Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Một ngày kia… đến bờ

07/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

NGƯỜI ĐÔ THỊ

Một nhttps://nguoidothi.net.vn/mot-ngay-kia-den-bo-42259.htmlgày kia đến bờ

Một ngày kia đến bờ

 

Đó là tựa đề cuốn tùy bút mới nhất của nhà văn, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vừa ra mắt bạn đọc. “Một ngày kia đến bờ” là những chiêm nghiệm sâu sắc từ một nan vấn: “Con người đến từ đâu và sẽ đi về đâu?”.

Trước những truy vấn muôn thuở của nhân loại về sinh tử, trong vai trò bác sĩ, ông lần lượt tìm kiếm câu trả lời dưới góc độ khoa học như: tế bào, DNA, gen… Khi tất cả luận cứ thực chứng đều chưa thỏa nan đề, ông đã thong dong lần giở những trang kinh nhà Phật, và quán tưởng bằng pháp nhãn, bằng triết lý duyên, nghiệp, sắc, không… để cùng độc giả đi sâu hơn vào bản chất của kiếp người.

Bìa cuốn Một ngày kia đến bờ. Ảnh: Phanbook


Một ngày kia đến bờ (Phanbook và NXB Đà Nẵng liên kết ấn hành, 2023) gồm 26 tiểu mục, đề cập đến hầu hết các phần giáo lý cốt yếu từ những bộ kinh quan trọng của Phật giáo như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Kim Cang, Duy-ma-cật…

Sách đề cập đến những vấn đề quan trọng trong sự tu tập, từ sự nhận hiểu tinh yếu giáo pháp cho đến kinh nghiệm thực hành. Qua cuốn sách mỏng này, ông giúp người đọc nhận ra rằng “Một ngày kia… đến bờ” là tất yếu, là lẽ đương nhiên, vì vậy mà không cần sợ hãi, lo lắng, đau khổ khi đối diện với biệt ly sinh tử.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc đã biến mọi vấn đề khô khan hay trừu tượng, siêu hình trở nên gần gũi, dễ hiểu và thiết thực. Ông chia sẻ từ chính kinh nghiệm của người viết – những điều không thể tìm thấy trong bất kỳ bài thuyết giảng hay luận văn Phật giáo nào.

PV

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Họp mặt với Đỗ Hồng Ngọc ở quê nhà Lagi (Bình Tuy) 2022

31/12/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Buổi Họp Mặt với Đỗ Hồng Ngọc tại quê nhà Lagi 2022.

Tôi vừa nhận được clip này từ Nguyễn Văn Quyền gởi đến trong ngày cuối năm 31.12.2023. Cảm ơn Quyền và các cháu Dung Phan, Hà, Hải… ở Lagi đã ghi hình buổi Họp Mặt rất nhiều kỷ niệm của riêng tôi với quê hương Lagi, Hàm Tân, Bình Tuy…

Cảm ơn các nhà thơ Đỗ Ái Liên, Phan Chính, Cao Hoàng Trầm, Dũng Nguyên… và các thân hữu văn nghệ sĩ Lagi, cùng anh chị em, bà con họ hàng, bạn bè thân thiết … đã tham dự buổi Họp Mặt. Riêng cảm ơn các cháu Trí và Đông của LagiFarmstay.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

TÌM CHỐN NƯƠNG TỰA TRONG THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG

29/12/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TÌM CHỐN NƯƠNG TỰA TRONG THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG

Trần Đăng Khoa

Trong hai tiếng đồng hồ tối ngày 27/12/2023, buổi Trò chuyện về “Cân bằng trong Khủng hoảng”, khán phòng The Prism của Nam Thi House chật kín chỗ ngồi, hơn một trăm độc giả đã có mặt để lắng nghe hai diễn giả của chương trình – nhà văn – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cùng nhà văn Nguyễn Tường Bách chia sẻ câu chuyện về cân bằng trong khủng hoảng của xã hội hiện đại.

Giữa không gian ấm cúng nhưng cũng không kém phần sôi nổi, liên tục nhiều câu hỏi, trăn trở hàm chứa nỗi bất an, vô định đã được gửi đến hai diễn giả để mong muốn tìm kiếm được lối thoát trước tình thế bế tắc của đời sống.

Từ trái: Nguyễn Tường Bách, Đỗ Hồng Ngọc, MC Tuyết Anh

 

Nhà văn Đỗ Hồng Ngọc và nhà văn Nguyễn Tường Bách đã có những kiến giải về nguồn gốc của làn sóng khủng hoảng hiện tại từ góc nhìn của những người làm khoa học thấu triệt tinh thần Phật giáo. Từ đó gợi mở ra con đường lạc quan từ quan điểm của phương Đông và phương Tây, của khoa học và thiền học.

Theo bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, chúng ta đang sống trong thời đại VUCA – Volatility (Biến động), Uncertainty (Không chắc chắn), Complexity (Phức tạp), và Ambiguity (Mơ hồ)…

Xã hội đầy rẫy những ngổn ngang, khiến nhiều người không thể bình an, thậm chí bị tâm thần!

“Như căn bệnh phổ biến trên toàn thế giới ngày nay chứ không riêng gì chúng ta, được gọi là S.A.D (viết tắt của Stresse- căng thằng, Anxiety- lo âu, sợ hãi, và Depression- trầm cảm). Đó là 3 thứ “tâm bệnh” không có thuốc nào chữa khỏi, mà phải chữa bằng Tâm lý trị liệu, Thiền định…”, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho biết.

Còn nhà văn Nguyễn Tường Bách thì cho hay, ngay cả ở các nước giàu như Mỹ và châu Âu vẫn phổ biến tình trạng rối loạn lo âu. Mỗi cá nhân sẽ có những mối lo âu riêng dẫn đến khủng hoảng, khủng hoảng cá nhân kéo theo khủng hoảng xã hội. Và thế giới đang phải đối mặt với năm vấn đề nghiêm trọng, đó là: Thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh và di dân. Năm sự khủng hoảng đó dường như cảnh báo chúng ta về một vũ trụ đang xoay trục.

Cả hai diễn giả đều nhấn mạnh đến những hệ lụy nhãn tiền sự phát triển của công nghệ trong đời sống hiện đại. Biểu hiện rõ nhất là tình trạng lạm dụng internet trong giai đoạn giãn cách xã hội, gây nên các biểu hiện lệch lạc về đời sống tinh thần, thúc đẩy lo âu và mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng… Hai vị diễn giả cũng cảnh báo về nguy cơ của trí tuệ nhân tạo (AI), khi công nghệ tưởng chừng như đỉnh cao phát kiến của nhân loại lại đang quay ngược trở lại kiểm soát và điều khiển hành vi con người.

Quay về bên trong, “nương tựa chính mình” chính là lối thoát cho cuộc khủng hoảng hiện tại, đó là quan điểm chung của hai diễn giả với con mắt của những người học Phật. Tuy nhiên, ngày nay khi nói về thiền, chúng ta lại cảm thấy bối rối vì có quá nhiều “thầy”, quá nhiều sách, vô hình trung trong cuộc tìm kiếm hướng đi ta lại bị dẫn vào mê cung của giải pháp. Theo bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, để không bị lạc lối, chúng ta có thể lựa chọn thực tập thiền theo phương pháp đơn giản và khoa học nhất đó là tập trung vào hơi thở (Anapanasati).

Ngoài ra, theo nhà văn Nguyễn Tường Bách, bên cạnh thiền định, nghiên cứu ở các nước phương Tây cho thấy những hoạt động tìm về với thiên nhiên, chơi thể thao, học một môn nghệ thuật cũng có tác dụng tích cực giúp thư giãn tâm trí.

“Cân bằng trong khủng hoảng” là chủ đề lớn, trong thời lượng giới hạn của chương trình khó có thể giải quyết thật rốt ráo. Song chương trình đã “xới lên” nhiều vấn đề xã hội quan tâm, đó cũng là cơ sở để mở ra nhiều cuộc đàm luận tương tự trong thời gian tới!

(TĐK)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

“MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ” Tuỳ bút Đỗ Hồng Ngọc

26/12/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

                                                                     MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ

 

 

                                                                                        Tuỳ bút

                                                                                   Đỗ Hồng Ngọc

 

Cuốn sách gồm 26 tiểu mục với những chủ đề dàn trải, đề cập đến hầu hết các phần giáo lý cốt yếu từ những bộ kinh quan trọng của Phật giáo như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Kim Cang, Duy-ma-cật… và đề cập đến những vấn đề quan trọng trong sự tu tập, từ sự nhận hiểu tinh yếu giáo pháp cho đến kinh nghiệm thực hành.

Đỗ Hồng Ngọc đã biến mọi vấn đề khô khan hay trừu tượng, siêu hình trở nên gần gũi, dễ hiểu và thiết thực, đó là những chia sẻ từ chính kinh nghiệm của người viết- những điều không thể tìm thấy trong bất kỳ bài thuyết giảng hay luận văn Phật giáo nào.

Tác giả đưa người đọc đi vào nội dung quyển sách từ những chiêm nghiệm của cả một đời người. Ở đó, ông tự mình vấn đáp về các vấn đề vĩnh hằng của vũ trụ: “con người từ đâu tới và sẽ đi về đâu?”.

Thư pháp của Thầy Viên Thức, Đà Lạt
(Viết tại Đường Sách Tp.HCM, ngày 16.12.2023)

 

Trước những truy vấn đó, trong vai trò bác sĩ, ông lần lượt tìm kiếm câu trả lời dưới góc độ khoa học về sinh lý con người như: Tế bào, DNA, Gen… Và khi tất cả đáp án đều chưa thỏa nan đề của tạo hóa, ông lại trở thành một thiền giả, luận giải từ góc nhìn của nhà Phật, bằng con mắt pháp, bằng triết lý duyên, nghiệp, sắc, không…

Để từ đó giúp tất cả chúng ta thấy rằng “Một ngày kia… đến bờ” là tất yếu, là lẽ đương nhiên, vì vậy mà không cần sợ hãi, lo lắng, đau khổ khi đối diện với biệt ly sinh tử.

“Well-Being & Well-Dying” Đỗ Hồng Ngọc viết.

 

Trần Đăng Khoa

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

THƯ MỜI tham dự buổi Trò chuyện với Đỗ Hồng Ngọc và Nguyễn Tường Bách

22/12/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Trân trọng kính mời Anh/Chị và các bạn đến tham dự Chương trình Giao lưu “CÂN BẰNG TRONG KHỦNG HOẢNG” với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và Nhà văn Nguyễn Tường Bách:

 

 

Sẽ có nhiều vấn đề được đặt ra trong buổi Trò chuyện thân mật này với các “diễn giả”:

– Thời gian qua, thế giới chúng ta đang sống liên tục chịu nhiều tổn thương (dịch bệnh, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh…). Những vấn đề đó ảnh hưởng ra sao đến tâm thức xã hội?

– Tình trạng mất cân bằng hiện nay thực sự đến từ những nguyên nhân khách quan hay từ chính bên trong chúng ta?

– Làm cách nào để con người tìm lại sự cân bằng trước những biến động?

– Thiền có phải là lối thoát cho cuộc khủng hoảng này?

– Khoa học nhìn nhận như thế nào về khả năng điều trị thực tế của thiền?

– Làm gì để có thể vững tâm đối diện với các biến cố tương tự có thể sẽ còn gặp lại trong tương lai?…

Trân trọng,

BTC

Ghi chú: Vào cửa tự do.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

NT KhánhMinh: Cười Với Nắng Một Ngày Sao Chóng Thế (Tuệ Sỹ)

20/12/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Cười Với Nắng Một Ngày Sao Chóng Thế (Tuệ Sỹ)

Nguyễn Thị Khánh Minh


Thầy Tuệ Sỹ, nơi bàn làm việc tại chùa Già Lam
Photo by nt khánh minh (2009)

Vâng, chóng đến nỗi tôi nghĩ đó là giấc mộng, giấc mộng thiện hảo quý báu quá khiến tôi tiếc ngẩn ngơ sao chóng đến vậy.

Đó là buổi ra mắt tập thơ của tôi tại quán cà phê Du Miên. – Chỉ với 50 ấn bản Bùa Hương do Ý Thức Bản Thảo ấn hành 2009 – với sự có mặt của các anh chị Đỗ Hồng Ngọc-Ngọc Bích, Lê Ký Thương-Kim Quy, anh Nguyên Minh và anh Lữ Kiều, và tôi. Bảy người, đối với riêng tôi, số 7 khiến tôi liên tưởng đến bảy sắc cầu vồng, bảy nốt trong âm nhạc, thất bảo, của một buổi sáng tuyệt vời.

Và bản quý duy nhất, Bùa Hương, được ấn chứng bằng những chữ ký thân tình. Buổi sáng đẫm hương bằng hữu. Nó không chỉ chấm dứt vào buổi trưa khi chia tay. Nó kéo dài cho tới bất cứ lúc nào hồi ức tôi lay động.

Sau buổi sáng, anh Lữ Kiều bảo, giờ anh sẽ đưa em đến chùa Già Lam, – Thầy Tuệ Sỹ ạ? – Ừ, mình cùng đi với Giai Hoa.

Lòng tôi vừa bồi hồi vừa lâng lâng khó tả. Run run. Vì sắp được gặp một người mà mình nghĩ rằng khó có cơ hội được diện kiến. Chùa Già Lam. Có đóa sala rụng ở sân chùa, cầm trong tay thơm ngát. Ép vào sách, đến giờ giở ra còn nghe thơm. Thơm phút giây nhặt nó ở sân chùa, thơm vì nó cùng tham dự với tôi buổi trưa độc nhất ấy, nơi có vị sư của những lời thơ Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ/ Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn… (Tuệ Sỹ, Không Đề) Đã bao trăng tàn bên chiếc lan can này nghe Sư nói chuyện một mình? Hai bóng sáng hòa âm trong đêm, để lại cho đời những lời thơ bất hủ, theo mãi trong lòng người hình bóng một vị chân tu.

Chúng tôi ngồi ở đó, ban công trước phòng Sư, trông xuống một vườn cảnh nhỏ, gió buổi trưa hiu mát, trái tim tôi như chiếc lá bay. Sư và anh Lữ Kiều, Giai Hoa đang bàn về chương trình buổi ra mắt tập thơ Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm, tập thơ tôi được Sư tặng sau đó.

Tôi tặng Sư tập thơ Bùa Hương, và tôi có được chữ của Sư trong bản duy nhất kia. Chữ của Sư, chữ Hán lẫn Việt, lấp lánh dưới nắng trưa: Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn/ Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về. Nét chữ có linh hồn của sự cương nghị bất khuất và u ẩn một điều cưu mang…

Mỗi khi giở xem lại nét chữ ấy lòng run run như đang mở xem điều gì đó vô cùng quý báu.

– Giai Hoa là người phụ đạo piano cho thầy-. Anh Lữ Kiều nói. Rồi, chúng tôi được nghe và thấy Sư ngồi đàn, một Nhà Thơ gõ trên phím những nốt nhạc của tâm hồn, Sư ngồi đó, Sư đang ở đó, như vừa mới đến, như vừa ra đi trong âm ba tiếng nhạc. Không gian thời gian như nhập lại một dòng trôi vi diệu vô thường…

Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng… ôi, Như Lai đâu có đi có đến…

Thời gian tiếng dương cầm, giờ như đang đọng từng hạt vàng trong nắng Già Lam. Đó Ngày Mộng của tôi. Ngày mộng khởi duyên cho bao thiện lành trong từng bước tu hướng về Người…

ĐỈNH ĐÁ NÀY VÀ HẠT MUỐI ĐÓ CHƯA TAN
(Tuệ Sỹ, Khung Trời Cũ)

Tôi kính ngưỡng nỗi u ẩn trong tình tự hạt muối chưa tan. Ôi biển đời kia xô động…

Cũng vì vậy, đọc thơ Tuệ Sỹ, tôi cứ thấy hình ảnh con đường dài, và muôn dặm bóng cô lữ một khung trời viễn mộng dằng dặc nỗi ưu tư,

Trời viễn mộng đọa đày đi mấy thuở
Mộng kiêu hùng hay muối mặn giữa trùng khơi

(Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm)

Bước độc hành như sương hạt rơi khuya, như tiếng mõ trầm trầm hun hút ở rừng thẳm, ở núi cao… nhưng khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, của một vì sao bên khoé miệng rưng rưng, thấp thoáng ẩn hiện. Hiện lên Người và ẩn một cõi thơ tịnh tĩnh. Khó làm sao lọt được vào cõi im lặng tủy đá ấy…

Có chăng, tôi lần theo bằng nhịp đập của trái tim thơ khởi đi từ hạt lệ mở đường,

 Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…

Cô quạnh và tự tại của hạt lệ đèn hòa thanh ánh trăng, và câu chuyện gì khiến thế gian nhỏ lệ? Đọc thơ Người thấy mình nhỏ bé quá dưới cái huyễn lộng, hay chỗ nào, vì sao hay, hỏi như hỏi mây xanh bay, theo như đuối dòng nước trôi hoài kia. Chuyện trăng tàn là chuyện gì, chưa nghe thấu nỗi đã rúng động. Trăng tàn giật mình sững sờ cái núi lạnh biển im, tấm lòng băng khiết?

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan…

Hỏi, tại sao, vì đâu lòng muối kiên định… để bất khuất chưa tan?

Tưởng chỉ là Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ, bỗng vầng trăng vụt sáng mới hay Lãng du ai ngỡ cô liêu bạc đầu! (Tóc huyền) Cô liêu tóc trắng ấy cũng ngang ngửa với cái cô quạnh nghìn năm viên đá cuội. Nghe quá cảm khái trong câu hỏi hồn tôi đâu…

Viên đá cuội mấy nghìn năm cô quạnh
Hồn tôi đâu trong dấu tích hoang đường?

