Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT

10/08/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Lời Ngỏ:

Không phải là những bài phỏng vấn trực tiếp mà chỉ là những câu Hỏi-Đáp qua email của hai người bạn vong niên- một người U90 và một người U60- ở cách nhau khá xa, bắt đầu từ câu chuyện về cuốn “Chuyện Hồi Đó” của Đỗ Hồng Ngọc. Vậy mà đến nay cũng đã có đến 154 câu Hỏi- Đáp đã lần lượt chuyển tải trên trang dohongngoc.com trong vài năm nay. Gần đây có vài bạn trẻ hỏi thăm thêm, muốn được đọc đày đủ nên tôi đã tập hợp và post lại cho vui. Hãy coi như chuyện “lẩm cẩm” của một ông già thôi nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 8.2026)

 

154 Câu Hỏi- Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT

 

Bài 1: Hỏi- Đáp về cuốn “Chuyện Hồi Đó” của Đỗ Hồng Ngọc 

1 Điều gì khiến anh có cảm hứng viết Chuyện Hồi Đó?

Nhiều bạn bè khuyên nên viết Hồi Ký, đặc biệt là anh Nguyễn Hiền Đức (5 Hiền).

Nguyễn Hiền Đức là một cư sĩ, thường gọi Anh 5 Hiền, trước 1975 từng có thời là Thư ký Tòa soạn của tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, trưởng phòng Tu thư Đại học Vạn Hạnh, thư ký riêng của HT Thích Minh Châu…

Năm 2021 anh đã gởi tôi món quà sinh nhật:  Đỗ Hồng Ngọc- Tiếng gọi sâu thẳm của Y vương, ghi “Quà tặng mừng Sinh Nhật 81 của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc” thấy đã đăng trên Thư viện Hoa Sen, và trước đó, anh cũng đã có bài “Phác thảo chân dung Đỗ Hồng Ngọc”.

Năm 2014, Nguyễn Hiền Đức đã viết (…) “Năm nay bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã 75 tuổi ta rồi. Cái tuổi đã chín muồi, đã lịch lãm, đã trải nghiệm và chiêm nghiệm được nhiều điều về bản thân, gia đình, bè bạn, nghề nghiệp. Ông cũng đã trải qua những biến thiên dữ dội của thời cuộc. Ông lại có những mối quan hệ xã hội khá rộng rãi và hiểu biết tường tận về nhiều việc, nhiều người dưới cái nhìn, cái cảm của một người giàu Phật tính, thấm nhuần triết học Phật giáo. Vì vậy, tôi kính cẩn thưa trình với ông rằng tôi mong sớm được Hồi ký của ông. Nhớ lại, ông đã nhiều lần “thúc hối” thầy mình là Nguyễn Hiến Lê viết hồi ký như André Maurois đã từng làm với Un ami qui s’appelait moi vậy! (…) Trước nay tôi vốn thích đọc Hồi ký, và các cuốn hồi ký mà tôi thích nhất vẫn là cuốn của Nguyễn Hiến Lê, Đào Duy Anh, Quách Tấn, Trần Văn Khê…, và, chắc chắn sẽ rất thích Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc. Tôi không dám nói sai lời và cũng như nhiều độc giả chí cốt của Đỗ Hồng Ngọc nóng lòng chờ đợi Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc.

Tôi nghĩ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nhiều điều kiện thuận lợi, có nhiều cơ duyên tốt lành để khởi sự sớm hoàn thành tập hồi ký được nhiều người chờ đọc, đón đọc (…). Mong lắm thay, thưa bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!”.  

Nguyễn Hiền-Đức (Santa Ana, tháng 3.2021)

 

2 Có thể gọi Chuyện Hồi Đó là Hồi ký của anh không?

Không. Tôi không có khả năng viết “Hồi Ký”. Hồi Ký thì phải… ly kỳ, hấp dẫn… gợi tò mò cho người đọc. Tôi cũng cảm ơn Nhà sách Phanbook, cũng đã nhiều lần khuyên tôi viết Hồi Ký… và bây giờ nhận lời in cuốn Chuyện Hồi Đó. Tôi lo sẽ ế, tội nghiệp cho Phanbook!

 

3 Phần khó nhất khi chuẩn bị bản thảo Chuyện Hồi Đó là gì?

Là phân biệt Hồi Ký với “Chuyện Hồi Đó”

Hồi ký là một sáng tác văn chương, thể loại ký, do chính tác giả viết về mình. Thường của những người đa số còn trẻ. Tự mình nhìn mình, bộc lộ, chia sẻ theo trình tự thời gian, có thể “hư cấu”, có thể “phóng đại”. 

Dĩ nhiên bên cạnh đó là Hồi Ký của những bậc lão thành, ghi chép đầy đủ trải nghiệm… và sự nghiệp của đời mình thành những bài học cho thế hệ sau.

“Chuyện Hồi Đó” chỉ là những chuyện cũ, xưa, kể lại bởi một người có tuổi, có thể trong một buổi “trà dư tửu hậu” cùng bạn bè. Tôi viết lúc đã 85 tuổi (Tết Ất Tỵ,2025).  .

Nó không phải là một sáng tác, một ghi chép (ký) theo thời gian.

Với tôi, nó không phải nói về “cái tôi”, chủ quan của mình.

Tôi nhìn mình một chút, rồi nhờ người khác nhìn tôi với “chủ quan” của họ.

Tôi chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp, suy tư, học hỏi. Tôi tri ân con người, vùng đất…

Tôi muốn người đọc có lợi ích khi đọc, không chỉ vì tò mò.

Dĩ nhiên, cho tuổi già của chính tôi. Có thể cười mình.

 

4 Trang nhà Đỗ Hồng Ngọc (dohongngoc.com) có ý nghĩa gì đối với anh?

“Ý nghĩa” rất lớn đó chớ! Nó gần như là một “kho tàng” lưu trữ để khi viết tôi chỉ cần tìm lại. Tôi phải cảm ơn Phùng Minh Bảo và Lê Thị Thuỳ Linh. Chính nhờ các em mà tôi có trang web dohongngoc.com này trên 15 năm nay. Cũng nhờ trang Web này, tôi có dịp học hỏi, giao lưu và tương tác với bạn đọc. Ngạc nhiên thấy thế giới nhỏ bé đáng kinh ngạc, càng ngạc nhiên thấy tình người lại gần gũi đáng kinh ngạc đến vậy.

 

5 Cái chất “công tử – nhà quê” mà anh nói được di truyền từ Ba-Má anh đã thể hiện trong văn và thơ anh ra sao?

Nó thiệt thà, chơn chất, nhưng đôi khi cũng… bay bướm đó chớ phải không? Lá chín vàng/ lá rụng về cội/ Em chín vàng/ chắc rụng về anh…; hay Sóng quằn quại/ thét gào/ không nhớ/ mình là nước…

 

6 Người ta nói văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ nói chung đều rất đa tình vì yêu cái đẹp. Anh có nghĩ mình là người đa tình không?

Có. Mà nhút nhát, rụt rè quá. Đáng tiếc!

 

7 Trong một bài phỏng vấn của nhà báo, anh có nói “Thà có một trái tim đau yếu vì tình yêu còn hơn một trái tim… lãnh cảm!”. Anh có thể giải thích và cho ví dụ không?

Ví dụ người thất tình… sướng hơn người lãnh cảm.

 

8 Chuyện Hồi Đó cho biết mối tình đầu của anh là lúc anh 12 tuổi, và mấy năm sau gặp lại anh còn làm thơ cho người ấy nữa. Không biết “mối tình đầu” ngày ấy là đơn phương hay là cả hai…

Đó là cô bạn cùng lớp… Nhứt (tức lớp 5 bây giờ!). “Nghe nói người xưa chừng lỡ bước/ Nghe nói lòng ta chừng chưa nguôi…”. Thấy chưa? Lòng ta mà chỉ “nghe nói” thôi, chỉ nghe “đồn rằng” thôi đó nhe. Tuy vậy cũng đã có những bức thư bằng pelure màu xanh… thuở 15, 16.

 

9 Cũng theo Chuyện Hồi Đó, ngày anh gặp chị (vợ Bs ĐHN) anh trúng ngay “coup de foudre” phải không?

Phải. Sau này tôi thường nói với vợ tôi: Anh có một người anh yêu hồi 12 tuổi, một người anh thương hồi 20 tuổi, nhưng em mới là người anh vừa yêu vừa thương. Vì vậy mà đã sống với nhau gần… 60 năm!

 

10 Có cuốn sách nào đã làm thay đổi cuộc đời anh không?

Có. Cuốn Kim chỉ Nam của Học sinh của Nguyễn Hiến Lê (1951). Cả các cuốn Gương Danh Nhân, Gương Kiên Nhẫn… và Tự học để thành công (1954) của ông nữa.

 

11 Cuốn sách anh thích nhất lúc nhỏ là gì?

Anh phải sống. Hai buổi chiều vàng. Tâm hồn cao thượng… Và một lô truyện Tam Quốc, Thuỷ Hử, Đông Châu Liệt Quốc… Sau này là Kiếm Hiệp Kim Dung. Có lần tôi tự chữa bệnh đau bao tử của mình nhờ kiếm hiệp Kim Dung đó.

 

12 Nếu anh có thể nói một điều với chính anh khi còn trẻ, anh sẽ nói điều gì?

Nhắc “Tương lai trong tay ta”, đó là một tựa sách của Nguyến Hiến Lê.

 

13 Kỷ niệm nào anh nhớ nhất về tuổi học trò của anh ở Phan Thiết?

Là xách guốc xuồng gỗ mỗi khi qua nhà người ta, dù người ta mới 11 tuổi. Và đặc biệt là bức thư trên giấy pelure màu xanh người ta gởi tôi khi mới 15…

 

14 Anh viết rằng người thầy thuốc “được làm nghề y vì cái nghiệp của mình”, có thể hiểu rằng phải đúng “nghiệp” mới làm bác sĩ được phải không?

Cái “nghiệp” nó mang mình đi, nó đẩy mình tới. Còn gọi là cái “Vocation”. Cái “thiên hướng”.

 

15 Anh từng viết: “Nghề y là một nghề đặc biệt, muốn đào tạo người thầy thuốc vừa có năng lưc chuyên môn vừa có lòng nhân ái thì điều kiện tuyển chọn cũng phải đặc biệt.” Theo anh kỳ thi vào các trường Y Khoa còn cần yêu cầu nào khác ngoài điểm số các môn học?

Mỗi nước, mỗi giai đoạn đều có cách đào tạo phù hợp. Thời tôi thi vào Y khoa, năm 1962, ngoài các môn học còn có 20 câu hỏi “Kiến thức tổng quát” về văn hoá, lịch sử, địa lý, âm nhạc, hội hoạ… và đặc biêt có 2 câu tôi nhớ mãi: Giá gạo trên thị trường bao nhiều một ký? Giá than trên thị trường bao nhiêu một ký. Chắc là muốn coi người bác sĩ tương lai có quan tâm đời sống xã hội đường thời không? Ở Singapore, ngoài bài thi viết còn có phỏng vấn. Nhóm phỏng vấn gồm một giáo sư, một bác sĩ, một điều dưỡng và một… bệnh nhân!

 

16 Có lý do nào đặc biệt khiến anh yêu ngành Nhi Khoa không?

Nhi khoa, xưa gọi là Á khoa, khoa “câm”. Trẻ không biết nói mà! Khi khám bệnh cho trẻ, phải có óc “quan sát” tốt để tìm ra bệnh. Cẩn thận! Trẻ không biết nói nhưng có thể giựt văng kiếng cận của mình hoặc… tè vô mặt mình. Chẳng mấy chốc mà chú nhóc ngày nào đã trở thành cậu thanh niên cường tráng, cô nhóc ngày nào đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp… Rồi một hôm, họ mang một nhóc không biết nói khác tới kêu mình khám cho nó. Một  vòng đời, ngộ không?

 

17 “Săn sóc Sức khỏe Ban đầu” là gì?

Primary Health Care, được dịch là Chăm sóc (hay Săn Sóc) Sức Khoẻ Ban Đầu. Một triết lý nhân bản trong Y khoa, sau Hội nghị quốc tế tại Alma-Ata, năm 1978, lấy phòng bệnh làm chính, xác định “sức khoẻ” là sự sảng khoái (well- being) toàn diện về cả thể chất, tâm thần và xã hội của con người, gắn liền với sự phát triển của địa phương. PHC quan tâm môi trường sống, dinh dưỡng, phòng dịch bệnh… Giáo dục sức khoẻ, Nâng cao sức khoẻ là yếu tố rất quan trọng để tạo được sự “tham gia của cộng đồng”, sự “phối hợp liên ngành”. Bởi Y tế chủ yếu là chữa trị bệnh tật, còn “Sức khoẻ” là nhiệm vụ của toàn xã hội.

 

18 Điểm quan trọng nhất theo anh trong Y đức là gì?

Là “Primum Non Nocere”: First Do No Harm. Trước hết, đừng làm hại.

 

19 Y nghiệp khác y đức chỗ nào? Cái nào quan trọng hơn?

Y nghiệp là những nguyên tắc thực hành nghề y, đòi hỏi sự chuyên nghiệp, chính xác. Y đức là vấn đề “tâm hồn” của người thầy thuốc đối với bệnh nhân. AI phát triển thì Y nghiệp phát triển, nhưng Y đức thì chỉ có ở con người với con người.

 

20 Anh từng viết một bài có tựa “Bác sĩ mà cũng bệnh!” Dĩ nhiên bệnh tật không chừa ai, dù là… bác sĩ! Kinh nghiệm vượt qua bệnh tật hay thậm chí “sống chung với bệnh” của anh là gì?

Là… đáng đời! Là ráng chịu! Ai biểu!

Ai mà chẳng phải bệnh. Trong cuốn “Quy luật của muôn đời”, tiểu thuyết của Nodar Dumbatze (Gruzia), tôi nhớ tác giả nói mỗi người ít nhất nên bệnh nặng một lần trong đời. Bệnh làm mình sáng mắt ra…

Khi đỡ bệnh sau đợt mổ sọ não năm đó (1997), tôi viết bài thơ: “Xin cám ơn, cám ơn” là vậy. 

 

21 Năm nào thì anh thực sự “rửa tay gác kiếm”?

Không biết. Cứ lâu lâu lại “Rửa tay gác kiếm” một lần! Năm 1985, tôi rời Lâm sàng (Cấp Cứu, Bệnh Viện Nhi Đồng 1); năm 2005 rời Trung Tâm Truyền Thông & Giáo dục sức khoẻ; năm 2010, rời Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch; năm 2020 đóng cửa Phòng mạch…

 

22 Anh viết khá nhiều bài về Nhật. Nếu cần chọn ba từ để mô tả ấn tượng nước Nhật để lại trong anh, anh sẽ chọn những từ nào?

Chút hương xưa!

 

23 Anh ấn tượng nhất điều gì ở Úc?

Đó là lúc đến thăm The Twelve Apostles (12 vị Thánh tông đồ của Chúa), nay đã sụp đổ còn 8 vị… và sẽ sụp đổ tiếp nay mai. Chưa ở đâu liễu ngộ Vô Thường, Vô Ngã, Thực tướng Vô tướng như vậy. Tôi thấy ở đó các vị Bồ Tát, các vị Thánh tông đồ… giữa biển thức Lankavatara bèn chắp tay xá xá… tất cả!

Tôi còn ấn tượng với một bệnh viện Ung Thư ở Melbourne, ở đó, bác sĩ, y tá và bệnh nhân đều ăn mặc giống nhau để … không thể phân biệt!

 

24 Anh nhớ nhất kỷ niệm nào trong chuyến đi Nepal về thăm đất Phật?

Lúc thăm Lumbini, nơi Phật đản sanh và thăm Kapilavastu (Ca-Tỳ-La-Vệ) nơi Phật vượt ra khỏi cổng thành.

 

25 Có ý nghĩa ẩn giấu hay biểu tượng nào trong các bài viết (thơ, văn) của anh chưa được nhận ra không?

Làm sao biết? Người đọc là người “nhận ra” nhiều thứ mà mình đâu có ngờ tới!

 

26 Anh có bao giờ lấy cảm hứng từ âm nhạc hay hội họa không?

Nhiều chứ. Nhất là ca từ của Trịnh Công Sơn. Nó giúp tôi viết Gió heo may đã về, và Về thu xếp lại…

 

27 Có khi nào một bài thơ hay bài viết thay đổi bất ngờ so với dự định của anh khi bắt đầu viết không?

Thường khi không có “dự định” gì cả. Thơ nó đến bất chợt. Tuỳ bút cũng vậy. Ý này dẫn ý kia… Kệ nó.

 

28 Anh cân bằng giữa trải nghiệm cá nhân và trí tưởng tượng trong thơ anh như thế nào?

Trí tưởng tượng mới là… cốt lõi. Trải nghiệm có khi chỉ là cái cớ, tình cờ. Chẳng hạn một hôm cà phê với người bạn trẻ dưới gốc cây cổ thụ ven đường, nhìn chiếc lá vàng rơi, tôi chợt viết “lá chín vàng lá rụng về cội… em chín vàng chắc rụng về anh…”!  

 

29 Nền tảng văn hóa và tri thức đóng vai trò gì trong việc hình thành thơ và văn của anh?

Nền tảng văn hoá đóng vai trò quyết định.

 

30 Anh có thường viết vào một thời điểm cụ thể trong ngày không?

Không. Tôi có phải là nhà văn “thứ thiệt” đâu. Nhưng ông Nguyễn Hiến Lê nói đúng. Cứ viết đi rồi hứng sẽ đến. Như “L’appetit vient en mangeant”! Ăn đi rồi thấy ngon.

 

31 Anh từng viết cho tuổi mới lớn, tuổi thanh niên, tuổi trung niên, tuổi già. Anh thấy viết cho tuổi nào khó nhất?

Tôi phải sống qua tuổi đó rồi mới viết được. Viết như “nói chuyện” thân tình với nhau thôi mà, có phải “văn chương phú lục” gì đâu! Người đọc nói tôi viết như viết cho riêng họ, vì “đi guốc trong bụng” họ!

 

32 Anh đã viết tùy bút, tản văn, y học, Phật học… Thể loại nào được anh ưa thích nhất?

Không có sự phân biệt nào trong lúc tôi viết. Tôi không định hình thể loại ở đây. Phật học thì tôi viết tuỳ bút. Tuỳ bút thì tôi viết… khoa học. Y học thì tôi… làm thơ! Ối trời, phải phân biệt rạch ròi nữa sao?

 

33 Anh có rất nhiều bạn văn, bạn thơ. Với ai anh cũng có một tình bạn dài lâu và rất đẹp. Bí quyết giữ gìn tình bạn của anh là gì?

Không nhiều bạn văn thơ đâu! Nhưng đã là bạn thì luôn là dài lâu và rất đẹp nữa. Tôi nghĩ: sự chân thành.

 

34 Trong các bài viết về thơ văn anh, chỉ có Giáo sư Cao Huy Thuần bắt gặp “con người thứ ba” trong anh, con người “cười cười” một chút và rất nghịch… ngầm. Anh thấy có đúng không?

Ông ấy tinh tế thật. Giấu ổng hổng nổi!

 

35 Trải nghiệm đầu tiên nào khiến anh nhận ra rằng ngôn ngữ có sức mạnh?

Tôi nhà quê thứ thiệt, vẫn nghĩ ngôn ngữ là “phương tiện” thôi. Tôi không nghĩ cứ uốn éo ngôn ngữ thì thành văn chương. Trong thơ, tôi thấy cái “Tứ” mới là điều cốt lõi. Người ta có thể quên ngôn ngữ, nhưng cái “tứ” thì nhớ mãi. “Oan oan thư cưu/ tại hà tri châu/ yểu điệu thục nữ/ quân tử hảo cầu” ngàn năm trước… dịch qua ngôn ngữ nào cũng được!

 

36 Anh có nghĩ rằng ai đó có thể thành một thi sĩ hay văn sĩ giỏi mà không cần trải qua đau khổ không?

Đau khổ nhiều khi là một chất liệu. “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thù độc” (Xuân Diệu).

 

37 Anh nghĩ thơ, văn và tranh tác động như thế nào đến sức khỏe tinh thần của một người?

Nó làm cho con người mềm nhũn ra.

 

38 Những chuyến du lịch có ảnh hưởng đến hình ảnh trong thơ anh không?

Nhiều chớ. Nhờ đi đây đi đó, tôi có cảm xúc để viết. Thí dụ những ngày ở Paris, tôi viết tập Vòng Quanh.

 

39 Làm sao để truyền tải một cảm xúc mãnh liệt vào thơ?

Cố tình “truyền tải” thì có khi chẳng “truyền tải” được gì cả. Nó tự nảy ra ở người đọc. Thí dụ: “Ngoại chờ bên kia sông” hay “Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?” … Người đọc tự mình “truyền tải” thì tốt hơn tác giả cố ý!

 

40 Anh thường chọn tựa đề của thơ anh ra sao?

Không cần chọn. Nó hiện ra chình ình. Thí dụ Mũi Né. Thí dụ: Giả sử.

 

41 Khi anh viết một bài thơ, điều gì xuất hiện với anh đầu tiên: chủ đề, từ ngữ hay hình ảnh?

Ý tưởng. Cái tứ. Những “thứ khác” đến sau. Bài thơ Tình Già, chỉ cần “con mắt còn có đuôi” là đủ phải không?

 

42 Thơ một người vừa là bác sĩ vừa là thi sĩ có khác với thơ của người vừa là kỹ sư vừa là thi sĩ không, theo anh?

Không. Huy Cận là một kỹ sư canh nông, Xuân Diệu làm nhân viên hải quan… Thơ không đến bằng nghề nghiệp!

 

43 Trong những nhận xét và cảm nhận của người khác về thơ anh, có ý tưởng nào làm anh hết sức ngạc nhiên không?

Có một nữ độc giả không quen biết xác nhận tôi viết bài thơ đó là viết cho riêng cô!

 

44 Thơ anh được phổ nhạc khá nhiều, trong đó có bài nào làm anh rung động nhất không?

Bài Bông Hồng Cho Mẹ viết về Mẹ tôi và bài Sông Ơi Cứ Chảy, viết cho La Ngà.

 

45 Anh thích nhất bức nào trong các tranh vẽ bằng bút sắt của anh?

Đó là bức Harvard Square (ở Boston) và bức Sacre Coeur (Nhà thờ Thánh Tâm ở Paris)

 

46 Anh có “nghề” vẽ tranh bằng ngón tay. Tại sao anh thích vẽ bằng ngón tay?

Vì kiếm “đồ nghề” không dễ lúc đó. Cao hứng thì sẵn có ngón tay. Tôi nhớ Phong Thanh Dương dạy độc cô cửu kiếm cho Lệnh Hồ Xung, lúc Lệnh Hồ Xung bị đánh văng kiếm lúng túng không biết làm sao, ông bào, sao ngu vậy, ngón tay cũng là… kiếm chứ!

 

47 Trong một bài phỏng vấn, anh nói “Tôi mừng vì vẫn giữ được cảm xúc để làm thơ”. Anh thường giữ cảm xúc bằng cách nào?

Bằng cách để cho cảm xúc nó tuôn trào. Kệ nó.

 

48 Anh có bao giờ nghĩ tới chuyện “làm mới” thơ hay văn của mình không?

Không. Việc gì phải làm mới? Đọc cuốn Ý Cao Tình Đẹp của Nguyễn Hiến Lê (sách dịch), tôi thấy mình cũng rưng rưng muốn khóc. Làm mới, có thể gây ngạc nhiên nhưng khó làm cho khóc. Khi đọc Anh phải sống của Khái Hưng hồi 12 tuổi ở trong chùa, tôi cũng khóc. Nhạy cảm quá chăng. Vớ vẩn quá chăng?

 

49 Anh thường tìm cảm hứng cho thơ văn của mình từ đâu?

Tôi không tìm. Nó tự đến.

 

50 Anh có cảm thấy văn phong của mình thay đổi theo thời gian không?

Có. Hình như mình già thì văn nó cũng già theo. Nó run rẩy, nó lẩn thẩn, nó mít ướt.

 

51 Điều gì quan trọng nhất đối với anh khi viết về một nhân vật?

Tôi muốn nhìn được trong sâu thẳm tấm lòng của họ. Nhiều người khen bài tôi viết về Trang Thế Hy.

 

52 Hai chân dung anh viết khá chi tiết là học giả Nguyễn Hiến Lê và thi sĩ Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư. Một người uyên bác chân phương, một người phóng khoáng bay bổng. Anh cảm thấy anh giống ai hơn?

Giống mỗi người một nửa. Không phải công tử với nhà quê mà người điên với nhà nho.

 

53 Bài thơ của nhà thơ nào anh cảm thấy tâm đắc nhất?

Tình Già của Phan Khôi và To Edith của Bertrand Russell viết khi ông 90 tuổi!

 

54 Anh đã bao giờ bị bí ý tưởng khi viết chưa?

Chưa. Vì khi có ý rồi mới viết. Để đó, cho nó “hoai” đi. Mấy hôm rồi đọc lại. Lúc đó, cần thì sửa. Tôi có học Văn với thi sĩ Vũ Hoàng Chương, lớp 11, ông nói, có những bài thơ ông sửa đến 36 lần! Nhà thơ Giả Đảo, đời Đường nổi tiếng “thôi xao” chúng ta đều biết!

 

55 Anh có nghĩ rằng một nhà văn có thể viết hay mà không cần có cảm xúc không?

Có. Đó là những nhà văn chuyên nghiệp, họ có thể cùng lúc viết nhiều feuilleton… cho nhiều tờ báo.

 

56 Anh đã viết nhiều bài về tuổi già, vậy anh có thể tóm tắt bí quyết “già sao cho sướng” được không?

Là “biết mình già”, OK với nó. Welcome nó.

 

57 Anh có thể giải thích chữ “Không” trong Phật học một cách dễ hiểu không?

Đừng hiểu lầm “Không” là không có gì nhe. Không trong Phật học là “trống rỗng”, là không có “tự tính” riêng biệt. Mọi “pháp” đều do Duyên sinh. Hiểu vậy, ta hiểu tại sao Vô thường, Vô ngã… Và, giải thoát khổ đau, dính mắc.

 

58 Anh hiểu thế nào là “quay về nương tựa chính mình”?

Không lẽ nương tựa vào ai bây giờ? Ai có thể thở giùm mình, ai có thể khổ đau giùm mình, ai có thể si mê giùm mình?

 

59 Anh viết: “Một người mà không thể từ bi với chính mình thì làm sao có thể từ bi với người khác được?” Từ bi với chính mình là sao?

Là “Biết ơn mình”. Nhiều người oán ghét mình lắm. Sáng sáng nhìn vào gương thấy ghét. Già nua, nhăn nhúm… Rồi so sánh mình với người khác nữa… Nhờ đó mà các cơ sở “thẩm mỹ” giả mọc lên như nấm không thấy sao?

 

60 Anh nói “Thiền là Thở”, đơn giản vậy sao?

Phải. Phật dạy trong kinh Anapanasati. Một phương pháp Thiền hiệu quả và khoa học nhất. Không sợ “tẩu hỏa nhập ma”. Qua hơi thở, ta thực hiện cả Samatha (thiền chỉ) và Vipassana (thiền quán). Đời sống chỉ là một hơi thở. Thân và tâm cùng trong hơi thở. An lạc hay khổ đau nằm trong hơi thở đó thôi.

 

61 Anh khen phương pháp Thở của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện rất hiệu quả. Anh có thể cho biết cách anh thực hành?

Bs NKV bị mổ phổi 7 lần ở Pháp (năm 1946), chỉ còn 2/3 lá phổi phải. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống 2 năm. Vậy mà với phương pháp thở bụng, ông đã sống thêm được… 50 năm, chẳng thú vị sao? Phương pháp thở bụng (abdominal breathing, diaphragmatic breathing) không lạ. Người xưa ở Đông phương gọi là đưa hơi xuống huyệt “đan điền” đó thôi. Bs NKV là cố vấn Bộ môn Tâm lý – Xã hội học ở Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, do tôi là Trưởng Bộ môn, ông cũng chia sẻ với tôi nhiều lần nhưng tôi không mấy quan tâm, đến khi tôi bệnh nặng phải mổ sọ não thì tôi mới đem ra ứng dụng. Hay chớ! Tôi đã viết lại đầy đủ trong cuốn Thiền và Sức khoẻ.

 

62 Dường như anh chưa bao giờ viết nhiều về “tham, sân, si”, “thân, khẩu, ý”, “nghiệp và nhân quả”. Anh coi trọng việc thở, ăn và hiện diện trong giây phút hiện tại hơn, có đúng không?

Thở, Ăn, Biết sống Ở đây và Bây giờ chẳng đã đủ rồi sao? Đó chính là chánh niệm, tỉnh giác. Còn tham sân si… gì nữa cho mệt! Hiểu Phật là hiểu Duyên sinh. “Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên” (Trần Nhân Tông) nhớ không? Biết tuỳ duyên, thuận pháp là đã đủ cho nếp sống “cư trần lạc đạo” rồi đó vậy.

 

63 Có thể hiểu điều Phật dạy và thực hành giỏi mà không cần thuộc nhiều kinh kệ không?

Thuộc một vài câu Kinh Kệ là đủ. Lục tổ Huệ Năng chỉ nghe câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà giác ngộ tức khắc. Ngày nay, thời AI, Internet, deep fakes… thì cũng chỉ cần thuộc câu đó và ứng dụng vào đời sống. Luôn nhớ rằng “Nói vậy mà không phải vậy!”. Ai ngây thơ, “tưởng thiệt” sẽ lãnh đủ!

 

(Saigon 11.3.2025)

 

 

Bài 2: Hỏi- Đáp chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Nhân đọc bản thảo Chuyện Hồi Đó)

 

1 Trong bài thơ “Xin cám ơn, cám ơn” viết sau cơn bạo bệnh năm 1997, anh viết:

Đã bao lâu ta không sống với mình

Ta có ta mà quên ta phứt.

 “Ta quên ta” là sao, và có gì liên hệ với lời dạy của Phật không?

Tôi sinh đẻ ở Phan Thiết. Nhà bà Ngoại dưới chân núi Tà Cú, nơi có chùa Linh Sơn Trường Thọ Tự, nên hồi nhỏ xíu ba bốn tuổi đã được Bamá, cậu, dì… cõng lên chùa chơi thường xuyên… Trong nhiều năm học hành rồi làm việc, quả thật tôi không nhớ tới tôi, tôi chỉ nhớ công việc ở khoa cấp cứu Nhà thương Nhi Đồng Saigon, chương trình Săn sóc Sức khoẻ Ban đầu… Sau đó làm công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ, phòng chống sốt xuất huyết, viêm ruột hoại tử, não mô cầu… rồi phòng chống HIV/ AIDS…, quả thật tôi quên phứt tôi, đến một hôm người ta khiên tôi vào cấp cứu, mổ sọ não vì tai biến… Khi tỉnh lại, rồi bước được những bước như một em bé, biết nghe, biết nói… tôi viết bài thơ Xin cảm ơn, cám ơn này trong bệnh viện.

