chăng?
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh”

Tâm Thiền thì không có ngôn ngữ gì khác biệt với ngôn ngữ thường tình. Nhưng còn ngại rằng, khi đã cạo tóc mà tình thơ vẫn còn. Thôi thì, thiền đạo và thi ca là đồng hay là khác, cũng chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi…
Bởi theo ông thì: “Đạt đến cõi thượng thừa của Thơ như người học Thiền chứng chỗ Không tịch của Đạo. Cái đó vừa khó vừa dễ. Học Thiền 30 năm, 30 năm đày đọa thân tâm mà không thành. Phẫn chí bỏ đi, bất chợt thấy một cánh hoa rơi, cõi Không tịch cũng hoát nhiên, đột ngột mở ra.

Chỗ ảo diệu đó, khó giảng cho thông. Muốn cho lời thơ tuyệt diệu thì phải là đừng gò ép, vừa Không và vữa Tĩnh. Tĩnh cho nên thâu tóm hết mọi vọng động. Không cho nên bao hàm vạn cảnh.

Ngắm nhìn sự đời, bôn ba giữa đời mà thấy mình như nằm trên chóp đỉnh mây cao. Đủ hết các thứ mặn nồng, chua chát, trong đó có cái hương vị tuyệt vời…

Cõi Thơ có đến và có đi, nhưng không hề có dấu vết. Một cánh chim Nhạn, một cánh chim Hồng ngoài ven trời vạn dặm…”

Tôi vẫn nghĩ, chính cõi thơ “không hề có dấu vết” kia đã “cứu rỗi” Tuệ Sỹ, một cánh chim Nhạn, một cánh chim Hồng ngoài ven trời vạn dặm, để ông được trở về với mái nhà tranh quen thuộc của mình mà “nâng chén trà lão Triệu”.

Trong cuộc sống thường nhật quanh đây cũng có nhiều cư sỹ Duy Ma Cật như thế. Đặc điểm chung là họ tuy sống mộc mạc, giản dị, bình thường nhưng tâm hồn thì cao vút, vô cùng phóng khoáng, rộng lượng, bao dung.

 

Đỗ Hồng Ngọc là một bác sỹ, anh còn mần thơ, viết văn nữa. Khi mần thơ, anh lấy bút hiệu Đỗ Nghê.

Một buổi trưa nọ, đang lang thang trên phố hoa Đà Lạt, du sỹ bất ngờ gặp anh ở Thiền Viện Vạn Hạnh, rồi một sớm mai hồng kia, du sỹ lại tái ngộ và hội thoại cùng anh tại quán cà phê Phố Cổ ở thị xã La Gi, Bình Thuận  (cũ).:

–Trong mấy chục tác phẩm của anh, nổi bật lên là tập Tôi Học Phật. Vậy anh có thể cho biết anh học Phật như thế nào?

-Tôi đến với Phật rất trễ. Lại đến một mình. Lúc trẻ đọc Tâm Kinh, Tứ Diệu Đế, Krishnamurti, Suzuki…nhưng đọc chỉ để mà đọc. Đến năm tuổi gần 60, sau một cơn bệnh thập tử nhất sinh, tôi thấy mọi sự khác hẳn đi.

Tôi đọc Tâm Kinh thấy không khó nữa. Như vỡ ra – Và với Tâm Kinh tôi thấy chỉ cần học một chữ thôi: Chữ Không. Từ đó mà vô trụ, vô trí, vô đắc. Nó trả lời câu hỏi tại sao? Rồi bằng cách nào thì câu trả lời ở kinh Kim Cang: Vô ngã và Thiền định.
Ở Pháp Hoa học Vô tướng, Thực tướng, gặp Như Lai Đa Bảo của mình như luôn tủm tỉm cười chọc quê mình. Rồi ở Duy Ma Cật, học Bất nhị để thấy biết Như Lai, tập sống với Như Lai…Rồi nào với Lăng Nghiêm, Viên Giác, Lăng Già…Dĩ nhiên không thể không học những bước căn cơ, bởi gốc rễ có vững chắc thì cành lá mới sum suê…

–Là một bác sỹ, anh áp dụng những điều Phật học, Thiền học vào cuộc sống hằng ngày ra sao?

-Nhờ học Phật, học Thiền mà tôi thấy rõ hơn vai trò của người thầy thuốc, cứu chữa bệnh nhân. Những vị Bồ tát Thường Bất Khinh, Dược Vương, Diệu Âm, Quán Thế Âm đã cho tôi một thái độ sống khiêm hạ và phát khởi lòng yêu thương rộng lớn hơn.

–Ngoài công việc bác sỹ, anh còn mần thơ, viết văn nữa. Về thơ anh xuất bản mấy tập rồi?

-Sáu tập thơ: Tình Người (1967) Thơ Đỗ Nghê (1974) Giữa Hoàng Hôn Xưa (1993) Vòng Quanh (1997) Thơ Cho Bé Sơ Sinh Và Những Bài Thơ Khác (2010) Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017)

–Thơ anh có vài nhạc sỹ phổ nhạc rất tuyệt. Còn về văn?

-Về văn thì có những tập: Gió Heo May Đã Về (1997) Già Ơi…Chào Bạn (1999) Những Người Trẻ Lạ Lùng (2001) Nghĩ Từ Trái Tim (2003) Như Ngàn Thang Thuốc Bổ (2004) Cành Mai Sân Trước (2005) Thư Gởi Người Bận Rộn (2005) Như Thị (2007) Gươm Báu Trao Tay, Cõi Phật Đâu Xa, Thấp Thoáng Lời Kinh, Buông, vân vân…Nói chung, kể cả thơ văn cũng gần 60 tác phẩm tôi đã xuất bản lâu nay…

Trước khi chia tay, anh ký tặng tác phẩm tâm đắc Tôi Học Phật (dày gần 800 trang) và du sỹ cũng mần bài thơ Tiêu Dao Đỗ Hồng Ngọc tặng anh, thay cho một lời cảm tạ:

Nghĩ Từ Trái Tim nhiệm mầu quá
Ba nghìn thế giới ở đây thôi
Thì ra tất cả do tâm tạo
Bản lai diện mục vốn sẵn rồi

Gươm Báu Trao Tay cầm Bát Nhã
Tuệ kiếm Kim Cang chém sạch làu
Như Thị như nhiên cười Buông xả
Dứt liền điên đảo tuyệt khổ đau

Cõi Phật Đâu Xa ngoài vũ trụ
Mà ngay sinh hoạt giữa đời thường
Bước chân Bất nhị Duy Ma Cật
Nhập diệu vô lường với yêu thương

Tâm Nhiên

(Trích trong Hòa Âm Cùng Thiên Lý Độc Hành, sắp xuất bản)

 

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Sách song ngữ Việt Anh: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HANH PHÚC

06/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thầy Tuệ Sỹ: Đỗ Hồng Ngọc viết về Phật học

y như ghi toa bác sỹ

Nguyên Giác

Giới thiệuCảm nghĩ về "Thiền Tập Với Pháp Ấn" của Nguyên Giác Phan Tấn ...
Tác giả Đỗ Hồng Ngọc & Dịch giả Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Bạn cần một tác phẩm về Phật học, và về Thiền tập được giải thích rất khoa học dưới mắt của một bác sĩ, và có thể thích nghi cho mọi thế hệ già và trẻ thực hành ngay khi đọc xong? Hẳn là nhiều người có thể dễ dàng đoán ra tác giả đó là ai: tác giả Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, cũng là một nhà văn, nhà thơ, có nhiều tác phẩm về Phật học nổi tiếng, và bản thân họ Đỗ cũng được nhiều cơ sở văn hóa mời tới nói chuyện và hướng dẫn về Thiền tập.

