Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

“Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

25/03/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

“Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

Đỗ Hồng Ngọc

Khi được hỏi cõi Phật ở đâu? Phật trả lời “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát” (chúng sinh chi loại thị Bồ-tát Phật độ). Thì ra vậy. Thì ra cõi Phật của Bồ tát không ở đâu xa. Ở nơi các loài chúng sanh, quanh ta và trong ta thôi. Đó là những chúng sanh muôn hình vạn trạng, nheo nhóc, khổ đau, chằng chịt, quấn quít, xà quần sáu nẻo luân hồi bay nhảy không ngừng sáng trưa chiều tối, kiếp này kiếp khác, quần quật không an. Bồ-tát chỉ cần “thành tựu” chúng sanh đó, tức thì cõi Phật hiện ra ngay. Không phải tìm kiếm đâu xa. Nhưng thật không dễ. Chúng sanh ngoan cường, cứng cõi, lì lợm ở cõi Ta-bà này không dễ mà hàng phục, không dễ mà trụ lại một chỗ an vui. Nhưng cũng chính nơi cõi Ta-bà đầy gian khó này mới cần có Bồ-tát, và ngược lại, cũng là nơi Bồ-tát “thành tựu” chính mình. Không có chúng sanh thì cũng chẳng cần Bồ-tát! Cho nên khi Bồ-tát “thành tựu chúng sanh” thì chúng sanh cũng “thành tựu Bồ-tát” là vậy.

Nhất thiết duy tâm tạo (mọi thứ do tâm tạo ra). Tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Tìm kiếm đâu xa. Hãy quay về nương tựa chính mình. Phật đã chẳng khuyên như vậy từ khởi thủy sao? Cớ sao ta cứ mãi loay hoay, mãi chạy vạy, mãi tìm kiếm đâu đâu? Mấy ngàn năm trước, đệ tử giải Không bậc nhất của Phật đặt câu hỏi: “Vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?” (An trụ tâm cách nào? Hàng phục tâm cách nào?). Phật nói dễ lắm, dễ lắm, chỉ cần “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (đừng có trụ cái tâm vào đâu cả!) là xong. Nhưng đâu có dễ mà “vô trụ”. Ta hết trụ thứ này thì trụ thứ kia, hết trụ người này thì trụ người khác, chỉ quên… trụ vào chính mình.

Khi Bồ tát Quán tự tại (tức Quán Thế Âm) hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thì bỗng bừng ngộ thấy rõ ngũ uẩn đều không: “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, tức khắc “độ nhất thiết khổ ách”, nghĩa là đưa tất cả khổ đau ách nạn đi chỗ khác, tâm trở nên hoàn toàn thanh tịnh và như thế cõi Phật đã hiện tiền! Nhờ đó mà đã có thể “từ nhãn thị chúng sanh”, nhìn chúng sanh với con mắt đầy yêu thương, thấu cảm, bởi cõi Phật đó ai cũng sẵn có, chỉ vì không thấy biết mà “luân hồi sanh tử” mãi miết đó thôi!

Buổi mai hôm đó, Phật vừa rời khỏi tịnh thất sau ba tháng an cư kiết hạ, đưa mắt nhìn các đệ tử mình nghiêm trang tu tập, người ngồi dưới gốc cây, người ngồi trên tảng đá, tất cả đều tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, tất cả đều sống một đời sống đạm bạc, kham nhẫn, tri túc đúng như lời dạy, Phật rất hài lòng. Đa số các vị này đã là A-la-hán, đã tròn đầy phạm hạnh, đã đặt gánh nặng xuống và đã… vô sinh, không trở lại cõi Ta-bà ô trược này nữa. Một số vị Bồ-tát thì đang rày đây mai đó, bươn chãi nơi này nơi kia, thuyết giảng cho chúng sanh con đường giải thoát còn số Bồ-tát mới tu thì đang quét lá, dọn dẹp chỗ trú sau mùa mưa bão.

Nơi Phật an cư kiết hạ mùa này không xa thành Tỳ-da-ly dưới kia, một thành phố lớn, một đô thị giàu có, dân cư đông đúc, nơi chúng sanh người thì nheo nhóc lặn ngụp trong bao nỗi lo toan, sợ hãi, ốm đau, già nua bệnh hoạn…, người thì trọc phú  huênh hoang, nứt đố đổ vách, lặn ngụp trong cảnh xa hoa, lên xe xuống ngựa, kẻ hầu người hạ, bên cạnh là các vương tôn công tử áo gấm quần hoa ăn chơi trác táng, tửu điếm trà đình, và rất nhiều thanh lâu sang trọng với những cô kỹ nữ khuynh thành đón người cửa trước rước người cửa sau và rượu, và thuốc nghiện tràn lan; bên cạnh đó là những bậc trí giả ngày đêm tranh luận không ngừng về những triết thuyết cao siêu huyền bí, giải thích mọi hiện tượng của vũ trụ và loài người, ai cũng cho mình đúng nhất hay nhất.

Thành Tỳ-da-ly rực rỡ ánh đèn dưới kia khiến Phật thấy đã đến lúc phải thay đổi cách “tiếp cận” mới mong giải thoát chúng sinh. Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay đang tĩnh tọa xung quanh Phật bây giờ lại có thể tiếp cận được với các bậc vương tôn công tử, với các quan chức, với các nhà buôn dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay tiếp cận được với các cô nàng kỷ nữ nhan sắc kiêu kỳ ở các thanh lâu trà đình tửu điếm dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng lại có thể vào tận các ổ mại dâm, động ma túy sa đọa dưới kia để thuyết giảng lời Phật? Ai đây có thể tiếp cận được? Cách nào đây có thể tiếp cận được? Ai đây sẵn lòng xâm nhập vào chốn bùn nhơ mà đủ năng lực giúp đỡ, hỗ trợ người khác vượt qua, không chỉ với những lời khuyên suông, lý thuyết trên mây, cao ngạo và xa cách, mà từ những thực tế của cuộc sống vì Phật đạo không xa cách thế gian, Phật đạo ở ngay trong lòng thế gian. Làm sao cho những cánh sen xanh biếc mọc lên từ chốn bùn nhơ?

Phật là một nhà sư phạm tuyệt vời, thường dùng phương pháp giáo dục chủ động, dựa vào “đối tượng đích” mà thuyết giảng, thế mà cũng có lúc hằng mấy ngàn thính chúng đã bỏ đi vì không thể tin, không thể hiểu được điều Phật dạy. Không thể tin có viên ngọc trong chéo áo kẻ bần cùng, không thể tin Đề-bà-đạt-đa, một người phạm tội vô gián như thế được Phật thọ ký thành Phật mai hậu!

Cách tốt nhất ở đây phải là phương pháp “tiếp cận dựa vào cộng đồng” (Community-based approach). Cộng đồng Tỳ-da-ly có những đặc thù của nó, phải tiếp cận dựa vào nó, tự trong nó. Không thể đưa các vị A-la-hán đạo cao đức trọng, phạm hạnh tròn đầy, đến thuyết phục được các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… Không thể đưa các vị Bồ-tát trí huệ thâm sâu đến thuyết phục các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… về nhất thiết duy tâm tạo, vô thường, vô ngã, thực tướng vô tướng…! Phải có người tại chỗ. Phải từ bùn mà sen mọc lên. Đã có lần các vị Bồ-tát phương xa đến cõi Ta-bà tình nguyện giúp Phật, ngài từ chối và ngay lúc đó đã có vô số các Bồ-tát “tùng điạ dũng xuất” tại chỗ, từ đất vọt lên, sẵn sàng lãnh trách nhiệm. Phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng này đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng (community involvement), và có kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology) mới thành công. Không có sự tham gia của cộng đồng, không sử dụng kỹ thuật học thích hợp… thì các phương pháp dù hay cách mấy mà áp đặt, xa lạ, cũng trở nên vô ích, thui chột vì không hợp “thổ ngơi”!