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Như cỏ cây trước cơn bão dữ
Như con thuyền tung hê lên vách núi cao
Cho ta trở về làm con thú hoang sơ
Trần truồng như nhộng
Kẻ cạo đầu người lột da

Kẻ đục sọ người giúp thở
Kẻ đặt ống sonde vào đường tiểu
Người bơm thuốc qua dịch truyền
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Không lý trí không nghĩ suy không toan tính

(…)

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc
Cho ta trở lại với mình
Ta muốn ôm hôn tất cả mọi người
Và ôm hôn ta nữa
Cái đầu trọc lóc bình vôi
Hai lỗ thủng và mười tám vết khâu từ ái
Ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở
Lắng nghe sự sống cục cựa trong mình.

(…)

Phật dạy phải quay về nương tựa chính mình. Phải từ bi với mình rồi mới từ bi với người. Đừng bao giờ để phải kêu lên: “đã bao lâu ta không sống với mình/ ta có ta mà quên ta phứt…”

 

2 Anh viết trong Chuyện Hồi Đó muốn có an lạc chỉ cần làm “3 điều 4 chuyện”. Tất cả đều hay, chỉ riêng phần “hiểu thuật ngữ, ẩn dụ” có cần thiết không?

Rất cần thiết. “3 điều 4 chuyện” là cách đơn giản nhất để hiểu và thực hành lời Phật dạy, mang đến sự An Lạc cho nếp sống vui, sống khoẻ, tránh mê tín dị đoan… Cho đến nay, nhiều người vẫn hiểu lầm về những từ “chúng sanh”, “niết bàn” vì ngôn ngữ trong Phật học đa dạng!… Phật còn dạy “y nghĩa bất y ngữ”. Nói vậy mà không phải vậy đâu! Khi thuyết giảng xong Kim Cang Bát- Nhã, đệ tử hỏi Thế Tôn, tên kinh này là gì. Phật nói: Kim Cang Bát-Nhã balamật. À, nói Kim Cang Bát- Nhã Balamật thiệt ra không phải Kim Cang Bát- Nhã Ba-la-mật, chỉ tạm gọi vậy thôi. Ấy là để khuyên ta đừng bám chấp. Thí dụ, nói Chúng sanh không phải là chúng sanh, nói Niết bàn không phải là niết bàn…  Còn “ẩn dụ” thì càng cần hiểu rõ, nếu không thì dễ mê tín dị đoan. Như niệm Quan Thế Âm Bồ tát giúp làm cạn cơn lũ dữ, làm tắt ngọn lửa to. Tưởng thiệt thì nguy!

 

3 Người đa tài ắt đa tình (ý của Giáo sư Cao Huy Thuần). Đa tình có thể hiểu thế nào theo anh? Làm sao để vừa “đa tình” mà tâm vẫn an?

Một người từ bi… luôn là một người đa tình đó. Từ bi với mình và từ bi với người. Trong Phật học còn có “Vô duyên từ” nghĩa là chẳng có lý do gì để mà “từ” cả! Chẳng phải người ta có thể từ với hòn đá cuội (ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau– Trịnh Công Sơn) đó sao? Hay từ với một cánh chim bay (Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh? Ngoài hư không có dấu chim bay. Tuệ Sỹ).  Văn chương không thiếu:  “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Thế Lữ), “Có nghĩa gì đâu một buổi chiều, nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu…” (Xuân Diệu). Kẻ đa tình vậy đó. Đa tình mà tâm vẫn an… có lẽ bởi đó là một thứ tình thương bao la hoặc một thứ tình yêu “tỉnh thức”, không bị vùi đắm trong đam mê, vị kỷ.

 

4 Anh viết về cách Phật dạy con. Tại sao bài học đầu tiên La- Hầu- La được học lại là cách thở?

Chớ sao? Thở chẳng phải là việc làm đầu tiên của đứa bé sơ sinh vừa rời bụng mẹ sao? Trong bụng mẹ, chưa cần thở. Tiếng khóc chào đời là một nhịp thở đầu tiên của kiếp người. Lớn lên, ta thường quên cách thở. Rồi khi ta thở cà hước, thở cà giựt… mới tiếc hồi nhỏ không học thở. Thở tưởng của ta mà không phải của ta… Thở ở ngoài ta. Thở cóc cần ta. Thở vốn tự động, do áp suất trong phổi mà khí tuôn vào hay tuôn ra. Nó gắn liền với cảm xúc. Điều tức (là điều chỉnh, kiểm soát hơi thở) thì sẽ  “điều” được tâm. Muốn tâm an thì phải học cách điều tức là vậy.

Phật mất nhiều năm tu thiền vất vả, nhịn thở, nhịn ăn mà không thành công. Nhớ lại một lần còn nhỏ theo phụ thân coi Lễ Tịch điền tự dưng thấy thân thể nhẹ nhàng, lâng lâng, như không còn hơi thở nào nữa, hoá ra đó mới thực là thiền. Cái đó, trong Nam Hoa Kinh gọi là “Toạ Vong”  “ngồi yên, biến mất”. Không để ý gì chuyện thở hay không thở nữa. Cái đó chính là tứ thiền “xả niệm thanh tịnh” rồi đó. Khi còn niệm thì không thanh tịnh nổi đâu. Dù cho đã có hỷ có lạc.  Cho nên Lục tổ Huệ Năng lấy Vô niệm làm tông là rất đúng.

Các kinh sách dạy thiền có thể phân tách từng bước, từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền…  Thực tế, các thiền sư thiện xảo ngồi xuống, ngay hơi thở đầu tiên đã có thể vào định sâu được rồi. Càng theo dõi, càng chia cắt, càng dính mắc, lúng túng. Ở tứ thiền đã gần như không cần thở nữa. Có thể vào diệt thọ tưởng định, mà không cần qua các tầng thiền vô sắc.

 

5 Trong thời đại ngày nay, “khẩu không chỉ là lời nói trực tiếp mà còn là những status trên mạng Internet”, cả các comment nữa. Làm sao để phân biệt “khẩu thiện” và “khẩu ác” trên mạng?

Đó chính là lúc phải quay về nương tựa chính mình. Coi lại mình đã bị “rung động” thế nào, đã bị “xao xuyến” thế nào rồi? Tốt nhất lúc đó nhớ lại câu Đà-la-ni trong Kinh Kim Cang: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm!) thì may ra mới thoát.  Status, comments… nào làm cho ta sanh tâm chạy theo những cảm xúc đó, bị lôi cuốn vào cảm xúc đó, như khi bị dụ dỗ kiểu thực phẩm giúp trẻ mãi không già, xinh đẹp như xưa, “lương cao việc nhẹ” thì thế nào cũng sụp bẫy.  Tóm lại, vì lòng tham mà không đạt thì sân (giận), thiệt ra cũng bởi vì Si, nghĩa là mê, là say, là ngu. Đáng đời. Ráng chịu. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

 

6 Anh có thể giải thích một cách dễ hiểu về “duyên sinh” không?

Hiểu được “duyên sinh” thì hiểu được Bát- Nhã, trang bị cho mình được cái gọi là “viên thành thật tánh”, một cái tánh sáng suốt, không bị che mắt, không bị dẫn dụ bởi bên ngoài nữa… Dẫn dụ bằng cái gì? Bằng cái danh, bằng cái tướng. Cái “danh” thì rỗn rảng, cái danh thì kêu to, chớp loà, khiến ta tưởng thiệt, tưởng bỡ. Y như con “thiêu thân” bị dụ bởi ánh đèn. Những danh, những tướng đẹp đẽ hấp dẫn khiến ta dễ dính mắc gọi là “biến kế sở chấp” là “y tha khởi”.

Duyên? Là những “điều kiện”. Có thể lấy một ví dụ đơn giản, với 3 phân tử Carbone (C), Hydrogèn (H), Oxygèn (O)… riêng lẻ thì không sao, tự dưng có cái men (điều kiện) gì đó tác động vô, thành đường glucose C6H12O6 ngọt ngào; nếu gặp cái men khác, cũng 3 món đó lại thành rượu (C2H5OH) cay đắng, rồi với men khác nữa lại thành giấm (CH3COOH) chua chát… Những ngọt ngào, cay đắng, chua chát đó trong đời sống hàng ngày của ta chẳng phải là do “duyên” gì đó sao? Rồi những RNA, DNA… kết hợp với nhau mà ra virus, vi khuẩn, khủng long, con người… Toàn là “duyên sinh” đó thôi.

Lý Duyên Sinh Duyên Khởi là cốt lõi của Phật giáo: cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không… Thập nhị nhân duyên, 12 nối kết, từ Vô minh sinh hành, hành sinh thức, thức sinh danh sắc, lục nhập… Nếu hiểu rõ con đường duyên sinh này – như một tiến trình tâm- từ ý thức đến hành động, cảm nhận, rồi “ái thủ hữu”, ta có thể “can thiệp” từng bước để cải thiện tiến trình duyên sinh của tâm, và… giải thoát nếu chấm dứt Vô minh. Có thể nói, hiểu được Duyên sinh, duyên khởi, ta hiểu nghiệp, luân hồi, nhân quả…

 

7 “Vô thường” là gì?

Vô thường là… thường! Đúng vậy, một cánh hoa đào rực rỡ đẹp tươi bỗng tàn héo dần, ai cũng thấy mới đó mà đã đổi thay, một sự “vô thường” không thể chối cãi. Thế nhưng, thử nhìn một cách khác. Những cánh hoa tàn úa đó cứ mãi mãi còn, cứ mãi mãi ở đó và tàn úa… thì tội nghiệp quá. Nó phải được đổi thay chớ. Nó phải được làm mới. Nó phải được rực rỡ đẹp tươi chớ. Cách nào? Thì “tiết mùa” sẽ giúp. Không hẹn mà đến/ không chờ mà đi/ bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta…(TCS). Và những cánh hoa đào theo tiết theo mùa kia vẫn mãi mãi rực rỡ đẹp tươi, chưa bao giờ tàn úa.

Chàng thi sĩ một hôm dừng chân bên song cửa, thấy cô nàng xinh đẹp bên đoá hoa đào, năm nay trở lại, những đoá hoa kia vẫn còn rực rỡ đẹp tươi, mà cô gái xinh kia đâu rồi, không thấy nữa. Mọi thứ vô thường quá. Nhưng những cánh hoa đào rực rỡ thì đang cười chàng: “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Cái “tiếu” đó mới vui làm sao! Hoa cười nhạo chàng thi sĩ ngờ nghệch. Cho nên nếu nhìn bằng con mắt Như Lai, hẳn đã thấy năm nào hoa cũng nở dưới gió đông này, vẫn rực rỡ tươi vui như thế. Còn người đẹp kia ư? Thì hết Dương quý phi có Bao Tự, hết Bao tự còn Chiêu quân… Có gì là vô thường đâu. Nhìn bằng con mắt Như Lai, thì làm gì có vô thường phải không?

 

8 Người sinh ra ai cũng có cái tôi (ngã), vậy “vô ngã” là sao?

Cái mà ta tưởng là Ngã đó, nó từ nhiều thứ mà ráp nối lại (Ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức), có cái gì riêng có thực tánh của nó đâu.  Ta thử hít vào một hơi sâu, thật sâu, không được. Nó bắt ta phải thở ra. Ta thở ra thật dài, dài nữa. Không được. Nó bắt ta phải hít vào. Chuyện thở ra hít vào hàng ngày của ta mà ta cũng chẳng làm chủ nó được. Vậy có cái ta không? Nếu ta tưởng thiệt có cái ta thì ta sẽ khổ đau, vất và vì nó. Còn biết nó vô ngã, ta sống với cái vô ngã đó, chẳng phải hết khổ đau ư? Cho nên khi còn khổ đau, chưa “thấy biết” (giác ngộ) Phật dạy Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, Bất tịnh…

Khi đã thấu hiểu rồi, ta thấy Thường, Lạc, Ngã, Tịnh đó thôi. Phât là y vương, khi nguời ta bệnh hoạn, khổ đau, cho mấy thứ thuốc chữa triệu chứng, ráng nuốt. Khi hết bệnh không cần uống thuốc nữa. Phật nói ví như người say thấy đất đai nhà cửa cây cối ngả nghiêng, lúc tỉnh ra thấy đất đai bằng phẳng, nhà cửa cây cối… tĩnh yên. Cái “thấy biết” đó giúp ta cỡi bỏ khổ đau, thấy được an lạc.

 

9 Phật là một Y vương. Chỉ cách phòng bệnh, lại chỉ ra nguyên nhân bệnh và cách trị bệnh. Bệnh ở đây chính là khổ đau. Anh có thể tóm tắt nguyên nhân, đơn thuốc và cách phòng bệnh của Phật không?

Đúng, Phật là bậc Y vương, chữa được cả đau và khổ. Khác với bác sĩ, lương y, thường chỉ chữa được cái đau, cái bệnh… Mà ta biết, Khổ mới là cái gốc của đau, của bệnh. Bênh thân và bệnh tâm. Khổ phát sinh từ Tham sân và si. Nhưng tham sân si cũng chỉ là triệu chứng. Căn nguyên là Vô minh. Từ vô minh mà sinh hành, thức, danh sắc… có thể nói là con đường sinh bệnh học, sinh lý bệnh học.  Lục phủ ngũ tạng quấn quít lấy nhau. Chỉ cần “chiếu kiến ngũ uẩn giai Không” (Tâm Kinh) thì đã thoát được vô minh, tức khắc “độ nhứt thiết khổ ách”.

Phật “chế” ra nhiều thứ “thuốc”, tuỳ căn cơ người bệnh mà “cho toa” sao cho phù hợp. “Sanh, bệnh, lão, tử” có lẽ là nỗi khổ, nỗi lo lớn nhất của kiếp người. Khổ vì sanh ư? Đã có vị Phật tên là Bảo sanh (Ratnasambhava) đây rồi, giúp sanh đẻ an toàn, Khổ vì bệnh ư? Đã có vị Phật là Dược sư (Bhaisajyaguru) cho thuốc. Khổ vì già ư? Có vị Phật Asucbệ (Asobhya), còn gọi Phật bất động, an nhàn. Khổ vì chết ư? Có vị Phật A Di Đà (Amitabha) rước về Tịnh độ… Vô số các vị “thuốc” để chữa vô số các bệnh khổ.

Con đường phòng bệnh khổ chỉ cần gom lại trong Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tính tấn, chánh niệm, chánh định.  Thực hiện được Bát chánh đạo thì  An vui và Hạnh phúc.  Trong Bát chánh đạo, cũng chỉ cần một thứ thuốc cốt loĩ: Chánh định. Có chánh định thì có chánh kiến, chánh tư duy… Có chánh định thì thấy “Vô tướng thực tướng” thấy Như Lai.

 

10 Anh có thể giải thích và cho ví dụ về “Từ Bi Hỷ Xả”? Sao lại cần “Từ Bi Hỷ Xả”?

Nếu không Từ Bi Hỷ Xả thì ta cứ sống với lòng Sân hận, oán thù, ganh ghét, ghim gút… “Thù trả chưa xong đầu đã bạc!”. Từ là lòng Thương. Biết thương. Còn thương… Thí dụ “còn thương rau đắng mọc sau hè”! Cọng rau mà còn thương được thì lòng thảnh thơi biết bao. Lấy oán báo oán/ oán oán chồng chất/ lấy đức báo oán oán tiêu vong… Bi là làm vơi khổ. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Nếu chỉ biết thương thôi mà không có cách gì làm cho bớt khổ thì không đủ. Cho nên Từ đi với Bi là vậy. Hỷ là cái vui theo người. Khó. Người vui thì ta ganh ghét dễ hơn. Còn vui theo kiểu đãi bôi, nịnh bợ thì càng hại người. Xả là buông bỏ, là không còn dính mắc. Từ bi hỷ xả là Tứ vô lượng tâm. Mênh mông, không ngằn mé. Được chút mừng chút.

 

11 Có người tiếp cận Đạo Phật như một tôn giáo, có người lại coi là môt triết lý sống. Theo anh, cách nào đúng?

Trong cuộc sống bình thường, ta cần có một “triết lý sống”, tìm kiếm một cuộc sống an lạc, hạnh phúc. Chúng ta có thể thực hành Giới Định Huệ để giảm trừ Tham sân si. Chỉ cần giữ ngũ giới, có thể là đã đủ. Không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không nghiện ngập… Và nếu được, Từ Bi Hỷ Xả. Nhưng con người còn có phần tâm linh. Chưa biết hết, chưa hiểu hết được. Dân gian gọi “ba hồn chín vía”. Các nhà xã hội học tìm thấy có những đứa trẻ sống trong rừng sâu, không hề biết đến con người, khoảng tám tuổi bỗng đặt mấy cục đá xếp thành tầng cao, rồi quỳ lạy, cầu nguyện. Cái gì vậy? Không biết. Có cái gì đó thuộc về “tâm linh”.

 

12 Theo cách anh hiểu về Đạo Phật, sau cái chết có còn linh hồn không? Linh hồn đó sẽ làm gì, đi về đâu?

Phật giáo không nói về “Linh hồn”. “Linh hồn” là vĩnh cửu, trường tồn, không thay đổi gắn vào thể xác, và cái chết là tách rời thể xác với linh hồn. Thiện, được vào nước Thiên đàng vĩnh viễn; Ác, thì vào địa ngục vĩnh viễn. Phật giáo không tin có một Đấng Tạo hoá quyết định việc ban thưởng hay trừng phạt. Phật giáo cho rằng mọi thứ do Duyên sinh. Một kẻ làm ác, ở địa ngục, có thể trở thành nguời Thiện, lên làm người, làm Phật. Một người ở cõi thiên, có thể bị đoạ xuống địa ngục vì làm Ác . Quan niệm này cho con người một Tự do tuyệt đối. Cho nên Phật giáo chỉ nói “Thần thức” là phần tách khỏi thể xác khi chết, tuỳ nghiệp duyên mà tái sanh.

 

13 Anh từng nói “trái tim nghĩ bằng tình, khối óc nghĩ bằng lý”. Phật pháp là tình hay lý?

Phật lúc nào cũng có hai vị Đại Bồ-tát đứng hai bên. Bên trái là Văn Thù Bồ-tát, cưỡi sư tử, tay cầm kiếm báu. Tiếng sư tử rống lên thì muôn thú đều khiếp vía. Vung gươm báu thì chặt đứt phiền não. Còn bên phải là Phổ Hiền Bồ-tát, cưỡi voi 6 ngà và tay cầm đoá hoa sen… Voi mới đủ sức chở nặng giáo pháp đến giúp chúng sanh. Voi 6 ngà tượng trưng cho 6 phương pháp giúp thành tựu trên con đường học Phật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ. Đó là “Lục độ Balamật”.  Thú vị, khoa học biết rõ hai bán cầu não mỗi bên chịu trách nhiệm một thứ: bên trái, lý; bên phải, tình. Nặng một bên sẽ không đạt kết quả tốt. Ngày nay khoa học não bộ cũng thấy hai bán cầu não có khả năng nối kết được với nhau.

 

14 Theo Đạo Phật, con người sinh ra trên đời để làm gì?

Có người nói sinh ra trên đời để… chết? Có người bảo sinh ra trên đời để… sống? Có người nói “bất sinh bất diệt”, không có sống có chết gì cả!

Nhưng có lẽ người ta sinh ra trên đời là để “trả” cái Nghiệp của mình. Nghiệp phát xuất từ Thân, Khẩu,Ý, nhiều kiếp sống đã tạo nên, đã tích luỹ. Có Nghiệp thiện và nghiệp ác. Có thể coi nghiệp là nhân sẽ sinh ra quả. Nhưng từ nhân mà sinh quả, phải có duyên. Không có duyên thì hạt giống  tốt cũng bị huỷ hoại đi. Duyên là những điều kiện tác động để nghiệp thành quả.  Hiểu Duyên sinh thì hiểu luân hồi, tái sinh, nhân quả là vậy…

Thật ra có nhiều câu hỏi Phật cũng bảo không nên trả lời. Một người bị tên, phải cứu chữa ngay cái đau của họ, đừng hỏi ai bắn mũi tên này, tại sao bắn, bắn để làm gì… vô ích.

 

15 Trước một người muốn bớt đau khổ nhưng chưa biết về đạo Phật, anh sẽ cho lời khuyên gì?

Có khi không cần phải khuyên gì cả. Khuyên cũng chẳng ai nghe. Đau khổ của mỗi người do nghiệp do duyên của họ. Họ phải được trải nghiệm. Tự rút ra bài học. Tuy nhiên cũng có khi Phật cho lời khuyên như chuyện một bà mẹ có con bệnh chết, bà đau khổ cùng cực, muốn chết theo. Có người khuyên tìm Phật xin phương thuốc cứu con sống lại. Phật khuyên bà đi vào từng nhà trong làng, hỏi nhà nào xưa nay chưa từng có ai chết thì xin môt nắm tro trong bếp, mang về Phật sẽ chỉ cách làm thuốc cứu con. Bà đi nhiều năm tháng, hết làng này sang làng khác, không tìm thấy nhà nào không từng có người chết nên trở về lạy Phật xin quy y. Nếu ngay từ đầu Phật bảo “Ai mà chả chết, nhà nào chả có người chết, đừng buồn đau nữa…” liệu có khuyên được bà mẹ đó không?

 

16 Anh viết: “Một hôm hơi thở tình cờ / Dính vào hạt bụi thành ra của mình.” Có ngụ ý gì liên quan đến Phật pháp trong câu này không?

Có đó chớ. Nhưng phải đọc luôn hai câu đầu: “Lắng nghe hơi thở của mình/ Mới hay ra hơi thở đã nghìn năm xưa…”  Nếu ta biết nhìn bằng con mắt ngàn năm, ta thấy trên Hy mã lạp sơn vốn xưa kia là biển, nay vẫn còn muối và các vỏ sò ở đó. Còn dưới đáy biển sâu kia, những thành phố đang chìm trong nước… Từ khi có loài người trên quả địa cầu ta đang sống này đã có bao nhiêu người đã chết? Họ chỉ để lại những hạt bụi đó thôi. Trong Phật giáo cũng có một thứ Ấn gọi là “Ấn điạ xúc” rất hay. Khi nổi cơn giận dữ, ta đưa ngón tay ấn vào trong đất, sẽ hết giận ngay vì nhớ ra rằng ta chính là hạt bụi trong đất này thôi. Kẻ thù ta cũng vậy. Hơi thở mà “tình cờ” dính vào hạt bụi thì lại do duyên. Hai chị em Thuý Kiều Thuý Vân, cùng cha cùng mẹ, vậy mà hai kiếp sống khác nhau đế ngàn sau đoạn trường đó thôi?

 

17 Anh khuyến khích mọi người nên sống “ở đây và bây giờ”. Anh có thể lấy ví dụ cụ thể không?

Tôi đang khuyến khích mình đó chớ. Nếu biết sống “Ở đây” và “Bây giờ” thì hẳn đã là hạnh phúc. Có điều hết tiếc dĩ vãng thì mơ tương lai… Tiếng Anh có một từ hay: Present là “có mặt”, Present là “hiện tại” và Present cũng có nghĩa là món quà. Đó là món quà dành cho người có mặt ở thời… hiện tại. Còn ta cứ mãi loay hoay…

 

18 Nói về chuyện ăn, anh viết: “Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ cái bao tử “

Ăn là một chuyện “lớn” không thua gì thở. Vì thức ăn kết hợp với hơi thở tạo nên năng lượng cho ta hoạt động hàng ngày. Năng lượng đó được tạo ra từ trong mỗi tế bào. Mỗi tế bào có Mitochondria (Ty thể) là nhà máy sản xuất năng lượng. Phật nói về thức ăn của thể chất và thức ăn của tâm hồn. Thực ra, thức ăn của thể chất cũng là thức ăn của tâm hồn đó chớ! Tàn Dà nói: Đồ ăn ngon, người ngồi ăn không ngon, không ngon. Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, không ngon. Cái chuyện ngon không ngon là chuyện tâm hồn phải không. Ăn là một vấn đề… văn hoá. Nhiều món quý chỗ này thì chỗ kia chê, không biết ăn. Camembert của Pháp. Mắm Bò hốc của Kampuchia. Mắm ruốc, mắm sặc ở ta… Món bánh căn nghèo của Phan Rang, Phan Thiết chẳng phải là món ngon nhứt sao? Nhiều bạn bè tóc bác phơ, ở nước ngoài về thăm quê bao giờ cũng đòi ăn cho được mấy món “nhà quê” đó.

 

19 Theo anh, có thể có những giây phút “giác ngộ” trong đời sống thường nhật không?

Có chớ. Và thường nữa. Có điều ta không ghi nhận và duy trì nên nó tự xoá đi. Ta làm vỡ một cái chén sứ đẹp. Tiếc quá, sực nhớ cái chén đó làm từ gốm và… gốm thì trở về với đất để chờ làm cái chén sứ khác. Thấy cánh hoa tàn úa, tiếc quá, phải chi nó cứ mãi đẹp như thế. Ta thấy ta… già đí, tiếc quá, phải chi cứ còn trẻ mãi. Mà quên nghĩ rằng cánh hoa phải tàn đi để tạo nên một cánh hoa khác rực rỡ, đẹp đẽ hơn. Ta phải… già đi để con cháu ta có cơ hội lớn lên, nếu không… Cái đó là cái “Thấy biết của Phật” (Phật trí kiến). Vì ta cũng có Phật tánh, có Pháp thân như Phật nên ta cũng thấy biết chút chút, khác với Phật chỗ ngài thấy biết hoàn toàn, “toàn giác”. Phật không chỉ thấy biết gốm sứ từ đất, thuỷ tinh từ cát… nên bể cái gốm sứ, vỡ ly thuỷ tinh Phật cười còn ta khóc.

Thiệt ra Phật thấy rõ, tất cả đều đến từ vô tướng, nên cái ta thấy, ta có, chỉ là cái giả tướng, cái thực tướng mong manh đó thôi, nó vô thường, vô ngã. Khi ta thấy vô tướng thực tướng thì ta đã thấy… Như Lai.  Người khéo tu hành, luôn an nhiên, tự tại. Rồi đến một tuổi nào đó, ta không muốn giác cũng giác, không muốn ngộ cũng ngộ… đó thôi!

 

20 “Chữa lành” là một trong những từ đang được nhắc nhiều nhất trên mạng, đặc biệt với người trẻ. Đạo Phật có thể chữa lành cho người trẻ không?

Được quá đi chớ! Nhưng “người trẻ” đã mắc phải bệnh gì mà muốn “chữa lành”? Bệnh thì có bệnh thể chất, bệnh tâm thần và bệnh xã hội… Về thể chất, nói chung, người trẻ thường là người khoẻ mạnh, ít đau ốm bệnh hoạn như người… già. Thế nhưng nguời trẻ thường nhìn người hàng xóm, thấy họ cao ráo, vai u thịt bắp, lực lưỡng, bèn đi cắt xương ống chân, nâng cao thêm vài tấc, tập thể lực và dùng thuốc cường cơ cho thịt săn cứng lại khoe 6 múi… thì chữa không lành được. Cô gái yểu điệu thục nữ, giờ muốn giống hoa hậu, bơm mông, nâng ngực, độn chỗ này, xẻ chỗ kia để bằng bè bạn… chữa lành hổng nổi! Tóm lại, cũng chỉ vì lòng tham, muốn, ganh tị… mà ra! Khi không đạt được mong muốn, thì sân hận, căm thù… Sửa mũi thì mũi xẹp, sửa mắt thì mắt mờ. Đại khái, họ không chấp nhận mình là mình.

Cho nên suy gẫm cuộc đời với biết bao nhiêu khổ đau… Phật gom lại chỉ có 3 nguyên nhân chánh: Tham – sân- si. Con đường an lạc chính là Giới- định- huệ. Giới thì giảm lòng tham, lành bệnh tham, Định thì giảm lòng sân và Huệ thì… hết vô minh. Ít nhất dòm qua cũng biết cái đẹp hào nhoáng kia, cái đẹp mơ ước kia là của giả, độn thôi, có khi là vài túi nước muối, nhẹ tay coi chừng vỡ.

Chỉ có cách tự mình chữa cho mình thôi. Gặp thầy thuốc không tốt, thầy sẽ dọa thêm cho tăng nỗi lo âu, tốn kém. Gặp thầy tu bất hảo thầy sẽ hù thêm cho sợ hãi… Căng thẳng, lo âu, sợ hãi… dẫn đến trầm cảm, khó mà lành nổi. Nếu hiểu biết, chấp nhận mình, sống không đua đòi, ganh tị, hoà hợp với thiên nhiên, xã hội thì không chữa cũng lành. Các nhà khoa học khuyến khích người trẻ nên sống gần gũi với thiên nhiên, thiểu dục tri túc, thực tập 3 thứ: Thể dục, trí dục, đức dục như người xưa dạy, và tìm cho mình một chút giải khuây: cầm, kỳ, thi, hoạ… có thể từ đó mà an nhiên, tự tại, không chữa cũng lành!

 

21 Lòng tin vào nhân quả đôi khi khá trừu tượng. Khi một người sống tốt nhưng lại luôn gặp bất công, họ rất dễ mất lòng tin.

Nhân quả có thể thay đổi. Nhân quả do nghiệp, do duyên.  Án Anh đi sứ nước Sở nhớ không? Cây quít ngọt ở Giang Nam, đem trồng ở Giang Bắc thì sinh trái chua… Ấy là do thổ nhưỡng, do chăm sóc, tưới tẩm của con người. Nghiệp cũng có thể thay đổi. Cách sống của ta ngay ở đây và bây giờ là do ta quyết định, ta tự do chọn lựa. Phật giáo tin vào con người. “Tánh Phật”có  ở mỗi người.

 

22 Tại sao muốn sống an lạc cần có cả trí tuệ và từ bi?

“Từ” là lòng Thương. “Bi” là giúp giảm khổ. “Từ năng dữ lạc. Bi năng bạt khổ”. Không chỉ phải có lòng thương rộng lớn, không phân biệt, mà còn phải có cách cứu giúp, làm cho vơi bớt khổ đau. Tình thương có thể an ủi, làm vui, nhưng vẫn không giảm được khổ. Từ bi mà không có trí tuệ còn dễ bị mắc bẫy, bị gạt gẫm. Thời buổi này càng cần phải cảnh giác. Nên phải có Trí Tuệ đi với Từ Bi. Quan Thế Âm Bồ- tát có ngàn tay ngàn mắt, trong mỗi bàn tay đều có một con mắt là thế!

 

23 Đức Phật là một vị thánh toàn năng, hay cũng là người thường như chúng ta?

