Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Thư gởi bạn xa xôi… (01/2022)

21/01/2022 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi… (01/2022)

GHI CHÉP LANG THANG…

Không phải làm biếng chi đâu bạn ơi! Chẳng qua ngán chuyện viết lách quá rồi. Bạn thấy không, báo chí bây giờ cũng toàn hình ảnh, dạng này dạng khác, “nghe nhìn” chớ chẳng còn đọc chi cho mệt nữa…

  1. Sáng nay, 21/01/2022 (19 tháng Chạp rồi), chỉ còn mươi ngày nữa là Tết Nhâm Dần, Cọp thứ thiệt rồi!

Có người hỏi mình có kế hoạch gì… không? Trời ơi! Kế hoạch là gì hả trời? Xưa nay vốn tùy nghi tùy hỷ tùy tiện đã quen… Và, đừng quên có câu rằng “Năm năm sáu tháng bảy ngày”! Nghĩa là ở tuổi 50, ta nên có Kế hoạch “dài hạn” một năm; ở tuổi 60 kế hoạch nên “dài hạn” một tháng và ở tuổi 70, thì chỉ nên “dài hạn” một ngày. Huống chi mình nay đã hơn 80, kế hoạch “dài hạn” từng giờ cũng là quá!
Mấy năm trước đã viết Sáng, Trưa, Chiều, Tối: “Lang thang một cõi Ta-bà/ Lưng cơm Hương Tích nõn trà Tào Khê/ Lõng buông Bát Nhã đi về/  Lăng Già huyễn bóng trăng mờ nẽo xa…” (ĐHN).

Sáng, chưa biết làm gì thì Lê Ký Thương & Kim Quy rủ đi coi Triển lãm gốm của Lê Triều Điển & Hồng Lĩnh, kỷ niệm 50 năm “hạnh phúc”. Mình rất thích cặp nghệ sĩ này. LTĐ thì vẽ mênh mông sông nước miền Tây, Hồng Lĩnh thì tay gốm tuyệt đẹp, nhất là thiền… đủ kiểu đủ dạng. Té ra đi lạc đến nơi cũng triển lãm Gốm của Hội Mỹ thuật TP.HCM     ở đường Pasteur. Họ đang thu dọn, may còn kịp thăm chút xíu.

 

 

Đang xớ rớ dừng ngắm mấy bức phù điêu là lạ thì thấy chủ nhân cũng đang định thu xếp về, giới thiệu cháu trình bày hình ảnh “Cột Điện”. Bèn nói: Có giá trị đây. Nay mai dẹp hết cột điện thì quý lắm. À mà có loa phường không? Có. Đây nè. Quanh khu nhà cháu ở TĐ. Mấy hình ảnh này chừng… trăm năm nữa sẽ rất có giá! Thấy khách nói chuyện vui vui. Cô họa sĩ hỏi: Chú tên gì? tên Ngọc. Cái gì Ngọc? Đỗ Hồng Ngọc. Ủa chú trùng tên với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hả? Chú là Bs ĐHN đây mà. Thiệt không? LKT đứng bên cạnh bèn nói: Ông này trùng tên đó thôi. Nhưng KQ thì thiệt thà hơn: Đúng đó, bs ĐHN. Trời ơi, mừng quá, lâu nay đọc bs ĐHN mà không ngờ gặp ở đây. Sao cháu nghĩ là trùng tên? Cháu không nghĩ sẽ gặp một người nổi tiếng như Bs ở đây, cháu thích sách của chú, chú viết về sức khỏe bằng… văn học. Thấy hình trong sách Bs ĐHN mặt tròn mà hóm hỉnh, còn ở đây thấy chú bình thản, chỉ như một người khách xem tranh bình thường nên nghĩ… trùng tên. Chắc cháu nghĩ bs Ngọc trẻ lắm, bây giờ thấy một ông già! Không, đọc sách cháu cứ tưởng Bs Ngọc phải là một ông già lắm… bây giờ thấy là một ông… trẻ! KQ nói, “sướng nhe!”.

 

Kim Quy, Trương Huyền Mỹ, Đỗ Hồng Ngọc, Lê Ký Thương (21.01.2022). Chụp hình thì bỏ khẩu trang ra cho đẹp chớ luôn giữ 5K nhé! 

Chuyên vậy mà không khoe với bạn thì uổng quá phải không?

Sau đó, bọn này đi kiếm Càphê… Lang thang gần hết đường Pasteur mới có quán càphe lộ thiên, dưới bóng cây to, mát mẻ. Vừa nhắc Huyền Chiêu, Khuất Đẩu, Thân Trọng Minh… thì một cú phone từ Ninh Hòa của Huyền Chiêu… Ôi đúng là “thần giao cách cảm”!

2. Hôm kia 19/01 nhớ Đường Sách quá, đi xem sao. Tình cờ gặp cô Ts Hồng Cúc và họa sĩ Hà Thảo, đang bàn chuyện làm sách. Hỏi, anh đợi ai à? Không. À có, đợi một người không hẹn. Lát sau, đã thấy có Hải Phương, Kim Thủy của PN xuất hiện. Mọi người đều không hẹn mà gặp. Đường Sách vui vì vậy! Họa sĩ Hà Thảo từng làm cho mình mấy bìa sách thiệt đẹp, nhất là các cuốn Ghi chép lang thang, Nhớ đến một người, Một hôm gặp lại…

Họa sĩ Hà Thảo, Ts Hồng Cúc. Và ĐHN với mái tóc bạc phơ… ở Đường Sách Tp.HCM (19.01.2022)

3.  Tuần trước (9.01) thì ghé thăm Thầy Trí Chơn ở chùa Khánh An. Mình rất thích không khí nơi đây và cũng đã có mấy buổi Trò chuyện cùng bà con Phật tử về Thiền và Thở dưới góc độ khoa học, Ăn và Chay v.v… Cùng đi có  Quyền và Nga, Lệ Mai và Thủy… Thầy Trí Chơn sắp nhập thất 45 ngày trong dịp Tết nên mình “tranh thủ” học hỏi thêm về “nhập thất”… Đúng như bài thơ Nguyên Giác Phan Tấn Hải viết: Thêm một ngày, học vô cùng.

Thầy Trí Chơn, Trụ trì chùa Khánh An, Quận 12.

Dịp này mình cũng tăng thầy Trí Chơn trụ trì cuốn Từ Huyền Thoại Tới Tâm Kinh của Nguyên Giác và cũng tặng cho thầy Quảng Thức một cuốn, cùng với cuốn “Còn Chút Để Dành” của “Khánh Minh đọc Đỗ Hồng Ngọc”.

với Thầy Quảng Thức…

 

 

 

 

 

 

 

 

4. Một vài hình ảnh chuyến về quê Lagi (1-3/01/2022) thăm bà con nội ngoại, và đặc biệt  thăm dòng sông La Ngà, cầu La Ngâu, Tà Pao, Đami, Đồi sim… Đoạn đường mới Quốc lộ 55b từ Tà Pao về Lagi rất đẹp. Mấy ngày ở Lagi thì ở nơi Farmstay của Trí & Đông…

Nơi ăn chốn ở của Farmstay này rất hạp với mình đó bạn ạ!

Sông La Ngà

Quán Cafe Đồi Sim bên bờ Đami (Bình Thuận)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Farmstay Lagi, ĐHN chèo thuyền chừng 5 phút để chụp cái hình khoe bạn thôi chớ sức mấy!

 

Về Lagi không thể không ghé Đập Đá Dưng của ngày xưa… Và không thể không kiếm Bánh căn, Bánh xèo…

Vậy đó bạn ơi!

Hẹn thư sau,

Chúc Một Mùa Xuân An Lành và Hạnh Phúc Cho Tất Cả Mọi Người!…

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

ĐỌC BÀI “THĂM THI SĨ QUÁCH TẤN” CỦA ĐỖ NGHÊ, NHỚ NHA TRANG

23/12/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

ĐỌC BÀI “THĂM THI SĨ QUÁCH TẤN” CỦA ĐỖ NGHÊ, NHỚ NHA TRANG

Hai Trầu Lương Thư Trung

Tình cờ vào trang nhà bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đọc được bài:“Thăm Thi Sĩ Quách Tấn” của Đỗ Nghê (tháng 6.1970); rồi từ đó, mấy ngày liền, bổng nhiên tôi thấy mình rất nhớ Nha Trang!

Nhớ ngày ấy, khoảng đầu năm 1970, lần đầu tiên tôi đến Nha Trang bằng chuyến bay của hãng hàng không Air Việt Nam từ Sài Gon đi Nha Trang, loại máy bay cánh quạt DC6 dù không nhanh như sau này có máy bay phản lực nhưng không khỏi ngạc nhiên và trầm trồ khi máy bay bắt đầu giảm cao độ từ thành phố biển mà sau này tôi mới biết địa danh áy là thành phố Cam Ranh và rồi phi cơ xuống thấp dần, thấp dần cho đến lúc máy bay đáp xuống phi trường Nha Trang và dưới xa kia nước biển xanh màu biển xanh chập chùng… Lúc bấy giờ thành phố biển này đã hớp hồn tôi bằng bãi biển với cát trắng chạy dài mà sau này tôi mới biết đây là con đường Duy Tân cặp mé biển từ Hải Học Viện lên tới chỗ ty Bưu điện nhìn về hướng biển sóng vổ rì rào. Xa xa ngoài kia là hòn Tre, hòn Rùa, hòn Yến… nằm lúp súp trên mặt biển bao la với nước là nước… Kể từ lúc ấy, tôi bắt đầu làm quen với Nha Trang, và nay đọc bài của Đỗ Nghê “Thăm thi sĩ Quách Tấn”, mới biết nhà thơ Đỗ Nghê lúc ấy còn rất trẻ và ông cũng có mặt nơi này; nhưng phải thành thật nhận ra rằng, biển đời mênh mông, đôi lúc gặp nhau đó giữa đời trôi nổi nhưng làm sao quen biết nhau cho được!

 

Nha Trang ngày xưa (internet)

 

Hồi đó, khi tới Nha Trang, lớp học trò mới vào đời như ở tuổi tụi tôi, chừng 27-28 tuổi, là đã có lần đọc được cuốn Nước Non Bình Định của thi sĩ Quách Tấn rồi, biết lờ mờ là ông quê quán Qui Nhơn nhưng sống ở Nha Trang; nhưng hồi xưa dưới con mắt người đọc trẻ lòng non dạ tụi tôi đâu có ai dám lại gần các tác giả, nhứt là các tác giả tên tuổi như Quách Tấn…Nên đọc được cuộc trò chuyện giữa Đỗ Nghê và Quách Tấn vào tháng 6.1970, tôi mới thấy Đỗ Nghê, có lẽ ông lớn hơn tụi tôi vài tuổi nhưng ông tỏ ra già giặn hơn và kinh nghiệm đời hơn tụi tôi nhiều với cách đặt câu hỏi vừa khéo léo, vừa thông minh mà mở ra được nhiều hướng nhìn về một nhân vật văn học sử nhưng không ra ngoài chủ đề mà tác giả đã định sẵn trong bụng vậy! Giờ ngồi hồi tưởng lại mới thấy ngày xa xưa hơn nửa thế kỷ ấy với cái nhìn của kẻ nhà quê như tôi lạc bước tới Nha Trang ấy cái gì của Nha Trang cũng lạ! Con đường lạ, phố xá lạ và người người nơi chốn ấy đều lạ… Tôi không nhớ lúc đầu mình về căn nhà trọ bằng cách nào và có những ai cùng trọ chung với mình không; nhưng có một điều chắc chắn là con đường Độc Lập là con đường chánh của thành phố Nha Trang ấy, và dường như nó chạy từ trên chỗ ngã ba phường Phương Sài đi qua rạp hát Tân Tân, tới khách sạn Nha Trang gần chỗ góc đường Công Quán rồi nối dài xuống tới đầu đường Phan Bội Châu, chạy ngang qua chỗ chợ Đầm và gặp con đường Bến Chợ mà trong bài của Đỗ Nghê có nhắc nhà của thi sĩ Quách Tấn nằm trên đường Bến Chợ ấy.

 

Nha Trang ngày đó (Internet)

 

Tôi nhớ dường như con đường Bến Chợ này có Ty Lộ Vận (nơi cấp bằng lái xe và đăng bộ xe cộ) và tôi có bằng lái xe hạng B do Ty Lộ vận này cấp năm 1970. Ngoài ra, trên đường này chạy dài xuống gần tới ty Bưu Điện Nha Trang dường như còn có nhà hàng  La Frégate rất nổi tiếng về các món ăn sang mà hồi đó tụi tôi ít khi nào dám vào nhà hàng này ăn thử, dù chỉ một lần duy nhứt…

Sau thời gian ở đó tạm quen quen, tôi mới để ý thấy Nha Trang có nhiều con đường song song với nhau. Chẳng hạn lấy con đường Độc Lập làm con đường chánh thì các con đường Trần Quí Cáp, đường Nguyễn Hoàng, đường Lê Văn Duyệt, đường Duy Tân là những con đường chạy song song với nhau từ hướng Tây xuống hướng Đông… Đặc biệt đường Duy Tân cặp mé biển là con đường sang nhứt với nhiều biệt thư xây theo kiểu nóc bánh ít thời Tây còn để lại và con đường Duy Tân này cũng là nơi có nhiều cơ quan chánh phủ tọa lạc, có cả viện Pasteur Nha Trang cũng nằm trên đường này mặt nhìn ra hướng biển. Hồi đó, những hàng quán nằm trên đường Duy Tân mà khách du lịch thường lui tới là các Kiosque số 1, số 2 với các món cua rang muối là hết sẩy; lúc bấy giờ tụi tôi đâu có tiền, nên ít dám vô mấy chỗ này, nhưng lâu lâu mấy anh em cũng rủ nhau ra chỗ này kêu món cua rang muối ăn thử cho biết. Nhưng phải công nhận Nha Trang hồi đó có món bánh khoái rất rẻ mà ngon; có món xe phở lưu động bán vào ban đêm cũng là một món dễ ăn nhứt; xuống đường Trần Quí Cáp có món hũ tiếu, món bánh ướt; gần rạp chiếu bóng Tân Tiến có món gà xối mỡ; gọc đường Công Quán & Độc Lập có món pâté chaud của tiệm Hương Hoa (theo nhà văn Lê Ký Thương có lần nhắc tên tiệm bánh này)uống với sửa đậu nành nóng cũng là món vừa túi tiền mà ngon; thêm nữa hồi tụi tôi ở đó mỗi sáng hay ăn sáng ở cà phê Tân Tân hoặc chỗ cà phê quán con Cò (La Cigogne) nằm trên đường Lê Văn Duyệt với các cô chủ quán khá đẹp; hôm nào có chút mạo hiểm thì mấy anhem rủ nhau xuống gần chỗ chân cầu Hà Ra ra quán bán gõi cámai chấm với mắm nêm cá cơm, quán này bán món gõi cá nổi tiếng.

Về sách vở, dường như hồi đó ở Nha Trang chỉ có nhà sách Huy Hoàng trên đường Độc Lập (ngang với khách sạn Nha Trang bên kia đường) là nhà sách chánh. Mấy năm ở đó, tụi tôi ưa ghé nhà sách này đọc sách cọp mà theo nhà văn Lê Ký Thương thì chỗ nhà sách Huy Hoàng này hồi đó: “Anh Huy Hoàng và chị Vân vợ anh thì tôi rất thân. Trên chuồng cu, phía sau nhà sách anh chị nuôi một số anh em văn nghệ trốn lính và trẻ bán báo”. Bên cạnh, sát vách với nhà sách Huy Hoàng hồi đó có cái quán bề ngang hẹp chừng vài ba thước có ông cụ bán la-ve và nem, chả lụa Ninh Hòa, giá rất rẻ và ngon vô cùng.

Nói về nhà văn nhà thơ thì nói chung miền Trung rất nhiều, chỉ riêng Nha Trang đời trước có thi sĩ Quách Tấn, nhà văn Võ Hồng, nhà văn Cung Giũ Nguyên, lớp kế là Châu Hải Kỳ, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Thị Hoàng; sau này đọc sách báo biết thêm có Trần Hoài Thư, Lê Ký Thương, Cao Kim Quy, Triều Đẩu, Huyền Chiêu, Nguyễn thị Khánh Minh, Nguyễn Vy Khanh và hổng biết còn có ai nữa hông, tôi hổng rành lắm. Hồi đó mấy anh em làm chung, thỉnh thoảng ưa ghé qua nhà số 53 đường Hồng Bàng thăm nhà văn Võ Hồng. Lúc bấy giờ nhà văn Võ Hồng khoảng ngoài năm mươi (theo như bài của Đỗ Nghê, Võ Hồng 50 tuổi), ở nhà một mình vừa đi dạy học vừa viết văn; mỗi lần có người ghé thăm, ông rất vui!