Đối tượng đích (target population) lần này là năm trăm con nhà trưởng giả, trẻ tuổi, vương tôn công tử, đại gia, doanh nhân, trí thức của thành Tỳ-da-ly. Tất cả họ đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác) … nhưng chưa biết cách phải thực hành thế nào vì họ không thể xuất gia như các vị Bồ-tát kia.

Vấn đề là làm thế nào để các vị trưởng giả trẻ tuổi, doanh nhân, trí thức… này có thể trở thành Bồ-tát ngay tại cộng đồng của họ mà không cần phải cắt tóc, đầu tròn áo vuông của một vị sa môn?

Thực ra buổi thuyết giảng đặc biệt hôm nay của Phật tại Vườn Xoài không chỉ dành cho “đối tượng đích” nói trên mà chủ yếu còn dành cho tất cả các vị A-la-hán, Bồ-tát cùng các đệ tử gần xa của Phật, để chính họ tự nhìn lại chính mình và cũng phải tự thay đổi. Bởi thay đổi “cái nhìn” vốn là một sự thay đổi không hề dễ dàng! Phật muốn giới thiệu một phương pháp tiếp cận mới, tiếp cận dựa vào cộng đồng qua một “mô hình” Bồ-tát mới, “Bồ tát tại gia”, qua hình tượng một nhân vật kiệt xuất là Duy-ma-cật ở ngay trong thành Tỳ-Da-Ly vậy.

Bảo Tích thưa: “Bạch Thế Tôn! Năm trăm chàng con nhà trưởng giả đây, thảy đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nay muốn nghe việc làm sao có được quốc độ thanh tịnh của Phật. Xin đức Thế Tôn giảng thuyết các hạnh tịnh độ của chư Bồ-tát.”
Phật dạy: “Lành thay, Bảo Tích! Ông đã vì chư Bồ-tát hỏi Như Lai về hạnh tịnh độ. Hãy lắng nghe, lắng nghe! Hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì ông mà giảng thuyết.”

“Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát. Tại sao vậy? Bồ-tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy theo chỗ điều phục chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để vào trí huệ Phật mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để phát khởi căn Bồ-tát mà giữ lấy cõi Phật. Tại sao vậy? Bồ-tát giữ lấy cõi nước thanh tịnh là vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh.  Nhưng nếu muốn xây cất nơi hư không thì không thể được. Việc nguyện giữ lấy cõi Phật đó, chẳng phải là việc xây cất nơi hư không.”.

Bồ Tát tùy lòng ngay thẳng (trực tâm) mà khởi làm. Tùy chỗ khởi làm mà được lòng sâu vững (thâm tâm). Tùy lòng sâu vững mà tâm ý được điều phục. Tùy chỗ điều phục tâm ý mà làm được theo đúng như thuyết dạy. Tùy chỗ làm theo đúng như thuyết dạy mà có thể hồi hướng. Tùy chỗ hồi hướng mà có sức phương tiện. Tùy sức phương tiện mà giúp cho chúng sinh được thành tựu. Tùy chỗ thành tựu cho chúng sinh mà được cõi Phật thanh tịnh. Tùy cõi Phật thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Tùy chỗ thuyết pháp thanh tịnh mà trí huệ được thanh tịnh. Tùy trí huệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh. Tùy tâm được thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Cho nên, nếu Bồ-tát muốn được cõi nước thanh tịnh hãy làm cho tâm thanh tịnh. Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh”.

 

(ĐHN, Cõi Phật đâu xa, viết về kinh Duy Ma Cật)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước

27/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thư gởi bạn xa xôi

Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước

 

1. Bạn đã đọc chuyện này chưa? Chuyện kể ông Biển Thước (401-310 trước Công nguyên), một thầy thuốc người nước Triệu thời Đông Chu liệt quốc nổi tiếng là “Thần y”. Một hôm Ngụy vương hỏi Biển Thước: “ Ta nghe nói ba anh em nhà Thầy đều giỏi y thuật, thử nói ta xem trong ba người, y thuật của ai cao minh nhất?”

Biển Thước đáp: “Anh cả của thần y thuật cao minh nhất, anh hai của thần thứ nhì, còn thần kém nhất trong ba anh em”.

Ngụy vương ngạc nhiên: “Vậy sao Thầy nổi tiếng trong thiên hạ còn hai anh Thầy không ai biết đến?”

Biển Thước đáp: “ Vì anh cả thần chữa bệnh cho người khi bệnh chưa xảy ra, người bệnh trông như không có bệnh gì cả cho nên người ta không ai biết anh thần đã phòng bệnh cho họ từ trước; còn anh hai của thần trị bệnh ngay khi người ta mới phát bệnh, nên người ta cho rằng anh hai thần chỉ chữa được bệnh vặt mà không biết rằng nếu để bệnh trầm trọng thì nguy hiểm tính mạng nên chỉ nổi tiếng ở vùng quê, còn thần thì chữa khi bệnh tình người ta đã nguy ngập, tính mạng bị đe dọa… Điều thần làm là phá huyết mủ, phẫu thuật, đắp thuốc, những việc dính đến máu me, nên thần mới vang danh thiên hạ, nhưng dù bệnh có cứu được cũng thường để lại di chứng… Thần thua xa hai anh thần nhưng thiên hạ ít người biết vậy! (Trang Tử tâm đắc, Nxb Trẻ 2011).

Có thể nói Y đức… cao nhất chính là phòng bệnh, giúp cho người ta khỏe mạnh, ít đau ốm hoặc nếu có bệnh thì được chữa sớm khi bệnh chưa nặng vậy. Hải Thượng Lãn Ông cũng tự xưng mình là “Ông già lười Làng Hải Thượng” vì ước mong không còn ai bệnh tật để mình được rảnh rang làm thơ uống rượu ngoạn cảnh đó thôi…

 

2. Có những nguyên tắc chung hay còn gọi là những giá trị cơ bản của Y đức (phổ quát trên toàn thế giới) được dạy ở các trường Y xuyên suốt quá trình nhiều năm học tập và khi ra trường được tiếp tục giám sát bởi Tổ chức nghề nghiệp (Ordre des médecins, Bác sĩ đoàn) với Nghĩa vụ luận y khoa (Deontologie médicale, Luật hành nghề) một cách chặt chẽ.

YDUC Grecia1  Dĩ nhiên Y đức không thể dạy lý thuyết suông mà cần có những bài học thực tiễn từ cuộc sống (hành nghề), những trải nghiệm trong ứng xử, giao tiếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân, với đồng nghiệp, với cộng đồng v.v… và nhất là có những tấm gương để noi theo.

 

3. Các nguyên tắc chung hay còn gọi là giá trị cơ bản của Y đức:

              1) Làm điều có lợi nhất cho bệnh nhân (Beneficence)

             2) Trước hết, không làm điều có hại ( Primum non nocere),“First,                   do no harm”.

             3) Tôn trọng sự Tự chủ  (Autonomy)

             4) Bảo mật (Confidentiality)

             5) Công minh (Justice). Không kỳ thị , phân biệt đối xử (Non- discrimination).

