Bông Hồng Cho Mẹ,
thơ Đỗ Hồng Ngọc,
với tiếng hát Thu Vàng,
và tiếng đàn của nhạc sĩ Võ Tá Hân.
Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Bông Hồng Cho Mẹ,
thơ Đỗ Hồng Ngọc,
với tiếng hát Thu Vàng,
và tiếng đàn của nhạc sĩ Võ Tá Hân.

Anh Đỗ,
Thư anh đến trong lúc tôi đang đọc quyển sách của Mark Epstein, nhan đề là “Advice not given”. Đây là quyển sách thứ ba của cùng tác giả mà tôi đọc, toàn là xếp vào hạng best-sellers ở Mỹ. Epstein là bác sĩ tâm thần nổi tiếng. Nổi tiếng vì là thầy thuốc giỏi. Và nổi tiếng là nhà Phật học uyên thâm. Có gì lạ đâu, phải không anh Đỗ? Đức Phật của chúng ta đã chẳng là thầy thuốc đó sao! Lặn lội trong chuyên môn phân tâm học với Freud, với Jung, ông chợt thấy đức Phật, ông lặn lội qua Tây Tạng “học Phật”, học cả với các danh sư ở Mỹ, và ông đem đạo Phật áp dụng vào chuyên môn của ông, rốt cuộc ông nổi tiếng cả hai, cả cách trị liệu tâm thần, cả tư tưởng Phật giáo. Ông sống với đạo Phật trong chuyên môn, ông sống với đạo Phật trong đời thường, càng sống ông càng hiểu thêm đạo Phật, ông đem hiểu biết đó vun trồng trên đất Mỹ cho hợp với thủy thổ xa lạ, và đạo Phật bây giờ sáng trên thủy thổ ấy, anh Đỗ à, tôi cho rằng đích thị hai chữ “học Phật” là như vậy.
Hay thật, anh đâu có biết ông ấy, ông ấy đâu có biết anh, vậy mà tay trong tay, anh đi cùng đường và cùng “học Phật” như thế. Lý tưởng, hành động, cuộc đời, cao đẹp thay là ông thầy thuốc tương chao!
Anh Đỗ, bây giờ tôi hỏi anh câu này nhé, vì anh với tôi đều đã đọc “Tổng Quan về Nghiệp” của Thầy Tuệ Sỹ: Anh “học Phật” trước hay học Y trước? Chắc anh sẽ trả lời: hiển nhiên là học Y. Nhưng mà, nghĩ thêm chút nữa, cái gì xúi anh học Y? Cái gì xúi anh thích Y? Cái gì xúi anh thành ông bác sĩ như thế, lúi húi hành nghề rồi lúi húi dùi mài kinh kệ? “Cái đó”, tôi chắc là anh có trước khi học Y. “Cái đó”, tôi cũng chắc là ông Epstein có trước khi thành danh với bác sĩ tâm thần. “Cái đó”, chính là cái xúi anh đến với Phật mà anh không biết đó thôi, anh đến với Phật trước khi học Y. Anh “học Phật” từ lâu rồi, từ kiếp nảo kiếp nao, để bây giờ thành danh với… Đỗ Hồng Ngọc. Cho nên tôi nói: “Tiên học Phật, hậu học…”. Hậu học cái gì cũng được, cái gì cũng thành danh, ít nhất là thành danh con người.
Nhưng tôi chưa nói hết: anh đâu phải chỉ là ông thầy thuốc, cái danh của Đỗ Hồng Ngọc còn là con người thơ. Cũng vậy, tôi cũng lấy từ “Tổng Quan…” mà ra: thơ đến với anh từ trước khi anh làm thơ. Thơ là tiếng nói trong tận cùng thâm cung bí sử của tư tưởng. Cái gì mà tư tưởng không nói nên lời được thì phải diễn tả bằng thơ. Thơ đời Lý đời Trần là như vậy. Và thơ đó, chắc anh đã đọc không phải chỉ ở trong kiếp này. Cho nên bây giờ hồn anh nhập vào thơ của Thầy Tuệ Sỹ. Cho nên bây giờ anh thấy Phật trong thơ. Cho nên bây giờ một tay anh bốc thuốc, một tay anh viết thơ, thuốc thơm mùi thơ, thơ thơm mùi thuốc.
Còn có chuyện này nữa, hơi khó nói. Tôi thấy thấp thoáng có một người thứ ba nữa nấp sau hai con người kia. Thấp thoáng thôi, đây đó, kín đáo, chỉ nghe tiếng cười cười, tinh tế lắm mới nghe. Chẳng hạn khi anh nói chuyện ngồi thiền. Tất cả đều nghiêm trang, tôi chỉ trích mấy câu cuối:
Hơi thở xẹp xì
Thân tâm an tịnh
Không còn ý tưởng
Chẳng có thời gian
Hạt bụi lang thang
Dính vào hơi thở
Duyên sinh vô ngã
Ngủ uẩn giai không
Từ đó thong dong
Thõng tay vào chợ.
Rất nghiêm chỉnh, kể cả lúc anh vô chợ mà chẳng để mua gì, vì hai tay thõng thế kia thì làm thế nào móc túi lấy tiền? Thế rồi anh cắt nghĩa: “Mặt hồ tĩnh lặng thì không cần ghi bóng con hạc bay qua, không cần biết hạc vàng hay hạc đỏ, hạc trống hay hạc mái…” Ối giời, hạc vàng thì chỉ bay trên lầu Hoàng Hạc trong thơ Đường, đâu có bay trên mặt hồ Sài Gòn hay Phan Thiết? Bạn tôi nhầm với con vạc “như cánh vạc bay” rồi chăng? Không phải đâu. Nhà thơ nghĩ ra hai chữ “trống mái” rồi nhà thơ khoái chí vừa hạ bút vừa cười cười, hạc hay vạc thì có gì đáng quan tâm?. Ấy là bụng để ngoài da, con người thứ ba “anh linh phát tiết ra ngoài” đấy nhé. Có ai đa tài mà chẳng đa… tình?
Tôi “học Phật”, ngồi thiền với anh, thỉnh thoảng thấy tâm có hơi lộn xộn như thế, chắc anh cũng cười cười mà thông cảm nhau. Nhưng, nói nghiêm chỉnh nhé, con người thứ ba là cái duyên của anh. Chữ nghĩa mà không có duyên thì buồn lắm. Cho nên thỉnh thoảng anh cứ cho anh chàng thứ ba ấy cười cười một chút như thế, và mọi người sẽ cùng vui mà “học Phật” với anh.
Thân mến,
Cao Huy Thuần
(Oct 29, 2021)
MỤC LỤC
Thay lời tựa: Thư Cao Huy Thuần gởi Đỗ Hồng Ngọc
1. Biết rồi còn hỏi! 13
2. “BUÔNG” 17
3. Ngoài hư không có dấu chim bay? 25
4. Sáng, trưa, chiều, tối… 33
5. Thiền và Trí thức 43
6. “Ba điều bốn chuyện” 55
7. Mùa Cô-vi: Nhắc chuyện Độc cư/ Thiền định/
Kham nhẫn/ Tri túc

8. Nói thêm về Thở Bụng 69
9. Con đường an tịnh 79
10. Phật cười dưới trăng… 93
11. Học cùng “Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh”
của Nguyên Giác 97
12. Về thăm đất Phật, Nepal 107
13. Úc du và vài bài học hay 115
14. Mười hạnh Phổ Hiền 119
15. “Bốn lời nguyện rộng lớn” 135
Hội quán Các Bà Mẹ:
Giao lưu với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về cuốn “Bông Hồng Cho Mẹ & Những Cảm Nhận Học Phật”
Ngày 17.7.2022
Cảm ơn Ng. Văn Quyền đã thực hiện một clip thật dễ thương cho buổi Trò chuyện thân mật giữa Đỗ Hồng Ngọc và các bà mẹ, các thân hữu tại Hội Quán Các Bà Mẹ, số 7 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1, Tp HCM, ngày 17.7.2022.
Địa điểm nằm trong khung cảnh một Chợ quê, dưới bóng cây đa cổ thụ, giữa lòng Saigon ồn ào náo nhiệt trong một buổi sáng Chủ nhật, quả là không dễ tìm! Lại còn cái căn gác nhỏ, ọp ẹp, chật chội, không cả ghế ngồi… Nhiều bạn đến trễ, không lên gác được phải bỏ về, cằn nhằn mãi…
Hội quán CBM thì nói có chỗ khang trang, rộng rãi, bề thế hơn… nhưng lỗi tại bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cứ đòi lấy một chỗ quê mùa, cũ kỹ, như chỗ một Bà Mẹ Quê ngày xa xưa đó vậy.
Mong thông cảm.
Đỗ Hồng Ngọc.
Đỗ Hồng Ngọc
Trần Vấn Lệ ở Mỹ, về Việt Nam chơi mấy hôm! Ái chà. Không dễ đâu nha. Anh chàng thi sĩ từng đòi “một đi không trở lại” mà lần này quyết về thăm “người ta ở bển…”, nơi Cồn Thới Sơn sông nước Tiền Giang một chuyến. Lại vừa có tập thơ Dã Quỳ Thương Nhớ ra mắt! Rồi làm một vòng lên Dalat, đến Dran, về Phan Thiết… rất vui.
Về Đàlat, không khóc mà nước mắt cứ chảy, Lệ nói. Đã ở đó 32 năm mà! Rồi về Tiền Giang, qua Cồn Thới Sơn thăm… người xưa, chỉ để vuốt mái tóc bạc phơ của nàng (một cái)… Còn về Phan Thiết thì chỉ kịp thăm mồ mả ông bà!