(Dạ Khúc)

Hay đó là mênh mang sầu của cánh mỏng về đâu, là chiếc lá xa mùa đau lòng phận nước?

Con bướm nhỏ đi về trong cánh mỏng
Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa…

(Mưa cao nguyên)

Tôi sứ giả hư vô
Xin gởi trong đôi mắt bà
Một hạt cát

(Hạt cát)

Sứ giả của hư vô, gửi vào đôi mắt một hạt cát, để khơi lệ huyễn mộng rực rỡ không dấu chấm hết? Một hạt cát chứa vô biên không gian thời gian.

Tất cả câu hỏi về thơ Người, chỉ có thể tìm được câu trả lời qua những bước chân cô độc kiên trì trên con đường dài Người đã đi, qua tấm lòng băng khiết Người đã sống với Đạo với Đời, qua nếp sống giản dị thanh bạch của hạt cát tinh tuyền, giờ hạt cát ấy đã lồng lộng hư vô, nhưng âm thanh của cát vẫn vang động. Nếu chúng ta cùng nghe được âm vang của một hạt cát thì sứ giả hư vô ấy là trái tim son sắt của Người.

NHỚ BUỔI NGHE SƯ ĐÀN

Cùng nhà thơ Lữ Kiều và Giai Hoa, 20.9.2009, tại cốc của sư trong vườn chùa Già Lam

Buổi trưa ngồi nghe sư đàn
Trăm con lá rớt. Tình tang cõi ngoài
Mùa đâu hốt đã thu phai
Một phương viễn mộng. Đọa đày*. Bao thu

Viên đá cuội nghìn năm*. Ru
Niềm cô quạnh. Dấu biệt mù. Âm xưa
Trăng tàn nhỏ lệ đèn khuya
Hắt con bóng dựng đá chờ nước non

Áo tỳ khưu. Dặm mỏi mòn
Trùng khơi. Hạt muối đó còn chưa tan…

Nguyễn Thị Khánh Minh
9.2020

* Thơ Tuệ Sỹ: Trời viễn mộng đọa đày đi mấy thuở/… Viên đá cuội mấy nghìn năm cô quạnh/ Hồn tôi đâu trong dấu tích hoang đường…

(Nguồn: tranthinguyetmai.wordpress.com)

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim

Tuệ Sỹ: “Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn”

13/10/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn

Đỗ Hồng Ngọc

Thị giả của Thầy Tuệ Sỹ nhắn tin tôi: Thầy Tuệ Sỹ đang ở Sài Gòn. Mời Bác đến Hương Tích chơi. Tôi đến. Tuệ Sỹ gầy ốm, xanh xao lắm. Nhưng vui vẻ, hoạt bát, thông tuệ như bao giờ!

Thầy Tuệ Sỹ và Đỗ Hồng Ngọc (ảnh Quảng Ngộ, 9.2023)

Thầy viết tặng tôi tập Thơ song ngữ: Dreaming the Mountain do Nguyễn Bá Chung và Martha Collins dịch (2023), cùng với cuốn Phạm Công Thiện của Nohira Munehiro (Võ Thị Vân Anh dịch) và Phật Học Luận Tập, số mới nhất.

Phần tôi, gởi tặng Thầy bản thảo “Một ngày kia… đến bờ” vừa mới viết xong. Trong đó tôi viết: Phật cũng già, cũng bệnh và… cũng chết; viết về Phật là Như Lai nhưng… Như Lai không phải Phật; về Thiền và những hormones hạnh phúc; về “Chất lượng cuộc chết” v.v…

Thầy đưa tôi coi mấy phiếu xét nghiệm và cười, nói: “Chỉ còn một nửa”. Đúng. Chỉ còn một nửa. Hématocrite chỉ còn 17%, Hémoglobine còn 7g/dL…

Mấy ngày sau tôi nghe sức khoẻ thầy đang rất yếu. Đã phải vào bệnh viện và được truyền 3 đơn vị hồng cầu lắng.

Trong bản thảo “Một ngày kia… đến bờ”, tôi có nhắc Je pense donc je suis của Descartes: Tôi tư duy, vậy có tôi. Vậy không tư duy là không… có tôi! Ta cũng có thể nói như một thầy thuốc: “Tôi thở, vậy có tôi”. Nghĩa là tôi không thở thì không có tôi. Nhưng cái thời tôi còn ở trong bụng mẹ, tôi cũng không thở mà vẫn có tôi đó thôi. Vậy phải chăng cái thời tôi… hết thở, tôi ngừng thở, thì tôi không còn nữa? Còn chứ! Tôi lúc đó lại trở về bào thai Mẹ, bào thai Như Lai (Tathagata-garbha) đó chứ!

Tuệ Sỹ viết trong Tổng quan về Nghiệp (2021), Thời kinh nói: “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người.

Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng

Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều. 

Thì ra là lời của kinh Kim Cang đó:

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh

Như lộ diệc như điện.

Ưng tác như thị quán!

 

Thành ngữ kālaṃ karoti, “nó tạo tác thời gian”, nghĩa là nó chết. Đây không phải là tri giác mà là ám ảnh về thời gian như một thứ định mệnh không thể tránh, rồi ai cũng phải chết. Cho nên, về mặt ngữ nguyên, kāla, nghĩa là thời gian mà cũng có nghĩa là màu đen tối, màu của đêm tối, của sự chết. Kāla cũng được hiểu là do gốc động từ kal (kalayati) thúc giục, hối thúc, sự chết đang hối thúc ta (Tổng quan về Nghiệp,Tuệ Sỹ).

Lửa đã tắt từ buổi đầu sáng thế

Một kiếp người ray rứt bụi tro bay 

(Ngồi giữa bãi tha ma)

Trong bài “Phương nào cõi tịnh”, Tuệ Sỹ viết từ cảm hứng khi đọc cuốn “Cõi Phật Đâu Xa” của tôi về Kinh Duy Ma Cật (2017), ông dẫn 4 câu thơ, trích từ Giấc Mơ Trường Sơn:

Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh,

Ngoài hư không có dấu chim bay?

Từ tiếng gọi màu đen đất khổ,

Thắp tâm tư thay ánh mặt trời. 

(Giấc Mơ Trường Sơn)

Phải, chỉ có Trí Tuệ (thắp tâm tư thay ánh mặt trời) mới có thể Từ Bi giúp ta vượt thoát màu đen đất khổ đó vậy!

Tuệ Sỹ cho rằng, “vì trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn” (Phương nào cõi tịnh), ông chủ trương thơ, nhạc, vũ, kịch… có thể là “ngõ đạo”.

Ông thường nói về vở nhạc vũ kịch Duy Ma Cật, ở đó có hình tượng một Thiên nữ rải hoa trời tán thưởng một lời không nói (của Duy Ma…) và cõi của một lời không nói đó chính là cõi thơ.

Giữa thế giới Ta-bà và cõi Phật Chúng Hương, tòa sư tử và thành Tì-la-da, cái vô cùng lớn đến trong cái vô cùng nhỏ, và cái nhỏ đi vào trong cái lớn: đây cũng là cặp phản diện bối cảnh làm lộ rõ thể tính tồn tại của thế gian, vũ trụ. Bằng hình ảnh đó mà tập luyện cho tư duy vượt ngoài khuôn sáo ước lệ, vượt qua thế giới thường nghiệm để vươn lên cảnh giới siêu nghiệm, bất khả tư nghị.

Như thế, đọc Duy-ma-cật sở thuyết như đang xem một kịch bản, với những nhân vật và bối cảnh phản diện, với những biến cố mang đầy kịch tính, đó là cách tự huấn luyện và tự trang bị cho mình một công cụ định hướng tư duy để vươn lên chiều cao của giác ngộ.

Da mồi tóc trắng, chính là cảnh giới của Duy Ma. Cảnh giới đó là cõi đối biện thượng thừa; cõi im lặng vô ngôn bát ngát của cư sĩ Duy Ma Cật. Và cũng là cõi tịch mặc nhưng tráng lệ của thi ca.

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh 

(Khung trời cũ)

 

Tâm Thiền thì không có ngôn ngữ gì khác biệt với ngôn ngữ thường tình. Nhưng còn ngại rằng khi đã cạo tóc mà tình thơ vẫn còn. Thôi thì, thiền đạo và thi ca là đồng hay là khác, cũng chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi.

Có lẽ “Những phím dương cầm” là bài thơ rất tình của ông tay em run trên những phím lụa ngà, anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt, nhưng ông đã dặn “chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi” rồi đó!

Tự hôm nào suối tóc ngọt lời ca

Tay em run trên những phím lụa ngà

 

Lời em ca phong kín nhụy hoa hờn

Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt

 

Mờ phố thị những chiều hôn mái tóc

Sóng ai ngồi so phím lụa đàn xưa 

(Những phím dương cầm)

Bởi theo ông, đạt tới cõi thượng thừa của Thơ, như người học Thiền chứng chỗ Không tịch của Đạo; cái đó vừa khó vừa dễ. Học Thiền ba mươi năm, ba mươi năm đày đọa thân tâm, mà không thành. Phẫn chí, bỏ đi; bất chợt thấy một cánh hoa rơi, cõi Không tịch cũng hoát nhiên, đột ngột mở ra. Chỗ ảo diệu đó, khó giảng cho thông! Muốn cho lời thơ tuyệt diệu, thì phải là đừng gò ép, vừa Không và vừa Tĩnh. Tĩnh cho nên thâu tóm hết mọi vọng động. Không cho nên bao hàm vạn cảnh. Ngắm nhìn sự đời, bôn ba giữa đời, mà thấy mình như nằm trên chóp đỉnh mây cao. Đủ hết các thứ mặn nồng, chua chát; trong đó có cái hương vị tuyệt vời. Thơ và Pháp (Đạo) không chống trái nhau, không hại nhau. (Tô Đông Pha, những phương trời viễn mộng, Tuệ Sỹ)

Đọc thơ Tuệ Sỹ, tôi thường ngẫm ngợi tại sao thơ ông thường nhắc đến ngày hội lớn, cung trời hội cũ?

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang 

(Khung trời cũ).

 

Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn

Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao 

(Một thoáng chiêm bao)

Ngày hội lớn đó ở đâu? Cung trời hội cũ ở chỗ nào đó vậy? Sao nghe thấy quen quen!

A, có phải buổi hôm đó, dưới cội Bồ đề nơi Đức Phật thành đạo, Ngài nói đó là “quả an vui”, ở Hội thứ nhất của Avatamsaka, một thế giới hoa tạng mở ra bát ngát, Như Lai đã hiện tướng thành một vị Phật mắc biếc, ngây thơ, tủm tỉm cười… như hồi còn là chú bé 7, 8 tuổi ngồi xem Lễ Hạ Điền mà nhập định không hay?

Còn cung trời hội cũ kia phải chăng là Hội thứ chín, nơi rừng Thệ Đa, khi người ta nhập pháp giới, đi vào cuộc Lữ, để thấy được pháp giới thể tính mà thõng tay vào chợ?

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan 

Trên đỉnh Hy-mã-lạp- sơn kia là những vỏ sò và dưới đáy biển sâu thẳm nọ là những hạt muối lâu đài thành quách…

 

Cõi thơ, có đến và có đi, nhưng không hề có dấu vết. Một cánh chim Nhạn, một cánh chim Hồng ngoài ven trời vạn dặm.

Tôi vẫn nghĩ, chính cõi thơ “không hề có dấu vết” kia đã “cứu rỗi” Tuệ Sỹ, một cánh chim Nhạn, một cánh chim Hồng ngoài ven trời vạn dặm, để ông được trở về với mái nhà tranh quen thuộc của mình mà “nâng chén trà lão Triệu”. (Phương nào cõi tịnh, Tuệ Sỹ).

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, tháng 9.2023)

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Thị Khánh Minh: MƯA BAY THEO THỜI GIAN

25/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

MƯA BAY THEO THỜI GIAN

Nguyễn Thị Khánh Minh
Hoa phượng sân trường
 
     *tặng Duyên.
Những con đường nắng gọi. Leng keng tiếng chuông người đưa thư reo ngát cổng hoa sứ. Những lá thư hẹn hò năm tháng. Ta yêu nhau tuổi hai mươi. Trời sài gòn rất thơ. Nắng Sài Gòn rất lụa. Nên em hoài áo trắng. Nên anh yêu mầu áo ấy vô cùng.* Ơi thi sĩ nhịp tim dịu mềm cỏ mật.
Những con đường mưa xanh. Trời sài gòn rất nhạc. Nhạc sài gòn rất mộng rất điên mơ… thà như giọt mưa rơi trên mặt duyên em tóc ngắn học bài ngoan bên cửa sổ người từ trăm năm về ngang trường Luật chút đong đưa tiễn người mai xa phố, mộng mị hành trang nhớ hạt mưa thơm Sài Gòn hút bóng đường xa thương người thơ cô độc.**
Thảng thốt cánh phượng mùa Hè. Trời tung gió chướng. Giấc mơ sai bè thanh xuân cụt giọng đồng ca những nốt ngày rụng rơi bóng tối. Trời Sài Gòn phượng tan mùa nắng lửa. Đường Sài Gòn cuồn cuộn biển đưa chân. Ta chạy mòn hơi. Mưa khô trên tượng đa*** những duyên Sài Gòn những hạt mưa trong…
Run rẩy thời gian nghe thanh xuân chớm chở nhánh thu đông. Lá thư xưa giấy mềm như bụi những hẹn hò chờ mãi lãng quên. Mầu áo lụa phai rồi sắc nắng lời thơ người khô tượng đá xanh. Hạt mưa còn thơm trên mặt duyên để nghe Sài Gòn âm vang điệu thanh bình cũ ơi đâu rồi nước mắt mỏng tơ sương?
Con bọ cam trên chiếc lá đầy gai sáng nay gọi mặt trời thức dậy. Khóa Sol búng mình nhấp nháy. Một vòng mùa đệm mới những bổng trầm reo khúc hát thanh tân, những nốt nhạc long lanh hạt mưa trong ngày ấy. Ơi duyên những hạt mưa qua mùa. Sống sót. Ngân thời gian lệ vĩnh cửu hồn nhiên.
Em thấy anh trên con đường bình minh. Nắng tháng 3 anh đem tới. Mùa Xuân mở vàng daffodil. Và em. Vừa qua giấc ngủ đông. Mọc lên trái tim thanh khiết.
Trở lại. Cùng tháng năm. Mùa Xuân khoan thai khúc dạo đầu. Ta cũng vừa kịp tới. Rất đúng nhịp. Mưa mùa xuân rất trong. Trời Calif. rất xanh.
22.3.2017
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
(Nguồn: sangtao@org)
* Nguyễn Thị Khánh Minh
** Thơ Nguyên Sa.
*** Thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhạc Phạm Duy
(nguồn: Nguyễn Xuân Thiệp phovan)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim

LỜI BẠT viết cho cuốn Tuỳ bút “MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ” của Đỗ Hồng Ngọc. 

06/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

LỜI BẠT viết cho cuốn Tuỳ bút “MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ” của Đỗ Hồng Ngọc. 

Nguyễn Minh Tiến

Tôi nhận được bản thảo này của anh Đỗ Hồng Ngọc với lời nhắn gửi thân tình:
“Anh nhờ em ĐỌC giùm, và viết cho anh một lời Bạt.” Chữ “đọc” anh cố ý viết in
hoa làm tôi hơi… sợ. Với một bậc đàn anh đa tài mà tôi luôn kính trọng, tôi tự biết
việc đọc và viết lời Bạt cho tập sách đặc biệt này của anh quả thật không dễ. Tôi
không dám chắc rằng mình có thể đọc hiểu đúng và đủ những ý tưởng độc đáo của
anh để có thể viết ra một lời Bạt đúng nghĩa.

Nhưng rồi hôm nay vẫn phải mở sách ra đọc để cố gắng viết một lời Bạt như lời
anh dặn, cũng là lúc một trong những người đàn anh thân thiết đã vĩnh biệt chúng tôi
để ra đi “về cõi hoang sơ” như lời thơ anh ấy nói. Có vẻ như khi mái tóc đổi màu
thì chúng ta càng có nhiều cơ hội hơn để cảm nhận những bài học về vô thường.

Anh Đỗ Hồng Ngọc là người từ lâu tôi quý mến, và anh cũng xem tôi như đứa em
thân thiết, nhưng không phải vì thế mà tôi dám dễ duôi tự cho phép mình quên đi
việc anh là một “cây đại thụ” trong thế hệ những người đi trước mà tôi may mắn
được biết tên. Tôi từng đọc Nguyễn Hiến Lê viết về anh: “Một bác sĩ, lại là một thi
sĩ thì luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị…” Tôi biết, không có
nhiều nhà thơ hay nhà văn đương thời tạo được ấn tượng tốt đẹp với lời ngợi khen
như vậy từ một người uyên bác và nghiêm túc như Học giả Nguyễn Hiến Lê, và
bọn hậu sinh như chúng tôi không thể không vui mừng khi may mắn có được tấm
gương sáng như anh để noi theo, trong sự học tập cũng như khi tập tành viết lách.
Và bây giờ thì anh đã cho tôi thêm một sự ngạc nhiên thú vị nữa qua tập sách này,
khi anh còn là một tấm gương sáng trong sự tu tập Phật pháp. Tôi bỗng dưng muốn
lặp lại nhận xét của Học giả Nguyễn Hiến Lê, tất nhiên là với một chút “cải biên”
của riêng tôi: “Một nhà văn, bác sĩ, lại là một thiền sư thì luôn làm cho chúng ta
ngạc nhiên một cách thú vị…”

Tôi biết là anh không muốn và thậm chí có thể sẽ trách nhẹ tôi vì đã gọi anh là
“thiền sư”, nhưng tôi không… sợ. Vì tôi tin là tôi có thể chứng minh rằng tôi nói
đúng. Sự kết hợp những phẩm tính của nhà văn, bác sĩ và thiền sư trong anh đã hòa
quyện, biểu lộ rất rõ với tập sách này.

