TIÊU DAO ĐỖ HỒNG NGỌC
Tâm Nhiên


Tâm Nhiên và Đỗ Hồng Ngọc tại La-Gi, 19.11.2022
Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
TIÊU DAO ĐỖ HỒNG NGỌC
Tâm Nhiên


Tâm Nhiên và Đỗ Hồng Ngọc tại La-Gi, 19.11.2022
Rất cảm ơn Nguyễn Văn Quyền đã gởi video clip Buổi Trò chuyện về “Một nếp sống An Lạc: Thở và Thiền, Ăn và Chay” tại Chùa Quảng Đức La-Gi ngày 16.10.2022.
Xin chia sẻ cùng các Cô bác, anh chị em quê nhà và Bạn bè những nơi xa không có dịp tham dự trực tiếp buổi Trò chuyện này. Do hệ thống âm thanh của chùa gặp trở ngại nên cũng có “trục trặc” đôi chút, mong thông cảm.
Một lần nữa, trân trọng cảm ơn Thầy Đức Thành trụ trì Chùa Quảng Đức La-Gi, thầy Minh Chánh chùa Quảng Hạnh và Nhóm Phật tử chùa Khánh An lần đầu theo bác Ngọc về thăm La-Gi quê nhà.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
Cảm nhận của Thầy Đức Thành, trụ trì Chùa Quảng Đức, La-Gi.
TỪ TRÁI TIM ĐẾN TRÁI TIM
Đi qua một đoạn đường dài,
Dừng chân ngoảnh lại, nắng phai ít nhiều.
Tình thương kết nối thương yêu,
Tâm trong tâm ấy, nói điều an vui.
Nhân duyên hội đủ, ngày 21/9/ Nhâm Dần (16/10/2022), chùa Quảng Đức, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, được kết nối duyên lành, đón tiếp Bác sĩ – nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc (người con La Gi) về thăm chùa, thăm quê hương và chia sẻ với bà con Phật tử về những gì mà Bác sĩ, đi qua…và “truyền lại” cho mọi người: về sức khoẻ y khoa, cười, thở và thiền hành.
Có quý vị “cao niên” như: các nhà nghiên cứu, các nhà thơ, thầy cô giáo và các em nhỏ…
Có thể “đầy đủ” thành phần… lớp đi trước, lớp kế thừa…
Buổi chia sẻ của Bác sĩ , mang lại sự hữu ích mọi người, trong niềm hoan hỷ…chạm nhau từ lúc ban đầu, thân nhau từ lúc buông sầu bi tâm.
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, đã tặng cho đời gần 60 đầu sách…. 60 tác phẩm, viết về nhiều lĩnh vực, đề cập nhiều vấn đề khác nhau.
Xin trân trọng cảm ơn Bác sĩ, quý vị trong đoàn, cảm ơn quý vị trí thức, các nhà thơ, nhà văn, nhà giáo… CLB Hướng Đạo, cùng toàn thể quý vị.
Hy vọng, trong thời gian gần nhất, sẽ được đón những tấm lòng của quý vị về ngôi chùa thân thương, mang tính “lịch sử” của Phật giáo nơi này.
Ngưỡng nguyện sự an lạc lan tỏa khắp muôn nơi.
P/s: tổ truyền thông Quảng Đức, xin lưu lại những ân tình… trong niềm hoan hỷ vô biên.



Thư gởi bạn xa xôi (10.2022)
Về thăm Chùa Quảng Đức, LaGi
Quê gốc mình Lagi, tuy sanh đẻ ở Phan Thiết. Lagi cách Phan Thiết 50km, đường dọc biển và cách Saigon 160km. Lúc nhỏ, mình học ở Phan Thiết rồi vào Saigon, tính ra xa… Lagi đến 60 năm không ít, chỉ thỉnh thoảng về thăm. Nhiều người đọc không được chữ Lagi. Có người đọc thành Laghi, Người đọc Ladzi… ! Đọc đúng là phải đọc giống như “Là-Gì” (La Di). Vùng này rất nhiều La: La Ngà, La Ngâu, La Gàn… tiếng dân tôc có nghĩ là sông, cũng như Tà là núi: Tà Cú, Tà Đặng, Tà Lài, Tà Bao… Lagi trước là huyện lỵ của huyện Hàm Tân, tỉnh lỵ của tỉnh Bình Tuy (thành lập 1956), thuộc Nam phần, nay trở về với Bình Thuận, tách khỏi huyện Hàm Tân, thành Thị Xã Lagi.
Chùa Quảng Đức có hàng trăm năm trước, với mái lá đơn sơ, sau xây dựng thành chùa Phật Học, rồi Chùa Quảng Đức ngày nay, qua nhiều đời Sư trụ trì, đã được chỉnh trang ngày càng hoành tráng, trang nghiêm.
Thầy Đức Thành trụ trì hiện nay mời mình về thăm chùa và có buổi Trò chuyện với bà con quê nhà. Mình gởi trước về chùa mấy thùng sách, để tặng thư viện, gồm cả sách Phật học, y học và văn chương. Đề tài buổi Trò chuyện là: Một nếp sống An Lạc, với Thở và Thiền, Ăn và Chay, có tính khoa học và thực tiễn, áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Gởi bạn vài hình ảnh coi vui nhe.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc

Thầy Thích Đức Thành, Trụ trì chùa Quảng Đức giới thiệu Bs Đỗ Hồng Ngọc, “người con của Lagi” về thăm quê nhà và có buổi Trò chuyện với bà con…



các chú tiểu dễ thương…


và các bạn trẻ

… hỏi đáp sôi nổi

rồi ký tên tặng sách

Thầy Đức Thành trao tặng tượng Phật cho Bs Đỗ Hồng Ngọc (16.10.2022)

chụp hình lưu niệm (16.10.2022)
Một bài viết của Phan Chính trên Fb
NGHĨ VỀ NHỮNG SINH HOẠT CHÙA QUẢNG ĐỨC, LA-GI
*Phan Chính
Nhân buổi nói chuyện “Sức khỏe và Thiền hành” với bà con Phật tử của chùa sáng 16/10/2022 mới đây.
Tôi không ngờ, vì khác với các buổi pháp thoại thường diễn ra ở nhà chùa bởi với đề tài của Bs.Đỗ Hồng Ngọc lại không kém phần hấp dẫn và quan tâm của những người đến dự với tinh thần Phật pháp của ngôi chùa vừa long trọng sự kiện “Lễ lạc thành” sau 7 năm trùng kiến quy mô, hoành tráng trên nền đất cũ của ngôi chùa đầu tiên cách đây 60 năm ở vùng đất La Gi.
Điều tôi hết sức ngạc nhiên, bên cạnh những hạng mục công trình thờ tự, tu tập gắn với lời Phật dạy:”Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian pháp”- đạo ở tại đời, đi từ đời vào đạo là thế! Đó là phòng truyền thống lịch sử, sinh hoạt, nghiên cứu… của đạo tràng qua các thời kỳ hình thành ngôi chùa Quảng Đức. Dù chỉ mới mở cửa nhưng với kế hoạch dài hạn phải đạt được điều đó. Dịp này Bs.Đỗ Hồng Ngọc đã chuyển về tặng 6 thùng sách về Sức khỏe, về Văn học và các đề tài Thiền tịnh, Phật học…
Tại giảng đường nghiêm tịnh chùa Quảng Đức- sau phần lễ Phật- qua lời giới thiệu rất trọng thị của Thượng tọa trụ trì Thích Đức Thành, Bs.Đỗ Hồng Ngọc đi ngay vào đề tài sức khỏe liên quan với thiền và thở như thế nào? Bằng những ví dụ dí dỏm, thân tình, dễ hiểu: “Hãy nương tựa chính mình. Bởi nói cho cùng, ai có thể “thở” giùm ai? Ai có thể “thiền” giùm ai! Hồi giờ tôi cũng đọc nhiều sách về Thiền, nhưng lần này tôi nghĩ không riêng bản thân mình mà có lẽ bà con Phật tử dự nghe cũng nhận ra phương pháp “Thiền và Thở” của ông thầy thuốc Tây y không khó mấy, để ứng dụng trong đời sống mỗi người. Các sinh hoạt như thế này ở một số chùa tại TP.HCM là bình thường. Cám ơn Chùa Quảng Đức đã có những sinh hoạt thiết thực, không chỉ Phật sự của nơi tâm tịnh, cho tu tập Phật pháp, mà coi Đạo Phật là đạo của con người, do con người và vì con người… Từ tư tưởng đó mà những sinh hoạt như chùa Quảng Đức đang phát huy là rất thiết thực có ý nghĩa, rất nhân văn.
Nói về Bs. Đỗ Hồng Ngọc là người con sinh ra ở đất La Gi, họ hàng gia tộc nội ngoại đều ở đây. Thật sự tự hào La Gi hiếm có một người thành đạt về mặt tri thức, nhân cách… và nặng lòng với quê hương. Tên tuổi của ông cả nước và rộng ra nước ngoài đều biết đến. Với trên 60 đầu sách đã xuất bản, gồm các tác phẩm thơ, văn và các đề tài về Y học, Phật học, Thiền học…Từng có sự hiểu nhầm ở số đông người đọc khi danh xưng là “Bác sĩ” Đỗ Hồng Ngọc, giữa hàng vạn bác sĩ trong nước- dù ông đã tốt nghiệp “Tiến sĩ y khoa quốc gia” năm 1969 của Đại học Y khoa Sài Gòn (tức Y khoa Đại học đường Sài Gòn)- Trong các buổi trò chuyện, làm diễn giả các buổi tọa đàm trao đổi về Y học, về Phật học…ở TP/HCM vẫn chiếc áo sơ mi trắng bỏ ngoài, khoác chiếc áo gió màu đen, chân mang dép…càng lạ lùng với người mới gặp lần đầu. Nhưng qua sách, qua cách nói chuyện của ông mới thấy đó là con người giản dị, trí tuệ, có tâm… Theo tôi, những tác phẩm của ông dễ đọc, dễ cảm nhận là do cái chất thơ đằm thắm trong ông đã “lậm” vào đó, mới mang lại sức truyền cảm cho từng trang sách, đến người đọc.
*PC (La Gi)
(Bài viết nhanh cho Fb)

