Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Sách song ngữ Việt Anh: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HANH PHÚC

06/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thầy Tuệ Sỹ: Đỗ Hồng Ngọc viết về Phật học

y như ghi toa bác sỹ

Nguyên Giác

Giới thiệuCảm nghĩ về "Thiền Tập Với Pháp Ấn" của Nguyên Giác Phan Tấn ...
Tác giả Đỗ Hồng Ngọc & Dịch giả Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Bạn cần một tác phẩm về Phật học, và về Thiền tập được giải thích rất khoa học dưới mắt của một bác sĩ, và có thể thích nghi cho mọi thế hệ già và trẻ thực hành ngay khi đọc xong? Hẳn là nhiều người có thể dễ dàng đoán ra tác giả đó là ai: tác giả Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, cũng là một nhà văn, nhà thơ, có nhiều tác phẩm về Phật học nổi tiếng, và bản thân họ Đỗ cũng được nhiều cơ sở văn hóa mời tới nói chuyện và hướng dẫn về Thiền tập.

Tác phẩm song ngữ Việt-Anh nhan đề “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” của Đỗ Hồng Ngọc, với người dịch sang tiếng Anh là Nguyên Giác Phan Tấn Hải đã bắt đầu lưu hành trên mạng Amazon từ hôm nay. Các bản Anh dịch đã được thực hiện từ nhiều năm trong thập niên qua, và bây giờ sách song ngữ này được ấn hành với một số bạn văn thúc giục, hỗ trợ, đọc bản văn, vẽ bìa — trong đó có Nguyễn Thị Khánh Minh, Trần Thị Nguyệt Mai, Thanh Lương, Lê Lạc Giao, Lê Giang Trần, Đinh Trường Chinh…

Dịch giả Nguyên Giác giải thích rằng anh học tiếng Anh theo công thức mẫu câu thuộc lòng qua nhiều thập niên dịch tin tức cho nghề báo, nên cũng lúng túng với các câu rất mực văn chương và Phật học uyên bác của Đỗ Hồng Ngọc, và gặp trở ngại trong nghề dịch là đã phải ba lần bỏ cuộc trong khi dịch bài “Phương Nào Cõi Tịnh” của Thầy Tuệ Sỹ nơi đầu sách vì chữ nghĩa Phật học của Thầy rất mực uyên áo, thượng thừa. Đành chờ một thời gian cho lắng đọng, lần thứ tư dịch tiếp, nguyện là dịch để cúng Tam Bảo, bấy giờ mới xong bài của Thầy Tuệ Sỹ.

Thầy Tuệ Sỹ đã viết về tác giả Đỗ Hồng Ngọc thế nào? Thầy viết bài “Phương Nào Cõi Tịnh” và ghi là từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của Đỗ Hồng Ngọc. Nơi trang 18 của sách “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy,” Thầy Tuệ Sỹ ghi một nhận xét:

“…như Đỗ Hồng Ngọc viết trong Cõi Phật Đâu Xa: anh viết Kinh dễ dàng và cũng rất thận trọng cân nhắc, y như bác sỹ viết toa thuốc…” (trang 18)
Y như bác sỹ viết toa thuốc? Chưa hết. Thầy Tuệ Sỹ trong bài đó đã nói rõ hơn về cách họ Đỗ hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh, trích:

“Để khỏi phải bối rối, choáng ngợp trước những từ ngữ và lý luận biện chứng siêu nghiệm, từ nhất nguyên tuyệt đối của Phạm-Ngã nhất thể, cho đến “Như Lai đến mà không đến, đi mà không đi”, chúng ta cũng có thể bắt đầu với nhận thức đơn giản hơn từ dẫn giải bởi Đỗ Hồng Ngọc, hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh:

“Ở tại nơi sanh tử mà chẳng làm việc ô trược, trụ nơi Niết-bàn mà chẳng diệt độ mãi; hành tánh không mà vẫn trồng các cội công đức; hành vô tướng mà vẫn độ chúng sanh; hành vô khởi mà khởi tất cả thiện hạnh…”” (trang 19)

Rồi với lời khen rất hiếm hoi dành cho cư sĩ Đỗ Hồng Ngọc, Thầy Tuệ Sỹ cũng viết: “Trong đoạn dẫn của Đỗ Hồng Ngọc nêu trên, chúng ta thấy Bồ-tát tu tâm như một Thánh giả Thanh văn xuất thế, nhưng hành đạo như một phàm phu trong sinh tử: trong bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Đó là căn bản của tư duy bất nhị. Thánh nhân xuất thế, và phàm phu sinh tử, hai mặt phản diện mà lại đồng nhất thể tính.” (trang 21)
Sách “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” là một tuyển tập song ngữ, phần tiếng Việt in nơi nửa đầu sách, và tiếng Anh in ở phần sau, sẽ thích nghi cho tất cả các gia đình vì là tuyển tập 15 bài viết về Phật học của Đỗ Hồng Ngọc, tất cả đều rất cụ thể, giải thích về thực hành cụ thể. Trong khi đó phần tiếng Anh của sách sẽ thích nghi cho thế hệ trẻ ở hải ngoại không đọc được tiếng Việt.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc tâm sự trong Lời Ngỏ: “Tôi không phải là thi sĩ, không phải là tu sĩ, tôi chỉ là một bác sĩ, một người thầy thuốc, nên khi phải hành nghề, phải giúp đỡ bạn bè, hàng xóm, kẻ nhức đầu, người đau lưng… và trước hết là phải chữa bệnh cho chính mình. Có những lúc thuốc men chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa, tầng tầng, lớp lớp bên trong. Tôi đành chia sẻ những điều tôi nghĩ, tôi cảm, tôi nghe. Có thể đúng. Có thể sai. Có thể không đúng không sai. Có khi hiệu quả, có khi không. Có người hợp mà không có dị ứng. Vậy nên nếu tình cờ mà đọc được những dòng này thì xin hiểu cho mà đừng trách. Nếu muốn, có thể tủm tỉm cười một mình. Cũng chẳng khoái ru!” (Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc, trang 12, 13)
Cư sĩ Nguyên Giác trong Lời Bạt của sách đã ghi nhận: “Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, nhưng anh cũng nổi tiếng làm thơ hay từ thời sinh viên. Trong khi tôi đọc, thưởng thức, và thán phục các vần thơ tuyệt vời của anh, nhưng tận cùng thích nhất vẫn là đọc Đỗ Hồng Ngọc viết về kinh Phật. Chính nơi lĩnh vực này, họ Đỗ viết gì cũng hay, viết ngắn cũng hay, viết dài cũng hay, viết về Thiền thở cũng hay, viết về ngũ uẩn giai không của Tâm Kinh cũng hay, viết về ưng vô sở trụ của Kinh Kim Cang cũng hay, viết về Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma Cật cũng hay. Và tôi tin, nhiều thế hệ sau sẽ nhớ tới một Đỗ Hồng Ngọc viết về lĩnh vực này, đó là những gì anh đã đọc, đã hiểu, đã sống và đã ghi xuống các trang giấy trọn một pháp giới học Phật của anh.” (trang 161)

Về phương diện thực hành, Cư sĩ Nguyên Giác nhận định về cách viết của tác giả: “Một điểm đặc biệt trong Tôi Học Phật của Đỗ Hồng Ngọc, và cũng hiếm thấy nơi các tác giả khác: bạn có thể ngưng ở bất kỳ trang nào, ở bất kỳ dòng chữ nào, để tự nghiệm những lời kinh được chú giải ngay trên thân và tâm của bạn. Bạn hãy đọc rất chậm và hãy nghiệm như thế, nơi từng hơi thở của bạn, nơi từng niệm và nơi từng cảm thọ của bạn. Những dòng chữ Đỗ Hồng Ngọc viết xuống trong sách cũng là từ các thể nghiệm thực chứng của tác giả. Đó là những dòng trực giải kinh Phật rất mực trang nghiêm, nơi đó từng dòng chữ đã trở thành những trận mưa hoa để cúng dường chư Phật. Nơi đó là hạnh phúc, là an lạc và là vô lượng công đức.” (trang 166)
Với 15 bài trong tuyển tập, Đỗ Hồng Ngọc viết về Thiền, về đến để mà thấy, về con đường an lạc, về tự phồng hộ trọn ngày (sáng, trựa, chiều, tối), về Buông, về thả lòng toàn thân, về chuyện ăn, về chuyện làm cho cha mẹ già vui, và rất nhiều đề tài cần thiết cho các thế hệ già trẻ…

Tiểu sử tác giả được Đặc san Văn Hóa Phật Giáo (2021) tóm tắt như sau: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, bút hiệu Đỗ Nghê, sinh năm 1940 tại Phan Thiết, Bình Thuận. Tốt nghiệp Tiến sĩ Y khoa Quốc gia, Y khoa Đại học đường Sài Gòn (1969), là bác sĩ chuyên khoa Nhi. Tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard Hoa Kỳ (1993) và Giáo dục sức khỏe tại CFES, Pháp (1997). Là Giảng viên Thỉnh Giảng Đại học Y Khoa Sài Gòn; Trưởng Bộ môn Khoa học hành vi – Giáo dục sức khỏe Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Ngoài vai trò là bác sĩ, nhà giáo ông còn là một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Ông viết nhiều tác phẩm đa dạng và rất được độc giả yêu thích. Đặc biệt sau này ông viết chuyên sâu các tác phẩm về Phật học, Thiền học với giọng văn nhẹ nhàng nhưng rất thuyết phục, dung chứa nhiều tư liệu đông tây giá trị và các kinh nghiệm tu tập. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc học, hiểu và thực hành thâm sâu nhưng rất thực tế giáo lý Phật-đà.

Tác phẩm song ngữ Việt-Anh “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy” của Đỗ Hồng Ngọc, với dịch giả là Nguyên Giác do Nhà Xuất Bản Triết Văn đưa lên lưu hành ở mạng Amazon.
…………………………………….

Nguồn: tranthinguyetmai wordpresscom

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

“Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

25/03/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

“Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

Đỗ Hồng Ngọc

Khi được hỏi cõi Phật ở đâu? Phật trả lời “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát” (chúng sinh chi loại thị Bồ-tát Phật độ). Thì ra vậy. Thì ra cõi Phật của Bồ tát không ở đâu xa. Ở nơi các loài chúng sanh, quanh ta và trong ta thôi. Đó là những chúng sanh muôn hình vạn trạng, nheo nhóc, khổ đau, chằng chịt, quấn quít, xà quần sáu nẻo luân hồi bay nhảy không ngừng sáng trưa chiều tối, kiếp này kiếp khác, quần quật không an. Bồ-tát chỉ cần “thành tựu” chúng sanh đó, tức thì cõi Phật hiện ra ngay. Không phải tìm kiếm đâu xa. Nhưng thật không dễ. Chúng sanh ngoan cường, cứng cõi, lì lợm ở cõi Ta-bà này không dễ mà hàng phục, không dễ mà trụ lại một chỗ an vui. Nhưng cũng chính nơi cõi Ta-bà đầy gian khó này mới cần có Bồ-tát, và ngược lại, cũng là nơi Bồ-tát “thành tựu” chính mình. Không có chúng sanh thì cũng chẳng cần Bồ-tát! Cho nên khi Bồ-tát “thành tựu chúng sanh” thì chúng sanh cũng “thành tựu Bồ-tát” là vậy.

Nhất thiết duy tâm tạo (mọi thứ do tâm tạo ra). Tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Tìm kiếm đâu xa. Hãy quay về nương tựa chính mình. Phật đã chẳng khuyên như vậy từ khởi thủy sao? Cớ sao ta cứ mãi loay hoay, mãi chạy vạy, mãi tìm kiếm đâu đâu? Mấy ngàn năm trước, đệ tử giải Không bậc nhất của Phật đặt câu hỏi: “Vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?” (An trụ tâm cách nào? Hàng phục tâm cách nào?). Phật nói dễ lắm, dễ lắm, chỉ cần “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (đừng có trụ cái tâm vào đâu cả!) là xong. Nhưng đâu có dễ mà “vô trụ”. Ta hết trụ thứ này thì trụ thứ kia, hết trụ người này thì trụ người khác, chỉ quên… trụ vào chính mình.

Khi Bồ tát Quán tự tại (tức Quán Thế Âm) hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thì bỗng bừng ngộ thấy rõ ngũ uẩn đều không: “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, tức khắc “độ nhất thiết khổ ách”, nghĩa là đưa tất cả khổ đau ách nạn đi chỗ khác, tâm trở nên hoàn toàn thanh tịnh và như thế cõi Phật đã hiện tiền! Nhờ đó mà đã có thể “từ nhãn thị chúng sanh”, nhìn chúng sanh với con mắt đầy yêu thương, thấu cảm, bởi cõi Phật đó ai cũng sẵn có, chỉ vì không thấy biết mà “luân hồi sanh tử” mãi miết đó thôi!

Buổi mai hôm đó, Phật vừa rời khỏi tịnh thất sau ba tháng an cư kiết hạ, đưa mắt nhìn các đệ tử mình nghiêm trang tu tập, người ngồi dưới gốc cây, người ngồi trên tảng đá, tất cả đều tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, tất cả đều sống một đời sống đạm bạc, kham nhẫn, tri túc đúng như lời dạy, Phật rất hài lòng. Đa số các vị này đã là A-la-hán, đã tròn đầy phạm hạnh, đã đặt gánh nặng xuống và đã… vô sinh, không trở lại cõi Ta-bà ô trược này nữa. Một số vị Bồ-tát thì đang rày đây mai đó, bươn chãi nơi này nơi kia, thuyết giảng cho chúng sanh con đường giải thoát còn số Bồ-tát mới tu thì đang quét lá, dọn dẹp chỗ trú sau mùa mưa bão.

