Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

“XỨ NẪU”

14/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

“XỨ NẪU”

Nhóm bạn "xunau.org" và Đỗ Hồng Ngọc ở Sông Trăng ngày 8.1.2012


Chủ nhật 8.1.2012 (rằm tháng Chạp) tuy đang có việc bận ở bệnh viện, tôi cũng ráng thu xếp chạy đến Sông Trăng nơi xunau.org hẹn hò để chào, để thăm và để chúc mừng các bạn trong buổi họp mặt Mừng Xuân sớm. Tôi đọc được thông báo trên mạng, tuy chưa quen ai biết ai trong nhóm mà lòng cũng thấy nôn nao…
Xunau.org ra mắt chưa lâu mà đã tỏ rõ là một trang web văn chương nghệ thuật chững chạc, dễ thương, đặc trưng của một vùng miền, vốn là một trong những cái nôi của văn học, ở đó mỗi con người, dòng sông, bãi cát, rặng dừa… đều mang hơi hướm văn chương thi phú của một vùng đất văn học, võ học, vùng đất thiêng- cố kinh của một thời xưa nhan sắc.

Tôi nói đặc trưng không phải chỉ vì bài vở được chắt chiu, chọn lọc, minh họa sắc sảo mà còn toát ra một nỗi nồng nàn tha thiết hiếm thấy qua những “còm” (comment) với một sắc thái riêng không lẫn vào đâu được. “Còm” này chồng lên “còm” kia, chuyện chung chuyện riêng nhiều khi chẳng ăn nhập gì với nội dung bài viết, xunau.org bỗng trở thành một nơi cho người ta trải những hẹn hò, những hờn dỗi, yêu thương, trách móc, cợt đùa… Ở đâu tìm được một trang web văn chương mà ngộ nghĩnh đến vậy? Không đao to búa lớn, chỉ những ngọt ngào, chua chát, đắng cay, và những yêu thương, da diết, giận hờn… Cái “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ” có vẻ được “chứng minh” rõ nhất ở đây, bởi nó từ tấm lòng đến với tấm lòng, một thứ “trực chỉ nhân tâm”…
Nó có cái giọng riêng, tiếng nói, ngôn ngữ không lẫn, mà trước đây có người đã nhận định rằng là bởi nó nằm giữa Hải Vân và Đèo Cả, tạo nên một vũng trũng cho những tâm tình, nên tiếng nói, ngôn ngữ có cái hồn riêng của nó.
Tôi lớ ngớ đến Sông Trăng, chưa quen biết ai trong nhóm xunau.org, mong gặp chủ nhân hay “chủ xị” gì đó của buổi họp mặt mừng xuân để chào một tiếng, chúc Tết rồi lui. Một người hãy còn trẻ, khá đẹp trai, dong dỏng cao, dáng gầy, thấy kiểu lớ ngớ của tôi nhã nhặn hỏi: Anh kiếm ai? Kiếm Ngô Quang Hiển. Em là Hiển đây. Còn anh là ai? Anh là… Đỗ Hồng Ngọc. Ôi anh Đỗ Hồng Ngọc hả? Anh Đỗ Nghê hả? Rồi Hiển ôm chầm lấy tôi, siết chặt muốn ngộp thở! Không ngờ anh đến. Mừng quá! Mừng quá! Vào đây. Vào đây. Hiển lôi tôi vào. Anh đến thăm chút đi ngay. Không được. Vào đây. Mấy bạn gặp anh mừng lắm đó.
Vẫn biết anh em trong làng xưa nay chưa lần gặp gỡ mà tình đã thâm, như “ từ muôn kiếp trước”, nhưng tôi vẫn bất ngờ và cảm động. Sông Trăng còn vắng. Chỉ có mấy bạn đến sớm, có lẽ trong ban tổ chức. Đây rồi, có Trần Dzạ Lữ, quen lâu! Rồi biết thêm Lương Viết Khiêm, Nguyễn Quy, Ngô Đình Hải, Ngô Thành Hùng, Mai Thanh, Lê Đức Vinh, Văn Công Mỹ và một người từ Đà Lạt xuống từ khuya: Hà Thúc Hùng! Khiêm, giọng Huế trân, nói tôi Huế gốc nhưng là thân hữu của xunau.org, đã đọc anh Đỗ Nghê từ thuở Thư cho bé sơ sinh, một bài thơ quá hay, nhớ mãi! Nguyễn Quy bảo: “Em là Tú gàn. Ba mươi năm trước, ẳm con lại anh chữa bệnh nên em gọi anh là “bác sĩ của con tôi” trong cái “còm” bài thơ Rùng mình của anh trên xunau”. Các bạn đều nói đọc Rùng mình thấy rùng mình thiệt! Lê Đức Vinh hóa ra là Vinh Rùa. Vinh rùa là “Vua rình” đó anh! Vinh tự giới thiệu. Rồi nói thêm: Trần Dzạ Lữ là… người ở trần… đi trong đêm. Dzạ Lữ là đi đêm, mà lại ở trần nữa! Tôi hỏi nhỏ Trần Dzạ Lữ: Lúc rầy sao rồi? Còn dang nắng giữ xe đạp nữa không? Không anh. Lúc này tôi toàn ngồi… phòng lạnh! Nhớ xưa Trần Dzạ Lữ ôm một chồng “Hát dạo bên trời” tìm đến bạn bè. Mai Thanh, người đẹp duy nhất đến sớm, là người đang viết luận văn về tạp chí Bách khoa… Văn Công Mỹ nói ai hỏi em làm gì, em nói em “bán nước” anh ạ. Văn Công Mỹ chính là chủ quán Sông Trăng mà! Mỹ nói thêm: Em mua một lúc 3 cuốn Nghĩ từ trái tim của anh, một cho mình, một cho bà xã còn một cho thằng con trai chưa đầy 30 tuổi. Nó còn nhỏ, đọc sao được? Tôi hỏi. Không, nó còn kêu tụi em sao không dẹp tiệm Sông Trăng này đi để mà lo tu tập đó anh ạ. Văn Công Mỹ gọi phu nhân ra giới thiệu: Đây là “cook” chính của Sông Trăng đó anh. Bà chủ nồng nhiệt bắt tay mừng rỡ vì cũng đã quen lâu qua Nghĩ từ trái tim! Nhờ đến sớm, tôi được Hiển tặng ngay cuốn Một thời để thương yêu của Mang Viên Long và tập thơ-nhạc của Bùi Chí Vinh, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Lâm. Tuyệt vời!…
Tiếc phải về sớm không được gặp thêm các bạn bè khác đông vui của xunau.org trong ngày họp mặt này. Xin hẹn lại một dịp khác.
Phải nói thêm rằng cái duyên đến với xunau.org của tôi là nhờ bài thơ Rùng mình. Vừa xuất hiện trên xunau.org đã có ngay gần 60 cái “còm” của bè bạn, thật bất ngờ!
Bài thơ lại không do tôi gởi – vì trước đó tôi không biết có xunau.org – mà do Trương Văn Dân, tác giả “Bàn tay nhỏ dưới mưa” – một người xứ nẫu chính hiệu- chọn và gởi đi. Trương Văn Dân cùng với phu nhân là Elena còn nhiệt tình hứa sẽ “rùng mình” để dịch Rùng mình sang tiếng Ý và tiếng Pháp!
Rồi Trần Dzạ Lữ, rồi Mang Viên Long, Cao Quảng Văn, … những người bạn của “những ngày xưa thân ái” đã “còm” trên xunau.org nói Đỗ Hồng Ngọc… chính là Đỗ Nghê, tác giả của Thư cho bé sơ sinh, Lời Ru, Tâm sự Lạc Long Quân… ,của tập “Tình Người”, của tuyển sinh viên “Tiếng hát những người đi tới”…gần nửa thế kỷ trước! Lâu nay nhiều người đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, tưởng bác sĩ … mà bày đặt đi làm thơ, nhưng khi biết đó là Đỗ Nghê thì hóa ra “nhà thơ” mà bày đặt đi làm… bác sĩ! Lộ tẩy hết trơn.
Cảm ơn các bạn. Cảm ơn xunau.org!
Chúc Năm Mới thân tâm an lạc.
Đỗ Hồng Ngọc

Ghi chú:
Bài viết này xuất hiện trên xunau.org đúng vào ngày Mùng Một Tết, và chỉ mấy hôm thôi đã thấy có gần 50 “comments” của bạn bè khắp nơi. Thật là cảm động. Xin phép được chọn một số đăng lại nơi đây để chia sẻ: “Nào ai hững hờ / Xuân vẫn ngóng chờ…”.
Đỗ Hồng Ngọc.

Nam Thi
@Tôi xin mở hàng. anh Đỗ Hồng Ngọc nhé.
Tên tuổi và văn chương của BS Đỗ Hồng Ngọc tôi được biết lâu mấy mươi năm rồi. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Hôm phó hội Sông Trăng tôi được Sáu Nẫu báo trước anh cũng có mặt, tôi mừng.Thế mà mới đến cổng Sáu Nẫu đón tôi và báo ngay: ” anh ĐHN đến và đi rồi vì có việc bất khả kháng…”. Cái duyên nó thế, biết làm sao.
Tôi muốn gặp anh không phải vì con tôi được anh chăm sóc khi còn bé, mà cũng không vì say mê văn chương của anh – thú thật tôi đọc anh không nhiều -, mà vì một lẽ khác.
Số là, năm 2002, tôi đi làm ăn ở Phan Rang, tình cờ tôi thấy trong tủ sách của chủ nhà quyển sách của anh viết cho người già. Lúc ấy tôi cũng ngoài năm mươi, bề ngoài chưa chịu mình già nhưng trong thâm tâm biết mình không còn trẻ. Tôi đọc một lèo hết quyển sách. Thật đúng lúc tôi cần chuẩn bị cho tuổi già của mình và anh là người “khai tâm”.
Nhưng diều anh khai tâm cho tôi lớn nhất và thú vị nhất là phần anh viết về kinh Bát Nhã. Nghĩ cái duyên mới là kỳ, đọc thiên kinh vạn quyển như nước chảy lá môn bỗng bài tiểu luận nhỏ ấy lại khai tâm cho tôi như một sự đốn ngộ. Cũng xin thưa rằng tôi vốn là người duy vật và vô thần…có bằng cấp và chính danh (hic).
Đọc xong bài của anh, tôi đọc thêm một số tác giả khác về đề tài nầy. Nhưng càng đọc càng loạn thư, càng rối. Nay thì quên hết, kể cả tựa đề quyển sách của anh.
Tôi mô tả tình trạng “loạn thư” của mình như sau:
“Tâm kinh nét chữ nhạt nhòa
Tiếng chuông Bát Nhã bóng tà dương phai
Thế âm là tiếng thở dài
Dấu chân Hành giả lạc loài nẻo xa”.
Đã mười năm trôi qua, tôi đã trở thành một ông già thực sự, sống khá ổn, vui vẻ, được anh em xunau gọi là “hậu trưởng” GIAMAHAVU ( Già Mà Ham Vui), đôi khi còn thêm cái đuôi “GIAMAHAVU-IU” ( IU= YÊU theo giọng BĐ).
Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc rất nhiều. Và xin mừng tuổi anh.

Đỗ Hồng Ngọc

“Tâm kinh nét chữ nhạt nhòa
Tiếng chuông Bát Nhã bóng tà dương phai
Thế âm là tiếng thở dài
Dấu chân Hành giả lạc loài nẻo xa”.

“Loạn thư” đến mức đó quả là đáng phục, đáng phục!
Nguyễn Du ngày xưa cũng kêu lên: “Chung tri vô tự thị chân kinh”.
Kinh không chữ mới đúng là chân kinh phải không Nam Thi ơi?
Vô Kỵ nhờ học đến đâu quên đến đó mà làm nhủn lòng Triệu cô nương!
“Hậu trưởng” YAMAHA (Giamahavu) đến lúc ngơ ngác hỏi “IU” là gì thì mới gọi là “đắc đạo” vậy!