Mang sách về chùa cho thư viện chùa thêm phong phú…


“3 điều 4 chuyện” để… Học Phật
Đỗ Hồng Ngọc
Trong vài buổi trò chuyện với bè bạn quanh cuốn BUÔNG của mình, có bạn cho rằng hình như hơi cao quá, có cách nào đơn giản giúp dễ nhớ hơn không?
Trước hết, theo kinh nghiệm riêng, tôi nghĩ cần nhớ “3 điều 4 chuyện” như sau:.
3 ĐIỀU là:
Phải hiểu “thuật ngữ” Phật học. Không hiểu thuật ngữ thì sẽ bối rối, hiểu lầm, dễ dẫn tới dị đoan mê tín nữa. Thí dụ: “Tam- ma- địa” mới nghe tưởng là vùng đất của ba con ma! Thực ra Tam-ma-địa do phiên âm chữ Samadhi, nghĩa là Chánh định, một thứ định sâu. Chữ Niết-bàn chẳng hạn không phải là cái nơi thiên đàng, cực lạc, mà là chữ phiên âm của Nirvana, “tắt lửa”, nghĩa là không còn tham lam, sân hận, si mê (Dứt Tham Sân Si). Đã hoàn toàn giải thoát phiền não khổ đau. Ngay cả chữ “chúng sanh” cũng vậy. Cho nên Phật bảo “chúng sanh không phải là chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh” (chúng sanh tức phi chúng sanh, thị danh chúng sanh- kinh Kim Cang)…
Hai là phải hiểu những ẩn dụ, ẩn nghĩa, mật nghĩa… khi đọc kinh sách Phật. Thí dụ niệm Quan Thế Âm thì gặp lửa lửa tắt, gặp nước cuốn trôi thì nước sẽ cạn, muốn sanh con trai có con trai, con gái có con gái… Tưởng thiệt thì nguy! Lửa ở đây là lòng sân hận. Sân hận đưa ta vào chín tầng địa ngục. Nước ở đây là lòng tham cuồn cuộn cuốn ta vào hố thẳm không đáy… Con trai là Trí tuệ, con gái là Từ bi…
Ba là phải Thực hành. Từ từ, không nóng vội. Nóng vội sẽ dẫn tới “tẩu hỏa nhập ma”. Thực hành trong cách thở, cách ăn, cách nghĩ, cách làm. Học Bồ-tát Thường Bất Khinh để luôn kính trọng mọi người; học Bồ-tát Dược Vương để luôn chân thành, ai thấy cũng vui ai gặp cũng mừng (nhất thiết chúng sanh hỷ kiến); học Bồ-tát Quán Thế Âm để biết thấu cảm, nghìn mắt nghìn tay, hóa thân đủ hình dạng tùy cơ ứng biến giúp người bất cứ nơi đâu có tiếng kêu khổ đau của trần thế. Đó chẳng phải là những đức tính tôn trọng (respect), chân thành (genuine), thấu cảm (empathy) giúp cho cuộc sống luôn an lạc, hạnh phúc ư?
4 CHUYỆN là:
Thứ nhất: Phật không phải là một thần linh, một giáo chủ… uy quyền tối thượng, ban bố ơn phước cho loài người. Nhờ tìm được con đường thoát khổ, Phật chia sẻ với mọi người với lòng từ bi vô hạn, bởi ai cũng có Phật tính, ai cũng sẽ thành Phật. Phật không độc quyền làm Phật một mình. Cho nên Phật là một đạo sư, một nhà giáo dục, một bậc y vương đáng kính đáng trọng.
Thứ hai: Phật khuyến khích hãy quay về nương tựa chính mình, đừng chạy vạy tìm kiếm đâu xa. Tự trách nhiệm về cuộc đời mình, chọn con đường mình đi. Không ai vào… niết bàn hay địa ngục vĩnh viễn, ai cũng có cơ hội để thay đổi lối sống, vòng đời của mình. Nói khác đi, tạo cho mọi người tự tin vào năng lực của riêng mình và hoàn toàn bình đẳng, không phân biệt.
Thứ ba: Thở là quan trọng số một của đời sống. Hãy biết thở đúng. Thở đúng để thấy thân tâm nhất như. Và nhìn kỹ vào hơi thở để thấy rõ sự sống chết, sự tạm bợ, sự đổi thay, sự không có cái tôi riêng mình vì thở cóc cần ta, chẳng phải của ta, chẳng phải là ta.
Thứ tư: Ăn là quan trọng. Cần phải hiểu tại sao ăn, ăn cái gì, ăn bao nhiêu, ăn cách nào… Phật mang bình bát đi khất thực vài tiếng đồng hồ mỗi ngày và ai cho cái gì cũng vui nhận, không đòi hỏi, chẳng từ chối. Mang về vo lại thành một cuộn tròn để ăn một cách chánh niệm gọi là “đoàn thực”. “Ăn chay” là ngoài đoàn thực còn phải chú ý đến các món ăn khác cho tâm hồn là xúc thực, tư niệm thực, thức thực.
(ĐHN)
Thư gởi bạn xa xôi (9.2022, kỳ 4)
Buổi chiều đó, ghé A Lan Nhã uống Trà, đàm đạo và nhất là thăm Cụ Huynh trưởng Nguyễn Châu, Vụ trưởng Gia đình Phật tử, nay vừa tròn 100 tuổi. Cụ vẫn sáng suốt, nói năng nhẹ nhàng. Trong nhóm mình, anh Ngô Tiến Nhân là bạn cô Thanh Thanh, cháu của Cụ đã quen biết từ trước. Anh Thanh Nguyên, nhà sách Văn Thành và anh Minh Ngọc… vốn không xa lạ với Gia đình Phật tử. Riêng mình cũng đã có mấy lần họp mặt với Gia đình Hoa Sen tại đây, được nghe Thiền ca do Nhạc sĩ Thuần Nhiên sáng tác, với nhóm ca sĩ của anh. Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh là em ruột Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, du ca, trước 75 ai cũng biết. Vinh từng phổ bài thơ “Sông Ơi Cứ Chảy” viết cho La Ngà của mình do Thu Vàng hát đã lâu.

Thăm Cụ Nguyễn Châu, Huynh trường Gia đình Phật Tử, vừa tròn 100 tuổi. (Đà Lạt 15.9.2022)
Buổi gặp mặt “Trà đạo” lần này có nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh và cô Thảo Nhiên của Gia đình Hoa sen Đà lạt tham dự. Bất ngờ, anh Thuần Nhiên khoe bài nhạc mới phổ thơ Đỗ Hồng Ngọc: Khi Xa Đà Lạt. Bài thơ mình viết năm 1966, cách nay đã 56 năm rồi còn gì! Thuần Nhiên bảo lúc đó, anh mới 12 tuổi! Không hẹn trước, bài thơ được phổ nhạc, hôm nay đúng lúc có Nhóm mình đang ở Đà Lạt. Nói như Trần Hoài Thư “đời toàn chuyện bất ngờ”! Phải nói là “duyên” vậy!

Nhạc sĩ Thuần Nhiên trao tặng bản nhạc vừa viết cho ĐHN.
Sau đó, Vinh đề nghị mọi người cùng ghé đến nhà Nhạc sĩ Trần Quang, người đang có lớp dạy đàn và dạy ca để nhờ Trần Quang hát thử cho nghe xem sao. Trần Quang tốt nghiệp thanh nhạc tại Tp HCM, nay đã định cư Đà Lạt.

Nhạc sĩ Trần Quang đàn và hát Khi Xa Đà Lạt, thơ ĐHN nhạc Nguyễn Đức Vinh.
(15.9.2022).
Ngày 17.9.2022 trên đường về lại Saigon, Nhóm ghé thăm chùa Nguyên Không, ở Định An, Hiệp An, Đức Trọng, một ngôi chùa rất đẹp trên đồi cao, nhìn về Núi Voi trước mặt, hiện đang nuôi 40 em cô nhi học hành. Ni sư Tâm Hạnh đang ở nước ngoài, có Sư cô Hạnh Nhân tiếp đoàn và đặc biệt, Sư cô Nhất Nguyên, tuổi 70, vốn là một kỷ sư sống ở Đức hơn 30 năm, bạn của TS Nguyễn Tường Bách đang tu tập tại đây. Cô cũng không xa lạ với Đỗ Hồng Ngọc vì cô vốn là em ruột của Bs Trần Thành Trai. Cô nói cô đang rất mong cuốn sách Buông mới ra, vì buông… quả là không dễ!

Chùa Nguyên Không, Đức Trọng, Lâm Đồng

Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
Thư gởi bạn xa xôi (9.2022, tiếp theo)
Cũng ở Dran, đoàn đến thăm chùa Giác Nguyên, ngôi chùa Sắc tứ nổi tiếng, được xây dựng từ năm 1925 và được Sắc tứ bởi vua Bảo Đại 1939.

