Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Thư gởi bạn xa xôi (9.2023 tiếp)

27/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (9.2023 tiếp)

Bạn thân mến,

Thứ bảy rồi, 23.9.23 mình có buổi “Trò chuyện” cùng các bạn trong Lớp Phật học & Đời sống ở chùa Xá Lợi, Tp. HCM. Lớp được Thầy Đồng Bổn trụ trì chùa Phật học Xá Lợi cho phép thực hiện từ 2017, đến nay cũng đã được 6 năm rồi chớ ít gì! Trước kia, tuần nào mình cũng có một buổi trao đổi rất “sôi nổi” vói các bạn, với sự trợ giúp của Cư sĩ Minh Ngọc và Cư sĩ Trí Tâm (Tô Văn Thiện). Các buổi thảo luận Phật pháp “ứng dụng” vào Đời sống này còn được Nguyễn Văn Quyền quay video clip đưa lên youtube với hơn 50 buổi để chia sẻ cùng bạn bè ở xa hoặc chưa có cơ hội đến lớp. Lúc đầu mình đặt tên lớp là “Lớp Lỏng Lẻo”, nghĩa là ai muốn học thì đến, cùng học, cùng chia sẻ với nhau, không ghi danh, không học phí… vậy mà cũng khá đông các bạn tham gia tích cực. Vài năm nay mình đã “già yếu”, không còn đến Lớp thường được như xưa, anh em bạn bè nhắc…

 

Buổi sinh hoạt Phật học & Đời sống ngày Thứ bảy 23.9.2023 tại chùa Phật học Xá Lợi.

Mình đọc một bài Thơ của Thầy Thích Từ Thông, Như Huyễn Thiền sư để các bạn cùng thảo luận. Thầy Từ Thông, sinh 1927 tại Trà Vinh, nay đã 96 tuổi, ở Lâm Đồng. Xưa, có lần được gặp Thầy ở Tân Uyên, Bình Dương lúc thầy hãy còn trẻ, ngoài 70. Lần đó thầy bảo sách của thầy đầy tủ, muốn lấy cuốn nào thì lấy. Lúc đó mình ôm cũng chừng 5,7 cuốn “Trực Chỉ” của Thầy, giảng kinh rất sâu sắc mà phóng khoáng. Thầy đã từng là Hiệu trưởng Trường Phật học Trung Cấp nhiều năm.

Thầy có bài thơ gần đây rất thú vị, nói về chuyện “tụng”:

Ta và Nó (Lời than của Phật)

Ta nói Kinh cho chúng nó nghe

Ai dè chúng Tụng bắt Ta nghe

Tuổi già tám chục nghe gì nữa?

Chín tiếng ngồi trân sụm bánh chè!

(Như Huyễn thiền sư).

Phật “nói” ra thì đã thành Kinh sách. Nói để dạy Đạo, dạy cách sống, giải thoát khổ đau cho kiếp người. Khi Phật nhập Niết bàn, được các đệ tử ghi chép lại thành Kinh. Bây giờ thiên hạ “tụng” không ngớt và mỗi lần Tụng kinh thì “thỉnh Phật” chứng giám. Đã mấy ngàn năm qua, người ta vẫn tụng, vẫn thỉnh Phật để Phật cùng “nghe”. Tuổi 80, Phật nhập Niết bàn, vẫn phải tiếp tục ngồi nghe… đến bây giờ!

Thầy Như Huyễn Thiến Sư gốc Trà Vinh, lời thơ có những từ rất Nam bộ như “bắt Ta nghe”, “sụm bánh chè” rất thú vị. Ngồi “trân” là ngồi ngây đơ,cứng ngắt, đứng dậy sụm đầu gối…

Vấn đề thảo luận là nên đọc Kinh cách nào cho hữu ích? Nhớ rằng, nhờ đọc kinh ê a mà tâm lắng đọng, nhờ đọc kinh to tiếng mà Huệ Năng nghe trộm câu Kinh “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà giác ngộ. Nhưng nếu đọc Kinh mà thành mê tín, dị đoan, vì không hiểu ẩn nghĩa, từ ngữ trong Kinh thì chỉ thêm mệt mỏi, đau ốm rồi “đổ thừa” Phật. Trước khi nhập Niết bàn Phật nói, ta chưa hề nói điều gì, ta chưa dạy ai điều gì, bởi vì Phật biết sau này có Internet, có AI… dễ bị xuyên tạc, làm sai, rồi đổ thừa lắm!

Trong tập Như Huyễn Thiền Sư Thi Tập, trang 320, có khác vài chữ. Trực Chỉ là lời giải của Thầy.

NHƯ HUYỄN THIỀN SƯ THI TẬP (TRỌN BỘ) – HT.TỪ THÔNG 

TA VÀ NÓ.
(Lời than của Phật)

Ta nói kinh nhằm dạy nó nghe,
Nào ngờ nó lại bắt ta nghe.
Tuổi già tám chục nghe gì nữa?
Chín tiếng ngồi trân sụm bánh chè!

TRỰC CHỈ.

Kinh :Gọi đủ là KHẾ KINH. Kinh là dùng văn tự ghi chép lời Phật dạy, do hàng đệ tử Phật kiết tập sau này. Sinh tiền Phật chỉ nói chớ chẳng thèm ghi. Bởi vì, những gì Phật nói không phải của Phật. Đó là tài sản chung của loài người, là tánh vốn có của vũ trụ thiên nhiên.

Tụng kinh, đọc kinh, nghe kinh, học kinh cốt để biết, để nhớ, để ứng dụng qua đời sống thực tiễn của con người. Ứng dụng lời Phật, ý kinh con người sẽ cởi mở, buông bỏ, gột rửa những nguyên nhân và quả khổ ràng buộc, bức bách , khổ đau trong cuộc sống. Chủ đích của sự tụng nghe, học kinh là ở đó.

Tụng kinh không cần thỉnh Phật nghe, Phật thuộc rồi mới nói ra, đệ tử ghi lại đó chứ. Tám mươi tuổi rồi. Từ khi viên tịch đến thế kỷ XXI này, hơn hai ngàn năm rồi. Vậy mà mời Phật dự những buổi tụng kinh 8, 9 tiếng đồng hồ, hãy tưởng tượng Như Lai chịu sao cho nổi? Mà Như Lai nghe để làm gì? Như Lai nghe để khen và ban phước ư? Như Lai không làm được điều đó!

Tu học Phật cốt yếu là “sửa” mình, sửa thân, khẩu , ý. Mong chờ ở đạo Phật cái gì khác sẽ thất vọng cho đến lúc vĩnh biệt trần gian.

NHTS.

…………………………………………….

Rồi nhớ tháng trước, mình có dịp đi cùng các bạn trẻ thăm Sư Viên Minh. Hôm đó Thầy tặng mình cuốn Thi kệ của Thầy, và thầy đọc cho mọi người nghe mấy câu thi kệ ở trang 330.

Bỏ Tông, về lại chính mình

Bỏ Dòng, bỏ Phái, bỏ Kinh ngôn từ

Ngay đây thấy pháp vốn như

Tuyệt không sở đắc: Vô Dư Niết-bàn!

Sư Viên Minh

 

Bạn nghĩ thế nào?

 

Thăm Sư Viên Minh ở Chùa Bửu Long, Q9,

Một bài kệ của Thầy Viên Minh trong cuốn Thi kệ Chân Như Thực Tại, trang 330

 

 

 

 

 

 

Vậy nhé,

Chúc An Vui,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Lõm bõm học Phật, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (9.23): Lagi mùa nước nổi

26/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (9.23)

Thân gởi bạn,

Đã lâu. Thật có lỗi. Người hiền lành như anh Hai Trầu mà cũng phải cằn nhằn. “Tui mong Thư gởi bạn xa xôi của anh để biết anh… còn khoẻ không và đang làm gi, mà mãi chẳng thấy…”. Khoẻ không thì mình cũng hổng biết anh Hai à. Chỉ thấy bây giờ thường uể oải khi thay đổi thời tiết. Làm biếng. Mưa bão triền miên. Saigon ngập lụt. Đà Lạt cũng ngập lụt, lún sụp, sạt lở…

Lúc này có dịp thì chạy về Phan Thiết, Lagi quê mình chơi, thường đi cùng mấy người bạn, tìm chỗ yên tĩnh, cụng cà phê, cụng dừa…

Dịp này mình cũng “ra mắt” tập Bản thảo Tuỳ bút: “Một Ngày Kia… Đến Bờ” vừa in ít mẫu pretesting.

(https://thuvienhoasen.org/a40038/mot-ngay-kia-den-bo)

Gởi bạn vài hình coi vui nha.

Cafe Cánh Đồng Lagi 9.2023

 

Cocobeach Ngô Tiến Nhân và ĐHN

 

 

Đập Đá Dựng (từ trái) Thanh Nguyên, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Phi Hùng, Diệu Viên (Mai Thuý), Ngô Tiến Nhân (Nhóm Học Phật chùa Xá Lợi Sàigòn)

 

Cafe sáng với nhà văn Nguyễn Lệ Uyên bên hồ nước

 

Vườn cau, ao cá. Tối ếch kêu, sớm gà gáy, đầy tiếng chim…

 

Đỗ Hồng Ngọc, “nhà quê thứ thiệt” và một chốn thân quen.

 

Vậy nhe,

Thân mến

ĐHN

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Thiền và Sức khỏe, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Thị Khánh Minh: MƯA BAY THEO THỜI GIAN

25/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

MƯA BAY THEO THỜI GIAN

Nguyễn Thị Khánh Minh
Hoa phượng sân trường
 
     *tặng Duyên.
Những con đường nắng gọi. Leng keng tiếng chuông người đưa thư reo ngát cổng hoa sứ. Những lá thư hẹn hò năm tháng. Ta yêu nhau tuổi hai mươi. Trời sài gòn rất thơ. Nắng Sài Gòn rất lụa. Nên em hoài áo trắng. Nên anh yêu mầu áo ấy vô cùng.* Ơi thi sĩ nhịp tim dịu mềm cỏ mật.
Những con đường mưa xanh. Trời sài gòn rất nhạc. Nhạc sài gòn rất mộng rất điên mơ… thà như giọt mưa rơi trên mặt duyên em tóc ngắn học bài ngoan bên cửa sổ người từ trăm năm về ngang trường Luật chút đong đưa tiễn người mai xa phố, mộng mị hành trang nhớ hạt mưa thơm Sài Gòn hút bóng đường xa thương người thơ cô độc.**
Thảng thốt cánh phượng mùa Hè. Trời tung gió chướng. Giấc mơ sai bè thanh xuân cụt giọng đồng ca những nốt ngày rụng rơi bóng tối. Trời Sài Gòn phượng tan mùa nắng lửa. Đường Sài Gòn cuồn cuộn biển đưa chân. Ta chạy mòn hơi. Mưa khô trên tượng đa*** những duyên Sài Gòn những hạt mưa trong…
Run rẩy thời gian nghe thanh xuân chớm chở nhánh thu đông. Lá thư xưa giấy mềm như bụi những hẹn hò chờ mãi lãng quên. Mầu áo lụa phai rồi sắc nắng lời thơ người khô tượng đá xanh. Hạt mưa còn thơm trên mặt duyên để nghe Sài Gòn âm vang điệu thanh bình cũ ơi đâu rồi nước mắt mỏng tơ sương?
Con bọ cam trên chiếc lá đầy gai sáng nay gọi mặt trời thức dậy. Khóa Sol búng mình nhấp nháy. Một vòng mùa đệm mới những bổng trầm reo khúc hát thanh tân, những nốt nhạc long lanh hạt mưa trong ngày ấy. Ơi duyên những hạt mưa qua mùa. Sống sót. Ngân thời gian lệ vĩnh cửu hồn nhiên.
Em thấy anh trên con đường bình minh. Nắng tháng 3 anh đem tới. Mùa Xuân mở vàng daffodil. Và em. Vừa qua giấc ngủ đông. Mọc lên trái tim thanh khiết.
Trở lại. Cùng tháng năm. Mùa Xuân khoan thai khúc dạo đầu. Ta cũng vừa kịp tới. Rất đúng nhịp. Mưa mùa xuân rất trong. Trời Calif. rất xanh.
22.3.2017
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
(Nguồn: sangtao@org)
* Nguyễn Thị Khánh Minh
** Thơ Nguyên Sa.
*** Thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhạc Phạm Duy
(nguồn: Nguyễn Xuân Thiệp phovan)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim

LỜI BẠT viết cho cuốn Tuỳ bút “MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ” của Đỗ Hồng Ngọc. 

06/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

LỜI BẠT viết cho cuốn Tuỳ bút “MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ” của Đỗ Hồng Ngọc. 

Nguyễn Minh Tiến

Tôi nhận được bản thảo này của anh Đỗ Hồng Ngọc với lời nhắn gửi thân tình:
“Anh nhờ em ĐỌC giùm, và viết cho anh một lời Bạt.” Chữ “đọc” anh cố ý viết in
hoa làm tôi hơi… sợ. Với một bậc đàn anh đa tài mà tôi luôn kính trọng, tôi tự biết
việc đọc và viết lời Bạt cho tập sách đặc biệt này của anh quả thật không dễ. Tôi
không dám chắc rằng mình có thể đọc hiểu đúng và đủ những ý tưởng độc đáo của
anh để có thể viết ra một lời Bạt đúng nghĩa.

Nhưng rồi hôm nay vẫn phải mở sách ra đọc để cố gắng viết một lời Bạt như lời
anh dặn, cũng là lúc một trong những người đàn anh thân thiết đã vĩnh biệt chúng tôi
để ra đi “về cõi hoang sơ” như lời thơ anh ấy nói. Có vẻ như khi mái tóc đổi màu
thì chúng ta càng có nhiều cơ hội hơn để cảm nhận những bài học về vô thường.

Anh Đỗ Hồng Ngọc là người từ lâu tôi quý mến, và anh cũng xem tôi như đứa em
thân thiết, nhưng không phải vì thế mà tôi dám dễ duôi tự cho phép mình quên đi
việc anh là một “cây đại thụ” trong thế hệ những người đi trước mà tôi may mắn
được biết tên. Tôi từng đọc Nguyễn Hiến Lê viết về anh: “Một bác sĩ, lại là một thi
sĩ thì luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị…” Tôi biết, không có
nhiều nhà thơ hay nhà văn đương thời tạo được ấn tượng tốt đẹp với lời ngợi khen
như vậy từ một người uyên bác và nghiêm túc như Học giả Nguyễn Hiến Lê, và
bọn hậu sinh như chúng tôi không thể không vui mừng khi may mắn có được tấm
gương sáng như anh để noi theo, trong sự học tập cũng như khi tập tành viết lách.
Và bây giờ thì anh đã cho tôi thêm một sự ngạc nhiên thú vị nữa qua tập sách này,
khi anh còn là một tấm gương sáng trong sự tu tập Phật pháp. Tôi bỗng dưng muốn
lặp lại nhận xét của Học giả Nguyễn Hiến Lê, tất nhiên là với một chút “cải biên”
của riêng tôi: “Một nhà văn, bác sĩ, lại là một thiền sư thì luôn làm cho chúng ta
ngạc nhiên một cách thú vị…”

Tôi biết là anh không muốn và thậm chí có thể sẽ trách nhẹ tôi vì đã gọi anh là
“thiền sư”, nhưng tôi không… sợ. Vì tôi tin là tôi có thể chứng minh rằng tôi nói
đúng. Sự kết hợp những phẩm tính của nhà văn, bác sĩ và thiền sư trong anh đã hòa
quyện, biểu lộ rất rõ với tập sách này.

Ngay cái tựa đề “Một ngày kia đến bờ” mà anh mượn trong ca từ nhạc phẩm Phôi
pha của Trịnh Công Sơn cũng đã cho thấy cái tố chất mơ màng lãng mạn của một

nhà văn. Nhưng trong khi Trịnh Công Sơn gây cho chúng ta một nỗi buồn man
mác khi nhìn lại “đời người như gió qua” thì Đỗ Hồng Ngọc lại chuẩn bị cho “một
ngày kia đến bờ” với tinh thần tích cực của một người học Phật và hiểu Phật, cho
một cuộc viễn du với tấm thông hành đóng dấu “well-dying”.

Và khi nghe anh bàn về “well-being” với “well-dying” thì chúng ta không còn nghi
ngờ gì điều đó nữa. Anh nói về những chuyện này với tư cách là người trong cuộc,
không giống như bàn chuyện người khác. Những gì anh nói, ta có thể thấy rõ đều
là những cảm nhận, những trải nghiệm của riêng anh, bằng chính cuộc đời mình.
Anh đã “well-being” ngay cả trong nhiều hoàn cảnh khắc nghiệt, bệnh tật, thiếu
thốn… từ thời thơ ấu, và tiếp tục “well-being” cho đến nay vào độ tuổi U90, độ tuổi
của những chiếc lá vàng hiếm hoi cùng thời với anh còn sót lại. Vì thế, chúng ta có
đủ căn cứ để tin rằng những gì anh nói, anh làm, hoàn toàn có thể bảo đảm cho anh
một viễn cảnh “well-dying” tốt đẹp như dự tính.

Nhà Thiền có câu “sinh tử sự đại”, nay anh đã đối diện, giải tỏa và vượt qua được
cái ngưỡng “sự đại” đó thì chuyện “một ngày kia đến bờ” hẳn cũng là một lẽ
đương nhiên, và chắc chắn rồi sẽ đến trong sự thản nhiên của một “người vô sự”
theo đúng tinh thần của nhà Thiền.

Điều đáng nể phục nơi anh là ở độ tuổi vào bậc huynh trưởng của hàng “cổ lai hy”
nhưng ngòi bút của anh vẫn không mất đi nét dí dỏm, hài hước xưa nay vẫn thường
gặp ở giọng văn anh. Cái chất hài hước nhẹ nhàng ấy như bàng bạc trong mọi tác
phẩm của anh, dù là khi anh viết về chuyện sức khỏe, chuyện văn chương hay ngay
cả về Phật học. Tôi đã gặp không ít người trì tụng hoặc tìm hiểu kinh Pháp Hoa,
nhưng đọc kinh Pháp Hoa mà nhìn thấy được Phật Thích-ca bước vào bảo tháp
“tay bắt mặt mừng” với Phật Đa Bảo thì duy nhất chỉ có anh. Những vấn đề khô
khan trong y học, phức tạp và siêu hình trong Phật học, qua ngòi bút của anh đều
trở nên nhẹ nhàng, vui vui, dễ tiếp nhận.

Và lần này, giọng văn hài hước của anh không ẩn giấu nữa mà khởi đầu ngay từ
tiểu mục “Nghĩ tức cười”, ấy là anh muốn công khai nêu ra những cái “tức cười”
trong cuộc tồn sinh của vạn hữu từ muôn triệu năm nay (hay còn lâu hơn nữa?)…
mà thật ra ai cũng nhìn thấy nhưng lại chẳng biết cười như anh. Bây giờ nghe anh
nói rồi thì thấy đúng là thật “tức cười”.

Nhưng với Đỗ Hồng Ngọc thì cười không chỉ để… mà cười. Cái cười của anh thật
ra là thâm trầm, sâu lắng, khởi đi từ manh mối của sự “Nhìn lại mình”, vốn là khởi
đầu cốt yếu của mọi pháp môn tu tập trong Phật pháp. Không “nhìn lại mình” thì
có bỏ nhà lên núi tu hành miên mật năm bảy chục năm cũng không mong gì đạt
được sự giải thoát hay giác ngộ. Bởi vậy, anh cười như kiểu “vui thôi mà” nhưng
lại bật ra một câu hỏi làm nhiều người choáng váng: “Có kiếp sau không?”
Choáng váng là vì đối với những con người còn đầy tham chấp hỷ nộ ái ố, vất vả
lắm mới quên đi được câu hỏi ấy để sống vui thì bỗng dưng anh khơi lại vấn đề
khiến họ không thể nào vui sống.

Mà thật ra thì anh cũng chỉ đùa thôi. Bởi anh không hỏi để tìm câu trả lời, mà chỉ
để gợi ra những phương thức rất tuyệt vời giúp mọi người vui sống. Đó chính là rõ
biết và chấp nhận “bốn thứ ma” (bởi không nhận thì chúng cũng đang có đó) và
“bắt tay làm hòa”, vui sống với chúng. Nhưng thử nghĩ mà xem, làm được như anh
nói chẳng phải đã là một thiền sư “thõng tay vào chợ” rồi đó sao? Đâu còn bận
lòng gì với tử sinh, sinh tử?