Ngô Quang Hiển
Cảm ơn anh Đổ Hồng Ngọc đã dành những tình cảm ưu ái cho xunau.org .Thật ra trang web mới của tụi em vẫn còn nhiều khiếm khuyết ,rất cần sự góp ý và đóng góp của các anh lắm.. lắm.
Năm mới em kính chúc anh và gia đình sức khỏe,bình an.

Nguyễn Xuân Lệnh
Một bài viết cảm động và chân tình quá. Chúc anh vạn sự như ý

Trương Văn Dân
Chào anh Đỗ Hồng Ngọc,
“…Lâu nay nhiều người đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, tưởng bác sĩ … mà bày đặt đi làm thơ, nhưng khi biết đó là Đỗ Nghê thì hóa ra “nhà thơ” mà bày đặt đi làm… bác sĩ! Lộ tẩy hết trơn….”
Thôi, lộ tẩy hết rồi. Anh viết vậy là bà con xứ nẫu đã “tỏ đường đi lối về”… rồi, còn chi mà …”gìn giữ nữa”. Vậy thình thoảng hãy đến với với anh em để cùng ăn “bánh tráng cuốn bánh tráng ” nhé.
Bảo đảm đây là độc chiêu của đất võ trời văn, không nơi nào có….
Chúc Năm Mới thân tâm an lạc.
TVD

Do Hong Ngoc
Anh nhớ hồi nhỏ cũng đã từng nhiều lần được ăn “bánh tráng cuốn bánh tráng” đó TVD ơi! Anh từng biết ăn “chè bánh tráng” nữa: bánh tráng mè dày cui, nướng giòn, bóp bể vụn, cho vào nước nóng, thêm đường tán, ta sẽ có ngay một ly chè bánh tráng tuyệt hảo! TVD biết ăn chưa? Bảo Elena làm cho ăn nhé! Tóm lại, “Bánh tráng muôn năm!” Hèn chi mà Quang Trung đánh đâu thắng đó! Chúc xunau.org “thừa thắng xông lên”!

TVD
ANh ĐHN quơi!
Tưởng đem “bánh tráng cuốn bánh tráng” ra doạ anh, ai ngờ bị anh đem “chè bánh tráng” ra đấu lại. Thế là thua to!
Anh đúng là kiến văn quảng bác, cao thủ võ lâm.
Bái phục.
Chúc anh sức khoẻ và yêu đời,
TVD

Văn Công Mỹ
Hôm đầu năm nói chuyện với mấy người về những món ăn “tuyệt chiêu” của xứ nẫu trong đó có món Chè Bánh Tráng đó anh(có mấy bạn chính gốc “củ mì” cũng chưa từng ăn).Thay vì bánh tráng nướng,hồi đó em bẻ bánh tráng sống cho vào nước nóng nấu với đường đen. Đợi bánh tráng nở mềm là thành chè bánh tráng. Ăn,mềm mềm ngọt ngọt cũng đậm đà hương quê lắm. Anh mà biết món này,em xin bái phục.

Tú Gàn:
Xin chào “Bác sĩ của con tui” (nay nó đã là cô giáo 32 tuổi rồi anh à !) năm mới !
Bài viết của anh thật là tình cảm tràn đầy với xunau.org ! Lại có nhắc đến tên em nữa … Em cảm ơn anh nhé ! Hy vọng : “Thà rằng không đến thì thôi …” mà đã đến – đã quen – đã biết – đã hiểu … xunau.org thì anh không có lý do gì … bỏ đi cho đành ! Đúng không anh ? Xin hãy xem mình như là một thành viên thân thiết của xunau.org kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2012 anh Đỗ nhé !

Võ Thanh Tùng
Rất bất ngờ khi biết anh là nhà thơ Đỗ Nghê. Trước năm 75 tôi vẫn thường đọc thơ anh,những bài thơ rất có cái riêng độc đáo thi vị.
Năm mới chúc anh hạnh phúc an khang thinh vượng!

Minh Huy
Chúc mừng năm mới nhà thơ ĐỔ NGHÊ !

Do Hong Ngoc
Cảm ơn Minh Huy. Cảm ơn tất cả các bạn xunau.org đã chúc Tết cho Đỗ Nghê. Xin gởi tặng một bài thơ nhỏ (đã từ lâu):

Đi giữa Sài gòn
Phố nhà cao ngất
Hoa nở rực vàng
Mà không thấy Tết

Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay Xuân về
Vỡ òa ngực biếc!

(Đỗ Nghê)

“Xunau” cũng đầy gió bấc phải không? Đó là một thứ gió rất lạ, dễ làm mình “rùng mình” nhất là khi gió ngược những tà áo dài… quê hương!

Văn Công Mỹ
Tôi biết anh là Đỗ Nghê, thi sĩ, khi đọc thơ anh trước đây. Rồi tôi đọc sách, và biết anh là bác sĩ, những cuốn Bỗng Nhiên Mà Họ Lớn, Gió Heo May Đã Về, Già Ơi Chào Bạn…cuốn tôi đến với Cũng Chẳng Khoái Ru, Những Người Trẻ Lạ Lùng… Bẵng đi một thời gian, bữa nọ lang thang trong nhà sách bắt gặp Nghĩ Từ Trái Tim, lật vài trang sách đồ rằng chắc cũng là một cuốn phân tích tâm lý của tác giả, đọc lướt nhanh những lời đầu tôi choáng váng và “rùng mình”… bởi bấy lâu tôi nghe những câu kinh Bát Nhã chỉ là mới nghe, qua những khi tụng niệm của những người thân trong gia đình. Và khi đọc bản văn tâm kinh, chịu chết chứ làm sao tôi hiểu nổi những câu kinh trong Bát Nhã Tâm Kinh. Thế nên tôi rùng mình, choáng váng vì từ lúc đọc Bát Nhã Tâm Kinh tôi đã khao khát tìm hiểu ý nghĩa cuốn kinh này thì nay biết được bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, qua cuốn Nghĩ Từ Trái Tim đã luận giải cuốn kinh, từng chữ từng câu theo cái nhìn của một người làm khoa học. Mới biết trong chữ “duyên” khi mình đã “khởi” ắt có ngày mình sẽ “ngộ” phải không anh?
Riêng tôi, đọc những tác phẩm của anh, tôi thường hay liên tưởng đến nhà văn Võ Hồng (cái này “bất khả tư nghị”). Sáng 8/1 lần đầu gặp anh, thấy ánh mắt dịu dàng, nụ cười đôn hậu; những trao đổi nhẹ nhàng, chân tình, ấm áp với những người anh em đã cũ hoặc mới quen của anh, anh em Xứ Nẫu chúng tôi rất chi là cảm động.
Năm mới anh em Xứ Nẫu cầu chúc anh vui tươi,an lạc.

Do Hong Ngoc
Nghe Sông Trăng cũng đã lâu, chưa có dịp nhìn trăng trên sông ở đó cả. Vậy hẹn hôm nào, “trà đạo” dưới trăng một bữa nhé (Vì anh DHN không biết uống rượu mà! Một thiệt thòi rất lớn!).
VCM biết không, cuốn “Chẳng cũng khoái ru?” của anh Ngọc không ai nói đúng cái tựa cả. Người nói “Chẳng ru cũng khoái”, người nói “Chẳng khoái cũng ru”, người bảo “Ru cũng chẳng khoái” người kêu “Khoái cũng chẳng ru”… Chịu thua!

Thiên Bồng
Chào BS Đỗ Hồng Ngọc,
Gặp nhau chỉ khoảng vài chục phút, trao đổi với anh em mỗi người dăm ba câu, vẫn ngỡ là xã giao thông thường nào ngờ tấm lòng của anh với xunau.org thật sâu đậm, có lẽ đây là nét rất riêng của anh chăng?
Hôm 8/1 anh chào anh em và về sớm làm anh em có hơi thắc mắc, sau đó Sáu Nẫu có giải thích lý do về sớm của anh thì anh em lại càng trân trọng và thương quý anh nhiều.
Năm mới TB xin chúc anh được mạnh khỏe và nhận xét vẫn tinh tế như hôm gặp mặt mà TB đã cảm nhận được nha anh. Kính mến.

đinh tấn khương
Kính Anh Đỗ Hồng Ngọc
Nghe và biết anh khá lâu và khá nhiều, qua những tác phẩm của anh. nhưng chưa có lần nào được nói chuyện cùng anh (dù là trong thế giới ảo như bây giờ).
Hôm nay được găp anh ở đây, trước tiên xin gởi đến gia đình anh lời chúc tốt đẹp nhất trong năm mới, năm Nhâm Thìn 2012.
Cầu chúc anh còn nhiều sức khỏe để giúp đời qua chuyên môn và khối óc văn chương thi phú của anh.
Trong những tác phẩm và bài viết của anh (đọc từ sách và ở trang blog của anh), thích nhất là tác phẩm “Nghĩ Từ Trái Tim” mà em được một người bạn, nhân dịp về thăm VN mua tặng, vào năm 2004.
Vẫn biết anh là bậc đàn anh (về tuổi tác cũng như nghề nghiệp) nhưng cứ thắc mắc sao anh lại có nhiều thì giờ và sự hiểu biết, ngoài chuyên môn, để viết được nhiều và hay như vậy!?
Cám ơn anh rất nhiều, nhất là tác phẩm “Nghĩ Từ Trái Tim” đã giúp em hiểu thêm về Bát Nhã Tâm Kinh.
Một câu trong đó mà em luôn nhớ, đó là:
“Trong đời sống thường ngày, ta thấy khi khong còn nghi kỵ, ngờ vực, ghen tuông, tham lam, sân hận thì niềm vui sẽ tràn đến, ta thấy rộng lòng hơn, biết yêu thương hơn, biết tha thứ hơn, và ta cũng được đáp lại như vậy”
Và cám ơn anh đã đến với xunau.org, tạo duyên để được gặp anh.
Kính Anh
đtk

Do Hong Ngoc
Cảm ơn Đinh Tấn Khương, bạn đồng nghiệp phương xa. Đọc ĐTK, anh Ngọc nghĩ trước sau gì ĐTK cũng sẽ quên mất cái ống nghe mà chỉ còn nhớ cây viết hay bàn phiếm! Có lúc sẽ trốn khỏi cả “cai tù” mà lên núi tu không chừng. Lúc đó sẽ có nhiều thì giờ thôi! ĐTK viết dễ thương. Chúc Năm Mới.

đinh tấn khương
Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc đã cho lời khuyên và khích lệ đàn em.
Em chỉ mong, luôn được minh mẫn trí óc để viết cho vui với anh em vậy thôi, anh Ngọc ơi!
Nhưng mà tuổi già đâu dễ gì được mãi vậy, phải không thưa Anh!?
Cũng muốn đi tu lắm, sau khi đã đọc sách đạo của anh, nhưng vì chưa “buông” được nên cái dấu HUYỀN nó mãi còn đó, thành ra em vẫn còn mang cái kiếp “TÙ” đấy, anh Ngọc à!
Vui với Anh một chút, đừng trách nhen!
Chúc Anh còn nhiều sức khỏe để còn viết khỏe, cho thế hệ đằng sau được nhờ.
Kính Anh
đtk

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học

08/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Hiến Lê
Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học
Vương Trung Hiếu
Ghi chú: Vương Trung Hiếu, bút danh Thoại Sơn, là nhà văn, nhà báo, quê gốc An Giang. Trên vanchuongviet.org, nhân 100 năm Ngày sinh Nguyễn Hiến Lê, (08.01.1912 – 08.01.2012) anh đã cho đăng bài viết này, trích từ Kỷ yếu của Hội cựu học sinh Trường trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, An Giang. Một bài viết ngắn gọn, nhưng rất có ích cho các bạn trẻ. Xin phép được đăng lại nơi đây.
Chân thành cảm ơn anh Thoại Sơn.
Đỗ Hồng Ngọc.

Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng, tên tuổi của ông gắn liền với nhiều tác phẩm, trong đó có quyển sách dịch “Đắc nhân tâm” (vẫn thuộc loại bán chạy nhất hiện nay trên Internet). Người ta biết NHL viết sách, chứ không nhiều người biết ông đã từng là nhà giáo. Tháng 11 năm 1950 NHL nhận lời mời dạy học ở trường Trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, đến năm 1952 ông xin nghỉ, lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, biên dịch sách, sáng tác và viết báo. Trong thời gian ở Long Xuyên, ông dạy môn Pháp văn, Việt văn, Đức dục, về sau thêm cả Hán văn (từ lớp 7 đến lớp 9 ngày nay). Quan điểm dạy học của ông tuy cách đây đã 60 năm, song vẫn còn hữu ích đối với thế hệ giáo viên trẻ ngày nay. Ông cho biết: “Tôi soạn bài kĩ, giảng cho rõ ràng, bắt học sinh làm nhiều bài tập,.. dù con bạn thân mà làm biếng tôi cũng rầy, dù con các người tai mắt trong tỉnh, nếu lười tôi cũng mắng nặng lời”. “Tôi cho rằng trong nghề dạy học, tư cách ông thầy quan trọng nhất: phải đứng đắn, nhất là công bằng; rồi lời giảng phải sáng sủa, có mạch lạc, muốn vậy ăn nói phải lưu loát, và soạn bài phải kĩ”.
“Trong trường học, giáo sư nên khuyến khích những học sinh chịu đọc thêm sách, chứ đừng khen những trẻ giỏi học thuộc lòng. Trong các kỳ phát phần thưởng, đừng mua sách giáo khoa để phát, mà nên lựa những sách giúp học sinh mở mang thêm kiến thức”.
Về giáo dục NHL nêu vài vấn đề mà ngày nay chúng ta cũng cần phải suy nghĩ. Trong quyển Thế hệ ngày mai, NHL cho rằng nền giáo dục trong thời đại của ông “ quá thiên về trí tuệ, xao nhãng thể dục và đức dục”. Từ bậc tiểu học đến đại học, người dạy đã nhồi nhét quá nhiều những môn “để luyện trí”. “Phương pháp dạy ở trường có tính cách quá nhồi sọ”. “Môn gì cũng cần nhớ, nhớ cho thật nhiều, tới môn toán pháp mà cũng không dạy trẻ phân tích, bắt học thuộc cách chứng minh các định lý”. Từ đầu thế kỷ 20, Nhiều giáo sư, học giả Pháp đã phê phán lối học “không tập cho suy nghĩ ấy”. Nhiều nhà doanh nghiệp phàn nằn rằng phần lớn “ những học sinh ở Trung học hay Đại học ra không hiểu chút gì về công việc, không biết kiến thiết, sáng tạo, chỉ huy”.
Một điểm đáng chú ý khác: Vì sao học sinh không thích học? Ông cho rằng học sinh có thể không thích học môn nào đó vì cảm thấy không hợp. Có người thích văn nhưng buộc phải học Toán; có người thích vẽ nhưng buộc phải học Sử. Ngoài ra, “Ta cũng có thể ghét sự học ở trường vì nhiều giáo sư giảng bài như ru ngủ chúng ta, hoặc tới lớp thì bắt ta chép lia lịa từ đầu giờ tới cuối giờ mà không hề giảng cho một chữ, chép tới tay mỏi rời ra, không đưa nổi cây viết, nguệch ngoặc không thành chữ, rồi về nhà phải cố đọc, đoán cho ra để chép lại một lần nữa cho sạch sẽ. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì có những ông giáo, suốt năm mặt lạnh như băng, vẻ quạu quọ, hờm hờm, coi học sinh như kẻ tù tội, phải hành hạ cho đến mực, làm cho học sinh gần tới giờ thì lo lắng, mặt xám xanh, như sắp bị đưa lên đoạn đầu đài. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì kỷ luật, hình phạt của nó, vì những kỳ thi liên miên bất tận..”.
Điều quan trọng nhất trong cách dạy của NHL không chỉ nằm ở chuyên môn, mà còn ở cách hướng dẫn học sinh tự học. Vì phần lớn học sinh thời ấy “không biết cách ghi chép lời giảng của thầy, không biết cách học bài, làm bài, không biết cách học ôn, cách tìm tài liệu, không có một thời dụng biểu ở nhà. Họ không hiểu rằng cách học một bài ám đọc (récitation), khác cách học một bài toán; một bài sử, địa khác một bài sinh ngữ… Họ không có cả một sổ tay ghi những điều cần nhớ để thường coi lại”.
Vâng, tự học là điều cần thiết không chỉ khi ngồi trên ghế nhà trường, mà còn là phương tiện giúp ta đi tới thành công trên đường đời. Đừng nghĩ rằng khi có bằng cấp cao là đã thành công và không cần phải tự học nữa. NHL viết: “Bạn có bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ mà không học thêm thì suốt đời cũng chỉ là một tiến sĩ, một thạc sĩ. Paul Doumer 14 tuổi đã phải thôi học, tự học lấy rồi sau thành Tổng thống nước Pháp. Louis Bertrand xuất thân làm thợ mà lên ngôi Tổng trưởng”. Ở nước ta cũng không thiếu người nhờ tự học mà có danh vọng”. Thí dụ như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Bạch Thái Bưởi và Trương Văn Bền…đã thành công lớn trong nghề nghiệp của mình.
Cách tự học
NHL viết: “trên con đường tự học, tôi chẳng có chút hiểu biết, kinh nghiệm nào cả, phương tiện thật thiếu thốn, tốn công nhiều mà kết quả rất ít. Vì nghĩ vậy mà sau này tôi viết cuốn Tự học để thành công (sau đổi tựa là Tự học, một nhu cầu của thời đại) để hướng dẫn thanh niên tránh những lỗi lầm của tôi”. Ông cho rằng “Tự học cũng là một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gắp trăm du lịch bằng chân”. “Tự học còn là một thú vui rất thanh nhã nó nâng cao tâm hồn ta lên”. Vậy, muốn tự học, trước hết phải thấy nó là một chuyến “du lịch”, là “thú vui” mới có thể kiên trì theo đuổi.
Theo NHL, người mới biết đọc, biết viết; người già cũng có thể tự học được. Quan trọng là có sức khỏe, thời gian và tin vào việc học của mình (có lợi cho bản thân, giúp ích cho người khác). “Nếu học 5-7 lần không thuộc, cũng đừng chán rồi bỏ cuộc. Học nhiều hơn nữa, có ngày sẽ thành công”.
Ông nghĩ rằng cái lợi của tự học là “tự do lựa môn học, lựa thầy học”. “Nếu chưa hiểu rõ một chương, ta có thể bỏ ra hàng tuần hàng tháng để học thêm…Nhờ vậy ta có nhiều thì giờ để suy nghĩ so sánh, tập xét đoán, giữ tư tưởng được tự do. Không ai nhồi sọ ta được, bắt ta phải lặp lại những điều mà ta không tin”. Tuy nhiên, ông cũng thấy cái hại của việc tự học là do “không ai dẫn dắt ta, nên ta không biết học cái gì”. Có người quyết học hết một bộ Bách khoa từ điển nhưng mới học khoảng một tuần thì bỏ ngang vì chán nản, không hiểu nhiều đoạn trong tự điển. “Có kẻ gặp cái gì đọc cái ấy… không tự lượng sức mình, chưa biết những sách đại cương về một môn nào đã đọc ngay những sách quá cao viết cho các nhà chuyên môn”. Đọc qua loa những điều mình thích nên không hiểu tường tận để áp dụng. “Học như vậy phí công vô ích”, do “không có một mục đích nhất định để nhắm, một chương trình hợp lý để theo”.
Ông cho rằng tự học “có mục đích gần và mục đích xa”. Học để có một chỗ làm, có cuộc sống tiện nghi là học với mục đích gần. Học để đủ tư cách làm chủ gia đình, một công dân và phần tử của nhân loại. Học để phát triển đức trí, giúp ít người khác mỗi ngày một nhiều hơn mới là mục đích xa. Nếu là giáo viên toán ta cũng nên đọc về kinh tế, chính trị; nếu là thợ thuyền cũng nên học về triết lý, luật khoa… “Nhà văn phải biết khoa học, vì khoa học giúp ta nhận xét, lý luận, hiểu vũ trụ hơn. Nhà khoa học cũng phải hiểu văn chương vì những áng văn thơ bất hủ nâng cao tâm hồn con người”… “Kẻ nào quá chuyên nghiệp, chỉ đọc những sách về ngành hoạt động của mình thì không khác chi đeo vào hai bên thái dương hai lá che mắt, không khác chi tự giam mình vào một phòng chỉ có mỗi một cửa sổ để thông ra ngoài.”
Những cách tự học
Theo NHL, có hai cách tự học: học có người dạy và tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm (theo ông, cách thứ hai “quan trọng hơn nhiều”).
Tự học (có người chỉ dẫn) là theo một lớp giảng công hay tư, một lớp hàm thụ hoặc nghe diễn thuyết.
+ Lớp giảng: Theo ông, “ở Âu, Mỹ, có rất nhiều trường công hay tư dạy những người lớn muốn học thêm” (từ tiểu học đến đại học). “Lại có những trường dạy một ngành chuyên môn như môn Tổ chức công việc, môn viết văn, làm báo, khoa nói trước công chúng, khoa nội trợ…”.
+ Lớp hàm thụ: học từ xa bằng những phương tiện thông tin đại chúng, “
học những trường này phải trả tiền vì đều là trường tư, hoặc bán công tư”.
+ Nghe diễn thuyết: nghe những diễn giả nói về đề tài mà mình muốn biết thêm.
Tự học không có người chỉ dẫn là tập nhận xét và đọc sách…
+ Nhận xét: NHL viết: “Người tự học nào cũng phải tập nhận xét. Phần đông chúng ta không nhìn bằng mắt mà bằng óc, bằng tim”. Một giáo sư đại học bảo sinh viên tập trung nhìn những ông làm rồi bắt chước làm theo. Ông nhúng một ngón tay vào một ly nước rồi đưa lên miệng nếm. Mỗi sinh viên đều làm như vậy, nhưng lại nhăn mặt vì nhận thấy nước rất hôi thối. Sau khi họ nếm xong, vị giáo sư mỉm cười, bảo: “ Các cậu không nhận thấy ngón tay tôi đưa lên miệng không phải là ngón tay đã nhúng vào nước à”. Vị giáo sư nhúng ngón tay này vào nước nhưng lại nếm ngón tay kia nên không có cảm giác hôi thối, còn sinh viên thì…. Điều này cho thấy “họ đã không nhìn bằng mắt mà bằng óc. Óc họ tưởng tượng ra sao thì họ thấy vậy”. Tóm lại, muốn học hỏi thì ta phải tập nhìn bằng mắt, chứ đừng bằng óc hoặc tim. Trước khi nhận xét, phải có một chương trình: xét những điểm nào? điểm nào trước? điểm nào sau? Thí dụ, muốn nhận xét một cây, bạn phải: quan sát từng bộ phận của nó (từ gốc rễ đến cành lá); cây này mọc ở miền nào, hợp với loại đất nào; mùa nào trổ bông, có trái; cách trồng ra sao; ích lợi thế nào… Lập sẵn chương trình như vậy thì không sợ quên những chi tiết nhiều khi quan trọng. Trong khi nhận xét phải so sánh (như cây sao với cây dầu giống nhau chỗ nào, khác nhau chỗ nào?), phân tích (như xét một bông phải xét: đài, cành, nhụy, sắc hương). “Chịu nhận xét, tập chú ý vào những điều trông thấy thì tài nhận xét sẽ tăng lên. Mỗi ngày ta nên tập nhận xét vài lần… không tốn thì giờ mà chỉ trong vài ba tháng đã thấy nhiều kết quả”.
+ Đọc sách: theo một lớp giảng hoặc một lớp hàm thụ chỉ là biện pháp nhất thời. Muốn tự học suốt đời, thì phải đọc sách, vì thế “có thể nói tự học là đọc sách”. “Khi đọc tôi luôn luôn có một cây viết chì để đánh dấu những chỗ đáng nhớ, hoặc có thể dùng tới sau này; cuốn nào thường phải đọc lại thì tôi ghi những ý quan trọng cùng số trang lên mấy trang trắng”…“sách nào thường dùng tôi để riêng, sắp theo từng loại”.
Học từ dễ đến khó
Muốn học môn gì đó, cần phải tìm đúng sách rồi học từ dễ đến nâng cao dần. Không thể ngay từ đầu học những điều quá khó, vì như thế sẽ không hiểu, một thời gian sẽ chán nản rồi bỏ cuộc. Nhìn chung, những người như thế “không thành công vì không biết cách học”. Ho chưa biết những điều thường thức đã vội đọc ngay những sách cao đẳng. Họ “chưa có một khái niệm gì rõ ràng đích xác về đạo Phật mà đọc ngay kinh Tam Tạng! Tự học mà thiếu phương pháp như vậy thì 100 người có tới 95 người thất bại”.
Cách học ngoại ngữ
Ngoài tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức, bắt buộc phải học vào thời ấy, NHL còn học thêm tiếng Hán và tiếng Anh. Hồi nhỏ ông học chữ Hán cốt để “đọc được gia phả”, “chỉ nhớ mặt chữ, hiểu nghĩa là được rồi”. Sau khi học xong ngành Công chánh, trong thời gian chờ phân công nhiệm sở, ông lại tự học chữ Hán. “Mỗi ngày, buổi chiều tôi lại thư viện Trung Ương đường Trường Thi, mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh…rồi bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và từ ngữ nào tôi đoán là thường dùng mà chưa biết thì tôi chép lại trong một tập vở. Tôi ở thư viện từ 3 đến 5-6 giờ chiều. Tối hôm đó và sáng hôm sau, tôi học hết những trang đã ghi đó; rồi chiều lại ra thư viện chép bài học sau. Mỗi tuần nghỉ một ngày để ôn lại những bài trong tuần. Học ba tháng, được độ ba ngàn từ”. Về sau NHL tự học thêm nữa để có thể viết sách về văn học Trung Quốc. Về tiếng Anh, ông học chủ yếu là hiểu nghĩa từ và văn phạm, học để đọc tài liệu nước ngoài, để viết và dịch sách chứ không chủ trương học để nói lưu loát. Theo ông, “muốn hiểu một ngoại ngữ thì phải dịch ra tiếng Việt”. “Khi dịch, bắt buộc ta phải tra tự điển; câu nào dịch rồi mà ý nghĩa không xuôi, có điểm nào vô lí hoặc mâu thuẫn với một số câu ở trên thì bắt buộc ta phải soát lại xem mình dịch sai ở chỗ nào”.
Viết sách để tự học
Từ 1949 đến 1953, NHL “làm việc rất nhiều, vừa dạy học, vừa học, vừa viết sách, không có thì giờ để hưởng nhàn”. Ông dạy học, tự học môn Tổ chức, tiếng Anh và văn học Trung Hoa. Ngoài ra ông còn ghi danh học một số lớp hàm thụ. Chính nhờ bài học từ những lớp này NHL đã có tài liệu để viết sách (quyển Nghề viết văn, Hương sắc trong vườn văn và nhiều sách Học làm người).
Theo ông, “viết sách là tự ra bài cho mình làm. Học mà không làm bài thì chỉ là mới đọc qua chứ không phải học.” Và ông cho rằng “khi viết nên nhớ mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới”.
Sức làm việc của ông thật đáng nể, theo Wikipedia, “mỗi ngày ông làm việc 13 tiếng đồng hồ (6 tiếng để đọc tài liệu và hơn 6 tiếng để viết). Thời gian biểu này được áp dụng một cách nghiêm ngặt không ai được vi phạm kể cả chính ông, nhờ vậy mà ông đã hoàn thành một khối lượng công việc, tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật đồ sộ”. NHL cho biết: “nhiều người, từ bạn bè đến độc giả bảo tôi sống như một nhà tu khổ hạnh. Tôi không biết các nhà tu khổ hạnh có thấy khổ hay không khi họ nhịn ăn, nhịn uống, nhịn ngủ, … chứ riêng tôi, chẳng tu hành gì cả, không thấy lối sống của tôi với sách vở là khổ”.
Trong lời nói đầu của quyển “Đời viết văn của tôi”, NHL viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Có lẽ, nhờ quan niệm như thế nên NHL để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm đồ sộ, có giá trị cao về học thuật, đó là mảng sách về triết học và lịch sử. Mảng sách về văn học của ông cũng khá phong phú, chủ yếu là văn học Trung Quốc, bên cạnh đó là một số quyển tiểu thuyết dịch từ tiếng Anh và Pháp. Tuy nhiên, mảng sách mà NHL được nhiều người biết đến, đem lại dang tiếng cho ông chính là loại “sách học làm người”. Ông viết và dịch nhiều sách về mảng này, trong đó có một quyển đã làm “thay đổi hẳn cuộc đời của một thanh niên hiếu học nhưng nhà nghèo”, người mà sau này đã trở thành bác sĩ và cũng khá nổi tiếng, đó là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.
Quyển sách ấy có tựa đề là Kim chỉ nam của học sinh, một quyển mà NHL muốn “giúp học sinh biết cách học”. Ông khởi sự viết quyển này vào tháng 2 năm 1951, tức giai đoạn ông còn dạy học ở trường Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên. Sau khi quyển sách ấy được phát hành, nhiều phụ huynh và giáo sư đã hết lời khen ngợi sự hữu ích của nó. Trong tờ Bách Khoa số 20-4-75, Đỗ Hồng Ngọc viết: “Kim chỉ nam đã mở cho tôi chân trời mới, đọc xong, tôi thấy gần gũi với ông (NHL) kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ thống hoá, đặt ra những nguyên tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viễn vông, nhàm chán”.
Dẫu sống ở Sài Gòn nhiều năm, song Nguyễn Hiến Lê vẫn rất nhớ cái nơi ông đã từng dạy học, nơi mà ông đã về sống những năm cuối đời. NHL tâm sự: “ Long Xuyên đúng là quê hương thứ hai của tôi, mà bây giờ tôi quyến luyến với nó hơn quê hương thứ nhất nhiều”.
Vương Trung Hiếu