Phật không phải thánh, không phải thần. Phật là người… thường như chúng ta, có điều, Phật là ngưới đã giác ngộ rốt ráo, đã “thấy biết” toàn diện (Tri kiến Phật), chớ không loay hoay như ta… Ta cũng có Phật tánh. Cho nên Phật bảo “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Ai cũng sẽ là Phật cả, nếu giác ngộ, giải thoát. Kinh Pháp Hoa chỉ có một mục đích là “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Tri kiến Phật”. Khai thị là “mở ra, bày ra cho thấy”. Thấy cái gì? Thấy cái “Tri kiến Phật”, tức là cái thấy cái biết của Phật. Đó là cái thấy biết “Vô tướng thực tướng”, thấy biết Như Lai.

 

24 Có cần niệm Phật hay tụng kinh mỗi ngày không, hay chỉ cần thiền và thở đúng thôi, để có an lạc?

Niệm Phật là một cách tốt nhắc nhở ta một tấm gương để noi theo. Nhưng niệm Phật cũng là cách để tâm không vướng bận những thứ linh tinh khác. Niệm có nghĩa là đặt tâm vào ngay thời điểm hiện tại, quên đi tất cả chung quanh, phiền não các thứ, từ thân đến tâm… Cho nên có pháp môn Niệm Phật. Tụng kinh cũng vậy. Tâp trung vào kinh, vào “tụng” thì không còn vướng bận những thứ khác. Vậy tụng kinh, niệm Phật cũng là những pháp môn. Nhưng với Kinh, còn cần phải hiểu, phải thực hành. Nếu không, dễ tẩu hoả nhập ma vì mê tín, tưởng Phật là thánh thần mà cầu xin, lạy lục. Thiền sư Như Huyễn (năm nay 98 tuổi) có bài thơ “Thay lời Phật” thú vị như sau: Ta nói kinh cho chúng nó nghe/ Chẳng ngờ chúng “tụng” bắt ta nghe/ Tuổi già tám chục nghe gì nữa! Chín tiếng ngồi trân sụm bánh chè! (Thich Từ Thông, Như Huyễn Thiền Sư Thi Tập). Học kinh phải hiểu để ứng dụng vào đời sống, chớ không chỉ “tụng” rồi cầu Phật chứng giám, ban phước!

 

25 Không ăn chay có thể có an lạc không?

Ăn chay để làm gì? Phật đâu có ăn chay. Phật ăn gì cũng được. Thí chủ cho gì ăn nấy. Đi khất thực mà. Không lẽ đi khất thực mà nói tôi chỉ ăn chay thôi. Chắc dễ bị đói. Nhưng Phật chỉ khất thực vừa đủ… và ăn bất cứ thứ gì trong bình bát khất thực cũng là “ăn chay” cả đó thôi.

Phật dạy có 4 nhóm thức ăn là Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực. Bốn nhóm thức ăn đó chỉ có Đoàn thực dành cho thân, còn Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực dành cho tâm. “Xúc thực” đáng sợ, nhất là thời đại AI, internet … Với cái điện thoại thông minh trên tay, mỗi ngày ta “xúc thực” biết bao nhiêu điều, cả tôt lẫn xấu, tràn ngập trong tâm trí. Ta căng thẳng, ta mất ăn mất ngủ… Tư niệm thực là những món nhớ nghĩ triền miên, quay cuồng đầu óc, với những lo âu, oán trách, căm thù, sợ hãi… Rồi Thức thực mới là món ăn đáng sợ nhất, đó là phân biệt, là tranh cãi, là hơn thua, là đấu đá… là chiến tranh một mất một còn…

 

26 Anh có thể giải thích lý do Phật chọn năm giới căn bản cho Phật tử không? Giữ năm giới này thì được lợi lạc gì?

Lợi lạc nhiều chớ. Không sát sanh. Không trộm cắp. Không nói dối. Không tà dâm, Không nghiện ngập… Chừng đó đã đủ cho một nếp sống An lạc, Hạnh phúc cho một kiếp người. Bão lũ, động đất, núi lửa, sóng thần… chưa đủ sao mà con người còn tự gây chiến tranh khắp nơi với những thứ vũ khí ngày càng ghê gớm. Cái ăn của con người cũng vậy, sát sanh ngày càng nhiều.

Không trộm cắp ư? Tham nhũng là một dạng trộm cắp kinh khủng nhất. Một dạng tạo nghiệp lớn nhất. Không nói dối? Thử xem… “Quân tử nhứt ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tủ khôn”! Fake news, deep fakes… phổ biến, phát triển mạnh mẽ.

Không nghiện ngập ư? Xưa chỉ nói đến rượu, bây giờ thì nghiện đủ thứ, ngày càng nguy hiểm độc hại. Thực hiện được phần nào trong năm giới là tốt phần đó. Từ ngũ giới còn tiến lên “thập thiện” là 10 điều lành.  Không chỉ không sát sanh mà còn “dưỡng sanh”. Bảo vệ môi trường. Chống biến đổi khí hậu…; Không chỉ không trộm cắp mà còn “bố thí”- bố thí “balamật” tốt nhất vì không có tính toán lợi dụng trong đó.  Không nói dối, mà còn nói lời chánh ngữ, ái ngữ…

 

27 Phật có nói một Kinh tên là “Người biết sống một mình”. Cái tên Kinh rất lạ! Anh có thể nói đôi điều về kinh này không?

Sống một mình tưởng là sống một mình mà không phải một mình. Nhiều người cũng thường sống một mình, thậm chí trốn lên núi cao rừng thẩm mà không thể sống một mình được. Bởi tâm họ không sao thoát được những hình bóng khác, những chuyện đã qua và luôn tràn ngập những chuyện sắp tới. Họ buồn, họ tiếc, họ vẽ vời… Nói chung, là “bấn xúc xích” với những lo âu, phiền muộn, sợ hãi, yêu thương, ước vọng, hờn oán… “Người biết sống một mình” thực sự như trong Kinh Phật dạy là biết sống “Ở đây và bây giờ”, không ước vọng tương lai, không tiếc nuối quá khứ… Sống được như thế thì lòng mới thanh thản, mới “một mình” được vậy. Bằng cách nào ư? Có đó. Con đường Thiền mở rộng trước mắt.

 

16.5.2025

 

Bài 3: Hỏi- Đáp về Tình Yêu và Cuộc Sống

 

1 Trong thời đại kết nối ảo nhiều hơn thật, anh nghĩ tình yêu sẽ thay đổi ra sao so với ngày xưa lúc người ta kết nối với nhau bằng cách gặp gỡ và thư từ?

Thay đổi nhiều chớ. Thay đổi đến chóng mặt! Hồi xưa hả? Còn có “phúc hôn” là hai trẻ yêu nhau từ trong bụng mẹ. Hai bà bầu hẹn nhau, hai đứa là trai với gái thì sau này thành vợ chồng nhe. Rồi trao lễ vật làm tin.

Rồi tới thời phải có mai mối: “em tuy mới mười lăm, mà đã lắm người thăm, nhờ mối mai đưa tiếng…” (NNP).

Nhiều đôi vợ chồng không hề biết mặt nhau, đến ngày cưới còn có khăn che mặt, vậy mà họ ở với nhau tới đầu bạc răng long, con cháu đầy đàn. Thư từ ư? Con gái có thời không cho học chữ, sợ nó viết thư cho trai. Cái thời đó lạ lắm, ca dao có câu “trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng, dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai”!… Còn thời không xa đây lắm, yêu nhau đâu có dám nói. Cho nên “…Bài thơ cứ còn hoài trong cặp/ giữa giờ chơi mang đến lại mang về!” (ĐTQ)…

Nghe những chuyện tình xưa như vầy, các bạn trẻ sẽ cười bể bụng! Một bức thư tình qua email có thể gởi cho nhiều người cùng lúc…  Tỏ tình thì xếp hoa thành hình trái tim trong sân trường…  cho máy bay phất phới “I love you” trong gió, quỳ gối nâng hộp kim cương… Nồng cháy lắm, mà lạ, tan vỡ rất nhanh.

Người ta còn yêu nhau xuyên đại dương, qua chat, qua máy tính, qua smartphone… Không biết sau này còn có những kiểu tình yêu gì khác nữa, với thời Robot, AI… Những mối tình giữa người với robot, giữa robot với robot. Con cái không phải lo. Tinh trùng và trứng có bán đầy ở… siêu thị!

Không đâu! Tôi tin đến một lúc, người ta quay lại thời xa xưa thôi. Tình yêu linh thiêng lắm.  “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi/ lại thấy trong ta hiện bóng… con người” (TCS).

Trên thực tế, hiện vẫn thấy những cuộc tình, những cuộc hôn nhân tốt đẹp nhờ internet, kết nối, giúp tìm hiểu nhau, tâm đầu ý hợp, lại tìm thấy nhau như hẹn nhau từ muôn kiếp trước vậy! Cứ yên tâm.

 

2 Theo anh, câu “tình chỉ đẹp những khi còn dang dở” có đúng không?

Không đâu. Không ai mong cho tình dang dở để nó “đẹp mãi” đó đâu! Mấy nhà thơ thất tình bày đặt để tự an ủi đó thôi.

“Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở/ Đời mất vui khi đã vẹn câu thề”  là chuyện riêng của Hồ Dzếnh thôi, không phải của tất cả mọi người.

 

3 Anh có cho rằng phải có thử thách thì tình yêu mới trở nên sâu sắc không?

“Thử thách” là sao không hiểu? Có phải là làm cho tan vỡ, cho lìa xa, để hạnh phúc hơn khi tái hợp? Hạnh phúc và khổ đau có thể là một? “Tình yêu đến tình yêu đi ai biết? Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt?” (Xuân Diệu) để “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ không muốn chữa không chịu lành thú độc?” (XD). Có người thích như thế, họ nuôi vết thương, khoét cho nó sâu thêm để tìm “thú độc”, “thú đau thương” nhưng hình như người trẻ bây giờ thường tìm cách “chữa lành” đó thôi!

 

4 Có khi nào anh thử so sánh chức năng của trái tim của cơ thể và trái tim trong tình yêu không?

Ai lại đi so sánh chuyện như vậy? Trong tình yêu, trái tim của cơ thể đã hoàn toàn đổi khác. Nó loạn nhịp. Nó mềm nhũn. Nó thổn thức. Nó đau đáu… Và nó có lý trí riêng của nó. Nhớ phải lắng nghe và tôn trọng nó.

 

5 Anh có tin vào duyên phận không?

Có. Tôi tin duyên phận. Không duyên không phận sao nó đưa đẩy cho kết nối “đúng khớp” như vậy được? Nhưng cái gì làm ra duyên đó? Có cái phận, tức là cái nghiệp chăng?

Nghiệp, là kinh nghiệm được tích lũy và tồn tại trong nhiều đời sống. Không có thời gian, không có ký ức thì lấy đâu cho nghiệp vận hành, tạo tác, lưu trữ, lưu xuất, dị thục, nhân quả?  (Tuệ Sỹ).

Câu hỏi đặt ra là có thực không có nhiều đời sống? Một đời trước và đời sau – những đời sau- để cho ký ức gợi lại, dị thục, nhân quả. Bằng chứng đâu? Nhưng hỏi tôi tin không? Tôi tin. Tại sao tin? Không biết! Phải chăng, thỉnh thoảng ta gặp một người nào đó thấy như đã từng hẹn nhau từ muôn kiếp trước, hay một nơi chốn nào đó thấy như về mái nhà xưa?

 

6 Làm sao để giữ được sự dịu dàng trong tình yêu, khi xã hội ngày càng khắc nghiệt?

Đâu có mắc mớ gì đến “xã hội” ngày càng khắc nghiệt ở đây? Khắc nghiệt là chuyện bên ngoài, dịu dàng là chuyện bên trong. Đóng kịch “dịu dàng” cho vừa lòng xã hội ư? Trước sau gì cũng lộ tẩy, tan vỡ! Cứ tự nhiên. Nó vậy là nó vậy. Con gà mà bắt chưóc thiên nga, nhảy xuống hồ bơi thì biết!

 

7 “Càng trưởng thành càng khó yêu.” Đúng không? Anh nghĩ trưởng thành có làm mất đi sự ngây thơ cần thiết cho tình yêu không?

Ai nói “ngây thơ” cần thiết cho tình yêu? Ý là càng ngây thơ càng dễ bị dụ, dễ bị sụp bẫy phải không? Vậy thì tội nghiệp cho cái gọi là tình yêu quá!  Tôi thấy nhờ trưởng thành mà tình yêu mới chín muồi, mới “rụng” cái rụp chớ. Yêu nhau đâu phải nhờ vào sự ngây thơ, ngu dốt, bị lường gạt, lừa đảo? Ồ, nhưng mà, ngày nay người ta giả bộ ngây thơ nhiều lắm thì phải? Bẫy giăng ra, bẫy sụp thì ai cũng… mừng!

 

8 Với anh, tình yêu và lòng từ bi có khác nhau không?

Khác xa chứ! Từ là Thương, Bi là giúp làm giảm khổ.  “Tứ vô lượng tâm: Từ bi hỷ xả” là rất quan trọng, trong đời sống hàng ngày: ” Từ năng dữ lạc. Bi năng bạt khổ. Từ mang tới niềm vui, Bi làm cho bớt khổ. Ở đây chắc muốn hỏi về “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (TCS) phải không? Vậy là yêu vì thương hại, vì thấy tội nghiệp. Tình yêu chân chính chắc phải đòi hỏi sự tôn trọng và bình đẳng, không phân biệt.

 

9 Theo anh nên làm sao để “yêu” mà không hóa thành “ràng buộc”?

Là tại lòng tham.  Tại muốn “ràng buộc”! Cho nên Từ Bi phải luôn đi với Trí Tuệ. Người xưa khuyên “tương kính như tân”, lúc nào cũng như “tình đầu”. Mà, nếu không được như tình đầu thì… như tình cuối cũng tốt.

 

10 Làm sao để có thể yêu mà không đòi hỏi, khi mỗi cá nhân phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao hơn từ xã hội và gia đình?

Nhu cầu đòi hỏi đó có chính đáng không? Khi người ta đã thực sự yêu nhau thì người ta đâu cần để ý gì đến đòi hỏi của xã hội và gia đình. Người ta có thể chủ động vượt qua mà! “Mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua” đó thôi.

 

11 Anh nghĩ tình yêu có thể cứu rỗi một người đang mất niềm tin vào cuộc sống không?

Có. Chắc chắn có. Đó là thứ tình yêu chân thật. Khi người ta mất niềm tin về cuộc sống thì tình yêu chân thật sẽ “cứu rỗi” được ta.

 

12 Nhìn lại thế giới hôm nay, anh thấy căn bệnh tinh thần lớn nhất của con người hiện đại là gì?

Là Tham Sân Si. Vì lòng tham thì không đáy. Lòng sân (giận) thì “nộ khí xung thiên”, và lòng Si vì không “thấy biết” (tri kiến) đúng. Không thấy biết cái Không, cái duyên sinh, cái nhân quả, cái thiện cái ác…! Hồi xưa có một ông Vua hùng mạnh dặn hầu cận mổi sáng nhắc ông: Nhà vua cũng chỉ là người!

 

13 Anh nghĩ sao về nỗi cô đơn thời kỹ thuật số, khi một người có thể nói chuyện với hàng trăm người mà vẫn thấy cô đơn?

Cho nên người ta chỉ  cần có một nguời để “nhìn nhau không nói” là đủ hạnh phúc lắm rồi!

 

14 Nếu có một “toa thuốc” cho xã hội hôm nay, anh sẽ kê những gì?

Quay về nương tựa chính mình và thực hành Giới Định Huệ. Sẽ nhìn ra vũ trụ mênh mông không ngằn mé kia là chính cơ thể mình. Nối các mao mạch của cơ thể, dài đủ 2 vòng trái đất. Mỗi ngày tim đập đủ nâng một sức nặng bằng đầu máy xe lửa…

 

15 Nhiều người trẻ đang hoang mang vì thế giới quá nhiều biến động. Theo anh, “bình an nội tâm” bắt đầu từ đâu?

Không từ bên ngoài mà từ bên trong. Thế giới phải luôn luôn “đầy biến động” như vậy mới là… thế giới. Biến động cũng như sóng biển thôi, có khi sóng lăn tăn, có khi ầm ào đập vào bờ đá, tung toé khắp nơi, có khi sóng thần, có khi bão tố… Sóng ít khi yên tĩnh. Nó luôn xao động, bởi có gió, bờ cát, vách đá, bê tông chắn sóng… Nhưng dù thế nào thì nó vẫn là nước. Nếu nó biết nó vốn là nước thì nó “bình an”.

“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (TCS) nhớ không? Bát chánh đạo là phương pháp tốt nhất để mình được bình an như thế! Chánh kiến/ chánh tư duy/ chánh ngữ/ chánh nghiệp/ chánh mạng/ chánh tinh tấn/ chánh niệm/ chánh định. Nghe lùng bùng lỗ tai, thiệt ra nó chỉ là Tam học: Giới Định Huệ, để trừ Tam độc là Tham Sân Si đó thôi.  Nhờ giới, ta bớt tham, nhờ định ta bớt sân (giận) và nhờ huệ (Tuệ) ta bớt si. Bớt thôi nhe. Bớt là quý rồi.

 

16 Anh có nghĩ rằng con người đang sống quá nhanh nên không còn kịp lắng nghe chính mình không?

Đúng là “quá nhanh quá nguy hiểm”! Nhưng con người vốn “tự do” mà. Do mình muốn chậm thì chậm, muốn nhanh thì nhanh đó thôi. Đừng đổ thừa. Nếu biết sống “thiểu dục tri túc” (biết đủ, ít ham muốn), biết “nguỵệt lai môn hạ nhàn” (trăng treo cửa sau là Nhàn) thì còn kiếm đâu xa. Ta sẽ có nhiều thì giờ hơn để lắng nghe chính mình thôi.

 

17 Khi thế giới đầy bạo lực và điều ác, niềm tin vào cái thiện còn chỗ đứng không?

Thiện thắng ác, chánh thắng tà. Ngàn đời nó vậy.  Nhân quả nó vậy. Nhưng từ nhân đến quả, phải có cái gì đó gọi là “duyên” xúc tác phải không? Cẩn thận với duyên. Cây quít ở Giang Nam thì có trái ngọt, đem qua Giang Bắc thì sinh trái chua, đó là do thổ ngơi, do cách chăm sóc, tưới bón…

 

18 Trong y học và đời sống, anh đã nói về “sống chậm”. Với nhịp sống ngày càng nhanh như hiện nay, liệu sống chậm có còn phù hợp không?

Tuỳ mục đích sống của mỗi người. Như một hoàng tử ngày xưa được vị thần cho cuộn chỉ thời gian, chàng kéo thật nhanh để mau được làm vua, xây tam cung lục viện, đánh nam dẹp bắc, khi nhìn lại, giật mình, cuộn chỉ sắp hết, chàng vội cuốn ngược lại mà không sao được nữa! Nó vậy đó. Tuỳ mục đích sống mỗi người.

Gần đây thấy có mấy du khách ở Âu Châu về Việt Nam chơi, chỉ thích đi xe lửa chạy chậm như rùa của mình, khoái trá lắm vì có dịp thấy phong cảnh hai bên, thấy sinh hoạt của con người… nói chung họ thưởng thức sự nhẩn nha hiếm thấy ở xứ sở họ. Tôi cũng có dịp đi xe lửa “đầu đạn” ở Nhật, xe vèo vèo không thấy được phong cảnh hai bên coi nó thế nào nữa! Tóm lại, tuỳ mục đích đời sống của mọi người thôi nhe.

 

19 Theo anh, ý nghĩa cuộc sống của con người nằm ở đâu?

Tôi nghĩ, ở chỗ tìm kiếm hạnh phúc. Hạnh phúc có đó rồi mất đó, lại hùng hục chạy đi tìm kiếm cái khác. Sau cùng thì thấy hoá ra hạnh phúc ở ngay đây, ở sát na này. Thì ra tất cả là chân Không, tất cả là Diệu hữu. Chân Không mà diệu hữu. Diệu hữu mà chân Không. Thật thú vị. Ai thấy biết vậy thì đã an lạc, ở đây và bây giờ. Biết tri Túc, Biết tri Nhàn.  Đó là cái “tri kiến” của Phật, đã “khai thị” cho chúng sanh để “ngộ nhập” từ Kinh Pháp Hoa, ngay dưới chân núi Linh Thứu… hơn hai ngàn năm trước. Tiếc thay, có đến mấy ngàn người đã lẳng lặng bỏ đi, không thèm nghe!

Nhưng chuyện không dừng ở đó. Ý nghĩa cuộc sống có lẽ phải bắt đấu từ câu hỏi, ta là ai, ta từ đâu đến? và sẽ đi về đâu?

Cho nên ý nghĩa cốt lõi của con người cũng như mọi sinh vật là sự tồn tại cá nhân và duy trì loài giống. Để tồn tại, con người phải thích nghi được với môi trường. Người Eskimo sống khác với người nhiệt đới xích đạo. Người Tây Tạng khó mà trường chay được. Và phải có nhiệm vụ “truyền giống” bằng cách nào đó để duy trì giống loài. Tại sao thì không biết. Không chỉ con người mà con giun cái kiến cũng phải vậy. Hình như nó có một thiết kế vĩ đại, tuy có thể không có nhà thiết kế như nhà bác học Hawking đã nhận định.

 

20 Với một người trẻ chưa có gì trong tay, anh sẽ nói gì để giúp bạn ấy tin vào tương lai?

Nếu hỏi hồi tôi còn trẻ, “chưa có gì trong tay” thì tôi “nói với tôi” điều gì thì còn có thể trả lời được. Thời đại ngày nay thì tôi chịu! Người trẻ bây giờ không ít bạn mơ thành tỷ phú một đêm, đi dạo trong vũ trụ với các phi thuyền giữa các hành tinh, hẹn với người yêu cách xa ngàn năm ánh sáng chỉ cần cái nhấp chuột… Dĩ nhiên bên cạnh đó là nhưng người trẻ sống một cách khác, tìm kiếm an lạc, hạnh phúc một cách khác cho mình và cho người.

Thời tôi, khi mới lớn, tôi đọc Tương lai trong tay ta, Bảy bước đến thành công, Rèn nghị lực để lập thân, Gương danh nhân, Gương kiên nhẫn… nhất là cuốn Tự học để thành công v.v… của Nguyễn Hiến Lê. Rồi đọc Đông châu liệt quốc, Tam quốc, Thuỷ Hử, Liêu trai chí dị… Sử ký Tư mã thiên, Kinh Dịch, và  đọc các nhà Hiền triết Đông Tây… và Phật học. Tôi nhớ mình rất mê đọc sách, chăm chỉ học…  Sau này, tôi cũng bắt đầu viết cho đàn em: Ăn vóc học hay, Khi người ta lớn, Nếp sống An lạc, Thiền và Sức khoẻ… nhưng hình như thế hệ này cũng đã qua rồi. Bây giờ các bạn trẻ có lối sống hiện đại. Nhiều bạn mất rất nhiều thì giờ chơi games, sống với internet, với AI và Robot, phi thuyền, du hành vũ trụ v.v…

Tương lai nằm trong lối sống hiện tại của ta. Có hai yếu tố, chánh báo và y báo. Chánh báo là bản thân ta, có thể do di truyền, và y báo là môi trường sống. Có nhiều bạn trẻ nhờ chuyển đổi môi trường mà thành đạt. Thầy Mạnh Tử nhớ không? Phải ba lần nhờ bà mẹ dời nhà mới có cơ hội học hành mà trở thành một bậc thánh …

 

21 Anh thấy văn hóa Việt ngày nay đang cần điều gì nhất?

Cần “văn hoá” nhất! Mà văn hoá thì từ lối sống xã hội và lối giáo dục. Một nền giáo dục khai phóng, nhân bản là rất cần thiết. Theo tôi, có lẽ nên cho học sinh cấp một học lại một số bài trong Quốc văn Giáo khoa thư ngày xưa. Những chuyện kể thì nhớ dai lắm. Không phải lên giọng dạy đời, đao to búa lớn gì cả! Nếu trong sách giáo khoa ngày nay không còn có những bài học đơn giản mà sâu lắng này thì thầy cô giáo có thể kể cho học trò mình nghe. Nó sẽ nhớ suốt đời đó…, như một truy ện ngắn của Sơn Nam, “Tình nghĩa giáo khoa thư”, bây giờ đọc lại vẫn thấy rưng rưng.

Người làm thầy không phải là người bán kiến thức nữa rồi! Kiến thức đầy trên mạng. Chưa kể ngày nay còn có AI. Thầy chỉ cần là người truyền cảm xúc, học trò sẽ tự mình “khai mở” cho mình về dài về lâu… Chừng mươi bài là đủ nên người: Thương người như thể thương thân.  Không nên hành hạ loài vật. Không nên phá tổ chim. Chuyện quả dứa, Không tham của người.  Không vì tiền mà làm điều phi nghĩa. Con hổ và con chuột nhắt. Cái thú nhà quê và cái thú kẻ chợ. Kẻ ở người đi. Chuyện anh em nhà họ Điền. Con chó và miếng thịt…(Quốc văn giáo khoa thư).

 

22 Tuổi già với anh là một mùa thu an tĩnh, hay là một mùa chuẩn bị gieo hạt mới?

Cả hai. Tôi nghĩ vậy! Trong Phật học, có giới thiệu vị Phật tượng trưng cho tuổi già đó là Phật Asucbệ (Akshobhya), còn gọi là Phật Bất động, Phật Vô sân, sống ở xứ “Diệu Hỷ”!  Ngài là một trong năm vị Phật ở Kim cương giới, tượng trưng cho Đại viên Cảnh Trí. Thấy chưa? Một người già, lòng thanh thản, không còn tham muốn gì nữa, không còn sân hận gì nữa, thường… nằm một chỗ (bất động), lúc nào cũng an nhàn, nhìn đâu cũng thấy mọi thứ đều kỳ diệu (xứ Diệu Hỷ).

Còn nói là mùa gieo hạt mới vì không biết cánh cửa của sự chết mở ra trước mắt sẽ cho ta thấy khung trời nào ở bên kia. Chính vì thế, ngay ở đây và bây giờ ta đã có thể gieo những hạt thiện lành!

 

23 Anh từng viết đại ý “già mà không vui là lỗi tại mình”. Vậy “vui” có phải là một kỹ năng cần rèn luyện không?

Nó không phải một kỹ năng để “rèn”. Kỹ năng là giả tạo. Nó phải đến từ bên trong. Già có cái vui của già. Chiếc lá thu vàng chắc phải có niềm vui gì đó để rụng chớ, phải không?

Trong kinh Phật cũng có giới thiệu một vị Phật tên là “Bất không thành tựu” (Amoghasiddhi), nghĩa là vị Phật không có gì mà không thành tựu, không có gì mà không đạt kết quả tốt đẹp. Nhờ gì? Nhờ biết sử dụng ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, xúc giác) biến thành “Thành sở tác Trí”. Nghĩa là mắt tai mũi lưỡi gì cũng đã thấu triệt được cái thấy biết “chân không diệu hữu”, thấy đúng như “nó là” (vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh cũng vốn là Thường Lạc Ngã Tịnh đó thôi!).

Khi về già, mọi thứ sẽ đều đổi khác… cho nên không muốn vui cũng vui, cũng tức cười một mình!

Bên trời xanh mãi
Những nụ mầm mới
Để lại trong cõi thiên thu
Hình dáng nụ cười”

(TCS)

 

24 Anh có sợ chết không?

Sợ chớ sao không! Nhưng tại sao lại sợ?

Krishnamurti nói ai cũng chết, tại sao phải sợ chết! Rồi ông trả lời: Sợ là tại vì không biết nên sợ, vì chưa có kinh nghiệm, chưa có trải nghiệm, nên sợ. (Nói khác đi, nếu đã chết rồi thì hết sợ!). Krishnamurti cũng nói người ta thực sự không phải sợ cái chết mà sợ mất đi cái sống!

Trong Thiền định sâu (Phổ Hiền tam muội), hay trong Diệt thọ tưởng định thì ta sẽ có dịp “trải nghiệm”. Ta sẽ thấy biết vô tướng, “không còn ta còn người còn chúng sanh còn thọ giả” gì nữa! (Kinh Kim Cang)!  “Thọ tưởng” đã không còn thì “hành thức” cũng dứt. Dĩ nhiên, một khoảnh khắc sát- na cũng đã là vĩnh cửu.

Tuệ Sỹ viết: Thời kinh nói “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người (Tổng quan về Nghiệp).

Đạt Lai Lạt Ma thì nói chết như cánh cửa mở ra một khung trời mới. Không biết mới sợ. Biết thì chờ đợi cái mới đó. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Do thường thực tập tiến trình chết trong khi thiền định, một thiền giả có thể sử dụng lúc chết của mình để đạt những chứng ngộ lớn lao.

Về y học: mỗi giây có hàng trăm triệu tế bào hồng cầu già tự huỷ diệt và có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu mới trẻ  khoẻ thay thế, các chất liệu sẽ được sử dụng lại  để “tái chế” tập trung lưu giữ ở lá lách còn gọi là “nghĩa địa hồng cầu”, chớ không bị mất đi.

 

25 Anh thấy điều gì là quan trọng nhất để một người luôn giữ được khỏe mạnh? Có phải mỗi người đều có sẵn thứ thuốc trong chính mình?

Điều quan trọng là bệnh nhân phải tự ý thức về điều đó. Các thứ thuốc không ở đâu xa: trong hơi thở là một, trong thức ăn là hai. Biết thở đúng cách, biết đưa hơi xuống huyệt đan điền (ruộng thuốc) ở dưới rún là đã có một thứ thuốc quý. Trong kiếm hiệp, ta thấy các vị hiệp khách một khi bị thương tích thì vội trốn vào một hang động dưỡng thương, ngồi xếp bằng hít thở “điều tức” (thở bụng) chờ ít lâu sau ra đánh tiếp vì đã phục hồi công lực rất nhanh chóng. Nhờ gì? Nhờ biết thở bụng để đưa hơi xuống huyệt đan điền.

Sau hơi thở là thức ăn. Bởi thức ăn sẽ hợp với hơi thở tạo ra năng lượng. Nhưng “trăm thứ bệnh đi qua đường miệng”. Ăn không đúng chất và lượng thì lại dễ bị béo phì, huyết áp, tiểu đường v.v… Các thứ “thuốc” đều có quanh ta, trong thức ăn, trong nước uống.

Có một câu châm ngôn trong ngành y: “Chỉ có người bệnh chớ không có bệnh”, ý nói rằng tuy bệnh cùng do một nguyên nhân gây ra mà mỗi người sẽ “bệnh” một cách khác nhau, không ai giống ai. Bệnh lao chẳng hạn, do vi trùng Koch gây ra nhưng mỗi người sẽ “lao” một cách khác. Vì thế mà có người dễ chữa, có người chữa khó hơn, có người thậm chí chữa không khỏi..

