Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

TẾT

23/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 7 Bình luận

Tết


* Người ta phỏng vấn một bà già gần 90 tuổi rằng nếu được sống lại cuộc đời đã qua một lần nữa, bà sẽ sống ra sao?
– Nếu được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa – bà già nói – thì tôi sẽ dám… phạm nhiều sai lầm hơn. Tôi sẽ ngờ nghệch hơn là tôi đã ngờ nghệch trong cuộc đời này. Tôi sẽ thảnh thơi hơn, linh hoạt hơn. Tôi sẽ coi ít thứ nghiêm chỉnh hơn. Tôi sẽ trèo núi lội đèo nhiều hơn, bơi lội nhiều hơn… Tôi sẽ ăn nhiều kem hơn. Dĩ nhiên tôi sẽ gặp nhiều rắc rối hơn nhưng tôi sẽ thực tế hơn là chỉ mơ mộng. Tôi sẽ bớt… lành mạnh hơn. Ôi, tôi đã có những khoảnh khắc của đời mình và tôi muốn có nhiều hơn những khoảnh khắc đó, cái nọ nối cái kia, cái nọ tiếp cái kia thay vì tôi cứ sống để mà chờ đợi… Nếu tôi được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa tôi sẽ đi chân không nhiều hơn, sẽ bớt mang theo dù và dầu nóng, bình thủy nước sôi các thứ… Tôi sẽ hái nhiều hoa hơn…
* Một người nằm mơ thấy mình gặp Thượng đế và phỏng vấn ngài rằng từ lúc tạo ra loài người đến giờ ngài có điều gì ngạc nhiên về họ không?
– Có đó. Hơi nhiều nữa là khác! Loài người lạ lắm! Lúc nhỏ thì mong cho mau lớn, lúc lớn thì mong cho nhỏ lại! Lúc khỏe thì phung phí sức khỏe để kiếm cho thật nhiều tiền rồi lấy tiền đó mà phục hồi sức khỏe! Còn nữa, họ luôn sống trong mộng tưởng tương lai mà quên mất hiện tại. Mà tương lai thì chưa tới nên kết quả là họ chẳng bao giờ… sống cả!
– Vậy Ngài khuyên họ nên thế nào? – Rằng người giàu có không phải là người có nhiều của cải mà là người có ít nhu cầu; rằng người ta không thể buộc người khác phải thương yêu mình mà phải tự mình làm cho mình… dễ thương!
* Chúc dễ thương nghen!
Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Những người trẻ lạ lùng

Lõm Bõm:Từ Ngộ đến Nhập

22/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Từ Ngộ đến Nhập
Bản hoài của chư Phật xưa nay là “Khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”.
Khai là mở ra, khui ra, bày ra. Mở ra để làm gì? Để cho thấy (Thị). Thấy để làm gì? Để giật mình (Ngộ), để tỉnh ra, ờ há, vậy hả? Và cuối cùng là để Nhập. Nhập vào đâu? Vào tri kiến Phật, vào thấy biết của Phật. “Thấy biết” của Phật thì… có gì hay? Có đó. Không cần kính viễn vọng để thấy trăm ngàn tỷ thiên hà trên bầu trời, không cần kính hiển vi để thấy trăm ngàn tỷ tế bào trong cơ thể, ngay từ cái khảy móng tay đã thấy ngay nếu tán nhuyễn mỗi hạt cát sông Hằng thành một con sông Hằng, rồi nghiền vụn từng hạt cát sông Hằng mới này thành vô số vi trần thì mỗi vi trần sẽ là một vũ trụ…; chỉ cần trợn con mắt giữa chặn lông mày lên đủ chiếu rọi khắp tam thiên đại thiên nheo nhóc hân hoan sáu tầng bay nhảy, vô số chư Phật, Bồ tát khản cổ giảng tứ đế, nhân duyên, bát nhã, pháp hoa… còn Như Lai im hơi lặng tiếng trong thực tướng vô tướng của mình! Ấy là nhờ tốc độ tâm, nhờ ngũ nhãn, nhờ prajna, bất nhị…

Cho nên Sen thì vừa nhập vào bùn vừa nhập vào Như Lai… Bồ tát thì vừa nhập hữu vi vừa nhập vô vi, yết đế yết đế…
Khai đã là khó. Vì đó là “kho tàng bí mật” của Như Lai, là Như Lai “tạng”, là “bào thai” Như Lai, đâu dễ mà thấy biết. Phật cũng đã thử mở toang ra ở buổi Hoa Nghiêm mà chẳng mấy ai thấy, chẳng mấy ai tin. Vì thế mà phải dùng truyền thông “đa phương tiện”, tùy cơ ứng biến. Nhưng Khai rồi, Thị rồi mà Ngộ cũng không phải dễ! Nhập lại càng khó hơn. Huệ Năng lục tổ ngộ trong nháy mắt, với chỉ một câu kinh nghe được tình cờ nhưng cũng mất mười lăm năm lăn lộn giang hồ mới “Nhập” được! Trong hội Pháp Hoa, biết sắp “Niết bàn” Phật bèn nói toạt: “Ai cũng sẽ thành Phật”. “Rất dễ”. “Rất mau”. Nhiều kẻ không tin, nhiều người trách cứ. Thế nhưng, Phật không dối. Ai cũng là Phật bởi ai cũng sẵn hạt giống đó rồi, vẫn đề là tưới tẩm chăm bón. Rất dễ rất mau là tùy thổ ngơi, tùy công sức nhẫn nhục tinh cần. Tâm vô lượng, nên “thổ ngơi” vô lượng. Kẻ chậm người mau. Một khi “nhất tâm bất loạn” thì niệm niệm chẳng sinh, một hơi thở vào ra, một tiếng nam mô đều đã đủ, đều tuyệt diệu. Còn chỗ đâu cho sanh tử luân hồi nọ kia? Cho nên từ đầu đến cuối đâu có sai biệt chút nào. Không Bát Nhã làm sao thấy hết chân không diệu hữu, làm sao thấy hết duyên sanh? Không Khổ tập diệt đạo làm sao có chánh định để thấy Vô ngã, biết Như Lai?… Cuộc hành trình khởi đi từ bố thí trì giới nhẫn nhục… là không thể thiếu. Cho nên có Văn Thù tri – kẻ dẫn truyện gần xa – thì có Phổ Hiền hành – người “vác ngà voi” không mệt mỏi!
Trong đầm gì đẹp bằng sen.
Bởi sen “nhập” vào cả hai phía: Bùn và Như Lai.
Bùn và Như Lai vốn “bất nhị”, không hai.
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn!

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, tháng 01.2012)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Lõm bõm học Phật

Lõm bõm: “Vô tâm”

22/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Vô tâm

Vô tâm không phải là không có tâm. Vô tâm cũng không phải là vô cảm. Mackeno. Có một chữ tượng hình rất hay trong chữ Hán : 木 là mộc. 目 là mục. 心 là tâm.
Khi mộc ghép với mục thì thành tướng 相. Tướng vô tội. Không sanh sự. Nói khác đi, khi trần (mộc= cây) gặp căn (mục = mắt) thì chẳng có chuyện gì xảy ra! “Sắc thanh hương…” đụng “nhãn nhĩ tỷ…” chả sao cả. Cận thấy kiểu cận, loạn thấy kiểu loạn, lão thấy kiểu lão. Con người tội nghiệp. Nhãn thua loài cú. Nhĩ thua loài dơi, Tỷ thua loài chó… Con ong cái kiến cũng có căn có trần riêng của nó! Vậy mà con người cứ tưởng mình ngon nhất thế gian. Làm được cái kính thiên văn đường kính rộng, nhìn lên bầu trời đã la hoảng khi thấy có hàng trăm ngàn tỷ thiên hà, trong khi xưa kia tưởng chỉ có mỗi một mặt trời vĩ đại của riêng ta thôi! Nay mai có kính thiên văn đường kính rộng hơn nữa không biết chuyện gì sẽ xảy ra!
Trở lại chuyện Tâm. Căn với trần mới là tướng. Ghép thêm chữ tâm ( ) vào thì mới thành tưởng 想. Có tưởng là bắt đầu sinh sự. Tưởng vô vàn. Tưởng vô tận. Muốn thiên đàng có thiên đàng. Muốn điạ ngục có địa ngục. Cho nên tu là tu Tâm. “Nhất thiết duy tâm tạo”. Tất cả là do tâm bày vẽ ra. Phật từ thời Hoa Nghiêm đã nói rõ như thế. Hạnh phúc khổ đau từ đó. So sánh hơn thua, chém giết nhau từ đó. Tiếng Việt ta còn hay hơn: Tướng và Tưởng, chỉ khác nhau có mỗi cái dấu sắc, dấu hỏi… Mà đã ngàn trùng cách xa!
Vô tâm thì vô sự. Vô sự thì bình an. Bình an vô sự. Người ta chúc nhau như vậy. Người ta lại chúc nhau « Vạn sự như ý »! Ý dẫn các pháp. Muốn « vạn sự » được « như ý » đâu có khó gì. Một đám du khách hỏi anh nông dân: Hôm nay thời tiết ở đây thế nào anh? Hôm nay có thứ thời tiết mà tôi thích! Làm sao anh biết là có thứ thời tiết mà anh thích ? Phải học, thưa ông. Không phải lúc nào tôi cũng có cái tôi muốn nên tôi phải biết muốn cái tôi có.
“Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (Trần Nhân Tông).
Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Ghi chép lang thang “Trà đạo”

22/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

“Tiệc trà” cuối năm
Đỗ Hồng Ngọc
Không phải “Tiệc trà” như ta thường thấy, với trà, với bánh và với những cuộc chuyện trò rôm rả… ngoài trà.
“Tiệc trà” này khác hẳn. Trà thực sự. Trà một mình. Trà từ đầu tới cuối. Và, chuyện trò cũng chỉ xoay quanh “trà”. Trà xưa. Trà nay. Trà Việt, Trà Tàu, Trà Nhật…
Nữ chủ nhân, nhà thơ Viên Trân là người pha trà, một quán “Trà đạo” nho nhỏ của cô núp trong một góc phố hẹp, đường Nguyễn Thị Minh Khai (Hồng Thập Tự cũ).
Vừa pha trà, vừa giải thích, vừa dẫn truyện gần xa…
Trên tường là cây đàn nguyệt bên bức thư pháp lung linh, bay bổng của Tuệ Sỹ.

Hết tuần trà này đến tuần trà khác, liên miên không dứt…
Nào Long tĩnh Hàng Châu, nào Ô long Phước Kiến, rồi Trà xanh Cầu Đất (Đà lạt) hằng trăm năm đến Tuyết San Hà Giang, Thiên Sơn kim trà, Trà mạn Sơn La, Mộc Châu ướp sen Đồng tháp, rồi Bạch trà trắng buốt, Ngâu thơm lừng… Cuối buổi còn món Trà lá xanh, đặc Việt, ướp gừng… Nhìn Viên Trân nâng niu từng giọt nước bên lò lửa, gạn từng lớp bọt trà, nhẹ nhàng rót vào từng cái chung hột mít nhỏ xíu xanh màu ngọc bích khiến người ta không thể không nhớ tới… Tự Đức, Nguyễn Khản rồi…Tổ Thiên Thu, Đoàn Dự, Kiều Phong…

Khi tôi đến thì đã thấy có KTS Nguyễn Trọng Huấn, và họa sĩ Anh Thơ- “manager” của anh, như mọi người giới thiệu- và nhà thơ Nguyễn Duy cùng vợ chồng nhà báo Nguyễn Trọng Chức- Thái Thanh.
Viên Trân nói hôm nay mời mọi người đến là để mừng anh Nguyễn Trọng Huấn vừa ở bệnh viện về sau một đợt điều trị vì tai biến. Anh nay đã phục hồi nhiều, tuy nói năng còn hơi lừng khừng một chút và chưa nhận ra mặt chữ. Nhà thơ Nguyễn Duy thì tóc bạc thêm mấy nhánh nhưng vẫn rất hóm hỉnh nói mình lâu nay chỉ có “thơ rượu” chứ chưa có “thơ trà” bao giờ! Anh tâm sự, bây giờ mỗi ngày phải tự tiêm cho mình 2 mủi insuline – như một người “nghiện”. Chỉ có nhà báo Nguyễn Trọng Chức là vẫn trẻ, lại đẹp trai hơn xưa mới lạ. Cùng đi với tôi dự buổi “tiệc trà” đặc biệt này còn có bác sĩ Trương Trọng Hoàng, một đồng nghiệp trẻ, cũng là một tay mê “trà đạo”.
Một buổi tiệc Trà cuối năm đầm ấm.

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Thiền và Sức khỏe

“Bàn tay nhỏ dưới mưa”

15/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

Bàn tay nhỏ dưới mưa
Trương Văn Dân du học ở Italia hơn 40 năm trước mà còn viết tiếng Việt giỏi, đáng khen. Một người bạn nói với tôi như vậy sau khi đọc BTNDM. Chẳng những vậy, anh dịch cũng được lắm. Anh vừa dịch một truyện ngắn của vợ, chị Elena Truong, viết bằng tiếng Ý đăng trên Tuổi trẻ Chủ nhật hôm nọ, một câu chuyện cảm động về tình yêu của cặp vợ chồng già!
Bàn tay nhỏ dưới mưa là cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, sau khi anh chị quyết định rời bỏ Italia về sống với quê nhà. Dân và vợ, chị Elena gởi tặng tôi BTNDM ở một quán café góc phố xóm nhỏ Bàn cờ, với lời ghi trân trọng: “Quý tặng anh, bác sĩ nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, người trị đau và chữa khổ – một tấm lòng tha thiết với đời- để cùng chia sẻ niềm đam mê văn học”. Còn chị Elena thì ghi bên cạnh nét chữ của chồng: « Un morceau de notre vie / comme un cadeau pour vous”.

