Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

CON ĐƯỜNG AN LẠC  Bài 7: SÁNG, TRƯA, CHIỀU, TỐI

22/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi

CON ĐƯỜNG AN LẠC 

Bài 7: SÁNG, TRƯA, CHIỀU, TỐI

Đỗ Hồng Ngọc

(translated by Nguyen Giac)

Kinh sách khuyên học Phật dù một câu một chữ cũng… quý!
Lục tổ Huệ Năng lúc còn gánh cũi trên rừng chỉ nghe người ta tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà hoát nhiên đại ngộ. Lại nhớ chuyện một thiền sư cho đệ tử mỗi một chữ “Vô” để làm “thoại đầu” mà thiền tập…
Các bậc tôn túc tự xưa đã đúc kết những câu những chữ chẳng đáng cho ta ngẫm ngợi đó sao?
Chẳng hạn “trà Tào Khê”, “cơm Hương Tích”, “thuyền Bát Nhã”, “ trăng Lăng Già” !

 

SÁNG: Trà Tào Khê

Huệ Năng từ phương Nam lặn lội đến Huỳnh Mai bái Ngũ tổ Hoàng Nhẫn. Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật chi ?” Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ông người Lãnh Nam quê mùa, ít chữ, làm sao kham làm Phật ?” Huệ Năng đáp: “Người có Bắc Nam chớ Phật tánh đâu có Nam Bắc. Kẻ quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác!” Hoàng Nhẫn giật mình. Cho xuống bếp… bửa củi, nấu cơm, giã gạo!

Không lâu sau đó, Ngũ Tổ gọi riêng truyền dạy cho, rồi trao y bát, lẻn đưa Huệ Năng xuống thuyền trốn về phương Nam xa xôi nơi có dòng suối mát Tào Khê tu tập. Huệ Năng trở thành Lục Tổ từ đó, ngày ngày uống ngụm trà Tào Khê, bắt đầu truyền thụ dòng Thiền “đốn ngộ”. Tâm truyền tâm. Bất lập văn tự. Kiến tánh thành Phật. Lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc.

Huệ Năng dạy học trò nghiêm khắc. Đệ tử từ xa tìm đến tham vấn, xin ấn chứng mà chưa tỏ ngộ, chưa thấy “bổn lai vô nhất vật”, chưa nhận ra “Thức tự tâm chúng sanh/ Kiến tự tâm Phật tánh”, còn loay hoay dính mắc mãi những đâu đâu thì thường bị quở phạt, trách mắng, cảnh tỉnh.

Một hôm có người học trò Vĩnh Gia Huyền Giác đến Tào Khê. Huyền Giác xuất gia từ nhỏ, tinh thâm Thiên Thai tông, nhờ xem Duy Ma Cật Sở Thuyết mà tâm địa bừng ngộ.
Gặp Huệ Năng, ông đi quanh ba vòng rồi chống tích trượng đứng yên.
Huệ Năng trách :
– Phàm làm Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?
Huyền Giác trả lời: Sinh tử sự đại/ Vô thường tấn tốc (sinh tử việc lớn, vô thường mau chóng, lễ nghĩa làm chi!).
Huệ Năng đáp :
Sao không nhận cái lý (thể) “Vô sinh” và thấu rõ (liễu) cái nghĩa “không chóng”.
Huyền Giác đáp: “Thể” tức vô sinh, “liễu” vốn không chóng.
Huệ Năng khen: Đúng vậy! Đúng vậy!
Thế rồi Huệ Năng cùng Huyền Giác đối đáp, càng lúc càng sôi nổi.
Đoạn, Huyền Giác xin kiếu về, Huệ Năng hỏi.
Về chóng thế sao?
Rồi, mời Huyền Giác ở lại Tào Khê với mình một đêm để cùng uống trà… mà đàm đạo!
Về sau, Huyền Giác viết Chứng đạo ca:
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân,
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân ?
Vô minh thực tánh tức Phật tánh,
Ảo hoá không thân tức Pháp thân.
(…)

 

TRƯA: Cơm Hương Tích

Hôm đó Duy Ma Cật tiếp Bảo Tích và năm trăm vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà viên ngoại- là những Bồ-tát tại gia tương lai- tại cái thất trống trơn của ông ở thành Tỳ-da-ly.
Giữa lúc mọi người đang sôi nổi hào hứng bàn những chuyện cao xa như hữu lậu với vô lậu, hữu vi và vô vi, sinh tử và niết bàn… thì Xá-lợi-phất, vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật, lên tiếng đưa mọi người về “mặt đất”: “Sắp đến giờ ăn rồi. Các vị Bồ Tát này sẽ ăn thức gì đây?”.
Duy-ma-cật: “ Xin đợi cho giây lát, tôi sẽ khiến quý vị được thứ thức ăn chưa từng có”.
Thức ăn chưa từng có ư? Với các vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà trưởng giả này thì cao lương mỹ vị có gì là lạ, tổ yến hồng sâm, nem công chả phượng có gì là lạ.
Họ háo hức chờ đợi Duy-ma-cật mang đến thứ thức ăn “chưa từng có”!

Thì ra… Duy-ma-cật mang đến một mùi hương! Một mùi hương thơm. Thứ “thức ăn” xin được từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích! Đó là một thứ “thức ăn” chưa từng có.
Duy-ma-cật liền nhập vào Tam-muội, dùng sức thần thông khiến cho đại chúng nhìn thấy về hướng trên, cách đây nhiều cõi Phật liên tiếp nhau như số cát của bốn mươi hai con sông Hằng, có một cõi nước tên là Chúng Hương, hiện có đức Phật hiệu là Hương Tích ngự tại đó. Nước ấy có mùi thơm bậc nhất đối với các mùi thơm của người ta và chư thiên ở các thế giới chư Phật mười phương. Khắp cõi ấy, mùi thơm tạo ra lầu gác. Người ta đi trên đất bằng mùi thơm. Các cảnh hoa viên và vườn tược đều bằng mùi thơm. Từ nơi thức ăn, mùi thơm bay tỏa ra khắp vô lượng thế giới mười phương.
Duy-ma-cật chỉ xin “chút xíu thức ăn thừa” của Phật Hương Tích để đãi các vương tôn công tử tại Tỳ-da-ly hôm ấy. Chỉ một chút xíu thức ăn thừa thôi nhé. Một chút thức ăn thừa thôi cũng đã là quá đủ, bởi thứ « thức ăn chưa từng có” đó là một thứ « vô tận hương » đến từ bên trong của người có giới đức. Chính là hương giới đức. Một thứ hương có thể “bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió”!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. “Hương” thơm đó phải được “Tích” chứa từ từ mới đầy dần lên được, mới sung mãn, mới tràn trề… mới “ngát hương”!

Nhờ giới đức, cõi Chúng hương đó của Phật Hương Tích chẳng cần phải thuyết pháp bằng văn tự mà chỉ dùng các mùi hương là đủ. Mọi chúng sanh nhờ hương giới đức mà đắc nhập luật hạnh. Bồ-tát ở cõi đó mỗi vị đều ngồi nơi cội cây thơm, nghe mùi thơm vi diệu kia mà thành tựu hết thảy các phép Tam-muội Đức tạng. Chẳng cần phải nói năng cho phiền hà, gây tranh cãi, hí luận. Bởi Giới là gốc. Có Giới thì có Định, có Huệ đó vậy.

 

CHIỀU: Thuyền Bát Nhã

“Bát Nhã” lúc nào cũng phải có… “thuyền”! Nhưng có lúc “bè” cũng được… Có lần Phật bảo các đệ tử: Qua sông rồi còn vát bè theo chi cho nặng!
Quán Tự tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã ba-la-mật-đa (Prajna Paramita) thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Bát Nhã luôn là Bát Nhã “Ba-la-mật”. Prajna paramita. Para: bờ kia, bên kia. Mita: đến. Paramita: là đến bờ kia, là “đáo bỉ ngạn”. Từ bờ mê qua bến giác.
Qua bờ kia thì “Độ nhất thiết khổ ách” được ư? Được. Với điều kiện hành thâm Bát Nhã. Thấy rõ năm uẩn đều Không. Chẳng những vậy, khi đã thấy không tướng, thực tướng vô tướng, đã sống với Bát Nhã, sống trong Bát Nhã thì… cái núi Tu Di to đùng kia có thể nhét vào hột cải, nước bốn biển mênh mông nọ có thể cho vào một lỗ chân lông… !
Một khi lý đã vô ngại thì sự vô ngại. Lý sự đã vô ngại thì sự sự vô ngại…

Nhưng, thuyền có đi thì có về, có qua thì có lại. Các vị Bồ-tát theo nguyện vì người mà nấn ná cõi Ta-bà, qua qua lại lại giữa đôi bờ. Thuyền thong dong qua lại mà cũng chỉ quanh quẩn ở lòng ta, tâm ta.

Con thuyền vẫn đi có khi trên dòng nước xuôi, có khi trên dòng nước ngược. Phải chèo phải chống. Không dễ mà lõng buông tay lái. Bố thí. Trì giới. Nhẫn nhục. Tinh tấn. Thiền định. Trí huệ.

Bát Nhã, Prajna, là cái Biết trước cái Biết. Pra là trước, Jna là biết. Cái biết trước cái biết là cái biết hiện tiền, biết “như thực”, không qua suy luận, phê phán, biện biệt. Cho nên nó đã là Trí chớ không còn là Thức nữa. Hay nói cách khác Thức đã chuyển thành Trí.

 

TỐI: Trăng Lăng Già

Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…” giữa đêm trăng Lăng Già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ tát.
Ấy bởi Phật đã thuyết giảng chân lý giúp cho mọi người chuyển hóa tâm thức, vượt ngoài tri thức lý luận, vượt cả tam-ma-địa thông thường để mà an trú trong Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, cảnh giới cao nhất, nhập vào Như lai tạng, bằng tự chứng tự nội…

Giữa đỉnh núi ở trên đảo Lăng Già khi nhìn những ánh trăng bập bềnh trên sóng nước, vỡ tan, vỡ tan theo từng con sóng, Phật đã cất tiếng cười to. Ánh trăng vỡ tan và gom tụ lại. Rồi vỡ tan, rồi gom tụ lại. Hoa đốm hư không. Dấu chân chim ngang trời. Bức tranh vân cẩu. Nó vậy đó. Thế giới muôn hồng ngàn tía cũng chỉ do tâm thức tạo ra. Nó như huyễn, nó như mộng, như bào ảnh, như sương mai, như ánh chớp… Bên dưới đó, là Như Lai tạng, là A-lai-da vẫn im ả, “như như bất động”. Chỉ có cái thức tâm phân biệt của ta quậy phá chính ta. Cái tâm thanh tịnh bổn nhiên kia vẫn im ắng. Không lay động. Vẫn bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Vì thức khởi mà sự sinh. Thế giới chỉ là tâm thức của chính mình. Chúng sanh là ảo vật do ảo thuật gia là ta vẽ bày để rồi tự mình phan duyên, dính mắc, khổ đau…

Bồ tát thấy biết như vậy, thấy biết nhứt thiết duy tâm tạo, thấy chúng sanh là ảo vật do chính mình tạo ra rồi thức tâm phân biệt, chấp trước mà khổ đau bèn nói thẳng cho mọi người cùng biết. Nói thẳng ra như thế mới là “lòng từ chân thật”, không giấu giếm, che đậy, không hù dọa, gạt gẫm nhau chi! Vì như huyễn, mà có lòng Từ. “Trí chẳng đắc có không/ Mà hưng tâm đại bi”.

Tâm bất sinh thì vô sinh. Vô sinh thì vô sự. Dứt mọi phân biệt của thức tâm thì không bị quậy phá nữa. Ở đó là Như Lai tạng. Nhất thiết chủng trí. Đại viên cảnh trí.
Thấy biết Như Lai, thì sống với Như Lai, sống trong Như Lai, sống cùng Như lai vậy.

(ĐHN)

 

 

…. o ….

 

A pocketbook for the elderly

A PATH TO PEACE & JOY

Chapter 7: MORNING, NOON, AFTERNOON, EVENING

 

By Đỗ Hồng Ngọc, M.D.

Translated by Nguyên Giác

 

The scriptures suggest that learning Buddhism, even a single sentence or word, is invaluable.

The Sixth Patriarch, Hui Neng, while carrying firewood in the forest, overheard people chanting the phrase, “Let your mind cling to nothing; then the mind of Nirvana will appear,” and he suddenly attained enlightenment. I also recall the story of a Zen master who instructed his disciple to meditate on just one word: “No.” This practice encouraged the disciple to observe the mind before any thoughts arose.

The esteemed elders of the past have distilled phrases and words that merit our thoughtful reflection. For instance: Tào Khê tea, Hương Tích rice, Bát Nhã boat, and Lăng Già moon.

MORNING: Tào Khê tea

Hui Neng traveled from the South to Huang Mai to pay his respects to the Fifth Patriarch, Huang Ren. The Patriarch asked, “Where do you come from, and what do you seek?”

Hui Neng replied, “I am a native of Lingnan. I have traveled a long distance to pay homage to the Master. My only desire is to become a Buddha; I do not seek anything else!”

The Patriarch said, “You are a rustic from Ling Nan, with little education. How can you become a Buddha?”

Hui Neng replied, “People have North and South, but Buddha nature has neither North nor South. This ordinary person is not the same as the Venerable, yet Buddha nature is not different!”

Huang Ren was taken aback. He instructed Hui Neng to go to the kitchen to chop wood, cook rice, and pound the rice!

Not long after that, the Fifth Patriarch summoned him privately for instruction, then bestowed upon him the dharma robe and bowl. He secretly took Hui Neng onto a boat to journey to the far South, where the cool Tào Khê stream awaited him for practice. Many years later, Hui Neng became the Sixth Patriarch. From that point on, the image of sipping Tào Khê tea each day came to symbolize the transmission of the Zen school of sudden enlightenment. This Zen method emphasizes a wordless transmission from mind to mind, teaching that one who perceives their true nature becomes a Buddha. It upholds No-thought as the central principle, identifies No-form as the true essence of all dharmas, and regards the mind anchored in No-abiding as the root of understanding.

Hui Neng taught his disciples with strictness. Disciples traveled from distant places to seek guidance and confirmation. However, those who had not yet attained enlightenment—who had not recognized that in the true nature there is not a single thing, had not yet realized that consciousness is the sentient beings arising in the mind, and that the direct perception that the original mind is Buddha nature—had not yet realized the way to separate from attachment were often punished, scolded, and warned.

One day, a man named Yongjia Xuanjue arrived in Tào Khê. Xuanjue had become a monk at a young age and was well-versed in the Tiantai sect. He had awakened to his original mind through the study of the Vimalakirti Sutra.

When he met Hui-neng, he circled around him three times and then stood still, holding his staff.

Hui Neng reproached him, “A monk must possess three thousand dignified manners and eighty thousand subtle virtues. From where do you come, Venerable, to be so arrogant?”

Xuan Jue replied, “Birth and death are significant matters, and impermanence is swift; what is the purpose of politeness?”

Hui Neng replied, “Why not accept the truth that nothing is truly born and grasp the meaning that there is nothing known as swift?”

Xuan Jue replied, “In essence, there is no birth, and understanding is not swift.”

Hui Neng exclaimed, “That’s correct! That’s correct!”

Then Hui Neng and Xuan Jue engaged in conversation, growing increasingly interested in each other’s thoughts. Eventually, Xuan Jue expressed a desire to leave, to which Hui Neng inquired, “Why are you leaving so soon?”

Hui Neng invited Xuan Jue to spend the night with him at Tào Khê to enjoy tea and discuss the Dharma.

Later, Xuan Jue composed the poem “Song of Enlightenment,” which consists of the following four lines.

The supreme learner is a contemplative individual, leading a life of non-action,

neither dispelling delusions nor pursuing the truth.

The essence of ignorance is, in fact, Buddha nature.

Illusions that lack a physical form are also the Dharma body.

 

NOON: Hương Tích Rice

That day, Vimalakirti welcomed Bảo Tích and five hundred princes, young masters, and sons of noble families—future lay Bodhisattvas—into his empty house in Vaishali.

While everyone eagerly engaged in discussions about profound topics such as the conditioned and the unconditioned, birth and death, and nirvana, Sariputra, the Buddha’s most astute disciple, interjected to ground the conversation, “It’s almost time to eat. What will these Bodhisattvas have for their meal?”

Vimalakirti said, “Please wait a moment. I will provide you unprecedented food.” Unprecedented food? For these princes, young masters, and sons of affluent families, what is so unusual about delicacies? What is so remarkable about bird’s nest, red ginseng, peacock spring rolls, and phoenix sausage? They eagerly awaited Vimalakirti’s arrival with this extraordinary food!

It turns out that Vimalakirti brought a delightful fragrance—a truly aromatic essence. The food was sourced from the Fragrant Land of the Fragrant Accumulation Buddha (Buddha Hương Tích). It was a type of food that had never existed before.

Vimalakirti then entered Samadhi, utilizing his supernatural powers to direct the assembly’s gaze upward, beyond countless Buddha lands, as numerous as the grains of sand in forty-two Ganges Rivers. There, he revealed a realm known as Fragrant Accumulation, where Fragrant Accumulation Buddha resided. This land possessed a scent more exquisite than that of any beings or devas in the Buddha worlds across the ten directions. Throughout this realm, the fragrance manifested as towering structures. People walked upon fragrant ground, and the flower gardens and groves were entirely composed of delightful aromas. The scent of the food permeated and spread throughout the countless worlds in the ten directions.

Vimalakirti requested only a small amount of leftover food from Fragrant Accumulation Buddha to entertain the princes and nobles in Vaishali that day. Just a small amount of leftover food was more than sufficient, for that extraordinary food emanated an endless fragrance from the heart of a virtuous person. It was the fragrance of virtue—a scent that could soar high, travel far, and defy the wind.

The fragrance of virtue cannot be acquired in a single day or through a brief session. This fragrance must be cultivated gradually, allowing it to fill, overflow, and become truly aromatic. Thanks to virtue, the Fragrant Accumulation Buddha’s Fragrant Land did not require written teachings of the Dharma; instead, it communicated through scents. All living beings, inspired by the fragrance of virtue, embraced the precepts and engaged in righteous conduct. The Bodhisattvas in that realm each sat beneath fragrant trees, inhaling the exquisite aroma, and achieved all the Samādhis of the Treasury of Virtue. There was no need for confusing, controversial, or trivial discourse, for the Precepts serve as the foundation. With the Precepts, one can attain both Samadhi and Wisdom.

 

AFTERNOON: Bát Nhã Boat

Prajna always requires a boat; however, sometimes a raft suffices. Once, the Buddha told his disciples, “After crossing the river, why carry the raft and make it heavy?

Avalokitesvara, when the Bodhisattva practiced the profound Prajna Paramita, realized that the five aggregates are empty and transcended all suffering and hardship.

Prajna is always Prajna Paramita. Prajna paramita. Para: the other shore, the other side. Mita: to arrive. Paramita: to arrive at the other shore. In this context, the Prajna boat transports practitioners from the shore of delusion to the shore of enlightenment.

Can one reach the other shore and eliminate all suffering? Yes, but only by deeply practicing Prajna. The practitioner comes to clearly understand that the five aggregates are entirely empty. Furthermore, when one perceives the formless—the true essence beyond form—and lives in accordance with Prajna, then even the immense Mount Sumeru can fit into a mustard seed, and the waters of the four vast oceans can be contained within a single pore. Once the principle encounters no obstacles, all things become unobstructed. When both principle and phenomena are free from obstruction, then all things are unobstructed.

But once the boat has departed, it will return, and once it has crossed over, it will come back. The Bodhisattvas, adhering to their vows for the benefit of others, remain in the realm of Samsara, traversing between the two shores. The boat leisurely moves back and forth, yet it also resides solely in our hearts and minds.

The boat continues to move, sometimes downstream and sometimes upstream. The practitioner must row and steer; it is not easy to relinquish control of the rudder. The practitioner must cultivate the qualities of generosity, adherence to precepts, patience, diligence, meditation, and wisdom.

Prajna is the Knowing before the known. Pra is before; Jna is to know. The knowing before the known is the present awareness—an understanding of reality as it truly is, free from reasoning, criticism, or discrimination. Consequently, it embodies wisdom and transcends mere consciousness. In other words, consciousness has evolved into wisdom.

 

NIGHT: Lankavatara Moon

Never before had the Buddha laughed so loudly, so heartily, and so powerfully, like a lion king in the middle of a full moon night in Lankavatara, surrounded by the lord of the island, Ravana, and his subjects, along with the presence of thousands of Bodhisattvas. The Buddha preached the truth to help people transform their consciousness, transcending theoretical knowledge and the common samadhi to reside in the Immovable Ground, the Good Wisdom Ground, and the Dharma Cloud Ground—the highest realm—entering the Tathagatagarbha through self-realization from within.

In the heart of the mountain peak on the island of Lanka, as he observed the moonlight dancing on the waves—breaking and reforming with each swell, Buddha laughed heartily. The moonlight shattered and coalesced, then shattered again, only to gather once more. All of this resembled flowers in the void, bird footprints tracing the sky, and a picture of clouds forming and dissolving. Such is the nature of existence. The world, with its myriad colors and shades, is solely a creation of the mind. It is akin to an illusion, a dream, a bubble, morning dew, or a flash of lightning. Beneath this surface lies the Tathagatagarbha, the Alaya, which remains serene “as it is, motionless.” Only our discerning consciousness disturbs us. That pure and natural mind remains still—unmoved, unborn, undying, unstained, unpure, unincreasing, and undiminishing.

Because consciousness arises, phenomena manifest. The world exists solely within our own consciousness. Living beings are illusions conjured by the magician—ourselves—where we create conditions, cling to them, and ultimately suffer.

Bodhisattvas perceive and understand in this manner: they recognize that everything is a creation of the mind and that living beings are illusions we create ourselves. The mind then discriminates, clings to these illusions, and experiences suffering. Therefore, they communicate this truth directly to everyone. Such direct communication embodies true compassion—free from concealment, deception, or intimidation. When practitioners recognize the illusory nature of existence, compassion naturally arises. Furthermore, because wisdom does not cling to either existence or non-existence, profound compassion emerges.

When the mind is at rest, afflictions cease to exist, and consequently, obstacles are eliminated. When all mental discriminations are halted, disturbances will no longer occur. Within us lies the Tathagatagarbha, the seed of wisdom encompassing all dharmas, and wisdom resembles a round, full, and boundless mirror.

Seeing and understanding the Tathagata in this way, one lives with the Tathagata, lives in the Tathagata, and lives alongside the Tathagata.

Do Hong Ngoc. MD

(Translated by Nguyen Giac)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 8: Ăn là chuyện của tâm hồn

22/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Bài 8: Ăn là chuyện của tâm hồn

Đỗ Hồng Ngọc

(translated by Nguyên Giác)

Lý Lạp Ông, một triết gia Trung quốc thế kỷ thứ 16 viết trong Nhàn tình ngẫu ký: “Xét cơ thể con người, chỉ có hai cơ quan không cần thiết chút nào cả mà Trời phú cho là cái miệng và cái bao tử, nguồn gốc tất cả những cái lụy của con người từ xưa tới nay. Có cái miệng với cái bao tử nên sinh kế mới hóa ra phiền phức, sinh kế phiền phức mới sinh ra những mưu mô gian trá; mưu mô gian trá mới phải đặt ra hình pháp…” .

Rồi ông ao ước: phải chi con người có cái diều như diều chim, có cái dạ dày như loài nhai lại! Loài người mà có cái diều như diều chim thì tất hiền lành, hòa bình, vì loài ăn hạt, trái cây, rau cỏ thì ít hiếu chiến, tàn ác.

Gà trống cũng thường đá nhau nhưng không phải vì thức ăn mà vì gà mái. Nếu loài người mà có cái diều…thì chỉ còn những cuộc chiến nho nhỏ để…giành gà mái thôi!

Tại sao phải ăn? Áy là bởi vì chúng ta cần năng lượng để tồn tại và để hoạt động. Thức ăn cung cấp năng lượng. Tuổi mới lớn, cần năng lượng nhiều để vừa xây dựng cơ thể, vừa đáp ứng nhu cầu họat động của tuổi này. Cho nên tuổi “teen” mau đói và thường ăn “không biết no”.

Nhớ rằng ngồi bàn viết, đánh vi tính mỗi giờ chỉ tiêu tốn 100-200 calo, hát karaoke mỗi giờ tốn 120 calo, đi nhanh, đạp xe đạp, bơi lội mỗi giờ 300 calo; cử tạ, tennis, cầu lông 400 calo, đá banh 600 calo… Trong khi đó, ăn một tô hủ tiếu, phở, đã “nhập” vào 500-600 calo; bún bò huế, cơm tấm bì cũng vậy; bánh lọt, chè bắp… 400 calo; ly sinh tố 250 calo và nước chanh đường… hơn 100 calo! Biết đại khái vậy ta sẽ tính toán “thu-chi” sao cho hợp lý để cơ thể được cân đối, không bị béo phì hoặc ngược lại bị suy dinh dưỡng.