Tác phẩm song ngữ Việt-Anh nhan đề “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” của Đỗ Hồng Ngọc, với người dịch sang tiếng Anh là Nguyên Giác Phan Tấn Hải đã bắt đầu lưu hành trên mạng Amazon từ hôm nay. Các bản Anh dịch đã được thực hiện từ nhiều năm trong thập niên qua, và bây giờ sách song ngữ này được ấn hành với một số bạn văn thúc giục, hỗ trợ, đọc bản văn, vẽ bìa — trong đó có Nguyễn Thị Khánh Minh, Trần Thị Nguyệt Mai, Thanh Lương, Lê Lạc Giao, Lê Giang Trần, Đinh Trường Chinh…

Dịch giả Nguyên Giác giải thích rằng anh học tiếng Anh theo công thức mẫu câu thuộc lòng qua nhiều thập niên dịch tin tức cho nghề báo, nên cũng lúng túng với các câu rất mực văn chương và Phật học uyên bác của Đỗ Hồng Ngọc, và gặp trở ngại trong nghề dịch là đã phải ba lần bỏ cuộc trong khi dịch bài “Phương Nào Cõi Tịnh” của Thầy Tuệ Sỹ nơi đầu sách vì chữ nghĩa Phật học của Thầy rất mực uyên áo, thượng thừa. Đành chờ một thời gian cho lắng đọng, lần thứ tư dịch tiếp, nguyện là dịch để cúng Tam Bảo, bấy giờ mới xong bài của Thầy Tuệ Sỹ.

Thầy Tuệ Sỹ đã viết về tác giả Đỗ Hồng Ngọc thế nào? Thầy viết bài “Phương Nào Cõi Tịnh” và ghi là từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của Đỗ Hồng Ngọc. Nơi trang 18 của sách “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy,” Thầy Tuệ Sỹ ghi một nhận xét:

“…như Đỗ Hồng Ngọc viết trong Cõi Phật Đâu Xa: anh viết Kinh dễ dàng và cũng rất thận trọng cân nhắc, y như bác sỹ viết toa thuốc…” (trang 18)
Y như bác sỹ viết toa thuốc? Chưa hết. Thầy Tuệ Sỹ trong bài đó đã nói rõ hơn về cách họ Đỗ hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh, trích:

“Để khỏi phải bối rối, choáng ngợp trước những từ ngữ và lý luận biện chứng siêu nghiệm, từ nhất nguyên tuyệt đối của Phạm-Ngã nhất thể, cho đến “Như Lai đến mà không đến, đi mà không đi”, chúng ta cũng có thể bắt đầu với nhận thức đơn giản hơn từ dẫn giải bởi Đỗ Hồng Ngọc, hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh:

“Ở tại nơi sanh tử mà chẳng làm việc ô trược, trụ nơi Niết-bàn mà chẳng diệt độ mãi; hành tánh không mà vẫn trồng các cội công đức; hành vô tướng mà vẫn độ chúng sanh; hành vô khởi mà khởi tất cả thiện hạnh…”” (trang 19)

Rồi với lời khen rất hiếm hoi dành cho cư sĩ Đỗ Hồng Ngọc, Thầy Tuệ Sỹ cũng viết: “Trong đoạn dẫn của Đỗ Hồng Ngọc nêu trên, chúng ta thấy Bồ-tát tu tâm như một Thánh giả Thanh văn xuất thế, nhưng hành đạo như một phàm phu trong sinh tử: trong bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Đó là căn bản của tư duy bất nhị. Thánh nhân xuất thế, và phàm phu sinh tử, hai mặt phản diện mà lại đồng nhất thể tính.” (trang 21)
Sách “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” là một tuyển tập song ngữ, phần tiếng Việt in nơi nửa đầu sách, và tiếng Anh in ở phần sau, sẽ thích nghi cho tất cả các gia đình vì là tuyển tập 15 bài viết về Phật học của Đỗ Hồng Ngọc, tất cả đều rất cụ thể, giải thích về thực hành cụ thể. Trong khi đó phần tiếng Anh của sách sẽ thích nghi cho thế hệ trẻ ở hải ngoại không đọc được tiếng Việt.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc tâm sự trong Lời Ngỏ: “Tôi không phải là thi sĩ, không phải là tu sĩ, tôi chỉ là một bác sĩ, một người thầy thuốc, nên khi phải hành nghề, phải giúp đỡ bạn bè, hàng xóm, kẻ nhức đầu, người đau lưng… và trước hết là phải chữa bệnh cho chính mình. Có những lúc thuốc men chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa, tầng tầng, lớp lớp bên trong. Tôi đành chia sẻ những điều tôi nghĩ, tôi cảm, tôi nghe. Có thể đúng. Có thể sai. Có thể không đúng không sai. Có khi hiệu quả, có khi không. Có người hợp mà không có dị ứng. Vậy nên nếu tình cờ mà đọc được những dòng này thì xin hiểu cho mà đừng trách. Nếu muốn, có thể tủm tỉm cười một mình. Cũng chẳng khoái ru!” (Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc, trang 12, 13)
Cư sĩ Nguyên Giác trong Lời Bạt của sách đã ghi nhận: “Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, nhưng anh cũng nổi tiếng làm thơ hay từ thời sinh viên. Trong khi tôi đọc, thưởng thức, và thán phục các vần thơ tuyệt vời của anh, nhưng tận cùng thích nhất vẫn là đọc Đỗ Hồng Ngọc viết về kinh Phật. Chính nơi lĩnh vực này, họ Đỗ viết gì cũng hay, viết ngắn cũng hay, viết dài cũng hay, viết về Thiền thở cũng hay, viết về ngũ uẩn giai không của Tâm Kinh cũng hay, viết về ưng vô sở trụ của Kinh Kim Cang cũng hay, viết về Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma Cật cũng hay. Và tôi tin, nhiều thế hệ sau sẽ nhớ tới một Đỗ Hồng Ngọc viết về lĩnh vực này, đó là những gì anh đã đọc, đã hiểu, đã sống và đã ghi xuống các trang giấy trọn một pháp giới học Phật của anh.” (trang 161)

Về phương diện thực hành, Cư sĩ Nguyên Giác nhận định về cách viết của tác giả: “Một điểm đặc biệt trong Tôi Học Phật của Đỗ Hồng Ngọc, và cũng hiếm thấy nơi các tác giả khác: bạn có thể ngưng ở bất kỳ trang nào, ở bất kỳ dòng chữ nào, để tự nghiệm những lời kinh được chú giải ngay trên thân và tâm của bạn. Bạn hãy đọc rất chậm và hãy nghiệm như thế, nơi từng hơi thở của bạn, nơi từng niệm và nơi từng cảm thọ của bạn. Những dòng chữ Đỗ Hồng Ngọc viết xuống trong sách cũng là từ các thể nghiệm thực chứng của tác giả. Đó là những dòng trực giải kinh Phật rất mực trang nghiêm, nơi đó từng dòng chữ đã trở thành những trận mưa hoa để cúng dường chư Phật. Nơi đó là hạnh phúc, là an lạc và là vô lượng công đức.” (trang 166)
Với 15 bài trong tuyển tập, Đỗ Hồng Ngọc viết về Thiền, về đến để mà thấy, về con đường an lạc, về tự phồng hộ trọn ngày (sáng, trựa, chiều, tối), về Buông, về thả lòng toàn thân, về chuyện ăn, về chuyện làm cho cha mẹ già vui, và rất nhiều đề tài cần thiết cho các thế hệ già trẻ…

Tiểu sử tác giả được Đặc san Văn Hóa Phật Giáo (2021) tóm tắt như sau: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, bút hiệu Đỗ Nghê, sinh năm 1940 tại Phan Thiết, Bình Thuận. Tốt nghiệp Tiến sĩ Y khoa Quốc gia, Y khoa Đại học đường Sài Gòn (1969), là bác sĩ chuyên khoa Nhi. Tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard Hoa Kỳ (1993) và Giáo dục sức khỏe tại CFES, Pháp (1997). Là Giảng viên Thỉnh Giảng Đại học Y Khoa Sài Gòn; Trưởng Bộ môn Khoa học hành vi – Giáo dục sức khỏe Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Ngoài vai trò là bác sĩ, nhà giáo ông còn là một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Ông viết nhiều tác phẩm đa dạng và rất được độc giả yêu thích. Đặc biệt sau này ông viết chuyên sâu các tác phẩm về Phật học, Thiền học với giọng văn nhẹ nhàng nhưng rất thuyết phục, dung chứa nhiều tư liệu đông tây giá trị và các kinh nghiệm tu tập. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc học, hiểu và thực hành thâm sâu nhưng rất thực tế giáo lý Phật-đà.