Nơi Phật an cư kiết hạ mùa này không xa thành Tỳ-da-ly dưới kia, một thành phố lớn, một đô thị giàu có, dân cư đông đúc, nơi chúng sanh người thì nheo nhóc lặn ngụp trong bao nỗi lo toan, sợ hãi, ốm đau, già nua bệnh hoạn…, người thì trọc phú  huênh hoang, nứt đố đổ vách, lặn ngụp trong cảnh xa hoa, lên xe xuống ngựa, kẻ hầu người hạ, bên cạnh là các vương tôn công tử áo gấm quần hoa ăn chơi trác táng, tửu điếm trà đình, và rất nhiều thanh lâu sang trọng với những cô kỹ nữ khuynh thành đón người cửa trước rước người cửa sau và rượu, và thuốc nghiện tràn lan; bên cạnh đó là những bậc trí giả ngày đêm tranh luận không ngừng về những triết thuyết cao siêu huyền bí, giải thích mọi hiện tượng của vũ trụ và loài người, ai cũng cho mình đúng nhất hay nhất.

Thành Tỳ-da-ly rực rỡ ánh đèn dưới kia khiến Phật thấy đã đến lúc phải thay đổi cách “tiếp cận” mới mong giải thoát chúng sinh. Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay đang tĩnh tọa xung quanh Phật bây giờ lại có thể tiếp cận được với các bậc vương tôn công tử, với các quan chức, với các nhà buôn dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay tiếp cận được với các cô nàng kỷ nữ nhan sắc kiêu kỳ ở các thanh lâu trà đình tửu điếm dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng lại có thể vào tận các ổ mại dâm, động ma túy sa đọa dưới kia để thuyết giảng lời Phật? Ai đây có thể tiếp cận được? Cách nào đây có thể tiếp cận được? Ai đây sẵn lòng xâm nhập vào chốn bùn nhơ mà đủ năng lực giúp đỡ, hỗ trợ người khác vượt qua, không chỉ với những lời khuyên suông, lý thuyết trên mây, cao ngạo và xa cách, mà từ những thực tế của cuộc sống vì Phật đạo không xa cách thế gian, Phật đạo ở ngay trong lòng thế gian. Làm sao cho những cánh sen xanh biếc mọc lên từ chốn bùn nhơ?

Phật là một nhà sư phạm tuyệt vời, thường dùng phương pháp giáo dục chủ động, dựa vào “đối tượng đích” mà thuyết giảng, thế mà cũng có lúc hằng mấy ngàn thính chúng đã bỏ đi vì không thể tin, không thể hiểu được điều Phật dạy. Không thể tin có viên ngọc trong chéo áo kẻ bần cùng, không thể tin Đề-bà-đạt-đa, một người phạm tội vô gián như thế được Phật thọ ký thành Phật mai hậu!

Cách tốt nhất ở đây phải là phương pháp “tiếp cận dựa vào cộng đồng” (Community-based approach). Cộng đồng Tỳ-da-ly có những đặc thù của nó, phải tiếp cận dựa vào nó, tự trong nó. Không thể đưa các vị A-la-hán đạo cao đức trọng, phạm hạnh tròn đầy, đến thuyết phục được các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… Không thể đưa các vị Bồ-tát trí huệ thâm sâu đến thuyết phục các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… về nhất thiết duy tâm tạo, vô thường, vô ngã, thực tướng vô tướng…! Phải có người tại chỗ. Phải từ bùn mà sen mọc lên. Đã có lần các vị Bồ-tát phương xa đến cõi Ta-bà tình nguyện giúp Phật, ngài từ chối và ngay lúc đó đã có vô số các Bồ-tát “tùng điạ dũng xuất” tại chỗ, từ đất vọt lên, sẵn sàng lãnh trách nhiệm. Phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng này đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng (community involvement), và có kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology) mới thành công. Không có sự tham gia của cộng đồng, không sử dụng kỹ thuật học thích hợp… thì các phương pháp dù hay cách mấy mà áp đặt, xa lạ, cũng trở nên vô ích, thui chột vì không hợp “thổ ngơi”!

Đối tượng đích (target population) lần này là năm trăm con nhà trưởng giả, trẻ tuổi, vương tôn công tử, đại gia, doanh nhân, trí thức của thành Tỳ-da-ly. Tất cả họ đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác) … nhưng chưa biết cách phải thực hành thế nào vì họ không thể xuất gia như các vị Bồ-tát kia.

Vấn đề là làm thế nào để các vị trưởng giả trẻ tuổi, doanh nhân, trí thức… này có thể trở thành Bồ-tát ngay tại cộng đồng của họ mà không cần phải cắt tóc, đầu tròn áo vuông của một vị sa môn?

Thực ra buổi thuyết giảng đặc biệt hôm nay của Phật tại Vườn Xoài không chỉ dành cho “đối tượng đích” nói trên mà chủ yếu còn dành cho tất cả các vị A-la-hán, Bồ-tát cùng các đệ tử gần xa của Phật, để chính họ tự nhìn lại chính mình và cũng phải tự thay đổi. Bởi thay đổi “cái nhìn” vốn là một sự thay đổi không hề dễ dàng! Phật muốn giới thiệu một phương pháp tiếp cận mới, tiếp cận dựa vào cộng đồng qua một “mô hình” Bồ-tát mới, “Bồ tát tại gia”, qua hình tượng một nhân vật kiệt xuất là Duy-ma-cật ở ngay trong thành Tỳ-Da-Ly vậy.

Bảo Tích thưa: “Bạch Thế Tôn! Năm trăm chàng con nhà trưởng giả đây, thảy đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nay muốn nghe việc làm sao có được quốc độ thanh tịnh của Phật. Xin đức Thế Tôn giảng thuyết các hạnh tịnh độ của chư Bồ-tát.”
Phật dạy: “Lành thay, Bảo Tích! Ông đã vì chư Bồ-tát hỏi Như Lai về hạnh tịnh độ. Hãy lắng nghe, lắng nghe! Hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì ông mà giảng thuyết.”

“Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát. Tại sao vậy? Bồ-tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy theo chỗ điều phục chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để vào trí huệ Phật mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để phát khởi căn Bồ-tát mà giữ lấy cõi Phật. Tại sao vậy? Bồ-tát giữ lấy cõi nước thanh tịnh là vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh.  Nhưng nếu muốn xây cất nơi hư không thì không thể được. Việc nguyện giữ lấy cõi Phật đó, chẳng phải là việc xây cất nơi hư không.”.

Bồ Tát tùy lòng ngay thẳng (trực tâm) mà khởi làm. Tùy chỗ khởi làm mà được lòng sâu vững (thâm tâm). Tùy lòng sâu vững mà tâm ý được điều phục. Tùy chỗ điều phục tâm ý mà làm được theo đúng như thuyết dạy. Tùy chỗ làm theo đúng như thuyết dạy mà có thể hồi hướng. Tùy chỗ hồi hướng mà có sức phương tiện. Tùy sức phương tiện mà giúp cho chúng sinh được thành tựu. Tùy chỗ thành tựu cho chúng sinh mà được cõi Phật thanh tịnh. Tùy cõi Phật thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Tùy chỗ thuyết pháp thanh tịnh mà trí huệ được thanh tịnh. Tùy trí huệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh. Tùy tâm được thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Cho nên, nếu Bồ-tát muốn được cõi nước thanh tịnh hãy làm cho tâm thanh tịnh. Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh”.

 

(ĐHN, Cõi Phật đâu xa, viết về kinh Duy Ma Cật)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước

27/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thư gởi bạn xa xôi

Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước

 

1. Bạn đã đọc chuyện này chưa? Chuyện kể ông Biển Thước (401-310 trước Công nguyên), một thầy thuốc người nước Triệu thời Đông Chu liệt quốc nổi tiếng là “Thần y”. Một hôm Ngụy vương hỏi Biển Thước: “ Ta nghe nói ba anh em nhà Thầy đều giỏi y thuật, thử nói ta xem trong ba người, y thuật của ai cao minh nhất?”

Biển Thước đáp: “Anh cả của thần y thuật cao minh nhất, anh hai của thần thứ nhì, còn thần kém nhất trong ba anh em”.

Ngụy vương ngạc nhiên: “Vậy sao Thầy nổi tiếng trong thiên hạ còn hai anh Thầy không ai biết đến?”

Biển Thước đáp: “ Vì anh cả thần chữa bệnh cho người khi bệnh chưa xảy ra, người bệnh trông như không có bệnh gì cả cho nên người ta không ai biết anh thần đã phòng bệnh cho họ từ trước; còn anh hai của thần trị bệnh ngay khi người ta mới phát bệnh, nên người ta cho rằng anh hai thần chỉ chữa được bệnh vặt mà không biết rằng nếu để bệnh trầm trọng thì nguy hiểm tính mạng nên chỉ nổi tiếng ở vùng quê, còn thần thì chữa khi bệnh tình người ta đã nguy ngập, tính mạng bị đe dọa… Điều thần làm là phá huyết mủ, phẫu thuật, đắp thuốc, những việc dính đến máu me, nên thần mới vang danh thiên hạ, nhưng dù bệnh có cứu được cũng thường để lại di chứng… Thần thua xa hai anh thần nhưng thiên hạ ít người biết vậy! (Trang Tử tâm đắc, Nxb Trẻ 2011).

Có thể nói Y đức… cao nhất chính là phòng bệnh, giúp cho người ta khỏe mạnh, ít đau ốm hoặc nếu có bệnh thì được chữa sớm khi bệnh chưa nặng vậy. Hải Thượng Lãn Ông cũng tự xưng mình là “Ông già lười Làng Hải Thượng” vì ước mong không còn ai bệnh tật để mình được rảnh rang làm thơ uống rượu ngoạn cảnh đó thôi…

 

2. Có những nguyên tắc chung hay còn gọi là những giá trị cơ bản của Y đức (phổ quát trên toàn thế giới) được dạy ở các trường Y xuyên suốt quá trình nhiều năm học tập và khi ra trường được tiếp tục giám sát bởi Tổ chức nghề nghiệp (Ordre des médecins, Bác sĩ đoàn) với Nghĩa vụ luận y khoa (Deontologie médicale, Luật hành nghề) một cách chặt chẽ.

YDUC Grecia1  Dĩ nhiên Y đức không thể dạy lý thuyết suông mà cần có những bài học thực tiễn từ cuộc sống (hành nghề), những trải nghiệm trong ứng xử, giao tiếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân, với đồng nghiệp, với cộng đồng v.v… và nhất là có những tấm gương để noi theo.

 

3. Các nguyên tắc chung hay còn gọi là giá trị cơ bản của Y đức:

              1) Làm điều có lợi nhất cho bệnh nhân (Beneficence)

             2) Trước hết, không làm điều có hại ( Primum non nocere),“First,                   do no harm”.

             3) Tôn trọng sự Tự chủ  (Autonomy)

             4) Bảo mật (Confidentiality)

             5) Công minh (Justice). Không kỳ thị , phân biệt đối xử (Non- discrimination).

             6) Tôn trọng nhân phẩm  (Dignity)

             7) Thỏa thuận với thông tin đầy đủ (Informed Consent)

             8) Nói sự thật (Telling the truth).

 

Thân mến,

Bs Đỗ Hồng Ngọc

(Ngày 27.2.2026)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

10/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chân thành cảm ơn  ĐD Hải Ninh, Xuân Trang, Quay và dựng phim Khải Nguyễn, Ca sĩ Hồng Thắm, Gia Hải…

MC Nhà thơ Lê Trúc Khanh (Thầy Lê Phước Nghiệp) và Tất cả các bạn Cần Thơ…  (01/02/2026)

Cảm ơn Nguyễn Văn Quyền.

Đỗ Hồng Ngọc.

(10.02.2026).

………………………………………………………………………..

Duyên, từ nơi xa xôi:

* sáng thức dậy trong ánh bình minh trong lành chưa có tiếng động của một ngày mới: buồn vui ra sao.  được nghe anh Ngọc và những người góp mặt trong buổi trò chuyện chia sẻ về cuộc đời : khi mở mắt chào đời cho đến cuối đời, đời người rất thật, xúc động vô cùng!

* nhìn anh Ngọc khi các em hát Sông ơi cứ chảy, thấy trong mình cũng  cả một dòng sông…

* bên ngôi trường cũ, hai người bạn tuổi xế chiều am hiểu cuộc đời, chia sẻ cảm tưởng về hoàng hôn: rất từ bi với chính mình, với đời…đã sẵn lòng đổi mặt trời cho một hoàng hôn…

❤️

………………………………………………………….

Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Huệ

Hội Nhà Văn TP. Cần Thơ

 

Thật bất ngờ trong buổi Trà Chiều ở Cần Thơ, nhà văn Thanh Huệ, 90 tuổi , gởi tặng tôi bài thơ và nói chị đã từng rất xúc động khi đọc bài “Thư cho Bé sơ sinh” từ 60 năm về trước…

 

Nhà văn Thanh Huệ, 90 tuổi, gởi bài thơ tặng ĐHN.

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Chuyến Về Cần Thơ đầu năm 2026.

10/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

CHUYỀN VỀ CẦN THƠ ĐẦU  NĂM 2026

Đỗ Hồng Ngọc

Lâu lắm, không có dịp về Cần Thơ. Nhận Lời mời của BTC Hội Xuân Cây Di Sản THPT Châu Văn Liêm  (Trường Phan Thanh Giản cũ) Xuân Bính Ngọ 2026, vào ngày 01/02/2026, tôi xếp túi xách lên đường ngay với chiếc gậy mây của mình bởi được biết đó là Ngày Hội Xuân dành riêng cho các Thầy Cô giáo tuổi U 90 của trường- cùng lứa tuổi của tôi- khi nhớ mình cũng đã U 90! Đề tài dành cho tôi là trò chuyện ít phút về Nếp sống An Lạc cho người cao tuổi, thật lòng tôi cũng muốn dịp này được gặp gỡ trao đổi học hỏi lẫn nhau. Trước đó BTC cũng đã tặng mỗi Thầy Cô cuốn “Nếp sống An Lạc” của tôi nên cuộc gặp gỡ chỉ là để “nhìn nhau” chút xíu cho vui!