Nhưng rồi anh quá rõ biết tâm niệm “chúng sinh” nên tuy nói vậy mà vẫn ân cần
giải thích. Hẳn anh biết là rất nhiều người trong chúng ta vẫn còn luôn ưu tư, thắc
mắc. Anh nói về “nghiệp”, về “bản ngã” và rồi cuối cùng chỉ ra một sự thật để ta
thấy rằng mỗi người chỉ có thể nỗ lực tự tu tập để cứu lấy chính mình, bởi vì “Phật
cũng già, cũng bệnh”, và tất nhiên là rồi… cũng chết.

Chỉ qua mấy đoạn văn ngắn với cách đề cập “vui vui” rất đặc thù của riêng anh,
người đọc như bừng tỉnh để nhìn lại chính mình và tự thấy ra cái “cuộc đời như
gió qua” này thật không đáng để chúng ta ôm giữ mãi quá nhiều khổ đau mà hầu
hết đều do chính mình tạo ra. Một cái nhìn nhẹ nhàng nhưng sáng rõ về cuộc đời sẽ
giúp cho cuộc sống của chúng ta cũng tự nhiên trở nên nhẹ nhàng hơn. Phải chăng
đây là định nghĩa thiết thực và dễ hiểu nhất của sự giải thoát?

Tập sách khá mỏng nhưng anh đã đề cập đến hầu hết các phần giáo lý quan trọng
từ những bộ kinh quan trọng của Phật giáo như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Kim
Cang, Duy-ma-cật… Đây thật đúng như tinh thần mà anh tự bộc bạch: “Tôi chỉ học
lõm bõm ít kinh Phật…, và cũng chỉ học lấy cái ‘cốt lõi’”.
Thì quả đúng vậy. Những kinh anh đã đọc qua và nhắc đến, nếu so với số lượng
Kinh điển Phật giáo hiện còn trong hai tạng Nam truyền và Bắc truyền thì quả thật

là quá ít. Nhưng hai chữ “lõm bõm” của anh thì tôi thật không khỏi hoài nghi, bởi
lời anh nói là “chỉ học lấy cái cốt lõi” thì quả thật không phải ai cũng làm được.
Bởi muốn làm được cái việc “đãi cát chọn vàng”, từ vô số những ngôn từ phương
tiện Phật đã thuyết trong kinh mà trích xuất ra được “cái cốt lõi” thì phải hết sức
thông thuộc, am hiểu thấu đáo mới có thể làm được.

Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng “cái cốt lõi” mà anh rút ra từ Kinh điển là “cái cốt
lõi” cho riêng anh, anh không hề có ý đưa ra để làm khuôn mẫu cho ai khác. Chính
cái tinh thần tự khai phá, tự tìm tòi trong sự tu tập của anh mới là tấm gương sáng
để chúng ta noi theo. Anh nói rõ: “Có tới 40 đề mục để thiền quán, tôi chỉ chọn
một…” Với tôi, chính sự chọn lựa này có thể đã quyết định phần lớn khả năng
thành công trong tu tập. Rất nhiều người khi mới đến với thiền phải loay hoay rất
lâu giữa các lựa chọn khác nhau, bởi không biết chắc được mình thích hợp với đề
mục nào, phương pháp nào. Khi hành giả xác định được một chọn lựa thích hợp
cho chính mình, sự tu tập sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn rất nhiều, bởi có thể tập trung
toàn bộ tâm ý vào đề mục đó mà không bị phân tán bởi các lựa chọn khác.
Tôi cũng thực sự thán phục khi đọc qua những tiểu mục anh nêu đại lược chặng
đường anh tìm đến và đi qua nội dung những bộ kinh lớn.

Tôi có cảm giác anh như một nghệ sĩ tài hoa đang ngắm nhìn và cảm thụ một bức
tranh đẹp, không mất nhiều thời gian cho những họa tiết, phông nền… mà có thể dễ
dàng nhận biết ngay những đường nét chính yếu, những ý nghĩa ẩn tàng mà tác giả
muốn thể hiện. Bởi vậy, những bộ kinh đồ sộ đối với nhiều người trong chúng ta
thì qua mô tả của anh trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận hơn, nhưng không vì thế mà
mất đi phần tinh túy. Tôi cũng từng đọc Pháp Hoa, Duy-macật… như anh, nhưng
tôi chưa bao giờ có được khả năng “tóm lược” một cách rõ ràng các điểm tinh yếu
của giáo pháp theo cách như anh.

Một sự “ngạc nhiên thú vị” khác cần đề cập đến ở đây là anh cũng “tóm lược” cả
cuộc đời mình từ ấu thơ cho đến… U90 một cách mạch lạc, dễ hiểu nhưng đầy đủ,
cũng như điểm qua được hầu hết những thành tựu từ ngòi bút của anh trong cả ba
lãnh vực: văn chương, y học và Phật học. Anh chỉ điểm “sơ sơ” thôi mà có đến 7
tập thơ, hơn 60 đầu sách… Những con số hẳn là phải gây ấn tượng với bất kỳ người
cầm bút nào.

Sự “đầy đủ” trong những tóm lược của anh nên được hiểu theo ý nghĩa do chính
anh nêu ra, “bởi chính đó là một trong những yếu tố của ‘chất lượng cuộc chết’”,
và nếu nói theo thuật ngữ chuyên ngành cũng do anh đề nghị thì đó là “well-
dying”. Hẳn độc giả sẽ không khỏi ngạc nhiên đầy thú vị khi thấy hành trình cả
một đời người rồi sẽ chi phối như thế nào đến “chất lượng” của chuyến đi xa cuối
đời.

Có 26 tiểu mục được anh đưa vào tập sách, với những chủ đề dàn trải hầu như đề
cập đến tất cả những vấn đề quan trọng trong sự tu tập, từ sự nhận hiểu tinh yếu
giáo pháp cho đến kinh nghiệm thực hành. Độc giả có thể từ từ, thong thả “nhâm
nhi” từng tiểu mục ngắn trong sách này, mà theo tôi rất nên đọc lại nhiều lần để
thấy hết được sự tài tình của anh khi biến mọi vấn đề khô khan hay trừu tượng,
siêu hình trở nên gần gũi, dễ hiểu, thiết thực và… hấp dẫn. Nhưng đối với riêng tôi,
những phần “hấp dẫn” nhất chính là khi anh chia sẻ “vài kinh nghiệm riêng”,
những điều không thể tìm thấy trong bất kỳ bài thuyết giảng hay luận văn Phật giáo
nào. Đó là những điều theo tôi hoàn toàn thể hiện được “dấu ấn Đỗ Hồng Ngọc”.

Chẳng hạn, anh chia sẻ một câu “thần chú” chưa từng có ai tụng đọc trong Phật
giáo, nhưng đúng là sẽ rất ư “linh nghiệm” đối với nhiều người. Câu thần chú đó là
“thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa” mà anh thường “tụng” khi ngồi xuống bắt đầu
thiền tọa.
Thật ra, “thả lỏng” hay “buông thư” là điều mà bất cứ vị thầy nào khi hướng dẫn
thiền tập cũng đều nhắc đến, nhưng chia sẻ quan trọng của anh ở đây là sự nhấn
mạnh phải “thả lỏng toàn thân” cũng như tính chất quyết định của việc này, mà
anh cho rằng nếu không làm được thì sẽ “hỏng bét”.
Dù vậy, không phải ai cũng may mắn có được khả năng “thả lỏng toàn thân” ngay
tức khắc khi ngồi xuống bắt đầu thiền tập. Một số người, thật ra là đa số, tuy vẫn
muốn làm thế nhưng chưa thể làm được. Điều này cũng bình thường thôi, vì cần
phải có công phu luyện tập qua thời gian. Nhưng nguyên tắc chung được áp dụng
cho mọi trường hợp là thân và tâm luôn tương quan chặt chẽ với nhau. Do vậy, nếu
khi bắt đầu thiền tập mà toàn thân chưa buông thư hoàn toàn thì cũng không nên lo
lắng, chỉ cần tiếp tục giữ tâm an tĩnh, chú ý vào đề mục thiền đã chọn thì sau một
thời gian, chắc chắn mọi việc sẽ tốt hơn. Khi tâm an tĩnh thì thân cũng sẽ dần dần
đi vào trạng thái buông thư, cơ bắp giãn ra, không còn “căng cứng” nữa. Tuy nhiên,

vì điều này thực sự rất quan trọng nên việc “tụng thần chú” như anh nói để
nhắc nhở chính mình khi bắt đầu thiền tập là rất hữu ích.

Một chia sẻ quan trọng khác của anh cũng hết sức thú vị là mối tương quan giữa
tình trạng thiếu oxy kinh niên (chronic hypoxia) của não với trạng thái hỷ lạc, lâng
lâng sảng khoái của thiền giả. Anh giải thích theo cách nhìn của khoa học thì có
thể là do tình trạng thiếu oxy làm cơ thể tạo ra các hormone liên quan đến trạng
thái hạnh phúc, sảng khoái đó. Anh cũng liên kết hiện tượng này với kinh nghiệm
riêng của anh sau những cơn bệnh sốt rét và cho rằng có thể việc thiếu hồng cầu
khiến cơ thể thiếu oxy đưa đến trạng thái sảng khoái sau mỗi cơn sốt rét hồi nhỏ. Và anh
cũng đưa ra giả định rằng các thiền sư thường tìm lên núi cao để dễ tu tập vì trên
đó không khí loãng, tỷ lệ oxy thấp, như vậy tất nhiên hành giả dễ rơi vào tình trạng
thiếu oxy, từ đó có được trạng thái thiền duyệt, sảng khoái.

Tất nhiên, đây là những dữ kiện rất lý thú và chắc chắn cần được nghiên cứu thêm
trước khi có thể vận dụng vào thực tiễn. Nhưng người học thiền cũng nên dè dặt
với những mối liên kết giả định như vậy. Việc hạn chế cung cấp oxy cho cơ thể
qua việc kiểm soát hơi thở là điều mà người tập thiền hoàn toàn có thể làm được,
nhưng nếu như có ai muốn thử nghiệm dùng cách này để đạt được thiền duyệt thì
chắc chắn là không nên, thậm chí còn rất nguy hiểm. Khi thiền giả đi sâu vào định
thì hơi thở sẽ chậm dần đi cho đến lúc gần như chỉ còn duy trì ở mức tối thiểu.
Nhưng đó là một hiện tượng tự nhiên do nhu cầu oxy của cơ thể giảm mạnh chứ
không phải do thiền giả cố ý tạo ra, và tình trạng cơ thể khi đó tiêu thụ rất ít oxy
chứ không phải thiếu oxy. Đỗ Hồng Ngọc cũng nhắc trong thiền tập phải hết sức
thận trọng, không nên “nín thở” để mong được mau vào thiền vào định!

Tuy nhiên, việc đề cập đến mối tương quan “thân – tâm” này quả thật vô cùng lý
thú. Điều này cũng cho thấy rằng thiền tập chẳng những thiết yếu cho một cuộc
sống hạnh phúc mà còn luôn mang lại cho mỗi chúng ta những khám phá mới,
những điều mới mẻ và cuốn hút.

Tôi đã đọc say mê cả tập sách này không một lần dừng lại, không chỉ bởi lối văn
nhẹ nhàng mà hấp dẫn của anh, mà còn phần lớn là do cách anh trình bày những
vấn đề rất độc đáo, rất ư là… Đỗ Hồng Ngọc, nghĩa là không thể nhầm lẫn với ai
khác.

Lời cuối cùng muốn nói ở đây là tôi mong gặp lại anh biết bao! Từ lần cuối ghé
nhà thăm anh đến nay e cũng đã gần chục năm rồi chưa gặp lại, và giờ thì tôi với
anh ở hai đầu… trái đất. Mặc dù thường liên lạc với anh qua email, qua điện thoại,
nhưng tôi vẫn luôn muốn gặp lại để được ngắm nhìn khuôn mặt anh, khuôn mặt
như lúc nào cũng ẩn chứa một nụ cười hoan hỷ và sẵn sàng nở ra để lan tỏa niềm
vui sống đến với người đối diện.

Cảm ơn anh rất nhiều đã một lần nữa cho tôi “những ngạc nhiên đầy thú vị”.
Mong cho tập sách này sớm ra đời và đến tay bạn bè thân hữu, để một lần nữa “có
dịp chí chóe cho vui” như lời anh nói.

Quế Minh Đường (Westminster), California
Tháng 9 – 2023
Nguyễn Minh Tiến

………………………………………………………………………………………….

Có thể đọc Ebook “Một Ngày Kia… Đến Bờ” V2 ngày 11.9.2023 trên dohongngoc.com

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nhân mùa Vu Lan, đọc lại bài thơ Bông hồng cho mẹ của Đỗ Hồng Ngọc

29/08/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nhân mùa Vu Lan, đọc lại bài thơ Bông hồng cho mẹ của Đỗ Hồng Ngọc …

Nguyên Hậu

Năm 2013, khi đang tìm hiểu về thơ miền Nam giai đoạn 1954-1975, tôi có dịp gặp gỡ nhà thơ Đỗ Nghê (bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc) tại Sài Gòn và được ông tặng cho tập thơ đầu tay mang tên Tình người (xuất bản năm 1967). Tôi đọc tập thơ và ấn tượng nhất là bài thơ Thư cho bé sơ sinh. Khi biết ông là một bác sĩ, viết bài thơ đó khi còn là một thực tập sinh tại bệnh viện Từ Dũ sau khi hoàn thành ca hộ sinh đầu tiên trong cuộc đời y nghiệp, tôi vừa khâm phục, vừa xúc động. Khâm phục vì một bác sĩ lại có thể làm một
bài thơ với những ý tứ chân thành, sâu sắc đến thế. Còn cảm động vì những điều mà vị bác sĩ nhắn chủ đến em bé sơ sinh lúc đó. Thông điệp mà ông nhắn đến em có lẽ cũng là thông điệp ông dành cho tất cả chúng ta, vì ai cũng từng lớn lên từ một đứa trẻ, còn xúc động là khi đặt bài thơ vào bối cảnh ra đời, những thập niên 60 của thế kỷ XX tại miền Nam, khi mỗi số phận được sinh ra đều phải đối mặt với chiến tranh, chết chóc, hiện thực phi lý mỗi ngày. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, trọn vẹn chỉ trong một buổi sáng, tại một quán cà phê nằm trong một con hẻm nhỏ trên đường Cao Thắng, bây giờ tôi cũng không nhớ rõ quán tên gì. Đó là lần duy nhất tôi có dịp gặp gỡ ông. Sau này, tôi được nhìn thấy ông trong một vài buổi ra mắt sách dạy về thiền, hoặc giao lưu về một chuyên đề y khoa nào đó. Vẫn là ông với phong thái nhẹ nhàng, nụ cười thường trực trên gương mặt phúc hậu, ông nhanh chóng thu hút được nhiều khán giả tham dự.

Sau khi hoàn thành đề tài nghiên cứu liên quan đến thơ miền Nam, tôi chuyển sự quan tâm sang vấn đề khác nên không còn chú ý đến những sinh hoạt văn nghệ như vậy, tôi cũng ít khi về Sài Gòn. Công việc cá nhân làm tôi xao nhãng, không thường xuyên lên đọc các bài viết trên Blog cá nhân của ông. Thế rồi một hôm, tình cờ tôi vào trang Blog cá nhân ông (https://www.dohongngoc.com/) và đọc được bài thơ Bông hồng cho Mẹ. Bài thơ này được ông sáng tác vào mùa Vu Lan năm 2012, in trong tập Thơ Đỗ Hồng Ngọc – Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác (2013) nhưng phải vài năm sau tôi mới được đọc. Tôi đã không thể kiềm được nỗi xúc động, nói đúng hơn là một “chấn động” nho nhỏ trong lòng. Có lẽ đây là bài thơ thứ hai của Đỗ Hồng Ngọc đã chiếm trọn lòng tôi ngay từ khoảnh khắc đầu tiên như thế. Tôi đã gửi bài thơ cho một số người bạn cùng đọc.
Đó cũng là lúc trên trang cá nhân của ông có rất nhiều độc giả văn chương gần xa (trong nước và hải ngoại) gửi bài viết chia sẻ cảm nhận về bài thơ. Tôi cảm nhận được sức lan tỏa, lay động của bài thơ lúc bấy giờ là rất lớn. Thế nên tôi đành giữ những cảm xúc mà tôi có được sau khi đọc bài thơ cho riêng mình qua vào dòng ghi chép và lưu vào máy tính.
Cách đây vài tháng, trong quá trình dọn dẹp chiếc máy tính cũ, tôi tình cờ gặp lại những dòng cảm nhận mà tôi thảo ra từ mấy năm trước. Đọc lại bài thơ, và, vẫn vẹn nguyên cảm xúc, thậm chí lúc sau này có phần mạnh mẽ hơn, tôi bật khóc.

Có lẽ sau bao nhiêu năm, trải thêm nhiều biến cố trong cuộc đời, tôi lại càng thấm thía hơn ý tứ trong bài thơ và cả những gì bàng bạc phía sau bài thơ ấy.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

(Bông hồng cho Mẹ, 2012, Đỗ Hồng Ngọc)

Chỉ có bốn câu thôi nhưng ý tứ và thông điệp truyền tải thì mênh mông. Đã có rất nhiều người cảm nhận, phê bình bài thơ nhưng với riêng tôi, bài thơ hiện lên thật đẹp, thật bất ngờ, thật linh diệu, như một đóa hoa… Nó đã lay động, đánh thức lòng tôi thật mãnh liệt. Bốn câu thơ mà chứa trong đó cả ba thế hệ, một dòng chảy uyên nguyên, bất tận: ngoại, mẹ, con và một sự hóa thân tuyệt đẹp: từ bông hoa trắng đã hóa thành đóa hồng. Đặc biệt hơn là, phải có bông hoa trắng dành cho con thì mới có đóa hồng dành
cho mẹ; từ cảm thức đau buồn, mất mát lập tức hóa hiện thành niềm hạnh phúc, sum vầy.
Quả là một tứ thơ đẹp và lạ đến bất ngờ! Đọc xong cứ thấy lòng đau nhói, vì chưa lần nào ta đã nghĩ cho mẹ như cách nhà thơ đã làm. Với Bông hồng cho mẹ, Đỗ Hồng Ngọc đã làm cho ta ngộ ra nhiều điều…
Từ khi mẹ là mẹ của ta, ta lúc nào cũng nghĩ cho ta, chưa bao giờ ta nghĩ cho sự hoán vị và nỗi mất mát của mẹ: mẹ từ một người con trở thành một người mẹ, mẹ đã hy sinh bớt phần hạnh phúc được làm con để toàn tâm làm mẹ của ta. Vậy mà chẳng bao giờ ta nghe mẹ thổ lộ điều đó. Nước mắt chảy xuôi là vậy. Trong những lần chỉ có mẹ và con, mẹ thường nói rằng mẹ sợ một ngày mẹ ra đi, chúng tôi sẽ buồn khổ lắm. Lúc ấy tôi chưa
thể hình dung được nỗi buồn khổ mà mẹ nói là gì, vì chúng tôi vẫn đang hạnh phúc khi có mẹ cơ mà. Và lại càng không biết rằng mẹ đã lấy lòng mình để nghĩ cho các con. Mẹ đã chịu kiếp mồ côi từ khi còn rất nhỏ…

Mẹ! Một từ gọi lên nghe thật ấm ám, tự nó đã viên mãn, đong đầy yêu thương. Thế nhưng số lần mẹ được gọi từ đó ít hơn rất nhiều lần so với chúng tôi. Bây giờ tôi cũng đã làm mẹ, đã hiểu thế nào là mẫu tử thiêng liêng, đã thấu hiểu và yêu thương mẹ hơn rất nhiều lần, tình yêu thương được bồi đắp nhiều lên đến từ sự đồng cảm, thấu hiểu, không giống với tình yêu mẹ khi còn là một đứa trẻ, yêu mẹ, giữ mẹ như của báu. Và khi
càng yêu ta càng sợ mất. Hồi nhỏ, mỗi lần thấy một ai đó mất mẹ, ta chỉ hiểu đơn giản là từ đây họ mất đi tình yêu thương của mẹ, mất đi một người thân. Lớn lên, ta hiểu rằng mất mẹ là mất đi nguồn thương, mất đi cái đặc ân mà đất trời ban tặng cho ta. Nói tóm lại, quẩn quanh cũng chỉ nhìn thấy khía cạnh của sự mất mát, vẫn là nghĩ cho bản thân mình.
Từ khi đọc bài thơ của Đỗ Hồng Ngọc, tôi mới thấy thêm một chiều kích khác của sự ra đi ấy.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng

Ngày mẹ rời khỏi vòng tay ta là ngày mẹ trở về làm con bên ngoại. Thấy được điều đó, tự nhiên cảm giác mất mát trong ta vơi đi phần nào. Từ nay mới đúng thật là ta thương mẹ. Và từ bây giờ, tôi đã có thể tập cách chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một ngày mẹ rời xa chúng tôi.
Đó là phần của con. Còn phần mẹ:

Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

Mẹ ơi, từ nay mẹ hãy nghĩ cho mẹ, mẹ đừng buồn gì khi phải xa chúng con. Mẹ rời xa chúng con cũng là lẽ tất yếu. Mẹ hãy vui lên vì ngoại đang chờ đón mẹ về, ngôi nhà của riêng ngoại và mẹ, mẹ có quyền được tận hưởng tình cảm của ngoại, tận hưởng niềm hạnh phúc vô biên của tình mẫu tử. Trần gian bao cảnh đã chia cách ngoại và mẹ, nhưng ở “bên kia sông” sẽ không còn trần ai, không còn điều gì khiến ngoại và mẹ phải
xa cách nữa. Ngoại đã chờ đợi mẹ từ rất lâu rồi. Mẹ hãy vui lên đi.