Tác phẩm song ngữ Việt-Anh “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” của Đỗ Hồng Ngọc, với dịch giả là Nguyên Giác do Nhà Xuất Bản Triết Văn đưa lên lưu hành ở mạng Amazon.
…………………………………….

Nguồn: tranthinguyetmai wordpresscom

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

“Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

25/03/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

“Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

Đỗ Hồng Ngọc

Khi được hỏi cõi Phật ở đâu? Phật trả lời “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát” (chúng sinh chi loại thị Bồ-tát Phật độ). Thì ra vậy. Thì ra cõi Phật của Bồ tát không ở đâu xa. Ở nơi các loài chúng sanh, quanh ta và trong ta thôi. Đó là những chúng sanh muôn hình vạn trạng, nheo nhóc, khổ đau, chằng chịt, quấn quít, xà quần sáu nẻo luân hồi bay nhảy không ngừng sáng trưa chiều tối, kiếp này kiếp khác, quần quật không an. Bồ-tát chỉ cần “thành tựu” chúng sanh đó, tức thì cõi Phật hiện ra ngay. Không phải tìm kiếm đâu xa. Nhưng thật không dễ. Chúng sanh ngoan cường, cứng cõi, lì lợm ở cõi Ta-bà này không dễ mà hàng phục, không dễ mà trụ lại một chỗ an vui. Nhưng cũng chính nơi cõi Ta-bà đầy gian khó này mới cần có Bồ-tát, và ngược lại, cũng là nơi Bồ-tát “thành tựu” chính mình. Không có chúng sanh thì cũng chẳng cần Bồ-tát! Cho nên khi Bồ-tát “thành tựu chúng sanh” thì chúng sanh cũng “thành tựu Bồ-tát” là vậy.

Nhất thiết duy tâm tạo (mọi thứ do tâm tạo ra). Tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Tìm kiếm đâu xa. Hãy quay về nương tựa chính mình. Phật đã chẳng khuyên như vậy từ khởi thủy sao? Cớ sao ta cứ mãi loay hoay, mãi chạy vạy, mãi tìm kiếm đâu đâu? Mấy ngàn năm trước, đệ tử giải Không bậc nhất của Phật đặt câu hỏi: “Vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?” (An trụ tâm cách nào? Hàng phục tâm cách nào?). Phật nói dễ lắm, dễ lắm, chỉ cần “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (đừng có trụ cái tâm vào đâu cả!) là xong. Nhưng đâu có dễ mà “vô trụ”. Ta hết trụ thứ này thì trụ thứ kia, hết trụ người này thì trụ người khác, chỉ quên… trụ vào chính mình.

Khi Bồ tát Quán tự tại (tức Quán Thế Âm) hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thì bỗng bừng ngộ thấy rõ ngũ uẩn đều không: “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, tức khắc “độ nhất thiết khổ ách”, nghĩa là đưa tất cả khổ đau ách nạn đi chỗ khác, tâm trở nên hoàn toàn thanh tịnh và như thế cõi Phật đã hiện tiền! Nhờ đó mà đã có thể “từ nhãn thị chúng sanh”, nhìn chúng sanh với con mắt đầy yêu thương, thấu cảm, bởi cõi Phật đó ai cũng sẵn có, chỉ vì không thấy biết mà “luân hồi sanh tử” mãi miết đó thôi!

Buổi mai hôm đó, Phật vừa rời khỏi tịnh thất sau ba tháng an cư kiết hạ, đưa mắt nhìn các đệ tử mình nghiêm trang tu tập, người ngồi dưới gốc cây, người ngồi trên tảng đá, tất cả đều tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, tất cả đều sống một đời sống đạm bạc, kham nhẫn, tri túc đúng như lời dạy, Phật rất hài lòng. Đa số các vị này đã là A-la-hán, đã tròn đầy phạm hạnh, đã đặt gánh nặng xuống và đã… vô sinh, không trở lại cõi Ta-bà ô trược này nữa. Một số vị Bồ-tát thì đang rày đây mai đó, bươn chãi nơi này nơi kia, thuyết giảng cho chúng sanh con đường giải thoát còn số Bồ-tát mới tu thì đang quét lá, dọn dẹp chỗ trú sau mùa mưa bão.

Nơi Phật an cư kiết hạ mùa này không xa thành Tỳ-da-ly dưới kia, một thành phố lớn, một đô thị giàu có, dân cư đông đúc, nơi chúng sanh người thì nheo nhóc lặn ngụp trong bao nỗi lo toan, sợ hãi, ốm đau, già nua bệnh hoạn…, người thì trọc phú  huênh hoang, nứt đố đổ vách, lặn ngụp trong cảnh xa hoa, lên xe xuống ngựa, kẻ hầu người hạ, bên cạnh là các vương tôn công tử áo gấm quần hoa ăn chơi trác táng, tửu điếm trà đình, và rất nhiều thanh lâu sang trọng với những cô kỹ nữ khuynh thành đón người cửa trước rước người cửa sau và rượu, và thuốc nghiện tràn lan; bên cạnh đó là những bậc trí giả ngày đêm tranh luận không ngừng về những triết thuyết cao siêu huyền bí, giải thích mọi hiện tượng của vũ trụ và loài người, ai cũng cho mình đúng nhất hay nhất.

Thành Tỳ-da-ly rực rỡ ánh đèn dưới kia khiến Phật thấy đã đến lúc phải thay đổi cách “tiếp cận” mới mong giải thoát chúng sinh. Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay đang tĩnh tọa xung quanh Phật bây giờ lại có thể tiếp cận được với các bậc vương tôn công tử, với các quan chức, với các nhà buôn dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay tiếp cận được với các cô nàng kỷ nữ nhan sắc kiêu kỳ ở các thanh lâu trà đình tửu điếm dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng lại có thể vào tận các ổ mại dâm, động ma túy sa đọa dưới kia để thuyết giảng lời Phật? Ai đây có thể tiếp cận được? Cách nào đây có thể tiếp cận được? Ai đây sẵn lòng xâm nhập vào chốn bùn nhơ mà đủ năng lực giúp đỡ, hỗ trợ người khác vượt qua, không chỉ với những lời khuyên suông, lý thuyết trên mây, cao ngạo và xa cách, mà từ những thực tế của cuộc sống vì Phật đạo không xa cách thế gian, Phật đạo ở ngay trong lòng thế gian. Làm sao cho những cánh sen xanh biếc mọc lên từ chốn bùn nhơ?

Phật là một nhà sư phạm tuyệt vời, thường dùng phương pháp giáo dục chủ động, dựa vào “đối tượng đích” mà thuyết giảng, thế mà cũng có lúc hằng mấy ngàn thính chúng đã bỏ đi vì không thể tin, không thể hiểu được điều Phật dạy. Không thể tin có viên ngọc trong chéo áo kẻ bần cùng, không thể tin Đề-bà-đạt-đa, một người phạm tội vô gián như thế được Phật thọ ký thành Phật mai hậu!

Cách tốt nhất ở đây phải là phương pháp “tiếp cận dựa vào cộng đồng” (Community-based approach). Cộng đồng Tỳ-da-ly có những đặc thù của nó, phải tiếp cận dựa vào nó, tự trong nó. Không thể đưa các vị A-la-hán đạo cao đức trọng, phạm hạnh tròn đầy, đến thuyết phục được các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… Không thể đưa các vị Bồ-tát trí huệ thâm sâu đến thuyết phục các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… về nhất thiết duy tâm tạo, vô thường, vô ngã, thực tướng vô tướng…! Phải có người tại chỗ. Phải từ bùn mà sen mọc lên. Đã có lần các vị Bồ-tát phương xa đến cõi Ta-bà tình nguyện giúp Phật, ngài từ chối và ngay lúc đó đã có vô số các Bồ-tát “tùng điạ dũng xuất” tại chỗ, từ đất vọt lên, sẵn sàng lãnh trách nhiệm. Phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng này đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng (community involvement), và có kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology) mới thành công. Không có sự tham gia của cộng đồng, không sử dụng kỹ thuật học thích hợp… thì các phương pháp dù hay cách mấy mà áp đặt, xa lạ, cũng trở nên vô ích, thui chột vì không hợp “thổ ngơi”!