Và thật cảm động biết bao khi thấy cựu học sinh tuổi 50-60, áo dài trắng với nón lá nữ sinh ca hát mừng Thầy Cô; cảm động biết bao khi thấy Cô cựu Hiệu trưởng 85 tuổi vung tay đánh trống “Tựu trường” như thuở nào, bên cạnh có hai cựu học sinh nâng đỡ; và cảm  động biết bao khi thấy Thầy Hiệu trưởng Trường Đại Học Cần Thơ Hà Thanh Toàn (cũng là cựu học sinh của trường)  nâng tách trà thơm mừng tuổi  từng Thầy Cô U 90  của mình!…

Dưới đây là vài hình ảnh chuyến đi, và một  clip video buổi Trà Chiều, một sinh hoạt “ngoại  khóa” do các “bạn trẻ” dành riêng cho tôi, với Đạo diễn Hải Ninh, Xuân Trang, Bs Mai Nguyễn, Ca sĩ Hồng Thắm… để tôi có được buổi đọc Thơ mình và các bạn Cần Thơ hát những bài thơ đó…

Với tôi, đây là một kỷ niệm sâu đậm của  Cần Thơ dành cho riêng mình đó vậy. Xin chân thành cám ơn tất cả.

“… Thương ai mà cồn Ấu/ Tròn xoe đôi mắt nai” (ĐHN 1986)

 

Từ trái: Xuân Trang, Bs Mai Nguyễn, Thầy Lê Văn Quới, Bs Đỗ Hồng Ngọc, Đạo diễn Hải Ninh, Nhiếp ảnh gia Trịnh Quốc Huy

 

MC Như Quỳnh và Hồng Thắm đang “quay” Bs ĐHN về Nếp sống AN LẠC cho người cao tuổi!

 

“Thầy ký tên tặng sách mỏi tay chưa?” (HN)

 

 

” Tranh thủ” thời gian thăm Trúc Lâm Phương Nam, trò chuyện cùng Thầy Bình Tâm, trụ trì… Sau đó ghé “vamxang” home, ăn bữa cơm trưa cân bằng âm dương….

 

Về Cần Thơ lúc này tìm được một cây Cầu Khỉ nguyên sơ như vầy không dễ! Nhưng chỉ dám dòm, dâu dám bước đi “thênh thang” như xưa!

(còn tiếp)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

27/01/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Gặp một mùi hương…

Đỗ Hồng Ngọc

 

Cố đi tìm Phan Tấn Hải thì gặp Nguyên Giác, một thầy tu miên mật một thời với Sư Tịch Chiếu (1912-2016) ở chùa Tây Tạng Bình Dương. Cố đi tìm Nguyên Giác thì gặp Phan Tấn Hải, một nhà thơ, nhà văn, nhà báo… giữa bụi trần mà… “gieo duyên” khắp chốn, bởi nghiệp lành, nối kết trong trường văn trận bút .. Còn cố đi tìm Nguyên Giác- Phan Tấn Hải thì chỉ gặp một người đang đuổi bắt một mùi hương! Không phải mùi hương từ bàn tay run rẩy nắm lấy tay cô bạn gái thời tiểu học ở cổng chùa đó đâu, cũng không phải mối tình đầu với cô bé Bắc kỳ “Minh này” ốm nhách thời lên mười với một rỗ đầy trái sa kê đó đâu…

Mà là mùi hương bay ngược chiều gió. Mùi hương của một cõi xứ mà người ta chỉ cần nghe mùi hương thôi đã giác ngộ, đã thấy biết (tri kiến) Phật. Ở đâu vậy? Ở xứ Chúng Hương, nơi có vị Phật tên là Hương Tích mà Duy Ma Cật đã đến xin cơm cho các vị Bồ tát tương lai ở thành Tỳ Da Ly dạo nọ. Đó là thứ hương thơm đủ để nuôi cả thân và tâm bất tận. Đó chính là hương Giới đức. Thứ hương thơm có thể bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. Phải được huân tập lâu ngày chày tháng, với Định, với Huệ. Hương thơm đó phải tích lũy từ từ mới đầy dần lên, mới sung mãn, tràn trề… đó là một thứ «vô tận hương”.

Dù Nguyên Giác- Phan Tấn Hải nói “Hạnh phúc là đang sống với chữ” mà thiệt ra không phải vậy! Anh sống với “Tứ y”, trong đó “y nghĩa bất y ngữ” là cốt lõi. Anh không chơi chữ, không vọc chữ, vò chữ, nắn chữ. Bởi sau chữ là lấp lánh nghĩa. Là cái thấy từ Alaiya thức khi đã thành Đại viên cảnh Trí.

Phan Tấn Hải thổ lộ “Có những truyện tôi viết trong nước mắt, có những truyện tôi viết trong tiếng cười, có những truyện tôi viết trong im lặng. Nhưng xuyên suốt là một ước mơ: làm đẹp cho cuộc đời này, dù chỉ bằng một dòng chữ, nơi ai cũng là ánh sáng”.

“Cũng có thể nói, tôi không thực sự viết truyện. Tôi chỉ viết lên những dòng chữ như thả lên những cánh chim trong tâm mình cho bay qua bầu trời văn học…”

Không như nhiều tác giả tạo ra nhân vật và giúp nhân vật sống trong kiếp sống của họ, tác giả như người đứng từ bên ngoài quan sát, mô tả, tưởng tượng… Phan Tấn Hải thì không. Anh viết mỗi bài, mỗi truyện từ kiếp sống của chính anh. Không có nhân vật. Không có tình tiết. Chỉ là những truyện “cổ tích” của chính mình trong “trí nhớ mù sương” của chính mình.

“Mỗi truyện là một kiếp sống tôi đã đi qua. Tôi sinh ra trong cốt truyện, sống trong từng dòng chữ, và rồi tan biến khi câu chuyện khép lại. Có khi là một người lữ hành cô độc, có khi là một đứa trẻ thơ ngây, có khi là một người mẹ, một người cha, một người tình, một người tu. Tôi đã sống như thế, nhiều lần, nhiều kiếp, trong từng dòng chữ, và rồi tan biến khi câu chuyện khép lại. Và rồi, khi trang giấy trắng khác lại mở ra, tôi lại sinh vào một kiếp mới. Do vậy, xin đừng hỏi là truyện hư cấu hay thật, hay nhân vật này là ai…”

Phan Tấn Hải dặn “xin đừng hỏi” làm tôi nhớ Tuệ Sỹ, một thiền sư, một nhà Phật học uyên bác, cũng từng căn dặn như thế về thơ “tình” của ông: Tâm Thiền thì không có ngôn ngữ gì khác biệt với ngôn ngữ thường tình. Nhưng còn ngại rằng khi đã cạo tóc mà tình thơ vẫn còn. Thôi thì, thiền đạo và thi ca là đồng hay là khác, cũng chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi.

Tự hôm nào suối tóc ngọt lời ca

Tay em run trên những phím lụa ngà 

(…)

Lời em ca phong kín nhụy hoa hờn

Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt 

Mờ phố thị những chiều hôn mái tóc

Sóng ai ngồi so phím lụa đàn xưa 

 

(Tuệ Sỹ. Những phím dương cầm)

 

Còn Phan Tấn Hải thì khiến tôi nhớ đến vết chim bay của Phạm Thiên Thư

Tôi khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

(…)

Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tưởng
Hay một vết chim bay

(Phạm Thiên Thư, Vết chim bay)

“Chỉ biết rằng, mỗi bài viết, mỗi truyện ngắn, mỗi bản dịch, mỗi bài thơ, dù mang tên nào, tôi đều đã sống một kiếp người khác nhau. Tôi chỉ là người viết, người đang kể truyện cổ tích, đang học cách tan ra như trâu bùn trong từng khoảnh khắc, và đang học cách để thấy mình là biển”.

Mỗi bài viết là một kiếp sống khác. Từ kiếp này qua kiếp kia, miên man bất tận như dòng tâm thức trôi đi trong cõi Alaiya. Cho nên đọc Đuổi bắt một mùi hương ta có dịp thấy từng kiếp sống của tác giả. Nhân vật nếu có, chỉ là “giả tưởng”, chỉ là cái cớ để “thị hiện” mà thôi.

Trở lại với Tập truyện Đuổi bắt một mùi hương, Phan Tấn Hải bần thần:

Tôi nghĩ rằng thế hệ của tôi có thể sẽ là thế hệ cuối cùng (hay sắp cuối cùng) của những người viết tiếng Việt ở hải ngoại. Thế hệ sau sẽ viết thuần tiếng Anh. Báo tiếng Việt ở hải ngoại có thể sẽ từ từ biến mất trong một thập niên nữa. Văn học tiếng Việt lúc đó chỉ còn là chuyện của người trong nước. Phải chấp nhận viễn ảnh vô thường như thế. Phải chăng, các nhà văn hải ngoại như thế hệ của tôi, chỉ là những dòng chữ cuối cùng của một trang sử sắp lật qua? Thêm nữa, mùi của những trang giấy mới, mùi của những dòng mực in đang bị trận gió vô thường thổi tới, vùi dập. Xã hội tương lai hẳn là không cần giấy nữa. Và lúc đó sẽ là chuyện của các nhà văn thế hệ tương lai, khác hẳn bây giờ, mà tôi không hình dung nổi. Và bây giờ, tôi vẫn rất mực yêu thương những dòng chữ còn đang được níu kéo nơi đây, mà tôi đang viết trên trang giấy này.

Rồi một ngày nào đó, độc giả sẽ quên hết những chữ tôi viết, và sẽ chỉ còn nhớ rằng tôi đã đem truyện cổ tích vào đời thường, để làm cho cuộc đời đẹp hơn. Và đó sẽ là hạnh phúc của người viết và của người đọc.

Cái làm cho cuộc đời đẹp hơn, cuộc sống hạnh phúc hơn đó, có thể tìm thấy ở đâu?

Ở trong sự “hư vỡ” của vô thường, vô ngã, duyên sinh, thực tướng vô tướng…

“Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ”.

(Nguyên Giác-Phan Tấn Hải. Mỹ học của hư vỡ/ Kintsugi).

Biết sống với Hư Vỡ là biết sống với Như Lai. Nó vô tướng mà hiện tướng. Nó chân không mà diệu hữu.  Nó có cái đẹp của vô thường mà thường, của vô ngã mà ngã, của khổ đau mà an lạc… Nó không ở đâu xa. Nó quanh ta. Nó trong ta. Cho nên “cư trần” mà “lạc đạo”, “thả tuỳ duyên” như Trần Nhân Tông nói.

Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…?

Saigon, 24.11.2025

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Video Podcast: Học cách Phật dạy con

03/10/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Video Podcast do Phùng Minh Bảo thực hiện (02.10. 2025) trên kênh Giác Ngộ: Tâm linh và Sức khoẻ.

Học cách Phật dạy con

dựa trên bài viết của Bs Đỗ Hồng Ngọc, trong cuốn CON ĐƯỜNG AN LẠC.

 

 

https://youtu.be/xkyOGng-08I

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Video Podcast: Đỗ Hồng Ngọc “GIÚP CHA MẸ VUI TUỔI GIÀ”

27/09/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Video Podcast: “GIÚP CHA MẸ VUI TUỔI GIÀ”

Đây là bài viết của tôi Giúp Cha Mẹ Vui Tuổi Già trên Website dohongngoc com và in lại trong CHUYỆN HỒI ĐÓ.

Viedeo Podcast được Phùng Minh Bảo thực hiện ngày 26.9.2025

Cảm tạ Phùng Minh Bảo.

Trân trọng chia sẻ cùng các thân hữu trong Mùa Vu Lan này vậy!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Video Podcast. Phùng Minh Bảo: Chia sẻ trải nghiệm Chăm sóc Mẹ già

26/09/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Video Podcast. Phùng Minh Bảo: Chia sẻ trải nghiệm Chăm sóc Mẹ già

Mẹ Phùng Minh Bảo mới mất. PMB chia sẻ qua Video Podcast này những ngày tháng kề cận Mẹ và những trải nghiệm rất riêng tư của em…

Cảm ơn PMB,

ĐHN.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Video Podcast: Đỗ Hồng Ngọc TUỔI GIÀ HỌC PHẬT

24/09/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

TUỔI GIÀ HỌC PHẬT

Đỗ Hồng Ngọc

Video Podcast do Phùng Minh Bảo thực hiện (24. 09. 2025)

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Vu Lan và BÔNG HỒNG CHO MẸ

29/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

VU LAN và Bông Hồng Cho Mẹ

 

Nguyễn Thị Khánh Minh: “Ngoại chờ bên kia sông”

“Lại đến mùa Vu Lan. Những đoá hồng đỏ hạnh phúc bung nở vành môi vẽ một vòng xum vầy thỏ thẻ Mẹ Ơi. Những đoá hồng trắng ngân đọng nước mắt lung linh đôi bờ xa vắng âm vang tiếng gọi Mẹ Ơi. Trong niềm, vừa hân hoan vừa cảm động, tôi nhớ đến bài thơ về Mẹ mà khi đọc nhịp tim tôi như bị nghẹn,

Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đoá hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông

(Bông Hồng Cho Mẹ, Đỗ Hồng Ngọc)

Thử xem. Đọc. Nghe. Rồi hít vào một hơi thở sâu, im vắng, thì mình như nghe được tiếng nước mắt đang vỡ ra… Vỡ bung như ngọn sóng xanh lấp lánh biển pha lê. Vỡ tung như ngọn pháo hoa rơi vô vàn sợi ánh sáng trong đêm. Những cái vỡ, không tan mà thăng hoa, phải chăng đó là tận cùng của Đẹp? Như hạt nước mắt này, nó bung bung. Ánh lên bóng của Ngoại đang đứng bên kia sông, bên kia là bên của miên viễn không còn sinh tử? Và Mẹ, Mẹ đang từ cõi chết đi vào cõi sống ấy để lọt vào vòng ôm ấm áp của Ngoại. Mẹ đi từ nụ hồng đỏ nở duyên trùng phùng Ngoại. Ý thơ mầu nhiệm làm sao.