Chùa sắc tứ Giác Nguyên ở Lạc Dương (Dran)

Từ trên đồi cao chùa Giác Nguyên nhìn xuống Đập tràn Đa Nhim rất đẹp (ảnh DHN)
Từ đó, leo đèo Dran ngoằn ngoèo về Đà Lạt, ngang qua Trạm Hành, Cầu Đất…, nơi có con đường xe lửa răng cưa Phan Rang – Đà Lạt ngày xưa.
Sau một đêm nghỉ ở Cadasa của GS Nguyễn Thế Hùng, khu “bảo tồn” chút linh hồn Đà lạt với hàng chục ngôi biệt thự xinh đẹp từ thời Pháp, được chỉnh trang và bảo quản gần như nguyên vẹn, rất quý giá nhưng nghe nói hình như sẽ… bị đập phá để xây những buiding cao tầng cho hợp thời đại… rất đáng tiếc!
Sáng hôm sau, với một chương trình thong dong… mà bề bộn, đoàn đi thăm Thiền Viện Trúc Lâm. Nghe thầy Thông Phương đã về phương Nam, hỏi thăm thầy Tĩnh Đàm thì… đã lên chức, không còn làm Tri khách nữa, nay có thầy Thái Đăng trẻ, đẹp trai thay. Hóa ra thầy Thái Đăng nhận ra Đỗ Hồng Ngọc ngay, mời mọi người ăn bánh trung thu và uống trà đàm đạo, rồi hướng dẫn đi thăm “cốc” của Thầy Thanh Từ đã gần 100 tuổi, đang ở Thường Chiếu. Cái cốc xưa nhà lá, đơn sơ, năm 2005 mình đã có dịp trò chuyện cả giờ cùng Thầy và đã viết lại trong cuốn sách mới: Buông, thì nay đã là một cái “cốc” với nhà gỗ bóng lộn, tuyệt đẹp! Cạnh đó là một “tháp báu”!



Gởi tặng cuốn sách mới BUÔNG có bài viết về Thầy Thanh Từ.
Sau đó, đoàn đi thăm Thầy Huệ Đăng. Gặp thầy quả là không dễ, dù đã từng trò chuyện với Thầy cách đây 4,5 năm gì đó. Lần đó, nhớ thầy hỏi “Ông gặp tôi có chuyện gì?”, mình trả lời: ” Không có chuyện gì cả! Vì nghe nói rất khó được gặp thầy nên tìm đến thăm… xem sao!”. Sau đó là buổi trò chuyện thân mật về Yoga, về Thiền, về… sâm các thứ và thầy bèn tặng cho một lô sách ôm về. Thầy còn kêu nhóm học trò đang học Yoga đến nghe… bác sĩ Ngọc nói chuyện nè! Thầy Huệ Đăng hơn mình vài tuổi, nổi tiếng là người khó tánh, nhưng hôm đó bỗng rất dễ thương. Lần này thì thầy không nhớ nhưng trông thầy vẫn khỏe khoắn, dù đã 85 tuổi, mỗi ngày vẫn hai buổi dạy Yoga cho học trò. Thầy nói có 3 “điều”: điều thân, điều tức và điều tâm,trong đó điều tâm là quan trọng nhất. Mình hỏi quan trong nhất sao thầy kể ở hàng thứ ba?… Không có thân sao có tâm?… Ấy chẳng qua cũng để nhắc rằng, đừng quên thân mình. “Quay về nương tựa chính mình” chính là nương tựa vào thân đó. Nhớ hồi Phật tu khổ hạnh, suýt chết vì đói, nhờ bát cháo sữa của Sujata mà tỉnh lại, thiền định 49 ngày dưới cội Bồ đề mà thành chánh quả. Thiền nói :”Tức tâm tức Phật” nhưng Mật nói: “Tức Thân thành Phật”. Thiệt ra thân và tâm “nhất như”.
Ghé thăm chùa Linh Sơn nhưng không gặp thầy Viên Như, đoàn qua thăm thầy Viên Thanh ở Thiền viện Van Hạnh Đa Lạt. Ôi chao, cả một kho đồ cổ! Thầy Viên Thanh cho một bữa cơm chay. Bất ngờ gặp Tâm Nhiên ở đó. Tâm Nhiên là một nhà thơ, một du sĩ, đã từng sống nhiều năm ở Vô trụ am, nơi Hòn Sơn Rái, một đảo nhỏ vắng người ở Kiên Giang, dạy học cho trẻ con. Anh lang thang khắp trong Nam ngoài Bắc, là tác giả của nhiều tập thơ đạo, với tâp trường ca Thanh Tịnh Ca, thân quen Bùi Giáng, Pham Công Thiện, Tuệ Sỹ…

Đỗ Hồng Ngọc gặp Tâm Nhiên ở Thiền viện Vạn Hạnh Dalat.


Tâm Nhiên kéo Đỗ Hồng Ngọc ra chụp cái hình kỷ niệm ở cổng Thiền viện Vạn Hạnh Đà Lạt (15.9.2022)
Hẹn thư sau.
Thân mến,
ĐHN
Thư gởi bạn xa xôi (Dalat, tiếp theo)
16.9.2022. Ngày thứ ba của chuyến “Nhập Đà Lạt” này, nhóm mình đi thăm Nhà thờ Domaine de Marie cũng gọi là Nhà thờ Mai Anh, một ngôi Nhà thờ tuyệt đẹp trên đồi cao của Đalat mà ít ai không biết. Ngôi Nhà nguyện rất xinh xắn và phía sau là Vườn hồng rực rỡ. Trước kia còn có các phòng tham vấn để các Sơ gặp gỡ những ai có vấn đề cần giúp đỡ.
“Hệ thống mái, có hình dáng tựa như nhà rông của đồng bào dân tộc Tây Nguyên, được xây năm 1938. Mái nhà có độ dốc khá lớn, được lợp ngói màu đỏ sản xuất ở Việt Nam. Hệ vì kèo gỗ được chế tạo tinh vi góp phần vào việc hình thành một không gian nội thất trong nhà thờ. Các cửa sổ mái nhô ra từ phần mái lớn vừa tạo những điểm nhấn duyên dáng cho một diện tích mái khá lớn, vừa là nơi gắn những tấm kính màu (xuất xứ từ Pháp) chiếu sáng cho không gian thánh đường thêm phần lung linh, huyền ảo.
Phần tường được xây bằng đá chẻ tới ngang bệ cửa sổ theo kiểu kiến trúc vùng miền Bắc nước Pháp). Tường dưới mái xây khá dày và các cửa được thiết kế sâu vào bên trong, do đó ở mặt bên của công trình có thể nhận thấy rõ các mảng đặc – rỗng, sắc độ đậm nhạt -sáng tối, làm cho mặt bên của công trình càng thêm ấn tượng và độc đáo” (Wikipedia).
Chiều muộn, ghé qua thăm Nhà thờ Con Gà. Đây là Nhà thờ Chính tòa Đà Lạt, xây năm 1931 (Wikipedia).
Mình nhắc các bạn là nơi xuất hiện rất nhiều trong tranh Đinh Cường vẽ về Đalạt. Và nhớ, có một bài hát của Lam Phương…
Một sáng nào nhớ không em?
Ngày Chúa Nhật ngày của riêng mình
Thành phố buồn nằm nghe khói tỏa
Người lưa thưa chìm dưới sương mù
Quỳ bên nhau trong góc giáo đường
Tiếng kinh cầu dệt mộng yêu đương
Chúa thương tình, sẽ cho mình mãi mãi gần nhau.
Nhưng…”rồi từ đó…”
Cũng đừng quên cây cầu dưới kia bắt qua dòng sông nhỏ từ Hồ Xuân Hương mà Trịnh Công Sơn đã viết “Có một dòng sông đã qua đời”…
Tóc người như dòng sông xưa ấy đã phai, đã lênh đênh biển khơi
Có lần bàn chân qua phố thấy người sóng lao xao bờ tôi
Mười năm chân bước trên đường dài
Gặp nhau không nói không nụ cười
Chút tình dường như hiu hắt bay…
…
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Domaine de Marie (Nhà thờ Mai Anh) ĐàLạt

Vườn hồng, phía sau.

Gặp đoàn tham quan ĐaLạt của Cha Hào Don Bosco Gò Vấp.

Thăm Nhà thờ Con Gà Dalat 16.9.2022

Hôm đó, có một buổi hòa tấu nhạc…
Thư gởi bạn xa xôi (9.2022)
Bạn biết rồi đó, Nhóm Học Phật của bọn mình ở Chùa Xá Lợi Tp HCM (Saigon) có mười anh chị em, đã cùng học Phật với nhau được… 10 năm rồi chớ không ít. Mỗi tuần học một buổi sáng thứ Tư. Thầy Đồng Bổn, trụ trì chùa Xá Lợi giao lớp hoàn toàn “tự quản”. Phương pháp học là “giáo dục chủ động tạo tham gia”, thảo luận nhóm là chính, không ai là “thầy”, chẳng ai là “trò” trong lớp đặc biệt này. Do vậy, các buổi học rất sôi nổi, hào hứng, với nhiều “phản biện” lý thú. Mình được anh em tín nhiệm vì già nhứt lớp, cho làm… “lớp trưởng” điều hành… tạm. Lớp đã học qua các bước cơ bản, Tứ diệu đế, Bát Chánh đạo, Thập nhị nhân duyên… rồi Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Viên Giác, Lăng Già và nay đang học Hoa Nghiêm…
Dự kiến đi Đà Lạt mấy lần đều bể kế hoạch vì Covid. Nay thì quyết tâm “Nhập Đalat” một chuyến để học hỏi.
Ghé Đơn Dương (Dran) vì có KMM ở đó từ nhỏ rành quá. Cô nhà báo này chịu khó hướng dẫn đoàn đi thăm mấy nơi. Cô biết rõ nơi xưa chỗ nào có Đinh Cường, Trịnh Công Sơn tạm trú, lui tới bưu điện, chỗ nào Trần Vấn Lệ hay ăn… nem cuốn, chỗ nào xe lửa chui hầm… và đâp Đa Nhim…
Theo yêu cầu của mình, cô đưa đoàn thăm Nhà thờ Ka Đơn. Một ngôi Nhà thờ lạ xứ Churu (Chăm), không giống bất cứ một Nhà thờ nào khác. Không uy nghiêm, sừng sửng, vút lên giữa không trung , chẳng mái vòm, tháp chuông, tranh kiếng sặc sở, lộng lẫy. Ka Đơn khiêm tốn, giản đơn, lặng lẽ dưới những vòm lá thông kín đáo. Vậy mà tới đó, lòng bỗng thênh thang ra, nhẹ nhàng lại, bởi ngôi Nhà thờ đơn sơ, ấm cúng, gần gũi, hòa mình với thiên nhiên, với con người. Phải. Với con người, bởi vì từ khi xây dựng (2009) theo ý tưởng của Linh mục Nguyễn Đức Ngọc, với sự trợ giúp của các kiến trúc sư, hình thành nên một ngôi Nhà thờ mở, không có cả bậc thang cấp, bệ cao, để người già, người tàn tật vẫn dễ dàng bước vào trong. Vách gỗ, lắp kiếng sáng rộng như nối kết với cảnh quan rừng thông vi vút bên ngoài, không có cảm giác ngăn cách giữa con người với thiên nhiên…
Và đây vài hình ảnh gởi bạn xem nhé:

Nhóm Học Phật viếng Nhà thờ Ka Đơn, Dran 14.9.2022 (KMM áo vàng)


Khu Nhà gốm

Học sinh Lớp 1 (Nhà thờ cho mượn tạm vì trường đang sửa) trong giờ giải lao… (ảnh ĐHN)

Khu bảo tàng nho nhỏ, với đàn đá, bình gốm, cồng chiêng… các thứ.