Nhớ lại hồi đó, từ Nha Trang nếu bạn muốn ra Ninh Hòa, bạn ngồi xe đò qua cầu Hà Ra, đèo Rù Rì, qua cua quẹo làng Lương Sơn, qua đèo Rọ Tượng dọc theo quốc lộ 1 về hướng Bắc, và Ninh Hòa cách Nha Trang chừng hơn 30 cây số… Nếu bạn đi tiếp về hướng bắc quốc lộ 1, bạn sẽ ra Đại Lãnh, vùng Vạn Ninh, Vạn Giã với bải biển Đại Lãnh nước trong leo lẽo và nếu bạn đi thêm chút nữa thì bạn sẽ tới chân đèo Cả cao chót vót với đỉnh dèo cao mà phía bên kia chưn đèo là địa phận quận Hiếu Xương của tỉnh Phú Yên là quê hương của nhà văn Võ Hồng, của Nguyễn Lệ Uyên, của Nguyễn Đình Tư với các dịa danh như Tuy Hòa, Tuy An, Cù Mông chạy dài tận “Nước Non Bình Định” nằm về phía bên kia chưn đèo Cù Mông với dừa là dừa và tôm hùm cùng cua biển nổi tiếng cả vùng…

Còn từ Ninh Hòa, nếu bạn muốn lên đèo Phương Hoàng, đèo Mẹ Bồng Con và qua bên kia đèo để về quận Khánh Dương thuộc tỉnh Khánh Hòa (Nha Trang) bạn ngồi xe đò đi ngang qua huấn khu Dục Mỹ, xe sẽ đưa bạn qua bao thắng cảnh kỳ tích vùng đồi núi vùng cao này. Còn từ Nha Trang, nếu bạn muốn lên thăm Thành (tức là quận lỵ của quận Diên Khánh) bạn theo con đường Độc Lập, rồi bạn đi lên, đi lên một chút nữa, bạn sẽ gặp Thích Ca Phật Đài bên tay mặt ở trên cao và dưới chân tượng Đức Phật là Viện Phật Học Hải Đức; rồi đi tiếp, đi tiếp nữa là bạn sẽ gặp những xa quạt đưa nước lên ruộng và con đường dài cách Nha Trang chừng 9 cây số là bạn sẽ gặp bờ thành cũ và nơi đó có một địa danh được là gọi là Thành tức là quận lỵ của quận Diên Khánh trù phú về dân cư và cây trái; lúc bấy giờ, có dịp lên thăm vùng này, tôi thấy ở đó có nhiều chuối lá xiêm, có xoài và thanh long… Theo nhà văn Lê Ký Thương trong một lần trò chuyện, ảnh cho biết trên Thành còn có món bánh ướt ngon ơi là ngon nữa!

Nhơn đọc Đỗ Nghê: “Thăm Thi Sĩ Quách Tấn”,nếu bạn muốn biết rành rẽ hơn nữa về Nha Trang, về Khánh Hòa, bạn nên tìm đọc “Xứ Trầm Hương” của Quách Tấn là một tập địa phương chí viết về Nha Trang, ngay từ hồi đó tôi đã thấy thắng cảnh Nha Trang qua ngòi bút của thi sĩ Quách Tấn, cảnh nào cũng tuyệt diệu, không cuốn sách nào viết về Nha Trang về Khánh Hòa hay hơn cuốn này!Và thêm chút nữa, nhắc đến thi sĩ Quách Tấn, bạn không thể nào bỏ qua cuốn “Nước Non Bình Định”.  Học giả Nguyễn Hiến Lê có lần nhận định về cuốn “Nước Non Bình Định” của Quách Tấn:

“Tôi nghĩ dù không có tập Mùa Cổ Điển, và tập Mộng Ngân Sơn, một tập chứa nhiều bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt rất hay, mà sau này ai có muốn làm tiếp công việc phê bình của Hoài Thanh tất phải nhắc tới, dù không có hai tập đó đi nữa, thì chỉ nội công phu viết địa phương chí cho Bình Định, thi sĩ cũng xứng đáng là người con của Bình Định rồi.”

 

Nha Trang ngày xưa (internet) với các Kiosque trên bãi biển…

 

Sau cùng, xin cảm ơn nhà thơ Đỗ Nghê (tác giả của cuộc đi thăm thi sĩ Quách Tấn tháng 6.1970), đã cho tôi có dịp nhớ lại Nha Trang, nhớ lại một thời tuổi trẻ của mìnhvới những ngày chưa tới tuổi ba mươi mà bước chưn đời lang bạt đến với thành phố biển Nha Trang với biết bao kỷ niệm mà giờ qua rồi gần 52 năm mà lòng tôi vẫn không sao quên được! Nhớ lắm, nhớ lắm, xin cảm ơn, và xin cảm ơn!

Hai Trầu LTT

(Houston, 21-12.2021)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

ĐỖ NGHÊ: Thăm thi sĩ Quách Tấn (Nha Trang,1970)

13/12/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thăm thi sĩ Quách Tấn

(Nha Trang, 1970)

Ghi chú: Trần Hoài Thư vừa gởi tặng lại Đỗ Nghê bài viết “Thăm thi sĩ Quách Tấn” trên tạp chí Văn số 161. Mình thất lạc bài này đã lâu, tìm không ra, may sao THT thấy trên Văn bèn gởi cho. Mừng quá. Đa tạ bạn.

Đọc cảm động. Hồi đó mình mới ra trường, về Nha Trang, liền “tranh thủ” ghé thăm nhà văn Võ Hồng (mới 50 tuổi!) và nhà thơ Quách Tấn (mới 62 tuổi!)… và gởi bài này cho Tạp chí Văn. Trần Phong Giao vui lắm, kêu viết tiếp. Nhưng bề bộn biết bao nhiêu!

Trước đó, năm 1960, mình đã có dịp thân quen với Quách Giao (con thi sĩ Quách Tấn) trong chuyến đi chơi Suối Lồ Ồ cùng với gia đình cậu Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, với Hồ Xích Tú, Nguyễn Công Thuân (Thuần), Bùi Thanh Danh…

Mới thôi…

Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc)

(Cảm ơn Đèn Biển đã gõ… giúp cho!)

………………………………………..

ĐỖ NGHÊ
Thăm thi sĩ Quách Tấn
Tôi đến thăm Quách Tấn nhân dịp ghé Nha Trang. Buổi sáng trời mưa nho nhỏ. Con đường đến nhà ông loang lổ những vũng nước đọng. Nhà ông ở một góc chợ. Cái tên đường nghe cũng đã huyên náo rồi: Đường Bến Chợ! Người thi sĩ của mùa cổ điển, của đọng bóng chiều đó, đã sống bằng một cách nào trong bao nhiêu năm để vẫn giữ được một tâm hồn “nhàn” của cổ nhân? chắc là một thứ “nguyệt lai môn hạ”? Ông đón tôi với nụ cười trên môi. Cái gọng kính trễ xuống sống mũi, đôi mắt sâu sâu như cũng mỉm cười sau hai lưỡng quyền cao, nhưng chưa cao bằng cái trán rộng và càng rộng nhờ cái đầu sói, tóc điểm sương.
– Chút nữa tôi quên ông, nếu không nhờ cái kính cận thị của ông. Tính tôi hay quên một cách lạ lùng, khiến nhiều người cho là tôi kiêu ngạo.
Tôi tò mò:
– Bác quên như thế nào mà gọi là lạ lùng?
– Tôi quên mặt người, mặt chữ, danh từ riêng, còn ý nghĩa câu văn và nhất là thơ thì tôi lại nhớ dai lắm. tôi viết “Xứ Trầm Hương” hoàn toàn nhờ ký ức. Chuyện càng xưa tôi càng nhớ kỹ.
Tôi tò mò một cách “nghề nghiệp”:
– Xin bác cho biết rõ hơn.
– Trước tôi từng dạy chữ Hớn, thế mà mới đây có một lần viết chữ Quách – trong chữ Quách Tấn – mà tôi viết cũng sai. Dịch thơ Hớn của Nguyễn Du và Thái Thuận, tôi phải nhờ người đọc giúp. Họ chỉ đọc lên cho tôi nghe cái âm của chữ, không cần biết nghĩa cũng được. Nói cách khác là họ giúp tôi nhận mặt chữ. Còn tiếng Việt và tiếng Pháp thì tôi bị trật chánh tả luôn, mặc dù nhiều lúc tôi tự đặt ra những mẹo riêng để nhớ, chẳng hạn chữ “chuột” phải tận cùng bằng chữ “t” vì con chuột có đuôi…
Tôi thoáng nghĩ đến một thứ bệnh, vẫn được xếp vào loại bệnh tâm trí ở những người mất tri giác chữ viết nhưng vẫn hiểu nghĩa nếu có người đọc cho họ nghe âm của chữ đó. Tôi hỏi kỹ hơn:
– Tình trạng này bác mới bị đây hay đã lâu?
– Đã lâu. Rồi ông giải thích nguyên nhân của “bệnh” luôn để đánh tan sự nghi ngờ “méo mó” của tôi: Chắc vì hồi nhỏ tôi cố học lấy cái “nội dung” mà bỏ qua cái “hình thức”, tôi muốn noi theo cái học của Khổng Minh hơn là Phụng Sồ, nên bây giờ đã thành tập quán xấu. Đọc xong một cuốn sách nào là tôi quên nhân vật, quên cốt truyện, chỉ nhớ những ý hay. Khi viết xong phần nào là tôi quên mất không kể lại được. Tôi cũng thường viết lầm tên bè bạn dù tôi nhớ đúng tên họ.
Một đứa bé chừng ba bốn tuổi chạy ra đến ôm chân “ông nội”. Quách Tấn nói với tôi:
– Con thằng Giao đó.
– Bác có tất cả mấy cháu rồi?
– Hai mươi đứa, cả nội lẫn ngoại.
Vậy mà trông “ông nội” vẫn trẻ. Ông mặc bộ bà ba lụa trắng, cũ kỹ ; mang đôi guốc xuồng ba màu, quai đen. Dáng người vừa phải, giọng nói thanh thanh, có vẻ vội vàng một chút, nhưng không kém thân mật. Trong câu chuyện ông thường tự hào “tôi hơn Vũ Hoàng Chương 8 tuổi đó!”.
– Bác ít khi bị đau ốm?
– Lúc này đỡ nhiều. Năm ngoái tôi đau một trận dây dưa mãi, phải mổ đến 6 lần!
– Bác đau gì mà mổ nhiều vậy?
– Trĩ. Trĩ mạch lươn. Tôi mổ ở Qui-nhơn.
– Nay bác đã khỏi hẳn chưa?
– Thỉnh thoảng bị lại, nhất là lúc bị bón.
Tôi nói một chút về cách chữa bón, rồi hỏi thêm:
– Bác thường đi bộ chứ?
– Tôi đi mỗi ngày 1, 2 giờ là thường. Đi khỏe lắm, không biết mệt. Thực ra thì cũng vì tôi không biết đi xe đạp.
– Bác ngủ có dễ không?
– Không, nhiều đêm tôi thức rất khuya để nói chuyện với khách, hoặc làm việc. Lúc mệt chỉ cần chợp mắt một chút. Nhưng sáng thì tôi ngủ trưa lắm, đến 9, 10 giờ mới dậy.
– Thường bác có dùng thuốc men gì không?
– Tôi uống sâm Cao-ly, thỉnh thoảng chích Syncortyl thấy khỏe lắm. Có bác sĩ quen, cho tôi ít thuốc loại kích thích tố…
– Testostérone?
Thi sĩ cười cười, rồi hỏi tôi về loại thuốc H3 mà một người bạn vừa biếu một chai. Tôi nói sơ lược những điều tôi biết về loại thuốc này rồi hỏi thêm, bắt chước lối hỏi của các nhà chuyên phỏng vấn “nghệ sĩ”:
– Bác có ghiền một thứ gì không?
– Không. Tôi không ghiền gì cả. Không rượu, không thuốc, không bài bạc. Tôi cũng không chơi đờn, không đánh cờ, không đá gà… Ngày trước, ông Tú, cha của Nguyễn Tuân, ở sau nhà tôi, có mời tôi làm thử một điếu thuốc phiện, nhưng tôi vì gớm cái ống điếu mà không chịu thử. À, tôi thường đi xinê, nhiều người cho là tôi ghiền xinê. Mỗi tuần đi 5 lần.
– Bác thích loại phim gì? Tài tử nào?
– Phim gì cũng được. Rạp nào cũng được. Xem thì thích lúc đó. Xong quên ngay. Quên cốt truyện, quên tài tử, nhân vật. Tuy nhiên phim kiếm hiệp tôi vẫn ưa hơn.
– Vậy chắc bác có đọc Kim Dung?
– Phục Kim Dung vô cùng! Kim Dung là một nhà thơ lớn. Kiếm pháp cũng như thi pháp. Vô chiêu kiếm của Kim Dung thực giống với vô ngôn thi.
– Có khi nào bác đạt đến vô ngôn thi?
– Chưa được, khó lắm. Một tiếng tằng hắng, một tiếng than đã là một bài thơ tuyệt tác rồi. Năm ngoái, khi cây mận gần trăm tuổi ở trước cửa nhà tôi đây còn sống có lần tôi thấy một giọt sương lóng lánh rơi từ một lá mận xuống gốc. Đột nhiên, tôi thấy lạnh buốt sống lưng, như giọt sương đó đã rơi từ giữa trán tôi xuống và chảy dọc theo người. Tôi cảm thấy cả thân thể vibrer và khoan khoái lạ lùng. Đến bây giờ, mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn còn thấy cảm giác đó. Vậy mà tôi vẫn không sao diễn đạt được trong một bài thơ.
– Như vậy, một bài thơ của bác thường bắt nguồn từ một hứng cảm thiên nhiên?
– Không. Thế hệ tôi làm thơ không phân biệt thiên nhiên với tâm tình. Làm thơ là để giải thoát tâm tư, ký thác tâm sự. Làm thơ cho mình chứ không phải cho người.
– Một bài thơ của bác chắc phải được thôi xao kỹ lắm?
– Nhiều bài tôi ấp ủ hằng chục năm. Bài “Đêm khuya nghe quạ kêu” 12 năm, bài “Ấp ủ” 15 năm. Trong một bài mà có một chữ không đạt là tôi bỏ. Tản-Đà có lần định sửa một chữ trong một bài thơ của tôi mà không tìm ra chữ nào ổn, trong ba năm, đành thôi.
– Thưa bác, trong hồi ký bác đang viết, bác có giảng thơ mình không?
– Không. Tôi thấy không nên giảng thơ. Tản-Đà đã giảng thơ ông. Nếu để tôi giảng thơ Tản-Đà có lẽ thú hơn. Bởi vì thơ không những chỉ có vị-nội-vị mà còn có vị-ngoại-vị nữa. Và đọc tức là sáng tạo. Lire c’est créer.
– Hiện nay ngoài hồi ký “Bóng ngày qua” bác còn viết gì thêm?
– Tôi dịch thơ chữ Hớn của Nguyễn Du và Thái Thuận, thi sĩ đời Lê Thánh Tôn.
Ông mang khoe với tôi tập bản thảo thơ dịch rất công phu, gồm phần chữ Hán, phần dịch nghĩa, phần chú giải và phần dịch thơ. Ông nói:
– Có ai ngờ là Nguyễn Du đã từng sống lữ thực hằng chục năm? Có ai ngờ con Nguyễn Du đói, Nguyễn Du đau trong nhiều năm mà không có thuốc men? Ngay cả vấn đề Nguyễn Du có phải là trung thần của nhà Lê không cũng cần phải đặt lại. Những điều này trong các tập thơ chữ Hớn của ông có nói rõ. Về Nguyễn Trãi và Thái Thuận cũng có lắm điều lý thú bất ngờ. Tôi đang tìm nhà xuất bản cho in những cuốn này.
Tôi góp ý:
– Những tài liệu hữu ích cho văn hóa thế này có lẽ bác nên để Trung-tâm Học-liệu bộ Quốc-gia Giáo-dục xuất bản để dễ phổ biến trong giới sinh viên học sinh vì Bộ in sách bán giá rẻ.
 Quách Tấn hơi sẵng giọng:
– Trước cũng có người bạn thương tôi, đề nghị với một nhân vật cao cấp ở bộ Giáo-dục cho xuất bản những tài liệu này. Họ nhắn bảo tôi đánh máy làm 4 bản, kèm theo đơn xin…
– Bác có thực hiện không?
– Đời nào!
Đã hỏi lung tung như thế, tôi thấy chẳng có lý do gì chẳng hỏi lang bang thêm tí nữa, và cũng để thay đổi không khí:
– Thưa bác, vấn đề tính dục, bác đã thấy có dấu hiệu gì của sự “già nua”?
Quách Tấn cười dễ dãi:
– Chưa. Vẫn tự nhiên. Tuy nhiên từ trước tới giờ tôi vẫn thích những sự ôm ấp, nhưng caresses hơn. Tôi thích thưởng thức cái volupté của người đàn bà hơn là của mình. Trước kia tôi có nhiều nhơn tình. Tôi cám ơn họ lắm vì nhờ họ tôi có nguồn cảm hứng luôn. Tôi quan niệm “làm thơ cũng như chơi gái”. Làm thơ không phải chỉ thuần có khoái cảm ở tâm hồn, nhiều lúc thấy vibrer cả cơ thể. Làm xong một bài thơ, cơ thể cũng rã rời, mệt mỏi. Có những bài thơ làm bằng nước mắt. Ngược lại, chơi gái cũng phải là một hành động thơ, chứ không phải chỉ là sự giải quyết sinh lý. Có lần tôi về Sài-gòn, bạn bè đưa đến một cô thực đẹp, nhưng sao tự nhiên tôi cảm thấy không hứng thú gì hết. Ce n’est qu’un morceau de chair!
Thấy đã qua trưa, tôi đứng dậy cáo từ. Người thi sĩ của “mùa cổ điển”, của “đọng bóng chiều”, của “bóng ngày qua” đó tiễn tôi ra cửa cũng với nụ cười trẻ trung trên mắt. Chưa có dấu hiệu già nua trong dáng dấp, cử chỉ, lời nói của ông. Tuy nhiên, những việc làm của ông như viết hồi ký, dịch thơ cổ, viết các loại địa phương chí, đã thoáng chút gì không phải của hiện tại.
ĐỖ NGHÊ

(Nha-trang 6-70)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Tập Thơ ĐÊM. 2021 NGUYEN THI KHANH MINH

10/11/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

 

ĐÊM tập thơ NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2021 Tựa: Tô Thẩm Huy; Tranh bìa: Phạm Cung

 

Nguyễn Xuân Thiệp

… Đến với Đêm để được thiền sư Muju tặng cho vầng trăng. Đêm cũng là thời khắc để Khánh Minh gần với Nguyễn Du, Tagore và Gibran. Với Nguyễn Du thì có ‘Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh, Tỉnh thủy vô ba đào’. Trăng sáng lòng giếng xưa / Nước giếng không xao động. Ôi, thật là tĩnh lặng như lòng ai tới với thơ trong đêm trăng chiếu.