Tôi thấy không nói nên lời được để tả cho chính xác cảm giác của mình về sự mênh mang “ý tại ngôn ngoại” trong sâu thẳm bài thơ này. Về cái rất không nghĩa của Mất Còn. Đến với tôi là ý niệm con đường sinh tử đang xóa đi dưới cảm xúc của đứa con, -là Đỗ Hồng Ngọc đây-, người chiêm nghiệm sống chết thật là như không, đóa hồng trắng người đang đeo là một thực tại, đóa hồng đỏ đang rưng rưng trên áo Mẹ kia, là áo nghĩa của thực. Tất cả đều ở thì đang, không còn hôm qua ngày mai phút tàn giây tới. Sinh mệnh không khởi đi và chấm hết bằng hai đầu tiếng khóc nữa. Là Đây. Là Đang. Một thực tại sống động xóa hết biên giới không gian và thời gian. Hình dung Mẹ, trong hơi thở hắt ra bỗng trong suốt nhẹ nhàng đứng lên, trong ngày hội tưng bừng của Tình Mẫu Tử, cúi nhìn bàn tay đứa con run run cài lên ngực áo mình một đóa hồng đỏ, và Mẹ phất phới đi trong nôn nao cho kịp giờ hẹn với Ngoại. Ôi ta mất mẹ và ôi Mẹ vừa có Ngoại. Vô biên lâng lâng nỗi Còn Mất… Huyễn ảo vô cùng khiến những giây tơ vi tế nhất trong cảm xúc ta bị đánh động.

Ngoại Chờ Bên Kia Sông, tôi viết hoa vì mỗi mỗi chữ của câu thơ này là khởi đề dẫn đến chiêm nghiệm ảo hóa về sinh tử. Và toàn bài thơ là tấm tình trong vắt ban sơ của người con, rất nhỏ, mà cũng đã rất già. Bởi rất nhỏ thì mới yêu thương Mẹ được hồn nhiên như thế. Và phải chăng, rất già mới có thể biến yêu thương ngây thơ thành một tình yêu vượt qua được đau đớn của chia lìa sinh tử, như thế.

Cảm ơn Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, cho tôi biết thêm một nhịp đập thương yêu nữa của Hiếu Tử, cho tôi từ bây giờ đã có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một lúc nào đó phải xa Mẹ. Không phải là một cái xa hẳn rồi, mất hẳn rồi như tôi vẫn thường nghĩ nữa. Trong hạt nước mắt rơi lại thấp thoáng nụ cười, nhìn Mẹ của ta lại cài hoa hồng đỏ về bên Ngoại. Ôi! Cái không nói của Ngoại Chờ Bên Kia Sông đã lấp đầy cảm xúc và ý nghĩ của tôi đến thế!

Và lúc này đây, còn được thấy mẹ ra vào thì hãy thỏ thẻ bên vai mẹ rằng,

… mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (thơ Đỗ Trung Quân)

Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình, gửi đến các con tôi,

… tận cùng hạt lệ mẹ

là nước mắt con rơi

tận cùng tiếng cười mẹ

là nụ cười con vừa mở

và con ơi

tận cùng hư vô mẹ

sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại

(thơ NTKM)

Santa Ana, Mùa Vu Lan

 

Tô Thẩm Huy

“Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 20 chữ, mà thâm thúy, ảo diệu vô cùng. Đọc lên điếng cả hồn.

Phải chép lại ra đây.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho Mẹ đoá hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực,
Ngoại chờ bên kia sông

Rõ ràng Nguyễn Thị Khánh Minh đã cảm bài thơ đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Thật là may mắn có được người đồng điệu như thế.

Bài phổ nhạc hay, hai giai điệu khác nhau mà hòa hợp, hỗ tương lẫn nhau. Tuy thế, cảm xúc khi đọc bài thơ nó đến ào ạt, như cùng một lúc nó trào dâng, bủa vây tứ phía, làm bàng hoàng, run rẩy khắp cả châu thân. Cảm xúc từ bài nhạc nó đến khoan thai, từ tốn, êm đềm”.

 

Nguyễn Thị Tịnh Thy: “Yếu tố bất ngờ trong bài thơ bông hồng cho mẹ”:

“Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người… Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.

(…)

Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ. Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật…”

(đặc san Liễu Quán, số 12, Vu Lan 2017).

 

Mùa Vu Lan này, xin gởi bạn đôi dòng về bài thơ Bông Hồng Cho Mẹ như một lời chúc mừng đến bạn, người đã rất sướng vui, tự hào, khi còn được cài một bông hồng đỏ thắm trên ngực áo của mình!

“Rồi một chiều nào đó anh về, nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu… rồi nói nói với Mẹ rằng…Me ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?…” (Phạm Thế Mỹ, Bông hồng cài áo. Thơ Nhất Hạnh).

ĐHN

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Giao Lưu-Ra Mắt Sách Chuyện Hồi Đó của Đỗ Hồng Ngọc (10.8.2025)

21/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Video Clip: Giao Lưu – Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ của Đỗ Hồng Ngọc (10.8.2025)

Nguyễn Văn Quyền:

Cám ơn Nguyễn Văn Quyền đã thực hiện Video Clip này.

Đỗ Hồng Ngọc.

(21.8.2025)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Chủ nhật 10/08/2025: Có một buổi trò chuyện cùng Đỗ Hồng Ngọc ở Đường Sách.

04/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chủ nhật 10/08/2025:

Có một buổi trò chuyện cùng Đỗ Hồng Ngọc ở Đường Sách.

 

 

CHUYỆN HỒI ĐÓ
của Bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC

Tôi đã nhận được tập sách này đã một tháng nay do Bs. Ngọc riêng gởi, góc trang bìa sau ghi rõ Bản thảo 2025-Sách tặng, dày 930 trang. Tôi rất ngạc nhiên sao lại dừng ở chỗ “Bản thảo” nhưng vui vì thấy có lý, khi vừa nhận tin nhắn là sáng CN 10/8 này tại Đường Sách TP/HCM tổ chức ra mắt tập sách này và có buổi giao lưu của chính tác giả. Tôi càng tin mình nghĩ đúng, vì trước đó tôi đã coi đây với một nội dung không khác gì một tác phẩm Văn học đích thực. Và đúng vậy, Phanbook và Nxb Phụ Nữ nhạy bén đã thuyết phục được anh để chuyển qua xuất bản chính thức, dù còn 460 trang, để giới thiệu đến mọi người từng yêu mến Bs. Đỗ Hồng Ngọc qua trên 60 đầu sách đã xuất bản.

Đọc ở “Lời Ngỏ”, anh viết: “Tới một tuổi nào đó, người ta hay nói… chuyện “Hồi đó”. Và tiếp “mà chuyện gì Hồi Đó cũng hay, cũng đẹp, cũng ngon… hơn bây giờ”. Ồ, vậy là cái tựa tập sách Chuyện Hồi Đó không phải là Tập Hồi Ký, quá tinh tế, sâu sắc dù có nói về cuộc đời mình. Bs. ĐHN muốn tránh đặt “loại” cho tập sách này là Hồi ký đang lan tràn hiện nay… Anh coi đây là chuyện của mình -cũng đáng kể, đáng viết lại- Cái “Ngã” tích cóp to đùng 85 năm nay vậy. Cách phân trần dí dỏm nhưng đúng với tính cách khiêm nhường, chân thật của anh.

Tập sách (sơ thảo) gồm 7 chương và phần Phụ lục… Nội dung đã phản ánh những “cái đáng nhớ”, đáng trân trọng về bản thân, gia đình, bè bạn, quê hương… Những dấu ấn qua các tác phẩm văn học, những công trình nghiên cứu y học, Phật học… Đặc biệt, ở tập sách này đã hội tụ được những anh tài, trí thức học giả, nhà văn nổi tiếng đã nói về tác phẩm của anh… hiếm lắm!

Có thể nói Chuyện Hồi Đó, theo anh là những chuyện cũ, xưa, kể lại bởi một người có tuổi, già khú, có thể trong một buổi “trà dư tửu hậu” cùng bạn bè… hãy coi đây là một ghi chép (ký) theo thời gian. Bs. Ngọc vẫn băn khoăn dù danh chánh ngôn thuận tập sách đã có nhà xuất bàn làm bà đỡ là vui và tập sách xứng đáng với tư cách một tác phẩm, một công trình của một đời văn, một đời không mệt mỏi cho hoạt động khoa học…

*PHAN CHÍNH
La Gi – 6/8/2025

 

Vài cảm nghĩ về “Chuyện Hồi Đó” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Nhân ngày Ra Mắt Sách 10.8.2025 tại Đường Sách Tp.HCM) 

  • Thời gian có thể làm mờ nhiều thứ, nhưng lại khiến vài người, vài điều trở nên lấp lánh hơn. Có những mối duyên, càng lâu càng sâu và cũng có những câu chuyện, càng xưa càng đáng để kể lại. Nhất là những câu chuyện gắn liền với hành trình trưởng thành – những nơi đã đi qua, những người đã từng gặp, những nghề đã làm và cả những điều âm thầm đã góp phần tạo nên chúng ta của hiện tại.

Và đôi khi chúng ta chọn kể lại chuyện hồi đó không phải để níu giữ thời gian, mà như một cách để tri ân những điều đã nhận, những người đã tin yêu và đồng hành.

Và hôm nay, một buổi sáng cuối tuần đẹp trời chúng ta có dịp cùng nhau gặp gỡ và lắng nghe một vị bác sĩ, một người thầy, một nhà văn, người hành thiền đã đi qua hơn 85 năm cuộc đời kể về rất nhiều câu chuyện hồi đó đầy giá trị.

 

  • Hầu hết chúng ta đều biết đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ Nhi khoa có tiếng trong ngành, đồng thời cũng có một khoảng thời gian dài giảng dạy tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch TP.HCM.

Bên cạnh đó, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn là một cái tên quen thuộc với bạn đọc qua các đầu sách về sức khỏe, giáo dục, đời sống tinh thần như:          Viết cho những bà mẹ sinh con đầu lòng, Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, Già sao cho sướng? để có một tuổi già hạnh   phúc;  Thiền và sức khỏe; Một ngày kia … đến bờ; Buông; Khi người ta lớn; Ăn vóc học hay… Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chinh phục được mọi giới, mọi        lứa tuổi từ các em tuổi mực tím mộng mơ, sinh viên y khoa, các vị phụ huynh đến quý vị lão niên không chỉ bởi nội dung sách đa dạng mà trong         cách viết, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn nhẹ nhàng, hóm hỉnh, chân thành tạo cảm giác dễ chịu như một người bạn đang đối thoại trực tiếp với người  đọc.

Ở tuổi 85, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc một lần nữa trở lại cùng độc giả với tác phẩm mang tên Chuyện hồi đó. Cuốn sách không viết theo lối        hồi ký thông thường, mà tập hợp những câu chuyện bình dị, thấm đẫm chiêm nghiệm được chắt lọc qua năm tháng tác giả sống cùng văn học, y        học, Phật học và thiền định.

  • Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sẽ đưa độc giả theo từng trang sách về với những nơi ông đã từng đặt chân đến, những người đã từng gặp gỡ và trò chuyện, những điều đã được học và truyền dạy…

Trong cuốn sách này, ông dành hẳn một phần để nói về chuyện học nhưng không theo cách thông thường. Bác viết “Dạy để học” và “Đi để học”.         Hai cụm từ tưởng như đơn giản, mà thật ra là cả một quá trình khám phá: vì sao dạy lại là để học? Và bác đã “đi để học” như thế nào trong           hành trình làm nghề của mình?

Có lẽ, ở ngã rẽ chọn ngành nghề ban đầu,  người ta đều ít nhiều mang theo một chút mơ hồ, một chút tò mò, có người chọn nghề vì đam mê, có        người vì hoàn cảnh, cũng có người chỉ nhận ra ý nghĩa của con đường mình đi sau rất nhiều năm đã bước. Vậy ngày đó bác đã chọn và học              ngành y ra sao? Có khó khăn gì hay không? Và vì sao bác lại chọn khoa Nhi?

  • Bác giải thích thêm cho các độc giả về ý nghĩa của từ “Y đức” được không ạ? Và theo bác Y đạo – Y đức – Y thuật khác nhau như thế nào?  trong suốt nhiều năm làm nghề, bác không chỉ chữa bệnh mà còn rất kiên trì với một điều tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng nền tảng đó là thực hiện Chương trình Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu (Primary Health Care). Cụm từ này ngày nay được nhắc đến nhiều hơn, nhưng có lẽ không phải ai cũng hiểu đúng. Với bác, Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu thật sự là gì? Và bác đã từng góp phần làm gì để thực hiện cho chương trình này?
  • Có một câu nói nghe qua thì có vẻ nửa đùa nửa thật nhưng lại khiến người trong nghề y đôi khi phải ngẫm nghĩ: “Bác sĩ mà cũng bệnh à?” Ở vị trí là một bác sĩ, bác nghĩ thế nào về câu hỏi này? Và bác có thể chia sẻ thêm những trải nghiệm thực tế khi bác sĩ bệnh thì khác gì với mọi người?

Những tác phẩm của bác luôn cho thấy mối liên hệ bền chặt giữa nghề y và đời sống tinh thần. Vậy tất cả những trang viết về văn chương, thơ          ca, những bài học từ Thiền… có mối liên hệ như thế nào với nghề y của bác?

  • Có lẽ nhiều người từng là học sinh, sinh viên vào thập niên 80–90 vẫn còn nhớ một chuyên mục rất đặc biệt trên báo Mực Tím mang tên “Phòng mạch Mực Tím”. Ở đó, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc không chỉ là người giải đáp sức khỏe mà còn như một người bạn lớn nhẹ nhàng, thân tình. Thưa bác, cơ duyên nào đã đưa bác đến với chuyên mục đặc biệt này? Và trải nghiệm ấy đã để lại cho bác những điều gì đáng nhớ nhất không chỉ với tư cách một bác sĩ, mà còn là một người viết cho tuổi trẻ?
  • Bs Đỗ Hồng Ngọc không chỉ cầm ống nghe, mà còn cầm bút viết về sức khoẻ, về Phật học, về thi ca mà điều đặc biệt là dù viết gì, chữ của bác cũng khiến người ta thấy nhẹ lại, lắng lại, và đôi khi được “chữa lành”. Với bác, chữ nghĩa có phải cũng là một hình thức chữa lành không? Và bác bắt đầu hành trình viết như thế nào?

Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng ít nhất một lần tự hỏi: Giữa cuộc sống bộn bề và nhiều bất an này có hay không một con đường dẫn tới an             lạc? Là một người đã có quãng thời gian dài chiêm nghiệm từ y học đến Phật học, vậy theo bác liệu có một con đường an lạc thật sự? Và trong         nhịp sống hối hả ngày nay, bác nghĩ bước đầu tiên mỗi người có thể làm gì để tìm được sự an lạc, không chỉ cho thân mà còn cho tâm?

Hiện nay có một cụm từ thường hay được nhắc đến đó là “chữa lành”, đặc biệt là đối với người trẻ – những người thường xuyên đối diện với rất         nhiều áp lực và cần tìm kiếm các phương pháp “chữa lành” để hồi phục lại năng lượng cũng như tinh thần. Vậy theo bác có thể giúp “chữa lành”         cho người trẻ được hay không?

Là một người đã tự học, nghiên cứu, chiêm nghiệm và chia sẻ về đạo Phật rất nhiều. Vậy nếu trước một người muốn bớt đau khổ nhưng chưa           biết về đạo Phật, bác sẽ có lời khuyên như thế nào?

  • Tham dự buổi trò chuyện ngày hôm nay cũng có rất nhiều độc giả trẻ tuổi – những người đang trong hành trình chinh phục đam mê và sự nghiệp hay thậm chí cũng có rất nhiều người vẫn đang đi tìm niềm đam mê thật sự của mình. Điều đó đôi khi khiến người trẻ cảm thấy kiệt sức và hoang mang. Vậy bác có thể cho thế hệ trẻ một lời khuyên khi chọn và đi trên con đường nghề nghiệp của mình?

Những ai đã biết đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đều biết từ xưa đến tận bây giờ bác vẫn luôn cần mẫn và dành hết tâm huyết cho cả y học lẫn văn           chương và Phật pháp. Vậy bác có thể chia sẻ bí quyết để có thể cân bằng được nhiều việc như vậy không ạ?

Thảo Nguyên (theo Phanbook).

……………………………………

Vincent Ngô phỏng vấn Bs Đỗ Hồng Ngọc về cuốn sách mới: CHUYỆN HỒI ĐÓ

(Ghi chú: Vincent Ngô ở Úc về, hẹn Cafe với tôi ở Press Coffee Tp.HCM ngày 20.7.2025, lúc sách chưa kịp ra mắt. Buổi trò chuyện có ghi hình. Và anh mới gởi tôi clip video đặc biệt này do anh dàn dựng, thực hiện nhân dịp có buổi Ra Mắt Sách tại Đường Sách ngày 10.8.2025).

Cảm tạ Vincent Ngô.

Và xin chia sẻ đến bạn bè.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Đọc lại “Thư gởi người bận rộn”.

22/07/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 Thư gởi bạn xa xôi,

Minh Lê, người bạn trẻ xa xôi vừa gởi cho một bài mới viết còn nóng:

Đọc lại “Thư gởi người bận rộn”.

Vui ghê! Hơn 15 năm rồi đó, kể từ ngày cuốn Thư Gởi Người Bận Rộn ra mắt, và đã được tái bản liên tục nhiều lần. Rồi im re. Thời đã khác. Thế đã khác. Người “bận rộn” đã khác, hay chẳng còn ai bận rộn nữa! Ai cũng vui thú an nhàn rồi chăng?

Mình gởi thêm cho bạn một đoạn Lời Ngỏ của cuốn sách xưa và kèm bài “Chữ Nhàn” coi lại cho vui nha.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Tài bản lần thứ tư, 2010

Đọc lại: “Thư gửi người bận rộn”

Minh Lê (NT)

Bạn thân mến,
Bắt chước Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tôi cũng thầm tưởng tượng ra hình ảnh một doanh nhân trung niên, hay thanh niên vì thời nay người trẻ lập nghiệp sớm khá nhiều, hiểu biết và đam mê kinh doanh nên rất là bận rộn. Nhiệm vụ của tôi là “bán” được cho bạn cuốn Thư gởi người bận rộn của ông bác sĩ kiêm văn sĩ trên.
Chắc bạn đang cười mỉm, “Đã bảo bận rộn thì sao có thì giờ đọc thư?” Vậy là bạn bị trúng ngay cái bẫy của ông bác sĩ luôn cười tủm tỉm kia rồi, vì hai bài đầu tiên trong Thư viết về “nhàn” và “không có thì giờ”. Ổng không phải doanh nhân, nhưng đã từng cực kỳ bận rộn tới một ngày ổng… vô cấp cứu, nên coi bộ ổng dễ dàng “đi guốc trong bụng” những người bận rộn. Ổng “đi guốc” kiểu nào, thì bạn đọc đi rồi coi đúng không nha.
Chưa hết đâu, ông bác sĩ còn bàn luận sang chuyện khó nói như rối loạn dương cương, và vài bệnh thời đại như mất ngủ, bệnh giả (sợ bệnh quá mà sinh bệnh), v.v. Ổng còn đi lo chuyện trời ơi như lo người bận rộn “không ăn vì đói, vì ngon, vì vui mà vì để giao tiếp, để làm việc, để tranh luận, thương thảo” (bài “Hột mít lùi tro”) Rồi ổng lo người bận rộn không có thì giờ gần gũi con, cho con đầy đủ vật chất nhưng để mặc con tự lớn thành… con hư hồi nào không hay. (“Cũng không phải là chuyện dễ!”)
Và dĩ nhiên, ổng là bác sĩ nên tránh sao khỏi chuyện… kê toa thuốc. Toa gì đây? Bạn nhớ đọc bài “Cái rún của vũ trụ…” và “Êm chậm sâu đều…” nha. Ông bác sĩ nói về một chuyện đơn giản nhứt, thiết thân nhứt mỗi ngày mà ta thường dễ dàng quên béng đi mất. Quà tặng kèm là bài “Khúc khích trên lưng…”. Cười rất quan trọng đó, hỡi người bạn doanh nhân của tôi ơi, hãy tự hỏi mình xem mỗi ngày bạn cười một cách thoải mái và chân thật được bao nhiêu lần?
Ai lo lắng chuyện khó nói thì đọc “Bò, tại sao điên?” và “Rối loạn…”, có lẽ cả “Thầy trò Đường tăng…”. Đọc “Bò, tại sao điên?”, tôi không thể không cười khúc khích một mình. Thừa nhận, tôi đang “cười trên nỗi đau của người khác”, nhưng muôn sự là tại ông bác sĩ nói chuyện “tế nhị” một cách quá hài hước và dí dỏm. “Rối loạn…” và “Thầy trò Đường tăng” là hai khía cạnh khác nhau của vấn đề, lúc “không được” thì cần làm gì và lúc “được quá” cũng nên nhớ gì.
Muốn trị “bệnh giả”, đọc “Tùy hỷ!”, “Chích một phát!”, “Những người biết quá nhiều…”, “Safe”. Thông tin về bệnh tật và thuốc giờ tràn lan trên mạng, ngoài khía cạnh tích cực cũng làm nhiều người tự lo lắng, nghi mình bị bệnh này kia. Đi khám bệnh dĩ nhiên lòi ra một đống bệnh, trong đó đa số là “bệnh thời đại” như mỡ máu, tiểu đường, huyết áp cao, v.v. Vậy là uống thuốc, ăn kiêng, lo lắng triền miên. Người bận rộn ngày nay không thiếu tiền để lo cho sức khỏe, nhưng lo cách nào cho đúng và làm sao phòng chữa bệnh đúng cách thì sao không thử nghe ông Bác sĩ?
Làm cha mẹ thời nay là việc khá đau đầu so với vài chục năm trước. “Cũng không phải là chuyện dễ” bàn chuyện “mê đắm thần tượng” của tuổi mới lớn. “Canh cánh bên lòng” cố vấn về giáo dục giới tính cho con. “Nói “không” hổng dễ!” phân tích tâm lý con trẻ trước những cám dỗ và thói quen xấu. Vừa là người cha vừa có kinh nghiệm làm truyền thông giáo dục sức khỏe nhiều năm, người viết cứ vậy tâm sự với người đọc một cách nhẹ nhàng mà thấm thía.
Ông Bác sĩ còn “tài lanh” nhắc nhẹ bạn về cách chăm sóc cha mẹ ở tuổi già bằng “Một bông hồng cho những ai…” và “Chẳng cũng khoái ư?” Ai quan tâm tới vấn đề này nên đọc thêm cuốn Gió heo may đã về và Già ơi chào bạn, cả hai cuốn này tôi đều đã giới thiệu với bạn trước đây rồi đó.
Thực ra Thư gởi người bận rộn không chỉ dành cho doanh nhân, mà còn cho cả người rảnh rỗi. Ờ, rảnh quá nên mới quan tâm chuyện “Cắt nghĩa tình yêu?”, từ “làm sao cắt nghĩa được tình yêu” (Xuân Diệu) của vài chục năm trước, tới “tình bạn là tô hủ tiếu, tình yêu là tô bún riêu” của một tác giả hiện đại không biết tên. Đến “Chời ơi! áo dzài…” bình loạn về lễ hội áo dài ở Huế, “Đứa con của nàng Kiều” nghe mà… giật mình, và nhiều bài khác.
Cuối cùng, tôi cực kỳ tâm đắc với nhận xét của Bác sĩ về doanh nhân trong bài “Những người lãng mạn”: “Khác với nhà thơ lãng mạn để mà lãng mạn, nhà doanh nghiệp có khả năng biến lãng mạn thành hiện thực”. Đúng vậy, một doanh nhân có đam mê, có nghị lực, “biết làm ăn mà cũng biết hưởng nhàn, biết giữ gìn sức khỏe, không xa hoa lãng phí, không kiêu căng ngạo mạn, lại có lòng thương người, giúp đời” (“Giấy ngắn tình dài…”) ắt sẽ là người vừa đọc “Thư” vừa cười tủm tỉm, trách ông bác sĩ khéo lo xa… Nhưng trước hết, bạn phải có sách để đọc đã, đúng không?
Thân mến,
Minh Lê

………………………………………………………..

Trích Thay lời ngỏ Thư gởi người bận rộn

Tôi là một kẻ làm biếng, lại hành cái nghề mà ông tổ là cụ Hải thựơng Lãn ông, ông già lười ở làng Hải Thương, vậy mà bỗng trở thành một người bận rộn lúc nào không hay!
Số là ông bạn nhà báo của tôi, ông Trần Trọng Thức, một hôm gõ cửa bảo: “Nghe nói ông sắp về hưu, rỗi rãnh, viết cái gì đó cho báo Doanh nhân Saigon Cuối tuần cho vui đi”!

Nghe “doanh nhân” tôi đã hoảng vì cái sự bận rộn của họ. Biết ý, ông cười: Đây là “Doanh nhân cuối tuần”, không phải chuyện làm ăn đâu! Viết cái gì cũng đựơc, miễn là cà kê dê ngỗng.có hơi hướm sức khỏe một chút… là đựơc! Tôi bèn tra tự điển: cà kê, có nghĩa là dài dòng, hết chuyện này sang chuyện khác, còn dê ngỗng thì ai cũng biết! Thôi thì nể bạn…

Tôi nhớ André Maurois, người mà tôi rất mến mộ đã từng víết Lettres à l’inconnue (Thư gởi người đàn bà không quen biết, Bản dịch Nguyễn Hiến Lê) bằng cách tưởng tượng ra một người phụ nữ xinh đẹp, tuổi khoảng ba mươi, có nhan sắc, thông minh và nhạy cảm… để ông viết mỗi tuần một bức thư gởi cho người trong… mộng, trao đổi về mọi thứ chuyện trên đời. Tôi thử bắt chước tạo ra cái mục Thư gởi người bận rộn, lấy ý từ chữ “business”, là ‘bận rộn’ xem sao. Và tôi cũng tưởng tượng ra người bận rộn của tôi. Nghĩ gì viết đó. Cà kê dê ngỗng mà. Nhưng viết chỉ được ít lâu thì hết chuyện.

Nhớ hồi xưa có đọc một cái truyện ngắn đâu đó kể một người cô đơn, cả đời không ai thèm viết thư cho mình, thấy bạn bè ai cũng có thư đọc mà giận, bèn mỗi ngày tự viết cho mình một bức, đem ra bưu điện gởi về địa chỉ với tên mình đàng hoàng, rồi cũng ung dung mở thư ra đọc, tủm tỉm cười một mình khoái trá…Tôi lại bắt chước anh ta mỗi tuần viết cho mình một bức thư như vậy. Chẳng ngờ đựơc độc giả khen, nói cà kê dê ngỗng mà coi cũng được! Từ đó tôi trở thành một ngừơi bận rộn…Thứ Tư nào cũng phải nộp cho tòa sọan một bức thư bất kể trời mưa hay nắng! Mà độc giả mới dễ thương làm sao…

………………….

