Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Nguyên Cẩn: DỰNG LẠI CON NGƯỜI

29/12/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

DỰNG LẠI CON NGƯỜI

LỜI CỦA KẺ SĨ

NGUYÊN CẨN

 

TỰA

Kính thưa độc giả!

Bạn đang cầm trên tay cuốn sách DỰNG LẠI CON NGƯỜI. Và bây giờ, bạn đang lướt đến những dòng giới thiệu sách. Tôi đang được hân hạnh trò chuyện với bạn – một người yêu sách. Tôi muốn nói với bạn rằng, đừng đặt cuốn sách này xuống, đừng bỏ qua nó. Bởi vì, nếu làm vậy, bạn đã “phụ một tấm lòng trong thiên hạ”– tấm lòng trăn trở với quốc gia, với thời cuộc, với con người (dĩ nhiên là trong đó có bạn, và có tôi) của một kẻ sĩ.

Nếu được phép đặt tên cho cuốn sách này, tôi sẽ gọi nó là LỜI CỦA KẺ SĨ. Bởi vì, 28 bài viết của cuốn sách là tiếng nói của một trí thức đầy mẫn tuệ, tâm huyết và khát khao cống hiến – cống hiến bằng chữ nghĩa từ những gì mình lĩnh hội được qua thực tế, qua sách vở và qua sự nhạy cảm trước những biến động của đời sống.

DỰNG LẠI CON NGƯỜI nghĩa là tìm lại giá trị người đã từng có, nhưng bị đánh mất qua bao biến cố, bão giông của lịch sử; tìm lại quốc pháp, gia quy từng rất nghiêm cẩn đã bị lơi lỏng, biến dạng dưới bàn tay của những người chấp pháp vô trách nhiệm; tìm lại vị thế của nước Việt đã từng vượt xa các nước trong khu vực nay lại bị các nước ấy vượt xa. Đi tìm những giá trị đã mất, xác lập giá trị mới cho quốc gia cường thịnh, chính trị minh bạch, kinh tế phồn vinh, văn hoá phát triển và con người hạnh phúc chính là khát khao cháy bỏng của Nguyên Cẩnqua từng trang viết. Tác giả để tâm đến tất cả mọi lĩnh vực của đời sống: kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hoá, nhân sinh, nhân tính, nhân tình, nhân tâm… Có cảm giác như trái tim mẫn cảm và trí tuệ nhạy bén của ông luôn quặn thắt khi nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy những điều không vui vừa mới xảy ra. Sau mỗi quặn thắt là sự điềm tĩnh cần có của một trí thức, Nguyên Cẩn suy ngẫm, phân tích nguyên nhân, hệ quả, và đi tìm giải pháp.

Trong mỗi bài viết mang tính xã luận hoặc tính đối thoại, Nguyên Cẩn luôn dẫn dắt vấn đề một cách lớp lang, diễn giải từ tốn, đi từ việc nhỏ đến việc lớn, dung hoà giữa lý trí và cảm xúc, lý thuyết và thực tiễn khiến người đọc rấtdễ nắm bắt vấn đề. Ông thường lập luận chặt chẽ, xác định luận điểm rõ ràng, xây dựng luận cứ chắn chắc và đưa ra nhiều luận chứng xác đáng. Từ đó, đi vào bình luận một cách có lý có tình với những kiến giải sắc sảo đầy thuyết phục. Và cuối cùng, những giải pháp mà ông đưa ra rất thiết thực, có tính khả thi cao.

Đặc biệt, điều làm nên nét đặc sắc của cây bút xã luận Nguyên Cẩn chính là những tầng văn hóa. Tầng văn hóa đó được sắp xếp nên bởi các lớp tri thức về văn hóa, chính trị, pháp luật, kinh tế, triết học, nghệ thuật… mà người viết có được. Những bài học thực tế đông tây kim cổ, ý kiến của các danh nhân, đạo đức của các tôn giáo được trích dẫn và lồng ghép một cách phù hợp với liều lượng vừa phải. Vì thế, đọc bài của Nguyên Cẩn -đọc lời của kẻ sĩ, ta tiếp nhận được rất nhiều kiến thức bổ ích, lại có thêm cái thú “qua núi còn thấy núi”, và rồi ta không khỏi tự vấn mình về trách nhiệm của một kẻ sĩ, một công dân.

DỰNG LẠI CON NGƯỜI khiến tôi nhớ đến một câu danh ngôn: Cách hay nhất để làm giàu tri thức mình là đọc một cuốn sách hay hoặc trò chuyện với người thông thái. Bạn sẽ gặp được cả hai điều đó khi đọc cuốn sách này. Tôi tin nhưvậy!

Nguyễn Thị Tịnh Thy (*)

………………………………………………….

(*) Tiến sĩ , Đại học Sư Phạm Huế

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Uncategorized, Đọc sách

CHIỀU BUÔNG…

18/12/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Chiều buông…

 (đôi dòng về Không đứng mãi trong tranh của Lê Chiều Giang)

 

 

Đỗ Nghê

Không biết nên gọi Không đứng mãi trong tranh của Lê Chiều Giang là gì cho đúng? Tùy bút? Không phải. Tản mạn? Không phải. Viết ngắn? Không phải. Thơ… Ừ, thơ. Đúng là thơ rồi. Nó cuốn hút. Nó xao xuyến. Nó ray rứt. Nhưng, thực ra thì nó có hơi hướm của một hồi ký hơn với rất nhiều những năm, những tháng, những ngày… cùng với những yêu thương, khóc giấu, khổ đau… Nhưng hình như vẫn không phải là hồi ký, tuy dàn trải cả một đời người, một kiếp người. Tôi biết mình vẫn cứ lẽo đẽo tìm theo những rêu phong của ngày tháng cũ (64). Nó trộn lẫn thơ với nhạc với họa, âm thanh và màu sắc, tưởng tượng và sự kiện. Nó tuôn chảy như một dòng sông, “yên ba giang thượng” mỗi khi chiều xuống…

 

Ta có thể hỏi tò mò: Khi muốn Không đứng mãi trong tranh thì người ta làm cách nào? Mà thiệt ra có mấy cách đâu! Những bức tranh đời đó. Một bức bị xé toang với những lời chát đắng. Một bức bị giấu nhẹm với nước mắt và giận hờn. Một bức với những sắc màu sặc sỡ như để bù đắp mà không kịp hoàn tất, để rồi vùi theo với nhan sắc trăm năm.

 

Không đứng mãi trong tranh là lúc muốn xổ lồng bay xa. Thiệt không dễ! Bởi muốn bay mà vẫn còn ngập ngừng e sợ. Cái gì làm cho ngập ngừng, e sợ, nấn ná?

Và tôi cứ lẳng lơ, tôi rất lẳng lơ viết những chữ mông lung, vật vờ như gió… sáng trưa chiều tối với hằng tỷ bức email như vậy.

Vẫn có một bờ vực còn đó. Một giới tuyến không thể vượt qua.

