Lời Ngỏ:
Không phải là những bài phỏng vấn trực tiếp mà chỉ là những câu Hỏi-Đáp qua email của hai người bạn vong niên- một người U90 và một người U60- ở cách nhau khá xa, bắt đầu từ câu chuyện về cuốn “Chuyện Hồi Đó” của Đỗ Hồng Ngọc. Vậy mà đến nay cũng đã có đến 154 câu Hỏi- Đáp đã lần lượt chuyển tải trên trang dohongngoc.com trong vài năm nay. Gần đây có vài bạn trẻ hỏi thăm thêm, muốn được đọc đày đủ nên tôi đã tập hợp và post lại cho vui. Hãy coi như chuyện “lẩm cẩm” của một ông già thôi nhe.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
(Saigon, 8.2026)
154 Câu Hỏi- Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
Bài 1: Hỏi- Đáp về cuốn “Chuyện Hồi Đó” của Đỗ Hồng Ngọc
1 Điều gì khiến anh có cảm hứng viết Chuyện Hồi Đó?
Nhiều bạn bè khuyên nên viết Hồi Ký, đặc biệt là anh Nguyễn Hiền Đức (5 Hiền).
Nguyễn Hiền Đức là một cư sĩ, thường gọi Anh 5 Hiền, trước 1975 từng có thời là Thư ký Tòa soạn của tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, trưởng phòng Tu thư Đại học Vạn Hạnh, thư ký riêng của HT Thích Minh Châu…
Năm 2021 anh đã gởi tôi món quà sinh nhật: Đỗ Hồng Ngọc- Tiếng gọi sâu thẳm của Y vương, ghi “Quà tặng mừng Sinh Nhật 81 của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc” thấy đã đăng trên Thư viện Hoa Sen, và trước đó, anh cũng đã có bài “Phác thảo chân dung Đỗ Hồng Ngọc”.
Năm 2014, Nguyễn Hiền Đức đã viết (…) “Năm nay bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã 75 tuổi ta rồi. Cái tuổi đã chín muồi, đã lịch lãm, đã trải nghiệm và chiêm nghiệm được nhiều điều về bản thân, gia đình, bè bạn, nghề nghiệp. Ông cũng đã trải qua những biến thiên dữ dội của thời cuộc. Ông lại có những mối quan hệ xã hội khá rộng rãi và hiểu biết tường tận về nhiều việc, nhiều người dưới cái nhìn, cái cảm của một người giàu Phật tính, thấm nhuần triết học Phật giáo. Vì vậy, tôi kính cẩn thưa trình với ông rằng tôi mong sớm được Hồi ký của ông. Nhớ lại, ông đã nhiều lần “thúc hối” thầy mình là Nguyễn Hiến Lê viết hồi ký như André Maurois đã từng làm với Un ami qui s’appelait moi vậy! (…) Trước nay tôi vốn thích đọc Hồi ký, và các cuốn hồi ký mà tôi thích nhất vẫn là cuốn của Nguyễn Hiến Lê, Đào Duy Anh, Quách Tấn, Trần Văn Khê…, và, chắc chắn sẽ rất thích Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc. Tôi không dám nói sai lời và cũng như nhiều độc giả chí cốt của Đỗ Hồng Ngọc nóng lòng chờ đợi Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc.
Tôi nghĩ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nhiều điều kiện thuận lợi, có nhiều cơ duyên tốt lành để khởi sự sớm hoàn thành tập hồi ký được nhiều người chờ đọc, đón đọc (…). Mong lắm thay, thưa bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!”.
Nguyễn Hiền-Đức (Santa Ana, tháng 3.2021)
2 Có thể gọi Chuyện Hồi Đó là Hồi ký của anh không?
Không. Tôi không có khả năng viết “Hồi Ký”. Hồi Ký thì phải… ly kỳ, hấp dẫn… gợi tò mò cho người đọc. Tôi cũng cảm ơn Nhà sách Phanbook, cũng đã nhiều lần khuyên tôi viết Hồi Ký… và bây giờ nhận lời in cuốn Chuyện Hồi Đó. Tôi lo sẽ ế, tội nghiệp cho Phanbook!
3 Phần khó nhất khi chuẩn bị bản thảo Chuyện Hồi Đó là gì?
Là phân biệt Hồi Ký với “Chuyện Hồi Đó”
Hồi ký là một sáng tác văn chương, thể loại ký, do chính tác giả viết về mình. Thường của những người đa số còn trẻ. Tự mình nhìn mình, bộc lộ, chia sẻ theo trình tự thời gian, có thể “hư cấu”, có thể “phóng đại”.
Dĩ nhiên bên cạnh đó là Hồi Ký của những bậc lão thành, ghi chép đầy đủ trải nghiệm… và sự nghiệp của đời mình thành những bài học cho thế hệ sau.
“Chuyện Hồi Đó” chỉ là những chuyện cũ, xưa, kể lại bởi một người có tuổi, có thể trong một buổi “trà dư tửu hậu” cùng bạn bè. Tôi viết lúc đã 85 tuổi (Tết Ất Tỵ,2025). .
Nó không phải là một sáng tác, một ghi chép (ký) theo thời gian.
Với tôi, nó không phải nói về “cái tôi”, chủ quan của mình.
Tôi nhìn mình một chút, rồi nhờ người khác nhìn tôi với “chủ quan” của họ.
Tôi chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp, suy tư, học hỏi. Tôi tri ân con người, vùng đất…
Tôi muốn người đọc có lợi ích khi đọc, không chỉ vì tò mò.
Dĩ nhiên, cho tuổi già của chính tôi. Có thể cười mình.
4 Trang nhà Đỗ Hồng Ngọc (dohongngoc.com) có ý nghĩa gì đối với anh?
“Ý nghĩa” rất lớn đó chớ! Nó gần như là một “kho tàng” lưu trữ để khi viết tôi chỉ cần tìm lại. Tôi phải cảm ơn Phùng Minh Bảo và Lê Thị Thuỳ Linh. Chính nhờ các em mà tôi có trang web dohongngoc.com này trên 15 năm nay. Cũng nhờ trang Web này, tôi có dịp học hỏi, giao lưu và tương tác với bạn đọc. Ngạc nhiên thấy thế giới nhỏ bé đáng kinh ngạc, càng ngạc nhiên thấy tình người lại gần gũi đáng kinh ngạc đến vậy.
5 Cái chất “công tử – nhà quê” mà anh nói được di truyền từ Ba-Má anh đã thể hiện trong văn và thơ anh ra sao?
Nó thiệt thà, chơn chất, nhưng đôi khi cũng… bay bướm đó chớ phải không? Lá chín vàng/ lá rụng về cội/ Em chín vàng/ chắc rụng về anh…; hay Sóng quằn quại/ thét gào/ không nhớ/ mình là nước…
6 Người ta nói văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ nói chung đều rất đa tình vì yêu cái đẹp. Anh có nghĩ mình là người đa tình không?
Có. Mà nhút nhát, rụt rè quá. Đáng tiếc!
7 Trong một bài phỏng vấn của nhà báo, anh có nói “Thà có một trái tim đau yếu vì tình yêu còn hơn một trái tim… lãnh cảm!”. Anh có thể giải thích và cho ví dụ không?
Ví dụ người thất tình… sướng hơn người lãnh cảm.
8 Chuyện Hồi Đó cho biết mối tình đầu của anh là lúc anh 12 tuổi, và mấy năm sau gặp lại anh còn làm thơ cho người ấy nữa. Không biết “mối tình đầu” ngày ấy là đơn phương hay là cả hai…
Đó là cô bạn cùng lớp… Nhứt (tức lớp 5 bây giờ!). “Nghe nói người xưa chừng lỡ bước/ Nghe nói lòng ta chừng chưa nguôi…”. Thấy chưa? Lòng ta mà chỉ “nghe nói” thôi, chỉ nghe “đồn rằng” thôi đó nhe. Tuy vậy cũng đã có những bức thư bằng pelure màu xanh… thuở 15, 16.
9 Cũng theo Chuyện Hồi Đó, ngày anh gặp chị (vợ Bs ĐHN) anh trúng ngay “coup de foudre” phải không?
Phải. Sau này tôi thường nói với vợ tôi: Anh có một người anh yêu hồi 12 tuổi, một người anh thương hồi 20 tuổi, nhưng em mới là người anh vừa yêu vừa thương. Vì vậy mà đã sống với nhau gần… 60 năm!
10 Có cuốn sách nào đã làm thay đổi cuộc đời anh không?
Có. Cuốn Kim chỉ Nam của Học sinh của Nguyễn Hiến Lê (1951). Cả các cuốn Gương Danh Nhân, Gương Kiên Nhẫn… và Tự học để thành công (1954) của ông nữa.
11 Cuốn sách anh thích nhất lúc nhỏ là gì?
Anh phải sống. Hai buổi chiều vàng. Tâm hồn cao thượng… Và một lô truyện Tam Quốc, Thuỷ Hử, Đông Châu Liệt Quốc… Sau này là Kiếm Hiệp Kim Dung. Có lần tôi tự chữa bệnh đau bao tử của mình nhờ kiếm hiệp Kim Dung đó.
12 Nếu anh có thể nói một điều với chính anh khi còn trẻ, anh sẽ nói điều gì?
Nhắc “Tương lai trong tay ta”, đó là một tựa sách của Nguyến Hiến Lê.
13 Kỷ niệm nào anh nhớ nhất về tuổi học trò của anh ở Phan Thiết?
Là xách guốc xuồng gỗ mỗi khi qua nhà người ta, dù người ta mới 11 tuổi. Và đặc biệt là bức thư trên giấy pelure màu xanh người ta gởi tôi khi mới 15…
14 Anh viết rằng người thầy thuốc “được làm nghề y vì cái nghiệp của mình”, có thể hiểu rằng phải đúng “nghiệp” mới làm bác sĩ được phải không?
Cái “nghiệp” nó mang mình đi, nó đẩy mình tới. Còn gọi là cái “Vocation”. Cái “thiên hướng”.
15 Anh từng viết: “Nghề y là một nghề đặc biệt, muốn đào tạo người thầy thuốc vừa có năng lưc chuyên môn vừa có lòng nhân ái thì điều kiện tuyển chọn cũng phải đặc biệt.” Theo anh kỳ thi vào các trường Y Khoa còn cần yêu cầu nào khác ngoài điểm số các môn học?
Mỗi nước, mỗi giai đoạn đều có cách đào tạo phù hợp. Thời tôi thi vào Y khoa, năm 1962, ngoài các môn học còn có 20 câu hỏi “Kiến thức tổng quát” về văn hoá, lịch sử, địa lý, âm nhạc, hội hoạ… và đặc biêt có 2 câu tôi nhớ mãi: Giá gạo trên thị trường bao nhiều một ký? Giá than trên thị trường bao nhiêu một ký. Chắc là muốn coi người bác sĩ tương lai có quan tâm đời sống xã hội đường thời không? Ở Singapore, ngoài bài thi viết còn có phỏng vấn. Nhóm phỏng vấn gồm một giáo sư, một bác sĩ, một điều dưỡng và một… bệnh nhân!
16 Có lý do nào đặc biệt khiến anh yêu ngành Nhi Khoa không?
Nhi khoa, xưa gọi là Á khoa, khoa “câm”. Trẻ không biết nói mà! Khi khám bệnh cho trẻ, phải có óc “quan sát” tốt để tìm ra bệnh. Cẩn thận! Trẻ không biết nói nhưng có thể giựt văng kiếng cận của mình hoặc… tè vô mặt mình. Chẳng mấy chốc mà chú nhóc ngày nào đã trở thành cậu thanh niên cường tráng, cô nhóc ngày nào đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp… Rồi một hôm, họ mang một nhóc không biết nói khác tới kêu mình khám cho nó. Một vòng đời, ngộ không?
17 “Săn sóc Sức khỏe Ban đầu” là gì?
Primary Health Care, được dịch là Chăm sóc (hay Săn Sóc) Sức Khoẻ Ban Đầu. Một triết lý nhân bản trong Y khoa, sau Hội nghị quốc tế tại Alma-Ata, năm 1978, lấy phòng bệnh làm chính, xác định “sức khoẻ” là sự sảng khoái (well- being) toàn diện về cả thể chất, tâm thần và xã hội của con người, gắn liền với sự phát triển của địa phương. PHC quan tâm môi trường sống, dinh dưỡng, phòng dịch bệnh… Giáo dục sức khoẻ, Nâng cao sức khoẻ là yếu tố rất quan trọng để tạo được sự “tham gia của cộng đồng”, sự “phối hợp liên ngành”. Bởi Y tế chủ yếu là chữa trị bệnh tật, còn “Sức khoẻ” là nhiệm vụ của toàn xã hội.
18 Điểm quan trọng nhất theo anh trong Y đức là gì?
Là “Primum Non Nocere”: First Do No Harm. Trước hết, đừng làm hại.
19 Y nghiệp khác y đức chỗ nào? Cái nào quan trọng hơn?
Y nghiệp là những nguyên tắc thực hành nghề y, đòi hỏi sự chuyên nghiệp, chính xác. Y đức là vấn đề “tâm hồn” của người thầy thuốc đối với bệnh nhân. AI phát triển thì Y nghiệp phát triển, nhưng Y đức thì chỉ có ở con người với con người.
20 Anh từng viết một bài có tựa “Bác sĩ mà cũng bệnh!” Dĩ nhiên bệnh tật không chừa ai, dù là… bác sĩ! Kinh nghiệm vượt qua bệnh tật hay thậm chí “sống chung với bệnh” của anh là gì?
Là… đáng đời! Là ráng chịu! Ai biểu!
Ai mà chẳng phải bệnh. Trong cuốn “Quy luật của muôn đời”, tiểu thuyết của Nodar Dumbatze (Gruzia), tôi nhớ tác giả nói mỗi người ít nhất nên bệnh nặng một lần trong đời. Bệnh làm mình sáng mắt ra…
Khi đỡ bệnh sau đợt mổ sọ não năm đó (1997), tôi viết bài thơ: “Xin cám ơn, cám ơn” là vậy.
21 Năm nào thì anh thực sự “rửa tay gác kiếm”?
Không biết. Cứ lâu lâu lại “Rửa tay gác kiếm” một lần! Năm 1985, tôi rời Lâm sàng (Cấp Cứu, Bệnh Viện Nhi Đồng 1); năm 2005 rời Trung Tâm Truyền Thông & Giáo dục sức khoẻ; năm 2010, rời Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch; năm 2020 đóng cửa Phòng mạch…
22 Anh viết khá nhiều bài về Nhật. Nếu cần chọn ba từ để mô tả ấn tượng nước Nhật để lại trong anh, anh sẽ chọn những từ nào?
Chút hương xưa!
23 Anh ấn tượng nhất điều gì ở Úc?
Đó là lúc đến thăm The Twelve Apostles (12 vị Thánh tông đồ của Chúa), nay đã sụp đổ còn 8 vị… và sẽ sụp đổ tiếp nay mai. Chưa ở đâu liễu ngộ Vô Thường, Vô Ngã, Thực tướng Vô tướng như vậy. Tôi thấy ở đó các vị Bồ Tát, các vị Thánh tông đồ… giữa biển thức Lankavatara bèn chắp tay xá xá… tất cả!
