Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Thư gởi bạn xa xôi: Lại về Lagi

02/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Lại về Lagi

Có mấy người em của bà xã mình ở Mỹ về chơi, nên tổ chức đi Lagi Phan Thiết một chuyến.

Cái “mới” của kỳ này là về thăm lại chốn cũ, bãi biển Đồi Dương, để nhìn Hòn Bà cho rõ, thăm lại những gốc dương xưa, ngày càng già cổ. Lạ, thị xã Lagi phát triển nhanh, đẹp, nhưng bãi Đồi Dương thì ngày càng nhốn nháo, ngập rác.

Lagi có Núi đất, và Hồ nước mênh mông, cung cấp nước cho Thị xã. Trông từ xa, núi đất giống như chiếc nón lá rất dễ thương, như Núi Chớp Chài ở Phú Yên. Núi đất xưa hoang vu. Ngôi mộ Thầy Thím từng có cọp về viếng. Nay đã bắt đầu… đô thị hoá. Ngay chân núi đã thấy có quán cà-phê Lưng Chừng Núi khá đẹp, có nhà trọ. Gần đó là khu chế biến Trầm hương…

Một ngôi chùa mới xây sát bên biển, chùa Quảng Hạnh 2, có tượng Quan Âm khá đặc biệt: rất trẻ, thay vì đứng trên toà sen lại đang cưỡi rồng dạo khắp nơi. Lần trước, về thăm, mình đã “cảm tác” mấy câu thơ:

“Cô Quan Âm xinh đẹp

Cưỡi rồng dạo khắp nơi

Tay ôm bình tịnh thuỷ

Cứu khổ cho muôn người!”.

(ĐHN)..

Gởi bạn vài hình ảnh coi vui nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Về Lagi, thăm lại bãi Đồi Dương quen thuộc ngày xưa… (15.11.2024)

 

Những gốc dượng già đã thành cổ thụ, như một con dê núi về thăm…

 

Bãi tắm mới. Cũng là nơi xưa có Giếng Nguồn Chung, chứa nước nhỉ xuyên qua động cát, cho bà con đi dọc biển có nước ngọt uống đỡ khát trên đường từ Lagi về Tam Tân, Phong Điền, Hiệp Nghĩa  (quê Nguiễn Ngu Í, Nghê Nhã Ý, Lê Phương Chi…).

 

 

 

 

Tượng Quan Âm ở Chùa Quảng Hạnh 2. Hồ Tôm, Lagi.

 

Núi Đất Lagi (ĐHN 2024)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

CON ĐƯỜNG AN LẠC  Bài 7: SÁNG, TRƯA, CHIỀU, TỐI

22/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi

CON ĐƯỜNG AN LẠC 

Bài 7: SÁNG, TRƯA, CHIỀU, TỐI

Đỗ Hồng Ngọc

(translated by Nguyen Giac)

Kinh sách khuyên học Phật dù một câu một chữ cũng… quý!
Lục tổ Huệ Năng lúc còn gánh cũi trên rừng chỉ nghe người ta tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà hoát nhiên đại ngộ. Lại nhớ chuyện một thiền sư cho đệ tử mỗi một chữ “Vô” để làm “thoại đầu” mà thiền tập…
Các bậc tôn túc tự xưa đã đúc kết những câu những chữ chẳng đáng cho ta ngẫm ngợi đó sao?
Chẳng hạn “trà Tào Khê”, “cơm Hương Tích”, “thuyền Bát Nhã”, “ trăng Lăng Già” !

 

SÁNG: Trà Tào Khê

Huệ Năng từ phương Nam lặn lội đến Huỳnh Mai bái Ngũ tổ Hoàng Nhẫn. Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật chi ?” Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ông người Lãnh Nam quê mùa, ít chữ, làm sao kham làm Phật ?” Huệ Năng đáp: “Người có Bắc Nam chớ Phật tánh đâu có Nam Bắc. Kẻ quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác!” Hoàng Nhẫn giật mình. Cho xuống bếp… bửa củi, nấu cơm, giã gạo!

Không lâu sau đó, Ngũ Tổ gọi riêng truyền dạy cho, rồi trao y bát, lẻn đưa Huệ Năng xuống thuyền trốn về phương Nam xa xôi nơi có dòng suối mát Tào Khê tu tập. Huệ Năng trở thành Lục Tổ từ đó, ngày ngày uống ngụm trà Tào Khê, bắt đầu truyền thụ dòng Thiền “đốn ngộ”. Tâm truyền tâm. Bất lập văn tự. Kiến tánh thành Phật. Lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc.

Huệ Năng dạy học trò nghiêm khắc. Đệ tử từ xa tìm đến tham vấn, xin ấn chứng mà chưa tỏ ngộ, chưa thấy “bổn lai vô nhất vật”, chưa nhận ra “Thức tự tâm chúng sanh/ Kiến tự tâm Phật tánh”, còn loay hoay dính mắc mãi những đâu đâu thì thường bị quở phạt, trách mắng, cảnh tỉnh.

Một hôm có người học trò Vĩnh Gia Huyền Giác đến Tào Khê. Huyền Giác xuất gia từ nhỏ, tinh thâm Thiên Thai tông, nhờ xem Duy Ma Cật Sở Thuyết mà tâm địa bừng ngộ.
Gặp Huệ Năng, ông đi quanh ba vòng rồi chống tích trượng đứng yên.
Huệ Năng trách :
– Phàm làm Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?
Huyền Giác trả lời: Sinh tử sự đại/ Vô thường tấn tốc (sinh tử việc lớn, vô thường mau chóng, lễ nghĩa làm chi!).
Huệ Năng đáp :
Sao không nhận cái lý (thể) “Vô sinh” và thấu rõ (liễu) cái nghĩa “không chóng”.
Huyền Giác đáp: “Thể” tức vô sinh, “liễu” vốn không chóng.
Huệ Năng khen: Đúng vậy! Đúng vậy!
Thế rồi Huệ Năng cùng Huyền Giác đối đáp, càng lúc càng sôi nổi.
Đoạn, Huyền Giác xin kiếu về, Huệ Năng hỏi.
Về chóng thế sao?
Rồi, mời Huyền Giác ở lại Tào Khê với mình một đêm để cùng uống trà… mà đàm đạo!
Về sau, Huyền Giác viết Chứng đạo ca:
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân,
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân ?
Vô minh thực tánh tức Phật tánh,
Ảo hoá không thân tức Pháp thân.
(…)

 

TRƯA: Cơm Hương Tích

Hôm đó Duy Ma Cật tiếp Bảo Tích và năm trăm vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà viên ngoại- là những Bồ-tát tại gia tương lai- tại cái thất trống trơn của ông ở thành Tỳ-da-ly.
Giữa lúc mọi người đang sôi nổi hào hứng bàn những chuyện cao xa như hữu lậu với vô lậu, hữu vi và vô vi, sinh tử và niết bàn… thì Xá-lợi-phất, vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật, lên tiếng đưa mọi người về “mặt đất”: “Sắp đến giờ ăn rồi. Các vị Bồ Tát này sẽ ăn thức gì đây?”.
Duy-ma-cật: “ Xin đợi cho giây lát, tôi sẽ khiến quý vị được thứ thức ăn chưa từng có”.
Thức ăn chưa từng có ư? Với các vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà trưởng giả này thì cao lương mỹ vị có gì là lạ, tổ yến hồng sâm, nem công chả phượng có gì là lạ.
Họ háo hức chờ đợi Duy-ma-cật mang đến thứ thức ăn “chưa từng có”!

Thì ra… Duy-ma-cật mang đến một mùi hương! Một mùi hương thơm. Thứ “thức ăn” xin được từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích! Đó là một thứ “thức ăn” chưa từng có.
Duy-ma-cật liền nhập vào Tam-muội, dùng sức thần thông khiến cho đại chúng nhìn thấy về hướng trên, cách đây nhiều cõi Phật liên tiếp nhau như số cát của bốn mươi hai con sông Hằng, có một cõi nước tên là Chúng Hương, hiện có đức Phật hiệu là Hương Tích ngự tại đó. Nước ấy có mùi thơm bậc nhất đối với các mùi thơm của người ta và chư thiên ở các thế giới chư Phật mười phương. Khắp cõi ấy, mùi thơm tạo ra lầu gác. Người ta đi trên đất bằng mùi thơm. Các cảnh hoa viên và vườn tược đều bằng mùi thơm. Từ nơi thức ăn, mùi thơm bay tỏa ra khắp vô lượng thế giới mười phương.
Duy-ma-cật chỉ xin “chút xíu thức ăn thừa” của Phật Hương Tích để đãi các vương tôn công tử tại Tỳ-da-ly hôm ấy. Chỉ một chút xíu thức ăn thừa thôi nhé. Một chút thức ăn thừa thôi cũng đã là quá đủ, bởi thứ « thức ăn chưa từng có” đó là một thứ « vô tận hương » đến từ bên trong của người có giới đức. Chính là hương giới đức. Một thứ hương có thể “bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió”!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. “Hương” thơm đó phải được “Tích” chứa từ từ mới đầy dần lên được, mới sung mãn, mới tràn trề… mới “ngát hương”!

Nhờ giới đức, cõi Chúng hương đó của Phật Hương Tích chẳng cần phải thuyết pháp bằng văn tự mà chỉ dùng các mùi hương là đủ. Mọi chúng sanh nhờ hương giới đức mà đắc nhập luật hạnh. Bồ-tát ở cõi đó mỗi vị đều ngồi nơi cội cây thơm, nghe mùi thơm vi diệu kia mà thành tựu hết thảy các phép Tam-muội Đức tạng. Chẳng cần phải nói năng cho phiền hà, gây tranh cãi, hí luận. Bởi Giới là gốc. Có Giới thì có Định, có Huệ đó vậy.

 

CHIỀU: Thuyền Bát Nhã

“Bát Nhã” lúc nào cũng phải có… “thuyền”! Nhưng có lúc “bè” cũng được… Có lần Phật bảo các đệ tử: Qua sông rồi còn vát bè theo chi cho nặng!
Quán Tự tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã ba-la-mật-đa (Prajna Paramita) thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Bát Nhã luôn là Bát Nhã “Ba-la-mật”. Prajna paramita. Para: bờ kia, bên kia. Mita: đến. Paramita: là đến bờ kia, là “đáo bỉ ngạn”. Từ bờ mê qua bến giác.
Qua bờ kia thì “Độ nhất thiết khổ ách” được ư? Được. Với điều kiện hành thâm Bát Nhã. Thấy rõ năm uẩn đều Không. Chẳng những vậy, khi đã thấy không tướng, thực tướng vô tướng, đã sống với Bát Nhã, sống trong Bát Nhã thì… cái núi Tu Di to đùng kia có thể nhét vào hột cải, nước bốn biển mênh mông nọ có thể cho vào một lỗ chân lông… !
Một khi lý đã vô ngại thì sự vô ngại. Lý sự đã vô ngại thì sự sự vô ngại…

Nhưng, thuyền có đi thì có về, có qua thì có lại. Các vị Bồ-tát theo nguyện vì người mà nấn ná cõi Ta-bà, qua qua lại lại giữa đôi bờ. Thuyền thong dong qua lại mà cũng chỉ quanh quẩn ở lòng ta, tâm ta.