Linh mục Nguyễn Đức Ngọc đã chuyển về Nha Trang, Cha Long đi vắng, Thầy Hoàng Nam hướng dẫn đoàn vào thăm bên trong Nhà thờ. Bất ngờ thầy Nam cho biết đã đọc nhiều sách và bài viết của Đỗ Hồng Ngọc…


Nhà thờ Ka Đơn hoàn thành năm 2014 và vào năm 2016 đã nhận giải Kiến trúc Thánh của Italy.
Hẹn thư sau nhe.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
Khi Đi Qua Cánh Đồng
MÙA VU LAN VỚI BÔNG HỒNG CHO MẸ !
*PHAN CHÍNH
(https://baobinhthuan.com.vn/mua-vu-lan-voi-bong-hong-cho-me-100068.html)
Đây là một buổi họp mặt thân tình, trao đổi về giá trị hiếu đễ, đời người, mà không quá nặng nề với từ ngữ triết luận cao siêu, với tôi hiếm gặp, nhưng thấy lòng nhẹ nhàng và thấu cảm. Đó là cuộc hội ngộ tại Lagi Farmstay (khu du lịch Cam Bình, thị xã La Gi) vào sáng ngày 8/8/2022 – Đơn giản với khu vườn đầy cây xanh, vài căn phòng nghỉ cấu trúc thanh thoát nằm bên chiếc ao đầy sen và cá kiểng… Thế mà “hội trường” từ một quầy bar và các loại băng gỗ, ghế bàn cà phê… được bày biện khá đẹp mắt, đã đông người đến dự từ sớm hơn giờ mời.
Buổi họp mặt “ngẫu hứng” của nhà thơ- bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, là người con của quê hương La Gi kết hợp về thăm quê nhân mùa Vu Lan và gặp gỡ những người thân, những anh em văn nghệ sĩ địa phương. Không những quanh quẩn khu vực trung tâm thị xã mà còn nhiều người từ xã Tân Thuận (Hàm Thuận Nam) là quê mẹ của anh cũng kịp đến. Với khoảng hơn 70 người có mặt trong một không khí thân mật, ấm áp và gần như suốt buổi trao đổi vẫn giữ được cái không gian vừa lắng đọng vừa chân tình. Bs Đỗ HồngNgọc bày tỏ – và đúng với thực tế ở những buổi nói chuyện về Thiền, về học Phật của anh- vẫn giữ cho mình thái độ cởi mở, bình dị, mang tính minh triết dẫu bao nhiêu người cũng đều đáng vui, cũng là chia sẻ…
Dù đề tài Bs. Đỗ Hồng Ngọc nói về “Thiền tập” đối với tuổi “Gió heo may đã về” và kể cả đối tượng bạn trẻ của thập niên 80 thế kỷ 20 quá quen ở báo Mực Tím ngày nào, thật sự là cuộc hội ngộ rất hồn nhiên. Cũng là điều đáng nghe để cảm nhận, bởi ý thức về “thân bệnh” có mối quan hệ với hành động hiếu hạnh, tri ân trong mùa Vu Lan như thế nào. Bs Đỗ Hồng Ngọc, như một thói quen khi ở vai “diễn giả” không bao giờ khệ nệ trang giấy, đề cương, tài liệu… mà có duyên biến hóa, liên hệ rất sinh động các vấn đề. Cái tư chất của một nhà thơ (với bút danh Đỗ Nghê- trước 1975)… luôn được chuyển tải một cách nhẹ nhàng với một phong cách ngôn ngữ đầy ấn tượng, cảm thông.
Dẫn dắt từ 4 câu thơ “Bông hồng cho Mẹ” của bs. Đỗ Hồng Ngọc viết trong mùa Vu Lan năm 2012- sau một năm ngày mẹ mất. Bs Đỗ Hồng Ngọc đến chùa cũng nhận được một đóa bông màu trắng (dành cho người không còn Mẹ), chợt anh rưng rưng nhớ: “Con cài bông hoa trắng/ Dành cho mẹ đóa hồng/ Mẹ nhớ gài lên ngực/ Ngoại chờ bên kia sông…” vì tin rằng mẹ mình sẽ gặp Ngoại, nên Mẹ phải mang đóa bông hồng. Bởi ý nghĩa Vu Lan- mùa báo hiếu, là sự tưởng nhớ công đức bậc sinh thành và tổ tiên theo truyền thống Phật giáo từ ngàn xưa.
Trong cuộc gặp gỡ này Bs.Đỗ Hồng Ngọc đã ra mắt và ghi tặng mọi người tập sách “Bông hồng cho mẹ & Những cảm nhận học Phật”, gồm 37 bài, dày 270 trang (do Chùa Phật học Xá Lợi ấn tống). Trong đó có nhiều đề tài anh đã từng viết trên nhiều tạp chí về văn hóa Phật giáo.Trên Youtube “bs. do hong ngoc”, anh với tư cách người “học Phật” mang đến nhiều khóa tu, một số tự viện ở thành phố Hồ Chí Minh những câu chuyện về Phật học và đời sống qua lăng kính của nhà khoa học, nhà thơ… Anh kể, sau một cơn bệnh thập tử nhất sinh, vượt qua cuộc đại phẫu sọ não, anh bắt đầu nghiền ngẫm về triết lý sống an nhiên của Phật giáo bằng tâm thế của một người “học Phật”. Anh với kiến thức y học căn bản của một Tiến sĩ y khoa quốc gia của Y khoa Đại học đường Sài Gòn (1969) và trải nghiệm nhiều năm là Giám đốc trung tâm Truyền thông và Giáo dục sức khỏe Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh, cho nên anh khéo biểu đạt, biện giải từ tinh thần Thiền định, không theo cách nghĩ là phải ngồi yên một chỗ, buông xả, đến với “Thiền và Thở” mà anh dẫn dắt được người nghe với nhiều thi vị, khi coi đó là cách “điều khiển” sự thở. Anh kể chuyện bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, từng tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa ở Pháp năm 1941, do mắc bệnh lao phổi và phải qua bao ngặt nghèo trong cứu chữa, chịu mổ 7 lần và chỉ còn 2/3 lá phổi trái. Các chuyên gia y khoa dự đoán chỉ sống chừng hai năm thôi…Vậy mà bác sĩ Nguyễn Khắc Viện sống dài hơi thêm 50 năm, để lại nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm về y học, tư tưởng sống thanh niên. Có thể coi Bs Nguyễn Khắc Viện là “tiền bối” về phương pháp Thở Bụng mang lại điều kỳ diệu cho những người quan tâm đến sức khỏe sau này. Nhưng với Bs Đỗ Hồng Ngọc đã vừa ứng dụng Thở bụng vừa kết hợp Thiền định một cách khoa học, đơn giản và phù hợp với điều kiện cuộc sống của mỗi người.
Với người La Gi, giới học sinh, sinh viên và lứa tuổi đã trưởng thành rất ngưỡng mộ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Cha mất sớm, mẹ tảo tần nuôi các con khôn lớn đã in sâu trong tâm hồn anh về một người mẹ bất tử trong đời. Ai cũng coi anh là một tấm gương thời trẻ, ở hoàn cảnh làng quê sau chiến tranh, nghèo khó nhưng đã vươn mình trong học tập và thành đạt. Ngôi trường Phan Bội Châu- Phan Thiết là bước đầu đưa anh kịp vào trường Đai học y khoa Sài Gòn rất sớm. Nhưng điều đáng ngạc nhiên, nể phục ở anh là đến nay, dưới tên Đỗ Hồng Ngọc có trên 50 đầu sách về các lĩnh vực Y học, Thiền học, Phật học và nhiều tập thơ, tập tạp bút văn học thuộc loại “hot” nhất, với một văn phong rất riêng, sắc sảo, trẻ trung…Càng quý anh ở cái tình quê hương, họ tộc luôn thấm đậm, nồng hậu mà trong sáng tác đã đong đầy nỗi nhớ thương. Tôi nhớ mấy câu thơ trong bài “Trên sông khói sóng” của Đỗ Nghê/Đỗ Hồng Ngọc-1971: “Người về Mường Mán về Sông Pha/ Người ra Mũi Né về Đại Nẫm/ Thương giọt chuông chiều Lạc Đạo xa”…Với bác sĩ- nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc luôn nặng tình như thế!
(Phan Chính)
Bông Hồng Cho Mẹ,
thơ Đỗ Hồng Ngọc,
với tiếng hát Thu Vàng,
và tiếng đàn của nhạc sĩ Võ Tá Hân.