Tôi còn ấn tượng với một bệnh viện Ung Thư ở Melbourne, ở đó, bác sĩ, y tá và bệnh nhân đều ăn mặc giống nhau để … không thể phân biệt!
24 Anh nhớ nhất kỷ niệm nào trong chuyến đi Nepal về thăm đất Phật?
Lúc thăm Lumbini, nơi Phật đản sanh và thăm Kapilavastu (Ca-Tỳ-La-Vệ) nơi Phật vượt ra khỏi cổng thành.
25 Có ý nghĩa ẩn giấu hay biểu tượng nào trong các bài viết (thơ, văn) của anh chưa được nhận ra không?
Làm sao biết? Người đọc là người “nhận ra” nhiều thứ mà mình đâu có ngờ tới!
26 Anh có bao giờ lấy cảm hứng từ âm nhạc hay hội họa không?
Nhiều chứ. Nhất là ca từ của Trịnh Công Sơn. Nó giúp tôi viết Gió heo may đã về, và Về thu xếp lại…
27 Có khi nào một bài thơ hay bài viết thay đổi bất ngờ so với dự định của anh khi bắt đầu viết không?
Thường khi không có “dự định” gì cả. Thơ nó đến bất chợt. Tuỳ bút cũng vậy. Ý này dẫn ý kia… Kệ nó.
28 Anh cân bằng giữa trải nghiệm cá nhân và trí tưởng tượng trong thơ anh như thế nào?
Trí tưởng tượng mới là… cốt lõi. Trải nghiệm có khi chỉ là cái cớ, tình cờ. Chẳng hạn một hôm cà phê với người bạn trẻ dưới gốc cây cổ thụ ven đường, nhìn chiếc lá vàng rơi, tôi chợt viết “lá chín vàng lá rụng về cội… em chín vàng chắc rụng về anh…”!
29 Nền tảng văn hóa và tri thức đóng vai trò gì trong việc hình thành thơ và văn của anh?
Nền tảng văn hoá đóng vai trò quyết định.
30 Anh có thường viết vào một thời điểm cụ thể trong ngày không?
Không. Tôi có phải là nhà văn “thứ thiệt” đâu. Nhưng ông Nguyễn Hiến Lê nói đúng. Cứ viết đi rồi hứng sẽ đến. Như “L’appetit vient en mangeant”! Ăn đi rồi thấy ngon.
31 Anh từng viết cho tuổi mới lớn, tuổi thanh niên, tuổi trung niên, tuổi già. Anh thấy viết cho tuổi nào khó nhất?
Tôi phải sống qua tuổi đó rồi mới viết được. Viết như “nói chuyện” thân tình với nhau thôi mà, có phải “văn chương phú lục” gì đâu! Người đọc nói tôi viết như viết cho riêng họ, vì “đi guốc trong bụng” họ!
32 Anh đã viết tùy bút, tản văn, y học, Phật học… Thể loại nào được anh ưa thích nhất?
Không có sự phân biệt nào trong lúc tôi viết. Tôi không định hình thể loại ở đây. Phật học thì tôi viết tuỳ bút. Tuỳ bút thì tôi viết… khoa học. Y học thì tôi… làm thơ! Ối trời, phải phân biệt rạch ròi nữa sao?
33 Anh có rất nhiều bạn văn, bạn thơ. Với ai anh cũng có một tình bạn dài lâu và rất đẹp. Bí quyết giữ gìn tình bạn của anh là gì?
Không nhiều bạn văn thơ đâu! Nhưng đã là bạn thì luôn là dài lâu và rất đẹp nữa. Tôi nghĩ: sự chân thành.
34 Trong các bài viết về thơ văn anh, chỉ có Giáo sư Cao Huy Thuần bắt gặp “con người thứ ba” trong anh, con người “cười cười” một chút và rất nghịch… ngầm. Anh thấy có đúng không?
Ông ấy tinh tế thật. Giấu ổng hổng nổi!
35 Trải nghiệm đầu tiên nào khiến anh nhận ra rằng ngôn ngữ có sức mạnh?
Tôi nhà quê thứ thiệt, vẫn nghĩ ngôn ngữ là “phương tiện” thôi. Tôi không nghĩ cứ uốn éo ngôn ngữ thì thành văn chương. Trong thơ, tôi thấy cái “Tứ” mới là điều cốt lõi. Người ta có thể quên ngôn ngữ, nhưng cái “tứ” thì nhớ mãi. “Oan oan thư cưu/ tại hà tri châu/ yểu điệu thục nữ/ quân tử hảo cầu” ngàn năm trước… dịch qua ngôn ngữ nào cũng được!
36 Anh có nghĩ rằng ai đó có thể thành một thi sĩ hay văn sĩ giỏi mà không cần trải qua đau khổ không?
Đau khổ nhiều khi là một chất liệu. “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thù độc” (Xuân Diệu).
37 Anh nghĩ thơ, văn và tranh tác động như thế nào đến sức khỏe tinh thần của một người?
Nó làm cho con người mềm nhũn ra.
38 Những chuyến du lịch có ảnh hưởng đến hình ảnh trong thơ anh không?
Nhiều chớ. Nhờ đi đây đi đó, tôi có cảm xúc để viết. Thí dụ những ngày ở Paris, tôi viết tập Vòng Quanh.
39 Làm sao để truyền tải một cảm xúc mãnh liệt vào thơ?
Cố tình “truyền tải” thì có khi chẳng “truyền tải” được gì cả. Nó tự nảy ra ở người đọc. Thí dụ: “Ngoại chờ bên kia sông” hay “Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?” … Người đọc tự mình “truyền tải” thì tốt hơn tác giả cố ý!
40 Anh thường chọn tựa đề của thơ anh ra sao?
Không cần chọn. Nó hiện ra chình ình. Thí dụ Mũi Né. Thí dụ: Giả sử.
41 Khi anh viết một bài thơ, điều gì xuất hiện với anh đầu tiên: chủ đề, từ ngữ hay hình ảnh?
Ý tưởng. Cái tứ. Những “thứ khác” đến sau. Bài thơ Tình Già, chỉ cần “con mắt còn có đuôi” là đủ phải không?
42 Thơ một người vừa là bác sĩ vừa là thi sĩ có khác với thơ của người vừa là kỹ sư vừa là thi sĩ không, theo anh?
Không. Huy Cận là một kỹ sư canh nông, Xuân Diệu làm nhân viên hải quan… Thơ không đến bằng nghề nghiệp!
43 Trong những nhận xét và cảm nhận của người khác về thơ anh, có ý tưởng nào làm anh hết sức ngạc nhiên không?
Có một nữ độc giả không quen biết xác nhận tôi viết bài thơ đó là viết cho riêng cô!
44 Thơ anh được phổ nhạc khá nhiều, trong đó có bài nào làm anh rung động nhất không?
Bài Bông Hồng Cho Mẹ viết về Mẹ tôi và bài Sông Ơi Cứ Chảy, viết cho La Ngà.
45 Anh thích nhất bức nào trong các tranh vẽ bằng bút sắt của anh?
Đó là bức Harvard Square (ở Boston) và bức Sacre Coeur (Nhà thờ Thánh Tâm ở Paris)
46 Anh có “nghề” vẽ tranh bằng ngón tay. Tại sao anh thích vẽ bằng ngón tay?
Vì kiếm “đồ nghề” không dễ lúc đó. Cao hứng thì sẵn có ngón tay. Tôi nhớ Phong Thanh Dương dạy độc cô cửu kiếm cho Lệnh Hồ Xung, lúc Lệnh Hồ Xung bị đánh văng kiếm lúng túng không biết làm sao, ông bào, sao ngu vậy, ngón tay cũng là… kiếm chứ!
47 Trong một bài phỏng vấn, anh nói “Tôi mừng vì vẫn giữ được cảm xúc để làm thơ”. Anh thường giữ cảm xúc bằng cách nào?
Bằng cách để cho cảm xúc nó tuôn trào. Kệ nó.
48 Anh có bao giờ nghĩ tới chuyện “làm mới” thơ hay văn của mình không?
Không. Việc gì phải làm mới? Đọc cuốn Ý Cao Tình Đẹp của Nguyễn Hiến Lê (sách dịch), tôi thấy mình cũng rưng rưng muốn khóc. Làm mới, có thể gây ngạc nhiên nhưng khó làm cho khóc. Khi đọc Anh phải sống của Khái Hưng hồi 12 tuổi ở trong chùa, tôi cũng khóc. Nhạy cảm quá chăng. Vớ vẩn quá chăng?
49 Anh thường tìm cảm hứng cho thơ văn của mình từ đâu?
Tôi không tìm. Nó tự đến.
50 Anh có cảm thấy văn phong của mình thay đổi theo thời gian không?
Có. Hình như mình già thì văn nó cũng già theo. Nó run rẩy, nó lẩn thẩn, nó mít ướt.
51 Điều gì quan trọng nhất đối với anh khi viết về một nhân vật?
Tôi muốn nhìn được trong sâu thẳm tấm lòng của họ. Nhiều người khen bài tôi viết về Trang Thế Hy.
52 Hai chân dung anh viết khá chi tiết là học giả Nguyễn Hiến Lê và thi sĩ Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư. Một người uyên bác chân phương, một người phóng khoáng bay bổng. Anh cảm thấy anh giống ai hơn?
Giống mỗi người một nửa. Không phải công tử với nhà quê mà người điên với nhà nho.
53 Bài thơ của nhà thơ nào anh cảm thấy tâm đắc nhất?
Tình Già của Phan Khôi và To Edith của Bertrand Russell viết khi ông 90 tuổi!
54 Anh đã bao giờ bị bí ý tưởng khi viết chưa?
Chưa. Vì khi có ý rồi mới viết. Để đó, cho nó “hoai” đi. Mấy hôm rồi đọc lại. Lúc đó, cần thì sửa. Tôi có học Văn với thi sĩ Vũ Hoàng Chương, lớp 11, ông nói, có những bài thơ ông sửa đến 36 lần! Nhà thơ Giả Đảo, đời Đường nổi tiếng “thôi xao” chúng ta đều biết!
55 Anh có nghĩ rằng một nhà văn có thể viết hay mà không cần có cảm xúc không?
Có. Đó là những nhà văn chuyên nghiệp, họ có thể cùng lúc viết nhiều feuilleton… cho nhiều tờ báo.
56 Anh đã viết nhiều bài về tuổi già, vậy anh có thể tóm tắt bí quyết “già sao cho sướng” được không?
Là “biết mình già”, OK với nó. Welcome nó.
57 Anh có thể giải thích chữ “Không” trong Phật học một cách dễ hiểu không?
Đừng hiểu lầm “Không” là không có gì nhe. Không trong Phật học là “trống rỗng”, là không có “tự tính” riêng biệt. Mọi “pháp” đều do Duyên sinh. Hiểu vậy, ta hiểu tại sao Vô thường, Vô ngã… Và, giải thoát khổ đau, dính mắc.
58 Anh hiểu thế nào là “quay về nương tựa chính mình”?
Không lẽ nương tựa vào ai bây giờ? Ai có thể thở giùm mình, ai có thể khổ đau giùm mình, ai có thể si mê giùm mình?
59 Anh viết: “Một người mà không thể từ bi với chính mình thì làm sao có thể từ bi với người khác được?” Từ bi với chính mình là sao?
Là “Biết ơn mình”. Nhiều người oán ghét mình lắm. Sáng sáng nhìn vào gương thấy ghét. Già nua, nhăn nhúm… Rồi so sánh mình với người khác nữa… Nhờ đó mà các cơ sở “thẩm mỹ” giả mọc lên như nấm không thấy sao?
60 Anh nói “Thiền là Thở”, đơn giản vậy sao?
Phải. Phật dạy trong kinh Anapanasati. Một phương pháp Thiền hiệu quả và khoa học nhất. Không sợ “tẩu hỏa nhập ma”. Qua hơi thở, ta thực hiện cả Samatha (thiền chỉ) và Vipassana (thiền quán). Đời sống chỉ là một hơi thở. Thân và tâm cùng trong hơi thở. An lạc hay khổ đau nằm trong hơi thở đó thôi.
61 Anh khen phương pháp Thở của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện rất hiệu quả. Anh có thể cho biết cách anh thực hành?
Bs NKV bị mổ phổi 7 lần ở Pháp (năm 1946), chỉ còn 2/3 lá phổi phải. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống 2 năm. Vậy mà với phương pháp thở bụng, ông đã sống thêm được… 50 năm, chẳng thú vị sao? Phương pháp thở bụng (abdominal breathing, diaphragmatic breathing) không lạ. Người xưa ở Đông phương gọi là đưa hơi xuống huyệt “đan điền” đó thôi. Bs NKV là cố vấn Bộ môn Tâm lý – Xã hội học ở Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, do tôi là Trưởng Bộ môn, ông cũng chia sẻ với tôi nhiều lần nhưng tôi không mấy quan tâm, đến khi tôi bệnh nặng phải mổ sọ não thì tôi mới đem ra ứng dụng. Hay chớ! Tôi đã viết lại đầy đủ trong cuốn Thiền và Sức khoẻ.
62 Dường như anh chưa bao giờ viết nhiều về “tham, sân, si”, “thân, khẩu, ý”, “nghiệp và nhân quả”. Anh coi trọng việc thở, ăn và hiện diện trong giây phút hiện tại hơn, có đúng không?
Thở, Ăn, Biết sống Ở đây và Bây giờ chẳng đã đủ rồi sao? Đó chính là chánh niệm, tỉnh giác. Còn tham sân si… gì nữa cho mệt! Hiểu Phật là hiểu Duyên sinh. “Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên” (Trần Nhân Tông) nhớ không? Biết tuỳ duyên, thuận pháp là đã đủ cho nếp sống “cư trần lạc đạo” rồi đó vậy.
63 Có thể hiểu điều Phật dạy và thực hành giỏi mà không cần thuộc nhiều kinh kệ không?
Thuộc một vài câu Kinh Kệ là đủ. Lục tổ Huệ Năng chỉ nghe câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà giác ngộ tức khắc. Ngày nay, thời AI, Internet, deep fakes… thì cũng chỉ cần thuộc câu đó và ứng dụng vào đời sống. Luôn nhớ rằng “Nói vậy mà không phải vậy!”. Ai ngây thơ, “tưởng thiệt” sẽ lãnh đủ!
(Saigon 11.3.2025)
Bài 2: Hỏi- Đáp chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
(Nhân đọc bản thảo Chuyện Hồi Đó)
1 Trong bài thơ “Xin cám ơn, cám ơn” viết sau cơn bạo bệnh năm 1997, anh viết:
Đã bao lâu ta không sống với mình
Ta có ta mà quên ta phứt.
“Ta quên ta” là sao, và có gì liên hệ với lời dạy của Phật không?