Con thuyền vẫn đi có khi trên dòng nước xuôi, có khi trên dòng nước ngược. Phải chèo phải chống. Không dễ mà lõng buông tay lái. Bố thí. Trì giới. Nhẫn nhục. Tinh tấn. Thiền định. Trí huệ.

Bát Nhã, Prajna, là cái Biết trước cái Biết. Pra là trước, Jna là biết. Cái biết trước cái biết là cái biết hiện tiền, biết “như thực”, không qua suy luận, phê phán, biện biệt. Cho nên nó đã là Trí chớ không còn là Thức nữa. Hay nói cách khác Thức đã chuyển thành Trí.

 

TỐI: Trăng Lăng Già

Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…” giữa đêm trăng Lăng Già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ tát.
Ấy bởi Phật đã thuyết giảng chân lý giúp cho mọi người chuyển hóa tâm thức, vượt ngoài tri thức lý luận, vượt cả tam-ma-địa thông thường để mà an trú trong Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, cảnh giới cao nhất, nhập vào Như lai tạng, bằng tự chứng tự nội…

Giữa đỉnh núi ở trên đảo Lăng Già khi nhìn những ánh trăng bập bềnh trên sóng nước, vỡ tan, vỡ tan theo từng con sóng, Phật đã cất tiếng cười to. Ánh trăng vỡ tan và gom tụ lại. Rồi vỡ tan, rồi gom tụ lại. Hoa đốm hư không. Dấu chân chim ngang trời. Bức tranh vân cẩu. Nó vậy đó. Thế giới muôn hồng ngàn tía cũng chỉ do tâm thức tạo ra. Nó như huyễn, nó như mộng, như bào ảnh, như sương mai, như ánh chớp… Bên dưới đó, là Như Lai tạng, là A-lai-da vẫn im ả, “như như bất động”. Chỉ có cái thức tâm phân biệt của ta quậy phá chính ta. Cái tâm thanh tịnh bổn nhiên kia vẫn im ắng. Không lay động. Vẫn bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Vì thức khởi mà sự sinh. Thế giới chỉ là tâm thức của chính mình. Chúng sanh là ảo vật do ảo thuật gia là ta vẽ bày để rồi tự mình phan duyên, dính mắc, khổ đau…

Bồ tát thấy biết như vậy, thấy biết nhứt thiết duy tâm tạo, thấy chúng sanh là ảo vật do chính mình tạo ra rồi thức tâm phân biệt, chấp trước mà khổ đau bèn nói thẳng cho mọi người cùng biết. Nói thẳng ra như thế mới là “lòng từ chân thật”, không giấu giếm, che đậy, không hù dọa, gạt gẫm nhau chi! Vì như huyễn, mà có lòng Từ. “Trí chẳng đắc có không/ Mà hưng tâm đại bi”.

Tâm bất sinh thì vô sinh. Vô sinh thì vô sự. Dứt mọi phân biệt của thức tâm thì không bị quậy phá nữa. Ở đó là Như Lai tạng. Nhất thiết chủng trí. Đại viên cảnh trí.
Thấy biết Như Lai, thì sống với Như Lai, sống trong Như Lai, sống cùng Như lai vậy.

(ĐHN)

 

 

…. o ….

 

A pocketbook for the elderly

A PATH TO PEACE & JOY

Chapter 7: MORNING, NOON, AFTERNOON, EVENING

 

By Đỗ Hồng Ngọc, M.D.

Translated by Nguyên Giác

 

The scriptures suggest that learning Buddhism, even a single sentence or word, is invaluable.

The Sixth Patriarch, Hui Neng, while carrying firewood in the forest, overheard people chanting the phrase, “Let your mind cling to nothing; then the mind of Nirvana will appear,” and he suddenly attained enlightenment. I also recall the story of a Zen master who instructed his disciple to meditate on just one word: “No.” This practice encouraged the disciple to observe the mind before any thoughts arose.

The esteemed elders of the past have distilled phrases and words that merit our thoughtful reflection. For instance: Tào Khê tea, Hương Tích rice, Bát Nhã boat, and Lăng Già moon.

MORNING: Tào Khê tea

Hui Neng traveled from the South to Huang Mai to pay his respects to the Fifth Patriarch, Huang Ren. The Patriarch asked, “Where do you come from, and what do you seek?”

Hui Neng replied, “I am a native of Lingnan. I have traveled a long distance to pay homage to the Master. My only desire is to become a Buddha; I do not seek anything else!”

The Patriarch said, “You are a rustic from Ling Nan, with little education. How can you become a Buddha?”

Hui Neng replied, “People have North and South, but Buddha nature has neither North nor South. This ordinary person is not the same as the Venerable, yet Buddha nature is not different!”

Huang Ren was taken aback. He instructed Hui Neng to go to the kitchen to chop wood, cook rice, and pound the rice!

Not long after that, the Fifth Patriarch summoned him privately for instruction, then bestowed upon him the dharma robe and bowl. He secretly took Hui Neng onto a boat to journey to the far South, where the cool Tào Khê stream awaited him for practice. Many years later, Hui Neng became the Sixth Patriarch. From that point on, the image of sipping Tào Khê tea each day came to symbolize the transmission of the Zen school of sudden enlightenment. This Zen method emphasizes a wordless transmission from mind to mind, teaching that one who perceives their true nature becomes a Buddha. It upholds No-thought as the central principle, identifies No-form as the true essence of all dharmas, and regards the mind anchored in No-abiding as the root of understanding.

Hui Neng taught his disciples with strictness. Disciples traveled from distant places to seek guidance and confirmation. However, those who had not yet attained enlightenment—who had not recognized that in the true nature there is not a single thing, had not yet realized that consciousness is the sentient beings arising in the mind, and that the direct perception that the original mind is Buddha nature—had not yet realized the way to separate from attachment were often punished, scolded, and warned.

One day, a man named Yongjia Xuanjue arrived in Tào Khê. Xuanjue had become a monk at a young age and was well-versed in the Tiantai sect. He had awakened to his original mind through the study of the Vimalakirti Sutra.

When he met Hui-neng, he circled around him three times and then stood still, holding his staff.

Hui Neng reproached him, “A monk must possess three thousand dignified manners and eighty thousand subtle virtues. From where do you come, Venerable, to be so arrogant?”

Xuan Jue replied, “Birth and death are significant matters, and impermanence is swift; what is the purpose of politeness?”

Hui Neng replied, “Why not accept the truth that nothing is truly born and grasp the meaning that there is nothing known as swift?”

Xuan Jue replied, “In essence, there is no birth, and understanding is not swift.”

Hui Neng exclaimed, “That’s correct! That’s correct!”

Then Hui Neng and Xuan Jue engaged in conversation, growing increasingly interested in each other’s thoughts. Eventually, Xuan Jue expressed a desire to leave, to which Hui Neng inquired, “Why are you leaving so soon?”

Hui Neng invited Xuan Jue to spend the night with him at Tào Khê to enjoy tea and discuss the Dharma.

Later, Xuan Jue composed the poem “Song of Enlightenment,” which consists of the following four lines.

The supreme learner is a contemplative individual, leading a life of non-action,

neither dispelling delusions nor pursuing the truth.

The essence of ignorance is, in fact, Buddha nature.

Illusions that lack a physical form are also the Dharma body.

 

NOON: Hương Tích Rice

That day, Vimalakirti welcomed Bảo Tích and five hundred princes, young masters, and sons of noble families—future lay Bodhisattvas—into his empty house in Vaishali.

While everyone eagerly engaged in discussions about profound topics such as the conditioned and the unconditioned, birth and death, and nirvana, Sariputra, the Buddha’s most astute disciple, interjected to ground the conversation, “It’s almost time to eat. What will these Bodhisattvas have for their meal?”

Vimalakirti said, “Please wait a moment. I will provide you unprecedented food.” Unprecedented food? For these princes, young masters, and sons of affluent families, what is so unusual about delicacies? What is so remarkable about bird’s nest, red ginseng, peacock spring rolls, and phoenix sausage? They eagerly awaited Vimalakirti’s arrival with this extraordinary food!

It turns out that Vimalakirti brought a delightful fragrance—a truly aromatic essence. The food was sourced from the Fragrant Land of the Fragrant Accumulation Buddha (Buddha Hương Tích). It was a type of food that had never existed before.

Vimalakirti then entered Samadhi, utilizing his supernatural powers to direct the assembly’s gaze upward, beyond countless Buddha lands, as numerous as the grains of sand in forty-two Ganges Rivers. There, he revealed a realm known as Fragrant Accumulation, where Fragrant Accumulation Buddha resided. This land possessed a scent more exquisite than that of any beings or devas in the Buddha worlds across the ten directions. Throughout this realm, the fragrance manifested as towering structures. People walked upon fragrant ground, and the flower gardens and groves were entirely composed of delightful aromas. The scent of the food permeated and spread throughout the countless worlds in the ten directions.

Vimalakirti requested only a small amount of leftover food from Fragrant Accumulation Buddha to entertain the princes and nobles in Vaishali that day. Just a small amount of leftover food was more than sufficient, for that extraordinary food emanated an endless fragrance from the heart of a virtuous person. It was the fragrance of virtue—a scent that could soar high, travel far, and defy the wind.

The fragrance of virtue cannot be acquired in a single day or through a brief session. This fragrance must be cultivated gradually, allowing it to fill, overflow, and become truly aromatic. Thanks to virtue, the Fragrant Accumulation Buddha’s Fragrant Land did not require written teachings of the Dharma; instead, it communicated through scents. All living beings, inspired by the fragrance of virtue, embraced the precepts and engaged in righteous conduct. The Bodhisattvas in that realm each sat beneath fragrant trees, inhaling the exquisite aroma, and achieved all the Samādhis of the Treasury of Virtue. There was no need for confusing, controversial, or trivial discourse, for the Precepts serve as the foundation. With the Precepts, one can attain both Samadhi and Wisdom.