Lời thơ dung dị nhưng thật minh triết, thật dịu hiền, như lời của Bụt. Nhà thơ nhắc chúng ta về lẽ tuần hoàn của tạo hóa mà chúng ta chưa hiểu, hoặc có khi đã hiểu nhưng vì quá yêu mẹ, quá yêu mình mà quên đi mất. Lời thơ tỏa ra một năng lượng lành giúp xoa dịu nỗi đau, sưởi ấm tâm hồn cả người ra đi và người ở lại. Còn gì tuyệt vời hơn: Mẹ vui, con ấm lòng. Rồi đến một ngày, mẹ cũng sẽ chờ đón con “bên kia sông”, con sẽ không
còn lý do gì để buồn tủi nữa.
Bài thơ Bông hồng cho Mẹ của Đỗ Hồng Ngọc đã cho ta thấy được sự vi diệu, tính đa chiều kích của đời sống. Trong cùng một bối cảnh, niềm vui và nỗi đau cùng tồn tại, chuyển hóa cho nhau, cái ta nhìn thấy đều do góc nhìn của mỗi chúng ta. Cái chết, nhìn từ đứa con thì đó là nỗi mất mát, chia ly còn nhìn từ người mẹ thì đó là sự sum họp, hạnh phúc, hoặc cũng là hoa hồng, nhưng trên ngực con là hoa màu trắng, trên ngực mẹ là đóa
hồng tươi nguyên. Phải chăng mọi thứ trong cuộc sống này vốn dĩ là như vậy, có những việc tưởng như là nghịch lý nhưng nếu hiểu đến tận cùng thì không còn nghịch lý nữa vẫn là sự cân bằng, như muôn đời vẫn vậy. Nhà thơ là người đã hiểu, đã nắm bắt được chân lý ấy và truyền đến cho chúng ta. Và, ai biết được quy luật này, người ấy sẽ an nhiên…

(MH, Đh Thủ Dầu Một)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

HỌC PHẬT QUA THƠ ĐỖ HỒNG NGỌC

27/08/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

HỌC PHẬT
QUA THƠ ĐỖ HỒNG NGỌC
(Minh Lê)

do hong ngocTừ trước tới giờ, tôi ít đọc thơ vì tự thấy mình có chút thiếu “hồn thơ lãng mạn”. Dù vậy, tôi là người hâm mộ âm thầm nhiều năm của Bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc, không chỉ với sách của Anh mà cả với các bài thơ Anh viết. Anh làm thơ cũng như viết văn, nghiêm túc mà dí dỏm, nhẹ nhàng mà sâu sắc, ngắn gọn mà vô số “ý ở ngoài lời”. Anh còn giảng và viết nhiều bài về Phật pháp rất hay, nhưng tôi thích học Phật qua thơ của Anh hơn.

Như bài “Nỗi nhớ” in trong tập Vòng quanh (NXB Trẻ 1997 tr. 38) chỉ có 6 câu:

“Thôi hết cồn cào
Thôi không quặn thắt
Chỉ còn âm ỉ
Chỉ còn triền miên
Thì thôi cấp tính
Thì đành kinh niên.”

Lần đầu đọc khi còn trẻ, tôi bật cười, nghĩ tác giả chắc “méo mó nghề nghiệp”, tả nỗi nhớ mà cứ như tả cơn đau thể chất vậy, nhưng tác giả cũng thật tài tình, chọn từ và vần điệu làm sao mà người đọc cảm nhận được từ cơn đau ít tới cơn đau nhiều, từ “bệnh” nhẹ tới “bệnh” nặng. Lần thứ hai đọc ở tuổi trung niên, tôi cảm thán tác giả “hiểu đời” ghê, bởi từng trải rồi mới biết “nhớ” cũng đau  “quặn thắt ruột gan” chớ không vừa. Lần thứ ba đọc, tôi liên tưởng tới bài hát “Đưa em tìm động hoa vàng” (nhạc Phạm Duy, lời Phạm Thiên Thư):

“Rằng xưa có gã từ quan,
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say
Thôi thì thôi để mặc mây trôi
Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Thôi thì thôi chỉ là phù vân
Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi.”

Nỗi nhớ của Phạm Thiên Thư dù nói “chỉ là phù vân, có ngần ấy thôi” sao vẫn có cảm giác day dứt luyến tiếc không đành lòng, dù lặp đi lặp lại “thôi” rất nhiều lần mà vẫn chưa “thôi” thật sự. Đúng là nghệ sỹ mà, cho nên mới… khổ! Ngược lại nỗi nhớ của Đỗ Hồng Ngọc rất tỉnh táo “rằng đau thì biết là đau”, chuyện xác nhận “thì thôi cấp tính thì đành kinh niên” cũng mang vẻ an nhiên. Chính nhờ chấp nhận nỗi đau đó sẽ ở với mình vĩnh viễn mà lòng mình trở nên bình tĩnh hơn để chuyển hóa “rác thành hoa, đau khổ thành an lạc”. Đây chẳng phải “chiếu kiến ngũ uẩn giai không” trong Tâm Kinh đó sao?

Anh Ngọc quê La Gi, còn tôi sinh Phan Thiết, lớn lên ở Nha Trang nên khi tình cờ đọc bài “Giả sử” của Anh, tôi sém chút la lên “ôi bài thơ của đời tôi”:

“Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang
Ập vào Mũi Né
Anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng
Vút qua những ngọn dừa
Những đồi cát trắng

Em nhớ mang theo đôi quả trứng
Vài nắm cơm
Vài hạt giống
Đừng quên mấy trái ớt xanh…

Biết đâu mai này
Ta làm An Tiêm
Trở về làng cũ
Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang
Nơi kia gọi là Mũi Né…

Cho nên
Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?”
(4/2011, đăng 13/9/2020 dohongngoc.com)

Hồi nhỏ nhà tôi ở sát biển nên tôi rất sợ sóng thần. Lâu lâu tôi lại nằm mơ thấy sóng thần ập vô cuốn trôi mọi thứ, nghĩ mà rùng mình. Sau khi đọc bài “Giả sử”, tôi viết email cám ơn Anh Ngọc đã giúp tôi hết sợ sóng thần. Anh đùa: “Hết sợ sóng thần vì đã sẵn thuyền thúng ở trong nhà và đã cụ bị sẵn các thứ, nhất là ớt xanh rồi phải không? Dân Phan Thiết có khác!” Trời, sao Anh đi guốc trong bụng tôi vậy? Thì Anh đã chọn mọi thứ chu đáo quá mà: đôi quả trứng đặng sau này còn nở ra gà con nè, vài nắm cơm vắt ăn đỡ đói lòng những ngày “lênh đênh” nè, rồi hạt giống để trồng lại vườn cây nè, có cả mấy trái ớt xiêm xanh – món “tủ” của dân Phan Thiết và Khánh Hòa nữa.

Nói nhỏ nghen, thiệt ra tôi tâm đắc nhứt câu cuối cùng “sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?”. Lúc đó, tôi viết cho Anh cách hiểu của tôi như vầy: “Sóng thần, hay sóng cuộc đời có dữ dội cách mấy, mà có một người nắm tay đi với mình, thì có gì phải sợ phải không Anh?” Anh cười không trả lời. Giờ tôi mới nhận ra, cái “thương” mà Anh nói không chỉ là tình yêu trong gia đình mà chính là “tình thương của Bụt” – từ của thiền sư Nhất Hạnh. Đó là “từ bi hỷ xả”, gồm khả năng hiến tặng niềm vui, làm vơi nỗi khổ, tình thương mang lại hạnh phúc và tự do. Vậy sao không “sớm mà thương nhau hơn” thì đời sẽ thêm nhiều an lạc, đợi chi tới sóng thần?

Tháng 12/2020, Anh Ngọc viết bài “Biết rồi còn hỏi!”:

“Tôi ngồi trước tượng Phật
Viết lăng nhăng mỗi ngày
Để khi nào bí thì hỏi
Phật tủm tỉm cười
“Biết rồi còn hỏi!”

Sáng ra đường phố
Từng bước như đi dạo
Không thấy nở hoa sen
Ngước mắt nhìn lên
Một tấm biển to chữ đỏ
“Đồ ngu cao cấp”
Cửa hàng Fashion
Rơi dấu hỏi…

Đâu cần trốn ra khỏi cổng thành
Xóm nghèo nơi tôi ở
Bên phải là nhà bảo sanh
Bên trái là bệnh viện
Đằng kia lớp dưỡng sinh
Đằng nọ nhà quàn vô lượng thọ…

Hằng ngày nghe tiếng khóc trẻ con
Nghe tiếng rên người lớn
Tôi nhắc Phật đừng buồn
Không được quạu quọ, không được cau có
Không được nhăn nhó…
Phật cười
“Phải! Nó vậy đó”.”
(dohongngoc.com 4/12/2020)

Bài này dễ hiểu, nhưng hiểu hết lại không dễ. Mấy chỗ “bí thì hỏi”, mà Phật chỉ tủm tỉm “biết rồi còn hỏi!” nghe đơn giản chớ đúng phóc nha. Càng sống lâu càng có nhiều chuyện tưởng “bí”, thiệt ra mình đã “biết” rồi, chẳng qua tâm không đủ tịnh để “hiểu” thôi. Khổ thơ thứ hai chắc tác giả vừa viết vừa cười mím chi, té ra “thiếu dấu hỏi” thì thành “ngu”, mà đời này, thiếu gì chuyện thắc mắc mà không dám hỏi, nên mình chắc “ngu trường kỳ”. Khổ thứ ba tả “sinh, lão, bệnh, tử” – những cảnh ngay trước mắt ta đó thôi. Rồi khổ thơ cuối cùng, giữa “sinh, lão, bệnh, tử” vẫn giữ được tâm an, không “buồn, quạu quọ, cau có, nhăn nhó” thì thành “bụt” rồi, “bụt” là vậy đó! Từ ngữ bình dị, nhịp thơ thong thả, tự nhiên không gò bó nhưng âm điệu bằng trắc nhịp nhàng, láy vần rất duyên dáng. Đây là một trong những bài tôi thích nhứt trong thơ Anh Ngọc bởi nó đại diện cho sự đặc biệt hiếm thấy trong thơ: nội dung dí dỏm mà thâm thúy, từ ngữ, tiết tấu, âm vần đều được chọn rất nghệ thuật mà vẫn trôi chảy tự nhiên mới hay.

Người ta hay nói “thơ là tiếng lòng”. Đã là âm thanh thì phải có tần số, và cái radio trong mỗi chúng ta tùy theo tuổi tác, kinh nghiệm sống và tính cách mà “bắt” được những tần số khác nhau. May mắn thay, cái radio cọc cạch của tôi lại bắt được chút xíu “tần số” trong thơ Đỗ Hồng Ngọc, và từ đó học được chút xíu “suy nghĩ của Bụt” từ thơ Anh.

Mong Anh luôn khỏe, an lạc và tiếp tục sáng tác thêm nhiều “tiếng lòng” truyền cảm!

Minh Lê (Suối Tiên, 7/2021)

(Thư viện Hoa Sen)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

The Pure Land Somewhere/Phương Nào Cõi Tịnh (Song Ngữ)

23/08/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Nguồn: https://thuvienhoasen.org/a39828/the-pure-land-somewhere-phuong-nao-coi-tinh-song-ngu-vietnamese-english-

THE PURE LAND SOMEWHERE

 Author: Tuệ Sỹ

Translated by Nguyên Giác

(Written from inspiration after reading “Cõi Phật Đâu Xa” by Đỗ Hồng Ngọc.)

 

Translator’s note: This translation was made to celebrate the 84th birthday of the writer Đỗ Hồng Ngọc. The translator could not fully translate the profound words of the author, Tuệ Sỹ, a genius bodhisattva of this realm who used non-dual principles to write about Đỗ Hồng Ngọc, a very remarkable layman. Please watch this new screenplay appearing on words: Zen Master Tuệ Sỹ and writer Đỗ Hồng Ngọc are coming out of the Vimalakirti Sutra.

Ghi chú của dịch giả: Bản dịch này được thực hiện để mừng sinh nhật thứ 84 của nhà văn Đỗ Hồng Ngọc. Người dịch không thể dịch cho trọn ý của tác giả Tuệ Sỹ, một Bồ tát thiên tài của cõi này, khi sử dụng những lý bất nhị để viết về Đỗ Hồng Ngọc, một cư sỹ rất mực dị thường. Xin mời xem vở kịch mới đang hiện ra trên những dòng chữ: Thiền Sư Tuệ Sỹ và nhà văn Đỗ Hồng Ngọc đang bước ra từ Kinh Duy-Ma-Cật Sở Thuyết.

………………………………………………………………………………………………………

….

I asked the ants if they saw where the Pure Land was
and if the sky kept the traces of birds flying.
A heart lighted up to replace the sun after hearing
a call in the depths of the night in the country of pain.

 

The first time I came across Venerable Huệ Hưng’s translation of the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti’s thrilling movements and reasoning series made me read with passion, and I memorized many passages. My feelings at that time may not have been as “overwhelming” as those of Mr. Cao Huy Thuần because my cognitive level at that time was only that of a 14-year-old boy, not as profound as that of a young professor who had graduated from the Huế University of Law.

As a novice monk in a Vietnamese temple but studying Theravada scriptures with Lao monks, I have great respect for the Arahants, and so I had no feeling that Vimalakirti could have brought down the status of the Great Hearers. It was only when I was a little older and over the years of studying more and more Mahayana texts that I read more Chinese commentators who disparaged the hearers’ thinking as low-minded and narrow-minded and rather heavily condemned them as “destroyed seeds” who destroyed all the sprouts and good seeds of enlightenment.

Along with the growth of the “Zen mouth” type, who exclusively articulated Zen Buddhist principles on the tip of their lips and tongues, a class of monks went “meditatively insane,” freely wandering into the market, entering the adult bar, entering the theater, and declaring that every location is a pure temple. But with training, since I was a small child, I have never felt, in spite of his unabashedly eloquent reasoning, how Vimalakirti overcame the Great Hearers. Although many Chinese commentators have mocked Sariputra and many other Great Hearers, such as when he asked Vimalakirti where the sages would eat and where they would sit, even so, I still felt that there was a hidden meaning in it that I did not understand.

Until a while ago, when I grew up a little more in the midst of a chaotic society, the monks were like a mixed community. In this way, the Buddha, and in many other ways, the monks and their theoretical schools, suddenly appeared many great senior persons whose level of understanding of the teachings did not yield to the elders in the mountain sect.

Looking inward, they understand and practice deeply the scriptures; looking outward, they are sensitive to the crazy events of society. With their deep comprehension of the Way and broad experience of life, as well as their talents and wisdom, these lay persons have greatly contributed to the passages of reopening the proper source of thought.

Not only one Vimalakirti, but many Vimalakirtis, dressed in different behaviors in various social positions, have appeared here, living among us. They roll in the dust of life, taste all kinds of “smells of filth,” but still constantly rise to the heights of the Dharma. In an era where Vimalakirti’s image can no longer be found, the Dharma can be just like a supermarket item, sometimes just like the items on the shoulder poles of street vendors.

Who is Vimalakirti to be compared like that? A half-historical, half-legendary figure. That personality is the collection of all the qualities to be called the “lineage son,” the true son, of the Enlightened Ones. Each personality emerges in a particular historical epoch, each of which is a personality based on the quality and hierarchy of each society. That personality is hidden alone in the deep forest, or present in the bustling market of life, whose space is covered by their direct and profound minds. The direct mind, which Huyền Trang calls the joy of pure intention, is the will to go up, to see life with loving eyes, to orient one’s life, and to go up together with love and wisdom. From that direct mind, with the will to decide and to persevere in the purpose, that is called the profound mind, also said to increase the joy of pure intention. It’s a character we can meet somewhere.

From the ground of pure-intention joy, the practitioner takes seven more steps to generate bodhicitta, from a deep love for his birth mother, and for the sake of the mother’s peace, makes the vow to practice the bodhi path. Then, with the immense mother’s love, the bodhicitta aspiration also grows and expands in a straight line like an upright mind. From that ground of pure-intention joy, the practitioner generates a steadfast determination that is imprinted in the depths of his mind.

However, it is possible that we will easily be overwhelmed by philosophical words, thereby seeing Vimalakirti as a noble and distant figure. So, let’s start with the description in everyday language, as Đỗ Hồng Ngọc writes in the book “Cõi Phật Đâu Xa,” in which he writes about the Sutras with ease and with great care, just like a doctor writes a prescription:

“Righteousness, i.e., a direct mind, is equality, non-discrimination, non-disparagement… With a mind of non-discrimination and non-disparagement, a respectful mind appears and is embodied by Boddhisattva Thường Bất Khinh, a compassionate and empathetic mind appears and is embodied by Boddhisattva Avalokitesvara, and a sincere mind appears for “everyone who sees will be happy, and everyone who meets will be happy” and is embodied by Boddhisattva Medicine King. Respect, sincerity, and empathy must be based on the non-discriminatory prerequisite, that is Equality. That is Non-Dualism.”

While we try to avoid the rind of the melon, we also tend to panic when we come across a coconut shell. We come across an even more troubling philosophical term, “non-dual.” That is the guiding principle for Vimalakirti’s thoughts and actions when he said to Sariputra, “Appearing in all postures (walking, standing, lying down, sitting), but still not leaving the state of concentration on the cessation of perception and feeling; thus, it is the true state of peaceful sitting.” Or when he, as a patient, welcomed Manjushri Bodhisattva who came to visit, and there, in “Cõi Phật Đâu Xa,” we hear the patient greeting the physician with great relief: “It’s a good thing Manjushri has just arrived! The form has not yet arrived, but it has arrived. The form is not seen, but it is really seen.” The symptoms of the disease, the causes of the disease—all those forms of the disease—don’t appear but they do appear, unseen but still visible; the patient does not visit the doctor, and the doctor does not visit the patient.

In this dialogue, Vimalakirti also greets Manjushri in ordinary language: svāgatam, which literally means “has arrived skillfully, well.” Here is the exact equivalent of the English greeting: “Welcome!” This greeting word is connected to the term Tathāgata: Tathagata (Như Lai), which is defined in the Diamond Sutra as “Tathagata, the one who skillfully arrives because he neither comes from anywhere nor does he go anywhere.” It also refers to the Sanskrit words gata, āgata, anāgata (already gone, already come, not coming, not yet come), which we read every day in the Heart Sutra: gate gate paragate parasaṃgate bodhi svāha. Coming but not coming, going without going, is the nature of the Tathagata: Tathāgata: tathā gata/āgata. The enlightened saints greet each other in everyday language that still encompasses the transcendental world.

But the concept of non-dualism forms the ideological foundation of a branch of Vedānta philosophy known as advaita-vāda in Sanskrit. In the contemporary philosophical language, it is translated as the doctrine of the “Absolute One Source.” This theory states that when one attains the Absolute One Source, which represents liberation, Brahma and Self unite; the Little Self and the Great Self merge into the Absolute One. In other words, the Soul and the Creator God are the One Absolute. The Buddhist scriptures state that there is no concept of a truly existing Self, and therefore reject the theory of an Absolute One Source.

In order to avoid confusion and being overwhelmed by transcendental dialectical words and arguments, ranging from the absolute one source of the union of Brahma and Self to “The Tathagata arrives without coming, goes without leaving,” we can also begin with a simpler understanding as explained in the commentary by Đỗ Hồng Ngọc, which can be likened to how doctors diagnose diseases:

“They remain in the realms of birth and death without engaging in any unwholesome actions. They abide in Nirvana without ever ceasing to exist. They cultivate the mind of inherent emptiness and simultaneously accumulate merits. They dwell in the signless mind and yet continue to save sentient beings. They do not arise themselves, yet they inspire the arising of all virtuous actions...”

