Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

14/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thuyết trình về “Thiền và sức khỏe” tại Tu viện Khánh An

Tuệ An

Sáng ngày 12/8/2025, tại Tu viện Khánh An, đại chúng đã có cơ duyên lắng nghe buổi thuyết trình của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc với chủ đề “Thiền và Sức khỏe”.
Trước giờ thuyết giảng, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – một tên tuổi lớn trong y học và văn học Việt Nam đã có buổi gặp mặt thân tình với Thầy Viện chủ. Cùng chén trà thơm, Thầy và bác đã ân cần thăm hỏi nhau. Bác cũng trò chuyện chủ đề mà bác sẽ chia sẻ cùng đại chúng trong Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” kỳ này tại Tu viện.
Là một bác sĩ nhi khoa với hơn bốn thập niên kinh nghiệm, đồng thời là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng với bút danh Đỗ Nghê, ông đã cống hiến nhiều năm tại Bệnh viện Nhi Đồng và các trường đại học y khoa Saigon. Dù đã nghỉ hưu nhiều năm, ông vẫn tiếp tục sáng tác và xuất bản hơn 40 tác phẩm, để lại dấu ấn sâu sắc trong cả hai lĩnh vực về Phật giáo và y học.
Tại Pháp đường Chánh Niệm, bác đã có gần một giờ đồng hồ chia sẻ với 100 hành giả những kiến thức quý báu về cách chăm sóc sức khỏe thể chất lẫn tinh thần trong xã hội hiện đại. Đặc biệt, bác chú trọng đến huấn luyện hơi thở, giá trị của hơi thở bụng, giá trị của việc riêng tập hơi thở đi xuống đan điền; sau đó là trả lời thắc mắc của hành giả tham dự.
Buổi nói chuyện khép lại trong niềm hoan hỉ của chư hành giả khóa tu Xuất gia gieo duyên lần 5 tại Tu viện Khánh An.
Tuệ An
(Tu viện Khánh An)

Lâu ngày gặp lại Thầy Trí Chơn, Viện chủ…

 

Trò chuyện cùng các hành giả khoá tu “xuất gia gieo duyên”… với sự tham dự của quý thầy giáo thọ.

 

 

Sau buổi thuyết giảng ở Pháp đường chánh niệm, đã cùng các vị giáo thọ trẻ thăm hồ sen Khánh An, nơi mái chòi tranh quen thuộc mà tôi rất thích từ nhiều năm trước nơi này.

Tiếp tục trò chuyện thân tình cùng quý thầy trẻ trong một không gian yên ả giữa hồ sen ngát hương…

(ảnh Đỗ Hồng Ngọc, 12.8.2025)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Chủ nhật 10/08/2025: Có một buổi trò chuyện cùng Đỗ Hồng Ngọc ở Đường Sách.

04/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chủ nhật 10/08/2025:

Có một buổi trò chuyện cùng Đỗ Hồng Ngọc ở Đường Sách.

 

 

CHUYỆN HỒI ĐÓ
của Bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC

Tôi đã nhận được tập sách này đã một tháng nay do Bs. Ngọc riêng gởi, góc trang bìa sau ghi rõ Bản thảo 2025-Sách tặng, dày 930 trang. Tôi rất ngạc nhiên sao lại dừng ở chỗ “Bản thảo” nhưng vui vì thấy có lý, khi vừa nhận tin nhắn là sáng CN 10/8 này tại Đường Sách TP/HCM tổ chức ra mắt tập sách này và có buổi giao lưu của chính tác giả. Tôi càng tin mình nghĩ đúng, vì trước đó tôi đã coi đây với một nội dung không khác gì một tác phẩm Văn học đích thực. Và đúng vậy, Phanbook và Nxb Phụ Nữ nhạy bén đã thuyết phục được anh để chuyển qua xuất bản chính thức, dù còn 460 trang, để giới thiệu đến mọi người từng yêu mến Bs. Đỗ Hồng Ngọc qua trên 60 đầu sách đã xuất bản.

Đọc ở “Lời Ngỏ”, anh viết: “Tới một tuổi nào đó, người ta hay nói… chuyện “Hồi đó”. Và tiếp “mà chuyện gì Hồi Đó cũng hay, cũng đẹp, cũng ngon… hơn bây giờ”. Ồ, vậy là cái tựa tập sách Chuyện Hồi Đó không phải là Tập Hồi Ký, quá tinh tế, sâu sắc dù có nói về cuộc đời mình. Bs. ĐHN muốn tránh đặt “loại” cho tập sách này là Hồi ký đang lan tràn hiện nay… Anh coi đây là chuyện của mình -cũng đáng kể, đáng viết lại- Cái “Ngã” tích cóp to đùng 85 năm nay vậy. Cách phân trần dí dỏm nhưng đúng với tính cách khiêm nhường, chân thật của anh.

Tập sách (sơ thảo) gồm 7 chương và phần Phụ lục… Nội dung đã phản ánh những “cái đáng nhớ”, đáng trân trọng về bản thân, gia đình, bè bạn, quê hương… Những dấu ấn qua các tác phẩm văn học, những công trình nghiên cứu y học, Phật học… Đặc biệt, ở tập sách này đã hội tụ được những anh tài, trí thức học giả, nhà văn nổi tiếng đã nói về tác phẩm của anh… hiếm lắm!

Có thể nói Chuyện Hồi Đó, theo anh là những chuyện cũ, xưa, kể lại bởi một người có tuổi, già khú, có thể trong một buổi “trà dư tửu hậu” cùng bạn bè… hãy coi đây là một ghi chép (ký) theo thời gian. Bs. Ngọc vẫn băn khoăn dù danh chánh ngôn thuận tập sách đã có nhà xuất bàn làm bà đỡ là vui và tập sách xứng đáng với tư cách một tác phẩm, một công trình của một đời văn, một đời không mệt mỏi cho hoạt động khoa học…

*PHAN CHÍNH
La Gi – 6/8/2025

 

Vài cảm nghĩ về “Chuyện Hồi Đó” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Nhân ngày Ra Mắt Sách 10.8.2025 tại Đường Sách Tp.HCM) 

  • Thời gian có thể làm mờ nhiều thứ, nhưng lại khiến vài người, vài điều trở nên lấp lánh hơn. Có những mối duyên, càng lâu càng sâu và cũng có những câu chuyện, càng xưa càng đáng để kể lại. Nhất là những câu chuyện gắn liền với hành trình trưởng thành – những nơi đã đi qua, những người đã từng gặp, những nghề đã làm và cả những điều âm thầm đã góp phần tạo nên chúng ta của hiện tại.

Và đôi khi chúng ta chọn kể lại chuyện hồi đó không phải để níu giữ thời gian, mà như một cách để tri ân những điều đã nhận, những người đã tin yêu và đồng hành.

Và hôm nay, một buổi sáng cuối tuần đẹp trời chúng ta có dịp cùng nhau gặp gỡ và lắng nghe một vị bác sĩ, một người thầy, một nhà văn, người hành thiền đã đi qua hơn 85 năm cuộc đời kể về rất nhiều câu chuyện hồi đó đầy giá trị.

 

  • Hầu hết chúng ta đều biết đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ Nhi khoa có tiếng trong ngành, đồng thời cũng có một khoảng thời gian dài giảng dạy tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch TP.HCM.

Bên cạnh đó, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn là một cái tên quen thuộc với bạn đọc qua các đầu sách về sức khỏe, giáo dục, đời sống tinh thần như:          Viết cho những bà mẹ sinh con đầu lòng, Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, Già sao cho sướng? để có một tuổi già hạnh   phúc;  Thiền và sức khỏe; Một ngày kia … đến bờ; Buông; Khi người ta lớn; Ăn vóc học hay… Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chinh phục được mọi giới, mọi        lứa tuổi từ các em tuổi mực tím mộng mơ, sinh viên y khoa, các vị phụ huynh đến quý vị lão niên không chỉ bởi nội dung sách đa dạng mà trong         cách viết, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn nhẹ nhàng, hóm hỉnh, chân thành tạo cảm giác dễ chịu như một người bạn đang đối thoại trực tiếp với người  đọc.

Ở tuổi 85, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc một lần nữa trở lại cùng độc giả với tác phẩm mang tên Chuyện hồi đó. Cuốn sách không viết theo lối        hồi ký thông thường, mà tập hợp những câu chuyện bình dị, thấm đẫm chiêm nghiệm được chắt lọc qua năm tháng tác giả sống cùng văn học, y        học, Phật học và thiền định.

  • Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sẽ đưa độc giả theo từng trang sách về với những nơi ông đã từng đặt chân đến, những người đã từng gặp gỡ và trò chuyện, những điều đã được học và truyền dạy…

Trong cuốn sách này, ông dành hẳn một phần để nói về chuyện học nhưng không theo cách thông thường. Bác viết “Dạy để học” và “Đi để học”.         Hai cụm từ tưởng như đơn giản, mà thật ra là cả một quá trình khám phá: vì sao dạy lại là để học? Và bác đã “đi để học” như thế nào trong           hành trình làm nghề của mình?

Có lẽ, ở ngã rẽ chọn ngành nghề ban đầu,  người ta đều ít nhiều mang theo một chút mơ hồ, một chút tò mò, có người chọn nghề vì đam mê, có        người vì hoàn cảnh, cũng có người chỉ nhận ra ý nghĩa của con đường mình đi sau rất nhiều năm đã bước. Vậy ngày đó bác đã chọn và học              ngành y ra sao? Có khó khăn gì hay không? Và vì sao bác lại chọn khoa Nhi?

  • Bác giải thích thêm cho các độc giả về ý nghĩa của từ “Y đức” được không ạ? Và theo bác Y đạo – Y đức – Y thuật khác nhau như thế nào?  trong suốt nhiều năm làm nghề, bác không chỉ chữa bệnh mà còn rất kiên trì với một điều tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng nền tảng đó là thực hiện Chương trình Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu (Primary Health Care). Cụm từ này ngày nay được nhắc đến nhiều hơn, nhưng có lẽ không phải ai cũng hiểu đúng. Với bác, Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu thật sự là gì? Và bác đã từng góp phần làm gì để thực hiện cho chương trình này?
  • Có một câu nói nghe qua thì có vẻ nửa đùa nửa thật nhưng lại khiến người trong nghề y đôi khi phải ngẫm nghĩ: “Bác sĩ mà cũng bệnh à?” Ở vị trí là một bác sĩ, bác nghĩ thế nào về câu hỏi này? Và bác có thể chia sẻ thêm những trải nghiệm thực tế khi bác sĩ bệnh thì khác gì với mọi người?

Những tác phẩm của bác luôn cho thấy mối liên hệ bền chặt giữa nghề y và đời sống tinh thần. Vậy tất cả những trang viết về văn chương, thơ          ca, những bài học từ Thiền… có mối liên hệ như thế nào với nghề y của bác?

  • Có lẽ nhiều người từng là học sinh, sinh viên vào thập niên 80–90 vẫn còn nhớ một chuyên mục rất đặc biệt trên báo Mực Tím mang tên “Phòng mạch Mực Tím”. Ở đó, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc không chỉ là người giải đáp sức khỏe mà còn như một người bạn lớn nhẹ nhàng, thân tình. Thưa bác, cơ duyên nào đã đưa bác đến với chuyên mục đặc biệt này? Và trải nghiệm ấy đã để lại cho bác những điều gì đáng nhớ nhất không chỉ với tư cách một bác sĩ, mà còn là một người viết cho tuổi trẻ?
  • Bs Đỗ Hồng Ngọc không chỉ cầm ống nghe, mà còn cầm bút viết về sức khoẻ, về Phật học, về thi ca mà điều đặc biệt là dù viết gì, chữ của bác cũng khiến người ta thấy nhẹ lại, lắng lại, và đôi khi được “chữa lành”. Với bác, chữ nghĩa có phải cũng là một hình thức chữa lành không? Và bác bắt đầu hành trình viết như thế nào?

Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng ít nhất một lần tự hỏi: Giữa cuộc sống bộn bề và nhiều bất an này có hay không một con đường dẫn tới an             lạc? Là một người đã có quãng thời gian dài chiêm nghiệm từ y học đến Phật học, vậy theo bác liệu có một con đường an lạc thật sự? Và trong         nhịp sống hối hả ngày nay, bác nghĩ bước đầu tiên mỗi người có thể làm gì để tìm được sự an lạc, không chỉ cho thân mà còn cho tâm?

Hiện nay có một cụm từ thường hay được nhắc đến đó là “chữa lành”, đặc biệt là đối với người trẻ – những người thường xuyên đối diện với rất         nhiều áp lực và cần tìm kiếm các phương pháp “chữa lành” để hồi phục lại năng lượng cũng như tinh thần. Vậy theo bác có thể giúp “chữa lành”         cho người trẻ được hay không?

Là một người đã tự học, nghiên cứu, chiêm nghiệm và chia sẻ về đạo Phật rất nhiều. Vậy nếu trước một người muốn bớt đau khổ nhưng chưa           biết về đạo Phật, bác sẽ có lời khuyên như thế nào?

  • Tham dự buổi trò chuyện ngày hôm nay cũng có rất nhiều độc giả trẻ tuổi – những người đang trong hành trình chinh phục đam mê và sự nghiệp hay thậm chí cũng có rất nhiều người vẫn đang đi tìm niềm đam mê thật sự của mình. Điều đó đôi khi khiến người trẻ cảm thấy kiệt sức và hoang mang. Vậy bác có thể cho thế hệ trẻ một lời khuyên khi chọn và đi trên con đường nghề nghiệp của mình?

Những ai đã biết đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đều biết từ xưa đến tận bây giờ bác vẫn luôn cần mẫn và dành hết tâm huyết cho cả y học lẫn văn           chương và Phật pháp. Vậy bác có thể chia sẻ bí quyết để có thể cân bằng được nhiều việc như vậy không ạ?

Thảo Nguyên (theo Phanbook).

……………………………………

Vincent Ngô phỏng vấn Bs Đỗ Hồng Ngọc về cuốn sách mới: CHUYỆN HỒI ĐÓ

(Ghi chú: Vincent Ngô ở Úc về, hẹn Cafe với tôi ở Press Coffee Tp.HCM ngày 20.7.2025, lúc sách chưa kịp ra mắt. Buổi trò chuyện có ghi hình. Và anh mới gởi tôi clip video đặc biệt này do anh dàn dựng, thực hiện nhân dịp có buổi Ra Mắt Sách tại Đường Sách ngày 10.8.2025).

Cảm tạ Vincent Ngô.

Và xin chia sẻ đến bạn bè.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Đọc lại “Thư gởi người bận rộn”.

22/07/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 Thư gởi bạn xa xôi,

Minh Lê, người bạn trẻ xa xôi vừa gởi cho một bài mới viết còn nóng:

Đọc lại “Thư gởi người bận rộn”.

Vui ghê! Hơn 15 năm rồi đó, kể từ ngày cuốn Thư Gởi Người Bận Rộn ra mắt, và đã được tái bản liên tục nhiều lần. Rồi im re. Thời đã khác. Thế đã khác. Người “bận rộn” đã khác, hay chẳng còn ai bận rộn nữa! Ai cũng vui thú an nhàn rồi chăng?

Mình gởi thêm cho bạn một đoạn Lời Ngỏ của cuốn sách xưa và kèm bài “Chữ Nhàn” coi lại cho vui nha.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Tài bản lần thứ tư, 2010

Đọc lại: “Thư gửi người bận rộn”

Minh Lê (NT)

Bạn thân mến,
Bắt chước Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tôi cũng thầm tưởng tượng ra hình ảnh một doanh nhân trung niên, hay thanh niên vì thời nay người trẻ lập nghiệp sớm khá nhiều, hiểu biết và đam mê kinh doanh nên rất là bận rộn. Nhiệm vụ của tôi là “bán” được cho bạn cuốn Thư gởi người bận rộn của ông bác sĩ kiêm văn sĩ trên.
Chắc bạn đang cười mỉm, “Đã bảo bận rộn thì sao có thì giờ đọc thư?” Vậy là bạn bị trúng ngay cái bẫy của ông bác sĩ luôn cười tủm tỉm kia rồi, vì hai bài đầu tiên trong Thư viết về “nhàn” và “không có thì giờ”. Ổng không phải doanh nhân, nhưng đã từng cực kỳ bận rộn tới một ngày ổng… vô cấp cứu, nên coi bộ ổng dễ dàng “đi guốc trong bụng” những người bận rộn. Ổng “đi guốc” kiểu nào, thì bạn đọc đi rồi coi đúng không nha.
Chưa hết đâu, ông bác sĩ còn bàn luận sang chuyện khó nói như rối loạn dương cương, và vài bệnh thời đại như mất ngủ, bệnh giả (sợ bệnh quá mà sinh bệnh), v.v. Ổng còn đi lo chuyện trời ơi như lo người bận rộn “không ăn vì đói, vì ngon, vì vui mà vì để giao tiếp, để làm việc, để tranh luận, thương thảo” (bài “Hột mít lùi tro”) Rồi ổng lo người bận rộn không có thì giờ gần gũi con, cho con đầy đủ vật chất nhưng để mặc con tự lớn thành… con hư hồi nào không hay. (“Cũng không phải là chuyện dễ!”)
Và dĩ nhiên, ổng là bác sĩ nên tránh sao khỏi chuyện… kê toa thuốc. Toa gì đây? Bạn nhớ đọc bài “Cái rún của vũ trụ…” và “Êm chậm sâu đều…” nha. Ông bác sĩ nói về một chuyện đơn giản nhứt, thiết thân nhứt mỗi ngày mà ta thường dễ dàng quên béng đi mất. Quà tặng kèm là bài “Khúc khích trên lưng…”. Cười rất quan trọng đó, hỡi người bạn doanh nhân của tôi ơi, hãy tự hỏi mình xem mỗi ngày bạn cười một cách thoải mái và chân thật được bao nhiêu lần?
Ai lo lắng chuyện khó nói thì đọc “Bò, tại sao điên?” và “Rối loạn…”, có lẽ cả “Thầy trò Đường tăng…”. Đọc “Bò, tại sao điên?”, tôi không thể không cười khúc khích một mình. Thừa nhận, tôi đang “cười trên nỗi đau của người khác”, nhưng muôn sự là tại ông bác sĩ nói chuyện “tế nhị” một cách quá hài hước và dí dỏm. “Rối loạn…” và “Thầy trò Đường tăng” là hai khía cạnh khác nhau của vấn đề, lúc “không được” thì cần làm gì và lúc “được quá” cũng nên nhớ gì.
Muốn trị “bệnh giả”, đọc “Tùy hỷ!”, “Chích một phát!”, “Những người biết quá nhiều…”, “Safe”. Thông tin về bệnh tật và thuốc giờ tràn lan trên mạng, ngoài khía cạnh tích cực cũng làm nhiều người tự lo lắng, nghi mình bị bệnh này kia. Đi khám bệnh dĩ nhiên lòi ra một đống bệnh, trong đó đa số là “bệnh thời đại” như mỡ máu, tiểu đường, huyết áp cao, v.v. Vậy là uống thuốc, ăn kiêng, lo lắng triền miên. Người bận rộn ngày nay không thiếu tiền để lo cho sức khỏe, nhưng lo cách nào cho đúng và làm sao phòng chữa bệnh đúng cách thì sao không thử nghe ông Bác sĩ?
Làm cha mẹ thời nay là việc khá đau đầu so với vài chục năm trước. “Cũng không phải là chuyện dễ” bàn chuyện “mê đắm thần tượng” của tuổi mới lớn. “Canh cánh bên lòng” cố vấn về giáo dục giới tính cho con. “Nói “không” hổng dễ!” phân tích tâm lý con trẻ trước những cám dỗ và thói quen xấu. Vừa là người cha vừa có kinh nghiệm làm truyền thông giáo dục sức khỏe nhiều năm, người viết cứ vậy tâm sự với người đọc một cách nhẹ nhàng mà thấm thía.
Ông Bác sĩ còn “tài lanh” nhắc nhẹ bạn về cách chăm sóc cha mẹ ở tuổi già bằng “Một bông hồng cho những ai…” và “Chẳng cũng khoái ư?” Ai quan tâm tới vấn đề này nên đọc thêm cuốn Gió heo may đã về và Già ơi chào bạn, cả hai cuốn này tôi đều đã giới thiệu với bạn trước đây rồi đó.
Thực ra Thư gởi người bận rộn không chỉ dành cho doanh nhân, mà còn cho cả người rảnh rỗi. Ờ, rảnh quá nên mới quan tâm chuyện “Cắt nghĩa tình yêu?”, từ “làm sao cắt nghĩa được tình yêu” (Xuân Diệu) của vài chục năm trước, tới “tình bạn là tô hủ tiếu, tình yêu là tô bún riêu” của một tác giả hiện đại không biết tên. Đến “Chời ơi! áo dzài…” bình loạn về lễ hội áo dài ở Huế, “Đứa con của nàng Kiều” nghe mà… giật mình, và nhiều bài khác.
Cuối cùng, tôi cực kỳ tâm đắc với nhận xét của Bác sĩ về doanh nhân trong bài “Những người lãng mạn”: “Khác với nhà thơ lãng mạn để mà lãng mạn, nhà doanh nghiệp có khả năng biến lãng mạn thành hiện thực”. Đúng vậy, một doanh nhân có đam mê, có nghị lực, “biết làm ăn mà cũng biết hưởng nhàn, biết giữ gìn sức khỏe, không xa hoa lãng phí, không kiêu căng ngạo mạn, lại có lòng thương người, giúp đời” (“Giấy ngắn tình dài…”) ắt sẽ là người vừa đọc “Thư” vừa cười tủm tỉm, trách ông bác sĩ khéo lo xa… Nhưng trước hết, bạn phải có sách để đọc đã, đúng không?
Thân mến,
Minh Lê

………………………………………………………..

Trích Thay lời ngỏ Thư gởi người bận rộn

Tôi là một kẻ làm biếng, lại hành cái nghề mà ông tổ là cụ Hải thựơng Lãn ông, ông già lười ở làng Hải Thương, vậy mà bỗng trở thành một người bận rộn lúc nào không hay!
Số là ông bạn nhà báo của tôi, ông Trần Trọng Thức, một hôm gõ cửa bảo: “Nghe nói ông sắp về hưu, rỗi rãnh, viết cái gì đó cho báo Doanh nhân Saigon Cuối tuần cho vui đi”!

Nghe “doanh nhân” tôi đã hoảng vì cái sự bận rộn của họ. Biết ý, ông cười: Đây là “Doanh nhân cuối tuần”, không phải chuyện làm ăn đâu! Viết cái gì cũng đựơc, miễn là cà kê dê ngỗng.có hơi hướm sức khỏe một chút… là đựơc! Tôi bèn tra tự điển: cà kê, có nghĩa là dài dòng, hết chuyện này sang chuyện khác, còn dê ngỗng thì ai cũng biết! Thôi thì nể bạn…

Tôi nhớ André Maurois, người mà tôi rất mến mộ đã từng víết Lettres à l’inconnue (Thư gởi người đàn bà không quen biết, Bản dịch Nguyễn Hiến Lê) bằng cách tưởng tượng ra một người phụ nữ xinh đẹp, tuổi khoảng ba mươi, có nhan sắc, thông minh và nhạy cảm… để ông viết mỗi tuần một bức thư gởi cho người trong… mộng, trao đổi về mọi thứ chuyện trên đời. Tôi thử bắt chước tạo ra cái mục Thư gởi người bận rộn, lấy ý từ chữ “business”, là ‘bận rộn’ xem sao. Và tôi cũng tưởng tượng ra người bận rộn của tôi. Nghĩ gì viết đó. Cà kê dê ngỗng mà. Nhưng viết chỉ được ít lâu thì hết chuyện.

Nhớ hồi xưa có đọc một cái truyện ngắn đâu đó kể một người cô đơn, cả đời không ai thèm viết thư cho mình, thấy bạn bè ai cũng có thư đọc mà giận, bèn mỗi ngày tự viết cho mình một bức, đem ra bưu điện gởi về địa chỉ với tên mình đàng hoàng, rồi cũng ung dung mở thư ra đọc, tủm tỉm cười một mình khoái trá…Tôi lại bắt chước anh ta mỗi tuần viết cho mình một bức thư như vậy. Chẳng ngờ đựơc độc giả khen, nói cà kê dê ngỗng mà coi cũng được! Từ đó tôi trở thành một ngừơi bận rộn…Thứ Tư nào cũng phải nộp cho tòa sọan một bức thư bất kể trời mưa hay nắng! Mà độc giả mới dễ thương làm sao…

………………….

Chữ “NHÀN”

Chữ NHÀN là chữ làm sao! Nguyễn Công Trứ đã kêu lên như vậy, từ mấy trăm năm trước. Kêu chứ không phải hỏi. Bởi vì trước đó ông đã giải thích rõ ràng rồi: Thị tại môn tiền náo/ Nguyệt lai môn hạ nhàn. Chợ ở cửa trước thì “náo”, còn trăng vào cửa sau thì “nhàn”. Thế thôi! Không biết ai là người đầu tiên đã nghĩ ra một định nghĩa đơn giản mà thâm thúy đến vậy qua cách viết tượng hình của chữ Hán: giữa chữ môn mà có chữ thị thì thành náo, còn giữa chữ môn mà có chữ nguyệt thì thành nhàn. Thời buổi “thị trường” toàn cầu hóa như chúng ta đang sống hiện nay thì chợ ở tứ phía, ở ngay trong nhà cũng có chợ chen vào, cho nên không dễ mà tìm một chút ánh trăng qua cửa sổ! Ở các nước Âu Mỹ, workmania là một thứ bệnh “điên vì mê làm việc” đến nỗi tình trạng tâm thần, tự tử, tim mạch… ngày càng tăng. Ở Châu Á, bệnh karoshi chẳng hạn, một thứ bệnh dịch do làm việc quá nhiều, quá sức, làm như điên, đến nỗi sinh nhiều biến chứng và gây cả tử vong như chúng ta từng nghe thấy ở một số doanh nhân Nhật và đang lan ra nhiều nước. Liên Hiệp Quốc đưa “quyền nhàn tản” vào trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền để khuyến khích người ta nghỉ ngơi mà chả ai thèm nghe! Nghe sao được, nhàn hay không là ở mỗi người chứ. Bắt người ta làm việc, cưỡng bức lao động thì dễ chớ ai nỡ bắt người ta nhàn, khi người ta muốn được “bận rộn”!
Thực ra nhàn cũng có nhiều cách: có cách nhàn nhã, có cách nhàn hùng hục. Nhàn nào cũng tốt, miễn là đừng quá. Nguyễn Công Trứ ưa kiểu nhàn “Gót tiên đeo đủng đỉnh một đôi dì. Bụt cũng nực cười ông ngất ngưỡng.” Một đôi dì “đeo” thì sợ khó mà đủng đỉnh, khó mà ngất ngưỡng. Rồi ông còn ganh tị với Tô Đông Pha, đời Tống, hơn ngàn năm trước: “Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất. Để ông Tô riêng một thú thanh tao!” Chẳng qua là ông Tô đi chơi thuyền trên sông, ngắm trăng với vài người bạn, đánh cờ, làm thơ xướng họa, dĩ nhiên là cũng có vài… người mẫu đi theo mài mực, rót trà! Ta bây giờ thỉnh thoảng cũng đi thuyền rồng trên sông Hương, có đàn có sáo…, có tiếng ca tiếng hát náo nhiệt, thuyền ngược thuyền xuôi tấp nập đó thôi. Nhưng cài nhàn của ta là nhàn ồn, không phải nhàn nhã! Sau một ngày vất vả, “người bận rộn” nào cũng sẵn sàng xách vợt ra sân làm vài ván tennis. Cởi veston cà vạt ra, mặc áo pull quần short vào, chạy ngược chạy xuôi hùng hục, toát mồ hôi hột, chẳng phải cũng là nhàn ư? Nhưng cái đó là nhàn… hùng hục. Nhàn nhã là phải có “nguyệt lai môn hạ” kìa. Vì thế mà Trịnh Công Sơn mới có bài Nguyệt ca rất dễ thương: “Từ khi trăng là nguyệt cho tôi bóng mát thật là”. “Thật là” sao thì anh không nói rõ nhưng chắc chắn anh đã có được sự nhàn nhã “thật là”, chẳng thua gì ông Tô ngày xưa. Nhưng sau đó anh thật thà thú thiệt: “Từ khi trăng là nguyệt, tôi như từng cánh diều vui. Từ khi em là nguyệt, trong tôi có những mặt trời!” Thì ra cũng tại em thôi. Tại em là nguyệt mà trăng của tôi đã biến thành những mặt trời nóng bức, nhễ nhại, vất vả, bận rộn đó thôi. Lúc đó hẳn nhạc sĩ cũng đã kêu lên: chữ nhàn là chữ làm sao!

