Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT

10/08/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Lời Ngỏ:

Không phải là những bài phỏng vấn trực tiếp mà chỉ là những câu Hỏi-Đáp qua email của hai người bạn vong niên- một người U90 và một người U60- ở cách nhau khá xa, bắt đầu từ câu chuyện về cuốn “Chuyện Hồi Đó” của Đỗ Hồng Ngọc. Vậy mà đến nay cũng đã có đến 154 câu Hỏi- Đáp đã lần lượt chuyển tải trên trang dohongngoc.com trong vài năm nay. Gần đây có vài bạn trẻ hỏi thăm thêm, muốn được đọc đày đủ nên tôi đã tập hợp và post lại cho vui. Hãy coi như chuyện “lẩm cẩm” của một ông già thôi nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 8.2026)

 

154 Câu Hỏi- Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT

 

Bài 1: Hỏi- Đáp về cuốn “Chuyện Hồi Đó” của Đỗ Hồng Ngọc 

1 Điều gì khiến anh có cảm hứng viết Chuyện Hồi Đó?

Nhiều bạn bè khuyên nên viết Hồi Ký, đặc biệt là anh Nguyễn Hiền Đức (5 Hiền).

Nguyễn Hiền Đức là một cư sĩ, thường gọi Anh 5 Hiền, trước 1975 từng có thời là Thư ký Tòa soạn của tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, trưởng phòng Tu thư Đại học Vạn Hạnh, thư ký riêng của HT Thích Minh Châu…

Năm 2021 anh đã gởi tôi món quà sinh nhật:  Đỗ Hồng Ngọc- Tiếng gọi sâu thẳm của Y vương, ghi “Quà tặng mừng Sinh Nhật 81 của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc” thấy đã đăng trên Thư viện Hoa Sen, và trước đó, anh cũng đã có bài “Phác thảo chân dung Đỗ Hồng Ngọc”.

Năm 2014, Nguyễn Hiền Đức đã viết (…) “Năm nay bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã 75 tuổi ta rồi. Cái tuổi đã chín muồi, đã lịch lãm, đã trải nghiệm và chiêm nghiệm được nhiều điều về bản thân, gia đình, bè bạn, nghề nghiệp. Ông cũng đã trải qua những biến thiên dữ dội của thời cuộc. Ông lại có những mối quan hệ xã hội khá rộng rãi và hiểu biết tường tận về nhiều việc, nhiều người dưới cái nhìn, cái cảm của một người giàu Phật tính, thấm nhuần triết học Phật giáo. Vì vậy, tôi kính cẩn thưa trình với ông rằng tôi mong sớm được Hồi ký của ông. Nhớ lại, ông đã nhiều lần “thúc hối” thầy mình là Nguyễn Hiến Lê viết hồi ký như André Maurois đã từng làm với Un ami qui s’appelait moi vậy! (…) Trước nay tôi vốn thích đọc Hồi ký, và các cuốn hồi ký mà tôi thích nhất vẫn là cuốn của Nguyễn Hiến Lê, Đào Duy Anh, Quách Tấn, Trần Văn Khê…, và, chắc chắn sẽ rất thích Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc. Tôi không dám nói sai lời và cũng như nhiều độc giả chí cốt của Đỗ Hồng Ngọc nóng lòng chờ đợi Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc.

Tôi nghĩ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nhiều điều kiện thuận lợi, có nhiều cơ duyên tốt lành để khởi sự sớm hoàn thành tập hồi ký được nhiều người chờ đọc, đón đọc (…). Mong lắm thay, thưa bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!”.  

Nguyễn Hiền-Đức (Santa Ana, tháng 3.2021)

 

2 Có thể gọi Chuyện Hồi Đó là Hồi ký của anh không?

Không. Tôi không có khả năng viết “Hồi Ký”. Hồi Ký thì phải… ly kỳ, hấp dẫn… gợi tò mò cho người đọc. Tôi cũng cảm ơn Nhà sách Phanbook, cũng đã nhiều lần khuyên tôi viết Hồi Ký… và bây giờ nhận lời in cuốn Chuyện Hồi Đó. Tôi lo sẽ ế, tội nghiệp cho Phanbook!

 

3 Phần khó nhất khi chuẩn bị bản thảo Chuyện Hồi Đó là gì?

Là phân biệt Hồi Ký với “Chuyện Hồi Đó”

Hồi ký là một sáng tác văn chương, thể loại ký, do chính tác giả viết về mình. Thường của những người đa số còn trẻ. Tự mình nhìn mình, bộc lộ, chia sẻ theo trình tự thời gian, có thể “hư cấu”, có thể “phóng đại”. 

Dĩ nhiên bên cạnh đó là Hồi Ký của những bậc lão thành, ghi chép đầy đủ trải nghiệm… và sự nghiệp của đời mình thành những bài học cho thế hệ sau.

“Chuyện Hồi Đó” chỉ là những chuyện cũ, xưa, kể lại bởi một người có tuổi, có thể trong một buổi “trà dư tửu hậu” cùng bạn bè. Tôi viết lúc đã 85 tuổi (Tết Ất Tỵ,2025).  .

Nó không phải là một sáng tác, một ghi chép (ký) theo thời gian.

Với tôi, nó không phải nói về “cái tôi”, chủ quan của mình.

Tôi nhìn mình một chút, rồi nhờ người khác nhìn tôi với “chủ quan” của họ.

Tôi chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp, suy tư, học hỏi. Tôi tri ân con người, vùng đất…

Tôi muốn người đọc có lợi ích khi đọc, không chỉ vì tò mò.

Dĩ nhiên, cho tuổi già của chính tôi. Có thể cười mình.

 

4 Trang nhà Đỗ Hồng Ngọc (dohongngoc.com) có ý nghĩa gì đối với anh?

“Ý nghĩa” rất lớn đó chớ! Nó gần như là một “kho tàng” lưu trữ để khi viết tôi chỉ cần tìm lại. Tôi phải cảm ơn Phùng Minh Bảo và Lê Thị Thuỳ Linh. Chính nhờ các em mà tôi có trang web dohongngoc.com này trên 15 năm nay. Cũng nhờ trang Web này, tôi có dịp học hỏi, giao lưu và tương tác với bạn đọc. Ngạc nhiên thấy thế giới nhỏ bé đáng kinh ngạc, càng ngạc nhiên thấy tình người lại gần gũi đáng kinh ngạc đến vậy.

 

5 Cái chất “công tử – nhà quê” mà anh nói được di truyền từ Ba-Má anh đã thể hiện trong văn và thơ anh ra sao?

Nó thiệt thà, chơn chất, nhưng đôi khi cũng… bay bướm đó chớ phải không? Lá chín vàng/ lá rụng về cội/ Em chín vàng/ chắc rụng về anh…; hay Sóng quằn quại/ thét gào/ không nhớ/ mình là nước…

 

6 Người ta nói văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ nói chung đều rất đa tình vì yêu cái đẹp. Anh có nghĩ mình là người đa tình không?

Có. Mà nhút nhát, rụt rè quá. Đáng tiếc!

 

7 Trong một bài phỏng vấn của nhà báo, anh có nói “Thà có một trái tim đau yếu vì tình yêu còn hơn một trái tim… lãnh cảm!”. Anh có thể giải thích và cho ví dụ không?

Ví dụ người thất tình… sướng hơn người lãnh cảm.

 

8 Chuyện Hồi Đó cho biết mối tình đầu của anh là lúc anh 12 tuổi, và mấy năm sau gặp lại anh còn làm thơ cho người ấy nữa. Không biết “mối tình đầu” ngày ấy là đơn phương hay là cả hai…

Đó là cô bạn cùng lớp… Nhứt (tức lớp 5 bây giờ!). “Nghe nói người xưa chừng lỡ bước/ Nghe nói lòng ta chừng chưa nguôi…”. Thấy chưa? Lòng ta mà chỉ “nghe nói” thôi, chỉ nghe “đồn rằng” thôi đó nhe. Tuy vậy cũng đã có những bức thư bằng pelure màu xanh… thuở 15, 16.

 

9 Cũng theo Chuyện Hồi Đó, ngày anh gặp chị (vợ Bs ĐHN) anh trúng ngay “coup de foudre” phải không?

Phải. Sau này tôi thường nói với vợ tôi: Anh có một người anh yêu hồi 12 tuổi, một người anh thương hồi 20 tuổi, nhưng em mới là người anh vừa yêu vừa thương. Vì vậy mà đã sống với nhau gần… 60 năm!

 

10 Có cuốn sách nào đã làm thay đổi cuộc đời anh không?

Có. Cuốn Kim chỉ Nam của Học sinh của Nguyễn Hiến Lê (1951). Cả các cuốn Gương Danh Nhân, Gương Kiên Nhẫn… và Tự học để thành công (1954) của ông nữa.

 

11 Cuốn sách anh thích nhất lúc nhỏ là gì?

Anh phải sống. Hai buổi chiều vàng. Tâm hồn cao thượng… Và một lô truyện Tam Quốc, Thuỷ Hử, Đông Châu Liệt Quốc… Sau này là Kiếm Hiệp Kim Dung. Có lần tôi tự chữa bệnh đau bao tử của mình nhờ kiếm hiệp Kim Dung đó.

 

12 Nếu anh có thể nói một điều với chính anh khi còn trẻ, anh sẽ nói điều gì?

Nhắc “Tương lai trong tay ta”, đó là một tựa sách của Nguyến Hiến Lê.

 

13 Kỷ niệm nào anh nhớ nhất về tuổi học trò của anh ở Phan Thiết?

Là xách guốc xuồng gỗ mỗi khi qua nhà người ta, dù người ta mới 11 tuổi. Và đặc biệt là bức thư trên giấy pelure màu xanh người ta gởi tôi khi mới 15…

 

14 Anh viết rằng người thầy thuốc “được làm nghề y vì cái nghiệp của mình”, có thể hiểu rằng phải đúng “nghiệp” mới làm bác sĩ được phải không?

Cái “nghiệp” nó mang mình đi, nó đẩy mình tới. Còn gọi là cái “Vocation”. Cái “thiên hướng”.

 

15 Anh từng viết: “Nghề y là một nghề đặc biệt, muốn đào tạo người thầy thuốc vừa có năng lưc chuyên môn vừa có lòng nhân ái thì điều kiện tuyển chọn cũng phải đặc biệt.” Theo anh kỳ thi vào các trường Y Khoa còn cần yêu cầu nào khác ngoài điểm số các môn học?

Mỗi nước, mỗi giai đoạn đều có cách đào tạo phù hợp. Thời tôi thi vào Y khoa, năm 1962, ngoài các môn học còn có 20 câu hỏi “Kiến thức tổng quát” về văn hoá, lịch sử, địa lý, âm nhạc, hội hoạ… và đặc biêt có 2 câu tôi nhớ mãi: Giá gạo trên thị trường bao nhiều một ký? Giá than trên thị trường bao nhiêu một ký. Chắc là muốn coi người bác sĩ tương lai có quan tâm đời sống xã hội đường thời không? Ở Singapore, ngoài bài thi viết còn có phỏng vấn. Nhóm phỏng vấn gồm một giáo sư, một bác sĩ, một điều dưỡng và một… bệnh nhân!

 

16 Có lý do nào đặc biệt khiến anh yêu ngành Nhi Khoa không?

Nhi khoa, xưa gọi là Á khoa, khoa “câm”. Trẻ không biết nói mà! Khi khám bệnh cho trẻ, phải có óc “quan sát” tốt để tìm ra bệnh. Cẩn thận! Trẻ không biết nói nhưng có thể giựt văng kiếng cận của mình hoặc… tè vô mặt mình. Chẳng mấy chốc mà chú nhóc ngày nào đã trở thành cậu thanh niên cường tráng, cô nhóc ngày nào đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp… Rồi một hôm, họ mang một nhóc không biết nói khác tới kêu mình khám cho nó. Một  vòng đời, ngộ không?

 

17 “Săn sóc Sức khỏe Ban đầu” là gì?

Primary Health Care, được dịch là Chăm sóc (hay Săn Sóc) Sức Khoẻ Ban Đầu. Một triết lý nhân bản trong Y khoa, sau Hội nghị quốc tế tại Alma-Ata, năm 1978, lấy phòng bệnh làm chính, xác định “sức khoẻ” là sự sảng khoái (well- being) toàn diện về cả thể chất, tâm thần và xã hội của con người, gắn liền với sự phát triển của địa phương. PHC quan tâm môi trường sống, dinh dưỡng, phòng dịch bệnh… Giáo dục sức khoẻ, Nâng cao sức khoẻ là yếu tố rất quan trọng để tạo được sự “tham gia của cộng đồng”, sự “phối hợp liên ngành”. Bởi Y tế chủ yếu là chữa trị bệnh tật, còn “Sức khoẻ” là nhiệm vụ của toàn xã hội.

 

18 Điểm quan trọng nhất theo anh trong Y đức là gì?

Là “Primum Non Nocere”: First Do No Harm. Trước hết, đừng làm hại.

 

19 Y nghiệp khác y đức chỗ nào? Cái nào quan trọng hơn?

Y nghiệp là những nguyên tắc thực hành nghề y, đòi hỏi sự chuyên nghiệp, chính xác. Y đức là vấn đề “tâm hồn” của người thầy thuốc đối với bệnh nhân. AI phát triển thì Y nghiệp phát triển, nhưng Y đức thì chỉ có ở con người với con người.

 

20 Anh từng viết một bài có tựa “Bác sĩ mà cũng bệnh!” Dĩ nhiên bệnh tật không chừa ai, dù là… bác sĩ! Kinh nghiệm vượt qua bệnh tật hay thậm chí “sống chung với bệnh” của anh là gì?

Là… đáng đời! Là ráng chịu! Ai biểu!

Ai mà chẳng phải bệnh. Trong cuốn “Quy luật của muôn đời”, tiểu thuyết của Nodar Dumbatze (Gruzia), tôi nhớ tác giả nói mỗi người ít nhất nên bệnh nặng một lần trong đời. Bệnh làm mình sáng mắt ra…

Khi đỡ bệnh sau đợt mổ sọ não năm đó (1997), tôi viết bài thơ: “Xin cám ơn, cám ơn” là vậy. 

 

21 Năm nào thì anh thực sự “rửa tay gác kiếm”?

Không biết. Cứ lâu lâu lại “Rửa tay gác kiếm” một lần! Năm 1985, tôi rời Lâm sàng (Cấp Cứu, Bệnh Viện Nhi Đồng 1); năm 2005 rời Trung Tâm Truyền Thông & Giáo dục sức khoẻ; năm 2010, rời Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch; năm 2020 đóng cửa Phòng mạch…

 

22 Anh viết khá nhiều bài về Nhật. Nếu cần chọn ba từ để mô tả ấn tượng nước Nhật để lại trong anh, anh sẽ chọn những từ nào?

Chút hương xưa!

 

23 Anh ấn tượng nhất điều gì ở Úc?

Đó là lúc đến thăm The Twelve Apostles (12 vị Thánh tông đồ của Chúa), nay đã sụp đổ còn 8 vị… và sẽ sụp đổ tiếp nay mai. Chưa ở đâu liễu ngộ Vô Thường, Vô Ngã, Thực tướng Vô tướng như vậy. Tôi thấy ở đó các vị Bồ Tát, các vị Thánh tông đồ… giữa biển thức Lankavatara bèn chắp tay xá xá… tất cả!

Tôi còn ấn tượng với một bệnh viện Ung Thư ở Melbourne, ở đó, bác sĩ, y tá và bệnh nhân đều ăn mặc giống nhau để … không thể phân biệt!

 

24 Anh nhớ nhất kỷ niệm nào trong chuyến đi Nepal về thăm đất Phật?

Lúc thăm Lumbini, nơi Phật đản sanh và thăm Kapilavastu (Ca-Tỳ-La-Vệ) nơi Phật vượt ra khỏi cổng thành.

 

25 Có ý nghĩa ẩn giấu hay biểu tượng nào trong các bài viết (thơ, văn) của anh chưa được nhận ra không?

Làm sao biết? Người đọc là người “nhận ra” nhiều thứ mà mình đâu có ngờ tới!

 

26 Anh có bao giờ lấy cảm hứng từ âm nhạc hay hội họa không?

Nhiều chứ. Nhất là ca từ của Trịnh Công Sơn. Nó giúp tôi viết Gió heo may đã về, và Về thu xếp lại…

 

27 Có khi nào một bài thơ hay bài viết thay đổi bất ngờ so với dự định của anh khi bắt đầu viết không?

Thường khi không có “dự định” gì cả. Thơ nó đến bất chợt. Tuỳ bút cũng vậy. Ý này dẫn ý kia… Kệ nó.

 

28 Anh cân bằng giữa trải nghiệm cá nhân và trí tưởng tượng trong thơ anh như thế nào?

Trí tưởng tượng mới là… cốt lõi. Trải nghiệm có khi chỉ là cái cớ, tình cờ. Chẳng hạn một hôm cà phê với người bạn trẻ dưới gốc cây cổ thụ ven đường, nhìn chiếc lá vàng rơi, tôi chợt viết “lá chín vàng lá rụng về cội… em chín vàng chắc rụng về anh…”!  

 

29 Nền tảng văn hóa và tri thức đóng vai trò gì trong việc hình thành thơ và văn của anh?

Nền tảng văn hoá đóng vai trò quyết định.

 

30 Anh có thường viết vào một thời điểm cụ thể trong ngày không?

Không. Tôi có phải là nhà văn “thứ thiệt” đâu. Nhưng ông Nguyễn Hiến Lê nói đúng. Cứ viết đi rồi hứng sẽ đến. Như “L’appetit vient en mangeant”! Ăn đi rồi thấy ngon.

 

31 Anh từng viết cho tuổi mới lớn, tuổi thanh niên, tuổi trung niên, tuổi già. Anh thấy viết cho tuổi nào khó nhất?

Tôi phải sống qua tuổi đó rồi mới viết được. Viết như “nói chuyện” thân tình với nhau thôi mà, có phải “văn chương phú lục” gì đâu! Người đọc nói tôi viết như viết cho riêng họ, vì “đi guốc trong bụng” họ!

 

32 Anh đã viết tùy bút, tản văn, y học, Phật học… Thể loại nào được anh ưa thích nhất?

Không có sự phân biệt nào trong lúc tôi viết. Tôi không định hình thể loại ở đây. Phật học thì tôi viết tuỳ bút. Tuỳ bút thì tôi viết… khoa học. Y học thì tôi… làm thơ! Ối trời, phải phân biệt rạch ròi nữa sao?

 

33 Anh có rất nhiều bạn văn, bạn thơ. Với ai anh cũng có một tình bạn dài lâu và rất đẹp. Bí quyết giữ gìn tình bạn của anh là gì?

Không nhiều bạn văn thơ đâu! Nhưng đã là bạn thì luôn là dài lâu và rất đẹp nữa. Tôi nghĩ: sự chân thành.

 

34 Trong các bài viết về thơ văn anh, chỉ có Giáo sư Cao Huy Thuần bắt gặp “con người thứ ba” trong anh, con người “cười cười” một chút và rất nghịch… ngầm. Anh thấy có đúng không?

Ông ấy tinh tế thật. Giấu ổng hổng nổi!

 

35 Trải nghiệm đầu tiên nào khiến anh nhận ra rằng ngôn ngữ có sức mạnh?

Tôi nhà quê thứ thiệt, vẫn nghĩ ngôn ngữ là “phương tiện” thôi. Tôi không nghĩ cứ uốn éo ngôn ngữ thì thành văn chương. Trong thơ, tôi thấy cái “Tứ” mới là điều cốt lõi. Người ta có thể quên ngôn ngữ, nhưng cái “tứ” thì nhớ mãi. “Oan oan thư cưu/ tại hà tri châu/ yểu điệu thục nữ/ quân tử hảo cầu” ngàn năm trước… dịch qua ngôn ngữ nào cũng được!

 

36 Anh có nghĩ rằng ai đó có thể thành một thi sĩ hay văn sĩ giỏi mà không cần trải qua đau khổ không?

Đau khổ nhiều khi là một chất liệu. “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thù độc” (Xuân Diệu).

 

37 Anh nghĩ thơ, văn và tranh tác động như thế nào đến sức khỏe tinh thần của một người?

Nó làm cho con người mềm nhũn ra.

 

38 Những chuyến du lịch có ảnh hưởng đến hình ảnh trong thơ anh không?

Nhiều chớ. Nhờ đi đây đi đó, tôi có cảm xúc để viết. Thí dụ những ngày ở Paris, tôi viết tập Vòng Quanh.

 

39 Làm sao để truyền tải một cảm xúc mãnh liệt vào thơ?

Cố tình “truyền tải” thì có khi chẳng “truyền tải” được gì cả. Nó tự nảy ra ở người đọc. Thí dụ: “Ngoại chờ bên kia sông” hay “Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?” … Người đọc tự mình “truyền tải” thì tốt hơn tác giả cố ý!

 

40 Anh thường chọn tựa đề của thơ anh ra sao?

Không cần chọn. Nó hiện ra chình ình. Thí dụ Mũi Né. Thí dụ: Giả sử.

 

41 Khi anh viết một bài thơ, điều gì xuất hiện với anh đầu tiên: chủ đề, từ ngữ hay hình ảnh?

Ý tưởng. Cái tứ. Những “thứ khác” đến sau. Bài thơ Tình Già, chỉ cần “con mắt còn có đuôi” là đủ phải không?

 

42 Thơ một người vừa là bác sĩ vừa là thi sĩ có khác với thơ của người vừa là kỹ sư vừa là thi sĩ không, theo anh?

Không. Huy Cận là một kỹ sư canh nông, Xuân Diệu làm nhân viên hải quan… Thơ không đến bằng nghề nghiệp!

 

43 Trong những nhận xét và cảm nhận của người khác về thơ anh, có ý tưởng nào làm anh hết sức ngạc nhiên không?

Có một nữ độc giả không quen biết xác nhận tôi viết bài thơ đó là viết cho riêng cô!

 

44 Thơ anh được phổ nhạc khá nhiều, trong đó có bài nào làm anh rung động nhất không?

Bài Bông Hồng Cho Mẹ viết về Mẹ tôi và bài Sông Ơi Cứ Chảy, viết cho La Ngà.

 

45 Anh thích nhất bức nào trong các tranh vẽ bằng bút sắt của anh?

Đó là bức Harvard Square (ở Boston) và bức Sacre Coeur (Nhà thờ Thánh Tâm ở Paris)

 

46 Anh có “nghề” vẽ tranh bằng ngón tay. Tại sao anh thích vẽ bằng ngón tay?

Vì kiếm “đồ nghề” không dễ lúc đó. Cao hứng thì sẵn có ngón tay. Tôi nhớ Phong Thanh Dương dạy độc cô cửu kiếm cho Lệnh Hồ Xung, lúc Lệnh Hồ Xung bị đánh văng kiếm lúng túng không biết làm sao, ông bào, sao ngu vậy, ngón tay cũng là… kiếm chứ!

 

47 Trong một bài phỏng vấn, anh nói “Tôi mừng vì vẫn giữ được cảm xúc để làm thơ”. Anh thường giữ cảm xúc bằng cách nào?

Bằng cách để cho cảm xúc nó tuôn trào. Kệ nó.

 

48 Anh có bao giờ nghĩ tới chuyện “làm mới” thơ hay văn của mình không?

Không. Việc gì phải làm mới? Đọc cuốn Ý Cao Tình Đẹp của Nguyễn Hiến Lê (sách dịch), tôi thấy mình cũng rưng rưng muốn khóc. Làm mới, có thể gây ngạc nhiên nhưng khó làm cho khóc. Khi đọc Anh phải sống của Khái Hưng hồi 12 tuổi ở trong chùa, tôi cũng khóc. Nhạy cảm quá chăng. Vớ vẩn quá chăng?

 

49 Anh thường tìm cảm hứng cho thơ văn của mình từ đâu?

Tôi không tìm. Nó tự đến.

 

50 Anh có cảm thấy văn phong của mình thay đổi theo thời gian không?

Có. Hình như mình già thì văn nó cũng già theo. Nó run rẩy, nó lẩn thẩn, nó mít ướt.

 

51 Điều gì quan trọng nhất đối với anh khi viết về một nhân vật?

Tôi muốn nhìn được trong sâu thẳm tấm lòng của họ. Nhiều người khen bài tôi viết về Trang Thế Hy.

 

52 Hai chân dung anh viết khá chi tiết là học giả Nguyễn Hiến Lê và thi sĩ Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư. Một người uyên bác chân phương, một người phóng khoáng bay bổng. Anh cảm thấy anh giống ai hơn?

Giống mỗi người một nửa. Không phải công tử với nhà quê mà người điên với nhà nho.

 

53 Bài thơ của nhà thơ nào anh cảm thấy tâm đắc nhất?

Tình Già của Phan Khôi và To Edith của Bertrand Russell viết khi ông 90 tuổi!

 

54 Anh đã bao giờ bị bí ý tưởng khi viết chưa?

Chưa. Vì khi có ý rồi mới viết. Để đó, cho nó “hoai” đi. Mấy hôm rồi đọc lại. Lúc đó, cần thì sửa. Tôi có học Văn với thi sĩ Vũ Hoàng Chương, lớp 11, ông nói, có những bài thơ ông sửa đến 36 lần! Nhà thơ Giả Đảo, đời Đường nổi tiếng “thôi xao” chúng ta đều biết!

 

55 Anh có nghĩ rằng một nhà văn có thể viết hay mà không cần có cảm xúc không?

Có. Đó là những nhà văn chuyên nghiệp, họ có thể cùng lúc viết nhiều feuilleton… cho nhiều tờ báo.

 

56 Anh đã viết nhiều bài về tuổi già, vậy anh có thể tóm tắt bí quyết “già sao cho sướng” được không?

Là “biết mình già”, OK với nó. Welcome nó.

 

57 Anh có thể giải thích chữ “Không” trong Phật học một cách dễ hiểu không?

Đừng hiểu lầm “Không” là không có gì nhe. Không trong Phật học là “trống rỗng”, là không có “tự tính” riêng biệt. Mọi “pháp” đều do Duyên sinh. Hiểu vậy, ta hiểu tại sao Vô thường, Vô ngã… Và, giải thoát khổ đau, dính mắc.

 

58 Anh hiểu thế nào là “quay về nương tựa chính mình”?

Không lẽ nương tựa vào ai bây giờ? Ai có thể thở giùm mình, ai có thể khổ đau giùm mình, ai có thể si mê giùm mình?

 

59 Anh viết: “Một người mà không thể từ bi với chính mình thì làm sao có thể từ bi với người khác được?” Từ bi với chính mình là sao?

Là “Biết ơn mình”. Nhiều người oán ghét mình lắm. Sáng sáng nhìn vào gương thấy ghét. Già nua, nhăn nhúm… Rồi so sánh mình với người khác nữa… Nhờ đó mà các cơ sở “thẩm mỹ” giả mọc lên như nấm không thấy sao?

 

60 Anh nói “Thiền là Thở”, đơn giản vậy sao?

Phải. Phật dạy trong kinh Anapanasati. Một phương pháp Thiền hiệu quả và khoa học nhất. Không sợ “tẩu hỏa nhập ma”. Qua hơi thở, ta thực hiện cả Samatha (thiền chỉ) và Vipassana (thiền quán). Đời sống chỉ là một hơi thở. Thân và tâm cùng trong hơi thở. An lạc hay khổ đau nằm trong hơi thở đó thôi.

 

61 Anh khen phương pháp Thở của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện rất hiệu quả. Anh có thể cho biết cách anh thực hành?

Bs NKV bị mổ phổi 7 lần ở Pháp (năm 1946), chỉ còn 2/3 lá phổi phải. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống 2 năm. Vậy mà với phương pháp thở bụng, ông đã sống thêm được… 50 năm, chẳng thú vị sao? Phương pháp thở bụng (abdominal breathing, diaphragmatic breathing) không lạ. Người xưa ở Đông phương gọi là đưa hơi xuống huyệt “đan điền” đó thôi. Bs NKV là cố vấn Bộ môn Tâm lý – Xã hội học ở Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, do tôi là Trưởng Bộ môn, ông cũng chia sẻ với tôi nhiều lần nhưng tôi không mấy quan tâm, đến khi tôi bệnh nặng phải mổ sọ não thì tôi mới đem ra ứng dụng. Hay chớ! Tôi đã viết lại đầy đủ trong cuốn Thiền và Sức khoẻ.

 

62 Dường như anh chưa bao giờ viết nhiều về “tham, sân, si”, “thân, khẩu, ý”, “nghiệp và nhân quả”. Anh coi trọng việc thở, ăn và hiện diện trong giây phút hiện tại hơn, có đúng không?

Thở, Ăn, Biết sống Ở đây và Bây giờ chẳng đã đủ rồi sao? Đó chính là chánh niệm, tỉnh giác. Còn tham sân si… gì nữa cho mệt! Hiểu Phật là hiểu Duyên sinh. “Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên” (Trần Nhân Tông) nhớ không? Biết tuỳ duyên, thuận pháp là đã đủ cho nếp sống “cư trần lạc đạo” rồi đó vậy.