Với các bệnh mạn tính không lây cũng vậy, bệnh tăng huyết áp, tiểu đường… chẳng hạn, có thể nói bệnh thì có một mà người bệnh thì ít nhất có hai: một người thì tìm đủ mọi cách tiêu diệt bệnh, nghĩ rằng phải diệt hết bệnh thì mới có sức khỏe, nhưng vì là bệnh mạn tính, kinh niên, nên đành phải khổ đau, thất vọng dài dài, lệ thuộc vào thầy vào thuốc; trong khi người kia thì tìm cách “tuỳ thuận chúng sanh” với bệnh, chấp nhận nó, kiểm soát nó, sống chung hòa bình với nó, để “hai bên cùng có lợi”, quan tâm tới chất lượng cuộc sống của chính mình, chủ động thay đổi hành vi, lối sống để nâng cao sức khỏe của mình, hợp tác tốt với thầy thuốc, bệnh hoạn nhờ đó mà cũng “dễ thương” hơn. Nhà văn Mai Thảo có bài thơ Dỗ bệnh rất hay:

(…)

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn

Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân

Gối tay lên bệnh nằm thanh thản

Thành một đôi ta rất đá vàng.

Người thầy thuốc ngày nay không chỉ quan tâm đến bệnh mà còn phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh để cuộc sống họ có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ cao nhất có thể được là vậy.

“Chất lượng cuộc sống” đặt trọng tâm trên cảm nhận chủ quan của người bệnh, chớ không phải  dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc và sự “mách bảo” của máy móc xét nghiệm!

Cơ thể con người có thể tự sinh các thứ Hormones hạnh phúc: Dopamin, Seretonin, Endorphines, Oxytocine là do cách sống của ta.

 

26 Anh học được gì từ các bệnh nhân của anh?

Học được nhiều chớ! Bác sĩ có thể biết được phần nào “bệnh” của người bệnh qua triệu chứng, qua bệnh sử, qua xét nghiệm này nọ, nhưng chính người bệnh mới biết “sức khoẻ” của họ. Bởi sức khoẻ, như định nghĩa là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái về thể chất, tâm thần và xã hội chớ không phải chỉ là không có bệnh tật. Mà sự “sảng khoái” của họ thì làm sao bác sĩ biết được? Còn về chuyện mối tương giao, tương tác trong gia đình, xã hội và cả đời sống của họ thì càng không thể biết. Thậm chí nhiều khi bác sĩ vô tình mà thành hù doạ bệnh nhân, làm họ suy sụp, lo lắng và sợ hãi, thậm chí từ đó mà lệ thuộc vào thầy vào thuốc. Do đó, mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân phải được dạy rất kỹ ở trường y về Y đức, chẳng hạn như: 1) Trước hết không gây hại (primum non nocere);  2) Tôn trọng sự tự chủ của người bệnh; 3) Không kỳ thị, phân biệt đối xử v.v…

 

27 Con người có thể đạt được sự bình an trong tâm hồn dù vẫn còn nhiều đam mê không?

Vấn đề là “đam mê” cái gì? Đam mê, khao khát, muốn gồm thâu lục quốc, nhất thống giang hồ, muôn năm trường trị, trường sanh bất tử … thì dù xây bao nhiêu cái vạn lý trường thành cũng công cốc.  Phật khuyên “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý” là đủ. Việc ác không làm. Việc thiện thì làm. Tự mình làm cho tâm ý mình an tịnh. Lúc đó, ta nhìn thấy các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã, duyên sinh, thực tướng vô tướng… thì thoát.

 

28 “Buông bỏ” là cụm từ gần đây được nói đến khá nhiều. Theo anh, “buông bỏ” là gì? Có khác gì với “vô cảm” không?

“Buông bỏ” là Xả, là không còn dính mắc. Hai ông Tỳ kheo trên đường về chùa, vừa đến bờ sông thì thấy một cô gái sắp chết đuối. Một ông lao xuống nước cứu cô gái, cõng cô vào bờ. Trên đường về, vị tỳ kheo thứ hai cằn nhằn trách móc mãi chuyện Tỳ kheo mà dám phạm giới.  Vị tu sĩ trẻ trả lời đệ đã đặt cô ấy xuống lâu rồi sao sư huynh vẫn cứ còn cõng cô ấy đến tận cổng chùa vậy hử?

“Buông bỏ” không vô cảm. Trái lại còn quả cảm, đa cảm nữa! Có thể nói “buông xả” chỉ là không bị dính mắc, trói buộc, mà đã từ bỏ tham ái, chấp thủ.. “Buông xả” là một trong “Tứ vô lượng tâm” (Từ bi hỷ xả). Buông xả không phải là từ bỏ mọi thứ, trốn tránh trách nhiệm, mà là để tâm trí được trở nên tự do và thanh thản. Nhờ đó mà sáng suốt, tỉnh thức hơn.

 

29 Có khi nào anh mất niềm tin vào con người không? Nếu có, anh đã làm gì để tìm lại nó?

Không có niềm tin vào con người thì còn biết tin ai? Đã làm gì ư? Im lặng. Rồi ngẫm lại mình.

 

30 Vậy bài học khó nhất trong yêu thương là gì?

Nhiều gia đình kêu là rất thương yêu nhau mà thường cắn đắng, phiền trách, ghét bỏ, thậm chí…  oán hận nhau?  Bài học khó nhất trong yêu thương là gì ư? Chính là Từ Bi Hỷ Xả. Hãy lấy một thí dụ:

Khi một bà mẹ mang thai đứa con trong bụng, một tình thương vô bờ bến đã tràn vào tâm hồn bà, một tình thương vô điều kiện sẵn sàng chấp nhận, hy sinh, để bảo vệ đứa con, sẵn sàng làm mọi thứ tốt lành cho đứa con, mỉm cười với nó, nhẹ nhàng với nó, hãnh diện vì nó… Có phải là Từ không?

Rồi khi con bi bô, chạy nhảy chơi đùa, u đầu sứt trán, tróc vảy trầy da, cha mẹ nào cũng đau cái đau của con, đau còn hơn con, muốn đau thay cho con mà không được, quan tâm, chăm sóc, làm giảm đau. Có phải là Bi không?

Rồi con lớn lên, đi học, lớp này lớp khác, đạt thành tich này thành tích khác mẹ nào chẳng hân hoan sung sướng nhìn con, chia sẻ cùng con nỗi mừng vui, không hề có chút lòng ganh tị ! Vui cái vui của con như của chính mình. Có phải là Hỷ không?

Rồi khi con lớn khôn, ra trường, có sự nghiệp, người làm cha mẹ nào cũng cảm nhận đựơc sự bình an, hạnh phúc, đã làm hết những gì cần làm cho con với tấm lòng rộng mở. Có phải là Xả không?

 

31 Nếu có thể gởi cho người trẻ một lời khuyên, anh sẽ nói gì?

Hãy quay về “nương tựa chính mình” và thực hành Giới Định Huệ. Hãy bắt đầu từ 5 Giới: Không sát sanh, Không trộm cắp, Không nói dối, Không tà dâm và Không nghiện ngập. Chừng đó, giữ được là đã có cuộc sống an lành, hạnh phúc. Làm nền móng cho cuộc sống an vui cho mình và cho người, cho xã hội vậy.

 

Saigon, 22.11.2025

 

 

Bài 4: Hỏi- Đáp về Cuộc Sống

(Ghi chú: Là những trao đổi qua email, không phải phỏng vấn trực tiếp)

 

1 Trong cuộc đời mỗi người thường có ít nhất một lần tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?” Có bao giờ anh tự hỏi mình câu đó không?

Không, Tôi chưa bao giờ tự hỏi mình câu đó. Có lẽ tôi sống quá hồn nhiên và ngây thơ đó không? Chắc vậy. Theo tôi, người tự đặt cho mình câu hỏi đó phải là một người có một đời sống phong phú, sôi nổi và có tâm hồn của một triết gia. Nếu là một người trẻ, có thể do nếp sống gia đình, thiếu tình thương và/hoặc ngược lại quá dư thừa tình thương yêu, nên bị ngộp. Rồi ngạt. Muốn giải thoát! Và rất có thể là người sống thiếu thiên nhiên, thiếu cộng đồng. Đặc biệt có thể đó là một người luôn sống trong sự so sánh. Khi có lòng so sánh, ta luôn không hài lòng vì hơn thua, vì ngang bằng. So sánh luôn mang đến khổ đau. Tham sân si quấn quít. Liệu pháp là nên về lại với thiên nhiên, gần gũi thiên nhiên, gần gũi với cộng đồng, với “bộ lạc” của mình. Lỗi thường từ phụ huynh, nhưng cũng do tự bản thân, từ môi trường, từ di truyền (chánh báo và y báo). Khi một người tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?”, sẽ phải tiếp tục hỏi: “Tôi chết vì điều gì?”.

 

2 Có khi nào anh dành thời gian và tâm sức để theo đuổi một điều, rồi lúc nào đó nhận ra mình không muốn đi tiếp con đường đó nữa? 

Chưa. Có lẽ do tôi chọn nhiều “con đường” cùng lúc. Tại sao lại chỉ có một con đường kia chớ?

 

3 Có người trẻ thấy cuộc đời thật vô nghĩa: học để có điểm cao, đậu đại học, ra đi làm, gắng sức kiếm tiền, lập gia đình, lo cho con cái, rồi hết. Nếu có người nói với anh như vậy, anh sẽ nói gì với họ?

Lỗi ở chỗ không biết sống “ở đây và bây giờ”! Ở mỗi giai đoạn trong cuộc đời như thế đều là những niềm vui, niềm hạnh phúc, nếu biết khám phá và thưởng thức! Học cách yêu thương. Nếu hiểu biết thêm về nghiệp về duyên, sẽ an nhiên tự tại. Khi nhỏ thì muốn mau lớn, già thì muốn trẻ lại, đó là do lòng tham, lòng “muốn”.

 

4 Làm sao để ổn định cảm xúc, không quá buồn hay quá vui mà vẫn thấy đời đáng để sống?

Chính cái “quá” đó mới là vấn đề. Cái gì đã quá thì không tốt rồi. “Quá nhanh quá nguy hiểm” nhớ không? Kiểm soát cảm xúc là chuyện không dễ. Cần có một nền văn hóa cơ bản để thấy đủ rộng, không bị thành kiến chi phối, mới có thể kiểm soát được cảm xúc. Cảm xúc thường do “nhận thức” sai, dẫn tới cảm xúc “quá”, từ đó dẫn đến hành vi không đúng, mất kiểm soát.

 

5 Có nên tin vào một đấng thiêng liêng nào đó sẽ giúp ta không?

Có cái “đấng” đó không? Có râu hay không râu? “Đấng” thì chắc không có, nhưng “thiêng liêng” thì có.  Cao Huy Thuần bảo cái má lúm đồng tiền, cái răng khểnh đều “thiêng liêng”. Tôi cũng thấy vậy. Nó làm ta xao xuyến, rạo rực, và thế là nó đưa ta vào thiên đàng hay địa ngục. Dĩ nhiên, nếu có một “Đấng” cho riêng mình thì cũng tốt. Ta sẽ có chỗ để nương tựa, để nhõng nhẽo, để đổ thừa… nhẹ khỏe biết bao! Phật thì bảo hãy nương tựa chính mình, hãy tự đốt đuốc lên mà đí, hãy xây một hải đảo tự thân.

 

6 Có khi nào anh thấy con người hiện đại “biết nhiều nhưng sống không sâu” không?

Sống không đủ sâu là sao? Là cạn cợt?  Ai biết sâu cạn thế nào! Nhiều người chết đuối vì tưởng chỗ không sâu đó nhe.

 

7 Trong hành trình làm bác sĩ, khoảnh khắc nào khiến anh thay đổi cách nhìn về sự sống và cái chết rõ nhất?

Không đợi đến khi làm bác sĩ. Tôi có may mắn học Y từ những năm 60 của… thế kỷ trước ở Saigon, tại Cơ thể học viện. Ngay năm thứ I y khoa, các sinh viên chúng tôi được phát một giõ cần xé xương người để mân mê, học thuộc từng đốt, từng mối, từng mẩu, từng dây thần kinh, từ sớ thịt. Nhiều sinh viên lén ôm một cái đầu lâu xương người mang về nhà để học suốt đêm… Điều tôi cảm nhận là để tạo ra vài trăm loại xương người như thế, phải có 2 thứ tế bào xương gọi là Osteoblast (tế bào tạo xương) và Osteoclast (tế bào hủy xương) “phối hợp” nhịp nhàng với nhau mới nên hình nên dạng! Rồi sang năm thứ II, chúng tôi được mổ xác ướp, mỗi 2 sinh viên “ôm” một xác ướp, không biết của ai đã hiến tặng cho y học… Mỗi ngày mân mê hì hục, rạch rạch, xẻ xẻ cái xác ướp formol nồng nặc đó mà lòng nao nao, đầy cảm xúc về kiếp người, về “tạo” và “hủy”, và tràn dâng một niềm biết ơn…

 

8 Anh có nghĩ rằng nỗi đau (thể chất hoặc tinh thần) là một người thầy cần thiết không?

Đúng vậy. Nhưng để thấy biết người Thầy đó không dễ. Phải chiêm nghiệm. Phải hiểu nghiệp duyên, nhân quả.

 

9 Khi một người bị bệnh nặng, anh nghĩ điều họ sợ nhất là gì?

Là cái chết. Và những hệ lụy của nó. Người bệnh nặng gần gũi với cái chết nhất, nên họ sợ vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Một người có tu tập, thiền định có thể họ thấy khác. Họ quen sống trong cái chết mỗi sát na. Họ thấy sống và chết không phải là một nhưng không khác. Họ thấy “pháp”: “bất sinh bất diệt”. Họ biết “tịch diệt vi lạc”.  Ái dà, lan man chuyện đời thành chuyện đạo rồi!

 

10 Làm sao để phân biệt “chấp nhận” và “buông xuôi”?

“Chấp nhận” là còn tìm kiếm, tìm giải pháp để cải tiến, thay đổi. Thua keo này bày keo khác. Thất bại là mẹ thành công. Còn “buông xuôi” thường là “hết thuốc chữa”!

 

11 Nhiều người muốn sống chậm, nhưng áp lực cơm áo gạo tiền không cho phép. Anh nghĩ họ nên làm gì?

Thì họ cứ tiếp tục sống nhanh chớ sao! The Fast and The Furious! Có cái phim tên vậy? Vấn đề là họ có thực sự muốn “sống chậm” không?  Muốn sống chậm thì họ phải “thiểu dục, tri túc”. Nguyễn Công Trứ nói: Tri túc tiện tức, tri nhàn tiện nhàn. Nghĩa là biết đủ thì đủ, biết nhàn thì nhàn. Đợi đủ biết bao giờ cho đủ.  Lòng tham không đáy mà! Đợi nhàn biết bao giờ cho nhàn?

 

12 Theo anh, sự cô đơn của người trẻ hôm nay khác ra sao so với thế hệ trước?

Khác xa chứ! Người xưa, vài thế hệ trước đây thôi, cô đơn là vì thiếu bạn, mất bạn. “Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua” (Nguyễn Khuyến). Còn người trẻ hôm nay cô đơn vì có quá nhiều bạn! Các mạng xã hội giăng đầy. Cả thế giới nằm gọn trong lòng bàn tay. List bạn bè dày đặc, hết chỗ chứa! Vậy sao cô đơn? Vì ta thiếu những bạn bè biết “nhìn nhau không nói”. Bây giờ ồn ào quá, cá mè quá, tràn ngập quá. Nên người trẻ cô đơn là phải rồi.

 

13 Khi còn trẻ, anh có khi nào “nghĩ nhiều” (overthinking) không? 

Nghĩ nhiều là sao? Là nghĩ đi nghĩ lại nghĩ tới nghĩ lui? Có chớ sao không. Khi ta chưa có “đầy đủ thông tin” để đi đến một quyết định nào đó (mà ta cho là tốt nhất), thì ta phải nghĩ tới nghĩ lui đó thôi. Có khi phải xin ý kiến người có kinh nghiệm mà ta tin cậy. Khi tôi thi đậu tú tài II xong thì băn khoăn trước ngã ba đường: Học y khoa theo ý muốn của gia đình, học văn khoa theo sở thích mình, hay học sư phạm? Tôi đến hỏi ông Nguyễn Hiến Lê, ông suy nghĩ một chút rồi khuyên tôi nên học y khoa để có thể giúp ích cụ thể cho gia đình, cho bà con lối xóm; nếu học giỏi, có thể dạy học và nếu có năng khiếu văn chương, thì sau mươi năm hành nghề, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều con người có thể viết lách được. Anton Chekhov, Summerset Maugham, A.J Cronin… Lỗ Tấn cũng là những nhà y học.

 

14 Anh có nghĩ rằng nhiều khi cơ thể con người biết nhiều hơn tâm trí không?

Thân và tâm không tách rời nhau. Thân tâm nhất như. Cho nên nó… liên hệ với nhau chặt chẽ, nó hiểu nhau rất tốt. Tâm mà an thì thân mới lạc. Thân mà an thì tâm mới lạc. Đừng dại mà tách rời ra. Bộ não chỉ chiếm 2% thể trọng nhưng sử dụng đến 25-30% năng lượng, là vì dùng để gây gỗ, oán thù, hờn giận, đấu đá, tranh giành… Cơ thể dùng 40% năng lượng để căng cơ, co cơ, sẵn sàng chiến đấu hay… bỏ chạy. Một người biết giãn cơ, thả lỏng cơ, một người biết buông bỏ tâm tham, tâm sân thì cơ thể dư năng lượng, tích lũy, để dành chữa lành tất cả các thứ bệnh thân-tâm. Vì thế ta thấy cơ thể tự nó có khả năng tự điều chỉnh.  Lỗi tại ta xài phí năng lượng một cách vô ích. Hãy quay về nương tựa chính mình là vậy. Thầy thuốc không “chữa lành” cho ta nổi đâu!

 

15 Có khi nào việc cố gắng hiểu mình lại trở thành một áp lực mới không?

Cố gắng hiểu mình, để tự thay đổi mình ư? Còn lâu! Sự cố gắng như vậy rõ ràng là một áp lực. Dĩ nhiên mình sẽ “giác ngộ” dần theo thởi gian. Đó là sự thích nghi, điều chỉnh chớ không phải cưỡng bức mình, ép mình, đè nén mình.

 

16 Một người trẻ nên chuẩn bị gì cho tuổi già từ bây giờ, ngoài tài chính? 

Nhiều thứ chớ. Cách sống mới quyết định. Tài chánh là một phần quan trọng thôi. Tuổi già cần thích nghi và chấp nhận những thay đổi về thể chất, tâm lý và cả về mặt xã hôi, tương tác trong gia đình, bè bạn…  Thích nghi với những mất mát, thiếu hụt cả về tình cảm, thích nghi với những stress trong đời sống, các bệnh lý như bệnh về chuyển hóa (ba cao một thấp), môi trường, viêm nhiễm (do đề kháng yếu kém), tai nạn té ngã, các hoạt động của não bộ, hormones… Tế bào não tuy già cỗi nhưng vẫn duy trì sự nhu nhuyễn, có khả năng sản sinh những nối kết mới. Người già cần giúp não bộ hoạt động liên tục như học thêm ngoại ngữ, mỹ thuật, thể thao phù hợp, và quan trọng, duy trì một “cộng đồng” sinh hoạt thường xuyên với nhau.

 

17 Có người đi chữa lành, đến khi chữa lành xong thì không muốn làm gì nữa. Anh nghĩ thế nào về trường hợp này?

Ý nói là tại vì “bệnh” nên mới ham lam ham làm quá đó chớ gì! Phải đó. Ham, muốn, mong, cầu, tiếc nuối… nói chung là mọi thứ “dục” nó hành ta, nó làm ta khổ triền miên, đáng đời ta!  “Lòng muốn còn nhiều… Đập gương xưa tìm bóng!” (Đoàn Chuẩn). Khi nhận ra “Nhưng… thôi tiếc mà chi/ Chim rồi bay…” là hết chuyện!

“Chữa lành” xong thì lòng “dục” đã cạn, lòng tham đã vơi. Nhưng coi chừng, bệnh chỉ dứt tạm rồi biến chứng tùm lum, khó chữa hơn. Thiền là một phương pháp tốt có thể giúp chữa lành. Thiền luôn bắt đầu từ “ly dục”, “ly bất thiện pháp” và thực hành chánh niệm. Các phương pháp MBSR (Mindfulness Based Stress Redaction) và MBCT (Mindfulness Based Cognitive Therapy) thường được dùng giúp “chữa lành” các bệnh S.A.D (Stress/ Anxiety/ Depression) đó.

 

18 Có nhiều người nhìn bên ngoài rất thành công, nhưng bên trong họ cứ thấy có gì đó “sai sai”. Theo anh, họ cần làm gì với cảm giác “sai sai” đó?

Họ sẽ phải tự vấn. Phải thức tỉnh. Nếu vẫn còn mù mờ thì tìm đến một người “khai vấn” (coach), một người tham vấn (counseller) tốt. Nhưng nếu không may dễ gặp trường hợp làm rối bời thêm, rồi đi vào mê tín, dị đoan nguy hiểm hơn.

 

19 Có điều gì trong cuộc sống mà con người chỉ có thể hiểu khi đã qua một độ tuổi nhất định?

Người ta không thể không trải nghiệm, thể nghiệm, mà có kinh nghiệm sống được. Nói thất bại là mẹ thành công là vậy. Nhưng coi chừng thất bại có khi lại dẫn tới… đại bại. Nên phải tỉnh thức…

 

20 Khi mất một người thân, điều gì giúp con người đi qua mất mát một cách an yên nhất?

Khó mà an yên. Có thể nguôi ngoai do thời gian cuốn đi. Nhưng khó mà dứt bỏ, buông bỏ, xả bỏ dễ dàng được.  Người có tu tập, thấy biết sanh trụ dị diệt của Pháp (dharma), biết “bất sinh bất diệt” thì có thể vượt qua chăng?

 

21 Anh có tin rằng một người có thể chữa lành hoàn toàn những tổn thương sâu trong quá khứ không?

Có những trường hợp người ta còn nuôi dưỡng các “tổn thương” sâu đó nữa! “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thú độc” (Xuân Diệu). Cái “thú độc” đó, “thú đau thương” đó nó… lạ lắm. Phải hỏi các thi sĩ mới biết!

 

22 Nhiều người biết một điều gì đó nhưng không thực hành được, ví dụ biết về “tham sân si” nhưng hết lần này đến lần khác bị chúng dẫn dắt. Anh nghĩ sao về chuyện này? 

Biết là một chuyện. Thực hành là một chuyện khác. Thực hành đâu có dễ. Biết sai thực hành sẽ sai. Tham sân si là gì? Ai làm ra mấy thứ “quỉ quái” đó? Si là “Vô minh”, là không biết hoặc biết không đúng, nhưng Tâm Kinh viết: “Vô vô mình diệc vô vô minh tận” nghĩa là không có vô minh, cũng không dứt được vô minh. Vô minh còn dài dài đó thôi. Cũng như “tham” vậy. Từ con kiến, con chuột, con sư tử, con người…  đều tham ăn, giành ăn, nhưng con người còn hơn vậy: Tham danh, tham tiền, tham sắc, tham ăn, tham ngủ, nói chung là “ngũ dục”, cho nên con người mới khổ đau hơn đó chăng?

 

23 Một người nên dựa vào điều gì để đưa ra những quyết định quan trọng trong đời: lý trí, cảm xúc, hay một dạng trực giác nào đó?

Người ta thường bảo phải dựa vào lý trí, khi có đủ thông tin để có quyết định sáng suốt. Tôi thì không. Tôi thấy mình nặng về cảm xúc và trực giác hơn. Có những người mới gặp đã thấy như quen từ… muôn kiếp trước!

 

24 Nếu phải chọn một điều đơn giản nhất nhưng quan trọng nhất để giữ gìn sức khỏe tinh thần, anh sẽ chọn điều gì?

Đó là phải giữ sức khỏe thể chất (physical well being) trước hết.  Cái “tứ niệm xứ” (satipathana) “thân thọ tâm pháp” Phật nói đó, có người phát triển cái thọ, lấy “thọ” làm gốc, có người giữ lấy cái tâm, lấy tâm làm gốc, có người giữ cái pháp, lấy pháp làm gốc. Tôi người thầy thuốc, nghĩ phải lấy cái thân làm gốc mới là cốt lõi. Vì có thân thì mới có thọ. Có thọ mới có tâm. Có tâm mới sinh… các pháp. Tâm Kinh nói “Vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý” đã xác nhận “Sắc” phải có trước rồi mới nói gì thì nói! Cho nên “Thân hành niệm” với Chánh niệm hơi thở (Anapanasati) là phương pháp khoa học và hiệu quả trong Thiền định.

 

25 Trong những điều anh từng chắc chắn là đúng về cách sống, có điều gì theo thời gian trở nên không còn tuyệt đối đúng nữa?

Không có điều gì là tuyệt đối đúng cả! Bám vào ý niệm tuyệt đối đúng chắc chắn sẽ “tuyệt đối” sai. Từ nhỏ đã được học “Chân lý ở bên này dãy núi Pyrénées là sự sai lầm ở phía bên kia” (Vérité en-deçà des Pyrénées, erreur au-delà) nhớ không?  Cách sống giản đơn, thiểu dục tri túc, gần gũi thiên nhiên theo tôi là tốt nhất.

 

26 Có điều gì anh chưa từng nói ra trong các bài viết hay cuộc trò chuyện trước đây, nhưng nếu có cơ hội nói một lần, anh nghĩ mình nên nói?

Tôi nay gần 90 rồi. Tôi nghĩ phải có niềm tin nào đó thiện lành để có hạnh phúc bây giờ và mai sau. Tôi nghĩ chắc chắn phải có kiếp trước kiếp sau, nối tiếp nhau mới công bằng trong pháp giới.

 

27 Có điều gì anh từng cố giữ, nhưng cuối cùng phải buông? Việc buông đó dạy anh điều gì?

Nhiều lắm. Dạy mình đừng có tham để rồi sân si. “Ly dục”, “ly bất thiện pháp” là bước đầu vào thiền. Tôi nhờ hành thiền 30 năm nay nên thấy có ít nhiều “hiệu quả”, giúp mình buông xả, giúp thân tâm có phần an lạc.

 

28 Trong những lựa chọn lớn của đời mình, có lựa chọn nào anh vẫn còn lưỡng lự khi nhìn lại, không hẳn hối tiếc, nhưng cũng không hoàn toàn hài lòng?

Tôi tin có nghiệp, có duyên. Có cái gì đó dẫn dắt, đưa đẩy, nối kết. Tuy nhà bác học Stephen Hawking nói “Có một thiết kế vĩ đại nhưng không có nhà thiết kế”. Tôi ngờ ông chưa thấy biết hết.

 

29 Anh đã học được điều gì về việc tha thứ, không phải tha thứ cho người khác, mà tha thứ cho chính mình?

Tha thứ cho chính mình mới khó. Phải tập chấp nhận. Nếu được, học và hành hạnh thứ 3 trong 10 hạnh nguyện Phổ Hiền: “sám hối nghiệp chướng”.

 

30 Có sự thật nào về cuộc sống mà anh hiểu khá muộn, và nếu hiểu sớm hơn, có lẽ anh đã sống khác đi?

Không. Tôi thấy mình vẫn là mình. Nó vậy là nó vậy. Hình như không có cách nào khác.

 

31 Khi một người già đi, điều gì thay đổi nhiều nhất: cách họ nhìn thế giới, hay cách họ nhìn chính mình?

Cách họ nhìn chính mình. Họ sẽ thở ra, nhẹ nhõm. Ủa, vậy đó hả?

 

32 Anh có nghĩ rằng con người cuối cùng sẽ trở về với một vài điều rất đơn giản không? Nếu có, đó là những điều gì? 

Thiểu dục, tri túc. Thấy biết Như Lai. Sống với Như Lai. Cười với Như Lai.

 

33 Nếu cần nhắc lại một nguyên tắc sống duy nhất, một điều anh đã tự kiểm chứng, anh sẽ chọn điều gì?

Từ bi với mình để từ bi với người.

 

 (Saigon, 18.5.2026)

…………………………………………………….

 

 

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

VU LAN Bông Hồng Cho Mẹ

07/08/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Vu Lan: Bông Hồng Cho Mẹ

Đỗ Hồng Ngọc

Mùa Vu lan.  Thật may mắn cho những ai được cài đóa hồng trên ngực áo. Bởi họ còn Mẹ. Tôi thì cài bông trắng. Nhưng điều tôi tin chắc là mẹ tôi đã gặp… bà Ngoại, và vì thế, mẹ đã có thể gài lên ngực một đóa hồng thật tươi từ đó…

Bông hồng cho Mẹ

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…

Đỗ Hồng Ngọc
(Vu Lan 2012)

Võ Tá Hân, người nhạc sĩ đã có đến hơn 30 CD nhạc Phật giáo và hằng trăm khúc tình ca nổi tiếng, một hôm tình cờ đọc được bài thơ ngắn ngủn này đã cảm xúc viết nên khúc hát Vu Lan thật thiết tha dành cho những người con… không còn Mẹ.
Và tiếng hát da diết của ca sĩ Thu Vàng thấy trên youtube:

 

 

Rồi Bội Hoàng, từ Cần Thơ đã cảm tác :

Tình yêu còn mãi

Đọc bài thơ mà mắt lệ đoanh tròng
Ai thấu hiểu một tình yêu đã mất
Ai tự hào cài hoa hồng lên ngực
Dù đã qua cái tuổi cổ lai hy!

Con chỉ muốn luôn được cài hoa đỏ
Dù tuổi đời Má đã rất mong manh,
Dù con Má đã con cháu vây quanh,
Vẫn muốn được mỗi ngày chăm sóc Má.

Được bón cơm, được đút cháo, châm trà
Được tắm rửa, được thay quần áo mới
Được ngồi bên nghe những lời Má nói
Mà dậy lên niềm thương cảm riêng tư

Má bỏ con năm Má chín mươi tư
Rời cõi tạm, Má lên đường thanh thản
Con cài hoa cho màu áo Má đỏ
Để Má về gặp Ngoại vui đoàn viên

(Bội Hoàng, 2014)

Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh từ Santa Ana, mùa Vu Lan 2016 viết trong bài “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”:

“Lại đến mùa Vu Lan. Những đóa hồng đỏ hạnh phúc bung nở vành môi vẽ một vòng xum vầy thỏ thẻ Mẹ Ơi. Những đóa hồng trắng ngân đọng nước mắt lung linh đôi bờ xa vắng âm vang tiếng gọi Mẹ Ơi. Trong niềm, vừa hân hoan vừa cảm động, tôi nhớ đến bài thơ về Mẹ mà khi đọc nhịp tim tôi như bị nghẹn,

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

(Bông Hồng Cho Mẹ, Đỗ Hồng Ngọc)

Thử xem. Đọc. Nghe. Rồi hít vào một hơi thở sâu, im vắng, thì mình như nghe được tiếng nước mắt đang vỡ ra… Vỡ bung như ngọn sóng xanh lấp lánh biển pha lê. Vỡ tung như ngọn pháo hoa rơi vô vàn sợi ánh sáng trong đêm. Những cái vỡ, không tan mà thăng hoa, phải chăng đó là tận cùng của Đẹp? Như hạt nước mắt này, nó bung bung. Ánh lên bóng của Ngoại đang đứng bên kia sông, bên kia là bên của miên viễn không còn sinh tử? Và Mẹ, Mẹ đang từ cõi chết đi vào cõi sống ấy để lọt vào vòng ôm ấm áp của Ngoại. Mẹ đi từ nụ hồng đỏ nở duyên trùng phùng Ngoại. Ý thơ mầu nhiệm làm sao.