(…)

Đêm đưa Khánh Minh về gặp vầng trăng xưa để thấy: Trăng ngõ nhà ta xưa / Gần hơn trăng nơi này / Mộng hơn trăng nơi này /… Nên trăng vàng khắp ngõ / Xe về ấm lối quen / Ai chờ bên thềm gió… Hình ảnh cuối cùng trong mấy câu thơ trích dẫn trên là cô bé Khánh Minh chờ cha về trước thềm nhà xưa.

Trang thơ của Khánh Minh đầy thi ảnh và cảm xúc, vừa siêu thực vừa hiện thực, khiến nước mắt rơi… Đúng vậy. Đọc ĐÊM của Nguyễn Thị Khánh Minh ta gặp những ánh mắt nhìn trong sáng đầy ý thơ, với những cảm xúc nhân bản. Ở đó, nắng và hương cỏ và đêm tan vào mộng mị chiêm bao, tạo thành một thực tại huyền ảo. Đọc Đêm của Nguyễn Thị Khánh Minh để cảm nhận ngôn ngữ thơ tinh tuyền của tác giả và những hình ảnh sáng tạo như dưới cái nhìn của tuổi thơ. Ôi, xin cất giữ làm của cải cho đời sau.

 

Tô Thẩm Huy

(…) Và hỡi những họa sĩ thân yêu trên trần gian này, tôi xin được làm cậu Hoàng Tử Bé của St Exupery, yêu cầu quý vị vui lòng vẽ hộ tôi – không phải con cừu đang gặm cỏ trên tinh cầu xa xôi – mà làm ơn vẽ hộ tôi bức tranh của bóng khuya – không phải là bóng khuya lúc đang ngồi tỉ tê cạnh bóng đêm, mà là lúc đang lững thững đi dạo dưới trăng – để tôi có dịp được ngắm bức tranh vẽ lúc “bóng về” của họa sĩ Khánh Minh:

Ai vẽ được bóng khuya đi

Cho tôi đọ với bóng về. Của tôi

Lời của thơ trong “Đêm” là tiếng nói của con người nguyên sơ mà chúng ta đã lâu ít còn được nghe thấy ai nói, đến gần như đã quên mất. Xin mời nghe lại mấy lời:

Gió vườn nhà êm ả

Ai nói gì qua lá

Mà khuya đầy trăng thơm

 

Đêm ngó trời. Cao quá

Hỏi trăng gần, trăng xa

Đâu là chốn quê nhà…

 

Tô Đăng Khoa

Sự hội ngộ “Mặt mừng tay bắt gọi tên” giữa “ta-và-ta” không phải xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật mà xảy ra trong bối cảnh của “Ánh đêm sắc lẻm” của sự nội quán: Trong đó lằn ranh giữa “Nhớ” và “Quên” quyết định sự “chia lìa” hay “không chia lìa”! Hay là nói cách khác: Chính “Nhớ” và “Quên” quyết định cái gì “Có” cái gì “Không”, cái gì “Hữu” cái gì “Vô”.

Đối với riêng tôi, bốn câu thơ cuối của bài “Phía Bên Kia” là bốn câu thơ xuất thần của sự “phản quan tự kỷ”, và có giá trị rất lớn trên cả hai lĩnh vực Thi Ca và Tư Tưởng. Hơn thế nữa, nó còn có thể được chiêm nghiệm thậm sâu để ứng dụng vào đời sống hàng ngày.

Thi Tập Đêm là cuộc hành trình tiếp nối của Ánh Sáng và của Bóng sau bao nhiêu phản xạ, khúc xạ khắp chốn nhân gian nay trở Về Quê của Màn Đêm Tịch Tịnh. Rồi thì sao?

Thì rồi mai nọ mốt kia

Đem hình vá bóng sợ gì một-hai.

 

Phan Tấn Hải

Có những buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều và buổi tối. Khi tôi ngồi tịch lặng ngoài hiên. Đôi khi có chút gió, có khi trăng rất mờ vào đêm, hay sương còn lạnh vào ban mai. Có khi buổi trưa trong xóm vắng không người, thoang thoảng tiếng xe chạy ngoài phố xa vọng tới. Có khi chiều nắng rất nhạt, như tới từ một ký ức thời thơ dại. Tôi lặng lẽ ngồi,hông nghĩ ngợi gì, chỉ cảm nhận những làn gió nhẹ thoảng qua. Không một ý nghĩ nào khởi lên trong tâm, không một chữ nào hiện ra trong tâm. Cả thế giới chung quanh chỉ là những cái được thấy, được nghe, được cảm thọ, và không có một cái gì khác khuấy động. Tỉnh thức, cảm nhận trên thân tâm một nỗi tịch lặng không lời. Nơi đó, vắng bặt tất cả những gì có thể so đo thành chữ. Những khi như thế, tôi không muốn cử động mạnh, chỉ vì sợ làm tan vỡ những vạt nắng ban chiều, hay là sẽ làm rơi mất ánh trăng.

Có đôi khi, tôi nghe nhạc. Thường là nghe các bản hòa âm ngắn, không lời của piano, ngắn thôi, cỡ vài phút. Không hơn 4 hay 5 phút. Tôi không muốn nghe ca khúc nào dài. Cuộc đời mình có dài đâu. Thêm nữa, vì cần chiêm nghiệm về những âm vang tập khởi, và rồi những âm vang biến diệt. Sinh và diệt. Hạnh phúc và đau đớn. Nghe nhạc, có những ca khúc như thế, cho mình ý thức thêm về những hư vỡ của cõi này. Chỉ lặng lẽ ngồi nghe. Có khi không dám cử động mạnh, chỉ lắng nghe thôi, lặng lẽ, để từng âm vang ngấm vào thân tâm. Tôi cũng từng kinh ngạc, tại sao khi người ta nghe nhạc hay lại vỗ tay lớn tiếng. Lẽ ra, sau mỗi ca khúc hay mỗi bản trình tấu hay, người nghe chỉ nên ngồi lặng lẽ thêm vài phút. Vì bất kỳ những cử động nào lúc đó sẽ có thể làm rơi các nốt nhạc còn bay lơ lửng quanh mình.

Khi đọc thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, tôi cũng cảm nhận cũng thế.

(…)

 

trần thị nguyệt mai 

Trăng thơm

Gửi chị Khánh Minh

                                     Ai nói gì qua lá

                                     Mà khuya đầy trăng thơm

                                     (trăng gần trăng xa – thơ nt khánh minh)

 

Lá thở từ muôn kiếp

Đếm sao trời ngàn năm

Cho đêm hoài thơm trăng

 

Trăng thơm trong giấc ngủ

Cứ như gần như xa

Em bềnh bồng mộng ảo

 

Đẹp tuyệt vời là đêm

Trăng óng ả ướp mật

Như câu chuyện thần tiên

 

Và ước mơ bình yên

Người thương người vô biên

Thôi chiến tranh, muộn phiền

 

Đêm thơm cùng với trăng

Nguyện cầu cho thế giới

Vằng vặc một tâm rằm…

 

29.8.2021

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Đọc sách

“Chợ Đại Đồng” LA GI

04/11/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Chợ Đại Đồng” LA GI

Bich Chi Lam

(Cảm nhận khi nghe tin “chợ Đại Đồng” không được phép hoạt động lại)

“Chợ Đại Đồng” bên hông nhà Hồng Yến, La Gi.

Tôi lớn lên ở “Chợ Đại Đồng”, một chợ nhỏ xuất phát từ nhu cầu trao đổi hàng hóa của bà con, tồn tại song song trong khu dân cư thị trấn LaGi gần nửa thế kỉ.

“Đại Đồng” là hiệu của nhà thuốc bắc ngay đầu dãy phố nên người dân thương mến gọi chợ nhỏ là “Chợ Đại Đồng”, cái chợ mà sáng, trưa, chiều, tối gì cũng đầy đồ ăn ngon và hấp dẫn làm lấp lánh cả tuổi thơ tôi mỗi khi nghĩ đến.

Cũng như tên gọi “Đại Đồng”, người dân ở chợ gần gũi và chân tình lắm, đến nỗi mỗi lần tôi “xuất hiện”; đi từ đầu chợ đến cuối chợ đều nghe tiếng mời chào thân thương “Út ơi, mới về hả? Vào ăn nè em”.

Ra là mặt mình cũ như cái chợ đến nỗi đi bao nhiêu năm về mấy chị, mấy dì, mấy cô đều nhớ. Ta nói cái tình nó ấm áp chân thật biết bao!

Lễ/Tết về quê chưa cần đến nhà ai, sáng sớm đi ra chợ một vòng từ trên xuống dưới nghe đủ mùi vị quê hương bên lò bánh căn nóng hổi cùng xoong cá kho được bà Hai tỉ mẫn khạy từng chiếc thảy ra tô hành lá là mọi người nhanh tay gắp lấy, hay tô cháo lòng nghi ngút khói với miếng dồi đặc trưng quán chị Cúc,

ghé qua chị Tư bún miến chả hấp tươi ngon dậy lên mùi biển, cũng không thể bỏ qua hàng bánh canh đặc (bánh canh bột gạo) ngạt ngào hòa giữa mùi gạo, rau răm và miếng chả cá chiên thơm lừng, rồi những chiếc bánh bèo xoáy be bé như lúm đồng tiền trắng nõn ở hàng cô Mai, ly sương sâm, bánh lọt mát lạnh hàng dì Bảy, chút béo ngậy trong ly sữa đậu xanh dì Xuân… rất nhiều món ăn dân dã đã kết nối những con người về đây, ta sẽ biết tất cả người trong phố ai đã về ai chưa về quê. Đàn anh, đàn chị, đàn em gì đều nhẵn mặt nhau ngoài chợ, hỏi thăm nhau rối rít trong lúc chờ chủ quán bán hàng. Mà chủ quán cũng chẳng cần hỏi cũng nhớ luôn tánh ăn của từng người như đứa nào ăn nhiều ớt, đứa nào thích nhiều rau, mắm nào khoái ăn mặn, con nào ăn hai lát chanh, nhỏ nào nhiều thịt ít bánh …

 

 

Chẳng ở đâu xa, chợ như ngôi nhà chung mọi người gặp gỡ thăm hỏi chuyện trò tự nhiên nhất quả đất. Chẳng cần trà bánh, chẳng cần câu nệ vỗ vai nhau cái bốp “Mới về hả?”; Thế là buổi đi ăn hàng khỏi đường về luôn.

Ba tháng dịch ở trong nhà bạn bè ở các nơi gặp nhau trên Net kể hết chuyện đông tây lại bàn các món ăn chợ Đại Đồng sau giấc ngủ trưa ngập nắng và gió chợ đon đả chào đón với tô bún mắm nêm ngon khó cưỡng, bánh quai vạt, chả lụi, bánh nậm, ốc mắm gừng quen thuộc của người miền biển mặn mà, đậm sâu. Nhớ lắm những buổi tối dịu mát, bạn bè í ới hẹn hò nhau đi ăn bánh xèo kiểu “người nhà quê” có tô nước mắm như canh, không cuốn cuốn chấm chấm e lệ như người thành phố, bên cạnh các hàng hột vịt lộn dưa chua, mì quảng nhiều nước không bánh tráng, đậm vị ngọt đặc trưng, bánh mì, bánh flan, rau câu chân vịt… được chế biến theo công thức nhà làm không tìm thấy ở đâu được nên đành mang theo như hương vị quê nhà thoang thoảng hòa quyện trong râm rang tiếng nói cười ngô nghê với những mẫu chuyện trường lớp, những bươn trải sớm mai cứ thế loang ra, loang ra lao xao cả một góc chợ. Để rồi nôn nao chờ cái ngày “bình thường mới”; về chợ Đại Đồng đặng ăn phủ phê các hương vị in hằn sâu trong tâm trí của những người con nơi nhà và những đứa xa quê.

Nhưng rồi “bình thường mới” cũng là lúc cải cách, sắp xếp lại chuyện buôn bán. Chợ không được sinh hoạt nữa, trả lại cho con phố đường thông hè thoáng như bao con đường khác. Dù biết phải thế nhưng cái “hồn” chợ qua bao thế hệ đã đi vào tâm tưởng của người dân nơi đây và nặng lòng cả những người xa xứ đang mong ngóng quay về.

Nghĩ mà thương những người bán hàng gắn liền cả đời mình với cái chợ, với những khách hàng thân thiết nhìn đến mòn mặt. Nghĩ mà tiếc tình nghĩa nơi này, nơi không chỉ bán thức ăn mà bán cả những hồi ức, hoài niệm. Cái tình nó nặng biết là bao!

Giờ phải đi đâu, về đâu? Dịch đã khổ, không chỗ mưu sinh càng khổ! Có ai mà ngờ một lần nghỉ dịch phải nghỉ luôn cả đời buôn gánh bán bưng nơi chốn chợ quê thân thuộc thế này!

Có thể nào “đô thị hoá” mà vẫn ĐẬM ĐÀ TÌNH QUÊ không?

 

BCL  2.11.2021

Nguồn ảnh: Sưu Tầm

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thơ Đỗ Nghê: Khi xa ĐàLạt

27/10/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Khi xa Đàlạt

Thơ Đỗ Nghê

Dalat nostalgia
sơn dầu trên giấy plast 18 x 20 in
đinhcường

 

Rồi cũng xa thôi những hẹn hò
những đồi run rẩy dưới mưa tơ
những thung lũng nắng mềm hơn tóc
những suối tương tư chảy hững hờ

Rồi cũng xa thôi những bướm vàng
những loài hoa dại ngát dung nhan
những con đường nhỏ quanh co lạnh
những khóm thông vi vút gió ngàn

Rồi cũng xa thôi những bước thầm
một mình với một nửa vầng trăng
hình như thu đã về trên lá
một chút thu trong gió thẹn thùng

Thôi – những người đi về phố phường
còn nghe rưng rưng bao niềm thương
khi xa Đàlạt xa Đàlạt
hồn cổ sơ làm sao không vương!

(Đàlạt 1966)

 

 

trích từ tuần báo MÂY HỒNG số 9 tuần lễ từ 11-9 đến 18-9-1972

(Chân thành cảm ơn Nhà thơ Trần Văn Nghĩa đã sưu tầm và gửi bài)

Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2021/10/27/khi-xa-dalat/

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Ra mắt tuyển tập ‘Tiếng Hát Thu Vàng’  

18/09/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ra mắt tuyển tập ‘Tiếng Hát Thu Vàng’  

Nguyên Giác  

(xin đọc đầy đủ trên https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2021/09/16/voi-nang-vang-va-am-nhac-ra-mat-tuyen-tap-tieng-hat-thu-vang/)

 

Cuốn tuyển tập nhiều tác giả viết về Tiếng Hát Thu Vàng dày gần 250 trang bìa màu và bên trong có nhiều tranh phụ bản màu và trắng đen của các họa sĩ Bé Ký, Cao Bá Minh, Duyên, Lê Ký Thương, Nguyên Khai, Nguyễn Đình Thuần, Nguyễn Thiên Chương, Trương Đình Uyên, Trương Vũ. Họa sĩ Khánh Trường thiết kế bìa, ảnh bìa của nhà văn nhà báo Phan Tấn Hải, với lời giới thiệu của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh và lời bạt của Trần Thị Nguyệt Mai.
Trong bài phỏng vấn ca sĩ Thu Vàng do nhà văn Trần Doãn Nho thực hiện, ca sĩ Thu Vàng đã kể về cơ duyên đến với âm nhạc của chị:

“Tôi còn nhớ những năm đầu Trung Học Đệ Nhất Cấp, tôi thích nghe nhạc của chương trình thương mại, thích thú hát theo những bản Bolero. Sau đó ba tôi hướng tôi nghe những bản nhạc xưa do những ca sĩ Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương, Anh Ngọc, Duy Trác… hát, nghe quen rồi dần dần yêu thích. Thời điểm này, tôi được sinh hoạt trong ban nhạc “Tuổi Thơ” ở Hội An do anh Thái Tú Hòa thành lập.