             6) Tôn trọng nhân phẩm  (Dignity)

             7) Thỏa thuận với thông tin đầy đủ (Informed Consent)

             8) Nói sự thật (Telling the truth).

 

Thân mến,

Bs Đỗ Hồng Ngọc

(Ngày 27.2.2026)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

10/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chân thành cảm ơn  ĐD Hải Ninh, Xuân Trang, Quay và dựng phim Khải Nguyễn, Ca sĩ Hồng Thắm, Gia Hải…

MC Nhà thơ Lê Trúc Khanh (Thầy Lê Phước Nghiệp) và Tất cả các bạn Cần Thơ…  (01/02/2026)

Cảm ơn Nguyễn Văn Quyền.

Đỗ Hồng Ngọc.

(10.02.2026).

………………………………………………………………………..

Duyên, từ nơi xa xôi:

* sáng thức dậy trong ánh bình minh trong lành chưa có tiếng động của một ngày mới: buồn vui ra sao.  được nghe anh Ngọc và những người góp mặt trong buổi trò chuyện chia sẻ về cuộc đời : khi mở mắt chào đời cho đến cuối đời, đời người rất thật, xúc động vô cùng!

* nhìn anh Ngọc khi các em hát Sông ơi cứ chảy, thấy trong mình cũng  cả một dòng sông…

* bên ngôi trường cũ, hai người bạn tuổi xế chiều am hiểu cuộc đời, chia sẻ cảm tưởng về hoàng hôn: rất từ bi với chính mình, với đời…đã sẵn lòng đổi mặt trời cho một hoàng hôn…

❤️

………………………………………………………….

Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Huệ

Hội Nhà Văn TP. Cần Thơ

 

Thật bất ngờ trong buổi Trà Chiều ở Cần Thơ, nhà văn Thanh Huệ, 90 tuổi , gởi tặng tôi bài thơ và nói chị đã từng rất xúc động khi đọc bài “Thư cho Bé sơ sinh” từ 60 năm về trước…

 

Nhà văn Thanh Huệ, 90 tuổi, gởi bài thơ tặng ĐHN.

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Chuyến Về Cần Thơ đầu năm 2026.

10/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

CHUYỀN VỀ CẦN THƠ ĐẦU  NĂM 2026

Đỗ Hồng Ngọc

Lâu lắm, không có dịp về Cần Thơ. Nhận Lời mời của BTC Hội Xuân Cây Di Sản THPT Châu Văn Liêm  (Trường Phan Thanh Giản cũ) Xuân Bính Ngọ 2026, vào ngày 01/02/2026, tôi xếp túi xách lên đường ngay với chiếc gậy mây của mình bởi được biết đó là Ngày Hội Xuân dành riêng cho các Thầy Cô giáo tuổi U 90 của trường- cùng lứa tuổi của tôi- khi nhớ mình cũng đã U 90! Đề tài dành cho tôi là trò chuyện ít phút về Nếp sống An Lạc cho người cao tuổi, thật lòng tôi cũng muốn dịp này được gặp gỡ trao đổi học hỏi lẫn nhau. Trước đó BTC cũng đã tặng mỗi Thầy Cô cuốn “Nếp sống An Lạc” của tôi nên cuộc gặp gỡ chỉ là để “nhìn nhau” chút xíu cho vui!

Và thật cảm động biết bao khi thấy cựu học sinh tuổi 50-60, áo dài trắng với nón lá nữ sinh ca hát mừng Thầy Cô; cảm động biết bao khi thấy Cô cựu Hiệu trưởng 85 tuổi vung tay đánh trống “Tựu trường” như thuở nào, bên cạnh có hai cựu học sinh nâng đỡ; và cảm  động biết bao khi thấy Thầy Hiệu trưởng Trường Đại Học Cần Thơ Hà Thanh Toàn (cũng là cựu học sinh của trường)  nâng tách trà thơm mừng tuổi  từng Thầy Cô U 90  của mình!…

Dưới đây là vài hình ảnh chuyến đi, và một  clip video buổi Trà Chiều, một sinh hoạt “ngoại  khóa” do các “bạn trẻ” dành riêng cho tôi, với Đạo diễn Hải Ninh, Xuân Trang, Bs Mai Nguyễn, Ca sĩ Hồng Thắm… để tôi có được buổi đọc Thơ mình và các bạn Cần Thơ hát những bài thơ đó…

Với tôi, đây là một kỷ niệm sâu đậm của  Cần Thơ dành cho riêng mình đó vậy. Xin chân thành cám ơn tất cả.

“… Thương ai mà cồn Ấu/ Tròn xoe đôi mắt nai” (ĐHN 1986)

 

Từ trái: Xuân Trang, Bs Mai Nguyễn, Thầy Lê Văn Quới, Bs Đỗ Hồng Ngọc, Đạo diễn Hải Ninh, Nhiếp ảnh gia Trịnh Quốc Huy

 

MC Như Quỳnh và Hồng Thắm đang “quay” Bs ĐHN về Nếp sống AN LẠC cho người cao tuổi!

 

“Thầy ký tên tặng sách mỏi tay chưa?” (HN)

 

 

” Tranh thủ” thời gian thăm Trúc Lâm Phương Nam, trò chuyện cùng Thầy Bình Tâm, trụ trì… Sau đó ghé “vamxang” home, ăn bữa cơm trưa cân bằng âm dương….

 

Về Cần Thơ lúc này tìm được một cây Cầu Khỉ nguyên sơ như vầy không dễ! Nhưng chỉ dám dòm, dâu dám bước đi “thênh thang” như xưa!

(còn tiếp)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

27/01/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Gặp một mùi hương…

Đỗ Hồng Ngọc

 

Cố đi tìm Phan Tấn Hải thì gặp Nguyên Giác, một thầy tu miên mật một thời với Sư Tịch Chiếu (1912-2016) ở chùa Tây Tạng Bình Dương. Cố đi tìm Nguyên Giác thì gặp Phan Tấn Hải, một nhà thơ, nhà văn, nhà báo… giữa bụi trần mà… “gieo duyên” khắp chốn, bởi nghiệp lành, nối kết trong trường văn trận bút .. Còn cố đi tìm Nguyên Giác- Phan Tấn Hải thì chỉ gặp một người đang đuổi bắt một mùi hương! Không phải mùi hương từ bàn tay run rẩy nắm lấy tay cô bạn gái thời tiểu học ở cổng chùa đó đâu, cũng không phải mối tình đầu với cô bé Bắc kỳ “Minh này” ốm nhách thời lên mười với một rỗ đầy trái sa kê đó đâu…

Mà là mùi hương bay ngược chiều gió. Mùi hương của một cõi xứ mà người ta chỉ cần nghe mùi hương thôi đã giác ngộ, đã thấy biết (tri kiến) Phật. Ở đâu vậy? Ở xứ Chúng Hương, nơi có vị Phật tên là Hương Tích mà Duy Ma Cật đã đến xin cơm cho các vị Bồ tát tương lai ở thành Tỳ Da Ly dạo nọ. Đó là thứ hương thơm đủ để nuôi cả thân và tâm bất tận. Đó chính là hương Giới đức. Thứ hương thơm có thể bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. Phải được huân tập lâu ngày chày tháng, với Định, với Huệ. Hương thơm đó phải tích lũy từ từ mới đầy dần lên, mới sung mãn, tràn trề… đó là một thứ «vô tận hương”.

