Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

NHỮNG BÀI THUỐC QUÝ

06/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

“Những bài thuốc quý”
Buổi giao lưu tại Hội sách TP.HCM 24.3.2012
Buổi giao lưu chủ đề “Những bài thuốc quý” của hai bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, Đỗ Hồng Ngọc nhân dịp ra mắt tác phẩm Con người trong vòng vây của GS.BS Nguyễn Chấn Hùng sáng 24.3 tại Hội sách TP.HCM đầy kín khán giả, từ những cụ già râu tóc bạc phơ đến các sinh viên trẻ, và rất đông thân hữu trong giới trí thức, doanh nhân, nhà báo…

GS.BS Nguyễn Chấn Hùng mở lời về những suy nghĩ phảng phất trong ông khi viết Con người trong vòng vây: “Từ xưa tới giờ, chúng ta thường tỏ ra bất lực khi đối diện với căn bệnh hiểm nghèo: “Trời kêu ai nấy dạ”, nhưng tôi muốn đưa ra một thông điệp mới: “Trời kêu không dạ”, vì bệnh ấy là tại mình, không phải tại trời! Vòng vây đó không phải của trời, mà của chính con người tạo ra, từ ăn uống, 40% bệnh có thể ngừa được. Vậy làm sao cho nhẹ gánh? Ăn lành – ngủ đủ – tập đều – sống vui là bài thuốc quý trời cho. Không mất tiền mua mà phải biết dùng. Từ ngàn xưa, con người đã biết hoà hợp với trời đất. Hoàng đế nội kinh bàn về dưỡng sinh, nuôi dưỡng cái sống, chú trọng dinh dưỡng tinh thần, ăn uống điều độ, rèn luyện thân thể và ứng hợp môi trường. Trang tử Nam hoa kinh đã thắm đượm cách nuôi sự sống cho mỗi người: “Ngủ không mộng mị, thức chẳng âu lo, ăn không cầu kỳ, hít thở thâm sâu”… Nếu mỗi ngày bạn không ngủ đủ từ bảy đến tám tiếng đồng hồ, đời sống sẽ bị thun lại, óc không nở ra được. Ngủ đủ giúp cho bộ não sắp xếp lại, mềm dẻo hơn, giúp yếu tố tăng trưởng cao. Sống vui giúp bộ não làm việc tích cực, nhạy bén, không sinh ra độc tố. Cười che chở con tim, chống được bao bệnh, mình khoẻ ru thôi…”
BS Đỗ Hồng Ngọc bày tỏ sự thích thú trước tác phẩm mới của GS.BS Nguyễn Chấn Hùng: “Một vị bác sĩ say mê mổ xẻ, say mê khoa học đến giờ lại ngộ ra rằng bác sĩ tốt nhất của mỗi người là chính mình!”. Theo bác sĩ Ngọc, trong các bài thuốc quý thì “thở” là quan trọng nhất. Người ta có thể không ăn 50 ngày vẫn sống được, không uống 5 ngày vẫn có thể sống nhưng không thở 5 phút là chết. Mà thở thì không ai thay mình cả. Không phải vô cớ mà Phật dạy: “Hãy quay về nương tựa chính mình”. Đưa hơi xuống huyệt đan điền thực chất chính là phương pháp thở bụng, thở cơ hoành chứ có gì đâu. Nó giúp mình thảnh thơi đầu óc, không vướng bận. Ngủ cũng là cả một nghệ thuật, phải biết cách ngủ mới thành công. Mình chính là bác sĩ tốt nhất của mình để thay đổi lối sống. Thuốc quý không ở bác sĩ, mà ở mỗi chúng ta.

GS.TS Vũ Đình Huy bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình: “Niềm lạc quan của các bác sĩ đã truyền đến người đọc, bệnh nhân”. Còn đạo diễn Việt Linh thổ lộ: “Sau tai biến mạch máu não, nhiều bạn bè tưởng tôi không qua khỏi. Tôi thực hiện một cách xuất sắc những lời dạy của hai vị bác sĩ, biết buông bỏ những gì làm mình buồn, bắt đầu làm quen với những di chứng của bệnh, và tự tìm ra giải pháp cho mình. Lỗi là do mình đã đối xử quá tệ với bản thân. Xin lỗi bản thân, xin lỗi cơ thể cũng là cách để tôi biết sống có ích, cống hiến cho mọi người nhiều hơn…”.
Sự tung hứng dí dỏm, sâu sắc của hai vị bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng và Đỗ Hồng Ngọc làm không khí oi bức tại hội sách như dịu hẳn. Đã quá trưa, nhưng nhiều người còn vây quanh GS.BS Nguyễn Chấn Hùng với nhiều câu hỏi. Kết thúc buổi giao lưu, ông thổ lộ: “Chúng ta đều trong vòng Trời đất, kính ngưỡng Trời đất, nhưng chúng ta cũng phải biết 85% các loại bệnh không phải tại trời, mà do con người. Loại được những nguyên nhân đó để bệnh không nhập vô mình, thay đổi cách nhìn cũ là điều mà tôi suy nghĩ, để viết Con người trong vòng vây, truyền đạt cho mọi người cùng biết. Viết cho mọi người, văn phong phải giản dị, dễ hiểu, điều này tôi học được từ những người thầy như nhà văn Nguyễn Hiến Lê, nhà văn Sơn Nam, và học được từ bạn tôi, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc”.
Xuất hiện trong buổi giao lưu với tư cách vừa là người bạn thân của BS Chấn Hùng vừa như MC của chương trình, mang đến cho độc giả hai đầu sách mới Thư gửi người bận rộn (tập 2) và Nhớ đến một người, BS Đỗ Hồng Ngọc góp thêm những bài thuốc quý mà ông từng đề cập trong Sức khoẻ gia đình, cuốn sách bán chạy nhất của mình. Ông cho biết thêm: Tổ chức Y tế Thế giới có đưa ra một công thức: SAFE (an toàn), tôi thêm chữ R thành SAFER (an toàn hơn), là chữ viết tắt của các biện pháp: Smoking (không thuốc lá), Alcohol (không rượu), Food (dinh dưỡng đúng), Exercise (rèn luyện thể lực) và Respiration (thở đúng phương pháp). Thực ra nó chính là “giới” và “định” vậy. Giới và định tốt thì sẽ dẫn đến “tuệ”. Nói khác đi, giảm được “tham sân si” ta mới có được thân tâm an lạc. Nếu áp dụng SAFER đúng cách, ta ít cần phải nhờ đến bác sĩ! Cũng đừng quên rằng từ Thế kỷ XVI, Tuệ Tỉnh thiền sư, một danh y ở nước ta đã đúc kết phép Dưỡng sinh bằng 2 câu: Bế tinh dưỡng khí tồn thần/ Thanh tâm quả dục thủ chân luyện hình”.

Hương Xuân

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

Nguyễn Lệ Uyên viết về Đỗ Hồng Ngọc

29/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Nguyễn Lệ Uyên
__________________________________
ĐỖ HỒNG NGỌC
“Văn như thơ, thơ như văn, thơ náu mình trong Thơ”
“Thầy thuốc là để cứu người.
Nhà văn là để cứu đời”
(Nglu)

Với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, gồm nhiều thể loại: Thơ, tuỳ bút, tạp văn, y học và cả Phật học… không biết nên xếp Đỗ Hồng Ngọc vào hàng ghế nào cho thật chuẩn. Nhà thơ, thầy thuốc, nhà nghiên cứu, nhà văn? Đối với ông, vị trí nào cũng chính xác. Bởi những gì ông viết, đã xuất bản và đến tay độc giả đều tròn đầy, khiến họ thích thú đến bất ngờ, vì ngoài cốt cách văn chương, những suy nghĩ của ông về các vấn đề xã hội, đời sống, không xa vời; nó gần gũi, quanh quẩn, ẩn núp đâu đó quanh ta mà ta chưa thể nhìn thấy; chỉ đợi khi ông viết lên, đọc lại, ta mới thấu lẽ, à lên một tiếng, vài ba tiếng, tùy theo tâm trạng mỗi người kèm với không gian, thời gian của người đọc: nó có đấy mà sao ta không thể nhìn thấy, ta không hề nghĩ ra được nhỉ? Những điều bình thường cũ rích, trong đời sống, qua ngòi bút của ông hoá ra quá đỗi mới lạ; nói theo ngôn ngữ Đỗ Hồng Ngọc là ngòi bút ông đã hoá giải, đã khải thị giúp ta từ những cách nhìn, nghĩ một cách hạn hẹp, quanh co cạnh ta thành rộng ra để ta “như thị”?

Từ những bài tuỳ bút cho đến thơ, ông không hề đùa cợt với chữ nghĩa, thổi phồng mọi sự vật… để nhắn gửi cho mọi người, cho mai sau. Ông cẩn thận quan sát những hiện tượng quanh mình, trong chính cuộc đời mình y như người thầy thuốc chẩn đoán căn bệnh cho bệnh nhân. Mà đúng vậy, ngay trong quyển Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (NTBTTTLTHT), La Ngà xuất bản năm 1972, ông đã giải mã những băn khoăn thắc mắc của lứa tuổi dậy thì, nào là phòng ngừa cận, viễn, loạn thị, trĩ, táo bón, đái dầm… bệnh biếng học cho tới những vấn đề tâm sinh lý thầm kín khó chia sẻ với cha mẹ… như thể tất cả những thứ tật bệnh ấy ông đã từng nếm trải, rồi tập hợp lại thành một kinh nghiệm sống cho các cô cậu ở tuổi học trò? Đã đành ông là bác sĩ nhi khoa, nhưng ngôn ngữ diễn đạt không phải là ngôn ngữ của một ông thầy thuốc khám bệnh, kê đơn mà là ngôn ngữ của một chàng nghệ sĩ vừa bóc tách sự thật trần trụi vừa xoa dịu nó bằng một thủ thuật của tiếng gió luồn lách trong những bụi tre buổi xế trưa. Hãy nghe ông viết về bệnh biếng học và cách điều trị: “… nếu có một ngày nào đó, em bỗng nhiên thấy mình làm biếng kinh khủng, không còn muốn ngó ngàng gì đến sách vở, thì em hãy nghĩ ngay đến điều này: phải chăng em chán ngán sách vở, bài học vì đã “ứ” đến tận cổ? Vì trí óc em đã “saturé” không còn có thể nhồi nhét gì thêm… Tình trạng biếng học “cấp tính” này sẽ qua rất mau, với một thứ thuốc rất hiệu nghiệm – không phải là cà phê, trà lipton đâu nhé – mà là vứt sách vở đi, rong chơi ngoài đường một buổi chiều, câu cá cũng được, đá banh càng tốt… Sau đó ngủ một giấc cho đầy. Tỉnh dậy bảo đảm sẽ “ghiền” học trở lại”. (NTBTTTLTHT, trg 213-214, La Ngà, SG 1972).
Cũng trong tập này, ở chương 17, nói về Chiều cao, cân nặng, ông mở đầu còn hơn cả một đoạn thơ xuôi: “Tới một tuổi nào đó, ta quan tâm rất nhiều đến thân thể mình. Ta lắng nghe cơ thể mình phát triển như chú dế mèn lắng nghe tiếng cỏ mọc trong đêm khuya” (Sđd, trg 142). Điều này khiến người đọc không cảm thấy chán ngán, trái lại, tạo sự tò mò, dù tiếp sau đó là những con số thống kê, biểu đồ, toán học! Có đến 8 đầu sách ông viết cho tuổi mới lớn, mà quyển nào cũng bổ ích, cũng thiết thực trong đời sống của “lũ trẻ”.
Tôi đã nhận những quyển sách ông tặng về đề tài này và đọc. Đọc một mạch, đọc với bao điều thích thú và sau đó “té ngửa” ra rằng mình hồi nhỏ cũng có lắm điều sai phạm với chính cơ thể mình! Hèn chi ngay cả học giả Nguyễn Hiến Lê, trong một bài tựa cho quyển NTBTTTLTHT của Đỗ Hồng Ngọc, đã viết: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”.
Với những người bạn nhỏ, ông đã chăm chút như thể chúng là người ruột thịt, còn với người lớn thì sao? Ông cũng sẻ chia, đưa ra một vài nhận xét nho nhỏ nhưng lại chính xác đến từng li mét. Lướt qua những tập Già ơi… Chào bạn, Thư gửi người bận rộn hay Gió heo may đã về… người đọc sẽ thấy được tấm lòng chân thật của ông. Những điều ông viết ra, có thể đúng với người này, hơi đúng đúng với người kia và hơi sai sai với người nọ, vì cảnh sống có khác nhau, ý thích khác nhau, suy nghĩ không mấy giống nhau, nhưng tựu trung vẫn là những gì ta có thể nhìn thấy một chút hình bóng của chính mình ẩn hiện đâu đó trong từng câu, từng đoạn. Ngay từ lời ngỏ trong quyển Gió heo may đã về (nxb Văn Nghệ Tp HCM, SG 1997), ông đã có lời thưa trước: “Vậy, hỡi những người bạn yêu quý của tôi, xin hãy vui với những dòng chữ chân tình này, và nếu có bực mình thì cứ tự nhủ làm gì có, hù dọa đó thôi… còn nếu có bắt gặp hình ảnh chính mình trong những dòng chữ này thì cũng hãy mỉm cười mà thứ lỗi… Vì sáng hôm nay, một chút gió heo may đã về, những chiếc lá vàng đã rơi lác đác trên những con đường thành phố, một mùi gió bấc quen thuộc đã len vào giữa những hàng cây…” (Sđd, trg 7).
Ông viết những gì trong đó đến nỗi khiến ta phải “bực mình” hay “mỉm cười” khi mở từng trang sách? Thưa ngay, ông viết đủ điều, đủ loại, từ tâm lý, tình cảm đến vật chất, sinh lý v.v… nghĩa là những “thứ” nó bắt đầu bám vào cái tuổi không còn “hườm hườm” mà đang trong thời kỳ “gió heo may đã về”, tức thị một phần tư chân ở bên mép “bất hoặc”, còn lại là những dấu hiệu sắp gặp gỡ, chung sống trong “thế giới đại đồng” dưới 3 thước đất! Cái thế giới ấy, nhìn chung rất hiếm người muốn gặp, dẫu là “đại đồng”, nhưng đọc để biết trước vẫn là điều hăm hở, thu hút; cũng chẳng phải vì tò mò mà, hơn hết là để biết đó có phải là sự thật hiển nhiên không. Tuổi “heo may” ấy, khốn nỗi không ai có thể cưỡng chống được. Phải chấp nhận như một qui luật tất yếu. Chúng ta hãy đọc thử một đoạn ngắn, khi ông cảm nhận một cách nhẩn nha mà thấu lý ở tuổi già cận kề: “Tuổi chớm già, ấy là tuổi của chuyển tiếp, của lúng túng, hoang mang, tuổi của những stress, của những lo âu và phiền muộn, của những mối hiểm nguy rình rập về sức khoẻ, về quan hệ gia đình, xã hội… đồng thời tuổi chớm già cũng là tuổi của thành tựu, của thành đạt… Cái người ta dễ thấy nhất là những thay đổi sinh lý: hết khả năng sinh sản, giảm đời sống tình dục. Rồi luyến tiếc dĩ vãng, nhớ cái thuở trẻ trung, cái thời nhan sắc. Một nỗi buồn man mác chợt đến dù không nói ra, dù gắng gượng quên đi…” (Sđd, trg 18).
Bạn không đồng ý với cách nhìn nhận về tuổi chớm già của Đỗ Hồng Ngọc ư? Sai sót chăng? Khiên cưỡng chăng? Trái lại và trừ phi các bậc thiền sư chân chính mới có phản biện, nhưng chưa hẳn đã là tuyệt đối. Nhưng để giải quyết một cách rốt ráo cho vấn đề vừa nêu trên, ông cũng chừa vài đoạn gọi là “lại quả”, ấy là: “Ở đàn ông còn thấy có hiện tượng “vùng lên”, vớt vát, tìm kiếm những cuộc tình dễ dãi, “bồ nhí”, “bia ôm”… để chứng minh chút nam tính còn sót lại của mình… Ở phụ nữ không phải là không có một giai đoạn gần như vậy, người ta vẫn thường gọi đó là tuổi “hồi xuân” (Sđd, trg 51).
Ngày trước đọc Bonjour tristesse của F. Sagan trong bối cảnh chiến tranh lan rộng, tàn khốc, là đọc để giải toả những phiền muộn qua nhân vật nữ, là một cô gái thông minh, hoà nhập vào nếp sống hiện đại, thời thượng mang nhiều yếu tố hiện sinh, buồn chán, nó biểu tỏ một thái độ của một cá nhân trước xã hội, rộng ra là thời đại. Nay được đọc Đỗ Hồng Ngọc, cũng “chào” nhưng lại là Già ơi… chào bạn, ở một thái cực khác: từ ngạc nhiên đến vui vẻ chấp nhận cái quy luật muôn thuở đến với con người một cách thanh thản, không thắc mắc, vướng bận. Có lẽ, do ông hiểu rất rõ những gì xảy ra với mình trong thời gian nằm ở bệnh viện An Bình sau khi mổ sọ não do tai biến mạch máu não, nên không băn khoăn đặt câu hỏi “tại sao” hay thế này thế nọ, như các nhà văn phương Tây. Đây cũng là thời kỳ ông “ngộ” ra lắm điều, dẫn đến việc ông nắm bắt được phần nào các bộ kinh Phật, đặc biệt là Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh và chuyển cái sự hiểu đó đến người đọc, dẫu cho có nhiều chỗ cần phải bàn lại. Nhưng cốt lõi, theo ông: “Tôi thấy nó phóng khoáng, nó “lật đổ” tất cả những quan niệm hẹp hòi, đố kỵ; nó có khả năng hoà đồng, khả năng giúp cho mọi người có trách nhiệm hơn với chính mình, thương người, thương cuộc sống, biết thưởng thức … cuộc sống với một chất lượng cao hơn… có hạnh phúc hơn; biết tha thứ, biết buông xả… nó có thể giúp cho những người đang mang mặc cảm tội lỗi thoát ra khỏi chính mình…” (Nghĩ từ trái tim, trg 8 nxb tổng hợp tp. HCM, SG 2003).
Trong chúng ta, những con người luôn chạy đua với áo cơm, mấy ai thấu triệt nghĩa lý Tâm Kinh chứ chưa nói là thực hành, mặc dù chỉ có vỏn vẹn 260 chữ?
Chỉ có vậy, không hơn, nhưng một khi đã “hành trì” vào Tâm Kinh, quán triệt nó đến tận cùng thì mới thấy vẻ đẹp uyên áo, những thâm hậu vi diệu của nó, bởi nó như một ngọn roi quất vào chỗ u nhược, làm đảo lộn mọi suy nghĩ hời hợt, phủ định mọi thành kiến về Phật, Thập nhị nhân duyên… như ông hiểu và nói ra.
Với Tâm Kinh thì, không phải để “tri” mà để “hành”. Nhưng “hành” như thế nào để “đáo bỉ ngạn” là điều không phải ai cũng “hành’ được. Khó và khó vô cùng. Nơi ai cũng muốn đặt chân đến và bỏ chân ra là thiên đàng và địa ngục. Có hai thế giới này thật không, nó ở đâu? Từ chiếu kiến ngũ uẩn giai không, Đỗ Hồng Ngọc đã chỉ ra: “Niết bàn hay địa ngục là do ta tự tạo ra cho mình, nó ở ngay trong ta thôi: Giận dữ, ngờ vực, sợ hãi, lo âu… tiêu hao của ta rất nhiều năng lượng, đốt cháy ta từ tầng này đến lớp khác chẳng phải là hình ảnh của địa ngục ư? Còn niềm vui, an lạc, hạnh phúc, vô uý… làm ta như chắp cánh bay lên, quên cả thời gian, không gian, chẳng phải là hình ảnh của thiên đàng, niết bàn ư?” (NTTT, trg 132).
Đọc Nghĩ từ trái tim, gấp sách lại, ta thấy như mình vừa được kéo ra khỏi bóng tối lùng nhùng, đến nỗi GS. Trần Văn Khê cũng phải thốt lên: “Tâm kinh không chỉ đọc hiểu không thôi mà phải hành. Đỗ Hồng Ngọc nhờ tổng hợp được những yếu tố đó mà viết ra được quyển Nghĩ từ trái tim như thế này thì tôi cho đây là một tuyệt tác, nắm được tinh hoa của đạo Phật giảng ra một cách dễ hiểu, dễ dàng để cho người ta tìm thấy được mỗi chuyện làm ở trong đời…”
Những điều ở bên ngoài đời sống, Đỗ Hồng Ngọc đã một phần nhìn ra giá trị của cái tầm thường, như câu chuyện ngày trước, một nhà sư khi nhìn thấy núi, thấy sông vẫn cứ là núi là sông, sau nhờ có bậc tri thức khai mở huệ nhãn thì thấy núi chẳng phải núi, sông chẳng phải sông, đến lúc thể nhập chốn tĩnh mịch, u nhàn, lại thấy núi là núi, sông là sông. Nói chung là ông đã “như thị”.
GS. Trần Văn Khê đã đưa ra nhận xét: “Người bác sĩ này có cả tâm hồn hướng về con người nên đã viết cho trẻ con, cho những người già, người sản phụ, tìm hiểu căn bệnh để trừ bệnh, để giúp cho người ta bớt bệnh bớt khổ. Tâm tư đó là tâm từ đi tới bi. Người bác sĩ đó có được một tinh thần phóng khoáng, một tâm từ, còn là một nhà văn dí dỏm, một nhà thơ mộc mạc dễ thương nên hiểu được Tâm kinh như thế”.