Anh Đỗ,
Thư anh đến trong lúc tôi đang đọc quyển sách của Mark Epstein, nhan đề là “Advice not given”. Đây là quyển sách thứ ba của cùng tác giả mà tôi đọc, toàn là xếp vào hạng best-sellers ở Mỹ. Epstein là bác sĩ tâm thần nổi tiếng. Nổi tiếng vì là thầy thuốc giỏi. Và nổi tiếng là nhà Phật học uyên thâm. Có gì lạ đâu, phải không anh Đỗ? Đức Phật của chúng ta đã chẳng là thầy thuốc đó sao! Lặn lội trong chuyên môn phân tâm học với Freud, với Jung, ông chợt thấy đức Phật, ông lặn lội qua Tây Tạng “học Phật”, học cả với các danh sư ở Mỹ, và ông đem đạo Phật áp dụng vào chuyên môn của ông, rốt cuộc ông nổi tiếng cả hai, cả cách trị liệu tâm thần, cả tư tưởng Phật giáo. Ông sống với đạo Phật trong chuyên môn, ông sống với đạo Phật trong đời thường, càng sống ông càng hiểu thêm đạo Phật, ông đem hiểu biết đó vun trồng trên đất Mỹ cho hợp với thủy thổ xa lạ, và đạo Phật bây giờ sáng trên thủy thổ ấy, anh Đỗ à, tôi cho rằng đích thị hai chữ “học Phật” là như vậy.
Hay thật, anh đâu có biết ông ấy, ông ấy đâu có biết anh, vậy mà tay trong tay, anh đi cùng đường và cùng “học Phật” như thế. Lý tưởng, hành động, cuộc đời, cao đẹp thay là ông thầy thuốc tương chao!
Anh Đỗ, bây giờ tôi hỏi anh câu này nhé, vì anh với tôi đều đã đọc “Tổng Quan về Nghiệp” của Thầy Tuệ Sỹ: Anh “học Phật” trước hay học Y trước? Chắc anh sẽ trả lời: hiển nhiên là học Y. Nhưng mà, nghĩ thêm chút nữa, cái gì xúi anh học Y? Cái gì xúi anh thích Y? Cái gì xúi anh thành ông bác sĩ như thế, lúi húi hành nghề rồi lúi húi dùi mài kinh kệ? “Cái đó”, tôi chắc là anh có trước khi học Y. “Cái đó”, tôi cũng chắc là ông Epstein có trước khi thành danh với bác sĩ tâm thần. “Cái đó”, chính là cái xúi anh đến với Phật mà anh không biết đó thôi, anh đến với Phật trước khi học Y. Anh “học Phật” từ lâu rồi, từ kiếp nảo kiếp nao, để bây giờ thành danh với… Đỗ Hồng Ngọc. Cho nên tôi nói: “Tiên học Phật, hậu học…”. Hậu học cái gì cũng được, cái gì cũng thành danh, ít nhất là thành danh con người.
Nhưng tôi chưa nói hết: anh đâu phải chỉ là ông thầy thuốc, cái danh của Đỗ Hồng Ngọc còn là con người thơ. Cũng vậy, tôi cũng lấy từ “Tổng Quan…” mà ra: thơ đến với anh từ trước khi anh làm thơ. Thơ là tiếng nói trong tận cùng thâm cung bí sử của tư tưởng. Cái gì mà tư tưởng không nói nên lời được thì phải diễn tả bằng thơ. Thơ đời Lý đời Trần là như vậy. Và thơ đó, chắc anh đã đọc không phải chỉ ở trong kiếp này. Cho nên bây giờ hồn anh nhập vào thơ của Thầy Tuệ Sỹ. Cho nên bây giờ anh thấy Phật trong thơ. Cho nên bây giờ một tay anh bốc thuốc, một tay anh viết thơ, thuốc thơm mùi thơ, thơ thơm mùi thuốc.
Còn có chuyện này nữa, hơi khó nói. Tôi thấy thấp thoáng có một người thứ ba nữa nấp sau hai con người kia. Thấp thoáng thôi, đây đó, kín đáo, chỉ nghe tiếng cười cười, tinh tế lắm mới nghe. Chẳng hạn khi anh nói chuyện ngồi thiền. Tất cả đều nghiêm trang, tôi chỉ trích mấy câu cuối:
Hơi thở xẹp xì
Thân tâm an tịnh
Không còn ý tưởng
Chẳng có thời gian
Hạt bụi lang thang
Dính vào hơi thở
Duyên sinh vô ngã
Ngủ uẩn giai không
Từ đó thong dong
Thõng tay vào chợ.
Rất nghiêm chỉnh, kể cả lúc anh vô chợ mà chẳng để mua gì, vì hai tay thõng thế kia thì làm thế nào móc túi lấy tiền? Thế rồi anh cắt nghĩa: “Mặt hồ tĩnh lặng thì không cần ghi bóng con hạc bay qua, không cần biết hạc vàng hay hạc đỏ, hạc trống hay hạc mái…” Ối giời, hạc vàng thì chỉ bay trên lầu Hoàng Hạc trong thơ Đường, đâu có bay trên mặt hồ Sài Gòn hay Phan Thiết? Bạn tôi nhầm với con vạc “như cánh vạc bay” rồi chăng? Không phải đâu. Nhà thơ nghĩ ra hai chữ “trống mái” rồi nhà thơ khoái chí vừa hạ bút vừa cười cười, hạc hay vạc thì có gì đáng quan tâm?. Ấy là bụng để ngoài da, con người thứ ba “anh linh phát tiết ra ngoài” đấy nhé. Có ai đa tài mà chẳng đa… tình?
Tôi “học Phật”, ngồi thiền với anh, thỉnh thoảng thấy tâm có hơi lộn xộn như thế, chắc anh cũng cười cười mà thông cảm nhau. Nhưng, nói nghiêm chỉnh nhé, con người thứ ba là cái duyên của anh. Chữ nghĩa mà không có duyên thì buồn lắm. Cho nên thỉnh thoảng anh cứ cho anh chàng thứ ba ấy cười cười một chút như thế, và mọi người sẽ cùng vui mà “học Phật” với anh.
Thân mến,
Cao Huy Thuần
(Oct 29, 2021)
MỤC LỤC
Thay lời tựa: Thư Cao Huy Thuần gởi Đỗ Hồng Ngọc
1. Biết rồi còn hỏi! 13
2. “BUÔNG” 17
3. Ngoài hư không có dấu chim bay? 25
4. Sáng, trưa, chiều, tối… 33
5. Thiền và Trí thức 43
6. “Ba điều bốn chuyện” 55
7. Mùa Cô-vi: Nhắc chuyện Độc cư/ Thiền định/
Kham nhẫn/ Tri túc

8. Nói thêm về Thở Bụng 69
9. Con đường an tịnh 79
10. Phật cười dưới trăng… 93
11. Học cùng “Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh”
của Nguyên Giác 97
12. Về thăm đất Phật, Nepal 107
13. Úc du và vài bài học hay 115
14. Mười hạnh Phổ Hiền 119
15. “Bốn lời nguyện rộng lớn” 135
Hội quán Các Bà Mẹ:
Giao lưu với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về cuốn “Bông Hồng Cho Mẹ & Những Cảm Nhận Học Phật”
Ngày 17.7.2022
Cảm ơn Ng. Văn Quyền đã thực hiện một clip thật dễ thương cho buổi Trò chuyện thân mật giữa Đỗ Hồng Ngọc và các bà mẹ, các thân hữu tại Hội Quán Các Bà Mẹ, số 7 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1, Tp HCM, ngày 17.7.2022.
Địa điểm nằm trong khung cảnh một Chợ quê, dưới bóng cây đa cổ thụ, giữa lòng Saigon ồn ào náo nhiệt trong một buổi sáng Chủ nhật, quả là không dễ tìm! Lại còn cái căn gác nhỏ, ọp ẹp, chật chội, không cả ghế ngồi… Nhiều bạn đến trễ, không lên gác được phải bỏ về, cằn nhằn mãi…
Hội quán CBM thì nói có chỗ khang trang, rộng rãi, bề thế hơn… nhưng lỗi tại bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cứ đòi lấy một chỗ quê mùa, cũ kỹ, như chỗ một Bà Mẹ Quê ngày xa xưa đó vậy.
Mong thông cảm.
Đỗ Hồng Ngọc.
Đỗ Hồng Ngọc
Trần Vấn Lệ ở Mỹ, về Việt Nam chơi mấy hôm! Ái chà. Không dễ đâu nha. Anh chàng thi sĩ từng đòi “một đi không trở lại” mà lần này quyết về thăm “người ta ở bển…”, nơi Cồn Thới Sơn sông nước Tiền Giang một chuyến. Lại vừa có tập thơ Dã Quỳ Thương Nhớ ra mắt! Rồi làm một vòng lên Dalat, đến Dran, về Phan Thiết… rất vui.
Về Đàlat, không khóc mà nước mắt cứ chảy, Lệ nói. Đã ở đó 32 năm mà! Rồi về Tiền Giang, qua Cồn Thới Sơn thăm… người xưa, chỉ để vuốt mái tóc bạc phơ của nàng (một cái)… Còn về Phan Thiết thì chỉ kịp thăm mồ mả ông bà!