Dù Nguyên Giác- Phan Tấn Hải nói “Hạnh phúc là đang sống với chữ” mà thiệt ra không phải vậy! Anh sống với “Tứ y”, trong đó “y nghĩa bất y ngữ” là cốt lõi. Anh không chơi chữ, không vọc chữ, vò chữ, nắn chữ. Bởi sau chữ là lấp lánh nghĩa. Là cái thấy từ Alaiya thức khi đã thành Đại viên cảnh Trí.

Phan Tấn Hải thổ lộ “Có những truyện tôi viết trong nước mắt, có những truyện tôi viết trong tiếng cười, có những truyện tôi viết trong im lặng. Nhưng xuyên suốt là một ước mơ: làm đẹp cho cuộc đời này, dù chỉ bằng một dòng chữ, nơi ai cũng là ánh sáng”.

“Cũng có thể nói, tôi không thực sự viết truyện. Tôi chỉ viết lên những dòng chữ như thả lên những cánh chim trong tâm mình cho bay qua bầu trời văn học…”

Không như nhiều tác giả tạo ra nhân vật và giúp nhân vật sống trong kiếp sống của họ, tác giả như người đứng từ bên ngoài quan sát, mô tả, tưởng tượng… Phan Tấn Hải thì không. Anh viết mỗi bài, mỗi truyện từ kiếp sống của chính anh. Không có nhân vật. Không có tình tiết. Chỉ là những truyện “cổ tích” của chính mình trong “trí nhớ mù sương” của chính mình.

“Mỗi truyện là một kiếp sống tôi đã đi qua. Tôi sinh ra trong cốt truyện, sống trong từng dòng chữ, và rồi tan biến khi câu chuyện khép lại. Có khi là một người lữ hành cô độc, có khi là một đứa trẻ thơ ngây, có khi là một người mẹ, một người cha, một người tình, một người tu. Tôi đã sống như thế, nhiều lần, nhiều kiếp, trong từng dòng chữ, và rồi tan biến khi câu chuyện khép lại. Và rồi, khi trang giấy trắng khác lại mở ra, tôi lại sinh vào một kiếp mới. Do vậy, xin đừng hỏi là truyện hư cấu hay thật, hay nhân vật này là ai…”

Phan Tấn Hải dặn “xin đừng hỏi” làm tôi nhớ Tuệ Sỹ, một thiền sư, một nhà Phật học uyên bác, cũng từng căn dặn như thế về thơ “tình” của ông: Tâm Thiền thì không có ngôn ngữ gì khác biệt với ngôn ngữ thường tình. Nhưng còn ngại rằng khi đã cạo tóc mà tình thơ vẫn còn. Thôi thì, thiền đạo và thi ca là đồng hay là khác, cũng chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi.

Tự hôm nào suối tóc ngọt lời ca

Tay em run trên những phím lụa ngà 

(…)

Lời em ca phong kín nhụy hoa hờn

Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt 

Mờ phố thị những chiều hôn mái tóc

Sóng ai ngồi so phím lụa đàn xưa 

 

(Tuệ Sỹ. Những phím dương cầm)

 

Còn Phan Tấn Hải thì khiến tôi nhớ đến vết chim bay của Phạm Thiên Thư

Tôi khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

(…)

Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tưởng
Hay một vết chim bay

(Phạm Thiên Thư, Vết chim bay)

“Chỉ biết rằng, mỗi bài viết, mỗi truyện ngắn, mỗi bản dịch, mỗi bài thơ, dù mang tên nào, tôi đều đã sống một kiếp người khác nhau. Tôi chỉ là người viết, người đang kể truyện cổ tích, đang học cách tan ra như trâu bùn trong từng khoảnh khắc, và đang học cách để thấy mình là biển”.

Mỗi bài viết là một kiếp sống khác. Từ kiếp này qua kiếp kia, miên man bất tận như dòng tâm thức trôi đi trong cõi Alaiya. Cho nên đọc Đuổi bắt một mùi hương ta có dịp thấy từng kiếp sống của tác giả. Nhân vật nếu có, chỉ là “giả tưởng”, chỉ là cái cớ để “thị hiện” mà thôi.

Trở lại với Tập truyện Đuổi bắt một mùi hương, Phan Tấn Hải bần thần:

Tôi nghĩ rằng thế hệ của tôi có thể sẽ là thế hệ cuối cùng (hay sắp cuối cùng) của những người viết tiếng Việt ở hải ngoại. Thế hệ sau sẽ viết thuần tiếng Anh. Báo tiếng Việt ở hải ngoại có thể sẽ từ từ biến mất trong một thập niên nữa. Văn học tiếng Việt lúc đó chỉ còn là chuyện của người trong nước. Phải chấp nhận viễn ảnh vô thường như thế. Phải chăng, các nhà văn hải ngoại như thế hệ của tôi, chỉ là những dòng chữ cuối cùng của một trang sử sắp lật qua? Thêm nữa, mùi của những trang giấy mới, mùi của những dòng mực in đang bị trận gió vô thường thổi tới, vùi dập. Xã hội tương lai hẳn là không cần giấy nữa. Và lúc đó sẽ là chuyện của các nhà văn thế hệ tương lai, khác hẳn bây giờ, mà tôi không hình dung nổi. Và bây giờ, tôi vẫn rất mực yêu thương những dòng chữ còn đang được níu kéo nơi đây, mà tôi đang viết trên trang giấy này.

Rồi một ngày nào đó, độc giả sẽ quên hết những chữ tôi viết, và sẽ chỉ còn nhớ rằng tôi đã đem truyện cổ tích vào đời thường, để làm cho cuộc đời đẹp hơn. Và đó sẽ là hạnh phúc của người viết và của người đọc.

Cái làm cho cuộc đời đẹp hơn, cuộc sống hạnh phúc hơn đó, có thể tìm thấy ở đâu?

Ở trong sự “hư vỡ” của vô thường, vô ngã, duyên sinh, thực tướng vô tướng…

“Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ”.

(Nguyên Giác-Phan Tấn Hải. Mỹ học của hư vỡ/ Kintsugi).

Biết sống với Hư Vỡ là biết sống với Như Lai. Nó vô tướng mà hiện tướng. Nó chân không mà diệu hữu.  Nó có cái đẹp của vô thường mà thường, của vô ngã mà ngã, của khổ đau mà an lạc… Nó không ở đâu xa. Nó quanh ta. Nó trong ta. Cho nên “cư trần” mà “lạc đạo”, “thả tuỳ duyên” như Trần Nhân Tông nói.

Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…?

Saigon, 24.11.2025

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Tu viện Khánh An và Tôi

26/01/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Tu Viện Khánh An và Tôi

(Bài viết trong Kỷ Yếu kỷ niệm 120 năm thành lập tu viện)

Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc và Thầy Trí Chơn

Mùa xuân 2015, hòa thượng Giác Toàn ở Pháp viện Minh Đăng Quang tổ chức họp mặt đầu xuân vào ngày mùng 5 tháng giêng Âm lịch, khách mời là các nhân sĩ trí thức, các giáo sư, các nhà văn, nhà thơ, các nhà khoa học mến mộ Phật giáo… Trong buổi giao lưu, tọa đàm thân mật đầu năm, tôi được gặp thầy Trí Chơn của Tu viện Khánh An, một vị thầy tu trẻ, nghiêm cẩn, khiêm tốn nhưng năng động, hoạt bát, thường dẫn dắt các chương trình sinh hoạt Phật giáo. Ông thấy tôi chắc trông còn trẻ, chỉ chào hỏi thân tình gọi bằng anh, không ngờ khi biết tôi đã gần tám chục, nên đổi gọi tôi bằng… bác, làm tôi thấy mình già nhanh quá!