Tôi biết mình không được bước xa hơn, dù chỉ là một inch nhỏ. Chúng tôi  dừng lại, đứng ngay ngắn ngay lằn ranh khắt khe nhất của định mệnh. Với tới nhau qua khoảng không gian xa vời ngàn dặm, mù tăm (156).

 

Nhưng tuổi vẫn chẳng tha người. Đó là khi người ta “Kên” với tuổi đời. Khi chợt nghĩ tới số 60, tôi nhắm mắt uống thêm ba hớp café một lúc…  Nếu café mà làm tan biến mất được cái số đáng sợ này, chiều nay tôi tình nguyện uống thêm vài ngàn ly nữa… 

Phản ứng với số 60 dễ ghét, tôi tiếp tục mặc jeans bó sát, áo trễ xuống thêm chút nữa và luôn đi giày cao gót… khua vang, vọng theo mỗi bước chân. Tôi cố gắng hết sức để nhìn như 50 hay trẻ hơn thế… (145).

Để rồi chợt nhận ra “thế gian hằng như mộng”:

Thiên hạ hay bàn về những điều bất biến, những bền bỉ trăm năm… tôi tính theo phút theo giây.

Những bóng những bọt của đời người (148).

 

Giật mình,

Ta

Chắc phải… yêu thôi.

(Liều mạng, 151).

 

Khi yêu thương và được yêu thương, tháng ngày như ngắn lại, tôi sợ đời sẽ hết, tôi sợ ngày sắp hết… Và chúng tôi hấp tấp vội vàng. Vội vàng nhưng… “tinh khiết”.

Một thứ “tình yêu hàm thụ”. 

Tôi về lại vị trí mình đang đứng, ngó mông ra cuối chân trời, thấy có những óng ánh của hai chữ “Đạo đức”. Với tôi, nó không chỉ phù phiếm mà rất nhiều khi mang ý nghĩa của những người Dại dột, không biết sống và chẳng bao giờ dám sống. (159). 

Thấy không, xổ lồng bay xa đâu có dễ.

 

Đứng mãi trong tranh

Đóng vai:

Góa phụ

Sáng nay ta

Ra với mặt trời

Như kẻ xa xôi về lại trái đất…

 

Rồi nhìn quanh quất, vội vã lại bước vào trong tranh:

 

… Diễn tiếp

Hỡi thế gian

Ta

Bỏ cuộc chơi.

(Đầu hàng,103).

 

Duyên chăng? Nghiệp chăng? Từ những ngày còn thơ đọc mà chẳng cần hiểu với Krishnamurti, Tagore, Khalil Gibran, Hermann Hesse… Những ngày lang thang phòng tranh, Pagode, Givral… Những ngày trốn học, cà phê góc phố, bỏ Lễ nhà thờ, canh giờ về muộn…

Những ngọn lửa nhỏ cứ ngún dần như thể đợi một cơn gió. Và gió đã bùng lên.

Bước vào trong tranh, có lúc như ngựa chứng, tóc bờm tung bay như phi nước đại, cổ vươn cao ngoằng hí vang, cho nên không ngạc nhiên khi tranh thiếu nữ của NĐ luôn kề bên một bóng ngựa phi đường xa dưới bóng trăng huyền hoặc lẫn bóng tối u mê giữa ngàn lá biếc.

Sự cách điệu không hài hòa làm cho gương mặt có sắc sáng như trăng, lại thêm chút bóng tối của u mê (11).

 

Lê Chiều Giang viết Không đứng mãi trong tranh có khi như thơ, có khi như nhạc, như họa. Giọng điệu đôi khi ngổ ngáo, khinh bạc, nhưng ẩn chứa bên trong là rụt rè, bẽn lẽn, đắn đo…

Cái đó làm cho Không đứng mãi trong tranh đáng đọc, để thấy thương hơn một nhan sắc, một tính cách, một số phận như dòng sông những buổi chiều về…

Chiều buông

Trên dòng sông cuốn mau…

……………………. 

Về đâu?

Bọt bèo tuôn khắp nơi…

 

Để rồi, nhận ra cõi vô lượng tâm:

“Bể sầu không nhiều, nhưng cũng đủ yêu…” 

(Chiều về trên sông, Phạm Duy)

 

(Đỗ Nghê. Saigon,12.2021)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (4.12.2021): Nhóm Học Phật, chùa Xá Lợi

04/12/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

(4.12.2021)

10 Năm, NHÓM HỌC PHẬT,

Chùa Phật học Xá Lợi Tp.HCM (Saigon).

Ngày này, 10 năm trước, nhóm bạn mình thường gặp nhau ở Chùa Xá Lợi Tp.HCM (Saigon) đã quyết định hình thành Nhóm Học Phật (NHP) để cùng chia sẻ, trao đổi, học Phật với nhau. Nhóm được Thầy Đồng Bổn hết sức ủng hộ và thậm chí nhường phòng của Thầy cho NHP sinh hoạt. Mỗi tuần chúng tôi gặp nhau vào buổi sáng Thứ tư, cùng trao đổi, tranh luận… sôi nổi những vấn đề Phật học, liên quan đến đời sống, đến tâm linh, đến những kinh nghiệm, phương cách tu tập. Nhóm chỉ có 10 thành viên, không mở rộng, có tính “chuyên sâu” một chút vì trong nhóm có người Hán học, người Pali, người triết, người y, người Nguyên thủy, người Đại thừa…

Thỉnh thoảng tổ chức những buổi dã ngoại, đi thăm nơi này nơi khác, để học hỏi thêm. Từ Huế đến Đà Nẵng, Hội An, Quảng Trị, Đồng Nai, Phan Thiết, Đà Lạt, Gò Công, Sa đéc, Đồng Tháp, Vũng Tàu, Bà Rịa…

Dự định nhân kỷ niệm 10 năm, ngày 4.12 này sẽ Họp mặt các thành viên NHP cho vui, cũng để rút kinh nghiệm nhưng tình hình dịch bệnh chưa cho phép…

Do vậy, mình gởi bạn bức thư viết cho Thầy Đồng Bổn, Trụ trì chùa Xá Lơi và chọn vài hình ảnh coi vui thôi nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

……………………………………………………

 

Nhóm Học Phật chùa Xá Lợi

Kính gởi Thầy Đồng Bổn, Trụ trì Chùa Xá Lợi Tp HCM,

Ngày 4.12.2021 là Ngày kỷ niệm 10 năm Nhóm Học Phật Chùa Xá Lợi sinh hoạt tại chùa trong suốt 10 năm qua, mỗi tuần một buổi vào sáng Thứ tư.

Giai đoạn đầu, Thầy đã nhường Phòng của Thầy cho Nhóm sinh hoạt,  và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhóm học tập. Tôi với tư cách Trưởng nhóm xin chân cảm ơn Thầy về nghĩa cử đó. Sau chúng tôi được chuyển về phòng sách của Thư viện chùa Xá Lợi một thời gian khá lâu, rồi về hẳn phòng Họp sinh hoạt học tập cho đến nay.