Ngay cái tựa đề “Một ngày kia đến bờ” mà anh mượn trong ca từ nhạc phẩm Phôi
pha của Trịnh Công Sơn cũng đã cho thấy cái tố chất mơ màng lãng mạn của một

nhà văn. Nhưng trong khi Trịnh Công Sơn gây cho chúng ta một nỗi buồn man
mác khi nhìn lại “đời người như gió qua” thì Đỗ Hồng Ngọc lại chuẩn bị cho “một
ngày kia đến bờ” với tinh thần tích cực của một người học Phật và hiểu Phật, cho
một cuộc viễn du với tấm thông hành đóng dấu “well-dying”.

Và khi nghe anh bàn về “well-being” với “well-dying” thì chúng ta không còn nghi
ngờ gì điều đó nữa. Anh nói về những chuyện này với tư cách là người trong cuộc,
không giống như bàn chuyện người khác. Những gì anh nói, ta có thể thấy rõ đều
là những cảm nhận, những trải nghiệm của riêng anh, bằng chính cuộc đời mình.
Anh đã “well-being” ngay cả trong nhiều hoàn cảnh khắc nghiệt, bệnh tật, thiếu
thốn… từ thời thơ ấu, và tiếp tục “well-being” cho đến nay vào độ tuổi U90, độ tuổi
của những chiếc lá vàng hiếm hoi cùng thời với anh còn sót lại. Vì thế, chúng ta có
đủ căn cứ để tin rằng những gì anh nói, anh làm, hoàn toàn có thể bảo đảm cho anh
một viễn cảnh “well-dying” tốt đẹp như dự tính.

Nhà Thiền có câu “sinh tử sự đại”, nay anh đã đối diện, giải tỏa và vượt qua được
cái ngưỡng “sự đại” đó thì chuyện “một ngày kia đến bờ” hẳn cũng là một lẽ
đương nhiên, và chắc chắn rồi sẽ đến trong sự thản nhiên của một “người vô sự”
theo đúng tinh thần của nhà Thiền.

Điều đáng nể phục nơi anh là ở độ tuổi vào bậc huynh trưởng của hàng “cổ lai hy”
nhưng ngòi bút của anh vẫn không mất đi nét dí dỏm, hài hước xưa nay vẫn thường
gặp ở giọng văn anh. Cái chất hài hước nhẹ nhàng ấy như bàng bạc trong mọi tác
phẩm của anh, dù là khi anh viết về chuyện sức khỏe, chuyện văn chương hay ngay
cả về Phật học. Tôi đã gặp không ít người trì tụng hoặc tìm hiểu kinh Pháp Hoa,
nhưng đọc kinh Pháp Hoa mà nhìn thấy được Phật Thích-ca bước vào bảo tháp
“tay bắt mặt mừng” với Phật Đa Bảo thì duy nhất chỉ có anh. Những vấn đề khô
khan trong y học, phức tạp và siêu hình trong Phật học, qua ngòi bút của anh đều
trở nên nhẹ nhàng, vui vui, dễ tiếp nhận.

Và lần này, giọng văn hài hước của anh không ẩn giấu nữa mà khởi đầu ngay từ
tiểu mục “Nghĩ tức cười”, ấy là anh muốn công khai nêu ra những cái “tức cười”
trong cuộc tồn sinh của vạn hữu từ muôn triệu năm nay (hay còn lâu hơn nữa?)…
mà thật ra ai cũng nhìn thấy nhưng lại chẳng biết cười như anh. Bây giờ nghe anh
nói rồi thì thấy đúng là thật “tức cười”.

Nhưng với Đỗ Hồng Ngọc thì cười không chỉ để… mà cười. Cái cười của anh thật
ra là thâm trầm, sâu lắng, khởi đi từ manh mối của sự “Nhìn lại mình”, vốn là khởi
đầu cốt yếu của mọi pháp môn tu tập trong Phật pháp. Không “nhìn lại mình” thì
có bỏ nhà lên núi tu hành miên mật năm bảy chục năm cũng không mong gì đạt
được sự giải thoát hay giác ngộ. Bởi vậy, anh cười như kiểu “vui thôi mà” nhưng
lại bật ra một câu hỏi làm nhiều người choáng váng: “Có kiếp sau không?”
Choáng váng là vì đối với những con người còn đầy tham chấp hỷ nộ ái ố, vất vả
lắm mới quên đi được câu hỏi ấy để sống vui thì bỗng dưng anh khơi lại vấn đề
khiến họ không thể nào vui sống.

Mà thật ra thì anh cũng chỉ đùa thôi. Bởi anh không hỏi để tìm câu trả lời, mà chỉ
để gợi ra những phương thức rất tuyệt vời giúp mọi người vui sống. Đó chính là rõ
biết và chấp nhận “bốn thứ ma” (bởi không nhận thì chúng cũng đang có đó) và
“bắt tay làm hòa”, vui sống với chúng. Nhưng thử nghĩ mà xem, làm được như anh
nói chẳng phải đã là một thiền sư “thõng tay vào chợ” rồi đó sao? Đâu còn bận
lòng gì với tử sinh, sinh tử?

Nhưng rồi anh quá rõ biết tâm niệm “chúng sinh” nên tuy nói vậy mà vẫn ân cần
giải thích. Hẳn anh biết là rất nhiều người trong chúng ta vẫn còn luôn ưu tư, thắc
mắc. Anh nói về “nghiệp”, về “bản ngã” và rồi cuối cùng chỉ ra một sự thật để ta
thấy rằng mỗi người chỉ có thể nỗ lực tự tu tập để cứu lấy chính mình, bởi vì “Phật
cũng già, cũng bệnh”, và tất nhiên là rồi… cũng chết.

Chỉ qua mấy đoạn văn ngắn với cách đề cập “vui vui” rất đặc thù của riêng anh,
người đọc như bừng tỉnh để nhìn lại chính mình và tự thấy ra cái “cuộc đời như
gió qua” này thật không đáng để chúng ta ôm giữ mãi quá nhiều khổ đau mà hầu
hết đều do chính mình tạo ra. Một cái nhìn nhẹ nhàng nhưng sáng rõ về cuộc đời sẽ
giúp cho cuộc sống của chúng ta cũng tự nhiên trở nên nhẹ nhàng hơn. Phải chăng
đây là định nghĩa thiết thực và dễ hiểu nhất của sự giải thoát?

Tập sách khá mỏng nhưng anh đã đề cập đến hầu hết các phần giáo lý quan trọng
từ những bộ kinh quan trọng của Phật giáo như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Kim
Cang, Duy-ma-cật… Đây thật đúng như tinh thần mà anh tự bộc bạch: “Tôi chỉ học
lõm bõm ít kinh Phật…, và cũng chỉ học lấy cái ‘cốt lõi’”.
Thì quả đúng vậy. Những kinh anh đã đọc qua và nhắc đến, nếu so với số lượng
Kinh điển Phật giáo hiện còn trong hai tạng Nam truyền và Bắc truyền thì quả thật

là quá ít. Nhưng hai chữ “lõm bõm” của anh thì tôi thật không khỏi hoài nghi, bởi
lời anh nói là “chỉ học lấy cái cốt lõi” thì quả thật không phải ai cũng làm được.
Bởi muốn làm được cái việc “đãi cát chọn vàng”, từ vô số những ngôn từ phương
tiện Phật đã thuyết trong kinh mà trích xuất ra được “cái cốt lõi” thì phải hết sức
thông thuộc, am hiểu thấu đáo mới có thể làm được.

Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng “cái cốt lõi” mà anh rút ra từ Kinh điển là “cái cốt
lõi” cho riêng anh, anh không hề có ý đưa ra để làm khuôn mẫu cho ai khác. Chính
cái tinh thần tự khai phá, tự tìm tòi trong sự tu tập của anh mới là tấm gương sáng
để chúng ta noi theo. Anh nói rõ: “Có tới 40 đề mục để thiền quán, tôi chỉ chọn
một…” Với tôi, chính sự chọn lựa này có thể đã quyết định phần lớn khả năng
thành công trong tu tập. Rất nhiều người khi mới đến với thiền phải loay hoay rất
lâu giữa các lựa chọn khác nhau, bởi không biết chắc được mình thích hợp với đề
mục nào, phương pháp nào. Khi hành giả xác định được một chọn lựa thích hợp
cho chính mình, sự tu tập sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn rất nhiều, bởi có thể tập trung
toàn bộ tâm ý vào đề mục đó mà không bị phân tán bởi các lựa chọn khác.
Tôi cũng thực sự thán phục khi đọc qua những tiểu mục anh nêu đại lược chặng
đường anh tìm đến và đi qua nội dung những bộ kinh lớn.

Tôi có cảm giác anh như một nghệ sĩ tài hoa đang ngắm nhìn và cảm thụ một bức
tranh đẹp, không mất nhiều thời gian cho những họa tiết, phông nền… mà có thể dễ
dàng nhận biết ngay những đường nét chính yếu, những ý nghĩa ẩn tàng mà tác giả
muốn thể hiện. Bởi vậy, những bộ kinh đồ sộ đối với nhiều người trong chúng ta
thì qua mô tả của anh trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận hơn, nhưng không vì thế mà
mất đi phần tinh túy. Tôi cũng từng đọc Pháp Hoa, Duy-macật… như anh, nhưng
tôi chưa bao giờ có được khả năng “tóm lược” một cách rõ ràng các điểm tinh yếu
của giáo pháp theo cách như anh.

Một sự “ngạc nhiên thú vị” khác cần đề cập đến ở đây là anh cũng “tóm lược” cả
cuộc đời mình từ ấu thơ cho đến… U90 một cách mạch lạc, dễ hiểu nhưng đầy đủ,
cũng như điểm qua được hầu hết những thành tựu từ ngòi bút của anh trong cả ba
lãnh vực: văn chương, y học và Phật học. Anh chỉ điểm “sơ sơ” thôi mà có đến 7
tập thơ, hơn 60 đầu sách… Những con số hẳn là phải gây ấn tượng với bất kỳ người
cầm bút nào.

Sự “đầy đủ” trong những tóm lược của anh nên được hiểu theo ý nghĩa do chính
anh nêu ra, “bởi chính đó là một trong những yếu tố của ‘chất lượng cuộc chết’”,
và nếu nói theo thuật ngữ chuyên ngành cũng do anh đề nghị thì đó là “well-
dying”. Hẳn độc giả sẽ không khỏi ngạc nhiên đầy thú vị khi thấy hành trình cả
một đời người rồi sẽ chi phối như thế nào đến “chất lượng” của chuyến đi xa cuối
đời.

Có 26 tiểu mục được anh đưa vào tập sách, với những chủ đề dàn trải hầu như đề
cập đến tất cả những vấn đề quan trọng trong sự tu tập, từ sự nhận hiểu tinh yếu
giáo pháp cho đến kinh nghiệm thực hành. Độc giả có thể từ từ, thong thả “nhâm
nhi” từng tiểu mục ngắn trong sách này, mà theo tôi rất nên đọc lại nhiều lần để
thấy hết được sự tài tình của anh khi biến mọi vấn đề khô khan hay trừu tượng,
siêu hình trở nên gần gũi, dễ hiểu, thiết thực và… hấp dẫn. Nhưng đối với riêng tôi,
những phần “hấp dẫn” nhất chính là khi anh chia sẻ “vài kinh nghiệm riêng”,
những điều không thể tìm thấy trong bất kỳ bài thuyết giảng hay luận văn Phật giáo
nào. Đó là những điều theo tôi hoàn toàn thể hiện được “dấu ấn Đỗ Hồng Ngọc”.

Chẳng hạn, anh chia sẻ một câu “thần chú” chưa từng có ai tụng đọc trong Phật
giáo, nhưng đúng là sẽ rất ư “linh nghiệm” đối với nhiều người. Câu thần chú đó là
“thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa” mà anh thường “tụng” khi ngồi xuống bắt đầu
thiền tọa.
Thật ra, “thả lỏng” hay “buông thư” là điều mà bất cứ vị thầy nào khi hướng dẫn
thiền tập cũng đều nhắc đến, nhưng chia sẻ quan trọng của anh ở đây là sự nhấn
mạnh phải “thả lỏng toàn thân” cũng như tính chất quyết định của việc này, mà
anh cho rằng nếu không làm được thì sẽ “hỏng bét”.
Dù vậy, không phải ai cũng may mắn có được khả năng “thả lỏng toàn thân” ngay
tức khắc khi ngồi xuống bắt đầu thiền tập. Một số người, thật ra là đa số, tuy vẫn
muốn làm thế nhưng chưa thể làm được. Điều này cũng bình thường thôi, vì cần
phải có công phu luyện tập qua thời gian. Nhưng nguyên tắc chung được áp dụng
cho mọi trường hợp là thân và tâm luôn tương quan chặt chẽ với nhau. Do vậy, nếu
khi bắt đầu thiền tập mà toàn thân chưa buông thư hoàn toàn thì cũng không nên lo
lắng, chỉ cần tiếp tục giữ tâm an tĩnh, chú ý vào đề mục thiền đã chọn thì sau một
thời gian, chắc chắn mọi việc sẽ tốt hơn. Khi tâm an tĩnh thì thân cũng sẽ dần dần
đi vào trạng thái buông thư, cơ bắp giãn ra, không còn “căng cứng” nữa. Tuy nhiên,

vì điều này thực sự rất quan trọng nên việc “tụng thần chú” như anh nói để
nhắc nhở chính mình khi bắt đầu thiền tập là rất hữu ích.

Một chia sẻ quan trọng khác của anh cũng hết sức thú vị là mối tương quan giữa
tình trạng thiếu oxy kinh niên (chronic hypoxia) của não với trạng thái hỷ lạc, lâng
lâng sảng khoái của thiền giả. Anh giải thích theo cách nhìn của khoa học thì có
thể là do tình trạng thiếu oxy làm cơ thể tạo ra các hormone liên quan đến trạng
thái hạnh phúc, sảng khoái đó. Anh cũng liên kết hiện tượng này với kinh nghiệm
riêng của anh sau những cơn bệnh sốt rét và cho rằng có thể việc thiếu hồng cầu
khiến cơ thể thiếu oxy đưa đến trạng thái sảng khoái sau mỗi cơn sốt rét hồi nhỏ. Và anh
cũng đưa ra giả định rằng các thiền sư thường tìm lên núi cao để dễ tu tập vì trên
đó không khí loãng, tỷ lệ oxy thấp, như vậy tất nhiên hành giả dễ rơi vào tình trạng
thiếu oxy, từ đó có được trạng thái thiền duyệt, sảng khoái.

Tất nhiên, đây là những dữ kiện rất lý thú và chắc chắn cần được nghiên cứu thêm
trước khi có thể vận dụng vào thực tiễn. Nhưng người học thiền cũng nên dè dặt
với những mối liên kết giả định như vậy. Việc hạn chế cung cấp oxy cho cơ thể
qua việc kiểm soát hơi thở là điều mà người tập thiền hoàn toàn có thể làm được,
nhưng nếu như có ai muốn thử nghiệm dùng cách này để đạt được thiền duyệt thì
chắc chắn là không nên, thậm chí còn rất nguy hiểm. Khi thiền giả đi sâu vào định
thì hơi thở sẽ chậm dần đi cho đến lúc gần như chỉ còn duy trì ở mức tối thiểu.
Nhưng đó là một hiện tượng tự nhiên do nhu cầu oxy của cơ thể giảm mạnh chứ
không phải do thiền giả cố ý tạo ra, và tình trạng cơ thể khi đó tiêu thụ rất ít oxy
chứ không phải thiếu oxy. Đỗ Hồng Ngọc cũng nhắc trong thiền tập phải hết sức
thận trọng, không nên “nín thở” để mong được mau vào thiền vào định!

Tuy nhiên, việc đề cập đến mối tương quan “thân – tâm” này quả thật vô cùng lý
thú. Điều này cũng cho thấy rằng thiền tập chẳng những thiết yếu cho một cuộc
sống hạnh phúc mà còn luôn mang lại cho mỗi chúng ta những khám phá mới,
những điều mới mẻ và cuốn hút.

Tôi đã đọc say mê cả tập sách này không một lần dừng lại, không chỉ bởi lối văn
nhẹ nhàng mà hấp dẫn của anh, mà còn phần lớn là do cách anh trình bày những
vấn đề rất độc đáo, rất ư là… Đỗ Hồng Ngọc, nghĩa là không thể nhầm lẫn với ai
khác.

Lời cuối cùng muốn nói ở đây là tôi mong gặp lại anh biết bao! Từ lần cuối ghé
nhà thăm anh đến nay e cũng đã gần chục năm rồi chưa gặp lại, và giờ thì tôi với
anh ở hai đầu… trái đất. Mặc dù thường liên lạc với anh qua email, qua điện thoại,
nhưng tôi vẫn luôn muốn gặp lại để được ngắm nhìn khuôn mặt anh, khuôn mặt
như lúc nào cũng ẩn chứa một nụ cười hoan hỷ và sẵn sàng nở ra để lan tỏa niềm
vui sống đến với người đối diện.

Cảm ơn anh rất nhiều đã một lần nữa cho tôi “những ngạc nhiên đầy thú vị”.
Mong cho tập sách này sớm ra đời và đến tay bạn bè thân hữu, để một lần nữa “có
dịp chí chóe cho vui” như lời anh nói.

Quế Minh Đường (Westminster), California
Tháng 9 – 2023
Nguyễn Minh Tiến

………………………………………………………………………………………….