 

AFTERNOON: Bát Nhã Boat

Prajna always requires a boat; however, sometimes a raft suffices. Once, the Buddha told his disciples, “After crossing the river, why carry the raft and make it heavy?

Avalokitesvara, when the Bodhisattva practiced the profound Prajna Paramita, realized that the five aggregates are empty and transcended all suffering and hardship.

Prajna is always Prajna Paramita. Prajna paramita. Para: the other shore, the other side. Mita: to arrive. Paramita: to arrive at the other shore. In this context, the Prajna boat transports practitioners from the shore of delusion to the shore of enlightenment.

Can one reach the other shore and eliminate all suffering? Yes, but only by deeply practicing Prajna. The practitioner comes to clearly understand that the five aggregates are entirely empty. Furthermore, when one perceives the formless—the true essence beyond form—and lives in accordance with Prajna, then even the immense Mount Sumeru can fit into a mustard seed, and the waters of the four vast oceans can be contained within a single pore. Once the principle encounters no obstacles, all things become unobstructed. When both principle and phenomena are free from obstruction, then all things are unobstructed.

But once the boat has departed, it will return, and once it has crossed over, it will come back. The Bodhisattvas, adhering to their vows for the benefit of others, remain in the realm of Samsara, traversing between the two shores. The boat leisurely moves back and forth, yet it also resides solely in our hearts and minds.

The boat continues to move, sometimes downstream and sometimes upstream. The practitioner must row and steer; it is not easy to relinquish control of the rudder. The practitioner must cultivate the qualities of generosity, adherence to precepts, patience, diligence, meditation, and wisdom.

Prajna is the Knowing before the known. Pra is before; Jna is to know. The knowing before the known is the present awareness—an understanding of reality as it truly is, free from reasoning, criticism, or discrimination. Consequently, it embodies wisdom and transcends mere consciousness. In other words, consciousness has evolved into wisdom.

 

NIGHT: Lankavatara Moon

Never before had the Buddha laughed so loudly, so heartily, and so powerfully, like a lion king in the middle of a full moon night in Lankavatara, surrounded by the lord of the island, Ravana, and his subjects, along with the presence of thousands of Bodhisattvas. The Buddha preached the truth to help people transform their consciousness, transcending theoretical knowledge and the common samadhi to reside in the Immovable Ground, the Good Wisdom Ground, and the Dharma Cloud Ground—the highest realm—entering the Tathagatagarbha through self-realization from within.

In the heart of the mountain peak on the island of Lanka, as he observed the moonlight dancing on the waves—breaking and reforming with each swell, Buddha laughed heartily. The moonlight shattered and coalesced, then shattered again, only to gather once more. All of this resembled flowers in the void, bird footprints tracing the sky, and a picture of clouds forming and dissolving. Such is the nature of existence. The world, with its myriad colors and shades, is solely a creation of the mind. It is akin to an illusion, a dream, a bubble, morning dew, or a flash of lightning. Beneath this surface lies the Tathagatagarbha, the Alaya, which remains serene “as it is, motionless.” Only our discerning consciousness disturbs us. That pure and natural mind remains still—unmoved, unborn, undying, unstained, unpure, unincreasing, and undiminishing.

Because consciousness arises, phenomena manifest. The world exists solely within our own consciousness. Living beings are illusions conjured by the magician—ourselves—where we create conditions, cling to them, and ultimately suffer.

Bodhisattvas perceive and understand in this manner: they recognize that everything is a creation of the mind and that living beings are illusions we create ourselves. The mind then discriminates, clings to these illusions, and experiences suffering. Therefore, they communicate this truth directly to everyone. Such direct communication embodies true compassion—free from concealment, deception, or intimidation. When practitioners recognize the illusory nature of existence, compassion naturally arises. Furthermore, because wisdom does not cling to either existence or non-existence, profound compassion emerges.

When the mind is at rest, afflictions cease to exist, and consequently, obstacles are eliminated. When all mental discriminations are halted, disturbances will no longer occur. Within us lies the Tathagatagarbha, the seed of wisdom encompassing all dharmas, and wisdom resembles a round, full, and boundless mirror.

Seeing and understanding the Tathagata in this way, one lives with the Tathagata, lives in the Tathagata, and lives alongside the Tathagata.

Do Hong Ngoc. MD

(Translated by Nguyen Giac)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Vài hình ảnh về buổi Giao Lưu tại Cadasa Đà Lạt 10.8.2024

14/08/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

GHI CHÉP LANG THANG

Vài hình ảnh về buổi Giao Lưu tại Cadasa Đà Lạt 10.8.2024

Ông Nguyễn Thế Hùng, TGĐ CADASA giới thiệu Đỗ Hồng Ngọc

 

 

 

 

Khá đông bà con bạn bè tham dự và rất nhiều câu Hỏi-Đáp

 

Từ trái: Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thế Hùng, Đoàn Bich Ngọ, Ob Trần Ngọc Trác (Hội Nhà văn), Quỳnh Uyển (Báo Lâm Đồng), Lan Thanh.

Ông Nguyễn Đức Phúc (1942) nhân vật Chuyện Thật Như Đùa, của nhà văn Trần Ngọc Trác (Đà Lạt) phát biểu. Ông hiện phụ trách một CLB dành cho Người già đến vui chơi hàng ngày…

 

Góc quán Cafe Cadasa

Với nhà báo Lê Trọng, PT & TH Lâm Đồng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sau một ngày vất vả, tôi dành một ngày “xả hơi”, về thăm lại Cafe Tùng ngồi cùng các bạn trẻ, đa số nhỏ hơn mình 50 – 60 tuổi xem ra sao… rồi đi thăm Hồ Suối Vàng Dankia, nơi có Làng Cù Lần để nhìn mình cho rõ, rồi vòng quanh Hồ Tuyền Lâm, Trúc Lâm Thiền Viện, qua Nhà thờ Con Gà… nơi đầy trong tranh Đinh Cường và không quên đi qua cầu Hồ Xuân Hương, nơi TCS viết “Có một dòng sông đã qua đời”: Gặp nhau không nói không nụ cười/ chút tình dường như hiu hắt bay… Có lần bàn chân qua phố thấy người/ sóng lao xao bờ tôi…

Cafe Tùng

Hồ Tuyền Lâm

Đồi thông, dòng thác…

Lối xưa.xe ngựa hồn thu thảo/ Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương (BHTQ)..

Hồ Suối Vàng Dankia

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon,15.8.2024)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Lõm bõm học Phật, Vài đoạn hồi ký

Vài hình ảnh chuyến về La-Gi lần này (20-21/7/2024)

28/07/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thư gởi bạn xa xôi (7/24)

Vài hình ảnh chuyến về La-Gi lần này

Nhờ có cao tốc, Saigon về La-Gi bây giờ chỉ hơn 2 tiếng đồng hồ, trước kia phải 4,5 tiếng đi xuyên qua Rừng Lá!

Lần này về đúng lúc cơn bão đổ vào. Biển lạnh ngắt. Vắng tanh. Mưa.

May sáng hôm sau, có chút nắng dịu. Đi thăm lại Hồ Núi Đất. Ngày xưa, hoang vu lắm. Hồ nước mênh mông, bao trùm Núi Đất. Đi qua cứ sợ có con khủng long hoặc quái vật nào đó thình lình từ dưới nước vọt lên… Nay dân cư đã dầy dần. Hồ được bao bọc bằng con đê khá rộng, giữ nước, chếch về phía Đông Bác. Vùng này nổi tiếng với Khu Mộ của Thầy Thím (gần Dinh Thầy Thím). Tương truyền xưa có cọp luôn nằm canh giữ bên Mộ Thầy Thím. Nay là một khu di tích nổi tiếng ở La-Gi.

Gởi bạn vài tấm hình coi chơi vậy nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

Núi Đất La Gi, trông giống Núi Chớp Chài ở Tuy Hoà… hình chiếc nón lá xanh um.

 

 

hì hục một lúc cũng lên được con đê

 

 

 

Dừa tươi vừa hái trên cây xuống. Quán cafe Mộc Yên. Hỏi, cháu Thọ nói: Mộc là Mộc mạc;. Yên là Yên ổn.

 

 

 

 

 

Dốc Trâu. Mênh mông là thuyền thúng một ngày biển động!

 

Biển vắng dưới cơn mưa chiều…

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Minh Lê: Chân dung một người rất ngộ

18/07/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chân dung một người rất ngộ

Minh Lê 

Là độc giả trung thành của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lâu nay, tôi rất tò mò khi nhìn cuốn sách dày cộm “Ngôn ngữ số Đặc biệt 5/2024: Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc- Bằng hữu và Văn chương”. Tò mò vì không rõ các nhà phê bình, nhà thơ, nhà văn và rất nhiều nhà gì gì nữa đem thơ văn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, “idol” của tôi, mổ xẻ ra sao.

Có thể nói tuyển tập chia làm hai phần chính: phần in các bài viết và thơ do chính Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tuyển chọn, và phần nhận xét, phê bình, cảm nghĩ của những người khác về thơ văn ông.

Tôi đã đọc rải rác thơ văn Đỗ Hồng Ngọc từ những năm 1990, nên đa số bài trong phần chọn lọc tôi đã đọc qua. Vậy mà đọc lại vẫn thấy bất ngờ, và lôi cuốn như lần đầu. Giọng văn cũng như tiếng thơ của ông luôn có duyên ngầm, nhẹ nhàng sâu sắc và không đao to búa lớn. Đúng là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”, một cơ hội tốt cho “người hâm mộ” thầm lặng là tôi đây đọc lại thơ văn của “idol” từ những ngày xưa cũ cho tới những năm gần đây.

Phần thứ hai là một lăng kính vạn hoa. Tôi ngạc nhiên trước những khía cạnh mới và ý tưởng phong phú về văn chương Đỗ Hồng Ngọc mà trước đây tôi chưa được biết.

Tỷ như bài của nhà thơ Trần Vấn Lệ viết về “Thơ Hồn Nhiên, Thơ Nhã Nhặn, Thơ Ngọt Ngào” – những cảm giác sâu sắc của ông khi đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc. Tôi khoái câu này của ông: “Tôi đọc thơ ông rồi úp cuốn sách lên ngực nghe ấm.” (tr. 404) Thật đúng! Nhiều bài thơ hay thì có hay nhưng đọc xong cứ thấy rã rời tuyệt vọng làm sao. Thơ Đỗ Hồng Ngọc ngược lại lúc nào cũng bàng bạc một tình yêu chân thành, bao dung và thấu cảm.