That passage summarizes Vimalakirti’s conversation with Manjushri about the Bodhisatta’s realm practice. It discusses the practice’s environment and the object of the Bodhisattva’s observations. It mentions that dwelling in emptiness (śūnyatā-gocara) and signless formations (animitta-gocara) are two of the three doors of liberation that a Hearer focuses on to attain Nibbāna. These three doors of liberation are Emptiness, Signlessness, and Nonaspirational (apraṇihita), the latter of which is also called Non-action according to the monk La-thập. If you have not seen or do not know what Nirvana is, do not rush to say that birth, death, and Nirvana are one, not two. These, however, are the words that the sick say to the visitors. Sickness or no sickness, samsara or nirvana, here and there in the three realms, the sick person embodies inherent emptiness, and the phenomenon of illness is also empty. Therefore, there is no need to discuss hope or hopelessness.

Such things are not easy to understand either; therefore we should listen to the quote from the book Cõi Phật Đâu Xa: “Bodhisattvas always stand between the two banks…”

And here he introduced the lyrics of Trịnh Công Sơn’s song: “On our shoulders, the moon and the sun both shine, illuminating a realm that returns for a hundred years.” If we examine Trịnh Công Sơn’s lyrics from a philosophical perspective, we can see that they are not related to the non-dual Dharma gate. But it also reminds us of the story of a musician who lived in the heavenly realm of the Indra Heaven Emperor and fell in love with a goddess. He went to the Buddha and sang a love song as an offering, expressing his passion with the words, “I love her as an Arahant loves the Dharma.”

Perhaps there is no description of faithful love more sincere than that. The lyrics were unfamiliar to serious Buddhist readers, but the Buddha’s response was equally perplexing: “Very well, the music complements the words, just as the words complement the music. In it, there is craving, but there is also Nirvana.” Craving refers to a strong desire, often with sexual implications, while Nirvana represents a state of seclusion or enlightenment. Does it mean that one can look through the craving to see Nirvana, or one can look through Nirvana to clearly see the nature of the craving? Is it in the stinking mud that the lotus flower is found?

After all, what is the door to this non-dualistic dharma?

The love story of the Indra Heaven Emperor’s musician is made into a script to say the unspeakable because of its villainous nature. Likewise, readers of the Vimalakirti Sutra can easily recognize that this text is structured according to the dramatic genre. In the script, the villains of the characters are used to express the content according to the intended meaning.

In the passage quoted by Đỗ Hồng Ngọc mentioned above, we see that the Bodhisattva cultivates his mind like a Hearer Saint who lives in the transcendent world but practices his way like an ordinary person in the realm of birth and death: in the mud but without the foul smell of mud. That is the basis of non-dualistic thinking. The sages live in the transcendent world, and the mortals are born and die; the sages and the mortals are in two opposite worlds but of the same nature. Readers who do not see the antagonistic pairs in this theory will surely see that Vimalakirti has “overwhelmed” and “chased” the Hearer Saints into a dead-end alley.

In the script of the Vimalakirti Sutra, one hears corresponding responses between Manjushri and Vimalakirti, but this is not a pair of villains; in the sutra, Manjushri is actually the theater conductor. Without a theater conductor, it is difficult to understand the content of the script. This is the classical structure of drama. While Manjushri spoke and asked, Vimalakirti remained silent. Without Manjushri as the theater conductor, Vimalakirti’s silence has no meaning, so this is not a pair of antagonistic reciprocals.

In fact, Vimalakirti appeared in many different roles, so he simultaneously played the villain for many saints, from arahants to bodhisattvas. When Sāriputta was sitting quietly in a deserted forest, Vimalakirti appeared with such sharp reasoning that this great hearer was speechless. It is easy for people to see only a Venerable Sariputra in a deserted forest who is absorbed in the immersion of cessation of feeling and perception, who sits in the stillness of body and mind, and who is able to keep his body from decaying through a great kalpa, through millions of years; however, he is not seen wandering around for alms with a hungry stomach.

If he wants to enjoy peace and quiet for himself for thousands of years until his body decays, then he doesn’t need to eat to be alive. So why is the monk holding his bowl for alms? Is it because hunger will torment him or to wake up the worldly beings in misery? Is the scene in which Vimalakirti goes into the world to help human beings live in joyful peace nobler than Sariputra sitting in silence? Is the statue of the Buddha sitting motionless on the table of no benefit to anyone, not equal to a monk who chants sutras to pray for the dead ancestors and for peace for the living? It is a pair of antagonists that reveal the essence of existence.

On the other hand, in the manner of the saint who had gone beyond this world, Sariputra appeared before an opposite character who was an extremely beautiful goddess. With the beauty that surpasses all the beauty of the heavens, she danced to the musical piece named “The goddess offers a rain of flowers,” which was more magical than any others and one that would make the Emperor Xuanzong of Tang lose his throne and his country.

But why did she live in an empty room with the old layman Vimalakirti and then dance and sing in front of the dignified saints, whose minds were quiet and never had sexual ripples? In what sense was she present? The exchange between the goddess and Sariputra pushed the contrast between defilement and purity to dramatic drama, causing Sariputra to transform into a beautiful goddess and the goddess to transform into the dignified Saint Sariputra.

Those who recognize the pairs of opposite characters between the main and antagonist in the Buddhist scriptures would contemplate those images to see the meaning of non-dualism and would know the door leading to the realm of non-dualism.

Moreover, we should observe carefully the villainous antagonists and the villainous scenes. The mango garden, owned by the courtesan Amrapali, became a place where the princes and rich young men let themselves drift in lust and a retreat place for the hearer monks who had gone beyond this world and lived in purity in the polluted environment. Meanwhile, Vimalakirti’s residence, where he received politicians who were rushing in the arena of power and merchants who were competing fiercely in the marketplace, was also the hangout spot for the saints, the hearer monks, and the bodhisattvas. Vimalakirti’s home and the mango garden of the courtesan Amrapali were the two opposite images of the villainous antagonists: the noise and the stillness, the polluted and the purified.

Between the Samsara world and the Fragrance Buddha Realm, between the lion throne and the city of Kapilvastu, between the infinity coming into the infinitely small and the small entering the vastness, these are pairs of antagonistic backgrounds that would reveal the core of the existence of the world and the universe. With those images, Buddhists practice how to think beyond conventional stereotypes, transcending the empirical world to rise to the transcendent and inconceivable realm.

Thus, reading the Vimalakirti Sutra is like watching a screenplay, with dramatic events and antagonistic characters and backgrounds. This is a way to train and equip yourself with a self-directed tool to rise to enlightenment heights.

While I was exploring the antagonistic and dramatic meanings in the Vimalakirti Sutras, my two lay friends, Đỗ Hồng Ngọc and Thân Trọng Minh, expressed their enthusiasm and aspiration, intentionally wanting to rewrite a screenplay and stage a theater so that the audiences could better understand what the sutra wants to point out. Because our language skills and thinking capacity are limited, it can be relatively easier to enter the righteous path through the artistic path.

I hope you lay people achieve as you wish. As for me, returning to the grass cottage to wander with poetry, I now send to my lay friends two poetic lines as follows:

Sitting in this familiar, old thatched-roof cottage,
I raised the teacup from the old Master Triệu and saw thousands of flowers blooming.

Written in Thị Ngạn am, at the beginning of spring, in the year of the Rooster.

Tuệ Sỹ

(3.2017)

(dohongngoc.com)

 

 

…. o ….

 

PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH

Tuệ Sỹ

 

(Viêt từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của Đỗ Hồng Ngọc)

 

Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh,
Ngoài hư không có dấu chim bay?
Từ tiếng gọi màu đêm đất khổ,
Thắp tâm tư thay ánh mặt trời.

 

 

Lần đầu tiên tôi tình cờ gặp bản dịch Duy-ma-cật sở thuyết của ngài Huệ Hưng; hành tung ly kỳ và chuổi lý luận của Duy-ma-cật khiến đọc say mê, nhiều đoạn học thuộc lòng. Có thể không “choáng ngợp” như anh Cao Huy Thuần vì trình dộ nhận thức của tôi bấy giờ chỉ là của một cậu bé 14 tuổi, không thể sâu sắc như  vị giáo sư trẻ tốt nghiệp Đại học Luật khoa Huế. Một chú tiểu tu chùa Việt nhưng học kinh điển theo hệ Theravāda với các Sư người Lào, do đó cực kỳ kính trọng các A-la-hán, và vì vậy không có cảm giác Duy-ma-cật đã có thể triệt hạ địa vị các Đại Thanh văn. Lớn lên chút nữa, qua nhiều năm học thêm nhiều kinh luận Đại thừa, đọc thêm các nhà luận giải Trung hoa chê bai tư tưởng các vị Thanh văn thấp kêm, tâm tư nhỏ hẹp, và kêt án khá nặng là “hạng tiêu nha bại chủng”, hủy diệt mọi thứ mầm non và hạt giống tốt của giác ngộ.

Cùng với sự phát triển của loại “khẩu đầu Thiền”, thuyết lý Thiền tông trên đầu môi chót lưỡi, phát sinh một lớp sư tăng “cuồng thiền”: thỏng tay vào chợ, thanh lâu, hý viện, đâu chẳng là thanh tịnh đạo tràng. Nhưng với sự huân tập từ hồi còn là tiểu nhóc, tôi chưa hề cảm thấy, mặc dầu với lý luận biện tài vô ngại, Duy-ma-cật đã lấn lướt vượt qua các vị Thanh văn như thế nào. Tuy nhiều vị luận giải Trung hoa quả có chế diễu ngài Xá-lợi-phất, và nhiều vị Đại Thanh văn khác nữa, như khi ngài hỏi Duy-ma-cật các Thánh giả sẽ ăn cơm ở đâu, sẽ ngồi chỗ nào; dù vậy, tôi vẫn cảm thấy trong đó có ẩn ngữ mình chưa hiểu.

Cho tới một lúc, lớn thêm chút nữa, giữa xã hội xô bồ đảo điên, tăng đồ như một cộng đồng ô hợp, riêng Phật riêng thầy, riêng tông môn pháp phái, bấy giờ bỗng xuất hiện những cư sỹ lão thành cự phách, mà trình độ thâm hiểu giáo lý không nhường các bậc trưởng lão trong sơn môn. Bên trong, hiểu và hành sâu xa nội điển; bên ngoài nhạy bén trước các biến cố đảo điên của xã hội; hiểu đạo sâu mà hiểu đời rộng, tài và trí ấy, hiểu và hành ấy, đã góp phần rất lớn trong những đoạn đường khơi lạc nguồn mạch tư duy.

Không chỉ một Duy-ma-cật, mà có rất nhiều Duy-ma-cật, khoác nhiều hành trạng khác nhau trong nhiều địa vị xã hội khác nhau, đã từng xuất hiện ở đây, sống giữa chúng ta. Họ lăn lóc trong bụi đời, nếm đủ thứ “mùi tục lụy” nhưng vẫn không ngừng vươn lên theo chiều cao của Đạo Pháp. Trong một thời đại mà không còn tìm thấy thấp thoáng bóng dáng của Duy-ma-cật, Phật pháp đạo lý có thể chỉ như món hàng trong siêu thị; có lúc chỉ như gánh hàng rong trên hè phố.

Duy-ma-cật là ai mà được ví von như thế? Một nhân vật nửa lịch sử, nửa huyền thoại. Nhân cách ấy là tập hợp tất cả phẩm tính để được gọi là “đích tử”, con chân thật, của các đấng Giác Ngộ. Mỗi nhân cách nổi lên trong một thời đại lịch sử riêng biệt, trong mỗi thời đại ấy là những nhân cách từ phẩm chất và phẩm trật trong từng xã hội cá biệt. Nhân cách ấy ẩn mình đơn độc trong rừng sâu, hoặc hiện diện giữa chợ đời huyên náo, mà không gian bao trùm bởi trực tâm và thâm tâm. Trực tâm, mà Huyền Trang gọi là “thuần ý lạc (āśaya)”, đó chính là ý chí hướng thượng, nhìn đời bằng con mắt yêu thương, định hướng cho cuộc đời của mình và cùng với tất cả cùng đi lên bằng tình yêu và trí tuệ. Từ trực tâm ấy, với ý chí quyết định, kiên trì mục đích, đó gọi là thâm tâm, cũng nói là tăng thượng ý lạc (adhy-āśaya). Đó là nhân vật mà ta có thể gặp đâu đó.

Bằng thuần ý lạc địa, từ cơ sở đó mà bảy bước phát khởi tâm bồ đề, khởi từ tình yêu thâm thiết đối với Mẹ thân sinh, vì sự an lạc của Mẹ mà phát nguyện hành bồ-đề. Rồi với tình Mẹ bao la mà tâm nguyện bồ-đề cũng theo đó mà rộng lớn lên, theo một đường thẳng như tấm lòng ngay thẳng. Từ tâm tư thuần ý lạc địa ấy mà kiên định chí hướng, in sâu trong tận cũng tâm khảm, trong thâm tâm.

Thế nhưng có thể chúng ta dễ bị choáng ngợp bởi những từ ngữ mang tính triết học, do đó mà thấy Duy-ma-cật là một nhân vật cao diệu, xa vời. Vậy, chúng ta bắt đầu từ diễn tả bằng ngôn ngữ đời thường, như Đỗ Hồng Ngọc viết trong Cõi Phật Đâu Xa: anh viêt Kinh dễ dàng và cũng rất thận trọng cân nhắc, y như bác sỹ viết toa thuốc:

“Lòng ngay thẳng – trực tâm – chính là sự bình đẳng, không phân biệt, không kỳ thị … Không kỳ thị, không phân biệt đối xử mới có lòng tôn trọng như Thường Bất Khinh, mới có lòng Từ bi, Thấu cảm như Quán Thế Âm, mới có lòng Chân thành để “ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng” như Dược Vương. Tôn trọng, chân thành, thấu cảm phải dựa trên điều kiện tiên quyết không phân biệt, là Bình đẳng. Đó chính là Bất nhị.”

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa cũng sợ; chúng ta lại gặp một từ ngữ triết học rắc rối hơn nữa: “bất nhị.” Đó là nguyên lý chỉ đạo cho tư duy và hành động của Duy-ma-cật, khi ông nói với ngài Xá-lợi-phất: “Hiện các oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) mà vẫn không xuất tưởng thọ diệt định, đó mới chính là tĩnh tọa.” Hoặc khi ông chào đón Bồ-tát Văn-thù đến thăm bệnh, và ở đó, trong “Cõi Phật Đâu Xa”,  ta cũng nghe rõ như lời bệnh nhân chào đón y sỹ: “Lành thay, Văn-thù mới đến! Tướng chẳng đến mà đến. Tướng chẳng thấy mà thấy.” Bệnh chứng, bệnh nguyên, tất cả các tướng ấy, chẳng đến mà đến, chẳng thấy mà thấy; bệnh nhân không tìm đến y sỹ, và y sỹ không đi đến bệnh nhân.

Trong đối thoại này, Duy-ma-cật cũng chào đón Văn-thù bằng ngôn ngữ thông thường: svāgatam: nghĩa đen được hiểu đã đến một cách khéo léo, tốt đẹp; đây là một từ chào hỏi tương đương chính xác với lời chào tiếng Anh: “Welcom!” Từ chào hỏi này liên hệ đến từ Tathāgata: Như Lai, mà Kinh Kim cang định nghĩa: “Như Lai, vị khéo đến, vì không từ đâu đến, cũng không đi đến đâu.”  Nó cũng liên hệ các từ  Phạn gata, āgata, anāgata: đã đi, đã đến, không đến, chưa đến, đó là những từ mà chúng ta đọc hằng ngày trong Tâm Kinh: gate gate paragate parasaṃgate bodhi svāha. Đến mà không đến, đi mà không đi, là thể tính Như Lai: Tathāgata: tathā gata/āgata. Các vị Thánh giả chào nhau bằng ngôn ngữ đời thường mà trong đó vẫn bao hàm thế giới siêu việt.

Nhưng, tư tưởng bất nhị là căn nguyên tư tưởng của một nhánh trong triết học Vedānta, tiếng Phạn nói là advaita-vāda, dịch theo ngôn ngữ triết học quen dùng ngày nay, đó là chủ thuyết lý “Nhất nguyên Tuyệt đối”. Đạt đến nhất nguyên tuyệt đối, là đạt đến giải thoát, bấy giờ Phạm-Ngã đồng nhất, Tiểu ngã và Đại Ngã hiệp thành nhất thể tuyệt đối. Nói cách khác, Linh hồn và Thượng đế là Nhất thể Tuyệt đối. Kinh Phật không nhận có Thật Ngã tồn tại, dó đó không thừa nhận thuyết Nhất nguyên tuyệt đối này.

Để khỏi phái bối rối, choáng ngợp trước những từ ngữ và lý luận biện chứng siêu nghiệm, từ nhất nguyên tuyệt đối của Phạm-Ngã nhất thể, cho đến “Như Lai đến mà không đến, đi mà không đi”, chúng ta cũng có thể bắt đầu với nhận thức đơn giản hơn từ dẫn giải bởi Đỗ Hồng Ngọc, hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh:

“Ở tại nơi sanh tử mà chẳng làm việc ô trược, trụ nơi Niết-bàn mà chẳng diệt độ mãi; hành tánh không mà vẫn trồng các cội công đức; hành vô tướng mà vẫn độ chúng sanh; hành vô khởi mà khởi tất cả thiện hạnh…”

Đây là đoạn dẫn tóm tắt khi Duy-ma-cật nói với Văn-thù về sở hành cảnh giới của Bồ-tát, môi trường hành đạo và đối tượng quán sát của Bồ-tát; trong đó nói hành tánh không (śūnyatā-gocara), hành vô tướng (animitta-gocara), là hai trong ba giải thoát môn mà một vị Thanh văn lập làm đối tượng quán sát để chứng nghiệm Niết-bàn. Ba giải thoát này là Không, Vô tướng, Vô nguyện (apraṇihita), hay nói là  Vô tác theo La-thập.  Chưa thấy và chưa biết Niết-bàn là gì thì chớ vội nói sinh tử và Niết-bàn là một, không hai. Thế nhưng, đây là những lời người bệnh nói với người thăm bệnh. Bệnh hay vô bệnh, sinh tử hay Niết-bàn, đây và đó qua lại trong ba ngõ: người bệnh vốn không, hiện tượng bệnh cũng không, cho nên không có gì để nói hy vọng hay tuyết vọng.

Những điều như vậy cũng không phải dễ hiểu; do đó chúng ta nên nghe lời dẫn từ Cõi Phật Đâu xa:

“Bồ-tát luôn đứng giữa hai bờ…” và tại đây ông giới thiệu lời trong ca khúc của Trịnh Công Sơn: trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyêt/ Rọi suốt trăm năm một cõi đi về. Nếu đưa thẳng vào tư duy triết học thì lời nhạc của Trịnh Công Sơn không liên hệ gì đến pháp môn bất nhị. Nhưng nó cũng khiến chúng ta nhớ đến câu chuyện một nhạc công của Thiên đế Indra thất tình với một thiên nữ, bèn tìm đến đức Phât, hát lên “bản tình ca dâng Phật”, với đoạn tả tình thắm thiết: “Tôi yêu nàng như A-la-hán yêu Chánh Pháp”. Có lẽ chẳng có ca từ mô tả tình yêu chung thủy nào chân tình hơn thế. Lời nhạc đã lạ lùng với đôi tai người đọc kinh Phật nghiêm túc, mà câu trả lời của Phât cũng thất lạ lùng khó hiểu: “Hay lắm, nhạc hòa hợp với lời, lời hòa hợp với nhạc; trong đó có ái dục mà cũng có Niết-bàn,” Ái dục là tình yêu hệ lụy sắc dục, và Niết-bàn là cảnh giới ly dục. Há lại có nghĩa, từ trong ái dục mà thấy Niết-bàn, từ Niết-bàn mà thấy rõ thể tính của ái dục? Đơn giản hơn, từ bùn lầy hôi thối mà tìm thấy hoa sen?

Rốt cục, cửa dẫn vào pháp bất nhị này là đâu, là cái gì?

Chuyện tình nhạc công của Thiên đế diễn thành kịch bản để nói những điều không thể nói, vì tính chẩt phản diện được cấu trúc trong đó. Cũng thế đó, người đọc Duy-ma-cật sở thuyết có thể dễ dàng nhận ra bản văn này được cấu trúc theo thể loại kịch. Trong kịch bản, tính phản diện của các nhân vật được sử dụng để diễn tả nội dung theo ý nghĩa muốn nói.