Có thể đọc Ebook “Một Ngày Kia… Đến Bờ” V2 ngày 11.9.2023 trên dohongngoc.com

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nhân mùa Vu Lan, đọc lại bài thơ Bông hồng cho mẹ của Đỗ Hồng Ngọc

29/08/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nhân mùa Vu Lan, đọc lại bài thơ Bông hồng cho mẹ của Đỗ Hồng Ngọc …

Nguyên Hậu

Năm 2013, khi đang tìm hiểu về thơ miền Nam giai đoạn 1954-1975, tôi có dịp gặp gỡ nhà thơ Đỗ Nghê (bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc) tại Sài Gòn và được ông tặng cho tập thơ đầu tay mang tên Tình người (xuất bản năm 1967). Tôi đọc tập thơ và ấn tượng nhất là bài thơ Thư cho bé sơ sinh. Khi biết ông là một bác sĩ, viết bài thơ đó khi còn là một thực tập sinh tại bệnh viện Từ Dũ sau khi hoàn thành ca hộ sinh đầu tiên trong cuộc đời y nghiệp, tôi vừa khâm phục, vừa xúc động. Khâm phục vì một bác sĩ lại có thể làm một
bài thơ với những ý tứ chân thành, sâu sắc đến thế. Còn cảm động vì những điều mà vị bác sĩ nhắn chủ đến em bé sơ sinh lúc đó. Thông điệp mà ông nhắn đến em có lẽ cũng là thông điệp ông dành cho tất cả chúng ta, vì ai cũng từng lớn lên từ một đứa trẻ, còn xúc động là khi đặt bài thơ vào bối cảnh ra đời, những thập niên 60 của thế kỷ XX tại miền Nam, khi mỗi số phận được sinh ra đều phải đối mặt với chiến tranh, chết chóc, hiện thực phi lý mỗi ngày. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, trọn vẹn chỉ trong một buổi sáng, tại một quán cà phê nằm trong một con hẻm nhỏ trên đường Cao Thắng, bây giờ tôi cũng không nhớ rõ quán tên gì. Đó là lần duy nhất tôi có dịp gặp gỡ ông. Sau này, tôi được nhìn thấy ông trong một vài buổi ra mắt sách dạy về thiền, hoặc giao lưu về một chuyên đề y khoa nào đó. Vẫn là ông với phong thái nhẹ nhàng, nụ cười thường trực trên gương mặt phúc hậu, ông nhanh chóng thu hút được nhiều khán giả tham dự.

Sau khi hoàn thành đề tài nghiên cứu liên quan đến thơ miền Nam, tôi chuyển sự quan tâm sang vấn đề khác nên không còn chú ý đến những sinh hoạt văn nghệ như vậy, tôi cũng ít khi về Sài Gòn. Công việc cá nhân làm tôi xao nhãng, không thường xuyên lên đọc các bài viết trên Blog cá nhân của ông. Thế rồi một hôm, tình cờ tôi vào trang Blog cá nhân ông (https://www.dohongngoc.com/) và đọc được bài thơ Bông hồng cho Mẹ. Bài thơ này được ông sáng tác vào mùa Vu Lan năm 2012, in trong tập Thơ Đỗ Hồng Ngọc – Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác (2013) nhưng phải vài năm sau tôi mới được đọc. Tôi đã không thể kiềm được nỗi xúc động, nói đúng hơn là một “chấn động” nho nhỏ trong lòng. Có lẽ đây là bài thơ thứ hai của Đỗ Hồng Ngọc đã chiếm trọn lòng tôi ngay từ khoảnh khắc đầu tiên như thế. Tôi đã gửi bài thơ cho một số người bạn cùng đọc.
Đó cũng là lúc trên trang cá nhân của ông có rất nhiều độc giả văn chương gần xa (trong nước và hải ngoại) gửi bài viết chia sẻ cảm nhận về bài thơ. Tôi cảm nhận được sức lan tỏa, lay động của bài thơ lúc bấy giờ là rất lớn. Thế nên tôi đành giữ những cảm xúc mà tôi có được sau khi đọc bài thơ cho riêng mình qua vào dòng ghi chép và lưu vào máy tính.
Cách đây vài tháng, trong quá trình dọn dẹp chiếc máy tính cũ, tôi tình cờ gặp lại những dòng cảm nhận mà tôi thảo ra từ mấy năm trước. Đọc lại bài thơ, và, vẫn vẹn nguyên cảm xúc, thậm chí lúc sau này có phần mạnh mẽ hơn, tôi bật khóc.

Có lẽ sau bao nhiêu năm, trải thêm nhiều biến cố trong cuộc đời, tôi lại càng thấm thía hơn ý tứ trong bài thơ và cả những gì bàng bạc phía sau bài thơ ấy.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

(Bông hồng cho Mẹ, 2012, Đỗ Hồng Ngọc)

Chỉ có bốn câu thôi nhưng ý tứ và thông điệp truyền tải thì mênh mông. Đã có rất nhiều người cảm nhận, phê bình bài thơ nhưng với riêng tôi, bài thơ hiện lên thật đẹp, thật bất ngờ, thật linh diệu, như một đóa hoa… Nó đã lay động, đánh thức lòng tôi thật mãnh liệt. Bốn câu thơ mà chứa trong đó cả ba thế hệ, một dòng chảy uyên nguyên, bất tận: ngoại, mẹ, con và một sự hóa thân tuyệt đẹp: từ bông hoa trắng đã hóa thành đóa hồng. Đặc biệt hơn là, phải có bông hoa trắng dành cho con thì mới có đóa hồng dành
cho mẹ; từ cảm thức đau buồn, mất mát lập tức hóa hiện thành niềm hạnh phúc, sum vầy.
Quả là một tứ thơ đẹp và lạ đến bất ngờ! Đọc xong cứ thấy lòng đau nhói, vì chưa lần nào ta đã nghĩ cho mẹ như cách nhà thơ đã làm. Với Bông hồng cho mẹ, Đỗ Hồng Ngọc đã làm cho ta ngộ ra nhiều điều…
Từ khi mẹ là mẹ của ta, ta lúc nào cũng nghĩ cho ta, chưa bao giờ ta nghĩ cho sự hoán vị và nỗi mất mát của mẹ: mẹ từ một người con trở thành một người mẹ, mẹ đã hy sinh bớt phần hạnh phúc được làm con để toàn tâm làm mẹ của ta. Vậy mà chẳng bao giờ ta nghe mẹ thổ lộ điều đó. Nước mắt chảy xuôi là vậy. Trong những lần chỉ có mẹ và con, mẹ thường nói rằng mẹ sợ một ngày mẹ ra đi, chúng tôi sẽ buồn khổ lắm. Lúc ấy tôi chưa
thể hình dung được nỗi buồn khổ mà mẹ nói là gì, vì chúng tôi vẫn đang hạnh phúc khi có mẹ cơ mà. Và lại càng không biết rằng mẹ đã lấy lòng mình để nghĩ cho các con. Mẹ đã chịu kiếp mồ côi từ khi còn rất nhỏ…

Mẹ! Một từ gọi lên nghe thật ấm ám, tự nó đã viên mãn, đong đầy yêu thương. Thế nhưng số lần mẹ được gọi từ đó ít hơn rất nhiều lần so với chúng tôi. Bây giờ tôi cũng đã làm mẹ, đã hiểu thế nào là mẫu tử thiêng liêng, đã thấu hiểu và yêu thương mẹ hơn rất nhiều lần, tình yêu thương được bồi đắp nhiều lên đến từ sự đồng cảm, thấu hiểu, không giống với tình yêu mẹ khi còn là một đứa trẻ, yêu mẹ, giữ mẹ như của báu. Và khi
càng yêu ta càng sợ mất. Hồi nhỏ, mỗi lần thấy một ai đó mất mẹ, ta chỉ hiểu đơn giản là từ đây họ mất đi tình yêu thương của mẹ, mất đi một người thân. Lớn lên, ta hiểu rằng mất mẹ là mất đi nguồn thương, mất đi cái đặc ân mà đất trời ban tặng cho ta. Nói tóm lại, quẩn quanh cũng chỉ nhìn thấy khía cạnh của sự mất mát, vẫn là nghĩ cho bản thân mình.
Từ khi đọc bài thơ của Đỗ Hồng Ngọc, tôi mới thấy thêm một chiều kích khác của sự ra đi ấy.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng

Ngày mẹ rời khỏi vòng tay ta là ngày mẹ trở về làm con bên ngoại. Thấy được điều đó, tự nhiên cảm giác mất mát trong ta vơi đi phần nào. Từ nay mới đúng thật là ta thương mẹ. Và từ bây giờ, tôi đã có thể tập cách chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một ngày mẹ rời xa chúng tôi.
Đó là phần của con. Còn phần mẹ:

Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

Mẹ ơi, từ nay mẹ hãy nghĩ cho mẹ, mẹ đừng buồn gì khi phải xa chúng con. Mẹ rời xa chúng con cũng là lẽ tất yếu. Mẹ hãy vui lên vì ngoại đang chờ đón mẹ về, ngôi nhà của riêng ngoại và mẹ, mẹ có quyền được tận hưởng tình cảm của ngoại, tận hưởng niềm hạnh phúc vô biên của tình mẫu tử. Trần gian bao cảnh đã chia cách ngoại và mẹ, nhưng ở “bên kia sông” sẽ không còn trần ai, không còn điều gì khiến ngoại và mẹ phải
xa cách nữa. Ngoại đã chờ đợi mẹ từ rất lâu rồi. Mẹ hãy vui lên đi.

Lời thơ dung dị nhưng thật minh triết, thật dịu hiền, như lời của Bụt. Nhà thơ nhắc chúng ta về lẽ tuần hoàn của tạo hóa mà chúng ta chưa hiểu, hoặc có khi đã hiểu nhưng vì quá yêu mẹ, quá yêu mình mà quên đi mất. Lời thơ tỏa ra một năng lượng lành giúp xoa dịu nỗi đau, sưởi ấm tâm hồn cả người ra đi và người ở lại. Còn gì tuyệt vời hơn: Mẹ vui, con ấm lòng. Rồi đến một ngày, mẹ cũng sẽ chờ đón con “bên kia sông”, con sẽ không
còn lý do gì để buồn tủi nữa.
Bài thơ Bông hồng cho Mẹ của Đỗ Hồng Ngọc đã cho ta thấy được sự vi diệu, tính đa chiều kích của đời sống. Trong cùng một bối cảnh, niềm vui và nỗi đau cùng tồn tại, chuyển hóa cho nhau, cái ta nhìn thấy đều do góc nhìn của mỗi chúng ta. Cái chết, nhìn từ đứa con thì đó là nỗi mất mát, chia ly còn nhìn từ người mẹ thì đó là sự sum họp, hạnh phúc, hoặc cũng là hoa hồng, nhưng trên ngực con là hoa màu trắng, trên ngực mẹ là đóa
hồng tươi nguyên. Phải chăng mọi thứ trong cuộc sống này vốn dĩ là như vậy, có những việc tưởng như là nghịch lý nhưng nếu hiểu đến tận cùng thì không còn nghịch lý nữa vẫn là sự cân bằng, như muôn đời vẫn vậy. Nhà thơ là người đã hiểu, đã nắm bắt được chân lý ấy và truyền đến cho chúng ta. Và, ai biết được quy luật này, người ấy sẽ an nhiên…

(MH, Đh Thủ Dầu Một)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

HỌC PHẬT QUA THƠ ĐỖ HỒNG NGỌC

27/08/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

HỌC PHẬT
QUA THƠ ĐỖ HỒNG NGỌC
(Minh Lê)

do hong ngocTừ trước tới giờ, tôi ít đọc thơ vì tự thấy mình có chút thiếu “hồn thơ lãng mạn”. Dù vậy, tôi là người hâm mộ âm thầm nhiều năm của Bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc, không chỉ với sách của Anh mà cả với các bài thơ Anh viết. Anh làm thơ cũng như viết văn, nghiêm túc mà dí dỏm, nhẹ nhàng mà sâu sắc, ngắn gọn mà vô số “ý ở ngoài lời”. Anh còn giảng và viết nhiều bài về Phật pháp rất hay, nhưng tôi thích học Phật qua thơ của Anh hơn.

Như bài “Nỗi nhớ” in trong tập Vòng quanh (NXB Trẻ 1997 tr. 38) chỉ có 6 câu:

“Thôi hết cồn cào
Thôi không quặn thắt
Chỉ còn âm ỉ
Chỉ còn triền miên
Thì thôi cấp tính
Thì đành kinh niên.”

Lần đầu đọc khi còn trẻ, tôi bật cười, nghĩ tác giả chắc “méo mó nghề nghiệp”, tả nỗi nhớ mà cứ như tả cơn đau thể chất vậy, nhưng tác giả cũng thật tài tình, chọn từ và vần điệu làm sao mà người đọc cảm nhận được từ cơn đau ít tới cơn đau nhiều, từ “bệnh” nhẹ tới “bệnh” nặng. Lần thứ hai đọc ở tuổi trung niên, tôi cảm thán tác giả “hiểu đời” ghê, bởi từng trải rồi mới biết “nhớ” cũng đau  “quặn thắt ruột gan” chớ không vừa. Lần thứ ba đọc, tôi liên tưởng tới bài hát “Đưa em tìm động hoa vàng” (nhạc Phạm Duy, lời Phạm Thiên Thư):

“Rằng xưa có gã từ quan,
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say
Thôi thì thôi để mặc mây trôi
Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Thôi thì thôi chỉ là phù vân
Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi.”

Nỗi nhớ của Phạm Thiên Thư dù nói “chỉ là phù vân, có ngần ấy thôi” sao vẫn có cảm giác day dứt luyến tiếc không đành lòng, dù lặp đi lặp lại “thôi” rất nhiều lần mà vẫn chưa “thôi” thật sự. Đúng là nghệ sỹ mà, cho nên mới… khổ! Ngược lại nỗi nhớ của Đỗ Hồng Ngọc rất tỉnh táo “rằng đau thì biết là đau”, chuyện xác nhận “thì thôi cấp tính thì đành kinh niên” cũng mang vẻ an nhiên. Chính nhờ chấp nhận nỗi đau đó sẽ ở với mình vĩnh viễn mà lòng mình trở nên bình tĩnh hơn để chuyển hóa “rác thành hoa, đau khổ thành an lạc”. Đây chẳng phải “chiếu kiến ngũ uẩn giai không” trong Tâm Kinh đó sao?

Anh Ngọc quê La Gi, còn tôi sinh Phan Thiết, lớn lên ở Nha Trang nên khi tình cờ đọc bài “Giả sử” của Anh, tôi sém chút la lên “ôi bài thơ của đời tôi”:

“Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang
Ập vào Mũi Né
Anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng
Vút qua những ngọn dừa
Những đồi cát trắng

Em nhớ mang theo đôi quả trứng
Vài nắm cơm
Vài hạt giống
Đừng quên mấy trái ớt xanh…

Biết đâu mai này
Ta làm An Tiêm
Trở về làng cũ
Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang
Nơi kia gọi là Mũi Né…

Cho nên
Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?”
(4/2011, đăng 13/9/2020 dohongngoc.com)

Hồi nhỏ nhà tôi ở sát biển nên tôi rất sợ sóng thần. Lâu lâu tôi lại nằm mơ thấy sóng thần ập vô cuốn trôi mọi thứ, nghĩ mà rùng mình. Sau khi đọc bài “Giả sử”, tôi viết email cám ơn Anh Ngọc đã giúp tôi hết sợ sóng thần. Anh đùa: “Hết sợ sóng thần vì đã sẵn thuyền thúng ở trong nhà và đã cụ bị sẵn các thứ, nhất là ớt xanh rồi phải không? Dân Phan Thiết có khác!” Trời, sao Anh đi guốc trong bụng tôi vậy? Thì Anh đã chọn mọi thứ chu đáo quá mà: đôi quả trứng đặng sau này còn nở ra gà con nè, vài nắm cơm vắt ăn đỡ đói lòng những ngày “lênh đênh” nè, rồi hạt giống để trồng lại vườn cây nè, có cả mấy trái ớt xiêm xanh – món “tủ” của dân Phan Thiết và Khánh Hòa nữa.

Nói nhỏ nghen, thiệt ra tôi tâm đắc nhứt câu cuối cùng “sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?”. Lúc đó, tôi viết cho Anh cách hiểu của tôi như vầy: “Sóng thần, hay sóng cuộc đời có dữ dội cách mấy, mà có một người nắm tay đi với mình, thì có gì phải sợ phải không Anh?” Anh cười không trả lời. Giờ tôi mới nhận ra, cái “thương” mà Anh nói không chỉ là tình yêu trong gia đình mà chính là “tình thương của Bụt” – từ của thiền sư Nhất Hạnh. Đó là “từ bi hỷ xả”, gồm khả năng hiến tặng niềm vui, làm vơi nỗi khổ, tình thương mang lại hạnh phúc và tự do. Vậy sao không “sớm mà thương nhau hơn” thì đời sẽ thêm nhiều an lạc, đợi chi tới sóng thần?

Tháng 12/2020, Anh Ngọc viết bài “Biết rồi còn hỏi!”:

“Tôi ngồi trước tượng Phật
Viết lăng nhăng mỗi ngày
Để khi nào bí thì hỏi
Phật tủm tỉm cười
“Biết rồi còn hỏi!”