Ăn uống là chuyện của “tâm hồn”. Ta vẫn thường nghe nói có những “tâm hồn ăn uống” đó thôi. Ăn uống là một cái khoái nhưng cũng có khi là một “cực hình”. Có những tình huống “nuốt không trôi”, chẳng hạn bị ép ăn! Không gì khổ bằng ăn trong sự cưỡng bức, ép uổng…

Ở một trường mẫu giáo bên Hà Lan, người ta đã làm thí nghiệm đặt những đứa bé 3 tuổi vào một phòng kín, dọn sẵn thức ăn thịt cá, trứng sữa, rau đậu, trái cây các thứ đầy đủ, rồi quan sát từ bên ngoài cửa kính xem sao. Trẻ chơi đùa một lúc đói bụng. tự động đi tìm thức ăn… phù hợp mà mình đang cần. Có đứa bốc món này, đứa bốc món kia… Có đứa ăn hoài một thứ, có đứa đổi từ món này qua món khác. Người ta theo dõi và cân đo trẻ trong một tuần lễ, thấy trẻ khỏe mạnh, lên cân đầy đủ. Điều đó chứng tỏ ăn… không cần phải ép. Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép…ăn!

Tản Đà, một thi sĩ nổi tiếng trong nghệ thuật ẩm thực, đã có câu “triết lý” về chuyện ăn sao cho ngon như sau:

“Đồ ăn ngon/ chỗ ngồi ăn không ngon/ người ngồi ăn không ngon/ không ngon!

Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon/ người ngồi ăn không ngon/ không ngon!

Đồ ăn ngon/ người ngồi ăn ngon/ chỗ ngồi ăn không ngon/ không ngon!…”

 Nghĩa là để ăn cho ngon cần đủ cả 3 yếu tố: đồ ăn ngon/ chỗ ngồi ăn ngon/ và người ngồi ăn cùng cũng… phải ngon!  Người ngồi ăn mà không ngon – dễ ghét – thì nuốt không trôi! Và dĩ nhiên muốn ăn ngon thì phải có sự thèm ăn, tức phải đói. Đói thì ăn gì cũng thấy ngon! Lâu nay ta quen ăn theo giờ mà không ăn theo… bụng. Một điều đáng tiếc.

“Chỗ ngồi ăn ngon” thì ba trăm năm trước, Trương Trào đã viết: Trà như ẩn sĩ, rượu như hào sĩ. Rượu để kết bạn, trà để hưởng tĩnh. Trong cuộc lễ, uống nên khoan thai. Trong cuộc họp bạn, uống nên nhã. Mùa xuân nên uống ở sân. Mùa hè nên uống ở ngoại ô. Mùa thu nên uống ở trong thuyền. Mùa đông nên uống ở trong nhà. Ban đêm nên uống dưới bóng nguyệt ..(U mộng ảnh, bản dịch Huỳnh Ngọc Chiến).

Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon, người ngồi ăn ngon vẫn… chưa đủ. Còn phải có cách ăn ngon nữa. Ăn là văn hóa. Có nơi phải ăn trong im lặng, không được rào rạo, không được nhóp nhép, hít hà, không được ừng ực và tuyệt đối không được khua muỗng nĩa, nhưng có những nơi ngược lại, phải nhóp nhép, phải rào rạo, ợ hơi cho rõ to, khua chén muỗng ầm ỉ mới là đúng điệu!

Nhưng cách ăn ngon nhất có lẽ là ăn trong “chánh niệm”. Ý thức về chuyện đang ăn. Quan tâm nó. Để ý nó. Biết ơn nó. Bốn nhóm thức ăn cùng với nước uống chẳng phải cũng là “ngũ uẩn” đó sao? Chúng kết tập lại một cách nhuần nhuyễn để giúp ta tinh tấn trong tu tập của mình.

Cho nên mới nói rằng ăn là chuyện của tâm hồn!

Ăn uống rất quan trọng đối với người cao tuổi. Một trong những lý do người già dễ bị uể oải, lừ đừ… là do thiếu năng lượng. Ở người cao tuổi, còn thêm nỗi khổ vì “hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay”, dạ dày teo nhỏ, dịch vị tiết ra không đủ, dễ bị bón, dễ bị rối loạn tiêu hóa. Con cháu thương tình, tìm món ngon vật lạ ép ăn, tìm thuốc bổ vitamin các thứ ép uống… thì tình trạng càng bi đát hơn vì càng làm cho ăn mất ngon, không còn thấy thèm ăn!

Người già thiếu ăn, thiếu năng lượng phần lớn là do sợ bệnh, do kiêng khem quá đáng. Bác sĩ lại hay hù dọa. Khám bệnh xong bác sĩ dặn phải kiêng món này cử món kia… và không quên cho một đống thuốc bổ trong khi người già uống đầy bụng thuốc bổ đâu cần ăn chi nữa! Không kể bạn bè hàng xóm bày vẻ, không kể nghe lời quảng cáo bùi tai… ra rả suốt ngày! Nhưng khi bác sĩ thật thà tốt bụng khuyên nên ăn uống thoải mái, “muốn ăn gì cứ ăn”, thì hiểu ngay là bệnh đã “hết thuốc chữa rồi”! Ông nọ đi khám bác sĩ về cứ bần thần buồn bực, bà vợ gặng hỏi, ông nói bác sĩ nói bệnh anh phải uống thuốc suốt đời mà ông ta chỉ cho có… 10 viên !

Cách ăn ngon nhất có lẽ là ăn trong “chánh niệm”. Ý thức về chuyện đang ăn. Quan tâm nó. Để ý nó. Biết ơn nó. Không phải vô cớ mà người ta đọc lời tạ ơn trước mỗi bữa ăn!

Bây giờ có nhiều người ăn chay với những món “rất mặn” dù được làm bằng chất liệu chay mà tên gọi chẳng chay chút nào: heo giả cầy, gà hầm, bò bóp thấu, tôm, cua, cá… và được chế biến hết sức phức tạp và đầy béo bổ! “Ăn chay” như vậy một thời gian thấy người béo phì ra, tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch các thứ!…

Chuyện ăn uống của người cao tuổi nói chung nên nghe theo mệnh lệnh của… bao tử. “Listen to your body”. Hãy lắng nghe sự mách bảo của cơ thể mình! Cơ thể nói… thèm ăn thức gì thì nó đang cần thức đó! Cũng đừng quên ăn uống là chuyện của văn hóa !  Món ăn gắn với kỷ niệm, gắn với thói quen, gắn với mùi vị từ thuở còn thơ! Người già có thể thích những món ăn…kỳ cục, không sao. Miễn đủ bốn nhóm: bột (glucid), đạm (protid), dầu (lipid), rau (Vitamin, khoáng)… Mắm nêm, mắm ruốc, tương chao, các thứ gia vị… đều tốt cả. Miễn đừng quá mặn, quá ngọt… Hãy “tự tại” đến mức có thể, miễn là món ăn vệ sinh, an toàn. Đừng ép ăn, đừng đút ăn, đừng làm “hư” các cụ! Nhưng khi các cụ đột ngột gầy ốm, sụt cân nhanh thì đã có vấn đề.  Suy dinh dưỡng chăng ? Trầm cảm chăng ? Có triệu chứng khởi đầu của Alzheimer chăng ? Hay đang mắc một thứ bệnh nặng nào đó?

Những bữa ăn gia đình có cha mẹ già cần tránh tất cả những sự căng thẳng, những lời nói đắng cay, tranh chấp, không vui…

Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ cái bao tử là vậy.

 

Đỗ Hồng Ngọc.

…. o ….

A pocketbook for the elderly

A PATH TO PEACE & JOY

Chapter 8

Eating is a matter of the heart

Lý Lạp Ông, a 16th-century Chinese philosopher, wrote in his book Nhàn Tình Ngẫu Ký, “Considering the human body, there are only two organs that Heaven has given that are completely unnecessary: the mouth and the stomach, both of which are the source of all human suffering from ancient times to the present. Having a mouth and a stomach complicates livelihood, and from these complications arise deceitful schemes; and from deceitful schemes come the creation of punishments…”

Then he wished that humans had a crop like a bird’s and a stomach like a ruminant’s! If humans possessed a crop similar to that of birds, they would be gentler and more peaceful, as species that consume seeds, fruits, and vegetables tend to be less aggressive and cruel.

Roosters often engage in fights with one another, not for food, but for the opportunity to mate with hens. If humans had a similar instinct, there would likely be only minor skirmishes to win over partners!

Why do we need to eat? The answer is simple: we require energy to survive and function effectively. Food serves as our primary source of energy. Teenagers, in particular, need a substantial amount of energy to support their growth and engage in various activities. As a result, they often feel hungry quickly and may eat without recognizing when they are full.

Remember that sitting at a desk and typing on a computer burns only 100 to 200 calories per hour. In contrast, singing karaoke burns approximately 120 calories per hour, while activities such as fast walking, cycling, and swimming can burn around 300 calories per hour. Weightlifting, tennis, and badminton can burn about 400 calories, and playing soccer can burn up to 600 calories. On the other hand, consuming a bowl of hủ tiếu or phở provides around 500 to 600 calories. A bowl of bún bò Huế or a plate of broken rice contains a similar caloric value, while dishes like bánh lọt and corn sweet soup have about 400 calories. A smoothie typically contains around 250 calories, and lemon juice with sugar can add more than 100 calories. By understanding these estimates, we can better calculate our caloric intake and expenditure to maintain a balanced diet, avoiding both obesity and malnutrition.

Eating is a matter of the heart. We often hear people say that they have a passionate heart for food. While eating can be a source of pleasure, it can also become a form of torture. There are times when swallowing becomes difficult, especially when one is compelled to eat against their will. There is nothing more painful than eating under duress.

In a kindergarten in the Netherlands, an experiment was conducted involving 3-year-old children placed in a closed room filled with various foods, including meat, fish, eggs, milk, vegetables, beans, and fruits. The children were observed from outside a glass door. After playing for a while, they became hungry and instinctively sought out the food they needed. Some children chose specific items, while others selected different foods. Some consistently ate the same items, while others varied their choices. Over the course of a week, the children were monitored and weighed, and the results indicated that they remained healthy and gained weight appropriately. This demonstrates that eating does not need to be coerced. While humans apply pressure to seeds to extract oil, who would impose pressure on children to eat?

Tản Đà, a renowned poet in the culinary arts, expressed a philosophical perspective on how to enjoy delicious food as follows.

Delicious food, poor dining environment, and unpleasant company make for an unappetizing experience!

Delicious food and a pleasant dining atmosphere can be overshadowed by unpleasant company!

Delicious food, good company, and a poor dining environment do not make for a delightful experience!

To enjoy a truly delicious meal, you need three essential elements: delectable food, an inviting place to dine, and delightful company. If your dining companion is unpleasant, it can be difficult to enjoy your meal! Additionally, to savor your food, you must have an appetite; in other words, you need to be hungry. When you are hungry, even the simplest dishes can taste exquisite! For a long time, we have become accustomed to eating at specific times rather than listening to our bodies. What a pity!

Speaking of a good place to eat, three hundred years ago, Trương Trào wrote: “Tea is akin to a hermit, while liquor resembles a hero. Liquor fosters camaraderie, whereas tea is best enjoyed in solitude. During ceremonies, sip slowly. In gatherings with friends, drink with elegance. In spring, enjoy your tea in the garden. In summer, savor it in the countryside. In autumn, drink while on a boat. In winter, indulge indoors. At night, relish your tea beneath the moonlight.” (U mộng ảnh, translated by Huỳnh Ngọc Chiến).

Delicious food, a great place to dine, and suitable companions are not enough; there must also be an appropriate way to eat. Eating is a cultural practice. In some cultures, one must eat in silence, avoiding any noise such as slurping, sniffing, or gulping, and absolutely refraining from making sounds with utensils. Conversely, in other cultures, slurping, burping, and making noise with your spoon or fork are considered acceptable and even encouraged!

However, the best way to eat is likely to do so mindfully. Be aware of what you are consuming. Pay attention to each bite and express gratitude for your meal. Aren’t the four groups of food and drink also akin to the five aggregates? They come together harmoniously to support our diligence in practice. This is why it is often said that eating is a matter of the heart!

Eating is crucial for the elderly. One reason they often experience lethargy and sluggishness is a lack of energy. Additionally, older adults may suffer from loose teeth, a shrunken stomach, insufficient gastric juice secretion, constipation, and various digestive disorders. While children and grandchildren may feel sympathy for their elders and attempt to encourage them to eat by offering delicious and unusual foods or vitamin supplements, these efforts can backfire, leading to a further loss of appetite.

Elderly individuals often experience a lack of food and energy, primarily due to a fear of illness and excessive dietary restrictions. Many doctors inadvertently contribute to this fear. After conducting examinations, they frequently advise patients to avoid certain foods and prescribe numerous supplements, leading the elderly to feel they no longer need to eat after taking these supplements. Additionally, friends and neighbors may exacerbate their concerns, while enticing advertisements bombard them throughout the day. However, when a compassionate doctor encourages them to eat freely and enjoy their meals, they may interpret this advice as a sign that their illness is incurable. For instance, one man returned home from a doctor’s appointment feeling depressed and disheartened. When his wife inquired about his visit, he revealed that the doctor informed him his condition would require lifelong medication, yet he was only prescribed ten pills.

The best way to eat is likely to do so mindfully. Be aware of what you are consuming. Pay attention to your food. Notice its flavors and textures. Express gratitude for it. There is a reason why people often say words of thanks before every meal!

Nowadays, many people consume vegetarian food that includes imitation meat dishes, despite these items being made from plant-based ingredients and bearing names that are not vegetarian at all, such as thịt-heo-giả-cầy, stewed chicken, beef jerky, shrimp, crab, and fish. These products are often processed in complex ways and can be quite nutritious. However, over time, individuals may experience obesity, diabetes, high blood pressure, heart disease, and other health issues.

In general, elderly individuals should heed their body’s signals when it comes to eating. Listen to your body. It is important to listen to your body’s cues! When you crave something, it often indicates a need. Additionally, eating is deeply rooted in culture; food is tied to memories, habits, and flavors from childhood. Older adults may have preferences for unconventional foods, and that is perfectly acceptable, as long as their diet includes all four essential food groups: carbohydrates (starches), proteins, fats (oils), and vegetables (which provide vitamins and minerals). Ingredients such as fish sauce, shrimp paste, fermented bean sauce, and various spices can be beneficial, provided they are not excessively salty or sweet. It is crucial to maintain a relaxed approach to mealtime, ensuring that the food is hygienic and safe. Avoid forcing them to eat, spoon-feeding them, or indulging them excessively. However, if an elderly person suddenly loses weight and appears to be becoming thin, it may indicate a problem. Possible concerns could include malnutrition, depression, early symptoms of Alzheimer’s disease, or a more serious illness.

Family meals with elderly parents should be free of tension, harsh words, disputes, and negativity.

Digestive enzymes are secreted from the heart, not just from the stomach.

 

Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên GIác

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

CON ĐƯỜNG AN LAC: Bài 9 “Học Phật lõm bõm”

22/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Bài 9: “Học Phật  lõm bõm”

Đỗ Hồng Ngọc

(translated by Nguyên Giác)

 

Sen

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

 

Thế rồi khi dấn bước vào đời ta đã quên bài học ngày xưa đó, mãi mê tìm kiếm một búp sen vàng sen bạc rực rỡ hào quang ở tận chân trời góc biển giữa muôn hồng ngàn tía… Cho đến một hôm giật mình ngó lại: thì ra cái “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng” của đoá sen kia rốt cuộc cũng chỉ là « Nhị vàng bông trắng lá xanh » đó thôi. Chẳng thêm chẳng bớt! 

Trong đầm sen thoảng mùi bùn đất quê hương đó, đóa sen vẫn xòe ra rồi khép lại. Khép lại rồi xòe ra. Từ nghìn xưa cũ. Chẳng sinh chẳng diệt!

Đóa sen của thiên thu vẫn lung linh giữa gió và nước, như tủm tỉm cười, tỏa ngát hương thơm… Chẳng cấu chẳng tịnh!

Mà chợt ngộ một điều cốt lõi: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn!  

 

Thiền là gì ?

Một hôm nhân cùng Sư phụ bơi thuyền dạo chơi trên hồ nước mênh mông trước thiền viện, thấy Thầy có vẻ vui tươi, người đệ tử đánh bạo hỏi:

–  Thưa sư phụ, thiền là gì ạ?

Thầy chưa kịp trả lời thì thuyền bỗng lắc lư rồi lật úp xuống! Người đệ tử không biết bơi, vùng vẫy sắp chết đuối. Thầy vớt đệ tử lên thuyền, vổ vai nói:

– Thiền là vậy đó con !

Người đệ tử ướt như chuột lột, run rẩy, mặt mày tái mét và bỗng nở một nụ cười.

Thì ra thiền không phải “là gì” mà thiền là “vậy đó”.

Người đệ tử loi ngoi suýt chết đuối, tìm cách vùng vẩy, trồi lên mặt nước để lấy hơi thở. Thầy vội vớt lên thuyền.

“Vậy đó” là giây phút không còn thấy thời gian, không gian… gì nữa, chỉ còn hớp lấy một hơi thở. Thì ra thiền là… Thở. Hít vào thở ra. Thiền đó. Chỉ có vậy mà vô vàn, mà “nói không được” (bất khả thuyết). Không ai có thể thở giùm ai được.

Có sư phụ mà sư phụ cũng không thể thở giùm được.

 

Núi vẫn cứ là núi…

“…30 năm trước khi chưa tu thấy núi là núi, sông là sông. Sau nhân được thiện tri thức chỉ cho chỗ vào thì thấy núi chẳng phải núi, sông chẳng phải sông. Rồi nay thể nhập chốn yên vui tịch tĩnh lại thấy núi là núi, sông là sông…”

Núi vẫn cứ là núi. Sông vẫn cứ là sông. Chẳng qua do cái thấy của ta điên đảo mộng tưởng.

Cái thấy của 30 năm trước khi chưa tu là cái thấy của lo âu vì nỗi vô thường:

Sông kia rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai…

(Tú Xương)

Cái thấy của 30 năm trước khi chưa tu là cái thấy của sợ hãi vì niềm chấp ngã:

Ta còn để lại gì không?

Kìa non đá lở, này sông cát bồi…

(Vũ Hoàng Chương)

Ta sống trong vô thường vô ngã mỗi phút giây mà chẳng biết.

Mỗi ngày trái đất bay vòng quanh mặt trời 2,5 triệu cây số; mỗi giây hàng trăm triệu tế bào hồng cầu tự hủy để hàng trăm triệu tế bào hồng cầu mới sanh ra…

Ta vẫn ngồi lại bên cầu cho đến lúc tóc mây bạc trắng…

Người thiện tri thức đã chỉ cho chỗ vào? Vào đâu? Vào cái thấy “như thực”: thấy mọi thứ và cả cái ta nữa, luôn biến dịch, luôn đổi thay, bởi nó từ duyên sinh mà có. Thấy cái “thực tướng vô tướng”.

Rồi mừng rỡ reo lên: À, thì ra là không. Tất cả là không. Núi chẳng phải núi. Sông chẳng phải sông!…

Rồi ôm lấy cái không đó. Duy Ma Cật nhắc: đó là một thứ bệnh nặng!

Chấp không còn tệ hơn chấp có. Thà chấp có vui hơn.

May thay, khi thể nhập vào chốn yên vui tịch tĩnh thì rõ ràng núi vẫn cứ là núi, sông vẫn cứ là sông. Núi là núi mà còn đẹp hơn xưa. Sông là sông mà còn đẹp hơn xưa. Bấy giờ  đã là làn thu thủy, nét xuân sơn… Chân Không mà Diệu hữu/ Diệu hữu mà chân Không.

 

Tiếng vổ của một bàn tay

Phật bảo Anan đánh một tiếng chuông. Hỏi có nghe không, Anan ? Dạ, có nghe. Nghe gì? Nghe tiếng chuông. Tiếng chuông dứt, Phật hỏi có nghe không Anan ? Dạ, không. Không nghe gì? Dạ không nghe tiếng chuông. Phật cho đánh lại tiếng chuông lần nữa. Nghe không? Dạ có nghe. Nghe gì? Nghe tiếng chuông.

Phật cười: Tôi hỏi ông có nghe không chớ đâu có hỏi ông có nghe tiếng chuông không? Giữa hai lần giộng chuông ông vẫn nghe đó chứ, ông nghe sự im lặng, nghe sự “không – có – tiếng” đó chứ. Vậy cái sự “nghe” của ông đâu có mất dù cái tiếng chuông kia khi có khi không.

Tiếng là thanh trần, từ bên ngoài, luôn thay đổi. Còn nghe – “tánh nghe” – là tự bên trong, không hề thay đổi, luôn có đó. Nếu không có bệnh lý gì về nhĩ căn (thính giác) thì cái sự nghe luôn thường hằng, luôn trong sáng, thanh tịnh đó chớ!

Một bàn tay thì không thể tạo ra tiếng vổ. Nhưng câu hỏi không nằm ở tiếng. Câu hỏi đặt ở chỗ khác: chỗ “nghe”. Câu trả lời sẽ là không có tiếng nhưng vẫn có nghe. Nghe cái gì? Nghe cái không – có – tiếng vổ của một bàn tay!

Không để dính mắc với tướng (cái trình hiện, cái biểu kiến, hình thức) bên ngoài, luôn thay đổi, do điều kiện mà có, như mắt với sắc, tai với thanh, mũi với hương, lưỡi với vị…), trong khi cái tánh thấy, tánh nghe… bên trong vẫn không thay đổi, vẫn bất biến vậy!

(ĐHN)

 

…. o ….

 

A pocketbook for the elderly

A PATH TO PEACE & JOY

Chapter 9

Learning Buddhism messily

 

Lotus

 

In the pond, nothing is more beautiful than the lotus flower.

Green leaves, white flowers, and yellow stamens create a vibrant display.

Yellow stamens, white petals, and green leaves.

Close to the mud yet not carrying its odor.

 

Then, when we step into life, we forget that old lesson and become absorbed in searching for a golden lotus bud or a silver lotus, shining brightly at the horizon among the myriad colors of pink and purple. Until one day, we suddenly look back and realize that the ‘green leaves, white flowers, and yellow stamens‘ of that lotus flower are, after all, just ‘yellow stamens, white flowers, and green leaves.’ Nothing more, nothing less!

In the lotus pond, where the faint scent of the homeland’s mud lingers, the lotus continues to bloom and wither. It closes, then opens again, a cycle that has persisted since ancient times. Neither born nor destroyed, the eternal lotus shimmers in the wind and water, smiling as it spreads its fragrance. It exists in a state that is neither dirty nor clean.

In this moment, we come to a profound realization: it is near the mud yet untouched by its odor!

 

What is Zen?

One day, while rowing a boat with the Master on the expansive lake in front of the Zen monastery, the disciple, noticing the Master’s cheerful demeanor, boldly asked, “Master, what is Zen?”

Before the Master could respond, the boat suddenly shook and capsized! The disciple, unable to swim, struggled desperately and was on the verge of drowning. The Master pulled the disciple back onto the boat, patted his shoulder, and said, “That’s what Zen is, my child!”

The disciple was soaked to the skin, trembling, and his face was pale. Suddenly, he smiled. It became clear that Zen is not simply ‘what is,’ but rather ‘that is what Zen is.’

The disciple struggled to the surface to catch his breath, and the Master quickly pulled him onto the boat.

That is the moment when time and space dissolve, leaving only the simple act of taking a breath. Thus, meditation is breathing: inhale and exhale. This is meditation—just that—but it is infinite and cannot be fully expressed. No one can breathe for another person. Even in the presence of a master, the master cannot breathe for you.

 

Mountains remain mountains.

“Thirty years ago, before I began my practice, I perceived mountains as mere mountains and rivers as mere rivers. After a good friend guided me on the path, I began to see mountains as not mountains and rivers as not rivers. Now, having entered a state of peace and tranquility, I once again see mountains as mountains and rivers as rivers.”

Mountains are still mountains, and rivers are still rivers. Our perception of these constants is distorted by our chaotic, inverted perspective.

The vision from 30 years ago, prior to practice, was one of anxiety due to concerns about impermanence.

That river has now transformed into a field,

a site for constructing houses, and a location for cultivating corn and potatoes.

(Verse by Tù Xương)

 

The vision from 30 years ago, prior to practice, was one of fear stemming from an attachment to the self.

What have we left behind?

Over there, rocks crumble, while here, sand accumulates along the river.

(Verse by Vũ Hoàng Chương)

 

We exist in a state of impermanence and non-self every moment, often without realizing it. Each day, the Earth travels around the Sun at a distance of 2.5 million kilometers; every second, hundreds of millions of red blood cells undergo self-destruction, making way for the birth of an equal number of new red blood cells. Yet, we continue to sit by the bridge until our hair turns into a white cloud.

The wise man has shown us where to enter. Where do we enter? We enter into perceiving reality as it truly is. This means recognizing that everything, including ourselves, is in a constant state of change and transformation, arising from dependent origination. We come to understand that the true form is formless.

Then we joyfully proclaim that it is merely emptiness. All is emptiness. Mountains are not mountains. Rivers are not rivers. We then embrace that emptiness. Vimalakirti stated that it is a serious illness!