Bàn tay nhỏ dưới mưa đúng là một mảnh đời của họ. Một mảnh đời với bao nỗi lo toan, buồn vui, hy vọng rồi tuyệt vọng, chạy đuổi miệt mài rồi dừng lại ngẩn ngơ… để rồi cuối cùng có vẻ như đã tìm ra một exit : Con đường quê hương. Con đường văn học. Con đường giải thoát. « Cuối cùng tôi nghĩ mình không cần phải tự xót thương. Chính cuộc hẹn với cái chết sẽ giúp tôi xóa bỏ những điều vô vị tạp nhạp, dừng ngay nhưng bận rộn, để đứng lại và hỏi xem thực sự mình muốn gì… Đi tìm ý nghĩa thực sự của đời sống! (tr 236)

Bàn tay nhỏ dưới mưa có vẻ như là một chuyện tình buồn, một cái chết, một nỗi chia lìa, nhưng với tôi, là một cuốn tiểu thuyết luận đề, là một tiếng kêu thống thiết, chới với của một bàn tay nhỏ không che nổi cơn mưa nặng hạt đời. Câu chuyện tình lãng mạn, cái sống cái chết, chỉ là một cái cớ để trên đó bày ra, vẽ lại những vấn đề lớn của xã hội hôm nay, những vấn đề có vẻ như bế tắc, không lối thoát, thể hiện rõ nét nhất trên quê hương anh. Vấn đề môi trường, vấn đề giao thông, vấn đề vệ sinh thực phẩm, vấn đề y tế, giáo dục…

« Đang thất thần và ngẩn ngơ thì có tiếng chuông chùa từ đâu vẳng đến. Cái sống, cái chết nối đuôi nhau trôi trong thinh không… bờ bên này bờ bên kia như không còn ranh giới ». (tr 410)

Và ở một đoạn kết khi gấp cuốn truyện lại: «Vì chúng tôi chẳng hoài chi đến cõi thiên đường. Có lẽ bởi chúng tôi đã từng là con người, đã từng hội đủ tâm hồn, si mê và trí tuệ, tham lam cùng sân hận… nên vẫn còn say mê trần gian, còn tha thiết làm người… »(tr 412)
Tôi nhớ Trịnh Công Sơn: Tôi là ai mà còn trần gian thế/ Tôi là ai, là ai… mà yêu quá đời này…
Và bỗng muốn nói với bạn : « Đừng tuyệt vọng, Dân ơi, đừng tuyệt vọng ! ».!

Đỗ Hồng Ngọc.
(12.2011)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

“XỨ NẪU”

14/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

“XỨ NẪU”

Nhóm bạn "xunau.org" và Đỗ Hồng Ngọc ở Sông Trăng ngày 8.1.2012


Chủ nhật 8.1.2012 (rằm tháng Chạp) tuy đang có việc bận ở bệnh viện, tôi cũng ráng thu xếp chạy đến Sông Trăng nơi xunau.org hẹn hò để chào, để thăm và để chúc mừng các bạn trong buổi họp mặt Mừng Xuân sớm. Tôi đọc được thông báo trên mạng, tuy chưa quen ai biết ai trong nhóm mà lòng cũng thấy nôn nao…
Xunau.org ra mắt chưa lâu mà đã tỏ rõ là một trang web văn chương nghệ thuật chững chạc, dễ thương, đặc trưng của một vùng miền, vốn là một trong những cái nôi của văn học, ở đó mỗi con người, dòng sông, bãi cát, rặng dừa… đều mang hơi hướm văn chương thi phú của một vùng đất văn học, võ học, vùng đất thiêng- cố kinh của một thời xưa nhan sắc.

Tôi nói đặc trưng không phải chỉ vì bài vở được chắt chiu, chọn lọc, minh họa sắc sảo mà còn toát ra một nỗi nồng nàn tha thiết hiếm thấy qua những “còm” (comment) với một sắc thái riêng không lẫn vào đâu được. “Còm” này chồng lên “còm” kia, chuyện chung chuyện riêng nhiều khi chẳng ăn nhập gì với nội dung bài viết, xunau.org bỗng trở thành một nơi cho người ta trải những hẹn hò, những hờn dỗi, yêu thương, trách móc, cợt đùa… Ở đâu tìm được một trang web văn chương mà ngộ nghĩnh đến vậy? Không đao to búa lớn, chỉ những ngọt ngào, chua chát, đắng cay, và những yêu thương, da diết, giận hờn… Cái “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ” có vẻ được “chứng minh” rõ nhất ở đây, bởi nó từ tấm lòng đến với tấm lòng, một thứ “trực chỉ nhân tâm”…
Nó có cái giọng riêng, tiếng nói, ngôn ngữ không lẫn, mà trước đây có người đã nhận định rằng là bởi nó nằm giữa Hải Vân và Đèo Cả, tạo nên một vũng trũng cho những tâm tình, nên tiếng nói, ngôn ngữ có cái hồn riêng của nó.
Tôi lớ ngớ đến Sông Trăng, chưa quen biết ai trong nhóm xunau.org, mong gặp chủ nhân hay “chủ xị” gì đó của buổi họp mặt mừng xuân để chào một tiếng, chúc Tết rồi lui. Một người hãy còn trẻ, khá đẹp trai, dong dỏng cao, dáng gầy, thấy kiểu lớ ngớ của tôi nhã nhặn hỏi: Anh kiếm ai? Kiếm Ngô Quang Hiển. Em là Hiển đây. Còn anh là ai? Anh là… Đỗ Hồng Ngọc. Ôi anh Đỗ Hồng Ngọc hả? Anh Đỗ Nghê hả? Rồi Hiển ôm chầm lấy tôi, siết chặt muốn ngộp thở! Không ngờ anh đến. Mừng quá! Mừng quá! Vào đây. Vào đây. Hiển lôi tôi vào. Anh đến thăm chút đi ngay. Không được. Vào đây. Mấy bạn gặp anh mừng lắm đó.
Vẫn biết anh em trong làng xưa nay chưa lần gặp gỡ mà tình đã thâm, như “ từ muôn kiếp trước”, nhưng tôi vẫn bất ngờ và cảm động. Sông Trăng còn vắng. Chỉ có mấy bạn đến sớm, có lẽ trong ban tổ chức. Đây rồi, có Trần Dzạ Lữ, quen lâu! Rồi biết thêm Lương Viết Khiêm, Nguyễn Quy, Ngô Đình Hải, Ngô Thành Hùng, Mai Thanh, Lê Đức Vinh, Văn Công Mỹ và một người từ Đà Lạt xuống từ khuya: Hà Thúc Hùng! Khiêm, giọng Huế trân, nói tôi Huế gốc nhưng là thân hữu của xunau.org, đã đọc anh Đỗ Nghê từ thuở Thư cho bé sơ sinh, một bài thơ quá hay, nhớ mãi! Nguyễn Quy bảo: “Em là Tú gàn. Ba mươi năm trước, ẳm con lại anh chữa bệnh nên em gọi anh là “bác sĩ của con tôi” trong cái “còm” bài thơ Rùng mình của anh trên xunau”. Các bạn đều nói đọc Rùng mình thấy rùng mình thiệt! Lê Đức Vinh hóa ra là Vinh Rùa. Vinh rùa là “Vua rình” đó anh! Vinh tự giới thiệu. Rồi nói thêm: Trần Dzạ Lữ là… người ở trần… đi trong đêm. Dzạ Lữ là đi đêm, mà lại ở trần nữa! Tôi hỏi nhỏ Trần Dzạ Lữ: Lúc rầy sao rồi? Còn dang nắng giữ xe đạp nữa không? Không anh. Lúc này tôi toàn ngồi… phòng lạnh! Nhớ xưa Trần Dzạ Lữ ôm một chồng “Hát dạo bên trời” tìm đến bạn bè. Mai Thanh, người đẹp duy nhất đến sớm, là người đang viết luận văn về tạp chí Bách khoa… Văn Công Mỹ nói ai hỏi em làm gì, em nói em “bán nước” anh ạ. Văn Công Mỹ chính là chủ quán Sông Trăng mà! Mỹ nói thêm: Em mua một lúc 3 cuốn Nghĩ từ trái tim của anh, một cho mình, một cho bà xã còn một cho thằng con trai chưa đầy 30 tuổi. Nó còn nhỏ, đọc sao được? Tôi hỏi. Không, nó còn kêu tụi em sao không dẹp tiệm Sông Trăng này đi để mà lo tu tập đó anh ạ. Văn Công Mỹ gọi phu nhân ra giới thiệu: Đây là “cook” chính của Sông Trăng đó anh. Bà chủ nồng nhiệt bắt tay mừng rỡ vì cũng đã quen lâu qua Nghĩ từ trái tim! Nhờ đến sớm, tôi được Hiển tặng ngay cuốn Một thời để thương yêu của Mang Viên Long và tập thơ-nhạc của Bùi Chí Vinh, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Lâm. Tuyệt vời!…
Tiếc phải về sớm không được gặp thêm các bạn bè khác đông vui của xunau.org trong ngày họp mặt này. Xin hẹn lại một dịp khác.
Phải nói thêm rằng cái duyên đến với xunau.org của tôi là nhờ bài thơ Rùng mình. Vừa xuất hiện trên xunau.org đã có ngay gần 60 cái “còm” của bè bạn, thật bất ngờ!
Bài thơ lại không do tôi gởi – vì trước đó tôi không biết có xunau.org – mà do Trương Văn Dân, tác giả “Bàn tay nhỏ dưới mưa” – một người xứ nẫu chính hiệu- chọn và gởi đi. Trương Văn Dân cùng với phu nhân là Elena còn nhiệt tình hứa sẽ “rùng mình” để dịch Rùng mình sang tiếng Ý và tiếng Pháp!
Rồi Trần Dzạ Lữ, rồi Mang Viên Long, Cao Quảng Văn, … những người bạn của “những ngày xưa thân ái” đã “còm” trên xunau.org nói Đỗ Hồng Ngọc… chính là Đỗ Nghê, tác giả của Thư cho bé sơ sinh, Lời Ru, Tâm sự Lạc Long Quân… ,của tập “Tình Người”, của tuyển sinh viên “Tiếng hát những người đi tới”…gần nửa thế kỷ trước! Lâu nay nhiều người đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, tưởng bác sĩ … mà bày đặt đi làm thơ, nhưng khi biết đó là Đỗ Nghê thì hóa ra “nhà thơ” mà bày đặt đi làm… bác sĩ! Lộ tẩy hết trơn.
Cảm ơn các bạn. Cảm ơn xunau.org!
Chúc Năm Mới thân tâm an lạc.
Đỗ Hồng Ngọc

Ghi chú:
Bài viết này xuất hiện trên xunau.org đúng vào ngày Mùng Một Tết, và chỉ mấy hôm thôi đã thấy có gần 50 “comments” của bạn bè khắp nơi. Thật là cảm động. Xin phép được chọn một số đăng lại nơi đây để chia sẻ: “Nào ai hững hờ / Xuân vẫn ngóng chờ…”.
Đỗ Hồng Ngọc.

Nam Thi
@Tôi xin mở hàng. anh Đỗ Hồng Ngọc nhé.
Tên tuổi và văn chương của BS Đỗ Hồng Ngọc tôi được biết lâu mấy mươi năm rồi. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Hôm phó hội Sông Trăng tôi được Sáu Nẫu báo trước anh cũng có mặt, tôi mừng.Thế mà mới đến cổng Sáu Nẫu đón tôi và báo ngay: ” anh ĐHN đến và đi rồi vì có việc bất khả kháng…”. Cái duyên nó thế, biết làm sao.
Tôi muốn gặp anh không phải vì con tôi được anh chăm sóc khi còn bé, mà cũng không vì say mê văn chương của anh – thú thật tôi đọc anh không nhiều -, mà vì một lẽ khác.
Số là, năm 2002, tôi đi làm ăn ở Phan Rang, tình cờ tôi thấy trong tủ sách của chủ nhà quyển sách của anh viết cho người già. Lúc ấy tôi cũng ngoài năm mươi, bề ngoài chưa chịu mình già nhưng trong thâm tâm biết mình không còn trẻ. Tôi đọc một lèo hết quyển sách. Thật đúng lúc tôi cần chuẩn bị cho tuổi già của mình và anh là người “khai tâm”.
Nhưng diều anh khai tâm cho tôi lớn nhất và thú vị nhất là phần anh viết về kinh Bát Nhã. Nghĩ cái duyên mới là kỳ, đọc thiên kinh vạn quyển như nước chảy lá môn bỗng bài tiểu luận nhỏ ấy lại khai tâm cho tôi như một sự đốn ngộ. Cũng xin thưa rằng tôi vốn là người duy vật và vô thần…có bằng cấp và chính danh (hic).
Đọc xong bài của anh, tôi đọc thêm một số tác giả khác về đề tài nầy. Nhưng càng đọc càng loạn thư, càng rối. Nay thì quên hết, kể cả tựa đề quyển sách của anh.
Tôi mô tả tình trạng “loạn thư” của mình như sau:
“Tâm kinh nét chữ nhạt nhòa
Tiếng chuông Bát Nhã bóng tà dương phai
Thế âm là tiếng thở dài
Dấu chân Hành giả lạc loài nẻo xa”.
Đã mười năm trôi qua, tôi đã trở thành một ông già thực sự, sống khá ổn, vui vẻ, được anh em xunau gọi là “hậu trưởng” GIAMAHAVU ( Già Mà Ham Vui), đôi khi còn thêm cái đuôi “GIAMAHAVU-IU” ( IU= YÊU theo giọng BĐ).
Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc rất nhiều. Và xin mừng tuổi anh.

Đỗ Hồng Ngọc

“Tâm kinh nét chữ nhạt nhòa
Tiếng chuông Bát Nhã bóng tà dương phai
Thế âm là tiếng thở dài
Dấu chân Hành giả lạc loài nẻo xa”.

“Loạn thư” đến mức đó quả là đáng phục, đáng phục!
Nguyễn Du ngày xưa cũng kêu lên: “Chung tri vô tự thị chân kinh”.
Kinh không chữ mới đúng là chân kinh phải không Nam Thi ơi?
Vô Kỵ nhờ học đến đâu quên đến đó mà làm nhủn lòng Triệu cô nương!
“Hậu trưởng” YAMAHA (Giamahavu) đến lúc ngơ ngác hỏi “IU” là gì thì mới gọi là “đắc đạo” vậy!

Ngô Quang Hiển
Cảm ơn anh Đổ Hồng Ngọc đã dành những tình cảm ưu ái cho xunau.org .Thật ra trang web mới của tụi em vẫn còn nhiều khiếm khuyết ,rất cần sự góp ý và đóng góp của các anh lắm.. lắm.
Năm mới em kính chúc anh và gia đình sức khỏe,bình an.

Nguyễn Xuân Lệnh
Một bài viết cảm động và chân tình quá. Chúc anh vạn sự như ý

Trương Văn Dân
Chào anh Đỗ Hồng Ngọc,
“…Lâu nay nhiều người đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, tưởng bác sĩ … mà bày đặt đi làm thơ, nhưng khi biết đó là Đỗ Nghê thì hóa ra “nhà thơ” mà bày đặt đi làm… bác sĩ! Lộ tẩy hết trơn….”
Thôi, lộ tẩy hết rồi. Anh viết vậy là bà con xứ nẫu đã “tỏ đường đi lối về”… rồi, còn chi mà …”gìn giữ nữa”. Vậy thình thoảng hãy đến với với anh em để cùng ăn “bánh tráng cuốn bánh tráng ” nhé.
Bảo đảm đây là độc chiêu của đất võ trời văn, không nơi nào có….
Chúc Năm Mới thân tâm an lạc.
TVD

Do Hong Ngoc
Anh nhớ hồi nhỏ cũng đã từng nhiều lần được ăn “bánh tráng cuốn bánh tráng” đó TVD ơi! Anh từng biết ăn “chè bánh tráng” nữa: bánh tráng mè dày cui, nướng giòn, bóp bể vụn, cho vào nước nóng, thêm đường tán, ta sẽ có ngay một ly chè bánh tráng tuyệt hảo! TVD biết ăn chưa? Bảo Elena làm cho ăn nhé! Tóm lại, “Bánh tráng muôn năm!” Hèn chi mà Quang Trung đánh đâu thắng đó! Chúc xunau.org “thừa thắng xông lên”!