Đỗ Hồng Ngọc
(2010)

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

22/05/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Nhân đọc bản thảo Chuyện Hồi Đó)

Minh Lê (Nha Trang)

 

  1. Trong bài thơ “Xin cám ơn, cám ơn” viết sau cơn bạo bệnh năm 1997, anh viết:

“Đã bao lâu ta không sống với mình

Ta có ta mà quên ta phứt.”

 “Ta quên ta” là sao, và có gì liên hệ với lời dạy của Phật không?

 

Tôi sinh đẻ ở Phan Thiết. Nhà bà Ngoại dưới chân núi Tà Cú, nơi có chùa Linh Sơn Trường Thọ Tự, nên hồi nhỏ xíu ba bốn tuổi đã được Bamá, cậu, dì… cõng lên chùa chơi thường xuyên… Trong nhiều năm học hành rồi làm việc, quả thật tôi không nhớ tới tôi, tôi chỉ nhớ công việc ở khoa cấp cứu Nhà thương Nhi Đồng Saigon, chương trình Săn sóc Sức khoẻ Ban đầu… Sau đó làm công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ, phòng chống sốt xuất huyết, viêm ruột hoại tử, não mô cầu… rồi phòng chống HIV/ AIDS…, quả thật tôi quên phứt tôi, đến một hôm người ta khiên tôi vào cấp cứu, mổ sọ não vì tai biến… Khi tỉnh lại, rồi bước được những bước như một em bé, biết nghe, biết nói… tôi viết bài thơ Xin cảm ơn, cám ơn này trong bệnh viện.

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Như cỏ cây trước cơn bão dữ
Như con thuyền tung hê lên vách núi cao
Cho ta trở về làm con thú hoang sơ
Trần truồng như nhộng
Kẻ cạo đầu người lột da
Kẻ đục sọ người giúp thở
Kẻ đặt ống sonde vào đường tiểu
Người bơm thuốc qua dịch truyền
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Không lý trí không nghĩ suy không toan tính

(…)

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc
Cho ta trở lại với mình
Ta muốn ôm hôn tất cả mọi người
Và ôm hôn ta nữa
Cái đầu trọc lóc bình vôi
Hai lỗ thủng và mười tám vết khâu từ ái
Ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở
Lắng nghe sự sống cục cựa trong mình.

(…)

Phật dạy phải quay về nương tựa chính mình. Phải từ bi với mình rồi mới từ bi với người. Đừng bao giờ để phải kêu lên: “đã bao lâu ta không sống với mình/ ta có ta mà quên ta phứt…”

  1. Anh viết trong Chuyện Hồi Đó muốn có an lạc chỉ cần làm “3 điều 4 chuyện”. Tất cả đều hay, chỉ riêng phần “hiểu thuật ngữ, ẩn dụ” có cần thiết không?

Rất cần thiết. “3 điều 4 chuyện” là cách đơn giản nhất để hiểu và thực hành lời Phật dạy, mang đến sự An Lạc cho nếp sống vui, sống khoẻ, tránh mê tín dị đoan… Cho đến nay, nhiều người vẫn hiểu lầm về những từ “chúng sanh”, “niết bàn”… Vì ngôn ngữ trong Phật học đa dạng… Phật còn dạy “y nghĩa bất y ngữ”. Nói vậy mà không phải vậy đâu! Khi thuyết giảng xong Kim Cang Bát- Nhã, đệ tử hỏi Thế Tôn, tên kinh này là gì. Phật nói: Kim Cang Bát-Nhã balamật. À, nói Kim Cang Bát- Nhã Balamật thiệt ra không phải Kim Cang Bát- Nhã Ba-la-mật, chỉ tạm gọi vậy thôi. Ấy là để khuyên ta đừng bám chấp. Thí dụ, nói Chúng sanh không phải là chúng sanh, nói Niết bàn không phải là niết bàn…  Còn “ẩn dụ” thì càng cần hiểu rõ, nếu không thì dễ mê tín dị đoan. Như niệm  Quan Thế Âm Bồ tát giúp làm cạn cơn lũ dữ, làm tắt ngọn lửa to. Tưởng thiệt thì nguy!

  1. Người đa tài ắt đa tình (ý của Giáo sư Cao Huy Thuần). Đa tình có thể hiểu thế nào theo anh? Làm sao để vừa “đa tình” mà tâm vẫn an?

Một người từ bi… luôn là một người đa tình đó. Từ bi với mình và từ bi với người. Trong Phật học còn có “Vô duyên từ” nghĩa là chẳng có lý do gì để mà “từ” cả! Chẳng phải người ta có thể từ với hòn đá cuội (ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau– Trịnh Công Sơn) đó sao? Hay từ với một cánh chim bay (Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh? Ngoài hư không có dấu chim bay. Tuệ Sỹ)…  Văn chương không thiếu:  “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Thế Lữ), “Có nghĩa gì đâu một buổi chiều, nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu…” (Xuân Diệu). Kẻ đa tình vậy đó. Đa tình mà tâm vẫn an… có lẽ bởi đó là một thứ tình thương bao la hoặc một thứ tình yêu “tỉnh thức”, không bị vùi đắm trong đam mê, vị kỷ.

  1. Anh viết về cách Phật dạy con. Tại sao bài học đầu tiên La- Hầu- La được học lại là cách thở?

Chớ sao? Thở chẳng phải là việc làm đầu tiên của đứa bé sơ sinh vừa rời bụng mẹ sao? Trong bụng mẹ, chưa cần thở. Tiếng khóc chào đời là một nhịp thở đầu tiên của kiếp người. Lớn lên, ta thường quên cách thở. Rồi khi ta thở cà hước, thở cà giựt… mới tiếc hồi nhỏ không học thở. Thở tưởng của ta mà không phải của ta… Thở ở ngoài ta. Thở cóc cần ta. Thở vốn tự động, do áp suất trong phổi mà khí tuôn vào hay tuôn ra. Nó gắn liền với cảm xúc. Điều tức (là điều chỉnh, kiểm soát hơi thở) thì sẽ  “điều” được tâm. Muốn tâm an thì phải học cách điều tức là vậy. Phật mất nhiều năm tu thiền vất vả, nhịn thở, nhịn ăn mà không thành công. Nhớ lại một lần còn nhỏ theo phụ thân coi Lễ Tịch điền tự dưng thấy thân thể nhẹ nhàng, lâng lâng, như không còn hơi thở nào nữa, hoá ra đó mới thực là thiền. Cái đó, trong Nam Hoa Kinh gọi là “Toạ Vong”…  “ngồi yên, biến mất”. Không để ý gì chuyện thở hay không thở nữa. Cái đó chính là tứ thiền “xả niệm thanh tịnh” rồi đó. Khi còn niệm thì không thanh tịnh nổi đâu. Dù cho đã có hỷ có lạc.  Cho nên Lục tổ Huệ Năng lấy Vô niệm làm tông là rất đúng. Các kinh sách dạy thiền có thể phân tách từng bước, từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền…  Thực tế, các thiền sư thiện xảo ngồi xuống, ngay hơi thở đầu tiên đã có thể vào định sâu được rồi. Càng theo dõi, càng chia cắt, càng dính mắc, lúng túng. Ở tứ thiền đã gần như không cần thở nữa. Có thể vào diệt thọ tưởng định, mà không cần qua các tầng thiền vô sắc.

  1. Trong thời đại ngày nay, “khẩu không chỉ là lời nói trực tiếp mà còn là những status trên mạng Internet”, cả các comment nữa. Làm sao để phân biệt “khẩu thiện” và “khẩu ác” trên mạng?

Đó chính là lúc phải quay về nương tựa chính mình. Coi lại mình đã bị “rung động” thế nào, đã bị “xao xuyến” thế nào rồi? Tốt nhất lúc đó nhớ lại câu Đà-la-ni trong Kinh Kim Cang: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm!) thì may ra mới thoát.  Status, comments… nào làm cho ta sanh tâm chạy theo những cảm xúc đó, bị lôi cuốn vào cảm xúc đó, như khi bị dụ dỗ kiểu thực phẩm giúp trẻ mãi không già, xinh đẹp như xưa, “ lương cao việc nhẹ”… thì thế nào cũng sụp bẫy.  Tóm lại, vì lòng tham mà không đạt thì sân (giận), thiệt ra cũng bởi vì Si, nghĩa là mê, là say, là ngu. Đáng đời. Ráng chịu. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

  1. Anh có thể giải thích một cách dễ hiểu về “duyên sinh” không?

Hiểu được “duyên sinh” thì hiểu được Bát- Nhã, trang bị cho mình được cái gọi là “viên thành thật tánh”, một cái tánh sáng suốt, không bị che mắt, không bị dẫn dụ bởi bên ngoài nữa… Dẫn dụ bằng cái gì? Bằng cái danh, bằng cái tướng. Cái “danh” thì rỗn rảng, cái danh thì kêu to, chớp loà, khiến ta tưởng thiệt, tưởng bỡ. Y như con “thiêu thân” bị dụ bởi ánh đèn. Những danh, những tướng đẹp đẽ,  hấp dẫn khiến ta dễ dính mắc gọi là “biến kế sở chấp”,  là “y tha khởi”…

Duyên? Là những “điều kiện”. Có thể lấy một ví dụ đơn giản, với 3 phân tử Carbone (C), Hydrogèn (H), Oxygèn (O)… riêng lẻ thì không sao, tự dưng có cái men (điều kiện) gì đó tác động vô, thành đường glucose C6H12O6 ngọt ngào; nếu gặp cái men khác, cũng 3 món đó lại thành rượu (C2H5OH) cay đắng, rồi với men khác nữa lại thành giấm (CH3COOH) chua chát… Những ngọt ngào, cay đắng, chua chát đó trong đời sống hàng ngày của ta chẳng phải là do “duyên” gì đó sao?. Rồi những RNA, DNA… kết hợp với nhau mà ra vi rus, vi khuẩn, khủng long, con người… Toàn là “duyên sinh” đó thôi.

Lý Duyên Sinh Duyên Khởi là cốt lõi của Phật giáo: cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không… Thập nhị nhân duyên, 12 nối kết, từ Vô minh sinh hành, hành sinh thức, thức sinh danh sắc, lục nhập… Nếu hiểu rõ con đường duyên sinh này – như một tiến trình tâm- từ ý thức đến hành động, cảm nhận, rồi “ái thủ hữu”, ta có thể “can thiệp” từng bước để cải thiện tiến trình duyên sinh của tâm, và… giải thoát nếu chấm dứt Vô minh. Có thể nói, hiểu được Duyên sinh, duyên khởi, ta hiểu nghiệp, luân hồi, nhân quả…

  1. “Vô thường” là gì?

Vô thường là… thường! Đúng vậy, một cánh hoa đào rực rỡ đẹp tươi bỗng tàn héo dần, ai cũng thấy mới đó mà đã đổi thay, một sự “vô thường” không thể chối cãi. Thế nhưng, thử nhìn một cách khác. Những cánh hoa tàn úa đó cứ mãi mãi còn, cứ mãi mãi ở đó và tàn úa… thì tội nghiệp quá. Nó phải được đổi thay chớ. Nó phải được làm mới. Nó phải được rực rỡ đẹp tươi chớ. Cách nào? Thì “tiết mùa” sẽ giúp. Không hẹn mà đến/ không chờ mà đi/ bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta…(TCS). Và những cánh hoa đào theo tiết theo mùa kia vẫn mãi mãi rực rỡ đẹp tươi, chưa bao giờ tàn úa. Chàng thi sĩ một hôm dừng chân bên song cửa, thấy cô nàng xinh đẹp bên đoá hoa đào, năm nay trở lại, những đoá hoa kia vẫn còn rực rỡ đẹp tươi, mà cô gái xinh kia đâu rồi, không thấy nữa. Mọi thứ vô thường quá. Nhưng những cánh hoa đào rực rỡ thì đang cười chàng: “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Cái “tiếu” đó mới vui làm sao! Hoa cười nhạo chàng thi sĩ ngờ nghệch. Cho nên nếu nhìn bằng con mắt Như Lai, hẳn đã thấy năm nào hoa cũng nở dưới gió đông này, vẫn rực rỡ tươi vui như thế. Còn người đẹp kia ư? Thì hết Dương quý phi có Bao Tự, hết Bao tự còn Chiêu quân… Có gì là vô thường đâu. Nhìn bằng con mắt Như Lai, thì làm gì có vô thường phải không?

  1. Người sinh ra ai cũng có cái tôi (ngã), vậy “vô ngã” là sao?

Cái mà ta tưởng là Ngã đó, nó từ nhiều thứ mà ráp nối lại (Ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức), có cái gì riêng có thực tánh của nó đâu.  Ta thử hít vào một hơi sâu, thật sâu, không được. Nó bắt ta phải thở ra. Ta thở ra thật dài, dài nữa. Không được. Nó bắt ta phải hít vào. Chuyện thở ra hít vào hàng ngày của ta mà ta cũng chẳng làm chủ nó được. Vậy có cái ta không? Nếu ta tưởng thiệt có cái ta thì ta sẽ khổ đau, vất và vì nó. Còn biết nó vô ngã, ta sống với cái vô ngã đó, chẳng phải hết khổ đau ư? Cho nên khi còn khổ đau, chưa “thấy biết” (giác ngộ) Phật dạy Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, Bất tịnh… Khi đã thấu hiểu rồi, ta thấy Thường, Lạc, Ngã, Tịnh đó thôi. Phât là y vương, khi nguời ta bệnh hoạn, khổ đau, cho mấy thứ thuốc chữa triệu chứng, ráng nuốt. Khi hết bệnh không cần uống thuốc nữa. Phật nói ví như người say thấy đất đai nhà cửa cây cối ngả nghiêng, lúc tỉnh ra thấy đất đai bằng phẳng, nhà cửa cây cối… tĩnh yên. Cái “thấy biết” đó giúp ta cỡi bỏ khổ đau, thấy được an lạc.

  1. Phật là một Y vương. Chỉ cách phòng bệnh, lại chỉ ra nguyên nhân bệnh và cách trị bệnh. Bệnh ở đây chính là khổ đau. Anh có thể tóm tắt nguyên nhân, đơn thuốc và cách phòng bệnh của Phật không?

Đúng, Phật là bậc Y vương, chữa được cả đau và khổ. Khác với bác sĩ, lương y, thường chỉ chữa được cái đau, cái bệnh… Mà ta biết, Khổ mới là cái gốc của đau, của bệnh. Bênh thân và bệnh tâm. Khổ phát sinh từ Tham sân và si. Nhưng tham sân si cũng chỉ là triệu chứng. Căn nguyên là Vô minh. Từ vô minh mà sinh hành, thức, danh sắc… có thể nói là con đường  sinh bệnh học, sinh lý bệnh học.  Lục phủ ngũ tạng quấn quít lấy nhau. Chỉ cần “chiếu kiến ngũ uẩn giai Không” (Tâm Kinh) thì đã thoát được vô minh, tức khắc “độ nhứt thiết khổ ách”. Phật “chế” ra nhiều thứ “thuốc”, tuỳ căn cơ người bệnh mà “cho toa” sao cho phù hợp. “Sanh, bệnh, lão, tử”… có lẽ là nỗi khổ, nỗi lo lớn nhất của kiếp người. Khổ vì sanh ư? Đã có vị Phật tên là Bảo sanh (Ratnasambhava) đây rồi, giúp sanh đẻ an toàn, Khổ vì bệnh ư? Đã có vị Phật là Dược sư (Bhaisajyaguru)  cho thuốc. Khổ vì già ư? Có vị Phật Asucbệ (Asobhya), còn gọi Phật bất động, an nhàn. Khổ vì chết ư? Có vị Phật A Di Đà (Amitabha) rước về Tịnh độ… Vô số các vị “thuốc” để chữa vô số các bệnh khổ. Con đường phòng bệnh khổ chỉ cần gom lại trong Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tính tấn, chánh niệm, chánh định.  Thực hiện được Bát chánh đạo thì  An vui và Hạnh phúc.  Trong Bát chánh đạo, cũng chỉ cần một thứ thuốc cốt loĩ: Chánh định. Có chánh định thì có chánh kiến, chánh tư duy… Có chánh định thì thấy “Vô tướng thực tướng” thấy Như Lai.

  1. Anh có thể giải thích và cho ví dụ về “Từ Bi Hỷ Xả”? Sao lại cần “Từ Bi Hỷ Xả”?

Nếu không Từ Bi Hỷ Xả thì ta cứ sống với lòng Sân hận, oán thù, ganh ghét, ghim gút… “Thù trả chưa xong đầu đã bạc!”. Từ là lòng Thương. Biết thương.Còn thương… Thí dụ “còn thương rau đắng mọc sau hè”! Cọng rau mà còn thương được thì lòng thảnh thơi biết bao. Lấy oán báo oán/ oán oán chồng chất/ lấy đức báo oán oán tiêu vong… Bi là làm vơi khổ. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Nếu chỉ biết thương thôi mà không có cách gì làm cho bớt khổ thì không đủ. Cho nên Từ đi với Bi là vậy. Hỷ là cái vui theo người. Khó. Người vui thì ta ganh ghét dễ hơn. Còn vui theo kiểu đãi bôi, nịnh bợ thì càng hại người. Xả là buông bỏ, là không còn dính mắc. Từ bi hỷ xả là Tứ vô lượng tâm. Mênh mông, không ngằn mé. Được chút mừng chút.

  1. Có người tiếp cận Đạo Phật như một tôn giáo, có người lại coi là môt triết lý sống. Theo anh, cách nào đúng?

Trong cuộc sống bình thường, ta cần có một “triết lý sống”, tìm kiếm một cuộc sống an lạc, hạnh phúc. Chúng ta có thể thực hành Giới Định Huệ để giảm trừ Tham sân si. Chỉ cần giữ ngũ giới, có thể là đã đủ. Không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không nghiện ngập… Và nếu được, Từ Bi Hỷ Xả. Nhưng con người còn có phần tâm linh. Chưa biết hết, chưa hiểu hết được. Dân gian gọi “ba hồn chín vía”. Các nhà xã hội học tìm thấy có những đứa trẻ sống trong rừng sâu, không hề biết đến con người, khoảng tám tuổi bỗng đặt mấy cục đá xếp thành tầng cao, rồi quỳ lạy, cầu nguyện. Cái gì vậy? Không biết. Có cái gì đó thuốc về “tâm linh”…

  1. Theo cách anh hiểu về Đạo Phật, sau cái chết có còn linh hồn không? Linh hồn đó sẽ làm gì, đi về đâu?

Phật giáo không nói về “Linh hồn”. “Linh hồn” là vĩnh cửu, trường tồn, không thay đổi gắn vào thể xác, và cái chết là tách rời thể xác với linh hồn. Thiện, được vào nước Thiên đàng vĩnh viễn; Ác, thì vào địa ngục vĩnh viễn. Phật giáo không tin có một Đấng Tạo hoá quyết định việc ban thưởng hay trừng phạt. Phật giáo cho rằng mọi thứ do Duyên sinh. Một kẻ làm ác, ở địa ngục, có thể trở thành nguời Thiện, lên làm người, làm Phật. Một người ở cõi thiên, có thể bị đoạ xuống địa ngục vì làm Ác . Quan niệm này cho con người một Tự do tuyệt đối. Cho nên Phật giáo chỉ nói “Thần thức” là phần tách khỏi thể xác khi chết, tuỳ nghiệp duyên mà tái sanh.

  1. Anh từng nói “trái tim nghĩ bằng tình, khối óc nghĩ bằng lý”. Phật pháp là tình hay lý?

Phật lúc nào cũng có hai vị Đại Bồ-tát đứng hai bên. Bên trái là Văn Thù Bồ-tát, cưỡi sư tử, tay cầm kiếm báu. Tiếng sư tử rống lên thì muôn thú đều khiếp vía. Vung gươm báu thì chặt đứt phiền não. Còn bên phải là Phổ Hiền Bồ-tát, cưỡi voi 6 ngà và tay cầm đoá hoa sen… Voi mới đủ sức chở nặng giáo pháp đến giúp chúng sanh. Voi 6 ngà tượng trưng cho 6 phương pháp giúp thành tựu trên con đường học Phật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ. Đó là ”Lục độ Balamật”.  Thú vị, khoa học biết rõ hai bán cầu não mỗi bên chịu trách nhiệm một thứ: bện trái, lý; bên phải tình.Nặng một bên sẽ không đạt kết quả tốt. Ngày nay khoa học não bộ cũng thấy hai bán cầu não có khả năng nối kết được với nhau.

  1. Theo Đạo Phật, con người sinh ra trên đời để làm gì?

Có người nói sinh ra trên đời để… chết? Có người bảo sinh ra trên đời để… sống? Có người nói “bất sinh bất diệt”, không có sống có chết gì cả!

Nhưnng có lẽ người ta sinh ra trên đời là để “trả” cái Nghiệp của mình. Nghiệp phát xuất từ Thân, Khẩu,Ý, nhiều kiếp sống đã tạo nên, đã tích luỹ. Có Nghiệp thiện và nghiệp ác. Có thể coi nghiệp là nhân sẽ sinh ra quả. Nhưng từ nhân mà sinh quả, phải có duyên. Không có duyên thì hạt giống  tốt cũng bị huỷ hoại đi. Duyên là những điều kiện tác động để nghiệp thành quả.  Hiểu Duyên sinh thì hiểu luân hồi, tái sinh, nhân quả là vậy…

Thật ra có nhiều câu hỏi Phật cũng bảo không nên trả lời. Một người bị tên, phải cứu chữa ngay cái đau của họ, đừng hỏi ai bắn mủi tên này, tại sao bắn, bắn để làm gì… vô ích.

  1. Trước một người muốn bớt đau khổ nhưng chưa biết về đạo Phật, anh sẽ cho lời khuyên gì?

Có khi không cần phải khuyên gì cả. Khuyên cũng chẳng ai nghe. Đau khổ của mỗi người do nghiệp do duyên của họ. Họ phải được trải nghiệm. Tự rút ra bài học. Tuy nhiên cũng có khi Phật cho lời khuyên như chuyện một bà mẹ có con bệnh chết, bà đau khổ cùng cực, muốn chết theo. Có người khuyên tìm Phật xin phương thuốc cứu con sống lại. Phật khuyên bà đi vào từng nhà trong làng, hỏi nhà nào xưa nay chưa từng có ai chết thì xin môt nắm tro trong bếp, mang về Phật sẽ chỉ cách làm thuốc cứu con. Bà đi nhiều năm tháng, hết làng này sang làng khác, không tìm thấy nhà nào không từng có người chết nên trở về lạy Phật xin quy y. Nếu ngay từ đầu Phật bảo “Ai mà chả chết, nhà nào chả có người chết, đừng buồn đau nữa…” liệu có khuyên được bà mẹ đó không?

  1. Anh viết: “Một hôm hơi thở tình cờ / Dính vào hạt bụi thành ra của mình.” Có ngụ ý gì liên quan đến Phật pháp trong câu này không?

Có đó chớ. Nhưng phải đọc luôn hai câu đầu: “Lắng nghe hơi thở của mình/ Mới hay ra hơi thở đã nghìn năm xưa…”  Nếu ta biết nhìn bằng con mắt ngàn năm, ta thấy trên Hy mã lạp sơn vốn xưa kia là biển, nay vẫn còn muối và các vỏ sò ở đó. Còn dưới đáy biển sâu kia, những thành phố đang chìm trong nước… Từ khi có loài người trên quả địa cầu ta đang sống này đã có bao nhiêu nugời đã chết? Họ chỉ để lại những hạt bụi đó thôi. Trong Phật giáo cũng có một thứ Ấn gọi là “Ấn điạ xúc” rất hay. Khi nổi cơn giận dữ, ta đưa ngón tay ấn vào trong đất, sẽ hết giận ngay vì nhớ ra rằng ta chính là hạt bụi trong đất này thôi. Kẻ thù ta cũng vậy. Hơi thở mà “tình cờ” dính vào hạt bụi thì lại do duyên. Hai chị em Thuý Kiều Thuý Vân, cùng cha cùng mẹ, vậy mà hai kiếp sống khác nhau đế ngàn sau đoạn trường đó thôi?

  1. Anh khuyến khích mọi người nên sống “ở đây và bây giờ”. Anh có thể lấy ví dụ cụ thể không?

Tôi đang khuyến khích mình đó chớ. Nếu biết sống “Ở đây” và “Bây giờ” thì hẳn đã là hạnh phúc. Có điều hết tiếc dĩ vãng thì mơ tương lai… Tiếng Anh có một từ hay: Present là “có mặt”, Present là “hiện tại” và Present cũng có nghĩa là món quà. Đó là món quà dành cho người có mặt ở thời… hiện tại. Còn ta cứ mãi loay hoay…

  1. Nói về chuyện ăn, anh viết: “Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ cái bao tử “

Ăn là một chuyện “lớn” không thua gì thở. Vì thức ăn kết hợp với hơi thở tạo nên năng lượng cho ta hoạt động hàng ngày. Năng lượng đó được tạo ra từ trong mỗi tế bào. Mỗi tế bào có Mitochondria (Ty thể) là nhà máy sản xuất năng lượng. Phật nói về thức ăn của thể chất và thức ăn của tâm hồn. Thực ra, thức ăn của thể chất cũng là thức ăn của tâm hồn đó chớ! Tàn Dà nói: Đồ ăn ngon, người ngồi ăn không ngon, không ngon. Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, không ngon. Cái chuyện ngon không ngon là chuyện tâm hồn phải không. Ăn là một vấn đế… văn hoá. Nhiều món quý chỗ này thì chỗ kia chê, không biết ăn. Camembert của Pháp. Mắm Bò hốc của Kampuchia. Mắm ruốc, mắm sặc ở ta… Món bánh căn nghèo của Phan Rang, Phan Thiết chẳng phải là món ngon nhứt sao? Nhiều bạn bè tóc bác phơ, ở nước ngoài về thăm quê bao giờ cũng đòi ăn cho được mấy món “nhà quê” đó.

  1. Theo anh, có thể có những giây phút “giác ngộ” trong đời sống thường nhật không?

Có chớ. Và thường nữa. Có điều ta không ghi nhận và duy trì nên nó tự xoá đi. Ta làm vỡ một cái chén sứ đẹp. Tiếc quá, sực nhớ cái chén đó làm từ gốm và… gốm thì trở về với đất để chờ làm cái chén sứ khác. Thấy cánh hoa tàn úa, tiếc quá, phải chi nó cứ mãi đẹp như thế. Ta thấy ta… già đí, tiếc quá, phải chi cứ còn trẻ mãi. Mà quên nghĩ rằng cánh hoa phải tàn đi để tạo nên một cánh hoa khác rực rỡ, đẹp đẽ hơn. Ta phải… già đi để con cháu ta có cơ hội lớn lên, nếu không… Cái đó là cái “Thấy biết của Phật” (Phật trí kiến). Vì ta cũng có Phật tánh, có Pháp thân như Phật nên ta cũng thấy biết chút chút, khác với Phật chỗ ngài thấy biết hoàn toàn, “toàn giác”. Phật không chỉ thấy biết gốm sứ từ đất, thuỷ tinh từ cát… nên bể cái gốm sứ, vỡ ly thuỷ tinh Phật cười còn ta khóc. Thiệt ra Phật thấy rõ, tất cả đều đến từ vô tướng, nên cái ta thấy, ta có, chỉ là cái giả tướng, cái thực tướng mong manh đó thôi, nó vô thường, vô ngã. Khi ta thấy vô tướng thực tướng thì ta đã thấy… Như Lai.  Người khéo tu hành, luôn an nhiên, tự tại. Rồi đến một tuổi nào đó, ta không muốn giác cũng giác, không muốn ngộ cũng ngộ… đó thôi!

  1. “Chữa lành” là một trong những từ đang được nhắc nhiều nhất trên mạng, đặc biệt với người trẻ. Đạo Phật có thể chữa lành cho người trẻ không?