Tôi thấy không nói nên lời được để tả cho chính xác cảm giác của mình về sự mênh mang “ý tại ngôn ngoại” trong sâu thẳm bài thơ này. Về cái rất không nghĩa của Mất Còn. Đến với tôi là ý niệm con đường sinh tử đang xóa đi dưới cảm xúc của đứa con, -là Đỗ Hồng Ngọc đây-, người chiêm nghiệm sống chết thật là như không, đóa hồng trắng người đang đeo là một thực tại, đóa hồng đỏ đang rưng rưng trên áo Mẹ kia, là áo nghĩa của thực. Tất cả đều ở thì đang, không còn hôm qua ngày mai phút tàn giây tới. Sinh mệnh không khởi đi và chấm hết bằng hai đầu tiếng khóc nữa. Là Đây. Là Đang. Một thực tại sống động xóa hết biên giới không gian và thời gian. Hình dung Mẹ, trong hơi thở hắt ra bỗng trong suốt nhẹ nhàng đứng lên, trong ngày hội tưng bừng của Tình Mẫu Tử, cúi nhìn bàn tay đứa con run run cài lên ngực áo mình một đóa hồng đỏ, và Mẹ phất phới đi trong nôn nao cho kịp giờ hẹn với Ngoại. Ôi ta mất mẹ và ôi Mẹ vừa có Ngoại. Vô biên lâng lâng nỗi Còn Mất… Huyễn ảo vô cùng khiến những giây tơ vi tế nhất trong cảm xúc ta bị đánh động.

Ngoại Chờ Bên Kia Sông, tôi viết hoa vì mỗi mỗi chữ của câu thơ này là khởi đề dẫn đến chiêm nghiệm ảo hóa về sinh tử. Và toàn bài thơ là tấm tình trong vắt ban sơ của người con, rất nhỏ, mà cũng đã rất già. Bởi rất nhỏ thì mới yêu thương Mẹ được hồn nhiên như thế. Và phải chăng, rất già mới có thể biến yêu thương ngây thơ thành một tình yêu vượt qua được đau đớn của chia lìa sinh tử, như thế.

Cảm ơn Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, cho tôi biết thêm một nhịp đập thương yêu nữa của Hiếu Tử, cho tôi từ bây giờ đã có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một lúc nào đó phải xa Mẹ. Không phải là một cái xa hẳn rồi, mất hẳn rồi như tôi vẫn thường nghĩ nữa. Trong hạt nước mắt rơi lại thấp thoáng nụ cười, nhìn Mẹ của ta lại cài hoa hồng đỏ về bên Ngoại. Ôi! Cái không nói của Ngoại Chờ Bên Kia Sông đã lấp đầy cảm xúc và ý nghĩ của tôi đến thế!

Và lúc này đây, còn được thấy mẹ ra vào thì hãy thỏ thẻ bên vai mẹ rằng,

… mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (thơ Đỗ Trung Quân)

Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình, gửi đến các con tôi,

… tận cùng hạt lệ mẹ
là nước mắt con rơi
tận cùng tiếng cười mẹ
là nụ cười con vừa mở
và con ơi
tận cùng hư vô mẹ
sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại 

(thơ NTKM)

Thưa có phải cũng có chút gặp gỡ giữa “sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại” và “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”?

NTKM
Santa Ana, Mùa Vu Lan

mà nhà phê bình Tô Thẩm Huy cảm thán:

“Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 20 chữ, mà thâm thúy, ảo diệu vô cùng. Đọc lên điếng cả hồn.

Phải chép lại ra đây.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho Mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực,
Ngoại chờ bên kia sông

Rõ ràng Nguyễn Thị Khánh Minh đã cảm bài thơ đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Thật là may mắn có được người đồng điệu như thế.

Bài phổ nhạc hay, hai giai điệu khác nhau mà hòa hợp, hỗ tương lẫn nhau. Tuy thế, cảm xúc khi đọc bài thơ nó đến ào ạt, như cùng một lúc nó trào dâng, bủa vây tứ phía, làm bàng hoàng, run rẩy khắp cả châu thân. Cảm xúc từ bài nhạc nó đến khoan thai, từ tốn, êm đềm”.

Lê Uyển Văn từ Trà Vinh viết: Bài viết tuyệt vời được khơi nguồn từ bài thơ đẹp. May mắn cho chúng ta được thưởng thức những tuyệt phẩm này. Xin đa tạ!

Còn Trieu Minh (Úc) ghi cảm nhận khi nghe bài hát từ giọng ca Thu Vàng: “ Doc va nghe Nhac, nghe Nghen o nguc, nuoc tu lan tren Ma”.

ton  t thì comment: “Nghe nhức xương, thấm tới tủy”;

chrslam thì ghi: Đã nghe đi nghe lại cả chục lần bài hát này. “…Mẹ nhớ gài lên ngực. Ngoại chờ bên kia sông…” Một cảm giác khó tả. Cám ơn thi sĩ và nhạc sĩ.

Và E-Temple ghi nhận: “ Chỉ có 4 câu ngắn ngủn thôi mà thành lời ca, và hát mãi không muốn dừng.  Con dập đầu lạy Phật, xin Mẹ được vãng sinh ‘ Nam mô Đại Từ Đại Bi A-Di-Đà Phật….’”

Nguyễn Thị Tịnh Thy từ Huế viết trong “Yếu tố bất ngờ trong bài thơ bông hồng cho mẹ”:

“Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người… Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.

(…)

Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ.  Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật…”

(đặc san Liễu Quán, số 12, Vu Lan 2017).

Mùa Vu Lan này, xin gởi bạn đôi dòng về bài thơ Bông Hồng Cho Mẹ như một lời chúc mừng đến bạn, người đã rất sướng vui, tự hào, khi còn được cài một bông hồng đỏ thắm trên ngực áo của mình! “…Rồi một chiều nào đó anh về, nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu… rồi nói nói với Mẹ rằng… Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?” (Phạm Thế Mỹ).

(Đỗ Hồng Ngọc)

Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)

14/07/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (7.2026)

Lại về Nha Trang

Mình biết bạn sẽ kêu lên: Đi gì mà đi hoài vậy?

Nhưng, giờ còn đi được chút chút mà không đi chờ đến lúc nào? Bạn mình,  bs TM một người rất cao khỏe, đẹp trai, đã bay khắp năm châu bốn biển,  bây giờ đã phải ngồi xe lăn, kêu chả có ai đẩy cho đi nữa, chán quá! Một bạn khác, vừa mới đi nhà thương cấp cứu, mổ cắt bỏ một khúc ruột già, nối tận-tận, bỏ đi cái khối u to bự làm nghẹt ruột suýt chết, kêu mừng quá, sắp đi cầu lại được rồi. Mới 85 tuổi chớ nhiêu. Bác sĩ nói ung thư, bạn bảo kệ nó, không cần sinh thiết làm chi, lo cho xong số báo đặc biệt về một người bạn đã mất. Cho nên khi có các bạn trẻ thân thiết, tuổi mới 72-75, kêu mình đi Nha Trang chơi mấy ngày, mình xách túi đi ngay. Trời dọa bão. Kệ nó.

Mình vốn mê xe lửa từ nhỏ, lúc ở Phan Thiết thường lên ga Mường Mán, bắt xe đi Saigon hay Nha Trang chơi, nhảy từ restaurant qua couchette… trên những chuyến tàu lắc lư phun khói mù trời, xịt lửa hăm  dọa, rú lên những hồi còi hối thúc đầy oai vệ, rồi mới chịu từ từ nghiến bánh lăn đi. Mấy bạn tới trễ, chay vọt theo, đu cửa phóng lên. Mấy bạn tiễn khách kịp bịn rịn nhảy xuống!

Bây giờ thì xe lửa chạy ngon rồi. Dĩ nhiên cũng như rùa bò thôi, từ Saigon đi Nha Trang  chỉ hơn 400 cây số, mất 8 tiếng. Có được 8 tiếng trò chuyện đã đời, ngắm nhìn hai bên đường, biết rừng cao su này là Long Khánh,  núi  Chứa Chan, biết rừng Thanh long này là Bình Thuận, núi Tà Cú, Ba  Hòn, Mây Tàu, rừng… quạt gió là Phan Rang, Cà Ná biển xanh cát trắng, biết Cam Ranh rừng xoài ngút ngàn…

Nhớ có một lần năm nọ ở Nhật,  đi xe lửa đầu đạn chán ngắt, vèo cái tới rồi, không kịp ngó đâu là đâu!…

Chuyến này ngoài đến Nha Trang,  ở Khu Hòn Chồng, nhóm mình còn đi  Dốc Lết, Ninh Vân…

Gởi bạn vài hình ảnh coi chơi thôi nha.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Hòn Chồng (7.2026, ảnh ĐHN)

 

 

Nha Trang. Khu Hòn Chồng. Nắng lên. (Ảnh ĐHN)

 

 

Dốc Lết bây giờ náo nhiệt. Nhớ xưa mênh mông…

 

Đỗ Hồng Ngọc (Dốc Lết, 5.7.2026)

 

 

Ninh Vân (CN 5.7.2026). Từ trái: Phan Binh, Nguyễn Văn Thu, Đỗ Hồng Ngọc, Ngô Tiến Nhân.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc

02/06/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc & Minh Lê NT

(Ghi chú: Là những trao đổi qua email, không phải phỏng vấn trực tiếp)

 

1 Trong cuộc đời mỗi người thường có ít nhất một lần tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?” Có bao giờ anh tự hỏi mình câu đó không?

Không, Tôi chưa bao giờ tự hỏi mình câu đó. Có lẽ tôi sống quá hồn nhiên và ngây thơ đó không? Chắc vậy. Theo tôi, người tự đặt cho mình câu hỏi đó phải là một người có một đời sống phong phú, sôi nổi và có tâm hồn của một triết gia. Nếu là một người trẻ, có thể do nếp sống gia đình, thiếu tình thương và/hoặc ngược lại quá dư thừa tình thương yêu, nên bị ngộp. Rồi ngạt. Muốn giải thoát! Và rất có thể là người sống thiếu thiên nhiên, thiếu cộng đồng. Đặc biệt có thể đó là một người luôn sống trong sự so sánh. Khi có lòng so sánh, ta luôn không hài lòng vì hơn thua, vì ngang bằng. So sánh luôn mang đến khổ đau. Tham sân si quấn quít. Liệu pháp là nên về lại với thiên nhiên, gần gũi thiên nhiên, gần gũi với cộng đồng, với “bộ lạc” của mình. Lỗi thường từ phụ huynh, nhưng cũng do tự bản thân, từ môi trường, từ di truyền (chánh báo và y báo). Khi một người tự hỏi: “Tôi sống vì điều gì?”, sẽ phải tiếp tục hỏi: “Tôi chết vì điều gì?”.

2 Có khi nào anh dành thời gian và tâm sức để theo đuổi một điều, rồi lúc nào đó nhận ra mình không muốn đi tiếp con đường đó nữa? 

Chưa. Có lẽ do tôi chọn nhiều “con đường” cùng lúc. Tại sao lại chỉ có một con đường kia chớ?

3 Có người trẻ thấy cuộc đời thật vô nghĩa: học để có điểm cao, đậu đại học, ra đi làm, gắng sức kiếm tiền, lập gia đình, lo cho con cái, rồi hết. Nếu có người nói với anh như vậy, anh sẽ nói gì với họ?

Lỗi ở chỗ không biết sống “ở đây và bây giờ”! Ở mỗi giai đoạn trong cuộc đời như thế đều là những niềm vui, niềm hạnh phúc, nếu biết khám phá và thưởng thức! Học cách yêu thương. Nếu hiểu biết thêm về nghiệp về duyên, sẽ an nhiên tự tại. Khi nhỏ thì muốn mau lớn, già thì muốn trẻ lại, đó là do lòng tham, lòng “muốn”.

4 Làm sao để ổn định cảm xúc, không quá buồn hay quá vui mà vẫn thấy đời đáng để sống?

Chính cái “quá” đó mới là vấn đề. Cái gì đã quá thì không tốt rồi. “Quá nhanh quá nguy hiểm” nhớ không? Kiểm soát cảm xúc là chuyện không dễ. Cần có một nền văn hóa cơ bản để thấy đủ rộng, không bị thành kiến chi phối, mới có thể kiểm soát được cảm xúc. Cảm xúc thường do “nhận thức” sai, dẫn tới cảm xúc “quá”, từ đó dẫn đến hành vi không đúng, mất kiểm soát.

5 Có nên tin vào một đấng thiêng liêng nào đó sẽ giúp ta không?

Có cái “đấng” đó không? Có râu hay không râu? “Đấng” thì chắc không có, nhưng “thiêng liêng” thì có.  Cao Huy Thuần bảo cái má lúm đồng tiền, cái răng khểnh đều “thiêng liêng”. Tôi cũng thấy vậy. Nó làm ta xao xuyến, rạo rực, và thế là nó đưa ta vào thiên đàng hay địa ngục. Dĩ nhiên, nếu có một “Đấng” cho riêng mình thì cũng tốt. Ta sẽ có chỗ để nương tựa, để nhõng nhẽo, để đổ thừa… nhẹ khỏe biết bao! Phật thì bảo hãy nương tựa chính mình, hãy tự đốt đuốc lên mà đí, hãy xây một hải đảo tự thân.

6 Có khi nào anh thấy con người hiện đại “biết nhiều nhưng sống không sâu” không?

Sống không đủ sâu là sao? Là cạn cợt?  Ai biết sâu cạn thế nào! Nhiều người chết đuối vì tưởng chỗ không sâu đó nhe.

7 Trong hành trình làm bác sĩ, khoảnh khắc nào khiến anh thay đổi cách nhìn về sự sống và cái chết rõ nhất?

Không đợi đến khi làm bác sĩ. Tôi có may mắn học Y từ những năm 60 của… thế kỷ trước ở Saigon, tại Cơ thể học viện. Ngay năm thứ I y khoa, các sinh viên chúng tôi được phát một giõ cần xé xương người để mân mê, học thuộc từng đốt, từng mối, từng mẩu, từng dây thần kinh, từ sớ thịt. Nhiều sinh viên lén ôm một cái đầu lâu xương người mang về nhà để học suốt đêm… Điều tôi cảm nhận là để tạo ra vài trăm loại xương người như thế, phải có 2 thứ tế bào xương gọi là Osteoblast (tế bào tạo xương) và Osteoclast (tế bào hủy xương) “phối hợp” nhịp nhàng với nhau mới nên hình nên dạng! Rồi sang năm thứ II, chúng tôi được mổ xác ướp, mỗi 2 sinh viên “ôm” một xác ướp, không biết của ai đã hiến tặng cho y học… Mỗi ngày mân mê hì hục, rạch rạch, xẻ xẻ cái xác ướp formol nồng nặc đó mà lòng nao nao, đầy cảm xúc về kiếp người, về “tạo” và “hủy”, và tràn dâng một niềm biết ơn…

8 Anh có nghĩ rằng nỗi đau (thể chất hoặc tinh thần) là một người thầy cần thiết không?

Đúng vậy. Nhưng để thấy biết người Thầy đó không dễ. Phải chiêm nghiệm. Phải hiểu nghiệp duyên, nhân quả.

9 Khi một người bị bệnh nặng, anh nghĩ điều họ sợ nhất là gì?

Là cái chết. Và những hệ lụy của nó. Người bệnh nặng gần gũi với cái chết nhất, nên họ sợ vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Một người có tu tập, thiền định có thể họ thấy khác. Họ quen sống trong cái chết mỗi sát na. Họ thấy sống và chết không phải là một nhưng không khác. Họ thấy “pháp”: “bất sinh bất diệt”. Họ biết “tịch diệt vi lạc”.  Ái dà, lan man chuyện đời thành chuyện đạo rồi!

10 Làm sao để phân biệt “chấp nhận” và “buông xuôi”?

“Chấp nhận” là còn tìm kiếm, tìm giải pháp để cải tiến, thay đổi. Thua keo này bày keo khác. Thất bại là mẹ thành công. Còn “buông xuôi” thường là “hết thuốc chữa”!

11 Nhiều người muốn sống chậm, nhưng áp lực cơm áo gạo tiền không cho phép. Anh nghĩ họ nên làm gì?

Thì họ cứ tiếp tục sống nhanh chớ sao! The Fast and The Furious! Có cái phim tên vậy? Vấn đề là họ có thực sự muốn “sống chậm” không?  Muốn sống chậm thì họ phải “thiểu dục, tri túc”. Nguyễn Công Trứ nói: Tri túc tiện tức, tri nhàn tiện nhàn. Nghĩa là biết đủ thì đủ, biết nhàn thì nhàn. Đợi đủ biết bao giờ cho đủ.  Lòng tham không đáy mà! Đợi nhàn biết bao giờ cho nhàn?

12 Theo anh, sự cô đơn của người trẻ hôm nay khác ra sao so với thế hệ trước?

Khác xa chứ! Người xưa, vài thế hệ trước đây thôi, cô đơn là vì thiếu bạn, mất bạn. “Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua” (Nguyễn Khuyến). Còn người trẻ hôm nay cô đơn vì có quá nhiều bạn! Các mạng xã hội giăng đầy. Cả thế giới nằm gọn trong lòng bàn tay. List bạn bè dày đặc, hết chỗ chứa! Vậy sao cô đơn? Vì ta thiếu những bạn bè biết “nhìn nhau không nói”. Bây giờ ồn ào quá, cá mè quá, tràn ngập quá. Nên người trẻ cô đơn là phải rồi.

13 Khi còn trẻ, anh có khi nào “nghĩ nhiều” (overthinking) không? 

Nghĩ nhiều là sao? Là nghĩ đi nghĩ lại nghĩ tới nghĩ lui? Có chớ sao không. Khi ta chưa có “đầy đủ thông tin” để đi đến một quyết định nào đó (mà ta cho là tốt nhất), thì ta phải nghĩ tớii nghĩ lui đó thôi. Có khi phải xin ý kiến người có kinh nghiệm mà ta tin cậy. Khi tôi thi đậu tú tài II xong thì băn khoăn trước ngã ba đường: Học y khoa theo ý muốn của gia đình, học văn khoa theo sở thích mình, hay học sư phạm? Tôi đến hỏi ông Nguyễn Hiến Lê, ông suy nghĩ một chút rồi khuyên tôi nên học y khoa để có thể giúp ích cụ thể cho gia đình, cho bà con lối xóm; nếu học giỏi, có thể dạy học và nếu có năng khiếu văn chương, thì sau mươi năm hành nghề, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều con người có thể viết lách được. Anton Chekhov, Summerset Maugham, A.J Cronin… Lỗ Tấn cũng là những nhà y học.

14 Anh có nghĩ rằng nhiều khi cơ thể con người biết nhiều hơn tâm trí không?

Thân và tâm không tách rời nhau. Thân tâm nhất như. Cho nên nó… liên hệ với nhau chặt chẽ, nó hiểu nhau rất tốt. Tâm mà an thì thân mới lạc. Thân mà an thì tâm mới lạc. Đừng dại mà tách rời ra. Bộ não chỉ chiếm 2% thể trọng nhưng sử dụng đến 25-30% năng lượng, là vì dùng để gây gỗ, oán thù, hờn giận, đấu đá, tranh giành… Cơ thể dùng 40% năng lượng để căng cơ, co cơ, sẵn sàng chiến đấu hay… bỏ chạy. Một người biết giãn cơ, thả lỏng cơ, một người biết buông bỏ tâm tham, tâm sân thì cơ thể dư năng lượng, tích lũy, để dành chữa lành tất cả các thứ bệnh thân-tâm. Vì thế ta thấy cơ thể tự nó có khả năng tự điều chỉnh.  Lỗi tại ta xài phí năng lượng một cách vô ích. Hãy quay về nương tựa chính mình là vậy. Thầy thuốc không “chữa lành” cho ta nổi đâu!

15 Có khi nào việc cố gắng hiểu mình lại trở thành một áp lực mới không?

Cố gắng hiểu mình, để tự thay đổi mình ư? Còn lâu! Sự cố gắng như vậy rõ ràng là một áp lực. Dĩ nhiên mình sẽ “giác ngộ” dần theo thởi gian. Đó là sự thích nghi, điều chỉnh chớ không phải cưỡng bức mình, ép mình, đè nén mình.

16 Một người trẻ nên chuẩn bị gì cho tuổi già từ bây giờ, ngoài tài chính? 

Nhiều thứ chớ. Cách sống mới quyết định. Tài chánh là một phần quan trọng thôi. Tuổi già cần thích nghi và chấp nhận những thay đổi về thể chất, tâm lý và cả về mặt xã hôi, ương tác trong gia đình, bè bạn…  Thích nghi với những mất mát, thiếu hụt cả về tình cảm, thích nghi với những stress trong đời sống, các bệnh lý như bênh về chuyển hóa (ba cao một thấp), môi trường, viêm nhiễm (do đề kháng yếu kém), tai nạn té ngã, các hoạt động của não bộ, hormones… Tế bào não tuy già cỗi nhưng vẫn duy trì sự nhu nhuyến, có khả năng sản sinh những nối kết mới. Người già cần giúp não bộ hoat động liên tục như học thêm ngoại ngữ, mỹ thuật, thể thao phù hợp, và quan trọng, duy trì một “cộng đồng” sinh hoạt thường xuyên với nhau.

17 Có người đi chữa lành, đến khi chữa lành xong thì không muốn làm gì nữa. Anh nghĩ thế nào về trường hợp này?

Ý nói là tại vì “bệnh” nên mới ham lam ham làm quá đó chớ gì! Phải đó. Ham, muốn, mong, cầu, tiếc nuối… nói chung là mọi thứ “dục” nó hành ta, nó làm ta khổ triền miên, đáng đời ta!  “Lòng muốn còn nhiều… Đập gương xưa tìm bóng!” (Đoàn Chuẩn). Khi nhận ra “Nhưng… thôi tiếc mà chi/ Chim rồi bay…” là hết chuyện!

“Chữa lành” xong thì lòng “dục” đã cạn, lòng tham đã vơi. Nhưng coi chừng, bệnh chỉ dứt tạm rồi biến chứng tùm lum, khó chữa hơn. Thiền là một phương pháp tốt có thể giúp chữa lành. Thiền luôn bắt đầu từ “ly dục”, “ly bất thiện pháp” và thực hành chánh niệm. Các phương pháp MBSR (Mindfulness Based Stress Redaction) và MBCT (Mindfulness Based Cognitive Therapy) thường được dùng giúp “chữa lành” các bệnh S.A.D (Stress/ Anxiety/ Depression) đó.

18 Có nhiều người nhìn bên ngoài rất thành công, nhưng bên trong họ cứ thấy có gì đó “sai sai”. Theo anh, họ cần làm gì với cảm giác “sai sai” đó?

Họ sẽ phải tự vấn. Phải thức tỉnh. Nếu vẫn còn mù mờ thì tìm đến một người “khai vấn” (coach), một người tham vấn (counseller) tốt. Nhưng nếu không may dễ gặp trường hợp làm rối bời thêm, rồi đi vào mê tín, dị đoan nguy hiểm hơn.

19 Có điều gì trong cuộc sống mà con người chỉ có thể hiểu khi đã qua một độ tuổi nhất định?

Người ta không thể không trải nghiệm, thể nghiệm, mà có kinh nghiệm sống được. Nói thất bại là mẹ thành công là vậy. Nhưng coi chừng thất bại có khi lại dẫn tới… đại bại. Nên phải tỉnh thức…

20 Khi mất một người thân, điều gì giúp con người đi qua mất mát một cách an yên nhất?

Khó mà an yên. Có thể nguôi ngoai do thời gian cuốn đi. Nhưng khó mà dứt bỏ, buông bỏ, xả bỏ dễ dàng được.  Người có tu tập, thấy biết sanh trụ dị diệt của Pháp (dharma), biết “bất sinh bất diệt” thì có thể vượt qua chăng?…

21 Anh có tin rằng một người có thể chữa lành hoàn toàn những tổn thương sâu trong quá khứ không?

Có những trường hợp người ta còn nuôi dưỡng các “tổn thương” sâu đó nữa! “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thú độc” (Xuân Diệu). Cái “thú độc” đó, “thú đau thương” đó nó… lạ lắm. Phải hỏi các thi sĩ mới biết!

22 Nhiều người biết một điều gì đó nhưng không thực hành được, ví dụ biết về “tham sân si” nhưng hết lần này đến lần khác bị chúng dẫn dắt. Anh nghĩ sao về chuyện này? 

Biết là một chuyện. Thực hành là một chuyện khác. Thực hành đâu có dễ. Biết sai thực hành sẽ sai. Tham sân si là gì? Ai làm ra mấy thứ “quỉ quái” đó? Si là “Vô minh”, là không biết hoặc biết không đúng, nhưng Tâm Kinh viết: “Vô vô mình diệc vô vô minh tận” nghĩa là không có vô minh, cũng không dứt được vô minh. Vô minh còn dài dài đó thôi. Cũng như “tham” vậy. Từ con kiến, con chuột, con sư tử, con người…  đều tham ăn, giành ăn, nhưng con người còn hơn vậy: Tham danh, tham tiền, tam sắc, tham ăn, tham ngủ, nói chung là “ngũ dục”, cho nên con người mới khổ đau hơn đó chăng?

23 Một người nên dựa vào điều gì để đưa ra những quyết định quan trọng trong đời: lý trí, cảm xúc, hay một dạng trực giác nào đó?

Người ta thường bảo phải dựa vào lý trí, khi có đủ thông tin để có quyết định sáng suốt. Tôi thì không. Tôi thấy mình nặng về cảm xúc và trực giác hơn. Có những người mới gặp đã thấy như quen từ… muôn kiếp trước!

24 Nếu phải chọn một điều đơn giản nhất nhưng quan trọng nhất để giữ gìn sức khỏe tinh thần, anh sẽ chọn điều gì?

Đó là phải giữ sức khỏe thể chất (physical well being) trước hết.  Cái “tứ niệm xứ” (satipathana) “thân thọ tâm pháp” Phật nói đó, có người phát triển cái thọ, lấy “thọ” làm gốc, có người giữ lấy cái tâm, lấy tâm làm gốc, có người giữ cái pháp, lấy pháp làm gốc. Tôi người thầy thuốc, nghĩ phải lấy cái thân làm gốc mới là cốt lõi. Vì có thân thì mới có thọ. Có thọ mới có tâm. Có tâm mới sinh… các pháp. Tâm Kinh nói “Vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý” đã xác nhận “Sắc” phải có trước rồi mới nói gì thì nói! Cho nên “Thân hành niệm” với Chánh niệm hơi thở (Anapanasati) là phương pháp khoa học và hiệu quả trong Thiền định.

25 Trong những điều anh từng chắc chắn là đúng về cách sống, có điều gì theo thời gian trở nên không còn tuyệt đối đúng nữa?

Không có điều gì là tuyệt đối đúng cả! Bám vào ý niệm tuyệt đối đúng chắc chắn sẽ “tuyệt đối” sai. Từ nhỏ đã được học “Chân lý ở bên này dãy núi Pyrénées là sự sai lầm ở phía bên kia” (Vérité en-deçà des Pyrénées, erreur au-delà) nhớ không?  Cách sống giản đơn, thiểu dục tri túc, gần gũi thiên nhiên theo tôi là tốt nhất.

26.Có điều gì anh chưa từng nói ra trong các bài viết hay cuộc trò chuyện trước đây, nhưng nếu có cơ hội nói một lần, anh nghĩ mình nên nói?

Tôi nay gần 90 rồi. Tôi nghĩ phải có niềm tin nào đó thiện lành để có hạnh phúc bây giờ và mai sau. Tôi nghĩ chắc chắn phải có kiếp trước kiếp sau, nối tiếp nhau mới công bằng trong pháp giới.

27.Có điều gì anh từng cố giữ, nhưng cuối cùng phải buông? Việc buông đó dạy anh điều gì?

Nhiều lắm. Dạy mình đừng có tham để rồi sân si. “Ly dục”, “ly bất thiện pháp” là bước đầu vào thiền. Tôi nhờ hành thiền 30 năm nay nên thấy có ít nhiều “hiệu quả”, giúp mình buông xả, giúp thân tâm có phần an lạc.

28.Trong những lựa chọn lớn của đời mình, có lựa chọn nào anh vẫn còn lưỡng lự khi nhìn lại, không hẳn hối tiếc, nhưng cũng không hoàn toàn hài lòng?

Tôi tin có nghiệp, có duyên. Có cái gì đó dẫn dắt, đưa đẩy, nối kết. Tuy nhà bác học Stephen Hawking nói “Có một thiết kế vĩ đại nhưng không có nhà thiết kế”. Tôi ngờ ông chưa thấy biết hết.

29.Anh đã học được điều gì về việc tha thứ, không phải tha thứ cho người khác, mà tha thứ cho chính mình?

Tha thứ cho chính mình mới khó. Phải tập chấp nhận. Nếu được, học và hành hạnh thứ 3 trong 10 hạnh nguyện Phổ Hiền: “sám hối nghiệp chướng”.

30. Có sự thật nào về cuộc sống mà anh hiểu khá muộn, và nếu hiểu sớm hơn, có lẽ anh đã sống khác đi?

Không. Tôi thấy mình vẫn là mình. Nó vậy là nó vậy. Hình như không có cách nào khác.

31. Khi một người già đi, điều gì thay đổi nhiều nhất: cách họ nhìn thế giới, hay cách họ nhìn chính mình?

Cách họ nhìn chính mình. Họ sẽ thở ra, nhẹ nhõm. Ủa, vậy đó hả?

32 Anh có nghĩ rằng con người cuối cùng sẽ trở về với một vài điều rất đơn giản không? Nếu có, đó là những điều gì? 

Thiểu dục, tri túc. Thấy biết Như Lai. Sống với Như Lai. Cười với Như Lai.

33. Nếu cần nhắc lại một nguyên tắc sống duy nhất, một điều anh đã tự kiểm chứng, anh sẽ chọn điều gì?

Từ bi với mình để từ bi với người.

 

Đỗ Hồng Ngọc-Minh Lê NT

(Saigon, 18.5.2026)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

23/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Gởi vài hình ảnh coi vui thôi nhe.

 

 

Ocean Dune Phan Thiết với một trái dừa tươi ba nhát và gió biển mát rượi….