 

63 Có thể hiểu điều Phật dạy và thực hành giỏi mà không cần thuộc nhiều kinh kệ không?

Thuộc một vài câu Kinh Kệ là đủ. Lục tổ Huệ Năng chỉ nghe câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà giác ngộ tức khắc. Ngày nay, thời AI, Internet, deep fakes… thì cũng chỉ cần thuộc câu đó và ứng dụng vào đời sống. Luôn nhớ rằng “Nói vậy mà không phải vậy!”. Ai ngây thơ, “tưởng thiệt” sẽ lãnh đủ!

 

(Saigon 11.3.2025)

 

 

Bài 2: Hỏi- Đáp chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Nhân đọc bản thảo Chuyện Hồi Đó)

 

1 Trong bài thơ “Xin cám ơn, cám ơn” viết sau cơn bạo bệnh năm 1997, anh viết:

Đã bao lâu ta không sống với mình

Ta có ta mà quên ta phứt.

 “Ta quên ta” là sao, và có gì liên hệ với lời dạy của Phật không?

Tôi sinh đẻ ở Phan Thiết. Nhà bà Ngoại dưới chân núi Tà Cú, nơi có chùa Linh Sơn Trường Thọ Tự, nên hồi nhỏ xíu ba bốn tuổi đã được Bamá, cậu, dì… cõng lên chùa chơi thường xuyên… Trong nhiều năm học hành rồi làm việc, quả thật tôi không nhớ tới tôi, tôi chỉ nhớ công việc ở khoa cấp cứu Nhà thương Nhi Đồng Saigon, chương trình Săn sóc Sức khoẻ Ban đầu… Sau đó làm công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ, phòng chống sốt xuất huyết, viêm ruột hoại tử, não mô cầu… rồi phòng chống HIV/ AIDS…, quả thật tôi quên phứt tôi, đến một hôm người ta khiên tôi vào cấp cứu, mổ sọ não vì tai biến… Khi tỉnh lại, rồi bước được những bước như một em bé, biết nghe, biết nói… tôi viết bài thơ Xin cảm ơn, cám ơn này trong bệnh viện.

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Như cỏ cây trước cơn bão dữ
Như con thuyền tung hê lên vách núi cao
Cho ta trở về làm con thú hoang sơ
Trần truồng như nhộng
Kẻ cạo đầu người lột da

Kẻ đục sọ người giúp thở
Kẻ đặt ống sonde vào đường tiểu
Người bơm thuốc qua dịch truyền
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Không lý trí không nghĩ suy không toan tính

(…)

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc
Cho ta trở lại với mình
Ta muốn ôm hôn tất cả mọi người
Và ôm hôn ta nữa
Cái đầu trọc lóc bình vôi
Hai lỗ thủng và mười tám vết khâu từ ái
Ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở
Lắng nghe sự sống cục cựa trong mình.

(…)

Phật dạy phải quay về nương tựa chính mình. Phải từ bi với mình rồi mới từ bi với người. Đừng bao giờ để phải kêu lên: “đã bao lâu ta không sống với mình/ ta có ta mà quên ta phứt…”

 

2 Anh viết trong Chuyện Hồi Đó muốn có an lạc chỉ cần làm “3 điều 4 chuyện”. Tất cả đều hay, chỉ riêng phần “hiểu thuật ngữ, ẩn dụ” có cần thiết không?

Rất cần thiết. “3 điều 4 chuyện” là cách đơn giản nhất để hiểu và thực hành lời Phật dạy, mang đến sự An Lạc cho nếp sống vui, sống khoẻ, tránh mê tín dị đoan… Cho đến nay, nhiều người vẫn hiểu lầm về những từ “chúng sanh”, “niết bàn” vì ngôn ngữ trong Phật học đa dạng!… Phật còn dạy “y nghĩa bất y ngữ”. Nói vậy mà không phải vậy đâu! Khi thuyết giảng xong Kim Cang Bát- Nhã, đệ tử hỏi Thế Tôn, tên kinh này là gì. Phật nói: Kim Cang Bát-Nhã balamật. À, nói Kim Cang Bát- Nhã Balamật thiệt ra không phải Kim Cang Bát- Nhã Ba-la-mật, chỉ tạm gọi vậy thôi. Ấy là để khuyên ta đừng bám chấp. Thí dụ, nói Chúng sanh không phải là chúng sanh, nói Niết bàn không phải là niết bàn…  Còn “ẩn dụ” thì càng cần hiểu rõ, nếu không thì dễ mê tín dị đoan. Như niệm Quan Thế Âm Bồ tát giúp làm cạn cơn lũ dữ, làm tắt ngọn lửa to. Tưởng thiệt thì nguy!

 

3 Người đa tài ắt đa tình (ý của Giáo sư Cao Huy Thuần). Đa tình có thể hiểu thế nào theo anh? Làm sao để vừa “đa tình” mà tâm vẫn an?

Một người từ bi… luôn là một người đa tình đó. Từ bi với mình và từ bi với người. Trong Phật học còn có “Vô duyên từ” nghĩa là chẳng có lý do gì để mà “từ” cả! Chẳng phải người ta có thể từ với hòn đá cuội (ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau– Trịnh Công Sơn) đó sao? Hay từ với một cánh chim bay (Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh? Ngoài hư không có dấu chim bay. Tuệ Sỹ).  Văn chương không thiếu:  “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Thế Lữ), “Có nghĩa gì đâu một buổi chiều, nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu…” (Xuân Diệu). Kẻ đa tình vậy đó. Đa tình mà tâm vẫn an… có lẽ bởi đó là một thứ tình thương bao la hoặc một thứ tình yêu “tỉnh thức”, không bị vùi đắm trong đam mê, vị kỷ.

 

4 Anh viết về cách Phật dạy con. Tại sao bài học đầu tiên La- Hầu- La được học lại là cách thở?

Chớ sao? Thở chẳng phải là việc làm đầu tiên của đứa bé sơ sinh vừa rời bụng mẹ sao? Trong bụng mẹ, chưa cần thở. Tiếng khóc chào đời là một nhịp thở đầu tiên của kiếp người. Lớn lên, ta thường quên cách thở. Rồi khi ta thở cà hước, thở cà giựt… mới tiếc hồi nhỏ không học thở. Thở tưởng của ta mà không phải của ta… Thở ở ngoài ta. Thở cóc cần ta. Thở vốn tự động, do áp suất trong phổi mà khí tuôn vào hay tuôn ra. Nó gắn liền với cảm xúc. Điều tức (là điều chỉnh, kiểm soát hơi thở) thì sẽ  “điều” được tâm. Muốn tâm an thì phải học cách điều tức là vậy.

Phật mất nhiều năm tu thiền vất vả, nhịn thở, nhịn ăn mà không thành công. Nhớ lại một lần còn nhỏ theo phụ thân coi Lễ Tịch điền tự dưng thấy thân thể nhẹ nhàng, lâng lâng, như không còn hơi thở nào nữa, hoá ra đó mới thực là thiền. Cái đó, trong Nam Hoa Kinh gọi là “Toạ Vong”  “ngồi yên, biến mất”. Không để ý gì chuyện thở hay không thở nữa. Cái đó chính là tứ thiền “xả niệm thanh tịnh” rồi đó. Khi còn niệm thì không thanh tịnh nổi đâu. Dù cho đã có hỷ có lạc.  Cho nên Lục tổ Huệ Năng lấy Vô niệm làm tông là rất đúng.

Các kinh sách dạy thiền có thể phân tách từng bước, từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền…  Thực tế, các thiền sư thiện xảo ngồi xuống, ngay hơi thở đầu tiên đã có thể vào định sâu được rồi. Càng theo dõi, càng chia cắt, càng dính mắc, lúng túng. Ở tứ thiền đã gần như không cần thở nữa. Có thể vào diệt thọ tưởng định, mà không cần qua các tầng thiền vô sắc.

 

5 Trong thời đại ngày nay, “khẩu không chỉ là lời nói trực tiếp mà còn là những status trên mạng Internet”, cả các comment nữa. Làm sao để phân biệt “khẩu thiện” và “khẩu ác” trên mạng?

Đó chính là lúc phải quay về nương tựa chính mình. Coi lại mình đã bị “rung động” thế nào, đã bị “xao xuyến” thế nào rồi? Tốt nhất lúc đó nhớ lại câu Đà-la-ni trong Kinh Kim Cang: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm!) thì may ra mới thoát.  Status, comments… nào làm cho ta sanh tâm chạy theo những cảm xúc đó, bị lôi cuốn vào cảm xúc đó, như khi bị dụ dỗ kiểu thực phẩm giúp trẻ mãi không già, xinh đẹp như xưa, “lương cao việc nhẹ” thì thế nào cũng sụp bẫy.  Tóm lại, vì lòng tham mà không đạt thì sân (giận), thiệt ra cũng bởi vì Si, nghĩa là mê, là say, là ngu. Đáng đời. Ráng chịu. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

 

6 Anh có thể giải thích một cách dễ hiểu về “duyên sinh” không?

Hiểu được “duyên sinh” thì hiểu được Bát- Nhã, trang bị cho mình được cái gọi là “viên thành thật tánh”, một cái tánh sáng suốt, không bị che mắt, không bị dẫn dụ bởi bên ngoài nữa… Dẫn dụ bằng cái gì? Bằng cái danh, bằng cái tướng. Cái “danh” thì rỗn rảng, cái danh thì kêu to, chớp loà, khiến ta tưởng thiệt, tưởng bỡ. Y như con “thiêu thân” bị dụ bởi ánh đèn. Những danh, những tướng đẹp đẽ hấp dẫn khiến ta dễ dính mắc gọi là “biến kế sở chấp” là “y tha khởi”.

Duyên? Là những “điều kiện”. Có thể lấy một ví dụ đơn giản, với 3 phân tử Carbone (C), Hydrogèn (H), Oxygèn (O)… riêng lẻ thì không sao, tự dưng có cái men (điều kiện) gì đó tác động vô, thành đường glucose C6H12O6 ngọt ngào; nếu gặp cái men khác, cũng 3 món đó lại thành rượu (C2H5OH) cay đắng, rồi với men khác nữa lại thành giấm (CH3COOH) chua chát… Những ngọt ngào, cay đắng, chua chát đó trong đời sống hàng ngày của ta chẳng phải là do “duyên” gì đó sao? Rồi những RNA, DNA… kết hợp với nhau mà ra virus, vi khuẩn, khủng long, con người… Toàn là “duyên sinh” đó thôi.

Lý Duyên Sinh Duyên Khởi là cốt lõi của Phật giáo: cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không… Thập nhị nhân duyên, 12 nối kết, từ Vô minh sinh hành, hành sinh thức, thức sinh danh sắc, lục nhập… Nếu hiểu rõ con đường duyên sinh này – như một tiến trình tâm- từ ý thức đến hành động, cảm nhận, rồi “ái thủ hữu”, ta có thể “can thiệp” từng bước để cải thiện tiến trình duyên sinh của tâm, và… giải thoát nếu chấm dứt Vô minh. Có thể nói, hiểu được Duyên sinh, duyên khởi, ta hiểu nghiệp, luân hồi, nhân quả…

 

7 “Vô thường” là gì?

Vô thường là… thường! Đúng vậy, một cánh hoa đào rực rỡ đẹp tươi bỗng tàn héo dần, ai cũng thấy mới đó mà đã đổi thay, một sự “vô thường” không thể chối cãi. Thế nhưng, thử nhìn một cách khác. Những cánh hoa tàn úa đó cứ mãi mãi còn, cứ mãi mãi ở đó và tàn úa… thì tội nghiệp quá. Nó phải được đổi thay chớ. Nó phải được làm mới. Nó phải được rực rỡ đẹp tươi chớ. Cách nào? Thì “tiết mùa” sẽ giúp. Không hẹn mà đến/ không chờ mà đi/ bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta…(TCS). Và những cánh hoa đào theo tiết theo mùa kia vẫn mãi mãi rực rỡ đẹp tươi, chưa bao giờ tàn úa.

Chàng thi sĩ một hôm dừng chân bên song cửa, thấy cô nàng xinh đẹp bên đoá hoa đào, năm nay trở lại, những đoá hoa kia vẫn còn rực rỡ đẹp tươi, mà cô gái xinh kia đâu rồi, không thấy nữa. Mọi thứ vô thường quá. Nhưng những cánh hoa đào rực rỡ thì đang cười chàng: “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Cái “tiếu” đó mới vui làm sao! Hoa cười nhạo chàng thi sĩ ngờ nghệch. Cho nên nếu nhìn bằng con mắt Như Lai, hẳn đã thấy năm nào hoa cũng nở dưới gió đông này, vẫn rực rỡ tươi vui như thế. Còn người đẹp kia ư? Thì hết Dương quý phi có Bao Tự, hết Bao tự còn Chiêu quân… Có gì là vô thường đâu. Nhìn bằng con mắt Như Lai, thì làm gì có vô thường phải không?

 

8 Người sinh ra ai cũng có cái tôi (ngã), vậy “vô ngã” là sao?

Cái mà ta tưởng là Ngã đó, nó từ nhiều thứ mà ráp nối lại (Ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức), có cái gì riêng có thực tánh của nó đâu.  Ta thử hít vào một hơi sâu, thật sâu, không được. Nó bắt ta phải thở ra. Ta thở ra thật dài, dài nữa. Không được. Nó bắt ta phải hít vào. Chuyện thở ra hít vào hàng ngày của ta mà ta cũng chẳng làm chủ nó được. Vậy có cái ta không? Nếu ta tưởng thiệt có cái ta thì ta sẽ khổ đau, vất và vì nó. Còn biết nó vô ngã, ta sống với cái vô ngã đó, chẳng phải hết khổ đau ư? Cho nên khi còn khổ đau, chưa “thấy biết” (giác ngộ) Phật dạy Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, Bất tịnh…

Khi đã thấu hiểu rồi, ta thấy Thường, Lạc, Ngã, Tịnh đó thôi. Phât là y vương, khi nguời ta bệnh hoạn, khổ đau, cho mấy thứ thuốc chữa triệu chứng, ráng nuốt. Khi hết bệnh không cần uống thuốc nữa. Phật nói ví như người say thấy đất đai nhà cửa cây cối ngả nghiêng, lúc tỉnh ra thấy đất đai bằng phẳng, nhà cửa cây cối… tĩnh yên. Cái “thấy biết” đó giúp ta cỡi bỏ khổ đau, thấy được an lạc.

 

9 Phật là một Y vương. Chỉ cách phòng bệnh, lại chỉ ra nguyên nhân bệnh và cách trị bệnh. Bệnh ở đây chính là khổ đau. Anh có thể tóm tắt nguyên nhân, đơn thuốc và cách phòng bệnh của Phật không?

Đúng, Phật là bậc Y vương, chữa được cả đau và khổ. Khác với bác sĩ, lương y, thường chỉ chữa được cái đau, cái bệnh… Mà ta biết, Khổ mới là cái gốc của đau, của bệnh. Bênh thân và bệnh tâm. Khổ phát sinh từ Tham sân và si. Nhưng tham sân si cũng chỉ là triệu chứng. Căn nguyên là Vô minh. Từ vô minh mà sinh hành, thức, danh sắc… có thể nói là con đường sinh bệnh học, sinh lý bệnh học.  Lục phủ ngũ tạng quấn quít lấy nhau. Chỉ cần “chiếu kiến ngũ uẩn giai Không” (Tâm Kinh) thì đã thoát được vô minh, tức khắc “độ nhứt thiết khổ ách”.

Phật “chế” ra nhiều thứ “thuốc”, tuỳ căn cơ người bệnh mà “cho toa” sao cho phù hợp. “Sanh, bệnh, lão, tử” có lẽ là nỗi khổ, nỗi lo lớn nhất của kiếp người. Khổ vì sanh ư? Đã có vị Phật tên là Bảo sanh (Ratnasambhava) đây rồi, giúp sanh đẻ an toàn, Khổ vì bệnh ư? Đã có vị Phật là Dược sư (Bhaisajyaguru) cho thuốc. Khổ vì già ư? Có vị Phật Asucbệ (Asobhya), còn gọi Phật bất động, an nhàn. Khổ vì chết ư? Có vị Phật A Di Đà (Amitabha) rước về Tịnh độ… Vô số các vị “thuốc” để chữa vô số các bệnh khổ.

Con đường phòng bệnh khổ chỉ cần gom lại trong Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tính tấn, chánh niệm, chánh định.  Thực hiện được Bát chánh đạo thì  An vui và Hạnh phúc.  Trong Bát chánh đạo, cũng chỉ cần một thứ thuốc cốt loĩ: Chánh định. Có chánh định thì có chánh kiến, chánh tư duy… Có chánh định thì thấy “Vô tướng thực tướng” thấy Như Lai.

 

10 Anh có thể giải thích và cho ví dụ về “Từ Bi Hỷ Xả”? Sao lại cần “Từ Bi Hỷ Xả”?

Nếu không Từ Bi Hỷ Xả thì ta cứ sống với lòng Sân hận, oán thù, ganh ghét, ghim gút… “Thù trả chưa xong đầu đã bạc!”. Từ là lòng Thương. Biết thương. Còn thương… Thí dụ “còn thương rau đắng mọc sau hè”! Cọng rau mà còn thương được thì lòng thảnh thơi biết bao. Lấy oán báo oán/ oán oán chồng chất/ lấy đức báo oán oán tiêu vong… Bi là làm vơi khổ. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Nếu chỉ biết thương thôi mà không có cách gì làm cho bớt khổ thì không đủ. Cho nên Từ đi với Bi là vậy. Hỷ là cái vui theo người. Khó. Người vui thì ta ganh ghét dễ hơn. Còn vui theo kiểu đãi bôi, nịnh bợ thì càng hại người. Xả là buông bỏ, là không còn dính mắc. Từ bi hỷ xả là Tứ vô lượng tâm. Mênh mông, không ngằn mé. Được chút mừng chút.

 

11 Có người tiếp cận Đạo Phật như một tôn giáo, có người lại coi là môt triết lý sống. Theo anh, cách nào đúng?

Trong cuộc sống bình thường, ta cần có một “triết lý sống”, tìm kiếm một cuộc sống an lạc, hạnh phúc. Chúng ta có thể thực hành Giới Định Huệ để giảm trừ Tham sân si. Chỉ cần giữ ngũ giới, có thể là đã đủ. Không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không nghiện ngập… Và nếu được, Từ Bi Hỷ Xả. Nhưng con người còn có phần tâm linh. Chưa biết hết, chưa hiểu hết được. Dân gian gọi “ba hồn chín vía”. Các nhà xã hội học tìm thấy có những đứa trẻ sống trong rừng sâu, không hề biết đến con người, khoảng tám tuổi bỗng đặt mấy cục đá xếp thành tầng cao, rồi quỳ lạy, cầu nguyện. Cái gì vậy? Không biết. Có cái gì đó thuộc về “tâm linh”.

 

12 Theo cách anh hiểu về Đạo Phật, sau cái chết có còn linh hồn không? Linh hồn đó sẽ làm gì, đi về đâu?

Phật giáo không nói về “Linh hồn”. “Linh hồn” là vĩnh cửu, trường tồn, không thay đổi gắn vào thể xác, và cái chết là tách rời thể xác với linh hồn. Thiện, được vào nước Thiên đàng vĩnh viễn; Ác, thì vào địa ngục vĩnh viễn. Phật giáo không tin có một Đấng Tạo hoá quyết định việc ban thưởng hay trừng phạt. Phật giáo cho rằng mọi thứ do Duyên sinh. Một kẻ làm ác, ở địa ngục, có thể trở thành nguời Thiện, lên làm người, làm Phật. Một người ở cõi thiên, có thể bị đoạ xuống địa ngục vì làm Ác . Quan niệm này cho con người một Tự do tuyệt đối. Cho nên Phật giáo chỉ nói “Thần thức” là phần tách khỏi thể xác khi chết, tuỳ nghiệp duyên mà tái sanh.

 

13 Anh từng nói “trái tim nghĩ bằng tình, khối óc nghĩ bằng lý”. Phật pháp là tình hay lý?

Phật lúc nào cũng có hai vị Đại Bồ-tát đứng hai bên. Bên trái là Văn Thù Bồ-tát, cưỡi sư tử, tay cầm kiếm báu. Tiếng sư tử rống lên thì muôn thú đều khiếp vía. Vung gươm báu thì chặt đứt phiền não. Còn bên phải là Phổ Hiền Bồ-tát, cưỡi voi 6 ngà và tay cầm đoá hoa sen… Voi mới đủ sức chở nặng giáo pháp đến giúp chúng sanh. Voi 6 ngà tượng trưng cho 6 phương pháp giúp thành tựu trên con đường học Phật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ. Đó là “Lục độ Balamật”.  Thú vị, khoa học biết rõ hai bán cầu não mỗi bên chịu trách nhiệm một thứ: bên trái, lý; bên phải, tình. Nặng một bên sẽ không đạt kết quả tốt. Ngày nay khoa học não bộ cũng thấy hai bán cầu não có khả năng nối kết được với nhau.

 

14 Theo Đạo Phật, con người sinh ra trên đời để làm gì?

Có người nói sinh ra trên đời để… chết? Có người bảo sinh ra trên đời để… sống? Có người nói “bất sinh bất diệt”, không có sống có chết gì cả!

Nhưng có lẽ người ta sinh ra trên đời là để “trả” cái Nghiệp của mình. Nghiệp phát xuất từ Thân, Khẩu,Ý, nhiều kiếp sống đã tạo nên, đã tích luỹ. Có Nghiệp thiện và nghiệp ác. Có thể coi nghiệp là nhân sẽ sinh ra quả. Nhưng từ nhân mà sinh quả, phải có duyên. Không có duyên thì hạt giống  tốt cũng bị huỷ hoại đi. Duyên là những điều kiện tác động để nghiệp thành quả.  Hiểu Duyên sinh thì hiểu luân hồi, tái sinh, nhân quả là vậy…

Thật ra có nhiều câu hỏi Phật cũng bảo không nên trả lời. Một người bị tên, phải cứu chữa ngay cái đau của họ, đừng hỏi ai bắn mũi tên này, tại sao bắn, bắn để làm gì… vô ích.

 

15 Trước một người muốn bớt đau khổ nhưng chưa biết về đạo Phật, anh sẽ cho lời khuyên gì?

Có khi không cần phải khuyên gì cả. Khuyên cũng chẳng ai nghe. Đau khổ của mỗi người do nghiệp do duyên của họ. Họ phải được trải nghiệm. Tự rút ra bài học. Tuy nhiên cũng có khi Phật cho lời khuyên như chuyện một bà mẹ có con bệnh chết, bà đau khổ cùng cực, muốn chết theo. Có người khuyên tìm Phật xin phương thuốc cứu con sống lại. Phật khuyên bà đi vào từng nhà trong làng, hỏi nhà nào xưa nay chưa từng có ai chết thì xin môt nắm tro trong bếp, mang về Phật sẽ chỉ cách làm thuốc cứu con. Bà đi nhiều năm tháng, hết làng này sang làng khác, không tìm thấy nhà nào không từng có người chết nên trở về lạy Phật xin quy y. Nếu ngay từ đầu Phật bảo “Ai mà chả chết, nhà nào chả có người chết, đừng buồn đau nữa…” liệu có khuyên được bà mẹ đó không?

 

16 Anh viết: “Một hôm hơi thở tình cờ / Dính vào hạt bụi thành ra của mình.” Có ngụ ý gì liên quan đến Phật pháp trong câu này không?

Có đó chớ. Nhưng phải đọc luôn hai câu đầu: “Lắng nghe hơi thở của mình/ Mới hay ra hơi thở đã nghìn năm xưa…”  Nếu ta biết nhìn bằng con mắt ngàn năm, ta thấy trên Hy mã lạp sơn vốn xưa kia là biển, nay vẫn còn muối và các vỏ sò ở đó. Còn dưới đáy biển sâu kia, những thành phố đang chìm trong nước… Từ khi có loài người trên quả địa cầu ta đang sống này đã có bao nhiêu người đã chết? Họ chỉ để lại những hạt bụi đó thôi. Trong Phật giáo cũng có một thứ Ấn gọi là “Ấn điạ xúc” rất hay. Khi nổi cơn giận dữ, ta đưa ngón tay ấn vào trong đất, sẽ hết giận ngay vì nhớ ra rằng ta chính là hạt bụi trong đất này thôi. Kẻ thù ta cũng vậy. Hơi thở mà “tình cờ” dính vào hạt bụi thì lại do duyên. Hai chị em Thuý Kiều Thuý Vân, cùng cha cùng mẹ, vậy mà hai kiếp sống khác nhau đế ngàn sau đoạn trường đó thôi?

 

17 Anh khuyến khích mọi người nên sống “ở đây và bây giờ”. Anh có thể lấy ví dụ cụ thể không?

Tôi đang khuyến khích mình đó chớ. Nếu biết sống “Ở đây” và “Bây giờ” thì hẳn đã là hạnh phúc. Có điều hết tiếc dĩ vãng thì mơ tương lai… Tiếng Anh có một từ hay: Present là “có mặt”, Present là “hiện tại” và Present cũng có nghĩa là món quà. Đó là món quà dành cho người có mặt ở thời… hiện tại. Còn ta cứ mãi loay hoay…

 

18 Nói về chuyện ăn, anh viết: “Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ cái bao tử “

Ăn là một chuyện “lớn” không thua gì thở. Vì thức ăn kết hợp với hơi thở tạo nên năng lượng cho ta hoạt động hàng ngày. Năng lượng đó được tạo ra từ trong mỗi tế bào. Mỗi tế bào có Mitochondria (Ty thể) là nhà máy sản xuất năng lượng. Phật nói về thức ăn của thể chất và thức ăn của tâm hồn. Thực ra, thức ăn của thể chất cũng là thức ăn của tâm hồn đó chớ! Tàn Dà nói: Đồ ăn ngon, người ngồi ăn không ngon, không ngon. Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, không ngon. Cái chuyện ngon không ngon là chuyện tâm hồn phải không. Ăn là một vấn đề… văn hoá. Nhiều món quý chỗ này thì chỗ kia chê, không biết ăn. Camembert của Pháp. Mắm Bò hốc của Kampuchia. Mắm ruốc, mắm sặc ở ta… Món bánh căn nghèo của Phan Rang, Phan Thiết chẳng phải là món ngon nhứt sao? Nhiều bạn bè tóc bác phơ, ở nước ngoài về thăm quê bao giờ cũng đòi ăn cho được mấy món “nhà quê” đó.

 

19 Theo anh, có thể có những giây phút “giác ngộ” trong đời sống thường nhật không?

Có chớ. Và thường nữa. Có điều ta không ghi nhận và duy trì nên nó tự xoá đi. Ta làm vỡ một cái chén sứ đẹp. Tiếc quá, sực nhớ cái chén đó làm từ gốm và… gốm thì trở về với đất để chờ làm cái chén sứ khác. Thấy cánh hoa tàn úa, tiếc quá, phải chi nó cứ mãi đẹp như thế. Ta thấy ta… già đí, tiếc quá, phải chi cứ còn trẻ mãi. Mà quên nghĩ rằng cánh hoa phải tàn đi để tạo nên một cánh hoa khác rực rỡ, đẹp đẽ hơn. Ta phải… già đi để con cháu ta có cơ hội lớn lên, nếu không… Cái đó là cái “Thấy biết của Phật” (Phật trí kiến). Vì ta cũng có Phật tánh, có Pháp thân như Phật nên ta cũng thấy biết chút chút, khác với Phật chỗ ngài thấy biết hoàn toàn, “toàn giác”. Phật không chỉ thấy biết gốm sứ từ đất, thuỷ tinh từ cát… nên bể cái gốm sứ, vỡ ly thuỷ tinh Phật cười còn ta khóc.

Thiệt ra Phật thấy rõ, tất cả đều đến từ vô tướng, nên cái ta thấy, ta có, chỉ là cái giả tướng, cái thực tướng mong manh đó thôi, nó vô thường, vô ngã. Khi ta thấy vô tướng thực tướng thì ta đã thấy… Như Lai.  Người khéo tu hành, luôn an nhiên, tự tại. Rồi đến một tuổi nào đó, ta không muốn giác cũng giác, không muốn ngộ cũng ngộ… đó thôi!

 

20 “Chữa lành” là một trong những từ đang được nhắc nhiều nhất trên mạng, đặc biệt với người trẻ. Đạo Phật có thể chữa lành cho người trẻ không?

Được quá đi chớ! Nhưng “người trẻ” đã mắc phải bệnh gì mà muốn “chữa lành”? Bệnh thì có bệnh thể chất, bệnh tâm thần và bệnh xã hội… Về thể chất, nói chung, người trẻ thường là người khoẻ mạnh, ít đau ốm bệnh hoạn như người… già. Thế nhưng nguời trẻ thường nhìn người hàng xóm, thấy họ cao ráo, vai u thịt bắp, lực lưỡng, bèn đi cắt xương ống chân, nâng cao thêm vài tấc, tập thể lực và dùng thuốc cường cơ cho thịt săn cứng lại khoe 6 múi… thì chữa không lành được. Cô gái yểu điệu thục nữ, giờ muốn giống hoa hậu, bơm mông, nâng ngực, độn chỗ này, xẻ chỗ kia để bằng bè bạn… chữa lành hổng nổi! Tóm lại, cũng chỉ vì lòng tham, muốn, ganh tị… mà ra! Khi không đạt được mong muốn, thì sân hận, căm thù… Sửa mũi thì mũi xẹp, sửa mắt thì mắt mờ. Đại khái, họ không chấp nhận mình là mình.