Chữ “NHÀN”

Chữ NHÀN là chữ làm sao! Nguyễn Công Trứ đã kêu lên như vậy, từ mấy trăm năm trước. Kêu chứ không phải hỏi. Bởi vì trước đó ông đã giải thích rõ ràng rồi: Thị tại môn tiền náo/ Nguyệt lai môn hạ nhàn. Chợ ở cửa trước thì “náo”, còn trăng vào cửa sau thì “nhàn”. Thế thôi! Không biết ai là người đầu tiên đã nghĩ ra một định nghĩa đơn giản mà thâm thúy đến vậy qua cách viết tượng hình của chữ Hán: giữa chữ môn mà có chữ thị thì thành náo, còn giữa chữ môn mà có chữ nguyệt thì thành nhàn. Thời buổi “thị trường” toàn cầu hóa như chúng ta đang sống hiện nay thì chợ ở tứ phía, ở ngay trong nhà cũng có chợ chen vào, cho nên không dễ mà tìm một chút ánh trăng qua cửa sổ! Ở các nước Âu Mỹ, workmania là một thứ bệnh “điên vì mê làm việc” đến nỗi tình trạng tâm thần, tự tử, tim mạch… ngày càng tăng. Ở Châu Á, bệnh karoshi chẳng hạn, một thứ bệnh dịch do làm việc quá nhiều, quá sức, làm như điên, đến nỗi sinh nhiều biến chứng và gây cả tử vong như chúng ta từng nghe thấy ở một số doanh nhân Nhật và đang lan ra nhiều nước. Liên Hiệp Quốc đưa “quyền nhàn tản” vào trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền để khuyến khích người ta nghỉ ngơi mà chả ai thèm nghe! Nghe sao được, nhàn hay không là ở mỗi người chứ. Bắt người ta làm việc, cưỡng bức lao động thì dễ chớ ai nỡ bắt người ta nhàn, khi người ta muốn được “bận rộn”!
Thực ra nhàn cũng có nhiều cách: có cách nhàn nhã, có cách nhàn hùng hục. Nhàn nào cũng tốt, miễn là đừng quá. Nguyễn Công Trứ ưa kiểu nhàn “Gót tiên đeo đủng đỉnh một đôi dì. Bụt cũng nực cười ông ngất ngưỡng.” Một đôi dì “đeo” thì sợ khó mà đủng đỉnh, khó mà ngất ngưỡng. Rồi ông còn ganh tị với Tô Đông Pha, đời Tống, hơn ngàn năm trước: “Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất. Để ông Tô riêng một thú thanh tao!” Chẳng qua là ông Tô đi chơi thuyền trên sông, ngắm trăng với vài người bạn, đánh cờ, làm thơ xướng họa, dĩ nhiên là cũng có vài… người mẫu đi theo mài mực, rót trà! Ta bây giờ thỉnh thoảng cũng đi thuyền rồng trên sông Hương, có đàn có sáo…, có tiếng ca tiếng hát náo nhiệt, thuyền ngược thuyền xuôi tấp nập đó thôi. Nhưng cài nhàn của ta là nhàn ồn, không phải nhàn nhã! Sau một ngày vất vả, “người bận rộn” nào cũng sẵn sàng xách vợt ra sân làm vài ván tennis. Cởi veston cà vạt ra, mặc áo pull quần short vào, chạy ngược chạy xuôi hùng hục, toát mồ hôi hột, chẳng phải cũng là nhàn ư? Nhưng cái đó là nhàn… hùng hục. Nhàn nhã là phải có “nguyệt lai môn hạ” kìa. Vì thế mà Trịnh Công Sơn mới có bài Nguyệt ca rất dễ thương: “Từ khi trăng là nguyệt cho tôi bóng mát thật là”. “Thật là” sao thì anh không nói rõ nhưng chắc chắn anh đã có được sự nhàn nhã “thật là”, chẳng thua gì ông Tô ngày xưa. Nhưng sau đó anh thật thà thú thiệt: “Từ khi trăng là nguyệt, tôi như từng cánh diều vui. Từ khi em là nguyệt, trong tôi có những mặt trời!” Thì ra cũng tại em thôi. Tại em là nguyệt mà trăng của tôi đã biến thành những mặt trời nóng bức, nhễ nhại, vất vả, bận rộn đó thôi. Lúc đó hẳn nhạc sĩ cũng đã kêu lên: chữ nhàn là chữ làm sao!

Đỗ Hồng Ngọc
(2010)

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

22/05/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Nhân đọc bản thảo Chuyện Hồi Đó)

Minh Lê (Nha Trang)

 

  1. Trong bài thơ “Xin cám ơn, cám ơn” viết sau cơn bạo bệnh năm 1997, anh viết:

“Đã bao lâu ta không sống với mình

Ta có ta mà quên ta phứt.”

 “Ta quên ta” là sao, và có gì liên hệ với lời dạy của Phật không?

 

Tôi sinh đẻ ở Phan Thiết. Nhà bà Ngoại dưới chân núi Tà Cú, nơi có chùa Linh Sơn Trường Thọ Tự, nên hồi nhỏ xíu ba bốn tuổi đã được Bamá, cậu, dì… cõng lên chùa chơi thường xuyên… Trong nhiều năm học hành rồi làm việc, quả thật tôi không nhớ tới tôi, tôi chỉ nhớ công việc ở khoa cấp cứu Nhà thương Nhi Đồng Saigon, chương trình Săn sóc Sức khoẻ Ban đầu… Sau đó làm công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ, phòng chống sốt xuất huyết, viêm ruột hoại tử, não mô cầu… rồi phòng chống HIV/ AIDS…, quả thật tôi quên phứt tôi, đến một hôm người ta khiên tôi vào cấp cứu, mổ sọ não vì tai biến… Khi tỉnh lại, rồi bước được những bước như một em bé, biết nghe, biết nói… tôi viết bài thơ Xin cảm ơn, cám ơn này trong bệnh viện.

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Như cỏ cây trước cơn bão dữ
Như con thuyền tung hê lên vách núi cao
Cho ta trở về làm con thú hoang sơ
Trần truồng như nhộng
Kẻ cạo đầu người lột da
Kẻ đục sọ người giúp thở
Kẻ đặt ống sonde vào đường tiểu
Người bơm thuốc qua dịch truyền
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Không lý trí không nghĩ suy không toan tính

(…)

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc
Cho ta trở lại với mình
Ta muốn ôm hôn tất cả mọi người
Và ôm hôn ta nữa
Cái đầu trọc lóc bình vôi
Hai lỗ thủng và mười tám vết khâu từ ái
Ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở
Lắng nghe sự sống cục cựa trong mình.

(…)

Phật dạy phải quay về nương tựa chính mình. Phải từ bi với mình rồi mới từ bi với người. Đừng bao giờ để phải kêu lên: “đã bao lâu ta không sống với mình/ ta có ta mà quên ta phứt…”

  1. Anh viết trong Chuyện Hồi Đó muốn có an lạc chỉ cần làm “3 điều 4 chuyện”. Tất cả đều hay, chỉ riêng phần “hiểu thuật ngữ, ẩn dụ” có cần thiết không?

Rất cần thiết. “3 điều 4 chuyện” là cách đơn giản nhất để hiểu và thực hành lời Phật dạy, mang đến sự An Lạc cho nếp sống vui, sống khoẻ, tránh mê tín dị đoan… Cho đến nay, nhiều người vẫn hiểu lầm về những từ “chúng sanh”, “niết bàn”… Vì ngôn ngữ trong Phật học đa dạng… Phật còn dạy “y nghĩa bất y ngữ”. Nói vậy mà không phải vậy đâu! Khi thuyết giảng xong Kim Cang Bát- Nhã, đệ tử hỏi Thế Tôn, tên kinh này là gì. Phật nói: Kim Cang Bát-Nhã balamật. À, nói Kim Cang Bát- Nhã Balamật thiệt ra không phải Kim Cang Bát- Nhã Ba-la-mật, chỉ tạm gọi vậy thôi. Ấy là để khuyên ta đừng bám chấp. Thí dụ, nói Chúng sanh không phải là chúng sanh, nói Niết bàn không phải là niết bàn…  Còn “ẩn dụ” thì càng cần hiểu rõ, nếu không thì dễ mê tín dị đoan. Như niệm  Quan Thế Âm Bồ tát giúp làm cạn cơn lũ dữ, làm tắt ngọn lửa to. Tưởng thiệt thì nguy!

  1. Người đa tài ắt đa tình (ý của Giáo sư Cao Huy Thuần). Đa tình có thể hiểu thế nào theo anh? Làm sao để vừa “đa tình” mà tâm vẫn an?

Một người từ bi… luôn là một người đa tình đó. Từ bi với mình và từ bi với người. Trong Phật học còn có “Vô duyên từ” nghĩa là chẳng có lý do gì để mà “từ” cả! Chẳng phải người ta có thể từ với hòn đá cuội (ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau– Trịnh Công Sơn) đó sao? Hay từ với một cánh chim bay (Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh? Ngoài hư không có dấu chim bay. Tuệ Sỹ)…  Văn chương không thiếu:  “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Thế Lữ), “Có nghĩa gì đâu một buổi chiều, nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu…” (Xuân Diệu). Kẻ đa tình vậy đó. Đa tình mà tâm vẫn an… có lẽ bởi đó là một thứ tình thương bao la hoặc một thứ tình yêu “tỉnh thức”, không bị vùi đắm trong đam mê, vị kỷ.

  1. Anh viết về cách Phật dạy con. Tại sao bài học đầu tiên La- Hầu- La được học lại là cách thở?

Chớ sao? Thở chẳng phải là việc làm đầu tiên của đứa bé sơ sinh vừa rời bụng mẹ sao? Trong bụng mẹ, chưa cần thở. Tiếng khóc chào đời là một nhịp thở đầu tiên của kiếp người. Lớn lên, ta thường quên cách thở. Rồi khi ta thở cà hước, thở cà giựt… mới tiếc hồi nhỏ không học thở. Thở tưởng của ta mà không phải của ta… Thở ở ngoài ta. Thở cóc cần ta. Thở vốn tự động, do áp suất trong phổi mà khí tuôn vào hay tuôn ra. Nó gắn liền với cảm xúc. Điều tức (là điều chỉnh, kiểm soát hơi thở) thì sẽ  “điều” được tâm. Muốn tâm an thì phải học cách điều tức là vậy. Phật mất nhiều năm tu thiền vất vả, nhịn thở, nhịn ăn mà không thành công. Nhớ lại một lần còn nhỏ theo phụ thân coi Lễ Tịch điền tự dưng thấy thân thể nhẹ nhàng, lâng lâng, như không còn hơi thở nào nữa, hoá ra đó mới thực là thiền. Cái đó, trong Nam Hoa Kinh gọi là “Toạ Vong”…  “ngồi yên, biến mất”. Không để ý gì chuyện thở hay không thở nữa. Cái đó chính là tứ thiền “xả niệm thanh tịnh” rồi đó. Khi còn niệm thì không thanh tịnh nổi đâu. Dù cho đã có hỷ có lạc.  Cho nên Lục tổ Huệ Năng lấy Vô niệm làm tông là rất đúng. Các kinh sách dạy thiền có thể phân tách từng bước, từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền…  Thực tế, các thiền sư thiện xảo ngồi xuống, ngay hơi thở đầu tiên đã có thể vào định sâu được rồi. Càng theo dõi, càng chia cắt, càng dính mắc, lúng túng. Ở tứ thiền đã gần như không cần thở nữa. Có thể vào diệt thọ tưởng định, mà không cần qua các tầng thiền vô sắc.

  1. Trong thời đại ngày nay, “khẩu không chỉ là lời nói trực tiếp mà còn là những status trên mạng Internet”, cả các comment nữa. Làm sao để phân biệt “khẩu thiện” và “khẩu ác” trên mạng?

Đó chính là lúc phải quay về nương tựa chính mình. Coi lại mình đã bị “rung động” thế nào, đã bị “xao xuyến” thế nào rồi? Tốt nhất lúc đó nhớ lại câu Đà-la-ni trong Kinh Kim Cang: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm!) thì may ra mới thoát.  Status, comments… nào làm cho ta sanh tâm chạy theo những cảm xúc đó, bị lôi cuốn vào cảm xúc đó, như khi bị dụ dỗ kiểu thực phẩm giúp trẻ mãi không già, xinh đẹp như xưa, “ lương cao việc nhẹ”… thì thế nào cũng sụp bẫy.  Tóm lại, vì lòng tham mà không đạt thì sân (giận), thiệt ra cũng bởi vì Si, nghĩa là mê, là say, là ngu. Đáng đời. Ráng chịu. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

  1. Anh có thể giải thích một cách dễ hiểu về “duyên sinh” không?

Hiểu được “duyên sinh” thì hiểu được Bát- Nhã, trang bị cho mình được cái gọi là “viên thành thật tánh”, một cái tánh sáng suốt, không bị che mắt, không bị dẫn dụ bởi bên ngoài nữa… Dẫn dụ bằng cái gì? Bằng cái danh, bằng cái tướng. Cái “danh” thì rỗn rảng, cái danh thì kêu to, chớp loà, khiến ta tưởng thiệt, tưởng bỡ. Y như con “thiêu thân” bị dụ bởi ánh đèn. Những danh, những tướng đẹp đẽ,  hấp dẫn khiến ta dễ dính mắc gọi là “biến kế sở chấp”,  là “y tha khởi”…

Duyên? Là những “điều kiện”. Có thể lấy một ví dụ đơn giản, với 3 phân tử Carbone (C), Hydrogèn (H), Oxygèn (O)… riêng lẻ thì không sao, tự dưng có cái men (điều kiện) gì đó tác động vô, thành đường glucose C6H12O6 ngọt ngào; nếu gặp cái men khác, cũng 3 món đó lại thành rượu (C2H5OH) cay đắng, rồi với men khác nữa lại thành giấm (CH3COOH) chua chát… Những ngọt ngào, cay đắng, chua chát đó trong đời sống hàng ngày của ta chẳng phải là do “duyên” gì đó sao?. Rồi những RNA, DNA… kết hợp với nhau mà ra vi rus, vi khuẩn, khủng long, con người… Toàn là “duyên sinh” đó thôi.

Lý Duyên Sinh Duyên Khởi là cốt lõi của Phật giáo: cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không… Thập nhị nhân duyên, 12 nối kết, từ Vô minh sinh hành, hành sinh thức, thức sinh danh sắc, lục nhập… Nếu hiểu rõ con đường duyên sinh này – như một tiến trình tâm- từ ý thức đến hành động, cảm nhận, rồi “ái thủ hữu”, ta có thể “can thiệp” từng bước để cải thiện tiến trình duyên sinh của tâm, và… giải thoát nếu chấm dứt Vô minh. Có thể nói, hiểu được Duyên sinh, duyên khởi, ta hiểu nghiệp, luân hồi, nhân quả…

  1. “Vô thường” là gì?