Hoá ra và bởi vì Đỗ Hồng Ngọc có được một tinh thần phóng khoáng, một tâm từ, còn là một nhà văn dí dỏm, một nhà thơ mộc mạc dễ thương nên hiểu được Tâm kinh như thế. Vậy thì chúng ta thử bước vào thế giới văn chương của ông:
Ông làm thơ trước khi viết văn. Tôi đọc những bài thơ đầu tiên ông đăng trên Bách Khoa năm 1960, chưa hề đọc một truyện hay một tùy bút, đoản văn nào của ông, mãi cho tới tận sau này (Ông có một truyện ngắn duy nhất, tựa là Người Thứ Hai, đăng trên báo Mai, 1965, sau này in chung trong tuyển tập truyện ngắn Cuộc đi dạo tình cảm, cùng với Lữ Quỳnh, Lữ Kiều, Hồ Thủy Giũ… nxb Trẻ, 1998); nhưng tôi cũng chưa hân hạnh được đọc! Nhưng dẫu ông có viết ở thể loại nào, thì câu văn vẫn cứ mượt mà chất thơ, kiểu “văn trung hữu thi” vậy.
Viết về Lữ Kiều, người bạn đồng môn của mình, Đỗ Hồng Ngọc có cái nhìn của một cụ đồ tài hoa: “Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà ngập ngừng, rồi thè lưỡi liếm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắc lại như gom nội lực vào nhất điểm; rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhúng bút sâu vào nghiên mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán, rút nhanh ra rồi chắt vào thành nghiên, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim, phóng bút…” (Tôi cũng tin vậy…, trg 61, Như Thị, nxb Văn Nghệ, SG 2007). Dẫn đoạn này, tôi chỉ muốn dẫn đôi dòng, nhưng không làm sao ngắt được. Cái mạch văn ấy cứ tuôn chảy, róc rách đẹp hơn suối reo, không ngăn được. Và liên tưởng ngay đến Chữ của người tử tù và Chén trà trong sương sớm của Nguyễn Tuân. Đỗ Hồng Ngọc viết về người bạn nhưng cứ như chàng họa sĩ làm thơ!
Còn đoạn này nữa: “Cứ một dòng chữ viết tay nắn nót (bản thảo chép tay) lại hiện lên trong tôi sông ngòi biển cả, rừng núi ao hồ, trưa hè nắng cháy nhảy ùm xuống sông Dinh, đập đá Dựng, những ngày mưa lũ, nước cuốn trôi phăng cả nhà cửa trâu bò. Tôi cứ để lòng mình nhảy ùm như thế, cuốn trôi như thể khi đọc Biển Hát. Cả một dĩ vãng xưa ùa sống lại” (Biết bao điều thì thầm, trg 203, Như Thị). Xem ra Đỗ Hồng Ngọc đâu chỉ có tâm hồn trong sáng mà còn có cả tấm lòng, như Cao Huy Thuần nhận xét: “Anh nói những chuyện giản dị. Nhưng mầu nhiệm không nằm ở đâu khác hơn là trong chính những câu chuyện giản dị đó. Một đôi bài của anh khá đơn sơ, nhưng hồn nhiên là cái duyên của anh, anh làm thơ trước khi viết văn, cho nên đó cũng là những bài thơ” (lời trích ở bìa 4 Như Thị).
Đỗ Hồng Ngọc làm thơ khi còn là học sinh trung học, mãi đến năm 1967, ông mới cho in tập thơ đầu tay Tình Người, với bút danh Đỗ Nghê, lúc đang là sinh viên trường Y. Những bài thơ này xuất hiện trên Bách Khoa (từ năm 1960) và Tình Thương (1964) do SV đại học Y Khoa Sài Gòn chủ trương, thời đó có nhiều bài thơ theo trường phái Phi Phi (Phi Thi?). Tôi đọc chúng (thơ phi phi) nhưng chẳng hiểu gì. Và vì vậy, khi vớ phải những câu chữ gần gũi của Đỗ Hồng Ngọc với những cảm xúc chân thật, mộc mạc tôi cảm thấy như có cái gì đó quen quen, như khói củi trong bếp lửa buổi sáng sớm chớm đông. Sau đó, khi tạp chí Ý Thức dời về 666 Phan Thanh Giản, cùng viết chung trên đó tôi mới gặp ông bằng xương bằng thịt và quen nhau. Gần cuối năm 1974, từ tòa soạn Ý Thức, ông mời tôi đi ăn bò vò viên chỗ xế bên rạp Đại Đồng trên đường Cao Thắng và tặng tập Thơ Đỗ Nghê do Ý Thức xuất bản. Trong đó đáng chú ý là bài thơ Tâm sự Lạc Long Quân. Có lẽ do nội dung của bài thơ này, bị kiểm duyệt nên cơ sở Ý Thức không thể in công khai tại Sài Gòn, mà lại in (lậu) trên Đà Lạt do Lữ Kiều coi sóc rồi mang lộn ngược về Sài Gòn. Năm 2010, ông muốn đưa lại bài này vào tập Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác, nhưng cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự như trước 1975, nghĩa là Tâm sự Lạc Long Quân vẫn là bài thơ không có “hộ khẩu”, lang thang trong tập Thơ Đỗ Nghê “phổ biến hạn chế trong vòng thân hữu” (thiếu 2 năm nữa là chẵn 40 năm dài). Những thao thức, băn khoăn, tấm lòng thành ông gửi gắm trong bài đã bị chối bỏ, là chính trị thời trước và thời sau không chấp nhận tấm lòng thành của ông xuất phát từ trái tim, nghĩ từ trái tim của ông.
Khi ta đưa các con 50 người xuống biển
Và vợ ta đưa 50 đứa lên rừng
Lòng ta đã rất đỗi băn khoăn
Có một điều gì khiến ta linh cảm trước
(…)Nhưng bây giờ mọi sự xảy ra
Các con đều đã rõ
Những vết ô nhục trong lịch sử chúng ta
Các con đều đã rõ
(…)Đã cùng sinh ra trong một bọc
Thì hãy nghe ta
Đốt hết sách vở, xé hết cờ xí đi
Rồi đứng ôm nhau mà khóc
Nước mắt sẽ làm tươi lại cỏ cây
Nước mắt sẽ làm phì nhiêu mảnh đất

(Tâm sự Lạc Long Quân, Thơ Đỗ Nghê, trg 5-7, Ý Thức xb, 1974).
Bài thơ này ông viết từ năm 1965, trong bối cảnh đất nước tương tàn! Nội dung bài thơ không mang ý thức phản kháng, gào rống mà, xuất phát tự trái tim ông, réo gọi tình đồng bào và thơ ông bật lên từ tấm lòng chân thật đó. Nhưng những kẻ làm chính trị thì không thể chấp nhận cái tấm lòng ấy, vì phe phía nào cũng tự nhận là chính nghĩa, bóp nát những mơ ước, hoài mong của tầng lớp thanh niên, trí thức. Chúng biến cái tinh thần dân tộc của giới trẻ trở thành hành vi phản trắc, biến lòng yêu đồng loại, nghĩa đồng bào thành tư tưởng phản bội! Sự dồn nén và ẩn ức ngày mỗi dày thêm, cao thêm:
Rất nhiều đêm rất nhiều đêm
Tôi vỗ về tôi thủ thỉ
Ngủ đi con ngủ đi con
Ngày mai rồi khôn lớn
Cầm súng với cầm gươm
Ngủ đi con ngủ đi con
Ngày mai rồi khôn lớn
Giết bạn bè anh em
Ngủ cho ngoan ngủ cho ngoan
(…)

(Lời ru, Thơ Đỗ Nghê, trg 14)
Thời ấy, khi đọc bài thơ này, tôi tưởng tượng cảnh bà mẹ quê ôm đứa con thơ vào lòng, giữa đêm khuya, nức nở than khóc người chồng là anh lính Việt cộng hay Quốc gia vừa chết trận. Âm thanh trong bài thơ không thịnh nộ, cứ ưu uất, nghẹn ngào, nức nở gây một ảo giác như chính bản thân ta đang chịu đựng cảnh khổ nhục đó vậy. Nó cứ rờn rợn như âm thanh trong bài Bà mẹ Gio Linh của Phạm Duy trong đêm bão!
Một bài thơ khác, Đoá hồng mùa xuân tuổi thơ, ông viết tặng con sắp chào đời cũng mang một tâm trạng u uẩn không kém, có thể coi là nỗi lòng của giới trẻ lúc bấy giờ:
Có những người không có cơm ăn
Có những người không có áo mặc
Có những cánh đồng cháy đen
Có những xác người chồng chất
Con sẽ vô cùng ngạc nhiên
(…) Làm gì có Việt Nam đánh giết Việt Nam
Làm gì có đất nước hai miền

(Đoá hồng mùa xuân tuổi thơ, Thơ Đỗ Nghê, trg 66).
Thực tế oan nghiệt đó đã bóp nát trái tim rất nhiều người, trong đó có ông. Vì vậy, có thể xem, Thơ Đỗ Nghê là một sự chọn lựa đúng đắn, là thái độ của của một thanh niên trí thức mẫn cảm trước thời cuộc và xã hội lúc bấy giờ. Đó là nỗi đau không cùng của những người chân chính, đúng như Lữ Kiều viết trong lời bạt cuối sách: “Đã đến lúc chúng ta nghiêm trang đặt những vấn đề, với lịch sử. Ví dụ bài “Điệp khúc” (Thơ Đỗ Nghê, trg 57, ghi chú của người viết bài này) là những câu hỏi thẳng thắn với đàn anh chúng ta thời 45. Những Bài vè thứ nhất, Bài vè thứ hai (Sđd, trg 48 và trg 52, nt) đặt vấn đề với thế hệ hiện tại, với những người mà ta gọi là Đồng Minh. Có lẽ, bây giờ sự thể đã khác đi, nhưng tôi nghĩ, trong tình thế ấy, đặt những câu hỏi như vậy là một thái độ can đảm, nằm trong thái độ nghiêm túc của anh” (Thơ Đỗ Nghê, trg 76, nt).
Bài thơ Thư cho bé sơ sinh nơi trang 39 ông viết năm 1965 khi còn là SV thực tập tại bệnh viện Từ Dũ, sau này ông cho in lại trong tập Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (nxb Văn Nghệ, SG 2010) được Phat’s blog chuyển ngữ sang tiếng Anh tháng 11/2006, như là sự mở đầu tâm cảm của ông, nhìn về thế giới bên ngoài bằng trái tim chân thật, bằng cả tấm lòng của cá nhân có trách nhiệm trước một cá nhân khác. Bài thơ chỉ có hai nhân vật: anh và em. Anh là chàng SV năm thứ ba y khoa và em chỉ là đứa bé mới chào đời. Ông đã khắc hoạ sự tương phản ngược chiều trong thế giới đa cực của cuộc sống ồn ào, đầy dẫy những cạm bẫy, lo toan, mưu tính… Đó là tiếng khóc và nụ cười, mắt thực và tối đen, cô đơn và êm ấm, là cái bé nhỏ vô cùng và rộng lớn cũng vô cùng. Bài thơ cũng chính là tâm trạng của anh chàng sinh viên ngành y lần đầu tiên làm công việc đưa một sinh linh ra ánh sáng cuộc đời sẽ có nhiều ngọt bùi lẫn cay đắng chờ đón phía trước.
Tính chất của bài thơ, trước hết là giãi bày tâm trạng, bởi đây là lần đầu tiên ông nhìn thấy và nhận ra bản thể của mình qua hình hài bé bỏng kia, rồi nó sẽ phải trải qua những đoạn đường mà ông và bao con người đã bước qua cuộc đời có nhiều những khổ đau và hạnh phúc, của nụ cười và nước mắt, nói chung là “đời nhiều nhãn hiệu”.
Bài thơ không mang hơi thở ngôn ngữ bóng bẩy của thơ ca. Nó là những lời thầm thì, chia sẻ, là tâm tình của một con người với một con người trong mối quan hệ bình đẳng của người ra đời trước và người vừa chào đời sau; của người đã bị trói vào “đời” và người sắp bị “đời” trói chặt. Ông sử dụng ngôn ngữ nói, mộc mạc đến dung dị để chuyển tải nội dung lời thơ là thân phận làm người, mà rất nhiều các triết gia, học giả, nhà văn cả Tây lẫn Đông từng mang ra mổ xẻ. Vấn đề của Đỗ Hồng Ngọc đặt ra không rộng, không gian là phòng sinh, thời gian là một giờ khắc nào đó trong ngày. Ông chỉ ghi lại những cảm xúc và tâm trạng đối với công việc của mình trước một em bé vừa chào đời, bắt đầu cùng ông, gia nhập vào đời sống mà ông đang nếm trải, không hề thấy có một triết lý nào cao xa, chỉ nêu lên những sự việc có thật đang xảy ra và sắp sửa xảy ra với bé, bắt đầu tham dự vào “cõi người ta”.
Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ
(Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác, trg 6).
Nhiều người, khi đọc bài thơ này, cho rằng nhà thơ đã gửi đi một thông điệp cho mọi người hiện hữu trong đời sống muôn màu muôn vẻ. Tôi thì nghĩ, ông không hề có ý làm một công việc to tát đến vậy, mà hơn hết là từ tấm lòng, từ trái tim, là cái nhìn thấu triệt lẽ đời mà ông đã trải nghiệm, như một người đi trước, không phải là kẻ dẫn đường hay đưa đò.
Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người…

Ý hướng đích thực trong bài thơ là 3 câu cuối cùng này. Hai nhân vật anh và em sẽ hoà vào mẫu số chung: số phận con người! Và tinh tế hơn cả, là ông ngắt câu ở nhịp hai như một cú rơi từ trên cao, không có sự chọn lựa.
Đỗ Hồng Ngọc sống nhiều, đi nhiều, viết nhiều. Văn thì viết như thơ. Thơ thì như văn và thơ náu mình trong thơ. Đó là những gì tôi nhìn thấy, đọc ra từ cảm tính rất chủ quan của mình. Ví dụ như mấy câu trong bài Mũi Né:
Em có về thăm Mũi Né không
Mùa xuân thương nhớ má em hồng
Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng
Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong
(Mũi Né, Thơ Đỗ Nghê, trg 8)
Hay như thời gian tu nghiệp ở Pháp, ông nhớ nhà, nhớ quê, nhớ gia đình, bạn bè… Nỗi nhớ găm vào từng thớ vải. Câu thơ xếp đặt như câu nói, nhưng lại lột tả đến tận cùng nỗi nhớ nhung khói củi, đến nao nức:
Anh hôn đằng sau/ Anh hôn đằng trước/ Anh hôn phía dưới/ Anh hôn phía trên/ Chiếc áo của em/ Món quà em tặng/ Chiếc áo lạ lùng/ Có mùi biển mặn/ Có mùi dừa xiêm/ Có mùi cát trắng/ Có mùi quê hương… (Món quà, Thư cho bé sơ sinh…, trg 143).
Ông có quãng đời niên thiếu sống ở La Gi, tắm mình trong mùi gió biển, thiên nhiên hoang sơ với những đồi núi chập chùng, những dải cát trắng, sóng biển rì rào… đã ru ông, nuôi dưỡng tâm hồn ông để có được một Đỗ Hồng Ngọc có một cái Tâm trong veo như bầu trời không gợn chút khói mây.
Ông nhìn nhận cảnh quan theo vẻ đẹp mẫn tuệ nơi ông đã đành, nhưng đến những cảnh huống mà nhiều người nhìn thấy là xấu, khi lọc qua tâm hồn ông bỗng sáng rực như ánh sáng ban mai; ngôn ngữ diễn đạt cứ như những hạt sương long lanh trên cành lá biếc xanh. Ví dụ, từ trang 74 đến trang 80 là các bài La Ngà và La Ngà 1 đến La Ngà 5, là diễn tả tâm trạng và cảm xúc của ông trước cái chết của đứa con gái yêu quý, nhưng lời thơ không hề bộc lộ chất bi lụy, đau thương. Ngược lại, cứ trong suốt như pha lê:
“Mỗi năm/ Mỗi người/ Thêm một tuổi/ Chỉ mình con/ Mãi mãi tuổi đôi mươi” (La Ngà 3, Thư cho bé sơ sinh…, trg 78). Và bài kế tiếp: “Ba vun gốc trường sanh/ Mẹ đặt chùm vạn thọ/ Lên mộ con/ Giữa ngày mùng Một Tết” (La Ngà 4, Thư cho bé sơ sinh…, trg 79).
5 bài thơ viết về La Ngà thực chất là viết về “nỗi mất”, là nỗi đau không cùng của các bậc cha mẹ. Nhưng cả 5, lời thơ vẫn bình thản chấp nhận, không u oán. Chỉ có những người đã tiếp cận với Thiền học, đã “thị” được ngũ uẩn giai không, thả những cảm xúc tâm linh chạm gần đến ngưỡng như Đỗ Hồng Ngọc mới có được cốt cách và phong thái của các hành giả phương Đông trên đường bước vào mép rìa của cái Đẹp.
Ông đã từng thú nhận trong phần dẫn nhập và một chút lịch sử, ở ngay phần đầu Nghĩ từ trái tim, rằng “Viết với tôi là một bức xúc, là một cách “xả”! Tôi thấy nhẹ nhàng sảng khoái hơn khi được viết ra. Đó cũng là một cách tự chữa bệnh cho mình” (trg 9). Và: “Tôi nhớ hồi mới lên mười, trọ trong chùa, đêm đêm cũng nghe cô tôi tụng “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha!” tôi chỉ thấy êm tai, ngủ ngon lành mà thôi” (trg 20). Như vậy, rõ ràng Thiền học đã thấm đẫm tâm hồn ông từ tuổi thơ, như chuyện thấy núi thấy sông của nhà sư viết ở đoạn trên. Chính vì vậy, nên ông mới có những câu thơ như thế này:
Hội An còn ngái ngủ
Mái chùa ôm vầng trăng
Giật mình nghe tiếng chổi
Gà gáy vàng trong sương