Cho nên suy gẫm cuộc đời với biết bao nhiêu khổ đau… Phật gom lại chỉ có 3 nguyên nhân chánh: Tham – sân- si. Con đường an lạc chính là Giới- định- huệ. Giới thì giảm lòng tham, lành bệnh tham, Định thì giảm lòng sân và Huệ thì… hết vô minh. Ít nhất dòm qua cũng biết cái đẹp hào nhoáng kia, cái đẹp mơ ước kia là của giả, độn thôi, có khi là vài túi nước muối, nhẹ tay coi chừng vỡ.

Chỉ có cách tự mình chữa cho mình thôi. Gặp thầy thuốc không tốt, thầy sẽ dọa thêm cho tăng nỗi lo âu, tốn kém. Gặp thầy tu bất hảo thầy sẽ hù thêm cho sợ hãi… Căng thẳng, lo âu, sợ hãi… dẫn đến trầm cảm, khó mà lành nổi. Nếu hiểu biết, chấp nhận mình, sống không đua đòi, ganh tị, hoà hợp với thiên nhiên, xã hội thì không chữa cũng lành. Các nhà khoa học khuyến khích người trẻ nên sống gần gũi với thiên nhiên, thiểu dục tri túc, thực tập 3 thứ: Thể dục, trí dục, đức dục như người xưa dạy, và tìm cho mình một chút giải khuây: cầm, kỳ, thi, hoạ… có thể từ đó mà an nhiên, tự tại, không chữa cũng lành!

 

21 Lòng tin vào nhân quả đôi khi khá trừu tượng. Khi một người sống tốt nhưng lại luôn gặp bất công, họ rất dễ mất lòng tin.

Nhân quả có thể thay đổi. Nhân quả do nghiệp, do duyên.  Án Anh đi sứ nước Sở nhớ không? Cây quít ngọt ở Giang Nam, đem trồng ở Giang Bắc thì sinh trái chua… Ấy là do thổ nhưỡng, do chăm sóc, tưới tẩm của con người. Nghiệp cũng có thể thay đổi. Cách sống của ta ngay ở đây và bây giờ là do ta quyết định, ta tự do chọn lựa. Phật giáo tin vào con người. “Tánh Phật”có  ở mỗi người.

 

22 Tại sao muốn sống an lạc cần có cả trí tuệ và từ bi?

“Từ” là lòng Thương. “Bi” là giúp giảm khổ. “Từ năng dữ lạc. Bi năng bạt khổ”. Không chỉ phải có lòng thương rộng lớn, không phân biệt, mà còn phải có cách cứu giúp, làm cho vơi bớt khổ đau. Tình thương có thể an ủi, làm vui, nhưng vẫn không giảm được khổ. Từ bi mà không có trí tuệ còn dễ bị mắc bẫy, bị gạt gẫm. Thời buổi này càng cần phải cảnh giác. Nên phải có Trí Tuệ đi với Từ Bi. Quan Thế Âm Bồ- tát có ngàn tay ngàn mắt, trong mỗi bàn tay đều có một con mắt là thế!

 

23 Đức Phật là một vị thánh toàn năng, hay cũng là người thường như chúng ta?

Phật không phải thánh, không phải thần. Phật là người… thường như chúng ta, có điều, Phật là ngưới đã giác ngộ rốt ráo, đã “thấy biết” toàn diện (Tri kiến Phật), chớ không loay hoay như ta… Ta cũng có Phật tánh. Cho nên Phật bảo “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Ai cũng sẽ là Phật cả, nếu giác ngộ, giải thoát. Kinh Pháp Hoa chỉ có một mục đích là “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Tri kiến Phật”. Khai thị là “mở ra, bày ra cho thấy”. Thấy cái gì? Thấy cái “Tri kiến Phật”, tức là cái thấy cái biết của Phật. Đó là cái thấy biết “Vô tướng thực tướng”, thấy biết Như Lai.

 

24 Có cần niệm Phật hay tụng kinh mỗi ngày không, hay chỉ cần thiền và thở đúng thôi, để có an lạc?

Niệm Phật là một cách tốt nhắc nhở ta một tấm gương để noi theo. Nhưng niệm Phật cũng là cách để tâm không vướng bận những thứ linh tinh khác. Niệm có nghĩa là đặt tâm vào ngay thời điểm hiện tại, quên đi tất cả chung quanh, phiền não các thứ, từ thân đến tâm… Cho nên có pháp môn Niệm Phật. Tụng kinh cũng vậy. Tâp trung vào kinh, vào “tụng” thì không còn vướng bận những thứ khác. Vậy tụng kinh, niệm Phật cũng là những pháp môn. Nhưng với Kinh, còn cần phải hiểu, phải thực hành. Nếu không, dễ tẩu hoả nhập ma vì mê tín, tưởng Phật là thánh thần mà cầu xin, lạy lục. Thiền sư Như Huyễn (năm nay 98 tuổi) có bài thơ “Thay lời Phật” thú vị như sau: Ta nói kinh cho chúng nó nghe/ Chẳng ngờ chúng “tụng” bắt ta nghe/ Tuổi già tám chục nghe gì nữa! Chín tiếng ngồi trân sụm bánh chè! (Thich Từ Thông, Như Huyễn Thiền Sư Thi Tập). Học kinh phải hiểu để ứng dụng vào đời sống, chớ không chỉ “tụng” rồi cầu Phật chứng giám, ban phước!

 

25 Không ăn chay có thể có an lạc không?

Ăn chay để làm gì? Phật đâu có ăn chay. Phật ăn gì cũng được. Thí chủ cho gì ăn nấy. Đi khất thực mà. Không lẽ đi khất thực mà nói tôi chỉ ăn chay thôi. Chắc dễ bị đói. Nhưng Phật chỉ khất thực vừa đủ… và ăn bất cứ thứ gì trong bình bát khất thực cũng là “ăn chay” cả đó thôi.

Phật dạy có 4 nhóm thức ăn là Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực. Bốn nhóm thức ăn đó chỉ có Đoàn thực dành cho thân, còn Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực dành cho tâm. “Xúc thực” đáng sợ, nhất là thời đại AI, internet … Với cái điện thoại thông minh trên tay, mỗi ngày ta “xúc thực” biết bao nhiêu điều, cả tôt lẫn xấu, tràn ngập trong tâm trí. Ta căng thẳng, ta mất ăn mất ngủ… Tư niệm thực là những món nhớ nghĩ triền miên, quay cuồng đầu óc, với những lo âu, oán trách, căm thù, sợ hãi… Rồi Thức thực mới là món ăn đáng sợ nhất, đó là phân biệt, là tranh cãi, là hơn thua, là đấu đá… là chiến tranh một mất một còn…

 

26 Anh có thể giải thích lý do Phật chọn năm giới căn bản cho Phật tử không? Giữ năm giới này thì được lợi lạc gì?

Lợi lạc nhiều chớ. Không sát sanh. Không trộm cắp. Không nói dối. Không tà dâm, Không nghiện ngập… Chừng đó đã đủ cho một nếp sống An lạc, Hạnh phúc cho một kiếp người. Bão lũ, động đất, núi lửa, sóng thần… chưa đủ sao mà con người còn tự gây chiến tranh khắp nơi với những thứ vũ khí ngày càng ghê gớm. Cái ăn của con người cũng vậy, sát sanh ngày càng nhiều.

Không trộm cắp ư? Tham nhũng là một dạng trộm cắp kinh khủng nhất. Một dạng tạo nghiệp lớn nhất. Không nói dối? Thử xem… “Quân tử nhứt ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tủ khôn”! Fake news, deep fakes… phổ biến, phát triển mạnh mẽ.

Không nghiện ngập ư? Xưa chỉ nói đến rượu, bây giờ thì nghiện đủ thứ, ngày càng nguy hiểm độc hại. Thực hiện được phần nào trong năm giới là tốt phần đó. Từ ngũ giới còn tiến lên “thập thiện” là 10 điều lành.  Không chỉ không sát sanh mà còn “dưỡng sanh”. Bảo vệ môi trường. Chống biến đổi khí hậu…; Không chỉ không trộm cắp mà còn “bố thí”- bố thí “balamật” tốt nhất vì không có tính toán lợi dụng trong đó.  Không nói dối, mà còn nói lời chánh ngữ, ái ngữ…

 

27 Phật có nói một Kinh tên là “Người biết sống một mình”. Cái tên Kinh rất lạ! Anh có thể nói đôi điều về kinh này không?

Sống một mình tưởng là sống một mình mà không phải một mình. Nhiều người cũng thường sống một mình, thậm chí trốn lên núi cao rừng thẩm mà không thể sống một mình được. Bởi tâm họ không sao thoát được những hình bóng khác, những chuyện đã qua và luôn tràn ngập những chuyện sắp tới. Họ buồn, họ tiếc, họ vẽ vời… Nói chung, là “bấn xúc xích” với những lo âu, phiền muộn, sợ hãi, yêu thương, ước vọng, hờn oán… “Người biết sống một mình” thực sự như trong Kinh Phật dạy là biết sống “Ở đây và bây giờ”, không ước vọng tương lai, không tiếc nuối quá khứ… Sống được như thế thì lòng mới thanh thản, mới “một mình” được vậy. Bằng cách nào ư? Có đó. Con đường Thiền mở rộng trước mắt.

 

16.5.2025

 

Bài 3: Hỏi- Đáp về Tình Yêu và Cuộc Sống

 

1 Trong thời đại kết nối ảo nhiều hơn thật, anh nghĩ tình yêu sẽ thay đổi ra sao so với ngày xưa lúc người ta kết nối với nhau bằng cách gặp gỡ và thư từ?

Thay đổi nhiều chớ. Thay đổi đến chóng mặt! Hồi xưa hả? Còn có “phúc hôn” là hai trẻ yêu nhau từ trong bụng mẹ. Hai bà bầu hẹn nhau, hai đứa là trai với gái thì sau này thành vợ chồng nhe. Rồi trao lễ vật làm tin.

Rồi tới thời phải có mai mối: “em tuy mới mười lăm, mà đã lắm người thăm, nhờ mối mai đưa tiếng…” (NNP).

Nhiều đôi vợ chồng không hề biết mặt nhau, đến ngày cưới còn có khăn che mặt, vậy mà họ ở với nhau tới đầu bạc răng long, con cháu đầy đàn. Thư từ ư? Con gái có thời không cho học chữ, sợ nó viết thư cho trai. Cái thời đó lạ lắm, ca dao có câu “trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng, dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai”!… Còn thời không xa đây lắm, yêu nhau đâu có dám nói. Cho nên “…Bài thơ cứ còn hoài trong cặp/ giữa giờ chơi mang đến lại mang về!” (ĐTQ)…

Nghe những chuyện tình xưa như vầy, các bạn trẻ sẽ cười bể bụng! Một bức thư tình qua email có thể gởi cho nhiều người cùng lúc…  Tỏ tình thì xếp hoa thành hình trái tim trong sân trường…  cho máy bay phất phới “I love you” trong gió, quỳ gối nâng hộp kim cương… Nồng cháy lắm, mà lạ, tan vỡ rất nhanh.

Người ta còn yêu nhau xuyên đại dương, qua chat, qua máy tính, qua smartphone… Không biết sau này còn có những kiểu tình yêu gì khác nữa, với thời Robot, AI… Những mối tình giữa người với robot, giữa robot với robot. Con cái không phải lo. Tinh trùng và trứng có bán đầy ở… siêu thị!

Không đâu! Tôi tin đến một lúc, người ta quay lại thời xa xưa thôi. Tình yêu linh thiêng lắm.  “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi/ lại thấy trong ta hiện bóng… con người” (TCS).

Trên thực tế, hiện vẫn thấy những cuộc tình, những cuộc hôn nhân tốt đẹp nhờ internet, kết nối, giúp tìm hiểu nhau, tâm đầu ý hợp, lại tìm thấy nhau như hẹn nhau từ muôn kiếp trước vậy! Cứ yên tâm.

 

2 Theo anh, câu “tình chỉ đẹp những khi còn dang dở” có đúng không?

Không đâu. Không ai mong cho tình dang dở để nó “đẹp mãi” đó đâu! Mấy nhà thơ thất tình bày đặt để tự an ủi đó thôi.

“Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở/ Đời mất vui khi đã vẹn câu thề”  là chuyện riêng của Hồ Dzếnh thôi, không phải của tất cả mọi người.

 

3 Anh có cho rằng phải có thử thách thì tình yêu mới trở nên sâu sắc không?

“Thử thách” là sao không hiểu? Có phải là làm cho tan vỡ, cho lìa xa, để hạnh phúc hơn khi tái hợp? Hạnh phúc và khổ đau có thể là một? “Tình yêu đến tình yêu đi ai biết? Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt?” (Xuân Diệu) để “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ không muốn chữa không chịu lành thú độc?” (XD). Có người thích như thế, họ nuôi vết thương, khoét cho nó sâu thêm để tìm “thú độc”, “thú đau thương” nhưng hình như người trẻ bây giờ thường tìm cách “chữa lành” đó thôi!

 

4 Có khi nào anh thử so sánh chức năng của trái tim của cơ thể và trái tim trong tình yêu không?

Ai lại đi so sánh chuyện như vậy? Trong tình yêu, trái tim của cơ thể đã hoàn toàn đổi khác. Nó loạn nhịp. Nó mềm nhũn. Nó thổn thức. Nó đau đáu… Và nó có lý trí riêng của nó. Nhớ phải lắng nghe và tôn trọng nó.

 

5 Anh có tin vào duyên phận không?

Có. Tôi tin duyên phận. Không duyên không phận sao nó đưa đẩy cho kết nối “đúng khớp” như vậy được? Nhưng cái gì làm ra duyên đó? Có cái phận, tức là cái nghiệp chăng?

Nghiệp, là kinh nghiệm được tích lũy và tồn tại trong nhiều đời sống. Không có thời gian, không có ký ức thì lấy đâu cho nghiệp vận hành, tạo tác, lưu trữ, lưu xuất, dị thục, nhân quả?  (Tuệ Sỹ).

Câu hỏi đặt ra là có thực không có nhiều đời sống? Một đời trước và đời sau – những đời sau- để cho ký ức gợi lại, dị thục, nhân quả. Bằng chứng đâu? Nhưng hỏi tôi tin không? Tôi tin. Tại sao tin? Không biết! Phải chăng, thỉnh thoảng ta gặp một người nào đó thấy như đã từng hẹn nhau từ muôn kiếp trước, hay một nơi chốn nào đó thấy như về mái nhà xưa?

 

6 Làm sao để giữ được sự dịu dàng trong tình yêu, khi xã hội ngày càng khắc nghiệt?

Đâu có mắc mớ gì đến “xã hội” ngày càng khắc nghiệt ở đây? Khắc nghiệt là chuyện bên ngoài, dịu dàng là chuyện bên trong. Đóng kịch “dịu dàng” cho vừa lòng xã hội ư? Trước sau gì cũng lộ tẩy, tan vỡ! Cứ tự nhiên. Nó vậy là nó vậy. Con gà mà bắt chưóc thiên nga, nhảy xuống hồ bơi thì biết!

 

7 “Càng trưởng thành càng khó yêu.” Đúng không? Anh nghĩ trưởng thành có làm mất đi sự ngây thơ cần thiết cho tình yêu không?

Ai nói “ngây thơ” cần thiết cho tình yêu? Ý là càng ngây thơ càng dễ bị dụ, dễ bị sụp bẫy phải không? Vậy thì tội nghiệp cho cái gọi là tình yêu quá!  Tôi thấy nhờ trưởng thành mà tình yêu mới chín muồi, mới “rụng” cái rụp chớ. Yêu nhau đâu phải nhờ vào sự ngây thơ, ngu dốt, bị lường gạt, lừa đảo? Ồ, nhưng mà, ngày nay người ta giả bộ ngây thơ nhiều lắm thì phải? Bẫy giăng ra, bẫy sụp thì ai cũng… mừng!

 

8 Với anh, tình yêu và lòng từ bi có khác nhau không?

Khác xa chứ! Từ là Thương, Bi là giúp làm giảm khổ.  “Tứ vô lượng tâm: Từ bi hỷ xả” là rất quan trọng, trong đời sống hàng ngày: ” Từ năng dữ lạc. Bi năng bạt khổ. Từ mang tới niềm vui, Bi làm cho bớt khổ. Ở đây chắc muốn hỏi về “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (TCS) phải không? Vậy là yêu vì thương hại, vì thấy tội nghiệp. Tình yêu chân chính chắc phải đòi hỏi sự tôn trọng và bình đẳng, không phân biệt.

 

9 Theo anh nên làm sao để “yêu” mà không hóa thành “ràng buộc”?

Là tại lòng tham.  Tại muốn “ràng buộc”! Cho nên Từ Bi phải luôn đi với Trí Tuệ. Người xưa khuyên “tương kính như tân”, lúc nào cũng như “tình đầu”. Mà, nếu không được như tình đầu thì… như tình cuối cũng tốt.

 

10 Làm sao để có thể yêu mà không đòi hỏi, khi mỗi cá nhân phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao hơn từ xã hội và gia đình?

Nhu cầu đòi hỏi đó có chính đáng không? Khi người ta đã thực sự yêu nhau thì người ta đâu cần để ý gì đến đòi hỏi của xã hội và gia đình. Người ta có thể chủ động vượt qua mà! “Mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua” đó thôi.

 

11 Anh nghĩ tình yêu có thể cứu rỗi một người đang mất niềm tin vào cuộc sống không?

Có. Chắc chắn có. Đó là thứ tình yêu chân thật. Khi người ta mất niềm tin về cuộc sống thì tình yêu chân thật sẽ “cứu rỗi” được ta.

 

12 Nhìn lại thế giới hôm nay, anh thấy căn bệnh tinh thần lớn nhất của con người hiện đại là gì?

Là Tham Sân Si. Vì lòng tham thì không đáy. Lòng sân (giận) thì “nộ khí xung thiên”, và lòng Si vì không “thấy biết” (tri kiến) đúng. Không thấy biết cái Không, cái duyên sinh, cái nhân quả, cái thiện cái ác…! Hồi xưa có một ông Vua hùng mạnh dặn hầu cận mổi sáng nhắc ông: Nhà vua cũng chỉ là người!

 

13 Anh nghĩ sao về nỗi cô đơn thời kỹ thuật số, khi một người có thể nói chuyện với hàng trăm người mà vẫn thấy cô đơn?

Cho nên người ta chỉ  cần có một nguời để “nhìn nhau không nói” là đủ hạnh phúc lắm rồi!

 

14 Nếu có một “toa thuốc” cho xã hội hôm nay, anh sẽ kê những gì?

Quay về nương tựa chính mình và thực hành Giới Định Huệ. Sẽ nhìn ra vũ trụ mênh mông không ngằn mé kia là chính cơ thể mình. Nối các mao mạch của cơ thể, dài đủ 2 vòng trái đất. Mỗi ngày tim đập đủ nâng một sức nặng bằng đầu máy xe lửa…

 

15 Nhiều người trẻ đang hoang mang vì thế giới quá nhiều biến động. Theo anh, “bình an nội tâm” bắt đầu từ đâu?

Không từ bên ngoài mà từ bên trong. Thế giới phải luôn luôn “đầy biến động” như vậy mới là… thế giới. Biến động cũng như sóng biển thôi, có khi sóng lăn tăn, có khi ầm ào đập vào bờ đá, tung toé khắp nơi, có khi sóng thần, có khi bão tố… Sóng ít khi yên tĩnh. Nó luôn xao động, bởi có gió, bờ cát, vách đá, bê tông chắn sóng… Nhưng dù thế nào thì nó vẫn là nước. Nếu nó biết nó vốn là nước thì nó “bình an”.

“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (TCS) nhớ không? Bát chánh đạo là phương pháp tốt nhất để mình được bình an như thế! Chánh kiến/ chánh tư duy/ chánh ngữ/ chánh nghiệp/ chánh mạng/ chánh tinh tấn/ chánh niệm/ chánh định. Nghe lùng bùng lỗ tai, thiệt ra nó chỉ là Tam học: Giới Định Huệ, để trừ Tam độc là Tham Sân Si đó thôi.  Nhờ giới, ta bớt tham, nhờ định ta bớt sân (giận) và nhờ huệ (Tuệ) ta bớt si. Bớt thôi nhe. Bớt là quý rồi.

 

16 Anh có nghĩ rằng con người đang sống quá nhanh nên không còn kịp lắng nghe chính mình không?

Đúng là “quá nhanh quá nguy hiểm”! Nhưng con người vốn “tự do” mà. Do mình muốn chậm thì chậm, muốn nhanh thì nhanh đó thôi. Đừng đổ thừa. Nếu biết sống “thiểu dục tri túc” (biết đủ, ít ham muốn), biết “nguỵệt lai môn hạ nhàn” (trăng treo cửa sau là Nhàn) thì còn kiếm đâu xa. Ta sẽ có nhiều thì giờ hơn để lắng nghe chính mình thôi.

 

17 Khi thế giới đầy bạo lực và điều ác, niềm tin vào cái thiện còn chỗ đứng không?

Thiện thắng ác, chánh thắng tà. Ngàn đời nó vậy.  Nhân quả nó vậy. Nhưng từ nhân đến quả, phải có cái gì đó gọi là “duyên” xúc tác phải không? Cẩn thận với duyên. Cây quít ở Giang Nam thì có trái ngọt, đem qua Giang Bắc thì sinh trái chua, đó là do thổ ngơi, do cách chăm sóc, tưới bón…

 

18 Trong y học và đời sống, anh đã nói về “sống chậm”. Với nhịp sống ngày càng nhanh như hiện nay, liệu sống chậm có còn phù hợp không?

Tuỳ mục đích sống của mỗi người. Như một hoàng tử ngày xưa được vị thần cho cuộn chỉ thời gian, chàng kéo thật nhanh để mau được làm vua, xây tam cung lục viện, đánh nam dẹp bắc, khi nhìn lại, giật mình, cuộn chỉ sắp hết, chàng vội cuốn ngược lại mà không sao được nữa! Nó vậy đó. Tuỳ mục đích sống mỗi người.

Gần đây thấy có mấy du khách ở Âu Châu về Việt Nam chơi, chỉ thích đi xe lửa chạy chậm như rùa của mình, khoái trá lắm vì có dịp thấy phong cảnh hai bên, thấy sinh hoạt của con người… nói chung họ thưởng thức sự nhẩn nha hiếm thấy ở xứ sở họ. Tôi cũng có dịp đi xe lửa “đầu đạn” ở Nhật, xe vèo vèo không thấy được phong cảnh hai bên coi nó thế nào nữa! Tóm lại, tuỳ mục đích đời sống của mọi người thôi nhe.

 

19 Theo anh, ý nghĩa cuộc sống của con người nằm ở đâu?

Tôi nghĩ, ở chỗ tìm kiếm hạnh phúc. Hạnh phúc có đó rồi mất đó, lại hùng hục chạy đi tìm kiếm cái khác. Sau cùng thì thấy hoá ra hạnh phúc ở ngay đây, ở sát na này. Thì ra tất cả là chân Không, tất cả là Diệu hữu. Chân Không mà diệu hữu. Diệu hữu mà chân Không. Thật thú vị. Ai thấy biết vậy thì đã an lạc, ở đây và bây giờ. Biết tri Túc, Biết tri Nhàn.  Đó là cái “tri kiến” của Phật, đã “khai thị” cho chúng sanh để “ngộ nhập” từ Kinh Pháp Hoa, ngay dưới chân núi Linh Thứu… hơn hai ngàn năm trước. Tiếc thay, có đến mấy ngàn người đã lẳng lặng bỏ đi, không thèm nghe!

Nhưng chuyện không dừng ở đó. Ý nghĩa cuộc sống có lẽ phải bắt đấu từ câu hỏi, ta là ai, ta từ đâu đến? và sẽ đi về đâu?

Cho nên ý nghĩa cốt lõi của con người cũng như mọi sinh vật là sự tồn tại cá nhân và duy trì loài giống. Để tồn tại, con người phải thích nghi được với môi trường. Người Eskimo sống khác với người nhiệt đới xích đạo. Người Tây Tạng khó mà trường chay được. Và phải có nhiệm vụ “truyền giống” bằng cách nào đó để duy trì giống loài. Tại sao thì không biết. Không chỉ con người mà con giun cái kiến cũng phải vậy. Hình như nó có một thiết kế vĩ đại, tuy có thể không có nhà thiết kế như nhà bác học Hawking đã nhận định.

 

20 Với một người trẻ chưa có gì trong tay, anh sẽ nói gì để giúp bạn ấy tin vào tương lai?

Nếu hỏi hồi tôi còn trẻ, “chưa có gì trong tay” thì tôi “nói với tôi” điều gì thì còn có thể trả lời được. Thời đại ngày nay thì tôi chịu! Người trẻ bây giờ không ít bạn mơ thành tỷ phú một đêm, đi dạo trong vũ trụ với các phi thuyền giữa các hành tinh, hẹn với người yêu cách xa ngàn năm ánh sáng chỉ cần cái nhấp chuột… Dĩ nhiên bên cạnh đó là nhưng người trẻ sống một cách khác, tìm kiếm an lạc, hạnh phúc một cách khác cho mình và cho người.

Thời tôi, khi mới lớn, tôi đọc Tương lai trong tay ta, Bảy bước đến thành công, Rèn nghị lực để lập thân, Gương danh nhân, Gương kiên nhẫn… nhất là cuốn Tự học để thành công v.v… của Nguyễn Hiến Lê. Rồi đọc Đông châu liệt quốc, Tam quốc, Thuỷ Hử, Liêu trai chí dị… Sử ký Tư mã thiên, Kinh Dịch, và  đọc các nhà Hiền triết Đông Tây… và Phật học. Tôi nhớ mình rất mê đọc sách, chăm chỉ học…  Sau này, tôi cũng bắt đầu viết cho đàn em: Ăn vóc học hay, Khi người ta lớn, Nếp sống An lạc, Thiền và Sức khoẻ… nhưng hình như thế hệ này cũng đã qua rồi. Bây giờ các bạn trẻ có lối sống hiện đại. Nhiều bạn mất rất nhiều thì giờ chơi games, sống với internet, với AI và Robot, phi thuyền, du hành vũ trụ v.v…

Tương lai nằm trong lối sống hiện tại của ta. Có hai yếu tố, chánh báo và y báo. Chánh báo là bản thân ta, có thể do di truyền, và y báo là môi trường sống. Có nhiều bạn trẻ nhờ chuyển đổi môi trường mà thành đạt. Thầy Mạnh Tử nhớ không? Phải ba lần nhờ bà mẹ dời nhà mới có cơ hội học hành mà trở thành một bậc thánh …

 

21 Anh thấy văn hóa Việt ngày nay đang cần điều gì nhất?

Cần “văn hoá” nhất! Mà văn hoá thì từ lối sống xã hội và lối giáo dục. Một nền giáo dục khai phóng, nhân bản là rất cần thiết. Theo tôi, có lẽ nên cho học sinh cấp một học lại một số bài trong Quốc văn Giáo khoa thư ngày xưa. Những chuyện kể thì nhớ dai lắm. Không phải lên giọng dạy đời, đao to búa lớn gì cả! Nếu trong sách giáo khoa ngày nay không còn có những bài học đơn giản mà sâu lắng này thì thầy cô giáo có thể kể cho học trò mình nghe. Nó sẽ nhớ suốt đời đó…, như một truy ện ngắn của Sơn Nam, “Tình nghĩa giáo khoa thư”, bây giờ đọc lại vẫn thấy rưng rưng.

Người làm thầy không phải là người bán kiến thức nữa rồi! Kiến thức đầy trên mạng. Chưa kể ngày nay còn có AI. Thầy chỉ cần là người truyền cảm xúc, học trò sẽ tự mình “khai mở” cho mình về dài về lâu… Chừng mươi bài là đủ nên người: Thương người như thể thương thân.  Không nên hành hạ loài vật. Không nên phá tổ chim. Chuyện quả dứa, Không tham của người.  Không vì tiền mà làm điều phi nghĩa. Con hổ và con chuột nhắt. Cái thú nhà quê và cái thú kẻ chợ. Kẻ ở người đi. Chuyện anh em nhà họ Điền. Con chó và miếng thịt…(Quốc văn giáo khoa thư).