Vô thường là… thường! Đúng vậy, một cánh hoa đào rực rỡ đẹp tươi bỗng tàn héo dần, ai cũng thấy mới đó mà đã đổi thay, một sự “vô thường” không thể chối cãi. Thế nhưng, thử nhìn một cách khác. Những cánh hoa tàn úa đó cứ mãi mãi còn, cứ mãi mãi ở đó và tàn úa… thì tội nghiệp quá. Nó phải được đổi thay chớ. Nó phải được làm mới. Nó phải được rực rỡ đẹp tươi chớ. Cách nào? Thì “tiết mùa” sẽ giúp. Không hẹn mà đến/ không chờ mà đi/ bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta…(TCS). Và những cánh hoa đào theo tiết theo mùa kia vẫn mãi mãi rực rỡ đẹp tươi, chưa bao giờ tàn úa. Chàng thi sĩ một hôm dừng chân bên song cửa, thấy cô nàng xinh đẹp bên đoá hoa đào, năm nay trở lại, những đoá hoa kia vẫn còn rực rỡ đẹp tươi, mà cô gái xinh kia đâu rồi, không thấy nữa. Mọi thứ vô thường quá. Nhưng những cánh hoa đào rực rỡ thì đang cười chàng: “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Cái “tiếu” đó mới vui làm sao! Hoa cười nhạo chàng thi sĩ ngờ nghệch. Cho nên nếu nhìn bằng con mắt Như Lai, hẳn đã thấy năm nào hoa cũng nở dưới gió đông này, vẫn rực rỡ tươi vui như thế. Còn người đẹp kia ư? Thì hết Dương quý phi có Bao Tự, hết Bao tự còn Chiêu quân… Có gì là vô thường đâu. Nhìn bằng con mắt Như Lai, thì làm gì có vô thường phải không?

  1. Người sinh ra ai cũng có cái tôi (ngã), vậy “vô ngã” là sao?

Cái mà ta tưởng là Ngã đó, nó từ nhiều thứ mà ráp nối lại (Ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức), có cái gì riêng có thực tánh của nó đâu.  Ta thử hít vào một hơi sâu, thật sâu, không được. Nó bắt ta phải thở ra. Ta thở ra thật dài, dài nữa. Không được. Nó bắt ta phải hít vào. Chuyện thở ra hít vào hàng ngày của ta mà ta cũng chẳng làm chủ nó được. Vậy có cái ta không? Nếu ta tưởng thiệt có cái ta thì ta sẽ khổ đau, vất và vì nó. Còn biết nó vô ngã, ta sống với cái vô ngã đó, chẳng phải hết khổ đau ư? Cho nên khi còn khổ đau, chưa “thấy biết” (giác ngộ) Phật dạy Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, Bất tịnh… Khi đã thấu hiểu rồi, ta thấy Thường, Lạc, Ngã, Tịnh đó thôi. Phât là y vương, khi nguời ta bệnh hoạn, khổ đau, cho mấy thứ thuốc chữa triệu chứng, ráng nuốt. Khi hết bệnh không cần uống thuốc nữa. Phật nói ví như người say thấy đất đai nhà cửa cây cối ngả nghiêng, lúc tỉnh ra thấy đất đai bằng phẳng, nhà cửa cây cối… tĩnh yên. Cái “thấy biết” đó giúp ta cỡi bỏ khổ đau, thấy được an lạc.

  1. Phật là một Y vương. Chỉ cách phòng bệnh, lại chỉ ra nguyên nhân bệnh và cách trị bệnh. Bệnh ở đây chính là khổ đau. Anh có thể tóm tắt nguyên nhân, đơn thuốc và cách phòng bệnh của Phật không?

Đúng, Phật là bậc Y vương, chữa được cả đau và khổ. Khác với bác sĩ, lương y, thường chỉ chữa được cái đau, cái bệnh… Mà ta biết, Khổ mới là cái gốc của đau, của bệnh. Bênh thân và bệnh tâm. Khổ phát sinh từ Tham sân và si. Nhưng tham sân si cũng chỉ là triệu chứng. Căn nguyên là Vô minh. Từ vô minh mà sinh hành, thức, danh sắc… có thể nói là con đường  sinh bệnh học, sinh lý bệnh học.  Lục phủ ngũ tạng quấn quít lấy nhau. Chỉ cần “chiếu kiến ngũ uẩn giai Không” (Tâm Kinh) thì đã thoát được vô minh, tức khắc “độ nhứt thiết khổ ách”. Phật “chế” ra nhiều thứ “thuốc”, tuỳ căn cơ người bệnh mà “cho toa” sao cho phù hợp. “Sanh, bệnh, lão, tử”… có lẽ là nỗi khổ, nỗi lo lớn nhất của kiếp người. Khổ vì sanh ư? Đã có vị Phật tên là Bảo sanh (Ratnasambhava) đây rồi, giúp sanh đẻ an toàn, Khổ vì bệnh ư? Đã có vị Phật là Dược sư (Bhaisajyaguru)  cho thuốc. Khổ vì già ư? Có vị Phật Asucbệ (Asobhya), còn gọi Phật bất động, an nhàn. Khổ vì chết ư? Có vị Phật A Di Đà (Amitabha) rước về Tịnh độ… Vô số các vị “thuốc” để chữa vô số các bệnh khổ. Con đường phòng bệnh khổ chỉ cần gom lại trong Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tính tấn, chánh niệm, chánh định.  Thực hiện được Bát chánh đạo thì  An vui và Hạnh phúc.  Trong Bát chánh đạo, cũng chỉ cần một thứ thuốc cốt loĩ: Chánh định. Có chánh định thì có chánh kiến, chánh tư duy… Có chánh định thì thấy “Vô tướng thực tướng” thấy Như Lai.

  1. Anh có thể giải thích và cho ví dụ về “Từ Bi Hỷ Xả”? Sao lại cần “Từ Bi Hỷ Xả”?

Nếu không Từ Bi Hỷ Xả thì ta cứ sống với lòng Sân hận, oán thù, ganh ghét, ghim gút… “Thù trả chưa xong đầu đã bạc!”. Từ là lòng Thương. Biết thương.Còn thương… Thí dụ “còn thương rau đắng mọc sau hè”! Cọng rau mà còn thương được thì lòng thảnh thơi biết bao. Lấy oán báo oán/ oán oán chồng chất/ lấy đức báo oán oán tiêu vong… Bi là làm vơi khổ. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Nếu chỉ biết thương thôi mà không có cách gì làm cho bớt khổ thì không đủ. Cho nên Từ đi với Bi là vậy. Hỷ là cái vui theo người. Khó. Người vui thì ta ganh ghét dễ hơn. Còn vui theo kiểu đãi bôi, nịnh bợ thì càng hại người. Xả là buông bỏ, là không còn dính mắc. Từ bi hỷ xả là Tứ vô lượng tâm. Mênh mông, không ngằn mé. Được chút mừng chút.

  1. Có người tiếp cận Đạo Phật như một tôn giáo, có người lại coi là môt triết lý sống. Theo anh, cách nào đúng?

Trong cuộc sống bình thường, ta cần có một “triết lý sống”, tìm kiếm một cuộc sống an lạc, hạnh phúc. Chúng ta có thể thực hành Giới Định Huệ để giảm trừ Tham sân si. Chỉ cần giữ ngũ giới, có thể là đã đủ. Không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không nghiện ngập… Và nếu được, Từ Bi Hỷ Xả. Nhưng con người còn có phần tâm linh. Chưa biết hết, chưa hiểu hết được. Dân gian gọi “ba hồn chín vía”. Các nhà xã hội học tìm thấy có những đứa trẻ sống trong rừng sâu, không hề biết đến con người, khoảng tám tuổi bỗng đặt mấy cục đá xếp thành tầng cao, rồi quỳ lạy, cầu nguyện. Cái gì vậy? Không biết. Có cái gì đó thuốc về “tâm linh”…

  1. Theo cách anh hiểu về Đạo Phật, sau cái chết có còn linh hồn không? Linh hồn đó sẽ làm gì, đi về đâu?

Phật giáo không nói về “Linh hồn”. “Linh hồn” là vĩnh cửu, trường tồn, không thay đổi gắn vào thể xác, và cái chết là tách rời thể xác với linh hồn. Thiện, được vào nước Thiên đàng vĩnh viễn; Ác, thì vào địa ngục vĩnh viễn. Phật giáo không tin có một Đấng Tạo hoá quyết định việc ban thưởng hay trừng phạt. Phật giáo cho rằng mọi thứ do Duyên sinh. Một kẻ làm ác, ở địa ngục, có thể trở thành nguời Thiện, lên làm người, làm Phật. Một người ở cõi thiên, có thể bị đoạ xuống địa ngục vì làm Ác . Quan niệm này cho con người một Tự do tuyệt đối. Cho nên Phật giáo chỉ nói “Thần thức” là phần tách khỏi thể xác khi chết, tuỳ nghiệp duyên mà tái sanh.

  1. Anh từng nói “trái tim nghĩ bằng tình, khối óc nghĩ bằng lý”. Phật pháp là tình hay lý?

Phật lúc nào cũng có hai vị Đại Bồ-tát đứng hai bên. Bên trái là Văn Thù Bồ-tát, cưỡi sư tử, tay cầm kiếm báu. Tiếng sư tử rống lên thì muôn thú đều khiếp vía. Vung gươm báu thì chặt đứt phiền não. Còn bên phải là Phổ Hiền Bồ-tát, cưỡi voi 6 ngà và tay cầm đoá hoa sen… Voi mới đủ sức chở nặng giáo pháp đến giúp chúng sanh. Voi 6 ngà tượng trưng cho 6 phương pháp giúp thành tựu trên con đường học Phật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ. Đó là ”Lục độ Balamật”.  Thú vị, khoa học biết rõ hai bán cầu não mỗi bên chịu trách nhiệm một thứ: bện trái, lý; bên phải tình.Nặng một bên sẽ không đạt kết quả tốt. Ngày nay khoa học não bộ cũng thấy hai bán cầu não có khả năng nối kết được với nhau.

  1. Theo Đạo Phật, con người sinh ra trên đời để làm gì?

Có người nói sinh ra trên đời để… chết? Có người bảo sinh ra trên đời để… sống? Có người nói “bất sinh bất diệt”, không có sống có chết gì cả!

Nhưnng có lẽ người ta sinh ra trên đời là để “trả” cái Nghiệp của mình. Nghiệp phát xuất từ Thân, Khẩu,Ý, nhiều kiếp sống đã tạo nên, đã tích luỹ. Có Nghiệp thiện và nghiệp ác. Có thể coi nghiệp là nhân sẽ sinh ra quả. Nhưng từ nhân mà sinh quả, phải có duyên. Không có duyên thì hạt giống  tốt cũng bị huỷ hoại đi. Duyên là những điều kiện tác động để nghiệp thành quả.  Hiểu Duyên sinh thì hiểu luân hồi, tái sinh, nhân quả là vậy…

Thật ra có nhiều câu hỏi Phật cũng bảo không nên trả lời. Một người bị tên, phải cứu chữa ngay cái đau của họ, đừng hỏi ai bắn mủi tên này, tại sao bắn, bắn để làm gì… vô ích.

  1. Trước một người muốn bớt đau khổ nhưng chưa biết về đạo Phật, anh sẽ cho lời khuyên gì?

Có khi không cần phải khuyên gì cả. Khuyên cũng chẳng ai nghe. Đau khổ của mỗi người do nghiệp do duyên của họ. Họ phải được trải nghiệm. Tự rút ra bài học. Tuy nhiên cũng có khi Phật cho lời khuyên như chuyện một bà mẹ có con bệnh chết, bà đau khổ cùng cực, muốn chết theo. Có người khuyên tìm Phật xin phương thuốc cứu con sống lại. Phật khuyên bà đi vào từng nhà trong làng, hỏi nhà nào xưa nay chưa từng có ai chết thì xin môt nắm tro trong bếp, mang về Phật sẽ chỉ cách làm thuốc cứu con. Bà đi nhiều năm tháng, hết làng này sang làng khác, không tìm thấy nhà nào không từng có người chết nên trở về lạy Phật xin quy y. Nếu ngay từ đầu Phật bảo “Ai mà chả chết, nhà nào chả có người chết, đừng buồn đau nữa…” liệu có khuyên được bà mẹ đó không?

  1. Anh viết: “Một hôm hơi thở tình cờ / Dính vào hạt bụi thành ra của mình.” Có ngụ ý gì liên quan đến Phật pháp trong câu này không?

Có đó chớ. Nhưng phải đọc luôn hai câu đầu: “Lắng nghe hơi thở của mình/ Mới hay ra hơi thở đã nghìn năm xưa…”  Nếu ta biết nhìn bằng con mắt ngàn năm, ta thấy trên Hy mã lạp sơn vốn xưa kia là biển, nay vẫn còn muối và các vỏ sò ở đó. Còn dưới đáy biển sâu kia, những thành phố đang chìm trong nước… Từ khi có loài người trên quả địa cầu ta đang sống này đã có bao nhiêu nugời đã chết? Họ chỉ để lại những hạt bụi đó thôi. Trong Phật giáo cũng có một thứ Ấn gọi là “Ấn điạ xúc” rất hay. Khi nổi cơn giận dữ, ta đưa ngón tay ấn vào trong đất, sẽ hết giận ngay vì nhớ ra rằng ta chính là hạt bụi trong đất này thôi. Kẻ thù ta cũng vậy. Hơi thở mà “tình cờ” dính vào hạt bụi thì lại do duyên. Hai chị em Thuý Kiều Thuý Vân, cùng cha cùng mẹ, vậy mà hai kiếp sống khác nhau đế ngàn sau đoạn trường đó thôi?