Đối tượng đích (target population) lần này là năm trăm con nhà trưởng giả, trẻ tuổi, vương tôn công tử, đại gia, doanh nhân, trí thức của thành Tỳ-da-ly. Tất cả họ đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác) … nhưng chưa biết cách phải thực hành thế nào vì họ không thể xuất gia như các vị Bồ-tát kia.

Vấn đề là làm thế nào để các vị trưởng giả trẻ tuổi, doanh nhân, trí thức… này có thể trở thành Bồ-tát ngay tại cộng đồng của họ mà không cần phải cắt tóc, đầu tròn áo vuông của một vị sa môn?

Thực ra buổi thuyết giảng đặc biệt hôm nay của Phật tại Vườn Xoài không chỉ dành cho “đối tượng đích” nói trên mà chủ yếu còn dành cho tất cả các vị A-la-hán, Bồ-tát cùng các đệ tử gần xa của Phật, để chính họ tự nhìn lại chính mình và cũng phải tự thay đổi. Bởi thay đổi “cái nhìn” vốn là một sự thay đổi không hề dễ dàng! Phật muốn giới thiệu một phương pháp tiếp cận mới, tiếp cận dựa vào cộng đồng qua một “mô hình” Bồ-tát mới, “Bồ tát tại gia”, qua hình tượng một nhân vật kiệt xuất là Duy-ma-cật ở ngay trong thành Tỳ-Da-Ly vậy.

Bảo Tích thưa: “Bạch Thế Tôn! Năm trăm chàng con nhà trưởng giả đây, thảy đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nay muốn nghe việc làm sao có được quốc độ thanh tịnh của Phật. Xin đức Thế Tôn giảng thuyết các hạnh tịnh độ của chư Bồ-tát.”
Phật dạy: “Lành thay, Bảo Tích! Ông đã vì chư Bồ-tát hỏi Như Lai về hạnh tịnh độ. Hãy lắng nghe, lắng nghe! Hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì ông mà giảng thuyết.”

“Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát. Tại sao vậy? Bồ-tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy theo chỗ điều phục chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để vào trí huệ Phật mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để phát khởi căn Bồ-tát mà giữ lấy cõi Phật. Tại sao vậy? Bồ-tát giữ lấy cõi nước thanh tịnh là vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh.  Nhưng nếu muốn xây cất nơi hư không thì không thể được. Việc nguyện giữ lấy cõi Phật đó, chẳng phải là việc xây cất nơi hư không.”.

Bồ Tát tùy lòng ngay thẳng (trực tâm) mà khởi làm. Tùy chỗ khởi làm mà được lòng sâu vững (thâm tâm). Tùy lòng sâu vững mà tâm ý được điều phục. Tùy chỗ điều phục tâm ý mà làm được theo đúng như thuyết dạy. Tùy chỗ làm theo đúng như thuyết dạy mà có thể hồi hướng. Tùy chỗ hồi hướng mà có sức phương tiện. Tùy sức phương tiện mà giúp cho chúng sinh được thành tựu. Tùy chỗ thành tựu cho chúng sinh mà được cõi Phật thanh tịnh. Tùy cõi Phật thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Tùy chỗ thuyết pháp thanh tịnh mà trí huệ được thanh tịnh. Tùy trí huệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh. Tùy tâm được thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Cho nên, nếu Bồ-tát muốn được cõi nước thanh tịnh hãy làm cho tâm thanh tịnh. Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh”.

 

(ĐHN, Cõi Phật đâu xa, viết về kinh Duy Ma Cật)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước

27/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

 

Thư gởi bạn xa xôi

Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước

 

1. Bạn đã đọc chuyện này chưa? Chuyện kể ông Biển Thước (401-310 trước Công nguyên), một thầy thuốc người nước Triệu thời Đông Chu liệt quốc nổi tiếng là “Thần y”. Một hôm Ngụy vương hỏi Biển Thước: “ Ta nghe nói ba anh em nhà Thầy đều giỏi y thuật, thử nói ta xem trong ba người, y thuật của ai cao minh nhất?”

Biển Thước đáp: “Anh cả của thần y thuật cao minh nhất, anh hai của thần thứ nhì, còn thần kém nhất trong ba anh em”.

Ngụy vương ngạc nhiên: “Vậy sao Thầy nổi tiếng trong thiên hạ còn hai anh Thầy không ai biết đến?”

Biển Thước đáp: “ Vì anh cả thần chữa bệnh cho người khi bệnh chưa xảy ra, người bệnh trông như không có bệnh gì cả cho nên người ta không ai biết anh thần đã phòng bệnh cho họ từ trước; còn anh hai của thần trị bệnh ngay khi người ta mới phát bệnh, nên người ta cho rằng anh hai thần chỉ chữa được bệnh vặt mà không biết rằng nếu để bệnh trầm trọng thì nguy hiểm tính mạng nên chỉ nổi tiếng ở vùng quê, còn thần thì chữa khi bệnh tình người ta đã nguy ngập, tính mạng bị đe dọa… Điều thần làm là phá huyết mủ, phẫu thuật, đắp thuốc, những việc dính đến máu me, nên thần mới vang danh thiên hạ, nhưng dù bệnh có cứu được cũng thường để lại di chứng… Thần thua xa hai anh thần nhưng thiên hạ ít người biết vậy! (Trang Tử tâm đắc, Nxb Trẻ 2011).

Có thể nói Y đức… cao nhất chính là phòng bệnh, giúp cho người ta khỏe mạnh, ít đau ốm hoặc nếu có bệnh thì được chữa sớm khi bệnh chưa nặng vậy. Hải Thượng Lãn Ông cũng tự xưng mình là “Ông già lười Làng Hải Thượng” vì ước mong không còn ai bệnh tật để mình được rảnh rang làm thơ uống rượu ngoạn cảnh đó thôi…

 

2. Có những nguyên tắc chung hay còn gọi là những giá trị cơ bản của Y đức (phổ quát trên toàn thế giới) được dạy ở các trường Y xuyên suốt quá trình nhiều năm học tập và khi ra trường được tiếp tục giám sát bởi Tổ chức nghề nghiệp (Ordre des médecins, Bác sĩ đoàn) với Nghĩa vụ luận y khoa (Deontologie médicale, Luật hành nghề) một cách chặt chẽ.

YDUC Grecia1  Dĩ nhiên Y đức không thể dạy lý thuyết suông mà cần có những bài học thực tiễn từ cuộc sống (hành nghề), những trải nghiệm trong ứng xử, giao tiếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân, với đồng nghiệp, với cộng đồng v.v… và nhất là có những tấm gương để noi theo.

 

3. Các nguyên tắc chung hay còn gọi là giá trị cơ bản của Y đức:

              1) Làm điều có lợi nhất cho bệnh nhân (Beneficence)

             2) Trước hết, không làm điều có hại ( Primum non nocere),“First,                   do no harm”.

             3) Tôn trọng sự Tự chủ  (Autonomy)

             4) Bảo mật (Confidentiality)

             5) Công minh (Justice). Không kỳ thị , phân biệt đối xử (Non- discrimination).

             6) Tôn trọng nhân phẩm  (Dignity)

             7) Thỏa thuận với thông tin đầy đủ (Informed Consent)

             8) Nói sự thật (Telling the truth).

 

Thân mến,

Bs Đỗ Hồng Ngọc

(Ngày 27.2.2026)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

10/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chân thành cảm ơn  ĐD Hải Ninh, Xuân Trang, Quay và dựng phim Khải Nguyễn, Ca sĩ Hồng Thắm, Gia Hải…

MC Nhà thơ Lê Trúc Khanh (Thầy Lê Phước Nghiệp) và Tất cả các bạn Cần Thơ…  (01/02/2026)

Cảm ơn Nguyễn Văn Quyền.