May Mà Còn Nhớ Thương
Thơ Trần Vấn Lệ Gửi bạn tôi,
Bây giờ Phan Thiết mình dọc bờ sông phượng đỏ. Ngọc ơi sao mình nhớ ngày xưa thuở học trò…
Ngày xưa ôi ngày xưa khi cây cầu đúc gãy, đò xé dòng nước chảy, hoa phượng trôi theo đò…
Mấy mươi năm không chờ, con sông đó chừ khác: ba cây cầu được bắc…mà một người đi xa…
Mỗi năm một mùa hoa không bao giờ thay đổi, hoa phượng tàn, rơi, nổi, con sông đỏ ráng chiều…
Bạn mình cứ nhắc hoài – chuyện thời gian, hoa phượng. Lòng mình thật đau đớn: Tại sao mình bỏ quê?
Ngày xưa mỗi độ Hè, mình ra bờ sông hứng, hoa phượng bay trong nắng, lòng mình như nắng trong…
Hồi đó, Ngọc nửa chừng bỏ trường và xa bạn, mãi đến năm chin tám mình mới tìm lại nhau!
Thời gian qua thật mau, năm mươi năm thiếu chút, tưởng người còn người mất…té ra hai đứa còn!
Mình đang ở đầu non, đang trông về cuối biển: Phan Thiết mình hiển hiện, Ngọc tóc bạc gió đùa…
Đang cũng vào mùa Hè, mình thấy thêm hoa phượng, đỏ rực trong trời nắng…mà tím hườm trong mơ!
Ngọc ơi, một chút thơ gửi về cho Ngọc ngó – mình, con thuyền chưa đỗ, mình, con thuyền còn trôi…
Mình đang rất xa xôi. Ngọc cũng không gần gũi. Phận người, con dế nhũi…May mà còn nhớ thương!
Trần Vấn Lệ viết ngày về thăm lại quê hương:
Năm 2016 tôi có chuyến về thăm gia đình ở Phan Thiết, tôi có gặp Đỗ Hồng Ngọc bằng-da-bằng-thịt tại Sài Gòn ngay lúc tôi vừa rời phi trường Tân Sơn Nhứt để về khách sạn. Ôi bạn tôi…giống tôi: Già! Xa nhau từ năm 1955 đến năm 2016 mới gặp lại, ai còn sống mà không già khú đế? Tay bắt mặt mừng, và khách sáo như không khách sáo: Cả hai đều ứa nước mắt. Cả hai đều gọi tên nhau như…hổi nhỏ: Ồ Ngọc! Ồ Lệ! Rồi, trước khi cầm đũa bữa cơm trưa, hai đứa mặc kệ lu bù người khách mời của BS Đỗ Hồng Ngọc, hai đứa chúng tôi nhắc lại một vài chuyện của thời tí hon: Trong lớp mìnhcó hai thằng trùng họ trùng tên, chỉ khác có tên lót là Đỗ Hồng Ngọc và Đỗ Hoàng Ngọc. Đỗ Hồng Ngọc biến mất khỏi trường Trung Học Phan Bội Châu Phan Thiết từ niên khóa 1955-1956 trở đi…biền biệt. Năm 1989, tôi mới thấy lại cái tên Đỗ Hồng Ngọc trên báo trong nước. Nay, hội ngộ Đỗ Hồng Ngọc thật tình…cứ ngỡ mình gặp ma! Thời gian như nước chảy qua, tại sao con người hay đi ngược lại nhỉ? Tìm gì trong quá khứ? Những nụ cười thắm tươi? Những giọt lệ đoanh tròng? Ôi, tìm gì cũng được…cốt là thấy cái bóng cái hình của cố nhân!
Trong chuyến về của tôi sau hai mươi bảy năm “trời ơi đất hỡi”, Đỗ Hồng Ngọc ký tặng cho tôi tập Tùy Bút mới nhất, Một Hôm Gặp Lại.
Đây là một cuốn sách khá dày của Đỗ Hồng Ngọc, 300 trang, khổ sách, vuông vắn, dễ thương. Tôi từng “mê” tùy bút của Nguyễn Tuân, Vũ Bằng. Có nhiều năm rất chờ mong tác phẩm mới của Võ Phiến về Tùy Bút. Nay đọc Một Hôm Gặp Lại…của Đỗ Hồng Ngọc tôi thấy Tùy Bút là một thể văn đẹp, mềm mại, tao nhã không khác gì Thơ! Xưa, xưa lắm Phạm Đình Hổ có cuốn Vũ Trung Tùy Bút…mô tả, cô đọng, hâm nóng chỉ vài ba giọt mưa trên tàu lá chuối mà đã ấm cả lòng người. Bậy giờ đọc Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc, xếp sách mấy lần, gần hai năm tròn trịa, vẫn nghe lòng nao nao, êm ru và diệu vợi…
Còn tôi, mỗi khi viết cho Trần Vấn Lệ không bao giờ quên nhắc Phan Thiết, lần nào đi ngang núi Tà Cú, dãy Ba Hòn, lang thang bên bờ sông Cà Ty (sông Mương Mán) … không thể không nhớ Hoài Khanh, nhà thơ xứ mình. Nhất là khi đi ngang Ba Hòn mình thường nhẩm câu thơ của Hoài Khanh “Người đi để dãy Ba Hòn chơ vơ” và cái Bưng Cò Ke ở ngay dưới chân dãy núi đó . Thế nhưng, nhớ lần ghé thăm Hoài Khanh ở Biên Hòa, anh đính chánh “Người đi nhớ dãy Ba Hòn trơ vơ” chứ!
Hoài Khanh sinh ra và lớn lên ở Đức Nghĩa, Phan Thiết. Nhà anh cách chỗ chùa mình ở không xa. Anh lứa lớn, đã phiêu bạt… giang hồ tự thuở nào, lúc mình còn cắp sách đến trường tiểu học bên bờ sông Cà Ty! Anh vào Saigon, làm thơ, làm báo và một mình dựng nên Nhà xuất bản Ca Dao nổi tiếng một thời. Và thơ Hoài Khanh thì thời tụi mình không ai không thuộc ít nhiều. Trong bài thơ Đức Nghĩa, Hoài Khanh viết:
Biển mang niềm nhớ đi hoang
Gió Trường Sơn luyến mây ngàn Tà Dôn
Ôi sương Núi Cú lạnh hồn
Người đi nhớ dẫy Ba Hòn trơ vơ
Cành dương cát trắng hững hờ
Nhìn nhau thuở ấy bây giờ nhớ nhau.
Hoài Khanh
Vậy đó. Nói tới Phan Thiết là vậy đó. Biển. Cát trắng. Đồi dương. Mây ngàn. Tà Dôn. Tà Cú. Ba Hòn…Tình cờ gặp Phạm Gia Cẩn, ở Úc về, là học sinh đệ thất Phan Bội Châu Phan Thiết 1956, sau bọn mình 2 lớp. Cẩn nhận ra mình, anh em bèn kéo vào quán café ngồi nhắc ngôi trường Phan Bội Châu cũ – là chỗ trường Tiến Đức ngày xưa bọn mình đã học ở đường Trần Hưng Đạo- trước khi dời qua trường mới sau này… Rồi nhắc Phan Đổng Lý, Trần Vấn Lệ, Phan Bá Thụy Dương… và những con đường làm mình không thể không kêu lên:
Ơi những con đường ta đã đi
Gia Long Đồng Khánh mượt xuân thì
Chân run rẩy cát bờ Thương Chánh
Gió ở đâu về thơm bước khuya…
(Đỗ Hồng Ngọc, Trên sông khói sóng 1970)
Núi Tà Cú, bạn nhớ không? Bọn mình ở Phan Thiết ngày xưa Mùng 2 Tết thường đi xe đò hay xe đạp lên Núi Cú chơi. Ôi nam thanh nữ tú. Đường bộ leo suốt vài giờ không thấy mệt. Riêng mình, nhà bà Ngoại ở ngay dưới chân núi Cú nên từ hồi 4,5 tuổi đã được các cậu cõng lên núi cùng Bamá, có khi ở luôn mấy ngày liền, ăn tương chao cũng đã quen.
Bây giờ Tà Cú đã có cáp treo. Trong đoàn có nhà văn Elena, người Ý, vợ nhà văn Trương Văn Dân cứ nhứt định “Tà Cu, Tà Cu” dù đã học tiếng Việt mấy năm vẫn chưa phát âm đúng!
Tà là “núi”, vùng này mình có Tà Cú, Tà Dôn, Tà Đặng, Tà Lài, Tà Bao… Cũng như La là “sông”, có La Gi, La Gàn, La Ngà, La Ngâu v.v… (tiếng Chăm).
Tà Cú nổi tiếng với tượng Phật nằm, dài 49m, được xây dựng từ năm 1960 đến nay vẫn là một thắng cảnh tuyệt đẹp. Nguiễn Ngu Í đã có mấy câu thơ về Tà Cú:
Nhè nhẹ sương bông ôm núi lịm
Êm đềm cây cỏ đắm trong mơ
Tiếng chuông đâu bỗng rung lòng đá
Ngó xuống trần ai thấy mịt mờ…
(Nguien Ngu I, 1945)
Hãy đọc Trần Vấn Lệ qua ngòi bút Kiều Minh Mạnh, người xư Dran dịp ra mắt tập thơ Dã Quỳ Thương Nhớ:
“Ông là người con của Phan Thiết- Bình Thuận. Nhưng là một người đã ở trọ Đà Lạt suốt 31 năm thì thành phố sương mù đối với Trần Vấn Lệ chắc chắn không chỉ “là nơi đất ở”, như ông đã tâm sự: “… Mình coi Đà Lạt như Cha Mẹ. Cha Mẹ đổi thay nét mặt, thân hình…nhưng không đổi thay tấm lòng…”. “Ai đã lên Đà Lạt, quả thật không muốn về…Tôi nhớ quá rừng thông, xanh xanh từng dốc núi. Nhớ cả con dế nhũi, chạy dưới gốc dã quỳ. Đà Lạt- tôi ở đây, mấy mươi năm khôn lớn…”
Hơn 15 năm làm thầy giáo: “Đà Lạt tôi thắm thiết, thời tôi dạy học trò, có em thơm như ngo, có em hiền như liễu…” Chắc chỉ có thầy giáo nhà thơ thì mới cảm nhận học trò mình “thơm như ngo, hiền như liễu”. Ngo và liễu ở Đà Lạt thì nhiều lắm…mà sao lại không “thơm như thông” mà lại “thơm như ngo” nhỉ? Ngo được chẻ ra từ thân cây thông, là những đoạn thân đọng nhiều tinh dầu nhất, người ta dùng nhóm lửa.
Trong màu vàng thủy chung nhưng đầy tiếc nuối xuyên suốt Dã Quỳ Thương Nhớ, có một địa danh thi nhân thường nhắc đến bên cạnh Đà Lạt, đó là Dran- Đơn Dương: “Chiếc xe đò Đà Lạt xuống dốc về Dran, đường xe lửa nghiến răng chỉ còn trong ký ức. Lạy trời em đừng mất…vì còn hoa quỳ kia”…(TVL).
Thơ Trần Vấn Lệ như văn xuôi nhưng có vần có điệu. Nhiều bài chẳng có dấu câu khiến người đọc phải tự tìm ngắt điệu, có người tưởng đó là lỗi của biên tập in ấn, đọc đến bài gần cuối mới vỡ lẽ. Thơ ông lạ, nhưng ông làm thơ dễ dàng như hơi thở, câu từ bình dị, cấu tứ giản đơn, dễ tìm được sự đồng cảm. Trần Vấn Lệ suy nghĩ bằng thơ, hoài niệm thành thơ, khóc cười cũng nên thơ…” (KMM).