TVD
ANh ĐHN quơi!
Tưởng đem “bánh tráng cuốn bánh tráng” ra doạ anh, ai ngờ bị anh đem “chè bánh tráng” ra đấu lại. Thế là thua to!
Anh đúng là kiến văn quảng bác, cao thủ võ lâm.
Bái phục.
Chúc anh sức khoẻ và yêu đời,
TVD

Văn Công Mỹ
Hôm đầu năm nói chuyện với mấy người về những món ăn “tuyệt chiêu” của xứ nẫu trong đó có món Chè Bánh Tráng đó anh(có mấy bạn chính gốc “củ mì” cũng chưa từng ăn).Thay vì bánh tráng nướng,hồi đó em bẻ bánh tráng sống cho vào nước nóng nấu với đường đen. Đợi bánh tráng nở mềm là thành chè bánh tráng. Ăn,mềm mềm ngọt ngọt cũng đậm đà hương quê lắm. Anh mà biết món này,em xin bái phục.

Tú Gàn:
Xin chào “Bác sĩ của con tui” (nay nó đã là cô giáo 32 tuổi rồi anh à !) năm mới !
Bài viết của anh thật là tình cảm tràn đầy với xunau.org ! Lại có nhắc đến tên em nữa … Em cảm ơn anh nhé ! Hy vọng : “Thà rằng không đến thì thôi …” mà đã đến – đã quen – đã biết – đã hiểu … xunau.org thì anh không có lý do gì … bỏ đi cho đành ! Đúng không anh ? Xin hãy xem mình như là một thành viên thân thiết của xunau.org kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2012 anh Đỗ nhé !

Võ Thanh Tùng
Rất bất ngờ khi biết anh là nhà thơ Đỗ Nghê. Trước năm 75 tôi vẫn thường đọc thơ anh,những bài thơ rất có cái riêng độc đáo thi vị.
Năm mới chúc anh hạnh phúc an khang thinh vượng!

Minh Huy
Chúc mừng năm mới nhà thơ ĐỔ NGHÊ !

Do Hong Ngoc
Cảm ơn Minh Huy. Cảm ơn tất cả các bạn xunau.org đã chúc Tết cho Đỗ Nghê. Xin gởi tặng một bài thơ nhỏ (đã từ lâu):

Đi giữa Sài gòn
Phố nhà cao ngất
Hoa nở rực vàng
Mà không thấy Tết

Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay Xuân về
Vỡ òa ngực biếc!

(Đỗ Nghê)

“Xunau” cũng đầy gió bấc phải không? Đó là một thứ gió rất lạ, dễ làm mình “rùng mình” nhất là khi gió ngược những tà áo dài… quê hương!

Văn Công Mỹ
Tôi biết anh là Đỗ Nghê, thi sĩ, khi đọc thơ anh trước đây. Rồi tôi đọc sách, và biết anh là bác sĩ, những cuốn Bỗng Nhiên Mà Họ Lớn, Gió Heo May Đã Về, Già Ơi Chào Bạn…cuốn tôi đến với Cũng Chẳng Khoái Ru, Những Người Trẻ Lạ Lùng… Bẵng đi một thời gian, bữa nọ lang thang trong nhà sách bắt gặp Nghĩ Từ Trái Tim, lật vài trang sách đồ rằng chắc cũng là một cuốn phân tích tâm lý của tác giả, đọc lướt nhanh những lời đầu tôi choáng váng và “rùng mình”… bởi bấy lâu tôi nghe những câu kinh Bát Nhã chỉ là mới nghe, qua những khi tụng niệm của những người thân trong gia đình. Và khi đọc bản văn tâm kinh, chịu chết chứ làm sao tôi hiểu nổi những câu kinh trong Bát Nhã Tâm Kinh. Thế nên tôi rùng mình, choáng váng vì từ lúc đọc Bát Nhã Tâm Kinh tôi đã khao khát tìm hiểu ý nghĩa cuốn kinh này thì nay biết được bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, qua cuốn Nghĩ Từ Trái Tim đã luận giải cuốn kinh, từng chữ từng câu theo cái nhìn của một người làm khoa học. Mới biết trong chữ “duyên” khi mình đã “khởi” ắt có ngày mình sẽ “ngộ” phải không anh?
Riêng tôi, đọc những tác phẩm của anh, tôi thường hay liên tưởng đến nhà văn Võ Hồng (cái này “bất khả tư nghị”). Sáng 8/1 lần đầu gặp anh, thấy ánh mắt dịu dàng, nụ cười đôn hậu; những trao đổi nhẹ nhàng, chân tình, ấm áp với những người anh em đã cũ hoặc mới quen của anh, anh em Xứ Nẫu chúng tôi rất chi là cảm động.
Năm mới anh em Xứ Nẫu cầu chúc anh vui tươi,an lạc.

Do Hong Ngoc
Nghe Sông Trăng cũng đã lâu, chưa có dịp nhìn trăng trên sông ở đó cả. Vậy hẹn hôm nào, “trà đạo” dưới trăng một bữa nhé (Vì anh DHN không biết uống rượu mà! Một thiệt thòi rất lớn!).
VCM biết không, cuốn “Chẳng cũng khoái ru?” của anh Ngọc không ai nói đúng cái tựa cả. Người nói “Chẳng ru cũng khoái”, người nói “Chẳng khoái cũng ru”, người bảo “Ru cũng chẳng khoái” người kêu “Khoái cũng chẳng ru”… Chịu thua!

Thiên Bồng
Chào BS Đỗ Hồng Ngọc,
Gặp nhau chỉ khoảng vài chục phút, trao đổi với anh em mỗi người dăm ba câu, vẫn ngỡ là xã giao thông thường nào ngờ tấm lòng của anh với xunau.org thật sâu đậm, có lẽ đây là nét rất riêng của anh chăng?
Hôm 8/1 anh chào anh em và về sớm làm anh em có hơi thắc mắc, sau đó Sáu Nẫu có giải thích lý do về sớm của anh thì anh em lại càng trân trọng và thương quý anh nhiều.
Năm mới TB xin chúc anh được mạnh khỏe và nhận xét vẫn tinh tế như hôm gặp mặt mà TB đã cảm nhận được nha anh. Kính mến.

đinh tấn khương
Kính Anh Đỗ Hồng Ngọc
Nghe và biết anh khá lâu và khá nhiều, qua những tác phẩm của anh. nhưng chưa có lần nào được nói chuyện cùng anh (dù là trong thế giới ảo như bây giờ).
Hôm nay được găp anh ở đây, trước tiên xin gởi đến gia đình anh lời chúc tốt đẹp nhất trong năm mới, năm Nhâm Thìn 2012.
Cầu chúc anh còn nhiều sức khỏe để giúp đời qua chuyên môn và khối óc văn chương thi phú của anh.
Trong những tác phẩm và bài viết của anh (đọc từ sách và ở trang blog của anh), thích nhất là tác phẩm “Nghĩ Từ Trái Tim” mà em được một người bạn, nhân dịp về thăm VN mua tặng, vào năm 2004.
Vẫn biết anh là bậc đàn anh (về tuổi tác cũng như nghề nghiệp) nhưng cứ thắc mắc sao anh lại có nhiều thì giờ và sự hiểu biết, ngoài chuyên môn, để viết được nhiều và hay như vậy!?
Cám ơn anh rất nhiều, nhất là tác phẩm “Nghĩ Từ Trái Tim” đã giúp em hiểu thêm về Bát Nhã Tâm Kinh.
Một câu trong đó mà em luôn nhớ, đó là:
“Trong đời sống thường ngày, ta thấy khi khong còn nghi kỵ, ngờ vực, ghen tuông, tham lam, sân hận thì niềm vui sẽ tràn đến, ta thấy rộng lòng hơn, biết yêu thương hơn, biết tha thứ hơn, và ta cũng được đáp lại như vậy”
Và cám ơn anh đã đến với xunau.org, tạo duyên để được gặp anh.
Kính Anh
đtk

Do Hong Ngoc
Cảm ơn Đinh Tấn Khương, bạn đồng nghiệp phương xa. Đọc ĐTK, anh Ngọc nghĩ trước sau gì ĐTK cũng sẽ quên mất cái ống nghe mà chỉ còn nhớ cây viết hay bàn phiếm! Có lúc sẽ trốn khỏi cả “cai tù” mà lên núi tu không chừng. Lúc đó sẽ có nhiều thì giờ thôi! ĐTK viết dễ thương. Chúc Năm Mới.

đinh tấn khương
Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc đã cho lời khuyên và khích lệ đàn em.
Em chỉ mong, luôn được minh mẫn trí óc để viết cho vui với anh em vậy thôi, anh Ngọc ơi!
Nhưng mà tuổi già đâu dễ gì được mãi vậy, phải không thưa Anh!?
Cũng muốn đi tu lắm, sau khi đã đọc sách đạo của anh, nhưng vì chưa “buông” được nên cái dấu HUYỀN nó mãi còn đó, thành ra em vẫn còn mang cái kiếp “TÙ” đấy, anh Ngọc à!
Vui với Anh một chút, đừng trách nhen!
Chúc Anh còn nhiều sức khỏe để còn viết khỏe, cho thế hệ đằng sau được nhờ.
Kính Anh
đtk

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Lõm bõm: “Du ư Ta-bà”

10/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Lõm Bõm (7)
« Du ư Ta-bà»…

Bồ tát “rong chơi » trong cõi Ta Bà ấy là nhờ có « Du hí thần thông »! Cứ bay vèo vèo coi chỗ nào chúng sanh cần gì, kêu ca gì thì ra tay cứu độ. Các nhà khoa học hiện vẫn loay hoay tìm kiếm coi có thứ gì có vận tốc nhanh hơn vận tốc ánh sáng không, nếu có thì sẽ có những thay đổi lớn, không còn thời gian không gian, không còn hạt còn sóng… Thực ra thứ đó đã có từ lâu. Đó là tâm. Tốc độ tâm. « Tâm hành”. Vô lượng vô biên a tăng tỳ kiếp… Không nắm bắt được. Bất khả đắc. Cho nên làm thế nào để hàng phục, làm thế nào để an trụ tâm vẫn ngàn đời là một câu hỏi lớn.

Nhờ nương theo cái tâm rộng lớn “không ngằn mé” đó mà Bồ tát “du ư” cõi Ta bà. Bất cứ chỗ nào và bất cứ ở đâu cũng có thể xuất hiện một ông Bụt dễ thương: Sao con khóc? Con cần gì ta giúp cho?
Vấn đề ở đây là tại sao “du hí thần thông”? Đã “du” sao còn “hí”? Rong chơi chưa đủ vui sao mà còn cười cợt, đùa giỡn, hí lộng… ? Nhưng hãy cảm thông cho Bồ tát. Ấy chẳng qua thấy nhiều chuyện “nực cười” quá không nín được. Có vị cười ha hả, cười hết ga, có vị cười tủm tỉm, có vị cười âm thầm. Không cười sao được khi lúng túng chẳng biết giúp bên nào giữa hai đội bóng: người đá phạt đền thì xin phò hộ cho đá vô, người giữ gôn thì xin phò hộ cho đá ra. Không cười sao được khi thấy oán oán chồng chất, giết hại lẫn nhau không thương tiếc rồi lập đàn xin xá tội, giải oan; không cười sao được khi thấy người ta nhét tiền vào tay mình để mong mau làm giàu, mau thăng quan tiến chức…! Cười mà thương chứ chẳng phải ghét bỏ, coi thường chi đâu. Cho nên mới có Thường Bất Khinh, mới có Quan Thế Âm…?
Bồ tát vì “bất tận hữu vi, bất trụ vô vi” nên cứ phải bay qua nhảy lại giữa bờ mê bến giác, nhưng nhờ con mắt tuệ đã có thể thong dong mà nhìn rõ tánh tướng nhân quả các thứ… . Từ đó mà có Từ có Bi.
Nhưng để có thể “du hí thần thông” như vậy Bồ tát phải tu tập tinh cần để đạt được những “đàlani”, tức những năng lực đặc biệt: chẳng hạn sao cho nhất thiết chúng sanh hỷ kiến (ai thấy cũng vui)- nhờ trung thực, chân thành – sao cho hiện nhất thiết sắc thân ( để hòa nhập với tất cả mọi người, mọi lúc, mọi nơi) – nhờ khả năng thấu cảm – và sao cho giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn để truyền thông hiệu quả bằng mọi thứ phương tiện, kể cả sự lặng thinh. Dĩ nhiên trên hết phải có sự tôn trọng. Nhờ có những đàlani, những “tam muội” thần thông đó mà Bồ tát mới rong chơi vô ngại trong cõi Ta bà…
Mới làm cho Ta bà thành cõi Tịnh Độ vậy.

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Uncategorized

Lõm bõm: “Độc cư”

10/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 13 Bình luận

Lõm Bõm (6)
Độc cư
Rốt cuộc một mình. Một mình thôi. « Trời cao đất rộng, một mình tôi đi, một mình tôi đi… Đời như vô tận, một mình tôi về, một mình tôi về… với tôi! » (TCS). Phải. Một mình đi. Một mình về. Cao rộng thế nào, vô lượng vô biên đến đâu thì cũng một mình thôi. Lạ, cái con người. Luôn thèm có nhau. Quây quần. Đàn đúm. Rồi kêu ca nào ái biệt ly nào oán tắng hội ! Ai biểu. Sao chẳng « độc cư » đi ?