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Năm này, Dương Cẩm Chương 102 tuổi!

02/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Năm này, Dương Cẩm Chương 102 tuổi!
Đỗ Hồng Ngọc

BS Dương Cẩm Chương chuẩn bị cắt bánh sinh nhật (19/12/2011)


Năm 2012 này, bác sĩ – họa sĩ Dương Cẩm Chương vừa lên… 102 tuổi! Nếu tính tuổi Tây thì ông cũng chỉ mới 101 thôi, còn tuổi Ta thì ông được 102. Tôi nghĩ với ông, nên tính tuổi ta bởi ông thường nói chín tháng mười ngày ở trong bụng mẹ mới là thời kỳ quan trọng nhất của con người. Thật khó tưởng tượng nổi một ông cụ 102 tuổi luôn sảng khoái, cười ha hả, đối đáp linh hoạt như một người tuổi trung niên! Thế mà chỉ trước đó ít lâu ông đã lên một cơn “rối loạn tri giác” nặng, hoàn toàn mất trí nhớ, rơi vào hôn mê sâu, bệnh viện phải cho xuất viện về lo hậu sự. Về đến nhà ông nằm mê man suốt hai tháng trời như thế rồi bỗng nhiên tỉnh lại, quát mọi người sao bày đặt tụng kinh om sòm bộ muốn cho ông chết sớm hả. Quả thật suốt hai tháng mê man đó ông đã phiêu diêu nơi miền … cực lạc, chỉ tiếc ông chẳng còn nhớ gì để kể lại cho chúng ta nghe.

Cách đây vài tuần, ông phone gọi tôi nhắc sắp sinh nhật ông, nhớ đến và phát biểu đôi câu đấy nhé! Tôi nhớ năm ngoái đến dự sinh nhật ông đã hỏi ông cảm thấy thế nào về ngày mừng đại thọ trăm tuổi này, ông cười “thấy già thêm chút nữa”! Năm nay tôi “tranh thủ” thăm ông sớm chớ đợi tới ngày sinh nhật thì đông đúc quá!
Vừa thấy tôi, ông đã từ trên giường lồm cồm ngồi dậy, hất tay người cháu đang định đỡ lưng mình, và “tấn công” ngay:
– Cuốn sách mới của anh có bài viết về tôi mà tôi chưa được đó nhé!
– Dạ, có phải chú muốn nói cuốn Nhớ đến một người không?
– Đúng rồi. Nhưng không sao! Tôi cũng đã có rồi. Một đứa cháu đã mua tặng cho. Anh viết về mọi người mà chẳng “kết luận” cái gì cả! Như ông Trần Văn Khê, anh viết về nhiều thời kỳ của ông mà cũng chẳng có kết luận nào cả? Vì thế mà trong giấy mời anh, tôi gởi theo mấy bức thư…
Thì ra vậy. Tôi đã hơi ngạc nhiên sao trong giấy mời của ông, tôi thấy có kèm thư của Ni sư Trí Hải, GS Trần Văn Khê và ông Cao Bá Ninh… . Thì ra ai nấy viết cho ông đều có “kết luận” rất rõ ràng.
Giáo sư Tần Văn Khê viết:
Thưa Dương Cẩm Chương đại huynh,
Kính nể đại huynh, một nghệ sĩ trong y khoa
Ngưỡng mộ đại huynh trong nghệ thuật hội họa
Khâm phục đại huynh, một nghệ sĩ trong nghệ thuật sống.
(02/01/2006)

Ni sư Trí Hải thì viết:
(…) các nhà báo nói Bác trông như một bá tước, họ nói cũng đúng, nhưng tôi thấy Bác như một nghệ sĩ và một thiền sư, ở tính bình dị hồn nhiên của Bác. Nhờ vậy mà Bác giữ mãi được sức khỏe và tâm hồn trẻ trung (Tuê uyển, 12.10.2000).

Còn ông Cao Bá Ninh viết trong một email gần đây:
Thư gởi một người thật quen
Mercredi 6 avril 2011 18h47
(…) Ông đã vẽ cho đời để đời đẹp hơn. Để có được đời sống vui và thoải mái, tôi rất thích lối sống, cách sống và thái độ thật rõ với ĐỜI của ông…(…).