Trần Vấn Lệ và Đỗ Hồng Ngọc (Saigon, 2016)
Cũng nên thêm một bài thơ nữa kiểu Trần Vấn Lệ:
Mỗi Bước Em Mùa Xuân
Tôi không biết bây giờ bãi biển Phan Thiết sao; nhưng tôi nhớ hồi nào…bãi biển Phan Thiết đẹp bởi em không mang dép, em đi hai chân trần, mỗi bước em, mùa Xuân gờn gợn như làn sóng…
Buổi chiều không gió lộng, tóc em vẫn bềnh bồng. Nắng hoàng hôn cửa sông (con sông Cà Ty đó), em trong manh áo gió, lồng lộng môt hình dung. Em là đóa hoa hồng, tôi bồng mà được nhỉ, hôn bao nhiêu cho phỉ…cho trọn lòng nhớ nhung…
Em đuổi những con còng / vòng quanh bàn chân ngọc. Em đã quên mái tóc / thổi ngược về phía tôi. Em em à em ơi…ngày đầu đời tôi biết mình yêu người ta thiệt (hồi đó tuổi hai mươi).
…Rồi thì lặn mặt trời. Rồi em về, bỏ biển. Những con còng đau điếng cũng lội về biển sâu. Em biết tôi đứng đâu cúi đầu thương nhớ lắm? Bãi biển Phan Thiết ấm…còn hương thừa tóc em…
Nhiều năm tôi lênh đênh trên rừng và trên núi. Biển Phan Thiết vời vợi thấy ngang đường chân mây. Nhiều năm tôi ở đây, nghẹn ngào đời viễn xứ, biển Phan Thiết…ai đó, có còn đi đuổi còng? Tôi hỏi và tôi không nghe một lời vọng lại. Tôi biết đời tang hải. Tôi hiểu chữ đổi đời. Nhưng tôi nhớ một người tóc thề thơm gió biển!
Như…con còng đau điếng, tôi làm bài thơ này… Đó, là chiều hôm nay / lòng tôi đây yêu quý. Tôi nhớ về tới Huế, ôi ai đó tóc thề…
Trần Vấn Lệ
Bài thơ viết về sông Cà Ty Phan Thiết mà bỗng nhớ tới sông Hương khiến cho tôn nữ thu dung cũng phải kêu lên:
Nỗi nhớ từ Phan Thiết
Lang thang về sông Hương
Bởi con còng …đau điếng
Ngậm hoài một vết thương !( tntd)
Lần nọ, Trần Vấn Lệ nghe tôi có dịp về Mỹ Tho bèn nhắn:
Người ta ở bển…
bạn có qua cồn Thới Sơn
người ta ở bển…
(Trần Vấn Lệ)
bạn nhắn nhờ thăm người ta ở bển
cồn Thới Sơn giữa dòng Mekong
ta lặn lội trăm lần tìm kiếm
ngược xuôi khắp ngã chằng chịt bóng dừa xanh.
sông rạch quanh co lách con thuyền nhỏ
bập bềnh sóng nước phương Nam
bạn dặn người ta mười bảy
tóc chải mượt dầu dừa
môi thơm mùi kẹo
nước da trắng muốt
nhờ tắm nước dừa xiêm
ta lang thang kiếm tìm
gặp ai cũng hỏi
những cô gái Thới Sơn
má hồng hây hẩy
lắc đầu quầy quậy
hổng quen!
cho đến một hôm trời cũng chiều lòng
có một cô răng khểnh,
bẻ gảy sừng trâu,
rất xinh
đúng là người xưa của bạn
nàng nhìn ta đôi mắt long lanh
khi ta nhắc tên,
nàng ôm chầm lấy ta rồi kêu to
ngoại ơi ngoại ơi…
trần vấn lệ
ổng dìa nè!
Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, 22.01.2015)
Khi đọc tập thơ “Thư cho Bé Sơ Sinh & Những bài thơ khác” của Đỗ Hồng Ngọc / Đỗ Nghê (2010), Trần Vấn Lệ viết: “… VUI VÌ NGHE TRÁI TIM MÌNH ĐẬP”, bởi vì “Thơ ông không rườm rà, không làm duyên làm dáng, không lập dị. Thơ ông là Thơ Hồn Nhiên, Thơ Nhã Nhặn, Thơ Ngọt Ngào. Tôi đọc thơ ông rồi úp cuốn sách lên ngực nghe ấm…Gió Bấc đang thổi ở quê nhà, ngày Xuân đang đến không riêng ai…”.
Khuất Đẩu ở Nha Trang bảo bài viết rất lạ. Mới nghe như có vẻ cà rỡn, bông lơn. Nhưng càng nghe càng thấy người viết cũng vào hạng thượng thừa. Viết như chơi, như giỡn, mà bóc tách được cái ẩn tàng của thi sĩ tình yêu. Xa cách đến vậy mà cũng gần nhau đến vậy. Điều ấy chỉ có văn chương mới làm được. Lại nữa, trong số hiếm hoi ấy có một người luôn tự nhận mình không phải là nhà thơ mà làm được như Đỗ Nghê.
(Nha Trang, 10.1.2010)
Còn cô giáo Lê Uyển Văn ở Trà Vinh thì bảo: Em đọc liền một mạch bài viết dài 9 trang này. Lòng rung lên theo chữ, nghẹn ngào theo chữ. Hạnh phúc vì tìm thấy trong bài viết đó những suy nghĩ của mình nhưng ở một tầm cao hơn, sâu rộng hơn, đáng ngả mũ kính trọng vì cái tâm, cái tài của người viết. Em thích nhiều đoạn lắm, nhưng đoạn này mới tuyệt vời làm sao! “Thơ Đỗ Hồng Ngoc / Đỗ Nghê không rườm rà, không làm duyên làm dáng, không lập dị. Thơ ông là Thơ Hồn Nhiên, Thơ Nhã Nhặn, Thơ Ngọt Ngào. Tôi đọc thơ ông rồi úp cuốn sách lên ngực nghe ấm… Gió Bấc đang thổi ở quê nhà, ngày Xuân đang đến không riêng ai…” Cái hình ảnh úp một quyển sách nào đó của anh lên ngực mà nghe ấm quả rất thực, và em tin nó thực với nhiều người. Ngoài kia, có chút lạnh, em hôm nay có chút buồn, buồn cho một đồng nghiệp trẻ sắp qua đời vì bệnh nan y, nhưng đọc bài viết này, em nghe ấm lắm! Em xin cảm ơn rất nhiều vì sự chia sẻ bài viết này. (Trà Vinh 1.2010).
Nói cách nào khác, phải chăng cái chất muối mặn, cái mùi gió Bấc thoảng hương của xứ sở Phan Thiết kia đã làm cho bọn họ gần nhau đến vậy?
(ĐHN, Saigon 7.2022)
………………………………………………………………………………………
Viết thêm:
Nhắc nhóm bạn lớp Đệ thất 1954 (lớp 6 bây giờ) Trường Phan Bội Châu Phan Thiết không thể không nhớ Phan Bá Thụy Dương (Thụy sỹ), Trần Vấn Lệ (Mỹ), Phan Đổng Lý (Úc), Huỳnh Tấn Thời, Đỗ Hồng Ngọc (VN)… rải rác khắp chân trời góc biển, mãi 60 năm sau ngơ ngác gặp nhau cứ ngỡ là… ma như TVL nói, nhưng chỉ ngơ ngác rồi mày tao mi tớ một lúc thì vẫn là một… bầy học sinh non choẹt như hồi nào chẳng khác!
Một người bạn trong nhóm mới gởi lại tôi bài viết khi cả bọn có dịp gặp nhau sau 60 năm xa cách:
“Không biết Phan Đổng Lý đã “gieo trồng” mầm thơ thế nào mà bây giờ tuổi trên 70 bỗng nổi hứng làm thơ “vịnh” bạn bè, mà bài nào cũng… hay, cũng bộc lộ “bản sắc” của từng đứa!
… chỉ bằng vài nét chấm phá đã cho thấy một Phan Bá Thụy Dương tài hoa, khinh bạc:
… Trích tiên tại thế, vấy bụi trần hụp lặn kiếp đam mê!
Nay quỳnh tương đối ẩm, mai hương sắc giao kề
Lỡ ngồi ôm góc núi, mỉm môi cười nhân thế
Ánh dương quang rực rỡ, sao lại lạc đường về?
rồi Trần Vấn Lệ, thấy ngay một chàng thi sĩ hào hoa “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”:
Ta vốn mịt mờ đường về bến cũ
Nên thuyền tình lơ lửng mãi dòng sông
Ta nào phải kẽ thả mồi bắt bóng
Mệnh an bài nên tình kiếp long đong…
Riêng bài thứ ba, dành cho Đỗ Hồng Ngọc, không biết “thần giao cách cảm” thế nào, có lẽ PĐL nhớ Đỗ Hồng Ngọc qua bài thơ “Thư cho bé sơ sinh” bèn “vịnh”
HÀNH Y
(Viết cho Đỗ Hồng Ngọc)
Là một kẻ phụng thừa y đạo
Mang huyết tâm trả nợ nhân sinh
Nhìn thai nhi tượng hình trong bụng mẹ