Nói chung, việc học rất nghiêm túc, thảo luận, tranh biện tự do, sôi nổi; học căn bản từ đầu với Tứ Diệu Đế, Tứ thập nhị chương, Bát đại nhân giác, Lý hoặc Luận (của Mâu Tử), rồi đến kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác, kinh Lăng Già…

Thành viên 10 người (không mở rộng) gồm Đỗ Hồng Ngọc, Trần Đình Sơn, Minh Ngọc, Trần Đức Hạ, Trần Phi Hùng, Tô Văn Thiện,Thanh Nguyên, Diệu Châu, Diệu Viên, Ngô Tiến Nhân… về sau thêm Huỳnh Đăng Khoa. Ngoài những buổi học tại Lớp, thỉnh thoảng tổ chức dã ngoại, thăm viếng các chùa chiền, giao lưu v.v… mở rộng thực tế.

Vài năm đầu, có tổ chức Kỷ niệm, và Thầy Đồng Bổn cũng đã đến tham dự vài lần, động viên mọi người, nhưng những năm sau này do bề bộn nhiều việc rồi dịch bệnh nên không tổ chức họp mặt kỷ niệm được.

Nay nhân kỷ niệm Ngày 10 năm Nhóm Học Phật hoạt động tại Chùa Xá Lợi, tôi viết Thư này thay mặt Anh Chị Em kính cảm ơn Sư Ông Hiển Tu, Thầy Đồng Bổn trụ trì, cùng toàn thể quý Thầy và nhân viên của chùa đã hỗ trợ Nhóm Học Phật trong suốt thời gian qua.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc,

 

—

Hòa Thượng Thích Đồng Bổn: 

Nhân ngày kỷ niệm đệ thập chu niên của Nhóm học Phật,

Chào Bác Ngọc,

Tôi thay lời HT viện chủ và chư tăng, kính chúc Bác và Nhóm học Phật luôn an lành trong sự chở che của Tam bảo Xá Lợi.

Chúc Bác Ngọc luôn dồi dào sức khỏe để dẫn dắt anh em cùng học Phật.

Kính,

Thích Đồng Bổn

…………………………………………………………..

 

 

 

 

 

 

 

—

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Uncategorized, Vài đoạn hồi ký

“BUÔNG”

29/11/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“BUÔNG”

                                    Kính tặng Thầy Thanh Từ, 98 tuổi

Thầy Thanh Từ và Đỗ Hồng Ngọc,
                   ( tại Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt, 2005 )

 

Tôi thỉnh thoảng có được những buổi trực tiếp gặp gỡ với riêng Thầy. Được gặp Thầy một mình như vậy, được trò chuyện trực tiếp với Thầy như vậy, tôi không chỉ học được những kiến giải sâu sắc của Thầy mà quan trọng hơn, còn học được cái “thân giáo”: ân cần, niềm nở, hết sức từ tốn, chân thành… của một bậc chân tu.

Một lần gặp Thầy ở Vũng Tàu, Thiền viện Chơn Không. Trưa hôm đó, thầy Thích Thông Thiền đưa tôi đến thăm Thầy, thầy đang bị đau khớp gối. Vì có buổi Pháp thoại với Phật tử ngay sau buổi nghỉ trưa nên tôi rút lui sớm. Một lần khác đến thăm Thầy ở Bệnh viện 115.  Bệnh viện không cho ai vào thăm nhưng tôi trong ngành nên được cho phép vào. Thầy vui, ân cần nắm lấy tay tôi. Lần khác nữa gặp Thầy cũng ở Chơn Không thì lần này Thầy đã ngồi xe lăn, còn nhận ra và nói ít tiếng. Tôi vẫn theo dõi tình hình sức khỏe Thầy qua các Thầy ở Thiền viện Thường Chiếu, đặc biệt với Thầy Thich Thông Hạnh…

Nhưng lần thăm Thầy ấn tượng nhất với tôi là gặp Thầy tại Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, cách đây đã 16 năm, cũng vào khoảng tháng này, trời hơi lạnh và có chút mưa. Tôi có hội thảo gì đó bên Y tế. Thầy vừa đi Hà nội về, húng hắng ho, cảm lạnh.

Khi tôi đến Thiền  viện thì cơn mưa vừa tạnh. Nắng vàng tỏa rực trên mặt Hồ Tuyền Lâm. Tôi không hẹn trước, chỉ đi cầu may. Có duyên thì gặp, không thì vô duyên vậy.

Người thị giả mở cổng tịnh xá nho nhỏ như một cái cốc, kiểu nhà sàn thấp, có một hòn đá rất lớn trước sân ghi 4 chữ: Chơn Tâm Vô Niệm.  Một con chó trắng to đang nằm thiu thỉu ở bậc tam cấp. Chú thị giả nói chó hiền lắm bác. Tôi bước vào chắp tay chào Thầy. Trông thấy thầy khỏe, sắc mặt tươi vui. Thầy choàng thêm áo khoác và nói vừa ở Hà Nội về, ngoài đó lạnh quá. Tôi hỏi thăm Thầy về sức khỏe, về chuyện ăn ngủ các thứ…  rồi quan sát chung quanh:  góc phòng có cặp tạ nhỏ, nặng khoảng 1ký, Thầy nói để tập tay; một đôi dép cỏ cỡ lớn, Thầy nói ngày ngày đi bộ một vòng quanh núi.

Dịp này tôi đang viết Gươm báu trao tay (về Kinh Kim Cang) nên được dịp hỏi Thầy cho rõ thêm vài chỗ như nghĩa của cụm từ “Như như bất động” và chuyện “dĩ sắc, dĩ âm thanh” để thấy Như Lai có phải là… hành tà đạo?

Tôi hỏi tảng đá to trước sân của Thầy thấy viết “Chơn Tâm Vô Niệm”, trong khi Lục tổ Huệ Năng chỉ nói “Vô Niệm” là đủ? Thầy cười, Ổng là Tổ, nói tắt vậy, còn mình phải nói rõ chớ. Thầy rất cởi mở, vui vẻ, hỏi đâu đáp đó nhanh nhẹn dù Thầy lúc đó cũng đã ngoài 80. Tôi lại hỏi về các tác phẩm xưa của thầy như “Lục diệu pháp môn” và  “Ba vấn đề trọng đại trong đời tu của tôi”… Thầy nói “Lục diệu pháp môn” dịch hồi còn trẻ (xưa rồi!). Tôi đề nghị thầy nên cho tái bản cuốn Ba Vấn Đề… vì rất cần cho giới trẻ hôm nay. Thầy có vẻ rất quan tâm.

Đã gần cả tiếng đồng hồ ngồi bên Thầy, tôi đứng dậy xá Thầy và nói: Nãy giờ học với Thầy nhiều quá rồi, giờ xin Thầy cho một chữ thôi trước khi ra về,

Thầy cười:

“BUÔNG”!

***

Tôi còn có được một bài học khác từ một bài thơ rất ngắn của Thầy: MỘNG.