Clinging to emptiness is worse than clinging to existence. It is better to hold on to existence, as the heart will find greater happiness.

Fortunately, upon entering a realm of serene and tranquil joy, it becomes evident that the mountains remain mountains, and the rivers remain rivers. The mountains are indeed mountains, yet they possess a beauty that surpasses their former visions. The rivers are still rivers, but they too are more beautiful than ever. Now, we witness the autumn waters and the spring mountains. This is True Emptiness, yet it embodies Wonderful Existence. Wonderful Existence, yet it reflects True Emptiness.

 

The sound of one hand clapping

 

The Buddha instructed Ananda to ring a bell.

The Buddha asked Ananda if he had heard it.

Ananda stated that he heard it.

What did you hear?

I heard the bell.

The bell ceased ringing, and the Buddha asked Ananda if he had heard anything.

No.

Really, didn’t you hear anything?

No, I did not hear the bell.

The Buddha had the bell struck once more.

Have you heard it?

Yes, I heard it.

What did you hear?

I heard the bell.

The Buddha smiled and told Ananda that he had asked whether Ananda heard it, not whether he heard the sound of the bell. The Buddha explained that between the two strikes of the bell, Ananda still heard it; at that moment, he experienced silence and soundlessness. The Buddha emphasized that, in this way, Ananda’s hearing was always present, unlike the sound of the bell, which was sometimes audible and sometimes not.

Sound is perceived through the ears, originating from the external environment and constantly changing. In contrast, hearing—the essence of hearing—comes from within, remaining constant and ever-present. As long as there are no pathological issues with the ear, hearing is consistently available, clear, and pure.

One hand cannot produce a sound. However, the question is not about sound itself; it is about hearing. The answer is that while there is no sound, there is still hearing. Hearing what? Hearing the soundless echo of one hand clapping.

Don’t become attached to external appearances—such as form, sound, smell, taste, touch, and the mental objects perceived through the eyes, ears, nose, tongue, body, and mind—because they are always changing and arise due to various conditions. In contrast, the essence of seeing, hearing, and other perceptions from within remains constant and immutable.

Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên GIác 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

CON ĐƯỜNG AN LẠC. Bài 10: Ở ĐÂY và BÂY GIỜ

22/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Đỗ Hồng Ngọc

(bản dịch Anh ngữ: Nguyên Giác Phan Tấn Hải)

 

Bài 10: Ở đây và Bây giờ

Từ năm 1946, Tổ chức Y tế thế giới (WHO)  đã định nghĩa:  Sức khoẻ là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well-being; bien-être) về thể chất, tâm thần và xã hội, chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật. Một định nghĩa như thế cho thấy đánh giá sức khỏe của một con người không thể chỉ dựa vào chuyện có hay không có bệnh tật… Cái khó ở đây là làm cách nào đánh giá được “tình trạng sảng khóai” về cả ba mặt, thể chất, tâm thần và xã hội như định nghĩa đã nêu? Đánh giá sự sảng khoái, sự hài lòng cũng chính là đánh giá hạnh phúc. Mà đánh giá hạnh phúc là chuyện không đơn giản chút nào vì nặng tính chủ quan, dễ lệch lạc. Chính vì thế mà mãi nửa thế kỷ sau, WHO mới đưa ra được một bảng “Đánh giá chất lượng cuộc sống” (Quality of Life Assessment, 1996) liên quan đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe để cụ thể hóa định nghĩa đã nêu trên. Theo đó, người thầy thuốc chỉ quan tâm chữa trị bệnh tật là chưa đủ, mà phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống  của người bệnh. Nói khác đi, người bệnh sống không phải chỉ là “sống sót”, tồn tại, mà phải là sống có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ tốt nhất có thể được. WHO đề ra một bảng chỉ số gọi là WHOQOL-100 ( WHO Quality Of Life, với 100 đề mục để đánh giá) có thể triển khai thực hiện  trên nhiều nước khác nhau, nhiều nền văn hóa khác nhau, bao gồm 6 lãnh vực:

1.Sức khỏe thể chất;

2.Tâm lý;

3.Mức độ độc lập;

4.Các mối quan hệ xã hội;

5.Môi trường

6.Niềm tin, tôn giáo, vấn đề tâm linh.

Theo WHO, Chất lượng cuộc sống (CLCS) là cảm nhận của cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quan đến  các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ.

(“an individual’s perception of their position in life in the context of the culture and value systems in which they live and in relation to their goals, expectations, standards and concerns”).

Điều dễ thấy ở đây là cách đo đạc CLCS  đặt  trọng tâm lên cảm nhận cá nhân của từng người, cho thấy có cái nhìn khác xưa đối với bệnh tật và sức khỏe lâu nay chủ yếu dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc. Do vậy, đánh giá sức khoẻ hay bệnh tật của một con người sẽ không chỉ dựa trên kết quả các xét nghiệm máy móc mà còn trên những cảm nhận chủ quan, quan điểm riêng của từng cá nhân về sức khoẻ, bệnh tật của họ, về sự “sảng khoái” của họ trong cuộc sống thường ngày, trong bối cảnh văn hóa và môi trường thiên nhiên quen thuộc của họ. Ở đây cho thấy vai trò của mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân là rất quan trọng. Mối quan hệ thầy thuốc- bệnh nhân mà không tốt thì người bệnh khó có thể duy trì “chất lượng cuộc sống”! Thí dụ gặp một thầy thuốc hay “hù doạ” thì bệnh chỉ sẽ nặng thêm, bởi lo âu, sợ hãi càng dẫn tới stress và trầm cảm! Các bệnh thời đại hiện nay thường gặp  là S.A.D (Stress, Anxiety, Depression)… nhất là khi IT, AI, với Fake news, deep fakes… loan truyền tin giả, hù doạ, gạt gẫm. Do đó, câu “dalani” có ích nhất lúc này có lẽ là “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang! Đừng vội tin ai cả. Kiểm chứng đi, thử đi rồi biết!

Suy nghĩ từ góc độ đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh như vậy sẽ làm thay đổi cái nhìn của người thầy thuốc về bệnh nhân trong quá trình điều trị.  Cả người bệnh khi hiểu rõ chất lượng cuộc sống là do mình quyết định cũng sẽ không chỉ biết lệ thuộc vào thầy, vào thuốc, vào xét nghiệm mà còn biết tăng cường sức khỏe, nâng cao sức khỏe của chính mình để có chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể.

Cần để ý rằng, ở người cao tuổi, định nghĩa sức khoẻ có khác một chút: “Sức khỏe của người cao tuổi là:

 Phát triển và duy trì được sự sảng khoái và hoạt động chức năng tốt nhất về tâm thần (mental), rồi mới đến  xã hội (social) và thể chất (physical)”.

“Phát triển” và “duy trì” tốt nhất có thể thôi, chớ không thể được “như xưa” nữa! Bởi các hoạt động chức năng xài lâu quá đều rệu rả, “quá date”, do đó người già dễ cảm thấy chán nản, tuyệt vọng, lo âu… nói khác đi là khó mà… “sảng khoái” được. Thể chất thì “ba cao một thấp” (ba cao là cao máu (tăng Huyết Áp); cao đường (Tiểu đường); cao mỡ (Cholesterol xấu); còn một thấp là… Thấp khớp) đã đành mà tâm thần thì có đủ tám vạn bốn ngàn phiền não! Cho nên đưa vấn đề “tâm thần” lên hàng đầu là hoàn toàn hợp lý cho người cao tuổi so với định nghĩa về sức khỏe nói chung.

Các nghiên cứu cho thấy một tuổi “già có chất lượng” là phải:

— Biết chấp nhận “nó”. Thấy nó là chuyện tất yếu.

— Người nào có nhiều kinh nghiệm gần gũi với những người già… dễ thương thì sau này hy vọng cũng sẽ dễ thương, bởi họ biết chuẩn bị… tới phiên mình.

— Hiểu luật vô thường và Từ bi với chính mình.

— Có một niềm tin tôn giáo.

— Chấp nhận điều kiện sống hiện tại dù có kém xưa và kém xa với mong ước của mình,

— Có ký ức tốt đẹp về tuổi thơ và tuổi thanh niên với những thành tựu trong quá khứ,

— Được tự do sắp xếp cuộc sống riêng của mình, không bị áp đặt từ bên ngoài,

— Được xã hội và gia đình chấp nhận, tôn trọng.

— Vẫn tiếp tục tham gia các hoạt động hữu ích cho gia đình, xã hội theo sức mình.

— Vui vẻ với các cách giải trí của tuổi già, với bạn bè, con cháu,

— Hài lòng với cuộc sống lứa đôi,

— Sức khỏe tương đối tốt, không mắc bệnh mạn tính nặng,

— Tài chính ổn định, đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu…

.

Và, biết sống “Ở đây và Bây giờ”:

Một nhà báo nằm chiêm bao thấy gặp Thượng Đế bèn mở máy ghi âm xin phép được phỏng vấn vài câu nếu Ngài có thì giờ.

–  Cứ tự nhiên. Thì giờ của ta vô lượng!

– Từ khi… tạo ra loài người, Ngài có điều gì băn khoăn thắc mắc về họ không?

– Nhiều lắm.

– Chẳng hạn?

– Loài người rất lạ. Lúc nhỏ thì mong cho mau lớn. Lớn rồi thì mong cho nhỏ lại…

Nhà báo giật mình, thấy hơi nhột. Thượng Đế tiếp:

– Lạ nữa, lúc trẻ khỏe thì họ mang hết sức lực ra đấu đá tranh giành để kiếm cho thật nhiều tiền… Rồi khi có tuổi, họ mang tiền đó ra… phục hồi sức khỏe!

Nhà báo rút khăn lau mồ hôi trán.

– Nhưng lạ nhứt là loài người không sống!

– Nghĩa là họ…

–  Không. Họ vẫn tồn tại nhưng không sống. Họ luôn nhớ tiếc dĩ vãng hoặc mơ ước tương lai. Mà dĩ vãng thì qua rồi, tương lai thì chưa tới. Họ luôn ở trong cái đã qua rồi hoặc cái chưa tới… nên nói họ không sống…

– Ý Ngài là phải biết sống trong hiện tại?

– Phải. Ở đây và Bây giờ!

(internet)

Nhà báo tỉnh giấc, toát mồ hôi, đưa tay vò mái tóc… lẩm bẩm: “Đời tôi ngốc dại/ Tự làm khô héo tôi đây/ Nửa đêm thức dậy/ Chập chờn lau trắng trong tay…” (Trịnh Công Sơn).

Phật dạy rồi đó thôi:

Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu…

(phẩm “Cây Lau”)

 

Đỗ Hồng Ngọc

(20.11.2024)

 

…. o ….

A pocketbook for the elderly

A PATH TO PEACE & JOY

Do Hong Ngoc, MD

(translated by Nguyen Giac Phan Tan Hai)

 

Chapter 10

Here and Now

 

Since 1946, the World Health Organization (WHO) has defined health as a state of complete physical, mental, and social well-being, rather than merely the absence of disease or infirmity. This definition indicates that evaluating a person’s health cannot rely solely on the presence or absence of illness. The challenge lies in how to assess well-being across all three dimensions: physical, mental, and social. Evaluating well-being and satisfaction is intrinsically linked to assessing happiness. However, measuring happiness is complex, as it is subjective and can be easily distorted.

Therefore, half a century later, WHO introduced a “Quality of Life Assessment” in 1996, which further clarifies the aforementioned definition. Consequently, it is insufficient for a physician to focus solely on treating illness; they must also consider the patient’s quality of life. In other words, a patient’s existence should not merely revolve around survival; it should also encompass a meaningful and happy life at the highest possible level.

WHO has proposed an index known as WHOQOL-100 (WHO Quality of Life, consisting of 100 items for assessment) that can be implemented across various countries and cultures. This index encompasses the following six areas:

  1. Physical Health;
  2. Psychology;
  3. Independence;
  4. Social Relationships;
  5. Environment;
  6. Beliefs, Religion, and Spirituality.

According to WHO, Quality of Life (QOL) refers to an individual’s perception of their position in life in the context of the culture and value systems in which they live and in relation to their goals, expectations, standards and concerns.

What is clear here is that the QOL measurement emphasizes the personal feelings of each individual, presenting a perspective on illness and health that differs from traditional views, which have primarily relied on assessments made by medical professionals. Consequently, evaluating a person’s health or illness will not solely depend on the results of objective tests; it will also incorporate the subjective feelings and personal perceptions of each individual regarding their health, illness, and overall well-being in daily life in the context of their familiar culture and natural environment.

The relationship between doctor and patient is crucial for effective healthcare. A poor doctor-patient relationship can significantly hinder a patient’s quality of life. For instance, encountering a doctor who frequently uses threats can exacerbate a patient’s condition, as anxiety and fear contribute to increased stress and depression.

The prevalent diseases of modern times include stress, anxiety, and depression (S.A.D.), particularly in an era marked by an influx of misinformation, threats, and scams perpetrated by individuals who exploit artificial intelligence, fake news, and deepfakes. Consequently, a valuable mantra to embrace is the teaching from the Diamond Sutra: when the mind is unattached to anything, the mind of Nirvana will manifest. Be cautious about believing everything you hear. Verify the information, test it, and you will gain understanding.

Considering the patient’s quality of life can significantly alter a doctor’s perspective during the treatment process. When patients recognize that they have the power to influence their own quality of life, they become less reliant on their doctors, medications, and tests. Instead, they will be empowered to take proactive steps to enhance their health and achieve the best possible quality of life.

It is important to recognize that the definition of health in older adults differs somewhat from that of younger individuals. For older adults, health encompasses the development and maintenance of well-being and optimal functioning, with a primary focus on mental health, followed by social and physical well-being.

You can only develop and maintain your abilities to the best of your potential, but not to the same level as before. Functional activities that are used for an extended period can become worn out and outdated, leading to feelings of depression, hopelessness, and anxiety among the elderly. In other words, achieving a sense of well-being can be challenging. The physical health of older adults is marked by three high points and one low point. The three high points are high blood pressure (hypertension), high blood sugar (diabetes), and high cholesterol (bad fats), while the low point is arthritis. Additionally, mental health issues can be numerous, with estimates suggesting as many as eighty-four thousand potential concerns. Therefore, prioritizing mental health problems is entirely reasonable for the elderly, especially when considering the broader definition of health.

Research shows that to enjoy a high quality of life in old age, one should:

– Accept “it” and view it as inevitable.

– Prepare for aging gracefully and seek out meaningful experiences with wonderful older individuals (this way, you can aspire to grow old beautifully yourself).

– Understand the law of impermanence and practice self-compassion.

– Hold a religious belief.

– Accept your current living conditions, even if they are not as favorable as they once were and do not align with your desires.

– Have the positive memories of your childhood and youth, including your past achievements.

– Be free to arrange your life without external imposition.

– Find acceptance and respect from society and family.

– Continue to engage in activities that benefit your family and society, in accordance with your abilities.

– Embrace the joy of old age by cherishing the company of friends, children, and grandchildren.

– Be content with your married life.

– Maintain a relatively healthy lifestyle, free from serious chronic diseases.

– Have stable finances, enough to meet basic needs.

And one should know how to live in the “Here and Now.”

 

There is a story on the Internet about a journalist who dreamed of meeting God. He turned on his tape recorder and asked for permission to interview Him if He had the time.

– Feel free; my time is limitless!

– Have you had any questions or concerns about humans since you created them?

– There are many.

– Could you provide an example?

– Humans exhibit a peculiar paradox: in their youth, they eagerly desire to grow up, yet once they reach adulthood, they often long for the simplicity of childhood.

The journalist was startled, feeling a slight tickle, as he heard God continue speaking.

– Strangely enough, when they were young and healthy, they exerted all their strength to fight and compete in order to earn as much money as possible. Then, when they grew old, they used that money to restore their health.

The journalist took out a handkerchief to wipe the sweat from his forehead as he listened.

– The strangest thing is that humans do not truly live.

– That means they…

– No, they still exist but do not truly live. They are perpetually consumed by regret for the past or by dreams of the future. However, the past is gone, and the future has not yet arrived. They remain trapped in either the past or the future, which is why I assert that they do not live.

– Do you mean we need to learn how to live in the present?

– Yes, Here and Now!

The journalist woke up, sweating. He ran his hand through his hair and muttered, “My life is foolish. It has withered me. I woke up in the middle of the night, and a white reed branch flickered in my hand…” (Lyrics by Trịnh Công Sơn)

Buddha taught long ago:

Do not lament the past. 

Do not look forward to the future. 

Live in the present. 

Therefore, your face appears wonderful. 

(Chapter “The Reed”)

 

(by NG-PTH)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Minh Lê (NT). Lá thư thứ ba: “Những người trẻ lạ lùng”

06/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Lá thư thứ ba: “Những người trẻ lạ lùng”

Minh Lê (Nha Trang)

 

Bạn thân mến,

Cuốn sách mình sắp giới thiệu với bạn là một cuốn đặc biệt trong bộ tùy bút của Bs Đỗ Hồng Ngọc. Vì sao lại đặc biệt? Vì nó rất… lãng mạn.

Trong bài hát “Một cõi đi về” của Trịnh Công Sơn, bạn còn nhớ câu: “con tinh yêu thương vô tình chợt gọi”? “Con tinh” ở đây hẳn là “con yêu tinh” – từ người thân hay bạn bè mắng yêu các cô gái nhỏ lém lỉnh, hay chọc ghẹo người ta. Ừ, cái “con tinh yêu thương” tinh quái và nghịch ngợm ấy, nếu hôm nào đó “vô tình chợt gọi” thì bạn sẽ thế nào?

Bạn sẽ thấy tim mình bỗng đập dồn dập như một thưở nào xa lắc, rồi tự nhiên mà rung động cùng “những lời tán tỉnh, những nỗi giận hờn, những niềm tiếc nhớ” (tr. 18) dù bạn đang ở tuổi nào đi nữa. Nhưng bạn yên tâm, bởi đó là lúc “lại thấy trong ta hiện bóng con người”, bởi “con người vẫn cần có con người”, con người cần yêu và được yêu. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sẽ cho ta thấy cái sự “yêu” này nó tạo nên những người trẻ lạ lùng ra sao…

Tình yêu cứ bàng bạc trong các bài viết đăng trong sách, nhất là khi tác giả viết về những người nổi tiếng ông có dịp tiếp xúc gần gũi như Giáo sư Trần Văn Khê, nhà văn Võ Hồng, hay ký giả – nhà văn – nhà thơ Nguiễn Ngu Í, người cậu thân yêu của ông.

Bạn biết không, mình đặc biệt thích câu chuyện về Giáo sư Trần Văn Khê với chuyện tình thơ mộng của ông. Một chuyện tình đẹp như vầng trăng, tuy là “trăng khuyết vành chờ đợi” nhưng không “hao gầy” giữa một giáo sư nhạc sĩ nổi tiếng và một thiếu phụ – học trò học nhạc với ông, kém ông nhiều tuổi. Mối tình nồng nàn và tha thiết ấy còn ở mãi trong tim Giáo sư, sưởi ấm những tháng ngày làm việc không mệt mỏi của ông.

Rồi chuyện tình của ông tổ ngành Y nước Việt: Hải Thượng Lãn Ông. Lúc đó Lãn Ông đã thành danh, là thầy thuốc được Vua tín nhiệm và người người kính trọng, nhưng vẫn choáng váng và bối rối khi gặp lại người xưa. Ông tự trách mình: “Vô tâm nên nỗi lụy người ta,  trông mặt nhau đây luống xót xa…” (tr. 128) Chuyện rồi kết thúc ra sao? Bạn đọc là biết ha.

Ngoài Hải Thượng Lãn Ông, những người còn lại tác giả đều có giao tình gần gũi nên có thể nhìn thấu tính cách và tâm hồn họ. Họ đều là người tài giỏi, được nhiều người ngưỡng mộ, nhưng ít người biết họ cũng yêu, cũng buồn đau, cũng tiếc nuối như bất cứ ai. Tâm hồn họ nhân hậu và tràn đầy yêu thương nên họ sống một đời trẻ trung đến lạ lùng!

Chưa hết, tác giả viết một bài hấp dẫn phân tích cách yêu của “tây” và “ta”. “Real Romantic!” kể chuyện phong trào “yêu kiểu mới” trong giới trẻ Âu Mỹ: “họ nhớ tiếc và muốn thực hiện cách sống yêu thương lãng mạn của cha ông ở một thời xa xưa.” (tr. 48) Tác giả so sánh một cách dí dỏm tài liệu “101 cách làm tình mà không làm… vậy” của Mỹ với cách của thơ ca Việt Nam, rồi bình luận: “nếu họ mà phát hiện thêm các kiểu… yêu của ta chắc họ sẽ có “một ngàn lẻ một cách làm tình” tuyệt diệu hơn nữa!”.

Cách gì vậy? “Đón trước cổng trường/ làm đuôi/ leo lên cây khắc tên tùm lum/ giấu thư tình dưới hộc bàn/ cắt đứt dây chuông (Lan và Điệp)/ “giết người trong mộng”/ hay lén… hôn lên áo phơi ngoài giậu/ còn siêu nữa là “xếp tàn y lại để dành hơi””… (tr. 50) Thiệt là lãng mạn và dễ thương hết sức! Yêu chỉ để… yêu thôi, dù tình đơn phương thì vẫn đẹp vô cùng, “tây” nào theo cho kịp!

Đi cùng “tình yêu” tất nhiên phải có những dòng văn chương lãng mạn thật đẹp tả tình, tả cảnh tinh tế và tình tứ.

Bài “Nhớ tiếng thu giữa Boston” ĐHN viết: “Họ không gọi Autumn – mùa Thu, mà gọi Fall – mùa Rụng, bởi vì chỉ có lúc lá rụng bời bời như vậy người ta mới thấy hết được nỗi vui mừng, nỗi xót đau, nỗi buốt nhớ… không rõ vì đâu.” (tr. 30) Trong không gian thu đầy lá rơi và những cành cây khô giữa trời thu bâng khuâng, tác giả thả bước dưới vòm cây, “nghe tiếng mùa yêu và fall in love. Với ai, vì sao nên nỗi? Có phải cái tiếng thổn thức, cái tiếng rạo rực của ai kia đã một hôm thu làm cho chàng thi sĩ trẻ tuổi (LTL) trở thành một con nai, lang thang dẫm ngập lá vàng, hẫng bước đi mà chẳng biết về đâu…” (tr. 31)

Hay bài “Trang của một thời”: “Thời trang không dừng lại ở nếp lụa là, nhung gấm – thời trang… và hơn thế nữa – là cái khỏe khoắn, cái hồn hậu nhu mì, cái đằm thắm dịu dàng, cái chín chắn tinh hoa của trí tuệ ở đằng sau kia, ở bên trong kia.” (tr. 58). “Chính ở cái tuổi chông chênh đó của người phụ nữ, cái tuổi có những cột mốc thì thầm, tuổi chuyển mùa như lá trên cành, từ cái bồng bột sôi nổi sang cái nền nã, dịu dàng, giản dị mà sang trọng, người ta đã nhìn ngắm vào bên trong bản thân mình hơn là nhìn người qua phố, và như vậy người ta đã góp phần làm cho cuộc sống thăng hoa.” (tr. 57)

“Những người trẻ lạ lùng” kết thúc bằng bài thơ “Xin cám ơn, cám ơn” tác giả viết khi tỉnh lại sau cuộc mổ cấp cứu vì cơn tai biến mạch máu não tưởng sẽ… đi luôn vào cuối năm 1997. Nghe tiếng chim hót, nhìn ánh nắng ban mai, ông bừng tỉnh nhận ra giây phút hiện tại quý giá đến nhường nào và cảm thấy tình yêu đích thực:

“Tình yêu

Đã giúp ta tìm lại chính mình

Đã giúp ta vượt thoát!”  (tr. 139)

Đọc sách xong, mình cũng muốn lặng lẽ gởi một lời cám ơn đến tác giả. Cám ơn tác giả đã chỉ cho mình thấy tình yêu quan trọng như thế nào trong cuộc đời một người, có thể giúp tâm hồn mình trẻ trung mãi ra sao. Tình yêu càng rộng lớn thì người ta lại càng trẻ…

Đúng là “yêu để trẻ” và “trẻ để yêu”!

(Minh Lê)

* Các trích dẫn từ sách Những người trẻ lạ lùng, Đỗ Hồng Ngọc, Nhà XB TP HCM 2001.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi: CON ĐƯỜNG AN LẠC

27/10/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Đỗ Hồng Ngọc

A pocketbook for the elderly
A PATH TO PEACE & JOY

Translated  by Nguyên Giác Phan Tấn Hải

 

An lạc không phải là hạnh phúc, là sảng khoái nhất thời hay hài lòng, vui sướng… nhất thời, trái lại nó như dòng suối mát tưới tẩm ở bên trong. An lạc là một trạng thái hỷ lạc, một cảm nhận an lành, thanh thản tự bên trong mỗi cá nhân, nhẹ nhàng, bền bỉ, mang lại sự bình an cả thân và tâm cho chính mình và lan tỏa đến người khác. An lạc đến từ tuệ giác, đưa đến sự tự tại, ung dung, cân bằng cả về vật chất lẫn tinh thần…

Học Phật là cách hiệu quả nhất để mang lại sự an lạc đó. Có “bí quyết” nào để học Phật cho dễ không? Chui vào các “tàng kinh các” thì học đến nhiều đời nhiều kiếp cũng không hết mà còn bị “tẩu hoả nhập ma”, không kể ở thời Internet, AI, với fake news, với deepfakes…

Vậy có “bí quyết nào” học Phật cho “dễ” không?
Có đó.