Hay một câu trong bài của Nguyễn Đức Tùng: “Đỗ Hồng Ngọc làm chủ giọng nói của mình, tiết kiệm chữ, chỉ nói vừa đủ, nhường lời cho sự hiểu biết và diễn dịch của người đọc. Thơ anh vì vậy khá kén người đọc.” (tr. 331) Cũng chính xác luôn! Thơ Đỗ Hồng Ngọc từ những năm 1980 trở đi thường ngắn và cô đọng, từ đó mở ra không gian thênh thang cho người đọc tự cảm nhận.

Tiếc rằng không có nhiều bài phân tích về văn Đỗ Hồng Ngọc. Dù tôi dám chắc rất nhiều người thành độc giả trung thành của ông qua các tùy bút, từ Gió heo may đã về (1995) cho tới Một ngày kia… đến bờ (2023). May mắn, nhà thơ Ý Nhi đã nhận xét một câu xác đáng về văn Đỗ Hồng Ngọc: “Nhẹ nhàng mà thâm trầm, thông tuệ mà giản dị, nghiêm trang mà dí dỏm.” (tr. 587) Và luôn phảng phất “phẩm chất thi ca”. (Huỳnh Như Phương, tr. 587)

Người ta nói “văn là người”, tuy vậy “người chưa chắc là văn”. Hay nói thẳng ra như Ý Nhi: “Có những người viết văn hay nhưng gặp gỡ thì… chán.” (tr. 590) Đọc tới đây tôi run hết sức. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, “idol” của tôi, có thuộc dạng này không? May quá, Ý Nhi kể: “Đọc ông, rồi gặp ông, có một cảm giác thật dễ chịu khi mọi điều như hòa quyện với nhau. Văn là người, người là văn vậy.” Còn có một số bạn thân khác cũng tiết lộ khối điều “bí mật” về ông, nhưng thôi, tôi không thể “tiết lộ” hết nhỉ.

Bài duy nhất trong tuyển tập không viết về văn chương mà viết về Thầy Đỗ Hồng Ngọc là bài của Bác sĩ Trương Trọng Hoàng. Từ góc nhìn của Bác sĩ Hoàng hiện lên một ông Thầy tận tâm, tinh tế và rất nghệ thuật. “Trong giảng dạy Thầy kể rất nhiều câu chuyện dí dỏm, dùng nhiều sự so sánh rất đắc, chiếu nhiều hình ảnh ấn tượng”. Quan trọng hơn, thông qua bài dạy đầy tính nghệ sĩ, “Thầy làm cho người học “nhớ đời”, … “giật mình”, … hiểu rõ những khái niệm và thêm yêu ngôn ngữ Việt nhuần nhị, sâu sắc.” (tr. 688) Quả là một ông Thầy xuất sắc vậy!

Gọi là tuyển tập văn chương nhưng bạn đọc còn được nhìn ngắm tranh Đỗ Hồng Ngọc – một khía cạnh ít người đề cập tới, bởi tác giả chỉ vẽ cho mình và cho bạn bè, không triển lãm rình rang. Cả trong tập này cũng vậy, chúng chỉ dùng để minh họa. Thiết nghĩ (dù biết hơi “tham”) chân dung Đỗ Hồng Ngọc sẽ toàn vẹn hơn nếu có bài phân tích về tranh của ông, từ ký họa đến màu nước.

Đỗ Hồng Ngọc vẽ ký họa phong cảnh đen trắng rất thoáng, và mỗi bức tranh càng ngắm càng cảm được cái hồn ở trong. Như bức “Chớm đông” (tr. 97) có nhiều nét vẽ mảnh mai thẳng đứng tả hàng cây trút lá, con đường đầy tuyết và tháp chuông cô độc xa xa. Cảm giác lạnh lẽo, tĩnh lặng giữa tiếng rơi rất khẽ của “linh hồn lá ngập ngừng trút qua” (“Đông Boston”)

Tranh minh họa bài thơ “Biển vắng” (tr. 95) lại là những nét đậm ngoằn ngoèo tả bờ biển cong cong, cây dừa nghiêng mình đón gió, lưỡi sóng ôm hôn bờ cát, … như đang ẩn giấu một tình cảm sâu đậm thiết tha mà kín đáo. Bài “Biển vắng” cũng “tình” một cách độc đáo, hóa ra tình yêu có muôn vàn cách thể hiện ý nhị, và cách của Đỗ Hồng Ngọc luôn thật bất ngờ.

Cuối cùng, tôi cảm thấy tuyển tập hình như thiếu thiếu một chút. Tôi cố ý tìm coi có bài nào “chê” văn chương idol của tôi không, nhưng thất bại. Là người có tâm hồn “ẩm thực” sâu đậm, tôi luôn tâm đắc bí quyết nấu chè của người Việt: muốn chè ngon thì ngoài đủ đường phải dằn thêm chút muối. (Các bạn chớ nhìn tôi nha, tôi cũng không biết “chê” idol ra sao đâu. Chỉ là tôi đang thêm “muối” cho bài của mình thôi.)

Cám ơn Ban Biên tập tạp chí Ngôn Ngữ đã có một việc làm ý nghĩa và giá trị. Ngôn Ngữ số Đặc biệt 5/2024 đã yêu thương khắc họa chân dung Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc – một người đa tài, từ thi sĩ, bác sĩ,  họa sĩ, văn sĩ, và bây giờ là một cư sĩ thuần thành nhẹ nhàng chuyển tải cái giác ngộ của mình cho mọi người. Đúng là một người rất ngộ, phải không?

Minh Lê (Nha Trang, 7/2024)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (5.2024)

15/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (5.2024)

“Nha Trang… ngày về”

Bạn biết không, bà xã mình thường “cằn nhằn” sao cứ đi hoài đi miết vậy, hết Huế tới Phú Yên, Mũi Né,  La Gi, La Gàn, rồi Long Thành, Phan Thiết… Mình bèn “phản biện” bây giờ còn không đi, đợi hết đi nổi mới đi hay sao? Vậy đó, bạn thấy có lý không?

Cao tốc Saigon – Nha Trang vừa làm xong, phải đi cho biết chớ. Nghe nói thay vì đi 9, 10 tiếng như xưa, nay đã rút ngắn còn 5 tiếng thôi. Nghe nói cao tốc mà chưa có chỗ dừng nghỉ, vệ sinh, nên người ta phải nhảy rào, nay mới được dựng tạm mấy chỗ. Phải đi cho biết chớ.

Vậy là lên đường. Đúng là cao tốc có dễ đi hơn trước, nhanh hơn trước, chui mấy đường hầm cũng ngộ, đến Nha Trang chỉ mất hơn 5 tiếng thiệt. Ghé nhà hàng “Nha Trang xưa” ăn cơm xem sao. Có mấy món Bà ngoại làm trong thực đơn. Có ao sen, có chuối, có cau, có cầu khỉ… Ôi, đông khách quá.

Nha Trang thấy lạ hoắc. Đường xá thênh thang. Cũng còn Ga xe lửa. Nhà thờ đá. Nhứt định bắt bác tài phải chạy ra biển cho mình coi một chút. Ôi, 4 mùa đã khác, không còn các ki ốt, hàng quán… nào nữa. Chỉ thấy khách sạn cao ngút chen chúc dày đặc. Nhớ năm 1960, mình từng đi xe lửa ra Nha Trang một mình, tìm người bạn học Võ Tánh không gặp bèn cỡi quần áo nhảy ùm xuống nước tắm một mình rồi leo lên xe lửa về lại Saigon. Bây giờ đèo Rù Rì cũng không còn. Cầu Đá thì vắng vẻ… Chỉ còn khu Du lịch là náo nhiệt xí xô xí xào, tây đầm, âu á… Tự nhiên thấy bơ vơ, lạc lõng. May sao, chùa Long Sơn còn đó với tượng Phật vĩ đại trên đồi cao. Phía sau là chùa Hải Đức, nơi ngày xưa có thầy Tuệ Sỹ, Ni sư Trí Hải, các văn nhân Quách Tấn, Võ Hồng, Phạm Công Thiện… thường lui tới. Nay còn có thầy Phước An.

Ra Hòn Chồng uống Cafe. May sao còn có vài chỗ như Hòn Chồng có cafe fin. Còn hiện nay ở đâu cũng thấy toàn cafe máy. Bãi Hòn Chồng đẹp, thân thiện, đông vui. Tắm cái chớ. Uống dừa ba nhát cái chớ.

Rồi thăm bạn bè. Còn chẳng mấy. Khuất Đẩu & Huyền Chiêu ở Ninh Hoà, vợ chồng Võ Tấn Khanh ở Phan Rang… Ai cũng kêu con cháu đi khắp nơi, chỉ còn hai ông bà già lui cui.

Trên đường về, mình không đi cao tốc nữa mà đi Quốc lộ 1 để qua Cam Ranh, Phan Rang, Cá Ná… quen thuộc.

Gởi bạn vài tấm hình coi vui nhe.

Chùa Long Sơn, Nha Trang mùa Phật Đản.

 

 

 

Tượng Phật Thích Ca trên đồi cao, sau chùa Long Sơn.

 

 

Bãi biển Hòn Chồng

uống dừa ba nhát

 

Tắm cái chớ! Ôi, nước thiệt ấm.

 

 

Khuất Đẩu và Đỗ Hồng Ngọc (Ninh Hoà, 9.5.2024)

Cafe với Khuất Đẩu & Huyền Chiêu ở Ninh Hoà (9.5.2024)

Võ Tấn Khanh

Ngọc, Bích, Trinh, Khanh, nhà VTK “ở một nơi nắng như Rang mà gió như Phang”, may còn mấy trái xoài xanh… (Phan Rang 11.5.2024)

Bãi biển Cà Ná: “… mình tôi phơi nắng trưa, tôi đi tìm con ốc, bơ vơ nằm trên cát…” (11.5.2024)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

“Phép lạ là đi trên mặt đất” (tiếp theo)

08/04/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

“Phép lạ là đi trên mặt đất”

Như đã hứa, mình tiếp tục phần hoạt động “ngoại khoá” của mình để bạn coi cho vui nhe. Cũng xin chia sẻ với vài hình ảnh thôi. Làm biếng quá rồi!

Ngay buổi chiều đầu tiên đến Mũi Né, một vài vị đã đề nghị mình “kể chuyện học Phật”. Sc KN bảo, năm 2008, tại Huế, trong Tuần lễ Văn hoá Phật giáo, Sc có dịp dự, đã được nghe mình trình bày về Thở và Thiền rất ấn tượng.