Chúng tôi trao đổi chuyện đời, chuyện đạo, có vẻ “tâm đầu ý hợp”. Tôi thấy ở Thầy Trí Chơn một vị thầy tu trẻ, có “học Phật” nghiêm túc, có thực hành Thiền tập, không hướng dẫn Phật tử đi vào con đường nặng màu tín ngưỡng. Thầy thì thấy ở tôi một bác sĩ, học Phật “lõm bõm” bằng con đường tự học, nhưng dựa trên “khoa học thực nghiệm”, không “tầm chương trích cú”, có cuộc sống an nhiên tự tại,  “cư trần lạc đạo”, lại có những trải nghiệm thực tế, thực hành thiền bằng con đường Phật dạy, đặc biệt phương pháp Anapanasati (An ban thủ ý) trên cơ sở khoa  học, sinh y học, thuyết phục và nhiều trải nghiệm qua thực hành.

Năm 2017, Thầy mời tôi về nói chuyện “Thở và Thiền” tại tu viện Khánh An. Lần đó, tôi còn nhớ có các đệ tử của Thầy như cháu Lệ Mai, Thu, Thủy… và Nguyễn Văn Quyền. Các Phật tử này vốn cũng là những học trò của tôi trong Lớp Phật học và Đời sống ở Chùa Xá Lợi. Buổi nói chuyện “Thở và Thiền” có đến trên 600 người tham dự và Nguyễn Văn Quyền đã quay video đưa lên Youtube, đến nay đã có gần nửa triệu lượt theo dõi và tán thán. Sau đó, là buổi nói chuyện về “Ăn và Chay”, dưới góc độ khoa học, kèm với các khái niệm về 4 thứ thức ăn của nhà Phật, là: Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực, áp dụng vào đời sống hiện nay, với internet, fake news, deep fake và AI… để ta không bị lôi cuốn, dính mắc, thoát khỏi phiền não khổ đau…

Cũng trong chiều hướng này, Tu viện Khánh An trong khóa tu “Xuất gia gieo duyện” vào tháng hạ vừa rồi, các Thầy trẻ Tuệ Tâm, Tuệ Bảo cũng nhờ tôi tiếp tục có một buổi giảng về “Thiền và Sức khỏe” cho các hành giả. Không ngờ đến nay cũng đã có gần một trăm ngàn bạn đọc theo dõi trên Youtube Khánh An.

Tôi nghĩ đã đến lúc Phật tử đến chùa không chỉ vì tín ngưỡng, cầu phước, cầu an, như xưa mà đã tìm đến một sự bình an nội tâm, an nhiên, tự tại, hạnh phúc trong cuộc sống qua lời Phật dạy, biết quay về nương tựa chính mình. Tôi cho rằng Khánh An là nơi đáp ứng được những giá trị thực nghiệm này.

Từ đó Thầy Trí Chơn và tôi thỉnh thoảng gặp nhau trên tu viện Khánh An, khi thì bữa cơm lúc thì chung trà hàn huyên chuyện đạo, chuyện đời, chuyện sức khỏe chuyện hành thiền, chuyện sống hạnh phúc, an lạc và lan tỏa đến mọi người.

Biết thầy Trí Chơn chịu khó đọc sách, khi có tác phẩm nào mới, tôi đều gởi tặng thầy: Nghĩ từ trái tim (về Tâm kinh Bát nhã), Gươm báu trao tay (về Kim Cang); Ngàn cánh sen xanh biếc (về Pháp Hoa); và Cõi Phật đâu xa (về Duy Ma Cật)… Năm rồi tôi tặng Thầy cuốn “Tôi học Phật” do tôi viết khá dày khá lớn với 900 trang, nhưng trò chuyện cùng nhau thì thấy thầy đọc cũng gần hết. Tôi biết Thầy Trí Chơn thích cách viết của tôi, chân thành, chia sẻ trải nghiệm, thực hành của chinh mình, không “tầm chương trích cú” kinh sách nặng nề hay dùng điển cố, giáo khoa, mà với cách nhìn “khoa học thực nghiệm”, đem đạo vào đời. Thầy Tuệ Sỹ trước đây, đọc Cõi Phật Đâu Xa của tôi đã có lần gởi tặng tôi cuốn Huyền thoại Duy Ma Cật của Thầy đã ghi “Quý tặng Duy ma Cư sĩ Đỗ Hồng Ngọc” vào năm  2016.

Với tu viện Khánh An, tôi thấy ở đó chẳng những có các Thầy, các bạn, các Phật tử để cùng chia sẻ, tu tập cùng nhau, mà ở đó còn có dịp nhìn ngắm những đường  nét một ngôi chùa nghiêm trang mà nền nã, với  một hồ sen bát ngát, một mái nhà tranh trống hoắc trống huơ chẳng kém nhà Cư sĩ Duy Ma Cật thuở xưa, ở giữa hồ sen, và những giàn bầu giàn mươp, những bụi tre mạnh tông… những vườn rau xanh. Tôi không quên có lần, đích thân Thầy Trí Chơn đã chèo thuyền cùng tôi và các Phật tử đi trên hồ sen… giữa buổi trưa hè mát mẻ.

Mong Khánh An giữ mãi niềm VUI và LÀNH giữa cuộc sống xô bồ nhộn nhịp hôm  nay.

 

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

Saigon, 22/01/2026 .

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Thiền và Sức khỏe

Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!

28/12/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

Mấy câu hỏi khó cho người… già!

Người già đây là tôi, dù tôi mới… 86 tuổi. Biết tôi là bác sĩ, có học Phật chút chút, nhiều bạn thường đặt những câu hỏi khó về sức khoẻ, về “Sanh lão bệnh tử”. Tôi cũng ráng trả lời đây đó đôi lần (ML,ĐH…), nhưng mới đây, một bạn đồng nghiệp trẻ vừa 80 tuổi, đang sống bên trời Tây nhắc tôi: “Philosopher c’est apprendre a mourir…” nên dịp này tôi xin gởi lại các bạn xa xôi của mình đôi điều suy nghĩ.

Coi vui nhe.

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 28.12.2025)

 

Mấy câu hỏi khó cho người… già!

 

Tuổi già với anh là một mùa thu an tĩnh, hay là một mùa chuẩn bị gieo hạt mới?

Cả hai. Tôi nghĩ vậy! Trong Phật học, có “giới thiệu” vị Phật tượng trưng cho tuổi già đó là Phật Asucbệ (Akshobhya), còn gọi là Phật Bất động, Phật Vô sân, sống ở xứ “Diệu Hỷ”!

Thấy chưa? Một người già, lòng thanh thản, không còn tham muốn gì nữa, không còn sân hận gì nữa (Vô sân), thường… nằm một chỗ (Bất động), lúc nào cũng an nhàn, nhìn đâu cũng thấy mọi thứ đều là niềm vui kỳ diệu (xứ Diệu Hỷ).

Còn nói là mùa gieo hạt mới vì không biết cánh cửa của sự chết mở ra trước mắt sẽ cho ta thấy khung trời nào ở bên kia. Chính vì thế, ngay ở đây và bây giờ ta đã có thể gieo những hạt thiện lành!

Anh từng viết đại ý “già mà không vui là lỗi tại mình”. Vậy “vui” có phải là một kỹ năng cần rèn luyện không?