Bài thơ này thầy viết năm 1980, thấy dán trên cột Thiền viện Chơn Không ở Vũng Tàu:

 

Mộng

Gá thân mộng,

Dạo cảnh mộng.

Mộng tan rồi,

Cười vỡ mộng.

Ghi lời mộng,

Nhắn khách mộng.

Biết được mộng,

Tỉnh cơn mộng.

 

(Thiền viện Chơn Không, tháng 7. 1980)

 

Gá là gán, là gắn, là ghép… tạm bợ vậy thôi.

Thân là ngũ uẩn, năm thành tố với sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Gắn gán ghép tạm bợ mấy thứ đó vào đâu? Vào mộng.

Gá Thân Mộng.

Mộng là ảo, là không thực. Đã gán, ghép tạm bợ, lại đặt vào chỗ không thực nữa  thì tội nghiệp quá! Nhưng để làm gì? Để múa may quay cuồng, tự tạo bao cảnh khổ đau… cho đáng kiếp!

Chịu không chịu cũng phải chịu. “Nó vậy đó”!

Như một đứa bé lắp ghép trò chơi puzzle với mấy mảnh carton tạo ra người này người nọ, con thú này thú kia, phố xá xe cộ lâu đài, rồi xóa đi, rồi lắp ghép lại ra trăm ngàn thứ đồ chơi… trong chớp mắt.

 

Thân đã vậy rồi lại Dạo trong cảnh mộng nữa thì thật đáng tức cười.

Cảnh là thanh, hương, vị, xúc, pháp,  những cái tưởng ở bên ngoài kia thực ra cũng là mộng. Nó không có thực. Nó do tâm tạo ra.

Không dễ mà ý thức được điều đó. Đấu đá tranh giành hơn thua vinh nhục trong cảnh mộng đó mà nào có biết. Khi giật mình tỉnh dậy thì nồi kê chưa chín.

Mộng tan rồi.

Đành cười thôi. Cười vỡ mộng.

Cười một mình. Nụ cười tủm tỉm của Phật chính bởi sự thấy biết đó.

Khi Phật giơ cành hoa sen lên, ai nấy đều trầm tư suy nghĩ, chỉ có lão Ca Diếp tủm tỉm cười, Phật bèn truyền ngay “Chánh pháp nhãn tạng” cho ông.

Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, rồi tủm tỉm cười một mình thôi sao? Không.

Đó là lý do vì sao Phật rời khỏi cội Bồ đề, lang thang xuống núi.

Và vì thế bài thơ có phần thứ hai:

Ghi lời mộng.

Nhưng Ghi lời mộng mà không khéo thì người ta lại tưởng thiệt, bám vào câu chữ, vào lý thuyết suông.

Nên phải Nhắn khách mộng. Nhắn là chỉ vẽ, là khuyến khích thực hành, phải trải nghiệm tự thân. Có vậy mới mong Biết mà Tỉnh ra.

Biết được mộng.

Tỉnh cơn mộng.

Tỉnh cơn mộng chính là BUÔNG đó vậy!

Tôi thấy ở đây rất rõ tấm lòng của một vị Bồ Tát, thực hiện theo con đường 10 Hạnh nguyện Phổ Hiền.

 

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, tháng 10-2021)

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Lõm bõm học Phật, Vài đoạn hồi ký

“Đêm thơm như một dòng sữa…”

25/11/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

“Đêm thơm như một dòng sữa…”

(ĐÊM, thi tập Khánh Minh, tháng 11, 2021)

 

Đỗ Hồng Ngọc

Bỗng dưng nhớ Đêm thơm như một dòng sữa của Phạm Duy (Dạ lai hương) khi nhận được Thi tập ĐÊM của Nguyễn Thị Khánh Minh.

Hiu hiu hương tự ngàn xa
Bỗng quay về dạt dào trên hè ngoài trời khuya…

 

Đêm đâu là chốn quê nhà

Trăng ngõ nhà ta xưa

Gần hơn trăng nơi này

Mộng hơn trăng nơi này

Nên trăng vàng khắp ngõ

Hỏi trăng gần, trăng xa

Đâu là chốn quê nhà…

 

Tìm trong đêm, mây trắng

 Hỏi xem nhà ta đâu

Đêm cúi nhìn im lặng 

 

Đêm guốc mùa đi tất tả

Năm tháng năm buồn thủ thỉ

Hằn vai quang gánh nỗi niềm

Tiếng guốc vẹt mòn kiệt phố

Lắng vào đêm tiếng chân quen

Năm tháng năm buồn lựng chín

Lời ru hồn phố chắt chiu

Tiếng guốc mùa đi tất tả

Hội An thức ngủ về theo

… lục tàu xá… lục tàu xá…

 

Bỗng nhớ “Hội An đêm” của Đỗ Nghê:

Hội An đêm

Bập bềnh cơn sóng dợn

Nghìn lồng mắt chao nghiêng

Những linh hồn thức dậy

Thở cùng Hội An đêm 

(ĐN)

 

Đêm hai nửa điệu cong

Trăng trên kia

Một đường cong sáng

Nếu xóa đi không gian

Sẽ có được một vòng tròn đâu lại

Tôi và trăng

Hai nửa điệu cong

Mềm mại.

 

Thân đêm nồng nắng ủ

Mật ngọt. Lừ chiêm bao

Một giây bừng vĩnh cửu

Thầm thì, tan trong nhau…

Gợn lên từ hơi ấm

Tận cùng. Dâng hiến đất

Cúi xuống. Bao la trời

Trao nhau. Đêm diệu mật..

 

Chàng mở mắt

Và trái đất có bình minh

Nàng hỏi bằng ánh mắt thơ ngây nhất

Và đêm có đêm rằm 

Trong phút giây hạnh phúc 

Nàng nhắm mắt

Và. Đêm. Trăng mật

 

Đêm tiếng bước thời gian

Đêm qua anh cùng em

Dặm đường nghe gió biếc

Đêm nay em nhìn lên

Thấy một vầng trăng khuyết

 

Nhớ chuyện kể hình như của Tagore: người chồng có chuyến buôn xa, từ biệt vợ, nàng âu yếm đôi lần bảy lượt dặn đừng quên lúc về mua cho nàng một tấm gương tròn sáng như vầng trăng vành vạnh kia. Ngày về, chàng nhìn lên trăng, thấy một vầng trăng lưỡi liềm cong vút, vội vã mua một chiếc lược ngà…

Lại nhớ Trịnh: “Em đi qua chuyến đò, ối a con trăng còn trẻ/ Con sông đâu có ngờ, ngày kia trăng sẽ già” (Biết đâu nguồn cội).

Một nhà thơ nữ lẽ nào “đâu có ngờ” như con sông kia nhỉ?