Trong đoạn dẫn của Đỗ Hống Ngọc nêu trên, chúng ta thấy Bồ-tát tu tâm như một Thánh giả Thanh văn xuất thế, nhưng hành đạo như một phàm phu trong sinh tử: trong bùn mà chằng hôi tanh mùi bùn. Đó là căn bản của tư duy bất nhị. Thánh nhân xuất thế, và phàm phu sinh tử, hai mặt phàn diện mà lại đồng nhất thể tính. Người đọc nếu không nhìn ra những cặp phản diện trong Sở thuyết này tất sẽ thấy Duy-cật-đã đã “lấn lướt” các Thánh giả Thanh văn, đã “dồn ví” các ngài vào ngõ bí.

Trong kịch bản Duy-ma-cật sở thuyết, người ta nghe được những đối đáp tương xứng giữa Văn-thù và Duy-ma-cật, nhưng đây không phải là cặp nhân vật phản diện; mà trong đây Văn-thù chính là vai người dẫn kịch. Không có người dẫn kịch thì khó có thể hiểu nội dung của kịch bản. Đây là cấu trúc cổ điển của kịch. Như trong khi Văn-thù nói và hỏi, Duy-ma-cật im lặng; nếu không có Văn-thù như là vị dẫn kịch, thì sự im lăng của Duy-ma-cật chẳng có ý nghĩa gì; do đó đây không phải là cặp đối đáp phản diện.

Thực ra, Duy-ma-cật xuất hiện trong nhiều lớp áo khác nhau, nên đồng thời thủ vai phản diện cho nhiều vị Thánh giả, từ các A-la-hán cho đến các Bồ-tát. Khi ngài Xá-lợi-phất tĩnh tọa trong rừng vắng, Duy-ma-cật xuất hiện với lý luận sắc bén khiến cho vị Đại Thanh văn này không còn lời đối đáp. Dễ chừng người ta chỉ thấy một Tôn giả Xá-lợi-phất trong rừng vắng nhập tưởng thọ diệt tận định, thân tâm bất động, có thể lưu thọ hành để giữ cho thân thể tồn tại không mục rã qua một đại kiếp, hằng triệu năm của mặt trời; ấy thế nhưng lại không thấy ngài ôm bát lang thang trong hang cùng ngõ hẻm với cái bụng đói. Nếu để thọ hưởng an lạc tịch tĩnh chính mình qua hằng nghìn năm cho đến khi thân ấy mục rã nếu muôn, thế thì cần gì phải ăn để mà sống. Vậy ôm bát đi khất thực vì lẽ gì?  Vì cơn đói sẽ hành hạ bản thân, hay vì để thức tỉnh thế gian đang trầm luân trong khổ lụy? Thế thì Duy-ma-cật đi vào đời để xây dựng cho đời an vui có cao quý hơn ngài Xá-lợi-phất ngồi trong tịch nhiên bất động? Phải chăng tượng Phật ngồi bất động trên bàn chẳng ích lợi gì cho ai, chẳng bằng sư trụ trì tụng kinh cầu siêu, cầu an cho bá tánh? Đấy là cặp phản diện làm hiện rõ bản chất của tồn tại.

Mặt khác, trong phong thái Thánh giả xuất trần Xá-lợi-phất lại xuất hiện trước một phản diện là cô thiên nữ cực kỳ diễm lệ. Với sắc đẹp vượt lên cả hàng thiên hương quốc sắc ây, với vũ điệu thiên nữ tán hoa kỳ ảo hơn cả vũ khúc nghê thường ấy, cũng rất dễ khiến cho Đường Mimh Hoàng mất ngôi mất nước. Nhưng sao nàng sống chung trong một căn phòng trống trải với lão cư sỹ Duy-ma-cật; rồi lại xuất hiện múa hát trước các Thánh nhân xuất thế, những vị mà tâm tư lắng đọng không hề gợn sóng dục tình; hiện diện với ý nghĩa gì? Đối đáp giữa thiên nữ và Xá-lợi-phất đã dẫn cặp phản diện ô nhiễm và thanh tịnh lên đến kịch tính gay cấn, khiến cho Xá-lợi-phất biến hình thành thiên nữ kiều diễm, và thiên nữ biến hình thành Thánh giả Xá-lợi-phất nghiêm trang.

Nhận diện được những cặp nhân vật phản diện trong Kinh thì cũng có thể bằng hình ảnh ấy mà chiêm nghiệm thế nào là ý nghĩa bất nhị, bằng cánh cửa nào để đi vào cảnh giới bất nhị ấy.

Thêm nữa, ngoài những nhân vật phản diện, cũng nên đi sâu vào những bối cảnh phản diện. Khu vườn xoài, sở hữu của kỹ nữ Am-la-bà-lị, nơi các vương tôn công tử buông mình thả trôi trong dục vọng, lại trở thành nơi tịnh tu của các Thanh văn xuất thế, trong ô nhiễm mà không ô nhiễm. Tư gia của Duy-ma-cật, nơi ông tiếp những chính khách đang lao mình trong đấu trường quyền lực, những thương gia đang cạnh tranh ráo riết trên thương trường, mhưng chỗ ấy lại cũng là nơi lai vãng của các Thánh giả xuất trần, Thanh văn và Bồ tát. Tư gia của trưởng giả Duy-ma-cật, khu vườn xoài của kỹ nữ Am-la-bà-lị: cặp phản diện của náo nhiệt và tịch tĩnh, của ô nhiễm và thanh tịnh.

Giữa thế giới Ta-bà và cõi Phật Chúng Hương, tòa sư tử và thành Tì-la-da, cái vô cùng lớn đến trong cái vô cùng nhỏ, và cái nhỏ đi vào trong cái lớn: đây cũng là cặp phản diện bối cảnh làm lộ rõ thể tính tồn tại của thế gian, vũ trụ. Bằng hình ảnh đó mà tập luyện cho tư duy vượt ngoài khuôn sáo ước lệ, vượt qua thế giới thường nghiệm để vươn lên cảnh giới siêu nghiệm, bất khả tư nghị.

Như thế, đọc Duy-ma-cật sở thuyết như đang xem một kịch bản, với những nhân vật và bối cảnh phản diện, với những biến cố mang đầy kịch tính, đó là cách tự huấn luyện và tự trang bị cho mình một công cụ định hướng tự duy để vươn lên chiều cao của giác ngộ.

Trong khi chúng tôi cùng tìm hiểu ý nghĩa phản diện và kịch tính trong Duy-ma-cật sở thuyết, hai ông bạn cư sỹ Đỗ Hồng Ngọc và Thân Trong Minh tỏ ra tâm đắc và cao hứng, cố ý muốn viết lại một kịch bản và dàn dựng sân khấu như thế nào đó để có thể hiểu rõ hơn điều mà Kinh muốn chỉ điểm; vì trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn.

Hy vọng các bạn cư sỹ thành tựu như ý. Riêng tôi, trở về thảo am thơ thẩn, gởi lại hai bạn cư sỹ hai câu thơ:

Nhà tranh mái cũ quen chừng,
Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn.
Thị ngạn am, tiết Lập xuân, Đinh dậu
Tuệ Sỹ
(3.2017)

(dohongngoc.com)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (7.2023)

18/07/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Bạn biết đó. Già đến thật nhanh. Quên đột ngột chuyện mới thì gọi là senile dementia, còn quên tuốt chuyện xa xưa thì là  Alzheimer rồi. Cho nên lúc về già thì nhiều khi không muốn Giác cũng giác, không muốn Ngộ cũng ngộ là vậy.

Lúc này mình chỉ lai rai đọc tin nhắn của bạn bè trên điện thoại, trên email, thấy có nhiều bài hay, có thể chia sẻ với nhau được, coi cho vui, cũng có ích, nhưng nhiều khi không mò ra nguồn để trích dẫn cho đàng hoàng. Mình không có Facebook, và dốt đặc IT. Thỉnh thoảng thấy bài của người ta, ký tên mình, kèm cái hình mình cho chắc ăn, đành cười trừ, không biết phải làm sao! Có nhiều bài thấy đã có từ 10 năm trước, nay dựng lại như mới hôm qua. Thú vị. Nay mai AI hoạt động ầm ầm, râu ông nọ cằm bà kia, vui lắm!

Dưới đây là mấy bài gởi bạn đọc cho vui nhe.

Xin phép các tác giả, các “nguồn”, mình chưa lấy đúng và đầy đủ.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(18.7.2023)

 

Có một kiểu người không bao giờ già đi.

Le Van Quy

(shared từ FB cô Doris Le)

 

Có một kiểu người cả đời chẳng hề già đi, năm tháng dường như đã lãng quên họ. Cái già đi chỉ là tuổi tác, còn khí chất và thần thái là không hề thay đổi. Tất cả là bởi họ mang trên mình những điều rất đặc biệt này.

  1. Một tâm hồn chất phác ngây thơ

Thật khó khi kinh qua trường đời mà vẫn giữ được một tâm hồn chất phác ngây thơ. Đó không phải là kiểu “hồn nhiên như cô tiên” mà là sau những cay đắng của cuộc đời vẫn tin tưởng vào điều tốt đẹp. Đó là một tâm hồn trong sáng, không đánh mất sự hồn nhiên hiếu kỳ đối với vạn vật. Người như vậy thường hạnh phúc và tươi trẻ.

  1. Coi trọng dáng vẻ hàng ngày

Ăn mặc tươm tất, chú trọng vẻ ngoài cũng là một điều quan trọng. Người già chúng ta không nên “tuổi chưa cao mà hồn đã lão”, tâm trí lúc nào cũng đặt trong cảnh tương lai mờ mịt, quá khứ u buồn, cảm thấy chăm chút bản thân là việc của giới trẻ.

Người trẻ tuổi có sự hấp dẫn tự nhiên nên không cần phải để tâm vào việc ăn mặc. Còn người có tuổi, bất luận ở nhà hay ra ngoài đều nên tùy thời phục sức, tao nhã đúng mức, mang lại niềm vui cho bản thân và mọi người. Khi bạn ăn mặc trang nhã, hiển lộ tinh thần sung mãn, thì tự nhiên cũng tự tin hơn, nhìn vào thấy trẻ ra cả chục tuổi.

  1. Kiên trì đọc sách học tập, du lịch

Những người nhìn vào trẻ trung phần lớn đều kiên trì với phương châm “không ngừng tinh tiến, không ngừng học hỏi”. Trong bụng đã có một bồ sách, một kho thi thư thì ắt tâm hồn phong phú, dung mạo phong lưu.

Đọc sách giúp mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan, du lịch giúp mở mang tầm mắt. Người ham thích đọc sách và du lịch, đối với bất cứ sự việc gì đều tự có kiến giải, không phải kiểu người bảo sao hay vậy, tự nhiên thần thái ung dung, tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân.

  1. Tấm lòng lương thiện

Những người nhìn vào trẻ trung, thường là thuần phác, thiện lương. Quá trình tu tâm dưỡng tính của họ thăng hoa thể hiện thành thần thái, tướng mạo bên ngoài. Cũng bởi tướng tùy tâm sinh, nên người có tâm từ bi, có lòng nhân ái, luôn luôn phát ra một loại hào quang. Với người khoan dung, hơn nửa gương mặt là có phúc tướng. Với người mà tính tình dịu dàng thì tướng mặt đã toát lên sự thân thiện.

  1. Có mục tiêu theo đuổi

Người mà nhìn vào trẻ trung sẽ luôn trong trạng thái tinh thần phấn chấn và tràn trề sức sống. Dù là đã nghỉ hưu rồi, trong cuộc sống nên đặt những mục tiêu mới. Trong phạm vi mà khả năng cho phép, hãy tích cực tham gia các loại hoạt động như ca hát, chụp ảnh, khiêu vũ… Như vậy, cuộc sống bày ra trước mắt bạn sẽ có sức sống hơn, cũng sẽ khiến bạn không bao giờ thấy mình già đi vậy.

  1. Biết cảm mến cuộc đời

Đam mê cuộc sống vẫn chưa đủ, nếu như có thể có chút lòng cảm mến với nó thì sẽ hoàn mỹ hơn. Không hưởng thụ những ưu việt mà đồng tiền mang lại, nguyện ý bỏ tâm tư trồng mấy chậu cây cảnh hay bắt tay chế tác mấy món đồ chơi, có những đam mê sở thích khác. Người như vậy, thời gian làm sao nhẫn tâm để bạn già đi đây?

  1. Kiên trì vận động

Thân thể khỏe mạnh mới là nền tảng duy trì sự trẻ trung. Người mà trông không có vẻ già đi nhất định đều kiên trì vận động, khiến bản thân từ trong đến ngoài đều tỏa ra sức sống.

  1. Tâm thái trẻ trung

Người có tâm thái trẻ trung sẽ tích cực trải nghiệm những điều mới mẻ, luôn hiếu kỳ khám phá những điều mới lạ. Trên người họ, bạn có lẽ cũng có thể nhìn thấy nếp nhăn nơi khóe mắt chân mày. Nhưng điều khiến bạn nhìn không chớp mắt là gương mặt với thần thái ung dung và tâm trạng yêu đời của họ.

Nhà văn Murakami Haruki đã từng nói: “Con người ta không phải là dần dần trở nên già đi, mà là trở nên già đi chỉ trong nháy mắt“. Con người trở nên già đi, không phải bắt đầu từ nếp nhăn đầu tiên, hay cọng tóc bạc đầu tiên, mà là bắt đầu từ ngay cái thời khắc buông bỏ chính mình. Chỉ có những ai không từ bỏ chính mình, mới có thể sống thành người không sợ già, và cũng sẽ không thấy mình già đi.

Theo Secret

Le Van Quy

shared từ FB cô Doris Le

…………………………………………………………………..

ĐIỀU QUÝ GIÁ NHẤT CHÍNH LÀ SỨC KHỎE

Vinh Bùi, Lớp Phật Học & Đời Sống chuyển

Nguyet Nguyen sưu tầm và dịch, đăng trên trang Trần Hoài Văn,

#t230714a

Người mẫu – blogger nổi tiếng Kyrzayda Rodriguez từng nói: “Không có gì là thật, ngoài cái chết”. Dưới đây là 9 lời nhắn nhủ của cô trước khi qua đời vì bệnh ung thư dạ dày:
1. Tôi có chiếc ô tô thương hiệu đắt nhất thế giới trong gara của mình nhưng giờ tôi phải di chuyển bằng xe lăn.
2. Nhà tôi có đầy đủ các loại quần áo hàng hiệu, giày dép và đồ có giá trị. Nhưng giờ cơ thể tôi được bọc trong một tấm vải nhỏ do bệnh viện cung cấp.
3. Tôi có nhiều tiền trong ngân hàng. Nhưng giờ tôi không nhận được bất kỳ lợi ích nào từ số tiền này.
4. Ngôi nhà của tôi giống như một cung điện nhưng giờ tôi đang nằm trên chiếc giường đôi trong bệnh viện.
5. Tôi có thể đi từ khách sạn năm sao này sang khách sạn năm sao khác. Nhưng giờ tôi dành thời gian trong bệnh viện để di chuyển từ phòng xét nghiệm này sang phòng xét nghiệm khác.
6. Tôi đã tặng chữ ký cho hàng trăm người nhưng giờ đây, ghi chú của bác sĩ là chữ ký dành cho tôi.
7. Tôi có bảy người thợ làm tóc để làm đẹp cho mình nhưng bây giờ – tôi không còn một sợi tóc nào trên đầu.
8. Trên chuyên cơ riêng, tôi có thể bay đến bất cứ đâu tôi muốn. Nhưng bây giờ tôi cần sự giúp đỡ của hai người để dìu đến cổng bệnh viện.
9. Dù có nhiều thức ăn nhưng bây giờ khẩu phần ăn của tôi chỉ là ngày hai viên và tối nhỏ vài giọt nước muối.
Ngôi nhà này, chiếc xe hơi này, chiếc máy bay phản lực này, đồ đạc này, rất nhiều tài khoản ngân hàng, rất nhiều danh vọng và tiếng tăm, không có cái nào phù hợp với tôi cả. Không gì trong số này có thể giúp tôi nhẹ nhõm. “Không có gì là thật ngoài cái chết.”.
Nguồn: Nguyet Nguyen sưu tầm và dịch, đăng trên trang Trần Hoài Văn”, #t230714a

……………………………………………

#Đoàn_Thu_Thuỷ (Fb)

Tôi đọc cuốn “ viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cách đây 24 năm, khi lần đầu làm mẹ.

Chừng 10 năm sau, tôi được tặng cuốn “ Nghĩ từ trái tim” của bác sĩ viết về Tâm Kinh Bát Nhã.
Lúc đó tôi còn u mê ngụp lặn trong tham sân si, hỷ nộ ái ố, còn đi chùa cầu xin được nhiều tiền nhiều bạc, còn tin vào bói toán, huyền thuật nên đọc rất khó hiểu, đã cố gắng đọc nhiều lần nhưng không bao giờ đọc hết được cuốn sách mỏng đó.

Mười hai năm trước, tôi gặp một biến cố đau buồn giữa sinh ly tử biệt, có vài tuần đóng cửa ngồi một mình trống trải giữa khổ đau mất mát. Tôi không biết làm gì ngoài đọc sách. Và lúc đó đọc lại “ Nghĩ từ trái tim”, bỗng nhiên thấy mọi việc sáng tỏ như tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Tôi bừng tỉnh.

“ chiếu kiến ngũ uẩn giai không”
-Thấy rõ ngũ uẩn đều không.
Tức thì “ độ nhất thiết khổ ách”- thoát  khỏi khổ đau ách nạn.

“ viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn”-vĩnh viễn cắt đứt điên đảo mộng – tưởng, đó là cứu cánh Niết bàn.

Tôi ngộ ra, Niết Bàn chẳng ở đâu xa, ở chính trong tâm của mỗi người.
Đau khổ hay hạnh phúc cũng từ tâm mình mà ra.

Đến khi đọc “ Gươm báu trao tay “ của ông nói về kinh Kim Cang tôi càng thấy thấm thía :
“ ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”- đừng trụ tâm vào đâu cả.
Đó chính là gươm báu chặt đứt mọi phiền não.

Người ta khổ vì mong cầu không được, vì mất mát cái đang có, vì cảm thấy không bằng người này người kia… tất cả từ tâm mà ra. Ít ai chịu hiểu khổ đau hay hạnh phúc là do chính tâm mình quyết định, mình cảm thấy thế nào sẽ như thế đó.

Tôi chưa từng gặp bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nhưng chính ông đã đưa tôi thoát khỏi tâm bệnh, soi sáng những bài kinh tôi từng tụng niệm ở chùa mà không hiểu hết ý nghĩa vi diệu.
Ông viết rất nhẹ nhàng mà thâm sâu, gần gũi mà  bay bổng, dí dỏm mà thực tế.
Tôi đã đọc:
Cành mai sân trước,
Những người trẻ lạ lùng,
Thư viết cho người bận rộn,
Gió heo may đã về,
Cõi Phật đâu xa, thấp thoáng lời kinh Duy Ca Mật
Ngàn cánh sen xanh biếc thấp thoáng về Diệu Pháp Liên Hoa…

Mỗi cuốn sách là một kho tàng kiến thức, giúp tôi ngộ ra nhiều điều minh triết trong đời sống.

Tôi, một người đàn bà ít học, kiến thức hạn hẹp nên ít bám chấp vào lý thuyết nào. Có lẽ vì thế tôi nên dễ thấm, dễ tin, dễ ngộ.

Với những kiến thức thâu lượm được tôi hạnh phúc trong hiện tại và an trú trong hiện tại. Không mong cầu , không đau khổ…
Vạn vật cứ đổi thay theo thời gian, theo quy luật nên con người cũng nương theo quy luật của vũ trụ. Được, mất, hơn thua cũng chỉ thoáng qua, không có gì là mãi mãi.

…Bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta
Bên trời xanh mãi những nụ mầm mới
Để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười ( TCS)

Đoàn Thu Thuỷ (Fb).

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Bs ĐHN: “Tôi Học Phật” để ứng dụng vào đời sống.

27/06/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: “Tôi học Phật” để ứng dụng vào đời sống

Gặp gỡ & Đối thoại
NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI 27/06/2023 05:44 GMT+7
https://cuoituan.tuoitre.vn/bac-si-do-hong-ngoc-toi-hoc-phat-de-ung-dung-vao-doi-song-20230621075501768.htm

TTCT – Dưới góc nhìn của người thầy thuốc, học Phật để ứng dụng những gì cho sức khỏe con người?

Từ bể kiến thức học Phật mênh mang khôn cùng, trong tác phẩm Tôi học Phật gần 900 trang, BS Đỗ Hồng Ngọc kể về những trải nghiệm của ông trong hành trình tìm ra phương pháp “giải quyết vấn đề” một cách gần gũi, hiệu quả, với cách viết sáng sủa dễ hiểu. Ông có thể “kê đơn” cho người đọc áp dụng được những gì?