Đó là “3 ĐIỀU 4 CHUYỆN”

Chuyện thứ nhất: Phật.
Phật không phải là một thần linh, một giáo chủ… uy quyền tối thượng, ban bố ơn phước cho loài người. Phật là một người bình thường như ta, cũng trải qua khổ đau bệnh hoạn già nua và chết chóc như chúng sanh. Nhờ tìm được con đường thoát khổ mà chia sẻ với  mọi người với lòng từ bi vô hạn, bởi ai cũng có Phật tính, ai cũng sẽ thành Phật mai hậu. Phật không độc quyền làm Phật một mình. Cho nên Phật là một Đạo sư, một nhà giáo dục, một bậc y vương đáng quý đáng trọng.

Con đường của vị Đạo sư dạy chỉ có mấy chữ:

Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo

(Cái gì ác thì đừng làm!
Cái gì thiện thì làm
Phải tự làm cho tâm ý mình được thanh tịnh.
Đó là lời dạy của các vị Phật).

Tôn giáo nào chẳng khuyên làm lành tránh ác?  Có gì hay ở đây?
Cái hay là ở câu thứ 3: Tự tịnh kỳ ý. Tự mình làm cho cái tâm ý mình trở nên thanh tịnh. Tâm ý mà thanh tịnh được rồi, thì… hết chuyện!
Khó ở chữ TỰ. Tự mình. Có nghĩa là không thể nhờ ai khác, không thể nhờ người nào khác giúp ta thanh tịnh được. Nghĩa là chỉ có mình mới tự giúp được mình mà thôi. Như tự mình phải hít thở, không ai thở giúp mình được. Tự mình phải nhai nuốt, ăn uống, không ai ăn uống giúp mình được…

Cái tâm ý của mình vốn tưng bừng quậy phá, “tâm viên ý mã”- tâm như khỉ như vượn, còn lâu mới chịu im ắng, tĩnh lặng. Làm cho nó thanh tịnh quả là một chuyện không dễ.
Tóm lại, “tự tịnh kỳ ý” là điều cốt lõi.
Cách nào? Có thể được chăng?
Được.

Chuyện thứ hai: Mình.
Phải nương tựa chính mình. Dựa vào chính mình. Không thể nương tựa vào ai khác. Như đã nói không ai thở giùm mình, không ai ăn uống thay mình được. Lục tổ Huệ Năng khuyên phải “Tự quy y” là vậy. Tự quy y mình. Bởi mình cũng có đủ ba thân là Pháp thân, Báo thân và Hoá thân như Phật đó thôi. Phật bảo mọi người ai cũng có Phật tính, ai cũng có thể trở thành Phật, không phân biệt. Khi tìm ra bản đồ gène của con người, các nhà khoa học đã vô cùng kinh ngạc, thấy cái cây ngoài sân kia có 70%, cọng cải có 26%, chuột có 97,5%, tinh tinh có 99% gène giống người. Còn người với người thì có trên 99, 99% gène giống nhau.

Vậy thì có cần phải phân biệt người da vàng da đỏ da đen da trắng nữa không. Phật được gọi là bậc “chánh đẳng chánh giác’ vì thấy biết rõ điều đó, việc gì còn phải phân biệt nữa. Có phải là “tỳ-lô-giá- na” cũng là gen đó không? Trong kinh Hoa Nghiêm bảo tất cả các vị Phật đều có thân tỳ- lô- giá- na từ “Như Lai tạng” mà ra cả! Cái gì làm ra hệ gène chưa biết hết, nhưng đều chung từ DNA, từ con virus nhỏ xíu đến con người, con cá voi, con khủng long tiền sử. Ai trộn mấy thứ đó lại với nhau mà sinh ra đủ thứ vậy nhỉ? Phật không trả lời câu đó.  Tại nghiệp? Nghiệp là gì cũng không biết.

Mọi người đều có đủ “3 thân” như Phật nên ai cũng có khả năng rèn tập để “tự tịnh kỳ ý” của mình mà được hạnh phúc an lạc. Một người hiểu biết 3 thân sẽ không còn phân biệt giàu ghèo, sang hèn, sẽ đối xử với mọi người bằng tấm lòng tôn trọng, vì biết họ cũng như ta, không cần phân biệt, không ngã mạn, tự cao, đưa tới đau khổ cho người và cho chính mình.

Chuyện thứ ba: Thở.
Hãy nín thở thử… một chút xem sao! Không được. Ngưng thở 4 phút thì chết. Nhịn ăn, nhịn uống mươi ngày mới chết. Thở thiết yếu của đời sống.  Cây cỏ cũng thở. Có điều ta cần O2 trong không khí. Còn cây cỏ cần CO2. Ta và cây cỏ nợ nần lẫn nhau. Không thể thiếu nhau. Thử hít vào một hơi thiệt sâu… Không được! Một lúc phải thở ra. Thở ra thiệt lâu… Không được! Một lúc phải hít vào. Hít thở nó tự động, nó không theo ý ta muốn. Hít vào thở ra là do áp suất trong phổi. Nó cóc cần ta. Nó chẳng phải là ta, chẳng phải của ta, chẳng phải là tự ngã của ta. Ta biết mình “vô ngã” chỉ cần nhìn vào hơi thở.

Ngàn năm trước, người xưa có thở không? Phật có thở không? Ngàn năm sau, người sau có thở không?

Lắng nghe hơi thở của mình…
Mới hay hơi thở của nghìn năm xưa…
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…

(ĐHN)

Thì ra cái không khí trong vũ trụ này là chốn hư không, mênh mông, rộng khắp, mà  giúp ta tồn tại. Não bộ chỉ chiếm có 2% thể trọng của ta mà tiêu hao đến gần 30% dưỡng khí. Tại sao? Tại vì O2 đó dùng cho hoạt động của não, mà hoạt động của não là chủ yếu dành cho tính toán, hơn thua, ganh ghét, lo sợ, tức giận, tranh giành, đấu đá lẫn nhau không ngớt. Có cách gì làm giảm không? Có. Chỉ cần “tự tịnh kỳ ý”.

Đừng quên kẻ thù của ta thở ra thì ta hít vào. Ta thở ra thì kẻ thù ta hít vào, Hai bên thân thiết biết mấy!

Thở còn giúp ta thấy biết Khổ. Hồi ỏ trong bụng mẹ, ta không thở, ta khoẻ ru. Sanh ra mới khóc thét lên và khổ sẽ đeo đẳng ta mãi. Cho đến khi ta hết thở, ta ngưng thở, ta mới hết… khổ! Ta chỉ mượn tạm hơi thở trong cuộc đời mình, chẳng lẽ chỉ dành cho khổ đau, cho hận thù cho đấu đá tranh giành sao? Chẳng lẽ không có lúc nào cho tâm được an vui, được hạnh phúc sao? Thiền chính là cách sử dụng hơi thở để chữa trị bệnh âu lo sợ hãi, khổ đau của mình. Nhờ quán niệm hơi thở mà ta thấy biết vô thường, khổ, vô ngã, duyên sinh, thì chẳng phải nhờ thiền mà ta tìm được sự thanh tịnh, tìm được thường lạc ngã tịnh đó sao?

Chuyện thứ tư: Ăn.
Tại sao phải ăn, ăn cái gì, ăn bao nhiêu, ăn cách nào?… Phật mang bình bát đi khất thực vài tiếng đồng hồ mỗi ngày và ai cho cái gì cũng vui nhận, không đòi hỏi, chẳng từ chối. Mang về vo lại thành một cuộn tròn để ăn một cách chánh niệm gọi là “đoàn thực”. Thức ăn có đủ bột đường (glucid), đậu, thịt, cá (protid), mè, bơ (lipid), và dĩ nhiên có rau củ, quả (khoáng, sinh tố)… Có khi thiếu thứ này một chút, thừa thứ khi một chút. Không sao. Thứ này có thể “biến” thành thứ kia không khó. Trong bột đường cũng có đạm, béo… Các thức ăn đó đã đủ cả các thành tố “đất nước gió lửa” của tứ đại, của ngũ uẩn.  Thì ra ăn ngũ uẩn là để nuôi thân ngũ uẩn. Khi đi khất thực hàng ngày như vậy ta thấy được tùy duyên, vô thường, vô ngã.

Nhưng ăn uống không chỉ để nuôi thân mà còn nuôi tâm. Phật nói có 4 nhóm thức ăn- gồm đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực. Mỗi ngày ta tiếp xúc với biết bao thông tin từ bên ngoài bao bọc lấy ta. Cái “xúc thực” đó đủ khiến ta vui ta khổ, quay cuồng… Thử một ngày ngắt điện, tắt điện thoại, tắt internet đi coi!

Xúc sẽ dẫn tới thọ. Và “ái thủ hữu” tức khắc xuất hiện! Rồi từ thọ mà có tưởng. Hết thọ hết tưởng thì sẽ hết “sinh sự”. Tưởng dẫn đến tư niệm thực, thức thực. “Chúng sinh” đã thành lớp lang, đã thành “tri kiến” sai lạc, thành kiến, khái niệm, định nghĩa  vây chặt lấy ta. Nếu xúc thực dễ dẫn đến stress, thì tư niệm thực lại dẫn đến Anxiety, lo âu, sợ hãi, và thức thực sẽ dẫn đến Depresion, trầm cảm…

Còn “3 điều” là sao?

Một là phải hiểu “thuật ngữ”.

Không hiểu thuật ngữ Phật học thì sẽ bối rối, hiểu lầm, dễ dẫn tới dị đoan mê tín. Khi phải giảng về Phật pháp, tốt nhất là ”vô ngôn”, vì ngôn ngữ tự nó đầy rẫy những cạm bẫy. Nhớ rằng Phật không giảng dạy gì, chỉ tuỳ từng trường hợp cụ thể, Phật dạy riêng cho người nào đó là đủ. Gặp người thợ rèn, Phật nói về rèn sắt, gặp người thợ giặt Phật nói về giặt giũ, gặp người chơi đàn Phật nói về dây dàn căng hay dãn… Ngay cả tiếng Pali cũng chỉ có sau khi Phật nhập Niết bàn  300 năm! Những từ Hán việt, phiên âm, dễ gây nhầm lẫn nhất. Phật luôn căn dặn “đừng tin ai cả, kể cả tôi”. “Đến thử đi rồi biết”…

“Tam- ma- địa” mới nghe tưởng là vùng đất của ba con ma! Thực ra Tam-ma-địa là phiên âm chữ Samadhi, nghĩa là Chánh định.  Niết-bàn chẳng hạn không phải là cái nơi thiên đàng, cực lạc, mà là phiên âm của Nirvana. Ngay cả “chúng sanh” cũng vậy. “Chúng” là nhiều, “Sanh” là sanh ra. Cái gì do nhiều thành tố tạo nên thì gọi là “chúng sanh”… “Chúng sanh không phải là chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh” (chúng sanh tức phi chúng sanh,  thị danh chúng sanh- kinh Kim Cang). Có một ông Bồ- tát thệ nguyện ngày nào còn một chúng sanh, tôi nguyện không thành Phật. Nghĩa là phải diệt sạch hết chúng sanh thì mới chịu làm Phật. Ông sẽ chế bom nguyên tử, bom khinh khí và các thứ vũ khí ghê gớm khác để tận diệt hết muôn loài trên cõi Ta-bà này ư?

Không. Ông thệ nguyện vậy vì ông biết chúng sanh ở trong đầu ông chớ không ở ngoài. Mấy cái xúc thực, tư niệm thực, thức thực… là “chúng sanh” do vô số thành tố tạo ra. Huệ Năng dạy: “Dứt bặt trần duyên. Chớ sanh một niệm!”.

Hai là phải hiểu ẩn dụ, ẩn nghĩa…

Kinh Pháp Hoa nói đến hóa thành, cùng tử, viên ngọc trong chéo áo, xe dê xe trâu… Niệm Quán Thế Âm thì gặp lửa lửa tắt, gặp nước cuốn trôi thì nước cạn, muốn sanh con trai có con trai, con gái có con gái…  Lửa ở đây là để chỉ lòng sân hận. Sân hận đưa ta vào chín tầng địa ngục. Đỏ mặt tía tai. Bầm gan tím ruột. Nước ở đây là để chỉ lòng tham cuồn cuộn cuốn ta vào hố thẳm, “lòng tham không đáy”… Con trai muốn nói là Trí tuệ, con gái muốn nói là Từ bi…

Ba là phải Thực hành.

Học Phật phải thực hành.  Tu phải đi với hành. Nhưng không được nóng vội. Nóng vội sẽ dẫn tới “tẩu hỏa nhập ma”. Thực hành trong cách thở, cách ăn, cách nghĩ, cách làm. Học Bồ-tát Thường Bất Khinh để luôn kính trọng mọi người, không phân biệt. Học Bồ-tát Dược Vương để luôn chân thành, ai thấy cũng vui ai gặp cũng mừng (nhất thiết chúng sanh hỷ kiến). Học Bồ-tát Quán Thế Âm để biết thấu cảm, nghìn mắt nghìn tay, hóa thân đủ hình dạng tùy cơ ứng biến. Đó chính là sự tôn trọng (respect), sự chân thành (genuine), sự thấu cảm (empathy) giúp cho cuộc sống ta luôn an lạc, hạnh phúc.

Tôn giáo nào, đạo nào cũng dạy làm lành tránh ác. Nhưng Phật giáo nêu cao “Tự tịnh kỳ ý” là điều cốt lõi và đòi hỏi sự thực hành trong đời sống hàng ngày. Tự mình, làm cho tâm ý mình trở nên thanh tịnh. Tâm ý mà thanh tịnh rồi thì cái “thấy” cái “biết” đã khác, cách nghĩ, cách làm đã khác. Con đường An Lạc mở ra từ đó.
Lòng sân hận đang nổi lên như lửa đốt, lòng tham đắm đang nổi lên như nước cuốn, nếu biết thực hành hít thở, chú ý đến hơi vào hơi ra… một lúc thì thoát.

Chỉ cần sử dụng hơi thở của chính mính để thực hành là đủ.
Thở bụng, tức thở cơ hoành. Lâu nay ta quen thở ngực. Thở ngực thì không sâu, không đưa hơi đến “huyệt đan điền” được. Tập thở cơ hoành (diaphagmatic breathing hay abdominal breathing) thì ta dễ ổn định được tâm ta. Thở bụng là giai đoạn đầu. Phải tập vài tháng sẽ quen. Không nóng vôi.
Sau đó ta tập chú ý tới hơi thở vào và hơi thở ra. Có nghĩa là ta dõi theo luồng hơi thở vào và hơi thở ra đó, hơi vào hơi ra tới đâu ta biết tới đó.  Dõi theo như vậy một lúc, ta “quên” hết mọi thứ chuyện trên đời! Đây là “Thở chánh niệm”, tức Thiền chỉ (Samatha). “Chỉ” là dừng, là ngưng, dừng ngưng ý nghĩ lăng xăng trong tâm ta. Ngưng ý nghĩ là ta đã vô tâm, vô niệm. Hết mệt, hết căng thẳng.

Rồi thử ngẫm nghĩ một chút về chuyện Thở của ta. Tại sao ta phải thở? Thở để làm gì? Không thở được không? Hơi này từ đâu ra? Nó thay đổi thế nào lúc ta mệt, lúc ta căng thằng, lúc ta sợ hãi… và lúc ta thảnh thơi, thoải mái, vui vẻ? Thì ra nó thay đổi liên tục theo tâm cảnh ta. Ta thấy biết “vô thường”. Ta muốn hít vào thiệt lâu, thở ra thiệt dài không được. Tại sao ta không có quyền kiểm soát hơi thở “của ta” ? Hoá ra nó không phải của ta, không phải là ta. Ta thấy biết “vô ngã”.

Mọi thứ có vẻ chẳng tùy thuộc vào ta chút nào! Ờ, còn cái hồi ta ở trong bụng mẹ, ta cũng không ăn  không thở mà vẫn sống nhăng đó thôi, lại còn rất mau lớn nữa. Lúc đẻ ra ta mới vất vả, phải thở, phải ăn, phải tranh giành, đấu đá… ! “Khổ” là từ đó.
Chỉ cần quán niệm hơi thở, ta thấy “tam pháp ấn” vô thường, khổ, vô ngã rồi vậy.
Còn tìm kiếm đâu xa?

Đỗ Hồng Ngọc
Saigon 8.10.2024

Nguồn: https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19582/

…. o ….

Đỗ Hồng Ngọc, M.D.
Translated  by Nguyên Giác Phan Tấn Hải

A pocketbook for the elderly
A PATH TO PEACE & JOY

Peace and joy are not merely fleeting happiness or temporary pleasure; rather, they resemble a cool stream that nourishes from within. They represent a profound state of contentment, characterized by a sense of well-being and serenity that emanates from each individual. This gentle and enduring state brings tranquility to both the mind and body, radiating outward to others. Peace and joy arise from wisdom, fostering freedom, ease, and balance in both physical and mental dimensions.

Learning Buddhism is the most effective way to cultivate peace and joy. Is there a secret to learning Buddhism easily? If you delve into the repositories of Buddhist scriptures, you will find that it is impossible to learn everything in multiple lifetimes. Furthermore, you may become consumed by inner turmoil, akin to a ghostly fire. This challenge is exacerbated in the age of the Internet, where AI, fake news, and deepfakes abound.

So, is there a secret to learning Buddhism easily?
Yes, there is a secret.
This secret comprises Three things and Four stories.

Three Things and Four Stories

The first story: The Buddha
Buddha was neither a god nor a religious leader with supreme authority capable of bestowing blessings upon humanity. He was an ordinary person, much like us, who experienced suffering, illness, old age, and death, just as all living beings do. Through his discovery of the path to liberation from suffering, he shared his insights with boundless compassion, as everyone possesses Buddha nature and has the potential to become a Buddha in the future. Buddha did not hold the exclusive right to be a Buddha alone; rather, he served as a Dharma teacher, an educator, and a revered physician.

The path taught by the Dharma Master can be summarized in just a few words:
Don’t do anything evil!
Do what is good.
You must purify your mind and thoughts yourself.
That is the teaching of the Buddhas.

Which religion does not encourage doing good and avoiding evil? What is commendable about it?

The intriguing aspect lies in the third sentence: You must purify your mind and thoughts on your own. When your mind and consciousness are pure, there is nothing more you need to accomplish.

The challenge lies in accomplishing it on your own. By yourself. This means you cannot seek assistance from anyone else. Only you can facilitate your own healing. Just as you must breathe independently—no one can breathe for you—you must also chew, swallow, eat, and drink by yourself. No one can perform these essential actions on your behalf.

Your mind is often restless and agitated. The mind resembles a monkey that enjoys constant movement, while consciousness is akin to a horse that yearns to run freely. It can be quite challenging to maintain a still and quiet mind. Achieving a state of peace and calm within the mind is no simple endeavor.

In summary, the essential step is to cleanse your mind.
How is it possible?
Yes, it is possible.

The second story: Yourself.
You must rely on yourself. Depend on yourself, as you cannot rely on anyone else. Just as no one can breathe for you, no one can eat for you. The Sixth Patriarch, Hui Neng, advised us to take refuge in ourselves. Everyone possesses three bodies: the Dharma body, the Reward body, and the Transformation body, similar to the Buddha. The Buddha taught that everyone has Buddha nature and that anyone can attain Buddhahood without distinction. When scientists mapped the human genome, they were astonished to discover that humans share 70% of their genes with trees, 26% with mustard greens, 97.5% with mice, and 99% with chimpanzees. In fact, humans share more than 99.99% of their genes with one another.

There is no need to differentiate between yellow, red, black, and white skin. Buddha is referred to as the one who is fully enlightened because he perceives this truth; so why should we make distinctions? Is it true that the ancient Buddha Vairocana embodies that gene? In the Avatamsaka Sutra, it is stated that all Buddhas possess the body of Vairocana from the Tathagatagarbha. The composition of the genetic system remains unknown, but all living beings share the same DNA, from the tiniest virus to humans, whales, and prehistoric dinosaurs. Who combined all these elements to create the diversity of life we see today? Buddha did not provide an answer to that question. Is it due to karma? The nature of that karma remains a mystery.

Everyone possesses three bodies, similar to Buddha, which means that each individual can practice mindfulness and purify their own mind to attain happiness and peace. A person who comprehends the concept of the three bodies will no longer differentiate between the rich and the poor, or the noble and the humble. They will treat everyone with respect, recognizing that we are all fundamentally alike. There is no need for discrimination, arrogance, or pride, as these attitudes only lead to suffering for oneself and others.

The Third Story: Breathing.
Try holding your breath… for a moment! You can’t do it. If you stop breathing for four minutes, you will die. Meanwhile, if you don’t eat or drink for ten days, you will also die. Breathing is essential to life. Interestingly, plants also breathe, but they require carbon dioxide (CO2) while we need oxygen (O2). We are interdependent; we cannot survive without each other. Now, try taking a deep breath… No! You must exhale at some point. Exhale for a long time… No! You must inhale eventually. Breathing is an automatic process; it does not adhere to our will. Inhaling and exhaling occur due to pressure changes in the lungs. It operates independently of us. It is not ours; it is not our self. We can recognize our “selflessness” simply by observing our breath.

Thousands of years ago, did ancient people breathe? Did Buddha breathe? Thousands of years from now, will future humans still breathe?
When you listen to your breath,
you realize that it has existed for thousands of years.
One day, it accidentally became your breath
after getting caught in a speck of dust.
While this breath is yours, it is not entirely yours;
it will continue to belong to thousands of years in the future.
(ĐHN)

It turns out that the air in this universe is a vast, pervasive void that enables our survival. The brain accounts for only 2% of our body weight but consumes nearly 30% of the oxygen we breathe. Why is this the case? Because that oxygen is essential for brain activity, which primarily involves processes such as calculation, competition, jealousy, fear, anger, and conflict with one another. Is there a way to reduce this consumption? Yes, by simply “purifying your own mind.”
Don’t forget that when our enemy exhales, we inhale. Conversely, when we exhale, our enemy inhales; this illustrates just how close the two sides are!

Breathing also allows us to recognize suffering. While we were in our mother’s womb, we did not breathe and had no worries. Upon our birth, we cried and experienced suffering, which would follow us throughout our lives. When we can no longer breathe, we cease to suffer. Do we only borrow breath in our lives for the purpose of suffering, hatred, conflict, and competition? Is there no time for our minds to find peace and happiness? Meditation offers a way to utilize our breath to alleviate anxiety, fear, and suffering. Through mindful breathing, we can perceive impermanence, suffering, non-self, and dependent origination. Is it not through meditation that we discover purity and witness the unchanging, the blissful, the essence of self, and true purity?

The Fourth Story: Eating
Why do we need to eat? What do we eat? How much do we eat? How do we eat? The Buddha carried his alms bowl and spent some hours each day begging for food, happily accepting whatever was offered to him without asking for specific items or refusing any contributions. He would return and roll the food into a ball to eat mindfully, a practice referred to as “eating solid food.” This food typically includes a balance of starches (carbohydrates), beans, meat, fish (proteins), sesame, butter (fats), and, of course, vegetables and fruits (which provide minerals and vitamins). Food can sometimes lack certain elements or have an excess of others. However, this is not a significant issue. This component in food can be easily converted into another component. For example, flour and sugar also contain proteins, fats, and other nutrients. These foods encompass all the elements of “earth, water, wind, and fire,” representing the four elements and the five aggregates. Ultimately, consuming the five aggregates serves to nourish the body composed of the same five aggregates. When we engage in the daily practice of begging for food, we come to understand that all phenomena are interdependent, impermanent, and devoid of a permanent self.
Eating and drinking serve not only to nourish the body but also to enrich the mind. Buddha identified four categories of food: solid food, sensory food, volitional food, and consciousness food. Each day, we are inundated with a vast amount of information from our surroundings. That sensory food can evoke a range of emotions, from happiness to sadness to dizziness. Consider disconnecting from electricity, silencing your phone, and turning off the internet for a day!
Contact leads to feelings, which then give rise to love, attachment, and existence. From feelings, perception emerges. When feeling disappears, and when perception ceases, there will be no more arising of dharmas. Perception leads to volitional food and consciousness food. When sentient beings have formed, it leads to wrong knowledge and views, and then prejudices, concepts, and definitions will besiege us. Then sensory food easily leads to stress, volitional food leads to anxiety and fear, and consciousness food leads to depression.

What about the three things?