Tôi sinh đẻ ở Phan Thiết. Nhà bà Ngoại dưới chân núi Tà Cú, nơi có chùa Linh Sơn Trường Thọ Tự, nên hồi nhỏ xíu ba bốn tuổi đã được Bamá, cậu, dì… cõng lên chùa chơi thường xuyên… Trong nhiều năm học hành rồi làm việc, quả thật tôi không nhớ tới tôi, tôi chỉ nhớ công việc ở khoa cấp cứu Nhà thương Nhi Đồng Saigon, chương trình Săn sóc Sức khoẻ Ban đầu… Sau đó làm công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ, phòng chống sốt xuất huyết, viêm ruột hoại tử, não mô cầu… rồi phòng chống HIV/ AIDS…, quả thật tôi quên phứt tôi, đến một hôm người ta khiên tôi vào cấp cứu, mổ sọ não vì tai biến… Khi tỉnh lại, rồi bước được những bước như một em bé, biết nghe, biết nói… tôi viết bài thơ Xin cảm ơn, cám ơn này trong bệnh viện.
Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Như cỏ cây trước cơn bão dữ
Như con thuyền tung hê lên vách núi cao
Cho ta trở về làm con thú hoang sơ
Trần truồng như nhộng
Kẻ cạo đầu người lột da
Kẻ đục sọ người giúp thở
Kẻ đặt ống sonde vào đường tiểu
Người bơm thuốc qua dịch truyền
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Không lý trí không nghĩ suy không toan tính
(…)
Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc
Cho ta trở lại với mình
Ta muốn ôm hôn tất cả mọi người
Và ôm hôn ta nữa
Cái đầu trọc lóc bình vôi
Hai lỗ thủng và mười tám vết khâu từ ái
Ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở
Lắng nghe sự sống cục cựa trong mình.
(…)
Phật dạy phải quay về nương tựa chính mình. Phải từ bi với mình rồi mới từ bi với người. Đừng bao giờ để phải kêu lên: “đã bao lâu ta không sống với mình/ ta có ta mà quên ta phứt…”
2 Anh viết trong Chuyện Hồi Đó muốn có an lạc chỉ cần làm “3 điều 4 chuyện”. Tất cả đều hay, chỉ riêng phần “hiểu thuật ngữ, ẩn dụ” có cần thiết không?
Rất cần thiết. “3 điều 4 chuyện” là cách đơn giản nhất để hiểu và thực hành lời Phật dạy, mang đến sự An Lạc cho nếp sống vui, sống khoẻ, tránh mê tín dị đoan… Cho đến nay, nhiều người vẫn hiểu lầm về những từ “chúng sanh”, “niết bàn” vì ngôn ngữ trong Phật học đa dạng!… Phật còn dạy “y nghĩa bất y ngữ”. Nói vậy mà không phải vậy đâu! Khi thuyết giảng xong Kim Cang Bát- Nhã, đệ tử hỏi Thế Tôn, tên kinh này là gì. Phật nói: Kim Cang Bát-Nhã balamật. À, nói Kim Cang Bát- Nhã Balamật thiệt ra không phải Kim Cang Bát- Nhã Ba-la-mật, chỉ tạm gọi vậy thôi. Ấy là để khuyên ta đừng bám chấp. Thí dụ, nói Chúng sanh không phải là chúng sanh, nói Niết bàn không phải là niết bàn… Còn “ẩn dụ” thì càng cần hiểu rõ, nếu không thì dễ mê tín dị đoan. Như niệm Quan Thế Âm Bồ tát giúp làm cạn cơn lũ dữ, làm tắt ngọn lửa to. Tưởng thiệt thì nguy!
3 Người đa tài ắt đa tình (ý của Giáo sư Cao Huy Thuần). Đa tình có thể hiểu thế nào theo anh? Làm sao để vừa “đa tình” mà tâm vẫn an?
Một người từ bi… luôn là một người đa tình đó. Từ bi với mình và từ bi với người. Trong Phật học còn có “Vô duyên từ” nghĩa là chẳng có lý do gì để mà “từ” cả! Chẳng phải người ta có thể từ với hòn đá cuội (ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau– Trịnh Công Sơn) đó sao? Hay từ với một cánh chim bay (Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh? Ngoài hư không có dấu chim bay. Tuệ Sỹ). Văn chương không thiếu: “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Thế Lữ), “Có nghĩa gì đâu một buổi chiều, nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu…” (Xuân Diệu). Kẻ đa tình vậy đó. Đa tình mà tâm vẫn an… có lẽ bởi đó là một thứ tình thương bao la hoặc một thứ tình yêu “tỉnh thức”, không bị vùi đắm trong đam mê, vị kỷ.
4 Anh viết về cách Phật dạy con. Tại sao bài học đầu tiên La- Hầu- La được học lại là cách thở?
Chớ sao? Thở chẳng phải là việc làm đầu tiên của đứa bé sơ sinh vừa rời bụng mẹ sao? Trong bụng mẹ, chưa cần thở. Tiếng khóc chào đời là một nhịp thở đầu tiên của kiếp người. Lớn lên, ta thường quên cách thở. Rồi khi ta thở cà hước, thở cà giựt… mới tiếc hồi nhỏ không học thở. Thở tưởng của ta mà không phải của ta… Thở ở ngoài ta. Thở cóc cần ta. Thở vốn tự động, do áp suất trong phổi mà khí tuôn vào hay tuôn ra. Nó gắn liền với cảm xúc. Điều tức (là điều chỉnh, kiểm soát hơi thở) thì sẽ “điều” được tâm. Muốn tâm an thì phải học cách điều tức là vậy.
Phật mất nhiều năm tu thiền vất vả, nhịn thở, nhịn ăn mà không thành công. Nhớ lại một lần còn nhỏ theo phụ thân coi Lễ Tịch điền tự dưng thấy thân thể nhẹ nhàng, lâng lâng, như không còn hơi thở nào nữa, hoá ra đó mới thực là thiền. Cái đó, trong Nam Hoa Kinh gọi là “Toạ Vong” “ngồi yên, biến mất”. Không để ý gì chuyện thở hay không thở nữa. Cái đó chính là tứ thiền “xả niệm thanh tịnh” rồi đó. Khi còn niệm thì không thanh tịnh nổi đâu. Dù cho đã có hỷ có lạc. Cho nên Lục tổ Huệ Năng lấy Vô niệm làm tông là rất đúng.
Các kinh sách dạy thiền có thể phân tách từng bước, từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền… Thực tế, các thiền sư thiện xảo ngồi xuống, ngay hơi thở đầu tiên đã có thể vào định sâu được rồi. Càng theo dõi, càng chia cắt, càng dính mắc, lúng túng. Ở tứ thiền đã gần như không cần thở nữa. Có thể vào diệt thọ tưởng định, mà không cần qua các tầng thiền vô sắc.
5 Trong thời đại ngày nay, “khẩu không chỉ là lời nói trực tiếp mà còn là những status trên mạng Internet”, cả các comment nữa. Làm sao để phân biệt “khẩu thiện” và “khẩu ác” trên mạng?
Đó chính là lúc phải quay về nương tựa chính mình. Coi lại mình đã bị “rung động” thế nào, đã bị “xao xuyến” thế nào rồi? Tốt nhất lúc đó nhớ lại câu Đà-la-ni trong Kinh Kim Cang: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm!) thì may ra mới thoát. Status, comments… nào làm cho ta sanh tâm chạy theo những cảm xúc đó, bị lôi cuốn vào cảm xúc đó, như khi bị dụ dỗ kiểu thực phẩm giúp trẻ mãi không già, xinh đẹp như xưa, “lương cao việc nhẹ” thì thế nào cũng sụp bẫy. Tóm lại, vì lòng tham mà không đạt thì sân (giận), thiệt ra cũng bởi vì Si, nghĩa là mê, là say, là ngu. Đáng đời. Ráng chịu. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
6 Anh có thể giải thích một cách dễ hiểu về “duyên sinh” không?
Hiểu được “duyên sinh” thì hiểu được Bát- Nhã, trang bị cho mình được cái gọi là “viên thành thật tánh”, một cái tánh sáng suốt, không bị che mắt, không bị dẫn dụ bởi bên ngoài nữa… Dẫn dụ bằng cái gì? Bằng cái danh, bằng cái tướng. Cái “danh” thì rỗn rảng, cái danh thì kêu to, chớp loà, khiến ta tưởng thiệt, tưởng bỡ. Y như con “thiêu thân” bị dụ bởi ánh đèn. Những danh, những tướng đẹp đẽ hấp dẫn khiến ta dễ dính mắc gọi là “biến kế sở chấp” là “y tha khởi”.
Duyên? Là những “điều kiện”. Có thể lấy một ví dụ đơn giản, với 3 phân tử Carbone (C), Hydrogèn (H), Oxygèn (O)… riêng lẻ thì không sao, tự dưng có cái men (điều kiện) gì đó tác động vô, thành đường glucose C6H12O6 ngọt ngào; nếu gặp cái men khác, cũng 3 món đó lại thành rượu (C2H5OH) cay đắng, rồi với men khác nữa lại thành giấm (CH3COOH) chua chát… Những ngọt ngào, cay đắng, chua chát đó trong đời sống hàng ngày của ta chẳng phải là do “duyên” gì đó sao? Rồi những RNA, DNA… kết hợp với nhau mà ra virus, vi khuẩn, khủng long, con người… Toàn là “duyên sinh” đó thôi.
Lý Duyên Sinh Duyên Khởi là cốt lõi của Phật giáo: cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không… Thập nhị nhân duyên, 12 nối kết, từ Vô minh sinh hành, hành sinh thức, thức sinh danh sắc, lục nhập… Nếu hiểu rõ con đường duyên sinh này – như một tiến trình tâm- từ ý thức đến hành động, cảm nhận, rồi “ái thủ hữu”, ta có thể “can thiệp” từng bước để cải thiện tiến trình duyên sinh của tâm, và… giải thoát nếu chấm dứt Vô minh. Có thể nói, hiểu được Duyên sinh, duyên khởi, ta hiểu nghiệp, luân hồi, nhân quả…
7 “Vô thường” là gì?
Vô thường là… thường! Đúng vậy, một cánh hoa đào rực rỡ đẹp tươi bỗng tàn héo dần, ai cũng thấy mới đó mà đã đổi thay, một sự “vô thường” không thể chối cãi. Thế nhưng, thử nhìn một cách khác. Những cánh hoa tàn úa đó cứ mãi mãi còn, cứ mãi mãi ở đó và tàn úa… thì tội nghiệp quá. Nó phải được đổi thay chớ. Nó phải được làm mới. Nó phải được rực rỡ đẹp tươi chớ. Cách nào? Thì “tiết mùa” sẽ giúp. Không hẹn mà đến/ không chờ mà đi/ bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta…(TCS). Và những cánh hoa đào theo tiết theo mùa kia vẫn mãi mãi rực rỡ đẹp tươi, chưa bao giờ tàn úa.
Chàng thi sĩ một hôm dừng chân bên song cửa, thấy cô nàng xinh đẹp bên đoá hoa đào, năm nay trở lại, những đoá hoa kia vẫn còn rực rỡ đẹp tươi, mà cô gái xinh kia đâu rồi, không thấy nữa. Mọi thứ vô thường quá. Nhưng những cánh hoa đào rực rỡ thì đang cười chàng: “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Cái “tiếu” đó mới vui làm sao! Hoa cười nhạo chàng thi sĩ ngờ nghệch. Cho nên nếu nhìn bằng con mắt Như Lai, hẳn đã thấy năm nào hoa cũng nở dưới gió đông này, vẫn rực rỡ tươi vui như thế. Còn người đẹp kia ư? Thì hết Dương quý phi có Bao Tự, hết Bao tự còn Chiêu quân… Có gì là vô thường đâu. Nhìn bằng con mắt Như Lai, thì làm gì có vô thường phải không?
8 Người sinh ra ai cũng có cái tôi (ngã), vậy “vô ngã” là sao?
Cái mà ta tưởng là Ngã đó, nó từ nhiều thứ mà ráp nối lại (Ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức), có cái gì riêng có thực tánh của nó đâu. Ta thử hít vào một hơi sâu, thật sâu, không được. Nó bắt ta phải thở ra. Ta thở ra thật dài, dài nữa. Không được. Nó bắt ta phải hít vào. Chuyện thở ra hít vào hàng ngày của ta mà ta cũng chẳng làm chủ nó được. Vậy có cái ta không? Nếu ta tưởng thiệt có cái ta thì ta sẽ khổ đau, vất và vì nó. Còn biết nó vô ngã, ta sống với cái vô ngã đó, chẳng phải hết khổ đau ư? Cho nên khi còn khổ đau, chưa “thấy biết” (giác ngộ) Phật dạy Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, Bất tịnh…
Khi đã thấu hiểu rồi, ta thấy Thường, Lạc, Ngã, Tịnh đó thôi. Phât là y vương, khi nguời ta bệnh hoạn, khổ đau, cho mấy thứ thuốc chữa triệu chứng, ráng nuốt. Khi hết bệnh không cần uống thuốc nữa. Phật nói ví như người say thấy đất đai nhà cửa cây cối ngả nghiêng, lúc tỉnh ra thấy đất đai bằng phẳng, nhà cửa cây cối… tĩnh yên. Cái “thấy biết” đó giúp ta cỡi bỏ khổ đau, thấy được an lạc.
9 Phật là một Y vương. Chỉ cách phòng bệnh, lại chỉ ra nguyên nhân bệnh và cách trị bệnh. Bệnh ở đây chính là khổ đau. Anh có thể tóm tắt nguyên nhân, đơn thuốc và cách phòng bệnh của Phật không?
Đúng, Phật là bậc Y vương, chữa được cả đau và khổ. Khác với bác sĩ, lương y, thường chỉ chữa được cái đau, cái bệnh… Mà ta biết, Khổ mới là cái gốc của đau, của bệnh. Bênh thân và bệnh tâm. Khổ phát sinh từ Tham sân và si. Nhưng tham sân si cũng chỉ là triệu chứng. Căn nguyên là Vô minh. Từ vô minh mà sinh hành, thức, danh sắc… có thể nói là con đường sinh bệnh học, sinh lý bệnh học. Lục phủ ngũ tạng quấn quít lấy nhau. Chỉ cần “chiếu kiến ngũ uẩn giai Không” (Tâm Kinh) thì đã thoát được vô minh, tức khắc “độ nhứt thiết khổ ách”.
Phật “chế” ra nhiều thứ “thuốc”, tuỳ căn cơ người bệnh mà “cho toa” sao cho phù hợp. “Sanh, bệnh, lão, tử” có lẽ là nỗi khổ, nỗi lo lớn nhất của kiếp người. Khổ vì sanh ư? Đã có vị Phật tên là Bảo sanh (Ratnasambhava) đây rồi, giúp sanh đẻ an toàn, Khổ vì bệnh ư? Đã có vị Phật là Dược sư (Bhaisajyaguru) cho thuốc. Khổ vì già ư? Có vị Phật Asucbệ (Asobhya), còn gọi Phật bất động, an nhàn. Khổ vì chết ư? Có vị Phật A Di Đà (Amitabha) rước về Tịnh độ… Vô số các vị “thuốc” để chữa vô số các bệnh khổ.