Sáng ra đường phố
Từng bước như đi dạo
Không thấy nở hoa sen
Ngước mắt nhìn lên
Một tấm biển to chữ đỏ
“Đồ ngu cao cấp”
Cửa hàng Fashion
Rơi dấu hỏi…

Đâu cần trốn ra khỏi cổng thành
Xóm nghèo nơi tôi ở
Bên phải là nhà bảo sanh
Bên trái là bệnh viện
Đằng kia lớp dưỡng sinh
Đằng nọ nhà quàn vô lượng thọ…

Hằng ngày nghe tiếng khóc trẻ con
Nghe tiếng rên người lớn
Tôi nhắc Phật đừng buồn
Không được quạu quọ, không được cau có
Không được nhăn nhó…
Phật cười
“Phải! Nó vậy đó”.”
(dohongngoc.com 4/12/2020)

Bài này dễ hiểu, nhưng hiểu hết lại không dễ. Mấy chỗ “bí thì hỏi”, mà Phật chỉ tủm tỉm “biết rồi còn hỏi!” nghe đơn giản chớ đúng phóc nha. Càng sống lâu càng có nhiều chuyện tưởng “bí”, thiệt ra mình đã “biết” rồi, chẳng qua tâm không đủ tịnh để “hiểu” thôi. Khổ thơ thứ hai chắc tác giả vừa viết vừa cười mím chi, té ra “thiếu dấu hỏi” thì thành “ngu”, mà đời này, thiếu gì chuyện thắc mắc mà không dám hỏi, nên mình chắc “ngu trường kỳ”. Khổ thứ ba tả “sinh, lão, bệnh, tử” – những cảnh ngay trước mắt ta đó thôi. Rồi khổ thơ cuối cùng, giữa “sinh, lão, bệnh, tử” vẫn giữ được tâm an, không “buồn, quạu quọ, cau có, nhăn nhó” thì thành “bụt” rồi, “bụt” là vậy đó! Từ ngữ bình dị, nhịp thơ thong thả, tự nhiên không gò bó nhưng âm điệu bằng trắc nhịp nhàng, láy vần rất duyên dáng. Đây là một trong những bài tôi thích nhứt trong thơ Anh Ngọc bởi nó đại diện cho sự đặc biệt hiếm thấy trong thơ: nội dung dí dỏm mà thâm thúy, từ ngữ, tiết tấu, âm vần đều được chọn rất nghệ thuật mà vẫn trôi chảy tự nhiên mới hay.

Người ta hay nói “thơ là tiếng lòng”. Đã là âm thanh thì phải có tần số, và cái radio trong mỗi chúng ta tùy theo tuổi tác, kinh nghiệm sống và tính cách mà “bắt” được những tần số khác nhau. May mắn thay, cái radio cọc cạch của tôi lại bắt được chút xíu “tần số” trong thơ Đỗ Hồng Ngọc, và từ đó học được chút xíu “suy nghĩ của Bụt” từ thơ Anh.

Mong Anh luôn khỏe, an lạc và tiếp tục sáng tác thêm nhiều “tiếng lòng” truyền cảm!

Minh Lê (Suối Tiên, 7/2021)

(Thư viện Hoa Sen)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

The Pure Land Somewhere/Phương Nào Cõi Tịnh (Song Ngữ)

23/08/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Nguồn: https://thuvienhoasen.org/a39828/the-pure-land-somewhere-phuong-nao-coi-tinh-song-ngu-vietnamese-english-

THE PURE LAND SOMEWHERE

 Author: Tuệ Sỹ

Translated by Nguyên Giác

(Written from inspiration after reading “Cõi Phật Đâu Xa” by Đỗ Hồng Ngọc.)

 

Translator’s note: This translation was made to celebrate the 84th birthday of the writer Đỗ Hồng Ngọc. The translator could not fully translate the profound words of the author, Tuệ Sỹ, a genius bodhisattva of this realm who used non-dual principles to write about Đỗ Hồng Ngọc, a very remarkable layman. Please watch this new screenplay appearing on words: Zen Master Tuệ Sỹ and writer Đỗ Hồng Ngọc are coming out of the Vimalakirti Sutra.

Ghi chú của dịch giả: Bản dịch này được thực hiện để mừng sinh nhật thứ 84 của nhà văn Đỗ Hồng Ngọc. Người dịch không thể dịch cho trọn ý của tác giả Tuệ Sỹ, một Bồ tát thiên tài của cõi này, khi sử dụng những lý bất nhị để viết về Đỗ Hồng Ngọc, một cư sỹ rất mực dị thường. Xin mời xem vở kịch mới đang hiện ra trên những dòng chữ: Thiền Sư Tuệ Sỹ và nhà văn Đỗ Hồng Ngọc đang bước ra từ Kinh Duy-Ma-Cật Sở Thuyết.

………………………………………………………………………………………………………

….

I asked the ants if they saw where the Pure Land was
and if the sky kept the traces of birds flying.
A heart lighted up to replace the sun after hearing
a call in the depths of the night in the country of pain.

 

The first time I came across Venerable Huệ Hưng’s translation of the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti’s thrilling movements and reasoning series made me read with passion, and I memorized many passages. My feelings at that time may not have been as “overwhelming” as those of Mr. Cao Huy Thuần because my cognitive level at that time was only that of a 14-year-old boy, not as profound as that of a young professor who had graduated from the Huế University of Law.

As a novice monk in a Vietnamese temple but studying Theravada scriptures with Lao monks, I have great respect for the Arahants, and so I had no feeling that Vimalakirti could have brought down the status of the Great Hearers. It was only when I was a little older and over the years of studying more and more Mahayana texts that I read more Chinese commentators who disparaged the hearers’ thinking as low-minded and narrow-minded and rather heavily condemned them as “destroyed seeds” who destroyed all the sprouts and good seeds of enlightenment.

Along with the growth of the “Zen mouth” type, who exclusively articulated Zen Buddhist principles on the tip of their lips and tongues, a class of monks went “meditatively insane,” freely wandering into the market, entering the adult bar, entering the theater, and declaring that every location is a pure temple. But with training, since I was a small child, I have never felt, in spite of his unabashedly eloquent reasoning, how Vimalakirti overcame the Great Hearers. Although many Chinese commentators have mocked Sariputra and many other Great Hearers, such as when he asked Vimalakirti where the sages would eat and where they would sit, even so, I still felt that there was a hidden meaning in it that I did not understand.

Until a while ago, when I grew up a little more in the midst of a chaotic society, the monks were like a mixed community. In this way, the Buddha, and in many other ways, the monks and their theoretical schools, suddenly appeared many great senior persons whose level of understanding of the teachings did not yield to the elders in the mountain sect.

Looking inward, they understand and practice deeply the scriptures; looking outward, they are sensitive to the crazy events of society. With their deep comprehension of the Way and broad experience of life, as well as their talents and wisdom, these lay persons have greatly contributed to the passages of reopening the proper source of thought.

Not only one Vimalakirti, but many Vimalakirtis, dressed in different behaviors in various social positions, have appeared here, living among us. They roll in the dust of life, taste all kinds of “smells of filth,” but still constantly rise to the heights of the Dharma. In an era where Vimalakirti’s image can no longer be found, the Dharma can be just like a supermarket item, sometimes just like the items on the shoulder poles of street vendors.

Who is Vimalakirti to be compared like that? A half-historical, half-legendary figure. That personality is the collection of all the qualities to be called the “lineage son,” the true son, of the Enlightened Ones. Each personality emerges in a particular historical epoch, each of which is a personality based on the quality and hierarchy of each society. That personality is hidden alone in the deep forest, or present in the bustling market of life, whose space is covered by their direct and profound minds. The direct mind, which Huyền Trang calls the joy of pure intention, is the will to go up, to see life with loving eyes, to orient one’s life, and to go up together with love and wisdom. From that direct mind, with the will to decide and to persevere in the purpose, that is called the profound mind, also said to increase the joy of pure intention. It’s a character we can meet somewhere.

From the ground of pure-intention joy, the practitioner takes seven more steps to generate bodhicitta, from a deep love for his birth mother, and for the sake of the mother’s peace, makes the vow to practice the bodhi path. Then, with the immense mother’s love, the bodhicitta aspiration also grows and expands in a straight line like an upright mind. From that ground of pure-intention joy, the practitioner generates a steadfast determination that is imprinted in the depths of his mind.

However, it is possible that we will easily be overwhelmed by philosophical words, thereby seeing Vimalakirti as a noble and distant figure. So, let’s start with the description in everyday language, as Đỗ Hồng Ngọc writes in the book “Cõi Phật Đâu Xa,” in which he writes about the Sutras with ease and with great care, just like a doctor writes a prescription:

“Righteousness, i.e., a direct mind, is equality, non-discrimination, non-disparagement… With a mind of non-discrimination and non-disparagement, a respectful mind appears and is embodied by Boddhisattva Thường Bất Khinh, a compassionate and empathetic mind appears and is embodied by Boddhisattva Avalokitesvara, and a sincere mind appears for “everyone who sees will be happy, and everyone who meets will be happy” and is embodied by Boddhisattva Medicine King. Respect, sincerity, and empathy must be based on the non-discriminatory prerequisite, that is Equality. That is Non-Dualism.”

While we try to avoid the rind of the melon, we also tend to panic when we come across a coconut shell. We come across an even more troubling philosophical term, “non-dual.” That is the guiding principle for Vimalakirti’s thoughts and actions when he said to Sariputra, “Appearing in all postures (walking, standing, lying down, sitting), but still not leaving the state of concentration on the cessation of perception and feeling; thus, it is the true state of peaceful sitting.” Or when he, as a patient, welcomed Manjushri Bodhisattva who came to visit, and there, in “Cõi Phật Đâu Xa,” we hear the patient greeting the physician with great relief: “It’s a good thing Manjushri has just arrived! The form has not yet arrived, but it has arrived. The form is not seen, but it is really seen.” The symptoms of the disease, the causes of the disease—all those forms of the disease—don’t appear but they do appear, unseen but still visible; the patient does not visit the doctor, and the doctor does not visit the patient.

In this dialogue, Vimalakirti also greets Manjushri in ordinary language: svāgatam, which literally means “has arrived skillfully, well.” Here is the exact equivalent of the English greeting: “Welcome!” This greeting word is connected to the term Tathāgata: Tathagata (Như Lai), which is defined in the Diamond Sutra as “Tathagata, the one who skillfully arrives because he neither comes from anywhere nor does he go anywhere.” It also refers to the Sanskrit words gata, āgata, anāgata (already gone, already come, not coming, not yet come), which we read every day in the Heart Sutra: gate gate paragate parasaṃgate bodhi svāha. Coming but not coming, going without going, is the nature of the Tathagata: Tathāgata: tathā gata/āgata. The enlightened saints greet each other in everyday language that still encompasses the transcendental world.

But the concept of non-dualism forms the ideological foundation of a branch of Vedānta philosophy known as advaita-vāda in Sanskrit. In the contemporary philosophical language, it is translated as the doctrine of the “Absolute One Source.” This theory states that when one attains the Absolute One Source, which represents liberation, Brahma and Self unite; the Little Self and the Great Self merge into the Absolute One. In other words, the Soul and the Creator God are the One Absolute. The Buddhist scriptures state that there is no concept of a truly existing Self, and therefore reject the theory of an Absolute One Source.

In order to avoid confusion and being overwhelmed by transcendental dialectical words and arguments, ranging from the absolute one source of the union of Brahma and Self to “The Tathagata arrives without coming, goes without leaving,” we can also begin with a simpler understanding as explained in the commentary by Đỗ Hồng Ngọc, which can be likened to how doctors diagnose diseases:

“They remain in the realms of birth and death without engaging in any unwholesome actions. They abide in Nirvana without ever ceasing to exist. They cultivate the mind of inherent emptiness and simultaneously accumulate merits. They dwell in the signless mind and yet continue to save sentient beings. They do not arise themselves, yet they inspire the arising of all virtuous actions...”

That passage summarizes Vimalakirti’s conversation with Manjushri about the Bodhisatta’s realm practice. It discusses the practice’s environment and the object of the Bodhisattva’s observations. It mentions that dwelling in emptiness (śūnyatā-gocara) and signless formations (animitta-gocara) are two of the three doors of liberation that a Hearer focuses on to attain Nibbāna. These three doors of liberation are Emptiness, Signlessness, and Nonaspirational (apraṇihita), the latter of which is also called Non-action according to the monk La-thập. If you have not seen or do not know what Nirvana is, do not rush to say that birth, death, and Nirvana are one, not two. These, however, are the words that the sick say to the visitors. Sickness or no sickness, samsara or nirvana, here and there in the three realms, the sick person embodies inherent emptiness, and the phenomenon of illness is also empty. Therefore, there is no need to discuss hope or hopelessness.

Such things are not easy to understand either; therefore we should listen to the quote from the book Cõi Phật Đâu Xa: “Bodhisattvas always stand between the two banks…”

And here he introduced the lyrics of Trịnh Công Sơn’s song: “On our shoulders, the moon and the sun both shine, illuminating a realm that returns for a hundred years.” If we examine Trịnh Công Sơn’s lyrics from a philosophical perspective, we can see that they are not related to the non-dual Dharma gate. But it also reminds us of the story of a musician who lived in the heavenly realm of the Indra Heaven Emperor and fell in love with a goddess. He went to the Buddha and sang a love song as an offering, expressing his passion with the words, “I love her as an Arahant loves the Dharma.”

Perhaps there is no description of faithful love more sincere than that. The lyrics were unfamiliar to serious Buddhist readers, but the Buddha’s response was equally perplexing: “Very well, the music complements the words, just as the words complement the music. In it, there is craving, but there is also Nirvana.” Craving refers to a strong desire, often with sexual implications, while Nirvana represents a state of seclusion or enlightenment. Does it mean that one can look through the craving to see Nirvana, or one can look through Nirvana to clearly see the nature of the craving? Is it in the stinking mud that the lotus flower is found?

After all, what is the door to this non-dualistic dharma?

The love story of the Indra Heaven Emperor’s musician is made into a script to say the unspeakable because of its villainous nature. Likewise, readers of the Vimalakirti Sutra can easily recognize that this text is structured according to the dramatic genre. In the script, the villains of the characters are used to express the content according to the intended meaning.

In the passage quoted by Đỗ Hồng Ngọc mentioned above, we see that the Bodhisattva cultivates his mind like a Hearer Saint who lives in the transcendent world but practices his way like an ordinary person in the realm of birth and death: in the mud but without the foul smell of mud. That is the basis of non-dualistic thinking. The sages live in the transcendent world, and the mortals are born and die; the sages and the mortals are in two opposite worlds but of the same nature. Readers who do not see the antagonistic pairs in this theory will surely see that Vimalakirti has “overwhelmed” and “chased” the Hearer Saints into a dead-end alley.

In the script of the Vimalakirti Sutra, one hears corresponding responses between Manjushri and Vimalakirti, but this is not a pair of villains; in the sutra, Manjushri is actually the theater conductor. Without a theater conductor, it is difficult to understand the content of the script. This is the classical structure of drama. While Manjushri spoke and asked, Vimalakirti remained silent. Without Manjushri as the theater conductor, Vimalakirti’s silence has no meaning, so this is not a pair of antagonistic reciprocals.

In fact, Vimalakirti appeared in many different roles, so he simultaneously played the villain for many saints, from arahants to bodhisattvas. When Sāriputta was sitting quietly in a deserted forest, Vimalakirti appeared with such sharp reasoning that this great hearer was speechless. It is easy for people to see only a Venerable Sariputra in a deserted forest who is absorbed in the immersion of cessation of feeling and perception, who sits in the stillness of body and mind, and who is able to keep his body from decaying through a great kalpa, through millions of years; however, he is not seen wandering around for alms with a hungry stomach.

If he wants to enjoy peace and quiet for himself for thousands of years until his body decays, then he doesn’t need to eat to be alive. So why is the monk holding his bowl for alms? Is it because hunger will torment him or to wake up the worldly beings in misery? Is the scene in which Vimalakirti goes into the world to help human beings live in joyful peace nobler than Sariputra sitting in silence? Is the statue of the Buddha sitting motionless on the table of no benefit to anyone, not equal to a monk who chants sutras to pray for the dead ancestors and for peace for the living? It is a pair of antagonists that reveal the essence of existence.

On the other hand, in the manner of the saint who had gone beyond this world, Sariputra appeared before an opposite character who was an extremely beautiful goddess. With the beauty that surpasses all the beauty of the heavens, she danced to the musical piece named “The goddess offers a rain of flowers,” which was more magical than any others and one that would make the Emperor Xuanzong of Tang lose his throne and his country.

But why did she live in an empty room with the old layman Vimalakirti and then dance and sing in front of the dignified saints, whose minds were quiet and never had sexual ripples? In what sense was she present? The exchange between the goddess and Sariputra pushed the contrast between defilement and purity to dramatic drama, causing Sariputra to transform into a beautiful goddess and the goddess to transform into the dignified Saint Sariputra.

Those who recognize the pairs of opposite characters between the main and antagonist in the Buddhist scriptures would contemplate those images to see the meaning of non-dualism and would know the door leading to the realm of non-dualism.

Moreover, we should observe carefully the villainous antagonists and the villainous scenes. The mango garden, owned by the courtesan Amrapali, became a place where the princes and rich young men let themselves drift in lust and a retreat place for the hearer monks who had gone beyond this world and lived in purity in the polluted environment. Meanwhile, Vimalakirti’s residence, where he received politicians who were rushing in the arena of power and merchants who were competing fiercely in the marketplace, was also the hangout spot for the saints, the hearer monks, and the bodhisattvas. Vimalakirti’s home and the mango garden of the courtesan Amrapali were the two opposite images of the villainous antagonists: the noise and the stillness, the polluted and the purified.

Between the Samsara world and the Fragrance Buddha Realm, between the lion throne and the city of Kapilvastu, between the infinity coming into the infinitely small and the small entering the vastness, these are pairs of antagonistic backgrounds that would reveal the core of the existence of the world and the universe. With those images, Buddhists practice how to think beyond conventional stereotypes, transcending the empirical world to rise to the transcendent and inconceivable realm.

Thus, reading the Vimalakirti Sutra is like watching a screenplay, with dramatic events and antagonistic characters and backgrounds. This is a way to train and equip yourself with a self-directed tool to rise to enlightenment heights.