Chị Nga, một doanh nhân có mặt kể chuyện 40 năm trước đã từng mang con gái 2 tuổi đến mình khám chữa bệnh, mình tiếp ở phòng khách chớ không có phòng mạch, và chỉ dặn cho bé ăn thêm dầu ăn để tăng cường calorie mà không cho thuốc men gì thêm. Vậy mà bé hết suy dinh dưỡng, hết bệnh, nay đã là cô giáo một ngôi trường lớn ở Sài gòn. Hồi đó mình nhớ mỗi khi khám bệnh cho một em bé`thì thường cho các bà mẹ khác bế con đứng sau lưng nghe… lóm. Đây là một phương pháp “giáo dục sức khoẻ” tốt nhất!

“Tiếng lành đồn xa”, sáng hôm sau, đã có buổi “văn nghệ” đặc biệt, khá rôm rả. Sư cô HN tặng mình cuốn “Tình Thầy” và đọc 2 bài thơ trong tập thơ “Đôi Khi” rất hay của Sư cô. Mình “đáp lễ” bằng cách đọc bài thơ “Thư cho bé sơ sinh”, viết từ năm 1965 ở Bệnh viện Từ Dũ, rồi bài “Trong một nhà giữ lão ở Montreal” viết năm 1997 ở Canada, sau cùng là bài Bông hồng cho Mẹ. Lê Bá Thông ôm đàn hát tiếp bài thơ của Đỗ Trung Quân về Mẹ thật cảm động. Rồi một vị sư cũng ôm đàn hát thêm mấy bài nữa. Buổi họp mặt tạm ngừng khi đoàn doanh nhân vừa tụ tập về đến Mũi Né, chuẩn bị cho buổi Khai mạc.

Thấy Pháp Lâm ở Darlak gởi tặng mình bản thư pháp do thầy vừa mới viết xong. Buổi trò chuyện bên lề trên bãi cỏ xanh cùng các bạn trẻ doanh nhân sau khi đi thiền hành về rất vui.

Theo yêu cầu của các bạn trẻ và cả các vị “xuất sĩ” muốn mình đọc bài thơ Mũi Né ngay tại Mũi Né này. Mình nói đây là bài thơ tình, có nên đọc ở đây không?

Càng tốt, sao không!

Vậy là mình đọc. Em có về thăm Mũi Né không? Hình như trời đã sắp vào xuân…

Một cô bé bỗng mở bài hát Mũi Né do nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo phổ nhạc với tiếng hát Thu Vàng…  da diết. Không khí trầm lắng hẳn. Năm nay người có về ăn Tết/ Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ?

Đọc bài thơ Mũi Né ở… Mũi Né.

 

Buổi tối 29.3.2024, trước buổi Toạ Đàm, mấy bạn trẻ còn yêu cầu mình nói vài điều đáng nhớ. Đang ở biển, mình nói về Sóng và Nước. Về “bổn lai vô nhất vật”. “Ta xô biển lại sóng về đâu…?” (TCS). Rồi nói chút về Năng lượng. Về điện. Về thể, tướng và dụng… vì đang ngồi trong quán Bar, đèn sáng trưng!

Trò chuyện với các doanh nhân trẻ (tối 29.3.2024 tại Mũi Né)

Chỉ có vậy. Thôi nhé,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 8.4.2024)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Uncategorized

“Phép lạ là đi trên mặt đất”

06/04/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (tháng 4. 2024)

“Phép lạ là đi trên mặt đất”

Đó là Khoá Thực hành cho Doanh nhân, lần thứ 6, tổ chức tại Mũi Né, Phan Thiết, do CLB Doanh Nhân Saigon phối hợp với các Sư Thầy Sư Cô Làng Mai từ nhiều nơi về hướng dẫn… Có các vị từ Pháp, từ Thái Lan, từ Huế, từ Ban Mê Thuộc, từ Cam Ranh, từ Đồng Nai… với hơn 20 vị và với trên 200 doanh nhân về tham dự trong 4 ngày tại một Resort rộng rãi, đẹp đẻ của khu du lịch nổi tiếng Mũi Né.

Mình không phải doanh nhân, cũng không xa lạ với các phương pháp tu tập của Làng Mai, nhưng vừa học xong Phẩm “Nhập Pháp Giới” của Kinh Hoa Nghiêm với Nhóm Học Phật ở chùa Xá Lợi nên  muốn trực tiếp “nhập” một phen xem sao. May mắn là Ban Tổ chức có các bạn Lê Bá Thông, chị Yến Ngọc (dân Phan Thiết) nên các bạn “hoan hỷ” cho mình đi ké, bên lề, không bị “dính” gì với Chương trình thực tập nghiêm túc, mình chỉ quan sát, ghi nhận, ngẫm nghĩ, phù hợp với sức khỏe, tuổi tác, cùng thói quen “tuỳ nghi, tự tại… vô ngại” của minh. Đã vậy mình chỉ tham dự được vài hôm thôi, vì phải về quê ở La Gi dự Họp Mặt bà con họ Đỗ mà mình nay đã gần là… Trưởng lão, với tuổi 85 rồi (Tuổi ta!).  Dù vậy, BTC đã không quên mời mình tham gia vào buổi Toạ đàm ở ngày thứ hai, về 5 Phương pháp Thực tập Chánh niệm, sẽ là nền tảng vững bền cho Doanh nghiệp, trên Chủ đề chung của Khoá thực hành này: “Phép lạ là đi trên mặt đất”…

Phải nói là BTC đã khéo léo sắp xếp một Chương trình “thực hành” vô cùng phong phú.  Có thiền tập, thiền ca, có pháp thoai, pháp đàm, tham vấn, lửa trại, đọc thơ, thiền hành… Mình chỉ hơi tiếc, giá thời gian kéo dài được vài tuần hẳn mọi người sẽ “thấm” sâu hơn. Nhưng không lo. Những người đến đây đều đã học Phật từ lâu, nay muốn có dịp trải nghiêm thực hành với những phương pháp cụ thể ra sao và dĩ nhiên sau đó sẽ thực hành dài lâu trong đời sống hàng ngày. Phần mình dĩ nhiên cũng có nhiều buổi “ngoại khoá’ với Chương trình kể chuyện, đọc thơ, ca hát, trao đổi… cũng không kém phần thú vị, sẽ kể riêng bạn sau nhe.

Như thường lệ, mình chỉ đưa lên đây một ít hình ảnh để chia sẻ cùng bạn xa xôi.

 

 

 

 

Hoàng hôn trên bãi biển Mũi Né (27.3.2024)

Bình minh trên bãi biển Mũi Né (28.3.2024)

Đi dạo quanh vườn.

 

 

 

 

 

 

 

Toạ đàm tối 29.3.2024 (từ trái: Thầy Linh Thứu, Doanh nhân Thuỳ Dương, Sư cô Khải Nghiêm, Doanh nhân Lê Bá Thông, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc).

 

Mỗi ngày đều có buổi thiền hành trên bãi biển Mũi Né.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon 6.4.2024)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Họp mặt “bỏ túi” ở Lan Viên Cố Tích

20/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi ( M5 Tết Giáp Thìn, 2024)

Họp mặt “bỏ túi” ở Lan Viên Cố Tích

 

Cứ tưởng là cổ tích, nhưng không. Cố Tích. Vết xưa. Dấu xưa. Lối xưa. “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo…” (BHTQ).

Chiều Mùng 5, (ngày 14.2), có một buổi Họp mặt “bỏ túi” thân tình ở vườn nhà Thái Kim Lan, khu Kim Long, Huế.

Gọi là “bỏ túi” vì đó là một buổi họp mặt nho nhỏ, thân tình, đầu năm, giữa vài bạn bè thân quen với Đỗ Hồng Ngọc vừa từ phương Nam mang chút nắng vàng về… Kinh.

Thái Kim Lan “chủ xị”, lúc đầu tính mời rộng qua FB nhưng mình can, Tết nhứt, ai cũng bận bịu. Vậy mà cũng hơn vài ba mươi người chớ không ít.

Gởi bạn vài tấm hình coi chơi thôi nhe.

Khu vực vườn nhà Thái Kim Lan rất rộng, có cả bảo tàng cổ vật sông Hương, thư viện, hội trường…

 

 

bạn bè đến khá đông vui… nhiều người tóc đã trắng phau, vẫn áo dài truyền thống thướt tha đầy màu sắc…

Một… hội trường mở rộng vào không gian vườn vừa cổ xưa vừa hiện đại… Mình được mời nói một chút về chuyện Thơ văn, chuyện học Phật…

Và bắt đầu sôi nổi với những câu hỏi của nhà báo Nguyễn Khoa Diệu Hà, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy, của bác sĩ Pham Đức Thành Dũng, của nhà Phật học Nguyễn Phố…

D

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (30 Tết)

09/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (30 Tết)

Có gì lạ không ư? Có đó. Sáng 30 Tết, không khí như loãng ra, trời như cao hơn, đất như rộng hơn. Im ắng lạ thường. Không một tiếng động dù là tiếng rao bánh mì nóng, xôi vò xôi đậu, thậm chí không có một tiếng động cơ xe ầm ào như mấy ngày trước. Lạ. Ba mươi thì có khác gì đâu. Cũng hai mươi bốn giờ, mỗi giờ cũng sáu mươi phút, mỗi phút cũng sáu mươi giây. Vậy mà lạ mới kỳ chớ.

Nghe cho kỹ thì ra có cái gì đó. Hình như mùa đang chuyển. Hình như trái đất vừa quay được một vòng quanh mặt trời và hớn hở mĩm cười như đã thành công! Trời bỗng hơi bẽn lẽn se lạnh. Không khí loãng ra, không còn đặc quánh với bụi khói, với tiếng ồn kia nữa. Không khí ùa vào phổi, chẳng cần phải ráng hít thở chi.

Nhớ André Maurois, một hôm ngồi uống cafe sữa ở vỉa hè Paris, khi quậy lên từ đáy cốc thì thấy sữa cuộn lại và lốm đốm những hạt li ti, quấn quít, trắng đục. Ông kêu lên: Dải Ngân Hà đây rồi. Và biết ngay đã có một ai kia quậy một ly cafe sữa tình cờ đâu đó mà ra ngàn vạn dải Ngân Hà xoắn tít xưa nay trên bầu trời vời vợi kia.

Bỗng nhớ Sóng về đâu của Trịnh Công Sơn. Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng về đâu! Thì về với nước. Có mất đi đâu. Nhưng không cần thiết phải xô nhau. Chỉ cần nước, gió, và bãi bờ  để làm duyên cho sóng. Có khi rầm rập vỗ tan vào gành đá, có khi lướt thướt mượt mà chạy cuốn loanh quanh. Nó như có một số phận. Một cái nghiệp và duyên khởi thì duyên sinh.