“Anh Hòa và  thầy Lê Khuê, hiệu trưởng trường Nam Tiểu Học, cùng một số anh văn nghệ trong phố đã tập cho bản “Tuổi Thơ” hát những trường ca quan trọng như “Mẹ Việt Nam,” “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy, những bản hùng ca, nhạc thiếu nhi của Hùng Lân, Lê Thương, Phạm Duy… và nhiều tác phẩm giá trị khác. Giai đoạn này thực sự định hình thể loại nhạc tôi theo đuổi đến giờ. Tôi có may mắn được học rất nhiều từ những người thầy rất có tâm này.”
Và chính nhờ được hun đúc bởi những “người thầy có tâm” mà ca sĩ Thu Vàng đã hát bằng cái tâm của chị để được nhiều người yêu thích như chị đã nói trong cuộc phỏng vấn của nhà văn Trần Doãn Nho:

“Nghĩ cho cùng, mọi việc đều đến từ cái duyên cả anh ạ. Cuộc đời đã cho tôi nhiều đau khổ, mất mát nhưng tôi nghĩ, có thật sự kinh qua những đau khổ, mất mát, thiếu thốn thì mới khao khát thương yêu, yêu hết thảy: quê hương, thiên nhiên, con người… Và tôi tin, cái gì xuất phát từ tâm thì sẽ đi vào lòng người.”
Trong bài “Lấp Lánh Sao Mai” là Lời Giới Thiệu CD Dạ Khúc do ca sĩ Thu Vàng hát, nhà thơ Đặng Tiến thì cho rằng tiếng hát của nữ sĩ Thu Vàng là “tiếng hát hồn nhiên, óng ả”:

“Khi xuất thần, những trắc ẩn bỗng thăng hoa thành tiếng hát. Tiếng hát hồn nhiên, óng ả đầy xúc cảm và truyền cảm.”
Trong bài “Thu Vàng – Một Tiếng Hát, Một Tài Hoa, Một Nhân Cách,” nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã viết về giọng ca Thu Vàng như là “tiếng hát đặc thù”:

“Nhưng điều hạnh hữu hôm nay, lại xuất hiện một tiếng hát Thu Vàng, tiếp nối được các đàn chị. Lắng nghe, ta sẽ thấy, 90% nghệ thuật của Mai Hương, Quỳnh Giao và Thái Thanh như đang ẩn hiện. Một tài hoa kết tinh tự nhiên có một không hai, đến lạ kỳ. Như thu nhiếp cái chung để làm nên cái riêng, làm nên tiếng hát đặc thù cho chính mình.”

Nhà văn và nhà báo Phan Tấn Hải trong bài viết “Những Đêm Nhạc Thu Vàng” đã nói lên cảm nghĩ thích thú của anh khi nghe nữ ca sĩ Thu Vàng hát:

“Trong chương trình đêm nhạc khoảng hai giờ đồng hồ, tôi ngồi nghe, như quên hết tháng ngày đang trôi. Có phải đây là đêm, sao giọng ca chị Thu Vàng như dường chói ngời ánh sáng của một chiều xuân? Có phải đây là ca khúc Bến Xuân của Văn Cao, sao nghe như nửa đêm có tiếng chim hót lảnh lót trong giọng ca của chị Thu Vàng?”

Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh trong bài “Thu Vàng – Đêm Nay” đã mô tả tiếng hát của Thu Vàng có sức mạnh “đặt người ta vào nơi chốn vừa thực vừa mơ”:

“Tôi biết Thu Vàng có không ít tri kỷ, dù chị ít xuất hiện, chỉ thu đĩa rồi tặng bạn hữu, hoặc hát mê say ở nơi chỉ có bạn thân. Và những người nghe như tôi, một căn phòng vắng, một đêm rất đầy, một nỗi sầu chưa vơi, đó là những hòa âm chuẩn nhất với thánh thót buồn của tiếng hát Thu Vàng. Một âm giọng đẩy đưa người nghe lên nhiều cung bậc cảm xúc, đặt người ta vào nơi chốn vừa thực vừa mơ, và xóa thời gian dưới tiếng rót trong trẻo của âm thanh.”

Nhà văn Văn Công Tuấn đã nghe ca sĩ Thu Vàng hát bài “Chiều Về Trên Sông” của nhạc sĩ Phạm Duy mà ngộ ra một điều mà từ 40 năm ông chưa hiểu: “Hơn 40 năm lưu lạc xa xứ, phải chờ đến khi nghe Thu Vàng hát câu nhạc cuối của bản Chiều Về Trên Sông tôi mới hiểu được tại sao nhạc sĩ Phạm Duy viết như vậy: Bể sầu không nhiều, nhưng cũng đủ yêu!”.

(…)


Sự thành công của người ca sĩ đến từ giọng thiên phú, có kỹ thuật điêu luyện và biết chọn nhạc phẩm thích hợp cho mình. Qua khoảng 40 tác giả viết trong tuyển tập Tiếng Hát Thu Vàng, cho tôi thấy nữ ca sĩ Thu Vàng đã có đủ ba yếu tố trên. Ngoài ra, chị còn có tấm lòng không những với nghệ thuật mà còn với bạn bè và người nghe. Bởi thế, chị đã thành công và đã được nhiều người yêu thích là điều dễ hiểu.

Mong rằng chị sẽ tiếp tục góp tiếng hát truyền cảm của chị để làm cho cuộc đời lắng bớt những đau thương và khổ lụy.

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

(Thứ bảy 11.9.2021)

……………………………………………………………

Vài hình ảnh Thu Vàng hát ở Hội An (2017)

Thu Vàng hát trong buổi Trò chuyện thân mật của Đỗ Hồng Ngọc với nhóm bạn bè ở Hội An (2017) về đề tài Nếp sống An lạc. Từ trái: Đỗ Hồng Ngọc, Khiếu Thị Hoài, Thu Vàng

 

 Nguyễn Quang Chơn và Tâm ngồi bên cửa sổ… lắng nghe Thu Vàng…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Buổi tối, cùng nhóm nhỏ bạn bè bên bờ sông Hoài, Thu Vàng đã hát… “Chiều Về Trên Sông”: của Phạm Duy: Bể sầu không nhiều nhưng cũng đủ yêu…

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Những người trẻ lạ lùng

Lê Ký Thương: CHUYẾN “PHƯỢT” ĐẦU NĂM

01/08/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

CHUYẾN “PHƯỢT” ĐẦU NĂM

Mùng 1 tháng giêng Tây năm Tây 2017, vợ chồng tôi được vợ chồng người bạn Đỗ Hồng Ngọc rủ đi Lộc An, cách thành phố độ trăm rưỡi cây số, là nơi mà một “fan” mê những sách viết về Đạo Phật và Sức khỏe của bạn, có resort ở đó.

Quê bạn ở La Gi nên quen thuộc đường QL 51, nên khi xe khởi hành bạn tuyên bố dành cho chúng tôi những điều ngạc nhiên và thú vị… chưa từng thấy.

Sự thực bạn nói không ngoa! Khi xe chạy cách Sài Gòn 70 cây số, đến vùng Châu Pha – Suối Nghệ (thuộc Bà Rịa), bạn đưa tay về phía trước, chỉ và hỏi chúng tôi thấy gì không. Từ xa, chúng tôi thấy những đốm trắng hiện ra hai bên đường, lô nhô, chưa kịp nhận ra con gì, thì bạn nói đó là cừu! Cừu, người dân ở đây nuôi cho du khách chụp hình.

Tôi liền liên tưởng tới đoạn mào đầu trong phim “Les temps modernes” của Charlie Chaplin được thực hiện năm 1930, cả một đàn cừu chen chúc, tranh nhau ra chuồng khi được xổ chuồng, một lối ẩn dụ phê phán cách làm việc theo phương pháp dây chuyền của Frederick Taylor đã suy tàn, biến con người thành cái máy.

Loài cừu thì rất hiền, nổi tiếng là… “cừu non”, ai dụ cũng theo!

Ngoài cừu, trước 75 Châu Pha còn được biết đến qua một nhạc phẩm của NS Lê Dinh: Nỗi Buồn Châu Pha, diễn tả mối tình có hậu giữa nàng sơn nữ và anh chiến sĩ trên đường hành quân qua làng:
Nàng tên Châu Pha
Người sơn nữ, bông hoa núi rừng
Đẹp xinh đơn sơ
Tình trong trắng cho đời ước mơ
Gọi tên nàng tên Châu Pha
Gọi tên nàng tên Châu 
Pha
Đôi môi thơ ngây thương giọng nói thật hiền hòa...
(…)
Xa hơn nữa, thời 12, 13 tuổi sinh hoạt trong đoàn thể Hướng Đạo, những đêm lửa trại đều đồng ca và múa bài “Châu Pha rừng, đầy voi, beo hùm, rừng cây um tùm..” Bây giờ thì tôi không nhớ hết lời và quên tác giả bài hát…

***

Resort có tên là Lộc An Resort nằm ngay trên QL 51. Mười một giờ trưa đến nơi. Vợ chồng bà chủ resort đang đợi sẵn dưới dưới phòng tiếp tân, niềm nở chào đón những người khách đặc biệt. Bạn không quên tặng chủ một số sách Đạo Phật và mời chúng tôi theo anh nhân viên lên nhận phòng tầng 2 của khu resort. Chúng tôi ở hai phòng kề nhau, đối diện với đầm Lộc An thoáng mát. Cảnh vật ở đây hết sức nên thơ, yên tĩnh, xa chốn thị thành. Đúng là món quà đặt biệt mà bạn và thiên nhiên ban tặng cho vợ chồng tôi nhân dịp đầu năm.

Resort có thuyền đưa khách du lịch từ đầm sang biển cách xa chừng vài trăm mét. Chiều mát, chúng tôi đi thuyền sang biển Lộc An. Hình ảnh đầu tiên gây ấn tượng cho tôi là bờ chắn sóng chạy dài từ mép biển lên tới đất liền rất giống hình thù con cá voi xám chết bị sóng đưa vô bờ – ngư dân gọi là Ông lị.  Tôi đã từng dạo chơi nhiều bãi biển từ Nam chí Bắc, nhưng chẳng thấy bãi biển nào có một hình ảnh độc nhất vô nhị này.

Sáng sớm hôm sau, khi ánh dương vừa ló dạng, thuyền đưa chúng tôi qua lại biển. Chúng tôi nhón bước trên lưng cá voi để tìm cảm giác và cảm thấy mềm mại trước mỗi bước đi. Thân nó được bằng tạo bằng vải bạt dài trên chục mét, đuôi hướng về biển, đầu hướng về bãi dương. Lại bắt gặp hình ảnh một ngư dân đang ngồi lục giỏ đồ ăn sáng dưới thân cá voi trong khi chờ thuyền đánh bắt cá về.

Bãi biển chỉ lưa thưa một vài cặp tình nhân trẻ đi dạo ven bờ. Không khí yên tĩnh lạ thường, khiến tôi nghĩ đến hai câu thơ của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao.

Ba ngày “phượt” đầu năm bằng xe 7 chỗ bạn thuê, vợ chồng tôi còn được bạn đưa đi thăm thú và giới thiệu nhiều cảnh lạ và hấp dẫn như quán Cà phê Vên Vên nằm trong Khu Bảo tồn Sinh thái Xuyên Mộc hay giữa đồi cát mênh mông ven biển La Gi có mạch nước ngọt ngầm gọi là Nước nhỉ.

Đúng là đi một ngày đàng học một sàng khôn.

 

Lê Ký Thương  

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (1.8)

01/08/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (1.8.2021)

 

Bạn hỏi hỗm rày làm gì ư? Home Alone.

Cứ như “Vân Tiên cõng mẹ đi ra/ Đụng phải cột nhà cõng mẹ đi vô/ Vân Tiên cõng mẹ đi vô/ Đụng phải cái bồ cõng mẹ đi ra…”. Già cả rồi. Đi chỗ khác chơi thôi!

Ông bạn bác sĩ cũng hơi già, 79, than buồn quá. Không gặp được con cháu, trước đây hàng tuần cứ chủ nhật thì tụ tập vui cả nhà với nhau. Bạn bè cà phê cà pháo cũng không được. Lên vi tính thì đọc mờ cả mắt những chuyện buồn đau. Hôm rồi trước nhà cũng bị giăng dây, nghếch mũi, hả họng làm test…

Một ông bạn khác mới 76, nghĩ ra cách giải khoay là coi đá banh Olympic rồi còn viết bài nhắc lại một chuyến “phượt” nào đó lên rừng xuống biển… cho đỡ nhớ, hôm qua gởi mình bảo coi đi nè, nhớ không, mới thôi mà tưởng là xa xưa lắm!

Rồi hôm kia, một người bạn trẻ quen mà chưa biết từ Suối Tiên (Nha Trang) gởi email bài “Học Phật qua thơ Đỗ Hồng Ngọc” thật bất ngờ, nói để tặng anh ĐHN ngày sinh nhật. Ơ hay, mình thực sự không biết ngày sinh nhật, chỉ biết bà Má nói khoảng giữa tháng Tám, năm Canh Thìn, sanh ở nhà bảo sanh cô Mụ Bé dưới chân cầu sắt Phan Thiết. Sau này mình viết cho Nguyệt Mai, Km, d, TV… khi các cô hỏi Ngày sinh nhật của mình rằng: “Anh không có ngày sinh nhật/ Nên mỗi ngày là sinh nhật của anh/ Cảm ơn em/ Nhớ đến anh/ Ngày sinh nhật!”. Thế là mấy cô kêu trời, anh khôn thấy mồ, vậy là mỗi ngày đều phải… nhớ đến anh ư? Thôi thì ta làm “tháng sinh nhật” vậy. Ôi giời!

Tưởng chơi, ai dè sáng nay 1/8, đã thấy trên trang nhà tranthinguyetmai dọn hẳn một bữa tiệc sinh nhật thật “bất ngờ” linh đình và hoành tráng… với bao nhiêu là quà quý từ bạn bè đầy xúc động! Thì ra mọi người sực nhớ mình đã “bát tuần” nên cho một bữa ê hề để kỷ niệm đó thôi!

Rồi một bất ngờ nữa, “Bản thảo” Tôi Học Phật cũng vừa in xong mấy cuốn làm mẫu. Dự định sẽ chỉ in một ít để tặng “bạn đạo” trong Ban Phật học, Nhóm học Phật và Lớp Phật học và Đời sống ở chùa Xá Lợi Saigon  thôi, chớ sách này ai đọc? Cũng phải nói là nhờ 5 Hiền (Nguyễn Hiền-Đức) hai năm trước đã thu gom, chọn lọc bước đầu cùng Văn Công Tuấn tung ra cuốn Thấp thoáng lời Kinh, sau bổ sung thành Tôi học Phật, còn nhiều thiếu sót nên suốt 2 tháng nay vì Cô-vi phải nằm nhà, mình biên tập lại kỹ lưỡng một chút làm “Version 2” này đây. Cái hình bìa trông “văn nghệ” đúng kiểu “lõm bõm học Phật” của mình, lấy cảm hứng từ Đặc san Liễu Quán Huế “dàn dựng” lại một chút đó thôi.

Hẹn thư sau.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim

Ghi chép lang thang: Nếp Sống An Lạc (tái bản lần thứ 3)

22/06/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nếp Sống An Lạc

(tái bản lần thứ 3)

Chuyện trò cùng Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về
“Nếp Sống An Lạc”,
tái bản lần thứ 3. Tháng 6.2021

 

Ghi chép lang thang: Nhớ buổi “giao lưu” ở Đà Nẵng  

Đề tài được chọn là Một nếp sống hạnh phúc, an lạc chẳng qua là một cái “cớ” cho một chuyến hành hương về miền Trung… “miền thùy dương bóng dừa ngàn thông thuyền ngược xuôi suốt một dòng sông ư.ư… dài” mà thôi! Bởi làm gì có “một nếp sống hạnh phúc, an lạc” để mà nói năng?  Nói làm sao được một thứ “bất khả thuyết” như thế chứ? Chẳng qua là một cơ hội để gặp gỡ bạn bè, trò chuyện loanh quanh, bấy nay chỉ quen nhau qua trang sách.