While I was exploring the antagonistic and dramatic meanings in the Vimalakirti Sutras, my two lay friends, Đỗ Hồng Ngọc and Thân Trọng Minh, expressed their enthusiasm and aspiration, intentionally wanting to rewrite a screenplay and stage a theater so that the audiences could better understand what the sutra wants to point out. Because our language skills and thinking capacity are limited, it can be relatively easier to enter the righteous path through the artistic path.

I hope you lay people achieve as you wish. As for me, returning to the grass cottage to wander with poetry, I now send to my lay friends two poetic lines as follows:

Sitting in this familiar, old thatched-roof cottage,
I raised the teacup from the old Master Triệu and saw thousands of flowers blooming.

Written in Thị Ngạn am, at the beginning of spring, in the year of the Rooster.

Tuệ Sỹ

(3.2017)

(dohongngoc.com)

 

 

…. o ….

 

PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH

Tuệ Sỹ

 

(Viêt từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của Đỗ Hồng Ngọc)

 

Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh,
Ngoài hư không có dấu chim bay?
Từ tiếng gọi màu đêm đất khổ,
Thắp tâm tư thay ánh mặt trời.

 

 

Lần đầu tiên tôi tình cờ gặp bản dịch Duy-ma-cật sở thuyết của ngài Huệ Hưng; hành tung ly kỳ và chuổi lý luận của Duy-ma-cật khiến đọc say mê, nhiều đoạn học thuộc lòng. Có thể không “choáng ngợp” như anh Cao Huy Thuần vì trình dộ nhận thức của tôi bấy giờ chỉ là của một cậu bé 14 tuổi, không thể sâu sắc như  vị giáo sư trẻ tốt nghiệp Đại học Luật khoa Huế. Một chú tiểu tu chùa Việt nhưng học kinh điển theo hệ Theravāda với các Sư người Lào, do đó cực kỳ kính trọng các A-la-hán, và vì vậy không có cảm giác Duy-ma-cật đã có thể triệt hạ địa vị các Đại Thanh văn. Lớn lên chút nữa, qua nhiều năm học thêm nhiều kinh luận Đại thừa, đọc thêm các nhà luận giải Trung hoa chê bai tư tưởng các vị Thanh văn thấp kêm, tâm tư nhỏ hẹp, và kêt án khá nặng là “hạng tiêu nha bại chủng”, hủy diệt mọi thứ mầm non và hạt giống tốt của giác ngộ.

Cùng với sự phát triển của loại “khẩu đầu Thiền”, thuyết lý Thiền tông trên đầu môi chót lưỡi, phát sinh một lớp sư tăng “cuồng thiền”: thỏng tay vào chợ, thanh lâu, hý viện, đâu chẳng là thanh tịnh đạo tràng. Nhưng với sự huân tập từ hồi còn là tiểu nhóc, tôi chưa hề cảm thấy, mặc dầu với lý luận biện tài vô ngại, Duy-ma-cật đã lấn lướt vượt qua các vị Thanh văn như thế nào. Tuy nhiều vị luận giải Trung hoa quả có chế diễu ngài Xá-lợi-phất, và nhiều vị Đại Thanh văn khác nữa, như khi ngài hỏi Duy-ma-cật các Thánh giả sẽ ăn cơm ở đâu, sẽ ngồi chỗ nào; dù vậy, tôi vẫn cảm thấy trong đó có ẩn ngữ mình chưa hiểu.

Cho tới một lúc, lớn thêm chút nữa, giữa xã hội xô bồ đảo điên, tăng đồ như một cộng đồng ô hợp, riêng Phật riêng thầy, riêng tông môn pháp phái, bấy giờ bỗng xuất hiện những cư sỹ lão thành cự phách, mà trình độ thâm hiểu giáo lý không nhường các bậc trưởng lão trong sơn môn. Bên trong, hiểu và hành sâu xa nội điển; bên ngoài nhạy bén trước các biến cố đảo điên của xã hội; hiểu đạo sâu mà hiểu đời rộng, tài và trí ấy, hiểu và hành ấy, đã góp phần rất lớn trong những đoạn đường khơi lạc nguồn mạch tư duy.

Không chỉ một Duy-ma-cật, mà có rất nhiều Duy-ma-cật, khoác nhiều hành trạng khác nhau trong nhiều địa vị xã hội khác nhau, đã từng xuất hiện ở đây, sống giữa chúng ta. Họ lăn lóc trong bụi đời, nếm đủ thứ “mùi tục lụy” nhưng vẫn không ngừng vươn lên theo chiều cao của Đạo Pháp. Trong một thời đại mà không còn tìm thấy thấp thoáng bóng dáng của Duy-ma-cật, Phật pháp đạo lý có thể chỉ như món hàng trong siêu thị; có lúc chỉ như gánh hàng rong trên hè phố.

Duy-ma-cật là ai mà được ví von như thế? Một nhân vật nửa lịch sử, nửa huyền thoại. Nhân cách ấy là tập hợp tất cả phẩm tính để được gọi là “đích tử”, con chân thật, của các đấng Giác Ngộ. Mỗi nhân cách nổi lên trong một thời đại lịch sử riêng biệt, trong mỗi thời đại ấy là những nhân cách từ phẩm chất và phẩm trật trong từng xã hội cá biệt. Nhân cách ấy ẩn mình đơn độc trong rừng sâu, hoặc hiện diện giữa chợ đời huyên náo, mà không gian bao trùm bởi trực tâm và thâm tâm. Trực tâm, mà Huyền Trang gọi là “thuần ý lạc (āśaya)”, đó chính là ý chí hướng thượng, nhìn đời bằng con mắt yêu thương, định hướng cho cuộc đời của mình và cùng với tất cả cùng đi lên bằng tình yêu và trí tuệ. Từ trực tâm ấy, với ý chí quyết định, kiên trì mục đích, đó gọi là thâm tâm, cũng nói là tăng thượng ý lạc (adhy-āśaya). Đó là nhân vật mà ta có thể gặp đâu đó.

Bằng thuần ý lạc địa, từ cơ sở đó mà bảy bước phát khởi tâm bồ đề, khởi từ tình yêu thâm thiết đối với Mẹ thân sinh, vì sự an lạc của Mẹ mà phát nguyện hành bồ-đề. Rồi với tình Mẹ bao la mà tâm nguyện bồ-đề cũng theo đó mà rộng lớn lên, theo một đường thẳng như tấm lòng ngay thẳng. Từ tâm tư thuần ý lạc địa ấy mà kiên định chí hướng, in sâu trong tận cũng tâm khảm, trong thâm tâm.

Thế nhưng có thể chúng ta dễ bị choáng ngợp bởi những từ ngữ mang tính triết học, do đó mà thấy Duy-ma-cật là một nhân vật cao diệu, xa vời. Vậy, chúng ta bắt đầu từ diễn tả bằng ngôn ngữ đời thường, như Đỗ Hồng Ngọc viết trong Cõi Phật Đâu Xa: anh viêt Kinh dễ dàng và cũng rất thận trọng cân nhắc, y như bác sỹ viết toa thuốc:

“Lòng ngay thẳng – trực tâm – chính là sự bình đẳng, không phân biệt, không kỳ thị … Không kỳ thị, không phân biệt đối xử mới có lòng tôn trọng như Thường Bất Khinh, mới có lòng Từ bi, Thấu cảm như Quán Thế Âm, mới có lòng Chân thành để “ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng” như Dược Vương. Tôn trọng, chân thành, thấu cảm phải dựa trên điều kiện tiên quyết không phân biệt, là Bình đẳng. Đó chính là Bất nhị.”

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa cũng sợ; chúng ta lại gặp một từ ngữ triết học rắc rối hơn nữa: “bất nhị.” Đó là nguyên lý chỉ đạo cho tư duy và hành động của Duy-ma-cật, khi ông nói với ngài Xá-lợi-phất: “Hiện các oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) mà vẫn không xuất tưởng thọ diệt định, đó mới chính là tĩnh tọa.” Hoặc khi ông chào đón Bồ-tát Văn-thù đến thăm bệnh, và ở đó, trong “Cõi Phật Đâu Xa”,  ta cũng nghe rõ như lời bệnh nhân chào đón y sỹ: “Lành thay, Văn-thù mới đến! Tướng chẳng đến mà đến. Tướng chẳng thấy mà thấy.” Bệnh chứng, bệnh nguyên, tất cả các tướng ấy, chẳng đến mà đến, chẳng thấy mà thấy; bệnh nhân không tìm đến y sỹ, và y sỹ không đi đến bệnh nhân.

Trong đối thoại này, Duy-ma-cật cũng chào đón Văn-thù bằng ngôn ngữ thông thường: svāgatam: nghĩa đen được hiểu đã đến một cách khéo léo, tốt đẹp; đây là một từ chào hỏi tương đương chính xác với lời chào tiếng Anh: “Welcom!” Từ chào hỏi này liên hệ đến từ Tathāgata: Như Lai, mà Kinh Kim cang định nghĩa: “Như Lai, vị khéo đến, vì không từ đâu đến, cũng không đi đến đâu.”  Nó cũng liên hệ các từ  Phạn gata, āgata, anāgata: đã đi, đã đến, không đến, chưa đến, đó là những từ mà chúng ta đọc hằng ngày trong Tâm Kinh: gate gate paragate parasaṃgate bodhi svāha. Đến mà không đến, đi mà không đi, là thể tính Như Lai: Tathāgata: tathā gata/āgata. Các vị Thánh giả chào nhau bằng ngôn ngữ đời thường mà trong đó vẫn bao hàm thế giới siêu việt.

Nhưng, tư tưởng bất nhị là căn nguyên tư tưởng của một nhánh trong triết học Vedānta, tiếng Phạn nói là advaita-vāda, dịch theo ngôn ngữ triết học quen dùng ngày nay, đó là chủ thuyết lý “Nhất nguyên Tuyệt đối”. Đạt đến nhất nguyên tuyệt đối, là đạt đến giải thoát, bấy giờ Phạm-Ngã đồng nhất, Tiểu ngã và Đại Ngã hiệp thành nhất thể tuyệt đối. Nói cách khác, Linh hồn và Thượng đế là Nhất thể Tuyệt đối. Kinh Phật không nhận có Thật Ngã tồn tại, dó đó không thừa nhận thuyết Nhất nguyên tuyệt đối này.

Để khỏi phái bối rối, choáng ngợp trước những từ ngữ và lý luận biện chứng siêu nghiệm, từ nhất nguyên tuyệt đối của Phạm-Ngã nhất thể, cho đến “Như Lai đến mà không đến, đi mà không đi”, chúng ta cũng có thể bắt đầu với nhận thức đơn giản hơn từ dẫn giải bởi Đỗ Hồng Ngọc, hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh:

“Ở tại nơi sanh tử mà chẳng làm việc ô trược, trụ nơi Niết-bàn mà chẳng diệt độ mãi; hành tánh không mà vẫn trồng các cội công đức; hành vô tướng mà vẫn độ chúng sanh; hành vô khởi mà khởi tất cả thiện hạnh…”

Đây là đoạn dẫn tóm tắt khi Duy-ma-cật nói với Văn-thù về sở hành cảnh giới của Bồ-tát, môi trường hành đạo và đối tượng quán sát của Bồ-tát; trong đó nói hành tánh không (śūnyatā-gocara), hành vô tướng (animitta-gocara), là hai trong ba giải thoát môn mà một vị Thanh văn lập làm đối tượng quán sát để chứng nghiệm Niết-bàn. Ba giải thoát này là Không, Vô tướng, Vô nguyện (apraṇihita), hay nói là  Vô tác theo La-thập.  Chưa thấy và chưa biết Niết-bàn là gì thì chớ vội nói sinh tử và Niết-bàn là một, không hai. Thế nhưng, đây là những lời người bệnh nói với người thăm bệnh. Bệnh hay vô bệnh, sinh tử hay Niết-bàn, đây và đó qua lại trong ba ngõ: người bệnh vốn không, hiện tượng bệnh cũng không, cho nên không có gì để nói hy vọng hay tuyết vọng.

Những điều như vậy cũng không phải dễ hiểu; do đó chúng ta nên nghe lời dẫn từ Cõi Phật Đâu xa:

“Bồ-tát luôn đứng giữa hai bờ…” và tại đây ông giới thiệu lời trong ca khúc của Trịnh Công Sơn: trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyêt/ Rọi suốt trăm năm một cõi đi về. Nếu đưa thẳng vào tư duy triết học thì lời nhạc của Trịnh Công Sơn không liên hệ gì đến pháp môn bất nhị. Nhưng nó cũng khiến chúng ta nhớ đến câu chuyện một nhạc công của Thiên đế Indra thất tình với một thiên nữ, bèn tìm đến đức Phât, hát lên “bản tình ca dâng Phật”, với đoạn tả tình thắm thiết: “Tôi yêu nàng như A-la-hán yêu Chánh Pháp”. Có lẽ chẳng có ca từ mô tả tình yêu chung thủy nào chân tình hơn thế. Lời nhạc đã lạ lùng với đôi tai người đọc kinh Phật nghiêm túc, mà câu trả lời của Phât cũng thất lạ lùng khó hiểu: “Hay lắm, nhạc hòa hợp với lời, lời hòa hợp với nhạc; trong đó có ái dục mà cũng có Niết-bàn,” Ái dục là tình yêu hệ lụy sắc dục, và Niết-bàn là cảnh giới ly dục. Há lại có nghĩa, từ trong ái dục mà thấy Niết-bàn, từ Niết-bàn mà thấy rõ thể tính của ái dục? Đơn giản hơn, từ bùn lầy hôi thối mà tìm thấy hoa sen?

Rốt cục, cửa dẫn vào pháp bất nhị này là đâu, là cái gì?

Chuyện tình nhạc công của Thiên đế diễn thành kịch bản để nói những điều không thể nói, vì tính chẩt phản diện được cấu trúc trong đó. Cũng thế đó, người đọc Duy-ma-cật sở thuyết có thể dễ dàng nhận ra bản văn này được cấu trúc theo thể loại kịch. Trong kịch bản, tính phản diện của các nhân vật được sử dụng để diễn tả nội dung theo ý nghĩa muốn nói.

Trong đoạn dẫn của Đỗ Hống Ngọc nêu trên, chúng ta thấy Bồ-tát tu tâm như một Thánh giả Thanh văn xuất thế, nhưng hành đạo như một phàm phu trong sinh tử: trong bùn mà chằng hôi tanh mùi bùn. Đó là căn bản của tư duy bất nhị. Thánh nhân xuất thế, và phàm phu sinh tử, hai mặt phàn diện mà lại đồng nhất thể tính. Người đọc nếu không nhìn ra những cặp phản diện trong Sở thuyết này tất sẽ thấy Duy-cật-đã đã “lấn lướt” các Thánh giả Thanh văn, đã “dồn ví” các ngài vào ngõ bí.

Trong kịch bản Duy-ma-cật sở thuyết, người ta nghe được những đối đáp tương xứng giữa Văn-thù và Duy-ma-cật, nhưng đây không phải là cặp nhân vật phản diện; mà trong đây Văn-thù chính là vai người dẫn kịch. Không có người dẫn kịch thì khó có thể hiểu nội dung của kịch bản. Đây là cấu trúc cổ điển của kịch. Như trong khi Văn-thù nói và hỏi, Duy-ma-cật im lặng; nếu không có Văn-thù như là vị dẫn kịch, thì sự im lăng của Duy-ma-cật chẳng có ý nghĩa gì; do đó đây không phải là cặp đối đáp phản diện.

Thực ra, Duy-ma-cật xuất hiện trong nhiều lớp áo khác nhau, nên đồng thời thủ vai phản diện cho nhiều vị Thánh giả, từ các A-la-hán cho đến các Bồ-tát. Khi ngài Xá-lợi-phất tĩnh tọa trong rừng vắng, Duy-ma-cật xuất hiện với lý luận sắc bén khiến cho vị Đại Thanh văn này không còn lời đối đáp. Dễ chừng người ta chỉ thấy một Tôn giả Xá-lợi-phất trong rừng vắng nhập tưởng thọ diệt tận định, thân tâm bất động, có thể lưu thọ hành để giữ cho thân thể tồn tại không mục rã qua một đại kiếp, hằng triệu năm của mặt trời; ấy thế nhưng lại không thấy ngài ôm bát lang thang trong hang cùng ngõ hẻm với cái bụng đói. Nếu để thọ hưởng an lạc tịch tĩnh chính mình qua hằng nghìn năm cho đến khi thân ấy mục rã nếu muôn, thế thì cần gì phải ăn để mà sống. Vậy ôm bát đi khất thực vì lẽ gì?  Vì cơn đói sẽ hành hạ bản thân, hay vì để thức tỉnh thế gian đang trầm luân trong khổ lụy? Thế thì Duy-ma-cật đi vào đời để xây dựng cho đời an vui có cao quý hơn ngài Xá-lợi-phất ngồi trong tịch nhiên bất động? Phải chăng tượng Phật ngồi bất động trên bàn chẳng ích lợi gì cho ai, chẳng bằng sư trụ trì tụng kinh cầu siêu, cầu an cho bá tánh? Đấy là cặp phản diện làm hiện rõ bản chất của tồn tại.

Mặt khác, trong phong thái Thánh giả xuất trần Xá-lợi-phất lại xuất hiện trước một phản diện là cô thiên nữ cực kỳ diễm lệ. Với sắc đẹp vượt lên cả hàng thiên hương quốc sắc ây, với vũ điệu thiên nữ tán hoa kỳ ảo hơn cả vũ khúc nghê thường ấy, cũng rất dễ khiến cho Đường Mimh Hoàng mất ngôi mất nước. Nhưng sao nàng sống chung trong một căn phòng trống trải với lão cư sỹ Duy-ma-cật; rồi lại xuất hiện múa hát trước các Thánh nhân xuất thế, những vị mà tâm tư lắng đọng không hề gợn sóng dục tình; hiện diện với ý nghĩa gì? Đối đáp giữa thiên nữ và Xá-lợi-phất đã dẫn cặp phản diện ô nhiễm và thanh tịnh lên đến kịch tính gay cấn, khiến cho Xá-lợi-phất biến hình thành thiên nữ kiều diễm, và thiên nữ biến hình thành Thánh giả Xá-lợi-phất nghiêm trang.