Được quá đi chớ! Nhưng “người trẻ” đã mắc phải bệnh gì mà muốn “chữa lành”? Bệnh thì có bệnh thể chất, bệnh tâm thần và bệnh xã hội… Về thể chất, nói chung, người trẻ thường là người khoẻ mạnh, ít đau ốm bệnh hoạn như người… già. Thế nhưng nguời trẻ thường nhìn người hàng xóm, thấy họ cao ráo, vai u thịt bắp, lực lưỡng, bèn đi cắt xương ống chân, nâng cao thêm vài tấc, tập thể lực và dùng thuốc cường cơ cho thịt săn cứng lại khoe 6 múi… thì chữa không lành được. Cô gái yểu điệu thục nữ, giờ muốn giống hoa hậu, bơm mông, nơm vú, độn chỗ này, xẻ chỗ kia để bằng bè bạn… chữa lành hổng nổi! Tóm lại, cũng chỉ vì lòng tham, muốn, ganh tị… mà ra! Khi không đạt được mong muốn, thì sân hận, căm thù… Sửa mũi thì mũi xẹp, sửa mắt thì mắt mờ. Đại khái, họ không chấp nhận mình là mình. Cho nên suy gẫm cuộc đời với biết bao nhiêu khổ đau… Phật gom lại chỉ có 3 nguyên nhân chánh: Tham- sân- si. Con đường an lạc chính là Giới- định- huệ. Giới thì giảm lòng tham, lành bệnh tham, Định thì giảm lòng sân và Huệ thi… hết vô minh. Ít nhất dòm qua cũng biết cái đẹp hào nháng kia, cái đẹp mơ ước kia là của giả, độn thôi, có khi là vài túi nước muối, nhẹ tay coi chừng vỡ. Chỉ có cách tự mình chữa cho mình thôi. Gặp thầy thuốc không tốt, thầy sẽ dọa thêm cho tăng nỗi lo âu, tốn kém. Gặp thầy tu bất hảo thầy sẽ hù thêm cho sợ hãi… Căng thẳng, lo âu, sợ hãi… dẫn đến trầm cảm, khó mà lành nổi. Nếu hiểu biết, chấp nhận mình, sống không đua đòi, ganh tị, hoà hợp với thên nhiên, xã hội thì không chữa cũng lành. Các nhà khoa học khuyến khích người trẻ nên sống gần gũi với thiên nhien, thiểu dục tri túc, thực tập 3 thứ: Thể dục, trí dục, đức dục như người xưa dạy, và tìm cho mình một chút giải khuây: cầm, kỳ, thi, hoạ… có thể từ đó mà an nhiên, tự tại, không chữa cũng lành!

  1. Lòng tin vào nhân quả đôi khi khá trừu tượng. Khi một người sống tốt nhưng lại luôn gặp bất công, họ rất dễ mất lòng tin.

Nhân quả có thể thay đổi. Nhân quả do nghiệp, do duyên.  Án Anh đi sứ nước Sở nhớ không? Cây quít ngọt ở Giang Nam, đem trồng ở Giang Bắc thì sinh trái chua… Ấy là do thổ nhưỡng, do chăm sóc, tưới tẩm của con người. Nghiệp cũng có thể thay đổi. Cách sống của ta ngay ở đây và bây giờ là do ta quyết định, ta tự do chọn lựa. Phật giáo tin vào con người. “Tánh Phật”có  ở mỗi người.

  1. Tại sao muốn sống an lạc cần có cả trí tuệ và từ bi?

“Từ” là lòng Thương. “Bi” là giúp giảm khổ. “Từ năng dữ lạc. Bi năng bạt khổ”. Không chỉ phải có lòng thương rộng lớn, không phân biệt, mà còn phải có cách cứu giúp, làm cho vơi bớt khổ đau. Tình thương có thể an ủi, làm vui, nhưng vẫn không  giảm được khổ. Từ bi mà không có trí tuệ còn dễ bị mắc bẫy, bị gạt gẫm. Thời buổi này càng cần phải cảnh giác. Nên phải có Trí Tuệ đi với Từ Bi. Quan Thế Âm Bồ- tát có ngàn tay ngàn mắt, trong mỗi bàn tay đều có một con mắt là thế!

  1. Đức Phật là một vị thánh toàn năng, hay cũng là người thường như chúng ta?

Phật không phải thánh, không phải thần. Phật là người… thường như chúng ta, có điều, Phật là ngưới đã giác ngộ rốt ráo, đã “thấy biết” toàn diện (Tri kiến Phật), chớ không loay hoay như  ta… Ta cũng có Phật tánh. Cho nên Phật bảo “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Ai cũng sẽ là Phật cả, nếu giác ngộ, giải thoát. Kinh Pháp Hoa chỉ có một mục đích là “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Tri kiến Phật”. Khai thị là “mở ra, bày ra cho thấy”. Thấy cái gì? Thấy cái “Tri kiến Phật”, tức là cái thấy cái biết của Phật. Đó là cái thấy biết “Vô tướng thực tướng”, thấy biết Như Lai.

  1. Có cần niệm Phật hay tụng kinh mỗi ngày không, hay chỉ cần thiền và thở đúng thôi, để có an lạc?

Niệm Phật là một cách tốt nhắc nhở ta một tấm gương để noi theo. Nhưng niệm Phật cũng là cách để tâm không vướng bận những thứ linh tinh khác. Niệm có nghĩa là đặt tâm vào ngay thời điểm hiện tại, quên đi tất cả chung quanh, phiền não các thứ, từ thân đến tâm… Cho nên có pháp môn Niệm Phật. Tụng kinh cũng vậy. Tâp trung vào kinh, vào “tụng” thì không còn vướng bận những thứ khác. Vậy tụng kinh, niệm Phật cũng là những pháp môn. Nhưng với Kinh, còn cần phải hiểu, phải thực hành. Nếu không, dễ tẩu hoả nhập ma vì mê tín, tưởng Phật là thánh thần mà cầu xin, lạy lục. Thiền sư Như Huyễn (năm nay 98 tuổi) có bài thơ  “Thay lời Phật” thú vị như sau: Ta nói kinh cho chúng nó nghe/ Chẳng ngờ chúng “tụng” bắt ta nghe/ Tuổi già tám chục nghe gì nữa! Chín tiếng ngồi trân sụm bánh chè! (Thich Từ Thông, Như Huyễn Thiền Sư Thi Tập). Học kinh phải hiểu để ứng dụng vào đời sống, chớ không chỉ “tụng” rồi cầu Phật chứng giám, ban phước !

  1. Không ăn chay có thể có an lạc không?

Ăn chay để làm gì? Phật đâu có ăn chay. Phật ăn gì cũng được. Thí chủ cho gì ăn nấy. Đi khất thực mà. Không lẽ đi khất thực mà nói tôi chỉ ăn chay thôi. Chắc dễ bị đói. Nhưng Phật chỉ khất thực vừa đủ… và ăn bất cứ thứ gì trong bình bát khất thực cũng là “ăn chay” cả đó thôi.

Phật dạy có 4 nhóm thức ăn là Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực. Bốn nhóm thức ăn đó chỉ có Đoàn thực dành cho thân, còn Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực dành cho tâm. “Xúc thực” đáng sợ, nhất là thời đại AI, internet … Với cái điện thoại thông minh trên tay, mỗi ngày ta “xúc thực” biết bao nhiêu điều, cả tôt lẫn xấu, tràn ngập trong tâm trí. Ta căng thẳng, ta mất ăn mất ngủ… Tư niệm thực là những món nhớ nghĩ triền miên, quay cuồng đầu óc, với những lo âu, oán trách, căm thù, sợ hãi… Rồi Thức thực mới là món ăn đáng sợ nhất, đó là phân biệt, là tranh cãi, là hơn thua, là đấu đá… là chiến tranh một mất một còn…

  1. Anh có thể giải thích lý do Phật chọn năm giới căn bản cho Phật tử không? Giữ năm giới này thì được lợi lạc gì?

Lợi lạc nhiều chớ. Không sát sanh. Không trộm cắp. Không nói dối. Không tà dâm, Không nghiện ngập… Chừng đó đã đủ cho một nếp sống An lạc, Hạnh phúc cho một kiếp người. Bão lũ, động đất, núi lửa, sóng thần… chưa đủ sao mà con người còn tự gây chiến tranh khắp nơi với những thứ vũ khí ngày càng ghê gớm. Cái ăn của con người cũng vậy, sát sanh ngày càng nhiều.  Không trộm cắp ư? Tham nhũng là một dạng trộm cắp kinh khủng nhất. Một dạng tạo nghiệp lớn nhất. Không nói dối? Thử xem… “Quân tử nhứt ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tủ khôn”! Fake news, deep fakes… phổ biến, phát triển mạnh mẽ. Không nghiện ngập ư? Xưa chỉ nói đến rượu, bây giờ thì nghiện đủ thứ, ngày càng nguy hiểm độc hại. Thực hiện được phần nào trong năm giới là tốt phần đó. Từ ngũ giới còn tiến lên “thập thiện” là 10 điều lành.  Không chỉ không sát sanh mà còn “dưỡng sanh”. Bảo vệ môi trường. Chống biến đổi khí hậu…; Không chỉ không trộm cắp mà còn “bố thí”- bố thí “balamật” tốt nhất vì không có tính toán lợi dụng trong đó.  Không nói dối, mà còn nói lời chánh ngữ, ái ngữ…

  1. Phật có nói một Kinh tên là “Người biết sống một mình”. Cái tên Kinh rất lạ! Anh có thể nói đôi điều về kinh này không?

Sống một mình tưởng là sống một mình mà không phải một mình. Nhiều người cũng thường sống một mình, thậm chí trốn lên núi cao rừng thẩm mà không thể sống  một mình được. Bởi tâm họ không sao thoát được những hình bóng khác, những chuyện đã qua và luôn tràn ngập những chuyện sắp tới. Họ buồn, họ tiếc, họ vẽ vời… Nói chung, là “bấn xúc xích” với những lo âu, phiền muộn, sợ hãi, yêu thương, ước vọng, hờn oán… “Người biết sống một mình” thực sự như trong Kinh Phật dạy là biết sống “Ở đây và bây giờ”, không ước vọng tương lai, không tiếc nuối quá khứ… Sống được như thế thì lòng mới thanh thản, mới “một mình” được vậy. Bằng cách nào ư? Có đó. Con đường Thiền mở rộng trước mắt.

 Đỗ Hồng Ngọc – Minh Lê (Nha Trang)

16.5.2025

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Thư gởi bạn xa xôi

18/04/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Một buổi Trò chuyên tại Chùa Xá Lợi 

Thứ bảy 12/4/25 vừa rồi, nhân Ngày Giỗ Cụ Mai Thọ Truyền (1905-1973), Ban Phật học Chùa Xá Lợi mời mình trao đổi một chút về “Vai trò người Cư sĩ hộ pháp trong thời đại truyền thông 4.0”.

Đề tài khó nhằn quá. Mình lại già cả rồi, chỉ muốn tránh xa những “thảo luận” này nọ, nhất là thời đại Truyền thông đang “khủng hoảng” như nay. Nhưng cũng không thể từ chối vì các bạn đều biết mình xưa từng làm ở Trung tâm Truyền thông & Giáo dục sức khoẻ… Thời gian cho mình chỉ có 45 phút, dành thì giờ cho Lễ tưởng niệm Cụ Mai Thọ Truyền nên… cũng đỡ vất vả!

Không ngờ mà cũng khá đông.

 

Em Nguyễn Van Quyền cũng đã chịu khó thu clip.

Cảm ơn Quyền, Anh Thư và các bạn…

 

 

Sau buổi Nói chuyện, cũng đã có vài phản hồi… Xin được chia sẻ.

Dương Minh Trí

Trong chủ đề buổi nói chuyện, có ba từ khóa chính: Cư sĩ, hộ pháp và thời đại truyền thông 4.0. Hai khái niệm đầu nói chung ý nghĩa không có gì thay đôi, còn khái niệm thứ 3 là mới  –  nó đã được Bác Ngọc giải thích khá rõ nghĩa và vẻ sơ đồ ra trên bảng bao gồm các thành phần sender, receiver, channel, feedback, noise … Tôi muốn nói vài ý về sơ đồ này:

  1. Sender gửi thông tin cho receiver thì đến lượt receiver này trở thành sender mới và lại gửi thông tin đi tiếp đến receiver mới … Vòng lặp này được lặp lại liên tục, kết quả là thông tin được lan truyền với tốc độ chóng mặt và đi khắp mọi nơi. Quá trình này có thể dẫn đến sự lan tỏa tích cực (thông điệp tốt) hoặc sự méo mó, sai lêch (tin giả, tam sao thất bản).

Trường hợp nếu nội dung liên quan đến giáo lý nhà Phật và không đúng chánh pháp, thì tà pháp phát tán khắp nơi.

  1. Một feedback được phản hồi từ receiver ngược trở về sender. Nếu feedback này là lời phê phán, chỉ trích, miệt thị, công kích thì sao nhỉ? Phần nhiều Sender cũng sẽ nổi giận đáp trả lại cũng với y chang lời feedback trên. Thế là thị phi sẽ lan truyền trên mạng xã hội với tốc độ ánh sáng.

Người cư sĩ hộ pháp nếu chưa có đạo lực cao dễ bị nóng giận, phản ứng theo cảm xúc, rồi bị lôi cuốn vào thị phi này. Hóa ra chưa “độ” được người đã bị người “độ” lại.

  1. Thông tin được truyền từ sender sang receiver qua một channel (sóng radio, internet …). Một hacker có thể xâm nhập vào chanel, chặn tin nhắn, nghe lén, thay đổi nội dung và lại truyền đi. Đây gọi là hiện tượng nhiễu (noise). Kết quả thông tin bị bóp méo, sai lệch được lan truyền.

Trường hợp một bài giảng chánh pháp nếu rơi vào hiện tượng này thì có thể trở thành tà pháp (bị thay đổi ác ý). Từ đó có thể làm mất niềm tin vào Phật pháp trong cộng đồng mạng.

Thời đại truyền thông 4.0 mang lại nhiều cơ hội cho người hộ pháp ngoài những hình thức hộ pháp truyền thống, nhưng cũng có rất nhiều thách thức mới được đặt ra.

Trước khi đóng vai trò “cư sĩ hộ pháp”, nên là một “cư sĩ” sống tốt với văn – tư – tu đã.

4. Trong buổi nói chuyện, Bác Ngọc có nhắc đến một khái niệm “Tâm truyền tâm” – một cách truyền đạt chân lý trong Thiền Tông giữa thầy (sender) và trò (receiver) thông qua trực nhận chứ không thông qua lời nói, văn tự. Một giai thoại nổi tiếng thể hiện cách truyền này là câu chuyện “Niêm hoa vi tiếu” – Đức Phật giơ cành hoa lên và Ngài Ca Diếp mĩm cười.

Tạm gọi “Tâm truyền tâm” cũng là một cách truyền thông. Như vậy channel trong trường hợp này là gì? Đó chỉ là một ánh mắt, nụ cười, cử chỉ nào đó của sender và cái vi diệu là receiver vẫn hiểu đúng điều thầy muốn khai ngộ. Đây là một dạng truyền thông thuần khiết, không nhiễu loạn, không hiểu lầm. Vì sao?

– “Tâm truyền tâm” không đi qua ngôn ngữ hay khái niệm, nên không bị giới hạn bởi từ ngữ mập mờ, cách hiểu khác biệt.

– Khi tâm của người truyền hoàn toàn thanh tịnh, định tĩnh, giác ngộ, và tâm người nhận trống rỗng, cởi mở, sẵn sàng đón nhận, thì sự tiếp xúc tâm linh ấy xảy ra trực tiếp, không qua trung gian suy nghĩ → không nhiễu, không hiểu sai.

Tuy nhiên, đó là nói trong trường hợp lý tưởng, còn trong thực tế thì sao? Nếu tâm người nhận chưa tĩnh, còn thành kiến, loạn động, vọng tưởng thì vẫn có thể hiểu sai điều thầy muốn truyền đạt.

 

Lăng Lệ Mai

Giữa ngày trăng tròn tháng ba, trong tinh thần “ẩm thủy tư nguyên” – uống nước nhớ nguồn, chúng con trở về Chùa Xá Lợi, thành kính dâng nén tâm hương tưởng niệm 52 năm ngày Ngài Chánh Trí – Mai Thọ Truyền về với Phật . Dẫu thời gian đã hơn nửa thế kỷ, nhưng ân đức và dấu ấn tuệ giác của Ngài vẫn còn đó – thâm trầm mà sáng tỏ giữa lòng người học Phật.

Sau lễ tưởng niệm, chúng con hữu duyên được tham dự buổi pháp thoại nhẹ nhàng mà sâu sắc của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – Bác, một bậc hiền trí, một người thầy mà chúng con kính quý từ lâu. Trong không khí trang nghiêm, Bác chia sẻ về những ân nghĩa sâu dày mà Ngài Chánh Trí để lại, như một đóa sen chưa từng rời khỏi bùn, luôn tỏa hương ngát giữa cuộc đời đầy biến động.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã chạm đến thứ cảm xúc rất thật rằng: thời đại 4.0 là thời đại mà “cả thế giới nằm gọn trong lòng bàn tay”. Một cái chạm màn hình có thể mở ra vô số thông tin, nhưng cũng dễ khiến lòng người dao động. Bác kể, mỗi ngày nhận cả trăm email, nhưng chỉ giữ lại vài cái để đọc, còn lại là phải… xoá. Vì có những dòng tưởng như sâu sắc, nhưng lại chỉ là sự giận dữ, thị phi và nhiễu loạn. Giữa bối cảnh truyền thông bùng nổ, Bác nhấn mạnh: người cư sĩ phải biết tự hộ trì chính mình, tự mình gìn giữ chánh niệm, tự mình học hỏi Phật pháp, đặc biệt phải biết phân biệt giữa chánh pháp và tà kiến. Bác nhắc: “Hộ pháp bây giờ là phải dám chống lại các hiện tượng mê tín dị đoan – những thứ đang lan truyền ngày càng mạnh mẽ qua mạng xã hội, qua AI, qua những lời đường mật mà thiếu căn cứ đạo lý”.

Điều khiến chúng con đặc biệt tâm đắc là khi Bác dẫn lại lời Phật dạy về bốn loại thức ăn: đoàn thực (thức ăn vật chất), xúc thực (cảm thọ từ xúc chạm), tư niệm thực (ý nghĩ và mơ ước), và thức thực (nhận thức, tâm thức). Để từ đó nhắc nhở mỗi chúng ta cần chánh niệm trong từng bữa ăn, từng xúc cảm, từng dòng suy nghĩ, và cả trong từng nhận thức mỗi ngày. Chỉ có như thế, ta mới có thể sống an và không gieo thêm lo âu cho chính mình và người khác.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng nhắc lại lời chư Tổ: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” – không trụ vào đâu cả, không cố chấp vào một hình thức nào, để khỏi sinh tâm tham, sân, si giữa thời đại vốn dễ khiến con người đánh mất chính mình. Đó là bài học lớn, nhất là với người hộ pháp – cần giữ tâm không dính mắc, nhưng không buông lơi.

Nhớ lúc còn thuở bé , chúng con đã đọc “Mực Tím” và say mê với những bài viết tuổi mới lớn của Bác. Rồi lớn lên, chúng con lại gặp Bác trong những trang sách “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”, “Gió heo may đã về”, “Thư gửi người bận rộn”, “Biết ơn mình”, ”Ngàn cánh sen xanh biếc”… mỗi cuốn sách là một đóa hoa thiện lành thật dễ thương trong khu vườn tâm linh đang lớn dần theo năm tháng đời người.

Hạnh phúc hơn, khi gần một thập niên nay, chúng con lại có duyên được gần gũi, hầu chuyện và học hỏi trực tiếp với Bác. Ở Bác luôn toát lên một nguồn năng lượng rất đặc biệt: lạc quan, mạnh mẽ và tràn đầy yêu thương.

Bác là người thầy, người cha, đôi khi là người bạn vong niên – mà mỗi lần chúng con đọc lại sách Bác là một lần… tủm tỉm cười một mình. Cái cười hiền, nhẹ như mây trôi – vì thấy mình trong đó, thấy đời trong đó, và thấy cả một con đường thiền vị đang dần hé mở giữa bộn bề thế gian.

Chúng con tri ân Bác – người gieo duyên lành và đã tiếp thêm cho chúng con niềm tin, động lực và ánh sáng của chánh pháp.

(13.4.2015)

 

Thân mến,

Đỗ Hồng ngọc.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Đọc CÕI NHỚ, thơ Chiêu Đề (Thích Đồng Bổn).

08/04/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc CÕI NHỚ,

thơ Chiêu Đề (Thích Đồng Bổn).

Đỗ Hồng Ngọc

Tôi nhớ, khoảng cuối năm 2011, tôi thường đến Xá Lợi viếng cảnh chùa và thăm thầy Đồng Bổn, nhà thơ Chiêu Đề. Thầy ngồi ở góc phòng trò chuyện với vài người bạn thân, sau lưng có một tấm bảng to đề chữ “Thôi Kệ”. Thầy mời tôi ly cà phê và nói đây là “Quán café Thôi kệ” đó bác sĩ. Rồi mở nhạc Trịnh cho tôi nghe.

Sau này khi tôi là cố vấn Ban Phật học chùa Xá Lợi, tôi thường gặp thầy hơn, cũng đã có vài buổi thầy mời Nói chuyện cùng thính chúng nơi giảng đường Chánh Trí, và mời viết cho Tạp chí Từ Quang. Cũng từ “duyên” đó, tôi trở thành “nhà tham vấn” cho thầy về sức khoẻ.  Hoá ra thầy có nhiều bệnh nền quá! Tiểu đường. Viêm gan siêu vi, Dạ dày, Tim, Gan, Phổi…

Thầy tâm sự: “Tôi là hệ lụy của chất Dioxin bác à…/ Sau hòa bình là mất sức lao động hoàn toàn/  Nhờ Phật độ lại ngập tràn hạnh nguyện/ Trả nghiệp xưa trải thêm lắm chuyện/ Dạ dày, gan, tim, phổi chẳng còn nguyên/ Giờ lão rồi cột sống nghịch duyên/ Tiểu đường liên miên chướng duyên tu tập/ Lão bệnh tử hiểu rồi nguyện lập/ Kệ thân đi ta cố chấp làm gì/ Sao cho tâm như mặt nước phẳng lì/ Chuyện đến đi có gì nghi với ngại…..”

Rồi ít lâu sau, thầy cho tôi xem kết quả xét nghiệm mới nhất: Viêm gan đã chuyển thành Chai gan (cirrhosis). Giai đoạn cuối!

Bỗng nhiên thầy “biến mất”. Không biết đi đâu. Thì ra thầy đã “trốn” ra một thiền xá ở miền núi phương Bắc xa xôi, quyết tâm  “tu tập”:

Tiếng kêu kẽo kẹt bởi gió mưa

Mái tôn như thở giữa ban trưa..

(Căn nhà gỗ của tôi)

Ở đó, tưởng đã “xả ly” mà lại càng quấn quít:

Cố quên lại thấy nhớ nhiều hơn

Nhìn đâu cũng thấy nỗi cô đơn

 

Và một “cuộc chiến” đã bắt đầu:

Cái tâm chiến đấu với cái tôi

Không lẽ buông xuôi vì ma chướng

Dã tràng xe cát chẳng đường lui ?

 

Không dễ chút nào ngay cả với một tu sĩ:

Lối nào hướng đến Chân Như

Bệnh nào cố chữa dường như cháy nhà

Tâm nào còn mãi bôn ba

Ý nào vượn mã vào ra liên hồi

(Lối nào)

 

Có khi gần như tuyệt vọng:

Nhớ chiều vàng võ ánh hoàng hôn

Ngày trôi nhanh ánh mắt vô hồn

Xuân sắc thời gian nào ngưng nghỉ

Sinh già bệnh chết nấm mồ chôn...

 

Lạ thay, từ đó, sáng nào anh em, bè bạn vẫn đều đều nhận được một bài thơ online của Chiêu Đề… viết từ căn nhà gỗ.

“Bệnh không ngủ được thì tôi sáng tác chờ sáng, bác à… Làm xong một bài thơ, như trút được nỗi lòng tâm sự, nhẹ nhõm và cảm thấy vui trong lòng. Nỗi đau về bệnh tật cũng vơi đi…”. “Với tôi, hình như làm thơ hiệu quả hơn trong chữa bệnh thân và bệnh tâm, vì nó cảm xúc thực tế cuộc sống của mình…” .

Cõi Nhớ là tập thơ thứ 6 của Chiêu Đề Thích Đồng Bổn. Ông mới gởi bản thảo cho tôi sáng nay và nói bác viết đôi dòng… để in vào tập thơ làm kỷ niệm.

Cõi Nhớ không phải là nỗi nhớ, nhưng cũng đầy nỗi nhớ: Nhớ hoài, nhớ mãi, nhớ thương, nhớ thuở, nhớ về, nhớ quê, nhớ sáng, nhớ chiều, nhớ quên, nhớ đi, nhớ đến…

Đó là Tựa của những bài thơ trong Cõi Nhớ. Những nỗi nhớ cứ chằng chịt quấn quít, phan duyên với nhau như thế mà tạo ra những “chúng sinh” không lối thoát…

Mở đầu tập Nỗi Nhớ là Nhớ hoài,

Nhớ hoài thời lận đận bôn ba/ Nhớ hoài khi tỉnh giấc cuộc đời/ Nhớ hoài lúc khoát áo nâu sồng…

Rồi suốt tuần này đến tuần khác, ông cứ nhớ triền miên không ngớt:

Thứ Hai, nhớ về

Nhớ về quá khứ lắm vô minh

Trượt dài nhân ngã chuốc tội tình

Tánh tướng vốn không, nào thấy lỗi

Đâu ngờ quả báo nghĩ mà kinh!

 

Thứ ba Nhớ lắm, Nhớ lắm trời đêm dưới bóng chùa; Thứ tư: Nhớ mãi; Thứ năm: Nhớ sao; Thứ sáu: Nhớ thêm; Thứ bảy: Nhớ thương…

Nhớ triền miên, không ngơi nghỉ.

May sao, Chủ Nhựt kịp trở về với CÕI NHỚ:

nhớ Giả, nhớ Không, nhớ Trung đạo, Bất hư, Duyên sinh, Duyên khởi , Vô dư niết bàn…

***

Cõi Nhớ thì đã không còn là nỗi nhớ nữa rồi!  Nỗi nhớ chỉ là những “tạp niệm đan xen”, Tâm nào còn mãi bôn ba/ Ý nào vượn mã vào ra liên hồi…

Cõi Nhớ làm nhớ Một cõi đi về của Trịnh Công Sơn “Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt… Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt…” (TCS). Đôi vầng nhật nguyệt ấy là Minh. Hành, thức, danh sắc, lục nhập… gì “thôi kệ”.

Mai này tuệ giác nở hoa

Trở về tánh Phật nương nhà Như Lai.

Đã lý sự vô ngại, sự sự vô ngại rồi chăng?

“…Lý nhân duyên chờ tâm ý mênh mông

Động tĩnh nơi thân lay chuyển càn khôn

Đâu cũng thấy pháp môn chân vi diệu

 

Và bóng trăng Lăng Già đã sẵn:

Nhớ tìm ánh sáng bóng Lăng Già

Chiếu soi tâm thức ngụ trong ta

Trăng ở đáy sông từ ảnh hiện

Trời đâu lưu dấu vết chim qua.

 

Cho nên, từ trong Cõi Nhớ, nhà thơ Chiêu Đề viết

Mai này tôi có đi xa

Câu thơ để lại làm quà tiễn đưa

(…)

Mai này tôi sẽ đi luôn

Về trong cát bụi đã tuôn mạch sầu

Thơ buồn ghi lại mấy câu

Trao người đón nhận trên đầu non xa

(Mai này)

***

Khi được hỏi cõi Phật ở đâu? Phật trả lời “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát” (chúng sinh chi loại thị Bồ-tát Phật độ). Thì ra vậy. Thì ra cõi Phật của Bồ tát không ở đâu xa. Ở nơi các loài chúng sanh thôi. Quanh ta và trong ta. Đó là những chúng sanh muôn hình vạn trạng, nheo nhóc, khổ đau, chằng chịt, quấn quít, xà quần sáu nẻo, bay nhảy không ngừng sáng trưa chiều tối, kiếp này kiếp khác, quần quật không an. Bồ-tát chỉ cần “thành tựu” chúng sanh đó, tức thì cõi Phật hiện ra ngay. Không phải tìm kiếm đâu xa (Duy Ma Cật).

Bây giờ sáng sáng thầy vẫn có một bài thơ gởi đến mọi người từ trong CÕI NHỚ.

Và, hình như, bệnh cũng đã lui dần thì phải.

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 04/8/2024)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

Thư gởi bạn xa xôi: Lại Về Nha Trang (3.2025)

28/03/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

Lại Về Nha Trang (3.2025)

Tháng 3 hàng năm, có một Khoá Thiền thực hành dành cho Doanh nhân, do BTC phối hợp với các Thầy Cô Làng Mai thực hiện. Năm ngoái, khoá thứ 6, ở Mũi Né, chủ đề: “Phép lạ là đi trên mặt đất”. Lần đầu tiên, mình được mời tham dự trong một Buổi Toạ Đàm. Năm nay, khoá thứ 7 chủ đề : “Cho đi là còn mãi”.

Mỗi khoá có hàng trăm thiền sinh từ các nơi về, cùng với các Thầy cô Làng Mai hướng dẫn.