 

22 Tuổi già với anh là một mùa thu an tĩnh, hay là một mùa chuẩn bị gieo hạt mới?

Cả hai. Tôi nghĩ vậy! Trong Phật học, có giới thiệu vị Phật tượng trưng cho tuổi già đó là Phật Asucbệ (Akshobhya), còn gọi là Phật Bất động, Phật Vô sân, sống ở xứ “Diệu Hỷ”!  Ngài là một trong năm vị Phật ở Kim cương giới, tượng trưng cho Đại viên Cảnh Trí. Thấy chưa? Một người già, lòng thanh thản, không còn tham muốn gì nữa, không còn sân hận gì nữa, thường… nằm một chỗ (bất động), lúc nào cũng an nhàn, nhìn đâu cũng thấy mọi thứ đều kỳ diệu (xứ Diệu Hỷ).

Còn nói là mùa gieo hạt mới vì không biết cánh cửa của sự chết mở ra trước mắt sẽ cho ta thấy khung trời nào ở bên kia. Chính vì thế, ngay ở đây và bây giờ ta đã có thể gieo những hạt thiện lành!

 

23 Anh từng viết đại ý “già mà không vui là lỗi tại mình”. Vậy “vui” có phải là một kỹ năng cần rèn luyện không?

Nó không phải một kỹ năng để “rèn”. Kỹ năng là giả tạo. Nó phải đến từ bên trong. Già có cái vui của già. Chiếc lá thu vàng chắc phải có niềm vui gì đó để rụng chớ, phải không?

Trong kinh Phật cũng có giới thiệu một vị Phật tên là “Bất không thành tựu” (Amoghasiddhi), nghĩa là vị Phật không có gì mà không thành tựu, không có gì mà không đạt kết quả tốt đẹp. Nhờ gì? Nhờ biết sử dụng ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, xúc giác) biến thành “Thành sở tác Trí”. Nghĩa là mắt tai mũi lưỡi gì cũng đã thấu triệt được cái thấy biết “chân không diệu hữu”, thấy đúng như “nó là” (vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh cũng vốn là Thường Lạc Ngã Tịnh đó thôi!).

Khi về già, mọi thứ sẽ đều đổi khác… cho nên không muốn vui cũng vui, cũng tức cười một mình!

Bên trời xanh mãi
Những nụ mầm mới
Để lại trong cõi thiên thu
Hình dáng nụ cười”

(TCS)

 

24 Anh có sợ chết không?

Sợ chớ sao không! Nhưng tại sao lại sợ?

Krishnamurti nói ai cũng chết, tại sao phải sợ chết! Rồi ông trả lời: Sợ là tại vì không biết nên sợ, vì chưa có kinh nghiệm, chưa có trải nghiệm, nên sợ. (Nói khác đi, nếu đã chết rồi thì hết sợ!). Krishnamurti cũng nói người ta thực sự không phải sợ cái chết mà sợ mất đi cái sống!

Trong Thiền định sâu (Phổ Hiền tam muội), hay trong Diệt thọ tưởng định thì ta sẽ có dịp “trải nghiệm”. Ta sẽ thấy biết vô tướng, “không còn ta còn người còn chúng sanh còn thọ giả” gì nữa! (Kinh Kim Cang)!  “Thọ tưởng” đã không còn thì “hành thức” cũng dứt. Dĩ nhiên, một khoảnh khắc sát- na cũng đã là vĩnh cửu.

Tuệ Sỹ viết: Thời kinh nói “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người (Tổng quan về Nghiệp).

Đạt Lai Lạt Ma thì nói chết như cánh cửa mở ra một khung trời mới. Không biết mới sợ. Biết thì chờ đợi cái mới đó. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Do thường thực tập tiến trình chết trong khi thiền định, một thiền giả có thể sử dụng lúc chết của mình để đạt những chứng ngộ lớn lao.

Về y học: mỗi giây có hàng trăm triệu tế bào hồng cầu già tự huỷ diệt và có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu mới trẻ  khoẻ thay thế, các chất liệu sẽ được sử dụng lại  để “tái chế” tập trung lưu giữ ở lá lách còn gọi là “nghĩa địa hồng cầu”, chớ không bị mất đi.

 

25 Anh thấy điều gì là quan trọng nhất để một người luôn giữ được khỏe mạnh? Có phải mỗi người đều có sẵn thứ thuốc trong chính mình?

Điều quan trọng là bệnh nhân phải tự ý thức về điều đó. Các thứ thuốc không ở đâu xa: trong hơi thở là một, trong thức ăn là hai. Biết thở đúng cách, biết đưa hơi xuống huyệt đan điền (ruộng thuốc) ở dưới rún là đã có một thứ thuốc quý. Trong kiếm hiệp, ta thấy các vị hiệp khách một khi bị thương tích thì vội trốn vào một hang động dưỡng thương, ngồi xếp bằng hít thở “điều tức” (thở bụng) chờ ít lâu sau ra đánh tiếp vì đã phục hồi công lực rất nhanh chóng. Nhờ gì? Nhờ biết thở bụng để đưa hơi xuống huyệt đan điền.

Sau hơi thở là thức ăn. Bởi thức ăn sẽ hợp với hơi thở tạo ra năng lượng. Nhưng “trăm thứ bệnh đi qua đường miệng”. Ăn không đúng chất và lượng thì lại dễ bị béo phì, huyết áp, tiểu đường v.v… Các thứ “thuốc” đều có quanh ta, trong thức ăn, trong nước uống.

Có một câu châm ngôn trong ngành y: “Chỉ có người bệnh chớ không có bệnh”, ý nói rằng tuy bệnh cùng do một nguyên nhân gây ra mà mỗi người sẽ “bệnh” một cách khác nhau, không ai giống ai. Bệnh lao chẳng hạn, do vi trùng Koch gây ra nhưng mỗi người sẽ “lao” một cách khác. Vì thế mà có người dễ chữa, có người chữa khó hơn, có người thậm chí chữa không khỏi..

Với các bệnh mạn tính không lây cũng vậy, bệnh tăng huyết áp, tiểu đường… chẳng hạn, có thể nói bệnh thì có một mà người bệnh thì ít nhất có hai: một người thì tìm đủ mọi cách tiêu diệt bệnh, nghĩ rằng phải diệt hết bệnh thì mới có sức khỏe, nhưng vì là bệnh mạn tính, kinh niên, nên đành phải khổ đau, thất vọng dài dài, lệ thuộc vào thầy vào thuốc; trong khi người kia thì tìm cách “tuỳ thuận chúng sanh” với bệnh, chấp nhận nó, kiểm soát nó, sống chung hòa bình với nó, để “hai bên cùng có lợi”, quan tâm tới chất lượng cuộc sống của chính mình, chủ động thay đổi hành vi, lối sống để nâng cao sức khỏe của mình, hợp tác tốt với thầy thuốc, bệnh hoạn nhờ đó mà cũng “dễ thương” hơn. Nhà văn Mai Thảo có bài thơ Dỗ bệnh rất hay:

(…)

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn

Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân

Gối tay lên bệnh nằm thanh thản

Thành một đôi ta rất đá vàng.

Người thầy thuốc ngày nay không chỉ quan tâm đến bệnh mà còn phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh để cuộc sống họ có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ cao nhất có thể được là vậy.

“Chất lượng cuộc sống” đặt trọng tâm trên cảm nhận chủ quan của người bệnh, chớ không phải  dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc và sự “mách bảo” của máy móc xét nghiệm!

Cơ thể con người có thể tự sinh các thứ Hormones hạnh phúc: Dopamin, Seretonin, Endorphines, Oxytocine là do cách sống của ta.

 

26 Anh học được gì từ các bệnh nhân của anh?

Học được nhiều chớ! Bác sĩ có thể biết được phần nào “bệnh” của người bệnh qua triệu chứng, qua bệnh sử, qua xét nghiệm này nọ, nhưng chính người bệnh mới biết “sức khoẻ” của họ. Bởi sức khoẻ, như định nghĩa là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái về thể chất, tâm thần và xã hội chớ không phải chỉ là không có bệnh tật. Mà sự “sảng khoái” của họ thì làm sao bác sĩ biết được? Còn về chuyện mối tương giao, tương tác trong gia đình, xã hội và cả đời sống của họ thì càng không thể biết. Thậm chí nhiều khi bác sĩ vô tình mà thành hù doạ bệnh nhân, làm họ suy sụp, lo lắng và sợ hãi, thậm chí từ đó mà lệ thuộc vào thầy vào thuốc. Do đó, mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân phải được dạy rất kỹ ở trường y về Y đức, chẳng hạn như: 1) Trước hết không gây hại (primum non nocere);  2) Tôn trọng sự tự chủ của người bệnh; 3) Không kỳ thị, phân biệt đối xử v.v…

 

27 Con người có thể đạt được sự bình an trong tâm hồn dù vẫn còn nhiều đam mê không?

Vấn đề là “đam mê” cái gì? Đam mê, khao khát, muốn gồm thâu lục quốc, nhất thống giang hồ, muôn năm trường trị, trường sanh bất tử … thì dù xây bao nhiêu cái vạn lý trường thành cũng công cốc.  Phật khuyên “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý” là đủ. Việc ác không làm. Việc thiện thì làm. Tự mình làm cho tâm ý mình an tịnh. Lúc đó, ta nhìn thấy các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã, duyên sinh, thực tướng vô tướng… thì thoát.

 

28 “Buông bỏ” là cụm từ gần đây được nói đến khá nhiều. Theo anh, “buông bỏ” là gì? Có khác gì với “vô cảm” không?

“Buông bỏ” là Xả, là không còn dính mắc. Hai ông Tỳ kheo trên đường về chùa, vừa đến bờ sông thì thấy một cô gái sắp chết đuối. Một ông lao xuống nước cứu cô gái, cõng cô vào bờ. Trên đường về, vị tỳ kheo thứ hai cằn nhằn trách móc mãi chuyện Tỳ kheo mà dám phạm giới.  Vị tu sĩ trẻ trả lời đệ đã đặt cô ấy xuống lâu rồi sao sư huynh vẫn cứ còn cõng cô ấy đến tận cổng chùa vậy hử?

“Buông bỏ” không vô cảm. Trái lại còn quả cảm, đa cảm nữa! Có thể nói “buông xả” chỉ là không bị dính mắc, trói buộc, mà đã từ bỏ tham ái, chấp thủ.. “Buông xả” là một trong “Tứ vô lượng tâm” (Từ bi hỷ xả). Buông xả không phải là từ bỏ mọi thứ, trốn tránh trách nhiệm, mà là để tâm trí được trở nên tự do và thanh thản. Nhờ đó mà sáng suốt, tỉnh thức hơn.

 

29 Có khi nào anh mất niềm tin vào con người không? Nếu có, anh đã làm gì để tìm lại nó?

Không có niềm tin vào con người thì còn biết tin ai? Đã làm gì ư? Im lặng. Rồi ngẫm lại mình.

 

30 Vậy bài học khó nhất trong yêu thương là gì?

Nhiều gia đình kêu là rất thương yêu nhau mà thường cắn đắng, phiền trách, ghét bỏ, thậm chí…  oán hận nhau?  Bài học khó nhất trong yêu thương là gì ư? Chính là Từ Bi Hỷ Xả. Hãy lấy một thí dụ:

Khi một bà mẹ mang thai đứa con trong bụng, một tình thương vô bờ bến đã tràn vào tâm hồn bà, một tình thương vô điều kiện sẵn sàng chấp nhận, hy sinh, để bảo vệ đứa con, sẵn sàng làm mọi thứ tốt lành cho đứa con, mỉm cười với nó, nhẹ nhàng với nó, hãnh diện vì nó… Có phải là Từ không?

Rồi khi con bi bô, chạy nhảy chơi đùa, u đầu sứt trán, tróc vảy trầy da, cha mẹ nào cũng đau cái đau của con, đau còn hơn con, muốn đau thay cho con mà không được, quan tâm, chăm sóc, làm giảm đau. Có phải là Bi không?

Rồi con lớn lên, đi học, lớp này lớp khác, đạt thành tich này thành tích khác mẹ nào chẳng hân hoan sung sướng nhìn con, chia sẻ cùng con nỗi mừng vui, không hề có chút lòng ganh tị ! Vui cái vui của con như của chính mình. Có phải là Hỷ không?

Rồi khi con lớn khôn, ra trường, có sự nghiệp, người làm cha mẹ nào cũng cảm nhận đựơc sự bình an, hạnh phúc, đã làm hết những gì cần làm cho con với tấm lòng rộng mở. Có phải là Xả không?

 

31 Nếu có thể gởi cho người trẻ một lời khuyên, anh sẽ nói gì?

Hãy quay về “nương tựa chính mình” và thực hành Giới Định Huệ. Hãy bắt đầu từ 5 Giới: Không sát sanh, Không trộm cắp, Không nói dối, Không tà dâm và Không nghiện ngập. Chừng đó, giữ được là đã có cuộc sống an lành, hạnh phúc. Làm nền móng cho cuộc sống an vui cho mình và cho người, cho xã hội vậy.

 

Saigon, 22.11.2025

 

 

Bài 4: Hỏi- Đáp về Cuộc Sống

(Ghi chú: Là những trao đổi qua email, không phải phỏng vấn trực tiếp)

 

1 Trong cuộc đời mỗi người thường có ít nhất một lần tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?” Có bao giờ anh tự hỏi mình câu đó không?

Không, Tôi chưa bao giờ tự hỏi mình câu đó. Có lẽ tôi sống quá hồn nhiên và ngây thơ đó không? Chắc vậy. Theo tôi, người tự đặt cho mình câu hỏi đó phải là một người có một đời sống phong phú, sôi nổi và có tâm hồn của một triết gia. Nếu là một người trẻ, có thể do nếp sống gia đình, thiếu tình thương và/hoặc ngược lại quá dư thừa tình thương yêu, nên bị ngộp. Rồi ngạt. Muốn giải thoát! Và rất có thể là người sống thiếu thiên nhiên, thiếu cộng đồng. Đặc biệt có thể đó là một người luôn sống trong sự so sánh. Khi có lòng so sánh, ta luôn không hài lòng vì hơn thua, vì ngang bằng. So sánh luôn mang đến khổ đau. Tham sân si quấn quít. Liệu pháp là nên về lại với thiên nhiên, gần gũi thiên nhiên, gần gũi với cộng đồng, với “bộ lạc” của mình. Lỗi thường từ phụ huynh, nhưng cũng do tự bản thân, từ môi trường, từ di truyền (chánh báo và y báo). Khi một người tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?”, sẽ phải tiếp tục hỏi: “Tôi chết vì điều gì?”.

 

2 Có khi nào anh dành thời gian và tâm sức để theo đuổi một điều, rồi lúc nào đó nhận ra mình không muốn đi tiếp con đường đó nữa? 

Chưa. Có lẽ do tôi chọn nhiều “con đường” cùng lúc. Tại sao lại chỉ có một con đường kia chớ?

 

3 Có người trẻ thấy cuộc đời thật vô nghĩa: học để có điểm cao, đậu đại học, ra đi làm, gắng sức kiếm tiền, lập gia đình, lo cho con cái, rồi hết. Nếu có người nói với anh như vậy, anh sẽ nói gì với họ?

Lỗi ở chỗ không biết sống “ở đây và bây giờ”! Ở mỗi giai đoạn trong cuộc đời như thế đều là những niềm vui, niềm hạnh phúc, nếu biết khám phá và thưởng thức! Học cách yêu thương. Nếu hiểu biết thêm về nghiệp về duyên, sẽ an nhiên tự tại. Khi nhỏ thì muốn mau lớn, già thì muốn trẻ lại, đó là do lòng tham, lòng “muốn”.

 

4 Làm sao để ổn định cảm xúc, không quá buồn hay quá vui mà vẫn thấy đời đáng để sống?

Chính cái “quá” đó mới là vấn đề. Cái gì đã quá thì không tốt rồi. “Quá nhanh quá nguy hiểm” nhớ không? Kiểm soát cảm xúc là chuyện không dễ. Cần có một nền văn hóa cơ bản để thấy đủ rộng, không bị thành kiến chi phối, mới có thể kiểm soát được cảm xúc. Cảm xúc thường do “nhận thức” sai, dẫn tới cảm xúc “quá”, từ đó dẫn đến hành vi không đúng, mất kiểm soát.

 

5 Có nên tin vào một đấng thiêng liêng nào đó sẽ giúp ta không?

Có cái “đấng” đó không? Có râu hay không râu? “Đấng” thì chắc không có, nhưng “thiêng liêng” thì có.  Cao Huy Thuần bảo cái má lúm đồng tiền, cái răng khểnh đều “thiêng liêng”. Tôi cũng thấy vậy. Nó làm ta xao xuyến, rạo rực, và thế là nó đưa ta vào thiên đàng hay địa ngục. Dĩ nhiên, nếu có một “Đấng” cho riêng mình thì cũng tốt. Ta sẽ có chỗ để nương tựa, để nhõng nhẽo, để đổ thừa… nhẹ khỏe biết bao! Phật thì bảo hãy nương tựa chính mình, hãy tự đốt đuốc lên mà đí, hãy xây một hải đảo tự thân.

 

6 Có khi nào anh thấy con người hiện đại “biết nhiều nhưng sống không sâu” không?

Sống không đủ sâu là sao? Là cạn cợt?  Ai biết sâu cạn thế nào! Nhiều người chết đuối vì tưởng chỗ không sâu đó nhe.

 

7 Trong hành trình làm bác sĩ, khoảnh khắc nào khiến anh thay đổi cách nhìn về sự sống và cái chết rõ nhất?

Không đợi đến khi làm bác sĩ. Tôi có may mắn học Y từ những năm 60 của… thế kỷ trước ở Saigon, tại Cơ thể học viện. Ngay năm thứ I y khoa, các sinh viên chúng tôi được phát một giõ cần xé xương người để mân mê, học thuộc từng đốt, từng mối, từng mẩu, từng dây thần kinh, từ sớ thịt. Nhiều sinh viên lén ôm một cái đầu lâu xương người mang về nhà để học suốt đêm… Điều tôi cảm nhận là để tạo ra vài trăm loại xương người như thế, phải có 2 thứ tế bào xương gọi là Osteoblast (tế bào tạo xương) và Osteoclast (tế bào hủy xương) “phối hợp” nhịp nhàng với nhau mới nên hình nên dạng! Rồi sang năm thứ II, chúng tôi được mổ xác ướp, mỗi 2 sinh viên “ôm” một xác ướp, không biết của ai đã hiến tặng cho y học… Mỗi ngày mân mê hì hục, rạch rạch, xẻ xẻ cái xác ướp formol nồng nặc đó mà lòng nao nao, đầy cảm xúc về kiếp người, về “tạo” và “hủy”, và tràn dâng một niềm biết ơn…

 

8 Anh có nghĩ rằng nỗi đau (thể chất hoặc tinh thần) là một người thầy cần thiết không?

Đúng vậy. Nhưng để thấy biết người Thầy đó không dễ. Phải chiêm nghiệm. Phải hiểu nghiệp duyên, nhân quả.

 

9 Khi một người bị bệnh nặng, anh nghĩ điều họ sợ nhất là gì?

Là cái chết. Và những hệ lụy của nó. Người bệnh nặng gần gũi với cái chết nhất, nên họ sợ vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Một người có tu tập, thiền định có thể họ thấy khác. Họ quen sống trong cái chết mỗi sát na. Họ thấy sống và chết không phải là một nhưng không khác. Họ thấy “pháp”: “bất sinh bất diệt”. Họ biết “tịch diệt vi lạc”.  Ái dà, lan man chuyện đời thành chuyện đạo rồi!

 

10 Làm sao để phân biệt “chấp nhận” và “buông xuôi”?

“Chấp nhận” là còn tìm kiếm, tìm giải pháp để cải tiến, thay đổi. Thua keo này bày keo khác. Thất bại là mẹ thành công. Còn “buông xuôi” thường là “hết thuốc chữa”!

 

11 Nhiều người muốn sống chậm, nhưng áp lực cơm áo gạo tiền không cho phép. Anh nghĩ họ nên làm gì?

Thì họ cứ tiếp tục sống nhanh chớ sao! The Fast and The Furious! Có cái phim tên vậy? Vấn đề là họ có thực sự muốn “sống chậm” không?  Muốn sống chậm thì họ phải “thiểu dục, tri túc”. Nguyễn Công Trứ nói: Tri túc tiện tức, tri nhàn tiện nhàn. Nghĩa là biết đủ thì đủ, biết nhàn thì nhàn. Đợi đủ biết bao giờ cho đủ.  Lòng tham không đáy mà! Đợi nhàn biết bao giờ cho nhàn?

 

12 Theo anh, sự cô đơn của người trẻ hôm nay khác ra sao so với thế hệ trước?

Khác xa chứ! Người xưa, vài thế hệ trước đây thôi, cô đơn là vì thiếu bạn, mất bạn. “Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua” (Nguyễn Khuyến). Còn người trẻ hôm nay cô đơn vì có quá nhiều bạn! Các mạng xã hội giăng đầy. Cả thế giới nằm gọn trong lòng bàn tay. List bạn bè dày đặc, hết chỗ chứa! Vậy sao cô đơn? Vì ta thiếu những bạn bè biết “nhìn nhau không nói”. Bây giờ ồn ào quá, cá mè quá, tràn ngập quá. Nên người trẻ cô đơn là phải rồi.

 

13 Khi còn trẻ, anh có khi nào “nghĩ nhiều” (overthinking) không? 

Nghĩ nhiều là sao? Là nghĩ đi nghĩ lại nghĩ tới nghĩ lui? Có chớ sao không. Khi ta chưa có “đầy đủ thông tin” để đi đến một quyết định nào đó (mà ta cho là tốt nhất), thì ta phải nghĩ tới nghĩ lui đó thôi. Có khi phải xin ý kiến người có kinh nghiệm mà ta tin cậy. Khi tôi thi đậu tú tài II xong thì băn khoăn trước ngã ba đường: Học y khoa theo ý muốn của gia đình, học văn khoa theo sở thích mình, hay học sư phạm? Tôi đến hỏi ông Nguyễn Hiến Lê, ông suy nghĩ một chút rồi khuyên tôi nên học y khoa để có thể giúp ích cụ thể cho gia đình, cho bà con lối xóm; nếu học giỏi, có thể dạy học và nếu có năng khiếu văn chương, thì sau mươi năm hành nghề, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều con người có thể viết lách được. Anton Chekhov, Summerset Maugham, A.J Cronin… Lỗ Tấn cũng là những nhà y học.

 

14 Anh có nghĩ rằng nhiều khi cơ thể con người biết nhiều hơn tâm trí không?

Thân và tâm không tách rời nhau. Thân tâm nhất như. Cho nên nó… liên hệ với nhau chặt chẽ, nó hiểu nhau rất tốt. Tâm mà an thì thân mới lạc. Thân mà an thì tâm mới lạc. Đừng dại mà tách rời ra. Bộ não chỉ chiếm 2% thể trọng nhưng sử dụng đến 25-30% năng lượng, là vì dùng để gây gỗ, oán thù, hờn giận, đấu đá, tranh giành… Cơ thể dùng 40% năng lượng để căng cơ, co cơ, sẵn sàng chiến đấu hay… bỏ chạy. Một người biết giãn cơ, thả lỏng cơ, một người biết buông bỏ tâm tham, tâm sân thì cơ thể dư năng lượng, tích lũy, để dành chữa lành tất cả các thứ bệnh thân-tâm. Vì thế ta thấy cơ thể tự nó có khả năng tự điều chỉnh.  Lỗi tại ta xài phí năng lượng một cách vô ích. Hãy quay về nương tựa chính mình là vậy. Thầy thuốc không “chữa lành” cho ta nổi đâu!

 

15 Có khi nào việc cố gắng hiểu mình lại trở thành một áp lực mới không?

Cố gắng hiểu mình, để tự thay đổi mình ư? Còn lâu! Sự cố gắng như vậy rõ ràng là một áp lực. Dĩ nhiên mình sẽ “giác ngộ” dần theo thởi gian. Đó là sự thích nghi, điều chỉnh chớ không phải cưỡng bức mình, ép mình, đè nén mình.

 

16 Một người trẻ nên chuẩn bị gì cho tuổi già từ bây giờ, ngoài tài chính? 

Nhiều thứ chớ. Cách sống mới quyết định. Tài chánh là một phần quan trọng thôi. Tuổi già cần thích nghi và chấp nhận những thay đổi về thể chất, tâm lý và cả về mặt xã hôi, tương tác trong gia đình, bè bạn…  Thích nghi với những mất mát, thiếu hụt cả về tình cảm, thích nghi với những stress trong đời sống, các bệnh lý như bệnh về chuyển hóa (ba cao một thấp), môi trường, viêm nhiễm (do đề kháng yếu kém), tai nạn té ngã, các hoạt động của não bộ, hormones… Tế bào não tuy già cỗi nhưng vẫn duy trì sự nhu nhuyễn, có khả năng sản sinh những nối kết mới. Người già cần giúp não bộ hoạt động liên tục như học thêm ngoại ngữ, mỹ thuật, thể thao phù hợp, và quan trọng, duy trì một “cộng đồng” sinh hoạt thường xuyên với nhau.

 

17 Có người đi chữa lành, đến khi chữa lành xong thì không muốn làm gì nữa. Anh nghĩ thế nào về trường hợp này?

Ý nói là tại vì “bệnh” nên mới ham lam ham làm quá đó chớ gì! Phải đó. Ham, muốn, mong, cầu, tiếc nuối… nói chung là mọi thứ “dục” nó hành ta, nó làm ta khổ triền miên, đáng đời ta!  “Lòng muốn còn nhiều… Đập gương xưa tìm bóng!” (Đoàn Chuẩn). Khi nhận ra “Nhưng… thôi tiếc mà chi/ Chim rồi bay…” là hết chuyện!

“Chữa lành” xong thì lòng “dục” đã cạn, lòng tham đã vơi. Nhưng coi chừng, bệnh chỉ dứt tạm rồi biến chứng tùm lum, khó chữa hơn. Thiền là một phương pháp tốt có thể giúp chữa lành. Thiền luôn bắt đầu từ “ly dục”, “ly bất thiện pháp” và thực hành chánh niệm. Các phương pháp MBSR (Mindfulness Based Stress Redaction) và MBCT (Mindfulness Based Cognitive Therapy) thường được dùng giúp “chữa lành” các bệnh S.A.D (Stress/ Anxiety/ Depression) đó.

 

18 Có nhiều người nhìn bên ngoài rất thành công, nhưng bên trong họ cứ thấy có gì đó “sai sai”. Theo anh, họ cần làm gì với cảm giác “sai sai” đó?

Họ sẽ phải tự vấn. Phải thức tỉnh. Nếu vẫn còn mù mờ thì tìm đến một người “khai vấn” (coach), một người tham vấn (counseller) tốt. Nhưng nếu không may dễ gặp trường hợp làm rối bời thêm, rồi đi vào mê tín, dị đoan nguy hiểm hơn.

 

19 Có điều gì trong cuộc sống mà con người chỉ có thể hiểu khi đã qua một độ tuổi nhất định?

Người ta không thể không trải nghiệm, thể nghiệm, mà có kinh nghiệm sống được. Nói thất bại là mẹ thành công là vậy. Nhưng coi chừng thất bại có khi lại dẫn tới… đại bại. Nên phải tỉnh thức…

 

20 Khi mất một người thân, điều gì giúp con người đi qua mất mát một cách an yên nhất?

Khó mà an yên. Có thể nguôi ngoai do thời gian cuốn đi. Nhưng khó mà dứt bỏ, buông bỏ, xả bỏ dễ dàng được.  Người có tu tập, thấy biết sanh trụ dị diệt của Pháp (dharma), biết “bất sinh bất diệt” thì có thể vượt qua chăng?

 

21 Anh có tin rằng một người có thể chữa lành hoàn toàn những tổn thương sâu trong quá khứ không?

Có những trường hợp người ta còn nuôi dưỡng các “tổn thương” sâu đó nữa! “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thú độc” (Xuân Diệu). Cái “thú độc” đó, “thú đau thương” đó nó… lạ lắm. Phải hỏi các thi sĩ mới biết!

 

22 Nhiều người biết một điều gì đó nhưng không thực hành được, ví dụ biết về “tham sân si” nhưng hết lần này đến lần khác bị chúng dẫn dắt. Anh nghĩ sao về chuyện này? 

Biết là một chuyện. Thực hành là một chuyện khác. Thực hành đâu có dễ. Biết sai thực hành sẽ sai. Tham sân si là gì? Ai làm ra mấy thứ “quỉ quái” đó? Si là “Vô minh”, là không biết hoặc biết không đúng, nhưng Tâm Kinh viết: “Vô vô mình diệc vô vô minh tận” nghĩa là không có vô minh, cũng không dứt được vô minh. Vô minh còn dài dài đó thôi. Cũng như “tham” vậy. Từ con kiến, con chuột, con sư tử, con người…  đều tham ăn, giành ăn, nhưng con người còn hơn vậy: Tham danh, tham tiền, tham sắc, tham ăn, tham ngủ, nói chung là “ngũ dục”, cho nên con người mới khổ đau hơn đó chăng?