Có lần tôi viết bài thơ ngắn:

Sóng

Sóng quằn quại

Thét gào

Không nhớ

Mình

Là nước…

(ĐHN, Thơ Ngắn Đỗ Nghê)

Và nhớ năm 2011, một con sóng thần đã ập vào Nhật bản, quét sạch cả một thành phố… Tôi đã viết bài thơ Giả sử

đỗ hồng ngoc

Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang

Ập vào Mũi Né

Anh chị kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng

Vút qua những ngọn dừa

Những đồi cát trắng

Em nhớ mang theo đôi quả trứng

Vài nắm cơm

Vài hạt giống

Đừng quên mấy trái ớt xanh

 

Biết đâu mai này

Ta làm An Tiêm

Trở về làng cũ

Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang

Nơi kia gọi là Mũi Né

 

Cho nên

Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?…

(ĐHN)

Bạn biết không, không phải vô cớ mà nhà thơ Nguyễn Đình Toàn viết: Còn đêm nào vui bằng đêm Ba mươi… Anh nói với người phu quét đường. Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em…

Chiếc lá vàng làm “bằng chứng” ư? Chớ còn gì nữa. Chiếc lá vàng, rụng rơi xuống đất kia chẳng đủ làm bằng chứng rằng anh sẽ yêu em mãi đến như chiếc lá vàng kia đó sao?

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 30 Tết Giáp Thìn 2024)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (1.2024)

29/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (1.2024)

Vài hình ảnh về chuyến đi Phú Yên

Lâu lắm không có dịp đi xe lửa, nên cả Nhóm Học Phật chùa Xá Lợi đều háo hức đi Phú Yên một chuyến từ lời mới của Thầy Thiện Đạo, trụ trì chùa Phi Lai nhân dịp Lễ Phật Thích Ca Thành Đạo, mùng 8 tháng 12. Mình thì từ hồi còn ở Phan Thiết theo xe lửa vào học Sàigon thường xuyên rồi nên càng nhớ. Từ lúc hơn 10 tuổi mình đã lẩn quẩn ở Ga Mương Mán rồi nên không hề xa lạ. Thời trẻ, đưa bạn bè lên xe lửa cũng dễ dàng, tiễn biệt chia tay, hẹn hò… rồi còi hú lên mới vội vã nhảy xuống xe. Có người tàu chạy rồi còn chạy theo… Xe lửa thời đó chạy than, lửa bắn tung toé theo từng bánh xe nghiến lăn trên đường sắt… Và, những bài hát xưa còn nhớ chớ phải không? Em đứng đây chờ anh đã từ lâu/ sân vắng thưa người đêm cũng buồn theo/ một con đường sắt trăm con tàu/ mưa nắng sớm khuya trưa chiều/ người nhớ người thương người yêu… Rồi nhớ cả Tế Hanh: Những ngày nghỉ học tôi hay tới/ Đón những tàu đi đến những ga… /tôi thấy tôi thương những chuyến tàu/ ngàn đời không đủ sức đi mau/ có chi vương víu trong hơi máy/ mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau… Bây giờ thì nhiều nước đã có xe lửa đầu đạn 350km/giờ! Cho nên chán ngắt! Vừa rồi có một nữ du khách nước ngoài mê mẫn chuyến tàu cà rịch cà tang của Việt Nam, đi từ Nam chí Bắc vừa được ngắm cảnh sắc, vừa được gặp gỡ, làm quen với biết bao cảnh đời, cảnh người… hết sức thú vị.

Thôi trở lại chuyến đi Tuy Hoà của mình nhe. Chỉ xin chia sẻ vài hình ảnh như thường lệ thôi.

háo hức, chưa tới giờ đã chen vào toa

 

Còn gì vui hơn cả bọn chen chúc vào cùng một phòng trong toa, mặc sức… mà ăn uống và trò chuyện ầm ỉ cũng không sợ làm phiền ai, vì xe chạy rầm rầm… Nhìn cảnh hai bên đường hết sức thú vị. Đi ngang Phan Thiết (Bình Thuận) đã vào đêm, đèn sáng rực hai bên đường từ những vườn thanh long thấy tội nghiệp! Tội nghiệp vì thanh long… tưởng mặt trời vẫn đang còn sáng, bèn ráng sức ra hoa, kết trái… !

 

Nói chuyện suốt đêm không chợp mắt nổi. Tuổi già, mình đành uống chút thuốc ngủ… nên ngủ được chừng 5 phút! Sáng rồi. Ga Tuy Hoà đây rồi. Thầy Thiện Đạo đã cho xe đón, đưa về Ks Hùng Vương, trung tâm Tuy Hoà, cách biển không xa. Mới mấy năm, Tuy Hoà khang trang, rộng rải, khác lạ quá! Buổi Lễ Thich Ca thành đạo tại Chùa Phi Lai khá đông Phật tử gần xa. Mình được đề nghị phát biểu. Thầy Thiện Đạo trang trọng giới thiệu – mà thiệt ra nhiều người cũng đã quen biết mình từ lâu qua sách báo, qua các clip học Phật ở Chùa Xá Lợi Saigon. Cho nên mình chỉ xin nói chút xíu về “Tại sao tôi học Phật?” là đủ. Tuy Hoà ngày nay, so với 15 năm trước mình từng ghé đến khác xa nhiều quá. Nhớ một câu ca dao quê mình:  Đa tình con mắt Phú Yên/ Đồng Nai đi cưới  một thiên mắm mòi/ Hổng tin giở hộp ra coi/ Rau răm ở dưới mắm mòi ở trên… Bây giờ có câu: “Cá mòi Phan Thiết/ Sò huyết Ô Loan”… Phú Yên là vựa lúa miền Trung, có đầm Ô Loan, có vịnh Xuân Đài, có hàu, có tôm hùm, có chè, có bánh canh, có bún chả cá, có bánh hỏi lòng (!)… Có Cafe Tùng nổi tiếng, dựa vào bờ núi Nhạn, có Tháp Nhạn, có Đập Đồng Cam, có Gành Đá Đĩa có Nhà  thờ Mằng Lăng, Chùa Đá Trắng, chùa Hội Tôn, chùa Thanh Lương, cầu gỗ Ông Cọp… đặc biệt, có Nghinh Phong hứng gió lộng bốn phương.

Nghinh Phong, mùa gió bấc muốn bay cả người…

Núi Chóp Chài nhìn từ Tháp Nhạn.

Tháp Nhạn

Linh mục Thái hướng dẫn đoàn thăm Nhà thờ Mằng Lăng, giới thiệu cuốn sách xưa chữ quấc ngữ VN thời Alexandre de Rhodes, Thế kỷ thứ XVII. Thật thú vị.

Gành Đá Đĩa. Tại đây có thể nghe ban nhạc dân tộc đánh đàn đá và uống nước dừa, ngon không thua dừa Mũi Né.

Không quên thăm Đập Đồng Cam. Chính nhờ Đập Đồng Cam đã xây dựng từ trên trăm năm trước và duy trì phát triển đến ngày nay mà cánh đồng lúa Phú Yên xanh bát ngát.

Đã đến lúc tạm biệt những bạn bè Phú Yên. Hẹn ngày gặp lại. Cảm ơn bạn Phùng (PĐP), anh Lực, cô Hồng (Diệu Viên), anh Bình, cháu Minh, tài xế…

Dịp này được thăm Ngân Sơn (Tuy An), quê hương Thiền sư Liễu Quán, nhà văn Võ Hồng, được thăm Tháp tổ Tế Viên gần Nhà thờ Mằng Lăng … nhưng chưa gặp Trần Huiền Ân với Nguyễn Lệ Uyên, những người bạn văn thân thiết…

Bãi Xép với mình vẫn là nơi tuyệt đẹp.

Bãi xép, dưới chân đồi vẫn rất đẹp nhưng “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” thì nay khô héo quá, đáng tiếc!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Về đến Saigon, mình còn nghệch ngoặc một bức tranh kỷ niệm (vẽ bằng ngón tay nhe, đừng cười!).

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Nhà thơ Khánh Minh đọc “Một ngày kia… đến bờ”

11/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc tùy bút “Một ngày kia… đến bờ” của Đỗ Hồng Ngọc

Nguyễn thị khánh minh
(tranthinguyetmai.wordpress.com)

Sách Một Ngày Kia...Đến Bờ - Đỗ Hồng Ngọc

Bờ nào? Bờ bên kia hay bờ bên này?
Đáo bỉ ngạn? Là mong cho tới bờ bên kia? (Tr.7)

Có một nơi gọi là bờ để đến, người đang đi thuyền mong cho tới bến, bến ấy là bờ. Tỷ như có người đang ngộ nạn ở sông biển cũng mong mỏi sinh tử là bơi tới được bờ. Hiểu theo nghĩa đời thường của bờ là như thế. Nhưng khi nằm trong câu Một Ngày Kia Đến Bờ, bỗng trở nên lồng lộng của kinh điển, của pháp tu và tập tùy bút này của Đỗ Hồng Ngọc xoay quanh áo nghĩa của -Đến Bờ Bên Kia-, nghĩa theo Phật ngữ và cả thực hành tu tập, tùy theo sự tu tập mà đáo bỉ ngạn.

Ý rằng bờ bên kia hẳn là hay hơn, đẹp hơn, tốt hơn bờ bên này? Sao biết? Đã có ai nói cho biết chưa? Có con rùa nào từng đi dạo lang thang từ dưới biển lên đất liền nói cho biết chỗ nào đáng sống hơn chăng? (Tr.7)

Trong các hạnh tu Ba La Mật là tu để đạt tới chỗ hoàn thiện. Bờ bên kia là cứu cánh, là chỗ hoàn thiện mong đạt tới, thì phải chăng, vô hình trung khẳng định bờ đó đẹp hơn, tốt hơn bờ bên này, dù con rùa kia đi khắp biển bờ vẫn câm lặng không hé một lời mách bảo.

Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté… một đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú… năng trừ nhất thiết khổ chân thật bất hư ư? Sao người ta vẫn đọc hà rầm khắp nơi, đọc hằng ngày câu chú trong Tâm kinh Bát Nhã đó mãi mà vẫn thấy cứ còn khổ, thâm chí “cực khổ”, nên chỉ mong sao được mau về miền “cực lạc”, được vãng sanh qua nơi khác, qua bờ bên kia. Vậy mà lạ, hình như ai cũng muốn sống lâu, thậm chí trường sinh bất tử, nghĩa là ở mãi nơi này, nơi “cực khổ” này? Tại sao? (tr.8)

Tôi là một trong số người đọc hà rầm mỗi ngày Chú Đại Bi, là một trong muôn người còn chờ Phật Quán Âm độ cho mọi khổ ách. Ừ nhỉ, tại sao ai cũng muốn sống lâu ở cõi mà ai cũng kêu là trần ai này? Nghe như công án. Và qua những trang sách trong tập tùy bút này thấy Đỗ Hồng Ngọc cứ tủm tỉm đi trong hành trình well-being đến well-dying, làm thế nào để well, cực kỳ… không biết dễ hay khó. Thôi thì “tùy người đối diện”. Khi ta còn trong cõi bờ sinh tử, làm sao sống để có khỏe mạnh và hạnh phúc thoải mái? Đó là chủ đề của Đỗ Hồng Ngọc, qua thực hành Phật pháp, qua kinh nghiệm tu tập, qua tri thức vốn có của ông.

Tập tùy bút gồm 26 tiểu đề, Đỗ Hồng Ngọc bàn về những phạm trù mà xưa nay người học Phật đều đặt dấu hỏi, như Nghiệp, Có Ngã Không, Có Kiếp Sau Không?, Phật là Như Lai… Nhưng Như Lai Không Phải Là Phật, Một Là Tất Cả…  Rồi cả phương pháp tu tập Thở và Thiền Định, Tứ Niệm Xứ… Bạn phải có cuốn sách này, vì không thể đọc lướt, đọc một lần mà lĩnh hội được. Tuy Đỗ Hồng Ngọc nói chỉ “lõm bõm học Phật”, nhưng cách ông giảng giải về Phật pháp hiện rõ tinh chất uyên áo nằm dưới những câu, từ và ví dụ rất đời thường để người đọc nắm được ý chính của kinh điển, thật may mắn khi chúng ta có được văn bản của một người học Phật và chắt ra được cái cốt lõi của Phật pháp, của học và hành, như thể ta được chỉ đường. Vấn đề là biết đường đi rồi tự thân ta phải kiên trì tập cách đi cho vững cho thông.

Khởi đầu cuộc hành trình,
Tự nhiên có ta trong cõi đời. Ta tự nhiên như từ “vô tướng” mà hiện ra thành “hữu tướng” dù chỉ là giả, là tạm mà cũng xài được một thời gian. Cha mẹ gặp nhau, hàng tỷ tinh trùng mà chỉ có một con duy nhất được gặp cái trứng như hẹn hò nhau từ muôn kiếp trước, (tr.11)

Tinh cha huyết mẹ nên con (ntkm), thú vị thay, Đỗ Hồng Ngọc nói, như hẹn hò từ muôn kiếp trước, tôi cũng tin vậy, và rất rất nhiều người cũng tin thế. Duyên ư, nghiệp ư? Từ đâu mà ra? Tác giả đã đặt câu hỏi về vấn đề siêu hình bằng một giọng rất giản dị hồn nhiên,

Nhưng tôi tin có một cái gì đó, gọi bằng tên gì cũng được, tạo ra cái trò chơi này và ngắm nghía thú vị. Dù là một miếng đất sét được vọc bởi một em bé thành hòn bi hay thằng người… thì cũng có một em bé… đầy sáng tạo. Dù là từ Như Lai tạng thì cũng phải có một “nghệ sĩ” vẽ vời, nắn nót tạo nên mọi thứ và chịu trách nhiệm chớ?

Rồi, tủm tỉm, Nghĩ Tức Cười, là sao, tôi đồ chừng khi tạo ra con người này, ai đó, cái gì đó, cũng trong phút Tức Cười ấy, nên mới có đủ thứ hỷ nộ ái ố tréo ngoe trong kiếp người. Và chẳng phải chỉ một kiếp, vòng tuần hoàn cứ từ tro bụi thành mình mình thành tro bụi, đến đi, miết miết, huyền nhiệm,

Từ đâu mà ra? Từ cái duyên của cha mẹ, ông bà, từ muôn vạn thứ duyên khác từ đất, nước, gió, lửa (C,H,O,N…)… . Cho nên hàng tỷ hằng triệu triệu con người sau khi… hoàn thành nhiệm vụ, già nua hết xài được thì trở thành tro bụi. Tro bụi đó, vẫn xài lại, nặn lại… tiếp tục đợi duyên sinh.

Nên khi nhào nặn thì … chẳng cần phân biệt. Ta mải mê phân biệt chẳng đáng tức cười cho Như Lai ư? (tr.16)

Và sau khi phân tích các chất tạo nên con người dưới con mắt của một bác sĩ thì nhà Phật học Đỗ Hồng Ngọc đặt một kết luận khiến cỡ người học Phật i tờ như tôi luýnh quýnh bụi trần.

Nhưng gène hình như cũng chưa phải khúc cuối của Như Lai. Người ta đã tìm ra hạt ra sóng và chẳng bao lâu nữa sẽ kêu như Huệ Năng: Bổn lai vô nhất vật!  (tr.16)

Tiểu đoạn 3 có đề Có Kiếp Sau Không?
Tôi không biết. Nhưng tôi biết có kiếp trước. Làm sao biết? Bởi vì nếu không có kiếp trước, làm sau có tôi ở kiếp này? Chắc chắn phải có kiếp trước mới có kiếp này của tôi chứ. Còn có kiếp sau hay không. Tôi không biết. (tr.17)

Nếu ngồi đối diện ông ngay lúc này chắc tôi sẽ dũng khí cãi, biết có kiếp trước tức vô hình trung nói rằng có kiếp sau, vì kiếp này là kiếp sau của kiếp trước. Làm gan cãi vậy thôi chứ cũng ạ ạ ừ ừ biết gì mà cãi. Thiền giả khẳng định có kiếp trước. Và còn đưa ra một nghi vấn nữa,

Vậy tôi ở kiếp trước và tôi kiếp này có giống nhau không? (Tr.17)

Sao muôn thuở muôn nghìn tình nhân dang dở đều hẹn hò lai sinh, tức là họ tin kiếp sau mình y chang là mình, chàng (nàng) phải vẫn là chàng nàng thì mới biết dây mơ rễ má của mối tình xưa xa kia mà nối kết lại chớ, phải không? Ai cũng tin dù không biết vì sao, vì đâu mà tin! Kiếp này duyên đã phụ duyên/ Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh. (Kiều)

Tôi không chắc sẽ giống, có chăng, giống một chút do cái nghiệp tôi mang theo. Nghiệp là cái tôi “thừa tự” mà, tôi phải mang theo chứ… (tr.17)

Nghiệp là gì? Không biết. Nó đeo đẳng mình, đòi nợ, phải “trả nghiệp”. Trả cách nào? Không biết. Có chuyển nghiệp được không? Chắc phải được chớ. (tr.21)

Hỏi làm cách nào? Hỏi như bịnh nhân hỏi một căn bệnh, bác sĩ trả lời:

Nghiệp “truyền” đi không chỉ từ gène mà còn từ môi trường… Ngành khoa học này gọi là epigenetic (ngoại di truyền, biểu sinh). Phật học nói về chánh báo và y báo là rất đúng. (tr.22)

Chế độ ăn uống, bệnh tật, nghiện ngập, lối sống là các cơ chế của y báo (ngoại di truyền, epigenetic mechanisms) có tác động đến hoạt động của các gène, điều hòa các gène. (tr.23)

Rồi ông nói tiếp, từ từ, nghe như đang giảng pháp,

Nghiệp do “thân, khẩu, ý” mà ra. Thì ra do thái độ, cử chỉ, do lời nói, ý nghĩ của mình mà sinh ra. Nói chung là cách sống. Tùy chọn. Ý nghiệp chưa phải là hành vi mà chính ý nghiệp mới dẫn dắt. “Ý dẫn đầu các Pháp” không phải sao? Ba “nghiệp” mà thanh tịnh thì hết chuyện. (tr.21)

Hỏi sao được thanh tịnh ung dung tự tại, giọng trả lời khiến tôi cảm tưởng như mình đang lọt vào một nơi chốn khác,

… Bệnh gốc của chúng sanh là Tham Sân Si. Tham sân si mà… triệt tiêu thì Niết-bàn đây chớ đâu! Bằng cách nào? Dễ thôi. Tứ Diệu Đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên… từng bước cho đến khi thấy Như Lai vô tướng, thấy được Như Lai tạng, nhìn mọi thứ bằng thật tướng của nó và từ đó… sẽ Ung dung, Tự tại, Vô ngại! (tr.47)

Bốn thứ ma thân thiết. Nó vây quanh ta từ khi ta chào đời. Phiền não ma, Ngũ ấm ma, Thiên ma, Tử ma. Nó vây quanh ta, kết bạn với ta, quậy phá ta, che chở ta. Phật bảo 4 thứ Ma đó là “thị giả” của ta, gần gũi và giúp đỡ ta. (tr.19)

Hẳn phải là người có nhiều kinh nghiệm làm bạn và chiến đấu với bốn con ma này nên mới có đủ nội lực để hóm hỉnh:

Kết bạn với 4 thứ ma đó đi. Vui đùa với chúng đi. Nhìn kỹ đi, chúng rất dễ thương, dễ bảo. Đừng căng thẳng gây gổ giận dữ với chúng làm gì. Chúng giúp ta mở mắt, nhìn rõ sự thực. Một cơn bệnh nặng chẳng phải đã giúp ta sực tỉnh cơn mê sao? (tr.20)

Tôi nhớ khi bị bịnh nặng, nằm một chỗ tôi thèm đôi chân đi đứng bình thường biết bao, Tôi thấy từng phút sống ý nghĩa biết bao, và tôi nguyện sẽ biết thương yêu hơn, tha thiết hơn với những gì xung quanh. Chả phải đức Phật khi cận kề cái chết mới giác ngộ chọn con đường khác để tu mà thành Phật đó sao.