Con đường phòng bệnh khổ chỉ cần gom lại trong Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tính tấn, chánh niệm, chánh định. Thực hiện được Bát chánh đạo thì An vui và Hạnh phúc. Trong Bát chánh đạo, cũng chỉ cần một thứ thuốc cốt loĩ: Chánh định. Có chánh định thì có chánh kiến, chánh tư duy… Có chánh định thì thấy “Vô tướng thực tướng” thấy Như Lai.
10 Anh có thể giải thích và cho ví dụ về “Từ Bi Hỷ Xả”? Sao lại cần “Từ Bi Hỷ Xả”?
Nếu không Từ Bi Hỷ Xả thì ta cứ sống với lòng Sân hận, oán thù, ganh ghét, ghim gút… “Thù trả chưa xong đầu đã bạc!”. Từ là lòng Thương. Biết thương. Còn thương… Thí dụ “còn thương rau đắng mọc sau hè”! Cọng rau mà còn thương được thì lòng thảnh thơi biết bao. Lấy oán báo oán/ oán oán chồng chất/ lấy đức báo oán oán tiêu vong… Bi là làm vơi khổ. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Nếu chỉ biết thương thôi mà không có cách gì làm cho bớt khổ thì không đủ. Cho nên Từ đi với Bi là vậy. Hỷ là cái vui theo người. Khó. Người vui thì ta ganh ghét dễ hơn. Còn vui theo kiểu đãi bôi, nịnh bợ thì càng hại người. Xả là buông bỏ, là không còn dính mắc. Từ bi hỷ xả là Tứ vô lượng tâm. Mênh mông, không ngằn mé. Được chút mừng chút.
11 Có người tiếp cận Đạo Phật như một tôn giáo, có người lại coi là môt triết lý sống. Theo anh, cách nào đúng?
Trong cuộc sống bình thường, ta cần có một “triết lý sống”, tìm kiếm một cuộc sống an lạc, hạnh phúc. Chúng ta có thể thực hành Giới Định Huệ để giảm trừ Tham sân si. Chỉ cần giữ ngũ giới, có thể là đã đủ. Không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không nghiện ngập… Và nếu được, Từ Bi Hỷ Xả. Nhưng con người còn có phần tâm linh. Chưa biết hết, chưa hiểu hết được. Dân gian gọi “ba hồn chín vía”. Các nhà xã hội học tìm thấy có những đứa trẻ sống trong rừng sâu, không hề biết đến con người, khoảng tám tuổi bỗng đặt mấy cục đá xếp thành tầng cao, rồi quỳ lạy, cầu nguyện. Cái gì vậy? Không biết. Có cái gì đó thuộc về “tâm linh”.
12 Theo cách anh hiểu về Đạo Phật, sau cái chết có còn linh hồn không? Linh hồn đó sẽ làm gì, đi về đâu?
Phật giáo không nói về “Linh hồn”. “Linh hồn” là vĩnh cửu, trường tồn, không thay đổi gắn vào thể xác, và cái chết là tách rời thể xác với linh hồn. Thiện, được vào nước Thiên đàng vĩnh viễn; Ác, thì vào địa ngục vĩnh viễn. Phật giáo không tin có một Đấng Tạo hoá quyết định việc ban thưởng hay trừng phạt. Phật giáo cho rằng mọi thứ do Duyên sinh. Một kẻ làm ác, ở địa ngục, có thể trở thành nguời Thiện, lên làm người, làm Phật. Một người ở cõi thiên, có thể bị đoạ xuống địa ngục vì làm Ác . Quan niệm này cho con người một Tự do tuyệt đối. Cho nên Phật giáo chỉ nói “Thần thức” là phần tách khỏi thể xác khi chết, tuỳ nghiệp duyên mà tái sanh.
13 Anh từng nói “trái tim nghĩ bằng tình, khối óc nghĩ bằng lý”. Phật pháp là tình hay lý?
Phật lúc nào cũng có hai vị Đại Bồ-tát đứng hai bên. Bên trái là Văn Thù Bồ-tát, cưỡi sư tử, tay cầm kiếm báu. Tiếng sư tử rống lên thì muôn thú đều khiếp vía. Vung gươm báu thì chặt đứt phiền não. Còn bên phải là Phổ Hiền Bồ-tát, cưỡi voi 6 ngà và tay cầm đoá hoa sen… Voi mới đủ sức chở nặng giáo pháp đến giúp chúng sanh. Voi 6 ngà tượng trưng cho 6 phương pháp giúp thành tựu trên con đường học Phật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ. Đó là “Lục độ Balamật”. Thú vị, khoa học biết rõ hai bán cầu não mỗi bên chịu trách nhiệm một thứ: bên trái, lý; bên phải, tình. Nặng một bên sẽ không đạt kết quả tốt. Ngày nay khoa học não bộ cũng thấy hai bán cầu não có khả năng nối kết được với nhau.
14 Theo Đạo Phật, con người sinh ra trên đời để làm gì?
Có người nói sinh ra trên đời để… chết? Có người bảo sinh ra trên đời để… sống? Có người nói “bất sinh bất diệt”, không có sống có chết gì cả!
Nhưng có lẽ người ta sinh ra trên đời là để “trả” cái Nghiệp của mình. Nghiệp phát xuất từ Thân, Khẩu,Ý, nhiều kiếp sống đã tạo nên, đã tích luỹ. Có Nghiệp thiện và nghiệp ác. Có thể coi nghiệp là nhân sẽ sinh ra quả. Nhưng từ nhân mà sinh quả, phải có duyên. Không có duyên thì hạt giống tốt cũng bị huỷ hoại đi. Duyên là những điều kiện tác động để nghiệp thành quả. Hiểu Duyên sinh thì hiểu luân hồi, tái sinh, nhân quả là vậy…
Thật ra có nhiều câu hỏi Phật cũng bảo không nên trả lời. Một người bị tên, phải cứu chữa ngay cái đau của họ, đừng hỏi ai bắn mũi tên này, tại sao bắn, bắn để làm gì… vô ích.
15 Trước một người muốn bớt đau khổ nhưng chưa biết về đạo Phật, anh sẽ cho lời khuyên gì?
Có khi không cần phải khuyên gì cả. Khuyên cũng chẳng ai nghe. Đau khổ của mỗi người do nghiệp do duyên của họ. Họ phải được trải nghiệm. Tự rút ra bài học. Tuy nhiên cũng có khi Phật cho lời khuyên như chuyện một bà mẹ có con bệnh chết, bà đau khổ cùng cực, muốn chết theo. Có người khuyên tìm Phật xin phương thuốc cứu con sống lại. Phật khuyên bà đi vào từng nhà trong làng, hỏi nhà nào xưa nay chưa từng có ai chết thì xin môt nắm tro trong bếp, mang về Phật sẽ chỉ cách làm thuốc cứu con. Bà đi nhiều năm tháng, hết làng này sang làng khác, không tìm thấy nhà nào không từng có người chết nên trở về lạy Phật xin quy y. Nếu ngay từ đầu Phật bảo “Ai mà chả chết, nhà nào chả có người chết, đừng buồn đau nữa…” liệu có khuyên được bà mẹ đó không?
16 Anh viết: “Một hôm hơi thở tình cờ / Dính vào hạt bụi thành ra của mình.” Có ngụ ý gì liên quan đến Phật pháp trong câu này không?
Có đó chớ. Nhưng phải đọc luôn hai câu đầu: “Lắng nghe hơi thở của mình/ Mới hay ra hơi thở đã nghìn năm xưa…” Nếu ta biết nhìn bằng con mắt ngàn năm, ta thấy trên Hy mã lạp sơn vốn xưa kia là biển, nay vẫn còn muối và các vỏ sò ở đó. Còn dưới đáy biển sâu kia, những thành phố đang chìm trong nước… Từ khi có loài người trên quả địa cầu ta đang sống này đã có bao nhiêu người đã chết? Họ chỉ để lại những hạt bụi đó thôi. Trong Phật giáo cũng có một thứ Ấn gọi là “Ấn điạ xúc” rất hay. Khi nổi cơn giận dữ, ta đưa ngón tay ấn vào trong đất, sẽ hết giận ngay vì nhớ ra rằng ta chính là hạt bụi trong đất này thôi. Kẻ thù ta cũng vậy. Hơi thở mà “tình cờ” dính vào hạt bụi thì lại do duyên. Hai chị em Thuý Kiều Thuý Vân, cùng cha cùng mẹ, vậy mà hai kiếp sống khác nhau đế ngàn sau đoạn trường đó thôi?
17 Anh khuyến khích mọi người nên sống “ở đây và bây giờ”. Anh có thể lấy ví dụ cụ thể không?
Tôi đang khuyến khích mình đó chớ. Nếu biết sống “Ở đây” và “Bây giờ” thì hẳn đã là hạnh phúc. Có điều hết tiếc dĩ vãng thì mơ tương lai… Tiếng Anh có một từ hay: Present là “có mặt”, Present là “hiện tại” và Present cũng có nghĩa là món quà. Đó là món quà dành cho người có mặt ở thời… hiện tại. Còn ta cứ mãi loay hoay…
18 Nói về chuyện ăn, anh viết: “Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ cái bao tử “
Ăn là một chuyện “lớn” không thua gì thở. Vì thức ăn kết hợp với hơi thở tạo nên năng lượng cho ta hoạt động hàng ngày. Năng lượng đó được tạo ra từ trong mỗi tế bào. Mỗi tế bào có Mitochondria (Ty thể) là nhà máy sản xuất năng lượng. Phật nói về thức ăn của thể chất và thức ăn của tâm hồn. Thực ra, thức ăn của thể chất cũng là thức ăn của tâm hồn đó chớ! Tàn Dà nói: Đồ ăn ngon, người ngồi ăn không ngon, không ngon. Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, không ngon. Cái chuyện ngon không ngon là chuyện tâm hồn phải không. Ăn là một vấn đề… văn hoá. Nhiều món quý chỗ này thì chỗ kia chê, không biết ăn. Camembert của Pháp. Mắm Bò hốc của Kampuchia. Mắm ruốc, mắm sặc ở ta… Món bánh căn nghèo của Phan Rang, Phan Thiết chẳng phải là món ngon nhứt sao? Nhiều bạn bè tóc bác phơ, ở nước ngoài về thăm quê bao giờ cũng đòi ăn cho được mấy món “nhà quê” đó.
19 Theo anh, có thể có những giây phút “giác ngộ” trong đời sống thường nhật không?
Có chớ. Và thường nữa. Có điều ta không ghi nhận và duy trì nên nó tự xoá đi. Ta làm vỡ một cái chén sứ đẹp. Tiếc quá, sực nhớ cái chén đó làm từ gốm và… gốm thì trở về với đất để chờ làm cái chén sứ khác. Thấy cánh hoa tàn úa, tiếc quá, phải chi nó cứ mãi đẹp như thế. Ta thấy ta… già đí, tiếc quá, phải chi cứ còn trẻ mãi. Mà quên nghĩ rằng cánh hoa phải tàn đi để tạo nên một cánh hoa khác rực rỡ, đẹp đẽ hơn. Ta phải… già đi để con cháu ta có cơ hội lớn lên, nếu không… Cái đó là cái “Thấy biết của Phật” (Phật trí kiến). Vì ta cũng có Phật tánh, có Pháp thân như Phật nên ta cũng thấy biết chút chút, khác với Phật chỗ ngài thấy biết hoàn toàn, “toàn giác”. Phật không chỉ thấy biết gốm sứ từ đất, thuỷ tinh từ cát… nên bể cái gốm sứ, vỡ ly thuỷ tinh Phật cười còn ta khóc.
Thiệt ra Phật thấy rõ, tất cả đều đến từ vô tướng, nên cái ta thấy, ta có, chỉ là cái giả tướng, cái thực tướng mong manh đó thôi, nó vô thường, vô ngã. Khi ta thấy vô tướng thực tướng thì ta đã thấy… Như Lai. Người khéo tu hành, luôn an nhiên, tự tại. Rồi đến một tuổi nào đó, ta không muốn giác cũng giác, không muốn ngộ cũng ngộ… đó thôi!
20 “Chữa lành” là một trong những từ đang được nhắc nhiều nhất trên mạng, đặc biệt với người trẻ. Đạo Phật có thể chữa lành cho người trẻ không?
Được quá đi chớ! Nhưng “người trẻ” đã mắc phải bệnh gì mà muốn “chữa lành”? Bệnh thì có bệnh thể chất, bệnh tâm thần và bệnh xã hội… Về thể chất, nói chung, người trẻ thường là người khoẻ mạnh, ít đau ốm bệnh hoạn như người… già. Thế nhưng nguời trẻ thường nhìn người hàng xóm, thấy họ cao ráo, vai u thịt bắp, lực lưỡng, bèn đi cắt xương ống chân, nâng cao thêm vài tấc, tập thể lực và dùng thuốc cường cơ cho thịt săn cứng lại khoe 6 múi… thì chữa không lành được. Cô gái yểu điệu thục nữ, giờ muốn giống hoa hậu, bơm mông, nâng ngực, độn chỗ này, xẻ chỗ kia để bằng bè bạn… chữa lành hổng nổi! Tóm lại, cũng chỉ vì lòng tham, muốn, ganh tị… mà ra! Khi không đạt được mong muốn, thì sân hận, căm thù… Sửa mũi thì mũi xẹp, sửa mắt thì mắt mờ. Đại khái, họ không chấp nhận mình là mình.
Cho nên suy gẫm cuộc đời với biết bao nhiêu khổ đau… Phật gom lại chỉ có 3 nguyên nhân chánh: Tham – sân- si. Con đường an lạc chính là Giới- định- huệ. Giới thì giảm lòng tham, lành bệnh tham, Định thì giảm lòng sân và Huệ thì… hết vô minh. Ít nhất dòm qua cũng biết cái đẹp hào nhoáng kia, cái đẹp mơ ước kia là của giả, độn thôi, có khi là vài túi nước muối, nhẹ tay coi chừng vỡ.
Chỉ có cách tự mình chữa cho mình thôi. Gặp thầy thuốc không tốt, thầy sẽ dọa thêm cho tăng nỗi lo âu, tốn kém. Gặp thầy tu bất hảo thầy sẽ hù thêm cho sợ hãi… Căng thẳng, lo âu, sợ hãi… dẫn đến trầm cảm, khó mà lành nổi. Nếu hiểu biết, chấp nhận mình, sống không đua đòi, ganh tị, hoà hợp với thiên nhiên, xã hội thì không chữa cũng lành. Các nhà khoa học khuyến khích người trẻ nên sống gần gũi với thiên nhiên, thiểu dục tri túc, thực tập 3 thứ: Thể dục, trí dục, đức dục như người xưa dạy, và tìm cho mình một chút giải khuây: cầm, kỳ, thi, hoạ… có thể từ đó mà an nhiên, tự tại, không chữa cũng lành!
21 Lòng tin vào nhân quả đôi khi khá trừu tượng. Khi một người sống tốt nhưng lại luôn gặp bất công, họ rất dễ mất lòng tin.