  1. Anh khuyến khích mọi người nên sống “ở đây và bây giờ”. Anh có thể lấy ví dụ cụ thể không?

Tôi đang khuyến khích mình đó chớ. Nếu biết sống “Ở đây” và “Bây giờ” thì hẳn đã là hạnh phúc. Có điều hết tiếc dĩ vãng thì mơ tương lai… Tiếng Anh có một từ hay: Present là “có mặt”, Present là “hiện tại” và Present cũng có nghĩa là món quà. Đó là món quà dành cho người có mặt ở thời… hiện tại. Còn ta cứ mãi loay hoay…

  1. Nói về chuyện ăn, anh viết: “Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ cái bao tử “

Ăn là một chuyện “lớn” không thua gì thở. Vì thức ăn kết hợp với hơi thở tạo nên năng lượng cho ta hoạt động hàng ngày. Năng lượng đó được tạo ra từ trong mỗi tế bào. Mỗi tế bào có Mitochondria (Ty thể) là nhà máy sản xuất năng lượng. Phật nói về thức ăn của thể chất và thức ăn của tâm hồn. Thực ra, thức ăn của thể chất cũng là thức ăn của tâm hồn đó chớ! Tàn Dà nói: Đồ ăn ngon, người ngồi ăn không ngon, không ngon. Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, không ngon. Cái chuyện ngon không ngon là chuyện tâm hồn phải không. Ăn là một vấn đế… văn hoá. Nhiều món quý chỗ này thì chỗ kia chê, không biết ăn. Camembert của Pháp. Mắm Bò hốc của Kampuchia. Mắm ruốc, mắm sặc ở ta… Món bánh căn nghèo của Phan Rang, Phan Thiết chẳng phải là món ngon nhứt sao? Nhiều bạn bè tóc bác phơ, ở nước ngoài về thăm quê bao giờ cũng đòi ăn cho được mấy món “nhà quê” đó.

  1. Theo anh, có thể có những giây phút “giác ngộ” trong đời sống thường nhật không?

Có chớ. Và thường nữa. Có điều ta không ghi nhận và duy trì nên nó tự xoá đi. Ta làm vỡ một cái chén sứ đẹp. Tiếc quá, sực nhớ cái chén đó làm từ gốm và… gốm thì trở về với đất để chờ làm cái chén sứ khác. Thấy cánh hoa tàn úa, tiếc quá, phải chi nó cứ mãi đẹp như thế. Ta thấy ta… già đí, tiếc quá, phải chi cứ còn trẻ mãi. Mà quên nghĩ rằng cánh hoa phải tàn đi để tạo nên một cánh hoa khác rực rỡ, đẹp đẽ hơn. Ta phải… già đi để con cháu ta có cơ hội lớn lên, nếu không… Cái đó là cái “Thấy biết của Phật” (Phật trí kiến). Vì ta cũng có Phật tánh, có Pháp thân như Phật nên ta cũng thấy biết chút chút, khác với Phật chỗ ngài thấy biết hoàn toàn, “toàn giác”. Phật không chỉ thấy biết gốm sứ từ đất, thuỷ tinh từ cát… nên bể cái gốm sứ, vỡ ly thuỷ tinh Phật cười còn ta khóc. Thiệt ra Phật thấy rõ, tất cả đều đến từ vô tướng, nên cái ta thấy, ta có, chỉ là cái giả tướng, cái thực tướng mong manh đó thôi, nó vô thường, vô ngã. Khi ta thấy vô tướng thực tướng thì ta đã thấy… Như Lai.  Người khéo tu hành, luôn an nhiên, tự tại. Rồi đến một tuổi nào đó, ta không muốn giác cũng giác, không muốn ngộ cũng ngộ… đó thôi!

  1. “Chữa lành” là một trong những từ đang được nhắc nhiều nhất trên mạng, đặc biệt với người trẻ. Đạo Phật có thể chữa lành cho người trẻ không?

Được quá đi chớ! Nhưng “người trẻ” đã mắc phải bệnh gì mà muốn “chữa lành”? Bệnh thì có bệnh thể chất, bệnh tâm thần và bệnh xã hội… Về thể chất, nói chung, người trẻ thường là người khoẻ mạnh, ít đau ốm bệnh hoạn như người… già. Thế nhưng nguời trẻ thường nhìn người hàng xóm, thấy họ cao ráo, vai u thịt bắp, lực lưỡng, bèn đi cắt xương ống chân, nâng cao thêm vài tấc, tập thể lực và dùng thuốc cường cơ cho thịt săn cứng lại khoe 6 múi… thì chữa không lành được. Cô gái yểu điệu thục nữ, giờ muốn giống hoa hậu, bơm mông, nơm vú, độn chỗ này, xẻ chỗ kia để bằng bè bạn… chữa lành hổng nổi! Tóm lại, cũng chỉ vì lòng tham, muốn, ganh tị… mà ra! Khi không đạt được mong muốn, thì sân hận, căm thù… Sửa mũi thì mũi xẹp, sửa mắt thì mắt mờ. Đại khái, họ không chấp nhận mình là mình. Cho nên suy gẫm cuộc đời với biết bao nhiêu khổ đau… Phật gom lại chỉ có 3 nguyên nhân chánh: Tham- sân- si. Con đường an lạc chính là Giới- định- huệ. Giới thì giảm lòng tham, lành bệnh tham, Định thì giảm lòng sân và Huệ thi… hết vô minh. Ít nhất dòm qua cũng biết cái đẹp hào nháng kia, cái đẹp mơ ước kia là của giả, độn thôi, có khi là vài túi nước muối, nhẹ tay coi chừng vỡ. Chỉ có cách tự mình chữa cho mình thôi. Gặp thầy thuốc không tốt, thầy sẽ dọa thêm cho tăng nỗi lo âu, tốn kém. Gặp thầy tu bất hảo thầy sẽ hù thêm cho sợ hãi… Căng thẳng, lo âu, sợ hãi… dẫn đến trầm cảm, khó mà lành nổi. Nếu hiểu biết, chấp nhận mình, sống không đua đòi, ganh tị, hoà hợp với thên nhiên, xã hội thì không chữa cũng lành. Các nhà khoa học khuyến khích người trẻ nên sống gần gũi với thiên nhien, thiểu dục tri túc, thực tập 3 thứ: Thể dục, trí dục, đức dục như người xưa dạy, và tìm cho mình một chút giải khuây: cầm, kỳ, thi, hoạ… có thể từ đó mà an nhiên, tự tại, không chữa cũng lành!

  1. Lòng tin vào nhân quả đôi khi khá trừu tượng. Khi một người sống tốt nhưng lại luôn gặp bất công, họ rất dễ mất lòng tin.

Nhân quả có thể thay đổi. Nhân quả do nghiệp, do duyên.  Án Anh đi sứ nước Sở nhớ không? Cây quít ngọt ở Giang Nam, đem trồng ở Giang Bắc thì sinh trái chua… Ấy là do thổ nhưỡng, do chăm sóc, tưới tẩm của con người. Nghiệp cũng có thể thay đổi. Cách sống của ta ngay ở đây và bây giờ là do ta quyết định, ta tự do chọn lựa. Phật giáo tin vào con người. “Tánh Phật”có  ở mỗi người.

  1. Tại sao muốn sống an lạc cần có cả trí tuệ và từ bi?

“Từ” là lòng Thương. “Bi” là giúp giảm khổ. “Từ năng dữ lạc. Bi năng bạt khổ”. Không chỉ phải có lòng thương rộng lớn, không phân biệt, mà còn phải có cách cứu giúp, làm cho vơi bớt khổ đau. Tình thương có thể an ủi, làm vui, nhưng vẫn không  giảm được khổ. Từ bi mà không có trí tuệ còn dễ bị mắc bẫy, bị gạt gẫm. Thời buổi này càng cần phải cảnh giác. Nên phải có Trí Tuệ đi với Từ Bi. Quan Thế Âm Bồ- tát có ngàn tay ngàn mắt, trong mỗi bàn tay đều có một con mắt là thế!

  1. Đức Phật là một vị thánh toàn năng, hay cũng là người thường như chúng ta?

Phật không phải thánh, không phải thần. Phật là người… thường như chúng ta, có điều, Phật là ngưới đã giác ngộ rốt ráo, đã “thấy biết” toàn diện (Tri kiến Phật), chớ không loay hoay như  ta… Ta cũng có Phật tánh. Cho nên Phật bảo “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Ai cũng sẽ là Phật cả, nếu giác ngộ, giải thoát. Kinh Pháp Hoa chỉ có một mục đích là “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Tri kiến Phật”. Khai thị là “mở ra, bày ra cho thấy”. Thấy cái gì? Thấy cái “Tri kiến Phật”, tức là cái thấy cái biết của Phật. Đó là cái thấy biết “Vô tướng thực tướng”, thấy biết Như Lai.

  1. Có cần niệm Phật hay tụng kinh mỗi ngày không, hay chỉ cần thiền và thở đúng thôi, để có an lạc?

Niệm Phật là một cách tốt nhắc nhở ta một tấm gương để noi theo. Nhưng niệm Phật cũng là cách để tâm không vướng bận những thứ linh tinh khác. Niệm có nghĩa là đặt tâm vào ngay thời điểm hiện tại, quên đi tất cả chung quanh, phiền não các thứ, từ thân đến tâm… Cho nên có pháp môn Niệm Phật. Tụng kinh cũng vậy. Tâp trung vào kinh, vào “tụng” thì không còn vướng bận những thứ khác. Vậy tụng kinh, niệm Phật cũng là những pháp môn. Nhưng với Kinh, còn cần phải hiểu, phải thực hành. Nếu không, dễ tẩu hoả nhập ma vì mê tín, tưởng Phật là thánh thần mà cầu xin, lạy lục. Thiền sư Như Huyễn (năm nay 98 tuổi) có bài thơ  “Thay lời Phật” thú vị như sau: Ta nói kinh cho chúng nó nghe/ Chẳng ngờ chúng “tụng” bắt ta nghe/ Tuổi già tám chục nghe gì nữa! Chín tiếng ngồi trân sụm bánh chè! (Thich Từ Thông, Như Huyễn Thiền Sư Thi Tập). Học kinh phải hiểu để ứng dụng vào đời sống, chớ không chỉ “tụng” rồi cầu Phật chứng giám, ban phước !

  1. Không ăn chay có thể có an lạc không?

Ăn chay để làm gì? Phật đâu có ăn chay. Phật ăn gì cũng được. Thí chủ cho gì ăn nấy. Đi khất thực mà. Không lẽ đi khất thực mà nói tôi chỉ ăn chay thôi. Chắc dễ bị đói. Nhưng Phật chỉ khất thực vừa đủ… và ăn bất cứ thứ gì trong bình bát khất thực cũng là “ăn chay” cả đó thôi.

Phật dạy có 4 nhóm thức ăn là Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực. Bốn nhóm thức ăn đó chỉ có Đoàn thực dành cho thân, còn Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực dành cho tâm. “Xúc thực” đáng sợ, nhất là thời đại AI, internet … Với cái điện thoại thông minh trên tay, mỗi ngày ta “xúc thực” biết bao nhiêu điều, cả tôt lẫn xấu, tràn ngập trong tâm trí. Ta căng thẳng, ta mất ăn mất ngủ… Tư niệm thực là những món nhớ nghĩ triền miên, quay cuồng đầu óc, với những lo âu, oán trách, căm thù, sợ hãi… Rồi Thức thực mới là món ăn đáng sợ nhất, đó là phân biệt, là tranh cãi, là hơn thua, là đấu đá… là chiến tranh một mất một còn…

  1. Anh có thể giải thích lý do Phật chọn năm giới căn bản cho Phật tử không? Giữ năm giới này thì được lợi lạc gì?

Lợi lạc nhiều chớ. Không sát sanh. Không trộm cắp. Không nói dối. Không tà dâm, Không nghiện ngập… Chừng đó đã đủ cho một nếp sống An lạc, Hạnh phúc cho một kiếp người. Bão lũ, động đất, núi lửa, sóng thần… chưa đủ sao mà con người còn tự gây chiến tranh khắp nơi với những thứ vũ khí ngày càng ghê gớm. Cái ăn của con người cũng vậy, sát sanh ngày càng nhiều.  Không trộm cắp ư? Tham nhũng là một dạng trộm cắp kinh khủng nhất. Một dạng tạo nghiệp lớn nhất. Không nói dối? Thử xem… “Quân tử nhứt ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tủ khôn”! Fake news, deep fakes… phổ biến, phát triển mạnh mẽ. Không nghiện ngập ư? Xưa chỉ nói đến rượu, bây giờ thì nghiện đủ thứ, ngày càng nguy hiểm độc hại. Thực hiện được phần nào trong năm giới là tốt phần đó. Từ ngũ giới còn tiến lên “thập thiện” là 10 điều lành.  Không chỉ không sát sanh mà còn “dưỡng sanh”. Bảo vệ môi trường. Chống biến đổi khí hậu…; Không chỉ không trộm cắp mà còn “bố thí”- bố thí “balamật” tốt nhất vì không có tính toán lợi dụng trong đó.  Không nói dối, mà còn nói lời chánh ngữ, ái ngữ…

  1. Phật có nói một Kinh tên là “Người biết sống một mình”. Cái tên Kinh rất lạ! Anh có thể nói đôi điều về kinh này không?

Sống một mình tưởng là sống một mình mà không phải một mình. Nhiều người cũng thường sống một mình, thậm chí trốn lên núi cao rừng thẩm mà không thể sống  một mình được. Bởi tâm họ không sao thoát được những hình bóng khác, những chuyện đã qua và luôn tràn ngập những chuyện sắp tới. Họ buồn, họ tiếc, họ vẽ vời… Nói chung, là “bấn xúc xích” với những lo âu, phiền muộn, sợ hãi, yêu thương, ước vọng, hờn oán… “Người biết sống một mình” thực sự như trong Kinh Phật dạy là biết sống “Ở đây và bây giờ”, không ước vọng tương lai, không tiếc nuối quá khứ… Sống được như thế thì lòng mới thanh thản, mới “một mình” được vậy. Bằng cách nào ư? Có đó. Con đường Thiền mở rộng trước mắt.

 Đỗ Hồng Ngọc – Minh Lê (Nha Trang)

16.5.2025

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Interim pages omitted …
  • Trang 43
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Sách song ngữ Việt Anh: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HANH PHÚC
  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email