 

23 Một người nên dựa vào điều gì để đưa ra những quyết định quan trọng trong đời: lý trí, cảm xúc, hay một dạng trực giác nào đó?

Người ta thường bảo phải dựa vào lý trí, khi có đủ thông tin để có quyết định sáng suốt. Tôi thì không. Tôi thấy mình nặng về cảm xúc và trực giác hơn. Có những người mới gặp đã thấy như quen từ… muôn kiếp trước!

 

24 Nếu phải chọn một điều đơn giản nhất nhưng quan trọng nhất để giữ gìn sức khỏe tinh thần, anh sẽ chọn điều gì?

Đó là phải giữ sức khỏe thể chất (physical well being) trước hết.  Cái “tứ niệm xứ” (satipathana) “thân thọ tâm pháp” Phật nói đó, có người phát triển cái thọ, lấy “thọ” làm gốc, có người giữ lấy cái tâm, lấy tâm làm gốc, có người giữ cái pháp, lấy pháp làm gốc. Tôi người thầy thuốc, nghĩ phải lấy cái thân làm gốc mới là cốt lõi. Vì có thân thì mới có thọ. Có thọ mới có tâm. Có tâm mới sinh… các pháp. Tâm Kinh nói “Vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý” đã xác nhận “Sắc” phải có trước rồi mới nói gì thì nói! Cho nên “Thân hành niệm” với Chánh niệm hơi thở (Anapanasati) là phương pháp khoa học và hiệu quả trong Thiền định.

 

25 Trong những điều anh từng chắc chắn là đúng về cách sống, có điều gì theo thời gian trở nên không còn tuyệt đối đúng nữa?

Không có điều gì là tuyệt đối đúng cả! Bám vào ý niệm tuyệt đối đúng chắc chắn sẽ “tuyệt đối” sai. Từ nhỏ đã được học “Chân lý ở bên này dãy núi Pyrénées là sự sai lầm ở phía bên kia” (Vérité en-deçà des Pyrénées, erreur au-delà) nhớ không?  Cách sống giản đơn, thiểu dục tri túc, gần gũi thiên nhiên theo tôi là tốt nhất.

 

26 Có điều gì anh chưa từng nói ra trong các bài viết hay cuộc trò chuyện trước đây, nhưng nếu có cơ hội nói một lần, anh nghĩ mình nên nói?

Tôi nay gần 90 rồi. Tôi nghĩ phải có niềm tin nào đó thiện lành để có hạnh phúc bây giờ và mai sau. Tôi nghĩ chắc chắn phải có kiếp trước kiếp sau, nối tiếp nhau mới công bằng trong pháp giới.

 

27 Có điều gì anh từng cố giữ, nhưng cuối cùng phải buông? Việc buông đó dạy anh điều gì?

Nhiều lắm. Dạy mình đừng có tham để rồi sân si. “Ly dục”, “ly bất thiện pháp” là bước đầu vào thiền. Tôi nhờ hành thiền 30 năm nay nên thấy có ít nhiều “hiệu quả”, giúp mình buông xả, giúp thân tâm có phần an lạc.

 

28 Trong những lựa chọn lớn của đời mình, có lựa chọn nào anh vẫn còn lưỡng lự khi nhìn lại, không hẳn hối tiếc, nhưng cũng không hoàn toàn hài lòng?

Tôi tin có nghiệp, có duyên. Có cái gì đó dẫn dắt, đưa đẩy, nối kết. Tuy nhà bác học Stephen Hawking nói “Có một thiết kế vĩ đại nhưng không có nhà thiết kế”. Tôi ngờ ông chưa thấy biết hết.

 

29 Anh đã học được điều gì về việc tha thứ, không phải tha thứ cho người khác, mà tha thứ cho chính mình?

Tha thứ cho chính mình mới khó. Phải tập chấp nhận. Nếu được, học và hành hạnh thứ 3 trong 10 hạnh nguyện Phổ Hiền: “sám hối nghiệp chướng”.

 

30 Có sự thật nào về cuộc sống mà anh hiểu khá muộn, và nếu hiểu sớm hơn, có lẽ anh đã sống khác đi?

Không. Tôi thấy mình vẫn là mình. Nó vậy là nó vậy. Hình như không có cách nào khác.

 

31 Khi một người già đi, điều gì thay đổi nhiều nhất: cách họ nhìn thế giới, hay cách họ nhìn chính mình?

Cách họ nhìn chính mình. Họ sẽ thở ra, nhẹ nhõm. Ủa, vậy đó hả?

 

32 Anh có nghĩ rằng con người cuối cùng sẽ trở về với một vài điều rất đơn giản không? Nếu có, đó là những điều gì? 

Thiểu dục, tri túc. Thấy biết Như Lai. Sống với Như Lai. Cười với Như Lai.

 

33 Nếu cần nhắc lại một nguyên tắc sống duy nhất, một điều anh đã tự kiểm chứng, anh sẽ chọn điều gì?

Từ bi với mình để từ bi với người.

 

 (Saigon, 18.5.2026)

…………………………………………………….

 

 

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

VU LAN Bông Hồng Cho Mẹ

07/08/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Vu Lan: Bông Hồng Cho Mẹ

Đỗ Hồng Ngọc

Mùa Vu lan.  Thật may mắn cho những ai được cài đóa hồng trên ngực áo. Bởi họ còn Mẹ. Tôi thì cài bông trắng. Nhưng điều tôi tin chắc là mẹ tôi đã gặp… bà Ngoại, và vì thế, mẹ đã có thể gài lên ngực một đóa hồng thật tươi từ đó…

Bông hồng cho Mẹ

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…

Đỗ Hồng Ngọc
(Vu Lan 2012)

Võ Tá Hân, người nhạc sĩ đã có đến hơn 30 CD nhạc Phật giáo và hằng trăm khúc tình ca nổi tiếng, một hôm tình cờ đọc được bài thơ ngắn ngủn này đã cảm xúc viết nên khúc hát Vu Lan thật thiết tha dành cho những người con… không còn Mẹ.
Và tiếng hát da diết của ca sĩ Thu Vàng thấy trên youtube:

 

 

Rồi Bội Hoàng, từ Cần Thơ đã cảm tác :

Tình yêu còn mãi

Đọc bài thơ mà mắt lệ đoanh tròng
Ai thấu hiểu một tình yêu đã mất
Ai tự hào cài hoa hồng lên ngực
Dù đã qua cái tuổi cổ lai hy!

Con chỉ muốn luôn được cài hoa đỏ
Dù tuổi đời Má đã rất mong manh,
Dù con Má đã con cháu vây quanh,
Vẫn muốn được mỗi ngày chăm sóc Má.

Được bón cơm, được đút cháo, châm trà
Được tắm rửa, được thay quần áo mới
Được ngồi bên nghe những lời Má nói
Mà dậy lên niềm thương cảm riêng tư

Má bỏ con năm Má chín mươi tư
Rời cõi tạm, Má lên đường thanh thản
Con cài hoa cho màu áo Má đỏ
Để Má về gặp Ngoại vui đoàn viên

(Bội Hoàng, 2014)

Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh từ Santa Ana, mùa Vu Lan 2016 viết trong bài “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”:

“Lại đến mùa Vu Lan. Những đóa hồng đỏ hạnh phúc bung nở vành môi vẽ một vòng xum vầy thỏ thẻ Mẹ Ơi. Những đóa hồng trắng ngân đọng nước mắt lung linh đôi bờ xa vắng âm vang tiếng gọi Mẹ Ơi. Trong niềm, vừa hân hoan vừa cảm động, tôi nhớ đến bài thơ về Mẹ mà khi đọc nhịp tim tôi như bị nghẹn,

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

(Bông Hồng Cho Mẹ, Đỗ Hồng Ngọc)

Thử xem. Đọc. Nghe. Rồi hít vào một hơi thở sâu, im vắng, thì mình như nghe được tiếng nước mắt đang vỡ ra… Vỡ bung như ngọn sóng xanh lấp lánh biển pha lê. Vỡ tung như ngọn pháo hoa rơi vô vàn sợi ánh sáng trong đêm. Những cái vỡ, không tan mà thăng hoa, phải chăng đó là tận cùng của Đẹp? Như hạt nước mắt này, nó bung bung. Ánh lên bóng của Ngoại đang đứng bên kia sông, bên kia là bên của miên viễn không còn sinh tử? Và Mẹ, Mẹ đang từ cõi chết đi vào cõi sống ấy để lọt vào vòng ôm ấm áp của Ngoại. Mẹ đi từ nụ hồng đỏ nở duyên trùng phùng Ngoại. Ý thơ mầu nhiệm làm sao.

Tôi thấy không nói nên lời được để tả cho chính xác cảm giác của mình về sự mênh mang “ý tại ngôn ngoại” trong sâu thẳm bài thơ này. Về cái rất không nghĩa của Mất Còn. Đến với tôi là ý niệm con đường sinh tử đang xóa đi dưới cảm xúc của đứa con, -là Đỗ Hồng Ngọc đây-, người chiêm nghiệm sống chết thật là như không, đóa hồng trắng người đang đeo là một thực tại, đóa hồng đỏ đang rưng rưng trên áo Mẹ kia, là áo nghĩa của thực. Tất cả đều ở thì đang, không còn hôm qua ngày mai phút tàn giây tới. Sinh mệnh không khởi đi và chấm hết bằng hai đầu tiếng khóc nữa. Là Đây. Là Đang. Một thực tại sống động xóa hết biên giới không gian và thời gian. Hình dung Mẹ, trong hơi thở hắt ra bỗng trong suốt nhẹ nhàng đứng lên, trong ngày hội tưng bừng của Tình Mẫu Tử, cúi nhìn bàn tay đứa con run run cài lên ngực áo mình một đóa hồng đỏ, và Mẹ phất phới đi trong nôn nao cho kịp giờ hẹn với Ngoại. Ôi ta mất mẹ và ôi Mẹ vừa có Ngoại. Vô biên lâng lâng nỗi Còn Mất… Huyễn ảo vô cùng khiến những giây tơ vi tế nhất trong cảm xúc ta bị đánh động.

Ngoại Chờ Bên Kia Sông, tôi viết hoa vì mỗi mỗi chữ của câu thơ này là khởi đề dẫn đến chiêm nghiệm ảo hóa về sinh tử. Và toàn bài thơ là tấm tình trong vắt ban sơ của người con, rất nhỏ, mà cũng đã rất già. Bởi rất nhỏ thì mới yêu thương Mẹ được hồn nhiên như thế. Và phải chăng, rất già mới có thể biến yêu thương ngây thơ thành một tình yêu vượt qua được đau đớn của chia lìa sinh tử, như thế.

Cảm ơn Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, cho tôi biết thêm một nhịp đập thương yêu nữa của Hiếu Tử, cho tôi từ bây giờ đã có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một lúc nào đó phải xa Mẹ. Không phải là một cái xa hẳn rồi, mất hẳn rồi như tôi vẫn thường nghĩ nữa. Trong hạt nước mắt rơi lại thấp thoáng nụ cười, nhìn Mẹ của ta lại cài hoa hồng đỏ về bên Ngoại. Ôi! Cái không nói của Ngoại Chờ Bên Kia Sông đã lấp đầy cảm xúc và ý nghĩ của tôi đến thế!

Và lúc này đây, còn được thấy mẹ ra vào thì hãy thỏ thẻ bên vai mẹ rằng,

… mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (thơ Đỗ Trung Quân)

Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình, gửi đến các con tôi,

… tận cùng hạt lệ mẹ
là nước mắt con rơi
tận cùng tiếng cười mẹ
là nụ cười con vừa mở
và con ơi
tận cùng hư vô mẹ
sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại 

(thơ NTKM)

Thưa có phải cũng có chút gặp gỡ giữa “sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại” và “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”?

NTKM
Santa Ana, Mùa Vu Lan

mà nhà phê bình Tô Thẩm Huy cảm thán:

“Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 20 chữ, mà thâm thúy, ảo diệu vô cùng. Đọc lên điếng cả hồn.

Phải chép lại ra đây.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho Mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực,
Ngoại chờ bên kia sông

Rõ ràng Nguyễn Thị Khánh Minh đã cảm bài thơ đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Thật là may mắn có được người đồng điệu như thế.

Bài phổ nhạc hay, hai giai điệu khác nhau mà hòa hợp, hỗ tương lẫn nhau. Tuy thế, cảm xúc khi đọc bài thơ nó đến ào ạt, như cùng một lúc nó trào dâng, bủa vây tứ phía, làm bàng hoàng, run rẩy khắp cả châu thân. Cảm xúc từ bài nhạc nó đến khoan thai, từ tốn, êm đềm”.

Lê Uyển Văn từ Trà Vinh viết: Bài viết tuyệt vời được khơi nguồn từ bài thơ đẹp. May mắn cho chúng ta được thưởng thức những tuyệt phẩm này. Xin đa tạ!

Còn Trieu Minh (Úc) ghi cảm nhận khi nghe bài hát từ giọng ca Thu Vàng: “ Doc va nghe Nhac, nghe Nghen o nguc, nuoc tu lan tren Ma”.

ton  t thì comment: “Nghe nhức xương, thấm tới tủy”;

chrslam thì ghi: Đã nghe đi nghe lại cả chục lần bài hát này. “…Mẹ nhớ gài lên ngực. Ngoại chờ bên kia sông…” Một cảm giác khó tả. Cám ơn thi sĩ và nhạc sĩ.

Và E-Temple ghi nhận: “ Chỉ có 4 câu ngắn ngủn thôi mà thành lời ca, và hát mãi không muốn dừng.  Con dập đầu lạy Phật, xin Mẹ được vãng sinh ‘ Nam mô Đại Từ Đại Bi A-Di-Đà Phật….’”

Nguyễn Thị Tịnh Thy từ Huế viết trong “Yếu tố bất ngờ trong bài thơ bông hồng cho mẹ”:

“Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người… Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.

(…)

Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ.  Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật…”

(đặc san Liễu Quán, số 12, Vu Lan 2017).

Mùa Vu Lan này, xin gởi bạn đôi dòng về bài thơ Bông Hồng Cho Mẹ như một lời chúc mừng đến bạn, người đã rất sướng vui, tự hào, khi còn được cài một bông hồng đỏ thắm trên ngực áo của mình! “…Rồi một chiều nào đó anh về, nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu… rồi nói nói với Mẹ rằng… Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?” (Phạm Thế Mỹ).

(Đỗ Hồng Ngọc)

Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)

14/07/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (7.2026)

Lại về Nha Trang

Mình biết bạn sẽ kêu lên: Đi gì mà đi hoài vậy?

Nhưng, giờ còn đi được chút chút mà không đi chờ đến lúc nào? Bạn mình,  bs TM một người rất cao khỏe, đẹp trai, đã bay khắp năm châu bốn biển,  bây giờ đã phải ngồi xe lăn, kêu chả có ai đẩy cho đi nữa, chán quá! Một bạn khác, vừa mới đi nhà thương cấp cứu, mổ cắt bỏ một khúc ruột già, nối tận-tận, bỏ đi cái khối u to bự làm nghẹt ruột suýt chết, kêu mừng quá, sắp đi cầu lại được rồi. Mới 85 tuổi chớ nhiêu. Bác sĩ nói ung thư, bạn bảo kệ nó, không cần sinh thiết làm chi, lo cho xong số báo đặc biệt về một người bạn đã mất. Cho nên khi có các bạn trẻ thân thiết, tuổi mới 72-75, kêu mình đi Nha Trang chơi mấy ngày, mình xách túi đi ngay. Trời dọa bão. Kệ nó.

Mình vốn mê xe lửa từ nhỏ, lúc ở Phan Thiết thường lên ga Mường Mán, bắt xe đi Saigon hay Nha Trang chơi, nhảy từ restaurant qua couchette… trên những chuyến tàu lắc lư phun khói mù trời, xịt lửa hăm  dọa, rú lên những hồi còi hối thúc đầy oai vệ, rồi mới chịu từ từ nghiến bánh lăn đi. Mấy bạn tới trễ, chay vọt theo, đu cửa phóng lên. Mấy bạn tiễn khách kịp bịn rịn nhảy xuống!

Bây giờ thì xe lửa chạy ngon rồi. Dĩ nhiên cũng như rùa bò thôi, từ Saigon đi Nha Trang  chỉ hơn 400 cây số, mất 8 tiếng. Có được 8 tiếng trò chuyện đã đời, ngắm nhìn hai bên đường, biết rừng cao su này là Long Khánh,  núi  Chứa Chan, biết rừng Thanh long này là Bình Thuận, núi Tà Cú, Ba  Hòn, Mây Tàu, rừng… quạt gió là Phan Rang, Cà Ná biển xanh cát trắng, biết Cam Ranh rừng xoài ngút ngàn…

Nhớ có một lần năm nọ ở Nhật,  đi xe lửa đầu đạn chán ngắt, vèo cái tới rồi, không kịp ngó đâu là đâu!…

Chuyến này ngoài đến Nha Trang,  ở Khu Hòn Chồng, nhóm mình còn đi  Dốc Lết, Ninh Vân…

Gởi bạn vài hình ảnh coi chơi thôi nha.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Hòn Chồng (7.2026, ảnh ĐHN)

 

 

Nha Trang. Khu Hòn Chồng. Nắng lên. (Ảnh ĐHN)

 

 

Dốc Lết bây giờ náo nhiệt. Nhớ xưa mênh mông…

 

Đỗ Hồng Ngọc (Dốc Lết, 5.7.2026)

 

 

Ninh Vân (CN 5.7.2026). Từ trái: Phan Binh, Nguyễn Văn Thu, Đỗ Hồng Ngọc, Ngô Tiến Nhân.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU

29/06/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nguyên Đạo Văn Công Tuấn

HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU

Tôi đọc “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc” của Đỗ Hồng Ngọc (1)

 

 

Cuốn sách của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tìm đến tôi (hay tôi tìm đến sách) thật tình cờ. Đúng là một duyên lành.

Số là đầu năm 2026 này tôi vừa nhờ Nguyễn Minh Tiến cho xuất bản cuốn sách “Mong Manh Một Hơi Thở” của mình. Bỗng dưng mấy ngày trước đây anh Ngọc viết Email báo cho biết anh cũng vừa xuất bản một cuốn sách song ngữ Việt-Anh: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc”.

Hai cuốn sách gần như gặp nhau ở một chữ: Hơi thở. Nhưng một đàng đến với hơi thở từ phòng khám, đàng kia từng chứng kiến sự mong manh của sinh tử. Có những cuộc gặp tưởng là ngẫu nhiên, nhưng nhìn lại, hình như đều có nhân duyên của nó.

Tôi từng làm việc nhiều năm với tư cách là chuyên viên kỹ thuật trong bệnh viện đại học ở Đức. Đặc biệt trong mùa đại dịch Covid, tôi phải có mặt thường xuyên ở khu cấp cứu để xác định kịp thời các phương tiện kỹ thuật ứng dụng trong quá trình chữa trị cơn bệnh hiểm nghèo mới. Lúc ấy, cả thế giới không nơi nào có chút kinh nghiệm về việc chữa trị khi bệnh nhân bị con Coronavirus SARS-CoV-2 hành hạ.  Tiếng máy thở đều đều, các bác sĩ bàn rất nhanh trước màn hình các dữ liệu về bệnh nhân do tôi chịu trách nhiệm cung cấp. Các y tá chạy qua chạy lại và làm việc liền tay. Tôi đứng đó với công việc của mình, nhưng nhiều lần ý nghĩ lóe lên trong đầu: Cuối cùng tất cả những thiết bị hiện đại này cũng chỉ đang cố giữ lại một điều rất đơn giản – một hơi thở.

Có lẽ vì vậy mà khi gặp những câu thơ của Đỗ Hồng Ngọc trong tác phẩm này, tôi dừng lại lâu hơn bình thường:

“Một hôm hơi thở tình cờ

Dính vào hạt bụi thành ra của mình

Của mình chẳng phải của mình

Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…”

Tôi cảm nhận có cái gì đó rất gần gũi, rất sâu trong những câu thơ ấy. Nó khiến ta bất giác lặng đi một lúc. Một hơi thở của mình mà hóa ra không thật sự thuộc về mình ư? Một hạt bụi mà lại mang theo dấu vết của nghìn năm. Chỉ mấy câu thôi mà đã gợi mở cả một thế giới của vô thường, của duyên sinh và sự tiếp nối.

Và, có lẽ đó chính là tinh thần chung của cả cuốn sách.

 

Một cuốn sách Phật học không hề có dấu vết “giảng đạo”

Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc gồm mười sáu bài viết ngắn ([2]) về những đề tài Phật học, nhưng không là một cuốn sách nặng giáo lý hay đầy thuật ngữ triết học khó hiểu.

Đỗ Hồng Ngọc không viết như một học giả đứng trên bục giảng. Anh viết như một người đã đi qua nhiều biến động của đời sống, đã từng nhìn thấy nỗi đau của con người bằng đôi mắt của một bác sĩ, rồi từ những va chạm ấy mà lặng lẽ bước gần hơn về phía ánh sáng của Phật pháp. Điều đáng quý là anh không “giảng đạo” theo cách khiến người đọc cảm thấy mình đang nghe giáo lý. Anh chỉ kể, chỉ trò chuyện, chỉ tâm sự, chỉ thủ thỉ. Đọc sách của anh giống như ngồi nghe một bác cao niên hiền lành kể chuyện trong một buổi chiều yên tĩnh, bên tách trà. Không áp lực, không phô diễn tri thức, càng không cố tạo ra vẻ uyên bác.

Tôi nhớ có lần về thăm nhà ba năm trước (2023), hai anh em đã hẹn sẽ gặp nhau. Bỗng lúc đó cả anh và tôi đều có những chương trình làm việc riêng, nên anh nói qua điện thoại là nên tranh thủ sắp xếp thì giờ đến nhà anh chơi để nói chuyện. Hôm đó, anh đã bỏ giấc ngủ trưa để hai anh em ngồi nói chuyện với nhau khá lâu. Chúng tôi đã nói về tư tưởng Pháp Hoa, rồi câu chuyện dẫn đến hai chữ “Như Lai“: thân Như Lai, bào thai Như Lai… Đến lúc lâu, anh gật gù rồi nói: “Cho nên Phật là Như Lai, nhưng Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai.” Tôi đã mang câu nói ấy về Đức. Đến hôm nay, tôi vẫn chưa dám nói mình đã hiểu hết, nhưng càng nghĩ càng thấy nó mở ra nhiều điều để suy ngẫm.

Hai anh em nói chuyện rất tâm đầu. Thật ra tôi đã nghe nhiều hơn nói. Cuối cùng anh tặng mấy cuốn sách hay của anh. Mới đầu anh hỏi tôi có mấy cuốn này chưa? Tôi trả lời là có rồi, cả một sưu tập, nhưng anh tặng thì xin nhận. Sách tác giả ký tặng khác và quý hơn sách mua chứ!

Nhìn chung, những tư tưởng thâm sâu Phật học khó hiểu, qua cách diễn đạt trong tất cả các tác phẩm của Đỗ Hồng Ngọc đều trở nên gần gũi, như cơm ăn, như nước uống. Nó không còn là điều gì xa xôi nằm trên những trang kinh cổ, mà hiện ra ngay trong hơi thở, trong nỗi buồn, trong thân bệnh, trong tuổi già, trong những bất an thường nhật của đời người.

Ngay phần mở đầu của sách, tác giả cho đăng lại bài viết “Phương Nào Cõi Tịnh” của thầy Tuệ Sỹ, viết về tác phẩm Cõi Phật Đâu Xa của Đỗ Hồng Ngọc. Trong bài viết có một câu khiến tôi giật mình như gặp một bạn rất quen thân nhưng lâu không gặp: “Anh viết Kinh dễ dàng và cũng rất thận trọng cân nhắc, y như bác sĩ viết toa thuốc. ”

Một hình ảnh so sánh thật đẹp. Tôi đặc biệt thích mấy chữ “thận trọng cân nhắc” ở đây.

Quá trình làm việc trong bệnh viện tôi biết rất rõ điều này. Một bác sĩ kê toa thuốc không thể tùy tiện. Mỗi chữ viết xuống liên quan đến sức khỏe, thậm chí đến vận mệnh của một con người. Nhưng trước khi chữa trị, người bác sĩ phải trải qua một giai đoạn khác còn quan trọng hơn: khám để định bệnh. Trong y khoa tiếng La tinh, chữa trị là Therapia, còn chẩn đoán là Diagnostica. Chỉ khi nhìn ra tận gốc căn bệnh (Diagnostica), người thầy thuốc mới biết phải dùng phương thuốc nào (Therapia) để chữa trị.

Đọc Đỗ Hồng Ngọc, tôi có cảm giác anh đến với Phật pháp cũng bằng phương cách ấy. Anh không vội vàng đưa ra những lời khuyên an ủi. Anh nhìn vào nỗi đau của con người trước. Nhìn thật kỹ. Nhìn bằng trải nghiệm của một bác sĩ đã từng tiếp xúc với bệnh tật, sinh tử và sự mong manh của thân phận. Và bắt đầu từ đó anh mới đề nghị một cách sống, cách thở. Do vậy những điều anh viết không bay lơ lửng trên mây. Chúng đứng rất gần mặt đất, gần với con người, chúng đi vào những góc đời sống rất thực. Anh nói về tuổi già, về bệnh tật, về sự cô đơn, về cái chết. Nhưng kỳ lạ thay, đọc xong lại không thấy bi quan. Trái lại, người đọc có cảm giác nhẹ hơn, như vừa được ai đó đặt tay lên vai và bảo: “Nó là vậy. Mọi chuyện rồi cũng sẽ qua đi. ”

 

Nhẹ nhàng trong phong cách viết

Đỗ Hồng Ngọc sở hữu một lối viết rất riêng, không cầu kỳ, không cấu trúc phức tạp hay những triết luận cao siêu. Đó là điểm mạnh của văn chương Đỗ Hồng Ngọc mà không phải nhà văn nào cũng làm được. Có những đoạn văn tưởng như chỉ là vài ghi nhận rất đời thường, nhưng đọc xong dư âm còn đọng lại rất lâu. Anh viết bằng giọng điệu chững chạc, điềm đạm nhưng mộc mạc của một người đã thôi tranh cãi với cuộc đời. Ở tuổi ấy, sau bao trải nghiệm, người ta đã hiểu rằng điều quan trọng không còn là thắng thua trong lý lẽ, mà là học cách sống nhẹ hơn với chính mình và với người khác.

Trong thời đại hôm nay, khi quá nhiều tiếng nói cố gắng gây chú ý bằng sự mạnh bạo, cực đoan hoặc sắc nhọn, giọng văn của Đỗ Hồng Ngọc giống như một khoảng lặng, như tiếng chuông chùa đêm khuya vắng, như câu kinh lời kệ vang ra từ một thời Công phu sớm.

Văn của anh không hề có ý thuyết phục, mà ai cũng yên lặng lắng nghe. Và có lẽ chính thái độ ấy mới thật sự gần với tinh thần của Phật giáo. Đọc sách, có những tác giả mình đọc vì tri thức, có những tác giả mình đọc vì nhân cách của họ. Với anh, vì một nhân cách Đỗ Hồng Ngọc mà tôi đã sưu tập tất cả sách của anh. Trong chiếc túi ba-lô mang theo trên xe lửa, trên máy bay không bao giờ thiếu một cuốn sách nào đó của Đỗ Hồng Ngọc, dù đã đọc nhiều lần rồi. Tôi cần có những cuốn đó trong những lúc vui, cả những lúc buồn, hay những khoảng trống không biết làm gì trong những chuyến đi.

 

Cuốn sách để đọc chậm

Con người chúng ta hiện nay đang có thói quen cái gì cũng muốn nhanh, kể cả ăn cũng nhanh, đọc sách cũng nhanh. Đọc để biết thông tin, đọc để tìm một lời giải đáp, nhưng phải nhanh – thậm chí còn nhờ máy tóm tắt lại trong vài câu. Đọc xong rồi thôi. Nhưng với cuốn Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc không phải kiểu sách đó.

Đây là cuốn sách cần được đọc chậm. Thậm chí có khi không cần đọc liên tục. Chỉ vài trang, hay chỉ vài dòng – rồi dừng lại – cũng đủ. Điều quan trọng nhất không nằm ở số lượng trang đã đọc, mà ở khoảng lặng sau mỗi đoạn văn, sau mỗi câu chữ. Nhiều lúc tôi thấy mình phải gấp sách lại chỉ để ngồi yên một chút. Có câu chữ nào đó vừa chạm vào một ký ức cũ. Có câu chữ nào đó đã mở ra một ngăn kéo khép kín của trái tim. Có ý nghĩ nào đó khiến mình nhìn lại chính mình.

Cuốn sách không thúc ép người đọc phải đạt tới “giác ngộ” nào lớn lao. Nó chỉ nhắc rằng an lạc có thể bắt đầu từ những điều rất nhỏ: một hơi thở sâu, một phút biết dừng lại. “Buông lỏng toàn thân, buông lỏng chưa?”, câu hỏi nhẹ nhàng anh nêu ra trong sách nhưng nặng ngàn cân. Có khi tác giả cũng nhắc ta nghĩ về một cái nhìn dịu hơn với người đối diện, hay đơn giản là biết rằng đời sống này mong manh quá nên hãy thương nhau hơn một chút.