Mình “ngoại đạo”, được bạn LBT mời riêng, tuỳ nghi, tự tại, không phụ thuộc chương trình. Nhưng mình cũng có tham gia buổi Toạ đàm, trình bày vài chục phút về giới thứ 5: Dinh Dưỡng và không Uống rượu, không dùng các chất gây nghiện. Mình nói về 4 nhóm thức ăn Phật đã nêu từ xa xưa là “Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực“. Đoàn thực là thức ăn cho thân, với Glucid, Protid, Lipid, Mineral, Vitamines… còn 3 nhóm còn lại là thức ăn cho Tâm. Mình cũng nhắc đến nguyên tắc 3 V: Vrai (thức ăn tươi, thiên nhiên, không phải chế biến, dùng hoá chất…), Varíé (đa dạng) và Végétale (thực vật…)

Riêng trong “Đêm Thơ Nhạc”, mình đọc 3 bài thơ: “Thư cho bé sơ sinh”; “Mới hôm qua thôi” và “Bông hồng cho Mẹ”…

Chỉ chút vậy thôi.

Gởi bạn vài hình ảnh coi vui nhe,

Thân mến

Đỗ Hồng Ngọc.

Cũng phải ghé Nha Trang một chút, thăm cái Kiosque còn sót lại ở Quán 4 Mùa.

 

Buổi Toạ đàm về Ngũ Giới (Không sát sanh/ Không trôm cắp/ Không nói dối/ Không tà dâm/ Dinh dưỡng đúng và không rượu, không chất gây nghiện). Mỗi bạn trình bày về một đề tài.

Lê Bá Thông, Đỗ Hồng Ngọc, Kim Hạnh và các Sư Cô trò chuyện trên bãi biển Cam Ranh.

 

Đêm thơ nhạc (Cam Ranh 15-03-2025)

Đọc thơ

Đọc thơ

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

LỜI BẠT: Thơ duyên lê chiều giang nguyễn thị khánh minh

19/03/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đỗ Hồng Ngọc

Lời bạt

Thơ duyên lê chiều giang nguyễn thị khánh minh

D U Y Ê N
nỗi lá vàng cuối thu 

duyên không chỉ làm thơ. duyên vẽ. duyên chụp hình. duyên làm những bookmark thiệt dễ thương để gởi bạn bè, nhắc nhớ mỗi khi lật từng trang sách, vì ngoài kia…

bên khung cửa 
lặng nhìn chiếc lá vàng. rơi 
một mình…
The Last Leaf 
O’Henry, 

Cho nên đọc thơ duyên cứ nghe “Chân đi nằng nặng hoang mang… Ta nghe tịch lặng rơi nhanh. Dưới khe im lìm” (TCS)

chợt. hiểu ra rằng 
mầu đỏ, vàng kia tự bao giờ… đã 
ngấm. ngập 
trái tim ta. 

Phải, hình như những chiếc lá vàng kia vẫn luôn xào xạc, vẫn luôn thổn thức dưới trăng mờ của con nai vàng ngơ ngác tự thuở nào kia.

và khi trăng mờ, trên núi xa… 
có lá vàng. lìa cành vội vã… 
có mùa Thu, lành lạnh. gió thu, sang 

Cô bé đi vớt mặt trời của Nguyễn Xuân Thiệp không về nữa… nhưng Zhivago thì vẫn về lại mái nhà xưa

Zhivago trên cánh đồng tuyết trắng 
tản cư về. về lại, mái nhà xưa 
nơi. thi sĩ kể thơ. tình mê đắm 
vẫn lạc loài, hình bóng Lara… 

Ơi Lara. Rồi Lara hỏi Zhivago:

lá đỏ. lá vàng… đẹp ngỡ ngàng 
mỗi độ sang Thu 
lá vàng ơi. dặm đường xa. có mỏi 

Zhivago còn biết trả lời sao?

Tôi một lần kia đi giữa Boston với cả một mùa thu, trọn một mùa thu. Nhớ Xuân Diệu với “Lá không vàng, lá không rụng, lá lại thêm xanh, ấy là mùa thu đã về, mùa thu mới về, yểu điệu thục nữ…”. Thực ra, lá như ráng níu lại chút xanh, và vì níu lại nên có vẻ chặt hơn, xanh hơn lên mà thôi. Bởi vì rất nhanh, lá bỗng vàng rượm, vàng rực, vàng tía, vàng buốt… và bầu trời rộng ra, thênh thang, yểu điệu kỳ cục. Mới mấy ngày thôi mà cây cứ tô dần tô dần cái màu vàng buốt, óng ả, rực rỡ chen lẫn với xanh đậm, xanh lợt mong manh đó… và sáng hôm sau, rơi từng lá từng lá tràn ngập các lối đi.
Bỗng nhớ Em không nghe mùa thu của Lưu Trọng Lư. Rõ ràng thu không phải để dòm, để ngó, để ngắm, để nghía… mà chỉ có thể để nghe. Mà cũng không phải để nghe tiếng, dù là tiếng lá rụng mà để nghe mùa. Cái tiếng mùa đi, mùa về, cái tiếng đời của mỗi chúng ta. Nó ở trong không gian dằng dặc, đùng đục thênh thang kia, và ở cả trong thời gian hun hút, héo hon rơi rụng nọ.
Tôi bước đi từng bước nhẹ dưới những vòm cây và nghe cho hết tiếng thu về. Dưới chân tôi từng lớp lá rụng, bước chân bỗng như hẫng đi và tôi chợt ngơ ngác như chú nai vàng “xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về” (Huy Cận) đó vậy.
Lạ, ở Mỹ người ta không gọi Autumn – mùa Thu, mà gọi Fall – mùa Rụng, bởi vì chỉ có lúc lá rụng bời bời như vậy người ta mới thấy hết được nỗi vui mừng, nỗi xót xa, nỗi  buốt nhớ… không rõ vì đâu. Và vì Fall, mà người ta dễ “fall in love” có phải? (Nghe tiếng thu giữa Boston, ĐHN, 1993).

ngày cuối Thu buồn tênh… 
vầng trăng chưa tỏ 
bóng những chiếc lá 
thoi thóp trong đêm 
sẽ vùi chôn theo… 
mùa Thu chết!* 

Đọc thơ duyên không chỉ thấy nỗi buồn dằng dặc bởi thu phai mà còn thấy lòng mình như rộng mở, như những chiếc lá thu ngập thềm nhà, đẫm ướt mưa đêm mà còn biết chất chồng lên nhau cố giữ hơi ấm cho nhau…

trở về. sân nhà ngập lá 
phủ kín lối đi… cây ginkgo vườn sau trơ cành. gầy guộc 
sót lại. vài chiếc lá trơ vơ 
thềm lá vàng 
chất chồng lên nhau, chen mầu nâu, đỏ 
đẫm ướt dưới mưa đêm 
cố giữ hơi ấm cho nhau… 
ngày tàn thu

Tôi chắc, một hôm thu kia, thế nào một chiếc lá vàng sẽ lắt lay trong gió nhẹ, mênh mang và vĩnh cửu, chiếc lá vàng được vẽ bởi duyên chớ không phải bởi O’ Henry, phải không duyên?

 

LÊ CHIỀU GIANG 
trên sông khói sóng… (*)

Thơ Lê Chiều Giang không phải thơ. Nó là tiếng thét, là tiếng thở dài não nuột. Đọc Lê Chiều Giang thấy một người thơ, sống như thơ, thở như thơ, sáng trưa chiều tối, từ trong tranh bước ra, ngồi đó, ngó quanh, không thấy ai, lại bước vào trong tranh.

Chợt nghe xa xăm như có ngàn tiếng gọi. 
Gió âm u, gió lồng lộng rừng khuya… 

Lê Chiều Giang vẫn cứ lẽo đẽo tìm theo những rêu phong của ngày tháng cũ, nhiều lúc muốn xổ lồng bay xa mà vẫn ngập ngừng e sợ…

Cánh cửa 
Sầm. Đóng lại 
Chìa khóa? Quăng lên trời. 
Ta. 
Bước chân phiêu bạt 
Tay không, 
bày cuộc chơi. 

Rồi hét lên tôi cứ lẳng lơ, tôi rất lẳng lơ viết những chữ mông lung, vật vờ như gió… sáng trưa chiều tối.
Vẫn có một bờ vực không thể vượt qua, cho dù cứ lẳng lơ, rất lẳng lơ như thế! Để rồi

Đứng mãi trong tranh 
Đóng vai: 
Góa phụ 
Sáng nay ta 
Ra với mặt trời 
Như kẻ xa xôi về lại trái đất… 

nhìn quanh quất, vội vã bước trở lại trong tranh để:

… Diễn tiếp 
Hỡi thế gian 
Ta. 
Bỏ cuộc chơi. 
(Đầu hàng). 

Trong tranh, Lê Chiều Giang có lúc như ngựa chứng, tóc bờm tung bay phi nước đại, cổ vươn cao ngoằng hí vang, dưới bóng trăng huyền hoặc lẫn bóng tối u mê giữa ngàn lá biếc. Sự cách điệu không hài hòa làm cho gương mặt có sắc sáng như trăng, lại thêm chút bóng tối của u mê. “Mắt tôi xếch và sắc như kiếm dao, bướng bỉnh đầy ngạo mạn, điểm thêm với miệng cười khinh bạc”.

“Chút khinh bạc, không biết bao lần đã nương bên tôi, đứng thẳng cùng tôi giữa đất trời, bên một dòng đời vô cùng nghiệt ngã…”(Lê Chiều Giang).

Giờ thì tôi hiểu có một hôm nào, Lê Chiều Giang đã gởi tặng Đỗ Nghê bài thơ Thiền giả: Ta đảo điên. Ta bất chấp. Ta bới tung… Ta quăng kiếm. Ta bẻ gươm. Ta nằm im. Ta giả chết… Toàn là hư chiêu hết đó thôi nhe! Đừng vội tưởng thiệt.

Chợt nghe xa xăm như có ngàn tiếng gọi 
Gió âm u, gió lồng lộng rừng khuya 
Bay trên cao mà nhớ 
Bước chân đi… 
Sấp ngửa lưng trời. Ta 
Tĩnh tâm
Ta. Thiền định 

Thì ra, đã là Sa Di Ni… từ lúc nào không biết. Cứ tưởng ngổ ngáo, ngang tàng, chọc trời khuấy nước… ai ngờ vẫn đắm chìm trong một cõi vời vợi, xa xăm…

Thiền Giả

Như đệ tử Kim Dung. Múa 
trên đầu kiếm sắc 
Ta đảo điên. 
Ta bất chấp. Ta 
Bới tung… Chẳng hiểu ra 
đời.
Đã rất bao dung 
Rất nương nhẹ 
Để ta còn sống sót 

Khi thất bại 
Ta biết vờ đợi chết 
Giả nằm im. Nghe 
trái đất ngả nghiêng 
Quá thấm đòn 
Ta quăng kiếm 
Ta bẻ gươm 
Cũng biết thân. Ta ngồi im 
Góc tối 

Chợt nghe xa xăm như có ngàn tiếng gọi 
Gió âm u, gió lồng lộng rừng khuya 
Bay trên cao mà nhớ 
Bước chân đi… 

Sấp ngửa lưng trời. Ta 
Tĩnh tâm 
Ta. Thiền định 

Cứ tưởng ngang tàng bướng bỉnh, “giang hồ mê chơi quên quê hương”, ai dè mới nghe tiếng cơm sôi đã nhớ nhà, đã thút thít. Phải chi có một ông Bụt hiện ra hỏi: Sao con khóc?

Ta như đêm mịt mù 
Giữa trùng trùng duyên khởi. 
Quanh một vòng trái đất 
Thèm trở lại chốn xưa 
Ngồi bên hè phố cũ
Tỉ tê. Khóc. Nhớ nhà. 

Thì ra là một nỗi oan. Không ai thấu hiểu.

Buồn ngang xương. Để 
Thất thoát niềm vui 
Tìm nghĩa lý trong điều 
Không ai hiểu. (Vỡ nợ)

Có những nỗi oan 
Tính viết lời chống đỡ 
Mà mực khô, mà 
Ý cạn. Tay run. (Tịnh khẩu)

Mổ trái tim xem: 
Không gì trong đó 
Mở đôi bàn tay: 
Những thứ chẳng còn. (Lâm chung)

Đọc Lê Chiều Giang mà thương hơn cho một nhan sắc, một tính cách, một người sống với cõi đầy thơ… Để có những buổi “chiều buông trên dòng sông cuốn mau…”
Để rồi, nhận ra cõi vô lượng tâm:
“Bể sầu không nhiều, nhưng cũng đủ yêu…”
(Chiều về trên sông, Phạm Duy)

(*) trên sông khói sóng cho buồn lòng ai… (Tản Đà, dịch Hoàng Hạc Lâu).

 

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH 
thơ rắc bùa hương

Khi viết xong bài thơ 
Đôi khi. Tôi khóc 
Có phải vì lời đã nói về nước mắt 
Trong lòng đêm ma mị 

Khi viết xong bài thơ 
Tôi thường hay xóa 
Dường như tôi sợ bóng tôi 
Giãy chết giữa những con chữ đói 

Khi chấm hết bài thơ 
Tôi hụt hẫng. Như chưa thể xong lời 

Là bởi, bài thơ tưởng “hoàn tất” kia vẫn giữ mong manh những con chữ đói, giữ những từ đợi chờ, nên thi sĩ chẳng bao giờ hoàn tất nổi một bài thơ.

Sau một vụ mùa 
Tôi chỉ đem về được đôi ba hạt lúa chín 
Chút mầu vàng của nó lấp lánh trên tay 
Bài thơ hoàn tất. Là một điểm hẹn quyến rũ 
Nhưng phút mong manh giữa những từ 
Là lúc đóa hoa đang nở. 
Đang tỏa hương 
Tôi có gì đâu phải vội 

Cho nên “Nếu có tìm tôi xin hát bằng nhịp tim bổng trầm lời tình tự…”
Hãy nghe thi sĩ nói những lời tình tự bằng lời ma mị, bằng thứ bùa mê, thuốc lú với những con chữ đói như thế nào

Tình Yêu 
Trong nét vẽ dịu dàng của vòng ôm 
Tôi chiếc lá cong
 Âm thanh mềm một vũ khúc 

Quyến rũ mầu đêm phủ 
Tôi bờ đất ấm 
Nghe từng hạt cát hòa âm 
Âm thanh đi tới 
Âm thanh của hòa tan… 

Nhưng tình yêu không chỉ là đôi lứa, là vòng ôm là vũ khúc là hoà âm, mà tình yêu còn là đồng lúa chín vàng, là con tầu chở chuyên hội ngộ, là tiếng cửa reo sum vầy, là bếp ấm báo tin no đủ… Là nỗi ước mơ một ngày nào đó trong cõi chiêm bao

… Tôi sẽ thắp ánh sáng của sao hôm không có nước mắt chiều phai, của sao mai hẹn về khung trời đang mở nắng. Tôi sẽ treo trước cửa sổ phòng người tiếng hót một loài chim sớm đánh thức ngày vui. Tôi sẽ kéo tấm rèm chở che một điều đang bắt đầu trong khép lại một ngày ơn phước, nếu có tìm tôi…
Tôi biết. Tôi sẽ được cất tiếng. Trong mùa thơ quyến dụ ấy với ngôn ngữ tình nhân. Ngôn ngữ tôi nghe một lần trong xứ sở chiêm bao. Khoảnh khắc giấc mơ tôi thực sống… 

Cơn bão rớt sẽ đến rồi sẽ qua. Và, chỉ cần có thế: “me tôi ngồi may áo, bên cây đèn dầu hao, cha tôi ngồi xem báo, tôi nghe tiếng còi tàu… “(Phạm Duy).
Phải rồi, chỉ có ở đó, người ta mới có thể … “có tiếng chim trao lòng tin cậy; có bờ vai nương tựa sớm hôm; có những ánh mắt sao trời thơ trẻ”; và đôi cánh bay lên những ước mơ đằm thắm ngọt ngào của người thi sĩ, luôn nhắc nhở mình “đừng như bóng mây tan”.

Phải rồi. Chỉ ở đó mới có tiếng reo vui Tat-bà-ha của Tâm kinh Bát nhã khi thấy biết “ngũ uẩn giai không/ độ nhất thiết khổ ách”. Bát nhã (Prajnã) là cái nhận thức có trước nhận thức, là cái trí tuệ có trước trí tuệ, không đếm đo, toan tính, nó vậy là nó vậy. Và chỉ ở đó, người ta mới thực sự hồn nhiên, thực sự reo vui: Tát-bà-ha!

Tiếng chim ríu rít mách tôi sự trong trẻo ban mai trao lòng tin cậy. 
Bóng đêm mở nỗi sợ cho tôi tìm ra ánh sáng bờ vai nương tựa.
Những vì sao tặng tôi cách nhìn ngây thơ trong sáng. Gió cho tôi đôi cánh và đường bay mơ ước con người. Bóng mây tan nhắc tôi mỗi phút giây ở lại bên mình yêu dấu. Tiếng cười bé thơ cho tôi nghe reo vui lời tâm kinh bát nhã. (Khoảnh khắc giấc mơ)

Cảm xúc với tranh Những Con Chim Ngược Gió của Họa Sĩ Đinh Cường, Khánh Minh viết, những bùa hương: Vừa quay lại đã muôn trùng đá lạnh

Bảng pha mầu lấm lem ngày tháng bụi 
Tiếng cọ ngày xưa thở ngoài khung tranh 
Trời đóng lại. Một đường đêm thăm thẳm 

Ai đi qua. Vệt mầu bạc thếch 
Sông thời gian đặc quánh ảnh hình 
Vừa quay lại đã muôn trùng đá lạnh 

Và gió, một mùi hương nồng nặc bùa mê trên sợi tóc vai người

Bay đi. Bay đi. 
Bay qua dải thiên hà buồn bã kia. Mà về. 
Trên vai người sợi tóc thơm hương tinh tú. 

Tôi nhóm lên một ngọn lửa 
Gió thổi tắt đi
Tôi nhóm lên một ngọn lửa nữa 
Gió lại thổi tắt đi 

Khi tôi không còn hy vọng 
Thì gió 
Lại làm những que tàn kia bắt lửa… 

Đừng quên, chính những bùi nhùi năm tháng kia, không mất đi đâu, chỉ ủ một mùi hương chờ đợi ngọn gió từ cõi xa kia bùng thổi. Cho nên người thơ viết: Nên tôi quý những điều tôi đã nhận/ Nên tôi tận lòng với những điều đang ở.
Còn có cách nào hơn là “mở con đường trú ngụ hơi thở tịch lặng” – Anapanasati- ở đó, hiện tại là sát-na mênh mông không ngằn mé. Và chỉ ở đó:

Trong sáng láng ấy tôi đã gặp nhà thơ Mặt Trời. Lồng lộng nắng phương đông, chắt chiu hết tinh khôi nhân ái rắc xuống cánh đồng thơ diễm ảo. Tôi thức giấc từ lời hát của một bông cỏ dại người ban tặng và mảnh vỡ trái tim tôi thành những hạt pha lê được nuôi sáng bằng lời thơ dâng hiến… 

Và một khi đã thấy biết (tri kiến) như thế, khi đã reo vui như thế, thì người ta sống với yêu thương, sống trong yêu thương, sống vì yêu thương:

“Yêu thương nhé” “nói cùng lá cứ sống hết mình xanh”, “yêu thương ơi xin thức dậy cùng người…” “yêu thương ơi khoảnh khắc xum vầy đơn sơ thế xin một lần được cất cánh bay”.

Rồi tự dặn với lòng: “yêu thương ơi chút lòng riêng xin chắt chiu nghe… “Cho dẫu chiều rồi phai nắng…” (Yêu thương ơi)

Nếu có tìm tôi. Xin trông chờ mảnh sáng sao băng. Nếu có tìm tôi xin hát bằng nhịp tim bổng trầm lời tình tự… Nếu có tìm tôi. Xin theo dấu sáng đom đóm quyện hương bờ dậu quê nhà. (…). Cho tôi đôi cánh hoa bay về miền đồng lúa chín vàng. Ngôi làng không bận lòng gì hơn là sống bình yên. Có con tầu đi về chở chuyên hội ngộ. Mỗi tiếng cửa mở ra là một tiếng reo sum vầy. Mỗi bếp lửa là mỗi báo tin mùa màng no đủ. Nếu có tìm tôi…Trên bước gió mở ngàn khơi nơi cuối cùng là phương Đông ấm một mặt trời… (Khoảnh khắc giấc mơ).

Hoang mang thế nhưng rồi, như một nhà thơ từng viết: Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy! Khánh Minh thì “Tôi đi tìm những trang bản thảo, mảnh đất tị nạn bình yên của tôi. Nơi có trò chơi trốn tìm dưới ánh chớp những chùm sao đang va vào nhau vang dội. Âm thanh ẩn mật là chiếc chìa khóa cuối cùng tôi phải mở, cõi thách thức cảm xúc phục sinh. 
Tôi nhặt được một trang bản thảo lem luốc đầy vết xóa và tôi nghe tiếng tim mình còn hồi hộp đập…” (Trong cơn bệnh).

Phải, “Còn hồi hộp đập” nghĩa là còn sẽ nhặt nhạnh thêm.
“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” thôi mà! Phải không?

Đỗ Hồng Ngọc 
(Saigon, 30.10.2024)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Thơ Duyên, Lê Chiều Giang, Nguyễn Thị Khánh Minh

19/03/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thơ Duyên, Lê Chiều Giang, Nguyễn Thị Khánh Minh

 

Tho duyen le chieu giang nguyen thi khanh minh

Tranh Bìa: Nghiêu Đề (1981)
Trình bày bìa: Đỗ Thanh Tùng
Trình bày trang trong: Hà Thu Hương
Tựa: Nhà Thơ Nguyễn Xuân Thiệp
Bạt: Nhà Thơ Đỗ Hồng Ngọc
Nhận định: Nhà văn Trịnh Y Thư

 

Nguyễn Xuân Thiệp

TỰA TẬP THƠ BA NHÀ THƠ NỮ

Một ngày đầu thu, ngồi viết đôi trang về thơ của ba nữ lưu thời nay, sao bỗng thấy lòng xúc cảm lạ thường. Như ngày nào khi dạo chơi trong khu vườn Gitanjali bỗng gặp lại bông siêu ly thuở còn mơ mộng. Như ngày nào khi hoàng hôn xuống lái xe qua cây cầu cao ở Baton Rouge bỗng thấy vầng trăng lồng lộng trên sông. Hay như cách đây hơn mười năm, khi đi chơi vùng biển Laguna bỗng gặp lại người xưa – đầu đội nón rộng vành, mang kính đen, ngồi dưới bóng dù, tay lật xem thơ Tôi Cùng Gió Mùa. Vậy đó. Xin mời bạn đọc theo dõi những trang sau đây viết về ba nhà thơ nữ: duyên, Lê Chiều Giang và Nguyễn Thị Khánh Minh. Ô, lần đầu tiên ba nhà thơ nữ họp mặt nhau trong cùng một tập thơ. Một cuộc hội ngộ tuyệt đẹp.

Xin được mở đầu với thơ duyên.

Thơ duyên ít xuất hiện trên sách báo nhưng bạn bè biết nhiều về duyên qua những Blogs thân quen của Phạm Cao Hoàng, Trần Thị Nguyệt Mai, và Phố Văn, hay qua emails khi chuyện trò trao đổi. Duyên thường thực hiện những bookmarks và vẽ những bức tranh nhỏ gợi cảm gởi tặng bạn bè có khi kèm theo những bài thơ ngắn dễ thương. Chúng ta có thể đọc, nhìn thấy qua phần Thơ Duyên trong tuyển tập. Riêng tôi rất thích hai bức Mùa Thu Chết và Lá Đỏ cùng những mảnh tình duyên gởi trong thơ.

Đọc thơ duyên ta gặp một hồn thơ mở ra với thiên nhiên, nhân hậu, hòa ái với người, với đời. Duyên yêu mến thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Thiên nhiên trong thơ duyên như tranh của họa sĩ hiện ra với đường nét bay múa, sắc màu rực rỡ, như trong bài: Về. Với Mùa Thu

sau chuyến bay dài
đêm thâu. không ngủ
chờ. mặt trời
đợi. sáng, nắng bình minh.
dễ thương chi, khi
mùa thu. vẫn… đó
đợi. chờ.
kìa, cây ginkgo nhỏ
vàng tươi.
trong nắng sớm.
lá nhu mì. vẫy. gọi
bước chân ai, về
lãng đãng. mù sương.

Duyên yêu mùa thu. Mùa thu hiện ra với nhiều dáng vẻ trong thơ duyên:

lại kể nhé
chuyện vườn xưa. khi mùa thu tới
ba cây đào, đổi lá vàng. ngập cả lối đi
cây redwood, lá màu hổ hoàng. tuyệt đẹp
mỏng manh trên cành, đâu sợ mùa đông

Thiên nhiên chuyển màu rất đẹp từ thu sang đông với ý tình cảm xúc:

rồi ngày lập đông. tuyết rơi. rơi. mãi…
cành, trụi lá. màu chì. ảm đạm
nhìn ra trời. trời. đất, quá bao la
mùa đông lê thê…
nhớ. Zhivago trên cánh đồng tuyết trắng
tản cư về. về lại, mái nhà xưa
nơi. thi sĩ kể thơ. tình mê đắm
vẫn lạc loài, hình bóng Lara…

Thiên nhiên trong thơ duyên hiện ra với vẻ rực rỡ dù trong cảnh mùa đông. Thiên nhiên hay mùa thu còn làm nền cho cái chết của người thi sĩ. Những chiếc lá khô rụng xuống, chất chồng đủ nhóm lên lửa ngọn. thi sĩ về trong những chiếc lá khô:

gió đã đổi mùa
không gian. lạnh
trong mênh mông
đất trời
gió cuốn. lá rơi…
đủ. để đốt thành lửa ngọn.

ngọn lửa. bập bùng
đêm trăng, khuyết
người thi sĩ
đã về. trong 
những chiếc lá khô…

Lá đỏ của mùa đông còn là cái chết của người bạn nhỏ, tên Ch.

Em
chiếc lá nhỏ, thật đỏ, quá đẹp của mùa thu
sao lìa cành vội vã. sớm đông
chiều qua. có lẽ là em
con chim nhỏ
về…đậu lại trên cành cây trụi lá
trong tuyết trắng mênh mông
chim buồn, nên không hót.

Trong thơ Duyên còn có tình bạn. Duyên cảm thông những mất mát đau đớn của bạn bè nên chia sẻ cùng bạn những tình cảm chân thật. Đinh Cường, Trần Hoài Thư, Nguyễn Bắc Sơn, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Xuân Thiệp… và nhiều người nữa được nhắc tới trong thơ duyên. Đây là những người bạn của cõi văn chương ở những năm tháng lãng đãng của cuộc đời.
Với Đinh Cường, một tình bạn của hội họa và văn thơ. Đinh Cường là người hiền hòa dễ mến, bạn bè ai cũng yêu quý. Sinh thời, Đinh Cường từng vẽ chân dung cho duyên và làm thơ tặng. Những câu thơ, bức tranh luôn nhắc tới một tình bạn như vầng trăng đầu núi. Trên chuyến tàu nào, lần cuối trở về, có giọt lệ trên mi mắt…
Với Trần Hoài Thư là qua thông cảm từ trang sách đề tặng với nét chữ run run và cơn bệnh đột quỵ của nhà văn hiền hòa. Ôi những tình cảm thân thương quý biết nhường bao.
Nguyễn Bắc Sơn, người đã ra đi còn để lại bóng hình và những câu thơ như Thương tiếc đám mây bay. Cuộc chiến khốc liệt đã để lại nhiều mất mát. duyên đã cảm thông sâu xa với phận con người trong chiến tranh.
Đỗ Hồng Ngọc và Nguyễn Xuân Thiệp, hai người bạn văn chương khác, duyên nhớ đến, khi lần giở những trang thơ: về thu xếp lại (ĐHN), cô bé đi vớt mặt trời (NXT), bức tranh thơ (NXT).
Duyên với tấm lòng nhân hậu đã cùng hai bạn tìm về những kỷ niệm đầm ấm, cả những đổ vỡ trong đời, để cảm thông, chia sẻ.
Với Nguyễn Tất Nhiên, nhà thơ đã một thời đơn phương yêu duyên với mối tình cuồng si, yêu như thiên tai không bờ cõi – duyên nhắc về Nhiên bằng trích dẫn thơ. Và rồi như cánh buồm la paloma xa xưa trôi đi không về lại. Còn nhiều, còn nhiều bạn bè nữa, được gọi tên trong thơ duyên.