(Hội An, Thư cho bé sơ sinh…, trg 99).
Hay:
Lắng nghe hơi thở của mình/ Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa/ Một hôm hơi thở tình cờ/ Dính vào hạt bụi thành ra của mình/ Của mình chẳng phải của mình/ Thì ra hơi thở của nghìn năm sau (Thở, sđd, trg 196).
Và một bài nữa:
Đất động ta cũng động/ Sóng thần ta cũng sóng/ Giật mình chợt nhớ ra/ Vốn xưa ta là đất! (Đất, sđd, trg 197).
Nếu làm công việc như các ông Đặng Tiến và Cao Huy Khanh thì có thể xếp dòng thơ Đỗ Hồng Ngọc vào dòng thơ Thiền được chăng? Tôi không mấy rõ, chưa thể biện biệt, kiến giải; chỉ thấy và hơn hết là cảm được rằng, thơ ông xuất phát từ Tâm Cảm, vượt trên những triền phược. Nó thô mộc mà sáng long lanh; lột tách những vết bụi bám; cũng đứng chung những “số phận thơ”, cũng sần sùi meo mốc như lát sắn mì để quên trong khạp, nhưng lại tỏa ra chút mùi thơm dịu dàng lấp lánh. Đó cũng là nét rất riêng, rất cốt cách của thơ Đỗ Hồng Ngọc.
Tôi đã từng nghĩ: “Làm thầy thuốc là để cứu người; làm nhà văn là để cứu đời”, xem ra lại rất đúng, một cách trọn vẹn, với trường hợp Đỗ Hồng Ngọc: cứu người và cứu đời!

(Nguyễn Lệ Uyên, xứ Xương Rồng, tháng 3/2012)

Thuộc chủ đề:Uncategorized

Trường Phan Bội Châu Phan Thiết…

23/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

60 NĂM,
Trường Phan Bội Châu Phan Thiết…

Thư gởi bạn xa xôi,
tặng Trần Vấn Lệ
Tôi thi đậu vào Đệ thất (lớp 6) trường Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1954, đứng hạng 7, được học bổng. Hồi đó, đậu vào Phan Bội Châu là một vinh dự lớn. Đến bây giờ, mỗi khi nhắc đến trường Phan Bội Châu Phan Thiết tôi vẫn còn nghe một chút gì đó nao nao!

Mãi đến năm 1952, Bình Thuận mới có một ngôi trường trung học công lập đầu tiên. Lúc đầu trường chỉ có vài lớp, mượn tạm một cơ sở nằm trên đường Saigon, nay là đường Trần Hưng Đạo. Năm 1954 cả trường cũng mới chỉ có mấy lớp, đệ thất, lục, ngũ. Đệ tứ thì phải ra Nha Trang hoặc vào Saigon học tiếp để thi Đíp-lôm (Trung học đệ nhất cấp). Thời đó, Trung học đệ nhất cấp là một kỳ thi cực kỳ khó, chỉ đậu chừng 10%, thi tất cả các môn học, có cả vào vấn đáp. Ai đậu Pri-me (tiểu học) đã là “oai” rồi, đậu Đip-lôm thì “nhất”!
Vào Đệ thất Phan Bội Châu được mấy tháng, chưa kịp biết hết bạn bè thầy cô thì tôi đã phải rời trường, khăn gói theo gia đình về quê Lagi, Hàm Tân sinh sống. Lúc đó Hàm Tân là tỉnh lỵ của Bình Tuy, tỉnh mới được thành lập, tách khỏi Bình Thuận, trực thuộc Nam phần. Thế là bỏ trường bỏ lớp, xa thầy xa bạn. Tôi tiếc và buồn lắm. Nhưng không cách nào khác. Mãi 3 năm sau Bình Tuy mới có lớp đệ thất đầu tiên trong một nhà thờ, tôi mới đi học lại. Hồi lớp Nhất, tôi học ở Bạch Vân, trong chùa Bà Đức sanh hội. Hết học chùa nay tới học nhà thờ là vậy! Nhờ học nhảy mà tôi đuổi gần kịp bạn bè cùng thời.
Bây giờ mỗi lần về Phan Thiết, tôi thấy mình vẫn quyến luyến nhiều hơn với ngôi trường Phan Bội Châu nhỏ bé, xinh xắn, xưa cũ đó của mình- ngôi trường nằm trên đại lộ Trần Hưng Đạo- khi chưa dời về đường Nguyễn Hoàng (Lê Hồng Phong) ngày nay.

Trường Phan Bội Châu cũ, nằm trên đường Saigon (nay là Trần Hưng Đạo)


Năm 2002, trường Phan Bội Châu kỷ niệm 50 năm ngày thành lập. Thầy Bình hiệu trưởng có mời tôi về nói chuyện với học sinh về “Tuổi mới lớn”. Dịp này trường có một cuộc triển lãm. Một quyển sổ cũ kỹ rất to gọi là Sổ Trước Sách ghi tên học sinh của trường từ lúc thành lập đến nay được trưng bày ở phòng truyền thống. Bạn ơi, có tên tôi trong đó đàng hoàng nhé! Anh Nguyễn Đình Tư (Tư Đình, nhà thơ Từ Thế Mộng, học sinh khóa đầu tiên, 1952) thấy tôi đứng nấn ná hoài bèn tìm cách photo gởi tặng tôi mấy trang.
Trong quyển Sổ Trước Sách của trường Phan Bội Châu lúc đó, tôi đứng số thứ tự 276. (Khóa tôi có 111 người vào đệ thất, từ số thứ tự 234 đến 345). Ở mục họ tên “Đỗ hồng Ngọc” – thời đó chữ lót viết không hoa- thấy ghi “ Ở lại đệ thất”, rồi lại có dấu đánh chéo, xóa tên. Tôi đoán lúc đầu chắc trường xét cho tôi ở lại lớp thôi nhưng lỗi “nghỉ lâu không xin phép” là quá nặng nên quyết định “xóa sổ” luôn! Mục năm sinh bạn thấy ghi 1942. Đó chỉ là “Thế vì khai sanh” thôi chớ tôi tuổi thiệt 1940. Thời chiến tranh, đa số trẻ con đi học trễ. Ở mục Lý lịch cũng ngộ: ghi con ông Đỗ đơn Trì, nghề: “chết” và bà Nghê thị Như, nghề: buôn bán. Thực ra cha tôi chết trong kháng chiến chống Pháp nhưng chỉ cần ghi nghề: “chết” , là đủ, không cần “ngày tháng nào? làm gì? ở đâu? ai biết?”… như kiểu bây giờ!
Bạn để ý địa chỉ: ở chùa Hải Nam, đường Trại cưa Phan Thiết (thuộc Đức Nghĩa). Gọi là đường Trại cưa vì ở đó có rất nhiều trại cưa dọc ven sông, chuyên xẻ gỗ cho người ta đóng thuyền cá. Tôi thường lang thang coi người ta đóng những chiếc thuyền khổng lồ ở đó. Đường Trại Cưa (nay là đường Trưng Nhị) dọc hữu ngạn sông Mương Mán (khu Trường Dục Thanh bây giờ), nơi có bến đò qua Chợ Gò bên kia sông, là nơi tôi thường qua lại để đến Nhà thương chữa bệnh. Nối tiếp đường Trưng Nhị, qua khỏi cầu, là đường Trưng Trắc, nơi có nhà những bạn bè tôi như Tải (Tâm), Quế, Tốt, Tươi…
Ở mục Ngày vào học thấy ghi: Đệ thất I, ngày 14/9/54. Ngày thôi học ghi: 30/11/55.
Tôi chưa học hết đệ thất, mới mấy tháng đã bỏ trường vậy mà trường vẫn “bảo lưu” danh sách học sinh cho tôi, mãi đến 30/11/55 mới chính thức xóa sổ.
Trong Lời phê của ông hiệu trưởng thấy ghi: “Khá, nhưng cần phải gắng học thêm”. Rồi trên đó lại có dòng chữ nhỏ hơn: “Xóa sổ vì nghỉ lâu không xin phép”- chắc là của người thư ký ghi sau khi có quyết định của hội đồng.
Trong quyển Sổ Trước Sách đó, mỗi học sinh có dán cái hình. Cười chết được. Mặt nào mặt nấy ngây ngô. Dễ thương làm sao! Mỗi người một vẻ. Con trai con gái. Ngộ nghỉnh. Tức cười. Cái hình tôi chụp ở Liên Hoa lúc 12 tuổi, mặc pyjama, đi guốc xuồng. Xanh lè, ốm nhom, suy dinh dưỡng nặng, cân được 25 kg ở nhà thuốc tây Phạm Tư Tề: mắt lồi (ốc bươu), mũi bự, tai vễnh, mặt quạu…!
Dù đã bị “xóa sổ”, bị… đuổi học gần 60 năm về trước tôi vẫn luôn coi mình là một “cựu học sinh” của trường, vẫn luôn tự hào đã từng là học sinh của Phan Bội Châu Phan Thiết ngay từ thuở ban sơ…
Năm nay trường kỷ niệm 60 năm ngày thành lập, tôi chắc cũng sẽ ghé về thăm một chút để mong gặp lại cái anh chàng mắt lồi, mũi to, tai vễnh… như hôm nào kia, nơi vườn Luxambourg, có người trông thấy một cậu học trò nhỏ, tay đút túi quần, cặp sách trên vai, vừa đi vừa nhảy nhót như một chú chim sẻ… Je vais vous dire ce que me rappellent… le ciel agité de l’automne… les arbres qui fissonnent…(Anatole France).
Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon 3.2012)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Gặp gỡ cuối tuần

23/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

PHỤ NỮ CHỦ NHẬT số 11 ngày 25.3.2012
Gặp gỡ cuối tuần
Nhắc đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, lập tức chúng ta nghĩ ngay đến một nhân vật khá đặc biệt: lãng tử và phiêu bồng trong thơ, dí dỏm và mạch lạc khi viết về y học, trầm mặc và sâu lắng trong tạp bút và thỉnh thoảng ông cũng ký họa chân dung bạn bè…
Gặp ông, dù chỉ trong phút chốc tình cờ hoặc có hẹn trước, thế nào cũng thấy ông cười tươi và từ ánh mắt ấy, dường như luôn có sự quan tâm đến người đối diện. Ông không ồn ào và gần như ít la cà chốn đông người. Và cứ thế, lặng lẽ sống an nhiên và lao động hết mình, ông đã có nhiều tác phẩm quen thuộc với bạn đọc.
Lê Minh Quốc

+ Thưa anh, được biết, nhà văn nổi tiếng Nguiễn Ngu Í là cậu của anh. Thuở mới vào nghề viết, anh có học hỏi được gì từ người cậu rất cá tính, rất lạ lùng, rất “quái kiệt giang hồ” của mình?

Nhiều chứ! Tôi mồ côi cha sớm, lúc 12 tuổi sống trong chùa với bà cô ở Phan Thiết thì ông đến thăm, cho một đống sách báo rồi bắt tôi đi học…! Ngay lúc đó tôi đã thấy mình mê sách báo, muốn làm “nhà văn nhà báo”… như ông rồi! Nhưng tôi lại giấu biệt ông khi những bài thơ đầu tiên của tôi được đăng báo, đến lúc ông biết, ông khen có “giọng điệu” và “ý tưởng” riêng. Sau này, ông coi tôi như một người bạn… văn, có bài nào mới ông bắt tôi nghe và cho ý kiến. Có khi nửa đêm về sáng ông đập cửa, vào lục cơm nguội ăn, tắm rửa, rồi ngồi… chửi “cả và thiên hạ”…Càng lớn tuổi, bệnh điên của ông càng nặng hơn, nhiều đợt phải vào dưỡng trí viện Biên Hòa, nhà thương điên Chợ Quán. Tôi còn nhớ mấy câu thơ của ông: “Ta đi lang thang/ Ta nói tàng tàng/ Ta cười nghinh ngang/ Ta chửi đàng hoàng”…

+ Anh có nghĩ đến lúc nào đó gia đình sẽ in lại tác phẩm của nhà văn Nguiễn Ngu Í ?

Chắc rồi. Nhiều tác phẩm của ông còn có giá trị về văn học sử. Loạt bài phỏng vấn giới văn nghệ sĩ thời đó trên báo Bách khoa mới chỉ in được một cuốn: “Sống và Viết với…”, còn 2 cuốn “Sống và Vẽ với…”, “Sống và Đàn với…” chưa được xuất bản. Gia đình có làm một cuốn “Ngu Í qua ký ức người thân” (1997), với nhiều bài viết của Trần Văn Khê, Huỳnh Văn Tiểng, Bà Tùng Long, Lê Ngộ Châu, Lê Phương Chi, Đỗ Đơn Chiếu, Hoàng Hương Trang, Hồ Trường An, Đỗ Hồng Ngọc, Phan Chính … vẫn chưa được in. Ông cũng có các cuốn tiểu thuyết như Suối Bùn Reo, Khi người chết có mặt v.v…

+ Trước năm 1975, anh đã sáng tác thơ với bút danh Đỗ Nghê. Bài thơ Thư cho bé sơ sinh đã được dư luận lúc ấy đánh giá cao. Đâu là nguồn cảm hứng cho bài thơ này? Có phải nó báo hiệu cho hướng viết lâu dài về sau của anh?

Không. Trước đó tôi cũng đã có những bài thơ đăng trên các báo Bách Khoa, Tình Thương… Nhiều bài cũng được bạn bè “đánh giá cao” như Em còn sống mãi, Tâm sự Lạc Long Quân, Lời ru, Cổ tích về ngôn ngữ v.v… Sau này tôi đã tập hợp in trong tập thơ đầu tay: Tình Người, Ý thức xuất bản, 1967. Bài “Thư cho bé sơ sinh” tôi viết vào năm 1965, khi còn là sinh viên y khoa năm thứ ba, thực tập tại bệnh viện Từ Dũ, khi đỡ được một bé đầu tiên ra đời “mẹ tròn con vuông”. Tôi viết bài thơ ngay tức khắc trong chừng mươi phút, rồi còn cao hứng chép vào sổ phúc trình sau phần bệnh án, bị thầy HNM rầy “đỡ đẻ không lo đỡ đẻ lo làm thơ”! Thế nhưng hôm sau đã thấy bài thơ được ai đó viết lên bảng đen và được nhiều bạn bè đồng nghiệp lưu truyền…

+ Học giả Nguyễn Hiến Lê từng nhận xét về anh: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị!”. Đúng vậy. Là BS y khoa có tư duy rõ ràng, mạch lạc, nhưng trang viết của anh lại nhẹ nhàng bay bổng, lãng đãng như thơ. Bí quyết nào giúp anh có thể hài hòa được hai yếu tố “đối nghịch” ấy?

Tôi không có bí quyết nào cả. Tôi mê văn chương từ thuở nhỏ. Làm thơ, viết báo… từ hồi còn học phổ thông. Lớn lên học làm bác sĩ, một cái nghề như bất cứ cái nghề nào khác trong xã hội. Tôi không tin người ta “học” mà có thể viết văn làm thơ được. Nó phải là cái gì đó sẵn ở trong máu thịt, trong gen, trong… “thần kinh”!

+ Những tập sách Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng… nay vẫn tái bản đều đặn nhằm đáp ứng nhu cầu bạn đọc. Vậy hóa ra, y học vẫn chưa mấy “tiến bộ” hơn trước, vì những tập sách đó anh đã viết từ mấy chục năm trước?

Kỹ thuật y khoa thì tiến bộ rất nhanh đó chứ, thay tim, thay thận, ghép gan, thụ tinh nhân tạo… nhưng mối quan hệ Thầy thuốc –Bệnh nhân thì không thay đổi mấy, vì ngàn năm trước ngàn năm sau con người vẫn sẽ còn đó những lo âu, sợ hãi, còn đó những khổ đau vì thất tình lục dục, sinh lão bệnh tử… Kỹ thuật y khoa càng tiến bộ thì càng cần hơn tính nhân văn trong y học vì nó đứng trước cái sống cái chết, cái đau cái khổ của kiếp người.

+ Bạn đọc “tuổi mực tím” rất thích được anh tư vấn, xin hỏi anh, hiện nay điều gì đáng lo ngại nhất ở lứa này, về vấn đề tâm sinh lý? Các bậc phụ huynh nên quan tâm đến con em mình vấn đề gì nhất?

Giới tính. Nhiều phụ huynh bây giờ hoảng loạn khi thấy con cái mình bỗng dưng… đồng tính luyến ái hoặc có thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên! Giáo dục giới tính do đó cần được quan tâm đúng mức, cần có một chương trình toàn diện từ gia đình đến học đường, xã hội để trang bị một thái độ sống, một gía trị sống phù hợp văn hóa trong một xã hội chuyển biến nhanh như hiện nay.