Thêm một điểm đặc biệt: đây là một cuốn sách song ngữ. Việc cuốn sách được trình bày song ngữ Việt-Anh cũng là một điều đặc biệt đáng quý.

Bản dịch của Nguyên Giác Phan Tấn Hải giữ được tinh thần nhẹ nhàng và trầm tĩnh của nguyên tác. Phan Tấn Hải cũng là một nhà nghiên cứu Phật học rất sâu sắc. Dịch văn về Phật học luôn là công việc không dễ. Chỉ cần đi quá sát chữ thì câu văn dễ khô cứng, còn quá bay bổng lại dễ làm mất tinh thần nguyên bản. Ở đây, người dịch dường như hiểu khá rõ giọng điệu của tác giả nên bản tiếng Anh vẫn giữ được cảm giác mềm mại và bình an.

Một cuốn sách song ngữ như thế không chỉ giúp độc giả nước ngoài tiếp cận gần hơn với tư tưởng Phật học Việt Nam, mà còn mở ra một chiếc cầu văn hóa đẹp cho lớp trẻ Việt Nam lớn lên ở hải ngoại. Tôi tâm nguyện sẽ dịch cuốn này sang tiếng Đức, như từng làm với cuốn “Một ngày kia… đến bờ” trước đây. Nhắc lại tôi mới nhớ sự thận trọng đáng yêu của anh Đỗ Hồng Ngọc lúc ấy. Lúc tôi đã hoàn thành bản thảo bản dịch, tôi gởi cho người bạn Đức để thẩm định và hiệu đính. Khi anh Ngọc nhận được bản thảo, anh đã âm thầm chuyển cho anh Nguyễn Tường Bách. Đến khi nhận trả lời: “Bách đã đọc bài dịch của anh Tuấn và do Prof. Beuchling cùng kiểm tra. Hoàn toàn chuẩn mực. Chúc mừng Anh và công trình dịch thuật. Rất vui khi thấy tác phẩm này được chuyển thể qua Đức ngữ. Trong tương lai anh có thể tin tưởng nhóm dịch thuật này”. Do sự cẩn trọng ấy, độc giả sẽ tin tưởng rằng một bản dịch sách Đỗ Hồng Ngọc, khi được chính anh xem qua chắc chắn sẽ đạt mức chính xác và khả năng chuyển tải, truyền đạt cao.

Trong nhiều năm nay, thế giới đã biết đến Thiền và Phật giáo phương Đông qua những tên tuổi lớn như Đạt Lai Lạt Ma hay Thích Nhất Hạnh. Hai tác giả này có ưu điểm là có nhiều cộng sự người bản xứ Âu Mỹ và từng thực tập theo các lời dạy ấy nên các bản dịch khá chuẩn mực và không rời xa ý tác giả. Nhưng bên cạnh đó, thiết tưởng những tác phẩm với giọng văn nhẹ nhàng như của Đỗ Hồng Ngọc cũng rất đáng được giới thiệu rộng rãi hơn.  Nhất là trong giai đoạn nhiều biến động, con người sống vội vã như hôm nay. Bởi Đỗ Hồng Ngọc không trình bày Phật pháp như một hệ thống giáo lý hay triết học đồ sộ. Anh đưa đạo vào đời sống thường nhật, và chính điều đó lại dễ chạm đến trái tim con người hôm nay. Xin cám ơn dịch giả Phan Tấn Hải.

Tóm lại, điều tôi thích nhất ở cuốn sách này là cách tác giả kéo Phật pháp trở về với đời sống bình thường. Ta không cần phải tìm đến một thảo am trên chốn thâm sơn để tu tập. Cũng chẳng cần phải quá cố gắng để cố nói những điều gì lớn lao. Theo tác giả: An lạc đôi khi chỉ bắt đầu từ việc biết nhìn lại chính mình, bây giờ và ở đây.

Có lẽ, vì từng là bác sĩ chữa thân bệnh nên Đỗ Hồng Ngọc hiểu rất rõ thân phận con người mong manh đến mức nào. Anh hiểu những lo âu của bệnh nhân. Anh hiểu những nỗi sợ già nua, hiểu cảm giác bất lực trước bệnh tật và cái chết. Bản thân anh cũng từng là một bệnh nhân thoi thóp thập tử nhất sinh trên giường bệnh. Và cũng vì vậy mà anh không nói về hạnh phúc như một khái niệm trừu tượng. Hạnh phúc trong sách của anh là khả năng sống tỉnh thức giữa những cái bất toàn của xã hội quanh ta, giữa những ly cà phê đắng bên tô hũ tíu ở hè phố Sài Gòn, giữa những cuộc họp mặt thân hữu ở Đà Lạt, Phan Thiết, Nha Trang v.v…

Ngày còn trẻ, tôi từng nghĩ rằng, nền văn minh kỹ thuật Tây phương có thể giải quyết hầu hết vấn đề. Bây giờ sau hơn bốn mươi năm lăn lộn ở nhiều lãnh vực qua nhiều cửa ngõ tại Âu Châu và trên hai mươi năm làm việc trong bệnh viện đại học ở Đức, tôi đã học được điều ngược lại. Kỹ thuật có thể kéo dài một hơi thở, nhưng cách làm sao sống bình an trong từng hơi thở ấy lại là một câu hỏi khác. Vì thế tôi quá vui khi gặp lại những câu chữ trong tác phẩm của Đỗ Hồng Ngọc.

Khi gấp sách lại, điều còn đọng lại trong tôi là cảm giác chậm lại và dịu xuống. Tôi chỉ muốn nhắm mắt lại vài giây, thở sâu vài hơi, như thể sau bao ngày sống vội vã tôi bỗng nhớ ra rằng mình đã quên thở – hay đúng hơn, quên lắng lòng nghe hơi thở của mình.

Những câu thơ ban đầu lại trở về:

“Của mình chẳng phải của mình

Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…”

Trong suốt tác phẩm, Đỗ Hồng Ngọc không hề muốn biến người đọc thành những Phật tử thuần thành, mộ đạo. Anh chỉ giúp người đọc sống chậm lại một chút để nhìn rõ hơn đời sống của mình. Bởi suy cho cùng, giữa một thế giới đầy biến động hiện nay, nếu còn giữ được một chút an tĩnh trong tâm hồn, biết thương người, yêu thiên nhiên và biết thở thật sâu, thì đã là một hạnh phúc lớn.

Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc vì thế không chỉ là một cuốn sách để đọc. Nó là cuốn sách để ta cùng ngồi xuống. Để im lặng…

Và biết đâu, trong một lúc rất tình cờ nào đó, ta nghe được “Hơi thở của nghìn năm sau”./.

Kiel, Đức quốc. 5/2026

 

 

([1]) Sách có thể đặt mua trên Amazon. 346 trang, khổ 5.5 x 0.78 x 8.5 inches. ISBN-13: ‎ 979-8904526733

([2]) Nhan đề 16 bài viết: Đến Để Mà Thấy | Con Đường An Lạc| Sáng, Trưa, Chiều, Tối| Nương Tựa Chính Mình| Thả Lỏng Toàn Thân, Thả Lỏng Chưa? | Học Phật lõm bõm| Ở Đây Và Bây Giờ| Buông| Trả lời từ trái tim| Học Cách Phật Dạy| Thực hành 10 Hạnh Nguyện Phổ Hiền| Ăn là chuyện của tâm hồn| Con Vào Dạ, Mạ Đi Tu| Học Cách Phật Dạy Con| Giúp Cha Mẹ Vui Tuổi Già| Tuổi Già Học Phật.

………………………………………………………….

Có thể nghe và chọn giọng đọc Nam/ Nữ theo trang rongmotamhon dưới đây:

Cám ơn Nguyễn Minh Tiến.

https://rongmotamhon.net/xem-sach_hoi-tho-cua-nghin-nam_kktpplqg_show.html

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

21/06/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

Minh Trí

Trong hai ngày 11-12/06/2026, nhóm học Phật NNT (*) đã có một duyên lành được đồng hành cùng bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong chuyến về thăm thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận – quê hương thân yêu của bác. Điều đặc biệt là dù đã 87 tuổi, bác vẫn nhiệt tình đảm nhận vai trò hướng dẫn viên cho đoàn, đưa “bọn trẻ” chúng tôi đi tham quan những địa danh gắn liền với tuổi thơ và ký ức của mình. Toàn bộ lịch trình của chuyến đi cũng do chính bác sắp xếp, theo hướng tùy cơ ứng biến.

Điểm dừng chân đầu tiên trong ngày là quán cà phê Đập Đá Dựng. Quán có vị trí đẹp, hướng thẳng ra đập Đá Dựng – công trình chắn ngang sông Dinh. Không gian nơi đây được bao bọc bởi cây xanh mát rượi, tạo cảm giác gần gũi với thiên nhiên. Từ quán có thể nhìn thấy dòng nước chảy qua đập, tạo nên những âm thanh rì rào êm dịu như một khúc nhạc không lời. Bác Ngọc có nhắc đến nơi này với những ký ức tuổi thơ về những lần bơi lội, tắm truồng trên sông, lúc còn chưa xây đập.

Chặng dừng tiếp theo là chùa Quảng Đức, một trong những ngôi chùa lâu đời của thị xã Lagi. Đón tiếp đoàn là thầy Thích Đức Thành, một vị tăng trẻ đồng thời cũng là một nhà thơ. Qua lời giới thiệu của thầy, chúng tôi được biết nơi đây từng lưu dấu chân của cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền – Hội trưởng Hội Phật học Nam Việt. Tìm hiểu thêm, tôi còn biết rằng ngôi chùa này trước đây mang tên chùa Phật học Bình Tuy, có nét tương đồng về tên gọi với chùa Phật học Xá Lợi. Thầy cũng có nhắc chiếc chuông ngày xưa do Chùa Xá Lợi tặng, hiện vẫn còn đặt trên chánh điện như là một kỷ vật. Đoàn được thầy khoản đãi chuối rim, và trước khi chia tay, thầy đã thân tặng đoàn những tập thơ đầy ý nghĩa.

Buổi trưa, đoàn đến Lagi FarmStay – nơi lưu trú trong suốt hai ngày. Đây là khu nghỉ dưỡng kết hợp mô hình nông trại với không gian xanh mát, nhiều cây cối, ao cá và khung cảnh yên bình, thích hợp cho những ai muốn trải nghiệm cuộc sống thôn quê, tạm xa sự nhộn nhịp của phố thị. Tại đây, vài bạn đã có những giờ phút vui vẻ với các hoạt động như chèo thuyền và hái xoài. Các bữa ăn cũng rất hấp dẫn với nhiều món đặc sản tươi ngon của vùng biển. Chỉ tiếc là có hai thành viên trong đoàn không được thưởng thức những “đặc sản” ấy, do ăn chay trường, đành chịu vậy!

Buổi chiều, thăm Chợ cá biển Cam Bình trước rồi mới đến chùa Quảng Hạnh 2, bác Ngọc nhắc phải “thăm  dân cho biết sự tình”. Hàng dương xanh mướt chạy dọc bờ biển, tạo nên những khoảng bóng mát lý tưởng cho việc nghỉ ngơi và cắm trại. Dọc bãi biển còn có một khu chợ nhỏ bán hải sản tươi sống do ngư dân địa phương vừa đánh bắt mang vào. Một hình ảnh khá thú vị khác là những chiếc xe bò chở khách thong thả đi dọc bờ cát. Tiếng lục lạc leng keng hòa cùng tiếng sóng biển mang đến cảm giác rất bình dị. Đứng trước biển trời mênh mông, ai cũng cảm nhận rõ sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn.

Sau đó, đoàn đến thăm chùa Quảng Hạnh 2, một ngôi chùa nằm sát bãi biển. Nổi bật tại đây là tượng Quán Thế Âm Bồ Tát uy nghi hướng ra biển lớn – bác thường gọi vui là “Cô” Quán Thế Âm (Bồ Tát), có lẽ khuôn mặt tượng trông có vẻ rất trẻ trung. Nhìn tượng, tôi chợt nhớ đến danh hiệu Quan Âm Nam Hải hay Phật Bà Nam Hải vốn rất quen thuộc trong tín ngưỡng dân gian. Đón tiếp đoàn là một vị tăng trẻ, thầy Thích Minh Chánh, sư đệ của thầy Thích Đức Thành ở chùa Quảng Đức, và nơi tiếp là một khu đất có hàng dương xanh mát. Thầy tạo cho mọi người cảm giác gần gũi, chân thành và vui vẻ. Đoàn được thầy khoản đãi chè và bánh ít thơm ngon. Từ chùa nhìn ra biển thấy Hòn Bà, một thắng cảnh đặc sắc của Lagi.

Rời chùa, chúng tôi đi tham quan khu vực Nước Nhỉ. Bác Ngọc cho biết nơi này xưa có giếng Nguồn Chung, sát bãi biển, lấy nước nhỉ ra từ động cát, để khách bộ hành được uống nước ngọt, nghỉ ngơi dưới những bụi dứa um tùm, nay đã không còn dấu vết. Bãi biển vẫn giữ được nét hoang sơ với bờ cát rộng, thoai thoải và mịn màng ôm lấy làn nước trong xanh. Đoàn dự định xuống tắm biển nhưng đúng lúc ấy trời chuyển mưa nên đành gác lại.

Điểm dừng chân cuối cùng trong ngày là một quán “Bánh Căn” – xin nhấn mạnh là bánh căn chứ không phải bánh canh. Món ăn gồm những chiếc bánh nhỏ làm từ bột gạo, ăn kèm tô nước chấm có xíu mại, trứng cút lòng đào, cá kho và nhiều nguyên liệu hấp dẫn khác. Điều thú vị là dù phần lớn thành viên trong đoàn đều ở độ tuổi U70, U80 khá cao nhưng nhiều người vẫn chưa từng thưởng thức món ăn này. Ai nấy đều tấm tắc khen ngon. Bên ngoài, cơn mưa vẫn lặng lẽ rơi.

 

Sang ngày thứ hai, sau bữa ăn sáng là buổi sinh hoạt và thảo luận Phật học – chơi nhưng không quên học. Không gian thảo luận nằm cạnh hồ cá, dưới những hàng dừa, cau nghiêng bóng xuống mặt nước, tạo nên khung cảnh rất nên thơ. Bác Ngọc nêu chủ đề về thiền để mọi người cùng trao đổi. Mỗi người chia sẻ góc nhìn và trải nghiệm của mình, sau đó bác tổng kết bằng những hiểu biết và kinh nghiệm thực chứng của bản thân. Tất cả đều chăm chú lắng nghe. Buổi trao đổi tuy ngắn nhưng mang lại nhiều kiến thức và gợi mở hữu ích cho việc tu tập của mỗi người.

Kết thúc buổi thảo luận, đoàn quay lại bãi biển Đồi Dương để thực hiện kế hoạch tắm biển còn dang dở từ hôm trước. Bác Ngọc cùng các anh em nam trong đoàn hào hứng xuống biển, còn các chị em đảm nhận nhiệm vụ ở lại trên bờ trông đồ. Dưới ánh nắng gần trưa, nước biển trong xanh và ấm áp lạ thường. Những con sóng nhỏ nối nhau vỗ vào bờ cuốn bọt trắng xóa lên bãi cát. Giữa biển trời bao la, mọi người như được trở về với sự hồn nhiên của tuổi trẻ, cùng đùa vui trong làn nước. Nhìn bác Ngọc vui vẻ hòa mình cùng biển cả, thấy bác gần gũi làm sao, khó ai nghĩ rằng bác đã bước sang tuổi 87. Đó là một hình ảnh đẹp và đáng nhớ của chuyến đi Lagi lần này.

Khoảng 2 giờ chiều, đoàn lên xe trở về Sài Gòn, khép lại chuyến đi ngắn ngày nhưng đầy niềm vui, tình thân và nhiều kỷ niệm đẹp.

Hai ngày ở Lagi trôi qua thật nhanh. Chuyến đi không chỉ mang lại những phút giây thư giãn mà còn là dịp để anh em gần gũi nhau hơn, được lắng nghe những câu chuyện đời, chuyện đạo từ bác Ngọc, và thêm yêu mảnh đất quê hương bình dị đã nuôi dưỡng nên một con người đáng kính, một thiện tri thức như bác.

…………………………….

(*) Chùa Xá Lợi Tp HCM

 

Vài Cảm nhận về Chuyến đi Lagi (tháng 6. 2026)

Minh Trí (trưởng nhóm)

Hai ngày ở Lagi trôi qua thật nhanh. Điều đọng lại trong tôi không chỉ là những cảnh đẹp của biển Cam Bình, những ngôi chùa thanh tịnh hay những món ăn mang hương vị địa phương, mà còn là hình ảnh bác Đỗ Hồng Ngọc ở tuổi 87 vẫn đầy nhiệt huyết, tự tay lên kế hoạch và dẫn đoàn đi thăm từng địa danh gắn với tuổi thơ của mình. Qua những câu chuyện của bác, Lagi không còn là một địa danh trên bản đồ mà trở thành một miền ký ức sống động, chứa đựng biết bao kỷ niệm và tình cảm quê hương.

Tôi cũng nhận ra rằng giá trị của chuyến đi không nằm ở việc đi được bao nhiêu nơi hay chụp được bao nhiêu bức ảnh, mà nằm ở những khoảng thời gian được ngồi lại cùng nhau, cùng trò chuyện, cùng học hỏi và lắng nghe những chia sẻ chân thành về cuộc sống cũng như việc tu tập. Buổi trao đổi về thiền bên hồ cá yên ả có lẽ sẽ là một trong những kỷ niệm khó quên đối với nhiều thành viên trong đoàn.

Khép lại chuyến đi, mỗi người mang về cho mình một niềm vui riêng. Riêng tôi, đó là niềm biết ơn đối với những nhân duyên tốt đẹp đã đưa mọi người đến gần nhau hơn, để cùng có những ngày thư thái giữa thiên nhiên, nuôi dưỡng tình bạn đạo và tiếp thêm động lực trên con đường học Phật. Hy vọng rằng trong tương lai, nhóm sẽ còn có thêm nhiều dịp như thế để cùng nhau học hỏi, trải nghiệm và trưởng dưỡng những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Chuyến đi rồi cũng khép lại, nhưng những điều học được, những tình cảm nhận được và những hạt giống thiện lành được gieo trong hai ngày ấy vẫn còn tiếp tục theo mỗi người trên con đường phía trước. 

Cuối cùng, thay mặt nhóm học Phật NNT, chúng em xin chân thành tri ân bác Ngọc đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn chúng em tham quan thị xã Lagi – quê hương thân yêu của bác. Kính chúc bác luôn mạnh khỏe, an vui và tiếp tục là ngọn đèn soi sáng cho hàng hậu học chúng em.

SG, ngày 20/06/2026

………………………………………….

Tú Quyên (ban tổ chức)

Dự định đi Lagi từ năm ngoái đã phải hoãn lại vì lũ lụt. Cuối cùng chuyến du lịch được mong đợi từ lâu của chúng tôi cũng đã đến. Tôi thật sự bất ngờ trước tinh thần làm việc trẻ trung và sự tận tụy của Bác Ngọc. Trong suốt chuyến đi ông một mình lên kế hoạch, hướng dẫn chặt chẽ để đảm bảo cho chúng tôi có được những trải nghiệm tuyệt vời, thăm các chùa, thăm cảnh đẹp, cỏ cây hoa lá, biển xanh, gió mát, tiếng chim kêu ríu rít, sóng vỗ rì rào, nơi nghỉ dưỡng yên bình và cả những món ăn độc đáo của Lagi… Buổi học Phật cạnh hồ sen-ao cá trong một ngày nắng đẹp với Bác Ngọc và những đạo hữu quý mến là phần thưởng tuyệt vời của chúng tôi dịp này.

Với tôi, chuyến du lịch Lagi tuy ngắn ngày nhưng là một duyên lành khó quên!

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Phật học & Đời sống

Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).

09/06/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).

Ni sư Liễu Pháp, trụ trì Ni viện Viên Không ở Núi Dinh, Bà Rịa (Vũng Tàu) mời tôi ngày 5-6-2026 giúp một buổi cho Khóa hè của học sinh, lứa tuổi 10-14 , với chủ đề “Sức Khỏe tuổi Dậy Thì”. Đây không phải lần đầu tôi tham gia Khóa hè cho học sinh tại Ni viện Viên Không, nhưng với đề tài này tôi thấy cần thiết cho các em, và tôi vốn cũng đã có những tác phẩm “chuyên đề” như Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972); Tuổi Mới Lớn (1995); Bỗng nhiên mà họ lớn (1999); Bác sĩ và Những câu hỏi của Tuổi mới lớn (2012); Ăn Vóc Học Hay (2012); Khi Người Ta lớn (2018);… v.v… và cũng nhờ có hơn 10 năm giữ mục “Phòng Mạch Mực Tím” trên báo Mực Tím nên tôi không ngại, sẵn sàng chia sẻ cùng các em dù tuổi đã cao…

Với kinh nghiệm nhiều lần Trò chuyện với các em lứa tuổi này, tôi đề nghị các em thẳng thắn nêu các câu hỏi qua giấy, nặc danh, bất cứ câu hỏi gì khó hỏi nhất cũng được…

Và, đây là vài  hình ảnh buổi học gởi bạn coi vui nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Sg, 9.6.2026)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc

02/06/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc & Minh Lê NT

(Ghi chú: Là những trao đổi qua email, không phải phỏng vấn trực tiếp)

 

1 Trong cuộc đời mỗi người thường có ít nhất một lần tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?” Có bao giờ anh tự hỏi mình câu đó không?

Không, Tôi chưa bao giờ tự hỏi mình câu đó. Có lẽ tôi sống quá hồn nhiên và ngây thơ đó không? Chắc vậy. Theo tôi, người tự đặt cho mình câu hỏi đó phải là một người có một đời sống phong phú, sôi nổi và có tâm hồn của một triết gia. Nếu là một người trẻ, có thể do nếp sống gia đình, thiếu tình thương và/hoặc ngược lại quá dư thừa tình thương yêu, nên bị ngộp. Rồi ngạt. Muốn giải thoát! Và rất có thể là người sống thiếu thiên nhiên, thiếu cộng đồng. Đặc biệt có thể đó là một người luôn sống trong sự so sánh. Khi có lòng so sánh, ta luôn không hài lòng vì hơn thua, vì ngang bằng. So sánh luôn mang đến khổ đau. Tham sân si quấn quít. Liệu pháp là nên về lại với thiên nhiên, gần gũi thiên nhiên, gần gũi với cộng đồng, với “bộ lạc” của mình. Lỗi thường từ phụ huynh, nhưng cũng do tự bản thân, từ môi trường, từ di truyền (chánh báo và y báo). Khi một người tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?”, sẽ phải tiếp tục hỏi: “Tôi chết vì điều gì?”.

2 Có khi nào anh dành thời gian và tâm sức để theo đuổi một điều, rồi lúc nào đó nhận ra mình không muốn đi tiếp con đường đó nữa? 

Chưa. Có lẽ do tôi chọn nhiều “con đường” cùng lúc. Tại sao lại chỉ có một con đường kia chớ?

3 Có người trẻ thấy cuộc đời thật vô nghĩa: học để có điểm cao, đậu đại học, ra đi làm, gắng sức kiếm tiền, lập gia đình, lo cho con cái, rồi hết. Nếu có người nói với anh như vậy, anh sẽ nói gì với họ?

Lỗi ở chỗ không biết sống “ở đây và bây giờ”! Ở mỗi giai đoạn trong cuộc đời như thế đều là những niềm vui, niềm hạnh phúc, nếu biết khám phá và thưởng thức! Học cách yêu thương. Nếu hiểu biết thêm về nghiệp về duyên, sẽ an nhiên tự tại. Khi nhỏ thì muốn mau lớn, già thì muốn trẻ lại, đó là do lòng tham, lòng “muốn”.

4 Làm sao để ổn định cảm xúc, không quá buồn hay quá vui mà vẫn thấy đời đáng để sống?

Chính cái “quá” đó mới là vấn đề. Cái gì đã quá thì không tốt rồi. “Quá nhanh quá nguy hiểm” nhớ không? Kiểm soát cảm xúc là chuyện không dễ. Cần có một nền văn hóa cơ bản để thấy đủ rộng, không bị thành kiến chi phối, mới có thể kiểm soát được cảm xúc. Cảm xúc thường do “nhận thức” sai, dẫn tới cảm xúc “quá”, từ đó dẫn đến hành vi không đúng, mất kiểm soát.

5 Có nên tin vào một đấng thiêng liêng nào đó sẽ giúp ta không?

Có cái “đấng” đó không? Có râu hay không râu? “Đấng” thì chắc không có, nhưng “thiêng liêng” thì có.  Cao Huy Thuần bảo cái má lúm đồng tiền, cái răng khểnh đều “thiêng liêng”. Tôi cũng thấy vậy. Nó làm ta xao xuyến, rạo rực, và thế là nó đưa ta vào thiên đàng hay địa ngục. Dĩ nhiên, nếu có một “Đấng” cho riêng mình thì cũng tốt. Ta sẽ có chỗ để nương tựa, để nhõng nhẽo, để đổ thừa… nhẹ khỏe biết bao! Phật thì bảo hãy nương tựa chính mình, hãy tự đốt đuốc lên mà đí, hãy xây một hải đảo tự thân.

6 Có khi nào anh thấy con người hiện đại “biết nhiều nhưng sống không sâu” không?

Sống không đủ sâu là sao? Là cạn cợt?  Ai biết sâu cạn thế nào! Nhiều người chết đuối vì tưởng chỗ không sâu đó nhe.

7 Trong hành trình làm bác sĩ, khoảnh khắc nào khiến anh thay đổi cách nhìn về sự sống và cái chết rõ nhất?

Không đợi đến khi làm bác sĩ. Tôi có may mắn học Y từ những năm 60 của… thế kỷ trước ở Saigon, tại Cơ thể học viện. Ngay năm thứ I y khoa, các sinh viên chúng tôi được phát một giõ cần xé xương người để mân mê, học thuộc từng đốt, từng mối, từng mẩu, từng dây thần kinh, từ sớ thịt. Nhiều sinh viên lén ôm một cái đầu lâu xương người mang về nhà để học suốt đêm… Điều tôi cảm nhận là để tạo ra vài trăm loại xương người như thế, phải có 2 thứ tế bào xương gọi là Osteoblast (tế bào tạo xương) và Osteoclast (tế bào hủy xương) “phối hợp” nhịp nhàng với nhau mới nên hình nên dạng! Rồi sang năm thứ II, chúng tôi được mổ xác ướp, mỗi 2 sinh viên “ôm” một xác ướp, không biết của ai đã hiến tặng cho y học… Mỗi ngày mân mê hì hục, rạch rạch, xẻ xẻ cái xác ướp formol nồng nặc đó mà lòng nao nao, đầy cảm xúc về kiếp người, về “tạo” và “hủy”, và tràn dâng một niềm biết ơn…

8 Anh có nghĩ rằng nỗi đau (thể chất hoặc tinh thần) là một người thầy cần thiết không?

Đúng vậy. Nhưng để thấy biết người Thầy đó không dễ. Phải chiêm nghiệm. Phải hiểu nghiệp duyên, nhân quả.

9 Khi một người bị bệnh nặng, anh nghĩ điều họ sợ nhất là gì?

Là cái chết. Và những hệ lụy của nó. Người bệnh nặng gần gũi với cái chết nhất, nên họ sợ vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Một người có tu tập, thiền định có thể họ thấy khác. Họ quen sống trong cái chết mỗi sát na. Họ thấy sống và chết không phải là một nhưng không khác. Họ thấy “pháp”: “bất sinh bất diệt”. Họ biết “tịch diệt vi lạc”.  Ái dà, lan man chuyện đời thành chuyện đạo rồi!

10 Làm sao để phân biệt “chấp nhận” và “buông xuôi”?

“Chấp nhận” là còn tìm kiếm, tìm giải pháp để cải tiến, thay đổi. Thua keo này bày keo khác. Thất bại là mẹ thành công. Còn “buông xuôi” thường là “hết thuốc chữa”!

11 Nhiều người muốn sống chậm, nhưng áp lực cơm áo gạo tiền không cho phép. Anh nghĩ họ nên làm gì?

Thì họ cứ tiếp tục sống nhanh chớ sao! The Fast and The Furious! Có cái phim tên vậy? Vấn đề là họ có thực sự muốn “sống chậm” không?  Muốn sống chậm thì họ phải “thiểu dục, tri túc”. Nguyễn Công Trứ nói: Tri túc tiện tức, tri nhàn tiện nhàn. Nghĩa là biết đủ thì đủ, biết nhàn thì nhàn. Đợi đủ biết bao giờ cho đủ.  Lòng tham không đáy mà! Đợi nhàn biết bao giờ cho nhàn?