Nhân quả có thể thay đổi. Nhân quả do nghiệp, do duyên. Án Anh đi sứ nước Sở nhớ không? Cây quít ngọt ở Giang Nam, đem trồng ở Giang Bắc thì sinh trái chua… Ấy là do thổ nhưỡng, do chăm sóc, tưới tẩm của con người. Nghiệp cũng có thể thay đổi. Cách sống của ta ngay ở đây và bây giờ là do ta quyết định, ta tự do chọn lựa. Phật giáo tin vào con người. “Tánh Phật”có ở mỗi người.
22 Tại sao muốn sống an lạc cần có cả trí tuệ và từ bi?
“Từ” là lòng Thương. “Bi” là giúp giảm khổ. “Từ năng dữ lạc. Bi năng bạt khổ”. Không chỉ phải có lòng thương rộng lớn, không phân biệt, mà còn phải có cách cứu giúp, làm cho vơi bớt khổ đau. Tình thương có thể an ủi, làm vui, nhưng vẫn không giảm được khổ. Từ bi mà không có trí tuệ còn dễ bị mắc bẫy, bị gạt gẫm. Thời buổi này càng cần phải cảnh giác. Nên phải có Trí Tuệ đi với Từ Bi. Quan Thế Âm Bồ- tát có ngàn tay ngàn mắt, trong mỗi bàn tay đều có một con mắt là thế!
23 Đức Phật là một vị thánh toàn năng, hay cũng là người thường như chúng ta?
Phật không phải thánh, không phải thần. Phật là người… thường như chúng ta, có điều, Phật là ngưới đã giác ngộ rốt ráo, đã “thấy biết” toàn diện (Tri kiến Phật), chớ không loay hoay như ta… Ta cũng có Phật tánh. Cho nên Phật bảo “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Ai cũng sẽ là Phật cả, nếu giác ngộ, giải thoát. Kinh Pháp Hoa chỉ có một mục đích là “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Tri kiến Phật”. Khai thị là “mở ra, bày ra cho thấy”. Thấy cái gì? Thấy cái “Tri kiến Phật”, tức là cái thấy cái biết của Phật. Đó là cái thấy biết “Vô tướng thực tướng”, thấy biết Như Lai.
24 Có cần niệm Phật hay tụng kinh mỗi ngày không, hay chỉ cần thiền và thở đúng thôi, để có an lạc?
Niệm Phật là một cách tốt nhắc nhở ta một tấm gương để noi theo. Nhưng niệm Phật cũng là cách để tâm không vướng bận những thứ linh tinh khác. Niệm có nghĩa là đặt tâm vào ngay thời điểm hiện tại, quên đi tất cả chung quanh, phiền não các thứ, từ thân đến tâm… Cho nên có pháp môn Niệm Phật. Tụng kinh cũng vậy. Tâp trung vào kinh, vào “tụng” thì không còn vướng bận những thứ khác. Vậy tụng kinh, niệm Phật cũng là những pháp môn. Nhưng với Kinh, còn cần phải hiểu, phải thực hành. Nếu không, dễ tẩu hoả nhập ma vì mê tín, tưởng Phật là thánh thần mà cầu xin, lạy lục. Thiền sư Như Huyễn (năm nay 98 tuổi) có bài thơ “Thay lời Phật” thú vị như sau: Ta nói kinh cho chúng nó nghe/ Chẳng ngờ chúng “tụng” bắt ta nghe/ Tuổi già tám chục nghe gì nữa! Chín tiếng ngồi trân sụm bánh chè! (Thich Từ Thông, Như Huyễn Thiền Sư Thi Tập). Học kinh phải hiểu để ứng dụng vào đời sống, chớ không chỉ “tụng” rồi cầu Phật chứng giám, ban phước!
25 Không ăn chay có thể có an lạc không?
Ăn chay để làm gì? Phật đâu có ăn chay. Phật ăn gì cũng được. Thí chủ cho gì ăn nấy. Đi khất thực mà. Không lẽ đi khất thực mà nói tôi chỉ ăn chay thôi. Chắc dễ bị đói. Nhưng Phật chỉ khất thực vừa đủ… và ăn bất cứ thứ gì trong bình bát khất thực cũng là “ăn chay” cả đó thôi.
Phật dạy có 4 nhóm thức ăn là Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực. Bốn nhóm thức ăn đó chỉ có Đoàn thực dành cho thân, còn Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực dành cho tâm. “Xúc thực” đáng sợ, nhất là thời đại AI, internet … Với cái điện thoại thông minh trên tay, mỗi ngày ta “xúc thực” biết bao nhiêu điều, cả tôt lẫn xấu, tràn ngập trong tâm trí. Ta căng thẳng, ta mất ăn mất ngủ… Tư niệm thực là những món nhớ nghĩ triền miên, quay cuồng đầu óc, với những lo âu, oán trách, căm thù, sợ hãi… Rồi Thức thực mới là món ăn đáng sợ nhất, đó là phân biệt, là tranh cãi, là hơn thua, là đấu đá… là chiến tranh một mất một còn…
26 Anh có thể giải thích lý do Phật chọn năm giới căn bản cho Phật tử không? Giữ năm giới này thì được lợi lạc gì?
Lợi lạc nhiều chớ. Không sát sanh. Không trộm cắp. Không nói dối. Không tà dâm, Không nghiện ngập… Chừng đó đã đủ cho một nếp sống An lạc, Hạnh phúc cho một kiếp người. Bão lũ, động đất, núi lửa, sóng thần… chưa đủ sao mà con người còn tự gây chiến tranh khắp nơi với những thứ vũ khí ngày càng ghê gớm. Cái ăn của con người cũng vậy, sát sanh ngày càng nhiều.
Không trộm cắp ư? Tham nhũng là một dạng trộm cắp kinh khủng nhất. Một dạng tạo nghiệp lớn nhất. Không nói dối? Thử xem… “Quân tử nhứt ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tủ khôn”! Fake news, deep fakes… phổ biến, phát triển mạnh mẽ.
Không nghiện ngập ư? Xưa chỉ nói đến rượu, bây giờ thì nghiện đủ thứ, ngày càng nguy hiểm độc hại. Thực hiện được phần nào trong năm giới là tốt phần đó. Từ ngũ giới còn tiến lên “thập thiện” là 10 điều lành. Không chỉ không sát sanh mà còn “dưỡng sanh”. Bảo vệ môi trường. Chống biến đổi khí hậu…; Không chỉ không trộm cắp mà còn “bố thí”- bố thí “balamật” tốt nhất vì không có tính toán lợi dụng trong đó. Không nói dối, mà còn nói lời chánh ngữ, ái ngữ…
27 Phật có nói một Kinh tên là “Người biết sống một mình”. Cái tên Kinh rất lạ! Anh có thể nói đôi điều về kinh này không?
Sống một mình tưởng là sống một mình mà không phải một mình. Nhiều người cũng thường sống một mình, thậm chí trốn lên núi cao rừng thẩm mà không thể sống một mình được. Bởi tâm họ không sao thoát được những hình bóng khác, những chuyện đã qua và luôn tràn ngập những chuyện sắp tới. Họ buồn, họ tiếc, họ vẽ vời… Nói chung, là “bấn xúc xích” với những lo âu, phiền muộn, sợ hãi, yêu thương, ước vọng, hờn oán… “Người biết sống một mình” thực sự như trong Kinh Phật dạy là biết sống “Ở đây và bây giờ”, không ước vọng tương lai, không tiếc nuối quá khứ… Sống được như thế thì lòng mới thanh thản, mới “một mình” được vậy. Bằng cách nào ư? Có đó. Con đường Thiền mở rộng trước mắt.
16.5.2025
Bài 3: Hỏi- Đáp về Tình Yêu và Cuộc Sống
1 Trong thời đại kết nối ảo nhiều hơn thật, anh nghĩ tình yêu sẽ thay đổi ra sao so với ngày xưa lúc người ta kết nối với nhau bằng cách gặp gỡ và thư từ?
Thay đổi nhiều chớ. Thay đổi đến chóng mặt! Hồi xưa hả? Còn có “phúc hôn” là hai trẻ yêu nhau từ trong bụng mẹ. Hai bà bầu hẹn nhau, hai đứa là trai với gái thì sau này thành vợ chồng nhe. Rồi trao lễ vật làm tin.
Rồi tới thời phải có mai mối: “em tuy mới mười lăm, mà đã lắm người thăm, nhờ mối mai đưa tiếng…” (NNP).
Nhiều đôi vợ chồng không hề biết mặt nhau, đến ngày cưới còn có khăn che mặt, vậy mà họ ở với nhau tới đầu bạc răng long, con cháu đầy đàn. Thư từ ư? Con gái có thời không cho học chữ, sợ nó viết thư cho trai. Cái thời đó lạ lắm, ca dao có câu “trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng, dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai”!… Còn thời không xa đây lắm, yêu nhau đâu có dám nói. Cho nên “…Bài thơ cứ còn hoài trong cặp/ giữa giờ chơi mang đến lại mang về!” (ĐTQ)…
Nghe những chuyện tình xưa như vầy, các bạn trẻ sẽ cười bể bụng! Một bức thư tình qua email có thể gởi cho nhiều người cùng lúc… Tỏ tình thì xếp hoa thành hình trái tim trong sân trường… cho máy bay phất phới “I love you” trong gió, quỳ gối nâng hộp kim cương… Nồng cháy lắm, mà lạ, tan vỡ rất nhanh.
Người ta còn yêu nhau xuyên đại dương, qua chat, qua máy tính, qua smartphone… Không biết sau này còn có những kiểu tình yêu gì khác nữa, với thời Robot, AI… Những mối tình giữa người với robot, giữa robot với robot. Con cái không phải lo. Tinh trùng và trứng có bán đầy ở… siêu thị!
Không đâu! Tôi tin đến một lúc, người ta quay lại thời xa xưa thôi. Tình yêu linh thiêng lắm. “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi/ lại thấy trong ta hiện bóng… con người” (TCS).
Trên thực tế, hiện vẫn thấy những cuộc tình, những cuộc hôn nhân tốt đẹp nhờ internet, kết nối, giúp tìm hiểu nhau, tâm đầu ý hợp, lại tìm thấy nhau như hẹn nhau từ muôn kiếp trước vậy! Cứ yên tâm.
2 Theo anh, câu “tình chỉ đẹp những khi còn dang dở” có đúng không?
Không đâu. Không ai mong cho tình dang dở để nó “đẹp mãi” đó đâu! Mấy nhà thơ thất tình bày đặt để tự an ủi đó thôi.
“Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở/ Đời mất vui khi đã vẹn câu thề” là chuyện riêng của Hồ Dzếnh thôi, không phải của tất cả mọi người.
3 Anh có cho rằng phải có thử thách thì tình yêu mới trở nên sâu sắc không?
“Thử thách” là sao không hiểu? Có phải là làm cho tan vỡ, cho lìa xa, để hạnh phúc hơn khi tái hợp? Hạnh phúc và khổ đau có thể là một? “Tình yêu đến tình yêu đi ai biết? Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt?” (Xuân Diệu) để “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ không muốn chữa không chịu lành thú độc?” (XD). Có người thích như thế, họ nuôi vết thương, khoét cho nó sâu thêm để tìm “thú độc”, “thú đau thương” nhưng hình như người trẻ bây giờ thường tìm cách “chữa lành” đó thôi!
4 Có khi nào anh thử so sánh chức năng của trái tim của cơ thể và trái tim trong tình yêu không?
Ai lại đi so sánh chuyện như vậy? Trong tình yêu, trái tim của cơ thể đã hoàn toàn đổi khác. Nó loạn nhịp. Nó mềm nhũn. Nó thổn thức. Nó đau đáu… Và nó có lý trí riêng của nó. Nhớ phải lắng nghe và tôn trọng nó.
5 Anh có tin vào duyên phận không?
Có. Tôi tin duyên phận. Không duyên không phận sao nó đưa đẩy cho kết nối “đúng khớp” như vậy được? Nhưng cái gì làm ra duyên đó? Có cái phận, tức là cái nghiệp chăng?
Nghiệp, là kinh nghiệm được tích lũy và tồn tại trong nhiều đời sống. Không có thời gian, không có ký ức thì lấy đâu cho nghiệp vận hành, tạo tác, lưu trữ, lưu xuất, dị thục, nhân quả? (Tuệ Sỹ).
Câu hỏi đặt ra là có thực không có nhiều đời sống? Một đời trước và đời sau – những đời sau- để cho ký ức gợi lại, dị thục, nhân quả. Bằng chứng đâu? Nhưng hỏi tôi tin không? Tôi tin. Tại sao tin? Không biết! Phải chăng, thỉnh thoảng ta gặp một người nào đó thấy như đã từng hẹn nhau từ muôn kiếp trước, hay một nơi chốn nào đó thấy như về mái nhà xưa?
6 Làm sao để giữ được sự dịu dàng trong tình yêu, khi xã hội ngày càng khắc nghiệt?
Đâu có mắc mớ gì đến “xã hội” ngày càng khắc nghiệt ở đây? Khắc nghiệt là chuyện bên ngoài, dịu dàng là chuyện bên trong. Đóng kịch “dịu dàng” cho vừa lòng xã hội ư? Trước sau gì cũng lộ tẩy, tan vỡ! Cứ tự nhiên. Nó vậy là nó vậy. Con gà mà bắt chưóc thiên nga, nhảy xuống hồ bơi thì biết!
7 “Càng trưởng thành càng khó yêu.” Đúng không? Anh nghĩ trưởng thành có làm mất đi sự ngây thơ cần thiết cho tình yêu không?
Ai nói “ngây thơ” cần thiết cho tình yêu? Ý là càng ngây thơ càng dễ bị dụ, dễ bị sụp bẫy phải không? Vậy thì tội nghiệp cho cái gọi là tình yêu quá! Tôi thấy nhờ trưởng thành mà tình yêu mới chín muồi, mới “rụng” cái rụp chớ. Yêu nhau đâu phải nhờ vào sự ngây thơ, ngu dốt, bị lường gạt, lừa đảo? Ồ, nhưng mà, ngày nay người ta giả bộ ngây thơ nhiều lắm thì phải? Bẫy giăng ra, bẫy sụp thì ai cũng… mừng!
8 Với anh, tình yêu và lòng từ bi có khác nhau không?
Khác xa chứ! Từ là Thương, Bi là giúp làm giảm khổ. “Tứ vô lượng tâm: Từ bi hỷ xả” là rất quan trọng, trong đời sống hàng ngày: ” Từ năng dữ lạc. Bi năng bạt khổ. Từ mang tới niềm vui, Bi làm cho bớt khổ. Ở đây chắc muốn hỏi về “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (TCS) phải không? Vậy là yêu vì thương hại, vì thấy tội nghiệp. Tình yêu chân chính chắc phải đòi hỏi sự tôn trọng và bình đẳng, không phân biệt.
9 Theo anh nên làm sao để “yêu” mà không hóa thành “ràng buộc”?
Là tại lòng tham. Tại muốn “ràng buộc”! Cho nên Từ Bi phải luôn đi với Trí Tuệ. Người xưa khuyên “tương kính như tân”, lúc nào cũng như “tình đầu”. Mà, nếu không được như tình đầu thì… như tình cuối cũng tốt.
10 Làm sao để có thể yêu mà không đòi hỏi, khi mỗi cá nhân phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao hơn từ xã hội và gia đình?