(…) Một không khí đầm ấm, thân thiết khó thấy ở đâu.  Chưa từng gặp mà quen đã từ lâu. Tay bắt mặt mừng. Chụp ảnh kỷ niệm. Rồi xin chữ ký… thật vui và thật cảm động. Có người ôm nguyên một chồng sách cũ đã “sưu tập” của ĐHN bấy nay đến xin chữ ký, kêu ghi giùm tên và ngày tháng hẳn hòi để kỷ niệm…

MC không phải ai xa lạ: Cát Tiên, chị của ca sĩ Lê cát Trọng Lý. Cát Tiên cũng là một ca sĩ, cùng bạn bè thành lập một thư viện tại gia và một phòng trà nho nhỏ thật dễ thương mà ở Đà Nẵng ít người không biết.

(…) Một bác 82 tuổi lúc ra về nói: Hôm nay tôi rất hạnh phúc bác sĩ nè, khi nghe bác sĩ nói về “vô thường” về phiền não với bồ đề, về khổ đau với an lạc!

Một chị ở Mỹ về tình cờ đến nghe nói “Tôi nhớ nhất câu bác sĩ bảo mình đang ở tuổi nào thì tuổi đó là tuổi đẹp nhất”.

Còn cô giáo “bỏ giờ” đi nghe thì bảo: “Em thực sự thấy hạnh phúc vì đã sống… ở đây và bây giờ buổi sáng hôm nay đó”…

(Đà Nẵng, 12, 2012)

 

Và vài comments sau đó:

Phương Chi (Đà Nẵng):

Nhân duyên đã giúp em biết và đọc sách của Bs. Nhờ đó em đã bình tâm trước nhiều điều bất như ý trong cuộc sống, bớt tham lam hơn, nhìn đời và nhìn người vị tha hơn. Em hiểu ra rằng những khó khăn, bất hạnh xảy ra với mình không gì khác hơn là thử thách của chính mình. Nhờ đó mình bớt kiêu hãnh đi, nhún mình lại và chịu khó nhìn lại để sửa mình.
Gặp Bs hôm rồi em thực sự vui, dù những gì minh trao đổi về « Một nếp sống hạnh phúc » không có gì xa lạ đối với em. Những gì Bs đề cập hôm đó em đều đọc nhiều lần trong các tác phẩm hoặc các bài viết cua BS trên các báo.(…) Em mang sách Bs ký tặng và hình chụp cùng Bs về khoe với hai đứa con, con gái của em năm nay 22 tuổi nói em rằng: « Me teen qua chừng, trốn đi làm bệnh viện, đi gặp idol xin chữ ký với lại xin chụp hình mới ghê chứ » . Em thấy đúng là mình trẻ con, nhưng lại thấy rất hài lòng…

Lê Uyển Văn (Trà Vinh):
“Đọc bài của LVD, thấy hạnh phúc đến rưng rưng, hạnh phúc bởi sự đồng cảm, sự chan hòa mà tình người mang lại cho nhau. Em như hình dung được không khí đó, vui cùng niềm vui của mọi người.
Rồi em chợt nghĩ, thật không quá đáng khi Đỗ Hồng Ngọc đi đến một nơi nào đó mà được đón nhận hơn cả những ngôi sao… Cái chính là sức lan tỏa và lay động đến tâm hồn mọi người thật lâu bền từ những cuộc chuyện trò dung dị ấy”.

Lưu Hà (Đà Nẵng)

Bác Ngọc ơi,
Vợ chồng cháu thật may mắn đã được gặp bác. Từ bữa đó về chúng cháu đều cố gắng ăn cơm “chánh niệm”, nói chuyện cũng “chánh niệm”… không vừa ăn vừa xem ti vi, không mất tập trung. Rồi sau đó mới nghỉ ngơi nói chuyện. Kì lạ là từ sau đó chúng cháu thấy vợ chồng gần gũi nhau hơn, chia sẻ tình cảm, suy nghĩ nhiều hơn sau một thời gian dài vật lộn với 2 em bé sinh đôi mà quên mất nhau. Hihi
Cháu có ghi lại cuộc trò chuyện của bác để làm “Cẩm nang” khi cần. Cháu xin gửi lại bác, phòng khi có ai cần đọc. Cháu cảm ơn bác nhiều. Vợ chồng cháu chúc bác mạnh khỏe và hạnh phúc.
Cháu Lưu Hà.

 

***

Năm 2017, lại Đà Nẵng:

Hội Sách của Phương Nam tổ chức tại Hải Châu Đà Nẵng với hàng trăm gian hàng sách và những đêm giao lưu giữa độc giả – khán giả với cả ngàn người tham dự.

Buổi “giao lưu” với độc giả Đà Nẵng, tháng 4.2017 tại Hội Sách Hải Châu.

Đợt này, cuốn “Chuyện trò cùng Bs Đỗ Hồng Ngọc về Nếp Sống An Lạc” được giới thiệu chính thức tại Hội sách với một buổi giao lưu khá đông. Hôm đó còn có ca sĩ Thu Vàng hát mấy bài thiệt hay và người dẫn chương trình là MC Ngân Hoa.

Cuốn sách phát hành lần đầu năm 2017, đến nay, 2021 đã tái bản lần thứ 3 rồi đó.

“Nếp Sống An Lạc” quả là không dễ giữa thời buổi Cô-vi này vậy.

 

Xin cảm ơn tất cả.

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 06.2021)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thơ Phạm Thiên Thư “Mười con nhạn trắng về tha”

12/06/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

11.6.2021

“Mười con nhạn trắng về tha”

(Động hoa vàng, Phạm Thiên Thư)

 

Câu hỏi của bạn hơi “ác” đó nha. Đây là 4 câu thơ mở đầu của bài thơ Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư, bài thơ dài tới 100 khổ, mỗi khổ 4 câu lục bát đẹp như mơ mà ai cũng biết… Cho đến nay đã có hàng trăm bài viết về Phạm Thiên Thư với Động hoa vàng này đó. Mà hình như chưa có ai hỏi như bạn đã làm khó mình hôm nay. Bạn biết đó, mình chẳng phải nhà phê bình văn học, nhất là phê bình thơ… Bởi thơ là để cảm nhận, để rung động… chớ không phải để phân tích, để bình giảng… Nói thì nói vậy chớ người yêu thơ vẫn cứ vừa cảm nhận, vừa rung động vừa bình giảng… để thấy cho hết cái đẹp cái hay, để rồi được rung động 6 cách “nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý” cũng chẳng khoái ru?

Mười con nhạn trắng về tha

Như lai thường trụ trên tà áo xuân

Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền

Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm…

Bạn hỏi mình tại sao nhạn trắng, tại sao mười con mà không phải tám chín con hay trăm con? Tại sao “về tha”? Tha ai? Tha cái gì? Tại sao tha?

Rồi “Như lai thường trụ” là sao? Vô thường, vô ngã, “vô sở trụ” mà sao còn trụ?

Rồi bạn cho rằng “Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền/ Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm” thì ai cũng hiểu cả rồi. Mái tóc huyền óng ả chảy mượt như suối của nàng thiếu nữ xinh đẹp. Làm nhớ “vai gầy guộc nhỏ” của Trịnh Công Sơn! Còn “Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm” đâu cần phải giải thích thêm! À, nhưng mà “miền  tuyết thơm” ở đâu vậy? Có trời mới biết, ủa không, có nhà thơ mới biết. Làm nhớ Văn Cao: “Chúng em xin dâng hai chàng trái đào tiên…”.

Tóm lại là bạn chỉ “quay” mình vài chỗ “bí hiểm”: Mười con nhạn trắng về tha là sao?Tại sao mười, tại sao tha…? Và tại sao Như Lai thường trụ?

Ối trời. Mình bí quá. Bèn phải mượn “quyền trợ giúp”.

Phạm Thiên Thư (PTT) bây giờ không xài Điện thoại, chẳng có email, giữa mùa Cô-vi giãn cách này cũng không trực tiếp đến gặp được. Lại nghe nói ông bắt đầu quên nhiều sau mấy lần tai biến.

Mình liền hỏi nhà thơ Trụ Vũ, vốn chỗ thân thiết với PTT. Ông trả lời ngay:  “Tha” ở đây là “khác”, phương khác. Câu này có nghĩa là mười con nhạn trắng bay về phương khác…

Không yên tâm lắm, mình bèn hỏi Lam Điền, nhà báo, nhà thơ, ở báo Tuổi Trẻ. Lam Điền khuyên: “Tranh thủ lúc tác giả còn sống nên hỏi trực tiếp cho chắc đi bác ơi, mọi suy đoán về thơ thường do không còn tác giả để hỏi”. Chí lý. Nhưng có trường hợp như TTKH, không biết tác giả là ai thì biết đâu mà hỏi! Có khi tác giả Alzheimer quên hết rồi thì sao?

Bèn hỏi Linh Thoại, nhà báo, phụ trách mảng văn học báo Tuổi Trẻ. “Dạ con cũng không rõ ý nhà thơ chú ơi, để con hỏi thầy Huỳnh Như Phương”.

Huỳnh Như Phương là nhà phê bình văn học nổi tiếng, đã nghiên cứu về PTT kỹ chắc chắn phải biết rồi. Hy vọng.

Thầy HNP trả lời Linh Thoại: “Thầy chịu thua. Thiền sư Đỗ Hồng Ngọc mà không giải thích được thì làm sao mình giải thích. Chờ qua dịch gặp ông PTT hỏi ông. Mà có khi ông cũng không giải thích được!”.

Mình đùa với Linh Thoại: Ông PTT chắc cũng sẽ biểu về hỏi “thiền sư” ĐHN đi! Bởi ông cũng quên hết rồi! Dĩ nhiên chú Ngọc giải được quá đi chớ! “Thiền sư” mà!

Linh Thoại cười: Vậy chú giải cho con nghe với. hihi.

Mình “cầu cứu” nhà thơ Đỗ Trung Quân. Quân ơi, cho anh hỏi chút nhe: PTT trong bài thơ Động hoa vàng có câu đầu tiên: “Mười con nhạn trắng về tha…” nghĩa là sao, nhất là chữ “tha” khó hiểu quá?

ĐTQ trả lời liền: Theo em cảm nhận thì mười con nhạn trắng PTT chỉ 10 ngón tay hoa vẽ trên luân chuyển tiết mùa, nhưng chỉ là cảm nhận vì em không nghiên cứu Phật học…

Mắt mình sáng ra: À há! Rất hay rồi đó!

ĐTQ thêm: Câu sau hình như là “vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền/ Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm…” cái nhìn Phật học cũng lại là ẩn dụ của suối- mây- rừng… em nghĩ thế.

Mình mừng rỡ: Hay lắm ĐTQ! Anh nghĩ anh bắt đầu giải được rồi đó! Cảm ơn em.

Dù vậy, mình cũng thử hỏi nhà thơ Phật tử thuần thành Tôn Nữ Hỷ Khương xem sao, chị bảo “Bs Đỗ Hồng Ngọc mà không biết thì Hỷ Khương làm sao biết được!”.

Ối giời!

Thôi thì hỏi thêm nhà thơ Khánh Minh ở tận nửa vòng trái đất bên kia, người cũng rất thân quen PTT. Khánh Minh trả lời: “Anh Ngọc ơi, anh mà không biết thì em biết… chết liền! Xưa em rất thân với PTT, phải gọi bằng chú, nhưng em không đọc Động hoa vàng. Em chỉ thích tập thơ 4 chữ thôi. Tại sao là “mười”, tại sao “về tha” và Như-lai thì sao “thường trụ”?

Khánh Minh thắc mắc nữa!

Tóm lại, góc độ “thơ” thì không xong rồi. Còn góc độ “thiền” thì sao?

Mình hỏi chuyện tu hành của PTT cho rõ nguồn cơn, Google trả lời:

Đi tu, thực ra với ông không hẳn là tìm một chốn nương náu, mà ông ngộ ra một điều, ông đã tự tìm cho mình một cõi riêng, một kiểu tu hành riêng…

Ông viết Động hoa vàng những ngày đầu ngấm giáo lý nhà Phật, như đánh dấu mình vào một cõi của chính mình trong thi đàn. Dĩ nhiên, Động hoa vàng chưa hẳn là tác phẩm xuất sắc nhất trong đời viết của Phạm Thiên Thư, nhưng nó đã làm nên một “thương hiệu” của Phạm Thiên Thư. Những câu thơ đẩy cái đạo đời bềnh bồng trên cõi Phật, làm hiện hữu cái cuộc đời đáng sống trên cái mênh mang bao la của phù vân hư ảo.

Nhiều người đã cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông chỉ cười: “Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình”. Quả thực là từ cõi Phật, ông đã làm được những điều đáng nể: thi hóa kinh Phật, sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm hoi trong văn học Việt Nam…Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ… (//vi.wikipedia.org/wiki).

 

Tìm hiểu sâu hơn về PTT không gì bằng tham khảo nhà văn Nguyễn Thu Trân, người đã có những buổi tiếp xúc , gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với nhà thơ nhiều năm qua (trích). Thu Trân viết:

“Từ Động hoa vàng, người yêu thơ Phạm Thiên Thư cũng mờ mờ ảo ảo với “tu sĩ lãng mạn” Thích Tuệ Không bởi những dòng tự bạch:

Hỏi con vạc đậu bờ kinh

Cớ sao lận đận cái hình không hư

Vạc rằng thưa bác Thiên Thư

Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ…

 

Hỏi: Thưa, ở đây là nhà thơ hay nhà sư ỡm ờ?

Đáp: Cả hai, từ ỡm ờ ở đây có nghĩa tôi ra đi từ đời và trưởng thành từ đạo. Trong tôi, đạo và đời là một. Trong 9 năm ở chùa (1964-1973), tôi- tức nhà sư Thích Tuệ Không đã tiếp cận tư tưởng nhà Phật và triết lý Phật giáo là phần lớn tinh thần sáng tác của tôi. Triết lý Phật giáo cũng không ngoài những hạnh phúc, khổ đau của con người. Một đời sống hoà bình, thanh thản với cái thiện luôn đẩy lùi cái ác… cũng là mục đích thơ Phạm Thiên Thư hướng đến. Phật giáo khi hòa nhập vào cuộc sống thì đã trở thành một giá trị văn hóa chứ không đơn thuần là tôn giáo.

Hỏi: Vì sao cậu học trò Phạm Kim Long lại trở thành nhà sư Thích Tuệ Không?

Đáp: Tôi sinh năm 1940, quê Thái Bình nhưng đã là người Sài Gòn từ năm 1954. Thời sinh viên mê văn chương thơ phú, tôi sáng lập và tụ tập bạn bè vào Học hội Hồ Quý Ly. Việc lập hội đoàn này khiến tôi luôn bị cảnh sát chế độ Sài Gòn chú ý, thế là để được yên thân, tôi đã ẩn vào chùa để tu. “Tu bất đắc dĩ” mà ngộ ra kinh Phật, ngộ ra chuyện thiền rất nhanh nên tôi thấy mình là người may mắn, tôi sớm nhận ra điều, nhà chùa không phải là nơi tôi nương náu để qua cơn bỉ cực mà là một cõi riêng, rất riêng để tôi tha hồ bay bổng từ những điều ngộ ra chính mình và cuộc sống chung quanh.

Hỏi: Sau kinh kệ, thơ nhạc… rồi đến hớt tóc, bán tạp hóa, bán cà phê kiếm sống; thi sĩ Phạm Thiên Thư còn nổi tiếng nhờ tài chữa bệnh?

Đáp: Tôi nghiệm ra phương pháp chữa bệnh điện công Phathata từ những cách tham thiền, vận nội công và yoga. Những tiền đề này tôi tích lũy được từ những ngày học võ (bố tôi là thầy thuốc dạy võ) và thời gian tầm sư học đạo ở Thất Sơn (Bảy Núi-An Giang); cũng không thể không kể thêm ở đây sự kết hợp với võ Bình Định, gồng Châu Quý, thiền Mật Tông… Phathata là phương pháp tập luyện nhân điện; tự điều chỉnh bế tắc, rối loạn cơ thể và tâm lý thông qua khả năng siêu ý thức. Tôi cũng đã tự chữa bệnh cho mình bằng phương pháp Phathata (có kết hợp cùng các phương pháp khác). Hiện tôi vẫn tham gia câu lạc bộ chữa bệnh miễn phí cho mọi người bằng phương pháp Phathata…

Ngày của thi sĩ Phạm Thiên Thư bây giờ cũng nhẹ nhàng như gió như mây. Dưới bóng cây xanh đầy hoa nắng của quán cà phê gia đình với tên gọi Hoa Vàng trên đường Hồng Lĩnh (quận 10-TP.HCM), ông thường ngồi hàng giờ để hoài niệm về màu hoa vàng cùng bóng áo thoát tục năm xưa, để thấy mình đã sống bảy mươi năm không hoài không phí giữa nhịp đời sắc sắc không không:

Gối tay nệm cỏ nằm say

Gõ vào đá tụng một vài biến kinh

Mai sau trời đất thái bình

Về lưng núi phượng một mình cuồng ca… 

(Nguồn: Đương Thời, http://cntyk2.free.fr/vannghe/tho/)

Bài phỏng vấn của nhà văn Nguyễn Thu Trân đã thực hiện hơn 10 năm trước, khi PTT mới 70 tuổi, ta được biết thêm ngoài tu Phật, làm thơ, ông còn là một thầy thuốc chữa bệnh với phương pháp Phathata.