– Thưa, ông Cao Bá Ninh này chắc cũng lớn tuổi rồi hả chú?
– Đâu! Hãy còn trẻ! Nhỏ hơn tôi đến 8, 9 tuổi! (nghĩa là cũng đã ngoài 90 rồi!). Ông đang ở Chicago.
Tôi tìm cách chuyển đề tài:
– Chú thấy… sống lâu có gì hay hông chú?
– Có chứ. Mình được thấy…
– Thấy cái gì?
Ông ngần ngừ: Thấy nhiều thế hệ…
– Còn cái chết?
– Chết là một giải thoát…
– Sau cái chết là gì?
– Không biết ! Chỉ nhớ một câu hình như của Lão Tử: sống sao cho khi sinh ra mình khóc thì mọi người cười, còn khi chết thì mọi người khóc mà mình cười…
– Mình biết gì đâu mà cười hở chú?
Ông làm thinh. Rồi thủng thẳng:
– Nghĩa là mình đã sống một đời sống trọn vẹn, hữu ích. Thời kỳ nằm trong bụng mẹ rất quan trọng…
– Còn trước hồi nằm trong bụng mẹ ?
– Không biết !
– Làm thế nào để có cuộc sống vui khỏe và… trường thọ như chú ?
– Cần 3 điều: Sức khỏe là một, việc làm là hai và tình yêu là ba.
Rồi ông nhìn tôi: Đây là thứ tình yêu rộng lớn… Nhưng mỗi ngày phải nhớ sám hối đó nhé! Cuộc đời nhiều vui khổ…
– Chú tập luyện, ăn ngủ thế nào ?
– Mỗi ngày tập thể dục đều 20 phút, ăn uống vừa đủ, ngủ nhiều.
– Chú còn vẽ không ?
– Hết vẽ được. Mấy ngón tay này…
Rồi ông đưa mấy ngón tay cho tôi coi…
…………………
Trong buổi họp mặt mừng Sinh nhật ông ở Chez Nous, tôi nói, khi tôi sinh ra thì ông đã là bác sĩ, khi tôi là bác sĩ thì ông đã về hưu… Sau này người ta có thể quên đi một Dương Cẩm Chương bác sĩ nhưng người ta sẽ còn nhớ Dương Cẩm Chương họa sĩ… Ông đã sống một đời sống tròn đầy, lao động và sáng tạo, đem lại niềm vui cho mình, cho đời. Ông sống hồn nhiên và hạnh phúc. Tôi vẫn luôn coi ông là « đại sư phụ » của mình…

……………………………..
Đọc thêm trên www.dohongngoc.com/web/
“Ke lu hanh khong met moi cua duong dai”

Nhà yêu nước Dương Bá Trạc là thân phụ của BS Dương Cẩm Chương

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

“NNN”

23/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Từ trái sang: DS Hồ thị Tường Vân, GS Trần Văn Khê, Lâm Duy Anh Kiệt, Đỗ Hồng Ngọc


Một hôm tôi nhận được một cú phone mời đi ăn trưa cùng với Chú Trần Văn Khê và Cô Tường Vân. Tưởng ai, hóa ra là Lâm Duy Anh Kiệt, con thầy Lâm Tô Bông và cô Hồ thị Tiểu Sính, cô giáo tiểu học của tôi hồi nhỏ ở Phan Thiết. Cô Tiểu Sính không chỉ là cô giáo , cô còn là một người ơn của tôi vì đã cho tôi học miễn phí ở ngôi trường Tiểu học của cô thời đó bên bờ sông Cà Ty (Mường Mán). Cô là con của Cụ Hồ Tá Bang, nhà ở kế bên trường Dục Thanh bây giờ. Khi tôi vào đệ thất Phan Bội Châu (1954) thì Anh Kiệt mới sinh nên tôi không được biết em. Thế nhưng, nghe em nhắc đến mẹ là Cô Tiểu Sính thì tôi đã vô cùng cảm động, nhớ buổi mai hôm đó, cậu Ngu Í của tôi đã dẫn tôi từ chùa HN đến gởi gấm cho cô- bạn thân của cậu- để tôi được đi học như bao trẻ em khác. Anh Kiệt đi Pháp từ nhỏ, rồi sang Canada, bây giờ ở Hồng Kông. Thỉnh thoảng em về thăm người dì ruột là Dì Sáu, dược sĩ Hồ thị Tường Vân và người bạn của mẹ là GS Trần Văn Khê.

Trong buổi ăn trưa bên bờ sông Saigon hôm đó, Kiệt kể một câu chuyện thú vị: em thường thấy mẹ đeo một tấm “lắc” có khắc 3 chữ “NNN” trên cổ tay mà không hiểu ý nghĩa. Người lạ thì tưởng là tên họ gì đó của mẹ. Sau này thì Kiệt đã hiểu rõ: Thì ra “dân” Phan Thiết không biết sao thường hay “ăn to nói lớn” nên khi cô Tiểu Sính sang sống ở Pháp, cái tật “nói lớn” đó không bỏ được. Thầy Lâm Tô Bông bèn làm cho cô một tấm “lắc” bằng vàng tây, khắc ba chữ NNN để nhắc nhở cô: “Nói Nho Nhỏ”! Khi cô mất, không biết các con cô có còn ai giữ để kỷ niệm không. Quả thật chỉ có thầy Lâm Tô Bông, vốn là trưởng hướng đạo mới nghĩ ra cách nhắc nhở vợ mình thú vị như thế, và chỉ có cô Tiểu Sính mới chịu mang cái tấm lắc với 3 chữ “NNN” như thế. Tôi nói với Kiệt, có lẽ dân Phan Thiết mình từ xưa sở dĩ thường nói lớn tiếng thành thói quen là do sống ở vùng biển, quen nói giữa “sóng to gió lớn” đó thôi. Thế nên nhiều khi nghe người ta nói chuyện tưởng như gây gổ mà thật ra là rất bình thường. Hôm nào về Phan Thiết để ý thử xem nhé.
Tôi cũng Phan Thiết nên có khi phải cần nhắc mình với 3 chữ “NNN” như vậy!

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Thơ Đỗ Nghê

23/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi…

Đúng là năm 1973 tôi có in tập Thơ Đỗ Nghê, Ý thức xuất bản, dưới dạng ronéo để tặng bạn bè, anh em. Một số bài trong đó đã đươc tuyển lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa (Nxb TRẺ 1993) và tập Thư cho bé sơ sinh & Những bài thơ khác (Nxb Văn Nghệ 2010). Nhưng cũng có một ít bài tạm gác…!
Gởi bạn bài viết của Thu Thủy trên báo Chính Luận ngày 20.11.1974 về Thơ Đỗ Nghê, đọc vui giữa thu xa.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc

Thơ Đỗ Nghêxem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Viết nhân năm học mới: Thầy Đỗ Hồng Ngọc

29/09/2011 By support2 Để lại bình luận

ThS BS Trương Trọng Hoàng

Hôm nay dù chưa đến ngày 20/11 tôi vẫn muốn viết về BS Đỗ Hồng Ngọc – một người Thầy với phong cách giảng dạy đặc biệt đã để lại những ấn tượng và ảnh hưởng sâu sắc đối với công việc giảng dạy của tôi.

Lớp Y1A Đai học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (12.9.2011)

Còn nhớ cách đây đã lâu lắm rồi, ngày tôi học năm thứ 4 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được học một buổi với Thầy – chỉ một buổi thôi nhưng đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm. Ngày đó Thầy đến lớp, giảng bài Săn sóc sức khỏe ban đầu trong Nhi khoa, khác với tất cả các giảng viên khác đó là Thầy chỉ giảng bằng hình. Thời đó hình không phải dễ làm, phải chụp bằng phim dương bản (slide), vô khung và phải dùng máy chiếu slide để trình chiếu. Và chính là nhờ những hình ảnh ấy của Thầy mà tôi thấy được Săn sóc sức khỏe ban đầu là những hoạt động thực tế, thấy được cuộc sống thật, thấy được những cảm xúc của người dân thể hiện qua những nụ cười, những vẻ mặt hân hoan, những hoạt động tích cực của họ. Nhờ đó mà tôi có được những cảm nhận sâu sắc, điều mà những bài giảng khác không cho tôi được và đó chính là điều mà tôi nhớ nhất.xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc

Trương Thìn, một vài kỷ niệm

25/10/2009 By support2 16 Bình luận

truongdinh_DHN4Cùng một lứa tuổi nhưng Trương Thìn học trước tôi một năm tại Y khoa đại học đường Saigon, 28 Trần Qúy Cáp (nay là Võ văn Tần, Q3, Tp. HCM). Anh ra trường năm 1968, còn tôi, 1969. Học chung với nhau suốt nhiều năm tháng ở trường Y, cùng sinh hoạt văn nghệ, làm báo sinh viên… chúng tôi vô cùng thân thiết. Ngay khi học năm thứ hai, tôi ra tờ báo Sóng, ronéo, thuần túy văn chương và y học cùng với Thân Trọng Minh (Lữ Kiều, Nàng Lai), Hà Ly Hải v.v… thì Trương Thìn làm tờ Hướng Mới, mang màu sắc đấu tranh  chính trị. Rồi chúng tôi còn cùng làm chung với nhau ở báo Tình Thương của Sinh viên Y khoa Saigon từ lúc bắt đầu (1964) đến ngày phải đình bản (1967).

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Vài đoạn hồi ký Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, HTV7, Ngày Thầy thuốc, Ngay Thay thuoc, Trương Thìn

“Cả nhà ta…”

28/05/2009 By support2 4 Bình luận

5-ngon-nenBạn tôi, bác sĩ M, thường tự hào về chuyện anh đang chung sống với bốn người “đàn bà”.

Người thứ nhất là mẹ anh, đã hơn chín chục tuổi. Mắt còn tinh, tai còn thính, chỉ phải hai chân yếu. Quen bay nhảy từ thuở nhỏ bây giờ nằm một chỗ bà chịu hổng nổi! Bà nói hồi xưa một nách năm con tất tả ngược xuôi mà sướng. Bà chê bác sĩ bây giờ…dở ẹt! Không bác sĩ nào có thể chữa cho bà hết… già! Bà uống đủ thứ thuốc đông tây nam bắc. Thoa bốn năm thứ dầu. Thoa cả gel dùng trong thể thao. Bà coi TV thấy cầu thủ đang nằm quằn quại trên sân mà chỉ cần xịt xịt thoa thoa vài cái liền đứng dậy chạy! Bà ao ước đựơc như bà hàng xóm, cùng tuổi bà mà vẫn còn đi lại đựơc chút đỉnh tuy hai mắt đã mù. Bà nói thà mù mà đi đựơc còn sướng hơn! Trong khi bà hàng xóm thì bảo thà có mắt mà đi… hổng được còn sướng hơn! Thì ra cả hai đều có cái sướng mà không biết!

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Vài đoạn hồi ký Tag với:"Ca nha ta...", "Cả nhà ta...", BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, Gia đình

“Chiều chiều dắt ra bờ sông…”

20/05/2009 By support2 4 Bình luận

doi-tim-yeuHồi còn nhỏ, tôi đã nghe người ta hát: “… Bà già lấy le ông già, chiều chiều dắt ra bờ sông, hai người nó chuyện tâm tình …” Đó là bài hát nhại của một khúc hát quen thuộc thời đó, nhưng càng lớn tuổi thì tôi càng nghiệm thấy điều này hình như rất… đúng. Lấy le, “prendre des airs” (tiếng Pháp) được Việt hoá thành một từ rất dân gian là làm điệu, làm bộ, ve vãn… Thường người ta nói cậu thanh niên này lấy le trước mấy cô con gái, còn ờ đây bà già lại lấy le ông già mới là kỳ!
xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Vài đoạn hồi ký Tag với:BS Do Hong Ngoc, Chiều Chiều Dắt Ra Bờ Sông …, Chieu Chieu Dat Ra Bo Song …

Mối Tình Chung Thuỷ, Nhân Hậu

19/05/2009 By support2 2 Bình luận

hai-thuong-lan-ong1Báo Sức khoẻ & Đời sống, Bộ Y tế, số 59 có bài “Ông Làm Biếng” của nhà văn hóa Hữu Ngọc, giới thiệu cuốn tiểu thuyết mới Monsieur le Paresseux của nữ văn sĩ Pháp Yveline Féray viết về cuộc đời của Hải Thượng Lãn Ông, ông tổ ngành Y Việt Nam. Một người thầy thuốc tài ba đức độ như Lãn Ông Lê Hữu Trác, tác giả của bộ Y Tông Tâm Lĩnh gồm 66 cuốn, mặc dù suốt đời tận tuỵ chữa bệnh cho mọi người nhưng chỉ mong sao cho không còn ai mắc phải bệnh tật nữa để mình được làm một “Ông Làm Biếng”, đó chẳng phải là một ước mơ ngàn đời của ngành Y sao?

Tôi không có cuốn Monsieur le Paresseux trong tay nên không biết Yveline Féray “hư cấu” ra sao chuyện tình đầu của Lãn Ông, nhưng trong “Thượng kinh ký sự” (*), tập ký viết năm 1783 của ông đã kể một cách khá chi tiết về mối tình thuỷ chung và nhận hậu đó, nên muốn ghi lại đây cùng với những cảm nghĩ để bạn đọc cùng chia sẻ.