Ta thấy được gì trong cõi u minh
Tiếng u oa, em chừng vừa tỉnh giấc
Mang vào đời chút âm vọng bi ai
Mắt ngấn lệ em nhìn quanh ngơ ngác
Nợ tiền thân có trĩu nặng bờ vai
Ta nhìn em lòng bâng khuâng thương cảm
Mai đây rồi xuôi ngược biết về đâu
Đường vạn lý ta chúc em nhẹ bước
Có hoa vàng nắng rải, ngợp trăng sao
Ta nào phải kẻ bi quan yếm thế
Chỉ xót thương cho tuổi trẻ bạc phần
Vòng tay ta đã bao lần ôm ấp
Những mãnh đời, ôi, ngắn ngủi mệnh căn!
Ta chọn hành y, cứu nhân độ thế
Ta độ được gì, đã cứu được ai!
Đêm chập chờn ta nằm đợi ban mai
Ngày thoi thóp ta lại chờ đêm xuống
Ta đã lớn lên giữa thời lửa loạn
Gió bụi mịt mù Nam Bắc phân ranh
Tim quặn thắt trước cảnh đời tang tóc
Hồn đớn đau cho thân phận Lạc Hồng
Ta vẫn biết hữu sinh thì hữu diệt
Nhưng đầu xanh nào đã tội tình gì
Một chữ Nghiệp có vơi niềm oán khí
Một hồi Kinh có dịu nỗi sầu bi
Ta đã một lần rong chơi địa phủ
Cầu Nại Hà, nhìn sóng gợn lăn tăn
Tâm tĩnh lặng giữa hai bờ sinh tử
Hồn nổi trôi theo con nước bập bềnh
Một kiếp nhân sinh chưa tròn cuộc nợ
Ngày tiếp ngày cười khóc với thế nhân
Lấy đạo tâm làm thế đạo tu thân
Mang y đạo vào luân hồi chuyển thế .
Phan Đổng-Lý
(Melbourne Feb. 2013)
Ấn tượng nhất với Phan Đổng Lý là cái tính bộc trực, đôi khi có vẻ như “ngổ ngáo” mà trong lòng tràn đầy cảm xúc. PĐL thường kể chuyện hồi đi học, anh rất ghét thầy Hiệu trưởng “ gặp mặt thì làm ngơ” nhưng với cô con gái của Thầy thì anh “mê mẩn ngó theo”. Cái đó anh gọi là “Thù cha mà không ghét con”! Cô bé đó vào trường sau bọn mình vài năm thì phải, nay chắc cũng đã 70 nhưng kiểu này gặp lại, có khi PĐL vẫn còn ngó theo mải miết chớ chẳng chơi!…”
(www.dohongngoc.com, 2013)
Chuyện còn dài. Hồi sau sẽ rõ.
Đỗ Hồng Ngọc.
(31.7.2022)
……………………………………………………….
Tg Anh Hai Trầu, Lương Thư Trung
Anh đã hỏi, không dám không trả lời. Tôi gởi anh và nhóm bạn bè Phan Bội Châu Phan Thiết cũ đọc vài bài thơ “trời ơi” này cho vui nhe.
ĐHN
PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG
Phan Bá Thụy Dương tên thật là Phan Bá Dương. Sinh năm 1940 tại quận Tuy Phong, Bình Thuận.
Khởi viết từ 1958 với các bút hiệu Thùy Dương, Người Áo Xanh, Vương Hầu… và từ năm 1966 về sau là Phan Bá Thụy Dương.
“Chủ nhân” trang Văn Hữu Vườn Tao Ngộ. Viết rất nhiều báo, làm Nhà xuất bản in sách cho thiên hạ, và thiên hạ in giùm lại cho một tập thơ duy nhất: Lời Gọi Cỏ May (2012).
(ĐHN)
……………………………………………………………………..
Lời Gọi Cỏ May của Phan Bá Thụy Dương
Đỗ Hồng Ngọc
Phan Bá Thụy Dương, tên thật Phan Bá Dương, sinh năm 1940 tại Tuy Phong, Bình Thuận, cùng học chung lớp Đệ thất A1 trường Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1954 với Trần Vấn Lệ, Phan Đổng Lý, Huỳnh Ngọc Hùng, Huỳnh Tấn Thời, Đỗ Hồng Ngọc…
Bọn tôi “thất lạc” nhau mấy chục năm, người góc biển kẻ chân trời, năm nay bỗng gặp lại nhau- tình cờ cũng là dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường Phan Bội Châu, Phan Thiết – đứa nào đứa nấy ngớ ra, đầu bạc răng long, ú ú ớ ớ rồi mày mày tao tao tíu tít như những cậu học trò nhỏ nghich ngợm ngày xưa bên bờ sông Cà Ty và bãi biển Thương Chánh!
Phan Bá Thụy Dương viết văn làm báo sớm, từ năm 1958 với nhiều bút hiệu, thân quen nhiều người trong giới văn nghệ sĩ. Anh là một người “khoái hoạt”, vui tính, náo nhiệt, chuyện trên trời dưới đất gì cũng biết nên ai gặp cũng vui. Anh làm sách cho nhiều tác giả mà quên làm cho mình cuốn nào. Mãi nay bạn bè hối thúc quá mới in một cuốn “tuyển tập thơ văn Lời Gọi Cỏ May” cho vui. Lời gọi cỏ may có nhiều bài thơ cảm động, anh em bè bạn viết cho nhau.
Thơ Phan Bá Thụy Dương phải nói là hay, khoái hoạt mà khinh bạt… Thử đọc một đoạn trong liên khúc vô thường:
liên khúc vô thường
ném công án, vất kinh thư bất ngộ
theo đường trăng-
trăng khi tỏ khi lu
tìm người hiền nơi thâm cốc âm u
thõng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ
giòng sinh mệnh
chừng nhuộm màu chướng khí
bến nhân gian ai quán niệm vô thường
hành trình xa ngựa đà lỏng dây cương
trên vách núi chân dung in mờ tỏ
…….
(LGCM, tr 4)
PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG
Nói Với Thiền Khách
Gởi ĐỗHồngNgọc, TrầnThiệnHiệp
Cánh vạc nào bay trong triền nắng sớm
Tiếng hót xa xăm như tận cõi trời
Sao u trầm chất ngất khách thiền ơi
Xin nhẹ bước trên lối mòn tỉnh lặng
Rừng cô tịch có gì đâu tra vấn
Lửa Chân Như có đủ ấm linh hồn
Đất bùn nào còn ghi lại dấu chân
Tâm vô niệm đường xa gần đi mãi
Có phải người đang quay về bến đợi
Gom lá vàng gỗ mục dưới trăng trong
Về đi thôi, đêm lạnh giá mênh mông
Áo nâu mỏng sao che mưa đở gió
Chim thức giấc cất lời ru thanh nhã
Người phong trần qua mấy độ truân chuyên
Thấy gì chưa tự ngã với uyên nguyên
Hay ngần ngại chia xa lòng thung lũng
Từ tiềm thức đã lạc quên long trượng
Đâu đây chừng thấp thoáng ánh vô ưu
Thiền khách này, thiền khách đã về chưa
Xin trả lại cho ta quê, tình cũ.
………………………………………………………………..
Phan Đổng Lý “vẽ” PBTD:
Nhớ Phan Bá Thụy Dương
Nhớ đến bạn già mà lòng ta ngán ngẩm
Nặng nhẹ bao lần như đàn khảy tai trâu
Miệng phập phì phèo, nặc nồng mùi khói tỏa
Mắt mở mơ màng, trầm mặc cuộc bể dâu!
Mải miết rong chơi trăm đường thành ngỏ cụt
(…)
Trời xanh chơi ác
Tuổi thơ ngổ ngáo, già lại ngu ngơ
Trầm thân vào chốn bụi mờ
Bạc đầu lưu lãng làm thơ gọi tình
(…)
Trần Vấn Lệ
Gửi Theo Phan Bá Thụy Dương
Bạn đã về chưa? Bạn đã về?
Đến nơi chưa vậy mà im khe!
Hỏi ai, chẳng biết ai han hỏi
Đợi bạn, không nghe bạn nói gì…
Tôi độ rày sao hay tức thở
Bạn hồn nhiên nhỉ vẫn ham đi
Tuổi người, chớp mắt, tôi thường chớp
Chắc khó có ngày ngó lại quê…
Đỗ Hồng Ngọc
(họa lại mấy vần)
Về đi! Sao bạn chẳng đi về?
Khế ngọt sim rừng đợi: nín khe
Bè bạn ấu thời còn mấy đứa
Người thơ cơm áo chớ lo gì!
Ruộng vườn hoang rậm thôi, đừng nhắc
Sông nước gập ghềnh mặc, bỏ đi
Áo ngoại vẫn phơi ngoài giậu trúc
Cơi trầu thơm mãi chút hồn quê…
Sg 16.9.2012
(www.dohongngoc.com)
………………………………………….
………………………………………….
Vài hình ảnh
Kết thúc khóa Hạ 2022 tại Chùa Phật học Xá Lợi, Tp.HCM
(26.7.2022)