Cô đơn có vẻ là nỗi khổ lớn nhất của kiếp người. Đặc biệt ở tuổi già. Mà tuổi trẻ cũng vậy thôi. Cái lỗi ở chỗ không biết sống « độc cư ». Ngay cả khi có một mình, con người sống cô độc mà cũng chẳng « độc cư ». Người già quay quắt với dĩ vãng tiếc nhớ buồn thương… Người trẻ chẳng rời được cái laptop, ear phone, di động… . Dù đang trên núi cao hay giữa vực sâu họ cũng bị quấn quít chằng chịt ngày đêm.
Cứ tưởng độc cư là một mình ăn, một mình thở, một mình đi, một mình về… nhưng không. « Độc cư » không phải độc cư nên mới gọi là độc cư !
Một hôm có kẻ đệ tử nổi tiếng sống « độc cư », một mình đi khất thực, một mình về ngồi ăn… Phật kêu bảo, đáng khen, đáng khen, nhưng độc cư không phải vậy, không phải chỉ vậy. Đó không phải độc cư thật. Ở một mình, ăn một mình, đi một mình, ngủ một mình mà đầu óc quẩn quanh biết bao hình bóng, biết bao câu chuyện, nhớ tiếc dĩ vãng, mơ tưởng tương lai thì không thật độc cư ! Dĩ vãng qua rồi. Quấn quít với nó mãi thì gánh nặng đeo mang bao giờ đặt xuống ? Tương lai chưa tới, Que sera sera. Biết ra sao ngày sau. Chuyện ngày mai của ngày mai. What will be will be. Tướng như vậy, tánh như vậy…bổn mạt cứu cánh nó như vậy…
Vậy phải chăng an trú trong hiện tại, sống “hiện sinh” xả láng? Hiện sinh kiểu đó cũng chẳng phải hiện sinh chút nào!
Độc cư không chỉ rời xa dĩ vãng, không đắm đuối tương lai mà hiện tại cũng phải nhìn bằng con mắt khác. Mắt tuệ: vô thường, khổ, không, duyên sinh, vô ngã…
Độc cư và Thiền định không hai. Độc cư thứ thiệt thì nghe ngóng được vận hành của Như Lai trong từng sát na, là sống với Như Lai, sống cùng Như Lai, sống như lai.
Và như vậy, người ta có thể sống “độc cư” bất cứ ở đâu,giữa chợ đời, trong gia đình, dưới gốc cây,nơi rừng thẩm…
Cho nên càng sớm “độc cư” thì càng không cảm thấy cô đơn…
“Đừng theo dấu quá khứ
Hay khát vọng tương lai

Còn hiện tại thì sao? Thì “Dùng tuệ giác soi chiếu”!

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Uncategorized

Lõm bõm: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”

09/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Lõm Bõm (5)
“Không nghĩ thiện
Không nghĩ ác”

“Không nghĩ thiện không nghĩ ác” không phải là không có thiện không có ác. Có thiện có ác quá đi chứ! Nếu không sao bảo “Chư ác mạc tác/ Chư thiện phụng hành” (Chớ làm điều ác/ Hãy làm điều thiện)?

Tưởng tượng đêm hôm đó, một đêm không trăng sao, thầy trò Huệ Năng lén lút ôm bọc y bát rời chùa, len lỏi giữa các rặng lau sậy, ra tận bờ sông… Khi đại chúng biết ông đã được truyền y bát trốn về phương Nam thì có đến vài trăm người rượt đuổi theo để đoạt lại, trong đó có thượng tọa Huệ Minh, vốn trước là một tướng quân, tánh tình thô bạo, dẫn đầu đi trước, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng đặt y bát lên tảng đá rồi núp vào đám sậy nói lớn: “Y bát là vật làm tin, há dùng sức mà đoạt được sao? ” Huệ Minh đến, muốn lấy y bát mà chẳng nhúc nhích, bèn kêu: “Hành giả! Hành giả! Tôi đến vì Pháp, chẳng phải vì Y!”
Huệ Năng nói: “Ông đã vì Pháp mà đến, thì nên dứt bặt trần duyên, chớ sanh một niệm. Tôi sẽ vì ông mà thuyết”. Rồi nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, đang khi ấy cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa Minh?”.
Huệ Minh ngay đó đại ngộ.
Thiệt ra Huệ Minh có định lấy y bát chi đâu. Muốn lấy thì đâu có khó gì với một ông tướng như vậy! Ngày nay còn dễ hơn nữa. Đầy dẫy ra đó. Mua đâu chẳng có. Sư phụ Hoàng Nhẫn cũng đã căn dặn: Sau này dẹp cái vụ truyền y bát hình thức đó đi cho đỡ rầy rà, tranh đoạt, giữa chốn thiền môn. Tâm truyền tâm thôi.
Thương tọa Minh thực lòng khâm phục Huệ Năng từ lâu, đã muốn được học pháp, nghe pháp từ Huệ Năng giờ mới có dịp. Trong lúc rầm rập chân người, la ó vang trời, đèn đuốc sáng choang đó, giữa sự căng thẳng sống chết chỉ mành treo chuông đó, một câu nói “dứt bặt trần duyên/ chớ sanh một niệm” của Huệ Năng đủ sức lay chuyển tận gốc rể con người Huệ Minh. Đó chính là lúc bổn lai diện mục Huệ Minh có cơ hội để xuất hiện vằng vặc giữa trời quang! Huệ Minh chỉ cần nghe một câu là đủ. Cũng như xưa Huệ Năng nghe “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là đủ. Học kinh, kệ của Phật, một câu một chữ qúy biết bao. Thưc ra câu nói “Không nghĩ thiện/ không nghĩ ác” chẳng qua là một… minh họa, làm cho rõ nghĩa thêm mà thôi, và nhất là phù hợp với hoàn cảnh căng thẳng đầy sát khí lúc đó.
“Dứt bặt trần duyên/ Chớ sanh một niệm”. Ấy chính là “Vô niệm”. Con đường phát hiện và hành thâm của Lục tổ Huệ Năng. Từ đó mà thấy biết “gió không động/ phướng không động”. Con đường trực chỉ chân tâm đó vậy.
Tóm lại, “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” chỉ có nghĩa là không hai, là bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm… !
“Đại gia” Duy Ma Cật nhờ đã trang bị pháp môn Bất Nhị này đến tận răng mà thỏng tay vào bất cứ chốn nào dù là thanh lâu, quán nhậu, karaoke ôm hay động xì ke ma túy… Vào đến chốn nào thì chốn đó trở thành đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh.
Còn ta lơ mơ “ngẫu hứng lý qua cầu” dễ lọt… xuống sông!

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học

08/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Hiến Lê
Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học
Vương Trung Hiếu
Ghi chú: Vương Trung Hiếu, bút danh Thoại Sơn, là nhà văn, nhà báo, quê gốc An Giang. Trên vanchuongviet.org, nhân 100 năm Ngày sinh Nguyễn Hiến Lê, (08.01.1912 – 08.01.2012) anh đã cho đăng bài viết này, trích từ Kỷ yếu của Hội cựu học sinh Trường trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, An Giang. Một bài viết ngắn gọn, nhưng rất có ích cho các bạn trẻ. Xin phép được đăng lại nơi đây.
Chân thành cảm ơn anh Thoại Sơn.
Đỗ Hồng Ngọc.

Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng, tên tuổi của ông gắn liền với nhiều tác phẩm, trong đó có quyển sách dịch “Đắc nhân tâm” (vẫn thuộc loại bán chạy nhất hiện nay trên Internet). Người ta biết NHL viết sách, chứ không nhiều người biết ông đã từng là nhà giáo. Tháng 11 năm 1950 NHL nhận lời mời dạy học ở trường Trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, đến năm 1952 ông xin nghỉ, lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, biên dịch sách, sáng tác và viết báo. Trong thời gian ở Long Xuyên, ông dạy môn Pháp văn, Việt văn, Đức dục, về sau thêm cả Hán văn (từ lớp 7 đến lớp 9 ngày nay). Quan điểm dạy học của ông tuy cách đây đã 60 năm, song vẫn còn hữu ích đối với thế hệ giáo viên trẻ ngày nay. Ông cho biết: “Tôi soạn bài kĩ, giảng cho rõ ràng, bắt học sinh làm nhiều bài tập,.. dù con bạn thân mà làm biếng tôi cũng rầy, dù con các người tai mắt trong tỉnh, nếu lười tôi cũng mắng nặng lời”. “Tôi cho rằng trong nghề dạy học, tư cách ông thầy quan trọng nhất: phải đứng đắn, nhất là công bằng; rồi lời giảng phải sáng sủa, có mạch lạc, muốn vậy ăn nói phải lưu loát, và soạn bài phải kĩ”.
“Trong trường học, giáo sư nên khuyến khích những học sinh chịu đọc thêm sách, chứ đừng khen những trẻ giỏi học thuộc lòng. Trong các kỳ phát phần thưởng, đừng mua sách giáo khoa để phát, mà nên lựa những sách giúp học sinh mở mang thêm kiến thức”.
Về giáo dục NHL nêu vài vấn đề mà ngày nay chúng ta cũng cần phải suy nghĩ. Trong quyển Thế hệ ngày mai, NHL cho rằng nền giáo dục trong thời đại của ông “ quá thiên về trí tuệ, xao nhãng thể dục và đức dục”. Từ bậc tiểu học đến đại học, người dạy đã nhồi nhét quá nhiều những môn “để luyện trí”. “Phương pháp dạy ở trường có tính cách quá nhồi sọ”. “Môn gì cũng cần nhớ, nhớ cho thật nhiều, tới môn toán pháp mà cũng không dạy trẻ phân tích, bắt học thuộc cách chứng minh các định lý”. Từ đầu thế kỷ 20, Nhiều giáo sư, học giả Pháp đã phê phán lối học “không tập cho suy nghĩ ấy”. Nhiều nhà doanh nghiệp phàn nằn rằng phần lớn “ những học sinh ở Trung học hay Đại học ra không hiểu chút gì về công việc, không biết kiến thiết, sáng tạo, chỉ huy”.
Một điểm đáng chú ý khác: Vì sao học sinh không thích học? Ông cho rằng học sinh có thể không thích học môn nào đó vì cảm thấy không hợp. Có người thích văn nhưng buộc phải học Toán; có người thích vẽ nhưng buộc phải học Sử. Ngoài ra, “Ta cũng có thể ghét sự học ở trường vì nhiều giáo sư giảng bài như ru ngủ chúng ta, hoặc tới lớp thì bắt ta chép lia lịa từ đầu giờ tới cuối giờ mà không hề giảng cho một chữ, chép tới tay mỏi rời ra, không đưa nổi cây viết, nguệch ngoặc không thành chữ, rồi về nhà phải cố đọc, đoán cho ra để chép lại một lần nữa cho sạch sẽ. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì có những ông giáo, suốt năm mặt lạnh như băng, vẻ quạu quọ, hờm hờm, coi học sinh như kẻ tù tội, phải hành hạ cho đến mực, làm cho học sinh gần tới giờ thì lo lắng, mặt xám xanh, như sắp bị đưa lên đoạn đầu đài. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì kỷ luật, hình phạt của nó, vì những kỳ thi liên miên bất tận..”.
Điều quan trọng nhất trong cách dạy của NHL không chỉ nằm ở chuyên môn, mà còn ở cách hướng dẫn học sinh tự học. Vì phần lớn học sinh thời ấy “không biết cách ghi chép lời giảng của thầy, không biết cách học bài, làm bài, không biết cách học ôn, cách tìm tài liệu, không có một thời dụng biểu ở nhà. Họ không hiểu rằng cách học một bài ám đọc (récitation), khác cách học một bài toán; một bài sử, địa khác một bài sinh ngữ… Họ không có cả một sổ tay ghi những điều cần nhớ để thường coi lại”.
Vâng, tự học là điều cần thiết không chỉ khi ngồi trên ghế nhà trường, mà còn là phương tiện giúp ta đi tới thành công trên đường đời. Đừng nghĩ rằng khi có bằng cấp cao là đã thành công và không cần phải tự học nữa. NHL viết: “Bạn có bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ mà không học thêm thì suốt đời cũng chỉ là một tiến sĩ, một thạc sĩ. Paul Doumer 14 tuổi đã phải thôi học, tự học lấy rồi sau thành Tổng thống nước Pháp. Louis Bertrand xuất thân làm thợ mà lên ngôi Tổng trưởng”. Ở nước ta cũng không thiếu người nhờ tự học mà có danh vọng”. Thí dụ như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Bạch Thái Bưởi và Trương Văn Bền…đã thành công lớn trong nghề nghiệp của mình.
Cách tự học
NHL viết: “trên con đường tự học, tôi chẳng có chút hiểu biết, kinh nghiệm nào cả, phương tiện thật thiếu thốn, tốn công nhiều mà kết quả rất ít. Vì nghĩ vậy mà sau này tôi viết cuốn Tự học để thành công (sau đổi tựa là Tự học, một nhu cầu của thời đại) để hướng dẫn thanh niên tránh những lỗi lầm của tôi”. Ông cho rằng “Tự học cũng là một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gắp trăm du lịch bằng chân”. “Tự học còn là một thú vui rất thanh nhã nó nâng cao tâm hồn ta lên”. Vậy, muốn tự học, trước hết phải thấy nó là một chuyến “du lịch”, là “thú vui” mới có thể kiên trì theo đuổi.
Theo NHL, người mới biết đọc, biết viết; người già cũng có thể tự học được. Quan trọng là có sức khỏe, thời gian và tin vào việc học của mình (có lợi cho bản thân, giúp ích cho người khác). “Nếu học 5-7 lần không thuộc, cũng đừng chán rồi bỏ cuộc. Học nhiều hơn nữa, có ngày sẽ thành công”.
Ông nghĩ rằng cái lợi của tự học là “tự do lựa môn học, lựa thầy học”. “Nếu chưa hiểu rõ một chương, ta có thể bỏ ra hàng tuần hàng tháng để học thêm…Nhờ vậy ta có nhiều thì giờ để suy nghĩ so sánh, tập xét đoán, giữ tư tưởng được tự do. Không ai nhồi sọ ta được, bắt ta phải lặp lại những điều mà ta không tin”. Tuy nhiên, ông cũng thấy cái hại của việc tự học là do “không ai dẫn dắt ta, nên ta không biết học cái gì”. Có người quyết học hết một bộ Bách khoa từ điển nhưng mới học khoảng một tuần thì bỏ ngang vì chán nản, không hiểu nhiều đoạn trong tự điển. “Có kẻ gặp cái gì đọc cái ấy… không tự lượng sức mình, chưa biết những sách đại cương về một môn nào đã đọc ngay những sách quá cao viết cho các nhà chuyên môn”. Đọc qua loa những điều mình thích nên không hiểu tường tận để áp dụng. “Học như vậy phí công vô ích”, do “không có một mục đích nhất định để nhắm, một chương trình hợp lý để theo”.
Ông cho rằng tự học “có mục đích gần và mục đích xa”. Học để có một chỗ làm, có cuộc sống tiện nghi là học với mục đích gần. Học để đủ tư cách làm chủ gia đình, một công dân và phần tử của nhân loại. Học để phát triển đức trí, giúp ít người khác mỗi ngày một nhiều hơn mới là mục đích xa. Nếu là giáo viên toán ta cũng nên đọc về kinh tế, chính trị; nếu là thợ thuyền cũng nên học về triết lý, luật khoa… “Nhà văn phải biết khoa học, vì khoa học giúp ta nhận xét, lý luận, hiểu vũ trụ hơn. Nhà khoa học cũng phải hiểu văn chương vì những áng văn thơ bất hủ nâng cao tâm hồn con người”… “Kẻ nào quá chuyên nghiệp, chỉ đọc những sách về ngành hoạt động của mình thì không khác chi đeo vào hai bên thái dương hai lá che mắt, không khác chi tự giam mình vào một phòng chỉ có mỗi một cửa sổ để thông ra ngoài.”
Những cách tự học
Theo NHL, có hai cách tự học: học có người dạy và tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm (theo ông, cách thứ hai “quan trọng hơn nhiều”).
Tự học (có người chỉ dẫn) là theo một lớp giảng công hay tư, một lớp hàm thụ hoặc nghe diễn thuyết.
+ Lớp giảng: Theo ông, “ở Âu, Mỹ, có rất nhiều trường công hay tư dạy những người lớn muốn học thêm” (từ tiểu học đến đại học). “Lại có những trường dạy một ngành chuyên môn như môn Tổ chức công việc, môn viết văn, làm báo, khoa nói trước công chúng, khoa nội trợ…”.
+ Lớp hàm thụ: học từ xa bằng những phương tiện thông tin đại chúng, “
học những trường này phải trả tiền vì đều là trường tư, hoặc bán công tư”.
+ Nghe diễn thuyết: nghe những diễn giả nói về đề tài mà mình muốn biết thêm.
Tự học không có người chỉ dẫn là tập nhận xét và đọc sách…
+ Nhận xét: NHL viết: “Người tự học nào cũng phải tập nhận xét. Phần đông chúng ta không nhìn bằng mắt mà bằng óc, bằng tim”. Một giáo sư đại học bảo sinh viên tập trung nhìn những ông làm rồi bắt chước làm theo. Ông nhúng một ngón tay vào một ly nước rồi đưa lên miệng nếm. Mỗi sinh viên đều làm như vậy, nhưng lại nhăn mặt vì nhận thấy nước rất hôi thối. Sau khi họ nếm xong, vị giáo sư mỉm cười, bảo: “ Các cậu không nhận thấy ngón tay tôi đưa lên miệng không phải là ngón tay đã nhúng vào nước à”. Vị giáo sư nhúng ngón tay này vào nước nhưng lại nếm ngón tay kia nên không có cảm giác hôi thối, còn sinh viên thì…. Điều này cho thấy “họ đã không nhìn bằng mắt mà bằng óc. Óc họ tưởng tượng ra sao thì họ thấy vậy”. Tóm lại, muốn học hỏi thì ta phải tập nhìn bằng mắt, chứ đừng bằng óc hoặc tim. Trước khi nhận xét, phải có một chương trình: xét những điểm nào? điểm nào trước? điểm nào sau? Thí dụ, muốn nhận xét một cây, bạn phải: quan sát từng bộ phận của nó (từ gốc rễ đến cành lá); cây này mọc ở miền nào, hợp với loại đất nào; mùa nào trổ bông, có trái; cách trồng ra sao; ích lợi thế nào… Lập sẵn chương trình như vậy thì không sợ quên những chi tiết nhiều khi quan trọng. Trong khi nhận xét phải so sánh (như cây sao với cây dầu giống nhau chỗ nào, khác nhau chỗ nào?), phân tích (như xét một bông phải xét: đài, cành, nhụy, sắc hương). “Chịu nhận xét, tập chú ý vào những điều trông thấy thì tài nhận xét sẽ tăng lên. Mỗi ngày ta nên tập nhận xét vài lần… không tốn thì giờ mà chỉ trong vài ba tháng đã thấy nhiều kết quả”.
+ Đọc sách: theo một lớp giảng hoặc một lớp hàm thụ chỉ là biện pháp nhất thời. Muốn tự học suốt đời, thì phải đọc sách, vì thế “có thể nói tự học là đọc sách”. “Khi đọc tôi luôn luôn có một cây viết chì để đánh dấu những chỗ đáng nhớ, hoặc có thể dùng tới sau này; cuốn nào thường phải đọc lại thì tôi ghi những ý quan trọng cùng số trang lên mấy trang trắng”…“sách nào thường dùng tôi để riêng, sắp theo từng loại”.
Học từ dễ đến khó
Muốn học môn gì đó, cần phải tìm đúng sách rồi học từ dễ đến nâng cao dần. Không thể ngay từ đầu học những điều quá khó, vì như thế sẽ không hiểu, một thời gian sẽ chán nản rồi bỏ cuộc. Nhìn chung, những người như thế “không thành công vì không biết cách học”. Ho chưa biết những điều thường thức đã vội đọc ngay những sách cao đẳng. Họ “chưa có một khái niệm gì rõ ràng đích xác về đạo Phật mà đọc ngay kinh Tam Tạng! Tự học mà thiếu phương pháp như vậy thì 100 người có tới 95 người thất bại”.
Cách học ngoại ngữ
Ngoài tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức, bắt buộc phải học vào thời ấy, NHL còn học thêm tiếng Hán và tiếng Anh. Hồi nhỏ ông học chữ Hán cốt để “đọc được gia phả”, “chỉ nhớ mặt chữ, hiểu nghĩa là được rồi”. Sau khi học xong ngành Công chánh, trong thời gian chờ phân công nhiệm sở, ông lại tự học chữ Hán. “Mỗi ngày, buổi chiều tôi lại thư viện Trung Ương đường Trường Thi, mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh…rồi bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và từ ngữ nào tôi đoán là thường dùng mà chưa biết thì tôi chép lại trong một tập vở. Tôi ở thư viện từ 3 đến 5-6 giờ chiều. Tối hôm đó và sáng hôm sau, tôi học hết những trang đã ghi đó; rồi chiều lại ra thư viện chép bài học sau. Mỗi tuần nghỉ một ngày để ôn lại những bài trong tuần. Học ba tháng, được độ ba ngàn từ”. Về sau NHL tự học thêm nữa để có thể viết sách về văn học Trung Quốc. Về tiếng Anh, ông học chủ yếu là hiểu nghĩa từ và văn phạm, học để đọc tài liệu nước ngoài, để viết và dịch sách chứ không chủ trương học để nói lưu loát. Theo ông, “muốn hiểu một ngoại ngữ thì phải dịch ra tiếng Việt”. “Khi dịch, bắt buộc ta phải tra tự điển; câu nào dịch rồi mà ý nghĩa không xuôi, có điểm nào vô lí hoặc mâu thuẫn với một số câu ở trên thì bắt buộc ta phải soát lại xem mình dịch sai ở chỗ nào”.
Viết sách để tự học
Từ 1949 đến 1953, NHL “làm việc rất nhiều, vừa dạy học, vừa học, vừa viết sách, không có thì giờ để hưởng nhàn”. Ông dạy học, tự học môn Tổ chức, tiếng Anh và văn học Trung Hoa. Ngoài ra ông còn ghi danh học một số lớp hàm thụ. Chính nhờ bài học từ những lớp này NHL đã có tài liệu để viết sách (quyển Nghề viết văn, Hương sắc trong vườn văn và nhiều sách Học làm người).
Theo ông, “viết sách là tự ra bài cho mình làm. Học mà không làm bài thì chỉ là mới đọc qua chứ không phải học.” Và ông cho rằng “khi viết nên nhớ mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới”.
Sức làm việc của ông thật đáng nể, theo Wikipedia, “mỗi ngày ông làm việc 13 tiếng đồng hồ (6 tiếng để đọc tài liệu và hơn 6 tiếng để viết). Thời gian biểu này được áp dụng một cách nghiêm ngặt không ai được vi phạm kể cả chính ông, nhờ vậy mà ông đã hoàn thành một khối lượng công việc, tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật đồ sộ”. NHL cho biết: “nhiều người, từ bạn bè đến độc giả bảo tôi sống như một nhà tu khổ hạnh. Tôi không biết các nhà tu khổ hạnh có thấy khổ hay không khi họ nhịn ăn, nhịn uống, nhịn ngủ, … chứ riêng tôi, chẳng tu hành gì cả, không thấy lối sống của tôi với sách vở là khổ”.
Trong lời nói đầu của quyển “Đời viết văn của tôi”, NHL viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Có lẽ, nhờ quan niệm như thế nên NHL để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm đồ sộ, có giá trị cao về học thuật, đó là mảng sách về triết học và lịch sử. Mảng sách về văn học của ông cũng khá phong phú, chủ yếu là văn học Trung Quốc, bên cạnh đó là một số quyển tiểu thuyết dịch từ tiếng Anh và Pháp. Tuy nhiên, mảng sách mà NHL được nhiều người biết đến, đem lại dang tiếng cho ông chính là loại “sách học làm người”. Ông viết và dịch nhiều sách về mảng này, trong đó có một quyển đã làm “thay đổi hẳn cuộc đời của một thanh niên hiếu học nhưng nhà nghèo”, người mà sau này đã trở thành bác sĩ và cũng khá nổi tiếng, đó là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.
Quyển sách ấy có tựa đề là Kim chỉ nam của học sinh, một quyển mà NHL muốn “giúp học sinh biết cách học”. Ông khởi sự viết quyển này vào tháng 2 năm 1951, tức giai đoạn ông còn dạy học ở trường Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên. Sau khi quyển sách ấy được phát hành, nhiều phụ huynh và giáo sư đã hết lời khen ngợi sự hữu ích của nó. Trong tờ Bách Khoa số 20-4-75, Đỗ Hồng Ngọc viết: “Kim chỉ nam đã mở cho tôi chân trời mới, đọc xong, tôi thấy gần gũi với ông (NHL) kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ thống hoá, đặt ra những nguyên tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viễn vông, nhàm chán”.
Dẫu sống ở Sài Gòn nhiều năm, song Nguyễn Hiến Lê vẫn rất nhớ cái nơi ông đã từng dạy học, nơi mà ông đã về sống những năm cuối đời. NHL tâm sự: “ Long Xuyên đúng là quê hương thứ hai của tôi, mà bây giờ tôi quyến luyến với nó hơn quê hương thứ nhất nhiều”.
Vương Trung Hiếu

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi hiện tại

07/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Ghi chú:
Những ngày đầu năm 2012 này, bác sĩ Lê Ngọc Dũng lại chịu khó đánh máy và gởi thêm một bài viết nữa của BS Nguyễn Hưu Phiếm do anh lưu giữ được, trong cuốn Mấy Lời Khuyên Sinh Viên Y Khoa (Trung tâm học liệu BGD, 1972) như “một món quà Tết”, đến với chúng ta.
Tài liệu này đã được viết từ 40 năm trước nhưng vẫn còn rất có giá trị. Mong các bạn dành chút thì giờ để đọc và rút ra cho mình những bài học từ đó.
Một lần nữa, trân trọng cảm ơn Bs Lê Ngọc Dũng.
Đỗ Hồng Ngọc.

TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI BÁC SĨ TRONG THỜI BUỔI HIỆN TẠI
BS Nguyễn Hữu Phiếm
(1910-1977)

Y học cao thượng ở chỗ trách nhiệm
Duhamel

Trách nhiệm của người bác sĩ , nói cho đúng ra, không phải là một vấn đề mới mẻ, bằng cớ là từ trên bốn ngàn năm nay, tại Babylone, vua Hammourabi đã ban hành một đạo luật mang tên ông để thưởng phạt những y sĩ trong khi hành nghề, thưởng tiền bạc nếu khỏi bệnh và chặt tay chân nếu bệnh nhân mang tật hoặc phải thiệt mạng.
Ảnh hưởng của đạo luật Hammourabi đã lan rộng ra khỏi Babylone và trong Cựu Ước kinh ,các triết gia Do Thái đã nói : “Có vay có trả, răng đền răng, mắt trả mắt”.
Tuy nhiên ta phải công nhận là cho mãi cuối thế kỷ thứ 19, quan niệm về trách nhiệm của người bác sĩ vẫn không hề thay đổi . Điều đó xét cho cùng cũng không có gì lạ, bởi y học trên hai ngàn năm , hoàn toàn gần như chỉ chuyên về miêu tả, người bác sỉ ở thế kỷ trước, tuy biết rõ cơ thể học, nhân thể sinh lý học và cách phân chia bệnh ra từng loại, nhưng đến khi chữa bệnh , thì đành phải bó tay, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân mắc bệnh sốt rét cơn (paludisme) thì mới cho uống Quinine (tìm ra năm 1820)
Đừng nói đâu xa , cách đây mới khoảng 30 năm, những tiến bộ của phép trị liệu vẫn tương đối không đáng kể, người bác sĩ có thể định bệnh được một cách chắc chắn, nhưng đến khi chữa thì không chữa nổi.
Nhưng tình thế ngày nay khác hẳn.