Nó không phải một kỹ năng để “rèn”. Kỹ năng là giả tạo. Nó phải đến từ bên trong. Già có cái vui riêng của già. Chiếc lá thu vàng chắc phải có niềm vui gì đó để rụng chớ, phải không?

Trong kinh Phật cũng có “giới thiệu” một vị Phật tên là “Bất không thành tựu” (Amoghasiddhi), nghĩa là vị Phật không có gì mà không thành tựu, không có gì mà không đạt kết quả tốt đẹp. Nhờ gì? Nhờ biết sử dụng ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, xúc giác) biến thành “Thành sở tác Trí”. Nghĩa là mắt tai mũi lưỡi gì cũng đã thấu triệt được cái thấy biết “Chân Không Diệu Hữu”.

Khi về già, mọi thứ sẽ đều đổi khác… cho nên không muốn vui cũng vui, cũng thấy tức cười một mình!

Bên trời xanh mãi
Những nụ mầm mới
Để lại trong cõi thiên thu
Hình dáng nụ cười”

(TCS)

 

Làm sao luôn giữ được khỏe mạnh? Có phải cơ thể ta có sẵn thuốc trong chính mình?

Các thứ thuốc quý không ở đâu xa: trong hơi thở là một, trong thức ăn là hai. Biết thở đúng cách, biết đưa hơi xuống huyệt đan điền (ruộng thuốc) ở dưới rún là đã có một thứ thuốc quý. Trong kiếm hiệp, ta thấy các vị hiệp khách một khi bị thương tích thì vội trốn vào một hang động dưỡng thương, ngồi xếp bằng hít thở “điều tức” chờ một lúc ra đánh tiếp vì đã phục hồi công lực rất nhanh chóng. Nhờ gì? Nhờ biết “thở bụng” để đưa hơi xuống huyệt đan điền.

Sau hơi thở là ăn uống. Thức ăn sẽ hợp với hơi thở tạo ra năng lượng. Nhưng ăn uống không đúng thì lại dễ bị béo phì, huyết áp, tiểu đường v.v…

Có một câu châm ngôn trong ngành y: “Chỉ có người bệnh chớ không có bệnh”, ý nói rằng tuy bệnh cùng do một nguyên nhân gây ra mà mỗi người sẽ “bệnh” một cách khác nhau, không ai giống ai. Bệnh lao chẳng hạn, do vi trùng Koch gây ra nhưng mỗi người sẽ “lao” một cách khác. Vì thế mà có người dễ chữa, có người chữa khó hơn, có người thậm chí chữa không khỏi..

Với các bệnh mạn tính không lây cũng vậy. Có thể nói bệnh thì có một mà người bệnh thì ít nhất có hai: một người thì tìm đủ mọi cách tiêu diệt bệnh, nghĩ rằng phải diệt hết bệnh thì mới có sức khỏe, nhưng vì là bệnh mạn tính, kinh niên, nên đành phải khổ đau, thất vọng dài dài, lệ thuộc vào thầy vào thuốc; trong khi người kia thì tìm cách “tuỳ thuận chúng sanh” với bệnh, chấp nhận nó, kiểm soát nó, sống chung hòa bình với nó, quan tâm tới chất lượng cuộc sống của chính mình, chủ động thay đổi hành vi, lối sống để nâng cao sức khỏe của mình, hợp tác tốt với thầy thuốc, bệnh hoạn nhờ đó mà cũng “dễ thương” hơn. Nhà văn Mai Thảo có bài thơ Dỗ bệnh rất hay:

(…)

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn

Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân

Gối tay lên bệnh nằm thanh thản

Thành một đôi ta rất đá vàng.

 

Người thầy thuốc ngày nay không chỉ quan tâm đến bệnh mà còn phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh để cuộc sống họ có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ cao nhất có thể.

“Chất lượng cuộc sống” đặt trọng tâm trên cảm nhận chủ quan của người bệnh, chớ không phải  dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc và sự “mách bảo” của máy móc xét nghiệm!

Cơ thể con người có thể tự sản sinh các thứ “Hormones hạnh phúc” như Dopamin, Seretonin, Endorphines, Oxytocine là do cách sống của ta.

 

Anh có sợ chết không?

Sợ chớ sao không! Nhưng tại sao lại sợ?

Krishnamurti nói ai cũng chết, nhưng tại sao phải sợ chết! Rồi ông trả lời: Sợ là tại vì không biết nên sợ, vì chưa có kinh nghiệm, chưa có trải nghiệm, nên sợ. (Nói khác đi, nếu đã chết rồi thì hết sợ!). Krishnamurti c ũng nói người ta thực sự không phải sợ cái chết mà sợ mất đi cái sống!

Tuệ Sỹ viết: Thời kinh nói “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người (Tổng quan về Nghiệp).

Đạt Lai Lạt Ma thì nói chết như cánh cửa mở ra một khung trời mới. Không biết mới sợ. Biết thì chờ đợi cái mới đó. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Do thường thực tập tiến trình chết trong khi thiền định, một thiền giả có thể sử dụng lúc chết của mình để đạt những chứng ngộ lớn lao.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(12/2025)

…………………………………….

Tôi không có Facebook, nhưng có người gởi cho đường link này.

Tùy hỷ nhe:

https://www.facebook.com/share/182fWoNw5t/?mibextid=wwXIfr

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Thư gởi bạn xa xôi (tháng 12/2025)

05/12/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

(tháng 12/2025)

Sáng nay mở “meo” được thư anh Hai Trầu Lương Thư Trung mới gởi, còn nóng hổi, thì ra lúc này trời trở lạnh, ảnh đem mấy chậu cây trái vào trong nhà cất để giữ ấm… bỗng nhớ tới người bạn già xa xôi, bèn làm bảng cập nhật Tác phẩm xưa nay của Đỗ Hồng Ngọc gởi về tặng. Dễ thương chưa? Xin phép anh Hai Trầu cho post lên đây với lòng biết ơn không biết nói sao nhe anh Hai.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

………………………………………………..

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thân mến,
Dà, tôi mới vừa cập nhật thêm ba cuốn sách mới của anh Ngọc (tôi có tô đậm ở Phần II, mục 22, 23, 24 ) và xin gởi để anh Ngọc giữ chơi cho vui và nếu thiếu xin anh Ngọc bổ túc thêm giùm.

(5.12.2025)

 

TÁC PHẨM BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

(Hai Trầu Lương Thư Trung sưu tập, tháng 7.2020- tháng 12 năm 2025)

I.Thơ

1/ Tình Người (1967)
2/ Thơ Đỗ Nghê (1973)
3/ Giữa hoàng hôn xưa (1993)
4/ Vòng quanh (1997)
5/ Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010)
6/ Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017)
7/ Những Bài Viết Về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc):   “Như Không Thôi Đi Được” (2020).
8) Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc (Ngôn Ngữ, 2024)

II Văn: Tùy bút, tạp văn

1/ Gió heo may đã về (1997)
2/ Già ơi…Chào bạn! (1999) Bản dịch tiếng Nhật (Minagawa, Soshisha 2001),
3/ Những người trẻ lạ lùng (2001)
4/ Thầy thuốc & Bệnh nhân (2001)
5/ Như ngàn thang thuốc bổ (2001)
6/ Cành mai sân trước (tuyển tập, 2003)
7/ Thư gởi người bận rộn (2005)
8/ Khi người ta lớn (2007)
9/ Như thị (2007)
10/ Chẳng cũng khoái ru?(2008)
11/ Nhớ đến một người (2011)
12/ Thư gởi người bận rộn 2 (2011)
13/ Ăn vóc học hay (2011)
14/ Ghi chép lang thang (2014)
15/ Già sao cho sướng? (2015)
16/ Có một con mọt sách (2015)
17/ Một hôm gặp lại (2016)
18/ Nếp Sống An Lạc (2017)
19/ Về Thu Xếp Lại (2019)
20/ Biết Ơn Mình (2019)
21/ Để Làm Gì (2020)