Vài cảm nghĩ nhân đọc
“Bông hồng cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật”
của Bs. Đỗ Hồng Ngọc
Cách đây khoảng hai tuần, tôi nhận được cuốn sách này vào buổi học Phật chiều thư Bảy hàng tuần ở lớp Phật học & Đời sống (PH&ĐS) tại Chùa Phật học Xá Lợi. Nhìn thấy bác “khệ nệ” xách giỏ sách để phân phát cho các Phật tử “thấy mà thương”.
Tôi không có cơ duyên được bác chữa bệnh khi còn nhỏ và cũng không có nhiều cơ hội đọc thơ của bác, nhưng lại có may mắn được học Phật với bác một thời gian đủ để hiểu những vấn đề cơ bản trong Phật học. Một nhân duyên thiện lành.
Lần đầu tiên tôi biết đến bác, không phải được diện kiến dung nhan mà qua cuốn sách “Thiền và sức khỏe”. Nhớ lúc đó mỗi lần chở con đi học thêm Anh văn tại các trung tâm ngoại ngữ tôi thường mang theo nó để đọc trong khi chờ đợi con tan lớp. Một cuốn sách hấp dẫn.
Cơ duyên đưa đẩy tôi đến lớp PH&ĐS (lúc đó lớp chưa mang tên này) tại chùa XL cũng nhờ … bác. Nhớ lại buổi chiều hôm đó tôi có tham dự một buổi nói chuyện của bác về Thiền tại giảng đường Chánh Trí, khi kết thúc đi ra tình cờ thấy một tờ thông báo về lớp Phật học, thế là tìm hiểu và tham gia cho đến bây giờ. Một khởi đầu lạ lùng.
Đọc các bài viết của bác, một đặc điểm nổi bật mà tôi cảm nhận được là thường có lồng thêm những kiến thức về y học, tâm lý học và xã hội học như là một phương tiện khoa học nhằm minh họa, chứng minh thêm cho nội dung bài viết. Nhờ vậy ngoài nội dung bài viết, độc giả cũng có thêm những hiểu biết cơ bản của các lãnh vực trên. Một đặc điểm khác là bác viết những chủ đề về Phật học không bị lạc vào cách kiến giải hàn lâm, rắc rối mà rất đời thường, gần gũi, dễ nhớ nhưng cũng không lạc khỏi ý kinh. Lối viết như chơi với văn phong nhẹ nhàng, đôi lúc dí dõm nhưng cũng rất sâu sắc. Một cách viết thú vị.
Hãy cùng nhau đi dạo qua vài bài bác viết trong cuốn sách bác vừa tặng.
Trong bài “Cha mẹ và con cái”, bác đã đưa ra hình ảnh về tấm lòng bao la của cha mẹ đối với con cái từ khi con còn là một bào thai trong bụng mẹ cho đến khi con trưởng thành để nói về Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi Hỷ, Xả), bốn đức tính cao đẹp mà giáo lý nhà Phật thường hay đề cập. Thật là sống động, trực quan và gần gũi biết bao, đọc là cảm nhận được ngay. Bác kết luận: “Từ – Bi – Hỷ – Xả chính là cách mà cha mẹ đã dành cho con cái suốt cả cuộc đời đó vậy.”
Khi bắt đầu tìm hiểu về Thiền, tôi có thắc mắc “Tại sao lại dùng hơi thở làm đề mục chú tâm, quan sát mà không là một đối tượng khác? Tôi nghĩ đơn giản đối tượng nào cũng được vì mục đích là dừng cái tâm lăng xăng như con khỉ, con ngựa là được”. Trong bài “Thiền và Thở”, tôi đã thấy câu trả lời: “Thật ra thì quán sát cái gì cũng được cả, bởi tất cả đều là pháp- nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp- nhưng quán sát hơi thở thì có điều kiện để thấy ‘ngũ uẩn giai không’ hơn, tức thấy vô ngã hơn. Vô ngã ở đây không còn là một ý niệm, một khái niệm mà là một trạng thái. Để thấy “vô ngã” thì tốt nhất là quán sát từ “ngã”, từ hơi thở là tốt nhất, một đối tượng sẵn có ngay trong bản thân mình. […] Hơi thở dễ quan sát nhất vì nó nằm ngay trước mũi mình, ngay dưới mắt mình! Lúc nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Cái hay nữa là quán sát nó thì không ai nhìn thấy, chỉ riêng ta biết với ta thôi! […] Hơi thở lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta “nín thở”. Lúc lo âu, ta hổn hển. Lúc sảng khoái ta lâng lâng. Lúc sợ hãi, hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Và nhờ đó mà thấy vô thường. Nhờ đó mà ta quán sát được cái tâm ta. Thở cũng gắn với các hoạt động cơ bắp. Khi mệt, ta mệt “bỡ hơi tai”, mệt đứt hơi, mệt hết hơi; khi khỏe, ta thở nhẹ nhàng sảng khoái! Nhờ đó mà ta quán sát được cái thân ta. Rõ ràng chỉ có hơi thở mới là một sợi dây nhạy cảm buộc vào thân vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Không chỉ thế, thở còn vừa là ý thức, vừa là vô thức. Như không cần ta. Như ở ngoài ta. Như không có ta. Quan sát thở, ta còn có dịp đào sâu xuống…vô thức. Ta thấy thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Còn sống là còn thở, chết là hết thở, là tắt thở, là ngừng thở. Để ý một chút ta sẽ thấy đời người thực ra chỉ là… một hơi thở! […] Quán sát hơi thở do đó ta thấy đựơc sự sinh diệt”. Rỏ ràng cho thắc mắc của tôi rồi.
Trong bài“Trời cao đất rộng một mình tôi đi“, một kiến thức cơ bản về y học mà tôi học được: “Loài người có trí thông minh vượt trội là nhờ vỏ não phát triển, với hàng trăm tỷ tế bào thần kinh, hàng trăm nghìn tỷ tỷ các mối nối… dày đặc nhưng sự điều hành hô hấp của ta lại không nằm ở vỏ não. Nó nằm ở hành tủy, dưới vỏ não. Các trung khu hô hấp nằm ở đó, điều hành sự thở. Vì thế mà dù vỏ não không hoạt động (ngủ, hôn mê…) thì sự thở (hô hấp) vẫn được duy trì. Khi tập trung (sati) vào hơi thở là ta đã giải phóng cho vỏ não được nghỉ ngơi! ‘Tâm an’ nhờ đó”. Thực tế cho thấy khi quan sát một em bé đang ngủ say, ý thức không hoạt động nhưng cái bụng của bé vẫn phình lên, xẹp xuống đó thôi! Hơi thở vẫn vào ra đó thôi! Trong tình trạng vô thức này mình không làm chủ được hơi thở, nó như ở ngoài ta. Đó là vô ngã.
Trong nhà Phật, khái niệm sanh tử luân hồi nhằm để chỉ sự sống chết cứ xoay vần, nối tiếp nơi một chúng sanh, tức là một chúng sanh sau khi chết sẽ trở lại thế giới dưới một hình hài khác theo một trong sáu đường: thiên, nhân, Atula, ngạ quỷ, súc sanh và địa ngục. Nếu chỉ hiểu sống chết một cách đơn thuần theo kiểu thế gian thì chúng ta chỉ còn cách là tin như thế mà không thế thấy hoặc cảm nhận được gì. Trong bài “Luân hồi sanh tử”, Bác đã chỉ cho ta thấy: “Luân hồi sanh tử còn là tiến trình tâm trong mỗi sát-na. Từ sáng đến chiều, từ trưa đến tối ta đã… lang thang sáu nẻo biết bao lần. Hết thiên, nhân lại đến atula rồi ngạ quỷ súc sanh địa ngục xà quần không ngưng nghỉ. Sáng bảnh mắt ra, người sảng khoái, lâng lâng, quần là áo lượt có thua gì… tiên nhân đâu, vậy mà trưa nghe một cú điện thoại từ đâu đó bỗng đùng đùng nổi giận, đỏ mặt tía tai, bầm gan tím ruột, lọt tõm vào địa ngục… Chỉ một thoáng thôi, đã từ thiên đàng rơi xuống địa ngục, từ thiên nhân thành Atula, ngạ quỹ… Một thoáng thôi, tiến trình tâm đã trải qua muôn ngàn kiếp rồi vậy!“. À thì ra thế, trong một thời gian ngắn thôi tâm ta cũng đã luân hồi sanh tử biết bao nhiêu lần: tâm bình thường là đang ở cõi người, tâm vui như đang ở cõi thiên, tâm sân như đang đọa địa ngục, …rồi lại lặp đi lặp lại cứ như thế.
Là con người sống trong thế gian này, cũng có lúc chúng ta tự hỏi: “Ta từ đâu đến, sinh ra đời để làm gì và chết sẽ đi về đâu? “Ở đây không bàn về chuyện tâm linh sâu xa, có thể trả lời đơn giản theo kiểu thế gian: “Ta từ bụng mẹ chui ra, sinh ra đời để sống như bao nhiêu người khác và chết sẽ trở về với cát bụi. Thế là hết cuộc đời!”. Đây là hành trình của một đời người, sanh ra để mà chết và hành trình này đã được diễn giải rất rỏ, pha lẫn đôi chút dí dỏm trong bài “Chọn những nụ cười”: “Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. […]Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. […] Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Rồi phải bú nữa trời ạ. [..]. Cứ thế mà chùn chụt để nuôi thân. Rồi biết lật, biết ngồi, biết bò, biết đứng chựng, biết đi, biết chạy nhảy, leo trèo… Rồi biết nói năng, suy nghĩ. Nhớ, tiếc, giận hờn, giành giựt, đấu đá, ghen tuông, ích kỷ, thất tình lục dục đủ thứ không lúc nào ngưng. Và dĩ nhiên vẫn thở và vẫn ăn. Rồi nam tu nữ nhũ. Rồi chọn lựa. Rồi giao cấu. Rồi đẻ ra một lô một lốc chẳng biết từ đâu ra. Đến một hôm, ta từ hùng hục chạy, ta… lững thững đi, rồi chập chững đứng, vật vựa, nghiêng ngả, rồi ngồi một chỗ, mắt lờ đờ nhìn xa xăm, rồi lồm cồm, bò lê, bò lết… Từ chùn chụt, ngấu nghiến, ừng ực, dô dô 100%… ta bỏ ăn bỏ uống, thấy cái gì cũng rệu rạo, nhóp nhép vì xệu xạo răng cỏ. Rồi thở cũng cà giật, cà hước… Ta trở lại cái hồi thai nhi trong bụng mẹ, bây giờ là “mẹ Như Lai”, một vòng khép kín. Thì ra, ta đã từ đó mà đến để rồi loay hoay một vòng về lại chốn xưa”. Rồi bác nhận xét: “Nhìn suốt cuộc hành trình đó, có cái gì tức cười, vừa tàn nhẫn vừa thương tâm. Cái hiện hữu chỉ là thị hiện, trình hiện chút chơi vậy thôi. Nó giả. Nó tạm. Vậy mà sao ta cứ tưởng thiệt mới đáng thương làm sao. Gieo rắc và sinh sôi. Cứ vậy”.Đến đây lại nhớ nhà thơ Bùi Giáng: “Ta cứ ngỡ trần gian là cõi thực/ Thế cho nên tất bật tới bây giờ”.
“Độc cư”, một bài viết khác của bác. Độc cư có phải là sống một mình, không có ai chung quanh? Hãy xem bác diễn giải: “Ở một mình, ăn một mình, đi một mình, ngủ một mình mà đầu óc quẩn quanh biết bao hình bóng, biết bao câu chuyện, nhớ tiếc dĩ vãng, mơ tưởng tương lai thì không thật độc cư ! Dĩ vãng qua rồi. Quấn quít với nó mãi thì gánh nặng đeo mang bao giờ đặt xuống ? Tương lai chưa tới, Que sera sera. Biết ra sao ngày sau. Chuyện ngày mai của ngày mai. What will be will be. Tướng như vậy, tánh như vậy…bổn mạt cứu cánh nó như vậy…Vậy phải chăng an trú trong hiện tại, sống “hiện sinh” xả láng?Hiện sinh kiểu đó cũng chẳng phải hiện sinh chút nào! Độc cư không chỉ rời xa dĩ vãng, không đắm đuối tương lai mà hiện tại cũng phải nhìn bằng con mắt khác. Mắt tuệ: vô thường, khổ, không, duyên sinh, vô ngã…Độc cư và Thiền định không hai. Độc cư thứ thiệt thì nghe ngóng được vận hành của Như Lai trong từng sát na, là sống với Như Lai, sống cùng Như Lai, sống như lai. Và như vậy, người ta có thể sống ‘độc cư’ bất cứ ở đâu, giữa chợ đời, trong gia đình, dưới gốc cây, nơi rừng thẩm, … Cho nên càng sớm “độc cư” thì càng không cảm thấy cô đơn…”. Như vậy sống độc cư không phải là sống một mình mà sống an trú vững chải trong giây phút hiện tại và ý thức được những gì đang xảy ra trong hiện tại, không mắc kẹt vào quá khứ và cũng không bay bổng đến tương lai, nhờ vậy tâm không phóng dật và quay về bên trong chính mình.