12 Theo anh, sự cô đơn của người trẻ hôm nay khác ra sao so với thế hệ trước?

Khác xa chứ! Người xưa, vài thế hệ trước đây thôi, cô đơn là vì thiếu bạn, mất bạn. “Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua” (Nguyễn Khuyến). Còn người trẻ hôm nay cô đơn vì có quá nhiều bạn! Các mạng xã hội giăng đầy. Cả thế giới nằm gọn trong lòng bàn tay. List bạn bè dày đặc, hết chỗ chứa! Vậy sao cô đơn? Vì ta thiếu những bạn bè biết “nhìn nhau không nói”. Bây giờ ồn ào quá, cá mè quá, tràn ngập quá. Nên người trẻ cô đơn là phải rồi.

13 Khi còn trẻ, anh có khi nào “nghĩ nhiều” (overthinking) không? 

Nghĩ nhiều là sao? Là nghĩ đi nghĩ lại nghĩ tới nghĩ lui? Có chớ sao không. Khi ta chưa có “đầy đủ thông tin” để đi đến một quyết định nào đó (mà ta cho là tốt nhất), thì ta phải nghĩ tớii nghĩ lui đó thôi. Có khi phải xin ý kiến người có kinh nghiệm mà ta tin cậy. Khi tôi thi đậu tú tài II xong thì băn khoăn trước ngã ba đường: Học y khoa theo ý muốn của gia đình, học văn khoa theo sở thích mình, hay học sư phạm? Tôi đến hỏi ông Nguyễn Hiến Lê, ông suy nghĩ một chút rồi khuyên tôi nên học y khoa để có thể giúp ích cụ thể cho gia đình, cho bà con lối xóm; nếu học giỏi, có thể dạy học và nếu có năng khiếu văn chương, thì sau mươi năm hành nghề, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều con người có thể viết lách được. Anton Chekhov, Summerset Maugham, A.J Cronin… Lỗ Tấn cũng là những nhà y học.

14 Anh có nghĩ rằng nhiều khi cơ thể con người biết nhiều hơn tâm trí không?

Thân và tâm không tách rời nhau. Thân tâm nhất như. Cho nên nó… liên hệ với nhau chặt chẽ, nó hiểu nhau rất tốt. Tâm mà an thì thân mới lạc. Thân mà an thì tâm mới lạc. Đừng dại mà tách rời ra. Bộ não chỉ chiếm 2% thể trọng nhưng sử dụng đến 25-30% năng lượng, là vì dùng để gây gỗ, oán thù, hờn giận, đấu đá, tranh giành… Cơ thể dùng 40% năng lượng để căng cơ, co cơ, sẵn sàng chiến đấu hay… bỏ chạy. Một người biết giãn cơ, thả lỏng cơ, một người biết buông bỏ tâm tham, tâm sân thì cơ thể dư năng lượng, tích lũy, để dành chữa lành tất cả các thứ bệnh thân-tâm. Vì thế ta thấy cơ thể tự nó có khả năng tự điều chỉnh.  Lỗi tại ta xài phí năng lượng một cách vô ích. Hãy quay về nương tựa chính mình là vậy. Thầy thuốc không “chữa lành” cho ta nổi đâu!

15 Có khi nào việc cố gắng hiểu mình lại trở thành một áp lực mới không?

Cố gắng hiểu mình, để tự thay đổi mình ư? Còn lâu! Sự cố gắng như vậy rõ ràng là một áp lực. Dĩ nhiên mình sẽ “giác ngộ” dần theo thởi gian. Đó là sự thích nghi, điều chỉnh chớ không phải cưỡng bức mình, ép mình, đè nén mình.

16 Một người trẻ nên chuẩn bị gì cho tuổi già từ bây giờ, ngoài tài chính? 

Nhiều thứ chớ. Cách sống mới quyết định. Tài chánh là một phần quan trọng thôi. Tuổi già cần thích nghi và chấp nhận những thay đổi về thể chất, tâm lý và cả về mặt xã hôi, ương tác trong gia đình, bè bạn…  Thích nghi với những mất mát, thiếu hụt cả về tình cảm, thích nghi với những stress trong đời sống, các bệnh lý như bênh về chuyển hóa (ba cao một thấp), môi trường, viêm nhiễm (do đề kháng yếu kém), tai nạn té ngã, các hoạt động của não bộ, hormones… Tế bào não tuy già cỗi nhưng vẫn duy trì sự nhu nhuyến, có khả năng sản sinh những nối kết mới. Người già cần giúp não bộ hoat động liên tục như học thêm ngoại ngữ, mỹ thuật, thể thao phù hợp, và quan trọng, duy trì một “cộng đồng” sinh hoạt thường xuyên với nhau.

17 Có người đi chữa lành, đến khi chữa lành xong thì không muốn làm gì nữa. Anh nghĩ thế nào về trường hợp này?

Ý nói là tại vì “bệnh” nên mới ham lam ham làm quá đó chớ gì! Phải đó. Ham, muốn, mong, cầu, tiếc nuối… nói chung là mọi thứ “dục” nó hành ta, nó làm ta khổ triền miên, đáng đời ta!  “Lòng muốn còn nhiều… Đập gương xưa tìm bóng!” (Đoàn Chuẩn). Khi nhận ra “Nhưng… thôi tiếc mà chi/ Chim rồi bay…” là hết chuyện!

“Chữa lành” xong thì lòng “dục” đã cạn, lòng tham đã vơi. Nhưng coi chừng, bệnh chỉ dứt tạm rồi biến chứng tùm lum, khó chữa hơn. Thiền là một phương pháp tốt có thể giúp chữa lành. Thiền luôn bắt đầu từ “ly dục”, “ly bất thiện pháp” và thực hành chánh niệm. Các phương pháp MBSR (Mindfulness Based Stress Redaction) và MBCT (Mindfulness Based Cognitive Therapy) thường được dùng giúp “chữa lành” các bệnh S.A.D (Stress/ Anxiety/ Depression) đó.

18 Có nhiều người nhìn bên ngoài rất thành công, nhưng bên trong họ cứ thấy có gì đó “sai sai”. Theo anh, họ cần làm gì với cảm giác “sai sai” đó?

Họ sẽ phải tự vấn. Phải thức tỉnh. Nếu vẫn còn mù mờ thì tìm đến một người “khai vấn” (coach), một người tham vấn (counseller) tốt. Nhưng nếu không may dễ gặp trường hợp làm rối bời thêm, rồi đi vào mê tín, dị đoan nguy hiểm hơn.

19 Có điều gì trong cuộc sống mà con người chỉ có thể hiểu khi đã qua một độ tuổi nhất định?

Người ta không thể không trải nghiệm, thể nghiệm, mà có kinh nghiệm sống được. Nói thất bại là mẹ thành công là vậy. Nhưng coi chừng thất bại có khi lại dẫn tới… đại bại. Nên phải tỉnh thức…

20 Khi mất một người thân, điều gì giúp con người đi qua mất mát một cách an yên nhất?

Khó mà an yên. Có thể nguôi ngoai do thời gian cuốn đi. Nhưng khó mà dứt bỏ, buông bỏ, xả bỏ dễ dàng được.  Người có tu tập, thấy biết sanh trụ dị diệt của Pháp (dharma), biết “bất sinh bất diệt” thì có thể vượt qua chăng?…

21 Anh có tin rằng một người có thể chữa lành hoàn toàn những tổn thương sâu trong quá khứ không?

Có những trường hợp người ta còn nuôi dưỡng các “tổn thương” sâu đó nữa! “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thú độc” (Xuân Diệu). Cái “thú độc” đó, “thú đau thương” đó nó… lạ lắm. Phải hỏi các thi sĩ mới biết!

22 Nhiều người biết một điều gì đó nhưng không thực hành được, ví dụ biết về “tham sân si” nhưng hết lần này đến lần khác bị chúng dẫn dắt. Anh nghĩ sao về chuyện này? 

Biết là một chuyện. Thực hành là một chuyện khác. Thực hành đâu có dễ. Biết sai thực hành sẽ sai. Tham sân si là gì? Ai làm ra mấy thứ “quỉ quái” đó? Si là “Vô minh”, là không biết hoặc biết không đúng, nhưng Tâm Kinh viết: “Vô vô mình diệc vô vô minh tận” nghĩa là không có vô minh, cũng không dứt được vô minh. Vô minh còn dài dài đó thôi. Cũng như “tham” vậy. Từ con kiến, con chuột, con sư tử, con người…  đều tham ăn, giành ăn, nhưng con người còn hơn vậy: Tham danh, tham tiền, tam sắc, tham ăn, tham ngủ, nói chung là “ngũ dục”, cho nên con người mới khổ đau hơn đó chăng?

23 Một người nên dựa vào điều gì để đưa ra những quyết định quan trọng trong đời: lý trí, cảm xúc, hay một dạng trực giác nào đó?

Người ta thường bảo phải dựa vào lý trí, khi có đủ thông tin để có quyết định sáng suốt. Tôi thì không. Tôi thấy mình nặng về cảm xúc và trực giác hơn. Có những người mới gặp đã thấy như quen từ… muôn kiếp trước!

24 Nếu phải chọn một điều đơn giản nhất nhưng quan trọng nhất để giữ gìn sức khỏe tinh thần, anh sẽ chọn điều gì?

Đó là phải giữ sức khỏe thể chất (physical well being) trước hết.  Cái “tứ niệm xứ” (satipathana) “thân thọ tâm pháp” Phật nói đó, có người phát triển cái thọ, lấy “thọ” làm gốc, có người giữ lấy cái tâm, lấy tâm làm gốc, có người giữ cái pháp, lấy pháp làm gốc. Tôi người thầy thuốc, nghĩ phải lấy cái thân làm gốc mới là cốt lõi. Vì có thân thì mới có thọ. Có thọ mới có tâm. Có tâm mới sinh… các pháp. Tâm Kinh nói “Vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý” đã xác nhận “Sắc” phải có trước rồi mới nói gì thì nói! Cho nên “Thân hành niệm” với Chánh niệm hơi thở (Anapanasati) là phương pháp khoa học và hiệu quả trong Thiền định.

25 Trong những điều anh từng chắc chắn là đúng về cách sống, có điều gì theo thời gian trở nên không còn tuyệt đối đúng nữa?

Không có điều gì là tuyệt đối đúng cả! Bám vào ý niệm tuyệt đối đúng chắc chắn sẽ “tuyệt đối” sai. Từ nhỏ đã được học “Chân lý ở bên này dãy núi Pyrénées là sự sai lầm ở phía bên kia” (Vérité en-deçà des Pyrénées, erreur au-delà) nhớ không?  Cách sống giản đơn, thiểu dục tri túc, gần gũi thiên nhiên theo tôi là tốt nhất.

26.Có điều gì anh chưa từng nói ra trong các bài viết hay cuộc trò chuyện trước đây, nhưng nếu có cơ hội nói một lần, anh nghĩ mình nên nói?

Tôi nay gần 90 rồi. Tôi nghĩ phải có niềm tin nào đó thiện lành để có hạnh phúc bây giờ và mai sau. Tôi nghĩ chắc chắn phải có kiếp trước kiếp sau, nối tiếp nhau mới công bằng trong pháp giới.

27.Có điều gì anh từng cố giữ, nhưng cuối cùng phải buông? Việc buông đó dạy anh điều gì?

Nhiều lắm. Dạy mình đừng có tham để rồi sân si. “Ly dục”, “ly bất thiện pháp” là bước đầu vào thiền. Tôi nhờ hành thiền 30 năm nay nên thấy có ít nhiều “hiệu quả”, giúp mình buông xả, giúp thân tâm có phần an lạc.

28.Trong những lựa chọn lớn của đời mình, có lựa chọn nào anh vẫn còn lưỡng lự khi nhìn lại, không hẳn hối tiếc, nhưng cũng không hoàn toàn hài lòng?

Tôi tin có nghiệp, có duyên. Có cái gì đó dẫn dắt, đưa đẩy, nối kết. Tuy nhà bác học Stephen Hawking nói “Có một thiết kế vĩ đại nhưng không có nhà thiết kế”. Tôi ngờ ông chưa thấy biết hết.

29.Anh đã học được điều gì về việc tha thứ, không phải tha thứ cho người khác, mà tha thứ cho chính mình?

Tha thứ cho chính mình mới khó. Phải tập chấp nhận. Nếu được, học và hành hạnh thứ 3 trong 10 hạnh nguyện Phổ Hiền: “sám hối nghiệp chướng”.

30. Có sự thật nào về cuộc sống mà anh hiểu khá muộn, và nếu hiểu sớm hơn, có lẽ anh đã sống khác đi?

Không. Tôi thấy mình vẫn là mình. Nó vậy là nó vậy. Hình như không có cách nào khác.

31. Khi một người già đi, điều gì thay đổi nhiều nhất: cách họ nhìn thế giới, hay cách họ nhìn chính mình?

Cách họ nhìn chính mình. Họ sẽ thở ra, nhẹ nhõm. Ủa, vậy đó hả?

32 Anh có nghĩ rằng con người cuối cùng sẽ trở về với một vài điều rất đơn giản không? Nếu có, đó là những điều gì? 

Thiểu dục, tri túc. Thấy biết Như Lai. Sống với Như Lai. Cười với Như Lai.

33. Nếu cần nhắc lại một nguyên tắc sống duy nhất, một điều anh đã tự kiểm chứng, anh sẽ chọn điều gì?

Từ bi với mình để từ bi với người.

 

Đỗ Hồng Ngọc-Minh Lê NT

(Saigon, 18.5.2026)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”

31/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

VÀI CẢM TƯỞNG VỀ QUYỂN SÁCH SONG NGỮ VIỆT- ANH:

“CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”

CỦA BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC & DỊCH GIẢ NGUYÊN GIÁC- PHAN TẤN HẢI

 

 

Thưa bạn,

Ngày 06 tháng 5 năm 2026, tác phẩm song ngữ Việt-Anh: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc” của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và dịch giả Nguyên Giác – Phan Tấn Hải do nhà xuất bản Triết Văn (California) xuất bản và phát hành trên Amazon.

Thưa bạn,

Về phần nội dung, các chương Việt ngữ của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc gồm 166 trang (từ trang 1 đến trang 166) và phần Anh ngữ của dịch giả Nguyên Giác- Phan Tấn Hải gồm 210 trang (từ trang 167 đến trang 377).

Để bạn hình dung được nội dung cuốn sách này, tôi xin ghi lại phần Mục Lục Việt ngữ của tác giả, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc:

  • Sơ lược về Tác Giả ( trang 6)
  • Sơ lược về Dịch Giả ( trang 7)
  • Lời Cảm Ơn ( trang 8)
  • Lời Ngỏ ( trang 11)
  • Phương Nào Cõi Tịnh * Tuệ Sỹ ( trang 15)
  • Đến Để Mà Thấy ( trang 25)
  • Con Đường An Lạc ( trang 51)
  • Sáng. Trưa. Chiều. Tối ( trang 61)
  • Nương Tựa Chính Mình ( trang 69)
  • Thà Lỏng Toàn Thân. Thả Lỏng Chưa? ( trang 73)
  • Học Phật Lõm Bõm ( trang 83)
  • Ở Đây và Bây Giờ ( trang 89)
  • Buông ( trang 95)
  • Trả Lời Từ Trái Tim ( trang 101)
  • Học Cách Phật Dạy ( trang 115)
  • Thực Hành 10 Hạnh Nguyện Phổ Hiền ( trang 123)
  • Ăn Là Chuyện Của Tâm Hồn (trang 133)
  • Con Vào Dạ, Mạ Đi Tu ( trang 139)
  • Học Cách Phật Dạy Con ( trang 145)
  • Giúp Cha Mẹ Vui Tuổi Già ( trang 149)
  • Tuổi Già Học Phật ( trang 155)
  • Lời Bạt * Nguyên Giác( trang 161)

 

Về việc góp công hoàn thành tác phẩm song ngữ Việt-Anh này phải công nhận là cả một ban biên soạn rất công phu và uy tín như ở trang đầu sách có giới thiệu:

CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC

Sách song ngữ Việt –Anh.

Tác giả bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Dịch giả Nguyên Giác-Phan Tấn Hải

Đọc bản thảo:

  • Trần Thị Nguyệt Mai
  • Nguyễn Thị Khánh Minh
  • Nguyễn Thị Thanh Lương

Tranh bìa: Đinh Trường Chinh

Lập Bìa và Dàn Trang: Lê Giang Trần

Nhà xuất bản Triết Văn

Ấn Hành tại California, lần thứ nhất 2026.

Copyright @ by Dr. Đỗ Hồng Ngọc.

ISBN # 979-8-90452-673-3.

 

Thưa bạn, 

Với một ban đọc bản thảo gồm ba nữ sĩ uy tín chuyên về văn chương Việt và Anh gồm:

  • Trần Thị Nguyệt Mai
  • Nguyễn Thị Khánh Minh
  • Nguyễn Thị Thanh Lương

thì khỏi phải nói, chắc bạn cũng đoán được cuốn sách này rất đáng tin cậy!

Về nội dung các chương sách phần Việt ngữ của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, trước đây thỉnh thoảng tôi có đọc qua rồi; nhân dịp này tôi có dịp đọc lại kỹ hơn và hiểu khá chắc chắn hơn vì tác giả viết về Kinh Sách nhưng qua thực nghiệm chính đời sống của ông nên những lời thuyết giảng trong các trang sách ấy nó rất gần gũi, thân thiết.

Thật tình ra, từ trước tới nay, tôi có cái dở là ít khi đọc sách dịch ngoại trừ sách dịch của thầy Nguyễn Hiến Lê vì tôi thích cách dịch sách của Thầy hơn các dịch giả khác vì đọc sách dịch của thấy mình không thấy chữ nghĩa và không khí sách dịch mà ở đó nó toát lên cái hồn của tác giả và tác phẩm qua văn dịch của thầy. Khi có được sách do Amazon gởi về sau hai ngày đặt mua sách, tôi mới lần mở từng chương từng chương và đối chiếu từng trang từng trang, tôi mới thấy tác phẩm song ngữ này rất quý và đáng đọc, nhứt là cho các bạn Việt Nam thế hệ trẻ sanh ra và lớn lên ở các nước trên toàn cầu không riêng gì ở Mỹ.

Dịch sách đã khó, mà dịch sách viết về đạo Phật tôi nghĩ càng khó vô cùng. Nhưng khi đọc được đoạn dịch này của dịch giả Nguyên Giác-Phan Tấn Hải trên Amazon, và khi có sách, tôi bắt đầu tò mò đọc tiếp và đối chiếu các chương phần Anh ngữ của ông kỹ hơn, và tôi thấy cách dịch của dịch giả vừa đơn giản vừa trong sáng. Chẳng hạn như đoạn bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tâm tình trong Lời Ngỏ: 

“Tôi không phải là thi sĩ, không phải là tu sĩ, tôi chỉ là một bác sĩ, một người thầy thuốc, nên khi phải hành nghề, phải giúp đỡ bạn bè, hàng xóm, kẻ nhức đầu, người đau lưng… và trước hết là phải chữa bệnh cho chính mình. Có những lúc thuốc men chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa, tầng tầng, lớp lớp bên trong. Tôi đành chia sẻ những điều tôi nghĩ, tôi cảm, tôi nghe. Có thể đúng. Có thể sai. Có thể không đúng không sai. Có khi hiệu quả, có khi không. Có người hợp mà không có dị ứng. Vậy nên nếu tình cờ mà đọc được những dòng này thì xin hiểu cho mà đừng trách. Nếu muốn, có thể tủm tỉm cười một mình. Cũng chẳng khoái ru!” (Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc, trang  12, 13).

(Trích Lời Ngỏ của cuốn Nghĩ Từ Trái Tim, ĐHN, ấn hành 2003)

 

Nguyên Giác-Phan Tấn Hải dịch: 

“I am not a poet or a monk; I am simply a doctor and a healer. My duty is to practice medicine, to assist friends, neighbors, and those suffering from headaches or back pain. Above all, I must first heal myself. There are times when medicine can alleviate pain but not eliminate suffering, or it can address external symptoms but fail to reach the deep-rooted issues buried beneath many layers of the mind. I need to express my thoughts, feelings, and perceptions. They may be correct, incorrect, or perhaps neither. At times, my insights resonate; at other times, they do not. Some individuals share my perspective and are not averse to it. Therefore, if you happen to read these words, please try to understand and refrain from judging me. If you wish, you may smile to yourself. Isn’t that delightful?—[Preface to the book Thinking from the Heart, ĐHN, published in 2003]”

 

Thưa bạn,

Qua vài hàng cảm tưởng mộc mạc mà một người đọc nhà quê già như tôi có một thời rất mê đọc sách và thích ghi chép cảm tưởng mỗi khi đọc xong một tác phẩm với cái cảm tưởng riêng của mình nhưng nay thì tuổi đời của tôi cũng ở hàng ngoài tám chục rồi nên đầu óc có lúc quên, có lúc nhớ nên vài cảm tưởng ghi nhanh vừa rồi có khi không trúng.

Kính mong các bạn và tác giả Đỗ Hồng Ngọc, dịch giả Nguyên Giác- Phan Tấn Hải vui lòng lượng thứ cho.

Trân trọng cảm ơn.

Hai Trầu Lương Thư Trung

(Người đọc nhà quê già miệt ruộng Lấp Vò)

Houston (Lấp Vò) ngày 30 tháng 5 năm 2026.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định

Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né

31/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

Tháng 3 về Mũi Né

Bạn thân mến,

Viết “Tháng Năm về Lagi Phan Thiết” mà không nhắc đến Tháng Ba về Mũi Né là… không ổn rồi!

Một người bạn “tung” cái hình mình ngồi “cô đơn” dưới gốc dừa ở Mũi Né và hỏi thêm đôi điều.

Bèn gởi vài tấm hình coi vui thôi nha.

Đỗ Hồng Ngọc.

(Sg 31.5.2026)

 

Bạn thấy đó. Đúng là mình tới lúc “đi chỗ khác chơi” rồi phải không. Nhưng không hẳn vậy. Dịp khóa Thiền thực hành dành cho Doanh nhân Saigon tại Mũi Né (25-29/3/2026), mình được bạn Lê Bá Thông – người bạn trẻ – BTC mời đi dự “cho vui”. LBT nói “Anh không phải thiền sinh, không phải doanh nhân, đi chơi thôi cho thanh thản, nhẹ nhàng, anh ăn mặc thế nào tùy ý, hoàn toàn tự tại, muốn tham gia chỗ nào phú hợp thì tùy nghi…”. Đây không phải lần đầu, vì mình đã dự vài khóa trước ở Mũi Né, ở Cam Ranh với LBT. Chỉ tham gia mục nào mình thích, còn chuyện đi thiền hành, thiền tọa, thiền buông thư. lửa trại… gì đó và rất nhiều hoạt động khác trong khóa thực hành thiền Làng Mai thì mình chỉ đi lang thang, dựa gốc dừa…  Vậy thôi.

 

Chủ đề của khóa thiền này là “Còn biết ơn là còn hạnh phúc” nên khi BTC mời, mình đã  có buổi trình bày chủ đề: BIẾT ƠN MÌNH. Vì thực tế thấy ai cũng biết ơn nhiều người, nhiều thứ lắm, mà thường hay “ghét mình”, nào già, nào xấu, nào bệnh, nào nghèo, nào khổ… Sáng hôm sau, các bạn trẻ, cả các Thầy cô cũng chia sẻ.

Trong buổi trò chuyện này, mình cho chiếu bài hát Bông Hồng Cho Mẹ và Mũi Né qua giọng ca Thu Vàng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Buổi sáng, ngày chia tay khóa Thiền, mình đọc một bài thơ nhỏ  tặng mọi người. Không ngờ một bạn trẻ đã kịp chép lại rất đẹp…

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Thiền và Sức khỏe, Uncategorized

Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

23/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Gởi vài hình ảnh coi vui thôi nhe.

 

 

Ocean Dune Phan Thiết với một trái dừa tươi ba nhát và gió biển mát rượi….

 

Thanh Minh Tự

 

“Những gốc me già xưa nhớ quá/ Những con đường nhỏ rất quen thân” (Trên sông khói sóng ĐHN)

 

 

 

 

Đập Đá Dựng (Caphe Phố Đá). Đập Đá Dựng được xây khoảng 1958. Xưa có một ngôi thủy tạ một cột giữa dòng nước. Hồi trẻ, lũ chúng tôi thường tắm nơi này…

Hình ảnh Thủy tạ một cột giữa dòng nước Đập Đá Dựng xưa ở Lagi (Nguồn: Bình Tuy-Hàm Tân-La Gi Ngày đó và Bây giờ).. Tôi rời Lagi từ năm 1960. Lúc trẻ đã không ít lần cùng bạn bè tắm ở đây, xin xác nhận lúc đó, không hề có chiếc cầu nào nối từ bờ ra thủy tạ, đúng như Trần Hữu Ngư đã nói. (Sau này có thể làm thêm thì không biết?). Trần Hữu Ngư là nhà văn, nhà báo, quê gốc La Gi, sinh năm 1942, ít hơn tôi vài tuổi, theo tôi, anh là người biết rõ Bình Tuy- Hàm  Tân-Lagi ngày tháng cũ, cùng với nhà báo Phan Chính, các bạn có thể tham khảo thêm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Caphe Mộc Yên nhìn Núi Đất như một chiếc nón lá xanh. Cạnh đó là Hồ Núi Đất mênh mông tích chứa nước ngọt cho Lagi.. Hỏi cô chủ quán Mộc Yên là gì? Cô trả lời: Mộc Mạc thì Yên Vui..

 

 

 

Về tới nhà, con Út hỏi: Ủa, Ba Má kỷ niệm 58 năm Ngày Cưới đó hả? Vậy chớ sao!

 

Nơi này, ngày xưa, có tên là Nước Nhỉ, trước năm 1945, Hướng đạo sinh thời đó đã xây một cái giếng gạch đặt tên là Giếng Nguồn Chung, dưới rặng dứa um tùm lấy nước ngọt từ động cát nhỉ ra cho bà con đi dọc biển có nước uống. Thời đó, đi lại chủ yếu bằng đường biển, từ Tam Tân (nay là Tân Hải) đến Lagi 15km.

 

 

Thân mến,

Đỗ Hồng  Ngọc.

(11.5.2026)

………………………………………………………………………

Viết thêm về Giếng Nguồn Chung ở Lagi  (1944)

Theo yêu cầu của một số bạn trẻ muốn biết thêm về Giếng Nguồn Chung, tôi cung cấp thêm một vài tư liệu để tham khảo:

…”QÊ HƯƠNG”… Tập A, của Nguiễn- Ngu- Í, Ngê -Bá- Lí, Tân- Fong- Hiệb, do NÚI CÚ- HÒN BÀ xuất bản, 1969.

Tập này do Nguyễn Hiến Lê viết Lời Giới Thiệu, ông đã gọi là một “kỳ thư”. Nguiễn-Ngu-Í, Ngê- Bá- Lí và Tân-Fong-Hiệb thật ra chỉ là… một người là ông Nguyễn Hữu Ngư  (1921-1979), quê Tam Tân (nay là Tân Hải), một nhà thơ, nhà báo nổi tiếng, bút danh Nguiễn Ngu Í, chuyên phỏng vấn giới văn nghệ sĩ trên báo Bách Khoa Saigon, những năm 60s của thế kỷ trước. Ông còn “nổi tiếng” vì bệnh tâm thần, đã từng nhiều lần nằm Dưỡng trí viện Biên Hòa, và đã thực hiện một Tập thơ tựa là “Thơ Điên Thứ Thiệt” với sự góp mặt của Bùi Giáng cùng các bạn nằm bệnh viện lúc đó (Thời giám đốc là Bs Tô Dương Hiệp, con nhà văn Bình Nguyên Lộc). Và đặc biệt ông còn nổi tiếng vì có cách viết “không giống ai” (nhưng có cái lý riêng của ông). Ông có nhiều bút hiệu trong đó, NGÊ BÁ Lí (mẹ ông họ Nghê), và bút hiệu Tân-Fong-Hiệb, do quê làng là Tam Tân- Phong Điền- Hiệp Nghĩa.

Tôi sở dĩ biết rõ, vì ông là cậu họ tôi, rất gần gũi. Mẹ tôi là Nghê Thị Như, gọi mẹ ông, bà Nghê Thị Mỹ là cô ruột. Chính tôi viết bài dẫn cho cuốn QÊ HƯƠNG của ông, ký tên Giang Hồng Vân.

Ông học Petrus Ký cùng khóa với Trần Văn Khê,  Lưu Hữu Phước… Ông ở trong đoàn Hướng Đạo Lagi thời đó và đã có sáng kiến cùng bạn bè xây cái giếng lấy tên Giếng Nguồn Chung ở Nước Nhỉ, trên đường Tam Tân – Lagi để bà con đi dọc biển có chỗ nghỉ chân và uống mấy ngụm nước ngọt dưới bóng râm mát mẻ của các bụi dứa um tùm.