22/ Áo Xưa Dù Nhàu (2022)

23/ Một Ngày Kia… Đến Bờ, tùy bút (2023)

24/ Bản dịch tiếng Anh “One Day… Reaching the Other Shore”

(MD, Thư viện Hoa Sen) 

25/ Bản dịch tiếng Đức: Eines Tages… das andere Ufer erreichen (Văn Công Tuấn và Prof. Beuchling) (2025)

26/ Con Đường An Lạc (2025)

27/ Chuyện Hồi Đó (2025)

 

III. Phật học:

1/ Nghĩ từ trái tim (về Tâm Kinh Bát Nhã, 2003)
2/ Gươm báu trao tay (về kinh Kim Cang, 2008)
3/ Handing down precious sword

(Giao Trinh, bản dịch tiếng Anh, 2015)
4/ Thấp thoáng lời Kinh (2012)
5/ Thiền và Sức khỏe (2013)
6/ Ngàn cánh sen xanh biếc (về kinh Pháp Hoa, 2014)
7/ Cõi Phật đâu xa (về kinh Duy Ma Cật, 2016)
8/ Thoảng Hương Sen (2018)
9/ Thấp Thoáng Lời Kinh (Thư viện hoa sen, 2019)
10/ Tôi Học Phật (2023) (Thư viện Hoa Sen 2019)

11/ Bông Hồng Cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật (2022)

IV. Y học thường thức:
A- Sách dành cho tuổi mới lớn:
1/ Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972)
2/ Nói chuyện sức khỏe với tuổi mới lớn (1989)
3/ Bệnh ở tuổi hoc trò (1990)
4/ Viết cho Tuổi mới lớn (1995)
5/ Với tuổi mười lăm (1997)
6/ Bỗng nhiên mà họ lớn (2000)
7/ Bác sĩ và những câu hỏi của tuổi mới lớn (2003)
8/ Tuổi mới lớn (tuyển tập, 2005)
9/ Khi người ta lớn (2011)

B- Sách dành cho các bà mẹ:
1/ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng (1974)
2/ Chăm sóc trẻ từ sơ sinh đến 3 tuổi (1978)
3/ Làm sao để trẻ được khỏe mạnh và thông minh? (1991)
4/ Những bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ em (1980)
5/ Săn sóc con em nơi xa thầy thuốc (1986)
6/ Nuôi con (1988)
7/ Sức khỏe trẻ em (1991)
8/Câu chuyện Sức khỏe (1996)

Tổng cộng: 63 quyển (chưa kể còn vài tác phẩm trên liên mạng, chưa in)

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Một chút tôi

PNB giới thiệu: Sách “bỏ túi” CON ĐƯỜNG AN LẠC.

16/10/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 “CON ĐƯỜNG AN LẠC”

Cẩm nang học Phật

(sách bỏ túi dành cho người hiện đại)

 

 

Công ty Sách Phương Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một ấn phẩm mới phát hành của BS. Đỗ Hồng Ngọc mang tên: CON ĐƯỜNG AN LẠC. Tác phẩm là lời chia sẻ tâm huyết, chân thành của một người thầy thuốc, một người học Phật đã tự mình thể nghiệm giáo lý nhà Phật và gặt hái được những kết quả tích cực, gợi mở một con đường tìm về sự bình an nội tại cho mọi người giữa cuộc sống hiện đại nhiều biến động.

Đỗ Hồng Ngọc được biết đến không chỉ là một chuyên gia y khoa mà còn là một cây bút tên tuổi trong làng viết và nghiên cứu Phật giáo ứng dụng tại Việt Nam, đã xuất bản nhiều tác phẩm về thiền và Phật học được đông đảo độc giả đón nhận, có thể kể đến như: Thấp thoáng lời Kinh; Thiền & Sức khỏe; Cõi Phật đâu xa; Nếp sống an lạc; Thoảng hương sen; Tôi học Phật, Buông,...

Theo Đỗ Hồng Ngọc, an lạc không phải là niềm vui sướng nhất thời, mà là dòng suối mát tưới tẩm từ bên trong, mang lại bình an thân tâm và lan tỏa đến những người xung quanh. Ở tuổi ngoài tám mươi, với những kinh nghiệm trong hơn nửa thế kỷ hành nghề y cùng những trải nghiệm tự thân về khổ – bệnh – phiền, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhận ra con đường Phật dạy từ hơn hai ngàn năm trước với lời cả quyết: “Đây là con đường trực tiếp đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí…” chính là một “con đường an lạc”, một “khoa học thực nghiệm” quý báu về nghệ thuật sống hạnh phúc.

Một điểm độc đáo không thể không nhắc đến ở Con đường an lạc chính là sự kết hợp giữa giáo lý Phật Đà và góc nhìn y khoa để lý giải cơ chế của hơi thở, sự căng cơ, quá trình tiêu hao năng lượng,… từ đó, giúp độc giả nhận thấy được lợi ích khoa học của thiền định trong việc chữa lành thân và tâm.

Với hình thức nhỏ gọn, trình bày trang nhã, văn phong giản dị và gần gũi, Con đường an lạc sẽ là một cuốn sổ tay học Phật nhẹ nhàng, giúp mỗi người tìm thấy sự tĩnh tại, hạnh phúc ngay trong đời sống thường nhật. Cuốn sách cũng là lời nhắn nhủ rằng, dù cuộc sống có đổi thay hay bị công nghệ chi phối, sự an lạc đích thực vẫn luôn nằm trong mỗi chúng ta. Mong rằng Con đường an lạc sẽ thực sự đồng hành cùng bạn nuôi dưỡng tâm tĩnh – trí sáng – lòng an.

(Phuongnambook) 

 

Sách đã có mặt tại hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc và:

https://nhasachphuongnam.com/con-duong-an-lac.html

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay

Video Podcast: Học cách Phật dạy con

03/10/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Video Podcast do Phùng Minh Bảo thực hiện (02.10. 2025) trên kênh Giác Ngộ: Tâm linh và Sức khoẻ.

Học cách Phật dạy con

dựa trên bài viết của Bs Đỗ Hồng Ngọc, trong cuốn CON ĐƯỜNG AN LẠC.

 

 

https://youtu.be/xkyOGng-08I

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Video Podcast: Đỗ Hồng Ngọc “GIÚP CHA MẸ VUI TUỔI GIÀ”

27/09/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Video Podcast: “GIÚP CHA MẸ VUI TUỔI GIÀ”

Đây là bài viết của tôi Giúp Cha Mẹ Vui Tuổi Già trên Website dohongngoc com và in lại trong CHUYỆN HỒI ĐÓ.

Viedeo Podcast được Phùng Minh Bảo thực hiện ngày 26.9.2025

Cảm tạ Phùng Minh Bảo.