+ Các bà mẹ sinh con đầu lòng cũng hay “níu áo” bác sĩ “mát tay” là anh. Anh có đúc kết những sai phạm “chết người” mà thông thường các bà mẹ hay vấp phải? Vậy làm sao để tránh?

Hồi xưa thì do thiếu thông tin, do “dốt nát”, còn bây giờ thì do quá nhiều thông tin, do “thông thái” quá… nên dễ bị lường gạt, dụ dỗ… Bạn thấy đó, “thông tin sức khỏe” bây giờ đầy những quảng cáo “thông minh”- trong thời đại cái gì cũng smart- trên báo đài, trên internet, vừa hù dọa vừa dụ dỗ, con người ngày càng xa lạ với thiên nhiên, với chính mình, trở nên hoang mang, sợ hãi, dễ lọt vào những cái “bẫy” giăng mắc, tiền mất tật mang…

+ Tập sách Gió heo may đã về – viết về tuổi “hườm hườm” tức… “tuổi đá buồn”, anh lấy ca từ Trịnh Công Sơn để đặt các tựa. Vậy, nhạc Trịnh có sức hấp dẫn với anh như thế nào?

Nhạc Trịnh với tôi không chỉ để nghe mà để ngẩm, để ngấm. Nhiều ca từ tôi nghĩ phải ở trong thiền định mới thấy được.
Khi tôi đưa bản thảo Gió heo may đã về cho Trịnh công Sơn đọc, anh viết thêm một đoạn: “Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau”. Đó là lời trong bài hát Hạ Trắng của tôi. Bạc đầu có phải đã chớm già không. Theo tôi, bạn Đỗ Hồng Ngọc ạ, đó chỉ là thay đổi một màu tóc. Trời đất có bốn mùa. Con người cũng có những mùa riêng của nó”… (TCS).

+ Tập sách Những người trẻ lạ lùng đọc rất thú vị khi biết về những “riêng tư” của các nhân vật nổi tiếng như Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Khê, Nguyễn Khắc Viện… Để được “trẻ lạ lùng” như vậy, anh có lời khuyên gì với những người đang ở tuổi “chớm già”- nhất là phụ nữ?

Ai rồi cũng “trẻ lạ lùng” như vậy cả nếu sống…lâu và sống hạnh phúc! Vừa rồi tôi có dịp đi nói chuyện với hội người cao tuổi về “Một tuổi già hạnh phúc”. Lúc đầu tôi định đặt tựa bằng một câu hỏi: Có không một tuổi già hạnh phúc? Nhưng sau đó tôi chuyển thành một câu khẳng định. Bởi người ta có thể hạnh phúc khi “trẻ lạ lùng” đó bạn ạ!

+ Già ơi… Chào bạn! là tập sách anh viết lúc đang nằm dưỡng bệnh và cũng để “tự chữa bệnh cho mình” – như anh đã cho biết. Xin hỏi, chẳng lẽ văn chương cũng có khả năng đó sao? cũng có thể giúp con người thanh lọc và chữa bệnh?

Có. Văn chương chẳng đã làm cho người ta rướm lệ, cho người ta hả hê vui sướng đó sao? Nói khác đi văn chương có thể “gây bệnh” hoặc “chữa bệnh”, làm cho người ta thêm đau khổ hay làm cho người ta thêm hạnh phúc được lắm chứ. Nhiều thầy thuốc đã trở thành nhà văn vì có dịp tiếp xúc với “con người” một cách tròn vẹn: thể chất và tâm hồn. Những Tchekov, Lỗ Tấn, Somerset Maugham, Cronin… và ở ta cũng không thiếu.

+ “Trái tim không phải để suy nghĩ. Trái tim là để yêu thương”. Đọc Nghĩ từ trái tim, bạn đọc thấy đậm đà triết lý Phật giáo. Vậy chất “từ bi hỉ xả” có thể giúp con người trị bệnh không?

Được quá đi chứ! Đa số cái bệnh là do cái hoạn, cái đau là do cái khổ mà ra. Cuộc sống đầy stress, căng thẳng, tranh giành, được mất, hơn thua… phát sinh từ lòng tham sân si của mỗi con người. Nếu có một trái tim biết “từ bi hỷ xả” thì mọi thứ đã khác hẳn.

+ Nếu cùng một lúc có ba đối tượng: hài nhi, phụ nữ và ông lão. Cả ba đều cần kíp đến chuyên môn của một bác sĩ. Chỉ được chọn một trong thời điểm “thập tử nhất sinh” ấy, anh chọn đối tượng nào?

Tôi la lên cho có nhiều người đến giúp. Trong cấp cứu y khoa tôi học được như vậy. Phải kêu cứu. Sau đó, đánh giá mức độ nặng nhẹ và khả năng cứu chữa để chọn ưu tiên can thiệp. Không có sự “phân biệt đối xử” trong y khoa. Một cô hoa hậu viêm ruột thừa thì cũng giống như bất cứ một cô gái nào khác viêm ruột thừa thôi!

+ Nếu cho anh chọn một điều ước có tầm ảnh hưởng cho phụ nữ – “một nửa thế giới của đàn ông”, anh sẽ ước gì?

Ước phụ nữ là phụ nữ chớ đừng biến họ thành đàn ông! Hiện nay có lẽ do nhiều phụ nữ biến thành đàn ông quá nên đàn ông bèn có khuynh hướng… biến thành phụ nữ, hoặc đàn ông đi… tìm đàn ông để kết bạn! Rắc rối sinh ra từ đó!

+ Người phụ nữ đẹp, theo anh, cần phải có những yếu tố nào – nhan sắc hay sức khỏe?

Không phải nhan sắc, cũng chẳng phải sức khỏe, mà chính là cái tâm hôn của người đó. Bùi Giáng có lần viết: “Em ơi em đẹp vô cùng/ Vì em có cái lạ lùng bên trong” và tôi thêm “Em ơi em đẹp vô song/ Vì em có cái bên trong lạ lùng”! Cái đẹp bên trong đó mới tạo ra thứ nhan sắc không tàn phai, và chính nó cũng tạo ra sức khỏe, là thứ sảng khoái vế thể chất, tâm thần và xã hội như ta biết. Muốn có cái đẹp bên trong đó, phải rèn luyện, phải học tập… dài lâu, nền nếp. Trong khi sửa mắt sửa mũi, độn ngực độn mông có thể làm ngay tức khắc. Cái đáng lo bây giờ là người đẹp nào cũng giống… người đẹp nào, vì cùng một khuôn mẫu cả!

+ Theo anh, một gia đình như thế nào là có “chất lượng sống”? Tại sao ở VN hiện nay chưa mấy gia đình đạt đến?

“Chất lương sống” là cảm nhận ở mỗi cá nhân, ngoài những tiêu chuẩn chung có thể đo đạc được. Một gia đình gồm những thành viên có “chất lượng sống”, không chắc sẽ là một gia đình có chất lượng sống. Cho nên hỏi “Tại sao ở VN hiện nay chưa mấy gia đình…” tôi không biết trả lời sao. Bạn thử chỉ giùm tôi một vài gia đình có “chất lượng sống” để làm mẫu xem sao nhé? Báo Phụ Nữ có thể làm một hội thảo về vấn đề này được rồi đó.

+ Trong đời sống hằng ngày, anh có tự nhận mình là người chồng hạnh phúc và mẫu mực?

Tôi cũng không trả lời được vì không có cái định nghĩa, cái chuẩn thế nào là người chồng hạnh phúc, thế nào là người chồng mẫu mực. Có người mẫu mực mà không hạnh phúc, có người hạnh phúc mà không mẫu mực. Vả lại, hạnh phúc là gì người ta cũng không biết rõ lắm. Nhiều khi mất hạnh phúc rồi mới biết đó là hạnh phúc. Cho nên, “liệu cơm gắp mắm” thôi bạn ạ. Đòi hỏi quá không được đâu!

+ Bài thơ tình, tạp bút viết xong, ai là người đầu tiên chia sẻ với anh?

Tôi. Tôi chia sẻ với mình. Thường viết xong, tôi để cho nó “hoai” đi, “nguội” đi và sau đó mấy hôm đọc lại bằng một con mắt khác, thấy ổn là được.

+ Một người đàn ông lịch lãm, thành đạt và có tâm hồn như anh chắc có nhiều cô mê như điếu đổ. Anh có bao giờ “say nắng” bởi ai khác ngoài vợ không?

“Say nắng” là một thứ bệnh, có khi phải đi cấp cứu đó bạn ạ! Tóm lại, không nên “say nắng”. Tôi không phải là một người đàn ông lịch lãm như bạn nghĩ, trái lại, hơi quê mùa và cục mịch. Rất lù khù, nhát gái từ hồi còn nhỏ. Còn “thành đạt” theo nghĩa nào còn tùy. Nếu thành đạt là… đại gia, nhà cao cửa rộng thì tôi không có. Tôi sống “tri túc”: “Biết đủ dầu không chi cũng đủ/ Nên lui đã có dịp thì lui” là hai câu thơ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị mà tôi rất thích. Cảm ơn bạn đánh giá cao nhưng cho đến giờ này tôi chưa thấy có cô nào mê mình như điếu đổ cả!

+ Anh sinh hoạt hằng ngày như thế nào để có thể luôn giữ được sự bình quân từ tâm hồn đến sức khỏe?

Rất đơn giản. Gần gũi với thiên nhiên chừng nào tốt chừng đó. Tôi nhận ra “hạnh phúc rất đơn sơ” bạn ạ. Sống trong hiện tại, sống trong “chánh niệm” thì sẽ phát hiện nhiều điều hay. Chẳng hạn chỉ cần biết thở “chánh niệm”, bạn sẽ ngạc nhiên:

Lắng nghe hơi thở của mình
Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa…
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…

Bạn đừng nghĩ nó là thơ và bảo sao thơ gì mà dở ẹc vậy nhé! Nó không phải là thơ đâu. Nó là thở.

+ Nếu được nói về vợ, anh sẽ nói điều gì?

Biết nói gì đây! Cách đây mươi năm, tôi có viết một bài “thơ” tặng vợ như mọi người “làm thơ” hay làm:

Dẫu thế nào đi nữa
Em hãy còn trẻ măng
Dẫu thêm ngàn năm nữa
Em còn thua tuổi anh!

+ Xin cảm ơn anh.

LÊ MINH QUỐC
(nhà thơ)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định

Cảm ơn em, “Tâm si-đa”

21/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Cảm ơn em, “Tâm si-đa”

Tôi biết Tâm từ những lớp tập huấn về HIV/AIDS do Trung tâm Truyền thông –giáo dục sức khỏe Tp. HCM tổ chức. Tâm xanh xao, ốm yếu, gầy nhom, nhưng mạnh mẽ, quyết liệt, thẳng thắn và trung thực. Tôi đánh giá cao sự đóng góp tích cực của Tâm trong chương trình Phòng chống HIV/AIDS, đặc biệt trong các hoạt động giáo dục đồng đẳng. Sau này tôi quý mến Tâm hơn khi biết em đang nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc cho các bé nhiễm HIV.

Khi có những ưu tư, thất vọng, nản lòng, lại thấy Tâm… gõ cửa. Có khi Tâm hớt hải xin một cái giấy giới thiệu, một lá thư tay để kịp đưa một bé vào bệnh viện; có khi Tâm kêu cho ít tiền để mua vé xe đò cho một bé gái vừa thoát khỏi ổ mại dâm… Những lúc như thế, bao giờ trong tôi cũng có cái cảm giác mến phục cô gái nhỏ bé mà rắn rỏi này.

Tôi mừng vì nay Tâm đã có được một tập Hồi Ký. Điều rất đáng quý, Tâm viết Hồi ký như là một cơ hội để kiếm chút đỉnh tiền nuôi các “con” nheo nhóc của mình.
Từ chuyện đời thực của mình- qua lời kể chân thành của Tâm- nhiều khi làm cho chúng ta phải lặng người, phải giật mình, sửng sốt…

Như một nhắn gửi, một cảnh báo.

Đọc, thấy rưng rưng…

Tôi nghĩ như có cái gì đó – một cái “nghiệp“ – đã thúc đẩy Tâm tự đem thân mình trải nghiệm nỗi gian truân của cuộc đời để rồi từ đó mà có tấm lòng vị tha, có bàn tay nhân ái, cưu mang bao cảnh đời tối tăm, nghiệt ngã.
Nhà xuất bản muốn tôi viết đôi dòng để giới thiệu tập Hồi ký này, tôi thấy chỉ cần nói một câu: Cảm ơn em,“ Tâm si-đa”.
BS Đỗ Hồng Ngọc.

NGƯỜI MẸ ĐẦY NGHỊ LỰC

Trương Thị Hồng Tâm hay “Tâm si-đa” không phải là một cái tên xa lạ với những ai quan tâm đến công tác truyền thông phòng chống AIDS. Có rất nhiều bài báo viết về chị, đặc biệt là khoảng thời gian đen tối của quá khứ khi chị còn là một người nghiện ma túy nặng, một cô gái bán dâm luôn phập phồng lo lắng những đợt truy quét, một người với “thành tích” nhiều lần trốn trường trại…mà xuất phát điểm của cô gái ấy còn là một quá khứ đau lòng, một thân phận. Nay, bài viết này chỉ xin đề cập đến một khía cạnh khác, một phần đời khác của chị – là một người mẹ của nhiều đứa trẻ mắc bệnh AIDS.

Đoàn Kim Ngọc
(Thế giới Mới, 19.3.2012)

Ấn tượng lần gặp đầu

Tôi gặp chị Tâm vào một ngày nắng nóng. Chị chở hai đứa con đi nhận thuốc ở bệnh viện về rồi,ghé ngang chỗ hẹn luôn. Chị bảo vừa cho hai bé tự về bằng xe ôm. Tôi ngạc nhiên vì sự tự lập của những đứa trẻ, lớn nhất chỉ vừa 15 tuổi, bé nhỏ nhất cũng chỉ mới vào lớp 1. Chị nói: phải tập cho các con tự lập, chị đâu thể lúc nào cũng kè kè bên.

Gặp được chị, chị liền nói ngay lý do chị đến trễ. Vốn là chở hai đứa đi bệnh viện, khi đến đấy, chị có việc nên để hai bé tự chờ nhận thuốc, lát chị quay lại thấy ngay bé Lý (bé lớn nhất) đang khóc rưng rức. Hỏi gì cũng cứ ậm ừ không nói, sau một lúc tìm hiểu chị mới biết bé Lý “bị” tư vấn tâm lý. Dùng chữ “bị” là vì theo chị, tư vấn mà đề cập kiểu “Em có biết em bị Siđa không?” hoặc “Em có biết Siđa là gì không?” sẽ khiến những đứa con chị mất tinh thần hẳn vì sự tự ti và mặc cảm mình mắc phải một căn bệnh mà đến bây giờ xã hội vẫn còn không ít thành kiến.

Dỗ mãi cô bé mới nín khóc. Nhìn cách dỗ con của chị, cách rầy la của chị sẽ không ai biết được hai bé đều là con nuôi của chị. Chị hay nói đùa là “con ngang hông” nhưng chị coi những đứa trẻ kém may mắn ấy như con ruột. Mà chị cũng đâu có con ruột để so sánh như hay không, chỉ biết dùng hết sức mình yêu thương, lo lắng và che chở cho những số phận này.

Một số phận thăng trầm

Chị là Trương Thị Hồng Tâm nhưng cái tên Tâm si-đa được nhiều người biết đến hơn sau nhiều năm gắn bó với công tác tuyên truyền và phòng chống căn bệnh thế kỷ này. Chị không giấu quá khứ từng là làm gái, nghiện ma túy và với “chiến tích” trốn trường trại mà ngay cả chị cũng không thể đếm xuể. Thế nhưng, điều chị muốn nói không phải là quá khứ “lẫy lừng” ấy hay vì đâu mà chị có thế cay nghiện sau nhiều năm hút, chích. Điều mà chị nói nhiều nhất bây giờ là các con của chị, những đứa trẻ mà số phận đã rung rủi để chị gặp chúng rồi yêu thương chúng . Cho dù khó khăn đến mấy, chị cũng không thể nào bỏ mặc được. Chị không có điều gì khác những người mẹ tảo tần, vất vả nuôi con trong điều kiện kinh tế khó khăn. Nếu có khác, có lẽ chị có nhiều nghị lực hơn để những đứa con của chị có nơi nương tựa, có chút an ủi trong cuộc đời đầy bất hạnh.

Chị hiện tại đang nuôi bốn trẻ, nếu tính thêm một bé chiều đi học về ghé nhà chị ăn cơm nữa là năm. Với mức lương hiện tại của chị đang công tác ở nhóm Nụ Cười thì chị không đủ nuôi chị, đừng nói đến nuôi bốn đứa con mắc bệnh hiểm nghèo. May nhờ có sự giúp đỡ của một linh mục đang sống tại Nhật và thỉnh thoảng có sự góp sức của các mạnh thường quân mà các con của chị có được một chế độ dinh dưỡng tương đối để có đủ sức chống chọi với bệnh tật.

Mỗi đứa trẻ là một khoảng đời, một số phận nhưng chung hết là ba mẹ chết vì nhiễm AIDS, có đứa mẹ vẫn còn sống nhưng không mảy may quan tâm đến con mình. Cũng vì thiếu tình thương từ thuở nhỏ nên chị đã yêu thương chúng, quan tâm chúng rất nhiều để những đứa trẻ ấy không có cảm giác bị bỏ rơi như chị ngày xưa. Chị kể có những lúc khó khăn tưởng như có thể buông xuôi hết tất cả nhưng rồi nghĩ đến chặng đời không lối thóat như ngày xưa đến sự giúp đỡ chân thành của những người bạn luôn muốn mình sống tốt, rồi sau này là những đứa con chị đang cưu mang mà cứ tiếp tục cố gắng. Và phần thưởng lớn nhất của chị không gì ngoài tình thương của các con dành cho chị.

Cám ơn Đời và sống
Trong những người thường xuyên giúp đỡ chị, người đầu tiên chị nhắc đến là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Chị nói : Bác sĩ Ngọc là người đầu tiên cho chị biết trên đời này vẫn còn người tốt, vẫn còn có người nói chuyện với chị như những người bạn với nhau, không hề xem chị là “dưới đáy xã hội”. Cũng chính bác sĩ Ngọc đã không ít lần giúp chị, mà đúng hơn là giúp đỡ các con chị, khi thì một giấy giới thiệu, khi thì vài trăm ngàn…

Với chị bây giờ có lẽ không gì hơn ngoài các con chị. Điều chị lo lắng bây giờ không gì ngoài các con chị. Nhất là khi sức khỏe chị không được tốt như trước nữa. Chị chia sẽ rằng chị đã chuẩn bị một ít tiền dành cho các con, mỗi đứa một tài khoản, tuy không nhiều nhưng đó là tất cả tài sản của chị. Chị không dành cho mình điều gì ngoài niềm vui sống và tình thương của các con.