 

Bây giờ ta thử nghe Võ Phiến nhận xét về thơ tình của PTT:

“Phạm Thiên Thư chỉ đóng trọn vai tuồng xuất sắc khi ông trở về với chính mình, tức một tu sĩ đa tình. Và trong vai tuồng ấy ông thật tuyệt vời, đáng yêu hết sức.

Thử tưởng tượng: Nếu Phạm Thiên Thư sớm tối miệt mài kinh kệ, một bước không ra khỏi cổng chùa, không biết tới chuyện hẹn hò, không hề lẽo đẽo đưa em này đi rước em nọ về v.v… thì nền thi ca của chúng ta thiệt thòi biết bao. Lại thử tưởng tượng Phạm Thiên Thư quanh năm suốt tháng chỉ những em này em nọ dập dìu, nhớ thương ra rít, mà không màng tới kinh Hiền kinh Ngọc, không biết chuông biết mõ gì ráo, thì trong kho thi ca tình ái của ta cũng mất hẳn đi một sắc thái đặc biệt chứ.

Cho nên ông cứ ỡm ờ thế lại hay. Có tu mà cũng có tình. Cái tình của một người tu nó khác cái tình của người không tu, nó có nét đẹp riêng”.

“Tình yêu của ông thật tội nghiệp. Không phải nó tội nghiệp nó đáng thương vì ông bị hất hủi, bị bạc tình, bội phản, vì ông gặp cảnh tuyệt vọng v.v… Không phải thế. Tội nghiệp là vì bên cạnh các mối tình vời vợi của ông lúc nào cũng thấp thoáng cái ám ảnh của kiếp sống mong manh, của cuộc thế vô thường, của cảnh đời hư ảo.

Vả lại không phải chờ đến một cái chết mới đối diện Hư Vô, ngay cả khi đôi trẻ hãy còn đủ trên đời ông vẫn ý thức rõ ràng cái nhỏ bé chơi vơi của tình yêu:

“Cõi người có bao nhiêu

Mà tình sầu vô lượng

Còn chi trong giả tướng

Hay một vết chim bay.”

Rồi Võ Phiến khẳng định, thơ tình của PTT là thứ thơ tình “Tuyệt nhiên không thịt da”:

“Thơ tình của chàng là thứ thơ tình không có nụ hôn. Người tình của chàng là thứ người tình không da thịt. Đố thiên hạ tìm ra trong thơ chàng một nụ hôn, tìm ra những cặp môi mọng như quả nho, gò má ửng hồng như trái đào, những sóng mắt đắm đuối, ngực tròn phập phồng v.v…, đố như thế là đố khó quá… Không mọng đỏ, không no tròn, không phập phồng, không đắm đuối, không long lanh v.v… Tuyệt nhiên không thịt da”.

Ông dẫn nào Xuân Diệu, nào Vũ Hoàng Chương, nào Bạch Cư Dị, ông nào ông nấy cũng “ca tụng thân xác” (chữ Nguyễn Văn Trung)… và chỉ riêng thơ tình PTT là “Tuyệt nhiên không thịt da”!

(chusalan.net: Võ Phiến  Từ Ngày xưa Hoàng Thị… tới… Đưa em tìm động hoa vàng…)

“Không phải đâu là không phải đâu”! Võ Phiến lầm chết! Tưởng tượng xem, một tu sĩ đa tình, 9 năm ngồi ngắm trăng suông bên bờ suối, nhìn vách đá ngẩn ngơ chẳng thua gì 9 năm diện bích của Bồ Đề Đạt Ma… một hôm sực nhớ đóa hoa vàng (khổ 99- Động hoa vàng)

 Vào hang núi nhập Niết bàn
Tinh anh nở đoá hoa vàng cửa khe


“Thiền sư” hiểu rõ lẽ vô thường, rõ cái chơi vơi của “cõi người có bao nhiêu/ mà tình sầu vô lượng” nên một khi đã phập phồng, đã đắm đuối, đã long lanh thì hết phương … cứu chữa!

Anan là đệ tử đẹp trai nhất của Phật, một hôm đi khất thực, gặp người đẹp Ma-đăng-già quyến rũ sắp…, Phật vội vàng kêu đại đệ tử Xá-lợi-phất mang lá bùa đến cứu. Lá bùa đó là Chú Lăng Nghiêm. Bây giờ các tu sĩ sáng nào cũng phải tụng!

Cho nên 9 năm ngồi nhìn vách đá, ngắm trăng suông, miệt mài kinh kệ,  một hôm biệt thầy giã bạn xuống núi, thõng tay vào chợ thì choáng váng, háo hức, hừng hực…không lạ!

Nhưng để hiểu cho rốt ráo “mười con nhạn trắng về tha” này, ngày 9.6.2021, mình viết thư hỏi nhà văn Nguyễn Thu Trân. Cô liền gọi phone ngay cho nhà thơ và trả lời mình:

Gửi anh Đỗ Hồng Ngọc,

Em đã gặp nhà thơ Phạm Thiên Thư nhiều lần, nhưng thật ra chưa thắc mắc về từ “tha” trong câu đầu của thiền ca Động hoa vàng. Chú cháu ngồi với nhau chỉ nói về cõi thiền vô ưu dữ dội của Động hoa vàng thôi. Thắc mắc của anh quá hay, khiến em phải thắc mắc rằng, tại sao mình không thắc mắc điều này với nhà thơ. Em có gọi chú PTT bằng số điện thoại từ lâu rồi nhưng tổng đài bảo số này không có thật (chắc chú đã đổi số). Không chắc bây giờ ông già còn khoẻ và minh mẫn. Thuở em gặp, ông già cũng đã mơ màng với cái điện công Phathata lắm rồi. Thôi thì, em cũng liều mình suy diễn trên tinh thần đã trao đổi về Động hoa vàng với nhà thơ PTT, anh xem thử coi có hợp lý không nhé- nếu không hợp lý thì anh cho em ý kiến khác vậy.

Chúc bác sĩ luôn vui khoẻ trong mùa dịch covid.
Thu Trân

9.6.2021

.

Mười con nhạn trắng về tha

Như Lai thường trụ trên tà áo xuân

Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền

Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

 

“Tha” có lẽ phải hiểu ở đây theo nghĩa Hán- Việt, chứ không thể là “tha thứ” hoặc

“tha đi, mang đi”- suy diễn hơn một chút, càng không phải là “bê tha”.

Trong tiếng Hán, “tha” có 3 nghĩa:

– “Tha” đại từ chỉ ngôi thứ ba số ít: anh ấy, chị ấy, ông ấy, bà ấy (nam nữ cách viết

khác nhau nhưng phát âm giống nhau).

– “Tha” tính từ có nghĩa thư thả, ung dung tự tại.

– “Tha” động từ có nghĩa gánh vác, chở che.

 

Trong bối cảnh “Mười con nhạn trắng về tha” là câu đầu của “thiền ca” Động hoa

vàng 100 khổ thơ lục bát của Phạm Thiên Thư, có lẽ “tha” trong trường hợp này là

tính từ (thư thả, ung dung tự tại) là phù hợp nhất. Động hoa vàng đẹp như mơ, hư

hư thật thật với đàn chim nhạn “mở màn” thì thái độ ung dung tự tại (vô ưu) rất phù hợp cho 3 câu sau đó:

Như Lai thường trụ trên tà áo xuân

Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền

Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

 

Và kết nối khổ thơ đầu với khổ thơ cuối, ta sẽ thấy “sự suy diễn” này phù hợp:

 

Hoa vàng ta để chờ anh

Hiện thân ta hát trên cành tâm mai

Trần gian chào cõi mộng này

Sông Ngân tìm một bến ngoài hoá duyên

 

Chỉ có sự vô ưu của một loài chim sang trọng, đẹp đẽ như chim nhạn mới có thể

“gánh” hết những gì huyền ảo trong cõi thiền mà rất đời, mà rất sex của tu sĩ Phạm Thiên Thư thôi.

(Thu Trân, 9.6.2021).

………………………………………………………………………………………….

 

Thiền sư thi sĩ đa tình “huyền ảo trong cõi thiền mà rất đời, mà rất sex ”, Thu Trân nói về PTT rất đúng đó vậy. Nhưng tại sao “về tha”? Thu Trân viết có lẽ “tha” trong trường hợp này là tính từ (thư thả, ung dung tự tại) là phù hợp nhất. Mình không nghĩ vậy. Phải tìm trong hướng khác: Y học chẳng hạn. Đừng quên, PTT không chỉ thiền sư thi sĩ mà còn là một thầy thuốc.

PTT xuất thân trong một gia đình làm nghề đông y, từ nhỏ ông đã nghe quen mùi thuốc, ba chén sắc còn 6 phân, dao cầu, thuyền tán các thứ… để chữa thân bệnh. Lớn lên đi tu… lại học được Phật pháp, chữa cả tâm bệnh, vì thế vào đời, ngoài chuyện làm thơ, ông sáng tạo một phương pháp dùng nhân điện chữa bệnh như phim kiếm hiệp Kim Dung, đưa hơi xuống huyệt đan điền, truyền công lực qua các huyệt đạo trên thân thể, PTT đặt tên phương pháp mình là Phathata (viết tắt của Pháp-Thân- Tâm). Ta thấy “Pha” là PHÁP, “Tha” là THÂN và “Ta” là TÂM. Phải đặt tên bí hiểm một chút thì pháp mới linh nghiệm chớ!  Có lúc ông còn quả quyết Phathata của ông chữa trị được cả bệnh HIV-AIDS, Ung Thư các thứ…!

Về Phathata, ông bảo rằng ông “nghiệm ra phương pháp chữa bệnh điện công Phathata từ những cách tham thiền, vận nội công và yoga. Những tiền đề này ông đã tích lũy được từ những ngày còn trẻ (cha là thầy thuốc kiêm thầy võ) và thời gian tầm sư học đạo ở Thất Sơn (An Giang) khoảng 1964-1973 đã hình thành nên phương pháp ông đặt tên là Phathata này.

Như vậy, phải chăng “về tha” ở đây là “trở về với cái Thân xác”, về với cái Sắc trong ngũ uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Hành giả khi “hành thâm Bát Nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không” thì vượt hết mọi khổ đau ách nạn. (PTT vốn là Thích Tuệ Không!).  “Thân tâm nhất như” là nguyên tắc của Phật học và của Y học ngày nay (holistic medicine), nên ông muốn đem Phathata chữa bệnh giúp đời nhưng hiệu quả ra sao lại là vấn đề khác!

Tóm lại, “về tha” có thể là về với cái Thân xác, về với con người trần tục; và “mười con nhạn trắng” là mười ngón tay hoa miệt mài…

Phật giáo khuyên ly dục, ly tướng. “Ly nhất thiết tướng tức kiến Như Lai”. Nhưng tu sĩ thì hiểu bản thể Như-lai là vô tướng, thường trụ, bất nhị. “Chư pháp tùng bổn lai/ thường tự tịch diệt tướng”. Thị chư pháp không tướng: Bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm (Tâm Kinh). Cho nên “Như Lai thường trụ” là đúng. Cái hay ở đây là “Như lai thường trụ… trên tà áo xuân” nhé.

Thi sĩ Quách Thoai, một hôm thấy-biết Như Lai ở những bông bụp ngoài hàng giậu và giật mình sụp lạy, cúi đầu:

Ðứng im ngoài hàng giậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu

Ta sụp lạy cúi đầu.

(QT)

Ở phần kết Động hoa vàng, PTT viết:

Vào hang núi nhập niết bàn
Tinh anh nở đoá hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh


Hoa vàng ta để chờ anh

Hiện thân ta hát trên cành tâm mai

Trần gian chào cõi mộng này

Sông Ngân tìm một bến ngoài hoá duyên

 

Hy vọng bạn đã… hài lòng phần nào.

Thân mến,

 

Đỗ Hồng Ngọc

(11.6.2021)

………………………………………………………

Xin chia sẻ một vài Comments

 

Một người bạn:

Theo tôi, hồi đó ông PTT chưa nghĩ ra chuyện PHATHATA đâu.

Tôi thiên về cách hiểu “tha” là động từ.

Về tha cũng là tha về, thả về. Về đâu? Về động hoa vàng. Câu thơ tạo nên một không gian vừa đạo vừa đời, vừa huyền bí, ẩn mật, vừa cụ thể, trần tục. Mười con nhạn trắng hay trăm con nhạn trắng cũng vậy thôi, là những sứ giả đem niềm vui hạnh ngộ về động hoa vàng, cho gã từ quan tưởng xa đời mà vẫn không quên đời. Gã có thành thiền sư chuẩn bị nhập Niết Bàn thì cũng không buông bỏ nụ hoa vàng ngoài khe suối. Cũng như không bỏ được suối tơ huyền, đôi gò đào nở…

 Hai Trầu

Đọc phần dẫn chuyện của anh Đỗ Hồng Ngọc từ người đặt câu hỏi tới người giải đáp câu hỏi vừa mạch lạc vừa hồi hộp mà hấp dẫn với những bí hiểm trong từng phần của mỗi câu thơ càng lúc càng đi vào con đường…hổng cách gì hiểu nổi thi sĩ muốn gởi gắm điều gì qua những vần thơ và cách dùng chữ của ông…

Khánh Minh

Anh Ngọc ơi, em đã đọc bài viết về mười con nhạn trắng… thật là đầy đủ ý kiến của “võ lâm ngũ bá” rất thú vị và em cũng mở rộng tầm nhìn, mỗi người cảm nhận 4 câu thơ mở đầu Động Hoa Vàng theo cảm xúc riêng của mình làm thơ PTT thêm giàu ý nghĩa. Đó thực là thơ, anh đồng ý không?

Riêng km thì km không hiểu mười con nhạn trắng là mười ngón tay hoa… như nhà thơ Đỗ Trung Quân và anh đồng tình,  km nghĩ mười ở đây chỉ là một thi ngữ, nó không mang ý nghĩa một con số xác thực 1,2,3,4…, để làm đẹp lời thơ, thi hoá một số lượng nào đó.

Và “mười con nhạn trắng về tha” thì km đồng ý với cách giải thích của nhà thơ Trụ Vũ, tha là phương khác. Vì km nhớ lại  một kỷ niệm cách đây hơn bốn chục năm, lúc đó km thường cùng ba mẹ và cô Tuệ Mai ( cố nữ sĩ Tuệ Mai) họp ở nhà chú PTT đang sống cùng mẹ của ông, căn nhà mà ông gọi là Động hoa vàng, trước ngõ là một giàn hoa vàng anh mà tới thì như phải đi chậm lại vì cái đẹp của nó, ở đó một lần trên căn gác thơ, km đã nghe ông bảo: km nhìn ra cửa sổ xem, km thấy gì? Một cảnh tượng rất đẹp, cả đàn cò trắng trên cánh đầm cạn trong nắng chiều. Đẹp lắm, nhất là đối với một con bé thành thị ít dịp thấy cò. Ông nói, đó là thi hứng của ông “và km biết không cả khi chúng bay đi thì hình ảnh đó vẫn lung linh ở đó…”,  do ông nói vậy mà em cảm nhận hai câu thơ đầu, cò đuọc thi hoá bằng nhạn để liên tưởng đến mùa Xuân và cho dù đàn nhạn có bay đi thì màu trắng kia là “Như lai thường trụ” sắc Xuân.

Cũng nói ở đây ý của em, vì với thời gian quen thân và cũng nói đến thơ nhiều nên em hiểu với tính cách của ông, hai câu tiếp theo cũng chỉ là hình ảnh thơ  mộng ẩn dụ của mùa xuân chứ không mang hình ảnh hiện thực nào, vì như vậy, nó sẽ không đủ sức để mở đầu và chở cả nội dung Động Hoa Vàng. Đó là trực cảm của em không giải thích được, e rằng sẽ rơi vào phân biệt. Chỉ biết rằng nếu hỏi em

Mười con nhạn trắng về tha

Như lai thường trụ trên tà áo xuân 

có hay không, thì em sẽ gật đầu ngay. Hỏi vì sao hay thì em sẽ trả lời không biết. Thế là hay, phải không thưa anh?

ĐHN

Cảm ơn Km. Đúng vậy. Thế mới là thơ. Như họa. Mỗi người tùy cảm nhận riêng của mình mà “thấy” “nghĩ” khác nhau. Cái đó nó do những “tập khí” tích lũy từ trong Alaiya thức, chuyển qua Mạt-na thức với cái “ngã” của mình xen vào trong đó. Nhờ vậy mà cõi Ta-bà trở nên thú vị phải không?