Con người được cấu tạo bởi năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và tưởng là một uẩn trong năm uẩn. Tưởng là sự nhận thức, nhận biết qua giác quan, nó còn được gọi là tri giác. Tưởng cũng giống như cặp mắt kính ta đeo để nhìn sự vật, nếu đeo mắt kính màu gì thì sẽ cảnh vật giống như màu đó. Chúng ta đau khổ hay hạnh phúc đều do cái tưởng này. Vậy muốn chấm dứt khổ đau, ta phải biết sửa đổi cách nhận thức của mình, tức là sửa lại cách tưởng của mình, tập bỏ dần những cặp mắt kính màu để nhìn trực tiếp sự vật. Trong bài “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, bác có viết: “Có tưởng là bắt đầu sinh sự. Tưởng vô vàn. Tưởng vô tận. Muốn thiên đàng có thiên đàng. Muốn điạ ngục có địa ngục. Cho nên tu là tu Tâm. ‘Nhất thiết duy tâm tạo’. Tất cả là do tâm bày vẽ ra. Phật từ thời Hoa Nghiêm đã nói rõ như thế. Hạnh phúc khổ đau từ đó. So sánh hơn thua, chém giết nhau từ đó. Tiếng Việt ta còn hay hơn: Tướng và Tưởng, chỉ khác nhau có mỗi cái dấu sắc, dấu hỏi… Mà đã ngàn trùng cách xa!”.
Tưởng cũng được nhắc đến trong bài “Quán Thế Âm Bồ Tát”: “Nỗi sợ của con người là ghê gớm nhất. Sợ chết, sợ khổ, sợ nghèo, sợ xấu xí, sợ bệnh hoạn, sợ già nua… Cho nên làm cho con người ta hết sợ là đủ để mang lại hạnh phúc, đủ để ‘cứu vớt chúng sanh’. Nhưng vì đâu mà người ta sợ? Vì tưởng. Tưởng nên mới thấy sợi dây thành con rắn. Tưởng nên mới cho cái gì của mình cũng nhất thiên hạ. Tưởng nên vô thường mà thấy là thường, vô ngã mà thấy là ngã… Tưởng là của ta, là ta, là tự ngã của ta nên mới tính chuyện gồm thâu lục quốc, nhất thống giang hồ, muôn năm trường trị, trường sanh bất tử…”. Rồi tác giả chỉ ra thuốc đặc trị cái tưởng: ” ‘Một lòng xưng danh’ Quán Thế Âm Bồ tát, lập tức vô lượng vô số khổ não sẽ được xóa mất ngay vì Quán Thế Âm là vị Bồ-tát có khả năng “nghe được tiếng kêu của trần thế!” với lòng đại từ đại bi, sẵn sàng ra tay cứu độ. Có thể được ư ? Có thể được. Vì vỏ não ta một lúc không thể có hai ý tưởng cùng tồn tại. Các ý tưởng có thể nối tiếp nhau, dắt dây nhau, niệm này vừa dứt niệm kia đã sanh, chen chúc nhau thì có, nhưng cùng lúc thì không. Nếu đã ‘một lòng’ thực sự ‘xưng danh’ Quán Thế Âm thì không thể cùng lúc ‘xưng danh’ vị Bồ tát nào khác hay ý tưởng nào khác. Cái khó là ‘một lòng’, tức ‘nhất tâm’: nhất tâm bất loạn. Gọi tên, xưng danh Quán Thế Âm bởi vì chỉ có Quán Thế Âm mới có nghìn mắt nghìn tay, mới có nước cam lồ rưới tắt tất cả tham sân si của chúng sanh, mới có khả năng giúp ta hết sợ hãi với một pháp thí tuyệt diệu: vô úy thí!”. Tại sao hay như vậy? linh như vậy? Bác đã chỉ ra ẩn dụ, ẩn nghĩa trong đoạn trên:“Thì ra Quán Thế Âm Bồ tát chẳng phải ai xa lạ: Ngài chính là Quán Tự tại Bồ tát. ‘Quán Tự tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách’! Một khi ‘Sắc tức thị Không/ Không tức thị Sắc’ thì lửa sao còn làm cháy được, nước sao còn làm trôi được, gió sao còn thổi bay được, dao gậy xiềng xích sao còn hung hăng được? Và tham sân si cũng đã không tồn tại nữa rồi, đã gaté, gaté, paragaté, parasamgaté rồi, đã “đáo bỉ ngạn”, đã qua bờ bên kia rồi… thì còn sợ hãi điều chi? “Vô úy thí” là vậy!”
Trong kinh Pháp Hoa, ngoài Bồ tát Quán Thế Âm kinh còn nói đến một vị Bồ tát khác cũng rất thú vị, có một pháp tu khá đơn giản và lạ kỳ. Hãy nghe bác nói đến pháp tu của Ngài trong bài viết “Thường Bất Khinh Bồ tát”: “Thường là luôn luôn, bất là không và khinh là coi nhẹ- Thường Bất Khinh là không bao giờ coi nhẹ, không bao giờ khinh người, nói khác đi luôn tôn trọng người, bất cứ là ai, ở đâu, không phân biệt. Bởi vì dưới mắt Thường Bất Khinh, ai cũng sẵn có Phật tri kiến, Phật tánh đó rồi, chẳng qua vì không thấy biết mà không rõ được sự thực, nên không tìm ra hạnh phúc đích thực của kiếp người mà quằn quại trong nỗi khổ đau, bất hạnh. […] ông chỉ làm mỗi việc: chắp tay xá lạy mọi người, bất kể là ai và nói với họ rằng : Tôi không dám coi thường ngài. Ngài chính là một vị Phật tương lai. Ngài sẽ thành Phật ! Nghe ông nói, ai cũng chưng hửng. Phật ư ? Thành Phật tương lai ư ? Còn lâu ! Giỡn chơi sao chớ. Chế giễu hả? Và người ta đánh đuổi ông, nguyền rủa ông, ném đá vào ông. Mặc kệ, ông vẫn kiên trì, không một chút nao lòng, vẫn cứ mỗi một câu nói đó : Tôi không dám khinh ngài, ngài sẽ là một vị Phật tương lai, ngài sẽ thành Phật. Nghe một lần hai lần thì nổi giận, nghe trăm lần ngàn lần thì giật mình, ngạc nhiên và sửng sốt. Rồi nhìn ngắm lại mình. Ủa, mà cũng dám lắm chớ. Ai cũng có hạt giống Phật mà, chịu khó tưới tẩm có ngày dám mọc lên một cây Bồ đề lắm chớ. Phật là chúng sanh đã giác ngộ còn chúng sanh là Phật sẽ thành đó thôi. Và từ đó, lòng tự tin trỗi dậy. Tín thì tấn, rồi niệm, rồi định rồi huệ. Con đường tất yếu nó vậy“.Liên hệ đến giao tiếp truyền thông giữa người với người trong cuộc sốngbácnhận xét: “Tôn trọng, đức tính thứ nhất để thiết lập truyền thông hiệu quả giữa người với người. Thiếu tôn trọng thì truyền thông lập tức gẫy đổ. Tôn trọng phải xuất phát từ lòng thành, nếu không chỉ là sự giả vờ, đóng kịch, không qua mắt được ai.Thường Bất Khinh bằng tất cả lòng thành nên mới nhẫn nhục và tinh tấn đến vậy”. Chúng ta thử áp dụng pháp tu của Ngài khi bị ai xúc phạm, ghét bỏ hay thậm chí muốn hãm hại xem sao!
Dân gian có câu: “Một trăm lần nghe không bằng một lần thấy” hay có thể suy ra “một trăm lần đọc về từ bi không bằng một lần thấy hành động từ bi nơi vị thầy”. Một vị thầy trong đạo dạy ta giáo lý qua khẩu giáo và giới đức qua thân giáo, chính thân giáo, tức hành động, nhân cách, giới phẩm và đức hạnh của vị thầy mới quan trọng, nó làm gương cho ta noi theo. Đây một bài học không lời. Hãy đọc đoạn bác viết trong bài “Với kinh Kim Cang Bát Nhã”: “Cái điều bỡ ngỡ và chưng hửng đầu tiên khi học Kim Cang là hy vọng được đọc, được nghe những lời hay ý đẹp, những khuôn vàng thước ngọc, những bài giảng uyên áo. Thế mà, trời ạ, Kim Cang lại đi kể ngay một chuyện rất đỗi bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường nữa, chẳng ăn nhập vào đâu, đó là chuyện Phật tới giờ ăn, đói bụng, bèn mặc áo, ôm bình bát đi… khất thực, chẳng thèm nói lấy một tiếng! Nghĩ mà coi, giữa lúc có hàng ngàn người, cả các vị Đại Bồ tát, A la hán, các vị ‘chức sắc’ và các đại đệ tử thân tín ngồi hồi hộp chờ nghe những lời giáo huấn sâu xa thì Phật chẳng nói chẳng rằng, mặc áo, cầm bình bát, vào thành khất thực. Đến khi khất thực thấy vừa đủ rồi ung dung trở lại ‘hội trường’, bày ra ăn, ăn xong, thu dọn y bát đâu đó đàng hoàng rồi rửa chân sạch sẽ, ngồi xếp bằng… thở, nghĩa là… nhập định! Chẳng thèm nói lấy một tiếng. Chẳng thèm ban cho một chút huấn từ […]. Bỗng dưng, Tu Bồ Đề xuất hiện. Ngồi giữa đám đông như mọi người bỗng ông đứng phắt dậy, cung kính cúi chào đúng nghi lễ với bậc Thế Tôn rồi cất lời ca ngợi: ‘Thật là tuyệt vời! Thật là tuyệt diệu! Thật xưa nay chưa từng có! Thế Tôn đã khéo léo dạy dỗ, khéo léo trao truyền, khéo léo gởi gắm cho các vị đang có mặt tại đây hôm nay!’ Lúc đó thì quả thực mới bùng nổ bài học vừa được truyền trao mà chẳng ai ngờ! Lúc đó thì sự chưng hửng đã trở thành nỗi áy náy. Chết rồi, nãy giờ không để ý, không theo dõi kỹ bài giảng không lời kia của Đức Phật! May mà có Tu Bồ Đề phát hiện! Những người không để ý quan sát kỹ sẽ mất đi một cơ hội đáng tiếc”.Rồi bác nhận xét rằng:“Phật có cách dạy riêng của ngài: Không nói một lời mà chỉ làm cho coi. Đó là một phương pháp giáo dục rất mới mà bây giờ người ta gọi là “demonstration”, tức biểu diễn, làm gương, làm cho bắt chước, một lối dạy kỹ năng sống (life skills) rất hiện đại. Một lần nữa cho thấy học Phật, tu Phật là làm chớ không phải nói. Làm trước, nói sau. Hoặc cũng chẳng cần nói”.
Saigon 17/07/2022
Dương Minh Trí
(Thành viên lớp Phật Học & Đời Sống)
![]() |
| Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ kinh nghiệm học Phật đến bạn đọc |
![]() |
| Trò chuyện với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: “Bông hồng cho mẹ và những cảm nhận học Phật” |
Trong buổi gặp gỡ, bạn đọc lắng nghe những chia sẻ thân tình của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về con đường thi ca, nhân duyên với ngành y và cảm nhận ban đầu về Phật học của mình. Ông cũng chia sẻ thêm về những kiến thức cơ bản cho người mới đầu học đạo cũng như kinh nghiệm thực hành trong cuộc sống hàng ngày, giúp thân và tâm an lạc hơn.
Dịp này, mọi người có cơ hội tìm hiểu sâu hơn pháp môn “Thiền và Thở”, cách thức vận dụng nó để phòng, chữa các bệnh lý về thân, giảm các lo âu, stress trong công việc và mang lại an tịnh cho tâm hơn qua sự chia sẻ rất sinh động và thiết thực của vị bác sĩ này.
![]() |
| Tác phẩm “Bông hồng cho mẹ và những cảm nhận học Phật” |
“Thân tâm của mình dường như được làm mới lại, trước đây thấy sự mất mát đó là một nỗi đau nhưng sau khi nghe bác sĩ chia sẻ thì nhận thấy, đôi khi nỗi đau đó là niềm may mắn để mình thể ngộ nhiều điều mới hơn trong cuộc sống bộn bề này”, bạn trẻ Hà Thúy Vi (26 tuổi, quận 8) xúc động khi nghe 4 câu thơ:
Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…
(Bông hồng cho mẹ – Đỗ Hồng Ngọc)
Tác phẩm “Bông hồng cho mẹ và những cảm nhận học Phật”, tập hợp 37 bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trên Phật học Từ Quang tục bản (2012-2022), do Nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành. Với Mùa Vu lan: Bông hồng cho mẹ, Thương nhớ đòn roi, Vè thiền tập, Nói thêm về thiền bụng, Luân hồi sanh tử, Quán Thế Âm Bồ-tat,… trong tác phẩm mới này gợi mở sự truyền thông về tình mẫu tử thiêng liêng và nhận thức về giáo lý Phật đà một cách nhẹ nhàng, dễ hiểu, dễ thực hành.
![]() |
| Niềm hoan hỷ trên khuôn mặt của nhiều người khi tham dự buổi trò chuyện |
“Cuốn sách này ra đời nhân dịp Vu Lan sắp về, nó thể hiện nỗi nhớ về mẹ, cũng như cảm nhận về Phật học và một số trải nghiệm của tôi khi thực hành nó”, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ.
Đỗ Hồng Ngọc là tác giả của nhiều tác phẩm đã đi vào lòng người, với giọng văn nhẹ nhàng như lời tự sự, trong đó có nhiều tác phẩm liên quan Phật học đã tái bản nhiều lần, như Nghĩ từ trái tim, Gươm báu trao tay, Thiền và Sức khỏe, Gì đẹp bằng sen?…
GIẤY MỜI
Mời các bạn đến tham dự buổi Trò Chuyện thân mật này nhé!
do Hội quán Các Bà Mẹ tổ chức, ngày CN 17.7.2022, tại số 7 Nguyễn Thị Minh Khai, từ 8:30-10:30.
Sách do Quỹ Ấn Tống Hoa Sen chùa Phật học Xá Lợi thực hiện. Mỗi bạn tham dự được tặng một cuốn sách với chữ ký của tác giả để kỷ niệm.
Thân mến,
ĐHN