Tôi hỏi chị: nhìn lại chị thấy lúc nào là lúc đau khổ nhất trong cuộc đời chị? Chị nói rằng chị không biết vì cũng có những lúc chị rất sướng, nhưng cũng có lúc không có bộ đồ mà mặc, phải đi thuê. Dường như quá khứ ấy, như ánh nắng buổi trưa nay bay vèo đâu mất chỉ còn lại những áng mây trong buổi chiều. Cuộc sống chị bây giờ, có lẽ đã có những áng mây rất xanh như nụ cười hồn nhiên của các con chị và vời vợi bầu trời tương lai mà chị cố gắng đem lại cho các con.

Đoàn Kim Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Đọc sách

Thơ: Rùng Mình (bản dịch Ý và Pháp)

05/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Ghi chú: Nhà văn Trương Văn Dân, tác giả tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” cùng vợ là Elena Pucillo Truong, người Ý, nói đã xúc cảm, “rùng mình” dịch bài thơ Rùng Mình của tôi sang tiếng Ý và tiếng Pháp. Chị Elena là tiến sĩ ngữ văn, tác giả vài truyện ngắn có tiếng gần đây trên báo chí, theo chồng về nước dạy tiếng Ý và tiếng Pháp, hiện đang sống và làm việc tại Tp.HCM. Xin được chia sẻ cùng các bạn.
Cảm ơn Trương Văn Dân và Elena.

ĐHN

Rùng mình…
Tùng địa dũng xuất
(Pháp Hoa)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
Vì sao núi lửa cứ phun trào?
Vì sao băng tan vì sao bão táp…?
Vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt
thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
Vì sao và vì sao?…

Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát

Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mủi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
Vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
Vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
Vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
Vì sao và vì sao?

Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)

BRIVIDI !

Rabbrividendo, l’Uomo chiede :
Perche’i terremoti e gli tsunami
Continuano ad arrivare un giorno dopo l’altro?

Perche’ i vulcani continuano ad eruttare?
Perche’ i ghiacciai si sciolgono, i tifoni distruggono?
Perche’ i bambini e i vecchi vengono trascinati e inceneriti?
Le case crollano e le citta’ sono distrutte come fossero i giocattoli
di un bambino arrabbiato.
E perche’, perche’..???

Ed ora ascolta
Solo un istante……

Rabbrividendo anche la Terra chiede:
Perche’ le montagne continuano a crollare ?
Perche’ i fiumi vengono bloccati?
Perche’ si continua a perforare il fondo della terra?
Perche’ gli uccelli delle foreste, i pesci del mare non hanno un posto dove stare?
Perche’ gli alberi secolari vengono sradicati?
Perche’ il riso, il granoturco vengono modificati geneticamente?

E perche’, perche’ ?

Una volta ci si appoggiava uno all’altro
Sembra che ora non abbiamo più bisogno l’uno dell’altro
La Terra rabbrividisce
L’Uomo rabbrividisce
Ognuno per proprio conto.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Ý của Trương Văn Dân e Elena Pucillo Truong)

FRISSONS !

Frissonant, l’Homme demande:
Pourquoi les tremblements de terre et les tsunamis
Continuent à arriver un jour après l’autre?

Pourquoi les volcans continuent à éclater ?
Comment arrive-t-il que les glaciers fondent, les typhons détruisent?
Pourquoi les enfants et les personnes âgées
Sont entraînés et sont reduits en cendres ?

Les maisons s’effondrent et les ville sont détruites
Comme si elles étaient des jouets d’un enfant en colère.
Et pourquoi, pourquoi ?

Et maintenant écoute
Seulement un instant…..

Frissonant la Terre demande également:
Comment arrive-t-il que les montagne continuent à s’effriter ?
Pourquoi les rivières viennent bloquées?
Comment arrive-t-il qu’on continue à percer le fond de la terre?
Pourquoi les oiseaux de forêts, les poissons de la mer
n’ont plus un endroit où vivre?
Pourquoi les arbres sont déracinés?
Pourquoi le riz , le maïs sont génétiquement modifiés?

Et pourquoi, pourquoi?
Une fois on s’appuyait l’un à l’autre
Il semble que maintenant nous n’avons plus besoin les uns des autres.
La Terre frissonne
L’Homme frissonne
Chacun pour son propre compte.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Pháp của Elena Pucillo Truong)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Vài đoạn hồi ký

Đi khám bệnh: thơ Trần Vấn Lệ

02/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Đi Khám Bệnh

Bác Sĩ cười vui:
“Anh chẳng bệnh, chỉ buồn, không thuốc chữa buồn đâu!”.
Ông đưa tay bắt, bàn tay ấm.
Tôi nói:
“Cám ơn”
Và cúi chào.

Tôi đi ra cửa. Ngang vườn hoa. Trời đã gần trưa, nắng chói lòa.
Hoa nở nhiều hơn hồi nãy tới. Tôi mừng. Không bệnh, khỏi âu lo.

Mà kỳ, khi bước vào xe, mở, máy nổ rồi sao lại ngẩn ngơ?
Sao lại…Như là nghe tức tức, nghe tim đập mạnh, nhặt rồi thưa…

Nhìn sang bên cạnh, em không có. “Lâu lắm mình không ở cạnh nhau”.
Tôi nhớ bốn câu ai đó viết nói về đau lắm một cơn đau (*).

Gục đầu trên cái volant ấm, tôi nhớ bàn tay Bác Sĩ ghê…
Thôi, phải về thôi, không nán được, vườn hoa con bướm cũng vừa bay.

(*) Thơ TchyA:
Em đi từ đó phòng anh vắng
Bút gỉ hồn tan sách bụi nhàu
Mực bỗng khô khan, tim bỗng héo
Can tràng bỗng rạn vết thương đau!

Trần Vấn Lệ

Viết thêm: Sáng nay Trần Vấn Lệ gởi tôi bài thơ này và hỏi bạn có khám bệnh cho ai như vậy chưa? Tôi nhớ mình có khám cho nhiều nhà thơ rồi nhưng không ai kỳ cục vậy. Trần Vấn Lệ và tôi cùng học chung lớp Đệ thất Phan Bội Châu, Phan Thiết, năm 1954, khi trường vừa thành lập được hai năm. (Năm nay, 2012, PBC vừa đúng 60 năm!). Bây giờ lớp chúng tôi mỗi đứa một phương, và đều trên dưới 70 cả rồi! Trần Vấn Lệ làm thơ rất “ướt át”, – chắc tại cái tên của anh- mặc dù, anh thừa biết thực ra, Lệ ở đây là tráng lệ, là nguy nga, mà anh cứ làm bộ như là “nước mắt”! Anh vốn mê những tà áo dài, những con đường nhỏ, những ngọn đồi, những sông hồ núi biển…từ Phan Thiết cho đến Đà Lạt của ngày xưa.
Hôm qua tôi ngồi với mấy người bạn cũ Phan Bội Châu Phan Thiết, cùng nhắc Trần Vấn Lệ, kẻ quên người nhớ… nhưng biết bao kỷ niệm của tuổi thơ đã gợi lên một Phan Thiết của ngày nào. Nói về cái “giọng phan thiết”, sao mà nghe như cộc lốc, thô lỗ, “dùi đục chấm mắm nêm”. Thì ra ở một nơi “ăn đầu sóng nói đầu gió” như vậy người ta không thể không to tiếng, không thể không vắn tắt, nghe cứ như gắt gỏng, gây gổ, lạnh lùng. Nghe quen rồi mới biết nó tha thiết, nó thắm thiết là dường nào!
Rồi cái kiểu “ngồi phan thiết”. Cái kiểu ngồi “chồm hổm” hơi khó coi- rồi biến tướng thành “chè hẻ”, “chò hỏ” nữa- nhưng đều mang những ý nghĩa thâm thúy khác nhau mà chỉ dân Phan Thiết mới hiểu nổi! Thực ra, ở một vùng biển đầy gió cát như thế, muốn ngồi cho vững chỉ có cách “chồm hổm” là tốt nhất! Nhưng “chè hẻ” thì khác. Các bà má hay rầy: con gái gì mà ngồi chè hẻ, không ý tứ gì hết! “Chò hỏ” lại khác nữa! Mày hết chuyện làm rồi sao ngồi chò hỏ đó?
Lại nói chuyện “bánh căn”. Tôi kể bài “Bánh Căn phan thiết” của tôi được báo Bình Thuận Du lịch đăng lại một cách trang trọng. Khi viết tôi dùng chữ “đổ” – đổ bánh căn– thì Trần Vấn Lệ nhắc còn có từ “đúc” nữa – “đúc bánh căn”! Ừ, “đúc”, tôi cũng có biết. Mấy đứa con gái hay bày trò chơi “đúc bánh căn” thì phải. Cát trộn với nước cho vào khuôn đúc một cái… là xong! Tiền bằng lá cây. Vô số!
Rồi cùng nhắc Dũng Chinh, Minh Quốc, Trần Thiện Thanh, nhắc Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn… rồi cả Hàn Mặc Tử, Mộng Cầm…
Ôi, cái Phan Thiết nhỏ xíu!
Đỗ Hồng Ngọc.
(2.3.2012)

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Giảm tải bệnh viện? Không khó !

27/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Nghĩ trong Ngày Thầy Thuốc
Giảm tải bệnh viện? Không khó !
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Quá tải bệnh viện đang là một vấn nạn lớn của ngành y tế nhiều năm qua chưa giải quyết được. Thực ra, giảm tải bệnh viện không khó ! Câu hỏi cần đặt ra là : Tại sao quá tải ? Quá tải ở đâu ? Làm cách nào để giảm tải ?…
Câu trả lời đơn giản: Quá tải là bởi vì bệnh nhân quá đông, bệnh viện không đủ giường nằm, nhân viên thiếu… ; y tế cơ sở không đủ điều kiện, không tạo được niềm tin v.v…
Vậy nếu có cách nào đó làm cho dân bớt bệnh, giường dôi ra, tăng niềm tin vào y tế cơ sở, ta sẽ giải quyết được vấn đề.

Tại sao bệnh nhân đông ?

Vì dân số gia tăng. Vì giao thông thuận tiện. Vì môi trường sống ngày càng xấu đi. Vì đời sống căng thẳng, đầy lo lắng, bất an. Vì kỹ thuật y học… tiến bộ. Bệnh diễn biến thường bất ngờ, thà đi xa mà gặp thầy hay thuốc giỏi vẫn hơn đến trễ bị la sao đến trễ vậy! Kỹ thuật y học tiến bộ không ngừng. Siêu âm, CT Scan, MRI, Nội soi, Xạ hình… đầy bí hiểm. Thử máu cho kết quả mấy chục thứ một lúc, kèm những chỉ số bình thường để mặc sức so sánh, suy đoán, băn khoăn. Lên mạng tìm thông tin càng hoang mang, sợ hãi. Tốt nhất đến bệnh viện.
Bệnh nhiều cũng vì người ta sống lâu hơn xưa. Từ năm 1000 đến 1900, suốt gần một ngàn năm, tuổi thọ bình quân của con người chỉ tăng từ 24 lên 30. Trong khi từ 1900 đến 2000, một trăm năm thôi, tuổi thọ từ 30 lên 65. Ngày nay, tỷ lệ sống trên 80 tuổi ngày càng đông. Tuổi thọ tăng cao, sinh nhiều bệnh mạn tính, trầm trọng, kéo dài, khó chữa, đòi hỏi có sự chăm sóc đặc biệt.
Mặt khác, dân « bệnh » nhiều cũng do bị… hù dọa. Thông tin « y tế » tràn ngập, không kiểm soát nổi, quảng cáo đủ mánh khóe, gây tâm lý sợ hãi hoang mang. Mở TV coi sẽ thấy đầy quảng cáo thuốc, quảng cáo cơ sở khám chữa bệnh này nọ với những danh từ đao to búa lớn, hình ảnh rùng rợn, người dân muốn không bệnh cũng không được!
Có người kể chuyện cả làng đang sống yên ổn thì một hôm có đoàn « từ thiện » ở trên xuống, vác theo máy móc thuốc men, khám bệnh siêu âm các thứ phát hiện lu bù bệnh tật, cho vài ngày thuốc rồi rút êm. Từ đó cả làng nháo nhào, đi đâu cũng nghe bàn toàn chuyện bệnh hoạn, ăn không ngon ngủ không yên. Dĩ nhiên khám bệnh « từ thiện » là việc làm rất đáng khuyến khích nhưng vấn đề là nên quan tâm thế nào để giúp cho tới nơi tới chốn.
Nhiều khi chỉ cần thay đổi vài… chỉ số tham khảo thì bệnh tăng ào ạt. Thí dụ xưa bảo huyết áp trên 14/9 mới có vấn đề, nay bảo chỉ cần 13/8 là có vấn đề rồi. Xê dịch chút xíu vậy thôi đủ nhiều trăm triệu người rơi vào… bệnh lý ! Dĩ nhiên những kết luận đó đều có cơ sở khoa học cả. Thế nhưng những lời khuyên về phương pháp phòng bệnh và điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc chẳng ai thèm nghe. Nào ăn ít muối, ít đường, nào uống ít rượu, không hút thuốc lá, nào tập thể dục…. vất vả quá. Một thứ thuốc mới được tung hô ít lâu liền bị cấm… lưu hành vì gây tai biến! Có lần thậm chí người ta còn nghi ngờ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cố tình hù dọa đại dịch cúm để… giúp một công ty sản xuất thuốc chủng ngừa!

Giảm tải cách nào ?

Ai cũng biết bệnh trẻ em phần lớn tự khỏi nhờ sức đề kháng tự nhiên của cơ thể. Nhờ có nhiều bệnh « lặt vặt » thường xuyên như vậy mà sức đề kháng được phát triển, tạo « miễn dịch » suốt đời. Vấn đề là làm sao biết lúc nào bệnh nặng, lúc nào nhẹ để xứ trí cho đúng. Cái đó là nghề của bác sĩ. Bác sĩ « mát tay » hay không, giỏi hay dở là ở chỗ biết « phân biệt » này. Chính vì nhiều bệnh ở trẻ em tự khỏi nên không ngạc nhiên thấy nhiều khi chỉ cần nước lã, lang băm… cũng chữa được bệnh.
Trước tình hình quá tải ở các bệnh viện Nhi thành phố, trên báo Tuổi Trẻ trước đây tôi có đề xuất giải pháp nên có bệnh viện Nhi đồng 3. Chữ « Bệnh viện Nhi Đồng 3 » nằm trong ngoặc kép. Đó chính là nên phục hồi lại hệ thống Chăm sóc trẻ em lành mạnh sẵn có trước đó ở khắp các quận huyện đã bị « phế bỏ ». Có lẽ nhiều người cho rằng chăm sóc trẻ đang « lành mạnh » là một điều… vô lý, tốn kém ! Thực ra hệ thống chăm sóc trẻ em lành mạnh là biện pháp phòng bệnh tích cực nhất dành cho trẻ dưới 6 tuổi, do các chuyên viên nhi khoa, các chuyên viên tâm lý, nhân viên công tác xã hội… ở cơ sở, gần gũi với nơi người dân sống. Ở đó trẻ được theo dõi sức khỏe định kỳ hằng tháng, cân đo, chủng ngừa, hướng dẫn dinh dưỡng, giải đáp thắc mắc cho các bà mẹ từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ ; khi đau ốm thì có bác sĩ nhi tại chỗ khám chữa trị sớm, khi cần thì chuyển đi đúng nơi đúng lúc. Các bác sĩ nhi này được đào tạo và huấn luyện ở các bệnh viện Nhi đồng, được « quản lý » chất lượng để có đủ kiến thức và kinh nghiệm. Các bà mẹ nhờ đó sẽ rất yên tâm, tin cậy, gắn bó. Việc gì cứ mỗi mỗi phải chen chúc vào bệnh viện tuyến trên cho khổ, cho mất thì giờ, bực bội, tốn kém ? Để duy trì một hệ thống như thế phải đầu tư đúng mức. Một đồng bỏ ra cho phòng bệnh sẽ giảm tám đồng cho điều trị. Nó vừa giúp giảm tải cho tuyến trên và quan trọng hơn, mang lại hạnh phúc cho người dân.
Ta thấy thực tế quá tải không chỉ do bệnh nhiều mà còn do mất lòng tin ở y tế cơ sở. Không phải chỉ có bệnh viện tuyến trung ương, thành phố, chuyên khoa sâu… mới quá tải mà chùa Pháp Hoa ở Đồng Nai trước kia, ngôi vườn kỳ lạ ở Long An, thần y Nam Hải ngoài Bắc, thầy Bình Phước, Nước cá thần một dạo… đều bị quá tải! Đấy là vì lòng tin, niềm tin. Lòng tin tự nó chữa được 50% bệnh, ít nhất về mặt tâm lý. Còn với những bệnh tự khỏi thì nó chữa được… 100% ! Ngày nay rất nhiều bệnh do hành vi lối sống gây ra. Nghiên cứu cho thấy 60-90% bệnh nhân đến bác sĩ là có vấn đề stress đằng sau các bệnh chứng. Chữa bằng thuốc men đơn thuần không hết.
Gần đây người ta nói nhiều đến thương hiệu bệnh viện. Bệnh viện nào có « thương hiệu » thì người ta tìm đến đông. Ngành y không làm kinh doanh nên có lẽ nên gọi là « nhà thương… hiệu » thì đúng hơn. Để giải tỏa áp lực quá tải ở các bệnh viện có « nhà thương hiệu » này, sao không nhanh chóng cho mở các « đại lý », các « chi nhánh » ? Nghĩa là các cơ sở II, III… của bệnh viện đó, cùng tên, cùng chất lượng, đảm bảo quy trình quản lý, có sự liên thông giữa « mẹ-con ». Cơ sở « mẹ » chịu hoàn toàn trách nhiệm huấn luyện nhân viên, kiểm tra giám sát, hỗ trợ kỹ thuật. Với công nghệ thông tin hiện đại, việc nối kết hệ thống không khó trong chẩn đoán, điều trị, phục hồi. Các giáo sư, bác sĩ giỏi thay vì luân chuyển đi cơ sở, nay đây mai đó, không bằng ngồi tại cơ sở « mẹ » mà chỉ đạo, hướng dẫn các « đại lý » để chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm thì hiệu năng, hiệu quả sẽ cao hơn.
Các bệnh viện Ung Bướu còn có một đặc thù riêng. Bác sĩ Lê Hoàng Minh, giám đốc bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM có lần cho tôi biết hiện có đến 20% bệnh nhân đang nằm viện là ở vào giai đoạn cuối. Ta biết, ở giai đoạn này vấn đề điều trị không quan trọng bằng Chăm sóc giảm nhẹ (Palliative Care), nhằm nâng cao chất lượng cuốc sống, giải quyết các vấn đề xã hội, tâm linh. Đây là một « chuyên khoa » mới của ngành y ngày càng phát triển ở các nước tiên tiến. Việc chăm sóc không chỉ đơn thuần y khoa mà bao gồm cả tâm lý xã hội… Nếu bệnh viện có một địa điểm thuận lợi, một « chi nhánh » dành riêng cho bệnh nhân giai đoạn cuối này sẽ giảm tải đáng kể. Bệnh nhân sẽ được hướng dẫn về thiền, yoga, dinh dưỡng, được chăm sóc về tâm linh, tình cảm, được hỗ trợ về xã hội bởi các chuyên gia, bác sĩ, nhà tâm lý, nhân viên công tác xã hội, các sơ, ni cô…
Tóm lại, nếu Nhi Đồng có hệ thống Chăm sóc trẻ em lành mạnh, nếu Ung Bướu có hệ thống Chăm sóc giảm nhẹ, Chấn thương chỉnh hình, Phụ sản… có những hệ thống « chi nhánh », « đại lý » phù hợp, đảm bảo chất lượng thì giảm tải bênh viện sẽ không còn khó lắm./.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

Hà Nội Mới: “Đối thoại chủ nhật”

26/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Báo HÀ NỘI MỚI (CN 26.2.2012)
Đối Thoại Chủ Nhật với BS Đỗ Hồng Ngọc
http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Doi-thoai/539874/%C4%91au-dau-chua-do-se-khong-bao-gio-dut-benh!.htm
“Đau đâu chữa đó” sẽ không bao giờ chữa dứt bệnh!
Ở ông, tài năng y học và văn chương, con người khoa học và con người nghệ sĩ được lồng ghép và bổ trợ lẫn nhau một cách nhuần nhuyễn, dí dỏm mà uyên bác, gần gụi đến bình dị, thú vị đến mức học giả Nguyễn Hiến Lê từng nhận xét: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị!”.
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc -con người kỳ lạ đó- giờ đã ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy”. Chắt lọc được từ chính những trải nghiệm cuộc sống, ông bảo, bác sĩ chỉ biết “đau đâu chữa đó” thì không bao giờ chữa dứt được bệnh, vì cái “khổ” vẫn ẩn tàng bên trong!