First, it is essential to understand the terminology.
A lack of comprehension regarding Buddhist terminology can result in confusion, misunderstanding, and may easily lead to superstition. When it comes to teaching the Dharma, it is often best to avoid using words, as language can be fraught with misunderstandings. It is important to remember that the Buddha did not adhere to a rigid teaching method; rather, he tailored his lessons to suit each individual’s unique circumstances. For instance, when he encountered a blacksmith, he spoke about forging iron; when he met a washerman, he discussed the art of washing; and when he came across a zither player, he talked about the tension of strings. Furthermore, the Pali language was developed approximately 300 years after the Buddha attained Nirvana. Meanwhile, Sino-Vietnamese characters and phonetic transcriptions can be particularly perplexing. The Buddha consistently advised against placing blind trust in anyone, including himself. He emphasized the importance of personal experience, encouraging individuals to explore and discover the truth for themselves.
The same is true of the word “chúng sanh.” The word “chúng” means many, and “sanh” means to arise. Anything composed of multiple elements is referred to as a living being. The Diamond Sutra states that beings are not truly living beings; they are merely temporarily designated as such. There was a Bodhisattva who vowed that as long as even one living being remained, he would not attain Buddhahood. In other words, he must eliminate all living beings before he could become a Buddha. Would he resort to creating atomic bombs, hydrogen bombs, and other devastating weapons to annihilate all living beings in this samsaric world?
No, he made that vow because he understood that sentient beings resided within his mind, not outside of it. Sensory food, volitional food, and consciousness food are all “sentient beings” formed by countless elements. Hui Neng taught, “Cut off all worldly conditions. Do not give rise to a single thought!”

Second, we must understand metaphors and hidden meanings.
The Lotus Sutra discusses the illusory city, the prodigal son, the pearl hidden in the corner of a robe, a goat cart, and a buffalo cart. If you chant the name of Quan Âm, fire will be extinguished when you encounter it; floods will recede when you face them; if you desire a son, you will have one; if you wish for a daughter, you will have one as well.
Fire symbolizes anger, which can lead one to the nine levels of hell. In such moments, your face may flush red, and your ears may take on a purplish hue. This intense anger can feel as if your liver and intestines are being torn apart. Flooding represents greed, which surges forth and pulls you into the abyss—a realm of insatiable desire. The image of the son embodies Wisdom, while the image of the daughter signifies Compassion.

Third, you must practice.
Learning Buddhism requires dedicated practice, which must be accompanied by cultivation. However, it is important not to rush. Haste can lead one astray, and the fires of confusion may ignite in the mind. Practice mindfulness in your breathing, eating, thinking, and actions. Learn from Bodhisattva Never Disparagingto always show respect to everyone, without discrimination. Take inspiration from Bodhisattva Medicine King to cultivate sincerity, allowing you to find joy in every encounter. Learn from Bodhisattva Avalokiteshvara to cultivate empathy, embodying the spirit of one who can manifest a thousand eyes, a thousand hands, and a thousand forms to assist humanity. These qualities of respect, sincerity, and empathy contribute to a life that is peaceful, joyful, and fulfilling.
Every religion and belief system teaches the importance of doing good and avoiding evil. However, Buddhism emphasizes the principle that one must purify one’s mind by oneself, which requires consistent practice in daily life. By yourself, you have to make your mind pure. When your mind is pure, anything you see and know will be different; the way that you think and act becomes different. The path of peace and joy opens up from there.
The moment anger rises like a blazing fire or when greed surges like a rushing tide, if you know how to practice mindful breathing—paying attention to your inhalation and exhalation—you can break free from these emotions.
With consistent practice, simply using your breath can be sufficient to overcome anger and greed.
You should practice belly breathing, which means breathing with your diaphragm. You’ve been used to breathing from your chest for a long time. Breathing only in the chest means that the breath is shallow and does not reach the “dantian point.” Practicing diaphragmatic breathing (or abdominal breathing) helps you stabilize your mind more easily. Belly breathing is the initial stage. It takes a few months of practice to get used to it. Be patient and do not rush the process.

Then, practice focusing on your in-breath and out-breath. This involves following the natural rhythm of your breathing, and becoming aware of each inhalation and exhalation. As you engage in this practice for a while, you may find that you forget everything else in the world! This technique is known as “Mindful breathing” or Samatha meditation. “Samatha” means stopping, seeing the thoughts disappear in your mind. When you are fully present and recognize that your thoughts have dissipated, you experience a state of mindlessness and thoughtlessness. In this state, you are letting go of fatigue and stress.
Take a moment to reflect on your breathing. Why is it necessary to breathe? What is the purpose of respiration? Is it possible to stop breathing? Where does your breath originate? How does your breathing change when you are tired, stressed, or afraid, compared to when you are relaxed, comfortable, or happy? It becomes evident that your breath fluctuates in response to your mental state. You observe and recognize the concept of impermanence. You may wish to inhale deeply and exhale slowly, yet you find it difficult to do so. Why do you lack control over “your breath”? So, it does not belong to you; it is not a part of your identity. By understanding this, you begin to perceive the notion of non-self.
It may seem like everything is beyond your control! However, when you were in your mother’s womb, you neither ate nor breathed, yet you were still alive and grew rapidly. Once you were born, you faced challenges: you had to breathe, eat, struggle, and compete. This is where suffering originates.

By simply contemplating your breath, you can observe the three marks of the Dharma: impermanence, suffering, and non-self. Why search any further?

………………………………………

tranthinguyetmai.wordpresse

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Hai Trầu Lương Thư Trung: Thư Nguyễn Hiến Lê (20.7.1979) gởi Đỗ Hồng Ngọc.

26/09/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư Hai Trầu Lương Thư Trung:

Kính gởi quý bạn,

Được biết bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc may mắn gặp được học giả Nguyễn Hiến Lê và có thư từ qua lại với thầy và nay thấy mấy anh em mình dù đã trộng tuổi rồi mà vẫn còn đi tìm mua và đọc sách của thầy Nguyễn Hiến Lê, nên anh Ngọc rất vui gởi tặng tôi lá thư thầy Nguyễn Hiến Lê gởi anh cách nay 45 năm (20-7-1979) để xem qua nét chữ và các trò chuyện thân tình của thầy với một người học trò nhỏ hơn thầy… 30 tuổi.
Vậy là tôi mừng quá, đọc ngay bức thư 4 trang của thầy rất cảm động và trong thư thầy có nhận xét về bài bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc viết về thầy: “ÔNG NGUYỄN HIẾN LÊ VÀ TÔI” đăng trên tạp chí Bách Khoa số cuối cùng (Số 426 ngày 25.4.1975), tôi liền xin anh Ngọc cho tôi bài viết  này vì tình thiệt là tôi chưa được đọc số Bách Khoa này có lẽ vì những ngày cuối tháng 4-75 quá lu bu và không nghĩ gì tới sách vở báo chí nữa và cho mãi tới hôm nay sau gần 50 năm tôi vẫn chưa đọc.
 Anh Đỗ Hồng Ngọc rất vui và gởi cho tôi bức hình chụp bài này trên tạp chí Bách Khoa số 426 ngày 25-4-1975:
https://www.dohongngoc.com/web/storage/2017/11/Nguyen-Hien-Le-DHN-BachKhoa-426.pdf
Nhận thấy đây là hai tài liệu quý về thầy Nguyễn Hiến Lê, nên tôi xin phép anh Ngọc được gởi chia sẻ với vài anh chị rất thân thiết để đọc cho vui trong vòng anh em.
Xin chân thành cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc rất nhiều đã chia sẻ hai tài liệu quí này.
Kính chúc anh Ngọc cùng các anh chị luôn nhiều sức khỏe, an vui.
Thân mến,
Hai Trầu Lương Thư Trung

LÁ THƯ THẦY NGUYỄN HIẾN LÊ GỞI
BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

Long Xuyên 20. 7. 1979
Cháu Hồng Ngọc,
Tôi về đây từ 4.6, tính 1.8 mới trở lên Sàigòn. Về để chuẩn bị sang năm sẽ về ở hẳn dưới
này: già rồi, nhà tôi muốn ở tại quê hương gần họ hàng, người thân.
Mới nắng được một tuần nay, mà nắng gắt; trước đó mưa liên tiếp ba tuần, buồn quá,
không biết làm gì đọc lại báo cũ, số BK cuối cùng 25.4.75. Đọc lại bài cháu viết về tôi,
rồi đọc lại bài Bàng Bá Lân (trong Kỉ niệm nhà văn hiện đại), bài anh Ngư (trong Sống
và Viết) và tập Châu Hải Kỳ viết về tôi.
Bài của cháu ngắn nhất mà tôi thích nhất, vì thành thật, tự nhiên, thân mật nhất. Lối viết
của cháu cũng giống lối viết của tôi: Sáng sủa, gọn gàng, cụ thể, xen nhiều hồi kí, tình
cảm, hấp dẫn. Không có những câu dài lúng túng như một số cây bút trẻ.
Tôi nghĩ cái buổi trưa cháu thấy cuốn Kim chỉ nam của tôi ở trên vỉa hè đường Trần
Hưng Đạo đó. Không vì nó là một điểm quan trọng đánh dấu đời cháu mà cũng có ảnh
hưởng ít nhiều đến đời của tôi nữa. Trong bảy tám năm nay cháu giúp tôi được nhiều khi
tôi đau, nhờ cháu mà tôi biết cậu Hùng – cháu có gặp, cho tôi gởi lời thăm cậu ấy – mà
hết được tật và bệnh thận. Rồi bài cháu viết về tôi chắc khiến cho nhiều người hiểu tôi
hơn; lại còn những quà như bánh tráng, hột điều, mạch nha mà bây giờ không làm sao
có được nữa. Ngon lạ.
Nhớ lại hồi đó, mới đây thôi mà đã đúng như câu thơ cổ: “Vạn sự tan như mây khói” cả
rồi. Cả cái mộng đi một tua thăm Nam Trung Bắc cũng tan biến nữa. Tôi chưa về thăm
ngoài đó mà cũng không muốn về nữa.
Còn sống ít năm nữa thì rán viết như bắt óc làm việc cho nó khỏi mau suy, và cũng để
cho mau qua 24 giờ trong một ngày.
Tôi đã làm gần xong chương trình của tôi rồi: giới thiệu kĩ và dịch trọn hoặc gần trọn tác
phẩm của tất cả các triết gia lớn của T.H. thời Tiên Tần: 7-8 bản thảo trung bình 400
trang một. Không biết giữ được bao lâu? 10 năm, 20 năm nữa?
Tôi cũng tính viết qua loa (vài trăm trang thôi) hồi kí. B.B Lân đã viết xong 500 trang,
Quách Tấn viết cả ngàn trang rồi mà chưa xong.
Nhưng tôi không biết viết gì bây giờ? Viết về hoạt động văn hóa của tôi? Thì các tác
phẩm của tôi đó, viết thêm gì nữa?
Viết về đời sống của tôi hồi trẻ? Thì cũng đã lác đác có trong một số tác phẩm của tôi
rồi. Viết về bạn văn? Tôi ít bạn văn, chỉ khoảng mươi người, khen họ thì tôi nghĩ nên vắn
tắt thôi, không cần viết dài, còn chê thì tôi không có gì để chê!

Cháu nghĩ xem tôi nên viết gì đây? Tôi chưa đọc cuốn Mon ami qui s’appellait moi của
A.Maurois mà cháu nhắc trong bài báo BK đó. Ông ta nói gì trong đó? Cháu có cuốn đó
không? Tôi sẽ hỏi Lê Ngộ Châu xem có cuốn đó không.
Trong bài cháu viết, có nhắc tới “anh chín NS” thợ may. Nay ông ta vui không? Yên ổn
làm ăn được không? Con cái khá không?
Từ 1975 tới nay, tôi vẫn thường được thư của thanh niên, toàn là những cậu mới hay sắp
đậu tú tài thì nước nhà thống nhất. Họ vẫn tin tưởng ở sách của tôi. Tôi mong rằng họ sẽ
không thất vọng, và tôi thương họ!
À, gần đây cháu có gặp Thầy Từ Mẫn không? Ông Nguyễn Hữu Vị nữa?
Năm ngoái Viện khoa học xã hội sai người (người này quen tôi) lại dò xem tôi còn ở đây
không. Rồi mới hai tháng trước một cán bộ quen tôi từ mười mấy năm trước (sơ sơ thôi)
cũng lại hỏi tôi có tính đi đâu không. Tôi đáp: Có, tính về Long Xuyên ở cho trọn cái tuổi
trời. Họ ra về và chẳng trở lại nữa.
Thư này tôi viết ở L.X nhưng không nhớ địa chỉ của cháu, phải đợi về Sàigòn rồi mới gởi
được. Khoảng đầu Aout, chưa biết ngày nào tôi sẽ lên. Xe cộ đi bây giờ mệt lắm mà tốn
kém lắm.
Tôi chúc toàn thể gia đình cháu an vui.
Bệnh của nhà tôi bớt nhiều (8/10) rồi nhờ Gasepeline ở Pháp gởi về.
Thân ái,
Nguyễn Hiến Lê

Phụ chú:
-Hai Trầu đánh máy lại và ghi tựa bài.
-Xin đính kèm thủ bút của thầy Nguyễn Hiến Lê trong thư (trang 1 và trang 4):

Trang 1 và trang 4.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“Trò Chuyện Với Các Bạn Nhỏ” Ở Lagi (Bình Thuận)

15/07/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (7.2024) 

“Trò Chuyện Với Các Bạn Nhỏ” Ở Lagi (Bình Thuận)

Tháng 6 mình có 2 dịp “Trò chuyện với các bạn nhỏ” là Học sinh tham dự khoá tu Mùa hè ở Ni Viện Viên Không Bà Rịa (9.6) và ở chùa Quảng Đức Lagi (30.6).

Bạn nhớ đúng rồi đó, mình là bác sĩ chuyên khoa Nhi mà, nên quan tâm đặc biệt lứa tuổi Vị thành niên, Tuổi Mới Lớn không gì lạ! Đây là lứa tuổi thường bị “bỏ quên” vì lớn thì chưa lớn mà nhỏ thì hết nhỏ. Đó là lứa tuổi “chuyển tiếp” có rất nhiều vấn đề về Tâm sinh lý, về Bệnh lý…phức tạp, không dám nói ra, không tiện nói ra… Ngay từ năm 1972 mới ra trường 3 năm, mình đã viết cuốn “Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò” mà lý do là viết từ “nỗi lòng” của mình, để lâu, sợ quên!

 

 

 

 

Rồi suốt hơn 10 năm viết cho báo Mực Tím (1989-2002) giữ Mục Phòng Mạch Mực Tím cho “tuổi mới lớn” mình nhận hàng mấy bao bố thư hỏi của các em về đủ mọi thứ chuyện “trên đời”, vì thế mà mình cũng đã có những cuốn sách tiếp theo như “Tuổi Mới Lớn”, “Bỗng nhiên mà họ ta lớn”, “Những câu hỏi của Tuổi mới lớn”, “Khi người ta lớn” “Ăn vóc học hay”…

Vậy đó, cho nên có dịp được trò chuyện với các em học sinh trong Khoa tu mùa hè thì mình rất vui.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cảm ơn Nguyễn Văn Quyền đã quay được một clip video rất đẹp ở Lagi, quê mình.

Chuyển bạn xem vui nha,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Cao Huy Thuần “Chia tay mà không biệt ly”

09/07/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Chia tay mà không biệt ly”

Khi anh Cao Huy Thuần gởi tôi tập Im Lặng, như lời chia tay… , tôi nghĩ: chắc là “Im Lặng thở dài…” đây rồi! “Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe im lặng đời mình” (Trịnh Công Sơn)? Nhưng không. Cao Huy Thuần nói về “chia tay mà không biệt ly”…

Nhưng đâu là cách chia tay mà không biệt ly? Cao Huy Thuần dẫn bài thơ Feuille morte (lá chết) của Hermann Hess, tác giả Siddhartha. Anh “phát hiện” một điều thú vị: người Việt không ai nói “lá chết” mà nói “lá khô”, “lá rụng”. Quét lá rụng, quét lá khô, không ai nói quét lá chết như ngôn ngữ Pháp, Đức. Bởi vì, lá không bao giờ chết. Nó khô, nó rụng, rồi nó tái sinh thành lá búp lá non (Im Lặng, CHT).

“Chân lý” ấy do hai con sên của nhà thơ Jacques Prévert trên đường đi dự đám tang một chiếc lá chết, tựa là: “Bài ca hai con sên đi dự đám tang”.

Hai con sên đi đưa

Đám tang chiếc lá chết

Hai cái vỏ thì đen

Hai sừng băng trắng hết…

Hỡi ôi khi chúng đến

Mùa xuân đã đến rồi

Bao nhiêu lá chết xong

Tất cả đều lại sống

Hai chú sên trở về

Với xiết bao cảm xúc

Lòng tràn ngập hân hoan

Và vô biên hạnh phúc…

Ôi, làm sao hai chú sên đi dự đám tang chiếc lá chết buồn xo giữa mùa thu… mà nay lòng lại tràn đầy hân hoan, hạnh phúc? Ấy bởi vì chúng là sên. Chúng “bò như sên”! Bò hết cả mùa đông, chưa kịp đến nơi mà xuân đã về rồi! “Bao nhiêu lá chết xong/ Tất cả đều lại sống…”.

Tiễn mùa thu thì gặp mùa xuân. Tiễn cai chết thì gặp cái sống. Tiễn ảm đạm thì gặp tưng bừng. Hai con sên chia tay mà chẳng biết biệt ly là gì! (Im Lặng,CHT).

Cao Huy Thuần nói: “chúng chẳng có cả khái niệm…”. Dĩ nhiên, Cao Huy Thuần đang nói về Kinh Kim Cang! Khi ta mà biết sống “ly niệm”, khi ta không còn bám chấp vào khái niệm… thì “trí bất đắc hữu vô”. Thong dong. Tự tại.

Descartes nói “Je pense, donc je suis – Tôi tư duy, nên tôi tồn tại”. Ta cũng có thể bắt chước nói: “Tôi thở, vậy có tôi”. Nghĩa là nếu tôi không thở thì không có tôi. Nhưng cái thời tôi còn trong bụng mẹ, tôi cũng không thở mà vẫn có tôi đó thôi. Từ đó, suy ra rằng cái thời tôi… hết thở, ngừng thở, thì tôi vẫn tồn tại đó chứ, sao không? Tôi lúc đó trở lại trong bào thai Mẹ (bào thai Như Lai, Tathagata garbha) đó chứ!

Anh Cao Huy Thuần thân mến, nếu thỉnh thoảng ta mà vào được Tam muội Phổ Hiền, sống trong Như Lai tạng thì ta cũng có thể nhận ra cái “vô tưóng” – bỗng “hiện tướng”… đùa vui giữa chốn Ta-bà chút vậy thôi.

Khi con chim bay, nó không cần biết trời là gì, đâu là giới hạn. Nó chỉ bay. Trong bầu trời vô tận. Cao Huy Thuần đang bay.

Đường bay của hạnh phúc. Lấp lánh ánh vàng!

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Khoá hè học sinh tại Ni Viện Viên Không 2024 (tiếp theo)

22/06/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Khoá hè học sinh tại Ni Viện Viên Không 2024

 

Tạo không khí sinh đông và tích cực tham gia của các em không gì tốt hơn… kể chuyện xưa và cho các em  đặt câu hỏi “một cách bí mật” trên giấy, không ghi tên tuổi gì cả, dĩ nhiên là vẫn trong chủ đề “Lối sống lành mạnh về Ăn uống, Ngủ nghỉ và Giải trí… của tuổi học sinh.

Và các em đã rất vui:

 

 

 

Tôi mời các “tình nguyện viên”, các Sư cô rỗi rảnh cùng tham dự, kể cả phụ huynh…

 

 

 

Dưới đây là vài câu Hỏi-Đáp gởi các bạn đọc vui:

 

  1. Chuyên khoa nào cũng khó con ạ. Phải học tới nơi tới chốn.
  2. Phải say mê con ạ. Thấy việc mình làm là có ích cho mọi người.
  3. Khác một chút thôi: Họ rất bận rộn. Tinh thần trách nhiệm cao. Căng thẳng. Phải luôn học hỏi vì nếu không, sẽ bị “lỗi thời” nhanh lắm. Bác sĩ phải là một sinh viên y khoa suốt đời. Còn phải có lối sống gương mẫu trong cộng đồng nữa…
  4. Vui trong công việc của mình. Mỗi sáng bác ngồi thiền 30 phút và thể dục 30 phút theo kiểu riêng của bác. Ăn uống đơn giản, không rượu, không thuốc lá… con ạ.
  5. Thấy vui lắm. Thấy rất hạnh phúc

Đâu có! Người chết thì không còn biết gì. Nỗi buồn thường là ở người thân, bạn bè. Ông thì hy vọng điều cuối cùng… để lại là nỗi nhớ của các con về buổi học hôm nay dưới mái chùa này…

Giả bệnh để chi? Để trốn học hả? Uổng lắm. Sau này, trong đời ta còn có chút kỷ niệm là buổi học hôm nay, tại chốn này, cùng bạn bè bốn phương đó con.

Nhiều người sống khỏe đến tuổi trên 100 đó con ạ. Sống lâu, sống khoẻ nhưng phải sống an vui, hạnh phúc nữa.

Bác cứu con hổng nổi! Bác cũng vậy thôi. Con biết nhà thơ Đỗ Trung Quân không? Ông có bài thơ viết hồi còn đi học như con bây giờ: “…là bài thơ cứ còn hoài trong cặp/ giữa giờ chơi mang đến lại mang về”…

Chỉ có một cách là con biến bài học thành… chuyện “tào lao” thì sẽ nhớ tốt. Nguyên tắc là làm cho bài học vui, bằng cách kể chuyện, đố nhau, hoặc giả bộ làm thầy cô đặt câu hỏi cho mình, hay giảng bài cho người bạn cùng lớp…

Tuổi con mà cao 172cm là tốt rồi, còn dài thêm được không thì bác cũng chịu thua! Hỏi khó quá!

Phải có điều kiện gì mới cần phải giữ “tế bào gốc” theo lời khuyên của bác sĩ chuyên môn con ạ.

Con phải chỉ chị ấy là ai thì bác mới hỏi giùm con được. Bác sẽ nói với chị rằng có em nhỏ kia muốn biết tên và tuổi của chị nè!

Cám ơn con.

 

 

Cuối giờ, một số các em xin chụp chung tấm hình kỷ niệm, một vài em còn tìm đến hỏi riêng…

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(22.6.2024)

Thuộc chủ đề:Hỏi đáp, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Ngày Của Cha: NGƯỜI CHA TRONG THƠ CA & ÂM NHẠC

16/06/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

NGƯỜI CHA TRONG THƠ CA & ÂM NHẠC

PHẠM HIỀN MÂY

Người Cha Trong Thơ Ca

Cha trong ca dao, tục ngữ, trong thơ, thì nhiều lắm lắm, nêu ra, có mà cả ngày.

Nào là: công cha như núi Thái Sơn. Nào là: ơn cha nặng lắm ai ơi.

Rồi thì: còn cha gót đỏ như son / một mai cha mất gót con lấm bùn. Rồi thì: ơn cha dưỡng dục bằng non; ơn cha bóng núi âm thầm.

Chưa hết: khi con tát cạn biển Đông / thì con mới hiểu tấm lòng của cha. Rồi đây nữa: Cha một đời oằn vai gánh nặng. Hay: con giữ cha, gà giữ ổ.

******

Còn thơ thì, tôi nhớ hoài, một bài thơ đã từng làm tim tôi rúng động. Không phải là bài thơ con viết cho cha, con viết về cha, con ca ngợi cha, mà ngược lại, đó là lời từ biệt của người cha đối với con của mình, khi con gặp tai nạn bất ngờ, và qua đời trong sự đau đớn tột cùng của người cha.

Khi cha mất con, con chỉ vừa ngưỡng tuổi hai mươi, thanh xuân, tươi trẻ, xinh đẹp, giỏi giang. Đó là bài thơ của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ, khóc con của mình, Đỗ Châu La Ngà, một bác sĩ tương lai.

Đọc, để biết cha thương con đến thế nào

TÌNH YÊU

Trước mộ con còn ướt
Ba nói với bạn bè ba rằng
Hãy yêu thương con mình cách khác
Đừng như ba
Giấu kín trong lòng

Bởi tình yêu
Có bao giờ cho đủ
Có đâu sợ dư thừa
Ba đã sai lầm bao nhiêu

Hãy tỏ bày đi
Vồ vập đi
Âu yếm ồn ào đi

Tình yêu
Có bao giờ cho đủ
Có đâu sợ dư thừa
Ba đã sai lầm bao nhiêu

Vì cứ chờ cứ đợi
Có biết đâu
Đời như mây nổi
Như gió thổi

Như chiêm bao
Ơi bài học tự thuở nào
Sao bây giờ mới hiểu
Muốn vồ vập con hôm nay

Muốn âu yếm con mãi mãi
Thì đã muộn rồi
Có bao giờ thừa thãi
Tình yêu?
(1990)

Vậy thì các bạn ơi, đừng nén, đừng giấu sự thương yêu trong lòng. Vì chẳng có lý do nào hợp lý cho việc che đậy những tình yêu thiêng liêng ấy.