Tình yêu gia đình trong thơ duyên thật thắm thiết. Nó được thể hiện qua bốn đứa cháu. Oliver, Millie, ViVi, Larkin. Tôi biết các cháu qua hình ảnh duyên gởi. Duyên sang thăm ViVi khi cháu đầy tháng tuổi, về lại nhà ở bên kia hồ Michigan. Chiều xuống bà ở bên đây hồ Michigan nhìn sang bên kia, Chicago gởi những nụ hôn cho cháu. Thiệt là dễ thương.
Với các cháu khác, duyên đều rất thương yêu. Hãy nghe duyên trò chuyện với Oliver: Đóa hoa đỗ quyên nở ấm áp khi nghe tin cháu ngoại Oliver nhắn qua điện thoại: cuối tuần sẽ về thăm bà. Oliver sẽ đem soup (wonton soup) nấu cho bà vì nghe bà đang bệnh. Đọc thơ duyên xem đối thoại giữa ba bà cháu, với ViVi và Larkin, dễ thương quá.

Bằng lối viết tự nhiên, thơ duyên mang đến cho người đọc lòng tin yêu. Ta thấy ở đó một hồn thơ nhân hậu và hòa ái.

Bây giờ xin nói về Lê Chiều Giang.

Sự xuất hiện của Lê Chiều Giang mặt nào đó có thể nói như vầng trăng trong đêm nguyệt thực. Nói đến thơ Lê Chiều Giang không thể không nhắc đến Nghiêu Đề, họa sĩ là chồng nhưng cứ như là người tình mãi mãi.
Tôi gặp Nghiêu Đề lần đầu tiên ở Đà Lạt trước 1975 ở nhà một người bạn gái. Nghiêu Đề nói chuyện rất vui và có duyên. Sau 1975, tôi gặp lại Nghiêu Đề và Giang ở một quán cà phê bên chợ Thanh Đa. Tôi ở lô J và Nghiêu Đề ở lô G của cư xá. Sau này đọc những bài viết của Chiều Giang, tôi biết thêm thời đó Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Quang Lộc, Duy Trác, thường họp mặt hát hò ở căn nhà của Nghiêu Đề hoặc trên chiếc thuyền nhỏ trên sông Thanh Đa.
Sang Mỹ, trong một cuộc hội ngộ Văn Học ở hội báo Người Việt do Khánh Trường tổ chức, có Thái Thanh, Mai Thảo, Lê Uyên Phương và nhiều người nữa. Nghiêu Đề nói đùa với tôi: “Tôi đã đọc nhiều thơ của ông trên Văn Học, ông phải trả tiền cho tôi đó nghe.” Thời gian trôi qua, Nghiêu Đề đã ra đi vào năm 1998.
Tôi đọc được những bài thơ ngắn của Giang trên Văn Học. (Bút hiệu Lê Chiều Giang chỉ bắt đầu có khi Giang tham dự bài trong “Nguyễn Xuân Hoàng trong và ngoài văn chương” do Da Màu thực hiện năm 2014).
Trong một dịp gặp lại Lê Chiều Giang sau đó tại nhà Nguyễn Mộng Giác, tôi xin Giang đăng lại một số bài thơ đó trên Phố Văn, và cho Giang biết tôi đã viết bài tiễn đưa Nghiêu Đề trên tạp chí Phố Văn.
Từ đó không có dịp gặp lại Chiều Giang nữa. Mấy năm sau, tôi được đọc thơ Giang và cảm thấy yêu thích. Thơ của Giang thường là ngắn, như một tiếng kêu đau đớn biến thành uất hận, như một cơn đồng thiếp của cảm xúc và chữ nghĩa.
Qua những gì đọc được, ta biết tình yêu của Giang và Nghiêu Đề gần như một huyền thoại giữa đời thường. Từ lúc còn là học trò dưới bóng mẹ cha, Giang đã thường xuyên bỏ học, trốn nhà thờ, đến với giới họa sĩ chỉ vì mê mùi sơn dầu của những bức tranh. Cuối cùng đã mê luôn chàng họa sĩ tài hoa.
Mối tình đó theo Trịnh Cung là một tình yêu đẹp, mê muội và dữ dội. Dù không đưa Chiều Giang đến chỗ phải tự tử theo chồng như nàng Hébuterne của họa sĩ Modigliani. Giang vẫn tiếp tục sống trong cơn mê loạn, và Thơ đã cứu rỗi nàng cũng như đã làm thăng hoa mối tình khiến nó trở thành vĩnh cửu. Cũng như Hébuterne, Giang là người mẫu của Nghiêu Đề trong nhiều bức tranh. Bức tranh cuối Nghiêu Đề vẽ Giang. “Vệt màu đỏ mỏng chàng vẽ dưới mi mắt nàng như sợi máu rỉ ra từ tình yêu dành cho nàng mà chàng sắp phải từ biệt.” Trịnh Cung đã nhận xét như thế.

Ta phủ xác người bằng bức tranh xưa
Nét vẽ sắc
Như ngàn dao cắt
Vẽ mắt ta từ ngày mới gặp
Mắt tàn phai. Mắt của tàn phai. (Một chín chín tám)

Thơ của Giang đúng là một thiên tình sử đầy giông gió thỉnh thoảng ẩn hiện một vầng trăng ảo.
Tôi gọi nó là Thiên Tình Sử của Trái Tim Điên. Theo bước chân thơ của Chiều Giang ta đi vào cuộc lữ hành của cõi mê hoang, nghe ra tiếng thét, tiếng cười khan, và cả tiếng khóc.

Ta chôn chồng ta
Một lần.
Duy nhất.
Ở giữa rừng gai không hoa trái mọc
Đất.
Đá.
Rực cháy những lửa điêu tàn
Ta đứng giữa trời
Lặng thinh.
Không khóc. (Một chín chín tám)

Ta ngồi một mình 
Trên nóc nhà 
Buổi sáng 
Trước ngày bỏ đi
Khói thuốc tan trong mây 
Rượu. 
Đổ đầy máng xối (Lên đồng)

Chiều Giang ngồi trên nóc nhà và la hét, thấy những hồn ma cũ vật vờ bay, nghe những tiếng xưa vang vọng và hát như điên trong cơn đồng thiếp. Và có lúc đành phải đốt nhà…

Bới tung. 
Từng góc nhà 
Xó bếp 
Tay nâng niu những tháng ngày xưa 
Có bao năm?
Mà như thiên cổ 
Nhà ơi. 
Giữ lại giùm ta những gió mưa 
Giữ lại giùm ta ngàn tiếng nói … 

… Ra đi 
Đốt lửa căn nhà trống 
Vung vãi tàn tro 
Khắp đất trời. Và 
Xóa bàn đi làm lại hết
Ta thả đời ta. Giữa 
gió bay. (Đốt nhà)

Ta biết Giang từng là người mẫu, nhưng đứng mãi trong tranh làm góa phụ cũng chán, nên phải bước ra với mặt trời. Nhìn quanh đã chẳng thấy ai, cất tiếng gọi cũng không ai trả lời bèn bước trở lại trong tranh như bỏ một cuộc chơi.
Muốn bỏ cuộc chơi nhưng không được nên lại bước ra, tiếp nối cuộc hành trình của mệnh số. Có khi muốn làm thiền giả, ngồi trong góc tối hay đi giữa trời lộng gió, làm sa di ôm bình bát đứng giữa trời mưa nắng cho đến khi ngày hết, bình bát chỉ còn chứa đầy bóng trăng. Cứ ngang ngang bương bướng để mơ thành họa sĩ, vẽ bức tranh siêu thực với màu đỏ trên tóc và xám xanh trong mắt. Tay không mà bày cuộc chơi vượt cả Lưu Linh, Tản Đà, Phạm Thái, Tử Kỳ.

Lưu Linh? Ờ, Lưu Linh 
Tản Đà?  …Ta chấp hết 
Mắt sắc như kiếm dao 
Chém chơi. Vài 
Phạm Thái… (Bỏ nhà)

Thơ Chiều Giang là thế. Những bài thơ ngắn, ngôn ngữ trực tiếp, sắc bén, với lối ngắt dòng khác lạ, tạo hiệu ứng rung cảm nơi người đọc. Thơ Lê Chiều Giang là tiếng ca tiếng khóc trong cơn đồng thiếp của hiện sinh mê cuồng.
Thơ, như chưa từng bao giờ có thơ như thế.

Và đây thơ Nguyễn Thị Khánh Minh.

Trước hết, thơ ấu của Nguyễn Thị Khánh Minh đã là thơ. Đồng lúa, con sông, ngôi nhà ở làng Thuận Mỹ, Ninh Hòa, ánh trăng bên bờ giếng cũ, những bông hoa giấy trên sân nhà ở Nha Trang, tiếng còi tàu, bước chân của cha trở về… hồn thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh nở ra từ đó. Khánh Minh làm thơ ở tuổi còn để tóc bum bê cắp sách đến trường. Ấy có lẽ do ảnh hưởng của cha mẹ. Song thân của Nguyễn Thị Khánh Minh đều là nhà thơ, chủ nhân của lầu thơ Minh Minh. Nơi đó thường có mặt Vũ Hoàng Chương, Hà Thượng Nhân, Hồ Điệp, Nguyễn Đức Quỳnh… Ở lầu thơ Minh Minh của cha mẹ, Khánh Minh đóng vai cô bé pha trà và rồi ngâm thơ theo chỉ dẫn của Hồ Điệp. Từ lầu thơ của cha mẹ, hồn thơ Nguyễn Thị Khánh Minh đã lớn dậy cùng với những tháng năm với hoa lá và mây trời. Nguyễn Thị Khánh Minh mang thơ qua sân trường Luật và những nẻo đường của phố xá Sài Gòn. Và, cho đến bây giờ.

Tôi xin an lành gom hết những lời kinh nguyện. Bầu trời no tin cậy. Mầu xanh phủ hết tai ương cho con người và trái đất chan hòa nương tựa. Tôi sẽ tìm về đêm bé thơ thỏ thẻ với cha điều ước mơ chưa từng nói. Nếu có tìm tôi. Xin chờ mảnh sáng sao băng.

Vậy xin nương theo ánh sao đến với thơ Nguyễn Thị Khánh Minh. Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, cũng như thơ Lê Chiều Giang, thơ duyên, không theo bất cứ khuôn khổ tiết tấu nào. Nó là nhịp đập của thời gian và hơi thở người. Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh  còn là thơ xuôi, thơ tản văn, mở ra một cõi trời hoang mơ.
Đọc thơ Nguyễn Thị Khánh Minh ngay từ bài đầu tuyển chọn ở đây đã thấy tâm hồn nhà thơ mở rộng với đất trời và nhân gian. Cảm động là cô muốn đem chia sẻ cùng cha những tình ý ấy như thuở còn thơ.
Trong bài thơ Khoảnh Khắc Giấc Mơ, cô bé Khánh Minh muốn dâng hết lời kinh nguyện cho bầu trời bình yên với màu xanh phủ hết tai ương. Và cô sẽ tìm về một nơi với vạt đèn khuya ủ những ý thơ trong cơn mơ, vì “tất cả mọi cảm hứng thi ca đều là giải mã những giấc mơ”. Và cô nguyện nếu có bay đi xin bay về đồng lúa thuở ấu thơ nơi quê nhà bình yên, với con tàu chuyên chở hội ngộ, tiếng cửa mở sum vầy và bếp lửa trong căn nhà xưa. Còn nữa, thơ sẽ thắp lên ánh sáng của sao hôm và sao mai, cô sẽ treo tiếng chim trước cửa để đánh thức ngày vui. Trong ánh chớp của thanh xuân về lại, Nguyễn Thị Khánh Minh sẽ theo con sóng nhỏ về nơi biển xanh hiền hậu của thời ấu thơ và ai kia muốn tìm lại hình bóng của người làm thơ Nguyễn Thị Khánh Minh thì xin đến với hàng liễu xanh và con trăng mới mọc…

… Nếu có một nơi để nhớ. Vạt đèn khuya trỗi lên bài ca năm tháng. To nhỏ câu thơ phút hôm nay ta sống cùng người. Nếu có tìm tôi xin hát bằng nhịp tim bổng trầm tình tự. Nơi giấc ngủ một người, trái tim vẫn hoài đập trong khoảnh khắc của giấc mơ… 
… Nếu thanh xuân là quà tặng. Sinh cho tôi đời lá non. Sẽ sống tận cùng xanh, hết sức. Từng hạt mầm nuôi tôi trở lại cho dẫu hơi thở kia có không ngừng lặp lại nỗi đau. Tôi sẽ về hay tôi sẽ đi. Lời chào ấy là phút tôi trao nhận một món quà vô giá. 
… Tôi biết. Tôi sẽ được cất tiếng. Trong mùa thơ quyến dụ ấy với ngôn ngữ tình nhân. Ngôn ngữ tôi nghe một lần trong xứ sở chiêm bao. Khoảnh khắc giấc mơ tôi thực sống…

Đó là tiếng nói của thơ. Tôi chưa thấy ai thao thức với thơ trăn trở với thơ như Nguyễn Thị Khánh Minh. Khi viết xong bài thơ có khi cô khóc, và lạc giữa cõi thơ như trong cơn mộng du. Cô mê sảng, cười điên cùng bài thơ, những con chữ có khi là những giọt lệ. Cô nằm gai nếm mật hình thành bài thơ.
Trong cơn mộng du chữ nghĩa, Nguyễn Thị Khánh Minh muốn thơ mình lang thang qua khắp cõi bờ nhân sinh, Thơ đi vào quán nụ cười như để tìm vui. Đi vào quán đêm xin một giấc mơ, rồi đi vào trường kịch nhân gian, vào con đường của kiếp dã tràng, ghé thăm quán hoàng hôn, vào lòng đóa hoa xin mật ngọt, vào chung với bầy kiến, vào đồng lúa, vào dòng sông… Tất cả là đi tìm hơi thở của sự sống…
Đọc thơ Khánh Minh ta như được cùng tác giả hòa chung nhịp thở với thiên nhiên, bởi đó không chỉ là ngắm nhìn với nỗi ơ thờ mà hòa nhập với thiên nhiên. Xin cùng với nhà thơ bước vào đêm, hóa thân với sao trời và gió như có linh hồn – sao tắt, hồn rơi và gió khóc đưa tang. Đêm thì ngất lịm trong chiêm bao, nghe tiếng ngày đi run rẩy, nghe hồn cỏ thao thức, cây trút lá bơ vơ – rồi ngày lên mang chút niềm vui sót. Nhà thơ đi vào đêm, đem theo nụ cười, chia sẻ những rạn nứt đổ vỡ của đêm, nụ cười thơ làm nở một vì sao.
Tắt một lời, hồn thơ Nguyễn Thị Khánh Minh cảm nghe được nhịp mùa, nhịp ngày đi đêm tới. Có thể nào ta gọi thơ Nguyễn Thị Khánh Minh là bản symphony của nhịp mùa và thời gian. Riêng với Nguyễn này như được lạc vào vùng trời của Gitanjali nghe thi nhân thổi lên bản hòa ca trên cây sáo bằng ống sậy.
Trong thơ Khánh Minh còn có những khoảng trời của tình bạn. Nguyễn Thị Khánh Minh chia sẻ cùng bạn những nét đẹp của sáng tạo, những ý tình lung linh hư ảo, những nỗi chia xa.
Với Duyên, cùng Duyên sống lại niềm vui và vẻ rực rỡ của thanh xuân ngày ấy.
Với Đinh Cường: cảm thông cùng tiếng cọ của người họa sĩ và những sắc màu trong tranh và nỗi đau cùng vẻ hư ảo của cuộc đời.
Với Trịnh Y Thư: cùng bạn cảm thông với vệt nắng chiều đang tắt, bóng người con gái ngồi cong lưng như mảnh trăng non, trong vẻ đời ảo hoặc, chia xa.
Với Nguyễn Xuân Thiệp, cùng nghe tiếng chiều rơi trong tiếng con chim nhại và vẻ ảo hoặc của mùa thu với màu hoa cúc quỳ vàng trong khu vườn của ngày đã xa.
Còn nhiều. Còn nhiều những điều chưa nói về thơ Nguyễn Thị Khánh Minh. Nhưng thôi, chỉ xin cùng đọc một đoạn trong tuyển tập thư hương này:

Người đem theo nụ cười 
Đi vào giấc mộng 
Những vì sao chưa mọc 
Những vì sao đã chết 
Bỗng nhận ra mình 
Mất tích bao năm 

Người đem theo nụ cười 
Đi vào bóng tối 
Những hạt lệ lặng lẽ 
Những hạt lệ vô hình 
Bỗng nhận ra mình 
Bật khóc 

Người đem theo nụ cười 
Đi vào những biên giới… (Có Vì Sao Mới Mọc)

Nguyễn Xuân Thiệp 
Dallas, tháng 11.2024

(Nguồn: tranthinguyetmai.wordpress.com)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Một Chút Tôi  & “Chuyện Hồi Đó”

11/03/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 7 Bình luận

Một Chút Tôi  & “Chuyện Hồi Đó”

Minh Lê (NT) và Đỗ Hồng Ngọc:

Ghi Chú: “Chuyện Hồi Đó” là bản thảo mới của tôi, giống như Hồi Ký mà không phải Hồi Ký. Cô Minh Lê (NT) và Trần Thị Nguỵệt Mai (HK) là hai người “bạn xa xôi” mà thân thiết, gần gũi đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình

hình thành “tác phẩm” này. Dịp này, gặp tôi ở Nha Trang (27.2.2025), nhân ngày Thầy Thuốc VN, Cô Minh Lê (NT) muốn có một chút trao đổi “bên lề” cho vui.

Xin gởi đến các bạn cùng xem.

Đỗ Hồng Ngọc

 

Bìa: Hs Hà Thảo

 

Điều gì khiến anh có cảm hứng viết Chuyện Hồi Đó?

Nhiều bạn bè khuyên nên viết Hồi Ký, đặc biệt là anh Nguyễn Hiền Đức (5 Hiền).

Nguyễn Hiền Đức là một cư sĩ, thường gọi Anh 5 Hiền, trước 1975 từng có thời là Thư ký Tòa soạn của tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, trưởng phòng Tu thư  Đại học Vạn Hạnh, thư ký riêng của HT Thích Minh Châu…

Năm 2021 anh đã gởi tôi món quà sinh nhật:  Đỗ Hồng Ngọc- Tiếng gọi sâu thẳm của Y vương, ghi “Quà tặng mừng Sinh Nhật 81 của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc” thấy đã đăng trên Thư viện Hoa Sen, và trước đó, anh cũng đã có bài “ Phác thảo chân dung Đỗ Hồng Ngọc”…

Năm 2014, Nguyễn Hiền Đứcđã viết (…) “ Năm nay bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã 75 tuổi ta rồi. Cái tuổi đã chín muồi, đã lịch lãm, đã trải nghiệm và chiêm nghiệm được nhiều điều về bản thân, gia đình, bè bạn, nghề nghiệp. Ông cũng đã trải qua những biến thiên dữ dội của thời cuộc. Ông lại có những mối quan hệ xã hội khá rộng rãi và hiểu biết tường tận về nhiều việc, nhiều người dưới cái nhìn, cái cảm của một người giàu Phật tính, thấm nhuần triết học Phật giáo. Vì vậy, tôi kính cẩn thưa trình với ông rằng tôi mong sớm được Hồi ký của ông. Nhớ lại, ông đã nhiều lần “thúc hối” thầy mình là Nguyễn Hiến Lê viết hồi ký như André Maurois đã từng làm với Un ami qui s’appelait moi vậy! (…) Trước nay tôi vốn thích đọc Hồi ký, và các cuốn hồi ký mà tôi thích nhất vẫn là cuốn của Nguyễn Hiến Lê, Đào Duy Anh, Quách Tấn, Trần Văn Khê…, và, chắc chắn sẽ rất thích Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc. Tôi không dám nói sai lời và cũng như nhiều độc giả chí cốt của Đỗ Hồng Ngọc nóng lòng chờ đợi Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc.

Tôi nghĩ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nhiều điều kiện thuận lợi, có nhiều cơ duyên tốt lành để khởi sự sớm hoàn thành tập hồi ký được nhiều người chờ đọc, đón đọc (…). Mong lắm thay, thưa bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!”.  

Nguyễn Hiền-Đức (Santa Ana, tháng 3.2021)

Có thể gọi Chuyện Hồi Đó là Hồi ký của anh không?

Không. Tôi không có khả năng viết “Hồi Ký”. 

Phần khó nhất khi chuẩn bị bản thảo Chuyện Hồi Đó là gì?

Là phân biệt “Hồi Ký” với “Chuyện Hồi Đó”

Hồi ký là một sáng tác văn chương, thể loại ký, do chính tác giả viết về mình, tự mình nhìn mình, bộc lộ, chia sẻ theo trình tự thời gian… 

“Chuyện Hồi Đó” là những chuyện cũ, xưa, kể lại bởi một người có tuổi, già khú, có thể trong một buổi “trà dư tửu hậu” cùng bạn bè. Tôi viết lúc đã 86 tuổi (Tết Ất Tỵ,2025).  .

Nó không phải là một sáng tác, một ghi chép (ký) theo thời gian.

Với tôi, nó không phải nói về “cái tôi”, chủ quan của mình.

Tôi nhìn mình một chút, rồi nhờ người khác nhìn tôi với “chủ quan” của họ.

Tôi chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp, suy tư, học hỏi. Tôi tri ân con người, vùng đất…

Tôi muốn người đọc có lợi ích khi đọc, không chỉ vì tò mò.

Dĩ nhiên, cho tuổi già của chính tôi. Có thể cười mình.

 

Trang nhà Đỗ Hồng Ngọc (dohongngoc.com) có ý nghĩa gì đối với anh?

“Ý nghĩa” rất lớn đó chớ! Nó gần như là một “kho tàng” lưu trữ để khi viết tôi chỉ cần tìm lại. Tôi phải cảm ơn Phùng Minh Bảo và Lê Thị Thuỳ Linh. Chính nhờ các em mà tôi có trang web dohongngoc.com này trên 15 năm nay. Cũng nhờ trang Web này, tôi có dịp học hỏi, giao lưu và tương tác với bạn đọc. Ngạc nhiên thấy thế giới nhỏ bé đáng kinh ngạc, càng ngạc nhiên thấy tình người lại gần gũi đáng kinh ngạc đến vậy.

Cái chất “công tử – nhà quê” mà anh nói được di truyền từ Ba-Má anh đã thể hiện trong văn và thơ anh ra sao?

Nó thiệt thà, chơn chất, nhưng đôi khi cũng… bay bướm đó chớ phải không? Lá chín vàng/ lá rụng về cội/ Em chín vàng/ chắc rụng về anh…; hay Sóng quằn quại/ thét gào/ không nhớ/ mình là nước…

Người ta nói văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ nói chung đều rất đa tình vì yêu cái đẹp. Anh có nghĩ mình là người đa tình không?

Có. Mà nhút nhát, rụt rè quá. Đáng tiếc!

Trong một bài phỏng vấn của nhà báo, anh có nói “Thà có một trái tim đau yếu vì tình yêu còn hơn một trái tim… lãnh cảm!”. Anh có thể giải thích và cho ví dụ không?

Ví dụ người thất tình… sướng hơn người lãnh cảm.

Chuyện Hồi Đó cho biết mối tình đầu của anh là lúc anh 12 tuổi, và mấy năm sau gặp lại anh còn làm thơ cho người ấy nữa. Không biết “mối tình đầu” ngày ấy là đơn phương hay là cả hai…

Đó là cô bạn cùng lớp… Nhứt (tức lớp 5 bây giờ!). “ Nghe nói người xưa chừng lỡ bước/ Nghe nói lòng ta chừng chưa nguôi…”. Thấy chưa? Lòng ta mà chỉ “nghe nói” thôi, chỉ nghe “đồn rằng” thôi đó nhe. Tuy vậy cũng đã có những bức thư bằng pelure màu xanh… thuở 15, 16.

Cũng theo Chuyện Hồi Đó, ngày anh gặp chị (vợ Bs ĐHN) anh trúng ngay “coup de foudre” phải không?

Phải. Sau này tôi thường nói với vợ tôi: Anh có một người anh yêu hồi 12 tuổi, một người anh thương hồi 20 tuổi, nhưng em mới là người anh vừa yêu vừa thương. Vì vậy mà đã sống với nhau gần… 60 năm!

Có cuốn sách nào đã làm thay đổi cuộc đời anh không?

Có. Cuốn Kim chỉ Nam của Học sinh của Nguyễn Hiến Lê (1951). Cả các cuốn Gương Danh Nhân, Gương Kiên Nhẫn… và Tự học để thành công (1954) của ông nữa.

Cuốn sách anh thích nhất lúc nhỏ là gì?

Anh phải sống. Hai buổi chiều vàng. Tâm hồn cao thượng… Và một lô truyện Tam Quốc, Thuỷ Hử, Đông Châu Liệt Quốc… Sau này là Kiếm Hiệp Kim Dung. Có lần tôi tự chữa bệnh đau bao tử của mình nhờ kiếm hiệp Kim Dung đó.

Nếu anh có thể nói một điều với chính anh khi còn trẻ, anh sẽ nói điều gì?

Nhắc “Tương lai trong tay ta”, đó là một tựa sách của Nguyến Hiến Lê.

Kỷ niệm nào anh nhớ nhất về tuổi học trò của anh ở Phan Thiết?

Là xách guốc xuồng gỗ mỗi khi qua nhà người ta, dù người ta mới 11 tuổi. Và đặc biệt là bức thư trên giấy pelure màu xanh người ta gởi tôi khi mới 15…

Anh viết rằng người thầy thuốc “được làm nghề y vì cái nghiệp của mình”, có thể hiểu rằng phải đúng “nghiệp” mới làm bác sĩ được phải không?

Cái “nghiệp” nó mang mình đi, nó đẩy mình tới. Còn gọi là cái “Vocation”. Cái “thiên hướng”.

Anh từng viết: “Nghề y là một nghề đặc biệt, muốn đào tạo người thầy thuốc vừa có năng lưc chuyên môn vừa có lòng nhân ái thì điều kiện tuyển chọn cũng phải đặc biệt.” Theo anh kỳ thi vào các trường Y Khoa còn cần yêu cầu nào khác ngoài điểm số các môn học?

Mỗi nước, mỗi giai đoạn đều có cách đào tạo phù hợp. Thời tôi thi vào Y khoa, năm 1962, ngoài các môn học còn có 20 câu hỏi “Kiến thức tổng quát” vầ văn hoá, lịch sử, địa lý, âm nhạc, hội hoạ… và đặt biêt có 2 câu tôi nhớ mãi: Giá gạo trên thị trường bao nhiều một ký? Giá than trên thị trường bao nhiêu một ký. Chắc là muốn coi người bác sĩ tương lai có quan tâm đời sống xã hội đường thời không? Ở Singapore, ngoài bài thi viết còn có phỏng vấn. Nhóm phỏng vấn gồm một giáo sư, một bác sĩ, một điều dưỡng và một… bệnh nhân!

Có lý do nào đặc biệt khiến anh yêu ngành Nhi Khoa không?

Nhi khoa, xưa gọi là Á khoa, khoa “câm”. Trẻ không biết nói mà! Khi khám bệnh cho trẻ, phải có óc “quan sát” tốt để tìm ra bệnh. Cẩn thận! Trẻ không biết nói nhưng có thể giựt văng kiếng cận của mình hoặc… tè vô mặt mình. Chẳng mấy chốc mà chú nhóc ngày nào đã trở thành cậu thanh niên cường tráng, cô nhóc ngày nào đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp… Rồi một hôm, họ mang một nhóc không biết nói khác tới kêu mình khám cho nó. Một  vòng đời, ngộ không?

Săn sóc sức khỏe ban đầu là gì?

Primary Health Care, được dịch là Chăm sóc (hay Săn Sóc) Sức Khoẻ Ban Đầu. Một triết lý nhân bản trong Y khoa, sau Hội nghị quốc tế tại AlmaAta, năm 1978, lấy phòng bệnh làm chính, khẳng định “sức khoẻ” là sự sảng khoái (well- being) toàn diện về cả thể chất, tâm thần và xã hội của con người, gắn liền với sự phát triển của địa phương. PHC quan tâm môi trường sống, dinh dưỡng, phòng dịch bệnh… Giáo dục sức khoẻ, Nâng cao sức khoẻ là yếu tố rất quan trọng để tạo được sự “tham gia của cộng đồng”, sự “phối hợp liên ngành”. Bởi Y tế chủ yếu là chữa trị bệnh tật, còn “Sức khoẻ” là nhiệm vụ của toàn xã hội.

Điểm quan trọng nhất theo anh trong Y đức là gì?

Là “Primum Non Nocere” . First Do No Harm. Trước hết, đừng làm hại.

Y nghiệp khác y đức chỗ nào? Cái nào quan trọng hơn?

Y nghiệp là những nguyên tắc thực hành nghề y, đòi hỏi sự chuyên nghiệp, chính xác. Y đức là vấn đề “tâm hồn” của người thầy thuốc đối với bệnh nhân. AI phát triển thì Y nghiệp phát triển, nhưng Y đức thì chỉ có ở con người với con người.