May Mà Còn Nhớ Thương
Thơ Trần Vấn Lệ Gửi bạn tôi,
Bây giờ Phan Thiết mình dọc bờ sông phượng đỏ. Ngọc ơi sao mình nhớ ngày xưa thuở học trò…
Ngày xưa ôi ngày xưa khi cây cầu đúc gãy, đò xé dòng nước chảy, hoa phượng trôi theo đò…
Mấy mươi năm không chờ, con sông đó chừ khác: ba cây cầu được bắc…mà một người đi xa…
Mỗi năm một mùa hoa không bao giờ thay đổi, hoa phượng tàn, rơi, nổi, con sông đỏ ráng chiều…
Bạn mình cứ nhắc hoài – chuyện thời gian, hoa phượng. Lòng mình thật đau đớn: Tại sao mình bỏ quê?
Ngày xưa mỗi độ Hè, mình ra bờ sông hứng, hoa phượng bay trong nắng, lòng mình như nắng trong…
Hồi đó, Ngọc nửa chừng bỏ trường và xa bạn, mãi đến năm chin tám mình mới tìm lại nhau!
Thời gian qua thật mau, năm mươi năm thiếu chút, tưởng người còn người mất…té ra hai đứa còn!
Mình đang ở đầu non, đang trông về cuối biển: Phan Thiết mình hiển hiện, Ngọc tóc bạc gió đùa…
Đang cũng vào mùa Hè, mình thấy thêm hoa phượng, đỏ rực trong trời nắng…mà tím hườm trong mơ!
Ngọc ơi, một chút thơ gửi về cho Ngọc ngó – mình, con thuyền chưa đỗ, mình, con thuyền còn trôi…
Mình đang rất xa xôi. Ngọc cũng không gần gũi. Phận người, con dế nhũi…May mà còn nhớ thương!
Trần Vấn Lệ viết ngày về thăm lại quê hương:
Năm 2016 tôi có chuyến về thăm gia đình ở Phan Thiết, tôi có gặp Đỗ Hồng Ngọc bằng-da-bằng-thịt tại Sài Gòn ngay lúc tôi vừa rời phi trường Tân Sơn Nhứt để về khách sạn. Ôi bạn tôi…giống tôi: Già! Xa nhau từ năm 1955 đến năm 2016 mới gặp lại, ai còn sống mà không già khú đế? Tay bắt mặt mừng, và khách sáo như không khách sáo: Cả hai đều ứa nước mắt. Cả hai đều gọi tên nhau như…hổi nhỏ: Ồ Ngọc! Ồ Lệ! Rồi, trước khi cầm đũa bữa cơm trưa, hai đứa mặc kệ lu bù người khách mời của BS Đỗ Hồng Ngọc, hai đứa chúng tôi nhắc lại một vài chuyện của thời tí hon: Trong lớp mìnhcó hai thằng trùng họ trùng tên, chỉ khác có tên lót là Đỗ Hồng Ngọc và Đỗ Hoàng Ngọc. Đỗ Hồng Ngọc biến mất khỏi trường Trung Học Phan Bội Châu Phan Thiết từ niên khóa 1955-1956 trở đi…biền biệt. Năm 1989, tôi mới thấy lại cái tên Đỗ Hồng Ngọc trên báo trong nước. Nay, hội ngộ Đỗ Hồng Ngọc thật tình…cứ ngỡ mình gặp ma! Thời gian như nước chảy qua, tại sao con người hay đi ngược lại nhỉ? Tìm gì trong quá khứ? Những nụ cười thắm tươi? Những giọt lệ đoanh tròng? Ôi, tìm gì cũng được…cốt là thấy cái bóng cái hình của cố nhân!
Trong chuyến về của tôi sau hai mươi bảy năm “trời ơi đất hỡi”, Đỗ Hồng Ngọc ký tặng cho tôi tập Tùy Bút mới nhất, Một Hôm Gặp Lại.
Đây là một cuốn sách khá dày của Đỗ Hồng Ngọc, 300 trang, khổ sách, vuông vắn, dễ thương. Tôi từng “mê” tùy bút của Nguyễn Tuân, Vũ Bằng. Có nhiều năm rất chờ mong tác phẩm mới của Võ Phiến về Tùy Bút. Nay đọc Một Hôm Gặp Lại…của Đỗ Hồng Ngọc tôi thấy Tùy Bút là một thể văn đẹp, mềm mại, tao nhã không khác gì Thơ! Xưa, xưa lắm Phạm Đình Hổ có cuốn Vũ Trung Tùy Bút…mô tả, cô đọng, hâm nóng chỉ vài ba giọt mưa trên tàu lá chuối mà đã ấm cả lòng người. Bậy giờ đọc Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc, xếp sách mấy lần, gần hai năm tròn trịa, vẫn nghe lòng nao nao, êm ru và diệu vợi…
Còn tôi, mỗi khi viết cho Trần Vấn Lệ không bao giờ quên nhắc Phan Thiết, lần nào đi ngang núi Tà Cú, dãy Ba Hòn, lang thang bên bờ sông Cà Ty (sông Mương Mán) … không thể không nhớ Hoài Khanh, nhà thơ xứ mình. Nhất là khi đi ngang Ba Hòn mình thường nhẩm câu thơ của Hoài Khanh “Người đi để dãy Ba Hòn chơ vơ” và cái Bưng Cò Ke ở ngay dưới chân dãy núi đó . Thế nhưng, nhớ lần ghé thăm Hoài Khanh ở Biên Hòa, anh đính chánh “Người đi nhớ dãy Ba Hòn trơ vơ” chứ!
Hoài Khanh sinh ra và lớn lên ở Đức Nghĩa, Phan Thiết. Nhà anh cách chỗ chùa mình ở không xa. Anh lứa lớn, đã phiêu bạt… giang hồ tự thuở nào, lúc mình còn cắp sách đến trường tiểu học bên bờ sông Cà Ty! Anh vào Saigon, làm thơ, làm báo và một mình dựng nên Nhà xuất bản Ca Dao nổi tiếng một thời. Và thơ Hoài Khanh thì thời tụi mình không ai không thuộc ít nhiều. Trong bài thơ Đức Nghĩa, Hoài Khanh viết:
Biển mang niềm nhớ đi hoang
Gió Trường Sơn luyến mây ngàn Tà Dôn
Ôi sương Núi Cú lạnh hồn
Người đi nhớ dẫy Ba Hòn trơ vơ
Cành dương cát trắng hững hờ
Nhìn nhau thuở ấy bây giờ nhớ nhau.
Hoài Khanh
Vậy đó. Nói tới Phan Thiết là vậy đó. Biển. Cát trắng. Đồi dương. Mây ngàn. Tà Dôn. Tà Cú. Ba Hòn…Tình cờ gặp Phạm Gia Cẩn, ở Úc về, là học sinh đệ thất Phan Bội Châu Phan Thiết 1956, sau bọn mình 2 lớp. Cẩn nhận ra mình, anh em bèn kéo vào quán café ngồi nhắc ngôi trường Phan Bội Châu cũ – là chỗ trường Tiến Đức ngày xưa bọn mình đã học ở đường Trần Hưng Đạo- trước khi dời qua trường mới sau này… Rồi nhắc Phan Đổng Lý, Trần Vấn Lệ, Phan Bá Thụy Dương… và những con đường làm mình không thể không kêu lên:
Ơi những con đường ta đã đi
Gia Long Đồng Khánh mượt xuân thì
Chân run rẩy cát bờ Thương Chánh
Gió ở đâu về thơm bước khuya…
(Đỗ Hồng Ngọc, Trên sông khói sóng 1970)
Núi Tà Cú, bạn nhớ không? Bọn mình ở Phan Thiết ngày xưa Mùng 2 Tết thường đi xe đò hay xe đạp lên Núi Cú chơi. Ôi nam thanh nữ tú. Đường bộ leo suốt vài giờ không thấy mệt. Riêng mình, nhà bà Ngoại ở ngay dưới chân núi Cú nên từ hồi 4,5 tuổi đã được các cậu cõng lên núi cùng Bamá, có khi ở luôn mấy ngày liền, ăn tương chao cũng đã quen.
Bây giờ Tà Cú đã có cáp treo. Trong đoàn có nhà văn Elena, người Ý, vợ nhà văn Trương Văn Dân cứ nhứt định “Tà Cu, Tà Cu” dù đã học tiếng Việt mấy năm vẫn chưa phát âm đúng!
Tà là “núi”, vùng này mình có Tà Cú, Tà Dôn, Tà Đặng, Tà Lài, Tà Bao… Cũng như La là “sông”, có La Gi, La Gàn, La Ngà, La Ngâu v.v… (tiếng Chăm).
Tà Cú nổi tiếng với tượng Phật nằm, dài 49m, được xây dựng từ năm 1960 đến nay vẫn là một thắng cảnh tuyệt đẹp. Nguiễn Ngu Í đã có mấy câu thơ về Tà Cú:
Nhè nhẹ sương bông ôm núi lịm
Êm đềm cây cỏ đắm trong mơ
Tiếng chuông đâu bỗng rung lòng đá
Ngó xuống trần ai thấy mịt mờ…
(Nguien Ngu I, 1945)
Hãy đọc Trần Vấn Lệ qua ngòi bút Kiều Minh Mạnh, người xư Dran dịp ra mắt tập thơ Dã Quỳ Thương Nhớ:
“Ông là người con của Phan Thiết- Bình Thuận. Nhưng là một người đã ở trọ Đà Lạt suốt 31 năm thì thành phố sương mù đối với Trần Vấn Lệ chắc chắn không chỉ “là nơi đất ở”, như ông đã tâm sự: “… Mình coi Đà Lạt như Cha Mẹ. Cha Mẹ đổi thay nét mặt, thân hình…nhưng không đổi thay tấm lòng…”. “Ai đã lên Đà Lạt, quả thật không muốn về…Tôi nhớ quá rừng thông, xanh xanh từng dốc núi. Nhớ cả con dế nhũi, chạy dưới gốc dã quỳ. Đà Lạt- tôi ở đây, mấy mươi năm khôn lớn…”
Hơn 15 năm làm thầy giáo: “Đà Lạt tôi thắm thiết, thời tôi dạy học trò, có em thơm như ngo, có em hiền như liễu…” Chắc chỉ có thầy giáo nhà thơ thì mới cảm nhận học trò mình “thơm như ngo, hiền như liễu”. Ngo và liễu ở Đà Lạt thì nhiều lắm…mà sao lại không “thơm như thông” mà lại “thơm như ngo” nhỉ? Ngo được chẻ ra từ thân cây thông, là những đoạn thân đọng nhiều tinh dầu nhất, người ta dùng nhóm lửa.
Trong màu vàng thủy chung nhưng đầy tiếc nuối xuyên suốt Dã Quỳ Thương Nhớ, có một địa danh thi nhân thường nhắc đến bên cạnh Đà Lạt, đó là Dran- Đơn Dương: “Chiếc xe đò Đà Lạt xuống dốc về Dran, đường xe lửa nghiến răng chỉ còn trong ký ức. Lạy trời em đừng mất…vì còn hoa quỳ kia”…(TVL).
Thơ Trần Vấn Lệ như văn xuôi nhưng có vần có điệu. Nhiều bài chẳng có dấu câu khiến người đọc phải tự tìm ngắt điệu, có người tưởng đó là lỗi của biên tập in ấn, đọc đến bài gần cuối mới vỡ lẽ. Thơ ông lạ, nhưng ông làm thơ dễ dàng như hơi thở, câu từ bình dị, cấu tứ giản đơn, dễ tìm được sự đồng cảm. Trần Vấn Lệ suy nghĩ bằng thơ, hoài niệm thành thơ, khóc cười cũng nên thơ…” (KMM).