Nhu cầu đòi hỏi đó có chính đáng không? Khi người ta đã thực sự yêu nhau thì người ta đâu cần để ý gì đến đòi hỏi của xã hội và gia đình. Người ta có thể chủ động vượt qua mà! “Mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua” đó thôi.
11 Anh nghĩ tình yêu có thể cứu rỗi một người đang mất niềm tin vào cuộc sống không?
Có. Chắc chắn có. Đó là thứ tình yêu chân thật. Khi người ta mất niềm tin về cuộc sống thì tình yêu chân thật sẽ “cứu rỗi” được ta.
12 Nhìn lại thế giới hôm nay, anh thấy căn bệnh tinh thần lớn nhất của con người hiện đại là gì?
Là Tham Sân Si. Vì lòng tham thì không đáy. Lòng sân (giận) thì “nộ khí xung thiên”, và lòng Si vì không “thấy biết” (tri kiến) đúng. Không thấy biết cái Không, cái duyên sinh, cái nhân quả, cái thiện cái ác…! Hồi xưa có một ông Vua hùng mạnh dặn hầu cận mổi sáng nhắc ông: Nhà vua cũng chỉ là người!
13 Anh nghĩ sao về nỗi cô đơn thời kỹ thuật số, khi một người có thể nói chuyện với hàng trăm người mà vẫn thấy cô đơn?
Cho nên người ta chỉ cần có một nguời để “nhìn nhau không nói” là đủ hạnh phúc lắm rồi!
14 Nếu có một “toa thuốc” cho xã hội hôm nay, anh sẽ kê những gì?
Quay về nương tựa chính mình và thực hành Giới Định Huệ. Sẽ nhìn ra vũ trụ mênh mông không ngằn mé kia là chính cơ thể mình. Nối các mao mạch của cơ thể, dài đủ 2 vòng trái đất. Mỗi ngày tim đập đủ nâng một sức nặng bằng đầu máy xe lửa…
15 Nhiều người trẻ đang hoang mang vì thế giới quá nhiều biến động. Theo anh, “bình an nội tâm” bắt đầu từ đâu?
Không từ bên ngoài mà từ bên trong. Thế giới phải luôn luôn “đầy biến động” như vậy mới là… thế giới. Biến động cũng như sóng biển thôi, có khi sóng lăn tăn, có khi ầm ào đập vào bờ đá, tung toé khắp nơi, có khi sóng thần, có khi bão tố… Sóng ít khi yên tĩnh. Nó luôn xao động, bởi có gió, bờ cát, vách đá, bê tông chắn sóng… Nhưng dù thế nào thì nó vẫn là nước. Nếu nó biết nó vốn là nước thì nó “bình an”.
“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (TCS) nhớ không? Bát chánh đạo là phương pháp tốt nhất để mình được bình an như thế! Chánh kiến/ chánh tư duy/ chánh ngữ/ chánh nghiệp/ chánh mạng/ chánh tinh tấn/ chánh niệm/ chánh định. Nghe lùng bùng lỗ tai, thiệt ra nó chỉ là Tam học: Giới Định Huệ, để trừ Tam độc là Tham Sân Si đó thôi. Nhờ giới, ta bớt tham, nhờ định ta bớt sân (giận) và nhờ huệ (Tuệ) ta bớt si. Bớt thôi nhe. Bớt là quý rồi.
16 Anh có nghĩ rằng con người đang sống quá nhanh nên không còn kịp lắng nghe chính mình không?
Đúng là “quá nhanh quá nguy hiểm”! Nhưng con người vốn “tự do” mà. Do mình muốn chậm thì chậm, muốn nhanh thì nhanh đó thôi. Đừng đổ thừa. Nếu biết sống “thiểu dục tri túc” (biết đủ, ít ham muốn), biết “nguỵệt lai môn hạ nhàn” (trăng treo cửa sau là Nhàn) thì còn kiếm đâu xa. Ta sẽ có nhiều thì giờ hơn để lắng nghe chính mình thôi.
17 Khi thế giới đầy bạo lực và điều ác, niềm tin vào cái thiện còn chỗ đứng không?
Thiện thắng ác, chánh thắng tà. Ngàn đời nó vậy. Nhân quả nó vậy. Nhưng từ nhân đến quả, phải có cái gì đó gọi là “duyên” xúc tác phải không? Cẩn thận với duyên. Cây quít ở Giang Nam thì có trái ngọt, đem qua Giang Bắc thì sinh trái chua, đó là do thổ ngơi, do cách chăm sóc, tưới bón…
18 Trong y học và đời sống, anh đã nói về “sống chậm”. Với nhịp sống ngày càng nhanh như hiện nay, liệu sống chậm có còn phù hợp không?
Tuỳ mục đích sống của mỗi người. Như một hoàng tử ngày xưa được vị thần cho cuộn chỉ thời gian, chàng kéo thật nhanh để mau được làm vua, xây tam cung lục viện, đánh nam dẹp bắc, khi nhìn lại, giật mình, cuộn chỉ sắp hết, chàng vội cuốn ngược lại mà không sao được nữa! Nó vậy đó. Tuỳ mục đích sống mỗi người.
Gần đây thấy có mấy du khách ở Âu Châu về Việt Nam chơi, chỉ thích đi xe lửa chạy chậm như rùa của mình, khoái trá lắm vì có dịp thấy phong cảnh hai bên, thấy sinh hoạt của con người… nói chung họ thưởng thức sự nhẩn nha hiếm thấy ở xứ sở họ. Tôi cũng có dịp đi xe lửa “đầu đạn” ở Nhật, xe vèo vèo không thấy được phong cảnh hai bên coi nó thế nào nữa! Tóm lại, tuỳ mục đích đời sống của mọi người thôi nhe.
19 Theo anh, ý nghĩa cuộc sống của con người nằm ở đâu?
Tôi nghĩ, ở chỗ tìm kiếm hạnh phúc. Hạnh phúc có đó rồi mất đó, lại hùng hục chạy đi tìm kiếm cái khác. Sau cùng thì thấy hoá ra hạnh phúc ở ngay đây, ở sát na này. Thì ra tất cả là chân Không, tất cả là Diệu hữu. Chân Không mà diệu hữu. Diệu hữu mà chân Không. Thật thú vị. Ai thấy biết vậy thì đã an lạc, ở đây và bây giờ. Biết tri Túc, Biết tri Nhàn. Đó là cái “tri kiến” của Phật, đã “khai thị” cho chúng sanh để “ngộ nhập” từ Kinh Pháp Hoa, ngay dưới chân núi Linh Thứu… hơn hai ngàn năm trước. Tiếc thay, có đến mấy ngàn người đã lẳng lặng bỏ đi, không thèm nghe!
Nhưng chuyện không dừng ở đó. Ý nghĩa cuộc sống có lẽ phải bắt đấu từ câu hỏi, ta là ai, ta từ đâu đến? và sẽ đi về đâu?
Cho nên ý nghĩa cốt lõi của con người cũng như mọi sinh vật là sự tồn tại cá nhân và duy trì loài giống. Để tồn tại, con người phải thích nghi được với môi trường. Người Eskimo sống khác với người nhiệt đới xích đạo. Người Tây Tạng khó mà trường chay được. Và phải có nhiệm vụ “truyền giống” bằng cách nào đó để duy trì giống loài. Tại sao thì không biết. Không chỉ con người mà con giun cái kiến cũng phải vậy. Hình như nó có một thiết kế vĩ đại, tuy có thể không có nhà thiết kế như nhà bác học Hawking đã nhận định.
20 Với một người trẻ chưa có gì trong tay, anh sẽ nói gì để giúp bạn ấy tin vào tương lai?
Nếu hỏi hồi tôi còn trẻ, “chưa có gì trong tay” thì tôi “nói với tôi” điều gì thì còn có thể trả lời được. Thời đại ngày nay thì tôi chịu! Người trẻ bây giờ không ít bạn mơ thành tỷ phú một đêm, đi dạo trong vũ trụ với các phi thuyền giữa các hành tinh, hẹn với người yêu cách xa ngàn năm ánh sáng chỉ cần cái nhấp chuột… Dĩ nhiên bên cạnh đó là nhưng người trẻ sống một cách khác, tìm kiếm an lạc, hạnh phúc một cách khác cho mình và cho người.
Thời tôi, khi mới lớn, tôi đọc Tương lai trong tay ta, Bảy bước đến thành công, Rèn nghị lực để lập thân, Gương danh nhân, Gương kiên nhẫn… nhất là cuốn Tự học để thành công v.v… của Nguyễn Hiến Lê. Rồi đọc Đông châu liệt quốc, Tam quốc, Thuỷ Hử, Liêu trai chí dị… Sử ký Tư mã thiên, Kinh Dịch, và đọc các nhà Hiền triết Đông Tây… và Phật học. Tôi nhớ mình rất mê đọc sách, chăm chỉ học… Sau này, tôi cũng bắt đầu viết cho đàn em: Ăn vóc học hay, Khi người ta lớn, Nếp sống An lạc, Thiền và Sức khoẻ… nhưng hình như thế hệ này cũng đã qua rồi. Bây giờ các bạn trẻ có lối sống hiện đại. Nhiều bạn mất rất nhiều thì giờ chơi games, sống với internet, với AI và Robot, phi thuyền, du hành vũ trụ v.v…
Tương lai nằm trong lối sống hiện tại của ta. Có hai yếu tố, chánh báo và y báo. Chánh báo là bản thân ta, có thể do di truyền, và y báo là môi trường sống. Có nhiều bạn trẻ nhờ chuyển đổi môi trường mà thành đạt. Thầy Mạnh Tử nhớ không? Phải ba lần nhờ bà mẹ dời nhà mới có cơ hội học hành mà trở thành một bậc thánh …
21 Anh thấy văn hóa Việt ngày nay đang cần điều gì nhất?
Cần “văn hoá” nhất! Mà văn hoá thì từ lối sống xã hội và lối giáo dục. Một nền giáo dục khai phóng, nhân bản là rất cần thiết. Theo tôi, có lẽ nên cho học sinh cấp một học lại một số bài trong Quốc văn Giáo khoa thư ngày xưa. Những chuyện kể thì nhớ dai lắm. Không phải lên giọng dạy đời, đao to búa lớn gì cả! Nếu trong sách giáo khoa ngày nay không còn có những bài học đơn giản mà sâu lắng này thì thầy cô giáo có thể kể cho học trò mình nghe. Nó sẽ nhớ suốt đời đó…, như một truy ện ngắn của Sơn Nam, “Tình nghĩa giáo khoa thư”, bây giờ đọc lại vẫn thấy rưng rưng.
Người làm thầy không phải là người bán kiến thức nữa rồi! Kiến thức đầy trên mạng. Chưa kể ngày nay còn có AI. Thầy chỉ cần là người truyền cảm xúc, học trò sẽ tự mình “khai mở” cho mình về dài về lâu… Chừng mươi bài là đủ nên người: Thương người như thể thương thân. Không nên hành hạ loài vật. Không nên phá tổ chim. Chuyện quả dứa, Không tham của người. Không vì tiền mà làm điều phi nghĩa. Con hổ và con chuột nhắt. Cái thú nhà quê và cái thú kẻ chợ. Kẻ ở người đi. Chuyện anh em nhà họ Điền. Con chó và miếng thịt…(Quốc văn giáo khoa thư).
22 Tuổi già với anh là một mùa thu an tĩnh, hay là một mùa chuẩn bị gieo hạt mới?
Cả hai. Tôi nghĩ vậy! Trong Phật học, có giới thiệu vị Phật tượng trưng cho tuổi già đó là Phật Asucbệ (Akshobhya), còn gọi là Phật Bất động, Phật Vô sân, sống ở xứ “Diệu Hỷ”! Ngài là một trong năm vị Phật ở Kim cương giới, tượng trưng cho Đại viên Cảnh Trí. Thấy chưa? Một người già, lòng thanh thản, không còn tham muốn gì nữa, không còn sân hận gì nữa, thường… nằm một chỗ (bất động), lúc nào cũng an nhàn, nhìn đâu cũng thấy mọi thứ đều kỳ diệu (xứ Diệu Hỷ).
Còn nói là mùa gieo hạt mới vì không biết cánh cửa của sự chết mở ra trước mắt sẽ cho ta thấy khung trời nào ở bên kia. Chính vì thế, ngay ở đây và bây giờ ta đã có thể gieo những hạt thiện lành!
23 Anh từng viết đại ý “già mà không vui là lỗi tại mình”. Vậy “vui” có phải là một kỹ năng cần rèn luyện không?
Nó không phải một kỹ năng để “rèn”. Kỹ năng là giả tạo. Nó phải đến từ bên trong. Già có cái vui của già. Chiếc lá thu vàng chắc phải có niềm vui gì đó để rụng chớ, phải không?
Trong kinh Phật cũng có giới thiệu một vị Phật tên là “Bất không thành tựu” (Amoghasiddhi), nghĩa là vị Phật không có gì mà không thành tựu, không có gì mà không đạt kết quả tốt đẹp. Nhờ gì? Nhờ biết sử dụng ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, xúc giác) biến thành “Thành sở tác Trí”. Nghĩa là mắt tai mũi lưỡi gì cũng đã thấu triệt được cái thấy biết “chân không diệu hữu”, thấy đúng như “nó là” (vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh cũng vốn là Thường Lạc Ngã Tịnh đó thôi!).
Khi về già, mọi thứ sẽ đều đổi khác… cho nên không muốn vui cũng vui, cũng tức cười một mình!
Bên trời xanh mãi
Những nụ mầm mới
Để lại trong cõi thiên thu
Hình dáng nụ cười”
(TCS)
24 Anh có sợ chết không?
Sợ chớ sao không! Nhưng tại sao lại sợ?
Krishnamurti nói ai cũng chết, tại sao phải sợ chết! Rồi ông trả lời: Sợ là tại vì không biết nên sợ, vì chưa có kinh nghiệm, chưa có trải nghiệm, nên sợ. (Nói khác đi, nếu đã chết rồi thì hết sợ!). Krishnamurti cũng nói người ta thực sự không phải sợ cái chết mà sợ mất đi cái sống!
Trong Thiền định sâu (Phổ Hiền tam muội), hay trong Diệt thọ tưởng định thì ta sẽ có dịp “trải nghiệm”. Ta sẽ thấy biết vô tướng, “không còn ta còn người còn chúng sanh còn thọ giả” gì nữa! (Kinh Kim Cang)! “Thọ tưởng” đã không còn thì “hành thức” cũng dứt. Dĩ nhiên, một khoảnh khắc sát- na cũng đã là vĩnh cửu.
Tuệ Sỹ viết: Thời kinh nói “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người (Tổng quan về Nghiệp).
Đạt Lai Lạt Ma thì nói chết như cánh cửa mở ra một khung trời mới. Không biết mới sợ. Biết thì chờ đợi cái mới đó. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Do thường thực tập tiến trình chết trong khi thiền định, một thiền giả có thể sử dụng lúc chết của mình để đạt những chứng ngộ lớn lao.