Anh từng viết một bài có tựa “Bác sĩ mà cũng bệnh!” Dĩ nhiên bệnh tật không chừa ai, dù là… bác sĩ! Kinh nghiệm vượt qua bệnh tật hay thậm chí “sống chung với bệnh” của anh là gì?

Là… đáng đời! Là ráng chịu! Ai biểu!

Ai mà chẳng phải bệnh. Trong cuốn “Quy luật của muôn đời”, tiểu thuyết của Nodar Dumbatze (Gruzia), tôi nhớ tác giả nói mỗi người ít nhất nên bệnh nặng một lần trong đời. Bệnh làm mình sáng mắt ra…

Khi đỡ bệnh sau đợt mổ sọ não năm đó (1997), tôi viết bài thơ: “Xin cám ơn, cám ơn” là vậy. 

Năm nào thì anh thực sự “rửa tay gác kiếm”?

Không biết. Cứ lâu lâu lại “Rửa tay gác kiếm” một lần! Năm 1985, tôi rời Lâm sàng (Cấp Cứu, Bệnh Viện Nhi Đồng 1); năm 2005 rời Trung Tâm Truyền Thông & Giáo dục sức khoẻ; năm 2010, rời Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch; năm 2020 đóng cửa Phòng mạch…

Anh viết khá nhiều bài về Nhật. Nếu cần chọn ba từ để mô tả ấn tượng nước Nhật để lại trong anh, anh sẽ chọn những từ nào?

Chút hương xưa!

Anh ấn tượng nhất điều gì ở Úc?

Đó là lúc đến thăm The Twelve Apostles (12 vị Thánh tông đồ của Chúa), nay đã sụp đổ còn 8 vị… và sẽ sụp đổ tiếp nay mai. Chưa ở đâu liễu ngộ Vô Thường, Vô Ngã, Thực tướng Vô tướng như vậy. Tôi thấy ở đó các vị Bồ Tát, các vị Thánh tông đồ… giữa biển thức Lankavatara bèn chắp tay xá xá… tất cả!

Tôi còn ấn tượng với một bệnh viện Ung Thư ở Melbourne, ở đó, bác sĩ, y tá và bệnh nhân đều ăn mặc giống nhau để … không thể phân biệt!

Anh nhớ nhất kỷ niệm nào trong chuyến đi Nepal về thăm đất Phật?

Lúc thăm Lumbini, nơi Phật đản sanh và thăm Kapilavastu (Ca-Tỳ-La-Vệ) nơi Phật vượt ra khỏi cổng thành.

Có ý nghĩa ẩn giấu hay biểu tượng nào trong các bài viết (thơ, văn) của anh chưa được nhận ra không?

Làm sao biết? Người đọc là người “nhận ra” nhiều thứ mà mình đâu có ngờ tới!

Anh có bao giờ lấy cảm hứng từ âm nhạc hay hội họa không?

Nhiều chứ. Nhất là ca từ của Trịnh Công Sơn. Nó giúp tôi viết Gió heo may đã về, và Về thu xếp lại…

Có khi nào một bài thơ hay bài viết thay đổi bất ngờ so với dự định của anh khi bắt đầu viết không?

Thường khi không có “dự định” gì cả. Thơ nó đến bất chợt. Tuỳ bút cũng vậy. Ý này dẫn ý kia… Kệ nó.

Anh cân bằng giữa trải nghiệm cá nhân và trí tưởng tượng trong thơ anh như thế nào?

Trí tưởng tượng mới là… cốt lõi. Trải nghiệm có khi chỉ là cái cớ, tình cờ. Chẳng hạn một hôm cà phê với người bạn trẻ dưới gốc cây cổ thụ ven đường, nhìn chiếc lá vàng rơi, tôi chợt viết “lá chín vàng lá rụng về cội… em chín vàng chắc rụng về anh…”!  

Nền tảng văn hóa và tri thức đóng vai trò gì trong việc hình thành thơ và văn của anh?

Nền tảng văn hoá đóng vai trò quyết định.

Anh có thường viết vào một thời điểm cụ thể trong ngày không?

Không. Tôi có phải là nhà văn “thứ thiệt” đâu. Nhưng ông Nguyễn Hiến Lê nói đúng. Cứ viết đi rồi hứng sẽ đến. Như “L’appetit vient en mangeant”! Ăn đi rồi thấy ngon.

Anh từng viết cho tuổi mới lớn, tuổi thanh niên, tuổi trung niên, tuổi già. Anh thấy viết cho tuổi nào khó nhất?

Tôi phải sống qua tuổi đó rồi mới viết được. Viết như “nói chuyện” thân tình với nhau thôi mà, có phải “văn chương phú lục” gì đâu! Người đọc nói tôi viết như viết cho riêng họ, vì “đi guốc trong bụng” họ!

Anh đã viết tùy bút, tản văn, y học, Phật học… Thể loại nào được anh ưa thích nhất?

Không có sự phân biệt nào trong lúc tôi viết. Tôi không định hình thể loại ở đây. Phật học thì tôi viết tuỳ bút. Tuỳ bút thì tôi viết… khoa học. Y học thì tôi… làm thơ! Ối trời, phải phân biệt rạch ròi nữa sao?

Anh có rất nhiều bạn văn, bạn thơ. Với ai anh cũng có một tình bạn dài lâu và rất đẹp. Bí quyết giữ gìn tình bạn của anh là gì?

Không nhiều bạn văn thơ đâu! Nhưng đã là bạn thì luôn là dài lâu và rất đẹp nữa. Tôi nghĩ: sự chân thành.

Trong các bài viết về thơ văn anh, chỉ có Giáo sư Cao Huy Thuần bắt gặp “con người thứ ba” trong anh, con người “cười cười” một chút và rất nghịch… ngầm. Anh thấy có đúng không?

Ông ấy tinh tế thật. Giấu ổng hổng nổi!

Trải nghiệm đầu tiên nào khiến anh nhận ra rằng ngôn ngữ có sức mạnh?

Tôi nhà quê thứ thiệt, vẫn nghĩ ngôn ngữ là “phương tiện” thôi. Tôi không nghĩ cứ uốn éo ngôn ngữ thì thành văn chương. Trong thơ, tôi thấy cái “Tứ” mới là điều cốt lõi. Người ta có thể quên ngôn ngữ, nhưng cái “tứ” thì nhớ mãi. “Oan oan thư cưu/ tại hà tri châu/ yểu điệu thục nữ/ quân tử hảo cầu” ngàn năm trước… dịch qua ngôn ngữ nào cũng được!

Anh có nghĩ rằng ai đó có thể thành một thi sĩ hay văn sĩ giỏi mà không cần trải qua đau khổ không?

Đau khổ nhiều khi là một chất liệu. “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thù độc” (Xuân Diệu).

Anh nghĩ thơ, văn và tranh tác động như thế nào đến sức khỏe tinh thần của một người?

Nó làm cho con người mềm nhũn ra.

Những chuyến du lịch có ảnh hưởng đến hình ảnh trong thơ anh không?

Nhiều chớ. Nhờ đi đây đi đó, tôi có cảm xúc để viết. Thí dụ những ngày ở Paris, tôi viết tập Vòng Quanh.

Làm sao để truyền tải một cảm xúc mãnh liệt vào thơ?

Cố tình “truyền tải” thì có khi chẳng “truyền tải” được gì cả. Nó tự nảy ra ở người đọc. Thí dụ: “Ngoại  chờ bên kia sông” hay “Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?” … Người đọc tự mình “truyền tải” thì tốt hơn tác giả cố ý!

Anh thường chọn tựa đề của thơ anh ra sao?

Không cần chọn. Nó hiện ra chình ình. Thí dụ Mũi Né. Thí dụ: Giả sử

Khi anh viết một bài thơ, điều gì xuất hiện với anh đầu tiên: chủ đề, từ ngữ hay hình ảnh?

Ý tưởng. Cái tứ. Những “thứ khác” đến sau. Bài thơ Tình Già, chỉ cần “con mắt còn có đuôi” là đủ phải không?

Thơ một người vừa là bác sĩ vừa là thi sĩ có khác với thơ của người vừa là kỹ sư vừa là thi sĩ không, theo anh?

Không. Huy Cận là một kỹ sư canh nông, Xuân Diệu làm nhân viên hải quan… Thơ không đến bằng nghề nghiệp!

Trong những nhận xét và cảm nhận của người khác về thơ anh, có ý tưởng nào làm anh hết sức ngạc nhiên không?

Có một nữ độc giả không quen biết xác nhận tôi viết bài thơ đó là viết cho riêng cô!

Thơ anh được phổ nhạc khá nhiều, trong đó có bài nào làm anh rung động nhất không?

Bài Bông Hồng Cho Mẹ viết về Mẹ tôi và bài Sông Ơi Cứ Chảy, viết cho La Ngà.

Anh thích nhất bức nào trong các tranh vẽ bằng bút sắt của anh?

Đó là bức Harvard Square (ở Boston) và bức Sacre Coeur (Nhà thờ Thánh Tâm ở Paris)

Anh có “nghề” vẽ tranh bằng ngón tay. Tại sao anh thích vẽ bằng ngón tay?

Vì kiếm “đồ nghề” không dễ lúc đó. Cao hứng thì sẵn có ngón tay. Tôi nhớ Phong Thanh Dương dạy “độc cô cửu kiếm” cho Lệnh Hồ Xung, lúc Lệnh Hồ Xung bị đánh văng kiếm lúng túng không biết làm sao, ông bào, sao ngu vậy, ngón tay cũng là… kiếm chứ!

Trong một bài phỏng vấn, anh nói “Tôi mừng vì vẫn giữ được cảm xúc để làm thơ”. Anh thường giữ cảm xúc bằng cách nào?

Bằng cách để cho cảm xúc nó tuôn trào. Kệ nó.

Anh có bao giờ nghĩ tới chuyện “làm mới” thơ hay văn của mình không?

Không. Việc gì phải làm mới? Đọc cuốn Ý Cao Tình Đẹp của Nguyễn Hiến Lê (sách dịch), tôi thấy mình cũng rưng rưng muốn khóc. Làm mới, có thể gây ngạc nhiên nhưng khó làm cho khóc. Khi đọc Anh phải sống của Khái Hưng hồi 12 tuổi ở trong chùa, tôi cũng khóc. Nhạy cảm quá chăng. Vớ vẩn quá chăng?

Anh thường tìm cảm hứng cho thơ văn của mình từ đâu?

Tôi không tìm. Nó tự đến.

Anh có cảm thấy văn phong của mình thay đổi theo thời gian không?

Có. Hình như mình già thì văn nó cũng già theo. Nó run rẩy, nó lẩn thẩn, nó mít ướt.

Điều gì quan trọng nhất đối với anh khi viết về một nhân vật?

Tôi muốn nhìn được trong sâu thẳm tấm lòng của họ. Nhiều người khen bài tôi viết về Trang Thế Hy.

Hai chân dung anh viết khá chi tiết là học giả Nguyễn Hiến Lê và thi sĩ Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư. Một người uyên bác chân phương, một người phóng khoáng bay bổng. Anh cảm thấy anh giống ai hơn?

Giống mỗi người một nửa. Không phải công tử với nhà quê mà người điên với nhà nho.

Bài thơ của nhà thơ nào anh cảm thấy tâm đắc nhất?

Tình Già của Phan Khôi và To Edith của Bertrand Russell viết khi ông 90 tuổi!

Anh đã bao giờ bị bí ý tưởng khi viết chưa?

Chưa. Vì khi có ý rồi mới viết. Để đó, cho nó “hoai” đi. Mấy hôm rồi đọc lại. Lúc đó, cần thì sửa. Tôi có học Văn với thi sĩ Vũ Hoàng Chương, lớp 11, ông nói, có những bài thơ ông sửa đến 36 lần! Nhà thơ Giả Đảo, đời Đường nổi tiếng “thôi xao” chúng ta đều biết!

Anh có nghĩ rằng một nhà văn có thể viết hay mà không cần có cảm xúc không?

Có. Đó là những nhà văn chuyên nghiệp, họ có thể cùng lúc viết nhiều feuilleton… cho nhiều tờ báo.

Anh đã viết nhiều bài về tuổi già, vậy anh có thể tóm tắt bí quyết “già sao cho sướng” được không?

Là “biết mình già”, OK với nó. Welcome nó.

Anh có thể giải thích chữ “Không” trong Phật học một cách dễ hiểu không?

Đừng hiển lầm “Không” là không có gì nhe. Không trong Phật học là “trống rỗng”, là không có “tự tính” riêng biệt. Mọi “pháp” đều do Duyên sinh. Hiểu vậy, ta hiểu tại sao Vô thường, Vô ngã… Và, giải thoát khổ đau, dính mắc.

Anh hiểu thế nào là “quay về nương tựa chính mình”?

Không lẽ nương tựa vào ai bây giờ? Ai có thể thở giùm mình, ai có thể khổ đau giùm mình, ai có thể si mê giùm mình?

Anh viết: “Một người mà không thể từ bi với chính mình thì làm sao có thể từ bi với người khác được?” Từ bi với chính mình là sao?

Là “Biết ơn mình”. Nhiều người oán ghét mình lắm. Sáng sáng nhìn vào gương thấy ghét. Già nua, nhăn nhúm… Rồi so sánh mình với người khác nữa… Nhờ đó mà các cơ sở “thẩm mỹ” giả mọc lên như nấm không thấy sao?

Anh nói “Thiền là Thở”, đơn giản vậy sao?

Phải. Phật dạy trong kinh Anapanasati. Một phương pháp Thiền hiệu quả và khoa học nhất. Không sợ “tẩu hỏa nhập ma”. Qua hơi thở, ta thực hiện cả Samatha (thiền chỉ) và Vipassana (thiền quán). Đời sống chỉ là một hơi thở. Thân và tâm cùng trong hơi thở. An lạc hay khổ đau nằm trong hơi thở đó thôi.

Anh khen phương pháp Thở của Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện rất hiệu quả. Anh có thể cho biết cách anh thực hành?

Bs NKV bị mổ phổi 7 lần ở Pháp (năm 1946), chỉ còn 2/3 lá phổi trái. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống 2 năm. Vậy mà với phương pháp thở bụng, ông đã sống thêm được… 50 năm, chẳng thú vị sao? Phương pháp thở bụng (abdominal breathing, diaphragmatic breathing) không lạ. Người xưa ở Đông phương gọi là đưa hơi xuống huyệt “đan điền” đó thôi. Bs NKV là cố vấn Bộ môn Tâm lý – Xã hôi học ở Đai học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, do tôi là Trưởng Bộ môn, ông cũng chia sẻ với tôi nhiều lần nhưng tôi không mấy quan tâm, đến khi tôi bệnh nặng phải mổ sọ não thì tôi mới đem ra ứng dụng. Hay chớ! Tôi đã viết lại đầy đủ trong cuốn Thiền và Sức khoẻ.

Dường như anh chưa bao giờ viết nhiều về “tham, sân, si”, “thân, khẩu, ý”, “nghiệp và nhân quả”. Anh coi trọng việc thở, ăn và hiện diện trong giây phút hiện tại hơn, có đúng không?

Thở, Ăn, Biết sống Ở đây và Bây giờ chẳng đã đủ rồi sao? Đó chính là chánh niệm, tỉnh giác. Còn tham sân si… gì nữa cho mệt! Hiểu Phật là hiểu Duyên sinh. “Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên” (Trần Nhân Tông) nhớ không? Biết tuỳ duyên, thuận pháp là đã đủ cho nếp sống “cư trần lạc đạo” rồi đó vậy.

Có thể hiểu điều Phật dạy và thực hành giỏi mà không cần thuộc nhiều kinh kệ không?

Thuộc một vài câu Kinh Kệ là đủ. Lục tổ Huệ Năng chỉ nghe câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà giác ngộ tức khắc. Ngày nay, thời AI, Internet, deep fakes… thì cũng chỉ cần thuộc câu đó và ứng dụng vào đời sống. Luôn nhớ rằng “Nói vậy mà không phải vậy!”. Ai ngây thơ, “tưởng thiệt” sẽ lãnh đủ!

 

Trao đổi lai rai đến đây là… hết.

Cảm ơn các bạn.

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 11.3.2025)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi: Thư quán HƯƠNG TÍCH

27/01/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi: Thư quán HƯƠNG TÍCH

 

Đã lâu không ghé thăm Hương Tích, Thư quán của Thầy Tuệ Sỹ, nay do Thầy Hạnh Viên, Trưởng tử của Thầy Tuệ Sỹ chăm sóc. Rất nhiều hình ảnh, dấu tích của Thầy Tuệ Sỹ còn đó.

Tình cờ mà gặp Tâm Nhiên. Râu tóc xum xuê.

Gởi bạn vài hình ảnh thôi nhe.

 

Tâm Nhiên, Đỗ Hồng Ngọc, Thầy Hạnh Viên.
Thư Quán Hương Tích, 16.01.2025

 

Đỗ Hồng Ngọc và Tâm Nhiên.

 

 

Gởi tặng Thầy Hạnh Viên cuốn Ngôn Ngữ đặc biệt (ĐN/ĐHN), có bài viết về Thơ Tuệ Sỹ “Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn”…

 

Một bức thư pháp của Thầy Tuệ Sỹ. Chịu, không đọc nổi! Thầy Hạnh Viên bảo đó là một câu thơ của Lý Hạ, đời Đường: Thiên nhược hữu tình thiên diệc lão.

 

Trời mà có tình thì trời cũng già thôi!

Bạn thấy không? Đừng kêu tại sao mình già… khú đế nhe!

Nhớ Chu Mạnh Trinh không? Ta cũng nói tình thương người đồng điệu!

Cho nên ta… già và già nhanh là phải rồi!

 

Thân mến,

ĐHN

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

06/01/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Nghĩ Từ Trái Tim *

Đỗ Hồng Ngọc

Trái tim không phải để suy nghĩ. Trái tim là để yêu thương. Khi trái tim nghĩ thì chắc cũng không nghĩ như khối óc. Trái tim có cách nghĩ riêng của mình mà nhiều khi khối óc không sao hiểu được. Thời đại của chúng ta, con người dùng khối óc nhiều quá, nhiều đến nỗi người ta luôn ở trong tình trạng muốn “điên cái đầu”. Và thực vậy, bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tự tử, ma túy, stress… ngày càng gia tăng trong một xã hội mà người ta luôn bị quay cuồng, luôn phải chạy đua với tốc độ, tuổi trẻ, nhan sắc, thành đạt…
Có lẽ đã đến lúc thử nghe tiếng nói của trái tim. Một hôm, có chàng thi sĩ đi ngang qua vườn rào kia, giật mình thấy một bông bụp đỏ ở bờ giậu, cái bông bụp rất tầm thường như hàng ngày chàng vẫn thấy khi qua lại chốn này, bỗng nhiên như nở một nụ cười mầu nhiệm, rồi không chỉ cười, nó hát, và chàng thi sĩ chỉ còn biết sụp lạy, cúi đầu (1). Vâng, chàng đã nghe. Nghe không phải từ bông hoa kia mà từ trong trái tim mình. Và chàng sửng sốt. Mọi thứ như khác hẳn. Đã thoát ra, đã vượt ra, vượt qua… Người ta có thể nghĩ chàng thi sĩ chắc điên, có điều chàng biết rất rõ chàng đã nghe, đã thấy một điều kỳ lạ. Một thứ mật ngữ. Như anh chàng chèo đò của Hermann Hesse, ngày ngày vẫn chèo đò đưa người qua sông, cho đến một hôm bỗng nghe được tiếng nói của dòng sông và từ đó chàng đã tự đưa mình qua sông, và đã vượt ra, vượt qua.
Chúng ta bây giờ hình như có quá ít thì giờ để nghe tiếng nói của trái tim mình, dù chỉ cần nhấp con chuột trên vi tính thì đã nối trọn vòng trái đất, vậy mà người ta có vẻ ngày càng xa nhau hơn, xa với người và xa cả với mình. Một thi sĩ đã phải kêu lên: “…Không có thì giờ! Chim lấy đâu mà về tổ. Tôi lấy đâu mà làm thơ. Em lấy đâu mà đọc những ai thơ tôi sắp viết?…” (2). Tôi cũng không có thì giờ. Quần quật. Tối tăm mặt mũi vì “trăm công ngàn việc”. Cho đến một hôm, hình như, có lẽ, một lần kia có một lúc hình như tôi cũng chợt nghe. Hình như thôi không chắc không dám. Ngẫm nghĩ ròi viết ra cho khói quên, đế lâu lâu còn coi lại một mình. Ba năm nghiền ngẫm, sáu tháng viết và hơn hai năm ngại ngần, thỉnh thoảng đọc và sửa, nhờ vài bạn thâm giao chỉ thêm cho, rồi tìm tòi, tham khảo, loay hoay…
Tôi không phải là thi sĩ, không phải là tu sĩ, tôi chỉ là một bác sĩ, một người thầy thuốc, nên đôi khi phải hành nghề, phải giúp đỡ bạn bè, hàng xóm, kẻ nhức đầu, người đau lưng… và trước hết là phải chữa bệnh cho chính mình. Có những lúc thuốc men chỉ chữa được cái đau mà không chưa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa, tầng tầng, lớp lớp bên trong. Tôi đành chia sẻ những điều tôi nghĩ, tôi cảm, tôi nghe. Có thể đúng. Có thể sai. Có thể không đúng không sai. Có khi hiệu quả, có khi không. Có người hợp mà có người dị ứng. Vậy nên nếu tình cờ đọc được những dòng này thì xin hiểu cho mà đừng trách. Nếu muốn, có thể tủm tỉm cười một mình. Cũng chẳng khoái ru?

* Lời Ngỏ của sách “Nghĩ Từ Trái Tim” ấn hành năm 2003.

(1) Quách Thoại (2) Nguyên Sa

…. o ….
Thinking From The Heart *
By Đỗ Hồng Ngọc
Translated by Nguyên Giác
                                                  tranh Nguyên Giác

The heart is not meant for thinking; it is meant for loving. When the heart engages in thought, it does not do so in the same manner as the brain. The heart possesses its own unique way of processing emotions that the brain sometimes struggles to comprehend. In today’s world, people rely excessively on their intellect, to the point where they often feel overwhelmed and on the verge of losing their sanity. Consequently, mental health issues, including rising rates of suicide, substance abuse, and stress, are becoming increasingly prevalent in a society where individuals are constantly racing against the demands of speed, youth, beauty, and success.
Perhaps it is time to listen to the voice of the heart. A poet saw a red hibiscus flower blooming on a garden fence one day, which startled him. It was an ordinary hibiscus, like the ones he encountered daily, yet it suddenly radiated a mysterious smile. Not only did it smile, but it also sang, leaving the poet in awe, compelled to bow his head in reverence. Yes, he heard it—not from the flower, but from deep within his heart. He was astonished; everything seemed transformed. He had escaped, transcended, and gone beyond. While others might think the poet was mad, he understood that he had witnessed something extraordinary—a secret code. It was reminiscent of the ferryman from Hermann Hesse’s writings, who rowed his boat daily to ferry people across the river. One day, he heard the voice of the river, and, from that moment on, he took himself across, transcending the ordinary.
We now seem to have too little time to listen to the voice of our hearts. Although clicking a mouse can connect us to the entire world, people appear to be increasingly distant from one another and from themselves. A poet once exclaimed, “No time! Where do birds return to their nests? Where do I find the opportunity to write poems? Where do you learn the poems I am about to compose?” I, too, feel pressed for time. The weight of “a thousand things to do” has left me exhausted. Yet, one day, it seems—perhaps once in a while—I suddenly hear it. I am uncertain; I am not willing to believe it. I contemplate it until I forget, only to look back at it in solitude. Three years of reflection, six months of writing, and more than two years of hesitation have passed, during which I occasionally read and edit, seek advice from a few close friends, and engage in a process of searching, consulting, and struggling.
I am not a poet or a monk; I am simply a doctor and a healer. My duty is to practice medicine, to assist friends, neighbors, and those suffering from headaches or back pain. Above all, I must first heal myself. There are times when medicine can alleviate pain but not eliminate suffering, or it can address external symptoms but fail to reach the deep-rooted issues buried beneath many layers within the mind.
I need to express my thoughts, feelings, and perceptions. They may be correct, incorrect, or perhaps neither. At times, my insights resonate, while at other times, they do not. Some individuals share my perspective and are not averse to it. Therefore, if you happen to read these words, please try to understand and refrain from judging me. If you wish, you can smile to yourself. Isn’t that delightful?
* Preface to the book “Thinking from the Heart“, published in 2003.

https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19747/

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Giúp Cha Mẹ Vui Tuổi Già

31/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Giúp cha mẹ vui tuổi già

Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch Anh ngữ: Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Đợi cha mẹ già qua đời rồi mới báo hiếu làm đàn tràng cầu siêu thiệt to, mua đất nghĩa trang thiệt rộng, xây mồ xây mả thiệt đẹp, hoặc đem tro cốt vào chùa, nhang khói mịt mù, đặt nắm tro tàn cha mẹ ở một vị trí thiệt tốt… không ngại tốn kém!

Đợi cha mẹ già vào bệnh viện, đặt ống nội khí quản giúp thở, truyền đạm truyền dịch chai dưới chai trên, bơm thức ăn qua ống thông dạ dày, dây nhợ chằng chịt khắp người theo dõi nhịp tim nhịp thở, thuốc men không ngại tốn kém… sẵn sàng bán nhà bán cửa chữa chạy, “còn nước còn tát”!

Thế nhưng khi cha mẹ già đang sờ sờ bên cạnh thì bận bịu trăm công ngàn việc, không có chút thì giờ để hỏi han, chăm sóc…

Một ông bố viết cho con:

“… Người già sợ nhất cảnh cô đơn nên nếu các con đã hiểu thì hãy thương cho tròn. Tình thương ấy không đánh đổi bằng tấm ngân phiếu kếch xù hay quà bánh đắt tiền mà chính là… thời gian. Một lúc nào đó trong ngày mà các con thấy trống vắng thừa thãi thì hãy mang đến tặng Bố giờ phút vô nghĩa ấy! Bản chất nó vô giá nhưng lại vô cùng quý báu nếu chia sẻ đúng đối tượng… Con dư biết, sáng chiều Bố lủi thủi hết ngồi lại nằm, cô đơn bên cạnh một người trả công chỉ biết im lặng canh chừng. Nếu con đến thăm, nhớ bỏ hết công việc và lo toan ở ngoài xe trước khi vào nhà, tránh cảnh thân tâm mỗi chỗ mỗi nơi để cha con sống thật những kỷ niệm cuối đời bên nhau. Người già như Bố đương nhiên ăn nói sẽ không còn mạch lạc hấp dẫn, xin con đừng nhăn nhó… Hãy nhẫn nại ngồi nghe như thuở nuôi con còn bé, Bố đã từng chăm chú theo dõi tiếng con bi bô học nói… lặp đi lặp lại nhiều lần một chữ từ ngày này qua ngày nọ liên hồi…”. (Internet).

Có một cách giúp biết khi nào cha mẹ đã… bước vào tuổi già ấy là “lén” quan sát họ có những dấu hiệu bất thường nào về tâm lý, về sức khỏe của lứa tuổi già chưa.  Nhưng biết là để quan tâm, chăm sóc, can thiệp kịp thời thôi chớ không phải để “dán nhãn” cho họ đã già nua, lỗi thời, rồi không để họ còn có chút độc lập tự do gì nữa thì rất không nên!

Họ có lơ là quá đáng chuyện ăn mặc không? Xưa áo quần thẳng thớm, nay xốc xếch, xộc xệch, đứt nút, rách bâu mặc kệ? Họ có lơ là quá đáng việc chăm sóc bản thân mình không? Chẳng buồn tắm rửa, hớt tóc cạo râu, tóc tai bù xù mặc kệ. Trí nhớ họ còn tốt không hay quên trước quên sau, lặp đi lặp lại hoài một chuyện? Họ có loay hoay tìm kiếng lão, dù đang đeo trên mắt hay tòng teng trên cổ không? Họ có nghễng ngãng nghiêng tai bên này bên kia để nghe cho rõ hoặc cứ hỏi đi hỏi lại một chữ không? Họ có kêu TV mờ, sách báo chữ nhỏ quá, màu sắc không rõ ràng như xưa không? Họ có bước đi từng bước chầm chậm, loạng choạng, lê chân trên mặt đất như chân đã mọc dài ra và dễ bị vấp, bị trượt, bị té ngã không? Họ có kêu đau lưng nhức mỏi thường xuyên không? Có bỏ quên chìa khóa, quên điện thoại nơi này nơi kia tìm kiếm vất vả không? Thỉnh thoảng có quên tắt lò gaz, quên khóa cửa nhà… không?