Ngô Sơn

PV: Thú thực, bác sĩ nổi tiếng trong y học với nhiều cuốn sách viết cho bà mẹ trẻ em nhưng tôi suýt nữa gọi bác sĩ là… cô?

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (BS ĐHN): Nhiều người cũng lầm như thế. Lúc tôi còn cộng tác ở báo Mực Tím, nhiều em viết thư: ”Thưa cô, em có điều này rất bí mật không dám nói với ai…”. Bây giờ nhiều ông sồn sồn vẫn tưởng tôi là một nữ bác sĩ… trẻ đẹp, đến lúc gặp mặt mới bật ngữa!
Nếu tự phác họa về mình, tôi thấy đó là một ông già mà tóc chưa bạc nhiều và thích viết lách lăng nhăng làm người ta cười… Là một bác sĩ nhà quê đến nỗi người ta không biết là bác sĩ vì toàn hướng dẫn người dân tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe của mình để ít phải lệ thuộc vào thầy vào thuốc…

PV: Tôi rất tâm đắc khi bác sĩ nói: “ Kẻ làm thầy thuốc có thể chữa được cái “đau” mà không chữa được cái “khổ”. Có thể chữa được cái “bệnh” mà không chữa được cái “hoạn”.

BS ĐHN: Tiếng Việt mình rất hay bạn ạ! Đau khổ. Bệnh hoạn. Cái đau sinh cái khổ, cái khổ đẻ cái đau… Bác sĩ được học để chữa cái đau. Mấy ai quan tâm đến cái khổ của người bệnh đằng sau cái đau đó? Nghiên cứu gần đây cho thấy 60-80% bệnh nhân đến bác sĩ là có nguyên nhân từ “stress” trong đời sống. Bác sĩ chỉ biết “đau đâu chữa đó” thì không bao giờ chữa dứt được bệnh, hết bệnh này sinh bệnh khác, vì cái “khổ” vẫn ẩn tàng bên trong! Mà cái khổ, không dễ chữa chút nào!

PV: Phải chăng bởi điều này nên bác sĩ bỏ ra 20 năm theo đuổi Bộ môn Khoa học hành vi & Giáo dục sức khỏe (trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch) – bộ môn hầu như không có ở các Đại học Y khoa?

BS ĐHN: Khi mắc bệnh người ta cứ đổ cho vi trùng, vi-rút, nhưng nhiều bệnh tật lại do hành vi lối sống gây ra. Bây giờ người ta bệnh nhiều hơn xưa vì sao? Bởi hành vi lối sống của con người đã thay đổi. Đặc biệt do môi trường thiên nhiên, không khí, nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng. Đời sống căng thẳng gây bệnh tâm thần; ăn uống bất cẩn gây bệnh béo phì, tim mạch; môi trường bê bối gây bệnh ung thư; và các thứ tai nạn, thương tích. Sức khỏe phải là sự “sảng khoái” ở cả ba mặt: thể chất, tâm thần và xã hội.
Khi ở bệnh viện Nhi Đồng, tôi làm ở khoa cấp cứu 16 năm, hàng ngày thấy trẻ con chết nhiều quá nên nghĩ cần phải đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, nâng cao dân trí để người dân tự biết bảo vệ, chăm sóc sức khỏe mình, gia đình mình. Rời bệnh viện Nhi đồng, tôi về phụ trách Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe suốt hơn 20 năm và đã hình thành Bộ môn Khoa học hành vi- Giáo dục sức khỏe này tại trường Y khoa Phạm Ngọc Thạch.

PV: Bộ môn “không cần thuốc” này có chữa được bệnh?

BS ĐHN: Không hiệu quả trước mắt như mổ xẻ, thuốc men, nhưng hiệu quả bền chặt sâu. “Truyền thông trị liệu”,”Truyền thông thay đổi hành vi” không dễ tí nào! Nó là một khoa học, bao gồm cả tâm lý- xã hội- nhân chủng (văn hóa) ứng dụng vào ngành y, giúp cải thiện mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân và nâng cao y đức. Người bệnh không chỉ “đau” mà còn “khổ”. Làm sao người bác sĩ thấy được nỗi khổ sau nỗi đau, để thấu cảm với người bệnh. Một lời nói, một cử chỉ của thầy thuốc có thể làm cho bệnh nặng hơn hay nhẹ đi, vơi đi bạn ạ. Những kỹ năng ứng dụng này phải bằng tâm của người thầy thuốc.

PV: Bác sĩ nhìn thấy gì ở 2 chữ “y đức” hiện nay?

BS ĐHN: Nói y đức suông mà không có tay nghề thì… hại người ta nhiều hơn, làm người ta “đau” nhiều hơn. Còn giỏi kỹ thuật chuyên môn mà thiếu y đức thì làm cho người ta “khổ” nhiều hơn.
Thực tế, bên cạnh những chuyện không hay, đáng tiếc về y đức, đa số các bác sĩ, nhân viên ngành y nói chung âm thầm chịu đựng gian khổ, khó khăn trong đời sống để phục vụ bệnh nhân, phục vụ cộng đồng theo lý tưởng nhân bản mà nghề nghiệp đã truyền trao từ khi khoác lên mình chiếc áo blouse trắng.
Nhưng cũng phải thẳng thắn, tại sao thầy thuốc thường bị đem ra “mổ xẻ”, “răn đe”…? Tại sao mối “quan hệ” đầm ấm ngày nào nay trở thành “cơm không lành canh không ngọt”?
Thời tôi học Y khoa ở Saigon phải học 7 năm, trình luận án với lời thề Hippocrate, được cấp bằng Tiến sĩ y khoa quốc gia. Ngay năm thứ nhất đã học môn Tâm lý- Xã hội ứng dụng. Mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân rất được chú trọng có lẽ vì thời đó chưa có nhiều máy móc kỹ thuật cao như bây giờ nên “lâm sàng” được học rất kỹ. Đến năm thứ 5, chúng tôi phải học Nghĩa vụ luận Y khoa để khi ra trường biết cách hành xử với bệnh nhân, với cộng đồng và với đồng nghiệp sao cho tốt, cho đúng. Ra trường thì vào Y sĩ đoàn- một nghiệp đoàn nghề nghiệp- để được giám sát và bảo vệ trong quá trình hành nghề. Đại khái có nhiều điều xưa cũ, nhưng cần thiết ngay cả trong thời đại hiện nay.

PV: Bác sĩ đi theo nghề y, lại bắt duyên nghiệp văn chương thì quả là…

BS ĐHN: Tôi mê làm báo từ hồi học Đệ thất, Đệ lục (lớp 6, lớp 7 bây giờ). Lúc đầu làm báo tường, sau làm báo tập, in ronéo, mỗi năm ra… hai số. Nửa thế kỷ trước, năm 1962, đậu xong Tú Tài II, tôi phân vân trước ngã ba đường: vừa muốn học Y, lại muốn học Sư phạm, học Văn khoa. Sau cùng tôi chọn y, rồi học thêm Văn, rồi viết lách, giảng dạy… lai rai mấy chục năm nay. Tôi nghĩ, y là cái nghề như kỹ sư, thầy giáo… còn “văn” thì phải có cái “máu”, cái “gien” mới được.

PV: Khi viết báo, làm thơ liệu bác sĩ có bị cản trở bởi “cây kim tiêm, con dao mổ”?

BS ĐHN: Trái lại, nó còn “hỗ trợ” quấn quít lấy nhau, bổ sung cho nhau. Giống như đất sét thì phải có nước mới nặn nên hình được. Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật mà! Ai bảo người nghệ sĩ không yêu nghề, không nghiêm túc còn vị thầy thuốc sao lại không thể có tâm hồn bay bỗng… nhỉ? Dĩ nhiên khi viết về y học thì phải hết sức thận trọng, chính xác và phải luôn quan tâm tới góc cạnh tâm lý xã hội của vấn đề chứ không đơn thuần chỉ ở góc độ bệnh lý. Khi làm thơ, viết tùy bút chẳng hạn thì có thể tự cho phép mình bay bỗng hơn… Cronin, Lỗ Tấn, Sommerset Maugham… đều là thầy thuốc cả đó chứ!

PV: Viết sách y học, bác sĩ tả việc khám, chữa bệnh với ngôn từ rất “sống” rất hình ảnh như “ nếu phân cứng, lục cục lòn hòn như cứt dê và mỗi lần đi bé phải rặn ì ạch đỏ mặt tía tai” hay “Khám chữa bệnh cho trẻ con có cái thú là chúng không… biết nói, thỉnh thoảng còn giật kiếng cận và ống nghe của mình, lúc cao hứng còn… “tè” vào mặt mình..” hoặc “ Một bà mẹ có con bị bón bao giờ cũng khổ sở bứt rứt, thấy con ì ạch mãi không ra cũng bặm môi bặm miệng rặn giùm con..” Tại sao bác sĩ không dùng thuật ngữ y khoa để “ an toàn” hơn? Phải chăng đó là sự kết hợp giữa nghệ thuật và y học?

BS ĐHN : “An toàn” hơn là sao? Tôi phải chọn thứ ngôn ngữ nào mà người đọc dễ hiểu nhất thế thôi. Tôi viết với sự chân thành và thấu cảm, nên bạn đọc của tôi khi đọc thấy có mình trong đó. Mỗi khi viết, tôi thấy mình không phải… viết mà đang trực tiếp được trò chuyện, trao đổi với người đọc của mình.
PV : Rất nhiều người bất ngờ khi trang web www.dohongngoc.com/web/ có lượng độc giả lớn (đã có 186.198 lượt người truy cập với 400.709 trang được đọc) lại của một “ông lão” đã ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy” với những ngôn từ dí dỏm mà uyên thâm. Bác sĩ nghĩ gì về thế giới phẳng?

BS ĐHN: Không lẽ thế giới phẳng chỉ dành riêng cho giới trẻ thôi sao? Nhưng dựa vào đâu để phân định già hay trẻ? Nói như André Maurois, có người mới 20 đã quá già trong khi người 80 hãy còn rất trẻ!
Thực ra tôi mù tịt công nghệ thông tin. Tôi cũng không ưa cuộc sống ảo. Nhưng rồi do nhu cầu nghiên cứu, học hỏi, tôi cũng phải mò mẫm lên mạng lai rai. Bỗng thấy ngày càng nhiều những bài viết, những sách… của mình xuất hiện. Có nhiều chỗ sai sót, nhiều chỗ khuyết danh, tam sao thất bổn! Từ đó, mơ ước có cách nào gom góp lại, phân lọai ra, bổ sung thêm… để chính thức thành một tập tư liệu “động”, có thể chia sẻ với mọi người, làm chỗ giao lưu với bạn bè, tương tác với bạn đọc gần xa. Vả lại, thêm tuổi tác, có khi cũng cần thêm chút bận rộn nào chăng?…Năm 2009, có một bạn trẻ không quen biết “meo” tôi nói em đọc tôi từ hồi còn nhỏ trên Mực Tím, sẵn sàng giúp tôi làm một trang web. Và rồi chỉ vài hôm sau, đã thấy xuất hiện www.dohongngoc.com/web/ coi cũng ngồ ngộ.

PV: 3 năm với “.com” rồi! Thế giới phẳng trong mắt của bác sĩ thế nào?

BS ĐHN: Ban ngày thấy bạn bè trong nước, ban đêm thì bè bạn khắp năm châu! Thế giới phẳng giúp mọi người gần gũi nhau một cách kỳ lạ và giúp ta có cơ hội học hỏi không ngừng, nó làm cho mình thấy có… trách nhiệm hơn với những bày tỏ, viết lách của mình. Trái đất vẫn tròn, nhưng ngày càng nhỏ lại.

Các bạn trẻ SGC (Nhà cung cấp tên miền Việt Nam và quốc tế) bảo trang web đã được cái gì đó xếp vào hạng khá, 4/7 thì phải. Tôi hoàn toàn không hiểu ý nghĩa chuyện xếp hạng này. Không cần thiết và cũng không nên xếp hạng. Có một người bạn sẻ chia, ấy đã là hạnh phúc. Đo đếm mà chi!

Có người đề nghị nên thay đổi diện mạo cho nó hấp dẫn hơn. Thay đổi chi? Nhìn vào biết ngay là “nhà” của một ông già lười. Lúc cao hứng ba bốn bài một lúc, lâu chẳng có bài nào. Có bài đăng rồi quên đăng lại! Có người khuyên nên tổ chức trang cho có bài bản, xếp đặt cho nó đàng hoàng, dễ tìm kiếm v.v… Ối trời, bừa bãi là một sự sảng khoái khó có được trong thời buổi này, ở lứa tuổi này!

PV: Xin cảm ơn bác sĩ

Ngô Sơn

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Hỏi đáp

Mùa thi!

25/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 14 Bình luận

Ghi chú: Mới đó đã lại đến Mùa thi nữa rồi!
Thanh Nien Online gởi tôi mấy câu hỏi gọi là “Tư vấn mùa thi”, xin chia sẻ nơi đây cùng các bạn.
Thanh Niên Online
Ăn uống, ngủ nghỉ như thế nào để đảm bảo sức khỏe cho thí sinh
trong kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2012.

1. Đây là thời kỳ các sĩ tử tăng tốc cho việc ôn thi ĐH-CĐ. Vấn đề sức khỏe được đặt ra. Theo bác sĩ, cần một chế độ dinh dưỡng như thế nào để đảm bảo sức khỏe ôn thi?

“Sức khỏe” đâu chỉ là chuyện có “một chế độ dinh dưỡng” như thế nào! Sức khỏe đâu chỉ nên quan tâm lúc học ôn thi ĐH-CĐ? Sức khỏe là một sự “sảng khoái” toàn diện về thể chất (physical), tâm thần (mental) và xã hội (social)!…Chế độ dinh dưỡng chỉ là một khía cạnh nhỏ của sự sảng khoái đó thôi. Trẻ không chỉ cần phải ăn đủ và ăn đúng, mà còn phải không thiếu không thừa. Ăn đầy đủ năng lượng (calori) và cân đối, tức đầy đủ các chất đạm, đường, dầu, rau trái. Trẻ còn cần không khí trong lành để hít thở. Và quan trọng hơn, cần một “không khí gia đình” êm ấm, không bị căng thẳng bởi sức ép của cha mẹ, ông bà, thầy cô giáo, buộc phải thế này thế khác. Nào phải thi cho đậu, nào phải đạt điểm cho cao, nào phải vào cho được trường này trường nọ! Để có sức khỏe ôn thi còn cần phải ngủ đầy đủ. Ngủ nhiều nữa là khác để đầu óc được thảnh thơi, tỉnh táo, tiếp nhận bài học dễ dàng. Chớ cứ ráng thức khuya mà học, cột tóc vào ghế mà học cho khỏi ngủ gục thì đầu óc càng mụ mẩm, dễ bị tâm thần về sau dù có đậu hai ba bằng tiến sĩ!

2. Theo Bác sĩ giữa việc ăn, ngủ, nghỉ có tác động như thế nào đến chuyện ôn thi của thí sinh. Đặc biệt là áp lực chọn trường, ngành dự thi?

Hai chuyện này đâu có ăn nhập gì với nhau! “Áp lực” chọn trường, ngành dự thi là một chuyện hết sức vô lý. Tại sao lại áp lực, lại ép buộc trẻ phải học ngành này ngành kia khi trẻ thích ngành khác? Có em học bác sĩ để cha mẹ vui lòng, sau đó bỏ nghề ra làm kinh doanh, giàu quá cỡ… cha mẹ vui lòng hơn! Có em học để làm luật sư, sau thành ca sỹ, tiếng tăm vang dội hơn nhiều. Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép… “ngành”? Nghề này nghề kia nhiều khi do cái nghiệp mà ra. Cha mẹ sinh con trời sinh tính! Tôi cho rằng cha mẹ ngày nay không ai dại gì gây áp lực bất lợi cho trẻ. Nhiều trẻ đã bị tâm thần, đau khổ triền miên, ân hận cả đời, oán trách cha mẹ… vì đã “chọn nghiệp” sai, vì cha mẹ cưỡng ép v.v…
Ăn, ngủ, nghỉ… trong thời gian ôn thi là rất quan trọng. Bất cứ thi ngành nào, trường nào. Cơ thể ta như con ngựa kéo xe, có cho nó ăn đầy đủ, ngủ nghỉ đầy đủ… thì nó mới có sức mà kéo, nếu không nó bỏ ta ngang xương giữa đường thôi! Nhưng, tại sao phải đợi dến thời gian học thi mới lo chuyện ăn, ngủ, nghỉ… nhỉ? Nước đến chân mới nhảy thường khi không kịp!