blue white halftone modern bright art. Blurred pattern raster effect background. Abstract creative graphic template. Business style.
Lớp Phật học & Đời sống, Chùa Xá Lợi Tp.HCM 25.6.2022:

Buổi trao đổi về “Bốn Lời Nguyện Rộng Lớn” (Tứ Hoằng Thệ Nguyện) tại Lớp Phật học & Đời sống, chùa Phật học Xá Lợi Tp. HCM ngày 25.06.2022
Cảm ơn Nguyễn Văn Quyền (vquyen n) đã thực hiện clip này để chia sẻ cùng bè bạn.
Đỗ Hồng Ngọc.
By admin 1 Bình luận
Đỗ Hồng Ngọc

Duyên khởi
Cơ duyên đưa đẩy, tôi được gặp rồi quen thân với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hơn chục năm nay. Khi Tạp chí Phật học Từ Quang tục bản (số 1, 2012), đến nay tròn 10 năm, số nào cũng có bài viết của anh. Tôi mời anh và anh cũng hoan hỉ tham gia Ban Phật Học (Cố vấn), phụ trách Nhóm Học Phật và là người đồng hình thành lớp “Phật học & Đời sống”, đến nay vẫn hoạt động tốt.
Mấy năm gần đây, anh là một trong số cư sĩ được mời tham gia hướng dẫn lớp An cư kiết hạ truyền thống hằng năm dành cho các tu sĩ tại Chùa Phật học Xá Lợi Tp. Hồ Chí Minh.
Từ những bài viết của anh đăng trên Phật học Từ Quang được tập hợp để có cuốn sách “Bông hồng cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật” này, tôi tin người đọc dễ thấy Đỗ Hồng Ngọc học Phật qua lăng kính của nhà thơ, nhà khoa học, của người thầy thuốc tận tâm.
(…)
Khi được hỏi “kinh nghiệm” về học Phật, anh nghĩ “Trước hết cần nắm được các thuật ngữ, sau đó là hiểu được các ẩn dụ, ẩn nghĩa, hàm chứa trong lời Kinh và quan trọng nhất là thực hành, ứng dụng vào đời sống, ở đây và bây giờ…”.
Với tôi, đây là kinh nghiệm quý cho những người muốn học Phật. Nhân mùa Vu lan này (2022, PL 2566), Quỹ Ấn tống Hoa Sen (Chùa Phật học Xá Lợi) cùng với Nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành cuốn sách “Bông hồng cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật” của nhà thơ Đỗ Nghê – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trên tinh thần bố thí pháp của nhà Phật. Trong Kinh Tap A Hàm (số 299), đức Phật trả lời cho một vị Tỳ kheo hỏi về pháp Duyên khởi, Ngài có nói: “Cái này có nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi”, nên “Bông hồng cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật” của Đỗ Hồng Ngọc đến với bạn đọc chính là như thế.
(Thay lời tựa)
HT-TS THÍCH ĐỒNG BỔN
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
Thư gởi bạn xa xôi (tháng 6.2022)
Gần vậy mà cũng không dễ về! Đợi con rỗi rảnh chở cho đi mới đi được. Ai cũng chân thấp chân cao… Nhớ biển, nhớ núi, nhớ rừng, nhớ những con đường và nhớ cả bánh căn… Đặc biệt, nhớ cây me vài trăm tuổi ngày nào ở chùa mình vẫn dựa gốc me hoặc leo lên nhánh cây ngồi học…
Tìm được một nơi còn giữ cái phong cách, cái cảnh tình… chốn quê xưa bây giờ không phải là dễ. Một nơi có chuối, có cau, có dừa, có xe bò, có thúng chai (thuyền thúng), có lưới cá… không phải là dễ!
Cho nên về Lagi thì ở vài ngày nơi Lagi Farmstay mới thấy quen thuộc, có canh chua lá me, có cá đục kho keo, có tôm rim mặn… Biển thì ra Cocobeach camp gần đó, có xe bò… Từ bải đá Cam Bình nhìn lên Hòn Bà tuyệt đẹp dưới nắng chiều…
Rồi Đập Đá Dựng, rồi Hồ Núi Đất, Dinh Thầy Thím, Dốc Trâu, Ngãnh Tam Tân… đặc biệt là khu vực Giếng Nguồn Chung ngày xưa…
Đúng là dấu hiệu của tuổi già. Thích nhắc chuyện xưa. Tìm chốn cũ. Nhớ những ngày sống ở Láng Găng, Bưng Riềng, nay vẫn còn khu rừng nguyên sinh đó, quán Dênh Dênh (Vên Vên), Hồ Cốc, Hồ Tràm, Láng Hàng mênh mông…. Suối Nước Nóng Bình Châu… Thắng Bình, Hồ Tôm, rồi Bàu Lời… Nhưng mọi thứ nay đang đổi thay đến chóng mặt. Những resorts cao cấp, những biệt thự lộng lẫy dần hiện ra, ngày càng xa lạ. Thấy không phải dành cho mình. Không phải của mình. Cũng chẳng còn bao người để cùng nhắc chuyện xưa mà ngậm ngùi…
Gởi bạn vài hình ảnh thôi nhé.

Khu rừng Nguyên sinh Bưng Riềng (16.6.2022)

Quán Dênh Dênh (Vên Vên)… huyền bí!

ở Lagi Farmstay (16-18/6/2022)

Lagi Farmstay Cam Bình


Cocobeach Camp



Hòn Bà Lagi nhìn từ phía Cam Bình tuyệt đẹp!



Đập Đá Dựng


Nơi chốn xưa là Giếng Nguồn Chung.

Những gốc me già xưa nhớ quá/ Những con đường nhỏ rất quen thân… Ơi những con đường ta đã đi/ Gia Long Đồng Khánh mượt xuân thì/ Chân run rẩy cát bờ Thương Chánh/ Gió ở đâu về thơm bước khuya… (Đỗ Nghê- trên sông khói sóng, Phan Thiết 1970)
Hẹn thư sau nhé,
Đỗ Hồng Ngọc
(19.6.2022)
Thư gởi bạn xa xôi,
Ngày 10.6.2022
Mình thấy các thầy ít chịu tham gia, không mạnh dạn phát biểu, trao đổi, mà chỉ nghe, ghi chép, nên lần này mình thử thay đổi “phương pháp” cho lớp một chút vậy.
Các thầy được xếp ngồi thành một vòng tròn, điều này giúp các thầy được… nhìn thấy nhau, và quan trọng hơn, mọi người đều… bình đẵng, không phân biệt…!
Và sau đó, mình gởi mỗi thầy một mảnh giấy nhỏ, đề nghị viết lên đó 2 câu hỏi: một về vấn đề Sức khỏe thầy đang quan tâm và một về… những thắc mắc trong lãnh vực học Phật.
Thật bất ngờ. Nhiều câu hỏi rất hay. Những câu hỏi về bệnh lý được trả lời ngay. Còn về Phật học thì xin ghi lại đây để cùng suy nghĩ. Có nhiều câu chắc phải nhờ đến các vị Đại sư phụ trả lời! Thí dụ vấn đề “Xá Lợi”, Tại sao Ngài La Hầu La và Đại Ca Diếp nhập niết bàn ở cõi trời và trong động mà Xá lợi vẫn có trong cõi Ta-bà này? Chữa bệnh bằng Thiền tập có hiệu quả không? Dịch Covid 19 và sự đóng góp của Phật giáo trong hỗ trợ vật chất tinh thần cho người bệnh; Cộng nghiệp và biệt nghiệp; Tam giới? Khi quán một đề mục để hành thiền Tứ niệm xứ, vậy Tâm khi đó là tâm có hay tâm không? Nguyên nhân nào đưa bác sĩ tìm đến Đạo Phật? Đạo Phật có giúp gì được cho bác trong cuộc sống không?…
Nhân đó, tôi cũng nhắc lại buổi Nhóm Học Phật chùa Xá Lợi đến thăm Ni sư Liễu Pháp và các vị ở Thiền viện Viên Không Ni ngày Chủ nhật 05/ 06/ 2022 vừa qua ở Bà Rịa. Hôm đó, Ni sư Liễu Pháp cũng đặt cho tôi mấy câu hỏi như về Sự hủy thai (mắc bệnh di truyền) có phải là đã phạm giới sát sanh? Vần đế An tử (euthanasia)? vấn đế Nhân bản vô tính…
Những vần đề này cũng đã được nhiều vị bàn đến từ lâu như Bác sĩ Trịnh Đình Hỷ (Nguyên Phước), TS Nguyễn Tường Bách, Trần Kim Đoàn v.v… vẫn là những vấn đề rất thời sự khi người ta đã nhân giống “thành công” từ Cừu Dolly 1996 đến 2 con khỉ (2018), và gần đây không cần dùng tế bào phôi mà dùng tế bào gốc (bất kỳ), từ ADN…