Một nhà ngôn ngữ học:

Ý kiến của Thu Trân không thuyết phục: (1) Tha trong tiếng Hán có 22 chữ khác nhau (mà riêng 差 đã có 20 nghĩa), nói có 3 nghĩa, thì khó chấp nhận; (2) Cho dù muốn gán tha trong câu thơ Phạm Thiên Thư có nghĩa là “thư thả, ung dung tự tại”, tức là chữ 佗, thì không phải đã ổn: đây là chữ Hán, chỉ có trong tiếng Hán, chứ không phải Hán Việt, tức là loại chữ Hán có mặt trong kho từ vựng tiếng Việt. Quả vậy, trong tiếng Việt, không xuất hiện bất kỳ từ nào có tha với nghĩa là “thư thả, ung dung tự tại” cả.

Ý kiến của Đỗ Hồng Ngọc cũng thế: (1) Động hoa vàng xuất bản năm 1971, của một Phạm Thiên Thư thi sĩ, chứ không phải một Phạm Thi Thư thầy thuốc với môn dưỡng sinh điện công Phathata sau này; (2) Mà cho dẫu người đọc cố hiểu tha ở đây là là viết tắt của thân đi nữa, thì không khỏi đối mặt với câu hỏi: Có thật Phạm Thiên Thư khi viết Mười con nhạn trắng về tha / Như Lai thường trụ trên tà áo xuân / Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền / Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm là muốn nhìn người con gái trong con mắt của một thầy thuốc (dùng nhân điện) cứu người? Hay là của một thi nhân tu sĩ, tôn sùng vẻ đẹp cơ thể của người con gái, có làn tóc như “suối tơ huyền” sau bờ “vai nghiêng nghiêng”, và trên “miền tuyết thơm” là bộ ngực tròn đầy “đôi gò đào nở”, đến nỗi nghĩ rằng “trên tà áo xuân” bao giờ cũng hiện thân Đức Phật “Như Lai thường trụ”?

Mình nghĩ tha ở đây là “mang” (như trong thành ngữ Kiến tha lâu cũng đầy tổ), gốc Hán 佗 (lưu ý viết cùng tự dạng như chữ tha với nghĩa là “thư thả, ung dung tự tại”). Nhưng tha gì? “Tha Như Lai”. Tức phải hiểu đây là trường hợp thơ vắt dòng (enjambment). Mười con nhạn trắng “tha Như Lai” để ngài “thường trụ trên tà áo xuân”!

Hy vọng góp được một kiến giải mới, có ích.

ĐHN 

  1. Mười con nhạn trắng về tha. Bạn bảo “Tha Như Lai” để về “thường trụ trên tà áo xuân…” (tội nghiệp Như Lai hết sức!). Bài thơ Động hoa vàng PTT làm năm 1971, thời đó đã có nhiều thơ “vắt dòng” ở VN chưa nhỉ? Và không lẽ PTT chỉ “vắt dòng” mỗi một lần đó thôi sao?
  2. Mình nghĩ PTT đã chịu ảnh hưởng cách chữa “thân bệnh” từ nhỏ (với người cha là thầy thuốc bắc), rồi đi tu (1964-1973) thì chịu ảnh hưởng thêm cách chữa “tâm bệnh” từ Phật giáo, từ đó mà đề ra phương pháp chữa bệnh Phathata (kết hợp Pháp-Thân-Tâm), đã có thể hình thành rất sớm, trước khi viết Động hoa vàng (1971) chăng?

Dù sao, bài thơ rất hay, bay bỗng… (thử đọc thêm đoạn kết) của nhà thơ rất… “ỡm ờ, rất thiền mà rất sex” này như Thu Trân nhận định.

Một người bạn:

Đọc thơ mà chỉ vụ vào từng chữ thì khó cảm nhận ý nghĩa lắm. Ví dụ, cứ truy từ điển rằng “tha” là khác, là thư thả rồi đoán mò thì rất dễ suy diễn. Nhỡ như một lúc nào đó tìm được bản gốc thấy tác giả viết là “về qua” hay “về thu”, mà nhà in in nhầm, thì phá sản hết.

Hiểu là “tha Như Lai” thì cụ thể, lộ bài quá, mà hơi vô lễ nữa. Mà hình như ông PTT cũng chưa lần nào dùng thủ pháp enjambement (dù thủ pháp này đã phổ biến từ thời Thơ Mới 1932-1945 với Thế Lữ, Xuân Diệu…)

Vì đây là câu thơ đầu bài nên phải ráng cắt nghĩa, chứ các ông nhà thơ nhiều khi viết cũng tùy hứng lắm (Ví dụ, Nguyễn Đình Chiểu: Vợ Tiên là Trực chị dâu).

Mình vẫn giữ cách hiểu “ấn tượng”: bầy chim nhạn trắng “về tha” là đem về, mang về cái hình ảnh của Đạo. Và Như Lai thường trụ trên tất cả cảnh vật ấy, cả trong hình ảnh của mười con nhạn trắng.

Một người bạn:

Mình hiểu hơi khác. Tu sĩ Phật giáo thì một trong những giới cấm đầu tiên là sắc dục. Thế mà tu sĩ Phạm Thiên Thư nhìn cô gái trong con mắt đắm đuối (thị dục) như thế, thì “tha Như Lai thường trụ trên tà áo xuân” chính là điểm nhất quán của thơ, là cái hay của bài thơ. Nhưng trong ý kiến của hai bác có một điểm hợp lý, buộc mình phải kiểm tra lại: Phạm Thiên Thư có lần nào khác làm thơ vắt dòng không?

ĐHN

1.”Nhỡ như một lúc nào đó tìm được bản gốc thấy tác giả viết là “về qua” hay “về thu”, mà nhà in in nhầm, thì phá sản hết”.

Bạn viết câu này làm mình giật mình! Trong cõi văn chương đã xảy ra không ít trường hợp nhờ sai “bản vỗ” mà câu thơ bỗng hay hơn!

  1. Về thủ pháp “vắt dòng” thời Thơ Mới chỉ là một cách “lạ hóa” chớ chưa phải là một trường phái Tân hình thức như ngày nay.
  2. Cái “sex” (tính dục) trong mấy câu thơ này… không chỉ là “thị dục”.

 Nguyễn Lệ Uyên

Hình như triết lý nhân sinh luôn bàng bạc trong thơ PTT, nhuốm đầy màu sắc thiền tính, phả hơi thở sâu thăm thẳm vào thơ… và đã làm cho những câu thơ lung linh hơn, đẹp hơn.

Anh Ngọc này,

Theo tôi, thơ PTT không phải là thơ tình như DTL, NTN… ở đó, là những tâm cảm phóng ra từ những rung động khi chạm nhẹ vào những hốc khuyết, những tròn căng “Anh theo Ngọ về/ Chiều mưa nho nhỏ“…

Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền 

Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

chứng tỏ PTT đứng trên hiện sinh thường ngày khi nhìn thấy, cảm thụ và thốt ra đôi gò đào nở, trên bình diện gần như một công án (thầy tu cõng thiếu phụ qua sông mùa lũ xiết).

Tóm, đời thường bên ngoài, từ thiếu nữ, bông hoa, cô gái lên chùa, những em… trong thơ PTT đều bay lên tầng cao thẳm từ cái Tâm đã được định, không lung lay, xao động.

Nhật Chiêu

Theo tôi, “THA” ở đây là “tha ngộ” (khác với “tự ngộ”). Mười con nhạn trắng là mười phương cõi Phật đã giúp thi sĩ “ngộ” ra Như Lai (Tathata) vẫn “thường trụ” trên tà áo xuân, trên suối tơ huyền, trên đôi gò đào nở…

T.T

Chỉ một từ “tha” mà anh “bóc trần” được thi sĩ, tu sĩ PTT rồi. Bài dạng nghiên cứu đọc hay, vui, lý thú.

…………………………………………………….

 

Chân thành cảm ơn các bạn.

Tôi nghĩ rằng, đây cũng là dịp để những bạn yêu thơ đọc lại Pham Thiên Thư!

Đỗ Hồng Ngọc

Mùa giãn cách Cô-vi

Saigon, 15.06.2021

 

Đỗ Hồng Ngọc và Phạm Thiên Thư, 2/2011 tại Cafe Hoa Vàng, Quận 10 Tp.HCM. (Ảnh Đặng Văn Hiệp)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định

Mùa Côvi: Nhắc chuyện Độc cư/ Thiền định/ Kham nhẫn/ Tri túc

02/06/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Ghi chú: Một người bạn nơi xa đề nghị mùa Côvi hoành hành này hãy post lại bài Độc cư/ Thiền định/ Kham nhẫn/ Tri túc… nhắc nhau nhé.

Nên 3 chén sắc còn 7 phân vậy.

Thân mến,

ĐHN.

 

Độc Cư

 

 

Lúc dịch bệnh tràn lan như vầy thì lời khuyên tốt nhất là nên “ở nhà một mình” (Home Alone, nhớ không?). Mọi người nên “Stayhome” trong “Homestay” của mình. Bất đắc dĩ mới phải ra đường khi thật sự cần thiết.

Độc cư nhiều khi dễ căng thẳng, buồn chán, dễ gây lộn, dễ “phá thành sầu” bằng chai alcool (không phải để sát khuẩn) mà để sinh sự cho sự sinh.

Phật giảng một bài rất hay trong kinh “Người biết sống một mình”. Đó là người sống với cái Tâm tĩnh lặng, trong sáng, không bị “trôi lăn” (cuốn) vào dĩ vãng hay tương lai bởi “dĩ vãng đã qua rồi/ tương lai thì chưa tới”. An nhiên tự tại với “ở đây và bây giờ” (here and now).

Một người chui vào phòng kín, nhập thất, hoặc lên núi cao cất cái chòi nhỏ… để sống mười năm chưa chắc đã là “độc cư” khi trong lòng còn mang mang : quân tử trả thù mười năm chưa muộn…

 

Thiền định

 

(internet)

 

“Nếu không đi ra ngoài được thì hãy đi… vào trong”

Lục tổ Huệ Năng bảo: Ngoài không dính mắc là Thiền/ Trong không lay động là Định.

Vậy thì đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền cũng định.

Còn Trần Nhân Tông thì bảo:

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

Trước cảnh mà tâm vẫn an, vẫn tịnh, thì chẳng cần hỏi chi tới Thiền!

Cho nên để có thể có tâm an tịnh, thiền là một cách thế trong rất nhiều cách thế. Ngày nay, y học và tâm lý trị liệu… cũng nghiên cứu ứng dụng Thiền để chữa trị những thứ bệnh thời đại. S.A.D (Stress: căng thẳng; Anxiety: Lo âu, sợ hãi; Depression: trầm càm), nghiện ngập, rối loạn chuyển hóa, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn hành vi… đã mang lại nhiều kết quả khả quan. Dĩ nhiên, đó chỉ mới là một phần ứng dụng của Thiền, chưa phải là thiền Phật giáo.

Dù sao, thiền cũng là cách giúp mình được an nhiên, tự tại… trong tình hình đầy hoang mang căng thẳng lúc dịch bệnh đang hoành hành.

 

Kham nhẫn 

Kham là chịu, nhẫn là nhịn.

Trong các yếu tố khiến “kham không nổi” thì “khẩu” (Lời nói) là yếu tố quan trọng nhất. Đã đành “ý dẫn các pháp”, nhưng ý chưa thể hiện thành hành vi. Khẩu mới ầm ỉ, náo nhiệt, là đầu mối sinh sự, gây chiến! Cho nên Phật dạy con mình là La Hầu La rất kỹ về “khẩu nghiệp”: Không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói lời hung ác… Rồi dạy con phải học hạnh của Đất để “nhẫn”: ném một thỏi vàng hay một đống rác xuống đất, đất vẫn « như như bất động »…

Nhưng “kham nhẫn” trong lời khuyên của Phật thì không chỉ là sự chịu đựng, “nhịn nhục” với cái đáng giận, đáng ghét mà còn phải “kham nhẫn” cả với những đường mật, mê say vì dễ dẫn ta tới tham ái, chấp thủ.

“Kham nhẫn” với giận với hờn còn dễ hơn kham nhẫn với nhớ, với thương, phải không?

 

Tri túc

Tri túc là Biết đủ. Nhưng thế nào là đủ? Làm sao để biết đủ?

Lòng tham vốn không đáy. Lúc nào cũng muốn muốn muốn. Nào vạn tuế vạn vạn tuế, nào muôn năm trường trị, nhất thống giang hồ, trường sanh bất tử…

Mà càng tham thì càng thấy thiếu. Người đẹp muốn đẹp hơn. Người giàu muốn giàu nữa. Người quyền chức thì muốn càng cao thêm mãi.

Nguyễn Công Trứ bảo: Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc? Biết đủ thì đủ! Đợi đủ bao giờ mới đủ? Bao giờ nghĩa là… còn lâu!

Ưng Bình Thúc Giạ Thị thì bảo:

Biết đủ dầu không chi cũng đủ

Nên lui đã có dịp thì lui… 

Cho nên Tri túc luôn đi đôi với Thiểu dục. Thiểu dục Tri túc. Bởi người it ham muốn thì may ra mới thấy là đã đủ, nghĩa là thôi, đủ rồi đó!

Nhưng, nói thì dễ, mà làm thì không dễ chút nào bạn ơi!

 

Đỗ Hồng Ngọc.

(2.6.2021)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Hồ thị Hoàng Anh: “Bà mẹ nuôi con khỏe”

21/05/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Loạt bài Mỹ nhân xứ Huế của Thái Lộc trên báo Tuổi Trẻ kỳ 5 viết về Hồ thị Hoàng Anh…

Một người bạn gởi lại tôi bài viết “Bà Mẹ nuôi con khỏe” này của Hồ thị Hoàng Anh đã đăng trên www.dohongngoc.com, nhân buổi Hội ngộ – Tâm tình về cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng do HQCBM tổ chức tại nhà GS Trần Văn Khê (2012).

Xin chia sẻ.

Thân mến,

ĐHN

 

“Bà mẹ nuôi con khỏe”

Hồ thị Hoàng Anh

 

Mấy ngày nay Hoàng Anh đang ở Mỹ, sáng nay lang thang vào trang web của Việt Nam tình cờ thấy bài của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc “ Vài chuyện kể về cuốn sách viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”. Đọc đến đoạn cuối bs Đỗ Hồng Ngọc có nhắc về cuộc thi  “Bà mẹ nuôi con khỏe” cấp thành phố năm 1985 tại hội trường bệnh viện Từ Dủ. Mà lần đó Hoàng Anh cùng con trai là Nguyên-Giáp dự thi rồi được giải nhất. Thật là một kỷ niệm vui.
Ở gần chùa nên khi nào rảnh là Hoàng Anh xin vào thư viện chùa để đọc sách , mới biết rất nhiều tập san Phật Giáo Việt Nam ở đây có đăng bài của bs Đỗ Hồng Ngọc. Đặc biệt trong số báo Phật đản xuất bản cách đây mấy ngày có đăng bài “ Nói không được”.
Mấy năm trước khi qua làm việc ở Nhật Bổn thì thấy sách của bs Đỗ Hồng Ngọc dịch ra tiếng Nhật được nhiều độc giả người Nhật đón nhận . Rồi đến khi Hoàng Anh đến Mỹ thì thấy sách bs Đỗ Hồng Ngọc xuất hiện nhiều trong các thư viện của người Việt ở đây. Chứng tỏ có nhiều thế hệ độc giả người Việt ái mộ tác giả vừa là bác sĩ vừa là nhà văn tài hoa này…
Khi nào nghĩ về cuộc thi “bà mẹ nuôi con khỏe” lần đó Hoàng Anh cũng hân hoan, rồi cũng có chút chút “ngưỡng mộ” về mình : là tại sao hồi đó mình còn rất trẻ mà đã rành rọt biết cách chăm sóc con đến vậy?
Thật ra “ bí mật” để làm được điều kỳ diệu đó chỉ vì Hoàng Anh là độc giả lâu đời của tác giả Đỗ Hồng Ngọc! Là con gái Huế chính tông,  Kể từ khi bắt đầu “nứt vỏ” để lớn lên bên giòng sông Hương núi Ngự trở thành o thiếu nữ là tâm hồn đã biết rung cảm với ca từ và giai điệu của âm nhạc Trịnh Công Sơn, cũng là lúc Hoàng Anh biết bắt đầu say sưa với cuốn “ Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò”. Khi đến tuổi lập gia đình có con thì nghiền ngẫm “ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”. Khi con lớn vào đai học rồi thì nhâm nhi “ Gió heo may đã về”. Bây giờ con tốt nghiệp đại học rồi, có thời gian hơn thì thong thả với “ Như thị”, với” Nghĩ từ trái tim” bs Đỗ Hồng Ngọc viết về Bát Nhã Tâm Kinh…
Cuộc thi “ Bà mẹ nuôi con khỏe” lần đầu hồi đó vào những năm đất nước còn khó khăn, xã hội ít tổ chức những sự kiện văn hóa lớn. Nên cuộc thi” Bà mẹ nuôi con khỏe” cấp thành phố hồi đó là một trong những sự kiện sôi nổi .
Nhìn lại những tấm hình trong cuộc thi. Hoàng Anh thấy mình hồi đó còn rất trẻ mà cũng hơi xinh xinh. Đã 26 tuổi và là mẹ của hai đứa con rồi mà vẫn còn vương nét sinh viên, rất khỏe khoắn trong trang phục quần jean xanh- áo sơ-mi vải màu trắng, dưới chân thì giản dị đeo đôi guốc mộc, trên đầu là một mái tóc dài xanh ngời bối thành củ tỏi vắt sau ót .
Khi Hoàng Anh vác trên vai đứa bé trai bụ bẩm khóc oe oe lên nhận giải trên sân khấu, hình ảnh đó làm cả hội trường cười òa. Phóng viên thì tha hồ tác nghiệp phỏng vấn bà mẹ và quay phim chụp hình em bé đọat giải.
Vì là bà mẹ thi được điểm cao nhất nên Hoàng Anh hân hạnh được người thầy thuốc mẫu mực là Viện sĩ,Tiến sĩ Dương Quang Trung trao giải thưởng tận tay. Rồi trong thùng quà thưởng to tướng, bên cạnh nhiều vật dụng xinh đep dùng cho trẻ em thì có card viết tay chúc mừng của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa hồi đó làm giám đốc Trung tâm Nhi thành phố. Khi được phỏng vấn “làm sao trả lời giỏi vậy?” Hoàng Anh nói “là nhờ đọc sách của bs Đỗ Hồng Ngọc đó”.