Ngày nay, y học đã tiến một bước rất xa, ngoài sức tưởng tượng của con người và hầu như cướp cả quyền tạo hóa, nào mổ tim, thay tim, mổ óc, cắt phổi, ghép thận, ghép mắt….vv
Nào chỉ có thế thôi !Ngày nay y học đã phát minh ra những thứ thuốc có thể thay đổi hoàn toàn tâm tính của con người ta. Ngày nay ai cũng biết nhờ y học mà phụ nữ có thể hạn chế được sinh đẻ.
Tóm lại, thật đúng như lời nhà bác học Jean Rostand đã nói:”Ngày nay khoa học đã khiến chúng ta trở nên những bậc thánh thần trước khi chúng ta xứng đáng làm người”.
Và cũng chính bởi có những tiến bộ quá mau, tới mức phi thường, huyền ảo của khoa học nên vai trò của người thày thuốc xứng với danh từ đó, ở thời đại này, cần được xét lại, nhất là những trách nhiệm của họ, càng ngày càng nhiều, càng ngày càng phức tạp và nặng nề gấp bội trước, vì thuốc càng hiệu lực bao nhiêu lại càng nguy hiểm bấy nhiêu.
********
Trước khi đề cập tới vấn đề trách nhiệm của người bác sĩ , thiết tưởng cũng nên định nghĩa trách nhiệm là gì ?
Thường thường vấn đề trách nhiệm chỉ được nêu ra khi có một biến cố nào đó xảy ra, gây thiệt hại tới tài sản hoặc tính mạng của một hay nhiều người. Khi ấy pháp luật sẽ can thiệp để phân xử và phán quyết có lỗi lầm hay không, có lỗi sẽ bị trừng phạt. Tuy nhiên đối với người thày thuốc ngoài trách nhiệm trước pháp luật ra, còn có trách nhiệm tinh thần, trách nhiệm trước tòa án lương tâm nữa. Loại trách nhiệm này, hàng ngày người thày thuốc phải lãnh trong khi hành nghề, khác hẳn trách nhiệm trước pháp luật.
Như trên vừa nói, ngày nay y học đã có một quyền lực ghê gớm, ngoài sức tưởng tượng của con người. Ngày nay hầu hết các bệnh nhiễm trùng có thể trị được, nhiều bệnh mà ngày xưa kia người bác sĩ phải bó tay, bây giờ khỏi là thường, như bệnh thương hàn, bệnh lao, bệnh phong….
Nhiều chứng suyễn nặng có thể chữa được. Nhờ tiếp máu mà hàng ngày trên chiến trường các thương binh và những người bị ngộ độc, hoặc mắc nhiều bệnh khác được thoát chết. Tuy nhiên ,ta cũng nên biết rằng thuốc càng nhiều, càng công hiệu , nhất là những loại thuốc hóa học , lại càng độc, càng nguy hiểm.
Ngày nay trong khi hành nghề , người thày thuốc bắt buộc phải có những quyết định hoặc hành động mà hậu quả cực kỳ quan trọng. Bất cứ một trụ sinh nào, dù chích, dù uống, cũng có thể gây phản ứng được, nhiều khi thật bất ngờ.Thuốc kháng đông (anticoagulant) có thể làm xuất huyết được. Ấy là chỉ nói tới một vài thứ thuốc mà bệnh nhân thường dùng hàng ngày mà không cần có toa bác sĩ.
Ngay đến những thuốc rất thông thường như Aspirine , nếu dùng quá liều hoặc dùng lâu, cũng có thể làm xuất huyết. Những thuốc để trị chứng đau nhức mà công chúng thường dùng không cần hỏi ý kiến bác sĩ như phenacetine , đã từng làm nhiều người chết vì làm cho thận đau , thuốc pyramidon có thể làm cho máu biến chất.
Nhiều tai nạn lưu thông xảy ra chỉ vì người lái xe đã lạm dụng thuốc an thần. Nhiều lực sĩ đã bỏ mạng vì dùng quá nhiều loại thuốc kích thích, chúng ta hẳn chưa quên vụ sản phụ sanh ra quái thai vì trong khi thai nghén đã dùng thalidomide.
Nhiều bệnh mới đã xuất hiện chỉ tại dùng thuốc bừa bãi, tỉ dụ cortisone đã làm cho loét bao tử, xương cốt tự nhiên gẫy, hoặc làm cho phát điên. Một vài loại sulfamide đã gây ra bệnh ngoài da chết người.
Không riêng gì thuốc trụ sinh mới gây những phản ứng bất ngờ như trên vừa nói mà bất cứ thuốc nào tuy không thuộc loại thuốc độc, dù uống hay chích (chích mạch hay chích thịt ) cũng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng dược. Có người đã chết vì chích sinh tố B1 (Bevitine)
Ấy chính vì hàng ngày người bác sĩ phải hành nghề trong những hoàn cảnh bất trắc như thế, chính vì lúc nào cũng phập phồng lo sợ mỗi khi cho bệnh nhân dùng thuốc và biết rằng thuốc càng có hiệu lực thì lại càng nguy hiểm, chính vì lúc nào cũng cảm thấy trách nhiệm của mình nặng nề nên người bác sĩ phải luôn luôn học hỏi. theo dõi những tiến triển của y khoa, phải có óc phê bình chớ đừng ham mới , chuộng lạ, nhất là phải có nhiều kinh nghiệm, nhiều từng trải, và sau hết, phải thận trọng, đầu óc lúc nào cũng phải nhớ tới câu châm ngôn cổ trong y học: primum non nocere (trước hết đừng làm hại)
********
Người bác sĩ có trách nhiệm từ khi khám bệnh, định bệnh, cho đến lúc kê toa hoặc bắt tay hành động.
Khám bệnh qua loa, khám tắc trách, quên hỏi một chi tiết để định bệnh cho chính xác là phạm lỗi.
Trách nhiệm khi sử dụng thời giờ: cần phân biệt bệnh năng nhẹ, để đi thăm trước hay thăm sau;nếu là bệnh cấp cứu thì tức tốc đi ngay, bất kể thời tiết hoặc đêm hôm, hi sinh cả giấc ngủ, bữa ăn, dù chính mình trong người không được khỏe.
Trách nhiệm khi giải thích cho bệnh nhân , sao cho cặn kẻ, rành mạch, để họ đừng hiểu lầm.
Trách nhiệm khi biên toa, biên cho rõ ràng để người dược sĩ có thể đọc được, nhất là để cho bệnh nhân đừng uống quá liều. Tôi nhớ có lần kê cho một bệnh nhân mỗi ngày uống 6 viên thuốc, và ghi rõ trong toa cách 4 giờ uống một viên. Thế mà thân chủ của tôi đã uống ngay một lúc 6 viên, nhưng may không việc gì. Căn dặn cẩn thận trên giấy tờ mà còn thế, huống hồ là không căn dặn, hoặc viết thoắng không ai đọc nổi.
Người ta thường than phiền về chữ bác sĩ khó đọc, tôi xác nhận điều đó , và cho rằng người thày thuốc nào, khi cho toa mà không biên rõ ràng, không dặn kỹ cách thức dùng thuốc- nhất là loại thuốc độc- nếu lỡ xảy ra tai nạn, thì người thày thuốc đó có lỗi.
Trách nhiệm khi khuyên bệnh nhân nghỉ ngơi, giải trí,hoặc đổi gió , đổi nghề.
Trách nhiệm khi cấp y chứng thư: phải cân nhắc từng chữ , từng câu. Một vài bác sĩ thiếu lương tâm chức nghiệp, đã bị hội đồng quốc gia Y sĩ đoàn khiển trách vì đã cấp y chứng thư mà không hề khám đương sự (như y chứng thư để lấy bằng lái xe tự động-giấy khám sức khỏe) hoặc bị truy tố trước pháp luật vì không thận trọng (cấp giấy cho phép dùng độc dược, ma túy…)
Lại còn trách nhiệm khi hành động nữa. Ngày xưa muốn định bệnh, người bác sĩ chỉ cần hai bàn tay và khối óc, nhưng ngày nay ,bởi có những tiến bộ của khoa học nên có nhiều phương pháp khám nghiệm rất chính xác, nhiều kỹ thuật cực kỳ tinh xảo, với biết bao máy móc phức tạp mà người bác sĩ không thể nào không biết được, và nếu quên không áp dụng kịp thời một phương pháp cần thiết để định bệnh rồi chữa cho thật sớm, tức là phạm lỗi vậy.
Nhưng cũng như thuốc men, không một phương pháp nào là không nguy hiểm đến tính mạng như: nhiếp ảnh động mạch, thông tim, thông ống dẫn tiểu…vv.Ngay đến chích thuốc gì vào tĩnh mạch, cũng có thể làm cho tim ngừng đập.
Ở trong bệnh viện người bác sĩ cũng có bổn phận dạy y tá không những về mặt kỹ thuật mà cón huấn luyện họ trên phương diện luân lý và đạo đức nữa.
Ngần ấy thí dụ cũng đủ cho ta thấy trách nhiệm của người thày thuốc sống ở vào thời đại này nặng nề là dường nào.
Có người sẽ bảo: nếu biết có thể nguy hiểm đến tính mạng, tốt hơn hết là đừng làm gì cả, nhưng “Nếu ai ai cũng nghĩ như vậy thì y học sẽ thụt lùi 50 năm, và hàng trăm thứ bệnh, ngày nay đáng lẽ có thể chữa khỏi, sẽ trở thành những bệnh nan y” (Hamburger)
Thành thử người bác sĩ không những phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm mà còn phải chịu trách nhiệm về những gì mình không làm nữa.
Vẫn hay rằng người bác sĩ không thể chữa được mọi bệnh, hoặc tự mình làm lấy được tất cả các công việc, nhũng họ phải làm những gì cần thiết để tìm cho ra bệnh và đẻ chữa.Và muốn tránh được phần nào những tai nạn bất ngờ, người bác sĩ, như trên vừa nói cần phải cân nhắc, đắn đo mỗi khi cho toa, và nhất là vì có những tiến bộ quá mau của y học nên người bác sĩ phải theo dõi những tiến triển của y học, phải có đủ khả năng chuyên môn để chữa bệnh, và sau hết phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình. Đây là một khía cạnh mới mẻ về trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi hiện tại.
Thật vậy! Cách đây mới khoảng 30 năm , những phương pháp thám chẩn và trị liệu rất thô sơ và ít ỏi, có thể đếm trên đầu ngón tay được và người thày thuốc chỉ cần chịu khó một chút là có thể hiểu biết hết.
Tôi nhớ hồi còn là sinh viên , được đọc cuốn sách của Ch.Fiessinger nhan đề: Trị bệnh bằng 20 thứ thuốc (La therapeutique en 20 medicaments) nhưng từ một phần tư thế kỷ nay, không có năm nào , tháng nào, có khi tuần lễ nào là không thấy xuất hiện một phương pháp định bệnh mới, hoặc một thứ thuốc mới để chữa bệnh. Ngày nay không một người bác sĩ nào có thể nhớ xuể tên các dược phẩm mà hàng ngày các cô trình dược viên đem chào tại phòng mạch, hoặc có thì giờ đọc những quảng cáo thuốc mới sản xuất. Còn nói về những bài báo mỗi tuần đăng trên các tạp chí y học đứng đắn, và những bản trần tình có giá trị do các danh sư viết rồi gửi tới các hội y học, nhiều đến nỗi giá để cả một ngày ngồi đọc nhan đề không thôi, cũng tài nào đọc hết.
Nói về sách y khoa, thời xưa , nghĩa là các đây mới vài chục năm, một cuốn sách có thể dùng được trong một thời gian tương đối khá lâu (năm mười năm là ít) nhưng ngày nay, sách đã đắt thì chớ, nhiều khi chưa đọc hết mà chỉ trong vòng 6 tháng, sách đó đã thành cổ rồi.
Bởi thế người bác sĩ suốt đời phải là một sinh viên hăng say học hỏi, và chính để bổ khuyết những thiếu sót của người bác sĩ nên ngày nay, tại các quốc gia tân tiến, y giới đã tổ chức cho bác sĩ học những lớp gọi là hậu đại học (enseignement post-universitaire) để họ biết những tiến triển của y khoa , dồng thời để đào tạo một số bác sỉ chuyên khoa , không ngoài mục đích phục vụ quần chúng, đem lại cho người ốm một bảo đảm.
Ngày nay , làm thuốc mà chỉ có lương tâm thôi chưa đủ. Có lương tâm mà không có học cũng vô ích. Có lòng nhân đạo, vị tha , bác ái, mà không có đủ khả năng chữa bệnh, cái đó rất nguy hiểm, nhất là khi gặp bệnh nặng. bởi vậy “ Bổn phận đầu tiên của người bác sĩ trong thời buổi này là phải có học thức vững chắc, phải luôn luôn đổi mới” (Jean Bernard). “Giá trị luân lý và đạo đức, theo lời giáo sư jean Gosset phải đi đôi với giá trị chức nghiệp, dốt nát và lừa bịp đều như nhau cả. Bổn phận của người bác sĩ là phải biết đến nơi đến chốn và phải khéo léo về mặt kỹ thuật.”
Vẫn hay rằng bể học mênh mông , không một ai dám tự hào là biết hết, nhưng không biết mà không nhận thấy là mình không biết, đó là điều không thể tha thứ được. Rât tiếc là từ thời Hippocrate tới nay, không có một quy luật nào ghép sự dốt nát của người thày thuốc vào một trong những tội lỗi nặng.
Ngoài những trách nhiệm nói trên ra, người bác sĩ còn phải chịu trách nhiệm khi xét đoán nữa.
Đã là thày thuốc, không ai là không mong cho bệnh nhân của mình chóng khỏi, không ai là không muốn dùng những thứ thuốc mới nhất, để được tiếng là thày thuốc giỏi, nhưng nếu những thứ thuốc kia mới chỉ được báo chí ca tụng (dù là báo y học) mà chưa được các danh sư đứng đắn thí nghiệm và công nhận là không nguy hiểm, lại hiệu nghiệm, thì người bác sĩ phải thận trọng, đắn đo, cân nhắc, không được nhắm mắt cho bệnh nhân dùng, hoặc chiều theo thị hiếu của gia đình họ, để khỏi tiền mất tật mang, và có khi làm cho bệnh nặng thêm lên.
Chúng ta hiện đang sống trong một kỹ nguyên mà kỹ thuật và tốc lực là 2 thiên thần mới nên người thày thuốc khi chữa bệnh thường gặp trở ngại này: dùng thuốc men quá hấp tấp, bừa bãi, có khi táo bạo, những thuốc đó phần lớn chưa được nghiên cứu kỹ càng trên căn bản khoa học, có khi chưa đem ra thí nghiệm (cho súc vật) và vì vậy rất nguy hiểm, dễ gây ra tai nạn .
Vậy bổn phận của người bác sĩ là phãi điều tra kỹ lưỡng để hiểu rõ dược tính của những thứ thuốc mà mình kê cho thân chủ mình, nhất là phải có óc phê bình, phải chọn lọc ,xét đoán.
********
Trên đây là những trách nhiệm cá nhân mà hàng ngày người y sĩ phải lảnh trong khi hành nghề. Tuy nhiên, không phải chỉ có trách nhiệm cá nhân mà thôi. Ở thời đại này , không riêng gì trên lãnh vực y khoa mà trong mọi hoạt động , muốn đạt được kết quả mỹ mãn, cần phải có sự tham gia , đóng góp của nhiều người, tức là phải có một ê kíp để làm việc.
Nói cho đúng ra, đây không phải là vấn đề mới mẻ. Hãy lấy thì dụ một bác sĩ làm việc trong bệnh viện: tuy rằng dưới quyền chỉ huy cũa ông có một số giảng sư, phụ tá, sinh viên nội và ngoại trú, có sự phân công rất rõ rệt, nhưng lỡ khi có tai nạn ( do một sinh viên nội trú gây ra chẳng hạn) thì người bác sĩ trưởng phòng phải chịu trách nhiệm, không những trước lương tâm của mình mà còn trước pháp luật nữa.
Nhưng hồi xưa, người ta nhận thấy trong ê kíp làm việc đó có tôn ti trật tự, và người cầm đầu ê kíp có đủ khả năng chuyên môn, có thể kiểm soát được tất cả công việc của cộng sự viên của mình, vì trước khi lên tới bậc thày người bác sĩ đó đã tốn biết bao công phu học tập rồi. Nhưng ngày nay công việc của một ê kíp trong một phòng giải phẫu chằng hạn thật vô cùng phức tạp. Chung quanh vị bác sĩ trưởng có một số rất đông chuyên viên, nào người chuyên đánh thuốc mê, nào người chuyên về hồi sinh, về sinh vật học, hóa học, bệnh lý cơ thể, tim, quang tuyến..vv Không một người nào kể trên là không cần thiết. Người cầm đầu ê kíp đó không thể nào làm lấy một mình được, không tài nào kiểm soát được công việc của từng người một, mà chỉ biết những nguyên tắc đại cương của mỗi ngành thôi. Thành thử trách nhiệm của người chỉ huy đó phức tạp vô cùng. Vẫn hay rằng trước khi quyết định đã có sự thảo luận kỹ càng giữa ông ta và các cộng sự viên rồi, nhưng dù sao, quyết định tối hậu bao giờ cũng là công việc của một người thôi. Như vậy đủ rõ trách nhiệm của người thày thuốc cầm đầu một ê kíp nặng nề là dường nào.