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Vài đoạn hồi ký Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, Hai Thuong Lan Ong, Hải Thượng Lãn Ông, Moi Tinh Chung Thuy Nhan Hau, Mối Tình Chung Thuỷ Nhân Hậu

Nghe GS. Trần Văn Khê Kể Chuyện… Tình

19/05/2009 By support2 Để lại bình luận

Có thể đọc phần hồi ký để biết thêm những người thầy, người bạn của ông như Hoàng Xuân Hãn, Phạm Thiều, Nguyễn Văn Cổn, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Hữu Ngư…; có thể đọc phần Bút ký để theo bước lữ hành của nhạc Việt cùng ông từ Paris đến Bombay, Đài Bắc, rồi từ Phù Tang, xứ sở của hoa anh đào trở về xứ Huế mộng mơ… Nhưng nhất định phải đọc trước hết “Vài câu chuyện tình” được “che dấu” một cách khiêm tốn ở cuối tập “Tiểu phẩm” gồm ba phần Hồi ký, Bút ký và Truyện ngắn của Trần Văn Khê do Nhà Xuất bản Trẻ ấn hành (năm 1997).

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Vài đoạn hồi ký, Đọc sách Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, Doi Thuong Giao Su Tran Van Khe…, Nghe GS. Trần Văn Khê Kể Chuyện… Tình, Nghe GS. Tran Van Khe Ke Chuyen… Tinh, Đời Thường Giáo Sư Trần Văn Khê…

Đời Thường Giáo Sư Trần Văn Khê…

19/05/2009 By support2 5 Bình luận

tran-van-kheTheo lời chỉ dẫn của ông qua điện thoại, tôi lên métro tới trạm cuối Villejuif-Louis Aragon, chuyển sang xe bus đi về phía ngoại ô thêm chừng bốn năm trạm nữa, rồi đi bộ thêm một quãng thì đến một chúng cư nhỏ nơi ông ở. Đã gần tám giờ tối rồi nhưng Paris đang là mùa hè nên nắng vẫn còn chói sáng. Thấy tên ông nằm ở tầng thứ chín của chúng cư, sau một hồi đi đủ thứ loại xe rồi cuốc bộ tôi đã thấy hoải. May mà có thang máy. Cái thang máy nhỏ xíu, hai người đi thì vừa. Ở Paris, ăn thì không bao nhiêu chứ ở thì rất đắt, người càng nghèo thì càng phải ở từng cao và phải ra ngoại ô cho đỡ tốn kém.

Cửa thang máy vừa mở, đã thấy ông tươi cười đứng đợi. Chưa gặp ông lần nào nhưng tôi và ông cũng đã quen biết nhau qua thư từ vì ông vốn là bạn thiếu thời của cậu tôi, ông Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, nên nhân dịp đến Paris công tác tôi ghé thăm ông, cũng là để xem ông đau yếu ra sao mà nghe ông than trong một bài thơ mới đây là “vào ra bệnh viện biết bao lần”. Có lần nghe nói ông sắp phải mổ cột sống vì đi lại khó khăn nữa.

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Vài đoạn hồi ký Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, Doi Thuong Giao Su Tran Van Khe…, Đời Thường Giáo Sư Trần Văn Khê…

Sách Và Người

18/05/2009 By support2 6 Bình luận

_fill_280_p23354Hơn 40 năm trước, một chú nhóc vào tuổi 15, thất học, phụ mẹ bán hàng xén tại một thị trấn nhỏ xa thành phố, một hôm, trong dịp đi Sài gòn bổ hàng cho mẹ đã tình cờ mua được một cuốn sách “xôn” trên vỉa hè, đó là cuốn Kim chỉ nam cho học sinh, tác giả Nguyễn Hiến Lê. Cuốn sách nhỏ đó làm thay đổi đời chú. Chú thực hành theo hướng dẫn của sách, lập chương trình học ôn, “học nhảy” để đuổi kịp bạn bè mà do hoàn cảnh mà chú phải bỏ học nhiều năm. Về sau, khi trở thành một bác sĩ, và cũng là người học trò gần gũi với tác giả, chú đã viết một cuốn sách “bổ sung” cho Kim chỉ nam của học sinh, đó là cuốn “Những bệnh tật thông thường trong lứa tuổi học trò” (1972) do chính Nguyễn Hiến Lê đề tựa. Chú nhóc đó – nói ra hơi mắc cở một chút – chính là tôi, đang cần trong tay cuốn Kim chỉ nam của học sinh vừa tái bản sau gần nữa thế kỷ (in lần đầu năm 1951) mà không khỏi có chút bùi ngùi, cái cảm xúc có lẽ gần giống như Anatole France ngồi ở vườn Luxemboug nhìn những chú nhỏ tung tăng trong buổi tựu trường với cập vở trên vai mà thấy lại hình ảnh chính mình ngày xưa.

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Vài đoạn hồi ký, Đọc sách Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, Sách Và Người, Sach Va Nguoi

Làm rõ vài chi tiết về Nguiễn Ngu Í

18/05/2009 By support1 4 Bình luận

ngui

Gần đây tôi được đọc bài viết “Gặp Nguyễn Ngu Í và Bùi Giáng trong nhà thương điên” trên một trang Web của các bạn Việt kiều ở Ý, thấy có mấy chỗ sai, cần đính chính.

1) Nguyễn Hữu Ngư ( 1921-1979), nhà văn, nhà báo có nhiều bút danh trong đó bút danh Nguiễn Ngu Í ( với I cụt) được nhiều người biết với lọat bài phỏng vấn văn nghệ sĩ rất nổi tiếng trên báo Bách Khoa thập niên 60 tại Sài gòn. (Ông còn có các bút danh như Ngê Bá Lí, Tân Fong Hiệb, Trần Hồng Hừng, Phạm Hòan Mĩ…). Ông có lối viết tiếng Việt rất đặc biệt, rất riêng, gây ít nhiều tranh cãi, ít nhiều khó chịu cho người đọc, nhưng vẫn có cái lý riêng của ông. Thí dụ ông thấy không hợp lý khi ta viết NGA, nhưng lại NGHE (ông sửa lại NGE), GA nhưng GHE (ông sửa lại GE…). Mẹ ông họ Nghê, tên Mỹ,(Nghê Thị Mỹ) ở Tam Tân (Tân Tiến, Thị xã Lagi, Bình Thuận), sau dời về Phong Điền và Hiệp Nghĩa, nay thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Cha ông là nhà giáo Nguyễn Hữu Hoàn gốc Hà Tĩnh, có tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (trong cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục của Nguyễn Hiến Lê có nhắc đến). Cho nên ta thấy bút danh ông có khi là Ngê Bá Lí, Tân Fong Hiệb, Phạm Hoàn Mĩ…

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Vài đoạn hồi ký Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, Làm rõ vài chi tiết về Nguiễn Ngu Í, Lam ro vai chi tiet ve Nguien Ngu I

Cậu Tôi, Ông Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư

15/05/2009 By support2 Để lại bình luận

Cậu tôi, Ông Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư

                                                                             Đỗ Hồng Ngọc

Bây giờ, mỗi lần nhớ tới cậu tôi thì tôi thường tự hỏi hồi bằng tuổi cậu, tôi có làm được điều gì đó cho ai như cậu đã làm cho tôi không và tự nhiên tôi thấy lòng mình rộng mở, thanh thản, muốn giúp đỡ, chia sẻ. Cho đến năm 12 tuổi, tôi mới được biết cậu, còn trong ký ức mơ hồ của tôi hồi bốn, năm tuổi gì đó, tôi chỉ còn nhớ ông bà Giáo và dì Nga, là cha mẹ là em của cậu. Ông bà Giáo rất hiền, dì Nga cũng hiền. Ông bà và dì Nga sống bằng nghề chằm đệm buồm. Tôi thường có dịp đến chơi, coi mọi người chằm lá. Khoảng chín, mười tuổi, tôi về sống ở Phong Điền, Hiệp Nghĩa, lại gặp ông bà Giáo ở gần nhà cậu Năm Ý tôi, trên miếng đất ông cố tôi để lại. Bà Giáo là cô ruột của mẹ tôi, còn ông thì tôi chỉ nghe gọi là ông giáo Hoàn. Khi lớn lên thì tôi biết dì Nga đã mất, cậu Ngư thì nghe nói rất ít, và trong nhà khi nhắc tới cậu, người ta hay gọi “Ngư khùng, Ngư điên”. Mẹ tôi, cậu Năm lớn (Bánh), cậu Năm nhỏ (Ý), cậu Năm Chi đều gọi là “thằng Ngư khùng” bằng giọng trìu mến, thương yêu, không ghét bỏ mà có phần quý trọng, nể nang. Tôi lấy làm lạ. Những người nhỏ tuổi hơn như cậu Hội, thì gọi “anh Ngư khùng” bằng một giọng kính nể hơn. Không phải mọi người kính trọng vì ông bà Giáo hiền lành, ông vừa là thầy giáo vừa là thầy thuốc được mọi người trong xóm làng thương mến, mà nể trọng “Ngư khùng” vì cho rằng cậu Ngư học giỏi quá, học giỏi đến hoá khùng, hoá điên. Mà thật, vùng tôi hồi đó không ai học được lên cao như cậu. Tới “Primaire” đã hiếm chớ đừng nói đến “Brevet” trường Tây rồi vào học cao đẳng sư phạm như cậu. Nghe nói hình như vùng quê ngoại tôi có hai ngọn núi án ở phía bắc (Tà Cú) và phía Đông (Tà Đặng) nên ai học giỏi quá, học cao quá thế nào cũng xảy ra chuyện không hay. Từ đó, Ngư khùng, Ngư điên vì học giỏi như một huyền thoại bao quanh tôi. Tôi vừa thích vừa sợ, vừa lo lo. Thế rồi đến năm mười hai tuổi, tôi mới được gặp cậu bằng xương bằng thịt lần đầu tiên.

Ba tôi mất, mẹ tôi rời xóm tản cư trong rừng Bàu Lời, dẫn bốn anh em tôi về thị xã Phan Thiết tá túc ở nhà cô Hai tôi, ngụ trong chùa Hải Nam. Cô Hai và các chị tôi sống bằng nghề chằm lá buông, tôi phụ giúp phơi lá. Cô tôi rất tốt mà cũng rất nghiêm. Cô tôi cũng lại gọi “cậu Ngư Khùng” với cái giọng nể nang. Các anh chị cũng nhắc đến cậu bằng sự mến phục. Mọi người đều khen cậu hiền lành, dễ thương, chỉ khi điên mới kỳ cục, nhưng điên chỉ vì học quá giỏi mà thôi. Thế rồi có lần cậu từ Sài Gòn về Phan Thiết, ở nhà dì ba Lem. Cậu đến thăm mẹ con tôi và bàn với mẹ tôi cho tôi đi học. Trời ơi, đi học, sướng quá, nhưng phải cẩn thận, học vừa thôi chớ học giỏi quá hoá điên như cậu thì nguy, tôi tự nhủ. Tôi thấy cậu ốm nhom, tóc hớt ngắn, quần rộng thùng thình, sơ-mi sạch sẽ nhưng nhàu nhè, chỉ có đôi mắt là sáng rực sau cặp kiếng cận tròn, gọng đồi mồi. Bộ ria mép che bớt cái miệng với hàm răng hơi hô, nhưng nhờ hay cười nên cũng có duyên, mũi hơi quặp, chịu đựng cặp mắt kiếng khá nặng, tay thì ôm một chồng sách báo, đi nghiêng nghiêng tất tả. Lần về đó có cả mợ tôi. Mợ tròn trịa, da trắng, tóc quăn, nhanh nhẹn, vui vẻ, hoạt bát. Hôm đó tôi diện bộ đồ “pyjama” do anh Hai con cô tôi may cho, đến nhà dì Ba Lem thăm cậu mợ. Sau này tôi có viết lại đoạn hồi ký ấy trong một cuốn vở học trò, với cái tựa là “Cậu tôi”, kể lại “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai… cậu nắm lấy tay tôi, dẫn đi trên con đường…” đến trường học. Tiếc là cậu đã làm thất lạc lúc nằm ở Dưỡng trí viện Biên Hòa. Bây giờ tôi không viết lại được nữa. Tôi nhớ cậu dẫn tôi đi mua sách vở chuẩn bị vào trường ở nhà sách Vui Vui bên bờ sông Cà Ty gần cầu Phan Thiết. Tôi bẽn lẽn, hồi hộp, sung sướng không tả. Tôi vừa đi vừa ngó chừng cậu. Cái huyền thoại học giỏi hoá điên của cậu làm tôi ngờ ngợ, lo lo. Nhưng tôi nghĩ là tôi cũng phải ráng học giỏi. Thà học giỏi hoá điên còn hơn học dở. Trước đây, tôi học trong rừng, vùng kháng chiến quê mẹ tôi, không biết sức học thực của mình ra sao. Mười hai tuổi, biết đọc, biết viết, làm toán khá, còn chưa biết một chữ “le, la” trong tiếng Pháp, mà hồi đó, học trò tiểu học đã học tiếng Pháp rồi. Tôi hoảng lắm. Cậu thì tỉnh queo, nắm tay tôi kéo vào tiệm sách Vui Vui mua cho nào vở, nào tập, nào viết chì, viết mực, cục gôm, không thiếu một thứ gì. Cậu còn mua cho một cây viết chì màu hai đầu xanh đỏ mà tôi rất khoái. Mấy cuốn sách Pháp vỡ lòng, sách Việt, sách toán đủ cả. Cậu thiệt là rành nghề học, tôi nghĩ. Cậu vào tiệm sách mua một lèo không đắn đo suy nghĩ gì cả. Người ta nói đúng, cậu có nghề đi học nên cậu rành quá.