3. Chế độ ăn uống hàng ngày cho các thí sinh như thế nào là hợp lý?

Không cần gì đặc biệt cả. Ngày thường thế nào thì những ngày ôn thi cũng thế thôi. Đừng có bày đặt nọ kia. Cả năm không ngó ngàng, tới ngày thi bày đặt vổ về như gà đá, gà chọi! Cứ đói thì ăn, khát thì uống. Thèm thứ gì ăn thứ đó, vì nhu cầu cơ thể đang cần, miễn là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm! Học thi, cần nhất là “ăn” không khí trong lành. Sáng sớm, thể dục, tắm rửa, thở bụng- đưa hơi xuống huyệt “đan điền”- rồi ngồi vào học (nằm học, đi học, đứng học… cách nào cũng được, miễn là thấy thoải mái). Sau không khí là đường, nước và Vitamin C. Chỉ cần một vài ly chanh đường là đủ cho thí sinh ôn thi rồi vì trong chanh, cam, chuối, cóc…có nhiều viatmin C lắm. Tự pha lấy mà uống. Lại không tốn tiền. Đừng có bày đặt nhõng nhẽo, đòi mẹ phải khuấy cho, “người yêu” phải khuấy cho mới chịu uống! Mấy em bày đặt, kiểu cọ, thì thường thi rớt vì mất thì giờ, vì sinh sự. Thèm chè, cứ ăn chè; thèm trứng, cứ ăn trứng…Thịt, cá, trứng, sữa, đậu… đều có nhiều protein (chất đạm). Quen ăn món gì thì cứ ăn món đó. Lâu nay không uống sữa, học thi bày đặt uống sữa… thông minh, thế nào cũng sình bụng, đau bụng, ỉa chảy. “Thông minh” đâu không thấy chỉ thấy “ngu dốt” thêm! Các loại thuốc giúp trí nhớ nọ kia chủ yếu làm cho ỷ lại, mau quên!

4. Có nhiều trường hợp các thí sinh bị cha mẹ “ép” ăn uống quá mức cần thiết. Ngược lại, có nhiều thí sinh không được cha mẹ để ý đến chuyện ăn uống trong giai đoạn này. Vậy, lời khuyên của bác sĩ đối với cha mẹ thí sinh?

Hãy để trẻ tự nhiên. Tự nhiên thì bao giờ cũng sảng khoái hơn là bị ép buộc. Không gì khó chịu cho bằng đang học ngon trớn mà bị kêu đi ăn, đi uống. Mất thì giờ, mất “tập trung”, rất khó lặp lại “không khí học tập” lúc đó. Cha mẹ quan tâm chỉ cần tăng cường vài món trẻ vẫn ưa thích hàng ngày như trứng vịt, chè đậu… Thích ăn trứng, cứ ăn, miễn là trứng không bị H5N1. Không phải vì ăn trứng gà trứng vịt mà bị không điểm đâu! Trứng rất bổ. Cũng không phải nhờ ăn chè đậu mà đậu đâu. Đậu cũng rất bổ. Tóm lại, không nên dị đoan mê tín.

5. Bác sĩ đã gặp trường hợp nào bị sa sút tinh thần, thể chất trong thời kỳ ôn thi mà có liên quan đến chế độ ăn hàng ngày chưa ạ? Nếu có, BS có thể dẫn chứng cụ thể?

Có. Thí dụ nhịn ăn nhịn uống dễ bị hạ đường huyết (hypoglycémie), tới ngày thi té xỉu trong phòng hoặc bị co giật đùng đùng phải đưa vào bệnh viện cấp cứu, rồi cho là “xui xẻo”. Có khi gần ngày thi ăn uống linh tinh bị “Táo Tháo” đuổi, ói mửa, ôm bụng chạy ra chạy vào, không còn đầu óc đâu để thi rồi cho là tại “số trời”!
Ăn, ngủ là hai chuyện rất quan trọng trong thời gian học thi. Ăn đủ, ngủ đủ là tốt nhất. Ăn đủ thì có calori để học, ngủ đủ thì não bô được “sạc pin” tốt, không “chai”, không bị hết pin đột ngột.

6. Lời khuyên của Bác sĩ đến các sĩ tử trước áp lực thi cử sắp tới?

Thi cử? Chuyện dễ òm. Không có gì phải “ầm ỉ” cả! Đậu cũng tốt, không đậu cũng tốt. Điều quan trọng là đã thực sự cố gắng hết mình! Thua keo này bày keo khác. Không học trường này thì học trường kia. Đời còn dài. Biết ra sao ngày sau? Que sera sera. Học là chuyện suốt đời mà!
Có hai điều đáng sợ: Một là không thích học ngành này mà bị ép phải học, ép phải thi cho đậu. Thiệt là vô duyên! Có em thích làm bác sĩ, kỹ sư… nhưng cũng có em thích làm ca sĩ, họa sĩ… Nhiều em thất bại ở trường thi mà lại rất thành công ở trường đời!
Hai là cha mẹ ngày xưa thi rớt… triền miên, nay lại muốn con hay con giỏi, thi đâu đậu đó cho nở mặt nở mũi với đời! Như vậy là bất công. Cái đó là ích kỷ, là thương mình chớ không phải thương con! Cha mẹ không nên cưỡng ép con. Trong lúc học thi, cha mẹ tử tế sẽ nhắc con: Thi “chơi” thôi nha. Đậu cũng tốt, không đậu cũng tốt, miễn là con đã cố gắng hết mình thôi! Được nghe như vậy, trẻ yên tâm, chắc chắn sẽ đậu!

BS. Đỗ Hồng Ngọc trả lời Phương Nga.
(Mùa thi,2012)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Hỏi đáp, Thầy thuốc và bệnh nhân

Ngày Thầy thuốc Việt Nam

22/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

“Người thì hưu chớ nghề không hưu…”
Không chỉ là một thầy thuốc giỏi, BS Đỗ Hồng Ngọc còn là một nhà văn- nhà thơ được độc giả cả nước hâm mộ. Giáo Dục TP.HCM đã có buổi trò chuyện thân mật với ông về chuyện học, mối quan hệ thầy thuốc- bệnh nhân, hiến kế và giải pháp giảm tải bệnh viện…
Trần Trọng Tri
(Báo Giáo Dục TP.HCM, 22.2.2012)

1. Bác sĩ có thể kể lại thời cắp sách, cơ duyên vào trường y?
– Nửa thế kỷ trước, năm 1962, tôi đậu xong Tú tài II thì băn khoăn trước ngã ba đường: vừa muốn học y, lại muốn học sư phạm, vừa muốn học văn khoa. Thời đó y khoa, sư phạm thì phải thi, còn văn khoa chỉ cần ghi danh học. Tôi đem băn khoăn này đến hỏi ông Nguyễn Hiến Lê, ông khuyên nên học y để giúp đỡ cụ thể cho gia đình, nếu học giỏi sau này có thể làm “thầy giáo” được và nếu có năng khiếu văn chương, cũng có thể viết lách được…. Thế là tôi thi vào y, và ghi danh học thêm ở văn khoa…!

2. Bác sĩ có thể kể thêm vài kỷ niệm về thời học y thuở đó?
– Hồi đó học y khoa phải 7 năm, tốt nghiệp bằng một buổi trình luận án trang trọng cùng với lời thề Hippocrates (ông tổ nghề y), và được cấp bằng tiến sĩ y khoa quốc gia. Tôi còn nhớ khi thi vào y, ngoài các môn sinh, lý hóa, sinh ngữ… còn có 20 câu hỏi kiến thức tổng quát như: Ông tổ nghề y thế giới tên gì? Ông tổ nghề y Việt Nam tên gì? Ai là người thầy thuốc nổi tiếng thời Tam Quốc? Ai là người thầy thuốc nổi tiếng thời Đông Châu liệt quốc? Thủ đô Brazil là gì? Giá gạo trên thị trường bao nhiêu một ký? Giá than trên thị trường bao nhiêu một ký?…

3. Ủa, sao hỏi giá gạo giá than ở đây?
– Có lẽ người ta muốn biết người bác sĩ tương lai có quan tâm gì đến đời sống xã hội không? Người bác sĩ có thông cảm với nỗi khó khăn của người dân không? Tỷ lệ đậu khoảng 10%. Nhờ sống trong xóm lao động Bàn Cờ, ăn cơm tháng, đọc truyện nhiều nên tôi… thi đậu không khó. Ngay năm thứ 1, chúng tôi đã được học môn tâm lý- xã hội. Học “lâm sàng” trên bệnh nhân rất kỹ – có lẽ vì thời đó chưa có nhiều máy móc kỹ thuật như bây giờ- đến năm thứ 5, được học Nghĩa vụ luận Y khoa (Déontologie médicale) để chuẩn bị khi ra trường biết cách hành nghề sao cho tốt, ứng xử với bệnh nhân, với cộng đồng và với đồng nghiệp như thế nào. Lúc ra trường thì ghi danh vào Y sĩ đoàn– một nghiệp đoàn nghề nghiệp- để được giám sát và bảo vệ trong quá trình hành nghề của người thầy thuốc.

4. Bác sĩ nói thêm về học Văn khoa?
– Tôi ghi danh học thêm Việt Hán ở Đai học Văn khoa Saigon. Sinh viên tự học là chính, muốn tới lớp giờ nào tùy nghi. Hôm nào có các Thầy dạy giỏi, sinh viên ngồi tràn ra hành lang, sân cỏ, đu trên các cửa sổ để nghe giảng… Ngược lại, có hôm vắng hoe. Tôi chỉ theo học Văn khoa một thời gian ngắn, vì học y nặng quá! Sau này, tôi có học thêm xã hội học ở Đại học Vạn Hạnh khi sắp ra trường bên y. Tôi mê học, một cái “tật” bây giờ cũng chưa bỏ được. Rồi tôi đi “dạy học”…

5. Đi dạy học ư?
– Phải. Sinh viên nghèo, phải dạy học kiếm sống chứ. Từ năm thứ hai, tôi đi dạy thêm ở một trường tư. Dạy vạn vật học cho lớp đệ thất, đệ lục (lớp 6, lớp 7 bây giờ). Dễ thôi mà. Vẽ đẹp, kể chuyện hay là… thành công rồi. Nhưng thú vị là ở năm thứ ba y khoa, tôi lại đi dạy môn… văn nữa! Toàn những thứ tôi mê, nên cũng không khó!

6.Hiện nay không còn công tác trong ngành y nhưng có những kỷ niệm vui, buồn trong nghề bác sĩ có thể kể lại cho bạn đọc Giáo Dục TP.HCM?
– Tôi công tác ở bệnh viện Nhi đồng Saigon (nay là Nhi Đồng 1) được 16 năm trước khi về phụ trách Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe 20 năm. Sau đó về hưu, vẫn tiếp tục làm “cố vấn” thêm mấy năm nữa. Tóm lại, người thì hưu chớ nghề không hưu. Ở Nhi đồng, tôi làm ở khoa Cấp cứu, thấy trẻ con chết nhiều quá nên nghĩ cần phải đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, nâng cao dân trí cho người dân biết để tự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe mình, phát hiện sớm bệnh tật, chữa trị hiệu quả. Đây là một lãnh vực rất quan trọng hiện nay, khi nhiều thứ bệnh hoạn là do hành vi lối sống gây ra chứ không chỉ cứ “đổ thừa” cho vi trùng là xong! Kỷ niệm vui buồn nhiều lắm, kể sao hết. Điều đáng lo là ngày nay nghề y chuyển hướng “thị trường” hóa rồi, lại không còn được học Nghĩa vụ luận như xưa, không có Y sĩ đoàn để giám sát, bảo vệ nghề nghiệp như xưa. Ngày nay mối quan hệ thầy thuốc-bệnh nhân trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết, thậm chí đã xảy ra những vụ việc đáng tiếc như ta đã biết.

7. Sự quá tải, thiếu thầy, thiếu thuốc ở bệnh viện được xem là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực trong ngành. Bác sĩ có hiến kế, giải pháp gì để “gỡ” thực trạng này?
– Người bệnh đến với thầy thuốc trước hết là vì lòng tin, hy vọng được chữa hết nỗi đau và nỗi khổ của mình. Do vậy, dù xa xôi, khó khăn, đắt đỏ… đến mấy họ cũng lặn lội tìm đến. Thực tế không chỉ bệnh viện quá tải mà nhiều nơi chữa bệnh “linh tinh” cũng… quá tải! Một số bệnh viện luôn quá tải không chỉ vì chuyên môn mà cả vì “tiếng tăm”. Muốn giảm quá tải bệnh viện chỉ có cách làm cho mọi người… ít mắc bệnh, tự biết cách phòng tránh, biết cách chữa trị sớm. Nghĩa là phải đẩy mạnh vệ sinh phòng bệnh và nâng cao dân trí.
Mặt khác, do cái “tiếng tăm”, cái “thương hiệu” của một bệnh viện mà người ta đến thì nên bắt chước “phở” và “cà-phê”, mở “đại lý” của bệnh viện đó khắp nơi, miễn là phải đảm bảo chất lượng, đảm bảo quy trình. Với công nghệ thông tin hiện nay, việc “giao lưu” giữa bệnh viện chính và các “đại lý” không phải là vấn đề khó nữa, và chất lượng nhờ đó vẫn đảm bảo thông suốt.

8. Người ta biết Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, nhà thơ, nhà báo, nhà tham vấn tâm lý… Trong các “nhà”, bác sĩ thích người ta gọi mình là “nhà” nào nhất?
– “Nhà” giáo bạn ạ.

9. Bác sĩ đã viết nhiều quyển sách bổ ích. Trong năm mới, bác sĩ có dự định gì mới?
– Tôi chưa có dự định gì cả. Vừa mới hết tháng Giêng mà!

Xin cảm ơn bác sĩ.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định

Đọc: NHỮNG NGƯỜI TRẺ LẠ LÙNG

21/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Nguyễn Duy Chính là tác giả của nhiều bài nghiên cứu lịch sử có giá trị, anh cũng là một dịch giả nổi tiếng về Kim Dung, hiện đang sống tại Hoa Kỳ. Bài viết này anh nhờ Lê Anh Dũng chuyển tới tôi từ năm 2002, những cảm nghĩ của anh khi đọc Những Người Trẻ Lạ Lùng.
Mười năm chứ ít chi?
DHN.

Cảm nghĩ khi đọc: NHỮNG NGƯỜI TRẺ LẠ LÙNG của Đỗ Hồng Ngọc.
1. Ở Pasadena, cách chỗ tôi ở chừng 40 dặm, có một khu vườn bách thảo với mấy thư viện tàng trữ sách cổ ( để ngắm), những bức danh họa, những pho tượng bằng cẩm thạch và bằng đồng của thời Trung Cổ… Mỗi lần ghé đến, tôi không bao giờ quên khu vườn Nhật, với những cây tre thẳng tắp, nhẵn nhụi trên có khắc tên những cặp tình nhân – mặc dù có những bảng nhắc cho du khách biết rằng đừng vì tình cảm riêng tư của mình mà làm mất vẻ thiên nhiên và mỹ quan của khu rừng. Bên cạnh đó là một dòng suối róc rách, một cái cầu gỗ cong, bên dưới hồ sen là những con cá koi lượn qua lượn lại.