 

Đêm rộn lòng dâu bể

Không rộn lòng dâu bể

Tỉnh thủy vô ba đào

Nếu mà không hạt lệ

Thử tâm chung bất dao…*

Nếu mà không trăng sáng

Làm sao nối xưa sau…

Cho nên Đêm Nguyễn Thị Khánh Minh đầy “rộn lòng dâu bể”, đầy hạt lệ yêu thương, cha mẹ, vợ chồng, bè bạn… quê hương xứ sở, dịch bệnh, phân ly, kỳ thị, ngăn cách, xót xa, giấc mơ em nhỏ châu Phi, giấc mơ em nhỏ Việt…

Ở Khánh Minh, thơ không chỉ là thơ mà còn là tiếng nói, còn là hạt lệ… còn là vòng tay, còn là hơi ấm từ trái tim biết đau xót nỗi đau chung:

Người đem theo nụ cười

Đi vào những biên giới

Những biên giới đôi co

Những biên giới gào thét

Bỗng nhận ra mình

Những phân chia hổ thẹn

 

Để rồi:

Nhìn trời. Thấy cái đồng không

Hét to. Lại thấy nỗi mông quạnh ngày

Sao tự nhiên đứng ở đây?

Một nơi rất lạ, cõi không nụ cười

Ngây ngô họ xúm gần tôi

Chỉ trỏ vào nụ tôi cười, ngạc nhiên

Quệt vào tôi những ánh nhìn

Hỏi tôi hạt nước mắt tìm ở đâu

Thưa, tôi nhặt ở tim đau..

 

Rồi quay về chính mình:

Soi gương thảng thốt mặt mày

Mở hai con mắt không đầy được tôi

Thốt lên ngọng nghịu những lời

Bóng trong gương hỏi, tiếng người đó chăng?

 

Đêm trái tim diệu mật

Nghe gió thỉnh hồi chuông

Từ trái tim diệu mật

Chắt chiu tâm Phật

Chuông giờ lành

Trái đất đầu thai

 

Trong thơ Khánh Minh, ngọn cỏ với Ta là một, cùng uống ánh mặt trời, cùng tỏa ngát hương thơm, cùng rúng động vì tiếng chuông chùa trên núi xa kia để hòa vào  vũ trụ mênh mông không còn phân biệt bởi căn-trần-thức nữa!

 

Cỏ nhé. Ta nằm xuống

Cỏ nhé. Ta cùng uống

Vô lượng ánh mặt trời

 

Cỏ nhé. Ta đầy hương

Của nồng nàn thơm giấc

Đưa nhau đến ngọn nguồn…

 

Không thể không nhớ lữ khách nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San làm xao động giấc mơ…

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

[Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San]

(Phong Kiều Dạ bạc, Trương Kế)

 

***

Đêm thơm không phải từ hoa

Lung linh trăng lại về nữa

Cánh gió đưa hương ngả đầu mây phất phơ…

Đêm thơm không phải từ hoa

Mà bởi vì ta thiết tha tình yêu Thái Hoà…

(Dạ lai hương, Phạm Duy)

 

Phải, “mà bởi vì ta thiết tha tình yêu Thái Hoà…” đó vậy./.

ĐHN,

Saigon 24.11.2021)

……………………………………………….

(*) Ý đạo, Nguyễn Du

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Đọc sách

Nguyễn Thị Khánh Minh: LAGI NGÀY CON VỀ

10/11/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

LAGI NGÀY CON VỀ

Thơ NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

(trang 48, Tập Thơ ĐÊM vừa phát hành 11.2021)

                                      Kính tặng Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc

 

 

Có mùa xuân theo con về trước ngõ

Gọi Mẹ ơi. Hàng giấy đỏ xôn xao

Then cổng gỗ từ lâu rồi chưa mở

Trời Lagi mừng vội một câu chào

 

Có thời gian theo con về tung cửa

Hiên nhà xưa kỷ niệm mọc xanh um

Cội xoài vắng. Mầm cây khô nói mớ:

Ai về kia. Lẫn bóng mẹ mùa xuân…

 

Vâng thưa Mẹ. Con về reo tuổi nhỏ

Lòng ấu thơ khua giấc nắng chiêm bao

Hương xoài non khan giọng nhớ cồn cào

Gầy dáng Mẹ. Bên thềm hong tóc gió

 

 

Con ngồi đây. Một vuông sân lặng lẽ

Ôi nón quen. Mẹ cài đó. Thiu thiu

Nón mồ côi lâu rồi hương tóc Mẹ

Con mồ côi. Đường viễn xứ liêu xiêu

 

Nghe rất khẽ. Nghe như mơ. Tiếng chổi

Xào theo chân. Bóng mẹ mỏng như mây

Vườn thức giấc. Hồn tinh sương mẹ gọi

Chuồn chuồn bay về. Mưa trổ trên cây

 

Vâng thưa Mẹ. Bếp nhà vừa cơi lửa

Cơm chiều ngon thơm lúa vụ mùa tươi

Mai mẹ về. Về với Ngoại xa xôi

Chiếc nón lá Mẹ cứ cài trên cửa

 

Là cột mốc nhắc con. Đường xa ngái

Đất Lagi cát mặn biển theo chân

Mai con đi. Khép cổng nhẹ như thầm

Hàng giấy đỏ lại một mình. Ở lại…

1.2017

(Cảm xúc khi nhìn hình căn nhà cũ ở LaGi của Mẹ anh Đỗ Hồng

Ngọc).

 

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư Cao Huy Thuần gởi Đỗ Hồng Ngọc

04/11/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư Cao Huy Thuần gởi Đỗ Hồng Ngọc

GS Cao Huy Thuần ký tặng sách cho độc giả.

Anh Đỗ,

Thư anh đến trong lúc tôi đang đọc quyển sách của Mark Epstein, nhan đề là “Advice not given”. Đây là quyển sách thứ ba của cùng tác giả mà tôi đọc, toàn là xếp vào hạng best-sellers ở Mỹ. Epstein là bác sĩ tâm thần nổi tiếng. Nổi tiếng vì là thầy thuốc giỏi. Và nổi tiếng là nhà Phật học uyên thâm. Có gì lạ đâu, phải không anh Đỗ? Đức Phật của chúng ta đã chẳng là thầy thuốc đó sao! Lặn lội trong chuyên môn phân tâm học với Freud, với Jung, ông chợt thấy đức Phật, ông lặn lội qua Tây Tạng “học Phật”, học cả với các danh sư ở Mỹ, và ông đem đạo Phật áp dụng vào chuyên môn của ông, rốt cuộc ông nổi tiếng cả hai, cả cách trị liệu tâm thần, cả tư tưởng Phật giáo. Ông sống với đạo Phật trong chuyên môn, ông sống với đạo Phật trong đời thường, càng sống ông càng hiểu thêm đạo Phật, ông đem hiểu biết đó vun trồng trên đất Mỹ cho hợp với thủy thổ xa lạ, và đạo Phật bây giờ sáng trên thủy thổ ấy, anh Đỗ à, tôi cho rằng đích thị hai chữ “học Phật” là như vậy.

Hay thật, anh đâu có biết ông ấy, ông ấy đâu có biết anh, vậy mà tay trong tay, anh đi cùng đường và cùng “học Phật” như thế. Lý tưởng, hành động, cuộc đời, cao đẹp thay là ông thầy thuốc tương chao!