Cậu dẫn tôi đến nhà người bạn cậu, cô Tiểu Sính, vợ thầy Lâm Tô Bông. Thì ra cô là Hiệu trưởng trường tiểu học mà cậu định gởi tôi vào học. Cô cũng ốm nhom, cũng mang kiếng cận trời ạ. Hoá ra người nào học giỏi cũng mang kiếng cận, phải ốm nhom và chắc cũng khùng khùng, điên điên cả sao? Nhưng cô không có vẻ gì khùng mà lại rất vui vẻ, tử tế. Tôi nghe hai người bàn bạc gì đó với nhau một lúc. Sau đó cô Tiểu Sính dặn dò tôi mấy điều và hẹn ngày cho tôi vào lớp. Lớp ba! Mà người ta đã học cả tháng trước rồi! Tôi lo sốt vó, không biết có học nổi không. Thế nhưng sau đó mấy ngày, tôi được thầy giáo báo với cô Hiệu trưởng cho lên lớp nhì và vài tháng sau đó cho lên lớp nhất luôn (lớp Năm bây giờ). Lần đó cậu Ngư cho tôi một số sách báo để đọc chơi, Có những cuốn sách hình thật đẹp, vừa có thơ, vừa có họa như cuốn Con ve và con kiến của Nguyễn Văn Vĩnh. Tôi muốn mình cũng vẽ được hình, làm được thơ như vậy. Tôi được học bổng toàn phần, nghĩa là được miễn đóng học phí. Tôi chắc là nhờ cậu nói giúp với cô Hiệu trưởng hoàn cảnh gia đình tôi nên mới được như vậy. Nhưng điều kiện nhà trường cho tôi biết là hàng tháng phải học giỏi, phải đứng từ hạng năm trở lên mới tiếp tục lãnh học bổng. Tôi ráng học, thường đứng nhất hay nhì mà thôi. Cuối năm được lãnh thưởng hạng nhất toàn trường, phải kêu xe xích lô chở về chùa. Cô tôi, mẹ tôi và các chị mừng lắm, khuyến khích tôi học. Tôi không nhớ lúc nào cậu Ngư lại về Phan Thiết lần nữa. Lần này cậu đến trường tìm tôi. Trường Bạch Vân bây giờ đã dời về chùa Bà. Tôi không biết sao mà mình ở cũng chùa mà học cũng chùa. Nhưng chùa Bà Đức Sanh Hội là nơi im ả, sân rộng, cây cao bóng mát thật lý tưởng, lớp học cách điện thờ có một vách ngăn. Lần đó thấy tôi học giỏi, cậu khen ngợi và cởi chiếc đồng hồ đeo tay, cho tôi. Lần đầu tiên tôi có cái đồng hồ đeo tay. Tôi khoái lắm, thấy không thua kém bạn bè nữa. Bây giờ đi đâu, có dịp tôi thường cho mấy nhóc nhỏ trạc tuổi tôi hồi đó thứ này, thứ khác… là tôi nghĩ đến cậu, nhớ đến cậu. Từ đó, tôi thường thư từ với cậu. Mỗi lần được thư tôi, cậu đều trả lời. Thư cậu viết trên giấy pelure màu xanh, hồng, có khi là giấy học trò thi, cậu tiết kiệm để dùng. Thỉnh thoảng cậu cho tôi sách, báo. Tôi mê lắm. Thế rồi gia đình tôi đột ngột theo cô Hai tôi dời về thị xã La Gì, Bình Tuy, quê cũ của họ hàng phía nội tôi. Lúc đó tôi đang học đệ thất trường Phan Bội Châu, Phan Thiết, sắp lên đệ lục, mà phải bỏ trường bỏ lớp thì thật là nản!

Ba năm sau Bình Tuy mới có lớp đệ thất đầu tiên của một trường đạo. Tôi xin mẹ cho tôi học lại. Mẹ tôi đồng ý. Cũng lạ, tôi hết học chùa bây giờ đến học nhà thờ. Tôi học không dở, liên tiếp nhất lớp, tôi viết thư cho cậu, cậu khuyến khích ráng học. Năm đệ lục, tôi tình cờ gặp cuốn “Kim chỉ nam của học sinh” của ông Nguyễn Hiến Lê, tôi áp dụng ngay vì thấy cách chỉ dẫn của ông cũng giống cách tôi làm, chỉ khác là ông hệ thống hoá một cách khoa học, làm tôi tự tin hơn. Thấy sức học dư, tôi quyết định nhảy lớp. Tôi viết thư hỏi ý kiến ông Nguyễn Hiến Lê, ông khuyến khích. Tôi thi thí sinh tự do Trung học đệ nhứt cấp, đậu.

Thời đó, thi Trung học đệ nhất cấp mỗi năm hai lần, thi viết và cả vấn đáp tất cả các môn. Tỷ lệ đậu từ năm, mười phần trăm, nên ai đậu được cũng mừng lắm. Tôi viết thư báo tin vui cho cậu và nói muốn vào Sài Gòn học tiếp. Cậu trả lời ngay trên tờ giấy pelure hồng. Đồng ý. Mẹ tôi thấy cậu đồng ý và bà con cũng khuyến khích nên chịu cho tôi đi Sài Gòn “du học”. Thế là tôi từ một nhóc nhà quê đã khăn gói vào Sài Gòn. Ở tạm nhà cậu mợ mấy hôm, rồi tôi tìm chỗ ở trọ, ăn cơm tháng trong xóm Bàn Cờ. Cậu đưa tôi đến xin cho tôi vào học đệ tam (lớp mười) trường trung học Pétrus Ký, một trường nổi tiếng mà ngày xưa cậu đã học, nhưng không còn chỗ. Tôi có người bạn đang học trường tư, rủ tôi ghi danh. Thấy đủ sức, lại tiếp tục học nhảy, thi Tú Tài I, đậu. Lần này cậu dẫn tôi đến trường Võ Trường Toản xin cho tôi vào học lớp đệ Nhất để thi Tú Tài II, tôi được nhận. Cuối năm được phần thưởng danh dự toàn trường và thi đậu Tú Tài II hạng khá, rồi đậu vào Y khoa.

Tôi nghĩ rằng như vậy là tôi đã cố gắng học giỏi để trả ơn mẹ tôi, cho cậu, cho cô Hai tôi. Tôi không sợ học nhiều sẽ điên như cậu nữa. Học bạ của tôi thời gian đầu, cậu ký, thay mặt cho phụ huynh, nhưng sau đó tôi tự ký lấy mà cậu cũng không cần hỏi, cậu tin ở tôi. Cậu đối với tôi từ tình cậu cháu sang gần như bạn bè. Cậu kể cho tôi nghe về đủ thứ chuyện về cuộc đời cậu, về những mối tình của cậu và những ước mơ của cậu. Tôi cũng đưa cậu vào bệnh viện tâm thần mấy lần, hết Chợ Quán đến Biên Hoà, và có lần tôi tính học ngành Tâm thần để chữa cho cậu, lúc tôi đang học y khoa năm thứ năm, thực tập tại Chợ Quán. Lần đó, thấy cậu chịu một đợt chạy điện, giật đùng đùng như con cá quằn quại trên tấm thớt, tôi chịu không nổi, thấy ngành này có vẻ “dã man” quá nên thôi.

Cậu có nhiều bài thơ hay. Bài thơ về bà rất cảm động:
“Má ơi con má điên rồi
Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi…”

Rồi trên bàn thờ ông, tôi lại thấy hai câu đối của cậu:
“Mắt mở đã thấy xiềng nô lệ
Hồn đi còn mơ gió tự do”

 

Ngày giỗ nào của ông bà, cậu cũng cúng bánh hỏi. Cậu nói, ông thích món bánh hỏi thịt quay. Còn nhớ năm 1960, cậu mợ về Hàm Tân làm mộ cho ông bà, tôi cùng cậu mợ và vài người bà con đi bộ từ La Gi lên Tam Tân dọc theo biển, con đường ngày nhỏ tôi vẫn thường đi lại, dài trên mười lăm cây số. Biển mênh mông, rừng dương vi vút. Đến Nước Nhỉ, cậu dừng chân nghỉ và nằm lim dim trên đóng cát gạch vụn, dưới bóng mát của các bụi dứa gai um tùm nhìn lên trời mây… Một lúc cậu gọi tôi đến và đọc cho tôi nghe bài thơ cậu vừa làm. Tôi còn nhớ mấy câu:
Nằm đây mà ngó lên trời

Lá cây dứa đã mấy đời đong đưa
Nằm đây mà nhớ mơ hồ
Những xanh tóc ấy bây giờ về đâu…

Thì ra cậu nhớ mấy người bạn cũ, đã cùng nhau xây cái giếng Nguồn Chung này cho khách bộ hành qua đường nghỉ ngơi, uống nước ngọt nhỉ ra từ động cát, giữa trưa nắng gắt trên đường dọc biển mênh mông đầy nắng và gió. Bài thơ còn dài, tôi không nhớ hết, trong đó có câu “Ới Trì, Di, Thảo xe trâu…”. Trì là ba tôi đã mất từ lâu, cậu Di đã hy sinh, còn chú Thảo bị cọp vồ trong rừng thời kháng chiến chống Pháp. Bây giờ giếng đã không còn, chỉ còn mấy miếng gạch vụn. Từ đó lên đến Ngãnh Tam Tân không còn bao xa. Đến Ngãnh, cậu chọn một đồi cao, nhìn về biển, Hòn Bà xa xa, dựa đầu lên động cát và núi Tà Cú, đặt ngôi mộ ông bà và dì Nga ở đó. Cậu dành sẵn một chỗ cho cậu và một chỗ cho mợ. Rồi cậu đọc cho tôi nghe một bài thơ, tôi còn nhớ hai câu cuối:

Em có ngồi đây mà anh không động đậy
Biển trời này sẽ thỏ thẻ chuyện đời anh

Nay, ngôi mộ hoang vu um tùm cây cối và dứa dại, đã trở nên sầm uất, chắc là ngoài dự kiến của cậu. Cũng dịp đó, tôi chịu trách nhiệm vào Sài Gòn, đi bằng xe lửa để mang mộ bia của ông bà và dì Nga về cho cậu dựng mộ. Tôi đi, mang theo một bức “mật thư” của cậu gửi cho một người con gái ở Sài Gòn, người “em tinh thần” của cậu, người con gái đang có những bài thơ tình sầu đăng trên báo, về sau đã là một nữ sĩ thời danh. Bức thư của cậu dài mấy chục trang pelure trắng, chằng chịt những chữ, ngoằn ngoèo những ghi chú, viết thêm… hình như đã viết trong nhiều ngày tháng. Tất cả những tình cảm sục sôi, yêu thương, hờn giận, uất ức, ngậm ngùi… từ văn chương đến thời sự, từ chuyện chung đến chuyện riêng rải trên từng trang giấy pelure trắng, dầy đặc những chữ đọc không ra do cách viết quốc ngữ đặc biệt của cậu. Tôi đến nhà người đó theo địa chỉ cậu dặn, bấm chuông, hỏi người giữ cổng. Một cô gái có vẻ đài các, kiêu sa bước xuống, nhận thư, cám ơn rồi lẳng lặng đi vào. Tôi nhà quê đứng trân, không dám nhìn, vì sợ bất kính với cậu.