Trò chuyện cùng Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về cuốn sách mới: "tôi học phật" để ứng dụng vào đời sống - Ảnh 1.

(photo Trần Quốc Dũng, 16.6.2023)

“Rất lạ, tôi không định, nhưng rồi…”

Cuốn sách “khổng lồ”, ông viết nó thế nào ạ? Có tổng hợp từ những cuốn nhỏ trước đây, có cả phần tiếng Anh, vậy phần viết mới nhất là gì?

Đúng là từ năm 2001, cứ mỗi 5 năm tôi ra một cuốn sách, theo các vấn đề lớn đặt ra từ các kinh Phật. Từ Tâm Kinh, tôi viết cuốn Nghĩ từ trái tim để trả lời các câu hỏi đời sống (Why? Tại sao). Từ kinh Kim Cang, tôi viết cuốn Gươm báu trao tay (để trả lời câu hỏi How – Cách nào). Từ kinh Pháp Hoa, tôi viết Ngàn cánh sen xanh biếc (cho câu hỏi What – Cái gì, Who – Ai). Từ kinh Duy Ma Cật, là cuốn Cõi Phật đâu xa (cho câu hỏi Where – Ở đâu). Và từ kinh Hoa Nghiêm, tôi có nhiều bài bổ sung sau này.

Cuốn Tôi học Phật như một tổng tập được phát triển hoàn chỉnh. Và như có một sự dẫn dắt tâm linh, tôi nhận ra kinh Phật có một sự nối kết nhau liên tục. Điều đó giúp làm nên cấu trúc đường dây mạch lạc của cuốn sách, khiến nó trở nên dễ đọc. Tôi cho đó chính là đường dây “phương pháp sư phạm của Phật”.

Trò chuyện cùng Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về cuốn sách mới: "tôi học phật" để ứng dụng vào đời sống - Ảnh 2.

Trong kho kinh Phật khổng lồ, có rất nhiều khái niệm và từ gốc Hán, ông học cách nào cho dễ nhất?

Tôi tự học. Người “thầy gốc” chính là Thích Ca Mâu Ni Phật. Tất nhiên có các vị thầy khác, ai tôi cũng đọc, như thầy Nhất Hạnh, Thanh Từ, Viên Minh… Tôi học từ rất nhiều thầy, kể cả… tôi. Tôi học ở chính mình, một bác sĩ, vì y khoa là khoa học thực nghiệm.

Tôi học được gì ư? Học cách tiếp cận một cách khoa học. Học được cách trở về nương tựa ở chính mình. Phải thực hành, thực nghiệm trên chính mình rồi mới thấy được điều đúng. Trong kinh Kalama, Phật có nói: “Đừng vội tin ai cả, kể cả tôi. Hãy thực hành đi”. Phương pháp của Phật dạy sinh động trực tiếp theo sự sống của người học, giống như kiểu ngày nay ta nói “Lấy người học làm trung tâm”.

Nhưng ngày nay có hiện tượng người dân kêu ca kinh sách khó hiểu, nhiều người học, giảng khác nhau nên rất khó học?

Mỗi kinh tôi đọc tìm cốt lõi, so sánh với các suy diễn của nhiều người, tìm ra những quan niệm tưởng bí ẩn nhưng mình hiểu được nó giản dị và khoa học.

Thí dụ Bát Nhã Tâm Kinh có 600 cuốn, rút gọn còn vài trăm chữ, và cuối cùng tôi chỉ còn học một chữ “Không”. Dễ hiểu lầm chữ Không này là không có gì, mà thực ra vẫn có. “Có” này không do tự tính mà là do tác động của nhiều yếu tố (duyên sinh).

Tôi được biết đến một “hiện tượng đọc hiếm hoi” với sách của ông. Họ âm thầm ghi chép lại các bài viết của ông thành một tác phẩm đồ sộ rồi… tặng ông. Chuyện đó cụ thể thế nào ạ?

Đó là bạn Nguyễn Hiền Đức sống tại Mỹ. Lúc đầu, tôi tưởng anh gom góp từ trên mạng, nhưng anh đã đánh máy lại những cuốn sách của tôi mà anh ưa thích trong suốt nhiều năm. Thời buổi này, lạ thật! Anh nói đó cũng là cách anh học tập theo cách của riêng anh. Và sơ thảo cuốn Tôi học Phật này có phần trợ giúp của anh.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: "Tôi học Phật" để ứng dụng vào đời sống - Ảnh 3.

Học phật để ứng dụng trong cuộc sống

Có phải ông học Phật vì đạo Phật rất gần với y khoa?

Có nhiều ngành nghề nghiên cứu ứng dụng từ đạo Phật. Vì là một thầy thuốc, tôi rất quan tâm đến ứng dụng vào đời sống: Thiền định giúp ta an lạc, trí nhớ sáng suốt, lòng rộng mở (từ bi hỉ xả) có thể chữa được nhiều bệnh thời đại như căng thẳng, lo âu, trầm cảm và nhiều bệnh khác. Tỉnh thức (Thiền) là một phương pháp đối trị hiệu quả.

Càng ngày có nhiều nhà y sinh, tâm lý học hợp tác cùng các nhà sư, dùng những kỹ thuật mới như EEG, PET, fMRI… Sau nữa, tham vấn (counselling) ta học được các đức tính tôn trọng, chân thành, thấu cảm từ Bồ Tát Thường bất khinh, Dược vương, Quán Thế Âm.

Thầy thuốc dù chữa được đau – triệu chứng bệnh – nhưng không chữa được nguyên nhân (khổ là gốc sinh ra đau). Tôi nghĩ, mình học cách Phật chữa khổ. Hiểu được nguyên do của khổ (tham sân si), từ đó biết cách sống. Vừa phải thôi. Quá thì bị.

Vậy bác sĩ học Phật rồi ứng dụng đời sống, có thể rút ra như một công thức, kê một “đơn thuốc” cho người trung bình không học nhiều mà áp dụng được không?

Phật dạy và “cho đơn” rồi đó. Phật là “Y vương” mà. Chữa tham sân si bằng “thuốc”: Giới (tránh sát sinh, trộm cắp, nói dối, tà dâm, nghiện ngập), Định (thiền an lạc, thân tâm sáng suốt) và Tuệ (hiểu biết, hết vô minh). Y khoa chữa cái đau còn đạo Phật chữa được cái khổ, cái nguyên nhân.

Trong y khoa, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) có công thức SAFE, trong đó tránh hai thứ là S (Smoking) – không hút thuốc) và A (Alcohol – rượu), làm đúng hai thứ là F (Food – ăn đúng) và E (Exercise – luyện tập).

Thực tế người bệnh chỉ được thầy thuốc “dòm vài phút” gọi là khám rồi kê đơn, vậy “học Phật” rồi nhìn nhận hiện tượng đó thế nào ạ?

Đó chính là chuyện “Tham vấn” tôi nói ở trên, rất cần cho y khoa. Bác sĩ khám kiểu vài phút làm sao tìm hiểu bệnh nhân, nên không hiểu nguồn cơn. Tôi từng biết nhiều trường hợp bà mẹ đang cho con bú tự nhiên mất sữa, đi chữa chạy khắp nơi không khỏi. Tìm hiểu mới biết do chồng đi bồ bịch mặc kệ vợ mới sinh con, bà mẹ tức giận (mà tiết sữa là do hormone trong não tạo ra và co bóp) nay bị tắt, cắt đứt. Tâm ảnh hưởng đến thân.

Trường hợp nữa trong nhi khoa: con gái 7, 8 tuổi rồi bỗng… đái dầm. Cha mẹ đánh đập sỉ vả, em càng bị nặng thêm. Bác sĩ xét nghiệm tìm không ra. Lý do chính là mẹ mới sinh em trai, mừng quá, cả nhà xúm vào phục vụ bỏ bê con chị. Nó sốc. Đái dầm là phản ứng cơ thể muốn gây sự chú ý của ba mẹ. Tham vấn là lắng nghe thấu hiểu để phát hiện nguyên nhân tâm nó ảnh hưởng tới thân bệnh thế nào.

Thiền và thở là quan trọng nhất

Với thiền, trong sách ông kể về những bài tập hay từ kinh nghiệm của riêng mình. Ông từng trải qua bệnh nặng phải mổ não, đến hôm nay trông vẫn… khá. Hằng ngày ông giữ sức khỏe thế nào?

(Cười). Có bệnh gì không, tôi cũng…không biết nữa. Mỗi ngày tôi đều uống một liều thấp ngừa huyết áp, thiền 30 phút và thể dục 30 phút với động tác…tự chế cho phù hợp với mình. Xương sống như cây tre có vai trò quyết định nên các động tác tập trung vào xương, khớp. Tôi không ăn chay nhưng ăn rau, cá và ít thịt gà. Ăn uống nhẹ nhàng, sáng cà phê, yaourt, trưa ăn cơm đơn giản, chiều ăn nhẹ.

Học thiền thấy mấy lợi ích: thấy an lạc, có sức bền tốt, ăn ngủ, trí nhớ đều tốt hơn.

Vì sao trong nhiều triết thuyết tôn giáo, ông chọn học Phật?

Ngoài những yếu tố quan trọng của đạo Phật áp dụng tốt cho cuộc sống như đã nói trên, tôi có một số lý do cá nhân. Tôi được sinh ra ở Phan Thiết, nhà dưới chân núi Tà Cú có chùa đẹp Linh Sơn Trường Thọ Tự, nơi có ông thầy giỏi chữa khỏi bệnh mắt cho mẹ vua Tự Đức. Tôi hay lên chùa chơi ngắm nhiều cảnh đẹp. Lớn vô Sài Gòn học y khoa, đọc sách nhiều nhưng cũng chỉ để hiểu biết chứ chưa chiêm nghiệm.

Năm 1997 sau một lần bị bệnh nặng, tôi hiểu ra nếu mình “tu” sớm, sống không quá căng thẳng chắc không bị. Học Phật giúp tôi hiểu ra cách khác để an trú trong cuộc đời, bớt bệnh tật phiền não. Hiểu cuộc đời tự nó hiểm nguy bất an bất tuyệt nhưng cũng là hân hoan cực lạc, cho ta tự do khám phá sáng tạo. Hiểu khoa học chuyển hóa cái tâm…

Ông hay tự gọi vui mình là “ông 3 điều 4 chuyện” để làm diễn giả chuyển tải những chuyện cốt yếu theo cách dễ hiểu dễ nhớ cho các bạn trẻ. Cụ thể là gì vậy ạ?

Đó là những điều cần nhớ và dễ nhớ. Phật không là “thần linh ban phát” cho ta lạy lục xin xỏ, không là triết gia, làm phức tạp chuyện đơn giản. Phật là đạo sư chỉ đường cho giác ngộ làm cho con người mạnh lên. Phật nói điều bình thường của con người. Phật khuyến khích đừng tìm đâu xa, hãy dựa vào chính mình, những năng lực bình đẳng. (Ta là Phật đã thành. Chúng sinh là Phật sẽ thành). Học Phật cần hiểu các thuật ngữ và các ẩn dụ, ẩn nghĩa để tránh mê tín dị đoan.

Và điều quan trọng nhất trong học Phật là phải thực hành.

Một điều dễ nhớ nữa: thở là quan trọng nhất. Gốc tu luyện là thiền và thở. Cùng sống trong vũ trụ như nhau nhưng con người thở khác nhau. Luyện thở hoàn toàn khoa học. Và ăn gì, như thế nào để có đủ năng lượng mà không bệnh tật. Vì thế, sách tôi viết dưới dạng khoa học dễ hiểu, có trải nghiệm để ngẫm ngợi khi cần và chia sẻ với mọi người.

Xin cảm ơn ông.■

(*) NXB Tổng Hợp TP.HCM 2023.

Tiến sĩ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tốt nghiệp y khoa Đại học đường Sài Gòn năm 1969.

Ông tu nghiệp y tế công cộng tại ĐH Harvard (Mỹ) và CFES (Pháp) và là tác giả của hơn 40 đầu sách.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

Trâm Anh viết về Cha: “Cái máy bào chữ” thân thương

02/06/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Cái máy bào chữ” thân thương

Hổm rày, tôi đã soạn ra những tấm hình cũ của ông ngoại sắp nhỏ, lăn tăn mãi mà không biết bắt đầu viết về ba mình từ đâu. Tôi nhớ thường nhật, trừ giờ ăn sáng, ăn trưa, nghỉ trưa, vệ sinh cá nhân, ghi chép, xem ti vi, trò chuyện với con cháu hay tưới cây, ông sẽ cặm cụi đọc báo hay cuốn sách nào đó. Lúc Ba xuống Sài Gòn ở chơi nhà tôi hay xuống khám chữa bệnh cũng vậy, mà lúc ông sống ở quê nhà cũng vậy

Ba sắp xếp lại kệ sách giúp con gái
Ba sắp xếp lại kệ sách giúp con gái

Từ lúc sức khỏe và tuổi tác không cho phép Ba làm công việc của một kỹ sư nông nghiệp nữa, việc đọc trở thành một phần không thể thiếu trong quỹ thời gian của ông. Ông đọc đều đặn, say mê; mỏi mắt, mỏi lưng, tê chân thì tạm ngưng rồi lại đọc tiếp. Vì Ba cao tuổi, giao tiếp bạn bè ít dần, lại nói “không” với internet, nên đọc cũng là cách giúp Ba khuây khỏa. Nhờ đọc và giữ thói quen ghi chép, thể chất của ông dẫu hao mòn chứ “trí nhớ, sự minh mẫn thì còn ngon lành lắm”. Đó là lời bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc khen Ba trong dịp Ba Má tới dự buổi giao lưu với bác sĩ –  nhà thơ tuổi bát tuần bút hiệu Đỗ Nghê này tại hội quán Các Bà Mẹ (quận 1, TPHCM).

Ông sinh năm 1938, ở tuổi 85, Ba tôi chính là tấm gương, là “idol” và người truyền cảm hứng cho tôi về sở thích đọc sách. Hồi tôi học phổ thông, Ba đặt báo Khăn Quàng Đỏ, Mực Tím cho tôi hằng tuần. Tôi tin rằng, việc tôi từ năm lớp Năm đã thi học sinh giỏi văn cấp thị xã Buôn Ma Thuột, có thể học lớp chuyên văn suốt cấp II-III rồi viết truyện, làm thơ đăng lung tung, từ tỉnh lẻ khăn gói xuống Sài Gòn làm sinh viên ngành báo chí rồi trở thành phóng viên – biên tập… tất cả là nhờ hưởng gen trội của Ba (và xa hơn là ông nội tôi).

Tác giả và ba trước Bảo tàng Thiên Văn (Mỹ)
Tác giả và Ba trước Bảo tàng Thiên Văn (Mỹ)

Kỷ niệm tôi thích nhất hồi nhỏ là được ba chở ra nhà sách ở ngã sáu trung tâm, khi ông có thêm khoản tiền phụ cấp gì đó ngoài lương. Cái yên inox phía sau chiếc xe đạp cũ của ba luôn cẩn thận cột thêm cái áo mưa xếp gọn để tôi ngồi cho êm. Sách hồi đó ba mua cho, tôi còn giữ tới nay, dẫu cũ mèm, rách bìa hay lìa gáy.

Sau này Ba Má có cả chục đứa cháu, mỗi khi đi công tác hay du lịch, ông hay tìm tới nhà sách tại nơi đến, mua sách cho ông rồi chọn sách lịch sử, sách danh nhân, sách khám phá thiên nhiên… làm quà cho mấy đứa cháu nội, ngoại thích đọc hơn là đồ chơi. Ba không quên ghi ngày tháng và lời tặng bằng nét chữ rất đẹp của ông trên trang thứ hai của sách. Về khoản này, tôi cũng học từ ông vì tôi nhận ra, có nét chữ thân thương của người tặng, cuốn sách tự nhiên có hơi ấm và giá trị của nó sẽ càng bền bỉ theo thời gian.

Ba má cùng cháu ngoại trò chuyện với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tại hội quán Các Bà Mẹ sau buổi giao lưu về sách của bác sĩ
Ba Má cùng cháu ngoại trò chuyện với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

tại hội quán Các Bà Mẹ sau buổi giao lưu về sách của bác sĩ

Khi đi làm có tiền, tôi cũng thích gửi tặng sách cho ba đọc. Tôi nói đùa với sắp nhỏ: “Ông bà ngoại là cái máy bào chữ”. Song, phải khâm phục là Ba tôi đọc và nhớ rất kỹ chứ không phải kiểu đọc qua loa. Khi ông đọc báo hay tin tức trên ti vi cũng vậy; nên khi nói chuyện cùng ai, về vấn đề gì liên quan, ông đều có thể trích dẫn chính xác hay bình luận kèm quan điểm.

Trêu Ba là cái “máy bào” cho vui, thực sự tôi gửi trong đó cả chút hổ thẹn của đứa con từng gắn bó với nghề viết nhưng có một thời gian dù mua sách chất đầy, tôi không đọc xong cuốn nào cho ra hồn. Sau này, khi không làm công việc biên tập nữa, tôi lại đọc nhanh và thẩm thấu nhiều hơn.

Song nghĩ lại, tôi rất vui vì riêng khoản mua sách cho con cái là tôi không hà tiện. Tôi thích rủ rê, khích lệ con đọc từ lúc mới biết chữ. Tôi sẵn sàng mở hầu bao khi các con đề nghị mua sách. Tất nhiên, ngoài sách báo thì tuổi thơ của tôi còn có vô số bịch chè sương sâm, bánh cam, bắp luộc… Má mua cho mỗi khi đi chợ về hay những món tủ má thường nấu. Nhưng chè bánh của Má thì đã trở thành những ký ức tuổi thơ ngọt ngào, còn sách báo Ba mua thì trở thành một phần tư duy, tâm hồn của chính tôi hôm nay.

Ngô Thị Trâm Anh

(Phunuonline 30.5.2023)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“Nhớ về những ngày tháng cũ” của Hai Trầu Lương Thư Trung

18/05/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

 

Đôi dòng cảm nhận về

“Nhớ về những ngày tháng cũ”

của Hai Trầu Lương Thư Trung

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 18.5.2023)

Tôi vừa nhận được cuốn Nhớ về những ngày tháng cũ của anh Hai Trầu Lương Thư Trung gởi tặng. Lướt qua, giựt mình. Dày gần sáu trăm trang sách, biết bao nhiêu chuyện  đời, chuyện nhà, chuyện riêng, chuyện chung… với rất nhiều hình ảnh, đặc biệt những hình ảnh về nông thôn miền Tây Nam bộ xứ mình, gần như là một tự điển… bách khoa miệt vườn!

Nhưng với tôi, mấy dòng này của An Thu viết về cuốn sách của anh Hai Trầu là đã quá đủ:

“ … thật là ngộp thở và sảng sốt… tui đã gặp cái gì đây? Một ông thần, thổ địa… đã đưa tôi về lại quê nhà xưa yêu dấu!… Có thể nhìn lại cả một trời quê nghèo mộc mạc của tui… thiệt là muốn khóc…!”.

 

Nếu có thể nói gì thêm, thì, những trang ghi chép về “Vài kinh nghiệm sống ở nhà quê” (tr 514)… rất là bất ngờ và thú vị! Không biết những kinh nghiệm này bây giờ AI đã biết chưa?

 

*Con sùng đít đen thì mưa, đít trắng thì nắng.

*Chim khách kêu trước sân có khách gần uống trà; chim khách kêu phía sau nhà có khách xa ghé thăm và ở lại dùng cơm.

*Chỗ nào chim bồ cắt bay vòng vòng trên trời, bên dưới có chuột.

*Cá nhỏ thì ụp móng, cá lớn thì lên ngớp. Cạn đìa mới biết lóc trê, còn ụp móng biết đâu rô sặt.

*………

Và ngạc nhiên cảm động không kém với tôi là những câu thơ mộc mạc chân tình của Lương Thư Trung về kiếp người, về tuổi già, những câu thơ làm tôi nhớ Đào Tiềm: Đi về sao chẳng về đi/ Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?

 

Nhớ ngày ấy chồng cày vợ cấy

Dưới lung sâu nôm cá mò cua

Đường đời bao bận gió mưa

Nhớ sao là nhớ giàn dưa mới trồng…

 

…Bước qua vườn mít mít chào

Hương cau lan tỏa lối vào, hương cau

Chút thơm còn đọng hôm nao

Hai hàng cau lão đứng hoài lối đi

 

… Đá vốn có từ trong lòng đất

Đất phục sinh, đá cứng theo đời

Mới hay tạo hóa vẽ bày

Có trong trời đất mới hay mình già

 

… Trong trời đất vạn loài vốn quí.

Người hay quên uổng phí vô cùng.

Bông nào nở được hai lần?