Xế lên chút nữa là một vườn trưng cây bonsai, những cây cổ thụ được trồng trong bồn sứ nhỏ, một nét đặc thù của dân tộc Phù Tang mà nay đã là thú thưởng ngoạn của nhiều dân tộc khác. Nhìn những cây xanh tươi đã mấy trăm năm, dưới gốc sần sùi là rêu xanh mướt, nhưng hoa quả vẫn xuất hiện mùa nào ra mùa nấy, đúng như Trời đã định riêng cho mỗi loại cây tôi vẫn tự hỏi rằng, liệu con người có được như cây cỏ chăng, khi đến cuối cuộc đời vẫn còn đơm bông kết trái?
Nỗi lo lắng của tôi – và cũng là ước mơ – là làm thế nào mình có thể tiếp tục sáng tạo và đóng góp cho đến khi buông xuôi hai tay chứ đừng để phải sống như những bóng ma vật vờ mà tôi đã thấy những người già nơi trại dưỡng lão, bởi vì sống mà không sản xuất là một cuộc sống thừa, cũng như cây không đâm chồi nẩy lộc thì là một cây chết.
Chiều hôm 28 tháng 12 năm 2002 tôi nhận được cuốn sách của một văn hữu chưa từng gặp mặt từ Việt Nam gửi tặng, cuốn Những Người Trẻ Lạ Lùng của BS.Đỗ Hồng Ngọc ( NXB TPHCM, 2001). Đọc qua một mạch 23 đoản văn của anh, tôi mới thấy rằng những điều tôi thầm mơ là có thật. Nó không phải là suy nghĩ của một người bất bình thường, cũng không phải có cái gì trái khoáy. Những cây già vẫn có thể cho ta bông trái như cây non, và nó vẫn đượm mùi, vẫn đầy hương sắc – và không hề giả tạo chút nào. Chỉ có điều nó hiếm hoi hơn, khó khăn hơn, cũng như những cây bonsai kia, không phải là thứ cây kỹ nghệ để có thể thu hoạch hàng rổ mỗi năm. Nó lưa thưa vài chỗ, và nghệ nhân phải biết tỉa bỏ những bông trái èo uột để những hoa trái sau cùng này tô điểm thêm cho niên kỷ, xứng đáng với những thu hoạch cuối cùng chứ không thì là… “già dịch” rồi còn gì.
2. Có một cái lạ là đọc những đoản văn của Đỗ Hồng Ngọc, thỉnh thoảng dường như ta thấy cái bóng mình trong đó, có khi là một giấc mơ ám ảnh từ thuở nào, nhưng cũng có khi chập chờn như thật, mặc dầu tác giả viết về một người khác có thật mà anh là chứng nhân.
Mỗi một nhân vật, cũng như những bức chân dung anh phác thảo, đều chỉ là những nét thật đơn giản, đơn giản hơn cả lối tranh thủy mặc của Trung Hoa, nhưng Đỗ Hồng Ngọc để cho người đọc tự vẽ lấy những chỗ anh không vẽ, để hình dung ra cái đối tượng mà anh đang miêu tả. Cái may của tôi là tất cả những người anh đề cập đến tôi không quen một người nào, mặc dù đều là những bậc tiền bối thành danh. Chính vì thế, tôi có thể tưởng tượng rất nhiều, cũng như tôi chưa từng xem một bộ phim kiếm hiệp nào cả, chỉ vì muốn giữ mãi hình ảnh mà mình có trong đầu chứ không muốn mượn cái hình ảnh mà người khác đã tạo nên, dẫu biết rằng có những phim mà tài tử còn đẹp hơn những gì mình có thể hình dung ra được.
3. Có hai phát minh (?) mới độ mươi năm nay mà ngẫm nghĩ có cái gì tương đồng – tương đồng mà lại tương phản với lối viết của Đỗ quân.
Một là ngày nay người ta đã in hình những bức tranh chẳng có gì đặc biệt, ngoài những patterns được lặp đi lặp lại. Thế nhưng nếu chúng ta nhìn xuyên qua nó để tập trung vào phía sau bức tranh, ta sẽ thấy một hình ba chiều linh động, lắm khi chẳng liên quan gì đến những hình mẫu. Tôi cũng chẳng biết lối đó gọi tên là gì cả tiếng Mỹ lẫn tiếng Việt nhưng tôi tin rằng nói ra nhiều người sẽ biết ngay. Bản chất của bức tranh chỉ là sắp xếp làm sao để từ những cái thường kia hiện ra một cái bất thường như một bông cúc đen giữa những bông hoa trắng.
Lối viết của Đỗ Hồng Ngọc cũng vậy. Trong những cái hết sức tầm thường anh lại sắp xếp hết sức khéo léo nhưng rất nhạt để rồi đọc qua, đọc trở lại người ta sẽ… bắt được một cái gì mà tác giả cố tình đánh rơi.
Thứ hai là người ta dùng hàng ngàn bức tranh hay ảnh khác nhau thu nhỏ lại để cho computer lựa chọn rồi kết lại thành một bức tranh, hay chân dung một danh nhân. Nhìn xa chúng ta chỉ tưởng đó là một bức ảnh mà hột hơi to nhưng khi nhìn kỹ thì đó là những bức ảnh được ghép lại. Người ta đã ghép thành Tổng Thống Lincoln với hàng ngàn bức ảnh thời Nội Chiến (Cicil War), Bill Gates với hàng ngàn bức ảnh đủ mọi loại tiền trên thế giới, hay cô đào Marilyn Monroe với hàng ngàn bức ảnh của chính cô ta. Mấy năm trước, có kẻ cắc cớ đã thực hiện một bức ảnh Tổng Thống Mỹ Bill Clinton với hàng nghìn centerfolds và ảnh của tạp chí Playboy khiến những chàng trai ái mộ ông đổ xô đi mua như tôm tươi.
Lối viết của Đỗ Hồng Ngọc thì ngược lại. Anh đi từ ngoài vào trong, và người tinh ý đọc mỗi đoản văn lại nhón ra được một viên sỏi đẹp cho riêng mình. Có thể bạn và tôi cùng nhìn ra một điểm tương đồng nào đó nhưng cũng có thể hoàn toàn khác nhau như một bài thơ cắt rời rồi xếp lại một cách bâng quơ. Tôi tin rằng cái mà mình thấy chưa hẳn đã là chủ đích của người viết. Thoạt nhìn người ta tưởng anh viết hồi ký về một số người anh quen, nhưng thực ra anh đã vẽ họ bằng những góc ít người để ý nhất. Cái ông già nổi tiếng kia không đáng kể bằng tập album ông cất riêng cho ông để một lúc nào đó chia sẻ với một người hiểu ông, cũng như một ông lão khác phải giấu cây gai bàn chải trên sân thượng, chắc hẳn cũng để… lâu lâu lại dòm.
Thế nhưng đọc hết những đoản văn của anh, dường như ta thấy có một cái gì xuyên suốt và nhất quán, cái nọ lồng vào cái kia, xen kẽ và bổ túc cho nhau.
4. Một trong những cái tôi muốn tìm nhưng không thấy – mà tôi chắc là tác giả còn giấu ở đâu đó mà mình chưa có duyên được đọc. Cũng rất có thể tôi hiểu sai, sai vì đã suy bụng ta ra bụng người.
Tôi vẫn nghĩ rằng những người đa tài thì thường hay đa tình. Ba cái vẽ, thơ và văn không thể tách rời với cái yêu vẻ đẹp, mà đã yêu vẻ đẹp thì phải yêu người, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Mà đã yêu vẻ đẹp thì phải yêu rất sớm, rất nhiều,… và rất lâu.
Một trong những cái mất vui của nơi tôi đang sống là người ta thực tế quá. Thành ra tuổi trẻ không còn những cái thú như chúng tôi khi còn học tiểu học hay trung học. Không biết người khác thì sao nhưng khi tôi đi học, bọn trẻ con hay chơi trò gán ghép, gán đứa con trai này với đứa con gái nọ một cách tinh quái, lắm khi nhảm nhí. Tôi rất thông cảm với những nạn nhân bởi vì chính tôi là một nạn nhân của những đứa bạn rắn mắt.
Năm lớp Nhất (lớp 5 ngày nay) tôi học ở một trường làng, nam nữ học chung. Tôi ngồi ngay sau lưng một cô gái có mái tóc dài xõa xuống vai, thỉnh thoảng cô lại lúc lắc đầu khiến tóc cô lại chạm vào cuốn vở tôi đang viết. Tên cô ta là Duyên.
Những đứa trẻ tinh nghịch lắm khi hay kéo tóc con gái, và cô Duyên – của tôi – cũng hay bị chọc ghẹo. Tôi nói “của tôi” vì bọn kia hay chơi trò gán ghép nên lắm khi phải nổi cộc và ảnh hưởng không ít đến thái độ của mình, khi muốn mượn một cục gôm mà không dám.
Cô bé đó cũng bằng cỡ tôi, con một bà giáo (bố cô ta là thầy giảo, đã mất chứ không phải bà ta dạy học) nên thỉnh thoảng ba tôi cũng đến thăm gia đình người bạn cũ. Một hôm ông cho tôi đi theo và ngạc nhiên xiết bao khi thấy cô bé thập thò sau cửa, nhìn tôi cười nháy mắt. Ôi, bao nhiêu e thẹn ở trong lớp đều tan biến khi hai đứa trẻ đưa nhau ra sau nhà thăm cái vườn hoa nho nhỏ của nàng. Hóa ra không phải nàng lạnh lùng với tôi như tôi tưởng, và chắc cũng thích thầm cái trò nghịch ngợm của đám “du côn” kia.
Những chuyện như thế tôi chưa tìm ra trong các đoản văn của BS Đỗ Hồng Ngọc. Dĩ nhiên không phải trong đề tài “Những Người Trẻ Lạ Lùng”. Tôi đi tìm bởi vì những chuyện như thế thì anh sẽ không thể “vẽ” từ người khác mà chỉ có thể “self-portrait” được thôi.
Nguyễn Duy Chính
(2002)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Những ngày xưa đó…

10/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Những Kỷ Niệm Về Một Thời Ý Thức
Lữ Quỳnh
Ghi chú: Tôi không có ý định viết Hồi Ký, nhưng thỉnh thoảng gặp lại bạn bè xưa, không khỏi có chút “bần thần”. Đây là những dòng của Lữ Quỳnh, viết về những ngày xưa đó… Xin được chia sẻ.
Do Hong Ngoc

Từ trái: Châu Văn Thuận, Đỗ Nghê, Nguyên Minh, Lữ Kiều, ông bà Lữ Quỳnh, Trương Thìn

Năm mươi năm trôi qua kể từ ngày ấy, ngày mà Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hữu Ngũ, Hoài Linh ở tuổi mười tám hai mươi ngồi với nhau bàn chuyện văn nghệ, chuyện làm báo. Ngày mà những tác phẩm của Camus, Sartre bắt đầu nhập vào miền Nam. Ngày mà tôi còn nhớ cuốn “Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ Hiện Ðại” của Phạm Công Thiện được lớp trẻ đón đọc nồng nhiệt.

Ngẫm lại mỗi thế hệ có nếp sống, nếp nghĩ khác nhau. Quan niệm về tình yêu mỗi thời mỗi khác. Thú đọc, chơi sách cũng vậy.

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Cái “MẶC”

09/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

Cái “MẶC”
Đỗ Hồng Ngọc
Một cách nôm na, văn là đẹp, hóa là làm ra. Cái gì không được đẹp thì làm cho nó đẹp ra, cái đó là “văn hóa”. Không chỉ đẹp mà còn tiện lợi, phù hợp với đời sống thường ngày của mọi người, cái đó cũng là văn hóa!

Con người thời ăn lông ở lỗ, trần truồng như nhộng, cảm thấy thoải mái, nhưng sau đó phát hiện ra vài điều bất tiện, diễu qua diễu lại không hay lắm bèn tìm cách che đi cái chỗ cần che. “Xấu che tốt khoe”, nhưng ở đây cái gì tốt, cái gì quý, thì che trước. Bởi nó thường kèm theo những rắc rối không lường được, nhiều khi không cản nổi! Do vậy mà phải giấu nó đi cho đỡ nguy hiểm. Nhưng hình như lá nho hơi nhỏ, chẳng những che không đủ kín mà đôi khi còn bị rách, nhất là khi lá đã khô. Do vậy mà có miếng che khác làm bằng…vỏ cây đập dập, an tòan hơn, rộng rãi hơn, vừa cứng, vừa dày. Hiện nay còn thấy các bộ quần áo bằng vỏ cây đặt ở các viện bảo tàng. Gần đây nghe nói có nơi làm du lích, tái tạo lại các “mode” quần áo bằng vỏ cây cho du khách mặc rất thú vị. Khi có thể kéo sợi, se chỉ, thì người ta có quần áo vải, rồi tơ lụa, rồi chất liệu tổng hợp (nylông)… thậm chí có quần áo làm bằng sô-cô-la, bằng đậu tương (đậu nành), trái cây… trong các buổi trình diễn thời trang hấp dẫn, ai thấy cũng muốn nhai, muốn nuốt. Nhìêu bãi biển ở Âu Châu quy định ai vào đó phải trần truồng. Ở một chỗ ai cũng trần truồng thì một người có mặc quần áo trở nên… lôi cuốn, mọi người sẽ xúm lại coi và…bắt chước. Cũng như gần đây, khi có một vụ cố ý trần truồng hoặc vô tình lộ y gì đó thì lại gây xôn xao.
Văn hóa cũng phải thay đổi, thích nghi sao cho phù hợp. Hoàng hậu, công nương, qúy phi, công chúa… hẳn phải tha thướt lượt là, gấm vóc đoan trang; công nhân thợ dệt dĩ nhiên phải quần áo gọn gàng, tóc ngắn, tránh gây tai nạn. Tazan đóng khố để dễ đu từ cây này sang cây khác kịp cứu mỹ nhân. Thầy thuốc khoác blouse trắng… Một cô y tá xứ Brazil chỉ đội mủ, đeo khẩu trang còn thì trần truồng như nhộng trong lúc chăm sóc bệnh nhân ở phòng cấp cứu đã lập tức bị Nghiệp đoàn điều dưỡng đưa ra tòa!
Hồi xưa, phụ nữ mặc váy chùng, áo buộc dây, cho nên khi cô gái nông thôn lên thành thị về thì Nguyễn Bính la trời: “Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi!”. Cũng may, ông không có dịp nhìn các cô mini jupe cũn cỡn, hở rún hớ hênh bây giờ. Nữ sinh hạnh phúc trong chiếc áo dài trắng đơn sơ mà thanh lịch, tự hào tuổi…học trò, thơ ngây, trong trắng. “Nắng Saigòn anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông/ Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng/ Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng” (Nguyên Sa). Chỉ cần đổi cái màu trắng đó sang màu tím thôi đã đủ làm người ta khổ! Hoàng Nguyên kêu lên: “Rồi áo tím qua cầu/ tà áo tím phai màu/ để dòng Hương giang hờ hững cuốn trôi mau”…
Con người dễ mất văn hóa khi để cho bản năng hoành hành. Ăn mặc “mát mẻ” một cách… nghệ thuật thì còn coi được, mát mẻ quá thì nhàm chán. Ở xứ đầy hình ảnh “playboy” thì người ta phải nhờ tới Viagra, Cialis… dù tuổi hãy còn rất trẻ. Tình trạng rối loạn, vô sinh ngày càng toàn cầu hóa, trầm trọng thêm. Cái đó có sự góp phần của văn hóa mặc. Việc truyền giống là cần thiết nên thiên nhiên phải có cách… khen thưởng chút gì đó. Con người thông mình, tận dụng khai thác, lại không cần mùa màng thời tiết chi, lúc nào cũng động được, nên tạo nhiều mối nguy. Kinh tế phát triển, cơm no, cật ấm, thì dễ sinh sự. Làm đẹp nhân tạo ngày càng phát triển, lừa gạt nhau, sử dụng cả những thứ có hại cho sức khỏe, lâu lâu kêu trời vẫn không chừa! Hình thể có thể đẹp ra- dù giả tạo- nhưng cảm xúc thì ngày càng lụi tàn. Hết rồi những huyền nhiệm, những linh thiêng, vốn đã làm nên “văn hoá” cho con người. Khi bình đẳng được hiểu lầm là xóa mọi ranh giới, nữ thành nam, nam thành nữ thì nguy tai! Đàn ông yểu điệu thục nữ, quần là áo lượt…; con gái tay kiếm tay cung… Lúc đó đàn ông sẽ thấy đàn ông hấp dẫn hơn, con gái sẽ thấy con gái hấp dẫn hơn!
Có sự đan xen nhiều thứ văn hóa: văn hóa thống trị, văn hóa nô dịch, văn hóa lai căng, văn hóa cưỡng bức… Khi trái đất trở thành một hòn bi xanh- thế giới nhỏ lại trong lòng bàn tay thì ảnh hưởng văn hoá không thể tránh được.
Nhưng, hãy tôn trọng sự khác biệt. Bảo vệ văn hóa mình. Trước hết, là cái “mặc”.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

Ghi chép lang thang: Xướng họa

27/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

XƯỚNG HỌA
Đôi lời: Như thông lệ, cứ tối Giao thừa, GS Trần Văn Khê làm một bài thơ thất ngôn bát cú để sáng Mùng Một Tết gởi đến bạn bè, con cháu, chia vui và mời họa. Với tôi, đó là một cách “chơi” rất đáng khuyến khích ở những người cao tuổi. Cầm kỳ thi họa từ xưa vốn là những thú vui tao nhã của người già ở phương Đông. Đó cũng chính là một trong những cách tốt để làm chậm tiến trình lão hóa, giảm tốc độ của Alzheimer.
Nhiều năm qua, tôi may mắn được gần gũi các “bạn già” như bác sĩ họa sĩ Dương Cẩm Chương, 102 tuổi, còn “hài hước”, nặn tượng, vẽ tranh; nhạc sư Vĩnh Bảo, 95 tuổi, ngón đờn còn ngọt, thơ hay và giáo sư nhạc sĩ Trần Văn Khê (mà trong chỗ thân tình tôi vẫn gọi là Chú Khê) nay đã 92, (“phân nửa phần trên đầy sống động / nửa phần bên dưới có hư hao” ĐHN) nhưng vẫn cứ mỗi Giao thừa lại làm một bài thơ gởi mọi người mời họa!
Theo lời nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương thì năm nay ông làm được 4 câu rồi phải nghỉ “lấy sức” khá lâu mới làm tiếp 4 câu nữa, chứng tỏ ông đã “già thêm chút nữa” rồi!
Tôi ghi lại đây vài bài thơ xướng họa đó, để chia sẻ, và xin hiểu cho, chủ yếu là để phòng bệnh Alzheimer!
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Mon, Jan 23, 2012 at 5:50 PM

Thân mến gởi Bạn Nguyễn Quảng Tuân, cháu Đỗ Hồng Ngọc
và các con các cháu bài Tự thuật Nhâm Thìn để các bạn, các con
đọc cho vui và nếu hoạ vận càng hay!!
Trần Văn Khê

Nhâm Thìn khai bút
Tự thuật

Nhâm Thìn tuổi thọ chín mươi hai
Thuyết giảng, tiếng vang, hơi mạnh, dài!
Tai lãng, mắt mờ, chân rất yếu
Tim nồng, trí tỉnh, sức còn dai
Về hưu, người tưởng an ngày tháng
Nhập cuộc, ai ngờ bận đó đây!!
Hạnh phúc, cuối đời còn hữu ich
Vững lòng, chim Lạc sẽ cao bay !!!!
TrầnVăn Khê
Nhâm Thìn, Nguyên đán , giờ Thìn
23/01/2012

Tue, Jan 24, 2012 at 4:16 PM

Kính chú Khê,
Được thư chú chiều Mùng Một Tết như mọi năm, kèm bài thơ Tự thuật, với lời mời ông Nguyễn Quảng Tuân và cháu họa vận. Cháu đang bề bộn như chú biết cũng ráng có bài họa sau đây để chú được vui. Bài họa không hay nhưng đã cảm xúc từ mấy chữ “chim Lạc sẽ cao bay” mà viết nên! Đỗ Hồng Ngọc.

Thủng thẳng
Kính tặng Chú Khê
Tuổi chú ai ngờ đã chín hai
Thơ đàn một gánh nợ còn dài
Truyền hình lên xuống xe lăn mỏi
Mẫu giáo vào ra gân cốt dai
Quốc nhạc rắc gieo tình vạn nẻo
Gia phong rèn giũa gốc từ đây
Ơn Trời cho chú dư trăm tuổi
Thủng thẳng rồi chim… mới vút bay!

Đỗ Hồng Ngọc
Mùng 2 Tết Nhâm Thìn

Wed, Jan 25, 2012 at 9:31 PM
Cám ơn cháu đã hoạ thơ Khai bút NhâmThìn của chú.
Rất vui, dí dỏm và thoát.
Chú gởi cho cháu hai bài của Tôn Nữ Hỷ Khương và
Nguyễn Quảng Tuân.
Chú Khê

Thương mến họa vần thơ
Nhâm Thìn Khai bút Tự thuật
Của Trần Văn Khê Hiền Huynh

Tuổi thọ mừng anh chẵn chín hai,
Mong anh ngày tháng được lâu dài.
Bước chân khập khểnh tuy mềm yếu,
Đầu óc tinh anh vẫn dẻo dai.
Nhạc khúc hòa âm vang chốn ấy,
Thi đàn chung vận đọng nơi đây.
Tài danh lỗi lạc ai là kẻ
Cánh hạc tung trời lã lướt bay.

Tôn Nữ Hỷ Khương
Muội muội

PHỤNG HỌA

Chín chục xuân này đã lẻ hai ,
Cuộc đời tuy vậy hãy còn dài .
Mắt mờ tai lãng mà tinh tế ,
Chí vững gan bền vẫn dẻo dai .
Ai để an nhàn tài đó nhỉ ?
Mình mua bận rộn trí ta đây !
Mấy người được thế, âu là hiếm ,
Tự mãn Rồng kia mặc sức bay .

NGUYỄN QUẢNG TUÂN
23 – 01 – 2012

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Những người trẻ lạ lùng

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 89
  • Trang 90
  • Trang 91
  • Trang 92
  • Trang 93
  • Interim pages omitted …
  • Trang 96
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Thiền và Sức Khỏe: Góc nhìn khoa học.
  • Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ
  • Tâm Nhiên: “DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Sách song ngữ Việt Anh: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HANH PHÚC
  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email