Bà mẹ Hoàng Anh, Bs ĐHN và "bé" Nguyên Giáp trong buổi Hội ngộ, Tâm tình về cuốn VCCBMSCĐL do HQCBM tổ chức tại nhà GS Trần Văn Khê (2012).

Bà mẹ Hoàng Anh, Bs Đỗ Hồng Ngọc và “bé” Nguyên Giáp trong buổi Hội ngộ, Tâm tình về cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” do Hội quán Các Bà Mẹ tổ chức tại nhà GS Trần Văn Khê (2012).

 

Em bé Nguyên-Giáp bụ bẫm ngày nào, nay đang rất bận rộn với công việc của một cậu sinh viên trường Y năm cuối. Là tất bật với bài vở,với những môn thi, với những đêm thực tập thức trắng ở bệnh viện…
Cuộc thi “ Bà mẹ nuôi con khỏe” năm nào, chớp mắt thôi đã 1/4 thế kỹ! Cũng mới thôi!

 

(03/06/2010)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp)

23/04/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

Một chuyến về thăm quê ngoại,

Anh Hai Trầu, Nguyệt Mai, Khánh Minh… và mấy bạn bên đó ai dè đã đọc ngay thư gởi bạn xa xôi về chuyến đi Xuyên Mộc mừng tuổi 91 của anh Trụ Vũ, và riêng anh Hai Trầu còn bảo sẽ kể chuyện ngày xưa mấy lần về Phan Thiết quê mình cho nghe nữa! Còn ông bạn GS Nguyễn Thế Hùng ở Đàlạt kêu sao không gọi cho anh đi với, vì anh rất quý ông Trụ Vũ. KMM ở Dran, DT… ở Cà Ná cũng đã đọc… Tóm lại, hóa ra lâu nay cứ nghĩ thời buổi này ai còn có thì giờ mà đọc… những chuyện “linh tinh” là một sai lầm lớn! Nói khác đi, cứ nên tiếp tục lai rai cho vui.

Mình mới về quê nội, Lagi (Hàm Tân xưa), rồi ghé về thăm quê ngoại ở Tam Tân, Phong Điền, Hiệp Nghĩa (nay là Tân Thuân, Hàm Thuận Nam) không xa lắm. Gởi bạn vài tấm hình với lời chú thích thôi nhe.

Với Phùng Minh Bảo ở Sông Xoài, Châu Đức. Bảo và Thùy Linh, cặp vợ chồng trẻ đã sớm tìm đường về… quê làm vườn thay vì mấy năm nay bươn chãi làm ăn ở phố thị. Hình như có một “phong trào” các bạn trẻ (trên dưới 40) bỏ phố về quê sống với tháng năm thanh bình… Bảo & Thùy Linh 12 năm trước đã bế con còn đang bú đến gặp “chú Ngọc”, đề nghị giúp chú làm một trang Web để lưu trữ và chia sẻ cùng bạn bè… Vậy mà đã 12 năm rồi đó. Cô bé bú mẹ năm nào giờ cao lớn hơn mẹ. Cậu con trai thì sắp thi tốt nghiệp PT. Giai đoạn đầu, đã phải nhờ Bảo-Linh chăm sóc www.dohongngoc.com, sau học hỏi dần rồi mình cũng tự làm được các thứ, kẹt lắm mới phải hỏi…

 

 

 

 

 

 

 

 

Vườn rau của Phùng Minh Bảo & Thùy Linh ở Sông Xoài, Châu Đức (gần nhà cũ của Nguyễn Minh Tiến).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bến Ván, Láng Găng (Bình Châu). Những năm 7,8 tuổi, mình từng sống vùng này (tản cư từ Lagi). Những địa danh Láng Hàng, Giếng Ngự, Bưng Riềng, Rừng Khỉ, Hồ Tràm… không xa lạ, cũng như bệnh Sốt rét rừng, suy dinh dưỡng vốn rất thân quen… Đi về phía Nam thì Xuyên Mộc, Bà Rịa với hồ Bà Tô, phía Bắc thì có Suối nước nóng Bình Châu giờ là khu du lịch có tiếng. Người bạn thân cùng tuổi cùng thời nơi đây là nhà văn Trần Yên Thảo (Trần Ngọc Minh), giờ gặp nhau vẫn nhắc “hồi đó…” chuyện hơn 70 năm trước!

 

Farmstay của Trí & Đông tại Cam Bình, Lagi. Thanh bình, yên tĩnh. Hồ nước đen ngòm vì vùng đất này rất nhiều titan (*).

 

 

 

Chiếc cầu tre dẫn vào khu tập thiền, yoga thanh tịnh.

 

Dốc Trâu, Bàu Giòi (Lagi), với hàng ngàn chiếc thuyền thúng. Vùng này nơi xưa có Giếng Nguồn Chung do nhóm Hướng đạo sinh xây năm 1944.

 

Không lần nào về quê mà không ghé Đập Đá Dựng. Xưa còn có một ngôi nhà thủy tạ phía trên đâp, đã sụp đổ. Quán càphê có nước dừa tươi rất ngon.

 

 

 

 

Đập Đá Dựng, Lagi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một mình trên bãi biển mênh mông quê ngoại. Mõm Đá Chim (Ngãnh Tam Tân). Xa thật xa là “Hòn Bà nên thơ giữa sóng trùng dương, mấy kiếp gió sương… Lagi tay chài tay lưới có những mùa trăng sáng cát trắng đẹp bờ vai…” (Bình Tuy, ca khúc của Trúc Phương).

 

Cậy hàu là một… nghệ thuật, rất dễ bị đứt tay.

 

 

 

Và mùa đầy rêu xanh…

 

Tam Tân, sinh quán của cậu Nguyễn Hữu Ngư (nhà văn Nguiễn Ngu Í) cũng dần đô thị… hóa! Tìm nhà Bà Năm, má cậu Năm Chi có cái giếng nước ngọt nổi tiếng cả vùng này cũng không còn dấu vết…

 

 

Một chiếc gant tay của người đẹp tiền sử khổng lồ nào bỏ quên trên bãi cát mênh mông… (Ngãnh Tam Tân)

 

 

 

 

 

 

 

Đường làng về nhà ngoại hôm nay (Phong Điền, Hiệp Nghĩa, thuộc Hàm Thuận Nam). Ngày xưa là con đường đất nhỏ hẹp, quanh co, cỏ ngập hai bờ, với những rặng tre kẽo kẹt có nhiều ma gáo… nhiều chỗ phải ù té chạy rợn tóc gáy…

 

Giếng nhà ngoại, một giếng nước ngọt cả vùng gánh về uống, nay đời cháu chắt đã phá bỏ, xây thành cái hồ chứa nước rộng để tưới thanh long… Xưa nơi này là một khu vườn dừa, cau, chuối rập rạp, nay trống huơ trống hoắc, chỉ còn… thanh long là thanh long (làm kinh tế). Xa xa kia là núi Tà Cú, nơi có Linh Sơn Trường Thọ Tự, sắc tứ thời Tự Đức. Mình ở đây lúc 10 tuổi, đi học trường Gò Ông Nồm (Nam Bình), hàng ngày Mợ Năm (Nghê Nhã Ý, em ruột của Mẹ) gói cho một nắm cơm mo cau với một con cá khô nướng, trưa ăn ở trường bên cạnh các hầm trú ẩn chữ V chữ U… để khi có máy bay đến thì kịp nhảy xuống tránh bom.

 

May thay còn có cây khế ngọt để nhớ “quê hương” (ĐTQ). Khắp nơi thanh long là thanh long, chẳng còn dừa, cau, chuối, bưởi, cam, quít… gì nữa cả! Làm sao không chút ngậm ngùi chốn xưa?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hẹn thư sau,

Đỗ Hồng Ngọc

(23.4.2021)

…………………………..

(*)  Titan hay titanium là một nguyên tố hóa học, một kim loại, có ký hiệu là Ti và số thứ tự trong bảng tuần hoàn là 22. Titan là một kim loại chuyển tiếp, tỉ trọng thấp và độ bền cao, không bị ăn mòn trong nước biển, nước cường toan và clor. (theo Wikipedia). Bình Thuận là tỉnh có nhiều khoáng sản Titanium.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Uncategorized, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi,

20/04/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Nhà thơ, nhà thư pháp Trụ Vũ, mừng tuổi 91

 

 

Sáng nay báo Tuổi Trẻ có mấy dòng tin ngắn về buổi Họp mặt mừng tuổi 91 của nhà thơ, nhà thư pháp Trụ Vũ tại Xuyên Mộc, Bà Rịa – Vũng Tàu. Một người bạn từ phương xa đã hỏi thăm. Một vài bạn còn trách sao lâu quá, chẳng thấy thư từ gì cả, chẳng thấy cập nhật gì mới trên dohongngoc.com cả vậy!…

Phải xin lỗi bạn thôi. Thú thiệt, từ ngày bước vào tuổi 80, mình ngày càng biếng nhác  thấy rõ từng ngày, từng ngày. Khớp bắt đầu đau, không còn lên xuống cầu thang dễ dàng như trước, mà phải chân này giúp chân kia… T, một người bạn thân hẹn đi cà phê, phone xin lỗi, “mặc quần không được” vì co chân khó qúa. M, kêu tay trái giơ lên mặc áo cũng khó. Bạn nữa quên ngày giờ hẹn… Còn mình, từ ngày viết Để Làm Gì thì cứ luẩn quẩn mấy chữ “để làm gì” trong đầu đó vậy!

Cái gì vậy? Thì ra, chuyện bình thường của lứa bọn mình đó thôi. Cho nên nghe 5 Hiền bớt đau lưng đã ngồi được vào máy để gõ. Mừng. Thấy Hai Trầu loanh quanh  săm soi mấy trái bưởi trái khế trong vườn. Mừng. Phạm Văn Nhàn viết meo cho hay vừa nghe đọc trên đài Long An một truyện ngắn đặc sắc của anh… Mừng.

Anh Trụ Vũ kêu con gái Út, Linh Thoại gọi điện cho chú Ngọc để rủ đi Xuyên Mộc chơi với Ba một chuyến, nhân các bạn “văn nghệ” học trò anh tổ chức một đêm ca nhạc mừng tuổi 91 của anh, có Bs Võ Văn Thành, có nhà giáo Đoàn Văn Điện, có nhà thơ Hạnh Phương từ Long Khánh, nhà phê bình văn học Đăng Lan từ Saigon, Ni cô Trung Hiếu từ Bình Long… Vậy thì đi chớ, sao không!

Phải nói buổi Họp mặt mừng tuổi Trụ Vũ thiệt vui và thiệt cảm động. Anh Trụ Vũ hơn mình có 9 tuổi, Đoàn Văn Điện hơn mình 4 tuổi (anh xưng tên là “Điên nặng”, dân gốc Tuy Hòa, bạn của Trần Huiền Ân và thế nào cũng họ hàng với Đoàn Hùng- nhà văn Nguyễn Lê Uyên). Bs Võ Văn Thành thì tuổi Sửu, nhỏ hơn mình… 9 tuổi, Hạnh Phương tuổi Tí… Khi người ta già thì người ta hay hỏi tuổi của nhau như vậy. Với mình, hỏi còn là để học tập kinh nghiệm sống, kinh nghiệm giữ gìn sức khỏe, chia sẻ về cái ăn, cái ngủ, cái tập rèn thể lực, tu tâm dưỡng tánh… Bs Thành thì thở bụng, Gs Điện thì ngàn cái phất tay dịch cân kinh… Đại khái vậy.

Anh Trụ Vũ, bị tai biến 3 năm trước mà nay đã đi lại được, nói năng hơi khó, nghe càng khó. Thiên Anh con gái, kề tai anh… phiên dịch những gì cần thiết cho nghe. Vậy mà trên chuyến xe, anh còn viết thơ Nhất Hạnh tặng Bs Thành, bàn về thơ Phạm Thiên Thư, đọc cuốn sách mình mới tặng Như không thôi đi được (Những bài viết về thơ Đỗ Hồng Ngọc)… Anh mở đọc ngay bài Nguyễn Thị Khánh Minh, bài Nguyễn Thị Tịnh Thy v.v… Thiệt không ngờ một ông lão trên 90! Hình như nhờ có thơ có văn mà người ta hạnh phúc vậy. Những lúc yên lặng, thấy ông quơ quơ tay lên không thì Linh Thoại giải thích Ba đang làm thơ hoặc viết thư pháp gì đó chú Ngọc ạ.

Thôi, mình sẽ gởi theo đây ít hình ảnh (và chú thích) để bạn xem vui thôi nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(20.4.2021)

 

 

 

 

 

 

 

Ông già 91 tuổi ngồi trên xe hơi đang chạy mà vừa viết vừa đọc ngon lành, thiệt là đáng nể phục.

 

Hội trường khá đông, có trên 60 người đến từ nhiều nơi vì yêu mến nhà thơ, nhà thư pháp Trụ Vũ, tối 17.4.2021 tại Xã Phước Tân, Xuyên Mộc, Bà Rịa-Vũng Tàu.

Hàng đầu từ trái: Hạnh Phương, Đoàn Văn Điện, Võ Văn Thành, Trụ Vũ (ảnh ĐHN)

 

Xuân Thế, người “ca thơ” Trụ Vũ (ảnh ĐHN)

 

 

 

Rất nhiều ca khúc đã được trình bày đêm đó, ngoài những bài hát phổ thơ Trụ Vũ,  còn có Tình Hoài Hương, Gửi gió cho mây ngàn bay, Ô mê ly, Nguyệt Cầm… Từ 8h đến hơn 11 giờ đêm mới vãn!

 

Ca sĩ Bảo Thuyên (ảnh ĐHN).

 

 

Nhà phê bình văn học Đăng Lan nói về thơ Trụ Vũ.

ĐHN tặng “quà” cho Trụ Vũ. Mấy dòng chữ viết vẽ về Trụ Vũ 20 năm trước không ngờ được Thiên Anh còn giữ kỹ đến hôm nay.

 

Các bạn trẻ yêu thơ, thư pháp Trụ Vũ đã không quên “Mừng Tuổi” ông hôm nay.

Một bài thơ của ĐHN do Trụ Vũ viết thư pháp (2005): Hôi An sớm/ Hôi An còn ngái ngủ/ Mái chùa ôm vầng trăng/ Giật mình nghe tiếng chổi/ Gà gáy vàng trong sương (ĐHN)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Viết thêm:

Lâu lâu mới có dịp về Phước Bửu, Xuyên Mộc nên mình đã không quên đưa mấy người bạn ra hồ Bà Tô uống cà phê và nước dừa tuyệt ngon (trước khi vào buổi Giao lưu mừng tuổi anh Trụ Vũ).

Hình từ trái: Đoàn Văn Điện, Hạnh Phương, Đỗ Hồng Ngọc, Võ Văn Thành.

Gởi hình cho nhớ nhe.

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 4
  • Trang 5
  • Trang 6
  • Trang 7
  • Trang 8
  • Interim pages omitted …
  • Trang 41
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • VU LAN Bông Hồng Cho Mẹ
  • Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU
  • Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • đỗ hồng ngọc trong Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • Đồng xuân trong Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • Đỗ Châu Việt trong Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Minh Lê NT trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Đỗ Tú Quyên trong Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email