Sông nào được tắm hai lần bến sông?

 

Tôi ngờ rằng khi anh Hai Trầu Lương Thư Trung viết xong cuốn Nhớ về những ngày tháng cũ thì anh đã tắm bến sông… không chỉ hai lần?

(ĐHN)

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

NHỮNG THI KHÚC VỀ MẸ

15/05/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

NHỮNG THI KHÚC VỀ MẸ

Nguyễn Thị Khánh Minh giới thiệu

 

 

Mẹ là biểu tượng cho vẻ đẹp trường cửu. Một vẻ đẹp không thể nghĩ bàn. Chỉ có thể thẩm thấu trọn vẹn bằng cảm xúc của trái tim và hạt lệ, để biết rằng, với mẹ, ta đã được hưởng tình thương yêu, bao dung độ lượng đến ngần nào! Chỉ trong vòng tay mẹ, ta mới rung động được với nhịp giao hòa của bao la trời đất, ta mới cảm hết biên giới của ấm áp. Điều ấy, chúng ta sẽ thấy được nơi thơ của các nhà thơ Du Tử Lê, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Xuân Thiệp, Đỗ Hồng Ngọc, Pháp Hoan, Nguyễn Đức Cường, Hoàng Xuân Sơn, Vũ Hoàng Thư, Trangđai Glassey Trầnguyễn, Nguyễn thị Khánh Minh, Trịnh Y Thư. (NTKM).

DU TỬ LÊ

Cõi Mẹ Về

(Trích đoạn)

em đâu biết, tôi có những giấc mơ
tỉnh ra còn ngỡ
như có chuyến xe lửa vừa mới khởi hành
về Hà Đông
nơi mẹ tôi được sinh ra, lớn lên,
rồi theo chồng đi miết.
quê ngoại với tôi tới giờ vẫn còn là niềm bí mật
như những sợi tơ giăng khắp bầu trời
tôi từng vói, mà, chưa lần nắm được.

em đâu biết tôi có những giấc mơ
thấy rõ mẹ về
đắp lại tôi, tấm chăn
vuốt lại tôi, mái tóc…
đã bao năm mất hút sau lưng,
mà, mẹ tôi vẫn không thể tin rằng mái tóc xanh của con bà đã bạc
những đường kẻ dọc, ngang vầng trán tối
đôi mắt nay đã mờ
(đôi mắt trong veo nhìn theo mẹ tôi những ngày họp chợ)
đôi mắt giờ sụp lở nắng, mưa.

mẹ tôi hỏi sao tóc con lại trắng?
những sợi gân nào lấp ló dưới da nhăn?
tôi hỏi bà, lúc rày người có khỏe?
mẹ tôi cười
quết trầu đỏ,
đôi làn môi cắn chỉ
bà vẫn buồn như thuở bố đi luôn…

– Du Tử Lê

(Trích từ tập thơ Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu,
Văn Học Nhân Chứng xuất bản, 1989)

NGUYỄN LƯƠNG VỴ

vâng thưa mẹ con đã về bên mẹ
ngồi bên hiên nhà cũ thấm ân tình
trời xuống thấp đất lên cao nắng xế
chiều u trầm chiều êm như trang kinh

mẹ rất mỏng như không gian rất mỏng
con rất ngây như thời gian rất ngây
và đôi tay rất ấm trong đôi tay
và đôi mắt rất nồng trong đôi mắt

con nhìn mãi chiều thu xa xa lắc
nhìn rất lâu lâu lắm giữa chiều phai
chiều huyễn ảo mẹ đẹp như trăng cài
trên đỉnh núi trên đỉnh trời chói rạng

con nhìn mãi chiều thu xa xanh lắm
tiếng hát xanh xanh đất ấm trời êm
như lá nõn như cành non mướt đêm
mẹ ấp ngực ru con theo dòng sữa

vâng thưa mẹ con đã ngồi bên cửa
bên niềm vui bên nỗi nhớ đong đầy
mây trắng xóa mắt nhòa theo bóng mây
tim bỗng nhói chiều bỗng gầy heo hút

mẹ rất đẹp như đất trời bất tuyệt
như hồn quê như cánh bướm dâng mùa
bông cúc trắng bông cúc vàng đong đưa
nụ cười hiền mẹ vẫn ngồi thinh lặng

con nhìn mãi những chiều xa bay trắng
âm bay nghiêng hơi ấm mẹ trong đời
đời nghiêng ngửa đời ly tan lâu rồi
huyết âm mẹ trong con riu ríu lửa

con nhìn mãi giọt lệ khô chan chứa
biển rèm vang đồng vọng núi mênh mang
ôi thời gian thời gian ôi thời gian
con ôm mẹ giữa chiều ngân giọng sáo

vâng thưa mẹ con lần theo nếp áo
áo sờn vai hai bóng một vuông chiều
chiều rất thẳm chiều rất trầm yêu dấu
như chưa từng… thưa mẹ biết bao nhiêu.

– Nguyễn Lương Vỵ
(Trích từ trường ca Âm Tuyết Đỏ Thời Gian,
Văn Học Press ấn hành năm 2019)

NGUYỄN XUÂN THIỆP

Hỏi thầm giọt mưa. và nói giùm tôi

(Trích đoạn)

Tôi sinh ra dưới cội nghèo.
ngôi nhà ẩn trong xóm cỏ.
mẹ tôi răng đen. mắt hạt nhãn.
thời trẻ tiếng ca xanh dòng sông
mẹ lấy cha. rồi yên phận
nuôi heo. nuôi gà. nuôi con

…

Ơi em bé. hái búp sen mùa hạ
sen thì hồng. mà tay nhỏ xanh xao
em hái sen. chiều nay ra chợ bán
hương hạ nồng. cùng sợi khói nhà sau

…

mẹ già tưới cây chanh bên bờ giậu
để một mai đời ngát lộng hương chanh
mẹ còng lưng. mà trời cao vời vợi
dẫu một ngày. giọt nắng rụng xa cành

…

mai mốt. mẹ qua vùng thảo nguyên
mẹ. ánh trăng vàng trong truyện cổ
lặng soi bên mặt nước hồ gương
đi lang thang qua hàng bia mộ
khi cúi nhìn một cụm hoa lan
thương ôi. mắt nhung xưa. còn mở

– Nguyễn Xuân Thiệp

ĐỖ HỒNG NGỌC

Bông hồng cho Mẹ

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

– Đỗ Hồng Ngọc

(Bài thơ này nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc, ca sĩ Thu Vàng hát).

PHÁP HOAN

Mẹ tôi kể

Mẹ tôi kể
khi cỏ cây thôi xao động trong vườn
khi con chim ngủ yên trong tổ ấm.
Mẹ kể về những trái bom
giội lên những mái nhà
như táo mùa thu chín rụng.
Mẹ kể về những người lính
nằm chết trên cánh đồng
mạ non mọc ra từ cổ họng.
Mẹ kể về những dòng sông
về đất nước thời tuổi thơ của mẹ
nơi những ký ức vẫn âm thầm ngủ
như trái bom ngủ quên trong vườn
mỗi đêm nằm trên giường
tôi luôn nghe thấy tiếng đập của nó
sâu trong lòng đất đá
bốn mươi bảy năm qua
trong khu vườn những giấc mơ của mẹ.

– Pháp Hoan
(Nguồn: vanviet.info)

NGUYỄN ĐỨC CƯỜNG

Mẹ là ngôi chùa nhỏ

Con ngồi đây lặng lẽ,
Thương nhớ hoài mùa Xuân.
Con ngồi đây quạnh quẽ,
Riêng Mẹ đã bao lần.

Mẹ là ngôi Chùa nhỏ,
Đón con về nương thân.
Mẹ là đôi mắt tỏ,
Tha cho con lỗi lầm.

Mẹ là Xuân bay qua,
Nuôi đời con khôn lớn.
Mẹ là hương sen ngát,
Về trong mộng hiền lành.

Như bầu trời lồng lộng,
Là mặt đất bao la,
Là mưa rào tuôn xuống,
Cho đường con thắm hoa.

Mẹ là nắng thênh thang,
Bình minh xưa chói rạng.
Là mây chiều lãng mạn,
Những ngày Thơ huy hoàng.

Mẹ là đêm thức giấc,
Đêm xanh biếc ngàn sao.
Là vô cùng đôi mắt,
Có sương mù trên cao.

Mẹ đi suốt mùa Hè,
Qua hối hả mùa Thu,
Và mùa Đông tất tả,
Riêng cho con mùa Xuân.

– Nguyễn Đức Cường

(Trích từ tập thơ Chân Dung)

TRANGĐÀI GLASSEY TRẦNGUYỄN

Mừng tuổi con

khi yêu một người/ là ta được chiêm ngắm dung nhan của Thượng Đế/ mẹ cũng vậy/ trong phút đầu gặp con/ con chào đời/ trời đất thở ra tơ… (Mùa Yêu Con)

mừng Con chưa đầy tuổi
phúc, lộc, thọ, khang, ninh
má hồng xinh hơn mai
môi tươi hơn đào thắm

Con về ươm Xuân lạ
én xếp nhạc cành xa
tình bao kiếp giao hòa
mùa đông thôi ở giá

mùa Xuân còn ngáy ngủ
nằm lún vào má Con
cái đồng tiền thật tròn
mỗi lần con nhóp nhép

lún luôn vào tim Mẹ
tròn giếng sữa cho con
sữa chảy từ trái tim
tỏa ra hai bầu ngực

sân trời mai vàng rực
Mẹ kín một lộc non
mùa Xuân mới cho Con
Mẹ chảy vào trời đất

– TrangĐài Glassey Trầnguyễn

HOÀNG XUÂN SƠN

Tháng 7 nhớ Mẹ

tháng 7 tôi ngồi trong kệ
nghe ra trời đất tụng kinh
lung linh đại thừa bóng mẹ
nhìn vô. chỉ thấy một mình

chỉ thấy sương chiều bạc tóc
buộc một con sông mấy đò
trôi đi ngả nào không biết
chỉ biết mình ngồi co ro

chợt nhớ khi còn quyến luyến
thương làm sao khúc túy ân
say say một hồn vô ngã
chìm trong xứ mẹ ân cần

mà tôi vẫn còn lóng ngóng
lân tuất áo mẹ phương nào
giọt nước mắt chìm trong ngấn
chìm khuất
bóng mẹ
phương
nào…

– Hoàng Xuân Sơn

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Mẹ

Đầy tay mẹ dậy thơ thơm ngát
Đời hồng trong những áng văn chương
Mẹ cười, nhân ái bừng xuân sắc
Bao nỗi đau kia cũng nhẹ thường

– Nguyễn thị Khánh Minh

VŨ HOÀNG THƯ

Ngày Lễ Mẹ

Rách da bật máu thân mình
Mẹ đau quằn quại cho hình con ra
Vá trời thân một Nữ Oa
Oan khiên Mẹ chịu, hải hà Mẹ kham

Thăm Mẹ

mẹ nằm ngó biển xa xăm
trầm hương xin đốt lệ đằm tình thâm
mẹ ơi lỗi hẹn bao lần
mộ phần ngả bạc theo màu tóc phai

– Vũ Hoàng Thư

TRỊNH Y THƯ

Về Mẹ

Mẹ dòng nước mắt chia hai
Mẹ trong huyền sử mẹ ngoài trùng dương
Mẹ từ khung gác miếu đường
Mẹ qua biển lớn thịt xương nát lìa
Mẹ tân khổ
Mẹ đầm đìa
Mẹ chào tay vẫy những chia ly đời
Mẹ giam tủi nhục trong người
Mẹ ôm hơi thở thốt lời từ bi
Mẹ nhìn theo lũ con đi
Mẹ soi ký ức những khi khóc thầm.

– Trịnh Y Thư

……………………………………………….

nguồn: phovanblog. blogspot.com (14.5.2023)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Nghỉ hè để làm gì?

10/05/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nghỉ hè để làm gì?

Ngân Hà

(https://bsaonline.vn/nghi-he-de-lam-gi/? 10.05.2023)

Nhà văn – Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Trong buổi trò chuyện cuối tháng 4 với các phụ huynh và học sinh tại trung tâm Anh ngữ Seameo Retrac, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã có những chia sẻ rất thiết thực về sức khỏe học sinh dành cho mùa thi và cả mùa hè sắp tới.
“Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!”
Trên trang nhà dohongngoc.com của mình, ông đã viết: “Vài ba năm nay tôi thường né tránh các buổi giao lưu, trò chuyện ở chỗ đông người như trước kia. Đã 82 (tuổi ta) rồi, già cả rồi, nên “lặn” đi chỗ khác chơi! Nhưng Hội quán Các Bà Mẹ là chỗ thân tình, muốn tôi chịu khó gặp gỡ mọi người hôm nay để cùng bàn về một vấn đề rất “thời sự” với phụ huynh và mấy nhóc, chuẩn bị đón một mùa Nghỉ Hè trong thời buổi “Bình Thường Mới”. Một câu hỏi khá hóc búa đặt ra cho tôi: Nghỉ hè để làm gì? Nếu là một câu hỏi bình thường như Nghỉ Hè Nên Làm Gì thì dễ đưa ra những lời khuyên với một bác sĩ Nhi khoa như tôi, đầu này hỏi “để làm gì” thì khó quá! Cho nên câu trả lời “tốt nhất” của tôi là Nghỉ Hè Để Làm Thơ!
Làm thơ ư? Tôi không làm được nên mượn một bài thơ đã có từ 80 năm trước của Thi sĩ Xuân Tâm, bài Nghỉ Hè trong tập Lời non trẻ 1941, thấy trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân”.
Trong khuôn khổ của bài viết, xin trích đoạn bài thơ Nghỉ hè mở đầu thật nôn nao mà BS Đỗ Hồng Ngọc đã nhắc tới:
“Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết,
Ðoàn trai non hớn hở rủ nhau về.
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê,
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ !”
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thật không có nói đùa đâu, ông chính là một nhà thơ đấy, ông có bút danh là “Đỗ Nghê” và bài thơ nổi tiếng của ông được lưu truyền cho tất cả các bác sĩ phụ sản, các bà mẹ ông bố có con thơ từ thập niên ’60 đến nay có tên là “Thư cho bé sơ sinh”, bài thơ mở đầu có đoạn: “Khi em cất tiếng khóc chào đời/ Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười/ Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc/ Trong cùng một cảnh ngộ nghe em…”. Và lý do ông là nhà thơ thì chắc chắn bắt nguồn từ những ngày ấu thơ được thả tâm hồn với mây gió, núi non, biển sông mênh mông của quê hương yêu dấu.
Ở tuổi 82, ông vẫn giữ nụ cười như vậy để tiếp tục kể những câu chuyện cho các bậc phụ huynh làm sao để giúp cho con lớn lên trong khỏe mạnh và cân đối. Ông cho rằng, nếu như ngày xưa trẻ em không có trò chơi điện tử, smartphone, you tube, tik tok và đầy dẫy những trò chơi trên máy tính, ti vi… nên nơi duy nhất các em có thể hòa mình vào là thiên nhiên, vì vậy mà ít có những căn bệnh thời đại như ngày nay SAD (Buồn bã). Nhưng ở đây, là chữ viết tắt của 3 chữ tiếng Anh; Stress: Sự căng thẳng (do muốn thi đua, vượt người khác, tạo sức ép làm cho mình không bình thường được nữa); Anxiety: Lo âu, sợ hãi thì đâm ra mê tín dị đoan và D: Depression: Trầm Cảm. Riêng trầm cảm dễ dẩn đến tự tử.
Đây là 3 bệnh thời đại rất khó chữa: Phải kết hợp tâm lý với thuốc hoặc có thể chữa bằng thiền. Đặc biệt là sở dĩ cần cho trẻ ra ngoài để tránh những điều trên cũng là để cho trẻ phát triển các chỉ số IQ – Trí Tuệ, EQ – Cảm Xúc và SQ là mối quan hệ giao tiếp xã hội.
Ngủ đủ để cho con có cái đầu trống không và mau lớn
Dù mối quan tâm hàng đầu của phụ huynh hiện nay vẫn là sức khỏe của các em, nhưng họ có thể vô tình hoặc cố ý mà quên mất rằng chính việc hối thúc các em học nhiều mà lại không dành thời gian đưa con đi chơi hoặc thể thao sẽ khiến cho trẻ mắc những chứng bệnh mà hiện này phần lớn trẻ nào cũng bị như: học không vô, hay quên, mệt mỏi, chán ăn, buồn ngủ…vv… nhất là vào đầu mùa thi.
Về điều này, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nói rõ: “Lý do là bộ não của mình tiếp nhận có chừng mực, vì thế khi mình dồn vô nhiều thứ quá, đầy nhóc thì không thể tiếp thu, không có chỗ trống để nhét vào nữa. Chuyện đơn giản nhất mà cha mẹ có thể làm ngay là giúp cho con có cái đầu được trống không. Chẳng hạn như khi có bài toán khó giải vô cùng, bí rị, vậy thì cho con đi ngủ, vì trong giấc ngủ chúng ta tái tạo năng lượng mới và đầu óc thoáng hơn và tiếp nhận vấn đề tốt hơn. Và đừng uống thuốc này thuốc nọ. Thuốc tốt nhất cho trí nhớ là Oxygen và Đường (uống ly chanh đường càng tốt), ra ngoài hít thở không khí, vận động thể lực, ngồi thiền, yoga… là những thứ giúp trí nhớ phục hồi trở lại. Không nên kiêng cữ sai lầm, cho con ăn trái bí (bí đỏ, bí xanh), trứng gà, trứng vịt… thì càng dễ thi đậu.
Có một bà mẹ hỏi vì sao con của cô ấy đang học lớp 9 đến kỳ thi rồi lúc nào cũng chỉ muốn ngủ, ngay cả việc cho con đi du lịch con cũng không thích mà chỉ muốn ngủ. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nói: “Đứa bé này nó quá mệt nên nó cần ngủ. Lớp 9 là 15 tuổi, đối với một đứa trẻ đang phát triển thì giấc ngủ quá ư cần thiết để tái tạo năng lượng cơ thể và cho trí óc phát triển. Nên nhớ trong lúc ngủ, não tiết ra hóc môn tăng trưởng (Growth Hormon GH) giúp cho cơ thể phát triển chiều cao. Trẻ nào thiếu ngủ sẽ lùn đi. Tôi nghĩ trong trường học cũng cần cho các em ngủ chứ không chỉ khuyến khích cho uống ly sữa là đủ. Vì thế, nên cho đứa bé ngủ cho đã rồi cho đi chơi. Đừng cho đi chơi trong lúc con rất mệt mỏi, chán nản. Khi con được ngủ đủ, con sẽ trở nên linh hoạt, năng động và ham thích vận động hơn”.
Thở Sâu
Để trả lời câu hỏi làm sao cho trẻ tham gia các lớp thiền vì hầu hết các em đều mê chơi game, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ ngày: “Về thở, nếu như chúng ta nhịn ăn 10 ngày chưa chết. Nhưng nếu nhịn uống hoàn toàn thì 7-10 ngày sẽ chết vì nước chiếm đến 45-50%, trọng lượng cơ thể. Nhưng thiếu Oxygen, không thở thì chết trong vòng… 5 phút. Trong không khí có rất nhiều thứ nhưng chúng ta chỉ hít vào oxy, trong đó chính cây cỏ nhả oxy sau khi đã lấy carbonit do chúng ta thở ra. Vì vậy, khi chúng ta phá hủy môi trường, phá rừng thì là tự hại mình.
Cho nên nguyên tắc chung của thở, đó là: khi chúng ta hít vào thở ra ta nghĩ là phổi phình lên xẹp xuống, nhưng nó không phải do phổi mà là do chính là cơ hoành chạy lên chạy xuống giống cái ống thụt, khi nó xẹp xuống nó sẽ hút hơi vô, nó đẩy lên thì nó tống hơi ra, khoảng cách hút hơi là 7cm, mỗi 1cm hút vô là 250ml không khí. Vì vậy khi ta thở là ta thở ở cơ hoành. Vì vậy thở bằng bụng là cách thở tốt nhất. Trong Phật giáo, phương pháp Anapanasati quán niệm hơi thở rất khoa học: chú tâm vào hơi thở, khi chúng ta thở vào thì chúng ta biết là thở vào và khi chúng ta thở ra thì chúng ta biết chúng ta thở ra. Chú tâm vào hơi thở giúp não thanh tịnh trở lại.
Theo tôi, ở các lớp học, trước khi vào học, giành cho các em 3-5 phút ngồi thở đúng phương pháp thở bụng, nhờ đó các em sẽ chú tâm học hành hiệu quả và tìm thấy niềm vui trong sự học.
Các nghiên cứu cho thấy lớp nào có dạy thiền thì trẻ em sẽ không đánh nhau, gây gổ hay bắt nạt nhau mà các cháu sẽ đi học vui hơn, an lạc hơn. Về tới nhà các cháu cũng sẽ tự động ngồi nếu thấy mệt.
Ăn đúng
Việc ăn và ngủ luôn đi đôi với nhau. Để giúp cho trẻ có thể có bữa ăn đủ chất mà không gây béo phì, ông đưa ra những hướng dẫn giản đơn. Theo ông, chính quan niệm ăn để mập lên dẫn đến ăn sai, ăn nhiều chất béo, chất bột quá. Và khi đứa trẻ mập lên thì hãm không kịp nữa rồi. Vì thế, nếu ăn đúng cách thì không mập được mà vẫn đủ calories. Một người ăn cần cho đủ ở mức tối thiểu: Tinh bột, Béo (dầu mỡ, bơ) vì nếu bột và béo nhiều thì mập. Nhưng có thể ăn nhiều tối đa đạm và rau, chắc chắn không bị béo phì. Chất đạm có trong thịt cá trứng sữa các loại đậu. Vì vậy chỉ cần giảm chất béo và tinh bột. Tuổi trẻ cũng cần chất béo nhưng cũng cần vừa phải, chỉ số cho một người ăn vừa đủ là 50% đường bột, 15% béo, 35% đạm còn lại là rau, trái để bổ sung vitamin, khoáng…
Nghỉ hè là dịp để những bạn học cấp 2, 3… vào bếp. Chính vì biết tự nấu ăn thì con cũng biết liều lượng để gia giảm các chất cho mình. Cha mẹ không nên mua đồ ăn bên ngoài nhiều. “Cha mẹ nên khuyến khích cho con nấu, đặc biệt thiếu niên lớp 10 đã 16 tuổi nó sẽ cần biết cân đối chiều cao, cân nặng để nó hạnh phúc cả cuộc đời nó chứ không phải đậu tiến sĩ là hạnh phúc”, ông nói.
Chơi vui
Cho đến nay, vẫn còn có rất nhiều cha mẹ so sánh con mình với những đứa trẻ khác, làm điều này là để thỏa mãn ham muốn của mình nhưng làm tổn thương con mình. Nhiều cha mẹ thúc giục con học cho bằng con nhà người ta. Việc học chuyên cần để thành công trong học tập là điều đúng đắn, nhưng việc cho con thi vào trường chuyên để khoe con hay so sánh các con với nhau là điều không nên làm. Mỗi đứa trẻ có một bộ gen khác nhau, thể trạng, tâm sinh lý khác nhau nên không thể so sánh với nhau được. Vì vậy, thay vì khuyến khích con tranh đua học thì nên giúp con được nghỉ ngơi, vui chơi, luyện tập, cho con học những gì con thích như vẽ, đàn, múa, hát, kịch, thể thao..vv… Nếu con khó ngủ thì chính việc được chơi nhiều cũng giúp cho con ngủ ngon, ngủ say. Mùa hè nên cho con lên non, xuống bể, cho con về quê, về với thiên nhiên và giúp con học môn con thích mà thôi.
Riêng về vấn để đọc sách ở trẻ em, thật đơn giản, nếu cha mẹ đọc sách thì con đọc sách. Cha mẹ đọc sách, từ thuở nhỏ 2, 3 tuổi đã biết đọc ca dao cho con nghe, 5,6 tuổi thì kể chuyện cho con mỗi tối, 7,8 tuổi thì đọc sách cùng con để nghe con hỏi và tranh luận, 9,10 tuổi hướng dẫn cho con đọc những cuốn sách kinh điển và đến lớn con tự tìm đến sách khi cần.
“Trẻ con thích truyện tranh, đến một lúc nó sẽ thấy truyện tranh không hay bằng phim ảnh, sau khi đã thích phim ảnh nó sẽ mê đến văn học… Nếu sẽ biết phân biệt truyện tranh là suy nghĩ của họa sĩ, bộ phim sẽ theo ý đạo diễn nhưng văn học sẽ mở ra những tư tưởng, ý nghĩa, trí tưởng tượng cho nó và nó rất thích.
Ngoài ra, hiện nay một số trường đã có giáo dục chủ động: cho trẻ hỏi, trẻ đọc theo từng nhóm nhỏ. Cho trẻ kể lại câu chuyện trong sách và các bạn cùng đặt câu hỏi… tự nhiên sẽ đọc. May mắn là chúng ta vẫn còn có cơ hội để kích thích cho trẻ đọc sách, và khi bé chịu đọc sách thì mình nên cung cấp cho bé để bé tự học hỏi và có khi tuổi của bé thích loại sách khác nhau, có bé thích sách triết học, có bé thích ngôn tình… tùy sở thích chớ đừng có ép buộc”, ông nói.
Tuổi nào nhớ nhớ quên quên
Một bà mẹ kể rằng cô con gái 17 tuổi của chị có tình trạng học rồi hay bị quên, hôm trước học thì hôm sau nói đầu choáng váng không nhớ gì? Tình trạng nhớ nhớ quên quên ở tuổi của chị ấy cũng vậy, giờ quên nhiều quá, làm sao để khắc phục tình trạng thoái hóa não này. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vừa cười vừa nói: “Cô thiếu nữ 17 tuổi nói hay quên bài học nhưng mà không biết con có nhớ chuyện khác không, chẳng hạn như nhớ một… ai đó. Có con ở tuổi này, cha mẹ nên để ý đến con, trò chuyện với con xem thử con có mê gì khác để còn chỉ dẫn”. Ngoài ra cũng có những phương pháp học giúp cho trí nhớ, ví dụ ghi chép các công thức vào các phiếu nhỏ để trên bàn ăn, toalet… dán trên bàn hoặc WC. Còn ở tuổi lớn “gió heo may” thì việc nhớ nhớ quên quên cũng chưa trầm trọng, mà ở tuổi này nên tập thiền và yoga để phục hồi trí nhớ. “Ở tuổi tôi còn trầm trọng hơn là chuyện cũ thì nhớ mà chuyện mới thì quên vì chuyện cũ đã đầy ắp nên không lưu lại chuyện mới”, ông tâm sự.
Đối với người già, một số tế bào não bị “chệch hướng” nên sẽ không nhớ gì nữa, vì vậy nên có một tờ giấy ghi địa chỉ, điện thoại ở nhà để lỡ ông bà đi ra ngoài thì có người biết đường dẫn về. Để phục hồi trí nhớ thì vẫn chỉ ngồi thiền.
Ngân Hà