TRÁCH NHIỆM TẬP THỂ

Khi nói tới trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi này, không thể không đề cập đến vai trò quan trọng của y học xã hội, đã có từ 30 năm nay, nhất là ảnh hưởng của ngành đó tới nền kinh tế quốc dân.
Người bác sĩ thường phân vân khi phải dung hòa quyền lợi cá nhân của thân chủ mình và quyền lơi chung của xã hội. Tỉ dụ: một người vừa khỏi bệnh và cần nghỉ ngơi trong một thời gian để dưỡng sức, nếu người bác sĩ điều trị quá dễ dãi, cho họ nghỉ nhiều tất sẽ thiệt hại cho năng suất cũng như tài chánh của quốc gia. Tại một vài nước, cơ quan An ninh xã hội đã ngiên cứu biện pháp trừng phạt những bác sĩ thuộc vào loại vô trách nhiệm trên.

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

Ngoài trách nhiệm tinh thần, cá nhân và tập thể ra , người bác sĩ còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nữa.
Có trách nhiệm trước lương tâm thôi chưa đủ, pháp luật cần phải bệnh vực quyền lợi của người bệnh , cần đem lại một phần nào cho họ một đảm bảo, ngăn ngừa những hành động cẩu thả, sơ xuất của người bác sĩ nữa. Tuy nhiên hai loại trách nhiệm: tinh thần và pháp lý không giống nhau hẳn.
Trách nhiệm tinh thần như vừa kể trên, hàng ngày , trong khi hành nghề, người thày thuốc luôn phải gánh vác. Trái lại pháp luật chỉ can thiệp khi nào, đối với đệ tam nhân, người bác sĩ phạm lỗi thôi. Nói cho đúng ra , nhiều khi chính vì sợ bị truy tố trước pháp luật mà người bác sĩ phải thận trọng, không được dùng thuốc quá liều, không được bó bột quá chặt, đừng để quên chiếc gạc hoặc kìm, cặp, khi giải phẫu một bệnh nhân v.v… Nhưng nếu lúc nào người thày thuốc, trong khi chữa bệnh, nhất là bệnh nặng, mà tâm trí cứ mãi nghĩ đi nơi khác, lo sợ bị tù tội, phải bồi thường, họ sẽ không dám có sáng kiến nữa, họ không dám thử một phương pháp trị liệu mới trong khi thâm tâm họ, họ biết có thể làm hơn được để cho bệnh nhân mau khỏi. Trái lại nếu họ làm liều, họ có thể bị phạt vạ, vì đối với pháp luật “rủi ro bi coi như khinh tội” (Jean Guitton)
Có một số luật gia đã thông cảm những nỗi khó khăn trên của người thày thuốc và cho phép họ săn sóc bệnh nhân theo những dữ kiện đã thâu lượm được của khoa học (données acquies de la science). Những thế nào là dữ kiện đã thâu lượm được ?
Không nói ai cũng rõ ngày nay y học đã tiến rất xa , và sở dĩ tiến được là nhờ có những bác sĩ đã không theo lề lối cũ , đã dám tiên phong, áp dụng những phương pháp táo bạo mới , nghĩa là không dựa vào những dữ kiện cổ điển. Tỉ dụ: người bác sĩ đầu tiên, khi đóng chiếc đinh đầu tiên lên một chiếc xương gãy, hoặc mổ tim, ghép thận…. họ đâu có dựa vào dữ kiện đã thâu lượm nào ?
Bởi vậy, nhà làm luật đã thay thế câu: dữ kiện đã thâu lượm được bằng câu: dữ kiện hiện hữu của khoa học (donnees actuelles de la science) mập mờ hơn. Tuy nhiên công thức này cũng không làm cho y giới thỏa mản, nên một đề nghị khác –mềm dẻo hơn- đã được đưa ra: người bác sĩ tùy theo từng trường hợp, phải cố gắng hết sức mình săn sóc bệnh nhân.
Ngoài ra để trút bớt trách nhiệm của người bác sĩ , luật pháp khuyên họ nên hỏi ý kiến bệnh nhân (hay gia đình) có khi bắt họ làm cam kết sẽ không khiếu nại hoặc đòi tiền bồi thường nếu lỡ ra, sau khi giải phẫu hoặc dùng một thứ thuốc mới, bệnh nhân có mệnh hệ nào. Nhưng thử hỏi một người không hề có một kiến thức nào về y học, làm sao có thể ví với một người đã từng học thuốc lâu năm lại có nhiều kinh nghiệm , và trút trách nhiệm kiểu đó cho họ là giả dối.
Thành thử người bác sĩ không thể rũ trách nhiệm cho những người không phải là thày thuốc mà phải có can đảm, có khi khổ tâm nhận lãnh TRÁCH NHIỆM về phần mình, phải cố gắng chữa như khi chữa người thân yêu của mình.
Tóm lại; PHẢI COI TRÁCH NHIỆM TINH THẦN NĂNG HƠN TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ.

TINH THẦN TRÁCH NHIỆM

Bởi có những trách nhiệm quá nặng nề như vậy nên người bác sĩ, xứng với danh từ đó, cần được chuẩn bị để lãnh lấy. Không những không sợ, không những không trốn tránh mà còn vui lòng nhận lảnh trách nhiệm của mình, dù biết trước mình sẽ lo âu, phải hi sinh bữa ăn giấc ngủ , và có khi bị tù tội nữa.
Nhưng chính những giờ phút nguy hiểm lại là những giờ phút sung sướng nhất trong đời người thày thuốc (như khi đẻ khó mà cứu được mẹ tròn con vuông).
“Chính nhờ có trách nhiệm mà y học được coi như một nghề cao quý nhất “ (Duhamel). Nhưng tinh thần trách nhiệm không phải người nào cũng sẵn có dễ dàng. Đối với người bác sĩ, tinh thần đó được rèn rèn luyện, hun đúc từ lâu, khi còn là sinh viên y khoa, nhờ được thực tập trong 6, 7 năm liền trong bệnh viện, nhờ sống trong một bầu không khí không sao quên được, vì hàng ngày tiếp xúc với cái đau , cái buồn và …cái chết.
Chính trong thời gian làm nội trú, hoăc trong những đêm trục, gặp khó khăn, hoặc đứng trước một tai nạn bất thình lình xảy ra, mình không trông cậy được vào ai hết, phải tự mình xoay sở lấy, phải có một quyết định gấp, một hành động kịp thời, chính trong những giờ phút đó, người sinh viên mới ý thức được rõ rệt những trách nhiệm của một nghề đầy nguy hiểm, nhiều lụy hơn vinh. Bởi sau mỗi quyết định, mỗi cử chỉ kia, có một tính mạng- tính mạng của một con người- đang bị đe dọa.
Thật không gì vất vả bằng nghề thuốc, nhưng cũng không có sự huấn luyện nào cao đẹp bằng, cao đẹp ở chỗ người bác sĩ luôn luôn tôn trọng và bảo vệ sự sống còn của con người, không phân biệt giai cấp tôn giáo, chủng tộc,v.v… và đối với họ , chỉ có trách nhiệm trước lương tâm mới đáng kể thôi.
Vẫn hay rằng ở vào thời buổi này, ở trong nhiều giới, có những người trốn trách nhiệm, hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm, từ việc làm đến lời nói, có khi không hiểu trách nhiệm là gì cả, nhưng riêng đối với người bác sĩ , việc lảnh trách nhiệm là một lẽ sống của họ, và nếu không có gian nguy, nếu không có trách nhiệm tinh thần cá nhân thì không thể nào có y học được.

KẾT LUẬN

Ngày nay người bác sĩ phải là người có học thức căn bản vững chắc, hiểu rộng, biết nhiều. Khoa học càng tiến bộ, người bác sĩ càng phải được huấn luyện kỹ càng chu đáo.
Không những phải có kiến thức về khoa học, có nhiều kinh nghiệm mà phải là người có văn hóa để biết xét đoán, phê bình , bởi trong y học, không có bệnh mà chỉ có con bệnh, không bệnh nhân nào giống bệnh nhân nào cả.
Ngoài ra, người bác sĩ cũng phải là người có nhân phẩm, đạo đức, có thế mới làm trọn nhiệm vụ cao cả của mình là phục vụ đồng bào, bảo vệ sức khỏe và sinh mạng của quần chúng.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân

Năm này, Dương Cẩm Chương 102 tuổi!

02/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Năm này, Dương Cẩm Chương 102 tuổi!
Đỗ Hồng Ngọc

BS Dương Cẩm Chương chuẩn bị cắt bánh sinh nhật (19/12/2011)


Năm 2012 này, bác sĩ – họa sĩ Dương Cẩm Chương vừa lên… 102 tuổi! Nếu tính tuổi Tây thì ông cũng chỉ mới 101 thôi, còn tuổi Ta thì ông được 102. Tôi nghĩ với ông, nên tính tuổi ta bởi ông thường nói chín tháng mười ngày ở trong bụng mẹ mới là thời kỳ quan trọng nhất của con người. Thật khó tưởng tượng nổi một ông cụ 102 tuổi luôn sảng khoái, cười ha hả, đối đáp linh hoạt như một người tuổi trung niên! Thế mà chỉ trước đó ít lâu ông đã lên một cơn “rối loạn tri giác” nặng, hoàn toàn mất trí nhớ, rơi vào hôn mê sâu, bệnh viện phải cho xuất viện về lo hậu sự. Về đến nhà ông nằm mê man suốt hai tháng trời như thế rồi bỗng nhiên tỉnh lại, quát mọi người sao bày đặt tụng kinh om sòm bộ muốn cho ông chết sớm hả. Quả thật suốt hai tháng mê man đó ông đã phiêu diêu nơi miền … cực lạc, chỉ tiếc ông chẳng còn nhớ gì để kể lại cho chúng ta nghe.

Cách đây vài tuần, ông phone gọi tôi nhắc sắp sinh nhật ông, nhớ đến và phát biểu đôi câu đấy nhé! Tôi nhớ năm ngoái đến dự sinh nhật ông đã hỏi ông cảm thấy thế nào về ngày mừng đại thọ trăm tuổi này, ông cười “thấy già thêm chút nữa”! Năm nay tôi “tranh thủ” thăm ông sớm chớ đợi tới ngày sinh nhật thì đông đúc quá!
Vừa thấy tôi, ông đã từ trên giường lồm cồm ngồi dậy, hất tay người cháu đang định đỡ lưng mình, và “tấn công” ngay:
– Cuốn sách mới của anh có bài viết về tôi mà tôi chưa được đó nhé!
– Dạ, có phải chú muốn nói cuốn Nhớ đến một người không?
– Đúng rồi. Nhưng không sao! Tôi cũng đã có rồi. Một đứa cháu đã mua tặng cho. Anh viết về mọi người mà chẳng “kết luận” cái gì cả! Như ông Trần Văn Khê, anh viết về nhiều thời kỳ của ông mà cũng chẳng có kết luận nào cả? Vì thế mà trong giấy mời anh, tôi gởi theo mấy bức thư…
Thì ra vậy. Tôi đã hơi ngạc nhiên sao trong giấy mời của ông, tôi thấy có kèm thư của Ni sư Trí Hải, GS Trần Văn Khê và ông Cao Bá Ninh… . Thì ra ai nấy viết cho ông đều có “kết luận” rất rõ ràng.
Giáo sư Tần Văn Khê viết:
Thưa Dương Cẩm Chương đại huynh,
Kính nể đại huynh, một nghệ sĩ trong y khoa
Ngưỡng mộ đại huynh trong nghệ thuật hội họa
Khâm phục đại huynh, một nghệ sĩ trong nghệ thuật sống.
(02/01/2006)

Ni sư Trí Hải thì viết:
(…) các nhà báo nói Bác trông như một bá tước, họ nói cũng đúng, nhưng tôi thấy Bác như một nghệ sĩ và một thiền sư, ở tính bình dị hồn nhiên của Bác. Nhờ vậy mà Bác giữ mãi được sức khỏe và tâm hồn trẻ trung (Tuê uyển, 12.10.2000).

Còn ông Cao Bá Ninh viết trong một email gần đây:
Thư gởi một người thật quen
Mercredi 6 avril 2011 18h47
(…) Ông đã vẽ cho đời để đời đẹp hơn. Để có được đời sống vui và thoải mái, tôi rất thích lối sống, cách sống và thái độ thật rõ với ĐỜI của ông…(…).