Đỗ Hồng Ngọc.

(10.02.2026).

………………………………………………………………………..

Duyên, từ nơi xa xôi:

* sáng thức dậy trong ánh bình minh trong lành chưa có tiếng động của một ngày mới: buồn vui ra sao.  được nghe anh Ngọc và những người góp mặt trong buổi trò chuyện chia sẻ về cuộc đời : khi mở mắt chào đời cho đến cuối đời, đời người rất thật, xúc động vô cùng!

* nhìn anh Ngọc khi các em hát Sông ơi cứ chảy, thấy trong mình cũng  cả một dòng sông…

* bên ngôi trường cũ, hai người bạn tuổi xế chiều am hiểu cuộc đời, chia sẻ cảm tưởng về hoàng hôn: rất từ bi với chính mình, với đời…đã sẵn lòng đổi mặt trời cho một hoàng hôn…

❤️

………………………………………………………….

Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Huệ

Hội Nhà Văn TP. Cần Thơ

 

Thật bất ngờ trong buổi Trà Chiều ở Cần Thơ, nhà văn Thanh Huệ, 90 tuổi , gởi tặng tôi bài thơ và nói chị đã từng rất xúc động khi đọc bài “Thư cho Bé sơ sinh” từ 60 năm về trước…

 

Nhà văn Thanh Huệ, 90 tuổi, gởi bài thơ tặng ĐHN.

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Chuyến Về Cần Thơ đầu năm 2026.

10/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

CHUYỀN VỀ CẦN THƠ ĐẦU  NĂM 2026

Đỗ Hồng Ngọc

Lâu lắm, không có dịp về Cần Thơ. Nhận Lời mời của BTC Hội Xuân Cây Di Sản THPT Châu Văn Liêm  (Trường Phan Thanh Giản cũ) Xuân Bính Ngọ 2026, vào ngày 01/02/2026, tôi xếp túi xách lên đường ngay với chiếc gậy mây của mình bởi được biết đó là Ngày Hội Xuân dành riêng cho các Thầy Cô giáo tuổi U 90 của trường- cùng lứa tuổi của tôi- khi nhớ mình cũng đã U 90! Đề tài dành cho tôi là trò chuyện ít phút về Nếp sống An Lạc cho người cao tuổi, thật lòng tôi cũng muốn dịp này được gặp gỡ trao đổi học hỏi lẫn nhau. Trước đó BTC cũng đã tặng mỗi Thầy Cô cuốn “Nếp sống An Lạc” của tôi nên cuộc gặp gỡ chỉ là để “nhìn nhau” chút xíu cho vui!

Và thật cảm động biết bao khi thấy cựu học sinh tuổi 50-60, áo dài trắng với nón lá nữ sinh ca hát mừng Thầy Cô; cảm động biết bao khi thấy Cô cựu Hiệu trưởng 85 tuổi vung tay đánh trống “Tựu trường” như thuở nào, bên cạnh có hai cựu học sinh nâng đỡ; và cảm  động biết bao khi thấy Thầy Hiệu trưởng Trường Đại Học Cần Thơ Hà Thanh Toàn (cũng là cựu học sinh của trường)  nâng tách trà thơm mừng tuổi  từng Thầy Cô U 90  của mình!…

Dưới đây là vài hình ảnh chuyến đi, và một  clip video buổi Trà Chiều, một sinh hoạt “ngoại  khóa” do các “bạn trẻ” dành riêng cho tôi, với Đạo diễn Hải Ninh, Xuân Trang, Bs Mai Nguyễn, Ca sĩ Hồng Thắm… để tôi có được buổi đọc Thơ mình và các bạn Cần Thơ hát những bài thơ đó…

Với tôi, đây là một kỷ niệm sâu đậm của  Cần Thơ dành cho riêng mình đó vậy. Xin chân thành cám ơn tất cả.

“… Thương ai mà cồn Ấu/ Tròn xoe đôi mắt nai” (ĐHN 1986)

 

Từ trái: Xuân Trang, Bs Mai Nguyễn, Thầy Lê Văn Quới, Bs Đỗ Hồng Ngọc, Đạo diễn Hải Ninh, Nhiếp ảnh gia Trịnh Quốc Huy

 

MC Như Quỳnh và Hồng Thắm đang “quay” Bs ĐHN về Nếp sống AN LẠC cho người cao tuổi!

 

“Thầy ký tên tặng sách mỏi tay chưa?” (HN)

 

 

” Tranh thủ” thời gian thăm Trúc Lâm Phương Nam, trò chuyện cùng Thầy Bình Tâm, trụ trì… Sau đó ghé “vamxang” home, ăn bữa cơm trưa cân bằng âm dương….

 

Về Cần Thơ lúc này tìm được một cây Cầu Khỉ nguyên sơ như vầy không dễ! Nhưng chỉ dám dòm, dâu dám bước đi “thênh thang” như xưa!

(còn tiếp)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

27/01/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Gặp một mùi hương…

Đỗ Hồng Ngọc

 

Cố đi tìm Phan Tấn Hải thì gặp Nguyên Giác, một thầy tu miên mật một thời với Sư Tịch Chiếu (1912-2016) ở chùa Tây Tạng Bình Dương. Cố đi tìm Nguyên Giác thì gặp Phan Tấn Hải, một nhà thơ, nhà văn, nhà báo… giữa bụi trần mà… “gieo duyên” khắp chốn, bởi nghiệp lành, nối kết trong trường văn trận bút .. Còn cố đi tìm Nguyên Giác- Phan Tấn Hải thì chỉ gặp một người đang đuổi bắt một mùi hương! Không phải mùi hương từ bàn tay run rẩy nắm lấy tay cô bạn gái thời tiểu học ở cổng chùa đó đâu, cũng không phải mối tình đầu với cô bé Bắc kỳ “Minh này” ốm nhách thời lên mười với một rỗ đầy trái sa kê đó đâu…

Mà là mùi hương bay ngược chiều gió. Mùi hương của một cõi xứ mà người ta chỉ cần nghe mùi hương thôi đã giác ngộ, đã thấy biết (tri kiến) Phật. Ở đâu vậy? Ở xứ Chúng Hương, nơi có vị Phật tên là Hương Tích mà Duy Ma Cật đã đến xin cơm cho các vị Bồ tát tương lai ở thành Tỳ Da Ly dạo nọ. Đó là thứ hương thơm đủ để nuôi cả thân và tâm bất tận. Đó chính là hương Giới đức. Thứ hương thơm có thể bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. Phải được huân tập lâu ngày chày tháng, với Định, với Huệ. Hương thơm đó phải tích lũy từ từ mới đầy dần lên, mới sung mãn, tràn trề… đó là một thứ «vô tận hương”.

Dù Nguyên Giác- Phan Tấn Hải nói “Hạnh phúc là đang sống với chữ” mà thiệt ra không phải vậy! Anh sống với “Tứ y”, trong đó “y nghĩa bất y ngữ” là cốt lõi. Anh không chơi chữ, không vọc chữ, vò chữ, nắn chữ. Bởi sau chữ là lấp lánh nghĩa. Là cái thấy từ Alaiya thức khi đã thành Đại viên cảnh Trí.

Phan Tấn Hải thổ lộ “Có những truyện tôi viết trong nước mắt, có những truyện tôi viết trong tiếng cười, có những truyện tôi viết trong im lặng. Nhưng xuyên suốt là một ước mơ: làm đẹp cho cuộc đời này, dù chỉ bằng một dòng chữ, nơi ai cũng là ánh sáng”.

“Cũng có thể nói, tôi không thực sự viết truyện. Tôi chỉ viết lên những dòng chữ như thả lên những cánh chim trong tâm mình cho bay qua bầu trời văn học…”

Không như nhiều tác giả tạo ra nhân vật và giúp nhân vật sống trong kiếp sống của họ, tác giả như người đứng từ bên ngoài quan sát, mô tả, tưởng tượng… Phan Tấn Hải thì không. Anh viết mỗi bài, mỗi truyện từ kiếp sống của chính anh. Không có nhân vật. Không có tình tiết. Chỉ là những truyện “cổ tích” của chính mình trong “trí nhớ mù sương” của chính mình.