Lớp An Cư Kiết Hạ, chùa Xá Lợi, Tp HCM 10.6.2022


Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
Lớp An Cư chùa Xá Lợi, 2022
Bài đọc thêm (2)
DƯỢC TÍNH TRONG TÂM…
Bác sĩ Phạm Nguyên Quý
Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Nguyên Quý hiện là bác sĩ điều trị tại Khoa Ung thư nội, Bệnh viện Trung ương Kyoto Miniren; nghiên cứu viên tại Khoa Y, Đại học Kyoto.
(Nguồn: https://vnexpress.net/duoc-tinh-trong-tam-4229978.html)
Tôi từng “khóc thầm” vì bài học mà bệnh nhân của tôi đã vô tình dạy bác sĩ.
Tôi vẫn nhớ như in lần khám với bệnh nhân 70 tuổi không may mắc ung thư tụy di căn phổi. Bà có nhiều dịch tích trong ngực, còn gọi là tràn dịch màng phổi, và cần chăm sóc giảm nhẹ. Bốn tháng trước, bà còn bị thêm di căn da – thành ngực, liên quan tới thủ thuật đặt ống thông để giảm dịch ngực ở một bệnh viện khác. Vì đau ở thành ngực, bà cũng đã được xạ trị vào khối u. Cơn đau được khống chế một thời gian, khi bị đau lại, bà được giới thiệu tới bệnh viện của tôi bởi gần nhà.
Chúng tôi nói chuyện thăm hỏi ban đầu khá vui vẻ, nhưng khi tôi sờ vào cục u trên da để thăm khám, bà đột nhiên bật khóc.
Tôi hơi hoảng, liền hỏi ngay tại sao?
“Bàn tay bác sĩ ấm làm tôi dễ chịu quá”, bà nói.
Bà thật tình kể tiếp một chuyện bất ngờ hơn. Đi khám ở các bệnh viện bốn tháng qua, bà không được ai chạm tới chỗ đau đó. Ở đâu, người ta cũng chỉ hỏi bệnh, kê đơn thuốc giảm đau, xem hình chụp CT (Computed Tomography Scan – CT Scan) rồi chỉ cho bà cục u trên màn hình máy tính.
Tôi vừa nghe chuyện vừa nghĩ tới cách giải thích để bênh vực cho những đồng nghiệp bận rộn của mình. Rằng khối u đã quá rõ ràng trên hình ảnh nên bác sĩ nghĩ rằng không cần phải chạm tới, hay bác sĩ bận rộn quá không thể chờ người bệnh kéo áo lên xem. Việc chạm vào cục u thường không thay đổi “chiến lược điều trị”, và có thể bác sĩ cũng đã không có thời gian nghĩ tới cảm xúc của bệnh nhân.
May thay, bà không khóc vì giận bác sĩ mà vì cơn đau dai dẳng tự nhiên mất đi không ngờ. Bà không biết rằng tôi cũng đã khóc thầm sau khi gặp bà, từ bài học mà bà đã vô tình dạy cho bác sĩ. Tôi khóc vì hóa ra bàn tay vụng về của mình lại có thể ý nghĩa đến vậy với một ai đó.
Mấy tháng sau, một bệnh nhân khác nói với tôi rằng cô cũng cảm thấy dễ chịu khi được bác sĩ thăm khám. Tôi thầm cảm ơn cô vì đã giúp các bác sĩ trẻ như tôi thêm động lực. Bệnh nhân vừa là người thầy của bác sĩ, vừa làm nghề thầy thuốc trở nên ý nghĩa.
Hầu hết bệnh nhân thật ra kỳ vọng khá lớn vào việc được bác sĩ thăm khám trực tiếp. Hầu hết họ vẫn nghĩ rằng bác sĩ phải sờ – nhìn – gõ – nghe hoặc ít nhất “sờ vào người” thì mới gọi là “đi khám”.
Cho dù các chỉ số như huyết áp, nhịp tim đã có y tá lấy bằng máy hoặc đo tự động, nhiều bệnh nhân ở Nhật nói với tôi rằng họ vẫn muốn được bác sĩ bắt mạch “truyền thống” dù chỉ vài giây. Trong bối cảnh phòng khám bận rộn, nhu cầu “kinh điển” này có thể khó thực hiện, nhưng tôi luôn tự nhắc mình để không làm bệnh nhân buồn lòng.
Lần khác, tôi có duyên gặp một bệnh nhân bị khó thở vì ung thư phổi kèm tràn dịch màng phổi. Các bác sĩ trước đó đã nói với bà rằng khó thở vì “phổi đã ngập nước”. Sau khi gõ và nghe tiếng phổi của bà, tôi cười, nói với bà rằng dịch chỉ chiếm 1/3 ngực và 2/3 còn lại “vẫn chạy tốt”. Bà bớt khó thở ngay chiều hôm đó.
Thật khó tin, một bệnh nhân vẫn than khó thở với thuốc an thần, morphine liều tối ưu lại khỏe hơn chỉ nhờ một câu nói. Khó tin hơn, bà cũng đã là người nhận dự đoán “có lẽ chỉ còn sống tầm sáu tháng”, nhưng rốt cuộc sống lâu gấp bốn lần.
“Chính bác sĩ còn chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra với họ vào ngày mai, sao có thể dự đoán chính xác thời gian sống của bà?”, bệnh nhân cười phá lên gật gù khi tôi nói tiếu lâm như vậy.
Bằng việc vực dậy niềm tin, tinh thần của bà đã cải thiện rõ rệt. Với một số biện pháp khác như thay đổi tư thế nằm, ngồi cho dễ chịu hơn, dùng thêm các dụng cụ hỗ trợ để bà tập trung vào hiện thực và tiếp tục sở thích đan len, chúng tôi đã giúp bà đã sống thêm một thời gian ý nghĩa.
Nói chuyện với bệnh nhân, nhất là người mắc ung thư giai đoạn cuối, là cả một nghệ thuật. Nhiều người hỏi rằng như vậy có gọi là nói dối bệnh nhân hay không?
Khi ly nước chỉ còn 1/3, tuyên bố “mất hết 2/3 rồi” hay “vẫn còn 1/3 đấy” không thay đổi sự thật phũ phàng, nhưng có thể thay đổi nhận thức về cuộc sống của người bệnh. Bệnh nhân không chỉ đau khổ vì sự thật, mà còn đau khổ vì cách diễn giải sự thật đó. Đôi khi đau khổ là do chính người bệnh hoặc người thân tự ám thị, tự liên tưởng mà bác sĩ phải là người nhận ra và giải quyết những khúc mắc thầm kín đó.
Một bác sĩ đàn anh nói với tôi rằng điều này đã được viết trong Kinh Dược sư từ mấy nghìn năm trước. Người thầy thuốc cần uốn lưỡi bảy lần khi nói chuyện, với tâm thanh tịnh cầu nguyện sự tốt lành cho bệnh nhân. Nghe thật mơ hồ, nhưng những điều Đức Phật dạy không phải không có lý.
Nhiều bệnh nhân ở Việt Nam nói với tôi rằng, cũng là loại thuốc đó nhưng khi gặp được bác sĩ ân cần quan tâm, giao tiếp bằng thân, khẩu, ý tốt đẹp thì họ thường tự tin hơn vào kết quả điều trị.
Đức Bồ tát Phổ Hiền từng nói với đồ đệ rằng: “hãy vào rừng, tìm những loại cỏ cây không phải là thuốc mang về đây cho ta”, ngụ ý rằng cái gì cũng là thuốc mà cũng không phải là thuốc. Tất cả phụ thuộc cách dùng và hiệu quả còn phụ thuộc vào “dược tính” trong tâm mỗi người.
Ai cũng có khả năng trở thành Phật được, chính là bởi dược tính trong tâm mình. Tôi viết những dòng này khi thế giới đang hoang mang vì dịch bệnh. Trong thời buổi vật chất được ưu ái, thông tin lan tràn trên mạng, nhiều bệnh nhân dễ bị lung lạc bởi các “bài thuốc” hay “điều trị tiên tiến” qua Youtube, Facebook, Google hoặc nghĩ rằng phải chụp chiếu bằng máy móc hiện đại mới yên tâm. Lời nói của bác sĩ nhiều khi không được xem trọng. Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng sẽ có lúc người ta nhận ra, không gì thay thế được giá trị của “dược tính” trong mỗi người thầy thuốc.
“Tiền bạc, danh vọng có thể là mục tiêu mà nhiều người hướng đến trong thời gian ngắn, nhưng nuôi dưỡng được dược tính mới là yếu tố giúp bình an lâu dài”, thầy tôi, một người Nhật, nói với chúng tôi như vậy.
(PNQ)
Ghi chú: Trong bài giảng cho lớp An Cư vừa rồi, tôi có nhắc đến Placebo (giả dược).
Xin đăng lại bài này để làm tài liệu đọc thêm.
ĐHN
Lớp An Cư chùa Xá Lợi 2022
Bài đọc thêm (1)
(dohongngoc.com)
Lý thú trong “nghệ thuật” dùng thuốc chữa bệnh là giả dược (Placebo), hay còn gọi là thuốc vờ – thuốc giống y như thật nhưng không có tác dụng dược lý- chỉ tạo ra hiệu ứng Placebo đôi khi rất thú vị. Placebo thường được dùng trong nghiên cứu Y học, thử thuốc lâm sàng có đối chứng (controlled studies) hoặc dùng để chữa một số triệu chứng đặc biệt, và cũng có khi dùng để thoả mãn đòi hỏi của người bệnh ham uống thuốc, chích thuốc dù bác sĩ thấy không cần thiết. Placebo có đủ loại, thuốc uống, thuốc thoa và thuốc chích. Tên gọi Placebo đã có từ xa xưa và đến năm 1785, Placebo đã có tên trong tự điển Y học với nghĩa là “thuốc gây niềm tin” (make – believe medicine).
Nó là một chất trơ, không gây dị ứng, hoàn toàn vô hại, thế nhưng lại có tác dụng đặc biệt trên một số bệnh nhân, cả tốt lẫn xấu, gọi chung là hiệu ứng Placebo. Các nghiên cứu cho thấy Placebo có hiệu ứng đặc biệt với một số ngừơi nhạy cảm. Những người này có một trạng thái tâm lý dễ tin, dễ cảm xúc và dễ bị thuyết phục hoặc dễ tự kỷ ám thị. Chuyện không lạ trong Y học. Thí dụ “Hội chứng áo choàng trắng” thường gặp ở một số người được bác sĩ đo huyết áp thì huyết áp tăng vọt. Chỉ cần bước chân vào bệnh viện, thấy nhân viên y tế với chiếc blouse trắng, ống nghe, người quá lo đã tiết ra nhiều chất adrénaline hơn người khác , chất này làm co mạch và huyết áp tăng vọt lên. Ở trẻ con thì có hội chứng “Đau bụng sáng thứ hai” do sợ đi học và cũng thường gặp ở một số thí sinh mắc tiểu hoài khi bước vào phòng thi! Đây là lĩnh vực y khoa tâm – thể (médecine psychosomatique) ngày càng được quan tâm. Nghiên cứu sâu hơn, người ta phân chia ra nhiều týp hành vi của con người. Người thuộc nhóm hành vi này có thể sẽ dễ mắc một số bệnh nào đó mà nhóm khác không mắc.
Trở lại hiệu ứng Placebo, người ta thấy placebo có thể chữa được các “bệnh” như lo âu, căng thẳng, buồn bã, âu sầu, rối nhiễu tâm lý, các chứng đau, nhức đầu, ho, mất ngủ, say sóng, cảm, đau bao tử, nôn ói, cao huyết áp… Người ta ngạc nhiên thấy Placebo cũng gây “tác dụng phụ” (phản ứng thuốc) dù đó chỉ là thuốc vờ không phải thuốc thật như nôn ói, chóng mặt, buồn ngủ hoặc mất ngủ, uể oải, trầm cảm, ảo giác, hồi hợp, tiêu chảy, nổi ban… Thực ra tất cả những hiện tựơng đó đều do một sự tự phản ứng của cơ thể chớ không phải do Placebo. Sợ quá đến nỗi ruột thắt lại, gây tiêu chảy; lo quá đến chóng mặt, trầm cảm, hồi hộp vẫn là chuyện thường thấy.
Lạ lùng là có người “nghiện” Placebo nữa! Mỗi lần đi khám bệnh luôn đòi bác sĩ phải cho đúng thứ thuốc đã quen dùng, đúng bao bì mẫu mã đã quen nhìn! Khi nghiên cứu mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân, lời nói của bác sĩ cũng tạo nên hiệu ứng placebo. Giải thích cơ chế tác dụng này, người ta cho rằng chính nhờ có mối quan hệ tốt với bác sĩ, người bệnh tự tin hơn ở năng lực khỏi bệnh của mình, hợp tác tốt với bác sĩ, có hành vi sống lành mạnh hơn, nhờ đó mà khỏe ra. Tóm lại, Placebo không chỉ là thuốc mà còn là mối quan hệ, cách truyền thông hiệu quả giữa thầy thúôc và bệnh nhân.
Hiểu về Placebo, ta không ngạc nhiên khi thấy nhiều thứ quảng cáo “trời ơi”, thiếu cơ sở khoa học mà vẫn đựơc nhiều ngừơi tin dùng và truyền tụng như là một thứ thuốc thần, kết quả chỉ làm chậm trễ việc chữa trị và “tiền mất tật mang”.
BS Đỗ Hồng Ngọc
Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
KỲ 2: Lớp An Cư, chùa Xá Lợi, 2022
Ngày 3.6.2022
Để tạo không khí thoải mái cho buổi học, tạo sự tham gia tích cực… cho lớp (vốn thường chỉ tiếp thu thụ động), mình vẽ lên bảng 9 điểm thế này rồi đưa ra một câu đố: Hãy kẻ 4 đường thẳng- và chỉ 4 đường mà thôi- không được nhắc viết lên- nối được cả 9 điểm này lại với nhau?

Các thầy có 5 phút. Kết quả: 1 trong 19 vị có mặt thực hiện được. Vậy là tốt lắm. Sau đó mọi người phân tích tại sao được và tại sao không? Mọi người nhận ra là do chính mình tự khu trú mình, đóng khung mình, chớ câu đố không hề cấm vượt ra ngoài khung để có thể giải quyết vấn đề. Từ đó, thấy ra nhiều vấn đề khác trong học và hành, trong đời sống và cả trong tu học. Mình cũng nói, hồi tôi bị đố, tôi cũng “bí” như đa số các thầy hôm nay.
Chủ đề chính buổi học thứ hai này là Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và Các phương thức Bảo vệ và Nâng cao sức khỏe.
Yếu tố sinh học (Di truyền, gen, tâm thần…); Yếu tố Môi trường (sinh vật, vi sinh…)- bao gồm cả môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội; Yếu tố hành vi lối sống cá nhân; Yếu tố: Hệ thống Y tế, chăm sóc bảo vệ sức khỏe… Vai trò của Phật giáo trên mỗi yếu tố này ra sao? Sự tham gia của các vị trong đời sống xã hội, trong phòng chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường, cụ thể như dịch Covid, Sốt xuất huyết, sốt rét… Vấn đề dinh dưỡng, các bệnh dịch mạn tính không lây hiện nay… như “3 cao 1 thấp” (cao đường, cao mỡ, cao máu và… thấp khớp) gặp không ít trong giới tu sĩ.

Đức Phật, bậc Y vương, đã đi trên con đường khoa học để “diệt Khổ” cho con người, từ Hội chứng (Khổ) đến Chẩn đoán (Tập), trị liệu (Diệt) và Nâng cao (Đạo). Từ đó, có những phương thuốc đối trị, chỉ chữa triệu chứng (tạm thời) và những phương thuốc chữa căn nguyên, rốt ráo. Dĩ nhiên tùy bệnh trạng, tùy bệnh nhân (căn cơ) mà cho thuốc phù hợp, có khi chỉ với Placebo cũng đủ! Trái lại, cho nặng “dose” quá, không đúng lúc, cũng dễ bị “tẩu hỏa nhập ma”!


Trong mọi trường hợp, cần thấy lục phủ ngũ tạng là một thể… thống nhất, không nên tách biệt từng phần riêng rẻ, mà phải thấy toàn diện thân tâm nhất như. Đó là một nền y học holistic cần thiết hiện nay trong thời đại khoa học y học, kỹ thuật phát triển, dễ chạy theo những manh mún. Một nền y học lành mạnh cần “bớt kỹ thuật mà thêm nhân văn” là vậy.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc
(còn tiếp)