Nhận diện được những cặp nhân vật phản diện trong Kinh thì cũng có thể bằng hình ảnh ấy mà chiêm nghiệm thế nào là ý nghĩa bất nhị, bằng cánh cửa nào để đi vào cảnh giới bất nhị ấy.

Thêm nữa, ngoài những nhân vật phản diện, cũng nên đi sâu vào những bối cảnh phản diện. Khu vườn xoài, sở hữu của kỹ nữ Am-la-bà-lị, nơi các vương tôn công tử buông mình thả trôi trong dục vọng, lại trở thành nơi tịnh tu của các Thanh văn xuất thế, trong ô nhiễm mà không ô nhiễm. Tư gia của Duy-ma-cật, nơi ông tiếp những chính khách đang lao mình trong đấu trường quyền lực, những thương gia đang cạnh tranh ráo riết trên thương trường, mhưng chỗ ấy lại cũng là nơi lai vãng của các Thánh giả xuất trần, Thanh văn và Bồ tát. Tư gia của trưởng giả Duy-ma-cật, khu vườn xoài của kỹ nữ Am-la-bà-lị: cặp phản diện của náo nhiệt và tịch tĩnh, của ô nhiễm và thanh tịnh.

Giữa thế giới Ta-bà và cõi Phật Chúng Hương, tòa sư tử và thành Tì-la-da, cái vô cùng lớn đến trong cái vô cùng nhỏ, và cái nhỏ đi vào trong cái lớn: đây cũng là cặp phản diện bối cảnh làm lộ rõ thể tính tồn tại của thế gian, vũ trụ. Bằng hình ảnh đó mà tập luyện cho tư duy vượt ngoài khuôn sáo ước lệ, vượt qua thế giới thường nghiệm để vươn lên cảnh giới siêu nghiệm, bất khả tư nghị.

Như thế, đọc Duy-ma-cật sở thuyết như đang xem một kịch bản, với những nhân vật và bối cảnh phản diện, với những biến cố mang đầy kịch tính, đó là cách tự huấn luyện và tự trang bị cho mình một công cụ định hướng tự duy để vươn lên chiều cao của giác ngộ.

Trong khi chúng tôi cùng tìm hiểu ý nghĩa phản diện và kịch tính trong Duy-ma-cật sở thuyết, hai ông bạn cư sỹ Đỗ Hồng Ngọc và Thân Trong Minh tỏ ra tâm đắc và cao hứng, cố ý muốn viết lại một kịch bản và dàn dựng sân khấu như thế nào đó để có thể hiểu rõ hơn điều mà Kinh muốn chỉ điểm; vì trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn.

Hy vọng các bạn cư sỹ thành tựu như ý. Riêng tôi, trở về thảo am thơ thẩn, gởi lại hai bạn cư sỹ hai câu thơ:

Nhà tranh mái cũ quen chừng,
Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn.
Thị ngạn am, tiết Lập xuân, Đinh dậu
Tuệ Sỹ
(3.2017)

(dohongngoc.com)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (7.2023)

18/07/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Bạn biết đó. Già đến thật nhanh. Quên đột ngột chuyện mới thì gọi là senile dementia, còn quên tuốt chuyện xa xưa thì là  Alzheimer rồi. Cho nên lúc về già thì nhiều khi không muốn Giác cũng giác, không muốn Ngộ cũng ngộ là vậy.

Lúc này mình chỉ lai rai đọc tin nhắn của bạn bè trên điện thoại, trên email, thấy có nhiều bài hay, có thể chia sẻ với nhau được, coi cho vui, cũng có ích, nhưng nhiều khi không mò ra nguồn để trích dẫn cho đàng hoàng. Mình không có Facebook, và dốt đặc IT. Thỉnh thoảng thấy bài của người ta, ký tên mình, kèm cái hình mình cho chắc ăn, đành cười trừ, không biết phải làm sao! Có nhiều bài thấy đã có từ 10 năm trước, nay dựng lại như mới hôm qua. Thú vị. Nay mai AI hoạt động ầm ầm, râu ông nọ cằm bà kia, vui lắm!

Dưới đây là mấy bài gởi bạn đọc cho vui nhe.

Xin phép các tác giả, các “nguồn”, mình chưa lấy đúng và đầy đủ.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(18.7.2023)

 

Có một kiểu người không bao giờ già đi.

Le Van Quy

(shared từ FB cô Doris Le)

 

Có một kiểu người cả đời chẳng hề già đi, năm tháng dường như đã lãng quên họ. Cái già đi chỉ là tuổi tác, còn khí chất và thần thái là không hề thay đổi. Tất cả là bởi họ mang trên mình những điều rất đặc biệt này.

  1. Một tâm hồn chất phác ngây thơ

Thật khó khi kinh qua trường đời mà vẫn giữ được một tâm hồn chất phác ngây thơ. Đó không phải là kiểu “hồn nhiên như cô tiên” mà là sau những cay đắng của cuộc đời vẫn tin tưởng vào điều tốt đẹp. Đó là một tâm hồn trong sáng, không đánh mất sự hồn nhiên hiếu kỳ đối với vạn vật. Người như vậy thường hạnh phúc và tươi trẻ.

  1. Coi trọng dáng vẻ hàng ngày

Ăn mặc tươm tất, chú trọng vẻ ngoài cũng là một điều quan trọng. Người già chúng ta không nên “tuổi chưa cao mà hồn đã lão”, tâm trí lúc nào cũng đặt trong cảnh tương lai mờ mịt, quá khứ u buồn, cảm thấy chăm chút bản thân là việc của giới trẻ.

Người trẻ tuổi có sự hấp dẫn tự nhiên nên không cần phải để tâm vào việc ăn mặc. Còn người có tuổi, bất luận ở nhà hay ra ngoài đều nên tùy thời phục sức, tao nhã đúng mức, mang lại niềm vui cho bản thân và mọi người. Khi bạn ăn mặc trang nhã, hiển lộ tinh thần sung mãn, thì tự nhiên cũng tự tin hơn, nhìn vào thấy trẻ ra cả chục tuổi.

  1. Kiên trì đọc sách học tập, du lịch

Những người nhìn vào trẻ trung phần lớn đều kiên trì với phương châm “không ngừng tinh tiến, không ngừng học hỏi”. Trong bụng đã có một bồ sách, một kho thi thư thì ắt tâm hồn phong phú, dung mạo phong lưu.

Đọc sách giúp mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan, du lịch giúp mở mang tầm mắt. Người ham thích đọc sách và du lịch, đối với bất cứ sự việc gì đều tự có kiến giải, không phải kiểu người bảo sao hay vậy, tự nhiên thần thái ung dung, tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân.

  1. Tấm lòng lương thiện

Những người nhìn vào trẻ trung, thường là thuần phác, thiện lương. Quá trình tu tâm dưỡng tính của họ thăng hoa thể hiện thành thần thái, tướng mạo bên ngoài. Cũng bởi tướng tùy tâm sinh, nên người có tâm từ bi, có lòng nhân ái, luôn luôn phát ra một loại hào quang. Với người khoan dung, hơn nửa gương mặt là có phúc tướng. Với người mà tính tình dịu dàng thì tướng mặt đã toát lên sự thân thiện.

  1. Có mục tiêu theo đuổi

Người mà nhìn vào trẻ trung sẽ luôn trong trạng thái tinh thần phấn chấn và tràn trề sức sống. Dù là đã nghỉ hưu rồi, trong cuộc sống nên đặt những mục tiêu mới. Trong phạm vi mà khả năng cho phép, hãy tích cực tham gia các loại hoạt động như ca hát, chụp ảnh, khiêu vũ… Như vậy, cuộc sống bày ra trước mắt bạn sẽ có sức sống hơn, cũng sẽ khiến bạn không bao giờ thấy mình già đi vậy.

  1. Biết cảm mến cuộc đời

Đam mê cuộc sống vẫn chưa đủ, nếu như có thể có chút lòng cảm mến với nó thì sẽ hoàn mỹ hơn. Không hưởng thụ những ưu việt mà đồng tiền mang lại, nguyện ý bỏ tâm tư trồng mấy chậu cây cảnh hay bắt tay chế tác mấy món đồ chơi, có những đam mê sở thích khác. Người như vậy, thời gian làm sao nhẫn tâm để bạn già đi đây?

  1. Kiên trì vận động

Thân thể khỏe mạnh mới là nền tảng duy trì sự trẻ trung. Người mà trông không có vẻ già đi nhất định đều kiên trì vận động, khiến bản thân từ trong đến ngoài đều tỏa ra sức sống.

  1. Tâm thái trẻ trung

Người có tâm thái trẻ trung sẽ tích cực trải nghiệm những điều mới mẻ, luôn hiếu kỳ khám phá những điều mới lạ. Trên người họ, bạn có lẽ cũng có thể nhìn thấy nếp nhăn nơi khóe mắt chân mày. Nhưng điều khiến bạn nhìn không chớp mắt là gương mặt với thần thái ung dung và tâm trạng yêu đời của họ.

Nhà văn Murakami Haruki đã từng nói: “Con người ta không phải là dần dần trở nên già đi, mà là trở nên già đi chỉ trong nháy mắt“. Con người trở nên già đi, không phải bắt đầu từ nếp nhăn đầu tiên, hay cọng tóc bạc đầu tiên, mà là bắt đầu từ ngay cái thời khắc buông bỏ chính mình. Chỉ có những ai không từ bỏ chính mình, mới có thể sống thành người không sợ già, và cũng sẽ không thấy mình già đi.

Theo Secret

Le Van Quy

shared từ FB cô Doris Le

…………………………………………………………………..

ĐIỀU QUÝ GIÁ NHẤT CHÍNH LÀ SỨC KHỎE

Vinh Bùi, Lớp Phật Học & Đời Sống chuyển

Nguyet Nguyen sưu tầm và dịch, đăng trên trang Trần Hoài Văn,

#t230714a

Người mẫu – blogger nổi tiếng Kyrzayda Rodriguez từng nói: “Không có gì là thật, ngoài cái chết”. Dưới đây là 9 lời nhắn nhủ của cô trước khi qua đời vì bệnh ung thư dạ dày:
1. Tôi có chiếc ô tô thương hiệu đắt nhất thế giới trong gara của mình nhưng giờ tôi phải di chuyển bằng xe lăn.
2. Nhà tôi có đầy đủ các loại quần áo hàng hiệu, giày dép và đồ có giá trị. Nhưng giờ cơ thể tôi được bọc trong một tấm vải nhỏ do bệnh viện cung cấp.
3. Tôi có nhiều tiền trong ngân hàng. Nhưng giờ tôi không nhận được bất kỳ lợi ích nào từ số tiền này.
4. Ngôi nhà của tôi giống như một cung điện nhưng giờ tôi đang nằm trên chiếc giường đôi trong bệnh viện.
5. Tôi có thể đi từ khách sạn năm sao này sang khách sạn năm sao khác. Nhưng giờ tôi dành thời gian trong bệnh viện để di chuyển từ phòng xét nghiệm này sang phòng xét nghiệm khác.
6. Tôi đã tặng chữ ký cho hàng trăm người nhưng giờ đây, ghi chú của bác sĩ là chữ ký dành cho tôi.
7. Tôi có bảy người thợ làm tóc để làm đẹp cho mình nhưng bây giờ – tôi không còn một sợi tóc nào trên đầu.
8. Trên chuyên cơ riêng, tôi có thể bay đến bất cứ đâu tôi muốn. Nhưng bây giờ tôi cần sự giúp đỡ của hai người để dìu đến cổng bệnh viện.
9. Dù có nhiều thức ăn nhưng bây giờ khẩu phần ăn của tôi chỉ là ngày hai viên và tối nhỏ vài giọt nước muối.
Ngôi nhà này, chiếc xe hơi này, chiếc máy bay phản lực này, đồ đạc này, rất nhiều tài khoản ngân hàng, rất nhiều danh vọng và tiếng tăm, không có cái nào phù hợp với tôi cả. Không gì trong số này có thể giúp tôi nhẹ nhõm. “Không có gì là thật ngoài cái chết.”.
Nguồn: Nguyet Nguyen sưu tầm và dịch, đăng trên trang Trần Hoài Văn”, #t230714a

……………………………………………

#Đoàn_Thu_Thuỷ (Fb)

Tôi đọc cuốn “ viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cách đây 24 năm, khi lần đầu làm mẹ.

Chừng 10 năm sau, tôi được tặng cuốn “ Nghĩ từ trái tim” của bác sĩ viết về Tâm Kinh Bát Nhã.
Lúc đó tôi còn u mê ngụp lặn trong tham sân si, hỷ nộ ái ố, còn đi chùa cầu xin được nhiều tiền nhiều bạc, còn tin vào bói toán, huyền thuật nên đọc rất khó hiểu, đã cố gắng đọc nhiều lần nhưng không bao giờ đọc hết được cuốn sách mỏng đó.

Mười hai năm trước, tôi gặp một biến cố đau buồn giữa sinh ly tử biệt, có vài tuần đóng cửa ngồi một mình trống trải giữa khổ đau mất mát. Tôi không biết làm gì ngoài đọc sách. Và lúc đó đọc lại “ Nghĩ từ trái tim”, bỗng nhiên thấy mọi việc sáng tỏ như tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Tôi bừng tỉnh.

“ chiếu kiến ngũ uẩn giai không”
-Thấy rõ ngũ uẩn đều không.
Tức thì “ độ nhất thiết khổ ách”- thoát  khỏi khổ đau ách nạn.

“ viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn”-vĩnh viễn cắt đứt điên đảo mộng – tưởng, đó là cứu cánh Niết bàn.

Tôi ngộ ra, Niết Bàn chẳng ở đâu xa, ở chính trong tâm của mỗi người.
Đau khổ hay hạnh phúc cũng từ tâm mình mà ra.

Đến khi đọc “ Gươm báu trao tay “ của ông nói về kinh Kim Cang tôi càng thấy thấm thía :
“ ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”- đừng trụ tâm vào đâu cả.
Đó chính là gươm báu chặt đứt mọi phiền não.

Người ta khổ vì mong cầu không được, vì mất mát cái đang có, vì cảm thấy không bằng người này người kia… tất cả từ tâm mà ra. Ít ai chịu hiểu khổ đau hay hạnh phúc là do chính tâm mình quyết định, mình cảm thấy thế nào sẽ như thế đó.

Tôi chưa từng gặp bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nhưng chính ông đã đưa tôi thoát khỏi tâm bệnh, soi sáng những bài kinh tôi từng tụng niệm ở chùa mà không hiểu hết ý nghĩa vi diệu.
Ông viết rất nhẹ nhàng mà thâm sâu, gần gũi mà  bay bổng, dí dỏm mà thực tế.
Tôi đã đọc:
Cành mai sân trước,
Những người trẻ lạ lùng,
Thư viết cho người bận rộn,
Gió heo may đã về,
Cõi Phật đâu xa, thấp thoáng lời kinh Duy Ca Mật
Ngàn cánh sen xanh biếc thấp thoáng về Diệu Pháp Liên Hoa…

Mỗi cuốn sách là một kho tàng kiến thức, giúp tôi ngộ ra nhiều điều minh triết trong đời sống.

Tôi, một người đàn bà ít học, kiến thức hạn hẹp nên ít bám chấp vào lý thuyết nào. Có lẽ vì thế tôi nên dễ thấm, dễ tin, dễ ngộ.

Với những kiến thức thâu lượm được tôi hạnh phúc trong hiện tại và an trú trong hiện tại. Không mong cầu , không đau khổ…
Vạn vật cứ đổi thay theo thời gian, theo quy luật nên con người cũng nương theo quy luật của vũ trụ. Được, mất, hơn thua cũng chỉ thoáng qua, không có gì là mãi mãi.

…Bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta
Bên trời xanh mãi những nụ mầm mới
Để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười ( TCS)

Đoàn Thu Thuỷ (Fb).

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Bs ĐHN: “Tôi Học Phật” để ứng dụng vào đời sống.

27/06/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: “Tôi học Phật” để ứng dụng vào đời sống

Gặp gỡ & Đối thoại
NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI 27/06/2023 05:44 GMT+7
https://cuoituan.tuoitre.vn/bac-si-do-hong-ngoc-toi-hoc-phat-de-ung-dung-vao-doi-song-20230621075501768.htm

TTCT – Dưới góc nhìn của người thầy thuốc, học Phật để ứng dụng những gì cho sức khỏe con người?

Từ bể kiến thức học Phật mênh mang khôn cùng, trong tác phẩm Tôi học Phật gần 900 trang, BS Đỗ Hồng Ngọc kể về những trải nghiệm của ông trong hành trình tìm ra phương pháp “giải quyết vấn đề” một cách gần gũi, hiệu quả, với cách viết sáng sủa dễ hiểu. Ông có thể “kê đơn” cho người đọc áp dụng được những gì?

Trò chuyện cùng Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về cuốn sách mới: "tôi học phật" để ứng dụng vào đời sống - Ảnh 1.

(photo Trần Quốc Dũng, 16.6.2023)

“Rất lạ, tôi không định, nhưng rồi…”

Cuốn sách “khổng lồ”, ông viết nó thế nào ạ? Có tổng hợp từ những cuốn nhỏ trước đây, có cả phần tiếng Anh, vậy phần viết mới nhất là gì?