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Viết cho tuổi mới lớn

“Tôi Học Phật” và “Áo Xưa Dù Nhàu” ở… Đà Lạt (tiếp theo)

07/05/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

“Tôi Học Phật” và “Áo Xưa Dù Nhàu” ở… Đà Lạt (tiếp theo)

Hôm đó, mình cũng đã chuẩn bị một ít điều để trình bày với các bạn trong Gia đình Hoa Sen ở Đà Lạt (9.4.2023) về quá trình học Phật của mình để chia sẻ kinh nghiệm nhưng thời gian cập rập quá nên phải hẹn lại một dịp khác, dù Thuần Nhiên và Thảo Nhiên cũng đã chuẩn bị cho một Flipchart sẵn sàng. Xịn được chia sẻ vài hình ảnh cô đọng nơi đây.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Trần Tuấn Mẫn: ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA GIẢI THOÁT

25/04/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

                         ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA GIẢI THOÁT

Trần Tuấn Mẫn 

Ghi chú: Cư sĩ Trần Tấn Mẫn, nguyên Phó Tổng biên tập Thường trực Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo (từ 2005 đến 2020), với gần 20 năm là giảng viên ở các Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp.HCM và tại Huế, là Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học VN. Anh nay đã ngoài tuổi 80, gởi đến tặng tôi quyển Bản thảo Tâm Sự Với Ai? và cho biết đây cũng là “tác phẩm cuối cùng của anh”.(Xin nói thêm, anh là con nhà văn Trần Thanh Mại). Tôi xin phép anh cho post lại ở đây bài Đạo đức học của Giải thoát để chia sẻ với bạn bè. Bài này đã đăng trên Tập Văn Phật Đản , số 16,1991.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đạo đức học là một bộ phận của triết học nhằm dựa vào lý trí mà thiết lập một sự phân biệt giữa thiện và ác, giữa điều được làm và điều bị cấm làm, nhằm nêu ra một nguyên tắc tổng quát để xếp loại và đánh giá các hành động. Đạo đức học nhằm nêu lên cứu cánh của mọi hành động hợp lý mà con người cố vươn tới, tức mục đích, lý tưởng của cuộc đời và tìm các phương cách giúp con người tiến tới mục đích lý tưởng ấy.

Khi bàn đến đạo đức, triết học lại nổi lên câu hỏi cơ bản: “Nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức là gì và đâu là giá trị của các nguyên tắc ấy?”. Câu hỏi kép gồm hai vế ấy có vế đầu liên hệ đến tâm lý học và vế sau liên hệ đến siêu hình học. Những tranh cãi thuộc vế đầu là: Nguyên tắc đạo đức là do kinh nghiệm hay do kế thừa, hay do xã hội, do lý trí, do bẩm sinh, và chi tiết hơn liên hệ đến lòng trắc ẩn, tự kỷ, vị tha, trách nhiệm, bổn phận… Những tranh cãi thuộc vế thứ hai là: Giá trị của các nguyên tắc đạo đức có thể quy vào một không? Giá trị tuyệt đối là gì, lý tưởng, thượng đế…? Từ đó đạo đức học bị chia thành nhiều loại như đạo đức học duy nghiệm, duy lý, duy nghiệm lý, rồi lại bị chia thành các phái như chủ nghĩa hoan lạc, khoái cảm, duy dụng, duy nhiên, duy cảm v.v…

Ước vọng có một đạo đức học đúng đắn, hiệu nghiệm và phổ quát cho mọi người luôn luôn là chính đáng. Cái yêu cầu ấy còn mạnh mẽ hơn với lòng yêu tuyệt đối luôn bùng cháy trong con người và khiến con người quay tìm đạo đức học trong tôn giáo. Nhưng tôn giáo thường đầy rẫy những luận giải siêu hình; nó thiết lập các giáo điều, nó ra mệnh lệnh, nó đòi hỏi sự tuân phục, thuần tín ở đấng tối cao… Phật giáo không phải là một tôn giáo theo nghĩa ấy và đạo đức học của Phật giáo có thể là đạo đức học cho mọi người.

Đức Phật dạy: “Ví như nước biển chỉ có một vị là vị mặn, cũng vậy, này Pahàrada, Pháp và luật của ta chỉ có một vị là vị giải thoát”. Ngài còn dạy: “Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ”. Trong lần chuyển pháp luân đầu tiên tại Benares, giảng về Tứ đế Đức Phật xác định đây là khổ, nêu nguyên nhân của khổ, nói đến sự chấm dứt khổ (giải thoát, Niết bàn) và con đường diệt khổ. Thế là Ngài đã tuyên bố mục đích của mọi hành động của con người và của giáo lý của Ngài là nhằm giải thoát khỏi khổ đau. Đối chiếu ý nghĩa này với định nghĩa chung về đạo đức học đã nêu, ta có thể nói toàn bộ giáo lý của Đức Phật là một giáo lý đạo đức, hay Phật học là đạo đức học, một đạo đức học xây dựng trên giải thoát, do một người đã giải thoát truyền dạy, lấy giải thoát làm cứu cánh, lấy giải thoát làm chuẩn tắc để đánh giá các hành động. Xác định nền tảng giải thoát này là xác định toàn bộ ý nghĩa, đối tượng, mục đích, phương pháp của đạo đức học Phật giáo.

Xác định nền tảng của đạo đức học Phật giáo là giải thoát, ta có thể dễ dàng giải đáp câu hỏi cơ bản đã nêu trên: Giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức. Thực ra mệnh đề này là kết quả của sự lập luận rằng: Do khổ, do kinh nghiệm khổ mà nảy sinh ra cái nguyên tắc đạo đức cơ bản là sự diệt khổ, thoát khổ, đẩy đưa đến sự diệt khổ tuyệt đối, cứu cánh, đấy là giải thoát tối hậu, Niết bàn. Giải thoát là mặt bên kia (mặt tích cực trong ý nghĩa đạo đức) của khổ đau, giải thoát và khổ đau là hai mặt của một thực tại đang hiện hữu tại đây, giờ đây. Vậy thay vì bảo giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức, ta có thể bảo khổ cũng là nguồn gốc ấy. Từ đây vế thứ hai của câu hỏi cũng được dễ dàng giải đáp : “Giải thoát là giá trị tối hậu đích thực của các nguyên tắc đạo đức.”

Dù Phật giáo không hề muốn bị xếp như một triết thuyết như duy nghiệm, duy lý, duy cảm v.v… nhưng Phật giáo, đạo đức học Phật giáo, không thể không là đối tượng nghiên cứu cho các nhà triết học và không thể tránh khỏi sự sắp xếp phân loại của các nhà nghiên cứu đạo đức. Thế thì hãy tạm gọi đạo đức học Phật giáo là đạo đức học Duy giải thoát mà phương Tây có thể nên gọi bằng một từ triết học mới nào đó, đại loại như “Emancipisme”! Và như vậy, vấn đề muôn thuở của đạo đức học nói chung như lương tâm hay ý thức đạo đức, tức cái khả năng nhận biết giá trị đạo đức của các hành động được đạo đức học Phật giáo gọi là ý thức giải thoát, hay ở mức độ cao gọi là trí giải thoát. Trí giải thoát lại còn được xem là nguồn gốc của lương tâm, của ý thức đạo đức tức là của chính nó, hiểu theo lập luận của E.Kant khi ông gọi nguồn gốc ấy là lý trí thuần túy thực tiễn, cái nhân tố phát khởi những mệnh lệnh quyết định. Nếu Descartes đẩy ý thức đạo đức lên thành các tác phẩm của thượng đế, nếu Spencer đẩy lùi nó vào cái thói quen do di truyền thì đạo đức học Phật giáo gọi nó là dư y của ý thức giải thoát, một thiện nghiệp trong quá khứ và có thể được vun đắp thêm trong hiện tại.

Nói đến giải thoát là nói đến tự do. Thông thường giải thoát được hiểu là trạng thái được sau khi thoát khỏi sự ràng buộc, sự trở ngại, khổ đau, mất tự do; tự do là trạng thái thoải mái, có thể tự mình quyết định hành động của mình, tự mình chọn lựa… Như vậy giải thoát và tự do có thể được xem là đồng nghĩa, nhất là khi ở bình diện tuyệt đối, Giải thoát và Tự do đồng nghĩa với Niết-bàn, là Niết-bàn là Phật. Ở bình diện tương đối của thế gian, giải thoát và tự do chỉ có thể được thực hiện trong giới hạn. Một hành động như tìm nước uống để thỏa mãn cơn khát, làm một việc thiện để đạt được niềm vui tự nội… đều có giá trị giải thoát tương đối. Tự do chọn nghề, tự do nghỉ ngơi… là những tự do tương đối vì người ta không thể tự do lấy của cải của người khác, không thể tự do vượt khỏi những hạn chế của cơ thể để thực hiện những điều không tưởng, không thể tự nhiên mà thoát được sinh, già, bệnh, chết… Cái kinh nghiệm giải thoát có thể thực hiện hàng ngày, qua từng công việc bình thường hoặc sâu đậm hơn, qua thiền định. Niềm vui, niềm hạnh phúc đạt được trong khi làm việc thiện, trong khi thiền định sẽ giúp ta phát triển ý thức đạo đức, đánh giá đúng đắn các hành động và truy tìm những hành động mang lại giải thoát, hạnh phúc.

Trước khi bàn tiếp hãy nhận định về cái thuật ngữ nổi cộm trong đạo đức học, đó là từ hạnh phúc (le bonheur). Người ta dễ dàng chấp nhận rằng mọi hành động đích thực của con người là nhằm mưu cầu hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là gì? Câu trả lời cũng thường dễ dàng không kém: Hạnh phúc là sự thỏa mãn vật chất và tinh thần! Nhưng những yêu cầu vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân lại khác nhau tùy theo hoàn cảnh, cá tính, thời gian v.v… Có phải những yêu cầu ấy là tiền bạc, sức khỏe, vợ con, sự tiện nghi… và là sự được khen, được yêu, được lao động, được thực hiện lý tưởng được gần gũi Thượng đế…? Nếu thế thì ý nghĩa của hạnh phúc vẫn mãi mãi là mối trnh cãi. Đạo đức học Phật giáo nêu rõ cái kinh nghiệm cơ bản về hạnh phúc là sự lạc thọ, tức sự thọ nhận cái cảm giác an vui, cái hoan hỷ tâm vậy. Đạo đức học Phật giáo đồng nghĩa hạnh phúc với giải thoát, hiểu hạnh phúc là phù hợp với con đường giải thoát. Đến đây, giáo lý vô ngã của Đức Phật đóng vai trò quan trọng trong đạo đức học Phật giáo. Vì vô ngã là bản chất của hết thảy mọi sự vật, là chân lý nên mọi hành động trái với vô ngã (tức hành động hữu ngã) là trái với bản chất của các sự vật, là trái với chân lý, tức là gây khổ đau, trở ngại cho sự giải thoát. Khi ta thực hiện vô ngã thì ta thấy có hạnh phúc, tức thấy có giải thoát. Vậy vô ngã có thể xem là đồng nghĩa với giải thoát. Trong một nghĩa hẹp, hành động vô ngã là một hành động quên mình, vị tha, là từ bi, hỷ xả, mang tinh thần đạo đức xã hội mà mọi người đều xem là thiện hạnh.

Trở lại việc đánh giá hành động: Đạo đức học Phật giáo lấy tiêu chuẩn giải thoát, vô ngã để đánh giá một hành động và cái chủ thể đánh giá là ý thức giải thoát. Do mức độ tu tập, hành trì, ý thức này có thể cao, thấp khác nhau. Lương tâm, ý thức đạo đức hay ý thức giải thoát mang tính tự do trong chính nó và như đã nói nó có thể bị sai lầm, bị yếu kém khiến một cá nhân bị thối thất hay chịu nhận khổ đau. Cho nên sự tu tập mới được đạo đức học Phật giáo đề cao, đấy là ý nghĩa tích cực của đạo đức học Phật giáo. Chúng ta thông cảm với nhận định hơi vội vàng của J.P. Sartre: “Tự do là nguồn gốc độc nhất của giá trị” (La liberté est I’unique source de la valeur), “Kết quả là, tự do của tôi là nền tảng độc nhất của các giá trị, và không có gì. tuyệt đối không có gì khiến tôi phải chấp nhận một giá trị thế này, thế nọ, một thang giá trị thế này, thế nọ”. Hay của S. de Beauvoir: ” Con người thì tự do, nhưng con người tìm thấy luật tắc của mình trong chính sự tự do của mình nữa.” Sự tự do ấy, nếu không phải là tuyệt đối tức cứu cánh giải thoát thì ít ra cũng phải là trạng thái của một người đã đạt nhiều tiến bộ trong tu tập, đang tiến gần đến giải thoát để có thể có nền tảng vững vàng trong sự phán đoán giá trị! Đấy là sự tự do ở một bậc chân tu chứ không phải là tự do ở bất cứ người nào như Sartre và De Beauvoir quan niệm.

Đức Phật là bậc đã đạt trọn vẹn Giải thoát. Ngài vạch con đường giải thoát cho con người. Giáo lý đạo đức của Ngài không phải là tác phẩm của các văn gia đạo đức như La Rochefoucauld, La Bruyère, Vauvenarge… hay của các triết gia đạo đức như Epicure, Aristote, Kant, Max Scheler… Đạo đức học của Ngài có phần lý thuyết toàn hảo nhưng Ngài chú trọng đến phần thực hành mà Ngài đã thực hiện để đạt giải thoát. Một đạo đức học tuyên bố rằng đời là khổ, đây là khổ, tự nhiên bao hàm sự tuyên bố rằng mọi hoạt động con người là nhằm thoát khổ, giải thoát. Đạo đức học ấy là đạo đức học của giải thoát, tích cực, cụ thể và lạc quan. Tích cực vì nó kêu gọi con người lên đường diệt khổ, khuyến khích sự tinh tấn, hành thiện, cụ thể và thực tiễn vì đối tượng giải thoát là con người, là cuộc đời ngay đây và bây giờ; lạc quan vì nó tuyên bố mọi người đều có đầy đủ khả năng giải thoát tối hậu.

 

Trần Tuấn Mẫn

(Trích Tập Văn Phật Đản , số 16, 1991)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 5
  • Trang 6
  • Trang 7
  • Trang 8
  • Trang 9
  • Interim pages omitted …
  • Trang 56
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email