“Mỗi truyện là một kiếp sống tôi đã đi qua. Tôi sinh ra trong cốt truyện, sống trong từng dòng chữ, và rồi tan biến khi câu chuyện khép lại. Có khi là một người lữ hành cô độc, có khi là một đứa trẻ thơ ngây, có khi là một người mẹ, một người cha, một người tình, một người tu. Tôi đã sống như thế, nhiều lần, nhiều kiếp, trong từng dòng chữ, và rồi tan biến khi câu chuyện khép lại. Và rồi, khi trang giấy trắng khác lại mở ra, tôi lại sinh vào một kiếp mới. Do vậy, xin đừng hỏi là truyện hư cấu hay thật, hay nhân vật này là ai…”

Phan Tấn Hải dặn “xin đừng hỏi” làm tôi nhớ Tuệ Sỹ, một thiền sư, một nhà Phật học uyên bác, cũng từng căn dặn như thế về thơ “tình” của ông: Tâm Thiền thì không có ngôn ngữ gì khác biệt với ngôn ngữ thường tình. Nhưng còn ngại rằng khi đã cạo tóc mà tình thơ vẫn còn. Thôi thì, thiền đạo và thi ca là đồng hay là khác, cũng chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi.

Tự hôm nào suối tóc ngọt lời ca

Tay em run trên những phím lụa ngà 

(…)

Lời em ca phong kín nhụy hoa hờn

Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt 

Mờ phố thị những chiều hôn mái tóc

Sóng ai ngồi so phím lụa đàn xưa 

 

(Tuệ Sỹ. Những phím dương cầm)

 

Còn Phan Tấn Hải thì khiến tôi nhớ đến vết chim bay của Phạm Thiên Thư

Tôi khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

(…)

Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tưởng
Hay một vết chim bay

(Phạm Thiên Thư, Vết chim bay)

“Chỉ biết rằng, mỗi bài viết, mỗi truyện ngắn, mỗi bản dịch, mỗi bài thơ, dù mang tên nào, tôi đều đã sống một kiếp người khác nhau. Tôi chỉ là người viết, người đang kể truyện cổ tích, đang học cách tan ra như trâu bùn trong từng khoảnh khắc, và đang học cách để thấy mình là biển”.

Mỗi bài viết là một kiếp sống khác. Từ kiếp này qua kiếp kia, miên man bất tận như dòng tâm thức trôi đi trong cõi Alaiya. Cho nên đọc Đuổi bắt một mùi hương ta có dịp thấy từng kiếp sống của tác giả. Nhân vật nếu có, chỉ là “giả tưởng”, chỉ là cái cớ để “thị hiện” mà thôi.

Trở lại với Tập truyện Đuổi bắt một mùi hương, Phan Tấn Hải bần thần:

Tôi nghĩ rằng thế hệ của tôi có thể sẽ là thế hệ cuối cùng (hay sắp cuối cùng) của những người viết tiếng Việt ở hải ngoại. Thế hệ sau sẽ viết thuần tiếng Anh. Báo tiếng Việt ở hải ngoại có thể sẽ từ từ biến mất trong một thập niên nữa. Văn học tiếng Việt lúc đó chỉ còn là chuyện của người trong nước. Phải chấp nhận viễn ảnh vô thường như thế. Phải chăng, các nhà văn hải ngoại như thế hệ của tôi, chỉ là những dòng chữ cuối cùng của một trang sử sắp lật qua? Thêm nữa, mùi của những trang giấy mới, mùi của những dòng mực in đang bị trận gió vô thường thổi tới, vùi dập. Xã hội tương lai hẳn là không cần giấy nữa. Và lúc đó sẽ là chuyện của các nhà văn thế hệ tương lai, khác hẳn bây giờ, mà tôi không hình dung nổi. Và bây giờ, tôi vẫn rất mực yêu thương những dòng chữ còn đang được níu kéo nơi đây, mà tôi đang viết trên trang giấy này.

Rồi một ngày nào đó, độc giả sẽ quên hết những chữ tôi viết, và sẽ chỉ còn nhớ rằng tôi đã đem truyện cổ tích vào đời thường, để làm cho cuộc đời đẹp hơn. Và đó sẽ là hạnh phúc của người viết và của người đọc.

Cái làm cho cuộc đời đẹp hơn, cuộc sống hạnh phúc hơn đó, có thể tìm thấy ở đâu?

Ở trong sự “hư vỡ” của vô thường, vô ngã, duyên sinh, thực tướng vô tướng…

“Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ”.

(Nguyên Giác-Phan Tấn Hải. Mỹ học của hư vỡ/ Kintsugi).

Biết sống với Hư Vỡ là biết sống với Như Lai. Nó vô tướng mà hiện tướng. Nó chân không mà diệu hữu.  Nó có cái đẹp của vô thường mà thường, của vô ngã mà ngã, của khổ đau mà an lạc… Nó không ở đâu xa. Nó quanh ta. Nó trong ta. Cho nên “cư trần” mà “lạc đạo”, “thả tuỳ duyên” như Trần Nhân Tông nói.

Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…?

Saigon, 24.11.2025

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Tu viện Khánh An và Tôi

26/01/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Tu Viện Khánh An và Tôi

(Bài viết trong Kỷ Yếu kỷ niệm 120 năm thành lập tu viện)

Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc và Thầy Trí Chơn

Mùa xuân 2015, hòa thượng Giác Toàn ở Pháp viện Minh Đăng Quang tổ chức họp mặt đầu xuân vào ngày mùng 5 tháng giêng Âm lịch, khách mời là các nhân sĩ trí thức, các giáo sư, các nhà văn, nhà thơ, các nhà khoa học mến mộ Phật giáo… Trong buổi giao lưu, tọa đàm thân mật đầu năm, tôi được gặp thầy Trí Chơn của Tu viện Khánh An, một vị thầy tu trẻ, nghiêm cẩn, khiêm tốn nhưng năng động, hoạt bát, thường dẫn dắt các chương trình sinh hoạt Phật giáo. Ông thấy tôi chắc trông còn trẻ, chỉ chào hỏi thân tình gọi bằng anh, không ngờ khi biết tôi đã gần tám chục, nên đổi gọi tôi bằng… bác, làm tôi thấy mình già nhanh quá!

Chúng tôi trao đổi chuyện đời, chuyện đạo, có vẻ “tâm đầu ý hợp”. Tôi thấy ở Thầy Trí Chơn một vị thầy tu trẻ, có “học Phật” nghiêm túc, có thực hành Thiền tập, không hướng dẫn Phật tử đi vào con đường nặng màu tín ngưỡng. Thầy thì thấy ở tôi một bác sĩ, học Phật “lõm bõm” bằng con đường tự học, nhưng dựa trên “khoa học thực nghiệm”, không “tầm chương trích cú”, có cuộc sống an nhiên tự tại,  “cư trần lạc đạo”, lại có những trải nghiệm thực tế, thực hành thiền bằng con đường Phật dạy, đặc biệt phương pháp Anapanasati (An ban thủ ý) trên cơ sở khoa  học, sinh y học, thuyết phục và nhiều trải nghiệm qua thực hành.

Năm 2017, Thầy mời tôi về nói chuyện “Thở và Thiền” tại tu viện Khánh An. Lần đó, tôi còn nhớ có các đệ tử của Thầy như cháu Lệ Mai, Thu, Thủy… và Nguyễn Văn Quyền. Các Phật tử này vốn cũng là những học trò của tôi trong Lớp Phật học và Đời sống ở Chùa Xá Lợi. Buổi nói chuyện “Thở và Thiền” có đến trên 600 người tham dự và Nguyễn Văn Quyền đã quay video đưa lên Youtube, đến nay đã có gần nửa triệu lượt theo dõi và tán thán. Sau đó, là buổi nói chuyện về “Ăn và Chay”, dưới góc độ khoa học, kèm với các khái niệm về 4 thứ thức ăn của nhà Phật, là: Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực, áp dụng vào đời sống hiện nay, với internet, fake news, deep fake và AI… để ta không bị lôi cuốn, dính mắc, thoát khỏi phiền não khổ đau…

Cũng trong chiều hướng này, Tu viện Khánh An trong khóa tu “Xuất gia gieo duyện” vào tháng hạ vừa rồi, các Thầy trẻ Tuệ Tâm, Tuệ Bảo cũng nhờ tôi tiếp tục có một buổi giảng về “Thiền và Sức khỏe” cho các hành giả. Không ngờ đến nay cũng đã có gần một trăm ngàn bạn đọc theo dõi trên Youtube Khánh An.