Để ý coi họ còn thèm ăn uống không, ăn uống có còn biết ngon lành không hay sao cũng được? Họ có chê món này cứng món kia khó nhai không? Ngủ có dễ không hay trằn trọc loay hoay suốt đêm? Có còn ham đi đây đi đó, cà phê cà pháo với bạn bè không? Có còn mê coi đá banh, tennis… như ngày xưa không hay chỉ thích ngồi im một chỗ lúc nào cũng như đang im lặng lắng nghe, nhớ nghĩ đâu đâu…hoặc ôm TV suốt ngày rồi nhầm tưởng cảnh tượng trong phim ảnh là sự thật ngoài đời?

Để ý coi họ có đã bắt đầu thở hồn hển nặng nhọc… khi leo cầu thang trong căn nhà quen thuộc của mình không? Họ có bắt đầu thức giấc tiểu đêm nhiều lần, có dễ bị dị ứng khi ăn một món  ăn quen thuộc? có bị bón phải rặn hì hục vất vả không?…

Tóm lại, quan sát kỹ một chút sẽ thấy những thay đổi đó và tốc độ thay đổi ngày càng nhanh. Già thiệt rồi!

Một ông lão than thở: “ Các lão bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ đầu tiên bị con cái bỏ rơi”. Ngậm ngùi quá đỗi! Vì đâu nên nỗi?

Bởi vì thế hệ trước kia sống trong nền văn hóa đề cao “đạo hiếu”, học Quốc văn giáo khoa thư, học Nhị thập tứ hiếu, gia đình “tứ đại đồng đường”, xóm làng gần gũi, dư luận buộc ràng,  nay thì đời sống đã khác: gia đình hạt nhân, nhiều cặp ly hôn ly dị, single mom, single dad v.v…, nhiều gia đình chỉ có một con duy nhất làm sao gánh nổi ông bà nội ngoại hai bên?  Rồi đây các thế hệ già sẽ được nuôi trong nhà dưỡng lão (nursing home), nên ngay bây giờ phải coi chuyện “con cái bỏ rơi” là chuyện bình thường, có hiếu thuận là thỉnh thoảng con cái nhớ mà đến thăm đôi khi.

Có nhiều cách để giúp cha mẹ già được vui:

* Dành thời gian ngồi bên cha mẹ, nhắc những chuyện xưa, hỏi chuyện tuổi thơ của cha mẹ, chuyện học hành, chuyện chọn nghề, chuyện tình cảm của họ… để họ có cơ hội kể lại một cách hào hứng, nhiều khi lặp đi lặp lại cũng nên ân cần lắng nghe;

* Nhắc những ngày còn thơ của mình, những khó khăn gian khổ của gia đình như một cách tỏ lòng biết ơn, rằng nhờ họ mà mình có được ngày nay;

* Sưu tầm những hình ảnh kỷ niệm của gia đình qua nhiều giai đoạn, những hình ảnh thuở còn thơ của con cháu, dán vào một album để cùng coi chung cả nhà hoặc làm một  “triển lãm bỏ túi” gợi nhớ những kỷ niệm: “ngày này năm xưa em còn bé tí teo”…;

* Thỉnh thoảng dành thì giờ đưa cha mẹ đi thăm những nơi nhiều kỷ niệm của họ, mái trường xưa, căn nhà cũ dù đã đổi thay, những bà con lâu ngày chưa gặp nơi này nơi khác, những bạn bè thuở ấu thơ kẻ mất người còn…;

* Thỉnh thoảng tổ chức những buổi họp mặt gia đình, đặc biệt những ngày Giỗ chạp, để con cháu được nghe ông bà kể chuyện xưa, kết nối bà con cô bác. Nếu có thể thì tổ chức họp mặt bạn bè cùng lứa của cha mẹ ở một nơi phù hợp, khoáng đãng, họ sẽ có cơ hội trò chuyện râm ran với nhau…;

* Sưu tầm những bản nhạc xưa, phim cũ mà họ yêu thích, giúp họ được nghe lại, xem lại… Kỹ thuật media bây giờ rất hiện đại, chịu khó giúp để tránh sự lọng cọng của cha mẹ già;

* Sưu tầm các bài báo, hình ảnh… nếu có về thành tích của cha mẹ trong lãnh vực văn nghệ, thể thao, nghề nghiệp v.v… làm thành tập tư liệu để cùng xem với nhau, nhắc nhở những niềm hãnh diện xưa!

* Giúp cha mẹ tham gia những buổi sinh hoạt của nhóm bạn già, câu lạc bộ, hội quán người cao tuổi, nhóm coi bóng đá, tennis, nhóm hát hò, ngâm thơ, thậm chí nhóm bạn chơi tứ sắc, mạc chược, cờ vua, cờ tướng…;

* Khuyến khích cha mẹ học một kỹ năng mới: ngoại ngữ, vi tính, chơi games, biết dùng smartphone để chuyện trò, nhắn tin, biết xài tablet ( cái “quẹt quẹt” này giúp biết đủ thứ chuyện trên đời!)… Nhờ đó các tế bào não không bị rỉ sét, các nối kết thần kinh được hoạt hoá, sinh động. Ngày nay người ta biết tế bào não rất nhu nhuyến và có thể sinh sôi!

* Khuyến khích cha mẹ gần gũi nhiều hơn với nhu cầu tâm linh, nói với cha mẹ về nhân quả, luân hồi, thiên đàng, địa ngục… Thường nhắc những việc làm tốt đẹp của họ trước đây để thấy thanh thản, an vui… Khuyên cha mẹ đi chùa, đi nhà thờ… Giao lưu bạn đạo, học tập điều thiện, miễn là không để rơi vào mê tín dị đoan…

Những điều này không phải là lý thuyết. Tôi đã thực hành được gần như vậy khi chăm sóc Mẹ tôi lứa tuổi già. Tôi thường ngồi trò chuyện với Bà, từ đó vẽ được đường dây như một bản đồ dòng họ, bà con bên Ngoại; nhắc bà chuyện Bà “duyên” gặp Ba tôi, chuyện đám cưới nhà quê thời đó, rước dâu có đoạn đường biển cô dâu phải đi ngựa, lội qua ao rạch, dòng suối rộng ở ngãnh Tam Tân. Chuyện bà “nổi ghen”, dắt tôi (gần 5 tuổi) bỏ về giữa buổi trình diễn cải lương ở Rạp hát có Ba tôi đóng vai trong đó; hỏi cả chuyện “người yêu” thuở nhỏ của Ba tôi hồi đó có đẹp không? Bà chỉ nói “cũng được” chớ không chịu là đẹp! Rồi tôi thường đưa Bà về thăm Phan Thiết, Phan Rang, đi ngang Bà Rịa, qua Bưng Riềng, Láng Găng, Bến Ván, Giếng Ngự ở Bình Châu, vùng tản cư của gia đình tôi ngày đó, suốt 7 năm từ 1945 đến 1952 khi Ba tôi mất mẹ con mới về Phan Thiết tá túc nhà cô Hai. Tôi cũng thường đưa Bà về thăm các dì, cậu, cô bác, thăm chùa Hải Nam v.v…, Lúc Bà yếu nhiều, tôi tổ chúc được một buổi gặp mặt các con cháu của Bà tại ngôi nhà ở Lagi để Bà được gặp mọi người, như để chào tạm biệt. Hôm đó còn quay lại phim để lưu cho con cháu… Tôi biết mình làm chưa đủ, nhưng cũng an ủi đã thực hành nhưng điều tôi học hỏi được, và chia sẻ nơi đây.

…. o ….

Help parents enjoy old age

By Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên Giác Phan Tấn Hải

 

Do not wait until your parents have passed away to demonstrate your filial devotion by creating a grand altar, purchasing an elaborate burial plot, constructing an exquisite tomb, transporting their ashes to a temple filled with incense smoke, or placing them in a respectful location, regardless of the cost.

Help your parents enjoy their later years now. Don’t wait for your elderly parents to require hospitalization, an endotracheal tube for respiratory support, two bottles of intravenous fluids, a nasogastric tube for feeding, wires for heart rate and respiratory monitoring, and costly medications. You may even find yourself willing to sell your house to cover the treatment expenses, only to utter phrases like, “As long as there is water in the boat, we must scoop the water out.”

However, when your elderly parents are still around, you may find yourself preoccupied with countless responsibilities, leaving little time to inquire about or care for them.

A father wrote to his son: “The elderly are most afraid of loneliness, so if you understand, then love them fully. Time, not a large check or expensive gifts, exchanges this love. At some point during the day when you feel empty and redundant, bring that meaningless moment to Dad! It is priceless in nature but extremely precious if shared with the right person… You are well aware that Dad spends every morning and evening sitting and lying down alone, accompanied only by a paid worker who silently observes me. When you visit, it’s important to leave all your work and worries in the car before entering the house. This will prevent your body and mind from being separated, allowing your father and son to truly share their final memories together. An old man like Dad will naturally not speak coherently and attractively; please don’t frown… Please sit and listen patiently, just as I did when I was raising you as a baby. Dad used to attentively watch you babble and learn to speak, repeating the same word over and over, day after day.” (Excerpt from the Internet)

One way to recognize when your parents have entered old age is to discreetly observe them for any unusual signs of psychological or physical decline typically associated with aging. However, understanding these changes should lead to caring for them and intervening promptly, rather than labeling them as old or outdated. It is crucial to avoid stripping them of their independence and freedom, as this approach is highly inappropriate.

Are they excessively careless about their clothing? In the past, their attire was neat, but now it appears sloppy and disheveled, with broken buttons and torn cuffs. Are they neglecting their personal hygiene? Do they refrain from showering, shaving, or managing their hair? Is their memory still sharp, or do they frequently forget things, repeating the same statements repeatedly? Do they struggle to find their reading glasses, whether they are wearing them or they are hanging around their necks? Do they tilt their heads from side to side to hear clearly, or do they ask for the same word repeatedly?

Do they express concerns that the television picture is blurry, that the print in books and newspapers is too small, or that the colors are not as vibrant as they once were? Do they walk slowly and unsteadily, dragging their feet as if their legs have grown longer, making them prone to tripping, slipping, and falling? Do they frequently complain of back pain? Do they leave their keys or phones scattered about and struggle to locate them? Do they occasionally forget to turn off the gas stove or lock the door?

Pay attention to whether they still crave food, enjoy eating, or have changed their preferences. Do they find certain foods difficult to chew? Is it easy for them to sleep, or do they toss and turn throughout the night? Do they still like to go out, drink coffee with friends, and engage in social activities? Do they continue to enjoy watching football or tennis as they once did, or have they become more sedentary, sitting quietly and lost in thought, or spending all day in front of the television, confusing movie scenes with reality?

Pay attention to whether they have begun to gasp for breath when climbing stairs in their familiar home. Have they started waking up more frequently at night to urinate? Are they experiencing allergies when consuming familiar foods? Are they constipated and straining?

In short, observe closely, and you will notice these changes; the speed of change is accelerating. They are truly aging!

An elderly man lamented, “My old friends, we must remember that we are the last generation to honor our parents and the first generation to be abandoned by our children.” How tragic! Why is this the case?

Because the previous generation lived in a culture that emphasized filial piety, they studied the National Literature textbook and the Twenty-Four Filial Exemplars. Families often consisted of  generations under one roof, and a strong adherence to public opinion. In contrast, contemporary life features nuclear families, numerous divorced couples, single mothers, and single fathers. Many families now have only one child, raising the question of how they can support both sets of grandparents. In the future, it is likely that older generations will reside in nursing homes. Therefore, we must begin to accept the notion of being abandoned by children as a new normal, where filial piety is redefined to mean that children occasionally remember and visit their parents.

To help your elderly parents find happiness, consider the following suggestions:

* Spend time sitting with your parents, reminiscing about old stories and asking about their childhood, education, career choices, and love stories. This gives them the opportunity to share these experiences with enthusiasm, even if they repeat themselves. It is important for you to listen attentively.

* Reflect on your childhood experiences and the challenges your family faced, expressing gratitude for the sacrifices made by your parents that have contributed to your current circumstances.

* Collect family memories through various stages of life. Gather childhood photos of your children and grandchildren, and compile them into an album for the entire family to enjoy together. Alternatively, create a pocket exhibition to reminisce about special moments, such as this day, years ago, when you were a little kid.

* Occasionally, take the time to bring your parents to visit places filled with memories for them, such as their old school or childhood home, even if it has changed. Reconnect with relatives they haven’t seen in a long time, whether at this location or another, and remember childhood friends who have passed away, as well as those who are still alive.

* Occasionally, organize family gatherings, particularly on death anniversaries, to allow children and grandchildren to hear their grandparents share old stories and connect with relatives. If feasible, arrange a meeting for your parents’ friends in a suitable, open space, providing them with the opportunity to engage in conversation with one another.

* Collect old music and classic movies that they cherish, and assist them in enjoying these again. Media technology has advanced significantly, so please help your elderly parents navigate it to avoid any technical difficulties.

* Collect articles, pictures, and any other materials related to your parents’ achievements in the fields of arts, sports, careers, and more. This will help create a collection of documents that you can enjoy together, reminding them of their past accomplishments.

* Help your parents engage in activities with their old friends, such as clubs, senior groups, football and tennis viewing parties, singing groups, poetry recitation clubs, and gatherings for playing cards, mahjong, chess, or Chinese chess.

* Encourage parents to learn a new skill, such as a foreign language, computer programming, playing games, or using a smartphone for chatting and texting. Familiarity with a tablet can also be beneficial, as this “swipe thing” helps prevent brain cells from deteriorating, activates neural connections, and keeps the mind active. Today, we understand that brain cells are highly adaptable and can regenerate!

* Encourage parents to connect more deeply with their spiritual needs. Discuss concepts such as cause and effect, reincarnation, heaven, and hell. Frequently remind them of their past charitable deeds to foster feelings of peace and happiness. Suggest that they visit a temple or church and engage with religious friends to learn positive values while being cautious not to fall into superstition.

These experiences are not mere theories. I practiced them while caring for my mother in her old age. I often sat and talked with her, during which I traced a family tree, mapping out our relatives on my mother’s side. I reminded her of the story of her “fateful” meeting with my father, recounting the tale of their country wedding. At that time, the bride’s procession stretched along the sea, and she had to ride a horse, wade through ponds, canals, and a wide stream in Tam Tân. I asked about my mother becoming jealous and taking me, then almost five years old, out into the middle of a cải lương performance at the theater where my father was performing. I also inquired whether my father’s childhood sweetheart was beautiful. She simply stated that the other woman was OK, but refused to acknowledge her beauty.

I often took my mother to visit Phan Thiết and Phan Rang, passing through Bà Rịa, Bưng Riềng, Láng Găng, Bến Ván, and Giếng Ngự in Bình Châu. This was the evacuation area for my family during the seven years from 1945 to 1952. It was not until my father passed away that my mother and I returned to Phan Thiết, where we stayed at my Aunt Hai’s house. I frequently took my mother to visit my aunts, uncles, and Hải Nam Pagoda, among other places. When she became very weak, I organized a gathering of her children and grandchildren at our home in Lagi so that she could meet everyone as a way to say goodbye. On that day, I even recorded the event for my children and grandchildren. I know I have not done enough, but I find comfort in knowing that I have practiced what I have learned and shared it here.

 …. o ….

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Đỗ Hồng Ngọc/ Nguyên Giác: “CON VÀO DẠ, MẠ ĐI TU” (song ngữ Việt-Anh)

20/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

“CON VÀO DẠ, MẠ ĐI TU”

Đỗ Hồng Ngọc

Ghi chú: Tôi chọn một ít bài viết, một ít chuyện kể trong “Chuyện Hồi Đó” đưa lên trang Web dohongngoc.com này để sẻ chia cùng bè bạn, đọc… lai rai cho vui nhe.

Đây là bài được Nguyên Giác chọn dịch đầu tiên sang Anh ngữ.

Thân mến,

ĐHN 

 

blank

(tranh Nguyên Giác)

 “Mạ” là Mẹ.  Con vào dạ, mạ đi tu là khi “cấn thai” vào lòng tự nhiên người mẹ nào cũng … “đi tu”!  “Đi tu” đây không có nghĩa là xuống tóc, vào chùa gõ mõ tụng kinh mà chỉ có nghĩa là sửa mình, thay đổi mình, từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài. Mọi thứ ở người mẹ phải sửa sang, phải “tu chỉnh”, nên mới có câu “con vào dạ mạ đi tu”!

Sửa mình không dễ. Nhưng một khi có “con vào dạ” rồi thì tự dưng phải sửa thôi. Bởi có “sửa” thì mọi thứ mới tốt đẹp cho con, cho mẹ, và cho cả gia đình.

Thực ra, không chỉ “mạ đi tu”, mà người cha cùng cả nhà cũng đi tu với mạ!

“Con vào dạ” ấy là lúc mang vào lòng cả một thế giới, cả một kiếp người. Cái sinh linh bé bỏng này nó đến từ đâu? Nó đi về đâu? Nó sẽ ra sao? Nó đến cách nào nó đi cách nào? Người mẹ bỗng trở thành triết gia một sớm một chiều!

Cái gọi là tử cung– “dạ con”-  kia chính là nơi trú ngụ của đứa con, chẳng khác chi hoàng cung là nơi trú ngụ của nhà vua- cho nên kể từ lúc này bé đã là một… vì vua loi nhoi trong bụng mẹ, làm mọi thứ trong người mẹ chuyển động, đổi thay. Mẹ bấy giờ đã là một người phụ nữ khác. Một người sắp là mẹ, sắp làm mẹ. Sinh con rồi mới sinh cha/ sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông. Cũng vậy, “sinh con rồi mới sinh mẹ”. Không có con thì sao là mẹ được! Và khi cái thai nhú lên từ trong bụng mẹ thì đó cũng là lúc “mẹ sinh”. Mẹ từ từ sinh ra theo sự lớn lên từng ngày của thai nhi. Và để… sinh ra một người mẹ thực sự thì mẹ phải “tu” thôi. Kẻ giúp mẹ tu… thành mẹ chính là đứa con trong bào thai, ngay từ khi còn trong trứng nước.

Nó có quyền năng rất lớn. Nó làm thay đổi cả “vũ trụ quan” và “nhân sinh quan” của mẹ. Nói đơn giản hơn, nó thay đổi một cách nhìn. Lúc bấy giờ, người phụ nữ vừa  “cấn thai” kia đã nhìn mẹ mình cách khác, nhìn cha mình cách khác! Rồi nhìn chồng mình cũng khác, nhìn bạn bè mình cũng khác. Thậm chí nhìn hàng xóm láng giềng cũng khác đi rồi. Trước kia có khi hục hặc với cha, có lúc bực dọc với mẹ, tranh hơn tranh thua với đồng nghiệp với hàng xóm láng giềng bây giờ tự dưng thấy mênh mông lòng từ. Thấy thương thấy quý, thấy biết ơn tất cả. Cái sinh linh này, tấm hình hài này từ đâu mà đến, sẽ ra sao ngày sau? Phải làm gì đây cho nó hạnh phúc nhất, cho tương lai nó tốt đẹp nhất. Mãi nghĩ về nó mà không còn thấy cái tôi của mình nữa. Nó trở thành cái rún của vũ trụ chớ không phải cái tôi là rún của vũ trụ như xưa. Lòng bi mẫn cũng từ đó mà tràn đầy. Thương người hơn, thấy rõ nỗi khổ đau của mình của người hơn và từ đó muốn giúp đỡ, muốn nâng niu. “Từ năng dữ lạc, bi năng bạt khổ”. Hóa ra đã “tu” lúc nào không hay! Rồi còn biết vui theo cái vui của người, thấy dễ tha thứ, dễ buông bỏ. Lòng đã rộng mở. “Hỷ xả” lúc nào đó vậy? Chưa biết là trai hay gái đây, nhưng không thành vấn đề. Có đứa con vào bụng, bỗng thấy mình không là mình nữa. Mà hai mình. Hai mà một. Mới hiểu thế nào là “nhất như”. Mắt nhìn khác đi, tai nghe khác đi, mũi ngửi khác đi, lưỡi nếm khác đi, và toàn cơ thể nữa, đã bày biện khác đi nên xúc tiếp cũng khác đi. Và đặc biệt, ý nghĩ, tư tưởng cũng đã khác đi nhiều lắm. Từ đó, những lời ăn tiếng nói dấm dẳng, đanh đá xưa kia bỗng trở nên từ ái, khoan dung;  những cử chỉ vụt chạc, hấp tấp lúc trước đã trở nên điềm đạm, từ tốn… Hóa ra “lục căn” đã dần thanh tịnh. Mắt tránh xa những hình ảnh bạo lực, kích dục… trong phim ảnh, sách báo, kịch nghệ. Tai tránh xa những âm thanh dậm dật loạn động hay áo não sầu thương. Từ bỏ những món ăn kích thích, nào rượu nào bia; lánh xa những nơi có mùi thuốc lá, tránh bớt những món cay nồng… Mặc rộng, thoáng mát, đi lại khoai thai. Ăn biết mình ăn, ăn gì, tại sao; đi đứng nằm ngồi thế nào… Mọi thứ cứ như chánh niệm. Tránh cả những chuyện cà kê dễ ngỗng, tránh các « bà tám » thị phi. Cái sinh linh bé bỏng kia, hoàng tử công chúa kia, không biết từ cát bụi nào đã đến, lỡ nó nghe được, nó bình phẩm, nó bắt chước thì sao?

“ Ăn cơm có canh, tu hành có bạn ». Bạn tu đầu tiên gần gũi nhất phải là “thằng cha nó”. Từ ngày biết mình sắp làm cha “thiên hạ », ông đã âm thầm tự động bỏ thuốc lá, giảm bia rượu, thôi đàn đúm, la cà. Đi làm xong vội về… xoa đầu con, coi nó lớn tới đâu trong bụng mẹ. Ông chăm chú, nghiền ngẫm xem nó đã biết dòm ngó phê phán gì chưa. Tự dưng có một kẻ lạ hoắc tự trên trời rơi xuống, lọt tõm vào nhà mình, dòm dõi mình, nghe ngóng mình… cũng làm mình bối rối không ít chứ ! Cái gì bây giờ cũng len lén, ngó trước dòm sau. Nó cười chăng ? Nó nhăn chăng ? Nó đau chăng ? Nó giận chăng ? Hóa ra không phải « con vào dạ mạ đi tu » mà bố cũng phải tu.

Lạ thay, rồi bà nội bà ngoại, ông nội ông ngoại tương lai cũng tu luôn. Ai cũng sửa mình, cũng tự thay đổi cả. Bà nội bà ngoại đâm ra dễ thương hết sức, chăm lo từng chút, dặn dò từng ly, bày đặt đủ trò, gây phiền hà không ít, nhưng tất cả chỉ vì cái sinh linh bé bỏng này thôi.

Tu, nói cho cùng, cũng tu từ khóm cây bụi cỏ, từ tiếng mõ tiếng chuông. Cho nên, nhà cửa giờ cũng trở nên ngăn nắp, sạch sẻ, sáng sủa hơn. Sách đọc đã khác. Phim ảnh đã khác. Âm nhạc đã khác.  Chắc chắn cái cảm xúc sảng khoái, lâng lâng của mẹ khi được nghe một điệu hát ru quen  thuộc thuở nằm nôi sẽ làm sản sinh các kích thích tố hạnh phúc truyền qua thai nhi. Mấy bức tranh treo trên tường cũng đã kịp thay. Trong sáng hơn, tươi vui hơn. Nhớ chuyện kể ông bố người Mỹ da trắng nọ ngạc nhiên thấy đứa con sơ sinh của mình sao da đen tóc quíu khác thường thì bà vợ đã giải thích là do suốt thời gian mang thai bà đã ngắm mãi cái hình anh cầu thủ bóng đá da đen treo trên tường! Phải cảnh giác !

Rõ ràng, không chỉ tu mà còn phải học. Chỉ có hiểu biết một cách khoa học mới hết nỗi lo âu. Làm sao nuôi bé lớn lên từng ngày trong bụng đây? Làm sao cho mắt nó sáng, da nó đẹp, môi nó hồng đây? Nó chui ra bằng đường nào? Có đau lắm không? Có phải “đi biển mồ côi một mình” như người ta nói không? Có cần « ông già » nó cùng “đi biển” cho có đôi không?  Có cho nó bú ngay không? Bú có hư không?… Ôi biết bao điều phải học.  Học để biết « cơ chế » của hoài thai, mang thai, của sanh nở để không còn phải sợ hãi, lo âu. Chắc chắn một điều là mẹ tròn con vuông, bởi sanh nở là chuyện sinh lý bình thường của bất kỳ bà mẹ nào.  Có người khuyên mổ đẻ cho khỏi đau, nhưng đau… cũng hay chứ, mới biết « mang nặng đẻ đau » là thế nào, mới biết « cha sinh mẹ dưỡng/ đức cù lao/ lấy lượng nào đong… » là thế nào! Làm gì có chuyện chọn giờ hoàng đạo để sanh thì sau này bé sẽ… làm vua, làm tể tướng ! Làm vua, làm tể tướng đâu không thấy chỉ thấy thiếu dưỡng khí não vì sinh non, sinh sớm, dễ mắc bệnh tâm thần về sau. Cứ sanh đẻ tự nhiên thôi để được là người đầu tiên đón bé vào đời, rồi cho nó bú ngay…. để được làm mẹ, là mẹ, sớm chừng nào hay chừng nấy.

Nhiều người đi tu muốn mau thành “chánh quả”. « Mạ đi tu » nhiều khi cũng vậy. Cũng muốn “gíáo dục » sớm cái sinh linh bé bỏng này ngay khi còn trong trứng nước để mong sau này nó thành thần đồng, thành siêu nhân, anh hùng, vô địch… Nhưng « quả » mà chín mau quá chỉ có cách « giú ép ». Mà giú ép thì không ngon. Cái gì gượng quá đều không hay.  Mạ mà căng thẳng quá để « tu » cũng sẽ tạo nên stress, sản sinh nhiều chất độc hại cho cơ thể, cho cả mẹ lẫn con.

Cảm ơn chút sinh linh bé bỏng sắp bước vào « cõi người ta ».

Và cảm ơn tất cả vì những yêu thương trìu mến!

…. o ….

When a child enters the mother’s womb, the mother becomes a practitioner

By Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên Giác

When a woman becomes pregnant, she naturally becomes a Dhamma practitioner. Becoming a practitioner does not necessarily mean shaving her head or going to a temple to chant sutras; rather, it involves self-correction and personal transformation, both externally and internally. Everything within the mother must be aligned and made right, which is why there is a saying: “When a child enters the mother’s womb, the mother becomes a practitioner.”

It is not easy to change oneself. However, once you are expecting a child, you will naturally need to adapt. By making these changes, you can create a better environment for the child, the mother, and the entire family. In fact, not only does the mother become a practitioner, but the father and the whole family often join her in this journey of growth and development.

When a child enters the mother’s womb, it carries an entire world—an entire human life. Where does this tiny creature originate? Where does it go? What will it become? How does it arrive, and how does it depart? The mother suddenly transforms into a philosopher overnight!

The so-called palace of a child—“womb”—is the place where the child resides, much like a palace is the residence of a king. From this moment on, the baby is akin to a king wriggling in the mother’s womb, causing everything within her to move and change. The mother is now transformed; she is no longer just a woman but a person on the brink of motherhood. Giving birth to a child first brings forth a father, while giving birth to a grandchild first creates a grandfather.

Likewise, the act of giving birth to a child is accompanied by the birth of a mother. Without a child, how can one truly be a mother? When the fetus emerges from the mother’s womb, it marks the moment the mother is born. The mother gradually comes into her own as the fetus develops each day. To fully give birth to a genuine mother, the mother must engage in a process of self-cultivation. The child in the womb, even from the time it is still an egg, plays a crucial role in helping the mother evolve into her maternal identity.

The baby possesses remarkable power. It transforms the mother’s perspective on the universe and her outlook on life. In essence, it alters her way of perceiving the world. At that moment, the woman who had just conceived viewed her mother, father, husband, friends, and even her neighbors in a new light. Previously, she had experienced conflicts with her father, felt upset with her mother, and argued with her colleagues and neighbors. However, she now felt an overwhelming sense of compassion. She experienced love, respect, and gratitude for everything around her.

Where does this creature, this body, come from, and what will it be like in the future? What must a mother do to ensure her baby is happiest and to create the best possible future for it? As she contemplates these questions constantly, she begins to lose sight of her own ego. The fetus becomes the center of the universe, rather than her ego occupying that position as it once did. From this perspective, compassion flourishes. She finds herself loving others more deeply, gaining a clearer understanding of her own suffering and that of others, which inspires her desire to help and cherish. A compassionate heart can bring happiness to sentient beings, while a kind heart can alleviate suffering. It turns out that she has been practicing compassion and kindness without even realizing it! She also learns to find joy in the happiness of others, discovering that it is easy to forgive and to let go. Her heart has opened. When did this joy and ability to let go emerge?