Tình yêu cho cha, có bao giờ cho đủ?
Tình yêu cho cha, có đâu sợ dư thừa?
Tình yêu cho cha, sao phải chờ, phải đợi?

Hãy nói thật nhiều lời yêu thương khi còn có thể.

******

Người Cha Trong Âm Nhạc

Nhạc Việt, phải kể đến các ca khúc như: Cha Và Con Gái của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung. Sao Cha Không của Phan Mạnh Quỳnh. Cha Và Con của nhóm Bức Tường. Làm Cha của Dương Trường Giang. Cảm Ơn Cha của Nguyễn Hồng Thuận. Cha của Anh Tuấn. Ba Kể Con Nghe của Nguyễn Hải Phong. Cây Vĩ Cầm của Lê Yến Hoa.

Nhạc nước ngoài thì có các ca khúc như: Father And Son của nhạc sĩ người Anh Cat Stevens. The Father’s Day Song của Bryant Oden. Thank You For Being My Dad của Jon Barker. Father And Daughter của Paul Simon. Seeing My Father In Me của Paul Overstreet. Daddy’s Little Girl của nhóm The Shires. That’s My Job của Conway Twitty. Daddy’s Hands của Holly Dunn. My Old Man của Zac Brown Band.

******

Nhưng hay và đặc biệt nhứt, vẫn là ca khúc vinh danh Papa của Paul Anka, một nhạc phẩm pop xúc động về tình phụ tử, được viết bởi nhạc sĩ người Canada, sinh năm 1941, một trong những khuôn mặt được yêu thích của giới trẻ vào cuối thập niên năm mươi của thế kỷ XX.

Papa ra mắt vào năm 1974, cho đến nay, đã vừa tròn năm mươi năm. Thế mà, chưa một ca khúc nào có thể qua mặt được nó, kể cả về nội dung, giai điệu lẫn số lượng người hâm mộ, yêu thích.

Được coi là ca khúc kinh điển nhất về cha, Papa của nam ca sĩ Paul Anka đã từng được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Những ca từ đầy ý nghĩa về tình yêu thương vô bờ bến của một người chồng dành cho vợ và của một người cha dành cho các con mình, đã làm đắm say biết bao thế hệ người yêu nhạc.

Papa là lời kể của một người con khi hồi tưởng lại quá khứ cùng với nỗi nhớ cha da diết. Người cha trong ca khúc đã trải qua biết bao vất vả, khó khăn và cả những giọt nước mắt của sự hy sinh thầm lặng để đem lại cuộc sống ấm no cho gia đình mình.

Có những lúc tưởng như người cha ấy đã gục ngã trước những đắng cay, oan nghiệt của cuộc sống. Nhưng không, ông vẫn luôn mạnh mẽ và vững vàng để nuôi dạy con mình nên người. Papa mang một lời nhắn nhủ rằng: Cha luôn là người vĩ đại nhất và là tấm gương sáng nhất để con cái noi theo.

******

PAPA

Every day my papa would work
To help to make ends meet
To see that we would eat
Keep those shoes upon my feet

Every night my papa would take and
Tuck me in my bed
Kiss me on my head
After all my prayers were said

Growing up with him was easy
Time just flew on by
The years began to fly
He aged and so did I

I could tell that mama wasn’t well
Papa knew and deep down so did she, so did she
When she died, Papa broke down and cried
All he said was, God, why not take me

Every night he sat there sleeping
In his walkin’ chair
He never went upstairs
All because she wasn’t there

Then one day my papa said
Son, I’m proud the way you’ve grown
Make it on your own
Oh, I’ll be ok alone

Every time I kiss my children
Papa’s words ring true
Your children live through you
They’ll grow and leave you, too

I remember every word
My papa used to say
I live that every day
He taught me well that way

Every night, my papa would take me
And tuck me in my bed
Kiss me on my head
All my prayers were said

Every night, my papa would take me
And tuck me in my bed
Tuck me in my bed
All my prayers were said.

******

NGƯỜI CHA DẤU YÊU

Tại sao phải đợi đến Ngày Của Cha?

Vì ngày đó, ta mới được nghỉ? Vì ngày đó, ta mới rảnh rỗi để mua quà? Vì ngày đó, nếu không thăm cha, nếu không có quà cho cha, cha sẽ buồn?

Không cần rình rang, không cần lớn lao, to tát chi. Lâu lâu, đôi, ba ngày, một cuộc gọi, một tin nhắn, ba khỏe không ba? Thấy gì ngon, thấy gì hay, thấy gì cha thường thích, ghé mua, tạt qua về nhà, gõ cửa phòng cha, đưa món quà, hỏi, đúng ý ba hơm ba? Rồi nhận lại từ ba một cái gật đầu. Nhận lại từ ba ngón tay cái đưa lên. Thấy lòng rộn vui xiết bao.

Là mình vui.

Không ai có thể đoán trước được điều gì. Nên cố gắng đừng hẹn với lòng mình, đừng tặc lưỡi một cái, thôi cuối tháng này, thôi cuối tuần này, dzìa nhà thăm ba cũng được mà.

Có ai đó nói nhỉ, hãy sống như bạn sẽ chết ngày mai, à, ông Mahatma Gandhi. Thì bây giờ, sửa lại chút, hãy cứ đối xử với cha mình, người thân mình, như thể, họ chỉ còn hôm nay để sống.

Ưu tiên cho ba, thời gian và tình cảm, chuyện đó dễ thương xiết bao. Và nhớ nữa, những lời ba dặn: Con trai à, cha tự hào vì con đã khôn lớn. Hãy bước ra và làm chủ cuộc đời của riêng con. Đừng lo cho cha, cha ở một mình ổn mà. Con cái con mới là cuộc sống của con.

Hãy sống như thế, mỗi ngày, và.

MÃI KHẮC GHI TRONG TIM LỜI KHUYÊN CỦA NGƯỜI!

Sài Gòn 16.06.2024
Phạm Hiền Mây

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

NGUYỄN THIÊN NGA: Từ Bài Thơ Cùng Tuổi Với Tôi

11/06/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Từ Bài Thơ Cùng Tuổi Với Tôi

NGUYỄN THIÊN NGA

Trên kệ sách của mình, tôi đang chỉ có trên mười đầu sách của Nhà Thơ – Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Trong đó có một cuốn tôi mới được bạn tặng và có chữ ký của chính tác giả, đó là tác phẩm “Áo Xưa Dù Nhàu…”, xuất bản năm 2022. So với số lượng trên 60 đầu sách của ông ở nhiều thể loại tùy bút, tản văn, Y học, Phật học, Thiền học… thì số sách tôi đang có còn quá khiêm tốn.

Tôi có thói quen đọc sách nên luôn mải mê với từng tác phẩm mình đã có trong tay hoặc đi mượn bạn bè. Tuy nhiên có một tác phẩm của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc mà tôi đọc rất nhiều lần, đó là “Thư Gửi Người Bận Rộn”, NXB Văn Nghệ TP.HCM xuất bản 2005.

Lẽ nào tôi là một trong nhiều người bận rộn nên thích đọc “Thư Gửi Người Bận Rộn” (?)

Cũng có thể lắm chứ!

Cuốn sách này tập hợp 60 bài viết – 60 bức thư thật dễ thương tác giả gửi những người bận rộn. Giọng văn dí dỏm, giàu cảm xúc đan xen nhiều kiến thức y khoa của Đông – Tây khiến người đọc cảm thấy nhẹ nhàng, thú vị. Con số 60 cũng gợi nhớ đến 60 bức thư trong cuốn “Thư Gửi Người Đàn Bà Không Quen Biết” của André Maurois – Dịch giả Nguyễn Hiến Lê (điều này đã được bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhắc đến một cách hóm hỉnh trong bài viết thứ 61, tôi hiểu đó như thay lời Bạt của “Thư Gửi Người Bận Rộn”).

Tôi dừng mắt nhiều lần hơn ở bức thư cuối cùng: “Về Một Bài Thơ”. Trong đó, tác giả nhắc trọn vẹn “Thư Cho Bé Sơ Sinh”, bài thơ được viết vội sau ca trực đỡ sanh đầu tiên của mình vào một đêm năm 1965. Vốn cũng là “bé sơ sinh” vào cùng năm ấy, tôi bây giờ đã… sắp già, hóa thân vào bạn ấy ngấu nghiến một lần nữa bức thư bác sĩ gửi và cảm xúc luôn dâng trào.

 

Thư Cho Bé Sơ Sinh

 

Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em!


Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen!

Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ…


Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến!


Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu!


Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em…


Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận… Con người…

Đỗ Hồng Ngọc (Bệnh viện Từ Dũ, Sài Gòn 1965)

 

***

 

“Bé sơ sinh” trong bài thơ được sinh ra ở bệnh viện Từ Dũ, Sài Gòn. Còn tôi, cũng năm 1965 ấy, tôi ra đời tại nhà Bảo sanh cô Nhung, gần cuối con đường Đào Duy Từ, Đà Lạt. Cùng một khoảng thời gian, khác về không gian, nhưng những bé sơ sinh chúng tôi đều chào cuộc đời bằng tiếng khóc, hòa vào chuỗi âm thanh buồn của chiến tranh.

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen!

Có một sự hồi tưởng nhẹ nhàng về các câu hát của nhạc sĩ Xuân Hồng trong ca khúc “Đôi Mắt”:

Mẹ cho em đôi mắt tuyệt vời

Để nhìn đời, nhìn rõ đục trong

Thôi thì, “thứ thuốc màu nâu” mà bác sĩ đã nhỏ vào mắt dù ngay lúc đó khiến bé “không nhìn đời qua mắt thực”; sau này hy vọng cũng giúp mắt bé sáng hơn để nhìn rõ cuộc đời trong đục.

Bài thơ được tác giả khai thác một cách tinh tế các khía cạnh tương phản của đời sống. Nghe như lời thủ thỉ mà rất thấm, rất sâu. Giật mình nhìn lại, sau bao nhiêu năm nhập cuộc, tôi có bớt ngỡ ngàng, thôi vội vàng, ít hoang mang (?). Chiến tranh đã lùi xa nhưng chưa mất dấu. Cả những cuộc chiến không bom rơi đạn nổ mà tan nát, đau xé lòng từng năm tháng này qua năm tháng khác.

 

Từ bài thơ bằng tuổi của tôi, tôi tìm đọc những bài thơ khác của cùng tác giả. Những bài thơ ngắn, rất ngắn, súc tích và mang đến cho tôi thật nhiều cảm xúc.

Đó là sự thương yêu dịu dàng, tưởng nhớ “Nụ Cười Của Mẹ” khi Mẹ đã đi xa:

 Lúc tủm tỉm,

 lúc chế giễu,

lúc mỉa mai,

lúc chua chát,

lúc thứ tha,

lúc trách mắng…

hay ngậm ngùi, tiếc nhớ về đứa con gái bé bỏng, ra đi còn quá trẻ:

Mỗi năm

Mỗi người

Thêm một tuổi

Chỉ mình con

Mãi mãi

Tuổi đôi mươi…

(La Ngà 3 -1990)

Có khi là sự đồng cảm, bùi ngùi khi vào “Trong Một Nhà Giữ Lão Ở Montreal”. Đó cũng có thể là hình ảnh của mỗi chúng ta sau này:

Mới hôm qua thôi
Nào vương
Nào tướng
Nào tài tử
Nào giai nhân
Ngựa xe
Võng lọng

…

Họ ngồi đó
Không nói năng
Không nghe ngóng
Gục đầu
Ngửa cổ
Móm sọm
Nhăn nheo

Bài thơ “Rùng Mình” gây xúc động cho nhiều người. Những câu thơ là những câu hỏi không lời đáp, cả sự rùng mình giận dữ khi thiên nhiên bị săn đuổi, hủy diệt đến tận cùng:

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
…

Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mũi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
vì sao và vì sao?

Và đau đớn, khi mà:

Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…

Rùng mình vì lạnh. Cái lạnh buốt khi tình cảm giữa con người và con người với nhau, giữa con người và thiên nhiên, vạn vật đã trở nên quá vô cảm, thờ ơ.

Rùng mình vì sợ hãi. Nỗi sợ hãi khi con người luôn thẳng tay tận diệt tự nhiên, hủy hoại môi trường sống. Nỗi sợ hãi vì những người sống và làm giàu trên mồ hôi, nước mắt của đồng loại một cách thản nhiên. Bao đại án về tham nhũng đang còn đó.

Khủng khiếp quá! Cứ nghĩ về mọi chuyện lại rùng mình.

 

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn rất nhiều bài thơ hay. Tôi tình cờ được “thưởng lãm” phác họa con đường Thơ của ông qua ngòi bút nhà văn Phan Chính – Hội Văn Học Nghệ Thuật Bình Thuận. Bài viết “ĐỖ HỒNG NGỌC – Thơ Mãi Với Đời Và Bảng Lảng Trên Những Trang Văn” giúp người đọc hình dung rất rõ nét về người bác sĩ, nhà thơ tài hoa này.

Tôi xin phép trích nguyên đoạn cuối cùng từ bài viết của nhà văn Phan Chính:

“Cuộc hành trình sáng tạo và chia sẻ của Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc quả là sinh động và đích thực chân dung Đỗ Hồng Ngọc – một người thông tuệ, nặng tình như lời giới thiệu trên đặc san Văn hóa Phật giáo (2021)/ Viên Giác Tùng Thư, Hannover Đức Quốc: “Ngoài vai trò là bác sĩ, nhà giáo ông còn là một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Ông viết nhiều tác phẩm đa dạng và rất được độc giả yêu thích”.”

***

Nhà báo Hồng Dung trong một lần gặp Bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc đã nhận xét: “Trò chuyện với ông, sẽ thấy một nhà khoa học nghiêm túc, nhưng dí dỏm và đầy thi vị.”

Tôi thật tiếc là chưa được gặp ông, tuy nhiên tôi cũng đã nhận ra điều đó khi đọc những tác phẩm của ông. Có thể nói rằng, tôi đã có thêm sự hiểu biết nhất định về Y học Đông Tây để chăm sóc gia đình, chăm sóc bản thân; hiểu thêm về Thiền học, Phật học, để rồi có cái nhìn đa chiều, cởi mở hơn và cảm xúc về cuộc sống dày dặn hơn. Tôi có mặt khá thường xuyên trên “Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc”, để đọc, để học, để hiểu và ngưỡng mộ người bác sĩ – văn thi sĩ này vô cùng.

Tôi rất thích sự gắn bó giữa văn thơ Đỗ Hồng Ngọc với âm nhạc Trịnh Công Sơn. Không chỉ là tựa những tác phẩm: “Áo Xưa Dù Nhàu…”, “Gió Heo May Đã Về”, “Về Thu Xếp Lại…”, … mà trong nhiều áng văn của mình, BS Đỗ Hồng Ngọc cũng thường đưa những ca từ của nhạc sĩ họ Trịnh vào một cách tự nhiên, như một cách chuyển ý thật mềm mại, tinh tế. Chính điều này giúp người đọc đọc hoài mà không thấy khô khan, dù bài đó đang nói về một sự kiện vừa diễn ra ở đâu đó hay đơn thuần là kiến thức nói về cách tự bảo vệ sức khỏe.

Đặc biệt, trong tác phẩm “Về Thu Xếp Lại…”, cả 10 chương đều được đặt tên bằng những ca từ thơ mộng, đầy tính triết học và nhân văn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn – một người tôi vô cùng yêu kính.

Chương 1: Cát Bụi Tuyệt Vời
Chương 2: Tôi Chợt Nhìn Ra Tôi
Chương 3: Về Thu Xếp Lại… Ngày Trong Nếp Ngày
Chương 4: Con Tinh Yêu Thương Vô Tình Chợt Gọi
Chương 5: Người Đã Đến Và Người Sẽ Về Bên Kia Núi
Chương 6: Đôi Khi Thấy Trên Lá Khô Một Dòng Suối
Chương 7: Chìm Dưới Sương Thu Là Một Đóa Thơm Tho
Chương 8: Trên Hai Vai Ta Đôi Vầng Nhật Nguyệt
Chương 9: Trời Cao Đất Rộng Một Mình Tôi Đi
Chương 10: Để Lại Trong Cõi Thiên Thu Hình Dáng Nụ Cười

Cư sĩ Nguyên Giác đã có một bài viết về tác phẩm “Về Thu Xếp Lại…” đăng trên website Thư Viện Hoa Sen vào 04/04/2019. Bài viết phân tích rất sâu, rất hay và thấm; dĩ nhiên, tôi đã đọc nhiều lần.

Từ ngày xưa, cứ sau mỗi lần nghe lại một ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ngẫm nghĩ, tôi lại như “ngộ” ra được một điều mới mẻ. Tôi cứ nghĩ, những giai điệu thiết tha, những ca từ khúc chiết thấm đẫm tình yêu thương con người mà phảng phất “hơi thở thiền” của ông, phải chăng là một loại “thánh ca” của một thứ tôn giáo nào đó? Tôn giáo đó, bây giờ – khi ông đã vĩnh biệt chúng ta hai mươi ba năm – khoảng thời gian quá đủ để lắng lại – tôi đã gọi được tên: tôn giáo Tình Yêu Con Người. Và trong thế giới tôn giáo đó, ông là một nhà tiên tri, một người truyền đạo không mệt mỏi, một thiên sứ đi lang thang trong cuộc đời để mặc khải cho mọi tín đồ về khoảnh khắc vô thường, ngắn ngủi của kiếp người, để mong mọi người sống nhân hậu hơn, bao dung hơn và yêu thương nhau hơn…

Cho đến bây giờ, đọc “Về Thu Xếp Lại…” và một số tác phẩm khác của bác sĩ, thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tôi cũng cảm nhận được nguồn cảm xúc ấm áp tương tự vậy. Có chăng, khác một điều là: tác giả Đỗ Hồng Ngọc vừa là bác sĩ, vừa là nhà thơ nên tác dụng “chữa lành” còn bao hàm cả về Y học nữa. Nếu đọc kỹ, ngẫm ngợi lâu sẽ thấy rất tuyệt diệu.

Ông viết về tuổi già, về bệnh tật, về cả cái chết, nhưng giọng văn không hề bi quan, không chút bối rối, nhiều khi hóm hỉnh dễ thương.

Già ư?

“Già khú” là giai đoạn một, thêm một bước nữa thì gọi là “già khú… đế”. Khú, Từ điển tiếng Việt bảo là “để thâm lại và có mùi hôi”, thí dụ dưa khú, tức là một thứ dưa để lâu quá, sắp hư. “Khú đế” là “vua” của khú đó chăng?

(Chương 2 – Về Thu Xếp Lại)

Chết ư?

Ông viết:

“Lắng nghe hơi thở của mình
Mới hay hơi thở của nghìn năm xưa

 

Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình

 

Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau”…

 Nói tình cờ chớ chẳng phải tình cờ chi đâu, do duyên, do nghiệp cả đó thôi. Nói cho cùng thì cái thân hơi – hơi thở – kia là của ngàn năm trước, ngàn năm sau, chớ chẳng phải của ta, riêng ta gì đâu. Đừng tưởng bở! Nó đến nó đi vô tình, ngạo nghễ. Nó Như Lai. Không phân biệt.

… Chẳng ai có thể thở giùm ai được đâu. Chẳng ai có thể “thiền” giùm ai được. Cho nên phải quay về nương tựa chính mình “một mình tôi đi, một mình tôi về… với tôi” mà thôi.

(Chương 9 – Về Thu Xếp Lại)

Nhẹ tênh. Lạc quan.

Cư sĩ Nguyên Giác viết rằng:

“Tác phẩm “Về Thu Xếp Lại…” của Đỗ Hồng Ngọc không chỉ để đọc một lần. Sách này có thể nên đưa vào túi xách, nên mang theo bên người để thỉnh thoảng đọc lại. Để không sợ già, không sợ chết, để biết cách đùa giỡn với bệnh, và cũng để biết cách Thiền tập trong những cách tự quan sát thân tâm mình không rời.”

Tôi đã làm như vậy. Cảm giác thật an nhiên.

 

***

Trả lời một bạn đọc Báo Thanh Niên, khi được hỏi:

– Bác sĩ có thể kể về một kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời làm nghề y?

Ông vui vẻ:

– Đó là lúc thực tập đỡ đẻ ở Bệnh viện Từ Dũ, năm 1965. Khi đỡ được ca đầu tiên mẹ tròn con vuông, tôi xúc động viết liền một mạch bài thơ Thư cho bé sơ sinh, sau đó còn chép vào bản phúc trình nộp lên thầy. Thầy rầy: Đỡ đẻ không lo đỡ đẻ, lo làm thơ! Hôm sau đã thấy ai đó viết bài thơ lên bảng đen và được nhiều bạn sinh viên thời đó yêu thích. Còn chú bé sơ sinh của tôi lúc đó nay đã gần 40 tuổi rồi còn gì! Mới thôi!

(Nguồn: Báo Thanh Niên, 07/02/2004)

 

Tôi thấy vô cùng thú vị với điều này.

Dạ thưa bác sĩ, sang năm thôi, chú bé sơ sinh ấy bước vào tuổi “lục thập”, sẽ được liệt kê là người cao tuổi. (Còn với bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc thì nhẹ nhàng hơn: Già ơi…, chào bạn!)

Tôi – cô bé sơ sinh đồng tuổi với chú bé ấy – dù được gọi là người cao tuổi, đã, đang và sẽ vẫn ngồi bên hiên nhà, sáng sáng chiều chiều đọc văn, thơ của Bác sĩ, thi sĩ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc.

Cô ấy sẽ mỉm cười thư thái, nhẹ nhàng đọc lại những bức “Thư Gửi Người Bận Rộn” được xuất bản lần đầu còn thơm hoài dấu tay lật từng trang sách; tiếp tục “Về Thu Xếp Lại…” khi ngoài kia nắng gió thời gian ân cần nhắc nhớ: “Già ơi…, Chào Bạn!”.

Chúng tôi luôn cầu mong bác sĩ, thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc bình an, khỏe mạnh để tiếp tục được gặp ông trên văn đàn mỗi ngày, để vẫn được đọc những câu thơ “chan hòa, giản dị, như tự bật ra từ trái tim, và khi thấy lòng mình đã lên tiếng vừa đủ, thì thơ ông nhẹ nhàng rút lui hay ẩn mình trong khói sóng”. (Nhà NCVH Huỳnh Như Phương).

Khói sóng màu lam dịu dàng, khiêm tốn và đượm mùi hương Ngọc Lan.

 

Dalat, 3/2024

Nguyễn Thiên Nga

(Ngôn Ngữ, số đặc biệt Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc, tháng 5/2024)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác

ĐỖ NGHÊ, ĐỖ HỒNG NGỌC – BẰNG HỮU & VĂN CHƯƠNG

05/06/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

ĐỖ NGHÊ, ĐỖ HỒNG NGỌC – BẰNG HỮU & VĂN CHƯƠNG

Phạm Hiền Mây

 

IB 1_NGON NGU - DO HONG NGOC BB/

MỐI DUYÊN VĂN NGHỆ

1.
Đầu tháng ba, nhà thơ Luân Hoán nhắn tin cho tôi: Mây có thể viết về bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc một bài được không, tạp chí Ngôn Ngữ dự định tháng Năm này, sẽ thực hiện một chuyên đề về ông ấy.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ư. Chèn ơi, tôi nói thầm trong bụng, tôi còn lạ gì ông ấy nữa. Ổng là thần tượng của các bà mẹ trẻ chúng tôi thời ấy, với cuốn sách Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng.

Cuốn sách ấy không chỉ là cẩm nang, mà nó còn như tấm lòng của một người mẹ hiền, hướng dẫn một cách tận tình và chu đáo từ lúc mang thai cho đến lúc đủ chín tháng mười ngày, sinh nở, ẵm bồng, bú mớm, nuôi nấng cho đến khi con nhỉnh nhao ba tuổi.

Tôi trả lời anh Luân Hoán, cuối tháng, em gởi bài, anh nha.

Qua hôm sau, anh Luân Hoán nhắn, à, không phải là tháng Năm, mà tháng Ba này, làm số Đỗ Hồng Ngọc luôn. Thế là, tôi vắt giò lên cổ, ngay đêm ấy, bài viết hoàn tất, và tôi chuyển email liền cho anh Luân Hoán.

Chiếc cầu nối thứ nhứt giữa tôi và bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã hình thành!

******

2.
Đêm qua, tôi nhận email của nhà thơ Trần Vấn Lệ. Ảnh chuyển toàn bộ thư của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc viết, qua cho tôi: Trần Vấn Lệ ui, ông cho tui số điện thoại của Phạm Hiền Mây nhé. Phạm Hiền Mây viết nhận định rất xuất sắc, nhất là về thơ. Mình không có facebook. Bạn cho mình email nữa nhé.

Đây là chiếc cầu nối thứ hai, nối liền mối duyên văn nghệ giữa tôi và bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.