Anh Đỗ, bây giờ tôi hỏi anh câu này nhé, vì anh với tôi đều đã đọc “Tổng Quan về Nghiệp” của Thầy Tuệ Sỹ: Anh “học Phật” trước hay học Y trước? Chắc anh sẽ trả lời: hiển nhiên là học Y. Nhưng mà, nghĩ thêm chút nữa, cái gì xúi anh học Y? Cái gì xúi anh thích Y? Cái gì xúi anh thành ông bác sĩ như thế, lúi húi hành nghề rồi lúi húi dùi mài kinh kệ? “Cái đó”, tôi chắc là anh có trước khi học Y. “Cái đó”, tôi cũng chắc là ông Epstein có trước khi thành danh với bác sĩ tâm thần. “Cái đó”, chính là cái xúi anh đến với Phật mà anh không biết đó thôi, anh đến với Phật trước khi học Y. Anh “học Phật” từ lâu rồi, từ kiếp nảo kiếp nao, để bây giờ thành danh với… Đỗ Hồng Ngọc. Cho nên tôi nói: “Tiên học Phật, hậu học…”. Hậu học cái gì cũng được, cái gì cũng thành danh, ít nhất là thành danh con người.

Nhưng tôi chưa nói hết: anh đâu phải chỉ là ông thầy thuốc, cái danh của Đỗ Hồng Ngọc còn là con người thơ. Cũng vậy, tôi cũng lấy từ “Tổng Quan…” mà ra: thơ đến với anh từ trước khi anh làm thơ. Thơ là tiếng nói trong tận cùng thâm cung bí sử của tư tưởng. Cái gì mà tư tưởng không nói nên lời được thì phải diễn tả bằng thơ. Thơ đời Lý đời Trần là như vậy. Và thơ đó, chắc anh đã đọc không phải chỉ ở trong kiếp này. Cho nên bây giờ hồn anh nhập vào thơ của Thầy Tuệ Sỹ. Cho nên bây giờ anh thấy Phật trong thơ. Cho nên bây giờ một tay anh bốc thuốc, một tay anh viết thơ, thuốc thơm mùi thơ, thơ thơm mùi thuốc.

Còn có chuyện này nữa, hơi khó nói. Tôi thấy thấp thoáng có một người thứ ba nữa nấp sau hai con người kia. Thấp thoáng thôi, đây đó, kín đáo, chỉ nghe tiếng cười cười, tinh tế lắm mới nghe. Chẳng hạn khi anh nói chuyện ngồi thiền. Tất cả đều nghiêm trang, tôi chỉ trích mấy câu cuối:

Hơi thở xẹp xì

                             Thân tâm an tịnh

                             Không còn ý tưởng

                             Chẳng có thời gian

                             Hạt bụi lang thang

                             Dính vào hơi thở

                             Duyên sinh vô ngã

                             Ngủ uẩn giai không

                             Từ đó thong dong

                             Thõng tay vào chợ.

Rất nghiêm chỉnh, kể cả lúc anh vô chợ mà chẳng để mua gì, vì hai tay thõng thế kia thì làm thế nào móc túi lấy tiền? Thế rồi anh cắt nghĩa: “Mặt hồ tĩnh lặng thì không cần ghi bóng con hạc bay qua, không cần biết hạc vàng hay hạc đỏ, hạc trống hay hạc mái…” Ối giời, hạc vàng thì chỉ bay trên lầu Hoàng Hạc trong thơ Đường, đâu có bay trên mặt hồ Sài Gòn hay Phan Thiết? Bạn tôi nhầm với con vạc “như cánh vạc bay” rồi chăng? Không phải đâu. Nhà thơ nghĩ ra hai chữ “trống mái” rồi nhà thơ khoái chí vừa hạ bút vừa cười cười, hạc hay vạc thì có gì đáng quan tâm?. Ấy là bụng để ngoài da, con người thứ ba “anh linh phát tiết ra ngoài” đấy nhé. Có ai đa tài mà chẳng đa… tình?

Tôi “học Phật”, ngồi thiền với anh, thỉnh thoảng thấy tâm có hơi lộn xộn như thế, chắc anh cũng cười cười mà thông cảm nhau. Nhưng, nói nghiêm chỉnh nhé, con người thứ ba là cái duyên của anh. Chữ nghĩa mà không có duyên thì buồn lắm. Cho nên thỉnh thoảng anh cứ cho anh chàng thứ ba ấy cười cười một chút như thế, và mọi người sẽ cùng vui mà “học Phật” với anh.

Thân mến,

Cao Huy Thuần

(Oct 29, 2021)

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Nói thêm về Phương pháp Thở Bụng

01/11/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Nói thêm về Phương pháp Thở Bụng

Ghi chú:  Một bạn trẻ vừa có thư hỏi trong Thiền tập có phải thở bụng không? Có chứ. Vì thở bụng là cách thở sinh lý tự nhiên mà. Không chỉ con người mà con ếch, con cóc, thằn lằn, rắn mối… gì cũng thở bằng bụng cả. Do đó, trong Thiền tập cũng phải thở bụng chứ. Lúc đầu dõi theo từng nhịp thở vào thở ra, thậm chí đếm… (chánh niệm), khi đã điều hòa thì không còn cần dõi theo hơi thở nữa, mà bắt đầu “quán sát”; ở giai đoạn thiền sâu hơn thì không còn cảm nhận có hơi thở nữa…   (ĐHN)

 

Nói thêm về Phương pháp Thở Bụng

(Abdominal -or diaphragmatic- breathing)

Nguyễn Khắc Viện là một bác sĩ, sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học Đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phồi nặng, điều trị ở bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó bệnh lao chưa có thuốc chữa như bây giờ. Từ năm 1943 đến năm 1948 ông phải chịu mổ 7 lần, cắt bỏ 8 cái xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái.  Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống chừng hai năm nữa thôi. Trong thời gian nằm chờ chết, ông đã tìm ra một phương pháp… thở để tự chữa bệnh cho mình, và kết quả là ông đã sống đến tuổi 84 mới chết (1997), nghĩa là sống thêm được 50 năm nữa, họat động tích cực, năng nổ trong nhiều lãnh vực! Chuyện khó tin nhưng có thật!