Trần Vấn Lệ và Đỗ Hồng Ngọc (Saigon, 2016)
Cũng nên thêm một bài thơ nữa kiểu Trần Vấn Lệ:
Mỗi Bước Em Mùa Xuân
Tôi không biết bây giờ bãi biển Phan Thiết sao; nhưng tôi nhớ hồi nào…bãi biển Phan Thiết đẹp bởi em không mang dép, em đi hai chân trần, mỗi bước em, mùa Xuân gờn gợn như làn sóng…
Buổi chiều không gió lộng, tóc em vẫn bềnh bồng. Nắng hoàng hôn cửa sông (con sông Cà Ty đó), em trong manh áo gió, lồng lộng môt hình dung. Em là đóa hoa hồng, tôi bồng mà được nhỉ, hôn bao nhiêu cho phỉ…cho trọn lòng nhớ nhung…
Em đuổi những con còng / vòng quanh bàn chân ngọc. Em đã quên mái tóc / thổi ngược về phía tôi. Em em à em ơi…ngày đầu đời tôi biết mình yêu người ta thiệt (hồi đó tuổi hai mươi).
…Rồi thì lặn mặt trời. Rồi em về, bỏ biển. Những con còng đau điếng cũng lội về biển sâu. Em biết tôi đứng đâu cúi đầu thương nhớ lắm? Bãi biển Phan Thiết ấm…còn hương thừa tóc em…
Nhiều năm tôi lênh đênh trên rừng và trên núi. Biển Phan Thiết vời vợi thấy ngang đường chân mây. Nhiều năm tôi ở đây, nghẹn ngào đời viễn xứ, biển Phan Thiết…ai đó, có còn đi đuổi còng? Tôi hỏi và tôi không nghe một lời vọng lại. Tôi biết đời tang hải. Tôi hiểu chữ đổi đời. Nhưng tôi nhớ một người tóc thề thơm gió biển!
Như…con còng đau điếng, tôi làm bài thơ này… Đó, là chiều hôm nay / lòng tôi đây yêu quý. Tôi nhớ về tới Huế, ôi ai đó tóc thề…
Trần Vấn Lệ
Bài thơ viết về sông Cà Ty Phan Thiết mà bỗng nhớ tới sông Hương khiến cho tôn nữ thu dung cũng phải kêu lên:
Nỗi nhớ từ Phan Thiết
Lang thang về sông Hương
Bởi con còng …đau điếng
Ngậm hoài một vết thương !( tntd)
Lần nọ, Trần Vấn Lệ nghe tôi có dịp về Mỹ Tho bèn nhắn:
Người ta ở bển…
bạn có qua cồn Thới Sơn
người ta ở bển…
(Trần Vấn Lệ)
bạn nhắn nhờ thăm người ta ở bển
cồn Thới Sơn giữa dòng Mekong
ta lặn lội trăm lần tìm kiếm
ngược xuôi khắp ngã chằng chịt bóng dừa xanh.
sông rạch quanh co lách con thuyền nhỏ
bập bềnh sóng nước phương Nam
bạn dặn người ta mười bảy
tóc chải mượt dầu dừa
môi thơm mùi kẹo
nước da trắng muốt
nhờ tắm nước dừa xiêm
ta lang thang kiếm tìm
gặp ai cũng hỏi
những cô gái Thới Sơn
má hồng hây hẩy
lắc đầu quầy quậy
hổng quen!
cho đến một hôm trời cũng chiều lòng
có một cô răng khểnh,
bẻ gảy sừng trâu,
rất xinh
đúng là người xưa của bạn
nàng nhìn ta đôi mắt long lanh
khi ta nhắc tên,
nàng ôm chầm lấy ta rồi kêu to
ngoại ơi ngoại ơi…
trần vấn lệ
ổng dìa nè!
Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, 22.01.2015)
Khi đọc tập thơ “Thư cho Bé Sơ Sinh & Những bài thơ khác” của Đỗ Hồng Ngọc / Đỗ Nghê (2010), Trần Vấn Lệ viết: “… VUI VÌ NGHE TRÁI TIM MÌNH ĐẬP”, bởi vì “Thơ ông không rườm rà, không làm duyên làm dáng, không lập dị. Thơ ông là Thơ Hồn Nhiên, Thơ Nhã Nhặn, Thơ Ngọt Ngào. Tôi đọc thơ ông rồi úp cuốn sách lên ngực nghe ấm…Gió Bấc đang thổi ở quê nhà, ngày Xuân đang đến không riêng ai…”.
Khuất Đẩu ở Nha Trang bảo bài viết rất lạ. Mới nghe như có vẻ cà rỡn, bông lơn. Nhưng càng nghe càng thấy người viết cũng vào hạng thượng thừa. Viết như chơi, như giỡn, mà bóc tách được cái ẩn tàng của thi sĩ tình yêu. Xa cách đến vậy mà cũng gần nhau đến vậy. Điều ấy chỉ có văn chương mới làm được. Lại nữa, trong số hiếm hoi ấy có một người luôn tự nhận mình không phải là nhà thơ mà làm được như Đỗ Nghê.
(Nha Trang, 10.1.2010)
Còn cô giáo Lê Uyển Văn ở Trà Vinh thì bảo: Em đọc liền một mạch bài viết dài 9 trang này. Lòng rung lên theo chữ, nghẹn ngào theo chữ. Hạnh phúc vì tìm thấy trong bài viết đó những suy nghĩ của mình nhưng ở một tầm cao hơn, sâu rộng hơn, đáng ngả mũ kính trọng vì cái tâm, cái tài của người viết. Em thích nhiều đoạn lắm, nhưng đoạn này mới tuyệt vời làm sao! “Thơ Đỗ Hồng Ngoc / Đỗ Nghê không rườm rà, không làm duyên làm dáng, không lập dị. Thơ ông là Thơ Hồn Nhiên, Thơ Nhã Nhặn, Thơ Ngọt Ngào. Tôi đọc thơ ông rồi úp cuốn sách lên ngực nghe ấm… Gió Bấc đang thổi ở quê nhà, ngày Xuân đang đến không riêng ai…” Cái hình ảnh úp một quyển sách nào đó của anh lên ngực mà nghe ấm quả rất thực, và em tin nó thực với nhiều người. Ngoài kia, có chút lạnh, em hôm nay có chút buồn, buồn cho một đồng nghiệp trẻ sắp qua đời vì bệnh nan y, nhưng đọc bài viết này, em nghe ấm lắm! Em xin cảm ơn rất nhiều vì sự chia sẻ bài viết này. (Trà Vinh 1.2010).
Nói cách nào khác, phải chăng cái chất muối mặn, cái mùi gió Bấc thoảng hương của xứ sở Phan Thiết kia đã làm cho bọn họ gần nhau đến vậy?
(ĐHN, Saigon 7.2022)
………………………………………………………………………………………
Viết thêm:
Nhắc nhóm bạn lớp Đệ thất 1954 (lớp 6 bây giờ) Trường Phan Bội Châu Phan Thiết không thể không nhớ Phan Bá Thụy Dương (Thụy sỹ), Trần Vấn Lệ (Mỹ), Phan Đổng Lý (Úc), Huỳnh Tấn Thời, Đỗ Hồng Ngọc (VN)… rải rác khắp chân trời góc biển, mãi 60 năm sau ngơ ngác gặp nhau cứ ngỡ là… ma như TVL nói, nhưng chỉ ngơ ngác rồi mày tao mi tớ một lúc thì vẫn là một… bầy học sinh non choẹt như hồi nào chẳng khác!
Một người bạn trong nhóm mới gởi lại tôi bài viết khi cả bọn có dịp gặp nhau sau 60 năm xa cách:
“Không biết Phan Đổng Lý đã “gieo trồng” mầm thơ thế nào mà bây giờ tuổi trên 70 bỗng nổi hứng làm thơ “vịnh” bạn bè, mà bài nào cũng… hay, cũng bộc lộ “bản sắc” của từng đứa!
… chỉ bằng vài nét chấm phá đã cho thấy một Phan Bá Thụy Dương tài hoa, khinh bạc:
… Trích tiên tại thế, vấy bụi trần hụp lặn kiếp đam mê!
Nay quỳnh tương đối ẩm, mai hương sắc giao kề
Lỡ ngồi ôm góc núi, mỉm môi cười nhân thế
Ánh dương quang rực rỡ, sao lại lạc đường về?
rồi Trần Vấn Lệ, thấy ngay một chàng thi sĩ hào hoa “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”:
Ta vốn mịt mờ đường về bến cũ
Nên thuyền tình lơ lửng mãi dòng sông
Ta nào phải kẽ thả mồi bắt bóng
Mệnh an bài nên tình kiếp long đong…
Riêng bài thứ ba, dành cho Đỗ Hồng Ngọc, không biết “thần giao cách cảm” thế nào, có lẽ PĐL nhớ Đỗ Hồng Ngọc qua bài thơ “Thư cho bé sơ sinh” bèn “vịnh”
HÀNH Y
(Viết cho Đỗ Hồng Ngọc)
Là một kẻ phụng thừa y đạo
Mang huyết tâm trả nợ nhân sinh
Nhìn thai nhi tượng hình trong bụng mẹ