******

3.
Sáng nay, tôi nhận được tin nhắn trên điện thoại: Gởi Tác Giả Phạm Hiền Mây. Tôi là Đỗ Hồng Ngọc. Tìm mãi mới được số phone này. Tôi không có facebook. Nhờ hai ông bạn là Trần Vấn Lệ và Luân Hoán mới biết Phạm Hiền Mây đó. Làm ơn cho địa chỉ để Grab mang sách Ngôn Ngữ – Đỗ Nghê đến Phạm Hiền Mây nhé. Bài viết tuyệt vời. Chỉ với ba bài thơ Đỗ Nghê mà vẽ nên cả một chân dung. Đa tạ!

Mối giao tình giữa tôi và bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – một người mà ba mươi năm về trước, tôi thầm biết ơn, nhờ cuốn sách của ông, mà tôi biết cách nuôi trẻ sơ sinh – được bắt đầu từ đây.

Thấy vui vui, thấy cả buồn cười nữa, vì tôi và bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đều ở Việt Nam, vậy mà, biết nhau, phải đi một vòng qua Canada và Hoa Kỳ.

******

II/ ĐỖ NGHÊ, ĐỖ HỒNG NGỌC – BẰNG HỮU VÀ VĂN CHƯƠNG

Cuốn Ngôn Ngữ – Số Đặc Biệt, nặng và dày tới bảy trăm mười bốn trang, được chia làm bốn phần. Gồm:

Phần I: Tác Giả
Phần II: Thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc
Phần III: Văn Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc
Phần IV: Bằng Hữu Viết Về Đỗ Hồng Ngọc

Thư Đầu Sách do nhà thơ Luân Hoán phụ trách. Luân Hoán phụ trách phần này thì khỏi chê rồi. Vì sao tôi nói vậy. Ấy là vì, ngoài việc Luân Hoán là một nhà thơ, một người làm văn nghệ kỳ cựu, kiến thức cũng như kiến văn rộng, thì anh ấy còn là một người làm sách, giới thiệu tác giả, giới thiệu tác phẩm rất chuyên nghiệp, uy tín, được bạn văn và bạn đọc kính trọng, cảm mến, vốn đã từ xưa đến nay.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin điểm qua phần thơ của tác giả mà thôi.

******

1. TÁC GIẢ

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một trí thức đúng nghĩa của cả trước và sau năm 1975. Thuở nhỏ thì đỗ đạt, khoa bảng. Vào đời thì nổi danh. Danh gì ư? Ông là bác sĩ Nhi số một của Sài Gòn trong nhiều thập niên. Bằng cấp và các chức danh của ông, nếu viết ra cho bằng hết, chắc hai trang A4 cũng không đủ.

Y khoa là một môn khoa học. Thế mà ông lại giỏi chữ, mới là lạ lùng, mới là khó tin. Từ những năm 1960, ông đã cộng tác với các báo và tạp chí uy tín, lừng lẫy thời bấy giờ, tại miền Nam. Những nhật báo và tạp chí, mà nhiều người viết mong tên mình được một lần, ghi lên trang bìa.

Tôi đếm không hết được những sách đã xuất bản của ông, về thơ, về văn, tùy bút, tạp bút và các sách y học phổ cập cũng như các sách về Phật học. Tôi đồ chừng, số sách ấy, nếu để lên bàn cân, chắc là sẽ ngang với trọng lượng nửa tạ của tôi.

******

Trong cuộc trò chuyện giữa ông với Ngô Nguyên Nghiễm, tôi thích câu này của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: Thơ, bản chất đã là nhân bản, dù được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác, ở thời đại này hay thời đại khác.
Người ta đẻ ra mà tĩnh, ấy là tính Giời cho nguyên như thế, cảm ở vật ngoài mà động, thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn, thời phải có nghĩ. Đã có nghĩ, thời phải có nói. Đã có nói, thời những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi, ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu, cung bậc, như không thôi đi được. Ấy tại thế mà sinh ra có thơ.
Chu Hy đã viết như vậy, gần ngàn năm trước, trong Bài tựa tập truyện Kinh Thi, khi có người hỏi ông: Thơ tại sao mà làm ra? (Tản Đà dịch).
Như Không Thôi Đi Được, bạn thấy không? Những người làm thơ trên cõi nhân gian đều vậy đó – Như Không Thôi Đi Được!

******

Trong trò chuyện giữa ông với Trần Thị Nguyệt Mai, tôi lưu ý một đoạn, kể rằng, đã mười hai tuổi, mà ông vẫn chưa được đến trường, thì thời ấy chiến tranh mà, cứ chạy tới chạy lui, tránh đạn tránh bom, cũng nuốt hết thời gian sống. Cậu ông là nhà thơ Nguyễn Ngu Í (nhà thơ này, tôi đã muốn viết giới thiệu từ rất lâu, nhưng không đủ tư liệu), bèn dắt ông đến trường tiểu học của một người bạn thân, gởi học miễn phí. Họ xếp ông vào học lớp Ba; vài tháng sau, cho lên lớp Nhì; vài tháng nữa, cho lên lớp Nhứt luôn. Cuối năm, ông chở phần thưởng dzìa nhà bằng xe xích lô, bị nhiều quá mà. Nghĩ đến hình ảnh đó, thấy dzui thiệt chớ.

Mới nói, những người đặc biệt, kiệt xuất, họ luôn xuất hiện những dị thường, từ lúc tuổi còn thơ.

Vào Đệ Thất, lại tản cư, bỏ học. Tình cờ, ông đọc được cuốn Kim Chỉ Nam Của Học Sinh do học giả Nguyễn Hiến Lê viết, ổng bèn tỉnh bơ, viết thư cho học giả, hỏi ngon lành, chớ con như này, học nhảy nữa, có nên không? Nguyễn Hiến Lê hồi đáp, được, được, đọc thư thôi, tôi cũng đã nhận thấy cháu ngang trình độ với các trò lớp Đệ Tứ rồi.

******

2. THƠ ĐỖ NGHÊ – ĐỖ HỒNG NGỌC

Cuộc đời ông, dành cho Y khoa, nhiều nhứt. Thì chắc chắn rồi, nghề của ông là bác sĩ mà. Lại cộng thêm những công việc liên đới tới bác sĩ như, giảng dạy, nói chuyện, nghiên cứu, viết sách.

Dành thời gian thứ nhì, hẳn là cho việc viết văn xuôi, bao gồm: sách y học phổ cập, tùy bút, tản mạn, tạp văn, thiền, Phật học.

Và cuối cùng, mới là thơ.

Ông làm thơ, tính ra, không nhiều, khi mà số lượng thơ của người ta được tính bằng đơn vị ngàn. Thế mà, dường như, nghiệp thơ lại dành cho ông rất nhiều ưu ái.

Thơ ông thường là những bài thơ ngắn. Không chỉ ngắn về số câu, mà số chữ trong câu, mà số chữ thể hiện trên mỗi dòng cũng ngắn. Nhưng chắt lọc, nhưng không thừa, chữ nào cần có mặt mới được có mặt.

Ông viết đủ các thể thơ: bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ, lục bát, thơ xuôi.

******

Thơ ông phần lớn, đọc lên, nghe rất mênh mang: Nước vẫn muôn đời / Không đi chẳng đến / Ai người nỡ hỏi / Nước đến từ đâu? Ai người nỡ hỏi / Nước trôi về đâu? (Nước).

Đố bạn vậy chớ, tại sao ông lại dùng từ “nỡ” ở đây, ai người nỡ hỏi? Là vì, nếu hỏi, thì sợ nước buồn. Hỏi, sợ nước đau. Hỏi, sợ nước tủi thân.

Thơ ông đậm chất suy tư, thiền vị: Lắng nghe hơi thở của mình / Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa / Một hôm hơi thở tình cờ / Dính vào hạt bụi thành ra của mình / Của mình chẳng phải của mình / Thì ra hơi thở của nghìn năm sau (Thở).

Và những câu hỏi đặt ra, khiến người đọc cũng thú vị theo. Kiểu như, nhận ra, ừ nhỉ, để làm chi: Tham chẳng còn / Sân cũng hết / Si đã tuyệt / Niết Bàn / Tịch diệt / Để làm chi? (Ngộ)

Hoặc những bài thơ rất đời, rất đúng, nói rất trúng tim gan người ta, nói rất trúng tâm lý cuộc đời. Cái kết thơ, vì vậy, cũng rất đột ngột, và đặc biệt, làm ngẩn tò te: Đừng nói điều hạnh phúc / Chẳng ai tin đâu / Hãy nhắc điều bất hạnh / Ai nấy đều vui. (Niềm Tin)

Có bài, đọc lên nghe rất ngộ, rất thơ, và hay. Câu một, câu hai, câu bốn, sử dụng toàn vần bằng như thơ của Bích Khê: Mưa trên Đông Hồ mưa mênh mông / Tô Châu nghiêng mình nghe mưa giăng / Thuyền câu mấy lá chìm mưa rộng / Ai người xưa mưa trời một phương. (Hà Tiên Mưa)

Phải nói là ông làm thơ chắc tay. Bạn sẽ hỏi tôi, chắc tay là gì. Ờ, thì kiểu như, siêu, ngon lành, đâu ra đó, gọn bâng, tỉnh rụi, và, rất tới: Anh đọc bài thơ tình / Em ngồi nghe lặng thinh / Anh đọc thêm bài nữa / Em vẫn ngồi lặng thinh / Anh thôi không đọc nữa / Em chồm lên hôn anh / Như đổ dầu vào lửa. (Thơ Tình)

******

Hay nhứt vẫn là những bài thơ ông viết cho con gái ông, Đỗ Châu La Ngà. Nỗi đau, đau quá, nên như lận vào bên trong. Nỗi đau, đau quá, nên như bục ngực, vỡ toang ra ngoài. Nỗi đau âm ỉ, không vơi. Nỗi đau cứ thế theo ngày. Nỗi đau cứ thế theo tháng. Nỗi đau cứ thế theo năm.

Hay kế tiếp là những bài thơ ông viết tặng cho một người bạn thơ nào đó, như: Đinh Cường, Trịnh Công Sơn, Trần Hoài Thư, Trần Vấn Lệ.

Nhưng hay và gây một cảm xúc đặc biệt trong tôi là bài thơ, ông viết cho chính ông, thì phải. Ông viết cho chính ông, trong một cơn bạo bệnh, trong một lần đứng trước cửa tử, mà thần chết chê, nên ông được trở lại với gia đình, với người thân, với bạn hữu

XIN CÁM ƠN, CÁM ƠN

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Như cỏ cây trước cơn bão dữ
Như con thuyền tung hê lên vách núi cao
Cho ta trở về làm con thú hoang sơ
Trần truồng như nhộng
Kẻ cạo đầu người lột da
Kẻ đục sọ người giúp thở
Kẻ đặt ống sonde vào đường tiểu
Người bơm thuốc qua dịch truyền
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Không lý trí không nghĩ suy không toan tính

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo như cơn bão dữ
Bản tin thời tiết chưa kịp loan truyền
Quất qua đời ta cây cỏ
Để khi tỉnh dậy ta nhìn ra em
Nhớ tiếng người này nhìn ra người nọ
Gọi tên người này nhớ mặt người kia
Như đã qua một kiếp khác
Bao năm xa vắng quê nhà!
Nhớ bước chân trâu nhớ giàn bông bí
Nhớ cây khế ngọt nhớ trái dừa xanh
Nhớ tiếng mẹ già nhớ đàn con trẻ
Nhớ người hàng xóm lâu nay còn lạ
Nhớ những người thương nhớ luôn người ghét
Thấy ai cũng tội nghiệp
Như ta
Đã bao lâu ta không sống với mình
Ta có ta mà quên ta phứt.

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc
Cho ta trở lại với mình
Ta muốn ôm hôn tất cả mọi người
Và ôm hôn ta nữa
Cái đầu trọc lóc bình vôi
Hai lỗ thủng và mười tám vết khâu từ ái
Ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở
Lắng nghe sự sống cục cựa trong mình.

Xin cám ơn, cám ơn
Những cơn đau vật vã toát mồ hôi
Những nhức buốt thiệt thà thú vật
Khi đứng được hai chân như con người
Thật vô cùng hạnh phúc
Khi bước đi những bước con người
Khi còn được nghe được nói
Được cầm cây viết vẽ bâng quơ
Được đọc vài trang báo
Ôi phép lạ nhiệm mầu!
Những hòn sỏi bỗng có linh hồn
Những lá cây đong đưa lạ lẫm
Tiếng chim và ánh nắng
Như đã lâu rồi ta mới gặp nhau
Như đã lâu rồi ta mới quen nhau

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Tràn đầy hạnh phúc
Để ta biết chắc một điều có thực
Tình yêu
Đã giúp ta tìm lại chính mình
Đã giúp ta vượt thoát!
(Bệnh viện AB 12/97)

Ông phải trải qua một cơn bệnh ngặt nghèo, quật ông gục ngã, ông mới tìm lại được chính mình.

Ông phải trải qua một cơn bệnh ngặt nghèo, quật ông gục ngã, thì ông mới có thể vượt thoát, vượt được cửa tử, thoát được cái chết, chỉ tày gang.

Còn tôi, tôi đọc thơ ông xong thì thẫn thờ, ừ nhỉ, đã bao lâu ta không sống với mình, ừ nhỉ, ta có ta mà ta quên phứt.

Bài thơ Xin Cám Ơn, Cám Ơn, dùng chữ không cầu kỳ mà lại vô cùng thành ý; viết tự nhiên như đương nói chuyện mà lại rất đỗi nhạc, rất đỗi thơ. Mới thấy, cái gì xuất phát từ tim, thì sẽ một đường đến thẳng trái tim mà không cần phải dụng bất kỳ một phương thức phức tạp, một kỹ thuật cao siêu nào.

******

III/ KẾT

1.
Giọng thơ của Đỗ Hồng Ngọc chân tình mà ấm áp; thẳng thắn mà dỗ dành, vỗ về. Trải dài suốt bảy trăm trang là rất nhiều những tâm sự và bộc bạch của ông. Tâm sự nào, bộc bạch nào, cũng hay;  cũng ngộ, là ngộ nghĩnh; cũng hết sức có lý có tình. Đến mức, đọc đi đọc lại hai, ba lần rồi, mà vẫn còn muốn đọc nữa, đọc nữa. Là vì, các ý ấy hay quá, đọc thích quá, thậm chí, với tôi, chúng mang ý nghĩa nhiều hơn cả những danh ngôn, những châm ngôn, lãng nhách, lãng xẹt, không hiện thực, mơ hồ, mà tôi hàng ngày thấy đầy rẫy trên trang mạng.

Tỉ dụ: Câu châm ngôn của ông Nguyễn Hiến Lê là “viết để học và học để viết”. Tôi chịu lắm. Chỉ có cách đó mình mới học được nhiều, học được sâu. Tôi bây giờ còn đi dạy và vẫn nghĩ “dạy để học và học để dạy”. Ấy là tôi bắt chước ông Nguyễn Hiến Lê đó.

Tạp Chí Ngôn Ngữ, số đặc biệt về bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, thật sự hay và phong phú. Tôi rất tiếc, vì đã không nói đủ được hết tất cả chuyện hay của sách, trong một bài viết buộc phải giới hạn về độ dài này. Các bạn nếu có thể, mua một cuốn, từ từ đọc. Sách không chỉ nói về một cuộc đời, mà trong đó, chúng ta có thể tìm được, rất nhiều, rất nhiều điều quý giá, tỉ như niềm vui, tỉ như sự san sẻ nỗi buồn, tỉ như giúp chúng ta mở mang hơn về mặt hiểu biết, kiến thức. Tôi tin lắm, như vậy!

******

2.
Dù là tiến sĩ, bác sĩ trưởng khoa hay là thầy dạy trường Y; dù là giám đốc hay từng tu nghiệp tại Harvard – Hoa Kỳ, thì nhà văn, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, vẫn là một người vô cùng khiêm cung và bác ái, vẫn là một người vô cùng hiền hòa với tấm lòng yêu thương bao la trước những các cảnh ngộ khổ đau và bất hạnh. Ông bình đẳng và chan hòa, ngay với cả một đứa trẻ sơ sinh vừa mới thoát thai:

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người.
(Thư Cho Bé Sơ Sinh, 1965 – Đỗ Hồng Ngọc)

******

3.
Năm 1990, Sài Gòn lúc ấy không đông người như bây giờ, nhà nào, cũng thường mua báo xem, không thì ở cơ quan, cũng hay có báo. Tôi nhớ hoài, từng đọc một cái tin, làm rúng động, con gái đầu của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là Đỗ Châu La Ngà, đột ngột qua đời vì tai nạn xe cộ, trong một chuyến công tác xã hội của trường Y.

Nỗi đau nào mới là nỗi đau lớn? Thiệt là khó để so sánh, bởi vì, nỗi đau nào cũng là những mất mát lớn lao và quá sức chịu đựng của ta.

Con gái mất, Đỗ Hồng Ngọc làm nhiều bài thơ khóc con. Trong đó có một bài, nhan đề là Tình Yêu:

Trước mộ con còn ướt
Ba nói với bạn bè ba rằng
Hãy yêu thương con mình cách khác
Đừng như ba
Giấu kín trong lòng

Bởi tình yêu
Có bao giờ cho đủ
Có đâu sợ dư thừa
Ba đã sai lầm bao nhiêu

Hãy tỏ bày đi
Vồ vập đi
Âu yếm ồn ào đi
Tình yêu
Có bao giờ cho đủ
Có đâu sợ dư thừa

Ba đã sai lầm bao nhiêu
Vì cứ chờ cứ đợi
Có biết đâu
Đời như mây nổi
Như gió thổi
Như chiêm bao
Ơi bài học tự thuở nào
Sao bây giờ mới hiểu

Muốn vồ vập con hôm nay
Muốn âu yếm con mãi mãi
Thì đã muộn rồi
Có bao giờ thừa thãi
Tình yêu?
(Đỗ Hồng Ngọc – 1990)

Đừng nén, đừng giấu sự thương yêu trong lòng. Vì chẳng có lý do nào hợp lý cho việc che đậy những tình yêu thiêng liêng ấy.

Tình yêu, có bao giờ cho đủ?
Tình yêu, có đâu sợ dư thừa?
Tình yêu, sao phải chờ, phải đợi?

Học theo ông, tôi sẽ luôn dặn mình, hãy nói lời yêu thương khi còn có thể.

Bài viết hôm nay, thay cho lòng yêu quý, gởi tặng đến một bậc tài hoa rất mực – bác sĩ, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Ngọc, đồng thời là nhà văn, nhà thơ Đỗ Nghê!

Sài Gòn 05.06.2024
Phạm Hiền Mây

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Nguyên Giác: Đọc Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt về Đỗ Nghê: Khi Đỗ Hồng Ngọc gặp Cao Huy Thuần

28/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt về Đỗ Nghê: Khi Đỗ Hồng Ngọc gặp Cao Huy Thuần

Nguyên Giác

Đây là một tuyển tập đặc biệt của Tạp chí Ngôn Ngữ, chủ đề về Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành tháng 5 năm 2024. Nhan đề sách còn là “Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc: Bằng Hữu & Văn Chương.” Sách dày 716 trang, bao gồm tiểu sử, thơ và văn xuôi của vị bác sĩ nổi tiếng, khi làm thơ ký tên là Đỗ Nghê và khi viết văn xuôi ký tên thật là Đỗ Hồng Ngọc. Và phần cuối là tác phẩm của hơn 60 nhà văn, nhà phê bình, họa sĩ và nhạc sĩ viết về, vẽ chân dung, phổ thơ Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc. Tất cả các thơ, văn, bài viết trong tuyển tập đều xuất sắc.

B 1_NGON NGU - DO HONG NGOC BB
Bìa sách “Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc: Bằng Hữu & Văn Chương”

Hiển nhiên, có thể hiểu rằng tuyển tập là một món quà văn nghệ lưu niệm được nhóm chủ trương — Luân Hoán, Song Thao, Nguyễn Vy Khanh, Hồ Đình Nghiêm và Lê Hân — ấn hành để trao tặng cho Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, một nhà thơ hy hữu trong dòng văn học Việt Nam, được nhiều nhạc sĩ phổ thơ và đưa các ca khúc này lên YouTube. Các bài thơ ghi lại trong Tạp Chí Ngôn Ngữ Số Đặc Biệt nằm trong Phần II là trọn tập thơ “Thơ Ngắn Đỗ Nghê.”

Phần III trong tuyển tập là văn xuôi Đỗ Hồng Ngọc, được Chủ biên Luân Hoán nhận xét: “Những bài viết này thường ngắn nhưng cũng xuất sắc như thơ, bởi qua đó những nhận xét tinh tế về cuộc sống, tình người, được ông phơi bày một cách đơn giản, nhưng sâu sắc như những bức ảnh chụp đủ chân tình, giàu dí dỏm. Mỗi tạp ghi là một cảnh sống linh động, chúng ta có cảm tưởng ông thật dồi dào vốn sống đời thường. Ông là một bác sĩ cao tay nghề, một người học Phật uyên thâm lại rất thích truyền đạt hiểu biết của mình theo một cách riêng. Tính ít nói cười nhưng sự nghiêm túc, được tâm hồn phóng khoáng giúp ông chơi thêm một trò vẽ vời nữa, cũng thi vị đậm đà không kém những bộ môn kể trên.” (trang 9)

Trong tuyển tập, tôi chú ý đặc biệt tới bài Đỗ Hồng Ngọc nơi các trang 265-270 có nhan đề “Đọc ‘Im Lặng, Như Lời Chia Tay’ của Cao Huy Thuần.” Hy hữu lắm, trong mắt tôi, họ Đỗ và họ Cao là hai đại cư sĩ đương thời của Phật Giáo Việt Nam. Hy hữu lắm, khi hai ngọn núi khổng lồ của nền văn học Phật Giáo bỗng nhiên ngồi chung một bàn, mời nhau ly cà phê và nói chuyện đạo với đời.

Từng dòng nơi bài viết, tôi đọc và có lúc thấy hiện ra trên mặt giấy hình ảnh hai vị lão niên cư sĩ đang ngồi trong nhà nói chuyện với nhau, và tôi, người đang đọc, y hệt như một kẻ hậu sinh còn đứng ngập ngừng nơi cửa, nhìn vào và lắng nghe. Đỗ Hồng Ngọc và Cao Huy Thuần đều ở tuổi U-90 (nói theo kiểu văn học đương thời tại Việt Nam, tức là dưới 90 tuổi và hơn 80 từ lâu). Cả hai đại cư sĩ ngồi bên nhau trong bài viết, y hệt như 2 cuốn tự điển Phật học xuất hiện bên nhau trên kệ sách, nơi đó, tôi đang nhìn vào và lắng nghe. Nơi đây, Đỗ Hồng Ngọc viết gì về Cao Huy Thuần?

Đỗ Hồng Ngọc viết, nơi trang 265: “Anh Cao Huy Thuần gởi tôi tập Im Lặng, như lời chia tay… dặn để đọc mấy ngày Tết. Tôi nghĩ: chắc là Im Lặng thở dài… đây rồi! “Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe im lặng đời mình” (Trịnh Công Sơn)? Nhưng không. Cao Huy Thuần không thở dài! Anh nói về “thiêng liêng” về “chia tay mà không biệt ly của cánh hoa rơi”…” (ngưng trích)

Im lặng, như lời chia tay. Lời chia tay của cánh hoa rơi. Đó là những chữ của Cao Huy Thuần được Đỗ Hồng Ngọc ghi lại. Đó là văn xuôi, và cũng là thơ. Một hình ảnh rất đẹp. Trong khi 2 đại lão cư sĩ hiện ra trên giấy như hai vị cõi Thiên có đại uy lực, với tâm được chế ngự, lặng lẽ nhìn chữ viết trong những ngày cuối đời mình như lời chia tay của cánh hoa rơi, tôi nhớ tới một hình ảnh được nói tới trong Kinh Trường Bộ DN 16, khi trái đất này chấn động sáu cách:

“Lại nữa này Ānanda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn, quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động mạnh. Đó là nhân thứ hai, duyên thứ hai khiến đại địa chấn động.” (Kinh DN 16, bản dịch của Thầy Minh Châu)

Trong khi Cao Huy Thuần nhìn sự chuyển hóa vô thường như chiêm ngắm một cánh hoa rơi, Đỗ Hồng Ngọc đã nói rõ hơn (than ôi, có những người, kiểu như tôi, cần được tác giả nói rõ hơn) rằng đó là Tử ma, là sự chết:

“Phật dạy có bốn thứ Ma thân thiết với ta. Phiền não ma, Ngũ ấm ma, Thiên ma, Tử ma. Tử ma chính là “thị giả” của ta, gần gũi ta và giúp đỡ ta, gắn với ta từ trong trứng nước. Tưởng là kẻ xấu mà không, hắn rất tử tế, luôn nhắc ta từng chút, nhờ vậy mà ta tránh biết bao tai ương, khổ nạn.