Tôi may mắn được quen biết  ông trong nhiều năm. Với tôi, ông vừa là đồng nghiệp, là đàn anh mà cũng là người thầy.  Ông là bác sĩ đồng thời là một nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội rất nhiệt tâm.  Ông là cố vấn của bộ môn Tâm lý-Xã hội học do tôi phụ trách tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ Y tế Thành phố (nay là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) ngay từ hồi mới thành lập (1989).  Ông thường trao đổi với tôi điều này điều khác, về công việc viết lách, giảng dạy, và nhiều lần về phương pháp thở dưỡng sinh của ông. Trao đổi không chỉ về cơ thể học, sinh lý học mà cả về tâm lý học, đạo học.  Có lần ông mở áo cho tôi xem mấy vết mổ vẫn chưa hoàn toàn liền lạc trên ngực ông. Tôi phục ông ốm nhom ốm nhách mà làm việc thật dẻo dai, bền bĩ, gần như không biết mệt mỏi. Trong lúc nhiều người giảng bài, nói chuyện, hội họp, làm việc… thấy uể oải, hụt hơi, thì một người chỉ còn hai phần ba lá phổi, chỉ còn gần một nửa “dung tích sống” như ông lại vẫn ung dung, thư thái. Ong cười “tiết lộ” với tôi, những buổi hội họp dông dài, vô bổ, ông chỉ ngồi… thở bụng, nhờ vậy mà ông không bị stress, không bị mệt.  Ông nói sau này khi ông mất đi, điều quan trọng ông để lại không phải là những tác phẩm văn học, triết học này nọ mà chính là bài vè dạy thở chỉ với 12 câu của ông. Trước kia tôi cũng chỉ nghe để mà nghe chớ chẳng thực hành. Cho đến khi tôi bị cơn tai biến nặng (1997),  phải nằm viện dài ngay, lúc đó tôi mới thử đem ra áp dụng. Quả có điều kỳ diệu! Nó làm cho tôi thảnh thơi hơn, ít  nhọc mệt hơn và sức khỏe tốt hơn.  Trong thời gian dưỡng bệnh, các bạn đồng nghiệp thương tình, cho rất nhiều thuốc nhưng tôi chỉ chọn một vài món thực sự cần thiết còn thì chỉ… dùng phương pháp thở bụng để tự chữa bệnh cho mình! Phương pháp thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thực ra không phải là cái gì hoàn toàn mới. Nó chỉ là một sự tổng hợp của khí công, thiền, yoga, tài chí, dưỡng sinh…  của Đông phương từ ngàn xưa, được nhìn bằng sinh lý học hô hấp hiện đại của một người thầy thuốc.

Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện:

Thót bụng thở ra
Phình bụng thở vào
Hai vai bất động
Chân tay thả lỏng
Êm chậm sâu đều
Tập trung theo dõi
Luồng ra luồng vào
Bình thường qua mũi
Khi gấp qua mồm
Đứng ngồi hay nằm
Ở đâu cũng được
Lúc nào cũng được!

Nhiều độc giả viết thư, gởi email, điện thọai hỏi thêm về Phương pháp Thở Bụng này. Có người bảo sau 2 tháng “tập luyện” đã  thấy có kết quả tốt, dễ ăn, dễ ngủ, bớt căng thẳng và sảng khoái hơn, sức khỏe có tốt hơn, ít bệnh vặt hơn; có người hỏi cụ thể phải tập ngày mấy lần, mỗi lần mấy phút; có người hỏi phải ngồi ở tư thế nào v.v..  Một độc giả ở tận Hà Tiên, nói nhờ đã thử tập thở 2 tháng nay thấy khỏe hơn, nhưng sao mỗi lần tập chừng nửa giờ thì thấy choáng váng, tê rần, phải nghỉ 5 phút mới hết…

 

Trước hết cần nhớ rằng thở là chuyện bình thường. Ai cũng phải thở, lúc nào cũng phải thở và ở đâu cũng phải thở, nên đâu có cần phải có giờ giấc, tư thế nọ kia? Thực ra, thở bụng là cách thở sinh lý, tự nhiên nhất, trời sinh ra đã vậy rồi, không cần phải tập luyện gì cả!

Cứ quan sát  một bé đang ngủ ngon lành thì biết: Nó thở đều đều, nhẹ nhàng, và… thở bằng cái bụng! Chỉ có cái bụng nó là phình lên xẹp xuống thôi. Thở bụng là cách thở tự nhiên  không chỉ của người mà của…mọi loài. Thử quan sát con thằn lằn, con cắc kè., con ễnh ương… thì biết. Nó thở bằng bụng. Chỉ có cái bụng nó là phình ra xẹp vào đều đều thôi. Ấy là do cơ hoành (hoành cách mô) là cơ chính của hệ hô hấp. Chỉ cần cơ hoành nhích lên nhích xuống chút xíu là đã đủ cung cấp khí cho cơ thể rồi. Khi mệt, cần nhiều oxy hơn thì cơ hoành sẽ “thụt” mạnh hơn, nhanh hơn thế thôi. Tóm lại, nhớ rằng thở bụng là thở theo sinh lý, tự nhiên, không cần phải “tập luyện” vất vả gì cả, không cần phải giờ giấc, tư thế gì cả! “Ở đâu cũng đựơc/ Lúc nào cũng đựơc” là vậy.

Thứ hai là không nên ráng sức, gắng sức. Chỉ cần chuyên cần, kiên nhẫn để tạo thành thói quen tốt thế thôi. Ráng sức, muốn cho mau thành công thì sẽ dẫn đến … thất bại vì choáng váng, chóng mặt, tê rần… Tại sao vậy? Tại vì đã ráng sức, cố ép, thì sẽ gây rối lọan sự điều hoà tự nhiên của cơ thể. Cho nên người “ham” quá, ráng “luyện công” quá, dễ bị “tẩu hỏa nhập ma”! Ta thở bụng là để có sức khỏe, không phải để luyện nội công, để trở thành “chưởng môn” của một phái võ nào đâu! Người có tuổi, người bệnh mạn tính càng không nên ráng.  Nhưng phải kiên trì,  như đã nói, phải chừng sáu tháng mới quen, mới thấy hiệu quả. Nếu đang chữa bệnh nào đó ( tăng huyết áp, tiểu đừơng…) thì vẫn phải dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.. Thở bụng cũng như ăn uống, vận động đúng cách sẽ giúp cho việc điều trị hiệu quả hơn.

Thứ ba, nếu luôn nhớ mình đang thở, thì theo dõi luồng hơi thở ra, hơi thở vào sẽ rất tốt. Chưa quen thì đặt bàn tay lên bụng, thấy bàn tay mình nhích lên nhích xuống theo từng nhịp thở là đựọc. Lâu nay ta thở một cách phản xạ, vô thức, nếu ta thở mà có ý thức, biết mình đang thở, dõi theo nó thì sẽ giúp ta… quên các thứ chuyện lăng xăng bên ngoài, giúp tâm ta được tĩnh lặng. Tâm mà lăng xăng, dao động, nhiều ưu phiền, giận dữ… sẽ tiêu hao rất nhiều năng lượng, làm ta kiệt sức, “thở không ra hơi”!

Câu “êm, chậm, sâu, đều” trong bài vè chưa cần phải tập. Còn lâu mới “êm chậm sâu đều” được! Cứ thở tự nhiên, vì không phải “luyện công” mà! Có người hỏi nên thở bằng mũi hay bằng miệng, vì có người khuyên phải hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng? Mũi dùng để thở. Không khí qua mũi sẽ được sưởi ấm, bụi bậm… sẽ bị lông mũi chặn lại. Do vậy nên thở bằng mũi tốt hơn, trừ phi quá mệt (leo leo cầu thang, chạy bộ…) hoặc bệnh, hoặc luyện khí công…

«Thót bụng thở ra» được nói đến đầu tiên vì thở ra quan trọng hơn ta tưởng. Thở ra giúp làm sạch các hốc phổi, đáy phổi, nơi khí dơ dễ đọng lại. Đặc biệt, với những người bị suyễn, bị bệnh phổi tắt nghẽn mạn tính (COPD) càng cần tập luyện thì thở ra.