– Thưa, ông Cao Bá Ninh này chắc cũng lớn tuổi rồi hả chú?
– Đâu! Hãy còn trẻ! Nhỏ hơn tôi đến 8, 9 tuổi! (nghĩa là cũng đã ngoài 90 rồi!). Ông đang ở Chicago.
Tôi tìm cách chuyển đề tài:
– Chú thấy… sống lâu có gì hay hông chú?
– Có chứ. Mình được thấy…
– Thấy cái gì?
Ông ngần ngừ: Thấy nhiều thế hệ…
– Còn cái chết?
– Chết là một giải thoát…
– Sau cái chết là gì?
– Không biết ! Chỉ nhớ một câu hình như của Lão Tử: sống sao cho khi sinh ra mình khóc thì mọi người cười, còn khi chết thì mọi người khóc mà mình cười…
– Mình biết gì đâu mà cười hở chú?
Ông làm thinh. Rồi thủng thẳng:
– Nghĩa là mình đã sống một đời sống trọn vẹn, hữu ích. Thời kỳ nằm trong bụng mẹ rất quan trọng…
– Còn trước hồi nằm trong bụng mẹ ?
– Không biết !
– Làm thế nào để có cuộc sống vui khỏe và… trường thọ như chú ?
– Cần 3 điều: Sức khỏe là một, việc làm là hai và tình yêu là ba.
Rồi ông nhìn tôi: Đây là thứ tình yêu rộng lớn… Nhưng mỗi ngày phải nhớ sám hối đó nhé! Cuộc đời nhiều vui khổ…
– Chú tập luyện, ăn ngủ thế nào ?
– Mỗi ngày tập thể dục đều 20 phút, ăn uống vừa đủ, ngủ nhiều.
– Chú còn vẽ không ?
– Hết vẽ được. Mấy ngón tay này…
Rồi ông đưa mấy ngón tay cho tôi coi…
…………………
Trong buổi họp mặt mừng Sinh nhật ông ở Chez Nous, tôi nói, khi tôi sinh ra thì ông đã là bác sĩ, khi tôi là bác sĩ thì ông đã về hưu… Sau này người ta có thể quên đi một Dương Cẩm Chương bác sĩ nhưng người ta sẽ còn nhớ Dương Cẩm Chương họa sĩ… Ông đã sống một đời sống tròn đầy, lao động và sáng tạo, đem lại niềm vui cho mình, cho đời. Ông sống hồn nhiên và hạnh phúc. Tôi vẫn luôn coi ông là « đại sư phụ » của mình…

……………………………..
Đọc thêm trên www.dohongngoc.com/web/
“Ke lu hanh khong met moi cua duong dai”

Nhà yêu nước Dương Bá Trạc là thân phụ của BS Dương Cẩm Chương

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang

01/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

“Thơm bàn tay nhỏ”…

Đỗ Hồng Ngọc
Không biết sao mỗi lần ra Hà Nội tôi đều muốn đi lang thang ngoài đường phố quanh Hồ Gươm và thực sự mừng rỡ khi nhìn thấy một gánh hàng rong có món cốm vòng xanh thơm ủ kín trên cánh lá sen với mấy quả chuối tiêu vàng rượm… Tất cả như gắn với một dĩ vãng mơ hồ nào đó trong ký ức của một người chỉ biết Hà Nội qua những trang sách cũ. Cái mùi hồ gươm, mùi trời thu, mùi cốm vòng… như quyện lấy nhau khiến cho người xa lạ là tôi bỗng quen thân đến sửng sờ.
Hình như cốm vòng chỉ thực sự là vòng khi nó nằm nhẹ tênh trên chiếc mẹt, trên quang gánh. Nó không còn là cốm vòng nữa khi nó được đóng gói, bao bì công nghiệp, ghi ngày sản xuất, hạn sử dụng đâu đó đàng hoàng… Chấm miếng chuối tiêu lên nắm cốm vòng có mùi sen tỏa nhẹ, rụng rơi lả tả những hạt ngọc xanh thơm cho bầy chím ríu rít… giữa Hồ Gươm chẳng khoái lắm ru?

Ăn hàng rong, thực ra, không phải ăn hàng mà là ăn rong. Cho nên tôi nghĩ dẫu thế nào đi nữa thì hàng rong vẫn sẽ cứ còn mãi, vẫn “cốm sữa vỉa hè thơm bước chân qua…” (TCS)!
Ở Saigon phồn hoa đô hội này cũng vậy. Sáng sáng, cứ đến một góc đường, mua một gói xôi đậu phọng, đậu xanh núp quen thuộc. Khi kêu không lấy dừa nạo, không lấy đường cát thì bà bán xôi lập tức xúc thêm một muỗng xôi đầy để bù ngay cho, với một nụ cười cảm thông… cùng người kiêng đường kiêng béo! Bà đã nuôi hai đứa con vào đại học chỉ nhờ cái thúng xôi núp bên hè phố đó hàng chục năm qua rồi!
Chắc không ai đếm xuể Saigon HàNội và các thành phố lớn nhỏ trong cả nước có bao nhiêu gánh hàng rong, bao nhiêu người sống nhờ hàng rong… Gần đây người nhập cư ngày càng đông, hàng rong không chỉ là thức ăn mà cả cây cảnh, hoa trái các loại… trở nên nhộn nhịp nhếch nhác hơn bao giờ hết, kém hẳn vẻ mỹ quan đô thị!
Tuy vậy, hàng rong vẫn tồn tại vì bao giờ cũng… rẻ, cũng ngon, giá nào cũng có, hợp với túi tiền của mọi người. Nó lại sà đến bên mình, lại đon đả mời mọc, cung cấp một dịch vụ thân thiện, gần gũi, giá rẻ, chiều khách hết lòng… Sợ rằng các nhà kinh doanh tầm cỡ khó mà nghĩ ra cách nào tiếp cận hay hơn! Với hàng rong, người ta được mời chào, được chọn lựa, được thương thảo… thỏa thích, luôn có sự tương tác người bán người mua. Khác xa với cảnh lạnh lùng đăm chiêu láo liêng cảnh giác lúc đẩy xe giữa các hành lang hun hút của siêu thị, để rồi khi sắp hàng trả tiền thì đối diện với vẻ lạnh nhạt, mệt mỏi, cau có của nhân viên đồng phục… không kể ánh mắt lườm lườm ngờ vực của những tay bảo vệ đằng đằng và những camera đặt khắp nơi quan sát từng cử chỉ…
Ngày xưa khi Saigon còn vắng, trưa nào cũng nghe tiếng rao lãnh lót ai bột khoai nước dừa bún tàu đường cát … hôn? Phải nói nghe riết thành ghiền. Trưa nào không nghe cũng cảm thấy bứt rứt không biết hôm nay chị bán chè tàu thưng đó có đau ốm gì chăng? Cũng có người nhờ nghe tiếng rao đó mà đi học kịp lúc! Bây giờ ít còn nghe tiếng rao nào như vậy mà thay vào đó là tiếng rè rè hết pin bánh mì saigon đặc biệt thơm ngon một ngàn một ổ hoặc keo dính chuột… Tiếng rao cũng đã công nghiệp hóa mất rồi!
Người ta đã bàn nhiều cách để dẹp hàng rong. Dẹp không được. Người ta đã bàn nhiều cách để gom hàng rong. Gom không được. Chẳng lẽ ở Bàn Cờ cần mua cục xôi mà phải chạy lên tận Văn Thánh? Cũng đã có người có sáng kiến hay, gom một số hàng rong vào trong một cái quán, bày biện trang hoàng bắt mắt, nhưng giá đắt, chờ lâu và lại xuất hiện cửa quyền… Hàng rong ở đó cũng chỉ là hàng mà hết rong!
Mục đích của việc muốn “quản lý” hàng rong là vấn đề mỹ quan đô thị và an toàn vệ sinh thực phẩm. Quả thật hàng rong ngày càng nhếch nhác trong một đô thị ngày càng chật chội. Hàng rong la liệt trước cổng trường, cơ quan, xí nghiệp… thường không đảm bảo vệ sinh. Làm cách nào đây? Cũng đã thử mở vài lớp tập huấn về an toàn vệ sinh thực phẩm. Chẳng mấy người học. Cho kiểm tra tận nhà? Người đâu cho xuể? Kêu gọi tự giác? Còn lâu!
Vậy làm sao? Chỉ còn có cách chính người mua chủ động “đòi hỏi” ở người bán, buộc họ phải “thay đổi hành vi”. Khách hàng là “Thượng đế” mà! Một khi thượng đế đòi người bán phải mang găng tay, phải che khẩu trang, phải vệ sinh các vật dụng mới chịu mua thì… người bán đành chiều, nếu không muốn bị ế! Phụ huynh chỉ mua cho con em mình những món ăn hợp vệ sinh, người bán biết giữ vệ sinh. Chỉ cần “Ăn chín uống sôi” là đủ để phòng ngừa nhiều dịch bệnh, kể cả dịch tả. Dần dần các hàng rong nào không quan tâm “an toàn vệ sinh thực phẩm” sẽ bị ế dài dài và buộc phải thay đổi để tồn tại. Chỗ nào ngon, rẻ, tử tế và vệ sinh sẽ tự nhiên đông khách.
Ý thức an toàn vệ sinh thực phẩm hiện nay có vẻ đã dần khá lên. Bắt đầu thấy người bán hàng rong có đậy đệm, có mang găng, có muỗng vá múc riêng… khác với ngày xưa vừa bốc thức ăn vừa quẹt quẹt vào áo vừa thối tiền…
Lại nhớ “Mùa cốm xanh về/ thơm bàn tay nhỏ/ cốm sữa vỉa hè/ thơm bước chân qua…”.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

“NNN”

23/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Từ trái sang: DS Hồ thị Tường Vân, GS Trần Văn Khê, Lâm Duy Anh Kiệt, Đỗ Hồng Ngọc


Một hôm tôi nhận được một cú phone mời đi ăn trưa cùng với Chú Trần Văn Khê và Cô Tường Vân. Tưởng ai, hóa ra là Lâm Duy Anh Kiệt, con thầy Lâm Tô Bông và cô Hồ thị Tiểu Sính, cô giáo tiểu học của tôi hồi nhỏ ở Phan Thiết. Cô Tiểu Sính không chỉ là cô giáo , cô còn là một người ơn của tôi vì đã cho tôi học miễn phí ở ngôi trường Tiểu học của cô thời đó bên bờ sông Cà Ty (Mường Mán). Cô là con của Cụ Hồ Tá Bang, nhà ở kế bên trường Dục Thanh bây giờ. Khi tôi vào đệ thất Phan Bội Châu (1954) thì Anh Kiệt mới sinh nên tôi không được biết em. Thế nhưng, nghe em nhắc đến mẹ là Cô Tiểu Sính thì tôi đã vô cùng cảm động, nhớ buổi mai hôm đó, cậu Ngu Í của tôi đã dẫn tôi từ chùa HN đến gởi gấm cho cô- bạn thân của cậu- để tôi được đi học như bao trẻ em khác. Anh Kiệt đi Pháp từ nhỏ, rồi sang Canada, bây giờ ở Hồng Kông. Thỉnh thoảng em về thăm người dì ruột là Dì Sáu, dược sĩ Hồ thị Tường Vân và người bạn của mẹ là GS Trần Văn Khê.

Trong buổi ăn trưa bên bờ sông Saigon hôm đó, Kiệt kể một câu chuyện thú vị: em thường thấy mẹ đeo một tấm “lắc” có khắc 3 chữ “NNN” trên cổ tay mà không hiểu ý nghĩa. Người lạ thì tưởng là tên họ gì đó của mẹ. Sau này thì Kiệt đã hiểu rõ: Thì ra “dân” Phan Thiết không biết sao thường hay “ăn to nói lớn” nên khi cô Tiểu Sính sang sống ở Pháp, cái tật “nói lớn” đó không bỏ được. Thầy Lâm Tô Bông bèn làm cho cô một tấm “lắc” bằng vàng tây, khắc ba chữ NNN để nhắc nhở cô: “Nói Nho Nhỏ”! Khi cô mất, không biết các con cô có còn ai giữ để kỷ niệm không. Quả thật chỉ có thầy Lâm Tô Bông, vốn là trưởng hướng đạo mới nghĩ ra cách nhắc nhở vợ mình thú vị như thế, và chỉ có cô Tiểu Sính mới chịu mang cái tấm lắc với 3 chữ “NNN” như thế. Tôi nói với Kiệt, có lẽ dân Phan Thiết mình từ xưa sở dĩ thường nói lớn tiếng thành thói quen là do sống ở vùng biển, quen nói giữa “sóng to gió lớn” đó thôi. Thế nên nhiều khi nghe người ta nói chuyện tưởng như gây gổ mà thật ra là rất bình thường. Hôm nào về Phan Thiết để ý thử xem nhé.
Tôi cũng Phan Thiết nên có khi phải cần nhắc mình với 3 chữ “NNN” như vậy!

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi các bác sĩ trẻ

15/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 17 Bình luận

Vài dòng gởi đến các bác sĩ trẻ khóa 2005-2011,

Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM.

Ngày 9/12/2011 vừa qua, thầy biết các em đã trải qua biết bao cảm xúc, biết bao lo lắng và hy vọng trong buổi Lễ Tốt nghiệp truyền thống được tổ chức trang trọng hằng năm dưới mái trường này. Thầy rất tiếc đã bận việc không đến dự được như mọi năm để cùng chia sẻ với các em. Thầy cũng cảm ơn các em về buổi họp mặt thân mật giữa các thầy trò buổi tối đó tại Đông Hồ. Vậy là kể từ hôm nay, các em đã trở thành bác sĩ, người thầy thuốc, đồng nghiệp của các thầy cô, là người mà gia đình và xã hội đang kỳ vọng góp tay góp sức cứu giúp bệnh nhân, nâng cao sức khỏe cộng đồng.


Ra trường, ấy là lúc lòng lâng lâng bao cảm xúc, niềm hãnh diện, mối lo toan, nỗi ngại ngần… Từ nay rời xa mái trường thân yêu, xa thầy xa bạn, dấn bước vào đời với bao nhiêu nhọc nhằn khổ vui thách thức đợi chờ, ở một thời buổi mà ngành y có thể nói đầy sóng gió, “dầu sôi lửa bỏng”, khác xa với thời của thầy, hơn 40 năm về trước. Thầy thấy thương và qúy các em biết bao!

Cho nên dịp này, thầy muốn gởi đến các em một món quà nho nhỏ. Đó là bài nói chuyện của BS Nguyễn Hữu Phiếm, một người đàn anh, một bậc thầy của thầy đã trò chuyện cùng sinh viên y khoa Saigon ngày 29/6/1968. Bài nói chuyện sau đó được in thành sách do Trung tâm Học liệu BGD xuất bản năm 1972. BS Nguyễn Hữu Phiếm sinh năm 1910, là một bác sĩ nổi tiếng ở Saigon trước đây, bạn của nhà văn Nhất Linh (Tự lực văn đoàn), của học giả Nguyễn Hiến Lê… Ông nguyên là giảng viên môn Nghĩa vụ luận y khoa (Déontologie médicale) tại Đại học Y khoa Huế. Ông mất năm 1977 tại Paris. Thầy muốn gởi nguyên văn bài nói chuyện này đến các em dù giọng văn và từ ngữ, nội dung đôi chỗ xưa cũ, nhưng tình người, tính nhân bản của y khoa vẫn dạt dào.

Xin chân thành cảm ơn bác sĩ Lê Ngọc Dũng người đã sưu tầm và phổ biến bài này trên Ykhoanet.com gần đây.

Hy vọng món quà nhỏ này làm các em vui, và học được đôi điều từ người đi trước. Vậy cũng đủ rồi cho truyền thống y khoa chúng ta phải không?

Thân mến,

Thầy Đỗ Hồng Ngọc.
xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Đọc sách

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 90
  • Trang 91
  • Trang 92
  • Trang 93
  • Trang 94
  • Interim pages omitted …
  • Trang 96
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Bv Đại học Y Dược Tp HCM: Bs Đỗ Hồng Ngọc – Thiền và Sức Khỏe.
  • Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ
  • Tâm Nhiên: “DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Sách song ngữ Việt Anh: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HANH PHÚC
  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email