Về y học: mỗi giây có hàng trăm triệu tế bào hồng cầu già tự huỷ diệt và có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu mới trẻ khoẻ thay thế, các chất liệu sẽ được sử dụng lại để “tái chế” tập trung lưu giữ ở lá lách còn gọi là “nghĩa địa hồng cầu”, chớ không bị mất đi.
25 Anh thấy điều gì là quan trọng nhất để một người luôn giữ được khỏe mạnh? Có phải mỗi người đều có sẵn thứ thuốc trong chính mình?
Điều quan trọng là bệnh nhân phải tự ý thức về điều đó. Các thứ thuốc không ở đâu xa: trong hơi thở là một, trong thức ăn là hai. Biết thở đúng cách, biết đưa hơi xuống huyệt đan điền (ruộng thuốc) ở dưới rún là đã có một thứ thuốc quý. Trong kiếm hiệp, ta thấy các vị hiệp khách một khi bị thương tích thì vội trốn vào một hang động dưỡng thương, ngồi xếp bằng hít thở “điều tức” (thở bụng) chờ ít lâu sau ra đánh tiếp vì đã phục hồi công lực rất nhanh chóng. Nhờ gì? Nhờ biết thở bụng để đưa hơi xuống huyệt đan điền.
Sau hơi thở là thức ăn. Bởi thức ăn sẽ hợp với hơi thở tạo ra năng lượng. Nhưng “trăm thứ bệnh đi qua đường miệng”. Ăn không đúng chất và lượng thì lại dễ bị béo phì, huyết áp, tiểu đường v.v… Các thứ “thuốc” đều có quanh ta, trong thức ăn, trong nước uống.
Có một câu châm ngôn trong ngành y: “Chỉ có người bệnh chớ không có bệnh”, ý nói rằng tuy bệnh cùng do một nguyên nhân gây ra mà mỗi người sẽ “bệnh” một cách khác nhau, không ai giống ai. Bệnh lao chẳng hạn, do vi trùng Koch gây ra nhưng mỗi người sẽ “lao” một cách khác. Vì thế mà có người dễ chữa, có người chữa khó hơn, có người thậm chí chữa không khỏi..
Với các bệnh mạn tính không lây cũng vậy, bệnh tăng huyết áp, tiểu đường… chẳng hạn, có thể nói bệnh thì có một mà người bệnh thì ít nhất có hai: một người thì tìm đủ mọi cách tiêu diệt bệnh, nghĩ rằng phải diệt hết bệnh thì mới có sức khỏe, nhưng vì là bệnh mạn tính, kinh niên, nên đành phải khổ đau, thất vọng dài dài, lệ thuộc vào thầy vào thuốc; trong khi người kia thì tìm cách “tuỳ thuận chúng sanh” với bệnh, chấp nhận nó, kiểm soát nó, sống chung hòa bình với nó, để “hai bên cùng có lợi”, quan tâm tới chất lượng cuộc sống của chính mình, chủ động thay đổi hành vi, lối sống để nâng cao sức khỏe của mình, hợp tác tốt với thầy thuốc, bệnh hoạn nhờ đó mà cũng “dễ thương” hơn. Nhà văn Mai Thảo có bài thơ Dỗ bệnh rất hay:
(…)
Bệnh ở trong người thành bệnh bạn
Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân
Gối tay lên bệnh nằm thanh thản
Thành một đôi ta rất đá vàng.
Người thầy thuốc ngày nay không chỉ quan tâm đến bệnh mà còn phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh để cuộc sống họ có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ cao nhất có thể được là vậy.
“Chất lượng cuộc sống” đặt trọng tâm trên cảm nhận chủ quan của người bệnh, chớ không phải dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc và sự “mách bảo” của máy móc xét nghiệm!
Cơ thể con người có thể tự sinh các thứ Hormones hạnh phúc: Dopamin, Seretonin, Endorphines, Oxytocine là do cách sống của ta.
26 Anh học được gì từ các bệnh nhân của anh?
Học được nhiều chớ! Bác sĩ có thể biết được phần nào “bệnh” của người bệnh qua triệu chứng, qua bệnh sử, qua xét nghiệm này nọ, nhưng chính người bệnh mới biết “sức khoẻ” của họ. Bởi sức khoẻ, như định nghĩa là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái về thể chất, tâm thần và xã hội chớ không phải chỉ là không có bệnh tật. Mà sự “sảng khoái” của họ thì làm sao bác sĩ biết được? Còn về chuyện mối tương giao, tương tác trong gia đình, xã hội và cả đời sống của họ thì càng không thể biết. Thậm chí nhiều khi bác sĩ vô tình mà thành hù doạ bệnh nhân, làm họ suy sụp, lo lắng và sợ hãi, thậm chí từ đó mà lệ thuộc vào thầy vào thuốc. Do đó, mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân phải được dạy rất kỹ ở trường y về Y đức, chẳng hạn như: 1) Trước hết không gây hại (primum non nocere); 2) Tôn trọng sự tự chủ của người bệnh; 3) Không kỳ thị, phân biệt đối xử v.v…
27 Con người có thể đạt được sự bình an trong tâm hồn dù vẫn còn nhiều đam mê không?
Vấn đề là “đam mê” cái gì? Đam mê, khao khát, muốn gồm thâu lục quốc, nhất thống giang hồ, muôn năm trường trị, trường sanh bất tử … thì dù xây bao nhiêu cái vạn lý trường thành cũng công cốc. Phật khuyên “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý” là đủ. Việc ác không làm. Việc thiện thì làm. Tự mình làm cho tâm ý mình an tịnh. Lúc đó, ta nhìn thấy các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã, duyên sinh, thực tướng vô tướng… thì thoát.
28 “Buông bỏ” là cụm từ gần đây được nói đến khá nhiều. Theo anh, “buông bỏ” là gì? Có khác gì với “vô cảm” không?
“Buông bỏ” là Xả, là không còn dính mắc. Hai ông Tỳ kheo trên đường về chùa, vừa đến bờ sông thì thấy một cô gái sắp chết đuối. Một ông lao xuống nước cứu cô gái, cõng cô vào bờ. Trên đường về, vị tỳ kheo thứ hai cằn nhằn trách móc mãi chuyện Tỳ kheo mà dám phạm giới. Vị tu sĩ trẻ trả lời đệ đã đặt cô ấy xuống lâu rồi sao sư huynh vẫn cứ còn cõng cô ấy đến tận cổng chùa vậy hử?
“Buông bỏ” không vô cảm. Trái lại còn quả cảm, đa cảm nữa! Có thể nói “buông xả” chỉ là không bị dính mắc, trói buộc, mà đã từ bỏ tham ái, chấp thủ.. “Buông xả” là một trong “Tứ vô lượng tâm” (Từ bi hỷ xả). Buông xả không phải là từ bỏ mọi thứ, trốn tránh trách nhiệm, mà là để tâm trí được trở nên tự do và thanh thản. Nhờ đó mà sáng suốt, tỉnh thức hơn.
29 Có khi nào anh mất niềm tin vào con người không? Nếu có, anh đã làm gì để tìm lại nó?
Không có niềm tin vào con người thì còn biết tin ai? Đã làm gì ư? Im lặng. Rồi ngẫm lại mình.
30 Vậy bài học khó nhất trong yêu thương là gì?
Nhiều gia đình kêu là rất thương yêu nhau mà thường cắn đắng, phiền trách, ghét bỏ, thậm chí… oán hận nhau? Bài học khó nhất trong yêu thương là gì ư? Chính là Từ Bi Hỷ Xả. Hãy lấy một thí dụ:
Khi một bà mẹ mang thai đứa con trong bụng, một tình thương vô bờ bến đã tràn vào tâm hồn bà, một tình thương vô điều kiện sẵn sàng chấp nhận, hy sinh, để bảo vệ đứa con, sẵn sàng làm mọi thứ tốt lành cho đứa con, mỉm cười với nó, nhẹ nhàng với nó, hãnh diện vì nó… Có phải là Từ không?
Rồi khi con bi bô, chạy nhảy chơi đùa, u đầu sứt trán, tróc vảy trầy da, cha mẹ nào cũng đau cái đau của con, đau còn hơn con, muốn đau thay cho con mà không được, quan tâm, chăm sóc, làm giảm đau. Có phải là Bi không?
Rồi con lớn lên, đi học, lớp này lớp khác, đạt thành tich này thành tích khác mẹ nào chẳng hân hoan sung sướng nhìn con, chia sẻ cùng con nỗi mừng vui, không hề có chút lòng ganh tị ! Vui cái vui của con như của chính mình. Có phải là Hỷ không?
Rồi khi con lớn khôn, ra trường, có sự nghiệp, người làm cha mẹ nào cũng cảm nhận đựơc sự bình an, hạnh phúc, đã làm hết những gì cần làm cho con với tấm lòng rộng mở. Có phải là Xả không?
31 Nếu có thể gởi cho người trẻ một lời khuyên, anh sẽ nói gì?
Hãy quay về “nương tựa chính mình” và thực hành Giới Định Huệ. Hãy bắt đầu từ 5 Giới: Không sát sanh, Không trộm cắp, Không nói dối, Không tà dâm và Không nghiện ngập. Chừng đó, giữ được là đã có cuộc sống an lành, hạnh phúc. Làm nền móng cho cuộc sống an vui cho mình và cho người, cho xã hội vậy.
Saigon, 22.11.2025
Bài 4: Hỏi- Đáp về Cuộc Sống
(Ghi chú: Là những trao đổi qua email, không phải phỏng vấn trực tiếp)
1 Trong cuộc đời mỗi người thường có ít nhất một lần tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?” Có bao giờ anh tự hỏi mình câu đó không?
Không, Tôi chưa bao giờ tự hỏi mình câu đó. Có lẽ tôi sống quá hồn nhiên và ngây thơ đó không? Chắc vậy. Theo tôi, người tự đặt cho mình câu hỏi đó phải là một người có một đời sống phong phú, sôi nổi và có tâm hồn của một triết gia. Nếu là một người trẻ, có thể do nếp sống gia đình, thiếu tình thương và/hoặc ngược lại quá dư thừa tình thương yêu, nên bị ngộp. Rồi ngạt. Muốn giải thoát! Và rất có thể là người sống thiếu thiên nhiên, thiếu cộng đồng. Đặc biệt có thể đó là một người luôn sống trong sự so sánh. Khi có lòng so sánh, ta luôn không hài lòng vì hơn thua, vì ngang bằng. So sánh luôn mang đến khổ đau. Tham sân si quấn quít. Liệu pháp là nên về lại với thiên nhiên, gần gũi thiên nhiên, gần gũi với cộng đồng, với “bộ lạc” của mình. Lỗi thường từ phụ huynh, nhưng cũng do tự bản thân, từ môi trường, từ di truyền (chánh báo và y báo). Khi một người tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?”, sẽ phải tiếp tục hỏi: “Tôi chết vì điều gì?”.
2 Có khi nào anh dành thời gian và tâm sức để theo đuổi một điều, rồi lúc nào đó nhận ra mình không muốn đi tiếp con đường đó nữa?
Chưa. Có lẽ do tôi chọn nhiều “con đường” cùng lúc. Tại sao lại chỉ có một con đường kia chớ?
3 Có người trẻ thấy cuộc đời thật vô nghĩa: học để có điểm cao, đậu đại học, ra đi làm, gắng sức kiếm tiền, lập gia đình, lo cho con cái, rồi hết. Nếu có người nói với anh như vậy, anh sẽ nói gì với họ?
Lỗi ở chỗ không biết sống “ở đây và bây giờ”! Ở mỗi giai đoạn trong cuộc đời như thế đều là những niềm vui, niềm hạnh phúc, nếu biết khám phá và thưởng thức! Học cách yêu thương. Nếu hiểu biết thêm về nghiệp về duyên, sẽ an nhiên tự tại. Khi nhỏ thì muốn mau lớn, già thì muốn trẻ lại, đó là do lòng tham, lòng “muốn”.
4 Làm sao để ổn định cảm xúc, không quá buồn hay quá vui mà vẫn thấy đời đáng để sống?
Chính cái “quá” đó mới là vấn đề. Cái gì đã quá thì không tốt rồi. “Quá nhanh quá nguy hiểm” nhớ không? Kiểm soát cảm xúc là chuyện không dễ. Cần có một nền văn hóa cơ bản để thấy đủ rộng, không bị thành kiến chi phối, mới có thể kiểm soát được cảm xúc. Cảm xúc thường do “nhận thức” sai, dẫn tới cảm xúc “quá”, từ đó dẫn đến hành vi không đúng, mất kiểm soát.
5 Có nên tin vào một đấng thiêng liêng nào đó sẽ giúp ta không?
Có cái “đấng” đó không? Có râu hay không râu? “Đấng” thì chắc không có, nhưng “thiêng liêng” thì có. Cao Huy Thuần bảo cái má lúm đồng tiền, cái răng khểnh đều “thiêng liêng”. Tôi cũng thấy vậy. Nó làm ta xao xuyến, rạo rực, và thế là nó đưa ta vào thiên đàng hay địa ngục. Dĩ nhiên, nếu có một “Đấng” cho riêng mình thì cũng tốt. Ta sẽ có chỗ để nương tựa, để nhõng nhẽo, để đổ thừa… nhẹ khỏe biết bao! Phật thì bảo hãy nương tựa chính mình, hãy tự đốt đuốc lên mà đí, hãy xây một hải đảo tự thân.
6 Có khi nào anh thấy con người hiện đại “biết nhiều nhưng sống không sâu” không?
Sống không đủ sâu là sao? Là cạn cợt? Ai biết sâu cạn thế nào! Nhiều người chết đuối vì tưởng chỗ không sâu đó nhe.
7 Trong hành trình làm bác sĩ, khoảnh khắc nào khiến anh thay đổi cách nhìn về sự sống và cái chết rõ nhất?
Không đợi đến khi làm bác sĩ. Tôi có may mắn học Y từ những năm 60 của… thế kỷ trước ở Saigon, tại Cơ thể học viện. Ngay năm thứ I y khoa, các sinh viên chúng tôi được phát một giõ cần xé xương người để mân mê, học thuộc từng đốt, từng mối, từng mẩu, từng dây thần kinh, từ sớ thịt. Nhiều sinh viên lén ôm một cái đầu lâu xương người mang về nhà để học suốt đêm… Điều tôi cảm nhận là để tạo ra vài trăm loại xương người như thế, phải có 2 thứ tế bào xương gọi là Osteoblast (tế bào tạo xương) và Osteoclast (tế bào hủy xương) “phối hợp” nhịp nhàng với nhau mới nên hình nên dạng! Rồi sang năm thứ II, chúng tôi được mổ xác ướp, mỗi 2 sinh viên “ôm” một xác ướp, không biết của ai đã hiến tặng cho y học… Mỗi ngày mân mê hì hục, rạch rạch, xẻ xẻ cái xác ướp formol nồng nặc đó mà lòng nao nao, đầy cảm xúc về kiếp người, về “tạo” và “hủy”, và tràn dâng một niềm biết ơn…
8 Anh có nghĩ rằng nỗi đau (thể chất hoặc tinh thần) là một người thầy cần thiết không?
Đúng vậy. Nhưng để thấy biết người Thầy đó không dễ. Phải chiêm nghiệm. Phải hiểu nghiệp duyên, nhân quả.