It is not yet known whether the fetus is a boy or a girl, but this is inconsequential. With a child growing in her womb, the pregnant woman suddenly finds herself transformed; she is no longer just herself but two beings in one. She begins to grasp the essence of oneness. Her eyes perceive the world differently, her ears hear in a new way, her nose detects scents anew, her tongue experiences flavors differently, and her entire body, now altered, engages with the world in a distinct manner. Most notably, her thoughts and ideas undergo a profound change. From that moment on, the pregnant woman realizes that the harsh words of her past have transformed into expressions of love and tolerance; the hurried gestures she once exhibited have become calm and deliberate. It becomes evident that her senses have gradually been refined. Her eyes turn away from violent and erotic images found in movies, books, and plays. Her ears avoid chaotic, pounding sounds and sorrowful melodies.

She began to eliminate stimulating foods, such as alcohol and beer, and avoided places with the smell of cigarettes, as well as spicy foods. She wore loose, breathable clothing and moved at a slow pace. She practiced mindful eating, being aware of what she consumed and the reasons behind her choices. Every action—standing, walking, sitting, and lying down—was approached with mindfulness. She steered clear of gossip and gossipy groups. That little creature, that prince or princess, who knows where it came from? What if it heard, commented on, or imitated her actions?

Eating rice is best enjoyed with soup, just as practicing religion is enriched by the presence of friends. The first and most important companion on this journey of personal growth must be the father of the unborn child. Upon learning that he was going to become a father, he instinctively and quietly quit smoking, reduced his alcohol intake, and curtailed his social activities. After work, the expectant father hurried home to gently caress the baby’s head, eager to see how much it had grown in the mother’s womb. He paid close attention, pondering whether the baby could already observe and critique its surroundings. Suddenly, a stranger seemed to fall from the sky, slipping into his home, watching him, and listening to him, which left him quite bewildered! Everything felt secretive; he found himself looking around anxiously. Was the baby smiling? Frowning? In pain? Angry? It became clear that  the baby enters the womb, the mother becomes a practitioner, but the father also had to engage in this practice.

Strangely enough, the future paternal grandmother, maternal grandmother, paternal grandfather, and maternal grandfather also engaged in this practice. Everyone made corrections and underwent changes. The paternal and maternal grandmothers became exceptionally nurturing, attending to every detail, providing guidance, and devising various strategies, which sometimes led to complications, all for the sake of this little one.

Cultivation encompasses not only the caring for plants and grasses but also the soothing sounds of wooden fish and bells. As a result, the home has become tidier, cleaner, and brighter. The books, movies, and music have all changed. Surely, the joy and elation a mother feels when hearing a familiar lullaby from the cradle release happy hormones that are transmitted to the fetus. The pictures hanging on the walls have also been updated to be brighter and more cheerful. This reminds me of a story about a white American father who was astonished to see his newborn baby with unusually curly black skin and hair. His wife explained that throughout her pregnancy, she had been gazing at a picture of a black soccer player hanging on the wall. It serves as a reminder to be mindful of our surroundings.

Clearly, one must not only practice but also study. Only by understanding the scientific principles can one alleviate their worries. How can a pregnant woman nurture her baby as it grows day by day in her womb? How can she make her baby’s eyes bright, skin radiant, and lips pink? What will the birthing process be like? Will it be painful? Is giving birth truly akin to embarking on a solitary journey at sea, as some people suggest? Does the father-to-be need to accompany her on this journey to fulfill their roles as a couple? Should breastfeeding begin immediately? Is breastfeeding harmful? There are so many aspects to learn. It is essential to understand the mechanisms of conception, pregnancy, and childbirth to eliminate fear and anxiety. One thing is certain: both mother and child are safe, as giving birth is a normal physiological process for any mother.

Some people recommend a cesarean section to avoid pain, but pain can also be beneficial. It allows you to understand the experience of carrying a heavy burden and giving birth. This is why the ancients believed that the father contributes to the mother’s journey and raises the child; the parents’ love and sacrifice are immeasurable. There is no such thing as selecting an auspicious time to give birth in hopes that the child will become a king or a prime minister. If you attempt to time the birth, the baby may be born prematurely and could suffer from oxygen deprivation, leading to potential mental health issues later in life. It is best to give birth naturally, so you can be the first to welcome your baby into the world and immediately begin breastfeeding. This way, you can embrace your role as a mother as soon as possible.

Many individuals who choose the monastic path aspire to attain enlightenment swiftly. A mother who practices spirituality while pregnant often sets very high expectations for her unborn child. She hopes to nurture her little one from the womb, aiming for them to become a genius, a superhero, a hero, or a champion. However, if the fruit ripens too quickly, it must be forced, and forcing it will yield an unpleasant result. Anything that is overly forced is detrimental. If the mother experiences excessive stress while cultivating her practice, it can lead to further stress, producing harmful substances for both herself and her child.

Be grateful for the small creature that is about to enter the human realm.

Be grateful for all the love and affection you are experiencing.

…. o ….

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 2: Tuổi già học Phật

23/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

GHI CHÚ:

Bây giờ tôi đã 85 tuổi. Già thiệt rồi! Tai nghễnh ngãng, mắt lèm nhèm, đi đứng đã giống… cat walk, quên cũng bộn rồi… Không ít bạn gần xa khuyên tôi có kinh nghiệm học Phật lâu nay thế nào, chia sẻ với anh em cho vui, cũng là cơ hội để cùng nhau học hỏi thêm. Tôi bèn gom góp được một ít bài cho là “cốt lõi”, sắc ba chén sáu phân, lấy tên là Con Đường An Lạc,”Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.Không ngờ có người bạn phương xa, chưa từng gặp gỡ, là một Phật tử thuần thành từ thuở nhỏ đã tu tập trong chùa, sống ở nước ngoài nhiều năm, chuyên nghiên cứu, phiên dịch kinh sách Phật học từ tiếng Anh, đề nghị được dịch sang Anh ngữ cho những người bạn trẻ phương xa không rành tiếng Việt, cũng được đọc hiểu, thực hành Phật pháp. Còn gì hơn!

Anh chính là Nguyên Giác Phan Tấn Hải. 

Tôi post tất cả 10 bài lên www.dohongngoc.com này dưới dạng song ngữ để các bạn tuỳ nghi sử dụng nhe.

Chân thành cảm tạ Nguyên Giác.  

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 20.11.2024)   

 

………………………………………………..

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Bài 2: Tuổi già học Phật (*)

Đỗ Hồng Ngọc

translated Nguyên Giác

blank
Tranh: Nguyên Giác

Khi về già, tôi học Phật cách khác. Mỗi kinh sách, bài giảng dài dòng, thêm bớt… tôi chỉ học một câu, một chữ, một bài kệ và tự  nghiền ngẫm, đặt câu hỏi, giải đáp và thực hành trong đời sống hàng ngày. Con đường học Phật phải là con đường an lạc, con đường “diệt khổ”, chớ nếu học Phật mà “khổ thêm” thì chắc học sai!

Với Tâm Kinh Bát Nhã, chỉ cần học và hành một câu: “ Quán Tự Tại Bồ-Tát hành thâm Bát Nhã Balamatđa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai “KHÔNG”, độ nhất thiết khổ ách.”

Bồ-Tát Quán Tự Tại nhờ thực hành thâm sâu Bát Nhã Balamatda mà thoát mọi  khổ đau ách nạn!

Tôi tự hỏi: Quán Tự Tại là ai? Bồ-tát là gì? Hành thâm là sao? Bát Nhã Balamat là gì? “Độ” tất cả khổ đau ách nạn thiệt không?…

Rốt lại chỉ cần học một chữ KHÔNG (Prajna, Bát Nhã) đó là đủ. Khi hiểu chữ Không do “Duyên sinh” thì ta không dễ bị lường gạt nữa bởi những cái hình tướng, danh tự bên ngoài. “Thấy vậy mà không phải vậy!” “Nghe vậy mà không phải vậy!”, tránh được những “biến kế sở chấp” và “y tha khởi” tác động, không còn bị dích mắc và từ đó, có thể “vô sở trụ”. Trong đời sống hàng ngày, ta thường luôn bám chấp, nghe lời đường mật, thấy hình tướng bên ngoài mà tưởng thiệt nên bị gạt gẫm bao phen, tỉnh ngộ thì đã muộn! Thời đại ngày nay càng cần “cảnh giác” nào fake news, deep fake, AI… các thứ!

Với Kim Cang, chỉ cần học một câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Thấy mọi sự do cái tâm mà sinh ra. Nhưng tâm sinh thì cứ sinh, miễn đường “trụ” vao đó, đừng dính mắc vào đó. Dính mắc khổ dài dài ráng chịu! Nếu Tâm sinh kệ nó, đừng thèm trụ vào đâu cả. Cho nên lấy Vô trụ làm Gốc (bản) trong Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục tổ Huệ Năng, lấy Vô Niệm làm tông. Tâm không “sinh sự” được nữa. Tâm bất sinh. Tâm trở về với “bổn lai diện mục” của nó. Trở về cái thể “vô tướng” thanh tịnh của nó. Muốn vậy, phải vào Thiền Định. Kim Cang dạy thiền định, dạy ly tướng, ly niệm, để đạt tới cái “Như Như bất động” của Như Lai.

Với Kinh Hoa Nghiêm, tôi nghĩ chỉ cần học Hội Thứ Nhất ở Bồ Đề đạo tràng, với các phẩm đầu là đủ. Dĩ nhiên sau đó là phần thực hành, “Nhập pháp giới”, nghĩa là thực hành, là “Vào đời”. Và mỗi chúng ta đều là Thiện Tài đồng tử, lòng rộng mở, khiêm tốn học tập với tất cả mọi người.

“Thế Chủ Diệu Nghiêm”- làm chủ thế giới- chắc chắn không phải là một ông thần, ông thánh, vua chúa, hoàng đế nào đó mà phải là một người đạt được “Diệu nghiêm”. Đó là một Bồ tát, ung dung, tự tại vô ngại, đã “hành thâm Bát Nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không” mới được.

Như Lai vốn “vô tướng” tự nhiên lại “hiện tướng” ra một ông Phật làm chi cho vất vả, thì ra chỉ vì lòng Đại bi. Ta cũng từ “Như Lai tạng” mà được/bị “nặn” ra để chịu bao phiền não chẳng biết do duyên gì, y báo chánh báo gì, nói chung là do cái Nghiệp! Ngày nào trả xong Nghiệp thì trở về với cõi “vô sanh” đó thôi.

Để thấy biết “Như lai hiện tướng” ra sao thì phải vào Tam muội Phổ Hiền. Tam muội ấy là Samadhi, thứ Định sâu nhất. Vào định Phổ Hiền mới thấy từ Vô tướng “Một ông Phật hiện ra, Ba con ma biến mất!”. Ma Tham, ma Sân, ma Si không còn quậy phá ta!

Thế giới thành tựu đầy “hoa tạng” trước mắt ta, dĩ nhiên đều do từ Tâm ta mà hiện ra. Nào sanh diệt, nào đoạn thường, nào huyễn hoá… tuyệt vời như vậy mà ta không biết, cứ khổ đau, phiền não, chướng ngại, ráng chịu thôi. Cứ “nhập thế” dạo chơi một vòng như Thiện Tài đồng tử thì cuối cùng cũng thấy ra thôi. Thấy  gì? Thấy Tỳ- lô- giá- na (vairocana). Thấy “Nhất thiết chư Phật tỳ- lô- giá- na như lai tạng thân” (Kinh Hoa Nghiêm). Bây giờ ta biết vạn vật đều từ ADN mà ra, và ADN thì từ… không có gì mà ra (bổn lai vô nhất vật) đó thôi. Lý vô ngại rồi thì Sự Sự vô ngại. Cái núi Tu Di to đùng kia nhét vào hạt cải, bốn biến mênh mông nọ rót vào một lỗ chân lông…

Với Kinh Pháp Hoa thì cái hay là chỉ cách làm thế nào để “mau thành Phật”. Lâu nay ta cứ tưởng thành Phật không dễ, phải tu nhiều đời nhiều kiếp. Hôm đó dưới chân núi Linh Thứu, Phật nói với các đệ tử, ta nay đã già, sắp nhập Niết bàn rồi, các thầy có ai muốn hỏi gì thì hỏi ngay đi! Vị Đại Bồ tát dẫn đầu hỏi ngay: Làm thế nào để “mau” thành Phật? Tưởng Phật sẽ rầy la, ai dè Phật trả lời: Dễ lắm! Chỉ cần học Pháp môn “Vô lượng nghĩa xứ” thì xong ngay. Mà Pháp môn đó lại chỉ có một pháp thôi: “Đó là Vô tướng”. Rồi Phật giải thích thêm: “Vô tướng ở đây là vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng, nên gọi là Thực tướng”. Hoá ra, vô tướng chính là thực tướng. Thực tướng chính là vô tướng. Chẳng cũng khoái ru? Chìm đắm trong vô tướng là sai. Mà lặn ngụp trong thực tướng cũng sai. Cho nên “thấy như thực” không phải là thấy thực, chỉ là “như” (thực) mà thôi. Ta phải thấy cái “vô tướng” của nó kìa, mới biết nó vô thường, vô ngã, biết nó duyên sinh, duyên khởi, có mà không, không mà có. Thấy biết vậy, ta không còn dính mắc! Bất tận Hữu vi mà bất trụ Vô vi. Chẳng hữu chẳng vô gì cả. Ta cũng học được các đức tính Tôn trọng (Respect) của Thường bất khinh, Chân thành (Genuine) của Dược vương và  Thấu cảm (Empathy), biết Lắng nghe (Listening) của  Quán Thế Âm.

Với Pháp Hoa, tôi tự hỏi mục đích Khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật là sao? “Tri kiến Phật” có gì hay? Sau khi ngẩm ngợi, nghiền ngẫm rồi mới thấy hay thiệt. Vô thường, vô ngã, khổ, bất tịnh… cũng chính là Thường Lạc Ngã Tịnh đó thôi, chẳng qua vì “điên đảo” mộng tưởng!

Với Kinh Duy Ma Cật, học rằng cõi Phật chẳng đâu xa. Cõi Phật trong ta đó thôi. Tâm ta mà thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh. Tâm ta chưa thanh tịnh thì thấy đâu cũng là gò nỗng, hầm hố, gai góc, thanh tịnh rồi thì cõi đất bỗng nhiên trở nên rộng lớn, nghiêm đẹp, ánh vàng khắp nơi nơi…

Học rằng phương tiện mà không trí huệ không xong. Trí độ là mẹ Bồ Tát. Tùy nghi phương tiện là cha. Phải có Trí độ (Bát Nhã) trước đã. Rồi, phương tiện mới tùy nghi được.

Học rằng Bồ-tát không đắm mê các tầng thiền để bỏ quên đời, phải thấu cảm cùng nỗi khổ đau vô tận của chúng sanh. Cho nên Bồ-tát “Tu học lẽ không mà chẳng lấy lẽ không làm chứng đắc. Tu học vô tướng, vô tác, mà chẳng lấy vô tướng, vô tác làm chứng đắc”.

Học rằng tâm khó mà nhận thấy! Làm sao để tâm an? Chỉ có cách tiếp cận qua thân. Cho nên “giả bệnh” như Duy Ma Cật là cách tốt nhất. Bệnh thì bình đẳng, không phân biệt. Mọi người đều bình đẳng trước… bệnh! Duy-ma-cật nói “Thân này không thể tin cậy được. Nó không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Phải thấy thân Phật, tức thấy pháp thân.”

Học rằng chúng sanh là những ảo vật do nhà ảo thuật là chính ta tạo ra. Mà nhà ảo thuật cũng là một chúng sanh. Chẳng qua là những bóng hình trong gương, mặt trăng đáy nước, dấu chân chim giữa hư không…

Học rằng bốn Ma là “thị giả”, luôn ở cạnh ta, giúp ta. Ma phiền não bủa vây và nhắc nhở sẵn có bốn vạn tám ngàn cách thoát ra; Ma ngũ uẩn thì thân thiết, nhắc rằng mấy thứ lăng nhăng nó quấy ta chỉ là những kết hợp tạm bợ, lắp ghép lai rai; Ma trời (thiên ma) là lời cảnh giác, đừng tưởng bở! Còn Ma chết (tử ma) lại là bạn thiết gắn bó với ta từ thuở còn trong bụng mẹ…

Học rằng có thứ hương thơm nuôi cả thân và tâm bất tận đó chính là Giới đức. Thứ hương thơm đó mới có thể bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…

(…)

Nhìn lại chặng đường lõm bõm học Phật của mình,  tôi thấy có thể tự vẽ một phác đồ để nhắc nhở mình cho đừng quên:

Pháp Hoa là cốt lõi, ở trung tâm, vị Đạo sư đã mở tung một bí tạng, một “bí kíp” mà các Đức Phật xưa nay còn giấu nhẹm, không tiện nói ra, nay Phật Thích Ca đã “khai thị” cho ta thấy biết Như Lai, từ đó mà “ngộ nhập”, mà sống cùng, sống với, từ đó mà ung dung, tự tại, thuận với pháp, tùy với duyên, một khi biết tất cả đều cùng từ một Như Lai tạng, một “bào thai Như Lai”. Nó vậy là Nó vậy. Vô thủy vô chung. Tương tác từ Như Lai tạng mà hình thành pháp giới trong vũ trụ vô vàn… Với Trí Bát Nhã được “trang bị” ta không còn bị đắm chìm với những “phân biệt”, những “biến kế”, những “y tha” chằng chịt, quấn quít, khiến ta không thấy được cái Như như…

Thấy biết như vậy rồi thì ta mới có đủ Tự tin để Tự tại, hoàn toàn tự do và chịu trách nhiệm về duyên về nghiệp của mình, mà không đổ thừa, không nhờ vả. Ta biết quay về “nương tựa” chính mình và nhận ra một khi đã “tịnh kỳ ý” thì cái tâm ta đã trở về với “Thanh tịnh bổn nhiên” như được Phổ Hiền Bồ-tát dẫn vào lâu các Tỳ-lô-giá-na vốn là Pháp thân của chính mình.

Cuối cùng Duy-ma-cật sở thuyết là nỗi hoài vọng của Phật, muốn lan tỏa đến mọi con người, mọi ngóc ngách đời sống, tạo nên một cõi Phật, một pháp giới bình đẳng, an vui, hạnh phúc cho kiếp người!

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, 11.10.2024)

(*) Bài 1 https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/sach-bo-tui-cho-nguoi-cao-tuoi-con-duong-an-lac/

 

…………………………………………..

Learning Buddhism in old age

Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên Giác

As I grew older, I began to study Buddhism differently. When I encountered lengthy scriptures and lectures, regardless of how much was added or subtracted, I learned only one sentence, one word, or one verse. I would reflect on it, ask questions, seek answers, and apply it in my daily life. The journey of learning Buddhism should be a path of peace, a path toward the cessation of suffering. If studying the Dharma only increases my suffering, then I must be misunderstanding it!
With the Heart Sutra, I need to learn and practice just one sentence: “Avalokitesvara Bodhisattva practices the profound Prajna Paramita, perceives the five aggregates as fundamentally empty, and transcends all burdens of sorrow.”
I asked myself: Who is Avalokiteshvara? What is a Bodhisattva? What constitutes profound practice? What is Prajnaparamita? Is it true that one can overcome all the burdens of suffering?
In the end, just learning the word EMPTINESS (Prajna) is enough. When you understand the word Emptiness due to Dependent Origination, you will not be easily deceived by external forms or names.
What you see with your eyes is not really what it is. What you hear with your ears is not really what it is. Therefore, you are not mistaken by forms, and you are not affected by external forms; from there, your mind is not attached, and you live without clinging to anything.
In our daily lives, we often cling to various things, listen to flattering words, and focus on external appearances, mistakenly believing they are genuine. As a result, we are deceived time and again, and by the time we awaken to the truth, it is often too late. In today’s world, we must be increasingly vigilant against misinformation, deepfakes, artificial intelligence, and similar threats.

With the Diamond Sutra, I need to learn just one sentence: when the mind is no longer attached to anything, the liberated mind will emerge. Recognize that everything originates from the mind. However, when thoughts arise, allow them to come and go; as long as you do not cling to those thoughts, you will find peace. If you allow the mind to become attached to anything, suffering will persist! When thoughts arise, let them be; do not dwell on any thought.
Therefore, the Platform Sutra of the Sixth Patriarch Hui Neng states that one should regard the mind of No Abode as the foundation for cultivation and the mind of No Thought as the gateway to enter the Zen house. At that point, the mind will no longer be influenced by worldly conditions. The mind will cease to arise, returning to its true nature from its origin. To achieve this, one must engage in meditation. The Diamond Sutra instructs on meditation, emphasizing the importance of distancing oneself from appearances and thoughts. By doing so, one will arrive at the state where the Tathagata reveals the unmoving mind, the mind that perceives all dharmas as they truly are.
With the Avatamsaka Sutra, I believe it is sufficient to study only the First Part in Bodh Gaya, focusing on the initial chapters. Following this, we move on to the practice aspect, which is Entering the Dharma Realm, signifying our engagement in practice and immersion in the world. Each of us embodies the young man Sudhana—open-minded, humble, and eager to learn alongside others.
The Lord of the World, Diệu Nghiêm—the ruler of the world—is certainly not a god, a saint, a king, or an emperor; rather, he must be an individual who has attained remarkable solemnity. This person must be a Bodhisattva, who is leisurely, free, and unhindered, having practiced the profound wisdom of Prajna and recognized the emptiness of the five aggregates.
Tathagata originally had no form but spontaneously manifested as a Buddha to propagate the Dharma with great difficulty, all out of profound compassion. We, too, are shaped by the Tathagatagarbha to endure numerous afflictions, often unaware of the reasons behind them or the environmental retributions that lead to our current retribution, ultimately resulting from Karma. When the day arrives that we have settled our Karma, we will return to the realm of non-birth.
To understand how the Tathagata manifests, you must enter the Samadhi of Samantabhadra. This Samadhi represents the deepest state of meditation. Only by entering the Samadhi of Samantabhadra can you perceive that when a Buddha appears from formlessness, the three demons vanish. At that moment, the demons of Greed, Anger, and Delusion will no longer disturb you.
The world has unveiled itself as a tapestry of flowers before our eyes, all of which emerge from our minds. Birth and death, the concepts of eternity and annihilation, and the myriad illusions are so captivating that we often remain unaware of their true nature. Consequently, we continue to suffer, face challenges, and encounter obstacles; we must simply endure. If we enter and navigate the world like Sudhana, the youth, we will ultimately gain clarity and understanding.
What do you see? You see Vairocana Buddha. You perceive all Buddhas as embodying the same essence of Vairocana Tathagatagarbha, as stated in the Avatamsaka Sutra. We now understand that all things originate from DNA, which itself emerges from the void of nothingness that encompasses all worlds. Once you grasp this principle, you will no longer be constrained by the material aspects of this world. It is easy to comprehend that the immense Mount Sumeru can fit within a mustard seed or that the four vast oceans can be contained within a single pore.
The remarkable aspect of the Lotus Sutra is that it illustrates how one can swiftly attain Buddhahood. For a long time, many have believed that becoming a Buddha is a challenging endeavor, requiring countless lifetimes of cultivation. On that day at the foot of Linh Thứu Mountain, the Buddha informed his disciples that he was aging and about to enter Nirvana. He encouraged the monks to ask any questions they had without hesitation. The leading Bodhisattva promptly inquired how they could quickly become Buddhas. I anticipated that the Buddha would reprimand the monks, but to my surprise, he replied that it was very easy! Simply learn the Dharma door of ‘Infinite Meanings,’ and it will be accomplished immediately. The Dharma door encompasses a single principle: No-form. The Buddha elaborated further, stating that  signifies no-form; yet it is not merely no-form. It is not no-form, but rather no-form, which is why it is referred to as True-form. Thus, no-form is the true form, and true form is no-form. Isn’t that extraordinary?

Being immersed in formlessness is misguided, just as being immersed in true form is also erroneous. Therefore, perceiving reality as it is does not equate to seeing the truth; it merely involves interpreting things as real. We must recognize formlessness to understand that it is impermanent and not a self. This awareness leads us to comprehend that while it exists, it is dependently arisen and ultimately empty. Although it embodies emptiness, it still exists. By seeing and understanding in this manner, we free ourselves from attachment. We do not seek to destroy the conditioned; rather, the mind refrains from fixating on the unconditioned. In this state, there is neither existence nor non-existence. Additionally, we learn the virtues of the Bodhisattva Never Disparaging, the genuineness of the Bodhisattva Medicine King, and the empathy and attentive listening exemplified by the Bodhisattva Avalokiteshvara.
With the Lotus Sutra, I ponder whether its purpose is to guide sentient beings in understanding and penetrating the nature of reality and comprehending what the Buddha truly represents. After reflection and contemplation, I recognize its profound significance. Concepts such as impermanence, non-self, suffering, and impurity are also aspects of the Unchanging, the Blissful, the Essence of self, and True purity, yet they are often misinterpreted due to the delusions we experience in our dreams.
With the Vimalakirti Sutra, I learned that the Buddha realm is not distant; it resides within the mind. When our mind is pure, the Buddha realm is pure. Conversely, if our mind is impure, we perceive obstacles such as hills, pits, and thorns all around us. However, when the mind is pure, the landscape transforms into a vast, majestic, and beautiful expanse, illuminated by golden light everywhere.
I also learned that expedient means must be accompanied by wisdom. Prajnaparamita is the mother of Bodhisattvas, while the appropriate application of expedient means is the father. One must first possess Prajnaparamita; only then can one effectively apply expedient means.

I have learned that Bodhisattvas do not immerse themselves in meditation to the extent of neglecting life; rather, they must empathize with the endless suffering of all living beings. Consequently, Bodhisattvas practice the principle of emptiness without viewing emptiness as an achievement, and they embrace the principles of formlessness and actionlessness without considering formlessness and actionlessness as accomplishments.
I have come to understand that perceiving the mind can be quite challenging. How can one achieve peace of mind? The most effective approach is to connect with it through the body. Therefore, emulating Vimalakirti’s experience of illness is a valuable method. In sickness, all individuals are equal; there is no discrimination. Everyone stands on equal ground before sickness! Vimalakirti emphasized that this body cannot be trusted; it is not mine, it is not me, and it is not a self belonging to me. Instead, one must recognize the Buddha body, which refers to the Dharma body.

I have come to understand that living beings are illusions crafted by the magician—ourselves. This magician is also a living being. We are nothing more than reflections in a mirror, like the moon’s image on water, or the fleeting footprints of birds in the sky.
I have learned that the four Maras are our constant companions, always by our side to assist us. The Mara of afflictions surrounds us, reminding us that there are forty-eight thousand ways to escape our suffering. The Mara of the five aggregates serves as a friend, reminding us that the trivial distractions that disturb us are merely temporary combinations. The Mara from the heavens acts as a warning: do not be delusional! Finally, the Mara of death is a close companion who has been with us since we were in our mother’s womb.

I have discovered a fragrance that endlessly nourishes both the body and mind, and that fragrance is Virtue. Only this scent can soar high, travel far, and defy the wind.

…. () ….

Looking back on my challenging journey of learning Buddhism, I realize that I can create a visual reminder to help me remember my experiences.

The Lotus Sutra is the essence and foundation of Buddhist teachings. The Master has revealed a profound secret, one that the Buddhas of the past have kept hidden until now. It is only in this time that Shakyamuni Buddha has allowed us to perceive and understand the Tathagata. From this understanding, we can realize the Buddha’s perspective and learn to live in harmony with it. This realization brings us ease and freedom, aligning us with the Dharma. At that time, we will live according to our circumstances, understanding that all beings originate from the same Tathagata-garbha, sharing the same Tathagata-womb.
It is as it is, without beginning or end. Interacting from the Tathāgatagarbha to form the dharma realm within the infinite universe. With the cultivation of Prajñā wisdom, we are no longer ensnared by distinctions, contrivances, or the intertwined and entangled dependencies that obscure our perception of Suchness.
Only when we recognize and understand this will we gain the confidence to be at ease, completely free, and accountable for our own circumstances and karma, without blaming or depending on others. We learn to turn inward, relying on ourselves, and realize that once we have purified our minds, they return to their original state of purity. It is as if we are being guided by Samantabhadra Bodhisattva into the Vairocana Palace, which represents our own Dharma body.
Finally, the Vimalakirti Sutra embodies the Buddha’s aspiration to reach every individual and every aspect of life, aiming to establish a Buddha realm—a dharma realm characterized by equality, joy, and happiness for all of humanity!

(translated by Nguyên Giác)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Interim pages omitted …
  • Trang 55
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email