Cậu có những mối “tình tuyệt vọng” lửng lơ mà say đắm, gần như điên, trào ra, túa ra trong cách chăm sóc, trong những bức thư, những bài thơ làm cho người đọc hoảng hồn bỏ chạy. Sau này, khi về Tam Tân, đi Ngãnh, tôi nhớ lần về đó với cậu nên viết bài thơ

Đêm trên biển Lagi

(kính tặng cậu tôi, Nguiễn Ngu Í)

Sóng cuốn từng luồng trăng lại trăng
Đêm Hòn Bà dỗ giấc ai nồng
Phẳng lì bãi cát buồn hiu ngóng
Cao vút hàng dương quạnh quẽ trông
Đá cũ mòn rêu hoài đá Ngãnh
Nguồn xưa cạn nước vẫn Nguồn Chung
Về đâu mái tóc xanh ngày ấy
Câu hỏi ngàn năm có chạnh lòng…

                                   Đỗ Hồng Ngọc

                                       (Lagi, 1990)

Cậu có những người “em tinh thần”, ai cậu cũng hết lòng thương yêu, giúp đỡ. Tôi nhớ một trong những người em tinh thần mà cậu thương quý nhất là nữ sĩ Minh Đức HT, một người ở trời Tây thỉnh thoảng về thăm, lúc nào cũng nghe cậu nhắc đến với lòng tự hào. Có lẽ một phần do ảnh hưởng của nữ sĩ khả ái này, cậu đã đặt cho những người “em tinh thần” khác, dòng họ Minh nào là Minh Ph, Minh X, Minh Kh… ai cũng có một chữ Minh ở đằng trước cho dễ nhận ra nhau. Có khi cả các Minh gặp nhau trong một buổi họp mặt chung vui. Có lúc cậu đưa tôi đến thăm Minh này Minh khác, với ai cậu cũng có những bài thơ, bức thư viết trên đủ thứ loại giấy từ tờ pelure trang trọng đến một mảnh giấy gói đồ, tờ lịch, đụng đâu viết đó. Tình cảm cậu đối với mọi người như tràn ngập, như bão lũ, làm cho nhiều người choáng ngợp, sợ hãi.

Mợ tôi biết hết. Biết mà không hề ghen. Mợ biết các mối tình lơ mơ của cậu là tình nghệ sĩ, tình điên vì quá dạt dào, không tràn ra thì chắc bệnh sẽ nặng hơn. Mợ thì khoẻ khoắn, can đảm, chịu khó, chấp nhận yêu thương một người tài hoa mà khùng khùng điên điên như cậu, chịu hết trận này đến trận khác, đưa cậu đi hết nhà thương điên này đến nhà thương điên khác, thì mợ xứng đáng cho cậu khen “làm vợ Tú Xương dễ, làm vợ Sào Nam cũng dễ, làm vợ Ngu Í mới thật khó…” Cậu có bài thơ “Kén Vợ” rất tuyệt vời mà tôi không dám viết ra đây, chỉ có mợ tôi là người “thục nữ” dám chấp nhận bài thơ đó (*)

Tôi đến nhà chơi, thỉnh thoảng thấy cậu mợ “choảng” nhau bằng tiếng Tây cho con cháu không biết. Mợ đánh bóng bàn, bơi lội, thích hoạt động xã hội, nhờ đó mà cân bằng với những bốc đồng, văn nghệ văn gừng của cậu. Cho nên kỷ niệm hai mươi năm ngày cưới cậu làm bài thơ tặng mợ đã sống hai mươi năm “nước lửa” cùng cậu. Có lúc cậu than “không có người yêu để gọi em” vì cậu chỉ gọi mợ bằng tên thôi. Và mợ cũng chỉ xưng tên với cậu. Chắc là do giao kèo từ đầu giữa hai người. Tôi nể phục mợ tôi và tôi thương cậu. Trong những lúc lên cơn, cậu hay tìm đến tôi, nhiều khi nửa đêm về sáng. Tôi đưa cậu vào nhà, lấy cái gì đó cho cậu ăn và ngồi cho cậu trút hết bao bực dọc chừng vài ba tiếng đồng hồ thì cậu dễ chịu trở lại.

Làm văn, viết báo, cậu có nhiều biệt hiệu. Khi thì Trinh Nguiên, để nhớ mối tình đầu với cô Trinh ở quê nhà; Tân Fong Hiệb do ghép Tam Tân, Phong Điền, Hiệp Nghĩa (là những xã ở huyện Hàm Tân và Hàm Thuận Nam bây giờ), nơi quê ngoại của cậu và cũng của tôi. Rồi Ngê Bá Lí, Trần Hồng Hừng, Ki Gob Jó Cì… Viết sử thì Fạm Hoàn Mĩ. Dạy học thì Nguyễn Hữu Ngư. Nhưng nhà báo Nguiễn Ngu Í thì được nhiều người biết đến nhất. Trong danh thiếp, lúc đã nổi tiếng là một ký giả chuyên phỏng vấn các vấn đề văn học nghệ thuật cho tạp chí Bách Khoa thời đó, cậu ghi: Jáo sư, kí jả kông chuiên ngiệb.

Cuộc đời cậu nhiều truân chuyên, tài hoa nhưng mắc bệnh không thể chữa được. Tuổi lớn, cơn điên ngày càng nhặt. Có những đợt cậu nằm Dưỡng trí viện Biên Hoà dài ngày, tưởng đã không qua khỏi. Có lần cậu nằm giữa xa lộ cho xe Mỹ cán, nhưng xe chở thẳng vào Biên Hoà. Có lần trốn viện, bắt đom đóm làm đèn đi trong đêm vì thời điểm giới nghiêm. Câu làm thơ thật nhanh, thật dễ dàng ngay trong lúc lên cơn. Cậu chủ biên tập “Thơ Điên Thứ Thiệt” như để phản đối những người giả điên thời đó. Rồi xuất bản tập “Qê hương” để nói về quê mẹ và nơi chôn nhau cắt rún của mình ở Tam Tân. Cậu nhờ tôi viết một bài giới thiệu chung, tôi đã viết bài dẫn nhập cho tập Qê Hương với bút hiệu Giang Hồng Vân. Cậu đã có một vài tác phẩm về sử, đặc biệt là về Quang Trung, về Hồ Quý Ly trong thời gian cậu dạy sử ở trung học. Cậu cũng có vài cuốn tiểu thuyết như “Suối Bùn Reo”, “Khi người chết có mặt” v.v… Nhưng tác phẩm nổi tiếng của cậu là “Sống và Viết với …”, Ngèi xanh xuất bản, tập hợp các bài phỏng vấn mà ai cũng công nhận là tài hoa với các nhà văn nổi tiếng đương thời. Cậu chuẩn bị ra cuốn “Sống và Vẽ với…” phỏng vấn các hoạ sĩ, và “Sống và Đàn với…” phỏng vấn các nhạc sĩ. Tiếc thay ý nguyện chưa tròn. Tập thơ tội nghiệp nhất của cậu là tập “Có những bài thơ”, do Trí Đăng xuất bản, in xong ruột, chưa có bìa, không hiểu sao. Rồi tập thơ cũng được cậu tặng bạn bè quen biết mà chẳng cần có bìa như vậy.

Thời cuộc đổi thay, cậu thích nghi cuộc sống một cách khó khăn, khác với mợ dễ dàng thích ứng, cậu như ngày càng ngơ ngác hơn, càng điên hơn. Thế rồi một buổi trưa tháng giêng năm Kỷ Mùi (1979), người nhà mợ báo tin cho tôi biết là cậu đang hấp hối. Tôi vội chạy đến nhà cậu ở Bàu Sen, đường Nguyễn Trãi, chạy lên căn gác ọp ẹp, thấy cậu nằm im như chìm trong giấc ngủ sâu. Mợ đi vắng. Chỉ có con trai cậu, Nguiễn Hữu Nguiên. Tôi làm thủ thuật hồi sinh cấp cứu nhưng vô hiệu. Lần này cậu đi thiệt…

Những lần trước tôi đến thăm, tuy cậu có yếu nhưng vẫn nói được chút ít, ăn cam, uống chút sữa. Tôi đọc cho cậu nghe mấy câu thơ của cậu và hỏi cậu có biết thơ của ai không, cậu lắc đầu không nói. Trước đó, hình như cậu biết trước cái chết của mình, cậu đã viết một bức thư như là một di chúc cho mợ. Cậu ước ao được thả trôi trên một chiếc thuyền nhỏ, đục lủng đáy, nhét nút lại, rồi để thuyền trôi lênh đênh trên biển Thái Bình Dương, để cậu được nhìn trời mây nước cho thoả thích, rồi rút nút cho thuyền chìm dần và chết trong bụng cá, cho “Ngư về với Cá”. Thế nhưng cậu chết với lửa. Cậu được hoả táng ở An dưỡng địa Phú Lâm và đưa về đặt kề ông bà và dì Nga ở Ngãnh Tam Tân. Tôi nhớ hai câu thơ từ lâu của cậu:

Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi
Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi

Và hình như cuộc đời cậu gói ghém vào hai câu đó. Nào chí trẻ, nào tình xa, nào tro bụi. Chí trẻ chắc không ai hơn cậu, muốn vung gươm, muốn dời núi lấp biển đến nỗi hoá điên; tình xa với bạn bè thân thuộc em cháu, với cả những người tình không quen biết, với quê hương núi Cú hòn Bà, với quê hương Việt Nam, rồi sau đó là tro bụi. Cậu đã làm câu đối cho mình.

Mấy lượt tung lòng, được gì chăng, hay trong ai ghi uất hận!
Đòi phen nâng bút, còn gì chăng, hay trên cát viết ngu ngơ…

Thế nhưng cậu làm được nhiều hơn cậu tưởng, và những người thân, những bạn bè, em cháu, những người quen biết… không ai không quý mến cậu, không ai không thấy được cái tình của cậu đằm thắm, mênh mông, thành thực, sâu lắng. Những ai gần gũi cậu sẽ cảm nhận được cái tình đó, cái tình vượt lên trên cái tình bình thường. Riêng tôi, tôi luôn nhớ cậu và nhớ những ngày còn thơ, cậu đã thay mẹ tôi, dẫn tôi đến trường học, một ngôi trường tiểu học nhỏ bên bờ sông Cà Ty, Phan Thiết. Mới đó mà đã hơn bốn chục năm!

(Saigon, 1996)

……………………………………………………………………………..

(*) Tôi được mợ cho phép “công bố” sau khi cậu đã mất 20 năm:
“Ta là người lữ khách không xu
Từ trong bụng mẹ thành thằng ngu
Chí ngốc lỡ làng tan mộng trắng
Ai người thục nữ dám nâng…?

Thuộc chủ đề:Vài đoạn hồi ký Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, Cau Toi, Cậu Tôi Ông Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, Ong Ngu I Nguien Huu Ngu

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 39
  • Trang 40
  • Trang 41
  • Trang 42
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email