9 Khi một người bị bệnh nặng, anh nghĩ điều họ sợ nhất là gì?
Là cái chết. Và những hệ lụy của nó. Người bệnh nặng gần gũi với cái chết nhất, nên họ sợ vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Một người có tu tập, thiền định có thể họ thấy khác. Họ quen sống trong cái chết mỗi sát na. Họ thấy sống và chết không phải là một nhưng không khác. Họ thấy “pháp”: “bất sinh bất diệt”. Họ biết “tịch diệt vi lạc”. Ái dà, lan man chuyện đời thành chuyện đạo rồi!
10 Làm sao để phân biệt “chấp nhận” và “buông xuôi”?
“Chấp nhận” là còn tìm kiếm, tìm giải pháp để cải tiến, thay đổi. Thua keo này bày keo khác. Thất bại là mẹ thành công. Còn “buông xuôi” thường là “hết thuốc chữa”!
11 Nhiều người muốn sống chậm, nhưng áp lực cơm áo gạo tiền không cho phép. Anh nghĩ họ nên làm gì?
Thì họ cứ tiếp tục sống nhanh chớ sao! The Fast and The Furious! Có cái phim tên vậy? Vấn đề là họ có thực sự muốn “sống chậm” không? Muốn sống chậm thì họ phải “thiểu dục, tri túc”. Nguyễn Công Trứ nói: Tri túc tiện tức, tri nhàn tiện nhàn. Nghĩa là biết đủ thì đủ, biết nhàn thì nhàn. Đợi đủ biết bao giờ cho đủ. Lòng tham không đáy mà! Đợi nhàn biết bao giờ cho nhàn?
12 Theo anh, sự cô đơn của người trẻ hôm nay khác ra sao so với thế hệ trước?
Khác xa chứ! Người xưa, vài thế hệ trước đây thôi, cô đơn là vì thiếu bạn, mất bạn. “Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua” (Nguyễn Khuyến). Còn người trẻ hôm nay cô đơn vì có quá nhiều bạn! Các mạng xã hội giăng đầy. Cả thế giới nằm gọn trong lòng bàn tay. List bạn bè dày đặc, hết chỗ chứa! Vậy sao cô đơn? Vì ta thiếu những bạn bè biết “nhìn nhau không nói”. Bây giờ ồn ào quá, cá mè quá, tràn ngập quá. Nên người trẻ cô đơn là phải rồi.
13 Khi còn trẻ, anh có khi nào “nghĩ nhiều” (overthinking) không?
Nghĩ nhiều là sao? Là nghĩ đi nghĩ lại nghĩ tới nghĩ lui? Có chớ sao không. Khi ta chưa có “đầy đủ thông tin” để đi đến một quyết định nào đó (mà ta cho là tốt nhất), thì ta phải nghĩ tới nghĩ lui đó thôi. Có khi phải xin ý kiến người có kinh nghiệm mà ta tin cậy. Khi tôi thi đậu tú tài II xong thì băn khoăn trước ngã ba đường: Học y khoa theo ý muốn của gia đình, học văn khoa theo sở thích mình, hay học sư phạm? Tôi đến hỏi ông Nguyễn Hiến Lê, ông suy nghĩ một chút rồi khuyên tôi nên học y khoa để có thể giúp ích cụ thể cho gia đình, cho bà con lối xóm; nếu học giỏi, có thể dạy học và nếu có năng khiếu văn chương, thì sau mươi năm hành nghề, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều con người có thể viết lách được. Anton Chekhov, Summerset Maugham, A.J Cronin… Lỗ Tấn cũng là những nhà y học.
14 Anh có nghĩ rằng nhiều khi cơ thể con người biết nhiều hơn tâm trí không?
Thân và tâm không tách rời nhau. Thân tâm nhất như. Cho nên nó… liên hệ với nhau chặt chẽ, nó hiểu nhau rất tốt. Tâm mà an thì thân mới lạc. Thân mà an thì tâm mới lạc. Đừng dại mà tách rời ra. Bộ não chỉ chiếm 2% thể trọng nhưng sử dụng đến 25-30% năng lượng, là vì dùng để gây gỗ, oán thù, hờn giận, đấu đá, tranh giành… Cơ thể dùng 40% năng lượng để căng cơ, co cơ, sẵn sàng chiến đấu hay… bỏ chạy. Một người biết giãn cơ, thả lỏng cơ, một người biết buông bỏ tâm tham, tâm sân thì cơ thể dư năng lượng, tích lũy, để dành chữa lành tất cả các thứ bệnh thân-tâm. Vì thế ta thấy cơ thể tự nó có khả năng tự điều chỉnh. Lỗi tại ta xài phí năng lượng một cách vô ích. Hãy quay về nương tựa chính mình là vậy. Thầy thuốc không “chữa lành” cho ta nổi đâu!
15 Có khi nào việc cố gắng hiểu mình lại trở thành một áp lực mới không?
Cố gắng hiểu mình, để tự thay đổi mình ư? Còn lâu! Sự cố gắng như vậy rõ ràng là một áp lực. Dĩ nhiên mình sẽ “giác ngộ” dần theo thởi gian. Đó là sự thích nghi, điều chỉnh chớ không phải cưỡng bức mình, ép mình, đè nén mình.
16 Một người trẻ nên chuẩn bị gì cho tuổi già từ bây giờ, ngoài tài chính?
Nhiều thứ chớ. Cách sống mới quyết định. Tài chánh là một phần quan trọng thôi. Tuổi già cần thích nghi và chấp nhận những thay đổi về thể chất, tâm lý và cả về mặt xã hôi, tương tác trong gia đình, bè bạn… Thích nghi với những mất mát, thiếu hụt cả về tình cảm, thích nghi với những stress trong đời sống, các bệnh lý như bệnh về chuyển hóa (ba cao một thấp), môi trường, viêm nhiễm (do đề kháng yếu kém), tai nạn té ngã, các hoạt động của não bộ, hormones… Tế bào não tuy già cỗi nhưng vẫn duy trì sự nhu nhuyễn, có khả năng sản sinh những nối kết mới. Người già cần giúp não bộ hoạt động liên tục như học thêm ngoại ngữ, mỹ thuật, thể thao phù hợp, và quan trọng, duy trì một “cộng đồng” sinh hoạt thường xuyên với nhau.
17 Có người đi chữa lành, đến khi chữa lành xong thì không muốn làm gì nữa. Anh nghĩ thế nào về trường hợp này?
Ý nói là tại vì “bệnh” nên mới ham lam ham làm quá đó chớ gì! Phải đó. Ham, muốn, mong, cầu, tiếc nuối… nói chung là mọi thứ “dục” nó hành ta, nó làm ta khổ triền miên, đáng đời ta! “Lòng muốn còn nhiều… Đập gương xưa tìm bóng!” (Đoàn Chuẩn). Khi nhận ra “Nhưng… thôi tiếc mà chi/ Chim rồi bay…” là hết chuyện!
“Chữa lành” xong thì lòng “dục” đã cạn, lòng tham đã vơi. Nhưng coi chừng, bệnh chỉ dứt tạm rồi biến chứng tùm lum, khó chữa hơn. Thiền là một phương pháp tốt có thể giúp chữa lành. Thiền luôn bắt đầu từ “ly dục”, “ly bất thiện pháp” và thực hành chánh niệm. Các phương pháp MBSR (Mindfulness Based Stress Redaction) và MBCT (Mindfulness Based Cognitive Therapy) thường được dùng giúp “chữa lành” các bệnh S.A.D (Stress/ Anxiety/ Depression) đó.
18 Có nhiều người nhìn bên ngoài rất thành công, nhưng bên trong họ cứ thấy có gì đó “sai sai”. Theo anh, họ cần làm gì với cảm giác “sai sai” đó?
Họ sẽ phải tự vấn. Phải thức tỉnh. Nếu vẫn còn mù mờ thì tìm đến một người “khai vấn” (coach), một người tham vấn (counseller) tốt. Nhưng nếu không may dễ gặp trường hợp làm rối bời thêm, rồi đi vào mê tín, dị đoan nguy hiểm hơn.
19 Có điều gì trong cuộc sống mà con người chỉ có thể hiểu khi đã qua một độ tuổi nhất định?
Người ta không thể không trải nghiệm, thể nghiệm, mà có kinh nghiệm sống được. Nói thất bại là mẹ thành công là vậy. Nhưng coi chừng thất bại có khi lại dẫn tới… đại bại. Nên phải tỉnh thức…
20 Khi mất một người thân, điều gì giúp con người đi qua mất mát một cách an yên nhất?
Khó mà an yên. Có thể nguôi ngoai do thời gian cuốn đi. Nhưng khó mà dứt bỏ, buông bỏ, xả bỏ dễ dàng được. Người có tu tập, thấy biết sanh trụ dị diệt của Pháp (dharma), biết “bất sinh bất diệt” thì có thể vượt qua chăng?
21 Anh có tin rằng một người có thể chữa lành hoàn toàn những tổn thương sâu trong quá khứ không?
Có những trường hợp người ta còn nuôi dưỡng các “tổn thương” sâu đó nữa! “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thú độc” (Xuân Diệu). Cái “thú độc” đó, “thú đau thương” đó nó… lạ lắm. Phải hỏi các thi sĩ mới biết!
22 Nhiều người biết một điều gì đó nhưng không thực hành được, ví dụ biết về “tham sân si” nhưng hết lần này đến lần khác bị chúng dẫn dắt. Anh nghĩ sao về chuyện này?
Biết là một chuyện. Thực hành là một chuyện khác. Thực hành đâu có dễ. Biết sai thực hành sẽ sai. Tham sân si là gì? Ai làm ra mấy thứ “quỉ quái” đó? Si là “Vô minh”, là không biết hoặc biết không đúng, nhưng Tâm Kinh viết: “Vô vô mình diệc vô vô minh tận” nghĩa là không có vô minh, cũng không dứt được vô minh. Vô minh còn dài dài đó thôi. Cũng như “tham” vậy. Từ con kiến, con chuột, con sư tử, con người… đều tham ăn, giành ăn, nhưng con người còn hơn vậy: Tham danh, tham tiền, tham sắc, tham ăn, tham ngủ, nói chung là “ngũ dục”, cho nên con người mới khổ đau hơn đó chăng?
23 Một người nên dựa vào điều gì để đưa ra những quyết định quan trọng trong đời: lý trí, cảm xúc, hay một dạng trực giác nào đó?
Người ta thường bảo phải dựa vào lý trí, khi có đủ thông tin để có quyết định sáng suốt. Tôi thì không. Tôi thấy mình nặng về cảm xúc và trực giác hơn. Có những người mới gặp đã thấy như quen từ… muôn kiếp trước!
24 Nếu phải chọn một điều đơn giản nhất nhưng quan trọng nhất để giữ gìn sức khỏe tinh thần, anh sẽ chọn điều gì?
Đó là phải giữ sức khỏe thể chất (physical well being) trước hết. Cái “tứ niệm xứ” (satipathana) “thân thọ tâm pháp” Phật nói đó, có người phát triển cái thọ, lấy “thọ” làm gốc, có người giữ lấy cái tâm, lấy tâm làm gốc, có người giữ cái pháp, lấy pháp làm gốc. Tôi người thầy thuốc, nghĩ phải lấy cái thân làm gốc mới là cốt lõi. Vì có thân thì mới có thọ. Có thọ mới có tâm. Có tâm mới sinh… các pháp. Tâm Kinh nói “Vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý” đã xác nhận “Sắc” phải có trước rồi mới nói gì thì nói! Cho nên “Thân hành niệm” với Chánh niệm hơi thở (Anapanasati) là phương pháp khoa học và hiệu quả trong Thiền định.
25 Trong những điều anh từng chắc chắn là đúng về cách sống, có điều gì theo thời gian trở nên không còn tuyệt đối đúng nữa?
Không có điều gì là tuyệt đối đúng cả! Bám vào ý niệm tuyệt đối đúng chắc chắn sẽ “tuyệt đối” sai. Từ nhỏ đã được học “Chân lý ở bên này dãy núi Pyrénées là sự sai lầm ở phía bên kia” (Vérité en-deçà des Pyrénées, erreur au-delà) nhớ không? Cách sống giản đơn, thiểu dục tri túc, gần gũi thiên nhiên theo tôi là tốt nhất.
26 Có điều gì anh chưa từng nói ra trong các bài viết hay cuộc trò chuyện trước đây, nhưng nếu có cơ hội nói một lần, anh nghĩ mình nên nói?
Tôi nay gần 90 rồi. Tôi nghĩ phải có niềm tin nào đó thiện lành để có hạnh phúc bây giờ và mai sau. Tôi nghĩ chắc chắn phải có kiếp trước kiếp sau, nối tiếp nhau mới công bằng trong pháp giới.
27 Có điều gì anh từng cố giữ, nhưng cuối cùng phải buông? Việc buông đó dạy anh điều gì?
Nhiều lắm. Dạy mình đừng có tham để rồi sân si. “Ly dục”, “ly bất thiện pháp” là bước đầu vào thiền. Tôi nhờ hành thiền 30 năm nay nên thấy có ít nhiều “hiệu quả”, giúp mình buông xả, giúp thân tâm có phần an lạc.
28 Trong những lựa chọn lớn của đời mình, có lựa chọn nào anh vẫn còn lưỡng lự khi nhìn lại, không hẳn hối tiếc, nhưng cũng không hoàn toàn hài lòng?
Tôi tin có nghiệp, có duyên. Có cái gì đó dẫn dắt, đưa đẩy, nối kết. Tuy nhà bác học Stephen Hawking nói “Có một thiết kế vĩ đại nhưng không có nhà thiết kế”. Tôi ngờ ông chưa thấy biết hết.
29 Anh đã học được điều gì về việc tha thứ, không phải tha thứ cho người khác, mà tha thứ cho chính mình?
Tha thứ cho chính mình mới khó. Phải tập chấp nhận. Nếu được, học và hành hạnh thứ 3 trong 10 hạnh nguyện Phổ Hiền: “sám hối nghiệp chướng”.
30 Có sự thật nào về cuộc sống mà anh hiểu khá muộn, và nếu hiểu sớm hơn, có lẽ anh đã sống khác đi?
Không. Tôi thấy mình vẫn là mình. Nó vậy là nó vậy. Hình như không có cách nào khác.
31 Khi một người già đi, điều gì thay đổi nhiều nhất: cách họ nhìn thế giới, hay cách họ nhìn chính mình?
Cách họ nhìn chính mình. Họ sẽ thở ra, nhẹ nhõm. Ủa, vậy đó hả?
32 Anh có nghĩ rằng con người cuối cùng sẽ trở về với một vài điều rất đơn giản không? Nếu có, đó là những điều gì?
Thiểu dục, tri túc. Thấy biết Như Lai. Sống với Như Lai. Cười với Như Lai.
33 Nếu cần nhắc lại một nguyên tắc sống duy nhất, một điều anh đã tự kiểm chứng, anh sẽ chọn điều gì?
Từ bi với mình để từ bi với người.
(Saigon, 18.5.2026)
…………………………………………………….

Để lại một bình luận