Nhìn lại, có hay không có tái sinh? Có hay không có “kiếp” sau? Có lần khi trò chuyện với Ni sư Trí Hải tôi hỏi một kiếp dài khoảng chừng 10 phút không cô? Cô cười, không trả lời. Có lẽ cô muốn nói… một kiếp dài cỡ một sát-na!” (trang 266)

Có phải một kiếp dài khoảng 10 phút, hay chỉ một sát na, hay là hơn 90 năm? Khi một cánh hoa rơi xuống, có phải những cánh bướm vẫn vỗ bay nơi góc rừng. Tử ma hiện diện khắp cõi này, kể cả trên chiếc lá khô. Nơi đây, hiển nhiên là Đỗ Hồng Ngọc rất mực tâm đắc với dòng văn Cao Huy Thuần khi nói về lá khô, lá rụng, rồi tái sinh thành lá búp, lá non. Trích:

“Im lặng bông hoa nở. Im lặng bông hoa tàn. Hoa rụng, nhưng mỗi cánh hoa rơi, bao nhiêu chân bướm vẫn còn lưu dấu… Đâu là cách chia tay mà không biệt ly? (Im Lặng). Rồi Cao Huy Thuần dẫn bài thơ Feuille morte (lá chết) của Hermann Hess, tác giả Siddhartha (Câu chuyện dòng sông, Phùng Khánh, Phùng Thăng dịch, Saigon 1966). Anh “phát hiện” một điều thú vị: ngôn ngữ Việt không ai nói “lá chết” mà nói “lá khô”, “lá rụng”. Quét lá rụng, quét lá khô, không ai nói quét lá chết như ngôn ngữ Pháp, Đức. Bởi vì, lá không bao giờ chết. Nó khô, nó rụng, rồi nó tái sinh thành lá búp lá non (Im Lặng).” (trang 268)

Có một hình ảnh khác nữa. Đỗ Hồng Ngọc nhắc về hình ảnh trong văn Cao Huy Thuần: hai con sên dự đám tang chiếc lá chết mà lòng tràn đầy hân hoan, hạnh phúc. Nhà thơ họ Đỗ ghi lại, trích:

“Ôi, làm sao hai chú sên đi dự đám tang chiếc lá chết buồn xo giữa mùa thu… mà nay lòng lại tràn đầy hân hoan, hạnh phúc? Ấy bởi vì chúng là sên. Chúng “bò như sên”! Bò hết cả mùa đông, chưa kịp đến nơi mà xuân đã về rồi! “Bao nhiêu lá chết xong/ Tất cả đều lại sống…”
Tiễn mùa thu thì gặp mùa xuân. Tiễn cái chết thì gặp cái sống. Tiễn ảm đạm thì gặp tưng bừng. Hai con sên chia tay mà chẳng biết biệt ly là gì! (Im Lặng)
Cao Huy Thuần nói nhỏ: “chẳng có cả khái niệm”. Phải, chúng chẳng có cả khái niệm. Dĩ nhiên, Cao Huy Thuần đang nói về Kim Cang đó! Khi ta mà biết sống “ly niệm”, khi ta không còn bám chấp vào khái niệm… thì “trí bất đắc hữu vô”, thong dong, tự tại.” (trang 269)

Chúng ta sẽ thấy trong từng trang giấy những phong cách dị biệt giữa hai nhà văn Cao Huy Thuần và Đỗ Hồng Ngọc. Trong khi họ Cao nói về Tử ma với hình ảnh cánh hoa rơi, lá khô, lá rụng… thì ngòi bút họ Đỗ lại chỉ vào hình ảnh thõng tay vào chợ, hiện tướng đùa vui giữa chốn Ta bà. Trích:

“Anh Cao Huy Thuần thân mến, nếu thỉnh thoảng ta mà vào được Tam muội Phổ Hiền, thì ta cũng có thể nhận ra cái “thiêng liêng” đó anh à, cái thiêng liêng từ “vô tướng” – trong Như Lai tạng – bỗng “hiện tướng”… đùa vui giữa chốn Ta-bà đó thôi.” (trang 270)

B 2 NGON NGU_ Do Hong Ngoc_Cao Huy Thuan_Mien Duc Thang
Từ trái: Đỗ Hồng Ngọc, Cao Huy Thuần, Miên Đức Thắng.

Nhìn chung, Tuyển tập này có rất nhiều bài để đọc. Và mỗi bài đều có sức lôi cuốn khác nhau. Danh sách các tác giả viết trong tuyển tập về Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc này là: “Ban Mai, Du Tử Lê, Duyên, Đinh Cường, Đinh Trường Chinh, Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, Đỗ Thị Thanh Nga, Đỗ Trung Quân, Đỗ Trường, Elena Pucillo Truong, Hồ Đình Nghiêm, Hoàng Quốc Bảo, Huỳnh Như Phương, Huỳnh Ngọc Chiến, Khuất Đẩu, Khúc Dương, Lam Điền, Lê Chiều Giang, Lê Ký Thương, Lê Minh Quốc, Lê Ngọc Trác, Lê Uyển Văn, Luân Hoán, Lữ Kiều Thân Trọng Minh, Lương Thư Trung, Minh Lê, Ngân Hà, Ngô Nguyên Nghiễm, Nguyên Cẩn, Nguyên Giác Phan Tấn Hải, Nguyễn An Bình, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Hậu, Nguyễn Lệ Uyên, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Quang Chơn, Nguyễn Thánh Ngã, Nguyễn Thị Khánh Minh, Nguyễn Thị Ngọc Hải, Nguyễn Thị Phương Trinh, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nguyễn Thiên Nga, Nguyễn Xuân Thiệp, Phạm Bảo Kim, Phạm Chu Sa, Phạm Hiền Mây, Phan Chính, Phat’s Blog, Tâm Nhiên, Thu Thủy, Thy Ngọc, Tô Thẩm Huy, Trần Hoài Thư, Trần Thị Nguyệt Mai, Trần Vấn Lệ, Trang Châu, Trịnh Công Sơn, Trịnh Y Thư, Trương Đình Uyên, Trương Trọng Hoàng, Vĩnh Điện, Võ Tá Hân, Ý Nhi.”

Nguyên Giác

(Nguồn: tranthinguyetmai wordpress 27.5.2024)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Trịnh Y Thư: Cảm nhận nhân đọc “thơ ngắn đỗ nghê”

17/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Cảm nhận nhân đọc “thơ ngắn đỗ nghê”

Trịnh Y Thư

 

1.

Tôi thích đọc “thơ ngắn” của Đỗ Nghê. Những bài thơ “ý tại ngôn ngoại,” đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc đều nhận ra thêm một cái gì mới, khác, mở ra những chiều kích bát ngát hương thơm. Hãy giở trang đầu tiên của tập thơ, bài Trái đất, cả bài thơ chỉ có vẻn vẹn sáu từ:

 

Giữa đêm

Thức giấc

Giữa ngày…

Boston, 1993

 

Từ chìa khóa để hiểu bài thơ là “Boston,” mặc dù nó chỉ là phụ chú cho bài thơ. Giữa đêm thức giấc, bên kia nửa vòng trái đất là giữa ngày, chợt bàng hoàng tỉnh giấc, thao thức nỗi nhớ nhà, chợt thấy cô đơn, ôm nỗi sầu vạn cổ, thấy cái tôi bé nhỏ không một chút trọng lượng lọt thỏm giữa vũ trụ bao la.

Tứ thơ cô đúc, được nén chặt đến cực độ trong sáu từ, đột ngột phóng ra như một tia chớp lóe, để người đọc mặc tình buông ra từ trí tưởng của mình những cảm xúc bát ngát diệu kỳ.

Trên bước đường lữ thứ của cuộc hành trình đời người, chúng ta ắt hẳn phải có lúc cảm thấy cùng một tâm trạng với bài thơ. Bài thơ chỉ có sáu từ sao lại có sức mạnh truyền tải cảm xúc mạnh mẽ đến thế!

Ý thức rất rõ về sự hữu hạn của vật thể hữu hình và tính vô thường của kiếp nhân sinh, thơ Đỗ Nghê chuyển hóa bi kịch đời sống thành những cung bậc cảm xúc đẹp buồn, trữ tình. Những dấu vết của đau thương, tan rã, chia lìa gần như được xóa nhòa để cái đẹp – dù là cái đẹp bi ai – thăng hoa thành nghệ thuật, và sau cùng đạt đến cõi như nhiên, tĩnh tại.

Từ nỗi đau xót như nhát dao cứa sâu vào da thịt:

 

Mỗi năm

Mỗi người

Thêm một tuổi

Chỉ mình con

Mãi mãi

Tuổi đôi mươi…

(La Ngà 3)

 

Nỗi đau xót ấy, như được sưởi ấm bằng những đốm lửa yêu thương, biến thành nỗi buồn man mác nhưng dịu ngọt:

 

Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…

(Bông hồng cho mẹ)

 

Những câu thơ đẹp, vì được kết tinh một cách ưu ái và trang trọng từ trái tim, từ trái tim người làm thơ sang thẳng trái tim người đọc, không cần qua một lăng kính hay một bộ phận chắt lọc nào. Nếu những cụm từ như “bông hoa trắng,” “đóa hồng” được dùng như một hoán dụ, thì hoán dụ ấy cũng chẳng thể ngăn cản cảm xúc dạt dào dâng lên như sóng vỗ tràn bờ. Thực chất, thơ Đỗ Nghê ít sử dụng ẩn dụ hoặc hoán dụ, mà phần nhiều là những câu nói (vâng, thơ là tiếng nói, tiếng nói tinh tuyền nhất) rất đơn sơ, rất thật và rất đậm tính người.

Có gì “người” hơn những câu thơ này?

 

Mùa xuân mừng tuổi thơm tho áo

Nắng cũng vàng phai ngày cũng xa

Anh thương nhớ quá làm sao nói

Gọi tên em vang động gốc cây già…

(Quê nhà)

 

Nó là tiếng kêu của muôn loài sống trên mặt đất, tiếng chim gọi nhau buổi ngày nắng tắt trên đầu non, tiếng kêu trầm thống của loài cá voi dưới mặt nước đại dương sâu thẳm. Nó là chất keo sơn giữ cho cuộc sống này bền chặt. Không có nó, thế giới vỡ tung mất thôi, và có vẻ như nó đang vỡ thật. Một mai nếu để mất nó, chúng ta sẽ rơi vào hố thẳm tuyệt vọng, vô phương cứu vãn, và linh hồn chúng ta sẽ mãi mãi trầm luân trong cõi huyền tẫn mịt mù, không ai có thể chuộc tội cho chúng ta, ngay cả người đóng đinh trên núi Sọ.

Vâng, tôi xin bắt chước nhà thơ, ngày xuân “gọi tên em vang động gốc cây già.”

 

2.

 

“Nước”, “sóng”, “sông”, “biển” là những thi ảnh xuất hiện nhiều trong thơ Đỗ Nghê. Trong bài thơ Nước – gồm 20 câu, một trong những bài thơ dài toàn tập thơ – thi sĩ vẽ hành trình của nước len lỏi qua nghìn dặm nẻo đường núi non sông lạch, thậm chí “từ cơn gió thoảng, từ làn mây trôi,” chỉ để bâng khuâng buông ra một suy nghiệm có tính siêu hình:

 

Nước vẫn muôn đời

Không đi chẳng đến

Ai người nỡ hỏi

Nước đến từ đâu?

Ai người nỡ hỏi

Nước trôi về đâu?…

 

Nước, trong ngữ cảnh bài thơ, là một hoán dụ ám chỉ khái niệm Duyên khởi và tính Không trong Phật giáo. Nước “không đi chẳng đến,” phải chăng ám chỉ khái niệm “vô thỉ vô chung” vốn chủ yếu liên quan đến sự hiểu biết về thời gian, sự tồn tại và quan hệ nhân quả.

Duyên khởi khẳng định rằng mọi hiện tượng phát sinh đều phụ thuộc vào các hiện tượng khác. Nó mô tả một chuỗi nhân quả, trong đó mỗi mắt xích phụ thuộc vào mắt xích trước đó, dẫn đến sự phát sinh của các hiện tượng tiếp theo. Theo quan điểm này, không có điểm bắt đầu hay điểm kết thúc biệt lập, độc lập đối với bất cứ điều gì trong chu kỳ tồn tại. Mọi thứ đều có mối liên hệ với nhau và phụ thuộc lẫn nhau.

Còn khái niệm tính Không thì nhấn mạnh đến sự thiếu vắng của bản chất nội tại cố hữu của sự vật. Sự vật không có sự tồn tại cố hữu. Sự tồn tại của chúng phụ thuộc vào các yếu tố khác. Do đó, khởi đầu hay kết thúc của tồn tại trở nên vô nghĩa. Thay vào đó, sự tồn tại trải qua vô tận các chu kỳ lặp đi lặp lại gồm có sáng tạo, hủy diệt và tái sinh (mà ta gọi là luân hồi). Trong những chu kỳ này, không có điểm bắt đầu hay điểm kết thúc cuối cùng.

Nó chính là “nước” của Đỗ Nghê: Không đi chẳng đến.

Theo Tứ Diệu Đế, khổ đau là cố hữu do tham ái và vô minh. Tái sinh được xem là sự tiếp nối của vòng đau khổ này cho đến khi người ta đạt được giải thoát (niết bàn). Theo nghĩa này, tồn tại được xem là không có khởi đầu, với khả năng giải thoát đánh dấu sự kết thúc của vòng tái sinh.

Hiểu được bản chất của “nước” là hiểu được chu kỳ của tồn tại, là hiểu được con đường dẫn ta đến giải thoát. Tôi đồ nhà thơ Đỗ Nghê chỉ muốn nói có bấy nhiêu. Một điều vô cùng giản dị mà sao chẳng mấy ai thực hiện nổi!

Khái niệm “Sắc tức thị không, Không tức thị sắc” còn được thi sĩ nhắc lại trong bài thơ Có không:

 

Tràn vào khắp ngả

Đất trời mênh mông

Nhẹ như không có

Có mà như không…

 

Thơ Đỗ Nghê thấm đẫm mùi Thiền, rất nhiều bài trong tập thơ mang phong vị Thiền học, nhưng nó là cái Thiền giúp ta thong dong đi vào phố chợ, nhập cuộc trần ai, mà lòng an nhiên như đang thảnh thơi dạo bước trên con đường mòn giữa cánh đồng hoa lá:

 

Duyên sinh vô ngã

Ngũ uẩn giai không

Từ đó thong dong

Thõng tay vào chợ…

(Vè thiền tập)

 

Bởi thi sĩ hiểu rõ chân lý sinh diệt của vũ trụ tuần hoàn, từ cát bụi, ta là ta hôm nay, ta là “đất động” hay “sóng thần,” nhưng rồi một ngày nào đó không xa, ta lại trở về cát bụi:

 

Đất động ta cũng động

Sóng thần ta cũng sóng

Giật mình chợt nhớ ra

Vốn xưa ta là đất…

(Đất)

 

3.

 

Một người làm thơ trữ tình như Đỗ Nghê ắt hẳn không thể nào dửng dưng với đất nước quê hương mình. Quê hương của ông là biển, là sông, là hồ, là cát, là cây, là đá, tất cả hòa quyện trầm mặc trong thơ. Các địa danh xa lạ với nhiều người nhưng thân thương với thi nhân, như hòn Bà, đá Ngãnh, được đem vào thơ, tái hiện hoài hoài trong những giấc mơ, hay một ký ức không thể bào mòn.

Tôi đặc biệt yêu thích bài Hội An sớm:

 

Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương…

 

Như một khúc Đường thi. Thi ảnh, tuy cổ điển, nhưng đẹp não nùng. Và, chao ơi, tiếng chổi. Sao lại tiếng chổi từ trong sân chùa một cách mơ hồ vọng ra? Sao không là tiếng tụng kinh, tiếng chuông, tiếng mõ vào buổi sớm? Chính sự bất ngờ ấy, đánh động tâm hồn khiến thi nhân giật mình, đã làm tăng thú vị khi đọc bài thơ. Bất ngờ hơn chuyện ông Trương Kế lúc từ Phong Kiều bước xuống thuyền nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn vọng lại. Bài thơ của Đỗ Nghê là bức tranh hiện thực được vẽ bằng bốn câu thơ năm chữ.

Và tiếng gà. À, thì ra ngôi chùa chẳng ở đâu xa mà nằm gần kề một thôn xóm quê nghèo. Nó cho ta cảm giác ám áp, gần gũi, thân thương. Cụm từ “vàng trong sương” là một thủ pháp tu từ mỹ học. Ở đây nó là điểm nhấn như điểm nhấn trong hội họa, để từ đó người đọc thơ có thể vin vào, đoạn phóng chiếu ra tổng thể một cảnh tượng lung linh bóng hình thật đẹp, gồm có cả hình ảnh lẫn ảo ảnh. Hình ảnh là ánh tinh quang nhạt nhòa trong sương sớm. Ảo ảnh là một thôn làng xa xôi rơi rớt trong mớ ký ức ngổn ngang buồn nhớ.

Ngôi chùa ở Hội An của Đỗ Nghê thân quen, gần gũi trong một tâm trạng cảm hoài nhưng một tâm thế u tĩnh, yên bình. Ngôi chùa Hàn Sơn của Trương Kế thì xa lạ, trống vắng trong một cảm giác bất an, mông lung, thậm chí bồn chồn, hoang mang, lạc lõng.

 

4.

 

Tình yêu là đề tài trong thơ của gần như mọi thi sĩ đông tây kim cổ. Tình yêu trong thơ Đỗ Nghê là một thứ tình yêu đằm thắm, nhẹ nhàng. Bạn đừng tìm kiếm những tứ thơ nồng cháy nóng bỏng, khốc liệt trong thơ ông. Ngôn ngữ tình yêu là những nét chấm phá thi vị. Và ý nhị, thâm trầm:

 

Cảm ơn em sợi bạc

Cảm ơn em sợi hung

Cảm ơn em năm tháng

Đã theo già cùng anh.

(Theo già)

 

Hay:

 

Lá chín vàng lá rụng về cội

Em chín vàng chắc rụng về anh…

(Lá)

 

Tôi thích những vần thơ tình nhẹ nhàng của Đỗ Nghê, bởi dù trong xa vắng, tình yêu của thi sĩ vẫn đẹp. Tháng năm trôi qua, đôi khi chạnh lòng nhớ lại kèm theo một chút bùi ngùi thương nhớ:

 

Hoa vàng đã rụng đầy sân vắng

Tình cũng ngùi phai theo tháng năm…

(Cố nhân)

 

Lòng còn vương vấn dù thời gian dâu biển bao mùa đã qua. Chẳng còn gì để nhớ, để thương… Không, hình như vẫn còn… Và chỉ chừng đó thôi đã đủ cho “ta” bồi hồi sung sướng:

 

Trái thông khô rớt vèo chiều tím

May mà còn ánh mắt dao cau…

(Tím)

 

Hình ảnh “bạo liệt” nhất trong thơ Đỗ Nghê là bài sau:

 

Anh đọc bài thơ tình

Em ngồi nghe lặng thinh

Anh đọc thêm bài nữa

Em vẫn ngồi lặng thinh

Anh buồn không đọc nữa

Em chồm lên hôn anh

Như dổ dầu vào lửa…

(Thơ tình)

 

Và, không kém quan trọng, tình yêu trong thơ Đỗ Nghê bao giờ cũng hòa quyện với tình yêu quê hương đất nước, với biển, cát, sóng, trời:

 

Anh… ngoằn ngoèo trên cát

Không ngờ mà hóa tên em

Biển xanh nắng vàng sóng bạc

Không ngờ cùng kéo đến xem…

 

Tình yêu trong thơ Đỗ Nghê là thứ tình yêu phổ quát, đẹp muôn đời, đáng ca tụng mãi mãi, thế hệ nào cũng có thể liên kết cá thể mình vào được. Ngôn ngữ ca ngợi tình yêu của thi sĩ giản dị, chân thành, biểu hiệu một tấm lòng thương quý dành cho món quà quý giá nhất Thượng đế ban cho loài người. Một món quà như thế mà hình như chúng ta đang đánh mất nó, đang để nó vuột khỏi tầm tay. Một mai không còn tình yêu nữa, chúng ta sống vô cảm, vô tính như một robot AI hay một con người văn minh, chỉ biết có khoái lạc nhục dục và soma gây mê, như Aldous Huxley miêu tả trong cuốn tiểu thuyết Brave New World của ông, thì liệu lúc đó con người có còn là con người nữa không? Đọc thơ tình Đỗ Nghê để giữ gìn, trân quý món quà Trời cho đó, xin bạn đừng bao giờ đánh mất.

 

5.

 

Ngôn ngữ thơ của Đỗ Nghê, nói chung, mang phong cách truyền thống. Cấu trúc và thi pháp cổ điển. Bởi thế, nhạc tính và cú điệu trong thơ du dương, trầm lắng.  Đêm trên biển Lagi là một bài thơ với niêm luật chỉn chu theo đúng tinh thần Đường thi. Ông không tìm kiếm sự cách tân trong thơ mình. Kỹ thuật được ưa chuộng bởi các nhà thơ cách tân, như thủ pháp đặt cặp phạm trù/ thi ảnh tréo ngoe liền kề, không hề thấy trong suốt thi tập. Chữ nghĩa ông thâm trầm, dung dị. Ông không nệ chữ, không chuộng sử dụng những từ lạ, hoa mỹ, không vắt dòng vô cớ, không tra tấn người đọc bằng những ký hiệu rối rắm, ngớ ngẩn. Nhưng chữ nghĩa của ông là thứ chữ nghĩa có trọng lượng và buộc người đọc thơ phải suy ngẫm, liên tưởng, để trèo từ tầng chữ nghĩa lên tầng cảm xúc của thơ, để khám phá, để đắm chìm vào những khung trời, trong đó tâm hồn mình được vuốt ve, yên ủi.

Tuy vậy, đó không phải loại thơ “khẩu khí” vốn đè nặng thi ca Việt Nam suốt mấy trăm năm qua và phần nào tiếp diễn cho đến ngày hôm nay. Thơ ông là tiếng nói, tiếng nói thầm thì nhưng trong veo và có sức mạnh chuyển tải cảm xúc, biểu hiệu cho một tâm hồn thơ giàu suy cảm.

Có thể có kẻ thấy thiếu vắng một ý thức lịch sử, xã hội hay chính trị trong thơ Đỗ Nghê, thiếu cả những thao thức, khao khát nội tâm, do đó, họ biện biệt, thơ thiếu chất sống, không tiếp cận với đời sống con người, thân phận con người, vốn là cơ bản cho tất cả các thao tác văn học nói chung, thơ nói riêng.

Tôi phản bác lập luận này. Đồng ý, thơ phải có một “đời sống thơ,” nhưng đời sống ấy không phải sinh ra để gồng gánh những trọng trách như minh họa kỷ nguyên lịch sử, miêu tả xã hội, bảo vệ ý thức hệ – dù là một ý thức hệ tốt đẹp – như Milan Kundera từng phát biểu nhiều lần. Mượn lời Kundera, tôi có thể nói là, thay vào đó, thơ tự cho nó một nhiệm vụ nói lên những điều “chỉ thơ mới nói được.” Ngôi nhà chữ nghĩa của thơ vốn ảo diệu, khó vào, thông thường chỉ mở lối cho người đọc thơ đi vào bằng con đường trực cảm hoặc linh cảm, thậm chí thần cảm. Khoác chiếc áo sứ mệnh nặng khôn kham lên thơ chỉ làm thơ thêm tội nghiệp và giết chết thơ.

Ý thức rất rõ về điều đó, nhà thơ Đỗ Nghê đã không khoác chiếc áo sứ mệnh lên thơ mình.

Nhưng “đời sống thơ” trong thơ Đỗ Nghê là gì, và ta phải hiểu như thế nào?

Nhờ thấm đẫm Thiền vị, như đã nói bên trên, thơ Đỗ Nghê thắt buộc sự hiện hữu của con người vào thế giới xung quanh, và quan trọng hơn, tìm ra được quan hệ hài hòa giữa sự hiện hữu ấy với thế giới. Con người và thế giới không là chủ thể-khách thể như được hiểu theo ý nghĩa triết học cổ điển, mà là một tương tác giao thoa. Triết học Hiện sinh đặt vấn nạn chúng ta bị ném ra ngoài thế gian này mà không biết tại sao. Chúng ta giống nhân vật thần thoại Hy Lạp Sisyphus, bị kết án vĩnh viễn lăn tảng đá lên đỉnh núi chỉ để nhìn nó lăn xuống lần nữa. Thơ Đỗ Nghê không thắc mắc chuyện đó. Thơ ông cho ta thấy khả năng con người nhận thức được thực tế của hiện tồn, để từ đó biết trực diện với khổ đau và cái chết, đối đầu với những thách đố của đời sống dựa trên sự thông hiểu sâu sắc về bản chất của hiện tồn.

Nhưng không thể gọi thơ Đỗ Nghê là thơ triết học. Đó là thơ. Thơ với tất cả những tố chất cố hữu của thơ. Bởi thơ ông không đưa ra một suy niệm tiên nghiệm nào, và bởi thơ đi thẳng từ trái tim thi nhân vào trái tim người đọc.

Đọc “thơ ngắn đỗ nghê” giữa một thế giới đảo điên như hôm nay, giữa một cuộc sống đầy gian truân, trắc trở, với tôi, là một hạnh phúc.

 

– Trịnh Y Thư

(Ngôn Ngữ số đặc biệt Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, tháng 5/2024)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Trang 5
  • Interim pages omitted …
  • Trang 43
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Sách song ngữ Việt Anh: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HANH PHÚC
  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email