Tôi nghĩ đã đến lúc Phật tử đến chùa không chỉ vì tín ngưỡng, cầu phước, cầu an, như xưa mà đã tìm đến một sự bình an nội tâm, an nhiên, tự tại, hạnh phúc trong cuộc sống qua lời Phật dạy, biết quay về nương tựa chính mình. Tôi cho rằng Khánh An là nơi đáp ứng được những giá trị thực nghiệm này.

Từ đó Thầy Trí Chơn và tôi thỉnh thoảng gặp nhau trên tu viện Khánh An, khi thì bữa cơm lúc thì chung trà hàn huyên chuyện đạo, chuyện đời, chuyện sức khỏe chuyện hành thiền, chuyện sống hạnh phúc, an lạc và lan tỏa đến mọi người.

Biết thầy Trí Chơn chịu khó đọc sách, khi có tác phẩm nào mới, tôi đều gởi tặng thầy: Nghĩ từ trái tim (về Tâm kinh Bát nhã), Gươm báu trao tay (về Kim Cang); Ngàn cánh sen xanh biếc (về Pháp Hoa); và Cõi Phật đâu xa (về Duy Ma Cật)… Năm rồi tôi tặng Thầy cuốn “Tôi học Phật” do tôi viết khá dày khá lớn với 900 trang, nhưng trò chuyện cùng nhau thì thấy thầy đọc cũng gần hết. Tôi biết Thầy Trí Chơn thích cách viết của tôi, chân thành, chia sẻ trải nghiệm, thực hành của chinh mình, không “tầm chương trích cú” kinh sách nặng nề hay dùng điển cố, giáo khoa, mà với cách nhìn “khoa học thực nghiệm”, đem đạo vào đời. Thầy Tuệ Sỹ trước đây, đọc Cõi Phật Đâu Xa của tôi đã có lần gởi tặng tôi cuốn Huyền thoại Duy Ma Cật của Thầy đã ghi “Quý tặng Duy ma Cư sĩ Đỗ Hồng Ngọc” vào năm  2016.

Với tu viện Khánh An, tôi thấy ở đó chẳng những có các Thầy, các bạn, các Phật tử để cùng chia sẻ, tu tập cùng nhau, mà ở đó còn có dịp nhìn ngắm những đường  nét một ngôi chùa nghiêm trang mà nền nã, với  một hồ sen bát ngát, một mái nhà tranh trống hoắc trống huơ chẳng kém nhà Cư sĩ Duy Ma Cật thuở xưa, ở giữa hồ sen, và những giàn bầu giàn mươp, những bụi tre mạnh tông… những vườn rau xanh. Tôi không quên có lần, đích thân Thầy Trí Chơn đã chèo thuyền cùng tôi và các Phật tử đi trên hồ sen… giữa buổi trưa hè mát mẻ.

Mong Khánh An giữ mãi niềm VUI và LÀNH giữa cuộc sống xô bồ nhộn nhịp hôm  nay.

 

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

Saigon, 22/01/2026 .

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Thiền và Sức khỏe

Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!

28/12/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

Mấy câu hỏi khó cho người… già!

Người già đây là tôi, dù tôi mới… 86 tuổi. Biết tôi là bác sĩ, có học Phật chút chút, nhiều bạn thường đặt những câu hỏi khó về sức khoẻ, về “Sanh lão bệnh tử”. Tôi cũng ráng trả lời đây đó đôi lần (ML,ĐH…), nhưng mới đây, một bạn đồng nghiệp trẻ vừa 80 tuổi, đang sống bên trời Tây nhắc tôi: “Philosopher c’est apprendre a mourir…” nên dịp này tôi xin gởi lại các bạn xa xôi của mình đôi điều suy nghĩ.

Coi vui nhe.

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 28.12.2025)

 

Mấy câu hỏi khó cho người… già!

 

Tuổi già với anh là một mùa thu an tĩnh, hay là một mùa chuẩn bị gieo hạt mới?

Cả hai. Tôi nghĩ vậy! Trong Phật học, có “giới thiệu” vị Phật tượng trưng cho tuổi già đó là Phật Asucbệ (Akshobhya), còn gọi là Phật Bất động, Phật Vô sân, sống ở xứ “Diệu Hỷ”!

Thấy chưa? Một người già, lòng thanh thản, không còn tham muốn gì nữa, không còn sân hận gì nữa (Vô sân), thường… nằm một chỗ (Bất động), lúc nào cũng an nhàn, nhìn đâu cũng thấy mọi thứ đều là niềm vui kỳ diệu (xứ Diệu Hỷ).

Còn nói là mùa gieo hạt mới vì không biết cánh cửa của sự chết mở ra trước mắt sẽ cho ta thấy khung trời nào ở bên kia. Chính vì thế, ngay ở đây và bây giờ ta đã có thể gieo những hạt thiện lành!

Anh từng viết đại ý “già mà không vui là lỗi tại mình”. Vậy “vui” có phải là một kỹ năng cần rèn luyện không?

Nó không phải một kỹ năng để “rèn”. Kỹ năng là giả tạo. Nó phải đến từ bên trong. Già có cái vui riêng của già. Chiếc lá thu vàng chắc phải có niềm vui gì đó để rụng chớ, phải không?

Trong kinh Phật cũng có “giới thiệu” một vị Phật tên là “Bất không thành tựu” (Amoghasiddhi), nghĩa là vị Phật không có gì mà không thành tựu, không có gì mà không đạt kết quả tốt đẹp. Nhờ gì? Nhờ biết sử dụng ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, xúc giác) biến thành “Thành sở tác Trí”. Nghĩa là mắt tai mũi lưỡi gì cũng đã thấu triệt được cái thấy biết “Chân Không Diệu Hữu”.

Khi về già, mọi thứ sẽ đều đổi khác… cho nên không muốn vui cũng vui, cũng thấy tức cười một mình!

Bên trời xanh mãi
Những nụ mầm mới
Để lại trong cõi thiên thu
Hình dáng nụ cười”

(TCS)

 

Làm sao luôn giữ được khỏe mạnh? Có phải cơ thể ta có sẵn thuốc trong chính mình?

Các thứ thuốc quý không ở đâu xa: trong hơi thở là một, trong thức ăn là hai. Biết thở đúng cách, biết đưa hơi xuống huyệt đan điền (ruộng thuốc) ở dưới rún là đã có một thứ thuốc quý. Trong kiếm hiệp, ta thấy các vị hiệp khách một khi bị thương tích thì vội trốn vào một hang động dưỡng thương, ngồi xếp bằng hít thở “điều tức” chờ một lúc ra đánh tiếp vì đã phục hồi công lực rất nhanh chóng. Nhờ gì? Nhờ biết “thở bụng” để đưa hơi xuống huyệt đan điền.

Sau hơi thở là ăn uống. Thức ăn sẽ hợp với hơi thở tạo ra năng lượng. Nhưng ăn uống không đúng thì lại dễ bị béo phì, huyết áp, tiểu đường v.v…

Có một câu châm ngôn trong ngành y: “Chỉ có người bệnh chớ không có bệnh”, ý nói rằng tuy bệnh cùng do một nguyên nhân gây ra mà mỗi người sẽ “bệnh” một cách khác nhau, không ai giống ai. Bệnh lao chẳng hạn, do vi trùng Koch gây ra nhưng mỗi người sẽ “lao” một cách khác. Vì thế mà có người dễ chữa, có người chữa khó hơn, có người thậm chí chữa không khỏi..