 

Thanh Minh Tự

 

“Những gốc me già xưa nhớ quá/ Những con đường nhỏ rất quen thân” (Trên sông khói sóng ĐHN)

 

 

 

 

Đập Đá Dựng (Caphe Phố Đá). Đập Đá Dựng được xây khoảng 1958. Xưa có một ngôi thủy tạ một cột giữa dòng nước. Hồi trẻ, lũ chúng tôi thường tắm nơi này…

Hình ảnh Thủy tạ một cột giữa dòng nước Đập Đá Dựng xưa ở Lagi (Nguồn: Bình Tuy-Hàm Tân-La Gi Ngày đó và Bây giờ).. Tôi rời Lagi từ năm 1960. Lúc trẻ đã không ít lần cùng bạn bè tắm ở đây, xin xác nhận lúc đó, không hề có chiếc cầu nào nối từ bờ ra thủy tạ, đúng như Trần Hữu Ngư đã nói. (Sau này có thể làm thêm thì không biết?). Trần Hữu Ngư là nhà văn, nhà báo, quê gốc La Gi, sinh năm 1942, ít hơn tôi vài tuổi, theo tôi, anh là người biết rõ Bình Tuy- Hàm  Tân-Lagi ngày tháng cũ, cùng với nhà báo Phan Chính, các bạn có thể tham khảo thêm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Caphe Mộc Yên nhìn Núi Đất như một chiếc nón lá xanh. Cạnh đó là Hồ Núi Đất mênh mông tích chứa nước ngọt cho Lagi.. Hỏi cô chủ quán Mộc Yên là gì? Cô trả lời: Mộc Mạc thì Yên Vui..

 

 

 

Về tới nhà, con Út hỏi: Ủa, Ba Má kỷ niệm 58 năm Ngày Cưới đó hả? Vậy chớ sao!

 

Nơi này, ngày xưa, có tên là Nước Nhỉ, trước năm 1945, Hướng đạo sinh thời đó đã xây một cái giếng gạch đặt tên là Giếng Nguồn Chung, dưới rặng dứa um tùm lấy nước ngọt từ động cát nhỉ ra cho bà con đi dọc biển có nước uống. Thời đó, đi lại chủ yếu bằng đường biển, từ Tam Tân (nay là Tân Hải) đến Lagi 15km.

 

 

Thân mến,

Đỗ Hồng  Ngọc.

(11.5.2026)

………………………………………………………………………

Viết thêm về Giếng Nguồn Chung ở Lagi  (1944)

Theo yêu cầu của một số bạn trẻ muốn biết thêm về Giếng Nguồn Chung, tôi cung cấp thêm một vài tư liệu để tham khảo:

…”QÊ HƯƠNG”… Tập A, của Nguiễn- Ngu- Í, Ngê -Bá- Lí, Tân- Fong- Hiệb, do NÚI CÚ- HÒN BÀ xuất bản, 1969.

Tập này do Nguyễn Hiến Lê viết Lời Giới Thiệu, ông đã gọi là một “kỳ thư”. Nguiễn-Ngu-Í, Ngê- Bá- Lí và Tân-Fong-Hiệb thật ra chỉ là… một người là ông Nguyễn Hữu Ngư  (1921-1979), quê Tam Tân (nay là Tân Hải), một nhà thơ, nhà báo nổi tiếng, bút danh Nguiễn Ngu Í, chuyên phỏng vấn giới văn nghệ sĩ trên báo Bách Khoa Saigon, những năm 60s của thế kỷ trước. Ông còn “nổi tiếng” vì bệnh tâm thần, đã từng nhiều lần nằm Dưỡng trí viện Biên Hòa, và đã thực hiện một Tập thơ tựa là “Thơ Điên Thứ Thiệt” với sự góp mặt của Bùi Giáng cùng các bạn nằm bệnh viện lúc đó (Thời giám đốc là Bs Tô Dương Hiệp, con nhà văn Bình Nguyên Lộc). Và đặc biệt ông còn nổi tiếng vì có cách viết “không giống ai” (nhưng có cái lý riêng của ông). Ông có nhiều bút hiệu trong đó, NGÊ BÁ Lí (mẹ ông họ Nghê), và bút hiệu Tân-Fong-Hiệb, do quê làng là Tam Tân- Phong Điền- Hiệp Nghĩa.

Tôi sở dĩ biết rõ, vì ông là cậu họ tôi, rất gần gũi. Mẹ tôi là Nghê Thị Như, gọi mẹ ông, bà Nghê Thị Mỹ là cô ruột. Chính tôi viết bài dẫn cho cuốn QÊ HƯƠNG của ông, ký tên Giang Hồng Vân.

Ông học Petrus Ký cùng khóa với Trần Văn Khê,  Lưu Hữu Phước… Ông ở trong đoàn Hướng Đạo Lagi thời đó và đã có sáng kiến cùng bạn bè xây cái giếng lấy tên Giếng Nguồn Chung ở Nước Nhỉ, trên đường Tam Tân – Lagi để bà con đi dọc biển có chỗ nghỉ chân và uống mấy ngụm nước ngọt dưới bóng râm mát mẻ của các bụi dứa um tùm.

Năm 1960, cậu mợ Ngư về xây mộ Cha mẹ là Ông bà Giáo ở Tam Tân, tôi có cùng đi từ Lagi, đến Giếng Nguồn Chung xưa, ông thấy chỉ  còn gạch đá tan tành nên cảm xúc làm bài thơ tại chỗ:

Trang 22, “…QÊ HƯƠNG”… Nguiễn Ngu Í, Núi Cú-Hòn Bà xuất bản, 1969.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(7-6-2026)

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

15/05/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

Tâm Nhiên

(Đà Nẵng)

 

Đỗ Nghê là bút hiệu của Đỗ Hồng Ngọc. Anh sinh năm 1940 tại Phan Thiết, Bình Thuận. Tốt nghiệp Tiến sỹ Y khoa Quốc gia, Sài Gòn (1969) là bác sỹ chuyên khoa Nhi.

Ngoài việc làm giảng viên thỉnh giảng tại Đại học Y Dược, Trưởng Bộ môn KHHV tại Đại học Y khoa Phạm  Ngọc Thạch Tp HCM,  anh còn là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng.

Viết nhiều thể loại đa dạng, đặc biệt gần đây, anh viết chuyên sâu về Phật học, Thiền học với các tác phẩm giá trị, được rất nhiều độc giả mến mộ, ưa thích.

Bình đạm mà thiết tha với thi ca, Đỗ Nghê đã xuất bản 6 thi phẩm, tập mới nhất gần đây là Thơ ngắn Đỗ Nghê, do Văn Hoá – Văn Nghệ xuất bản năm 2017.

Mở đầu tập thơ là bài Trái đất:

“Giữa đêm
Thức giấc
Giữa ngày…”

Bài thơ được viết tại Boston, Hoa Kỳ (1993) Giữa đêm bên Mỹ là đúng giữa ngày ở Việt Nam. Một cái nhìn toàn diện trái đất đang xoay quanh mặt trời. Chỗ này tối thì chỗ kia sáng, tùy theo thời tiết, nhân duyên, địa phương mỗi nơi mà thấy mỗi khác đó thôi. Thấy được như vậy là hiểu lý Bất nhị, dung thông Sóng là nước:

“Sóng
Quằn quại
Thét gào

Không nhớ
Mình
Là nước”

Nước tức là sóng, sóng tức là nước, thanh âm Tâm kinh đồng vọng đâu đây: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng, hành, thức diệc phục như thị…”

Khi hiểu như thế rồi thì không ai phải mất công đi hỏi nước từ đâu đến hay nước trôi về nơi đâu nữa:

“Nước vẫn muôn đời
Không đi chẳng đến
Ai người nỡ hỏi
Nước đến từ đâu?
Ai người nỡ hỏi
Nước trôi về đâu?”

Thi nhân bỗng nhiên thấy ra ngay cả thân xác tứ đại giả hợp của mình cũng chính là Đất:

“Đất động ta cũng động
Sóng thần ta cũng sóng
Giật mình chợt nhớ ra
Vốn xưa ta là đất”

Đó là cái thấy bằng con mắt Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi: “Tất cả là một, một là tất cả.”

Hoà trong vô thủy vô chung, vô cùng vô tận giữa thiên hà, vũ trụ càn khôn, con người là một sinh thể nhỏ bé thì bận tâm chi chuyện Có hay không:

“Chắt ra cho hết
Giọt hơi cuối cùng
Thả mình như lá
Rơi vào hư không

Tràn vào khắp ngả
Đất trời mênh mông
Nhẹ như không có
Có mà như không…”

***
Suốt mấy nghìn năm qua, vô số các triết gia, đạo sỹ khắp Đông Tây kim cổ đều luận thuyết, triết lý om sòm về có không, sống chết, đến đi, được mất, chân vọng, thật giả, hơn thua, đúng sai, phải trái, tốt xấu, trí ngu, phàm thánh, tỉnh điên, thiện ác, mê ngộ…mà chẳng ai chấp nhận ai, chẳng đưa đến một kết luận nào cả.

Kể từ khi cư sỹ Duy Ma Cật tuyên bố lý Bất nhị thì thiên hạ “Ồ lên một tiếng” bàng hoàng.

Họ bừng sáng ra, bước đi trên con đường Trung đạo, vào ra giữa có và không một cách tự do tự tại, thong dong.

Không và có…tuy hai mà một, cùng viên dung vô ngại trong lý sự huyền đồng Chân Không Diệu Hữu. Diêu hữu là thấy ngay trong bất cứ sự vật gì cũng đều vi diệu, như thấy hơi Thở:

“Lắng nghe hơi thở của mình
Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…”

Phải chăng, đó là hơi thở sát na thường trụ vĩnh hằng của một con người hoát nhiên chứng Ngộ:

“Tham chẳng còn
Sân cũng hết
Si đã tuyệt

Niết bàn
Tịch diệt
Để mà chi?”

Một câu hỏi nêu ra quá bất ngờ, bức bách. Trả lời đi, trả lời đi…Vô ngôn là hồi đáp tối thượng nhất. Phủi tay, cất bước rỗng rang Thiền:

Thực chẳng dễ dàng
Sống trong cái chết
Và chết trong cái sống…”

Chết trong cái sống là chết đi hết những danh từ, khái niệm mà mình thường vướng mắc, kẹt dính, chết đi cái chấp ngã thâm căn cố đế, chết đi sự nô lệ vào danh lợi, tài sắc, thần tượng, tôn giáo, tổ quốc…

Không chấp trước vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì thênh thang, phóng khoáng, tiêu dao du chơi giữa vô thường. Tuy giữa vô thường nhưng vẫn Chân thường, đó là niềm hân hoan sáng tạo của Đỗ Nghê, một thi nhân đã đến tận đầu nguồn, nếm được giọt nước trong ngần của mạch suối Tào Khê.

Để rồi trở về nhập cuộc, hoà điệu chịu chơi với bụi cát trần gian, thõng tay vào chợ, cười vang giọng cười hào sảng như Duy Ma Cật ngay giữa cái Đang là, luôn luôn mới lạ và mới lạ…

Tâm Nhiên

(10. 2024)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…

12/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…

https://www.facebook.com/share/1HhAuhyNZc/?mibextid=wwXIfr

 

Năm 2017 tôi có viết một bài ngắn trên facebook với nhan đề TOÀN LÁO CẢ. Bài báo gây cho tôi nhiều rắc rối không đáng có và ảnh hưởng đến BS Đỗ Hồng Ngọc vì bài được phát tán với tên của BS. Tạm lắng một thời gian dài, không hiểu sao bài này gần đây lại xuất hiện trên một số trang mạng với nhiều chi tiết thêm thắt khác nguyên bản. Trong đó có trang VIỆT NAM DEFENCE đăng cùng hình chân dung của tôi có nhiều comment nhất. Nhận thấy nội dung bài đã không còn giá trị trong thời điểm này và không muốn có điều phiền phức cho bản thân tôi cũng như ảnh hưởng đến tên tuổi của BS Đỗ Hồng Ngọc, tôi đã đề nghị gỡ bài.

Đây là thư tôi gởi cho VIỆT NAM DEFENCE:
“Tôi là Đỗ Duy Ngọc, hiện nay 77 tuổi và đang sinh sống tại Sài Gòn, Việt Nam. Tôi là tác giả của bài viết TOÀN LÁO CẢ được viết vào năm 2017. Một số nội dung trong bài này đã bị trang nhanquyenvn. org lên án tôi trong bài viết nhan đề “Xuyên tạc xã hội và công kích công cuộc chống tham nhũng, cần xem lại trách nhiệm công dân của họa sĩ Đỗ Duy Ngọc…”. Bài này được phổ biến ban đầu với tên tác giả là BS Đỗ Hồng Ngọc khiến BS rất phiền lòng. Ngay thời đó tôi đã viết cải chính BS Đỗ Hồng Ngọc không phải là tác giả. Tạm lắng một thời gian, không hiểu sao gần đây bài viết lại xuất hiện ồ ạt trở lại với nhiều chi tiết thêm thắt không đúng với nguyên bản. Và trang Việt Nam Defence có đăng lại. Tôi xin đề nghị trang xoá giúp tôi bài này, không nên đăng nữa vì có nhiều điều bất lợi cho bản thân tôi và cả BS Đỗ Hồng Ngọc. Tôi thấy rằng trang đăng và đưa hình của tôi mà chưa có ý kiến của tôi cũng là điều không nên. Tôi đã lớn tuổi, sức khỏe lại không tốt nên rất ngại những hậu quả sẽ xảy đến cho mình. Do vậy, mong quý trang gỡ bài theo nguyện vọng của tôi. Xin cảm ơn.”
Sài Gòn ngày 12.02.2026
DODUYNGOC
………………………………………………………….
Sg, 12.02,2026
Vài dòng thăm anh Đỗ Duy Ngọc,
Anh Đỗ Duy Ngọc ơi,
Tuổi tôi nay đã 87 rồi, hơn anh đúng 10 tuổi. Tôi mù tịt thông tin mạng, không có Facebook. Tôi vẫn theo dõi tình hình bệnh tật của anh, có mấy lần đã phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện. Nay thêm chuyện này chắc anh càng không vui.
Có lần anh nói chắc tại cái “duyên số” gì đó, đã gắn tên tôi gần giống với tên anh, khiến người ta nhầm lấy tên tôi, kèm hình ảnh tôi đăng khắp nơi. Tôi chịu thua, không biết phải làm sao! May, anh còn viết được thư đính chánh, xin xóa bài, hình ảnh đã thêm bớt tùm lum.
Chân thành cảm ơn Hs Đỗ Duy Ngọc.
Thân mến,
Bs Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thư đi tin lại, Vài đoạn hồi ký

CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

10/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chân thành cảm ơn  ĐD Hải Ninh, Xuân Trang, Quay và dựng phim Khải Nguyễn, Ca sĩ Hồng Thắm, Gia Hải…

MC Nhà thơ Lê Trúc Khanh (Thầy Lê Phước Nghiệp) và Tất cả các bạn Cần Thơ…  (01/02/2026)

Cảm ơn Nguyễn Văn Quyền.

Đỗ Hồng Ngọc.

(10.02.2026).

………………………………………………………………………..

Duyên, từ nơi xa xôi:

* sáng thức dậy trong ánh bình minh trong lành chưa có tiếng động của một ngày mới: buồn vui ra sao.  được nghe anh Ngọc và những người góp mặt trong buổi trò chuyện chia sẻ về cuộc đời : khi mở mắt chào đời cho đến cuối đời, đời người rất thật, xúc động vô cùng!

* nhìn anh Ngọc khi các em hát Sông ơi cứ chảy, thấy trong mình cũng  cả một dòng sông…

* bên ngôi trường cũ, hai người bạn tuổi xế chiều am hiểu cuộc đời, chia sẻ cảm tưởng về hoàng hôn: rất từ bi với chính mình, với đời…đã sẵn lòng đổi mặt trời cho một hoàng hôn…

❤️

………………………………………………………….

Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Huệ

Hội Nhà Văn TP. Cần Thơ

 

Thật bất ngờ trong buổi Trà Chiều ở Cần Thơ, nhà văn Thanh Huệ, 90 tuổi , gởi tặng tôi bài thơ và nói chị đã từng rất xúc động khi đọc bài “Thư cho Bé sơ sinh” từ 60 năm về trước…

 

Nhà văn Thanh Huệ, 90 tuổi, gởi bài thơ tặng ĐHN.

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Lương Thư Trung (Hai Trầu): TUỔI GIÀ THỬ ĐỌC “CHUYỆN HỒI ĐÓ” (ĐHN)

14/11/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

TUỔI GIÀ THỬ ĐỌC “CHUYỆN HỒI ĐÓ”

CỦA BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

Ghi chú: Anh Hai Trầu (Lương Thư Trung), tác giả Lá thư từ Kinh Xáng, Mùa màng ngày cũ, Bến bờ còn lại... là những tác phẩm đặc sắc về đời sống Nam Bộ thuở xưa, tự xưng mình là “Người đọc nhà quê già miệt ruộng Lấp Vò”, vừa gởi tôi bài này, thiệt ra là những trích đoạn anh tâm đắc khi đọc Chuyện Hồi Đó của tôi (Phanbook, 2025).

Anh Hai Trầu năm nay mới lên 84, thua tôi vài tuổi, vẫn luôn tự coi mình là người già khú đế… nhưng anh vẫn còn trẻ lắm, chịu đọc chịu viết lắm, rất đáng phục.

Bài gọi là “đọc” này chỉ ghi lại vài trang anh thích thú và chấm phá vài nét bình luận rất dễ thương…

Thân mến,

ĐHN

…………………………………………………..

Thưa bạn,

 

Dà, được biết cuốn sách này rất dày nhưng khi in thì nhà in rút gọn chỉ còn lại gần 500 trg.

Sách gồm bảy chương:

Chương I MỘT CHÚT TÔI

Chương II NGHỀ và NGHIỆP

Chương III DẠY ĐỂ HỌC

Chương IV ĐI ĐỂ HỌC

Chương V CHÚT VĂN CHƯƠNG CHỮ NGHĨA

Chương VI NHỮNG GẦN GŨI & THÂN THIẾT

Chương VII CON ĐƯỜNG AN LẠC

 

 

Dà, thưa bạn, tuổi tôi năm nay cũng tạm gọi là “già khú đế” rồi vì nhớ hồi tụi tôi còn con nít thì các chú các bác ở quê tôi mà ở vào tuổi chừng năm chục có hơn thì trong giao tiếp hằng ngày bà con đã được thỉnh lên ngồi bàn dài giữa nhà mỗi khi có đám tiệc như cưới hỏi hoặc giỗ chạp rồi! Huống hồ gì ngày nay tôi cũng ở ngoài tám chục thì không gọi là già thì gọi là gì? Nhưng có điều đọc “Chuyện Hồi Đó” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc xuất bản tháng ba năm 2025, theo tôi là thú vị nhứt vì trong đó có những điều mà tác giả ghi lại nó xảy ra cùng thời với thế hệ của tôi mới lớn nên có nhiều chi tiết khá thích thú mà hồi trước đó, lúc mình còn nhỏ không được nghe ai nói và chính mình cũng không hế biết nữa. Chẳng hạn như về việc thi vô trường Y Khoa Đại Học Đường Sài Gòn với điều kiện và thể thức thi như thế nào, làm sao mình biết được vì hồi đó ít ai dám thi vô mấy trường khó ăn này, nhứt là học trò tỉnh lẻ như tụi tôi làm sao thi đậu vô trường danh giá này cho được; mà nếu có may mắn được đậu chăng nữa thì lấy tiền đâu lên Sài Gòn ăn ở để học ròng rã tới bảy năm trới! Do vậy, mà nghe tác giả kể mình mới mê:

 

“Năm 1962, tôi thi đậu vào Dự bị Y khoa (APM) Đại học Y khoa Sài Gòn. Đây là khóa thi APM đầu tiên, trước đó, chỉ cần đậu bằng PCB hoặc SPCN bên Đại học khoa học thì có thể vào thẳng y khoa. Hồi đó y khoa học bảy năm, gồm một năm Dự bị (APM) – học tại Đại học Khoa học – cuối năm nếu đậu thì học tiếp sáu năm nữa ở Y khoa Đại học đường Sài Gòn, đường Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần, ra trường với một luận án Tiến sĩ Y khoa Quốc gia, hay thường gọi là “Bác sĩ”. Thi vào APM không dễ chút nào! Tỷ lệ đậu chỉ vào khoảng 10%. Tôi còn nhớ lúc đó thi APM có các môn lý, hóa, sinh, sinh ngữ và đặc biệt có thi môn “kiến thức tổng quát” với 20 câu hỏi: Thủ đô Brazil là gì? Ai là ông tổ y khoa thế giới? Ai là ông tổ y khoa Việt Nam? Người thầy thuốc nổi tiếng thời Tam Quốc tên gì? Người thầy thuốc nổi tiếng thời Xuân Thu tên gì?… và… Giá gạo trên thị trường bao nhiêu một ký? Giá than bao nhiêu một ký? Nhờ hồi nhỏ đọc cả bụng truyện Tàu nên tôi không lạ Hoa Đà, Biển Thước, lại nhờ ở trọ ăn cơm tháng trong xóm nghèo Bàn Cờ nên không lạ giá gạo giá than! Vậy là đậu, đậu khá cao, dù là dân tỉnh lẻ lên Sài Gòn “du học”. Khi vào năm thứ nhất y khoa thì ấn tượng là buổi giáo sư khoa trưởng, Bác sĩ Phạm Biểu Tâm gặp gỡ với các tân sinh viên. Thầy nói: “Y khoa là một nghề cao quý nếu ta muốn cao quý, cũng là một nghề thấp hèn nếu ta muốn thấp hèn. Bác sĩ là một sinh viên y khoa suốt đời. Trong khi hành nghề khó tránh khỏi đôi lúc ân hận nhưng đừng bao giờ để phải hối hận”. Những lời thầy nói từ ngày đó vẫn được lứa học trò chúng tôi nhắc lại trong những buổi họp mặt đồng khóa hằng năm.

Tại Mỹ, Canada và các nước phát triển hiện nay, đa số các trường y khoa đào tạo bác sĩ sau cử nhân. Thí sinh buộc phải có chứng chỉ MCAT (Medical College Admission Test) cùng một số điều kiện khác như điểm học lực, giấy giới thiệu, năng khiếu hoạt động ngọai khóa (thể thao, văn nghệ…) và qua một cuộc phỏng vấn sàng lọc. MCAT là một cuộc thi tổng hợp, gồm 4 phần: vật lý và hóa vô cơ, sinh học và hóa hữu cơ; một trắc nghiệm nhằm đánh giá khả năng suy luận, giải quyết tình huống của thí sinh; và một bài luận văn để đánh giá kỹ năng viết, bình luận, nhận định về một hoặc hai chủ đề cho sẵn. MCAT như vậy không chỉ nhằm để khảo sát kiến thức các khoa học liên quan đến ngành y mà đặc biệt chú trọng đến các năng lực khác của người thầy thuốc tương lai.

Tại Singapore, ngoài hệ đào tạo bác sĩ sau cử nhân đòi hỏi phải có MCAT như trên thì hệ đào tạo sau phổ thông (Tú tài) cũng sàng lọc đầu vào rất chặt chẽ. Không chỉ dựa vào học lực hàn lâm, điểm của các môn sinh học, vật lý, hóa học mà còn xem xét nhiều khía cạnh khác. Điểm của ba môn khoa học căn bản trên dù cao cũng không được coi là ưu tiên. Theo họ, nghề y là một nghề đặc biệt, muốn đào tạo người thầy thuốc vừa có năng lực chuyên môn vừa có lòng nhân ái thì điều kiện tuyển chọn cũng phải đặc biệt. Tại Singapore, năm 2007 chẳng hạn, điều kiện tuyển chọn như sau: Ngoài các môn sinh, lý, hóa phải đạt điểm A, thí sinh phải qua hai đợt phỏng vấn, một của Hội đồng khoa nhà trường và một của nhóm bác sĩ, điều dưỡng, sinh viên đàn anh. Đây quả là

một điểm lý thú trong tuyển sinh. Phỏng vấn viên được chọn lựa, tập huấn kỹ để cuộc phỏng vấn trung thực và chất lượng. Nếu thí sinh là người quen thì phỏng vấn viên phải từ chối để chọn người khác. Trước đó thí sinh phải nộp một bộ hồ sơ gồm hai giấy giới thiệu, bản cam kết, một lý lịch hoạt động ngoại khóa. Hồ sơ này sẽ được nghiên cứu kỹ trước khi phỏng vấn. Thí sinh còn phải viết luận văn về một đề tài cho ngay tại chỗ trong vòng 45 phút để đánh giá trình độ nhận thức, kỹ năng viết của họ.

Từ nhiều năm qua, các trường y khoa của nước ta từ Bắc chí Nam thi tuyển sinh chỉ dựa vào một kỳ thi có 3 môn là toán, hóa, sinh. Hai môn hóa và sinh “ai cũng như ai” nên chỉ hơn thua nhau chủ yếu ở môn toán. Như vậy, có thể nói chỉ những ai giỏi toán mới dễ đậu vào y khoa. Đây quả là một nghịch lý đối với một ngành học đặc biệt đòi hỏi nhiều đức tính khác ngoài khả năng suy luận toán học.

Có lẽ đã đến lúc coi lại “đầu vào” khi tuyển sinh đào tạo người thầy thuốc tương lai, nhất là vào thời buổi “hội nhập” như hiện nay chăng?

 

Niên khóa Y khoa đầu 1946-1947 chỉ có 12 người cho tất cả các lớp. Niên khóa 1947-1948 có 32 người. Niên khóa 1948-1949 tăng lên tới trên 80 người. Vào thập niên 1970 Trường Y khoa có 1.400 sinh viên theo học và mỗi năm cho ra trường hơn 200 người. Số sinh viên nộp đơn dự tuyển là hơn 5.000 để chiếm 200 chỗ nhập học mỗi năm.

Thời đó ở Việt Nam cũng như bên Pháp, muốn đậu bằng y khoa bác sĩ phải đậu xong hai phần Tú tài (I và II), qua một năm đầu tiên tại Đại học Khoa Học và sáu năm y khoa. Từ 1954 đến 1962, muốn vào y khoa phải có chứng chỉ PCB (Physique – Chimie – Biologie) rồi ghi danh vào học. Từ 1962 đến 1969, nhà trường tuyển sinh từ Tú Tài 2, sau đó gởi sang Đại học Khoa học học chứng chỉ APM (Année Pré-Medicine, Dự bị Y khoa).

Văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia được cấp phát sau khi bảo vệ thành công luận án trước hội đồng do khoa trưởng bổ nhiệm.

Theo tài liệu của GS Nguyễn Đức Nguyên, tổng số luận án được trình và chấp thuận tại Y khoa Đại học đường Sài Gòn từ năm 1947 cho tới 1972 là 1.779 luận án. Số luận án từ 1972 tới 1975 là bao nhiêu không rõ vì không có ghi chép trong tài liệu nào. Tuy nhiên với sĩ số 200 người một lớp, ta có thể ước tính là có vào khoảng trên dưới 600 luận án đã được trình trong thời kỳ đó. Như vậy, tổng số luận án ra trường của Y khoa Đại học đường Sài Gòn từ 1947 cho tới 1975 là vào khoảng 2.380 luận án.”

 

Phần hấp dẫn tiếp theo là các chương trả lời phỏng vấn của nhiều người, đặc biệt tôi thích bài phỏng vấn của độc giả về việc trình luận án Tiến sĩ:

Hỏi: Kính thưa Bác sĩ, tôi năm nay cũng đã 64 tuổi. Qua diễn đàn y khoa tôi được biết Bác sĩ đã tốt nghiệp khá lâu trước 1975. Nhờ Bác sĩ vui lòng giải đáp thắc mắc sau đây của tôi: Khoảng những năm 1965 đến năm 1974, những sinh viên y khoa năm cuối đã trình luận án được chấm đậu thì được cấp văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia và sẽ hành nghề bác sĩ để chữa bệnh.

Thế còn những người không trình luận án thì có được hành nghề bác sĩ để chữa bệnh không? Có được gọi là bác sĩ không? Cám ơn nhiều, chúc Bác sĩ khỏe mạnh.

(Độc giả Khanh, 29/7/2014) 

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trả lời:

Kính chào anh Khanh. Tôi học Y khoa Sài Gòn (thời đó gọi là Y khoa Đại học đường Sài Gòn) từ 1962 đến 1969 thì tốt nghiệp. Thời đó học y khoa chương trình bảy năm, ra trường phải thi tốt nghiệp, đậu bốn môn bệnh lý (nội, ngoại, sản, nhi) thì được gọi là bác sĩ và hành nghề bác sĩ, sau khi đã đăng ký vào Y sĩ đoàn và thực hiện đúng Nghĩa vụ luận Y khoa. Sau đó, những ai làm luận án và bảo vệ thành công thì được nhận văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia (Doctorat en Médecine, Diplôme d’Etat). Có nhiều người không làm luận án, có người ba – bốn năm sau mới xong luận án vì là thời chiến, nhiều khó khăn. Tôi trình luận án vào năm 1970, một năm sau khi ra trường, đề tài về bệnh Sốt rét ở trẻ em, hội đồng giám khảo gồm Giáo sư Phan Đình Tuân, Giáo sư Nguyễn Văn Út và Giáo sư Nguyễn Thế Minh, nhận văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia vào năm 1972. Cùng lượt trình luận án với tôi có Bác sĩ Nguyễn Dương, Bác sĩ Nguyễn Kim Hưng…

Xin nói rõ thêm với anh Khanh và các bạn là chữ y sĩ trong “Y sĩ đoàn” ngày xưa có nghĩa là người bác sĩ, người hành nghề y chớ không phải chỉ cho một cấp bậc (y sĩ), thấp hơn bác sĩ như ta biết sau này. Ngoài Y sĩ đoàn còn có Dược sĩ đoàn, Nha sĩ đoàn v.v. Họ quản lý các thành viên bằng luật chuyên ngành, gọi là Nghĩa vụ luận Y khoa (Déontologie médicale), có những điều đảm bảo y đức trong hành nghề như đối với bệnh nhân phải thế nào, đối với đồng nghiệp ra sao, và đối với cộng đồng có nghĩa vụ gì…

Từ năm thứ năm y khoa, sinh viên phải được học rất kỹ để chuẩn bị ra trường. Khi ra trường phải ghi danh vào Y sĩ đoàn mới được mở phòng mạch (phòng khám). Vì cùng trong nghề, họ tổ chức “tự quản” rất tốt để điều chỉnh hành vi người thầy thuốc và đồng thời bảo vệ họ, bảo vệ nghề nghiệp để luôn có được sự tôn trọng của xã hội.

30/7/2014 (trang 64-trang 65)

 

Dá, cái hấp dẫn thứ hai của cuốn “Chuyện Hồi Đó” là các trang sách tác giả trả lời cho bạn đọc trẻ, cho học trò, ví như bài trả lời phỏng vấn của sinh viên Phạm Bảo Hồng:

 

Hỏi: Đọc các bài viết của bác, lúc nào trong cháu cũng cảm thấy một nỗi niềm nhẹ nhàng, man mác. Bác thường trích dẫn những lời nhạc của Trịnh Công Sơn, những lời thơ của bạn bè bác. Những người thân quen, những mối quan hệ xung quanh có phải là nguồn cảm hứng cho bác?