Năm 1960, cậu mợ Ngư về xây mộ Cha mẹ là Ông bà Giáo ở Tam Tân, tôi có cùng đi từ Lagi, đến Giếng Nguồn Chung xưa, ông thấy chỉ  còn gạch đá tan tành nên cảm xúc làm bài thơ tại chỗ:

Trang 22, “…QÊ HƯƠNG”… Nguiễn Ngu Í, Núi Cú-Hòn Bà xuất bản, 1969.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(7-6-2026)

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

SÁCH SONG NGỮ: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace & Joy”

17/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Giới thiệu sách song ngữ

“Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc

|| The Path Leading to Peace & Joy”

 

Song ngữ Việt-Anh
CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC
THE PATH LEADING TO PEACE & JOY

Tác giả: ĐỖ HỒNG NGỌC
Dịch giả: Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Nhà xuất bản Triết Văn 2026

“Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” là một tuyển tập song ngữ, phần tiếng Việt in nơi nửa đầu sách, và tiếng Anh in ở phần sau, sẽ thích hợp cho tất cả các gia đình gồm 15 bài viết về Phật học của Đỗ Hồng Ngọc, tất cả đều rất cụ thể, giải thích về thực hành cụ thể. Trong khi đó phần tiếng Anh của sách sẽ thích hợp cho thế hệ trẻ ở hải ngoại không đọc được tiếng Việt.

Sách được lưu hành ở mạng Amazon,
xin bấm vào link sau đây để mua: https://www.amazon com/

 

(Nguồn: tranthinguyetmai.wordpress)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay

Bv Đại học Y Dược Tp HCM: Bs Đỗ Hồng Ngọc – Thiền và Sức Khỏe.

16/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thiền và Sức Khỏe

Góc nhìn khoa  học

Bv Đại học Y Dược Tp HCM

(10.4.2026)

 

Bs Đỗ Hồng Ngọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vui lòng bấm “Watch on Youtube” (góc phải) để xem va gởi bình luận.

Trân trọng.

Đỗ Hồng Ngọc.

(16.5.2026)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

15/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

Tâm Nhiên

(Đà Nẵng)

 

Đỗ Nghê là bút hiệu của Đỗ Hồng Ngọc. Anh sinh năm 1940 tại Phan Thiết, Bình Thuận. Tốt nghiệp Tiến sỹ Y khoa Quốc gia, Sài Gòn (1969) là bác sỹ chuyên khoa Nhi.

Ngoài việc làm giảng viên thỉnh giảng tại Đại học Y Dược, Trưởng Bộ môn KHHV tại Đại học Y khoa Phạm  Ngọc Thạch Tp HCM,  anh còn là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng.

Viết nhiều thể loại đa dạng, đặc biệt gần đây, anh viết chuyên sâu về Phật học, Thiền học với các tác phẩm giá trị, được rất nhiều độc giả mến mộ, ưa thích.

Bình đạm mà thiết tha với thi ca, Đỗ Nghê đã xuất bản 6 thi phẩm, tập mới nhất gần đây là Thơ ngắn Đỗ Nghê, do Văn Hoá – Văn Nghệ xuất bản năm 2017.

Mở đầu tập thơ là bài Trái đất:

“Giữa đêm
Thức giấc
Giữa ngày…”

Bài thơ được viết tại Boston, Hoa Kỳ (1993) Giữa đêm bên Mỹ là đúng giữa ngày ở Việt Nam. Một cái nhìn toàn diện trái đất đang xoay quanh mặt trời. Chỗ này tối thì chỗ kia sáng, tùy theo thời tiết, nhân duyên, địa phương mỗi nơi mà thấy mỗi khác đó thôi. Thấy được như vậy là hiểu lý Bất nhị, dung thông Sóng là nước:

“Sóng
Quằn quại
Thét gào

Không nhớ
Mình
Là nước”

Nước tức là sóng, sóng tức là nước, thanh âm Tâm kinh đồng vọng đâu đây: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng, hành, thức diệc phục như thị…”

Khi hiểu như thế rồi thì không ai phải mất công đi hỏi nước từ đâu đến hay nước trôi về nơi đâu nữa:

“Nước vẫn muôn đời
Không đi chẳng đến
Ai người nỡ hỏi
Nước đến từ đâu?
Ai người nỡ hỏi
Nước trôi về đâu?”

Thi nhân bỗng nhiên thấy ra ngay cả thân xác tứ đại giả hợp của mình cũng chính là Đất:

“Đất động ta cũng động
Sóng thần ta cũng sóng
Giật mình chợt nhớ ra
Vốn xưa ta là đất”

Đó là cái thấy bằng con mắt Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi: “Tất cả là một, một là tất cả.”

Hoà trong vô thủy vô chung, vô cùng vô tận giữa thiên hà, vũ trụ càn khôn, con người là một sinh thể nhỏ bé thì bận tâm chi chuyện Có hay không:

“Chắt ra cho hết
Giọt hơi cuối cùng
Thả mình như lá
Rơi vào hư không

Tràn vào khắp ngả
Đất trời mênh mông
Nhẹ như không có
Có mà như không…”

***
Suốt mấy nghìn năm qua, vô số các triết gia, đạo sỹ khắp Đông Tây kim cổ đều luận thuyết, triết lý om sòm về có không, sống chết, đến đi, được mất, chân vọng, thật giả, hơn thua, đúng sai, phải trái, tốt xấu, trí ngu, phàm thánh, tỉnh điên, thiện ác, mê ngộ…mà chẳng ai chấp nhận ai, chẳng đưa đến một kết luận nào cả.

Kể từ khi cư sỹ Duy Ma Cật tuyên bố lý Bất nhị thì thiên hạ “Ồ lên một tiếng” bàng hoàng.

Họ bừng sáng ra, bước đi trên con đường Trung đạo, vào ra giữa có và không một cách tự do tự tại, thong dong.

Không và có…tuy hai mà một, cùng viên dung vô ngại trong lý sự huyền đồng Chân Không Diệu Hữu. Diêu hữu là thấy ngay trong bất cứ sự vật gì cũng đều vi diệu, như thấy hơi Thở:

“Lắng nghe hơi thở của mình
Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…”

Phải chăng, đó là hơi thở sát na thường trụ vĩnh hằng của một con người hoát nhiên chứng Ngộ:

“Tham chẳng còn
Sân cũng hết
Si đã tuyệt

Niết bàn
Tịch diệt
Để mà chi?”

Một câu hỏi nêu ra quá bất ngờ, bức bách. Trả lời đi, trả lời đi…Vô ngôn là hồi đáp tối thượng nhất. Phủi tay, cất bước rỗng rang Thiền:

Thực chẳng dễ dàng
Sống trong cái chết
Và chết trong cái sống…”

Chết trong cái sống là chết đi hết những danh từ, khái niệm mà mình thường vướng mắc, kẹt dính, chết đi cái chấp ngã thâm căn cố đế, chết đi sự nô lệ vào danh lợi, tài sắc, thần tượng, tôn giáo, tổ quốc…

Không chấp trước vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì thênh thang, phóng khoáng, tiêu dao du chơi giữa vô thường. Tuy giữa vô thường nhưng vẫn Chân thường, đó là niềm hân hoan sáng tạo của Đỗ Nghê, một thi nhân đã đến tận đầu nguồn, nếm được giọt nước trong ngần của mạch suối Tào Khê.

Để rồi trở về nhập cuộc, hoà điệu chịu chơi với bụi cát trần gian, thõng tay vào chợ, cười vang giọng cười hào sảng như Duy Ma Cật ngay giữa cái Đang là, luôn luôn mới lạ và mới lạ…

Tâm Nhiên

(10. 2024)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Tâm Nhiên: “DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC

14/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

“DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC

Tâm Nhiên

Bác sỹ, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, một sớm mùa Đông năm 2016 đến thăm Thầy Tuệ Sỹ tại Hương Tích Thư Quán. Tâm đầu ý hợp, hai người nói chuyện nhiều về Duy Ma Cật, Thắng Man, Tô Đông Pha, Tuệ Trung Thượng Sỹ…

Khi ra về, Tuệ Sỹ ký tặng tác phẩm Huyền Thoại Duy Ma Cật có ghi mấy chữ: “Quý tặng Duy Ma cư sỹ Đỗ Hồng Ngọc”.

Khi đọc xong Cõi Phật Đâu Xa – Thấp Thoáng Lời Kinh Duy Ma Cật của Đỗ Hồng Ngọc, Tuệ Sỹ viết vài lời cảm hứng:

“Cho tới một lúc, giữa xã hội xô bồ đảo điên…Bấy giờ bỗng xuất hiện những cư sỹ lão thành cự phách mà trình độ thâm hiểu giáo lý không nhường các bậc trưởng lão trong sơn môn.

Bên trong, hiểu và hành sâu xa nội điển, bên ngoài nhạy bén trước các biến cố đảo điên của xã hội, hiểu đạo sâu mà hiểu đời rộng. Tài và trí ấy, hiểu và hành ấy đã góp phần rất lớn trong những đoạn đường khỏi lạc nguồn mạch tư duy.

Không chỉ một Duy Ma Cật mà có rất nhiều Duy Ma Cật, khoác nhiều hành trạng khác nhau trong nhiều địa vị xã hội khác nhau đã từng xuất hiện ở đây, sống giữa chúng ta. Họ lăn lóc trong bụi đời, nếm đủ thứ mùi tục lụy, nhưng vẫn không ngừng vươn lên theo chiều cao của Đạo Pháp.

Trong một thời đại mà không còn tìm thấy thấp thoáng bóng dáng của Duy Ma Cật thì Phật pháp đạo lý có thể chỉ như món hàng trong siêu thị, có lúc chỉ như gánh hàng rong trên hè phố…”

Rồi gần đây, đầu tháng 9. 2023 khi nghe Tuệ Sỹ sau 3 tháng an cư dưới Long Thành, Đồng Nai về lại Sài Gòn, Đỗ  Hồng Ngọc liền đến Hương Tích viếng thăm, hàn huyên tâm đắc nhiều điều…

Về nhà, anh viết một bài Chén Trà Lão Triệu Mà Chưng Hoa Ngàn, kể lại buổi hạnh ngộ đó:

“Thị giả của Thầy Tuệ Sỹ nhắn tin tôi: “Thầy Tuệ Sỹ đang ở Sài Gòn. Mời Bác đến Hương Tích chơi”. Tôi đến, Tuệ Sỹ gầy ốm, xanh xao lắm. Nhưng vui vẻ, hoạt bát, thông tuệ như bao giờ.

Thầy viết tặng tôi tập thơ song ngữ Dreaming The Mountain do Nguyễn Bá Chung và Martha Collins dịch (2023) cùng với cuốn Ý Thức Mới Nghiên Cứu Về Tư Tưởng Phạm Công Thiện của Nohira Munehiro (Võ Thị Vân Anh dịch) và Phật Học Luận Tập số mới nhất.
Phần tôi gởi tặng Thầy bản thảo“Một Ngày Kia…Đến Bờ” vừa mới viết xong. Trong đó tôi viết: “Phật cũng già cũng bệnh và…cũng chết, viết về Phật là Như Lai, nhưng…Như Lai không phải Phật, về Thiền và những hormones hạnh phúc, về Chất lượng cuộc chết…

Tuệ Sỹ viết trong Tổng Quan Về Nghiệp (2021): “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi, thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người.

“Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai như ánh chớp mây chiều…”

Trong bài Phương Nào Cõi Tịnh, Tuệ Sỹ viết từ cảm hứng khi đọc cuốn Cõi Phật Đâu Xa của tôi về Kinh Duy Ma Cật (2017) ông dẫn 4 câu thơ, trích từ Giấc Mơ Trường Sơn:

“Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh
Ngoài hư không có dấu chim bay?
Từ tiếng gọi màu đen đất khổ
Thắp tâm tư thay ánh mặt trời”

Phải, chỉ có Trí tuệ (thắp tâm tư thay ánh mặt trời) mới có thể, Từ bi giúp ta vượt thoát màu đen đất khổ đó vậy.

Tuệ Sỹ cho rằng: “Vì trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn” (Phương Nào Cõi Tịnh) Ông chủ trương thơ, nhạc, vũ, kịch…có thể là ngõ đạo…

Ông thường nói về vở nhạc vũ kịch Duy Ma Cật, ở đó có hình tượng một Thiên nữ rải hoa trời tán thưởng một lời không nói (của Duy Ma…) và cõi của một lời không nói đó chính là cõi thơ…

Da mồi tóc trắng, chính là cảnh giới của Duy Ma. Cảnh giới đó là cõi đối biện thượng thừa, cõi im lặng vô ngôn, bát ngát của cư sỹ Duy Ma Cật. Và cũng là cõi tịch mặc nhưng tráng lệ của thi ca.

“Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mua hạ buồn chăng?
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh”

Tâm Thiền thì không có ngôn ngữ gì khác biệt với ngôn ngữ thường tình. Nhưng còn ngại rằng, khi đã cạo tóc mà tình thơ vẫn còn. Thôi thì, thiền đạo và thi ca là đồng hay là khác, cũng chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi…
Bởi theo ông thì: “Đạt đến cõi thượng thừa của Thơ như người học Thiền chứng chỗ Không tịch của Đạo. Cái đó vừa khó vừa dễ. Học Thiền 30 năm, 30 năm đày đọa thân tâm mà không thành. Phẫn chí bỏ đi, bất chợt thấy một cánh hoa rơi, cõi Không tịch cũng hoát nhiên, đột ngột mở ra.

Chỗ ảo diệu đó, khó giảng cho thông. Muốn cho lời thơ tuyệt diệu thì phải là đừng gò ép, vừa Không và vữa Tĩnh. Tĩnh cho nên thâu tóm hết mọi vọng động. Không cho nên bao hàm vạn cảnh.

Ngắm nhìn sự đời, bôn ba giữa đời mà thấy mình như nằm trên chóp đỉnh mây cao. Đủ hết các thứ mặn nồng, chua chát, trong đó có cái hương vị tuyệt vời…

Cõi Thơ có đến và có đi, nhưng không hề có dấu vết. Một cánh chim Nhạn, một cánh chim Hồng ngoài ven trời vạn dặm…”

Tôi vẫn nghĩ, chính cõi thơ “không hề có dấu vết” kia đã “cứu rỗi” Tuệ Sỹ, một cánh chim Nhạn, một cánh chim Hồng ngoài ven trời vạn dặm, để ông được trở về với mái nhà tranh quen thuộc của mình mà “nâng chén trà lão Triệu”.

Trong cuộc sống thường nhật quanh đây cũng có nhiều cư sỹ Duy Ma Cật như thế. Đặc điểm chung là họ tuy sống mộc mạc, giản dị, bình thường nhưng tâm hồn thì cao vút, vô cùng phóng khoáng, rộng lượng, bao dung.

 

Đỗ Hồng Ngọc là một bác sỹ, anh còn mần thơ, viết văn nữa. Khi mần thơ, anh lấy bút hiệu Đỗ Nghê.

Một buổi trưa nọ, đang lang thang trên phố hoa Đà Lạt, du sỹ bất ngờ gặp anh ở Thiền Viện Vạn Hạnh, rồi một sớm mai hồng kia, du sỹ lại tái ngộ và hội thoại cùng anh tại quán cà phê Phố Cổ ở thị xã La Gi, Bình Thuận  (cũ).:

–Trong mấy chục tác phẩm của anh, nổi bật lên là tập Tôi Học Phật. Vậy anh có thể cho biết anh học Phật như thế nào?

-Tôi đến với Phật rất trễ. Lại đến một mình. Lúc trẻ đọc Tâm Kinh, Tứ Diệu Đế, Krishnamurti, Suzuki…nhưng đọc chỉ để mà đọc. Đến năm tuổi gần 60, sau một cơn bệnh thập tử nhất sinh, tôi thấy mọi sự khác hẳn đi.

Tôi đọc Tâm Kinh thấy không khó nữa. Như vỡ ra – Và với Tâm Kinh tôi thấy chỉ cần học một chữ thôi: Chữ Không. Từ đó mà vô trụ, vô trí, vô đắc. Nó trả lời câu hỏi tại sao? Rồi bằng cách nào thì câu trả lời ở kinh Kim Cang: Vô ngã và Thiền định.
Ở Pháp Hoa học Vô tướng, Thực tướng, gặp Như Lai Đa Bảo của mình như luôn tủm tỉm cười chọc quê mình. Rồi ở Duy Ma Cật, học Bất nhị để thấy biết Như Lai, tập sống với Như Lai…Rồi nào với Lăng Nghiêm, Viên Giác, Lăng Già…Dĩ nhiên không thể không học những bước căn cơ, bởi gốc rễ có vững chắc thì cành lá mới sum suê…

–Là một bác sỹ, anh áp dụng những điều Phật học, Thiền học vào cuộc sống hằng ngày ra sao?

-Nhờ học Phật, học Thiền mà tôi thấy rõ hơn vai trò của người thầy thuốc, cứu chữa bệnh nhân. Những vị Bồ tát Thường Bất Khinh, Dược Vương, Diệu Âm, Quán Thế Âm đã cho tôi một thái độ sống khiêm hạ và phát khởi lòng yêu thương rộng lớn hơn.

–Ngoài công việc bác sỹ, anh còn mần thơ, viết văn nữa. Về thơ anh xuất bản mấy tập rồi?

-Sáu tập thơ: Tình Người (1967) Thơ Đỗ Nghê (1974) Giữa Hoàng Hôn Xưa (1993) Vòng Quanh (1997) Thơ Cho Bé Sơ Sinh Và Những Bài Thơ Khác (2010) Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017)

–Thơ anh có vài nhạc sỹ phổ nhạc rất tuyệt. Còn về văn?

-Về văn thì có những tập: Gió Heo May Đã Về (1997) Già Ơi…Chào Bạn (1999) Những Người Trẻ Lạ Lùng (2001) Nghĩ Từ Trái Tim (2003) Như Ngàn Thang Thuốc Bổ (2004) Cành Mai Sân Trước (2005) Thư Gởi Người Bận Rộn (2005) Như Thị (2007) Gươm Báu Trao Tay, Cõi Phật Đâu Xa, Thấp Thoáng Lời Kinh, Buông, vân vân…Nói chung, kể cả thơ văn cũng gần 60 tác phẩm tôi đã xuất bản lâu nay…

Trước khi chia tay, anh ký tặng tác phẩm tâm đắc Tôi Học Phật (dày gần 800 trang) và du sỹ cũng mần bài thơ Tiêu Dao Đỗ Hồng Ngọc tặng anh, thay cho một lời cảm tạ:

Nghĩ Từ Trái Tim nhiệm mầu quá
Ba nghìn thế giới ở đây thôi
Thì ra tất cả do tâm tạo
Bản lai diện mục vốn sẵn rồi

Gươm Báu Trao Tay cầm Bát Nhã
Tuệ kiếm Kim Cang chém sạch làu
Như Thị như nhiên cười Buông xả
Dứt liền điên đảo tuyệt khổ đau

Cõi Phật Đâu Xa ngoài vũ trụ
Mà ngay sinh hoạt giữa đời thường
Bước chân Bất nhị Duy Ma Cật
Nhập diệu vô lường với yêu thương

Tâm Nhiên

(Trích trong Hòa Âm Cùng Thiên Lý Độc Hành, sắp xuất bản)

 

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Sách song ngữ Việt Anh: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HANH PHÚC

06/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thầy Tuệ Sỹ: Đỗ Hồng Ngọc viết về Phật học

y như ghi toa bác sỹ

Nguyên Giác

Giới thiệuCảm nghĩ về "Thiền Tập Với Pháp Ấn" của Nguyên Giác Phan Tấn ...
Tác giả Đỗ Hồng Ngọc & Dịch giả Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Bạn cần một tác phẩm về Phật học, và về Thiền tập được giải thích rất khoa học dưới mắt của một bác sĩ, và có thể thích nghi cho mọi thế hệ già và trẻ thực hành ngay khi đọc xong? Hẳn là nhiều người có thể dễ dàng đoán ra tác giả đó là ai: tác giả Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, cũng là một nhà văn, nhà thơ, có nhiều tác phẩm về Phật học nổi tiếng, và bản thân họ Đỗ cũng được nhiều cơ sở văn hóa mời tới nói chuyện và hướng dẫn về Thiền tập.

Tác phẩm song ngữ Việt-Anh nhan đề “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” của Đỗ Hồng Ngọc, với người dịch sang tiếng Anh là Nguyên Giác Phan Tấn Hải đã bắt đầu lưu hành trên mạng Amazon từ hôm nay. Các bản Anh dịch đã được thực hiện từ nhiều năm trong thập niên qua, và bây giờ sách song ngữ này được ấn hành với một số bạn văn thúc giục, hỗ trợ, đọc bản văn, vẽ bìa — trong đó có Nguyễn Thị Khánh Minh, Trần Thị Nguyệt Mai, Thanh Lương, Lê Lạc Giao, Lê Giang Trần, Đinh Trường Chinh…

Dịch giả Nguyên Giác giải thích rằng anh học tiếng Anh theo công thức mẫu câu thuộc lòng qua nhiều thập niên dịch tin tức cho nghề báo, nên cũng lúng túng với các câu rất mực văn chương và Phật học uyên bác của Đỗ Hồng Ngọc, và gặp trở ngại trong nghề dịch là đã phải ba lần bỏ cuộc trong khi dịch bài “Phương Nào Cõi Tịnh” của Thầy Tuệ Sỹ nơi đầu sách vì chữ nghĩa Phật học của Thầy rất mực uyên áo, thượng thừa. Đành chờ một thời gian cho lắng đọng, lần thứ tư dịch tiếp, nguyện là dịch để cúng Tam Bảo, bấy giờ mới xong bài của Thầy Tuệ Sỹ.

Thầy Tuệ Sỹ đã viết về tác giả Đỗ Hồng Ngọc thế nào? Thầy viết bài “Phương Nào Cõi Tịnh” và ghi là từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của Đỗ Hồng Ngọc. Nơi trang 18 của sách “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy,” Thầy Tuệ Sỹ ghi một nhận xét:

“…như Đỗ Hồng Ngọc viết trong Cõi Phật Đâu Xa: anh viết Kinh dễ dàng và cũng rất thận trọng cân nhắc, y như bác sỹ viết toa thuốc…” (trang 18)
Y như bác sỹ viết toa thuốc? Chưa hết. Thầy Tuệ Sỹ trong bài đó đã nói rõ hơn về cách họ Đỗ hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh, trích:

“Để khỏi phải bối rối, choáng ngợp trước những từ ngữ và lý luận biện chứng siêu nghiệm, từ nhất nguyên tuyệt đối của Phạm-Ngã nhất thể, cho đến “Như Lai đến mà không đến, đi mà không đi”, chúng ta cũng có thể bắt đầu với nhận thức đơn giản hơn từ dẫn giải bởi Đỗ Hồng Ngọc, hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh:

“Ở tại nơi sanh tử mà chẳng làm việc ô trược, trụ nơi Niết-bàn mà chẳng diệt độ mãi; hành tánh không mà vẫn trồng các cội công đức; hành vô tướng mà vẫn độ chúng sanh; hành vô khởi mà khởi tất cả thiện hạnh…”” (trang 19)

Rồi với lời khen rất hiếm hoi dành cho cư sĩ Đỗ Hồng Ngọc, Thầy Tuệ Sỹ cũng viết: “Trong đoạn dẫn của Đỗ Hồng Ngọc nêu trên, chúng ta thấy Bồ-tát tu tâm như một Thánh giả Thanh văn xuất thế, nhưng hành đạo như một phàm phu trong sinh tử: trong bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Đó là căn bản của tư duy bất nhị. Thánh nhân xuất thế, và phàm phu sinh tử, hai mặt phản diện mà lại đồng nhất thể tính.” (trang 21)
Sách “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” là một tuyển tập song ngữ, phần tiếng Việt in nơi nửa đầu sách, và tiếng Anh in ở phần sau, sẽ thích nghi cho tất cả các gia đình vì là tuyển tập 15 bài viết về Phật học của Đỗ Hồng Ngọc, tất cả đều rất cụ thể, giải thích về thực hành cụ thể. Trong khi đó phần tiếng Anh của sách sẽ thích nghi cho thế hệ trẻ ở hải ngoại không đọc được tiếng Việt.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc tâm sự trong Lời Ngỏ: “Tôi không phải là thi sĩ, không phải là tu sĩ, tôi chỉ là một bác sĩ, một người thầy thuốc, nên khi phải hành nghề, phải giúp đỡ bạn bè, hàng xóm, kẻ nhức đầu, người đau lưng… và trước hết là phải chữa bệnh cho chính mình. Có những lúc thuốc men chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa, tầng tầng, lớp lớp bên trong. Tôi đành chia sẻ những điều tôi nghĩ, tôi cảm, tôi nghe. Có thể đúng. Có thể sai. Có thể không đúng không sai. Có khi hiệu quả, có khi không. Có người hợp mà không có dị ứng. Vậy nên nếu tình cờ mà đọc được những dòng này thì xin hiểu cho mà đừng trách. Nếu muốn, có thể tủm tỉm cười một mình. Cũng chẳng khoái ru!” (Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc, trang 12, 13)
Cư sĩ Nguyên Giác trong Lời Bạt của sách đã ghi nhận: “Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, nhưng anh cũng nổi tiếng làm thơ hay từ thời sinh viên. Trong khi tôi đọc, thưởng thức, và thán phục các vần thơ tuyệt vời của anh, nhưng tận cùng thích nhất vẫn là đọc Đỗ Hồng Ngọc viết về kinh Phật. Chính nơi lĩnh vực này, họ Đỗ viết gì cũng hay, viết ngắn cũng hay, viết dài cũng hay, viết về Thiền thở cũng hay, viết về ngũ uẩn giai không của Tâm Kinh cũng hay, viết về ưng vô sở trụ của Kinh Kim Cang cũng hay, viết về Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma Cật cũng hay. Và tôi tin, nhiều thế hệ sau sẽ nhớ tới một Đỗ Hồng Ngọc viết về lĩnh vực này, đó là những gì anh đã đọc, đã hiểu, đã sống và đã ghi xuống các trang giấy trọn một pháp giới học Phật của anh.” (trang 161)

Về phương diện thực hành, Cư sĩ Nguyên Giác nhận định về cách viết của tác giả: “Một điểm đặc biệt trong Tôi Học Phật của Đỗ Hồng Ngọc, và cũng hiếm thấy nơi các tác giả khác: bạn có thể ngưng ở bất kỳ trang nào, ở bất kỳ dòng chữ nào, để tự nghiệm những lời kinh được chú giải ngay trên thân và tâm của bạn. Bạn hãy đọc rất chậm và hãy nghiệm như thế, nơi từng hơi thở của bạn, nơi từng niệm và nơi từng cảm thọ của bạn. Những dòng chữ Đỗ Hồng Ngọc viết xuống trong sách cũng là từ các thể nghiệm thực chứng của tác giả. Đó là những dòng trực giải kinh Phật rất mực trang nghiêm, nơi đó từng dòng chữ đã trở thành những trận mưa hoa để cúng dường chư Phật. Nơi đó là hạnh phúc, là an lạc và là vô lượng công đức.” (trang 166)
Với 15 bài trong tuyển tập, Đỗ Hồng Ngọc viết về Thiền, về đến để mà thấy, về con đường an lạc, về tự phồng hộ trọn ngày (sáng, trựa, chiều, tối), về Buông, về thả lòng toàn thân, về chuyện ăn, về chuyện làm cho cha mẹ già vui, và rất nhiều đề tài cần thiết cho các thế hệ già trẻ…

Tiểu sử tác giả được Đặc san Văn Hóa Phật Giáo (2021) tóm tắt như sau: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, bút hiệu Đỗ Nghê, sinh năm 1940 tại Phan Thiết, Bình Thuận. Tốt nghiệp Tiến sĩ Y khoa Quốc gia, Y khoa Đại học đường Sài Gòn (1969), là bác sĩ chuyên khoa Nhi. Tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard Hoa Kỳ (1993) và Giáo dục sức khỏe tại CFES, Pháp (1997). Là Giảng viên Thỉnh Giảng Đại học Y Khoa Sài Gòn; Trưởng Bộ môn Khoa học hành vi – Giáo dục sức khỏe Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Ngoài vai trò là bác sĩ, nhà giáo ông còn là một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Ông viết nhiều tác phẩm đa dạng và rất được độc giả yêu thích. Đặc biệt sau này ông viết chuyên sâu các tác phẩm về Phật học, Thiền học với giọng văn nhẹ nhàng nhưng rất thuyết phục, dung chứa nhiều tư liệu đông tây giá trị và các kinh nghiệm tu tập. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc học, hiểu và thực hành thâm sâu nhưng rất thực tế giáo lý Phật-đà.

Tác phẩm song ngữ Việt-Anh “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” của Đỗ Hồng Ngọc, với dịch giả là Nguyên Giác do Nhà Xuất Bản Triết Văn đưa lên lưu hành ở mạng Amazon.
…………………………………….

Nguồn: tranthinguyetmai wordpresscom

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Interim pages omitted …
  • Trang 125
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • VU LAN Bông Hồng Cho Mẹ
  • Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU
  • Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Đỗ Châu Việt trong Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Minh Lê NT trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Đỗ Tú Quyên trong Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email