Với các bệnh mạn tính không lây cũng vậy. Có thể nói bệnh thì có một mà người bệnh thì ít nhất có hai: một người thì tìm đủ mọi cách tiêu diệt bệnh, nghĩ rằng phải diệt hết bệnh thì mới có sức khỏe, nhưng vì là bệnh mạn tính, kinh niên, nên đành phải khổ đau, thất vọng dài dài, lệ thuộc vào thầy vào thuốc; trong khi người kia thì tìm cách “tuỳ thuận chúng sanh” với bệnh, chấp nhận nó, kiểm soát nó, sống chung hòa bình với nó, quan tâm tới chất lượng cuộc sống của chính mình, chủ động thay đổi hành vi, lối sống để nâng cao sức khỏe của mình, hợp tác tốt với thầy thuốc, bệnh hoạn nhờ đó mà cũng “dễ thương” hơn. Nhà văn Mai Thảo có bài thơ Dỗ bệnh rất hay:

(…)

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn

Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân

Gối tay lên bệnh nằm thanh thản

Thành một đôi ta rất đá vàng.

 

Người thầy thuốc ngày nay không chỉ quan tâm đến bệnh mà còn phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh để cuộc sống họ có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ cao nhất có thể.

“Chất lượng cuộc sống” đặt trọng tâm trên cảm nhận chủ quan của người bệnh, chớ không phải  dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc và sự “mách bảo” của máy móc xét nghiệm!

Cơ thể con người có thể tự sản sinh các thứ “Hormones hạnh phúc” như Dopamin, Seretonin, Endorphines, Oxytocine là do cách sống của ta.

 

Anh có sợ chết không?

Sợ chớ sao không! Nhưng tại sao lại sợ?

Krishnamurti nói ai cũng chết, nhưng tại sao phải sợ chết! Rồi ông trả lời: Sợ là tại vì không biết nên sợ, vì chưa có kinh nghiệm, chưa có trải nghiệm, nên sợ. (Nói khác đi, nếu đã chết rồi thì hết sợ!). Krishnamurti c ũng nói người ta thực sự không phải sợ cái chết mà sợ mất đi cái sống!

Tuệ Sỹ viết: Thời kinh nói “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người (Tổng quan về Nghiệp).

Đạt Lai Lạt Ma thì nói chết như cánh cửa mở ra một khung trời mới. Không biết mới sợ. Biết thì chờ đợi cái mới đó. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Do thường thực tập tiến trình chết trong khi thiền định, một thiền giả có thể sử dụng lúc chết của mình để đạt những chứng ngộ lớn lao.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(12/2025)

…………………………………….

Tôi không có Facebook, nhưng có người gởi cho đường link này.

Tùy hỷ nhe:

https://www.facebook.com/share/182fWoNw5t/?mibextid=wwXIfr

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Thư gởi bạn xa xôi (tháng 12/2025)

05/12/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

(tháng 12/2025)

Sáng nay mở “meo” được thư anh Hai Trầu Lương Thư Trung mới gởi, còn nóng hổi, thì ra lúc này trời trở lạnh, ảnh đem mấy chậu cây trái vào trong nhà cất để giữ ấm… bỗng nhớ tới người bạn già xa xôi, bèn làm bảng cập nhật Tác phẩm xưa nay của Đỗ Hồng Ngọc gởi về tặng. Dễ thương chưa? Xin phép anh Hai Trầu cho post lên đây với lòng biết ơn không biết nói sao nhe anh Hai.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

………………………………………………..

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thân mến,
Dà, tôi mới vừa cập nhật thêm ba cuốn sách mới của anh Ngọc (tôi có tô đậm ở Phần II, mục 22, 23, 24 ) và xin gởi để anh Ngọc giữ chơi cho vui và nếu thiếu xin anh Ngọc bổ túc thêm giùm.

(5.12.2025)

 

TÁC PHẨM BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

(Hai Trầu Lương Thư Trung sưu tập, tháng 7.2020- tháng 12 năm 2025)

I.Thơ

1/ Tình Người (1967)
2/ Thơ Đỗ Nghê (1973)
3/ Giữa hoàng hôn xưa (1993)
4/ Vòng quanh (1997)
5/ Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010)
6/ Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017)
7/ Những Bài Viết Về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc):   “Như Không Thôi Đi Được” (2020).
8) Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc (Ngôn Ngữ, 2024)

II Văn: Tùy bút, tạp văn

1/ Gió heo may đã về (1997)
2/ Già ơi…Chào bạn! (1999) Bản dịch tiếng Nhật (Minagawa, Soshisha 2001),
3/ Những người trẻ lạ lùng (2001)
4/ Thầy thuốc & Bệnh nhân (2001)
5/ Như ngàn thang thuốc bổ (2001)
6/ Cành mai sân trước (tuyển tập, 2003)
7/ Thư gởi người bận rộn (2005)
8/ Khi người ta lớn (2007)
9/ Như thị (2007)
10/ Chẳng cũng khoái ru?(2008)
11/ Nhớ đến một người (2011)
12/ Thư gởi người bận rộn 2 (2011)
13/ Ăn vóc học hay (2011)
14/ Ghi chép lang thang (2014)
15/ Già sao cho sướng? (2015)
16/ Có một con mọt sách (2015)
17/ Một hôm gặp lại (2016)
18/ Nếp Sống An Lạc (2017)
19/ Về Thu Xếp Lại (2019)
20/ Biết Ơn Mình (2019)
21/ Để Làm Gì (2020)

22/ Áo Xưa Dù Nhàu (2022)

23/ Một Ngày Kia… Đến Bờ, tùy bút (2023)

24/ Bản dịch tiếng Anh “One Day… Reaching the Other Shore”

(MD, Thư viện Hoa Sen) 

25/ Bản dịch tiếng Đức: Eines Tages… das andere Ufer erreichen (Văn Công Tuấn và Prof. Beuchling) (2025)

26/ Con Đường An Lạc (2025)

27/ Chuyện Hồi Đó (2025)

 

III. Phật học:

1/ Nghĩ từ trái tim (về Tâm Kinh Bát Nhã, 2003)
2/ Gươm báu trao tay (về kinh Kim Cang, 2008)
3/ Handing down precious sword

(Giao Trinh, bản dịch tiếng Anh, 2015)
4/ Thấp thoáng lời Kinh (2012)
5/ Thiền và Sức khỏe (2013)
6/ Ngàn cánh sen xanh biếc (về kinh Pháp Hoa, 2014)
7/ Cõi Phật đâu xa (về kinh Duy Ma Cật, 2016)
8/ Thoảng Hương Sen (2018)
9/ Thấp Thoáng Lời Kinh (Thư viện hoa sen, 2019)
10/ Tôi Học Phật (2023) (Thư viện Hoa Sen 2019)

11/ Bông Hồng Cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật (2022)

IV. Y học thường thức:
A- Sách dành cho tuổi mới lớn:
1/ Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972)
2/ Nói chuyện sức khỏe với tuổi mới lớn (1989)
3/ Bệnh ở tuổi hoc trò (1990)
4/ Viết cho Tuổi mới lớn (1995)
5/ Với tuổi mười lăm (1997)
6/ Bỗng nhiên mà họ lớn (2000)
7/ Bác sĩ và những câu hỏi của tuổi mới lớn (2003)
8/ Tuổi mới lớn (tuyển tập, 2005)
9/ Khi người ta lớn (2011)

B- Sách dành cho các bà mẹ:
1/ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng (1974)
2/ Chăm sóc trẻ từ sơ sinh đến 3 tuổi (1978)
3/ Làm sao để trẻ được khỏe mạnh và thông minh? (1991)
4/ Những bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ em (1980)
5/ Săn sóc con em nơi xa thầy thuốc (1986)
6/ Nuôi con (1988)
7/ Sức khỏe trẻ em (1991)
8/Câu chuyện Sức khỏe (1996)

Tổng cộng: 63 quyển (chưa kể còn vài tác phẩm trên liên mạng, chưa in)

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Một chút tôi

  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Interim pages omitted …
  • Trang 56
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết
  • SÁCH SONG NGỮ: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace & Joy”

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email