BS ĐHN: Cảm ơn đã đặt một câu hỏi rất “nhẹ nhàng, man mác” như vậy, khiến tôi cũng lúng túng không biết trả lời sao. Cái “nỗi niềm nhẹ nhàng, man mác” đó – khi đọc những bài viết của tôi – hẳn là một lời khen, cho thấy bài viết đã chia sẻ được những cảm xúc, nghĩ suy cùng người đọc, ít ra trong một cuộc sống đầy bon chen, căng thẳng… hiện nay, không chỉ riêng ta mà cả một thế giới phẳng, toàn cầu hóa! Tôi thường trích dẫn những ca từ của Trịnh Công Sơn, những câu thơ của người này người khác… khi thì Bùi Giáng, khi thì Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… (không phải bạn bè tôi đâu!) chẳng qua vì nó phù hợp với tâm trạng tôi lúc đó, nó tự nhiên đến với tôi chứ không phải do tôi cố ý kiếm tìm. Và, thực ra, với người viết nào thì những mối quan hệ, những người thân quen… bao giờ chẳng là nguồn cảm hứng bất tận?

 

Hỏi: Từ khi nào bác nhận ra trong bác có cả hai con người: một vị thầy thuốc hết lòng yêu nghề, nghiêm túc và một người cầm bút, tâm hồn nghệ sĩ? Bác làm sao để dung hòa hai tính cách trong một con người mình? Có bao giờ hai tính cách này đấu tranh lẫn nhau, buộc bác phải suy nghĩ?

BS ĐHN: Không. Tôi chẳng bao giờ thấy “nó” đấu đá hay tranh giành gì cả. Trái lại, nó cứ quấn quít lấy nhau, bổ sung cho nhau. Giống như đất sét thì phải có nước mới nặn nên hình được. Ai bảo nghệ sĩ không yêu nghề, không nghiêm túc còn thầy thuốc sao lại không thể có tâm hồn bay bổng… nhỉ? Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật mà! Dĩ nhiên khi trả lời y học thì phải hết sức thận trọng, chính xác và phải luôn quan tâm tới góc cạnh tâm lý xã hội của vấn đề chứ không đơn thuần chỉ ở góc độ bệnh lý. Khi làm thơ, viết tùy bút chẳng hạn thì có thể tự cho phép mình bay bổng hơn…

 

Hỏi: Lượng độc giả yêu thương và dõi theo bác gồm mọi lứa tuổi, từ thanh thiếu niên, trung niên và cao niên. Viết cho mỗi lứa tuổi là một cách hành văn khác nhau, phải luôn thay đổi, làm mới cho phù hợp với nội dung. Làm sao bác có thể “phân thân” mình được như vậy? 

BS ĐHN: Thường tôi không viết theo sách vở mà theo trải nghiệm của riêng mình. Như khi viết cho tuổi mới lớn thì vì tôi cũng vừa trải qua tuổi mới lớn; khi viết cho các bà mẹ về chăm sóc nuôi dạy con thì vì tôi đã có vài ba nhóc tì; viết cho tuổi gió heo may vì tôi đã hườm hườm, còn viết cho tuổi già vì tôi đã bắt đầu thấy mình gần… khú! Tóm lại, phải có kinh nghiệm bản thân rồi mới chia sẻ được chứ phải không? Do vậy, tôi viết với sự chân thành và thấu cảm, không “làm văn chương” nên bạn đọc của tôi khi đọc thấy có mình trong đó. Mỗi khi viết, tôi thấy mình không phải… viết mà đang trực tiếp được trò chuyện, trao đổi với người đọc của mình.

 

Hỏi: Có bao giờ bác cảm thấy mệt mỏi, như mình không muốn viết nữa, hay những gì viết ra chỉ để “cất cho riêng mình một chút thôi vấn vương gió mây hoài niệm”, không muốn sẻ chia, dù rằng bác đã viết “sẻ chia, ấy chính là hạnh phúc”? Trong trường hợp đó, động lực nào thúc đẩy bác vượt qua giai đoạn ấy?

BS ĐHN: Dĩ nhiên có lúc mệt mỏi chứ. Tôi phụ trách trang mục “Phòng mạch Mực Tím” báo Mực Tím của tuổi mới lớn hằng chục năm trời, mỗi tuần nhận cả đống thư các em gởi về (hồi đó toàn viết tay rất dễ thương). Sau tôi đầu hàng. Phải nhờ một đồng nghiệp trẻ thay thế. Vả lại, càng về sau, các em càng hỏi những điều “trời ơi” tôi không trả lời nổi. Sau đó tôi giữ mục “Thư gởi người bận rộn” trên báo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần cũng được vài ba năm, rồi mục “Gia đình vui khỏe” trên báo Phụ nữ TP.HCM cũng được vài năm… Viết báo, với tôi là một cách giữ cho mình một “áp lực” thường xuyên, không để cho mình làm biếng. Nhưng viết hoài cũng oải chứ. Oải quá thì nghỉ. Vậy thôi. Động lực nào ư? Có người đọc là vui rồi. Vả lại, cái nghề thầy thuốc của tôi, mệt cũng phải… làm mà!

 

Hỏi: Dù biết trên đời này không có gì là hoàn hảo, nhìn lại quãng thời gian đã qua, có khi nào bác cảm thấy hối tiếc vì một việc nào đó mà mình chưa hoàn thành trọn vẹn, hoặc kết quả không như ý?

BS ĐHN: Tôi không đặt nhiều kỳ vọng, mục tiêu gì cao vời cho mình cả. Tôi thường lững thững, đôi khi lang thang và chấp nhận mình như mình. Vậy vậy thôi. Ngay từ hồi trẻ, tôi vừa thích “làm bác sĩ” lại thích làm nhà văn, nhà giáo… nên vừa học y khoa lại vừa học văn khoa, vừa học xã hội học ở… 3 trường đại học khác nhau. Tôi “học cho đã” và thấy vui trong việc học. Bây giờ tôi vẫn cứ còn mê học. Có cơ hội thì học. Tôi chủ trương dạy học, viết lách cũng chính là để học. Còn thế nào là “hoàn thành trọn vẹn, kết quả như ý” thì quả thật tôi… không biết.

 

Hỏi: Ngày càng có nhiều cây bút trẻ xuất hiện trên văn đàn, với nội dung tác phẩm na ná nhau về các vấn đề hiện nay trong xã hội (như đồng tính, yêu người đã có gia đình, những bế tắc, sự thất vọng, buồn bã trong cuộc sống dù họ còn khá trẻ), bác nghĩ sao về vấn đề này?

BS ĐHN: Tôi chấp nhận và tôn trọng điều đó. Chính vì “họ còn khá trẻ” nên họ thấy những điều mà tôi không thấy. Thời nào cũng vậy. Có người trẻ và có người già. Họ nhìn, họ thấy, họ nghĩ, họ cảm khác nhau chớ sao. Văn hoá nền cũng khác nhau, môi trường xã hội và thiên nhiên cũng đã thay đổi. Điều đó càng làm phong phú thêm cuộc sống. Các nhà văn trẻ có những vấn đề thời đại của họ. Họ phản ánh nó qua văn chương là điều đáng quý. Quan trọng là cần có giọng điệu riêng, bản sắc riêng của mỗi người. Do vậy họ phải tự đào luyện không ngừng và có một không gian để thể hiện và chia sẻ. Họ cần tự do và cô đơn.

 

Hỏi: Là người hiểu nhiều, đọc nhiều, bác có yêu thích tác giả nào không? Vì sao? Nếu có, cách viết của bác có bị ảnh hưởng bởi họ không? 

BS ĐHN: Tôi đặc biệt quý mến Nguyễn Hiến Lê. Dù không học trực tiếp với ông ngày nào, tôi vẫn coi ông là thầy mình. Cách viết của ông trong sáng, giản dị. Viết từ trải nghiệm, không lý thuyết viển vông. Còn dịch, ông nói phải dịch sao cho người đọc không thấy dấu vết dịch, nghĩa là phải thật thấu hiểu, thật nhuần nhuyễn cả hai nền văn hóa, ngôn ngữ. Ông làm việc nghiêm túc, khắc kỷ, đọc sách lúc nào cũng có cây viết chì trên tay. Ông nói: viết là để học và học là để viết. Muốn “học” một điều gì cho thấu đáo thì hãy “viết” về nó. Tôi cũng thấy vậy. Viết sách hay dạy học… với tôi đều là những cơ hội tốt để học tập, rèn luyện, thể nghiệm, chia sẻ. Tôi cũng đặc biệt thích André Maurois và Lâm Ngữ Đường… Tôi thấy hình như họ hạp với cái tạng của mình. Dĩ nhiên tôi viết theo cách của riêng tôi.

 

Hỏi: Bác có hài lòng với cuộc sống hiện tại? Hạnh phúc vẫn luôn hiện diện xung quanh bác chứ? Bác có thể bật mí những dự định sắp tới của mình? 

BS ĐHN: Tôi cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại, bởi “dĩ vãng đã qua rồi, tương lai thì chưa tới”. Hiện tại là món quà của cuộc sống. Trong tiếng Anh có một từ dễ thương, đó là “present”, cùng lúc có ba nghĩa: hiện tại, sự có mặt, và món quà. Sống trong hiện tại, ở đây và bây giờ, là sống trong hạnh phúc. “Hạnh phúc rất đơn sơ” như một nhà thơ đã nói. Đơn sơ nhưng không dễ thấy biết. Phải khám phá. Nó như một bí mật, chập chờn, khi ẩn khi hiện quanh ta, nên phải biết khám phá. Nhiều khi phải nhìn một cách khác, phải nghe một cách khác, phải nếm ngửi một cách khác… Quyết tâm tìm kiếm nó, lùng sục nó… thì nó biến mất. Nó thường gặp gỡ, vui đùa với trẻ thơ, nên em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh (Trịnh Công Sơn) là vậy.

Sài Gòn, 25/10/2011(trang 95- trang 99)

Phạm Bảo Hồng (thực hiện) 

 

Và đây là bài trả lời vừa khéo, vừa hấp dẫn nữa, tại Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khoẻ, Tp HCM (2010):

 

“Biết tôi sắp thôi làm việc ở trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe TP.HCM sau 25 năm công tác tại đây, các bạn trẻ của Trung tâm đã có sáng kiến tổ chức một buổi giao lưu thân mật giữa “thầy-trò” với nhau vào dịp cuối năm. Chủ đề buổi giao lưu hoàn toàn mở rộng. Các em có thể đặt bất cứ câu hỏi gì về chuyện đời, chuyện nghề, chuyện tình…

Để giúp các em “mạnh dạn” đặt câu hỏi, tôi đề nghị hỏi bằng giấy và nặc danh…

 

Hỏi: Thầy ơi, cho con hỏi ước mơ của thầy bây giờ là gì? 

BS ĐHN: Hơn hai ngàn năm trước, Khổng Phu Tử có lẽ cũng khoảng tuổi thầy bây giờ, một hôm dẫn các đồ đệ đi tắm sông, một đồ đệ hỏi: Thầy ơi, cho con hỏi ước mơ của thầy bây giờ là gì? Khổng Tử cười bảo ước mơ của ta bây giờ là dẫn tụi con đi tắm sông!

Dĩ nhiên thầy không phải là… Khổng Tử, nên ước mơ của thầy là… dẫn tụi con đi chơi núi Thị Vải, ở đó có một con đường đèo đẹp như Đà Lạt, dẫn xuống một cái dốc sâu rồi đi vào khu rừng có một con suối róc rách gọi là Suối Tiên – cẩn thận đó, đừng tắm lâu quá sẽ biến thành trẻ con đó nghe! Quanh đó còn có những ngôi chùa cổ dưới những tàng cây… (Cho con đi với, cho con đi với, nhiều cánh tay đưa lên…).

Dĩ nhiên thầy cũng ước mơ được truyền trao kinh nghiệm sống, kinh nghiệm học tập, kinh nghiệm làm việc cho các bạn trẻ… nếu họ muốn. Thầy ra trường đã hơn 40 năm, làm ở phòng cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn (Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP.HCM) 16 năm nên đã tập một thói quen rất chính xác về giờ giấc. Ở phòng cấp cứu nhi, trễ một phút đã có thể gây chết người. Cho nên phải quý từng giây phút. Hôm nay chúng ta đã bắt đầu trễ 10 phút rồi đó. Thầy làm ở cấp cứu ngày nào cũng thấy trẻ con chết, nhiều cái chết rất “vô duyên” vì có thể phòng tránh được. Chẳng qua vì thiếu kiến thức, vì mê tín dị đoan, cho nên thầy tình nguyện về công tác ở Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe này tới nay đã 25 năm! 25 năm, thời gian khá dài đó chứ. Hồi thầy về đây, mẹ QA mới sanh QA vài tháng, mà nay QA đang ngồi đây với chúng ta, làm việc cùng chúng ta rồi đó! Tụi con đang làm trong một ngành thấy như không có gì… hấp dẫn như trong bệnh viện nhưng thật ra có ích cho đời sống, nhằm nâng cao dân trí, làm cho người dân hiểu biết để tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe của mình, giảm bệnh tật và tử vong, nhất là cho trẻ con… Ngành của ta có lợi ích rất lớn mà nhiều khi không thấy hết. Một bài báo có hàng trăm ngàn người đọc, một chương trình truyền hình hàng triệu người xem. Tác động lớn lắm, nên ta phải hết sức thận trọng trong từng thông điệp, không thể coi thường.

 

Hỏi: Thầy ơi, tuổi trẻ của thầy khác gì tuổi trẻ tụi con bây giờ? Theo thầy trong cuộc sống, điều gì là quan trọng đối với thầy? 

BS ĐHN: Tuổi trẻ thời nào cũng giống nhau, cũng đầy nhiệt huyết, năng động, lý tưởng, nhiều hoài bão, ước mơ. Nhưng hình như thời của thầy sống đơn giản hơn, nhiều lý tưởng hơn, lãng mạn nhiều hơn. Con người bây giờ tất bật mà hạnh phúc hiếm hoi, lúc nào cũng căng thẳng, thậm chí trong những tình huống không cần thiết như những va chạm lặt vặt trong mối quan hệ làm việc. Chúng ta biết quá nhiều chuyện xa vời, chuyện trên cung trăng, nhưng bản thân mình thì ít biết, bạn bè xung quanh cũng ít biết nhau vì ta không quan tâm, lơ là. Thử hỏi phòng con đang ngồi làm việc có bao nhiêu cửa sổ, cầu thang lên tầng 1 này có bao nhiêu bậc, chưa chắc con đã biết. Tại sao? Tại không quan tâm. Chúng ta sống bên nhau trong một cơ quan làm việc hằng ngày gặp nhau 7 – 8 giờ mà như xa lạ, không hiểu tâm ý nhau, dễ căng thẳng, thấy ai cũng toàn tính xấu… Thử nhìn một cách khác xem, chẳng hạn lấy giấy ghi ra những… tính tốt của kẻ mà mình không ưa…

Trong cuộc sống, điều quan trọng nhất có lẽ là thấy mình sống có ích, sống hạnh phúc và sống thảnh thơi. Có lúc thầy cũng được mời vào vị trí này khác, nhưng thầy đều từ chối, vì chỉ muốn làm điều mình thích, trong khả năng mình, nhờ vậy mà làm việc gì cũng thấy vui, thấy hăng say. Một người làm việc trong tinh thần bất mãn, không hài lòng với chính mình, căm ghét những người xung quanh hoặc làm việc chỉ vì sợ hãi, vì kiếm sống, vì đồng lương thì rất dễ so đo tính toán, thiếu nhiệt tâm, thiếu sảng khoái… và công việc được giao trở nên một gánh nặng…

 

Hỏi: Thưa thầy, em rất khâm phục sức lao động miệt mài của thầy trong suốt hơn 50 năm qua (em lấy tuổi thầy trừ khoảng gần 20 năm tuổi thơ của thầy để đề ra tuổi nghề). Thầy làm thế nào để có được một sức khỏe dẻo dai, một tinh thần vững chãi cũng như một tâm hồn trẻ trung để sống và làm việc trong bao nhiêu năm như vậy?

BS ĐHN: Thực ra chính hai mươi năm đầu đó mới là bệ phóng, định hướng cho tương lai ta. Thầy sớm mồ côi cha, 12 tuổi vào ở trong chùa với người cô. Cô thầy bị tật hai chân không đi lại được nhưng rất mê đọc truyện, tiểu thuyết. Cô thường bắt thầy đi mướn truyện ở ngoài phố và cấm thầy đọc truyện vì nghĩ con nít đọc truyện không tốt, sợ mê, phải để thì giờ lo học. Nhưng khi đi mướn truyện như vậy thầy tranh thủ đọc dọc đường, có khi ngồi ở gốc cây mà đọc, có khi đang đi trên thuyền qua sông cũng đọc. Hết cuốn mới đem về cho cô. Cũng có lúc trùm mền mà đọc lén nữa! Nhờ vậy thầy ngốn hết truyện Tàu, Tự Lực Văn Đoàn, kiếm hiệp, tiểu thuyết trinh thám, tình cảm… không chừa thứ nào. Nhờ vậy truyện xưa tích cũ, đông tây kim cổ gì cũng biết. Dĩ nhiên sau này thì đọc có chọn lọc, nghiên cứu sâu hơn, nhưng cái tính ham đọc, ham học đã sẵn có. Không ai thành công mà không tự học. Học ở trường không đủ đâu. Thầy thấy thói quen đọc sách rất có lợi cho thanh niên. Phải đọc, vì đó là túi khôn của muôn đời. Đọc các danh gia ngày xưa ta như được sống cùng họ, trò chuyện cùng họ, làm bạn với họ chẳng thú sao? Sau này, thầy đọc sách Nguyễn Hiến Lê, học với ông, nào Tự học để thành công, Tương lai trong tay ta, rồi nào Gương danh nhân, Gương chiến đấu, Gương kiên nhẫn… nó rất cần thiết cho thanh niên. Tóm lại thầy học qua sách nhiều lắm. Bây giờ ít thấy bạn trẻ đọc sách, mê sách. Họ để thì giờ lên mạng, chơi games, đi shopping, ngồi quán cà phê, tán gẫu… nhiều hơn. Sinh viên không đọc sách văn học, học y mà không đọc Cronin, Somerset Maugham, Chekhov, Lỗ Tấn thì uổng quá! Tâm hồn sẽ cằn khô đi và chỉ còn biết kỹ thuật, dễ trở thành máy móc, lạnh lùng, vô cảm. Tụi con thử đọc Liêu trai chí dị, đọc 24 giờ trong đời một người đàn bà xem… hoặc đọc Alexis Zorba, Câu chuyện dòng sông… xem. Dĩ nhiên ta không bỏ qua những sách viết ở thời đại ta. Nhờ đọc, kiến thức ta mới mở rộng, cảm thức nghệ thuật được nâng cao, cuộc sống thêm hạnh phúc, nhưng quan trọng hơn ta hiểu được con người, ta nuôi dưỡng được tình người…

Còn để có một sức khỏe dẻo dai thì phải rèn luyện thôi. Cách đây hơn mười năm, thầy bị một cơn tai biến mạch máu não nặng, mổ cấp cứu, đục sọ, đặt hai ống dẫn lưu. Tưởng đã hết đi hết nói được nữa rồi. Sau mấy ngày nằm liệt giường, khi đi được vài bước lẫm đẫm như em bé, thầy thấy quả là một phép lạ, một hạnh phúc rất tuyệt vời! Khi đứng được trong toilet như mọi người quả là một hạnh phúc lớn. Thầy nhìn vào gương soi, thấy cái đầu trọc lóc… dễ thương của mình và liền lấy viết vẽ mấy tấm hình thú vị! Sau đó thầy nghiền ngẫm thực tập phương pháp thở bụng, thiền… để dần dần hồi phục sức khỏe. Thầy rút kinh nghiệm bản thân và chia sẻ với bạn bè, viết vài cuốn sách như Nghĩ từ trái tim, Như thị, Gươm báu trao tay… Vừa rồi, thầy mới nói chuyện về “Thiền và Sức khỏe” cho các nhà doanh nghiệp trẻ do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức, rồi năm kia cũng nói chuyện về đề tài này tại chùa Từ Đàm, rồi ở Nha Trang trong tuần Văn hóa Phật giáo, thỉnh thoảng thầy cũng được mời nói chuyện với các bác sĩ về “quan hệ thầy thuốc bệnh nhân”, với các nhà báo, thầy cô giáo về cách giảm stress trong nghề nghiệp… có khi nói chuyện với phụ huynh học sinh về giáo dục giới tính cho con em v.v. (hôm nào thầy nói về thiền cho T4G một bữa nha thầy!).

Rèn luyện thân thể phải gồm cả việc nghỉ ngơi, ăn uống, thể dục, thiền… một cách toàn diện. Quan trọng là giữ tâm hồn thanh thản. Việc làm có phù hợp, đúng sở thích thì mới làm hăng say, bền bỉ được.

 

Hỏi: Thầy cho con hỏi làm sao để mình tăng tính kỷ luật với bản thân để làm tốt công việc? Vì con biết kẻ thù lớn nhất của đời mình là chính mình… 

BS ĐHN: Phải có ý chí và nghị lực thôi. Nghĩa là cũng phải rèn luyện. Thầy nhớ hồi trẻ mình rèn luyện bằng cách đọc cuốn Bảy bước đến thành công, Rèn nghị lực để lập thân chẳng hạn, rất có ích. Nhưng không chỉ đọc, chỉ học mà phải hành. Có khi phải khắt khe với mình một chút. Nghị lực sẽ tăng tiến dần. Và từ đó mình mới tự tin hơn. Loại sách này ngày nay cũng có rất nhiều. Phải biết chọn lựa để đọc, không thì dễ bị “tẩu hỏa”!

Đừng bao giờ coi mình là kẻ thù của mình. Hãy biết yêu thương mình, cho nó ăn, cho nó ngủ, và dạy dỗ nó. Nó có hư thì đánh nó vài roi, rồi thương nó nhiều hơn. Một người mà không thể từ bi với chính mình thì làm sao có thể từ bi với người khác được?

 

Hỏi: Thầy nghĩ thế nào về tiền tài và danh vọng?

BS ĐHN: Tiền rất cần cho cuộc sống. Nhưng biết đến đâu là đủ thì phải có ý thức, biết tự hạn chế, không chạy theo đồng tiền, nhất là đồng tiền phi nghĩa. Sự giàu có do đồng tiền phi nghĩa không bền vững, gia đình có thể đổ vỡ, con cái hư hỏng nữa. Phải chọn lựa. Kiếm tiền chính đáng, tiêu dùng chính đáng thì sẽ có được hạnh phúc. Người giàu có là người ít nhu cầu chứ không phải nhiều tiền, vung tiền qua cửa sổ. Bây giờ nhiều bạn trẻ ỷ lại cha mẹ, chạy theo hàng hiệu, rượu, thuốc… tốn kém thật đáng tiếc. Danh vọng cũng vậy. Cũng cần thiết, nhưng phải chính đáng, và phải biết dừng lại đúng lúc, lui về đúng lúc. Nếu danh vọng xây trên năng lực thực sự của mình thì là điều đáng mừng. Còn “danh vọng” mà xây trên một cái nền giả tạo rất dễ sụp đổ.

 

Hỏi: Thưa thầy, là thanh niên thế kỷ 21, theo thầy, mỗi buổi sáng / buổi chiều (sau giờ làm việc) điều gì nên nghĩ đầu tiên và cuối cùng trong ngày? Cảm ơn thầy. 

BS ĐHN: Kahlil Gibran có hai câu thơ dễ thương: ”Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta được thêm ngày nữa để yêu thương”. Ngày nữa để yêu thương, thấy chưa, chớ không phải ngày nữa để oán thù, căm giận. Dù ở thế kỷ nào đi nữa, mỗi sớm mai thức dậy cũng nên “cảm ơn đời” đã cho ta một ngày mới, một ngày mới để yêu thương! Dĩ nhiên thanh niên phải rèn luyện thể lực. “Bắp thịt trước đã”, có một cuốn sách như vậy. Thanh niên mà đi đứng co ro, lụm cụm, bụng to, thịt nhão, sáng sáng ngồi đốt thì giờ trong quán cà phê nhả khói mù trời thì thật đáng tiếc. Một tâm hồn minh mẫn trong một thân thể tráng kiện, nhớ không? Sau đó phải thực hiện cho được những dự định đã vạch ra từ… ngày hôm trước. Dĩ nhiên phải chọn ưu tiên, linh hoạt. Cái nào phải làm, cái nào nên làm. Vui mà làm, thích mà làm. Hòa mình với bạn bè chung quanh. Buổi chiều, buổi tối, là cơ hội học tập thêm. Nhiều thứ cần phải học lắm. Ngoại ngữ, vi tính, kỹ thuật chuyên môn. Rồi học một thứ để nuôi dưỡng tâm hồn: văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, hội họa… ngay cả làm bánh, nấu ăn, cắm hoa… Một giấc ngủ êm đềm sẽ đến thay vì nhậu nhẹt ở quán bia ôm để rồi sáng mai dậy trễ, uể oải và nhìn mọi người với ánh mắt… mang hình viên đạn!

 

Hỏi: Thưa thầy, kinh nghiệm của thầy khi đi nước ngoài, bài học thầy áp dụng vào ngành truyền thông – giáo dục sức khỏe của Việt Nam? 

BS ĐHN: Thầy không có nhiều dịp đi nước ngoài, nên mỗi dịp đều là một cơ hội tốt để được học thêm và rút kinh nghiệm đem về áp dụng những điều hay. Lần nào thầy cũng mang về một lô sách và tài liệu để sử dụng cho ngành mình và kể cả về đào tạo y khoa, như lần dự hội nghị về “Đào tạo chuyên viên phát triển sức khỏe” của WHO tại Ai Cập. Thầy đã tham gia trong nhóm sáng lập Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ Y tế Thành phố Hồ Chí Minh. Nhờ thời gian tu nghiệp ở Đại học Harvard, thầy về triển khai hình thành bộ môn Khoa học Hành vi & Giáo dục Sức khỏe cho trường. Lúc tu nghiệp ở CFES, Paris, thầy thấy họ làm nghiên cứu về Giáo dục Sức khỏe rất bài bản, dựa trên đó xây dựng các chương trình can thiệp có hiệu quả; khi về, thầy củng cố thư viện T4G, lập bộ phận tổ chức tư liệu (documentation) và đẩy mạnh các nghiên cứu khoa học trong lãnh vực giáo dục sức khỏe. Khi đi Ấn Độ dự Hội thảo quốc tế về HIV/AIDS thầy ứng dụng “truyền thông thay đổi hành vi” cho nhiều lớp huấn luyện theo phương pháp giáo dục chủ động, tạo tham gia… Tóm lại, học đối với thầy bao giờ cũng phải đi đôi với hành. Học mà không hành thì không thể nào “chín” được. Thầy cũng mong các em: đi học, nhất là du học không chỉ để lấy cái bằng cấp về treo, để “hù” thiên hạ…

 mà phải rút ra được bài học gì ứng dụng phù hợp vào hoàn cảnh nước ta với sự sáng tạo riêng của mình. Nhân dịp cũng nói thêm với các em rằng khi tiếp các đoàn chuyên gia quốc tế, đừng thụ động lo đối phó, lo trả lời những câu hỏi của họ đặt ra mà phải chủ động… đặt lại câu hỏi, đưa ra những ý tưởng của mình để tranh luận, từ đó mới có cơ hội học hỏi lẫn nhau…

 

Hỏi: Thưa thầy, trong thời gian 25 năm công tác tại T4G, điều gì làm cho thầy cảm thấy buồn nhất, điều gì làm cho thầy vui nhất? 

BS ĐHN: Vui nhất ấy là cho đến nay, ngành Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe đã trở thành một hệ thống – một mạng lưới rộng khắp trên cả nước, và có những con người thực sự yêu nghề, hết lòng với nghề, thấy được cái “y đạo” của nghề – thực hiện quan điểm phòng bệnh tích cực; vui nhất nữa là hiện nay có nhiều bạn trẻ được học bài bản về lãnh vực này, ngành Y tế Công cộng đã và đang phát triển. Tại T4G, như các em thấy, cũng đã có nhiều cán bộ trẻ xuất thân từ Y tế Công cộng. Còn buồn nhất là trên thực tế, ngành y tế nước ta vẫn lấy “điều trị làm chính”, vì điều trị mới mang lại nhiều tiền, danh vọng. Chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho dự phòng, trong đó có giáo dục sức khỏe, nâng cao sức khỏe. Nhiều cán bộ giỏi bỏ cuộc vì đời sống khó khăn, chạy về bệnh viện tư, về kỹ thuật cao hoặc làm dự án kiếm tiền nhiều hơn…

 

Hỏi: Trong suốt quãng đường thành công, thầy có mấy lần “vấp ngã” chưa ạ? 

BS ĐHN: Thầy không biết thành công hay vấp ngã là sao? Nhưng hình như sự thành công nào cũng là kết quả của 95% cố gắng và 5% may mắn, còn vấp ngã thì cũng là một cơ hội. Thầy được đi học rất trễ. Cha mất sớm, tản cư trên rừng về, thầy được người cậu dẫn vào cho học lớp Ba một trường tư, vài tháng sau, thầy giáo cho lên lớp Nhì, rồi lớp Nhất (lớp 5 bây giờ) ngay sau đó vì cho rằng đủ “năng lực”. Học trong chùa. Cuối năm thi đậu Tiểu học hạng cao, rồi đậu vào Đệ thất (lớp 6), được học bổng.

Đùng cái bỏ học, về quê, bán hàng xén ở chợ Lagi. Thất học ba năm. Khi tỉnh mới có lớp Đệ thất đầu tiên đặt trong một nhà thờ, thầy lại cắp sách đến trường. Thầy tổ chức tự học, học nhảy hai ba lớp liền, đậu Tú tài 1 và 2 rồi đậu vào y khoa. Miệt mài bảy năm (thời đó y khoa học bảy năm) ra trường với bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia… Vì thích ngành Nhi nên thầy làm nội trú ủy nhiệm vài năm liền ở Bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn, nhờ vậy mà có thể nói là một bác sĩ có kinh nghiệm về Nhi khoa. Thầy có cảm tưởng trong cái rủi có cái may, trong cái vấp ngã có cái mầm của sự… thành công. Vấp ngã, mình càng rèn chí, quyết tâm tự học, và may thay, đức tính này vẫn còn tới bây giờ. Tự học rất sướng các em ạ, vì học cho mình, không ai ép buộc mình cả. Nhưng tự học cũng phải có phương pháp. Thầy rất biết ơn ông Nguyễn Hiến Lê, tác giả cuốn Tự học để thành công. Thầy thấy những người thành công nói chung đều nhờ tự học. Abraham Lincoln, Benjamin Franklin… chẳng hạn, cũng là những tấm gương tự học. Ông Châu Trí quét lá đa ở chùa mà đỗ giải nguyên… Các sinh viên đậu thủ khoa ở các trường đại học bây giờ thường cũng là những em ở nhà quê tự học là chính, không học thêm, không kèm cặp gì cả! Thầy thích Nguyễn Công Trứ, lúc làm quan to, lúc làm lính thú đều… vui cả. Ông là một nhà nho khoáng đạt, một thi sĩ đích thực. Thầy cũng thích Tô Đông Pha nữa…

 

Hỏi: Suốt một đời sống và làm nghề, thầy còn đọng lại điều gì? 