Trân trọng chia sẻ cùng các thân hữu trong Mùa Vu Lan này vậy!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Video Podcast. Phùng Minh Bảo: Chia sẻ trải nghiệm Chăm sóc Mẹ già

26/09/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Video Podcast. Phùng Minh Bảo: Chia sẻ trải nghiệm Chăm sóc Mẹ già

Mẹ Phùng Minh Bảo mới mất. PMB chia sẻ qua Video Podcast này những ngày tháng kề cận Mẹ và những trải nghiệm rất riêng tư của em…

Cảm ơn PMB,

ĐHN.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Video Podcast: Đỗ Hồng Ngọc TUỔI GIÀ HỌC PHẬT

24/09/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

TUỔI GIÀ HỌC PHẬT

Đỗ Hồng Ngọc

Video Podcast do Phùng Minh Bảo thực hiện (24. 09. 2025)

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Vu Lan và BÔNG HỒNG CHO MẸ

29/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

VU LAN và Bông Hồng Cho Mẹ

 

Nguyễn Thị Khánh Minh: “Ngoại chờ bên kia sông”

“Lại đến mùa Vu Lan. Những đoá hồng đỏ hạnh phúc bung nở vành môi vẽ một vòng xum vầy thỏ thẻ Mẹ Ơi. Những đoá hồng trắng ngân đọng nước mắt lung linh đôi bờ xa vắng âm vang tiếng gọi Mẹ Ơi. Trong niềm, vừa hân hoan vừa cảm động, tôi nhớ đến bài thơ về Mẹ mà khi đọc nhịp tim tôi như bị nghẹn,

Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đoá hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông

(Bông Hồng Cho Mẹ, Đỗ Hồng Ngọc)

Thử xem. Đọc. Nghe. Rồi hít vào một hơi thở sâu, im vắng, thì mình như nghe được tiếng nước mắt đang vỡ ra… Vỡ bung như ngọn sóng xanh lấp lánh biển pha lê. Vỡ tung như ngọn pháo hoa rơi vô vàn sợi ánh sáng trong đêm. Những cái vỡ, không tan mà thăng hoa, phải chăng đó là tận cùng của Đẹp? Như hạt nước mắt này, nó bung bung. Ánh lên bóng của Ngoại đang đứng bên kia sông, bên kia là bên của miên viễn không còn sinh tử? Và Mẹ, Mẹ đang từ cõi chết đi vào cõi sống ấy để lọt vào vòng ôm ấm áp của Ngoại. Mẹ đi từ nụ hồng đỏ nở duyên trùng phùng Ngoại. Ý thơ mầu nhiệm làm sao.

Tôi thấy không nói nên lời được để tả cho chính xác cảm giác của mình về sự mênh mang “ý tại ngôn ngoại” trong sâu thẳm bài thơ này. Về cái rất không nghĩa của Mất Còn. Đến với tôi là ý niệm con đường sinh tử đang xóa đi dưới cảm xúc của đứa con, -là Đỗ Hồng Ngọc đây-, người chiêm nghiệm sống chết thật là như không, đóa hồng trắng người đang đeo là một thực tại, đóa hồng đỏ đang rưng rưng trên áo Mẹ kia, là áo nghĩa của thực. Tất cả đều ở thì đang, không còn hôm qua ngày mai phút tàn giây tới. Sinh mệnh không khởi đi và chấm hết bằng hai đầu tiếng khóc nữa. Là Đây. Là Đang. Một thực tại sống động xóa hết biên giới không gian và thời gian. Hình dung Mẹ, trong hơi thở hắt ra bỗng trong suốt nhẹ nhàng đứng lên, trong ngày hội tưng bừng của Tình Mẫu Tử, cúi nhìn bàn tay đứa con run run cài lên ngực áo mình một đóa hồng đỏ, và Mẹ phất phới đi trong nôn nao cho kịp giờ hẹn với Ngoại. Ôi ta mất mẹ và ôi Mẹ vừa có Ngoại. Vô biên lâng lâng nỗi Còn Mất… Huyễn ảo vô cùng khiến những giây tơ vi tế nhất trong cảm xúc ta bị đánh động.

Ngoại Chờ Bên Kia Sông, tôi viết hoa vì mỗi mỗi chữ của câu thơ này là khởi đề dẫn đến chiêm nghiệm ảo hóa về sinh tử. Và toàn bài thơ là tấm tình trong vắt ban sơ của người con, rất nhỏ, mà cũng đã rất già. Bởi rất nhỏ thì mới yêu thương Mẹ được hồn nhiên như thế. Và phải chăng, rất già mới có thể biến yêu thương ngây thơ thành một tình yêu vượt qua được đau đớn của chia lìa sinh tử, như thế.

Cảm ơn Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, cho tôi biết thêm một nhịp đập thương yêu nữa của Hiếu Tử, cho tôi từ bây giờ đã có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một lúc nào đó phải xa Mẹ. Không phải là một cái xa hẳn rồi, mất hẳn rồi như tôi vẫn thường nghĩ nữa. Trong hạt nước mắt rơi lại thấp thoáng nụ cười, nhìn Mẹ của ta lại cài hoa hồng đỏ về bên Ngoại. Ôi! Cái không nói của Ngoại Chờ Bên Kia Sông đã lấp đầy cảm xúc và ý nghĩ của tôi đến thế!

Và lúc này đây, còn được thấy mẹ ra vào thì hãy thỏ thẻ bên vai mẹ rằng,

… mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (thơ Đỗ Trung Quân)

Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình, gửi đến các con tôi,

… tận cùng hạt lệ mẹ

là nước mắt con rơi

tận cùng tiếng cười mẹ

là nụ cười con vừa mở

và con ơi

tận cùng hư vô mẹ

sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại

(thơ NTKM)

Santa Ana, Mùa Vu Lan

 

Tô Thẩm Huy

“Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 20 chữ, mà thâm thúy, ảo diệu vô cùng. Đọc lên điếng cả hồn.

Phải chép lại ra đây.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho Mẹ đoá hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực,
Ngoại chờ bên kia sông

Rõ ràng Nguyễn Thị Khánh Minh đã cảm bài thơ đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Thật là may mắn có được người đồng điệu như thế.

Bài phổ nhạc hay, hai giai điệu khác nhau mà hòa hợp, hỗ tương lẫn nhau. Tuy thế, cảm xúc khi đọc bài thơ nó đến ào ạt, như cùng một lúc nó trào dâng, bủa vây tứ phía, làm bàng hoàng, run rẩy khắp cả châu thân. Cảm xúc từ bài nhạc nó đến khoan thai, từ tốn, êm đềm”.

 

Nguyễn Thị Tịnh Thy: “Yếu tố bất ngờ trong bài thơ bông hồng cho mẹ”:

“Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người… Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.

(…)

Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ. Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật…”

(đặc san Liễu Quán, số 12, Vu Lan 2017).

 

Mùa Vu Lan này, xin gởi bạn đôi dòng về bài thơ Bông Hồng Cho Mẹ như một lời chúc mừng đến bạn, người đã rất sướng vui, tự hào, khi còn được cài một bông hồng đỏ thắm trên ngực áo của mình!

“Rồi một chiều nào đó anh về, nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu… rồi nói nói với Mẹ rằng…Me ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?…” (Phạm Thế Mỹ, Bông hồng cài áo. Thơ Nhất Hạnh).

ĐHN

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Giao Lưu-Ra Mắt Sách Chuyện Hồi Đó của Đỗ Hồng Ngọc (10.8.2025)

21/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Video Clip: Giao Lưu – Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ của Đỗ Hồng Ngọc (10.8.2025)

Nguyễn Văn Quyền:

Cám ơn Nguyễn Văn Quyền đã thực hiện Video Clip này.

Đỗ Hồng Ngọc.

(21.8.2025)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Interim pages omitted …
  • Trang 55
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email