Ta thấy được gì trong cõi u minh
Tiếng u oa, em chừng vừa tỉnh giấc
Mang vào đời chút âm vọng bi ai
Mắt ngấn lệ em nhìn quanh ngơ ngác
Nợ tiền thân có trĩu nặng bờ vai
Ta nhìn em lòng bâng khuâng thương cảm
Mai đây rồi xuôi ngược biết về đâu
Đường vạn lý ta chúc em nhẹ bước
Có hoa vàng nắng rải, ngợp trăng sao
Ta nào phải kẻ bi quan yếm thế
Chỉ xót thương cho tuổi trẻ bạc phần
Vòng tay ta đã bao lần ôm ấp
Những mãnh đời, ôi, ngắn ngủi mệnh căn!
Ta chọn hành y, cứu nhân độ thế
Ta độ được gì, đã cứu được ai!
Đêm chập chờn ta nằm đợi ban mai
Ngày thoi thóp ta lại chờ đêm xuống
Ta đã lớn lên giữa thời lửa loạn
Gió bụi mịt mù Nam Bắc phân ranh
Tim quặn thắt trước cảnh đời tang tóc
Hồn đớn đau cho thân phận Lạc Hồng
Ta vẫn biết hữu sinh thì hữu diệt
Nhưng đầu xanh nào đã tội tình gì
Một chữ Nghiệp có vơi niềm oán khí
Một hồi Kinh có dịu nỗi sầu bi
Ta đã một lần rong chơi địa phủ
Cầu Nại Hà, nhìn sóng gợn lăn tăn
Tâm tĩnh lặng giữa hai bờ sinh tử
Hồn nổi trôi theo con nước bập bềnh
Một kiếp nhân sinh chưa tròn cuộc nợ
Ngày tiếp ngày cười khóc với thế nhân
Lấy đạo tâm làm thế đạo tu thân
Mang y đạo vào luân hồi chuyển thế .
Phan Đổng-Lý
(Melbourne Feb. 2013)
Ấn tượng nhất với Phan Đổng Lý là cái tính bộc trực, đôi khi có vẻ như “ngổ ngáo” mà trong lòng tràn đầy cảm xúc. PĐL thường kể chuyện hồi đi học, anh rất ghét thầy Hiệu trưởng “ gặp mặt thì làm ngơ” nhưng với cô con gái của Thầy thì anh “mê mẩn ngó theo”. Cái đó anh gọi là “Thù cha mà không ghét con”! Cô bé đó vào trường sau bọn mình vài năm thì phải, nay chắc cũng đã 70 nhưng kiểu này gặp lại, có khi PĐL vẫn còn ngó theo mải miết chớ chẳng chơi!…”
(www.dohongngoc.com, 2013)
Chuyện còn dài. Hồi sau sẽ rõ.
Đỗ Hồng Ngọc.
(31.7.2022)
……………………………………………………….
Tg Anh Hai Trầu, Lương Thư Trung
Anh đã hỏi, không dám không trả lời. Tôi gởi anh và nhóm bạn bè Phan Bội Châu Phan Thiết cũ đọc vài bài thơ “trời ơi” này cho vui nhe.
ĐHN
PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG
Phan Bá Thụy Dương tên thật là Phan Bá Dương. Sinh năm 1940 tại quận Tuy Phong, Bình Thuận.
Khởi viết từ 1958 với các bút hiệu Thùy Dương, Người Áo Xanh, Vương Hầu… và từ năm 1966 về sau là Phan Bá Thụy Dương.
“Chủ nhân” trang Văn Hữu Vườn Tao Ngộ. Viết rất nhiều báo, làm Nhà xuất bản in sách cho thiên hạ, và thiên hạ in giùm lại cho một tập thơ duy nhất: Lời Gọi Cỏ May (2012).
(ĐHN)
……………………………………………………………………..
Lời Gọi Cỏ May của Phan Bá Thụy Dương
Đỗ Hồng Ngọc
Phan Bá Thụy Dương, tên thật Phan Bá Dương, sinh năm 1940 tại Tuy Phong, Bình Thuận, cùng học chung lớp Đệ thất A1 trường Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1954 với Trần Vấn Lệ, Phan Đổng Lý, Huỳnh Ngọc Hùng, Huỳnh Tấn Thời, Đỗ Hồng Ngọc…
Bọn tôi “thất lạc” nhau mấy chục năm, người góc biển kẻ chân trời, năm nay bỗng gặp lại nhau- tình cờ cũng là dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường Phan Bội Châu, Phan Thiết – đứa nào đứa nấy ngớ ra, đầu bạc răng long, ú ú ớ ớ rồi mày mày tao tao tíu tít như những cậu học trò nhỏ nghich ngợm ngày xưa bên bờ sông Cà Ty và bãi biển Thương Chánh!
Phan Bá Thụy Dương viết văn làm báo sớm, từ năm 1958 với nhiều bút hiệu, thân quen nhiều người trong giới văn nghệ sĩ. Anh là một người “khoái hoạt”, vui tính, náo nhiệt, chuyện trên trời dưới đất gì cũng biết nên ai gặp cũng vui. Anh làm sách cho nhiều tác giả mà quên làm cho mình cuốn nào. Mãi nay bạn bè hối thúc quá mới in một cuốn “tuyển tập thơ văn Lời Gọi Cỏ May” cho vui. Lời gọi cỏ may có nhiều bài thơ cảm động, anh em bè bạn viết cho nhau.
Thơ Phan Bá Thụy Dương phải nói là hay, khoái hoạt mà khinh bạt… Thử đọc một đoạn trong liên khúc vô thường:
liên khúc vô thường
ném công án, vất kinh thư bất ngộ
theo đường trăng-
trăng khi tỏ khi lu
tìm người hiền nơi thâm cốc âm u
thõng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ
giòng sinh mệnh
chừng nhuộm màu chướng khí
bến nhân gian ai quán niệm vô thường
hành trình xa ngựa đà lỏng dây cương
trên vách núi chân dung in mờ tỏ
…….
(LGCM, tr 4)
PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG
Nói Với Thiền Khách
Gởi ĐỗHồngNgọc, TrầnThiệnHiệp
Cánh vạc nào bay trong triền nắng sớm
Tiếng hót xa xăm như tận cõi trời
Sao u trầm chất ngất khách thiền ơi
Xin nhẹ bước trên lối mòn tỉnh lặng
Rừng cô tịch có gì đâu tra vấn
Lửa Chân Như có đủ ấm linh hồn
Đất bùn nào còn ghi lại dấu chân
Tâm vô niệm đường xa gần đi mãi
Có phải người đang quay về bến đợi
Gom lá vàng gỗ mục dưới trăng trong
Về đi thôi, đêm lạnh giá mênh mông
Áo nâu mỏng sao che mưa đở gió
Chim thức giấc cất lời ru thanh nhã
Người phong trần qua mấy độ truân chuyên
Thấy gì chưa tự ngã với uyên nguyên
Hay ngần ngại chia xa lòng thung lũng
Từ tiềm thức đã lạc quên long trượng
Đâu đây chừng thấp thoáng ánh vô ưu
Thiền khách này, thiền khách đã về chưa
Xin trả lại cho ta quê, tình cũ.
………………………………………………………………..
Phan Đổng Lý “vẽ” PBTD:
Nhớ Phan Bá Thụy Dương
Nhớ đến bạn già mà lòng ta ngán ngẩm
Nặng nhẹ bao lần như đàn khảy tai trâu
Miệng phập phì phèo, nặc nồng mùi khói tỏa
Mắt mở mơ màng, trầm mặc cuộc bể dâu!
Mải miết rong chơi trăm đường thành ngỏ cụt
(…)
Trời xanh chơi ác
Tuổi thơ ngổ ngáo, già lại ngu ngơ
Trầm thân vào chốn bụi mờ
Bạc đầu lưu lãng làm thơ gọi tình
(…)
Trần Vấn Lệ
Gửi Theo Phan Bá Thụy Dương
Bạn đã về chưa? Bạn đã về?
Đến nơi chưa vậy mà im khe!
Hỏi ai, chẳng biết ai han hỏi
Đợi bạn, không nghe bạn nói gì…
Tôi độ rày sao hay tức thở
Bạn hồn nhiên nhỉ vẫn ham đi
Tuổi người, chớp mắt, tôi thường chớp
Chắc khó có ngày ngó lại quê…
Đỗ Hồng Ngọc
(họa lại mấy vần)
Về đi! Sao bạn chẳng đi về?
Khế ngọt sim rừng đợi: nín khe
Bè bạn ấu thời còn mấy đứa
Người thơ cơm áo chớ lo gì!
Ruộng vườn hoang rậm thôi, đừng nhắc
Sông nước gập ghềnh mặc, bỏ đi
Áo ngoại vẫn phơi ngoài giậu trúc
Cơi trầu thơm mãi chút hồn quê…
Sg 16.9.2012
(www.dohongngoc.com)
………………………………………….
………………………………………….
Vài hình ảnh
Kết thúc khóa Hạ 2022 tại Chùa Phật học Xá Lợi, Tp.HCM
(26.7.2022)