BS ĐHN: Thầy sống theo một triết lý… thảnh thơi, có bạn bảo là hồn nhiên, ngây thơ nữa. Làm việc hơi tùy hứng, linh hoạt mà không theo một kế hoạch cứng ngắc… Bút hiệu từ nhỏ của thầy là Đỗ Nghê (ghép họ cha và họ mẹ) nhưng các bạn bảo nghe dễ thương vì có vẻ gì đó ngô nghê! Người cậu có ảnh hưởng nhiều nhất tới thầy có bút hiệu là Nguiễn Ngu Í. Ông tự cho mình luôn có những ý ngu! Là một bác sĩ Nhi khoa khá có tiếng tăm, bệnh nhân đông, muốn làm giàu không khó, nhưng thầy chỉ làm… vừa đủ. Vẫn luôn nhớ câu thơ của Nguyễn Công Trứ: Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc / Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn! (Biết đủ thì đủ, đợi đủ bao giờ cho đủ? / Biết nhàn thì nhàn, đợi nhàn bao giờ mới nhàn?) Nhỏ thì thích dấn thân, khi có tuổi thì thích an nhàn và về… già thì say mê nghiên cứu Phật học để ứng dụng vào đời sống, vào nghề nghiệp! Lúc còn là sinh viên y khoa, thầy đồng thời ghi danh học thêm Xã hội học và Văn khoa. Học nhiều mới đã, mới sướng! Bây giờ có tuổi cũng không biết mình già, vẫn còn ham học lắm. Chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn đàn em là mơ ước của thầy… vì đó cũng là cơ hội để học.

“Còn đọng lại điều gì” ư? Có lẽ là nỗi băn khoăn về sự phát triển của ngành Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe (health education), Nâng cao sức khỏe (health promotion) của mình. Ngoài chuyện lãnh đạo chưa nhận rõ vai trò của nó trong thời đại “nhiễu loạn” thông tin, gây hại sức khỏe cho con người, dẫn đến bệnh tật triền miên và phải liên tục mở bệnh viện để đáp ứng… còn là vấn đề nhân sự của ngành, vì không chỉ cần có kỹ năng, có học thuật mà còn cần đến tấm lòng, vì đó là con đường của y đức và y đạo.

 

Hỏi: Rung động đầu đời của thầy lúc thầy bao nhiêu tuổi?

BS ĐHN: Ồ, cái này nói nhỏ thôi nha! Thầy nhớ không lầm thì “rung động đầu đời” của thầy hồi đó, lúc thầy… tám tuổi! (Nhiều tiếng ồ, nhưng có một tiếng: hơi trễ đó thầy!). Quả là có hơi trễ. Con gái út của thầy nói nó… rung động đầu đời lúc ba tuổi! Thực ra tám tuổi là tuổi có hoạt động của kích thích tố sinh dục rồi, phân biệt trai gái rồi. Thầy nhớ hồi đó tản cư, học trong rừng, thầy giáo rất dữ, đánh học trò bằng roi mây, bắt quỳ xơ mít. Thầy giáo có thói quen bắt đứa học trò có lỗi nằm sấp trên bục, rồi kêu một học trò khác lên đánh ba roi. Có lần thầy được kêu lên đánh bạn như vậy, thầy đánh ba roi nhẹ hều nên bị bắt nằm xuống cho bạn đánh lại. Có lần thầy còn bị bắt quỳ xơ mít vì dám bắt chước thầy giáo gõ thước lên bàn để các bạn im lặng lúc thầy giáo đến trễ.

Gần trường có một con suối sâu. Trưa nào học trò cũng kéo nhau đi tắm suối. Trai gái đều tắm trần truồng cả. Riêng thầy, khi đang tắm mà trông thấy một cô bạn – chỉ cô bạn đó mà thôi – xuất hiện ở bờ suối thì thầy vội vàng chạy lên mặc quần áo lại ngay. Mắc cỡ! Cũng lạ! (cười ồ!). Nhưng phải nói là đến 12 tuổi thầy mới thực sự “mê” một cô trong lớp… Đó đúng là mối tình đầu. Trong một vài bài thơ của thầy còn nhắc đến. Cái thời đó, ở một thành phố nhỏ, học trò còn đi học với guốc xuồng lộp cộp trên vệ đường lót gạch… Nhà cô có tiệm chụp hình, trong tủ có chưng tấm hình cô ấy. Ngày nào thầy cũng phải qua lại ngắm một cái, mặc dù đã gặp nhau trong lớp. Lúc đi ngang nhà phải xách guốc lên, sợ lộp cộp cô bắt gặp! Khi thầy phải bỏ học, theo gia đình về quê, và bị thất học mất ba năm, mọi chuyện đã khác. Mấy năm sau, có dịp gặp lại, thầy viết trong một bài thơ: Em đến nắng vàng theo tóc xanh / Tôi nghe xa vắng vạn ân tình / Có gì vương víu trong hơi thở / Ơi những ngày xưa của chúng mình… Thơ xưa quá! Đã nửa thế kỷ rồi còn gì!

 

Hỏi: Thầy ơi, thầy tâm sự tiếp chuyện tình của thầy…

BS ĐHN: Thầy nghĩ tất cả đều có duyên số. Thầy gặp cô – vợ thầy – trong một tình huống cũng ngộ. Bạn thầy có người yêu tự nguyện làm em nuôi của thầy. Một hôm thầy theo bạn đến nhà cô chơi thấy cô đang ngóng một ai đó ở ngoài cửa. Thầy hỏi, cô nói “đợi má về”. Một lúc “má” về tới… Thì ra là một cô gái xinh xắn, có vẻ hiền lành, là chị ruột của cô, tại khó tánh nên các em trong nhà gọi là “má”… Thầy bị “choáng” và nhận ra đây là người mình tìm kiếm bấy lâu. (Thầy có gọi cô bằng má không vậy thầy?) Có, “Má sắp nhỏ”.

 

Hỏi: Thầy ơi, khi nào thầy sẽ hết yêu?

BS ĐHN: Không biết. Hình như người nào đã bắt đầu yêu hồi 8 tuổi thì sẽ hết yêu vào tuổi 88 thì phải?

(…)

2010

(trang 100 – trang 114)

 

Thay lời kết:

Trước tiên xin chân thành cảm ơn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tác giả cuốn “Chuyện Hồi Đó”cho người đọc già khú đế như tôi có dịp biết nhiều điều mà thế hệ tôi hồi còn nhỏ (chỉ nhỏ hơn tác giả vài ba tuổi) nhưng thú thật chúng tôi, những học trò tỉnh lẻ tuốt dưới Lấp Vò này, không biết chút gì về ngành y khoa mà tác giả đã học.

Thêm nữa, qua các cuộc trò chuyện với những câu hỏi rất khó của bạn đọc, của những người trẻ, của học trò nhưng tác giả đã thực lòng bày tỏ hết nỗi lòng của mình qua những câu trả lời rất rõ ràng mạch lạc khó có thể nào rõ ràng hơn và hay hơn thế được và có lẽ chính vì thế mà cuốn sách này vô cùng bổ ích và hấp dẫn là do vậy!

Hai Trầu

(Người đọc nhà quê già miệt ruộng Lấp Vò)

Houston, ngày 12 tháng 11 năm 2025.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

“TFS phóng sự” Chuyện hồi đó của một vị bác sĩ

12/09/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chân thành cám ơn Hoạ sĩ Hà Thảo và nhóm các bạn TFS đã có một “phóng sự” ngắn gọn, súc tích. ĐHN

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Giao Lưu-Ra Mắt Sách Chuyện Hồi Đó của Đỗ Hồng Ngọc (10.8.2025)

21/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Video Clip: Giao Lưu – Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ của Đỗ Hồng Ngọc (10.8.2025)

Nguyễn Văn Quyền:

Cám ơn Nguyễn Văn Quyền đã thực hiện Video Clip này.

Đỗ Hồng Ngọc.

(21.8.2025)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Vài hình ảnh Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ

13/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

Vài hình ảnh về buổi Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ

Thật bất ngờ. Buổi Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ của mình ở Đường Sách Saigon không ngờ mà đông vui đến vậy.

Tin thời tiết doạ sắp có bão, nhưng may quá, vẫn nắng đẹp.

Rất nhiều bạn bè y khoa của mình, Thân Trọng Minh, Nguyễn Chấn Hùng, Võ Văn Thành, Trương Xuân Liễu, Định, Hải Sơn, Quốc Việt, Trương Trọng Hoàng, Hải Ngươn… Ls Ngô Tiến Nhân, Cô Mỹ Yến SIY, Và các điều dưỡng ở Bệnh viện Nhi Đồng Saigon những năm 1960s thuở đó. Các “bạn đạo” trong Lớp Phật học & Đời sống, Nhóm học Phật chùa Xá Lợi… Hòa thượng Thích Thiện Đạo, Ni cô Phước Ngọc (đệ tử Ni Sư Trí Hải)… Các bạn văn: Ban Mai từ Quy Nhơn, Hồ Đắc Thiếu Anh, Hoàng Kim Oanh, Trương Văn Dân với Elena… và các bạn Quán Văn ở Sg,… các nhà báo Ngân Hà, Hồng Vân… Rồi những bạn từ các nơi xa, Đà Lạt, Vũng Tàu, Tuy Hoà, Đà Nẵng… cùng các độc giả nhiều thế hệ…

Thật vui phải không? Mình chỉ có thể nói lời chân thành cám ơn tất cả nơi đây.

Mình đã 86 tuổi rồi, hai chân đã bắt đầu lỏng lẽo, tay bắt mặt mừng… mà không sao tránh khỏi thiếu sót.

Tha cho nó đi nhe.

Chia sẻ vài hình ảnh coi vui thôi.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

Bs Nguyễn Chấn Hùng… Gs chuyên khoa đầu ngành về Ung Thư, hào hứng nhảy lên sân khấu giành làm MC kể chuyện… Ông Nguyễn Hiến Lê khuyên Gs nên viết Y học thường thức… như Đỗ Hồng Ngọc mới phổ cập được cho mọi người…!

Bs Thân Trọng Minh, chuyên khoa tim mạch, cùng khoá với mình ở Y khoa Đai học đường Saigon (1962-1969) là kịch tác gia, nhà văn với bút danh Lữ Kiều, người đã làm bìa tập Thơ TÌNH NGƯỜI của Đỗ Nghê, năm 1967, nhắc chuyện hồi đó…

 

 

 

Ls Ngô Tiến Nhân, trong Nhóm học Phật cùng mình ở Chùa Xá Lợi 10 năm nay nói về “Cách học Phật” của ĐHN.

 

 

Hoàng Kim Oanh, nhóm Quán Văn của Nguyên Minh… nhà văn, nhà báo,

nhà giáo…

 

Cô Ngọc Ngyuễn, đệ tử của cô Nguyễn Thị Oanh năm xưa, nói về những buổi học với Thầy Ngọc về Chăm sóc Sức khoẻ Ban đầu ở Khoa Công Tác Xã Hội, Đại học Mở Bán Công Thành phố HCM những năm 80s.

 

BS Vũ Hải Sơn cho biết anh là Sinh viên Y khoa cùng lớp vói Đỗ Châu La Ngà…

 

Các Cô Võ Kim Sa, Cầm, Nhung, Dung, Gấm… điều dưỡng cùng làm việc với ĐHN o BV Nhi Đồng Saigon trước 75 (sau này là BVNĐ 1 Tp HCM).

 

Hoà Thượng Thích Thiện Đạo… Viện chủ chùa Phi Lai Tuy Hoà, Phú Yên và chùa Phi Lai Đồng Nai.

Thân mến,

ĐHN

(11.8.2025)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Chủ nhật 10/08/2025: Có một buổi trò chuyện cùng Đỗ Hồng Ngọc ở Đường Sách.

04/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chủ nhật 10/08/2025:

Có một buổi trò chuyện cùng Đỗ Hồng Ngọc ở Đường Sách.

 

 

CHUYỆN HỒI ĐÓ
của Bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC

Tôi đã nhận được tập sách này đã một tháng nay do Bs. Ngọc riêng gởi, góc trang bìa sau ghi rõ Bản thảo 2025-Sách tặng, dày 930 trang. Tôi rất ngạc nhiên sao lại dừng ở chỗ “Bản thảo” nhưng vui vì thấy có lý, khi vừa nhận tin nhắn là sáng CN 10/8 này tại Đường Sách TP/HCM tổ chức ra mắt tập sách này và có buổi giao lưu của chính tác giả. Tôi càng tin mình nghĩ đúng, vì trước đó tôi đã coi đây với một nội dung không khác gì một tác phẩm Văn học đích thực. Và đúng vậy, Phanbook và Nxb Phụ Nữ nhạy bén đã thuyết phục được anh để chuyển qua xuất bản chính thức, dù còn 460 trang, để giới thiệu đến mọi người từng yêu mến Bs. Đỗ Hồng Ngọc qua trên 60 đầu sách đã xuất bản.

Đọc ở “Lời Ngỏ”, anh viết: “Tới một tuổi nào đó, người ta hay nói… chuyện “Hồi đó”. Và tiếp “mà chuyện gì Hồi Đó cũng hay, cũng đẹp, cũng ngon… hơn bây giờ”. Ồ, vậy là cái tựa tập sách Chuyện Hồi Đó không phải là Tập Hồi Ký, quá tinh tế, sâu sắc dù có nói về cuộc đời mình. Bs. ĐHN muốn tránh đặt “loại” cho tập sách này là Hồi ký đang lan tràn hiện nay… Anh coi đây là chuyện của mình -cũng đáng kể, đáng viết lại- Cái “Ngã” tích cóp to đùng 85 năm nay vậy. Cách phân trần dí dỏm nhưng đúng với tính cách khiêm nhường, chân thật của anh.

Tập sách (sơ thảo) gồm 7 chương và phần Phụ lục… Nội dung đã phản ánh những “cái đáng nhớ”, đáng trân trọng về bản thân, gia đình, bè bạn, quê hương… Những dấu ấn qua các tác phẩm văn học, những công trình nghiên cứu y học, Phật học… Đặc biệt, ở tập sách này đã hội tụ được những anh tài, trí thức học giả, nhà văn nổi tiếng đã nói về tác phẩm của anh… hiếm lắm!

Có thể nói Chuyện Hồi Đó, theo anh là những chuyện cũ, xưa, kể lại bởi một người có tuổi, già khú, có thể trong một buổi “trà dư tửu hậu” cùng bạn bè… hãy coi đây là một ghi chép (ký) theo thời gian. Bs. Ngọc vẫn băn khoăn dù danh chánh ngôn thuận tập sách đã có nhà xuất bàn làm bà đỡ là vui và tập sách xứng đáng với tư cách một tác phẩm, một công trình của một đời văn, một đời không mệt mỏi cho hoạt động khoa học…

*PHAN CHÍNH
La Gi – 6/8/2025

 

Vài cảm nghĩ về “Chuyện Hồi Đó” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Nhân ngày Ra Mắt Sách 10.8.2025 tại Đường Sách Tp.HCM) 

  • Thời gian có thể làm mờ nhiều thứ, nhưng lại khiến vài người, vài điều trở nên lấp lánh hơn. Có những mối duyên, càng lâu càng sâu và cũng có những câu chuyện, càng xưa càng đáng để kể lại. Nhất là những câu chuyện gắn liền với hành trình trưởng thành – những nơi đã đi qua, những người đã từng gặp, những nghề đã làm và cả những điều âm thầm đã góp phần tạo nên chúng ta của hiện tại.

Và đôi khi chúng ta chọn kể lại chuyện hồi đó không phải để níu giữ thời gian, mà như một cách để tri ân những điều đã nhận, những người đã tin yêu và đồng hành.

Và hôm nay, một buổi sáng cuối tuần đẹp trời chúng ta có dịp cùng nhau gặp gỡ và lắng nghe một vị bác sĩ, một người thầy, một nhà văn, người hành thiền đã đi qua hơn 85 năm cuộc đời kể về rất nhiều câu chuyện hồi đó đầy giá trị.

 

  • Hầu hết chúng ta đều biết đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ Nhi khoa có tiếng trong ngành, đồng thời cũng có một khoảng thời gian dài giảng dạy tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch TP.HCM.

Bên cạnh đó, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn là một cái tên quen thuộc với bạn đọc qua các đầu sách về sức khỏe, giáo dục, đời sống tinh thần như:          Viết cho những bà mẹ sinh con đầu lòng, Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, Già sao cho sướng? để có một tuổi già hạnh   phúc;  Thiền và sức khỏe; Một ngày kia … đến bờ; Buông; Khi người ta lớn; Ăn vóc học hay… Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chinh phục được mọi giới, mọi        lứa tuổi từ các em tuổi mực tím mộng mơ, sinh viên y khoa, các vị phụ huynh đến quý vị lão niên không chỉ bởi nội dung sách đa dạng mà trong         cách viết, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn nhẹ nhàng, hóm hỉnh, chân thành tạo cảm giác dễ chịu như một người bạn đang đối thoại trực tiếp với người  đọc.

Ở tuổi 85, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc một lần nữa trở lại cùng độc giả với tác phẩm mang tên Chuyện hồi đó. Cuốn sách không viết theo lối        hồi ký thông thường, mà tập hợp những câu chuyện bình dị, thấm đẫm chiêm nghiệm được chắt lọc qua năm tháng tác giả sống cùng văn học, y        học, Phật học và thiền định.

  • Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sẽ đưa độc giả theo từng trang sách về với những nơi ông đã từng đặt chân đến, những người đã từng gặp gỡ và trò chuyện, những điều đã được học và truyền dạy…

Trong cuốn sách này, ông dành hẳn một phần để nói về chuyện học nhưng không theo cách thông thường. Bác viết “Dạy để học” và “Đi để học”.         Hai cụm từ tưởng như đơn giản, mà thật ra là cả một quá trình khám phá: vì sao dạy lại là để học? Và bác đã “đi để học” như thế nào trong           hành trình làm nghề của mình?

Có lẽ, ở ngã rẽ chọn ngành nghề ban đầu,  người ta đều ít nhiều mang theo một chút mơ hồ, một chút tò mò, có người chọn nghề vì đam mê, có        người vì hoàn cảnh, cũng có người chỉ nhận ra ý nghĩa của con đường mình đi sau rất nhiều năm đã bước. Vậy ngày đó bác đã chọn và học              ngành y ra sao? Có khó khăn gì hay không? Và vì sao bác lại chọn khoa Nhi?

  • Bác giải thích thêm cho các độc giả về ý nghĩa của từ “Y đức” được không ạ? Và theo bác Y đạo – Y đức – Y thuật khác nhau như thế nào?  trong suốt nhiều năm làm nghề, bác không chỉ chữa bệnh mà còn rất kiên trì với một điều tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng nền tảng đó là thực hiện Chương trình Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu (Primary Health Care). Cụm từ này ngày nay được nhắc đến nhiều hơn, nhưng có lẽ không phải ai cũng hiểu đúng. Với bác, Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu thật sự là gì? Và bác đã từng góp phần làm gì để thực hiện cho chương trình này?
  • Có một câu nói nghe qua thì có vẻ nửa đùa nửa thật nhưng lại khiến người trong nghề y đôi khi phải ngẫm nghĩ: “Bác sĩ mà cũng bệnh à?” Ở vị trí là một bác sĩ, bác nghĩ thế nào về câu hỏi này? Và bác có thể chia sẻ thêm những trải nghiệm thực tế khi bác sĩ bệnh thì khác gì với mọi người?

Những tác phẩm của bác luôn cho thấy mối liên hệ bền chặt giữa nghề y và đời sống tinh thần. Vậy tất cả những trang viết về văn chương, thơ          ca, những bài học từ Thiền… có mối liên hệ như thế nào với nghề y của bác?

  • Có lẽ nhiều người từng là học sinh, sinh viên vào thập niên 80–90 vẫn còn nhớ một chuyên mục rất đặc biệt trên báo Mực Tím mang tên “Phòng mạch Mực Tím”. Ở đó, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc không chỉ là người giải đáp sức khỏe mà còn như một người bạn lớn nhẹ nhàng, thân tình. Thưa bác, cơ duyên nào đã đưa bác đến với chuyên mục đặc biệt này? Và trải nghiệm ấy đã để lại cho bác những điều gì đáng nhớ nhất không chỉ với tư cách một bác sĩ, mà còn là một người viết cho tuổi trẻ?
  • Bs Đỗ Hồng Ngọc không chỉ cầm ống nghe, mà còn cầm bút viết về sức khoẻ, về Phật học, về thi ca mà điều đặc biệt là dù viết gì, chữ của bác cũng khiến người ta thấy nhẹ lại, lắng lại, và đôi khi được “chữa lành”. Với bác, chữ nghĩa có phải cũng là một hình thức chữa lành không? Và bác bắt đầu hành trình viết như thế nào?

Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng ít nhất một lần tự hỏi: Giữa cuộc sống bộn bề và nhiều bất an này có hay không một con đường dẫn tới an             lạc? Là một người đã có quãng thời gian dài chiêm nghiệm từ y học đến Phật học, vậy theo bác liệu có một con đường an lạc thật sự? Và trong         nhịp sống hối hả ngày nay, bác nghĩ bước đầu tiên mỗi người có thể làm gì để tìm được sự an lạc, không chỉ cho thân mà còn cho tâm?

Hiện nay có một cụm từ thường hay được nhắc đến đó là “chữa lành”, đặc biệt là đối với người trẻ – những người thường xuyên đối diện với rất         nhiều áp lực và cần tìm kiếm các phương pháp “chữa lành” để hồi phục lại năng lượng cũng như tinh thần. Vậy theo bác có thể giúp “chữa lành”         cho người trẻ được hay không?

Là một người đã tự học, nghiên cứu, chiêm nghiệm và chia sẻ về đạo Phật rất nhiều. Vậy nếu trước một người muốn bớt đau khổ nhưng chưa           biết về đạo Phật, bác sẽ có lời khuyên như thế nào?

  • Tham dự buổi trò chuyện ngày hôm nay cũng có rất nhiều độc giả trẻ tuổi – những người đang trong hành trình chinh phục đam mê và sự nghiệp hay thậm chí cũng có rất nhiều người vẫn đang đi tìm niềm đam mê thật sự của mình. Điều đó đôi khi khiến người trẻ cảm thấy kiệt sức và hoang mang. Vậy bác có thể cho thế hệ trẻ một lời khuyên khi chọn và đi trên con đường nghề nghiệp của mình?

Những ai đã biết đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đều biết từ xưa đến tận bây giờ bác vẫn luôn cần mẫn và dành hết tâm huyết cho cả y học lẫn văn           chương và Phật pháp. Vậy bác có thể chia sẻ bí quyết để có thể cân bằng được nhiều việc như vậy không ạ?

Thảo Nguyên (theo Phanbook).

……………………………………

Vincent Ngô phỏng vấn Bs Đỗ Hồng Ngọc về cuốn sách mới: CHUYỆN HỒI ĐÓ

(Ghi chú: Vincent Ngô ở Úc về, hẹn Cafe với tôi ở Press Coffee Tp.HCM ngày 20.7.2025, lúc sách chưa kịp ra mắt. Buổi trò chuyện có ghi hình. Và anh mới gởi tôi clip video đặc biệt này do anh dàn dựng, thực hiện nhân dịp có buổi Ra Mắt Sách tại Đường Sách ngày 10.8.2025).

Cảm tạ Vincent Ngô.

Và xin chia sẻ đến bạn bè.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Vanvn: Bác sĩ – nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc bị nhầm lẫn và gán ghép trên không gian mạng

15/07/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Bác sĩ – nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc bị nhầm lẫn và gán ghép trên không gian mạng

Cập nhật ngày: 15 Tháng 7, 2025 lúc 11:34
https://vanvn.vn/ua-ong-chua-tien-si-ha-sao-khong-lam-mot-cai/

Vanvn- Cách đây hơn mười năm trên không gian mạng xuất hiện bài viết “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không ‘làm’ một cái”?, và mới đây nhiều trang cá nhân facebook dẫn lại. Bài viết ký tên Bs.ngoc làm nhiều người nhầm lẫn là của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, gây phiền phức cho ông. Ngoài ra, tên ông còn bị kẻ xấu gán ghép vào quảng cáo thuốc chữa tiểu đường, xương khớp rồi họ dùng cả manchette Báo Thanh Niên gắn vào đấy.

Bác sĩ – nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ nổi tiếng, có uy tín lớn. Ông sinh năm 1940 ở Phan Thiết, học tập và làm việc tại Sài Gòn từ trước năm 1975 đến nay. Ông còn là tác giả của nhiều cuốn sách về y học, tâm lý học được đông đảo bạn đọc yêu mến, đồng thời ông còn là nhà thơ với bút danh Đỗ Nghê.

Là một trí thức chuẩn mực, một con người hiền lành, nên văn phong trong bài viết “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không ‘làm’ một cái”? hoàn toàn không phải là tính cách và diễn ngôn của Bác sĩ – nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc. Ngay cả tác giả bài viết là bsngoc cũng đã đính chính trên trang cá nhân http://bsngoc.wordpress.com rằng, bài viết trên không phải của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, mong mọi người đừng hiểu nhầm.

Bài viết trên có toàn văn như sau:

 

““Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không ‘làm’ một cái”?

Tác giả: bsngoc (http://bsngoc.wordpress.com)

(bị nhầm là của Bs Đỗ Hồng Ngọc lan toả trên mạng).

“PGS-TS-BS” – đó là viết tắt của “Phó giáo sư – Tiến sĩ’ – Bác sĩ”. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh, đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh.

Ngày nay, cái bằng tiến sĩ như là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass để leo lên vị trí trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường Y.

Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê.

“Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không ‘làm’ một cái”? Anh bạn tôi hỏi.

Tôi ngạc nhiên về chuyện “làm một cái”. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu.

“Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu”.

Anh bạn tôi cười lớn nói: “Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi”.

Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.

TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ.

Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai.

Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.

Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới.

Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết.

Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày.

Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.

Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD,10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu.

Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền?

Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ.

Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta. Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền.

Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân

cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này.

Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hè Ngọc.

bsngoc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thư đi tin lại, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Nha Trang tháng 2-3/2025

11/03/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

Nha Trang tháng 2-3/2025

Mình mê xe lửa từ hồi nhỏ. Ở Phan Thiết thường lên Ga Mường Mán tót lên xe lửa vào Saigon. Quá dễ. Có Thẻ học sinh, còn được đi miễn phí. Bạn bè đưa nhau vào tận khoang xe, đợi còi rú lên, lăn bánh mới tạ từ… bịn rịn nhảy xuống xe như ngày xưa “người xuống ngựa kẻ dừng chèo…”. Thời chiến, xe lửa không chạy được, nhớ lắm. Khi có chuyến xe đầu tiên đi quãng ngắn từ Saigon lên Biên Hoà, Thủ Đức, qua Gò Vấp, Dĩ An thì mừng rơn. Mình viết ngay bài thơ Đi Cho Đỡ Nhớ lúc đó.

Lần nay quyết đi Nha Trang một chuyến bằng xe lửa. Khởi hành 26.2.2025 tại Ga Hoà Hưng, Saigon. Hẹn với mấy bạn… trẻ (nói nho nhỏ thôi, họ giận!): PB mới 74 tuổi, từng đi Myanmar học Thiền, tu hành miên mật, giữ giới,  ngồi thiền nghiêm chỉnh, bậc Sư. NTN, mới 71, “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”, và NVT cũng mới 71, “giang hồ nghĩa hiệp”, từng đi Kailash năm nào với NTB. Mình già nhất, mới lên 86, nên được các bạn thương quý…

Xe lửa đi Nha Trang bây giờ khá lắm, sạch sẻ, đúng giờ, thông bào tốc độ, thời tiết qua từng ga, có máy lạnh, có nước nóng pha trà… Dĩ nhiên là có restaurant…, couchette đang hoàng. Từ Saigon đi Nha Trang mất 8 tiếng, 50 km/ giờ, mình có thời gian để ngắm rừng thanh long Phan Thiết, Cà Ná biển xanh, quat gió Phan Rang, dừa Cam Ranh… Qua ga Mường Man, Tháp Chàm, Suối Kiết, Sông Pha… còn muốn gì nữa phải không? Nay mai có xe lửa đầu đạn như Nhật, 300 km/giờ, cái rẹt, chán chết.

Gởi bạn vài hình ảnh chuyến đi Nha Trang của mình mới rồi coi vui thôi nhe.

PB, NTN, ĐHN

Mỗi khoang có 4 giường, minh ưu tiên giường trệt, dĩ nhiên!

 

Trò chuyện rôm rả. Mình "thanh thủ" hỏi PB chuyện học Thiền ở Myanmar.

Đúng ngọ rồi, phải ăn thôi! Vào restaurant là tiện nhất. Mỗi người một dĩa cơm, cá nục chiên sốt cà. Có ớt rất ngon. NTN phải có lon bia. Mình “phấn đấu” uống được 20 ml thôi!

 

Xe lửa chạy rầm rầm, ngồi thiền thiệt khoái!

 

Cà Ná đây rồi!

Thăm các Sư ở Chùa Từ Đức, Cam Lâm.

 

 

 

 

Trên đường đi Hòn Bà, nơi có ngôi nhà cổ của Bác sĩ Yersin. Đường đi quanh co hiểm trở.

 

Đường lên Hòn Bà bị tắc, đang sửa, đành phải quay lại. Hẹn dịp khác.

 

Nha Trang đây rồi. Khu kiosque Bốn Mùa nay đã rất khác,

 

Caphê Hòn Chồng (1.3.2025). Mới được một cây gậy mây rất đẹp của TT mua cho. Hôm qua đến quán Bốn Mùa, lơ ngơ thế nào bị vấp té cái rầm, từ nay đành phải sắm gậy để đi. Mà chỉ thích gậy mây hay gậy tre quê mùa thôi. May TT tìm được cây gậy mây ở Chợ Đầm Nha Trang mang đến cho! Đa tạ.

 

Vậy nhe,

Chúc An Vui.

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon 11.3.2025)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Interim pages omitted …
  • Trang 42
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • VU LAN Bông Hồng Cho Mẹ
  • Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU
  • Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • đỗ hồng ngọc trong Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • Đồng xuân trong Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • Đỗ Châu Việt trong Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Minh Lê NT trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Đỗ Tú Quyên trong Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email