Đúng là từ năm 2001, cứ mỗi 5 năm tôi ra một cuốn sách, theo các vấn đề lớn đặt ra từ các kinh Phật. Từ Tâm Kinh, tôi viết cuốn Nghĩ từ trái tim để trả lời các câu hỏi đời sống (Why? Tại sao). Từ kinh Kim Cang, tôi viết cuốn Gươm báu trao tay (để trả lời câu hỏi How – Cách nào). Từ kinh Pháp Hoa, tôi viết Ngàn cánh sen xanh biếc (cho câu hỏi What – Cái gì, Who – Ai). Từ kinh Duy Ma Cật, là cuốn Cõi Phật đâu xa (cho câu hỏi Where – Ở đâu). Và từ kinh Hoa Nghiêm, tôi có nhiều bài bổ sung sau này.

Cuốn Tôi học Phật như một tổng tập được phát triển hoàn chỉnh. Và như có một sự dẫn dắt tâm linh, tôi nhận ra kinh Phật có một sự nối kết nhau liên tục. Điều đó giúp làm nên cấu trúc đường dây mạch lạc của cuốn sách, khiến nó trở nên dễ đọc. Tôi cho đó chính là đường dây “phương pháp sư phạm của Phật”.

Trò chuyện cùng Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về cuốn sách mới: "tôi học phật" để ứng dụng vào đời sống - Ảnh 2.

Trong kho kinh Phật khổng lồ, có rất nhiều khái niệm và từ gốc Hán, ông học cách nào cho dễ nhất?

Tôi tự học. Người “thầy gốc” chính là Thích Ca Mâu Ni Phật. Tất nhiên có các vị thầy khác, ai tôi cũng đọc, như thầy Nhất Hạnh, Thanh Từ, Viên Minh… Tôi học từ rất nhiều thầy, kể cả… tôi. Tôi học ở chính mình, một bác sĩ, vì y khoa là khoa học thực nghiệm.

Tôi học được gì ư? Học cách tiếp cận một cách khoa học. Học được cách trở về nương tựa ở chính mình. Phải thực hành, thực nghiệm trên chính mình rồi mới thấy được điều đúng. Trong kinh Kalama, Phật có nói: “Đừng vội tin ai cả, kể cả tôi. Hãy thực hành đi”. Phương pháp của Phật dạy sinh động trực tiếp theo sự sống của người học, giống như kiểu ngày nay ta nói “Lấy người học làm trung tâm”.

Nhưng ngày nay có hiện tượng người dân kêu ca kinh sách khó hiểu, nhiều người học, giảng khác nhau nên rất khó học?

Mỗi kinh tôi đọc tìm cốt lõi, so sánh với các suy diễn của nhiều người, tìm ra những quan niệm tưởng bí ẩn nhưng mình hiểu được nó giản dị và khoa học.

Thí dụ Bát Nhã Tâm Kinh có 600 cuốn, rút gọn còn vài trăm chữ, và cuối cùng tôi chỉ còn học một chữ “Không”. Dễ hiểu lầm chữ Không này là không có gì, mà thực ra vẫn có. “Có” này không do tự tính mà là do tác động của nhiều yếu tố (duyên sinh).

Tôi được biết đến một “hiện tượng đọc hiếm hoi” với sách của ông. Họ âm thầm ghi chép lại các bài viết của ông thành một tác phẩm đồ sộ rồi… tặng ông. Chuyện đó cụ thể thế nào ạ?

Đó là bạn Nguyễn Hiền Đức sống tại Mỹ. Lúc đầu, tôi tưởng anh gom góp từ trên mạng, nhưng anh đã đánh máy lại những cuốn sách của tôi mà anh ưa thích trong suốt nhiều năm. Thời buổi này, lạ thật! Anh nói đó cũng là cách anh học tập theo cách của riêng anh. Và sơ thảo cuốn Tôi học Phật này có phần trợ giúp của anh.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: "Tôi học Phật" để ứng dụng vào đời sống - Ảnh 3.

Học phật để ứng dụng trong cuộc sống

Có phải ông học Phật vì đạo Phật rất gần với y khoa?

Có nhiều ngành nghề nghiên cứu ứng dụng từ đạo Phật. Vì là một thầy thuốc, tôi rất quan tâm đến ứng dụng vào đời sống: Thiền định giúp ta an lạc, trí nhớ sáng suốt, lòng rộng mở (từ bi hỉ xả) có thể chữa được nhiều bệnh thời đại như căng thẳng, lo âu, trầm cảm và nhiều bệnh khác. Tỉnh thức (Thiền) là một phương pháp đối trị hiệu quả.

Càng ngày có nhiều nhà y sinh, tâm lý học hợp tác cùng các nhà sư, dùng những kỹ thuật mới như EEG, PET, fMRI… Sau nữa, tham vấn (counselling) ta học được các đức tính tôn trọng, chân thành, thấu cảm từ Bồ Tát Thường bất khinh, Dược vương, Quán Thế Âm.

Thầy thuốc dù chữa được đau – triệu chứng bệnh – nhưng không chữa được nguyên nhân (khổ là gốc sinh ra đau). Tôi nghĩ, mình học cách Phật chữa khổ. Hiểu được nguyên do của khổ (tham sân si), từ đó biết cách sống. Vừa phải thôi. Quá thì bị.

Vậy bác sĩ học Phật rồi ứng dụng đời sống, có thể rút ra như một công thức, kê một “đơn thuốc” cho người trung bình không học nhiều mà áp dụng được không?

Phật dạy và “cho đơn” rồi đó. Phật là “Y vương” mà. Chữa tham sân si bằng “thuốc”: Giới (tránh sát sinh, trộm cắp, nói dối, tà dâm, nghiện ngập), Định (thiền an lạc, thân tâm sáng suốt) và Tuệ (hiểu biết, hết vô minh). Y khoa chữa cái đau còn đạo Phật chữa được cái khổ, cái nguyên nhân.

Trong y khoa, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) có công thức SAFE, trong đó tránh hai thứ là S (Smoking) – không hút thuốc) và A (Alcohol – rượu), làm đúng hai thứ là F (Food – ăn đúng) và E (Exercise – luyện tập).

Thực tế người bệnh chỉ được thầy thuốc “dòm vài phút” gọi là khám rồi kê đơn, vậy “học Phật” rồi nhìn nhận hiện tượng đó thế nào ạ?

Đó chính là chuyện “Tham vấn” tôi nói ở trên, rất cần cho y khoa. Bác sĩ khám kiểu vài phút làm sao tìm hiểu bệnh nhân, nên không hiểu nguồn cơn. Tôi từng biết nhiều trường hợp bà mẹ đang cho con bú tự nhiên mất sữa, đi chữa chạy khắp nơi không khỏi. Tìm hiểu mới biết do chồng đi bồ bịch mặc kệ vợ mới sinh con, bà mẹ tức giận (mà tiết sữa là do hormone trong não tạo ra và co bóp) nay bị tắt, cắt đứt. Tâm ảnh hưởng đến thân.

Trường hợp nữa trong nhi khoa: con gái 7, 8 tuổi rồi bỗng… đái dầm. Cha mẹ đánh đập sỉ vả, em càng bị nặng thêm. Bác sĩ xét nghiệm tìm không ra. Lý do chính là mẹ mới sinh em trai, mừng quá, cả nhà xúm vào phục vụ bỏ bê con chị. Nó sốc. Đái dầm là phản ứng cơ thể muốn gây sự chú ý của ba mẹ. Tham vấn là lắng nghe thấu hiểu để phát hiện nguyên nhân tâm nó ảnh hưởng tới thân bệnh thế nào.

Thiền và thở là quan trọng nhất

Với thiền, trong sách ông kể về những bài tập hay từ kinh nghiệm của riêng mình. Ông từng trải qua bệnh nặng phải mổ não, đến hôm nay trông vẫn… khá. Hằng ngày ông giữ sức khỏe thế nào?

(Cười). Có bệnh gì không, tôi cũng…không biết nữa. Mỗi ngày tôi đều uống một liều thấp ngừa huyết áp, thiền 30 phút và thể dục 30 phút với động tác…tự chế cho phù hợp với mình. Xương sống như cây tre có vai trò quyết định nên các động tác tập trung vào xương, khớp. Tôi không ăn chay nhưng ăn rau, cá và ít thịt gà. Ăn uống nhẹ nhàng, sáng cà phê, yaourt, trưa ăn cơm đơn giản, chiều ăn nhẹ.

Học thiền thấy mấy lợi ích: thấy an lạc, có sức bền tốt, ăn ngủ, trí nhớ đều tốt hơn.

Vì sao trong nhiều triết thuyết tôn giáo, ông chọn học Phật?

Ngoài những yếu tố quan trọng của đạo Phật áp dụng tốt cho cuộc sống như đã nói trên, tôi có một số lý do cá nhân. Tôi được sinh ra ở Phan Thiết, nhà dưới chân núi Tà Cú có chùa đẹp Linh Sơn Trường Thọ Tự, nơi có ông thầy giỏi chữa khỏi bệnh mắt cho mẹ vua Tự Đức. Tôi hay lên chùa chơi ngắm nhiều cảnh đẹp. Lớn vô Sài Gòn học y khoa, đọc sách nhiều nhưng cũng chỉ để hiểu biết chứ chưa chiêm nghiệm.

Năm 1997 sau một lần bị bệnh nặng, tôi hiểu ra nếu mình “tu” sớm, sống không quá căng thẳng chắc không bị. Học Phật giúp tôi hiểu ra cách khác để an trú trong cuộc đời, bớt bệnh tật phiền não. Hiểu cuộc đời tự nó hiểm nguy bất an bất tuyệt nhưng cũng là hân hoan cực lạc, cho ta tự do khám phá sáng tạo. Hiểu khoa học chuyển hóa cái tâm…

Ông hay tự gọi vui mình là “ông 3 điều 4 chuyện” để làm diễn giả chuyển tải những chuyện cốt yếu theo cách dễ hiểu dễ nhớ cho các bạn trẻ. Cụ thể là gì vậy ạ?

Đó là những điều cần nhớ và dễ nhớ. Phật không là “thần linh ban phát” cho ta lạy lục xin xỏ, không là triết gia, làm phức tạp chuyện đơn giản. Phật là đạo sư chỉ đường cho giác ngộ làm cho con người mạnh lên. Phật nói điều bình thường của con người. Phật khuyến khích đừng tìm đâu xa, hãy dựa vào chính mình, những năng lực bình đẳng. (Ta là Phật đã thành. Chúng sinh là Phật sẽ thành). Học Phật cần hiểu các thuật ngữ và các ẩn dụ, ẩn nghĩa để tránh mê tín dị đoan.

Và điều quan trọng nhất trong học Phật là phải thực hành.

Một điều dễ nhớ nữa: thở là quan trọng nhất. Gốc tu luyện là thiền và thở. Cùng sống trong vũ trụ như nhau nhưng con người thở khác nhau. Luyện thở hoàn toàn khoa học. Và ăn gì, như thế nào để có đủ năng lượng mà không bệnh tật. Vì thế, sách tôi viết dưới dạng khoa học dễ hiểu, có trải nghiệm để ngẫm ngợi khi cần và chia sẻ với mọi người.

Xin cảm ơn ông.■

(*) NXB Tổng Hợp TP.HCM 2023.

Tiến sĩ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tốt nghiệp y khoa Đại học đường Sài Gòn năm 1969.

Ông tu nghiệp y tế công cộng tại ĐH Harvard (Mỹ) và CFES (Pháp) và là tác giả của hơn 40 đầu sách.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

Trâm Anh viết về Cha: “Cái máy bào chữ” thân thương

02/06/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Cái máy bào chữ” thân thương

Hổm rày, tôi đã soạn ra những tấm hình cũ của ông ngoại sắp nhỏ, lăn tăn mãi mà không biết bắt đầu viết về ba mình từ đâu. Tôi nhớ thường nhật, trừ giờ ăn sáng, ăn trưa, nghỉ trưa, vệ sinh cá nhân, ghi chép, xem ti vi, trò chuyện với con cháu hay tưới cây, ông sẽ cặm cụi đọc báo hay cuốn sách nào đó. Lúc Ba xuống Sài Gòn ở chơi nhà tôi hay xuống khám chữa bệnh cũng vậy, mà lúc ông sống ở quê nhà cũng vậy

Ba sắp xếp lại kệ sách giúp con gái
Ba sắp xếp lại kệ sách giúp con gái

Từ lúc sức khỏe và tuổi tác không cho phép Ba làm công việc của một kỹ sư nông nghiệp nữa, việc đọc trở thành một phần không thể thiếu trong quỹ thời gian của ông. Ông đọc đều đặn, say mê; mỏi mắt, mỏi lưng, tê chân thì tạm ngưng rồi lại đọc tiếp. Vì Ba cao tuổi, giao tiếp bạn bè ít dần, lại nói “không” với internet, nên đọc cũng là cách giúp Ba khuây khỏa. Nhờ đọc và giữ thói quen ghi chép, thể chất của ông dẫu hao mòn chứ “trí nhớ, sự minh mẫn thì còn ngon lành lắm”. Đó là lời bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc khen Ba trong dịp Ba Má tới dự buổi giao lưu với bác sĩ –  nhà thơ tuổi bát tuần bút hiệu Đỗ Nghê này tại hội quán Các Bà Mẹ (quận 1, TPHCM).

Ông sinh năm 1938, ở tuổi 85, Ba tôi chính là tấm gương, là “idol” và người truyền cảm hứng cho tôi về sở thích đọc sách. Hồi tôi học phổ thông, Ba đặt báo Khăn Quàng Đỏ, Mực Tím cho tôi hằng tuần. Tôi tin rằng, việc tôi từ năm lớp Năm đã thi học sinh giỏi văn cấp thị xã Buôn Ma Thuột, có thể học lớp chuyên văn suốt cấp II-III rồi viết truyện, làm thơ đăng lung tung, từ tỉnh lẻ khăn gói xuống Sài Gòn làm sinh viên ngành báo chí rồi trở thành phóng viên – biên tập… tất cả là nhờ hưởng gen trội của Ba (và xa hơn là ông nội tôi).

Tác giả và ba trước Bảo tàng Thiên Văn (Mỹ)
Tác giả và Ba trước Bảo tàng Thiên Văn (Mỹ)

Kỷ niệm tôi thích nhất hồi nhỏ là được ba chở ra nhà sách ở ngã sáu trung tâm, khi ông có thêm khoản tiền phụ cấp gì đó ngoài lương. Cái yên inox phía sau chiếc xe đạp cũ của ba luôn cẩn thận cột thêm cái áo mưa xếp gọn để tôi ngồi cho êm. Sách hồi đó ba mua cho, tôi còn giữ tới nay, dẫu cũ mèm, rách bìa hay lìa gáy.

Sau này Ba Má có cả chục đứa cháu, mỗi khi đi công tác hay du lịch, ông hay tìm tới nhà sách tại nơi đến, mua sách cho ông rồi chọn sách lịch sử, sách danh nhân, sách khám phá thiên nhiên… làm quà cho mấy đứa cháu nội, ngoại thích đọc hơn là đồ chơi. Ba không quên ghi ngày tháng và lời tặng bằng nét chữ rất đẹp của ông trên trang thứ hai của sách. Về khoản này, tôi cũng học từ ông vì tôi nhận ra, có nét chữ thân thương của người tặng, cuốn sách tự nhiên có hơi ấm và giá trị của nó sẽ càng bền bỉ theo thời gian.

Ba má cùng cháu ngoại trò chuyện với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tại hội quán Các Bà Mẹ sau buổi giao lưu về sách của bác sĩ
Ba Má cùng cháu ngoại trò chuyện với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

tại hội quán Các Bà Mẹ sau buổi giao lưu về sách của bác sĩ

Khi đi làm có tiền, tôi cũng thích gửi tặng sách cho ba đọc. Tôi nói đùa với sắp nhỏ: “Ông bà ngoại là cái máy bào chữ”. Song, phải khâm phục là Ba tôi đọc và nhớ rất kỹ chứ không phải kiểu đọc qua loa. Khi ông đọc báo hay tin tức trên ti vi cũng vậy; nên khi nói chuyện cùng ai, về vấn đề gì liên quan, ông đều có thể trích dẫn chính xác hay bình luận kèm quan điểm.

Trêu Ba là cái “máy bào” cho vui, thực sự tôi gửi trong đó cả chút hổ thẹn của đứa con từng gắn bó với nghề viết nhưng có một thời gian dù mua sách chất đầy, tôi không đọc xong cuốn nào cho ra hồn. Sau này, khi không làm công việc biên tập nữa, tôi lại đọc nhanh và thẩm thấu nhiều hơn.

Song nghĩ lại, tôi rất vui vì riêng khoản mua sách cho con cái là tôi không hà tiện. Tôi thích rủ rê, khích lệ con đọc từ lúc mới biết chữ. Tôi sẵn sàng mở hầu bao khi các con đề nghị mua sách. Tất nhiên, ngoài sách báo thì tuổi thơ của tôi còn có vô số bịch chè sương sâm, bánh cam, bắp luộc… Má mua cho mỗi khi đi chợ về hay những món tủ má thường nấu. Nhưng chè bánh của Má thì đã trở thành những ký ức tuổi thơ ngọt ngào, còn sách báo Ba mua thì trở thành một phần tư duy, tâm hồn của chính tôi hôm nay.

Ngô Thị Trâm Anh

(Phunuonline 30.5.2023)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Trang 5
  • Trang 6
  • Trang 7
  • Interim pages omitted …
  • Trang 43
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết
  • SÁCH SONG NGỮ: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace & Joy”
  • Bv Đại học Y Dược Tp HCM: Bs Đỗ Hồng Ngọc – Thiền và Sức Khỏe.
  • Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ
  • Tâm Nhiên: “DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email