Mục tiêu của Hoa Nghiêm hữu hóa là giúp ta có được cuộc sống an nhiên, tự tại, hạnh phúc ngay ở đây và bây giờ… Một “thế giới hoa tạng”, rực rỡ xinh đẹp sẽ được thành tựu tùy tâm mình.(tr.45)

… Chẳng vì ta mà hoa nở, hoa tàn. Chẳng vì ta mà gió mát trăng thanh. Nhưng ta biết thưởng thức. Ta “enjoy” cuộc sống của mình trong từng giây phút (tr.43)

Bệnh nhân nghe ra bỗng thấy sao sự việc giản đơn như vậy mà mình như con vụ bị xoay mù mù. Và ơ kìa, vị bác sĩ áo trắng mới đây giờ đi đâu, trước mặt tôi là một vị thiền giả áo màu của đất, giọng nói ấm và sâu thẳm như vang lên từ ngực

…Khi ngồi dưới bóng cây giữa cánh đồng mát mẻ, không bị “dính mắc” gì với buổi lễ Hạ Điền dưới kia, lúc đó ngài chẳng biết gì về tham thiền, nhập định hay tứ thiền bát thiền gì cả vì hãy còn rất nhỏ, chỉ biết hồn nhiên, trong sáng, vậy là đã ly dục, ly tầm ly tứ, vào sự sảng khoái lâng lâng gọi là hỷ lạc và đã thực sự thanh tịnh… Nếu sống hồn nhiên như một em bé, thảnh thơi, thanh tịnh thì đã vào Tam muội Phổ Hiền rồi vậy! (tr.55)

Con đường độc nhất “dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn” chính là Thiền Định. (tr.61)

Thiền mà bị phân tích, xếp loại, đánh giá… sẽ làm cho thiền tiêu vong, không tìm đâu được cái thanh tịnh, hồn nhiên nữa… (tr.62)

Thanh tịnh, hồn nhiên. Đấy là chiếc chìa khóa thiền giả đã trao cho.

Phải rồi. Phải “Tự tại” thôi. Phải dựa vào chính mình thôi. Phải thực hành thôi… có sẵn một con đường mà bấy lâu mình xa lạ. Thiền Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati, An-ban thủ ý, Nhập tức xuất tức niệm) “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra… Tìm hiểu thấu đáo, thực hành “miên mật” thì quả là có cơ sở để tin. tr.73

Tôi tin ông đã thực hành miên mật vì ông đã tìm đến phương pháp ấy bên bờ sinh tử và đã có được những kết quả khiến thiền hơi thở đã thuyết phục được ông kiên trì.

… yếu tố rất quyết định trong Thiền định là thả lỏng toàn thân – như thả trôi theo dòng nước hay treo thân trên móc áo. Thả lỏng toàn thân là làm cho toàn thân như rủ xuống (tr.77)

Thiền dạy buông xả. Mục tiêu của Thiền Định là Xả. (tr.85)

Thực hành, kiên trì thực hành thở và thiền theo Đỗ Hồng Ngọc viết trong tập sách này, hẳn chúng ta sẽ được well-being, được tới chừng nào vui chừng đó, hưởng chừng đó, và trong thời gian còn sống vui khỏe, sửa soạn làm sao để gánh nghiệp được nhẹ bớt lần lúc mang đi, đó là thời gian chuyển tiếp để ta chuẩn bị hành trang cho một cuộc hành trình mới, chuẩn bị, sửa soạn để biết được rằng hành trình cuối ấy là một điều tất yếu, và như thế, sẽ well-dying – Đỗ Hồng Ngọc nói vậy-.

Thiền giả để tách trà xuống khay một cách ung dung, nói nhẹ nhàng như chiếc lá thả xuống bờ vai:

Ai có thể thở giùm ai? Ai có thể thiền giùm ai? Cho nên chỉ có thể nương tựa vào chính mình thôi. (tr.78)

Thở luôn trong thì hiện tại, ở đây và bây giờ, không có thở của hôm qua hay của ngày mai.

Và, đời người thực ra chỉ là… một hơi thở! Lúc chào đời hít mạnh một hơi vào phổi để rồi khi lìa đời, thở hắt ra một cái: trả lại những gì mình đã vay mượn tạm! (tr.75)

Một luồng sảng khoái chạy khắp châu thân, tựa như một nút thắt vừa được mở ra, tựa như mình vừa mới biết thở, hơi thở vào ra nạp đầy năng lượng, đúng rồi, –hãy sống lúc đó-, đối với tôi đây là “mật chú” để được well-being.

Cái ở đây và bây giờ làm buổi sáng dài thêm ra, và vô lượng nắng đang tỏa vàng óng trên cánh bướm đang nhịp nhàng trong mùa vừa bắt đầu đông.

Thiền giả mỉm cười: Ta cũng có Phật tánh, có pháp thân, cũng từ Như Lai tạng đó thôi thì ta việc gì phải lo sợ khổ đau vì cái “sanh, bệnh, lão, tử” cơ chứ? (tr.65)

Nói rồi ông quay đi, mầu áo nâu nhẹ như khói…

Upland, Tháng 12.28.2023
Nguyễn thị khánh minh

—-

Sách hiện có bán tại các nhà sách hoặc trên mạng:
https://www.sachkhaiminh.com/mot-ngay-kia-den-bo-do-hong-ngoc

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024)

08/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024)

Gió Bấc

Đi giữa Saigon

Phố nhà cao ngất

Hoa nở rực vàng

Mà không thấy Tết

Một sáng về quê

Chợt nghe gió bấc

Ơ hay Xuân về

Vỡ oà ngực biếc…

(Đỗ Hồng Ngọc)

Bài thơ nhỏ, thiệt thà, viết đã lâu lắm rồi, vậy mà bây giờ nhiều người còn nhớ. Báo Trẻ xuân năm nay, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp đã chọn đăng lại trong mục Thơ xuân…

Với tôi, Gió Bấc ớn lạnh xương sống y hệt cơn sốt rét rừng như còn đang hoành hành trong cơ thể gầy nhom của mình. Nó buốt. Nó nhọn. Nó xót… và nó lạnh dĩ nhiên rồi – với một đứa trẻ lên mười mỏng manh như tôi những ngày tá túc trong một ngôi chùa Tàu nghèo ở Phan Thiết- lộp cộp guốc xuồng gỗ trên con đường Gia Long rồi lang thang dọc bờ sông Cà Ty mà nghe mùi cốm mùi pháo…

Khi tôi viết bài Mũi Né, đã hơn nửa thế kỷ trước: Em có về thăm Mũi Né không/ Hình như trời đã sắp vào xuân/ Hình như gió bấc lùa trong Tết/ Những chuyến xe đò giục bước chân… (Mũi Né, ĐHN 1970), thì cũng lại gió bấc, thứ gió hình như ám ảnh người miệt biển quê tôi nhiều nhất.

Cho nên bây giờ muốn nghe Tết, muốn thấy Tết, thì tôi lại về Lagi, Phan Thiết để tìm Gió bấc khôn nguôi của tuổi thơ mình.

Mùa bấc, biển như sánh lại, sệt lại, đục hơn và sóng rát hơn, dữ dội hơn bao giờ hết. Bãi bờ bị xoáy toang…

Biển Lagi mùa Gió Bấc

vắng hoe người

“Biển sóng biển sóng đừng xô nhau/ Ta xô biển lại sóng về đâu?” (TCS)

Lagifarmstay quen thuộc, mỗi lần về thăm quê. Ở đó, còn một chút cho riêng mình…

Ở đó, còn có thể “nhìn nắng hàng cau nằng mới lên… ” (HMT)

Và vô vàn hoa thanh long ở Phong Điền, Hiệp Nghĩa, quê ngoại

 

Rồi từ Lagi tôi đi một mạch dọc biển về Phan Thiết, qua Mũi Né, Bàu Trắng, đến Phan Rí Cửa, rồi Long Hương, Cổ Thạch, thăm nhà văn Hồ Việt Khuê, Nguyễn Phương cùng các bạn vùng La Gàn, gặp lại thầy Huỳnh Đình Tám…

 

 

 

 

 

 

 

La Gàn (Long Hương) mùa Bấc thổi…

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(1/2024)

 

T

 

T

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Thiền và Sức khỏe, Uncategorized

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024) tiếp theo

07/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Sáng 1.1.2024, về Lagi, ghé “Suối Đó Chùa Đây” thăm Thầy Thích Tấn Tuệ, nhà thơ Đinh Hồi Tưởng. Quen thầy đã lâu, có hơn 30 năm trước, khi thầy mới đến Lagi, lập cái chùa lá bên dòng Suối Đó, một con suối khá đẹp ngay trên đường chính vào Lagi.

Có lần đến thăm, thầy đi vắng, mình để lại mấy dòng:

Chùa đây suối đó thầy đâu

Mây ngàn hạc nội còn lâu mới về…

(ĐHN)

Bây giờ thầy đã là một vị Hoà Thượng, nhưng vốn là một nhà thơ, chùa vẫn được “bà con văn nghệ” đến chơi, đề thơ bên suối, nhưng còn khá ngổn ngang với bao nhiêu là cổ vật, thầy sưu tầm khắp nơi mang về. Mình khuyên thầy “về thu xếp lại” là vừa, cần một nhà kiến trức giúp sửa cho hoàn chỉnh ngôi chùa thơ mộng. Bè bạn thường chọc thầy Đinh Hồi Tưởng là “đương hồi tỉnh”, thầy vẫn cười cười, nói đương hồi tỉnh vẫn tốt hơn cứ mãi vô minh ư?

SUỐI ĐÓ Lagi

 

Thầy Thích Tấn Tuệ (nhà thơ Đinh Hồi Tưởng)

Đỗ Hồng Ngọc và Thích Tấn Tuệ (Chùa Đây Suối Đó, Lagi, 1/01/2024)

 

CHÙA ĐÂY (Thanh Trang Lan Nhã)

 

Thân mến,

ĐHN

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi: Vài hình ảnh… Tết tây (2024)

07/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024)

Cảm ơn bạn đã nhắc. Lu bu thiệt. Mà lu bu được cũng vui chớ phải không? Tuổi mình mà cứ “Bất động” như Phật A- Súc thì cũng chán!

Gởi bạn vài hình ảnh Tết tây 2024:

Thầy Viên Thức Đàlạt nhắn gặp ở Đường Sách. Thầy cùng tuổi với mình. Thơ, hoạ, thư pháp… thầy nổi tiếng ai cũng biết. Lúc này thầy đi “tiếu ngạo giang hồ”, từ Nam chí Bắc, với cái xe 4 bánh, có đệ tử đưa đi, tới đâu ăn đó, ngủ đó. Vào quán cà phê Đường Sách giữa Saigon, thầy mặc kệ mọi người, mở túi xách lấy đồ ăn ra ăn, mở lon lấy nước uống ra uống… Mình gởi tặng thầy cuốn Một Ngày Kia… đến bờ, thầy khoái chí quá, cười khà khà rồi mở bị bày nào mực, nào giấy, viết lông, pha chế rồi hí hoáy viết…

Đỗ Hồng Ngọc và Thầy Viên Thức ở Đường Sách tp.HCM

 

Viên Thức (ký hoạ bởi Đỗ Hồng Ngọc).

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Interim pages omitted …
  • Trang 40
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email