Khi thai nhi còn trong bụng mẹ, hai lá phổi là một khối đặc, im lìm, không hoạt động, như chiếc dù xếp chặt trên lưng vận động viên. Khi người nhảy dù tung mình ra khỏi phi cơ thì dù mới tự động bung ra, bọc gió. Đứa bé “tung mình” ra khỏi lòng mẹ, hai lá phổi cũng bung ra như vậy do không khí tự động lùa vào, đó chính là hơi thở vào đầu tiên. Tiếng khóc chào đời lúc đó chính là hơi thở ra đầu tiên của bé chứng tỏ hệ hô hấp đã được “lắp đặt” xong, đã khởi động tốt…

Sự hô hấp thực chất xảy ra trên từng tế bào của cơ thể chớ không phải ở hai lá phổi. Phổi chỉ là một cái máy bơm, bơm khí vào-ra, “phình xẹp” vậy thôi. Để cho cái máy bơm đó làm việc tốt thì cần biết một chút về “cơ chế” của nó. Lồng ngực là cái xy-lanh (cylindre), còn pít-tông (piston) chính là cơ hoành – một bắp cơ lớn, nằm vắt ngang giữa bụng và ngực. Khi cơ hoành thụt lên thụt xuống (như cái bễ lò rèn) thì khí được hút vào đẩy ra ở phổi. Cơ hoành nhích lên nhích xuống 1cm đã hút hoặc đẩy được 250ml không khí. Cơ hoành có khả năng nhích lên xuống đến 7cm! Tóm lại, chính cơ hoành ở bụng mới là cơ hô hấp chính, đảm trách hơn 80% sự thông khí (Các cơ hô hấp khác chỉ chịu tránh nhiệm 20%). Do đó, thở bụng là cách thở sinh lý nhất, tự nhiên nhất!

Bác sĩ Dean Ornish, tác giả cuốn sách nổi tiếng Program for Reversing Heart Disease (Chương trình phục hồi bệnh tim) hướng dẫn cách thở bụng đơn giản, dễ làm: đặt một bàn tay lên bụng, khi thở vào thở ra, ta thấy bàn tay mình nhích lên nhích xuống nhịp nhàng là được.

Ngày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy thiền, khí công, yoga… để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy cách thở bụng. Các phương pháp trị liệu nổi tiếng của các bác sĩ như Dean Ornish, Deepak Chopra v.v… căn bản cũng không ngoài cách… thở bụng, phối hợp với dinh dưỡng, vận động thể lực.

Phương pháp thở bụng (Abdominal -or diaphragmatic- breathing) không chỉ giúp để chữa một số bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa… mà còn làm cho tâm được an, giảm stress trong cuộc sống hiện tại. Phải luyện tập chừng sáu tháng trở lên mới thành thói quen và thấy hiệu quả.

BS Đỗ Hồng Ngọc.

………………………………………………..

Đọc thêm: AI CÓ THỂ THỞ GIÙM AI?

Ai có thể thở giùm ai?

Thuộc chủ đề:Gươm báu trao tay, Hỏi đáp, Thiền và Sức khỏe

ĐHN: Nhân đọc sách Tổng Quan Về Nghiệp của thầy Tuệ Sỹ

25/10/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Ngoài Hư Không Có Dấu Chim Bay?

Đỗ Hồng Ngọc

(Nhân đọc sách Tổng Quan Về Nghiệp của thầy Tuệ Sỹ) (i)

Có hay không có Nghiệp? Có hay không có Tự ngã? Có hay không có Thời gian? Có hay không có một Linh hồn? Thật là những câu hỏi choáng váng đặt ra trong cuốn sách “Tổng Quan Về Nghiệp” của Thầy Tuệ Sỹ do Hội Đồng Hoằng Pháp xuất bản năm 2021.

Nghiệp, là kinh nghiệm được tích lũy và tồn tại trong nhiều đời sống. Không có thời gian, không có ký ức thì lấy đâu cho nghiệp vận hành, tạo tác, lưu trữ, lưu xuất, dị thục, nhân quả? (ii)

Có thực không có nhiều đời sống? Một đời trước và đời sau – những đời sau- để cho ký ức gợi lại, nhân quả. Bằng chứng đâu?

Nhưng, nếu hỏi tôi tin không? Tôi tin. Tại sao tin? Không biết! Phải chăng, thỉnh thoảng ta gặp một người nào đó thấy như đã từng hẹn nhau từ muôn kiếp trước, hay một nơi chốn thấy như về mái nhà xưa?

Ký ức được lưu trữ ở đâu để tạo thành Nghiệp?

Khoa học não bộ trả lời: ở hippocampus (hồi hải mã) trong não, cùng với thể viền, lưu giữ ký ức, chịu trách nhiệm cả cảm xúc lẫn hành vi, nhờ nhu nhuyến của các synapse (điểm tiếp hợp thần kinh).  Thế nhưng, khi thân này tan rã, hippocampus và toàn bộ thể viền của não bộ cũng không còn, ký ức được tàng trữ trong thân vật lý này cũng biến mất theo. Phải chăng “ngoài cơ chế vật lý của ký ức, còn có sự tham gia của một yếu tố phi vật chất, không nhất thiết là ý thức, để lấy đó làm cơ sở tiếp cận đến vấn đề nghiệp tích lũy, cho đến trong đời sau được xử lý để cho quả dị thục của nó”?

Có Tự ngã không?

Đức Phật dạy: Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ. Phật giáo không cho có cái gọi là Tự ngã, tiểu ngã, đại ngã, linh hồn, nhưng tin có “Nghiệp mang theo” để “trả quả”. Cái gì mang Nghiệp theo? Thần thức tái sinh, luân hồi?

Nhà khoa học bảo: “Có design nhưng không có designer”. Não bộ là một hệ thống được phân bố rất cao trong đó nhiều chức năng xuất hiện đồng thời và không có điều phối viên.

Không có designer, không có điều phối viên? Nhưng sao chim bồ câu thì cứ bay ngàn dặm về đưa thư, cá hồi cứ bốn năm lại quay về chốn cũ để sinh đẻ rồi chết? Ngày nay, sinh vật từ hạt đậu đến chuột bọ, khỉ vượn… cũng được can thiệp vào gène để tạo ra những “dị thục” những “quả” bất ngờ, gọi là transgenic.

“Je pense, donc je suis – Tôi tư duy, nên tôi tồn tại” (Descartes). Vậy tôi không tư duy, thì không… có tôi? Phải chăng “vô niệm” thì vô ngã?

Ta cũng có thể nói đơn giản hơn: “Tôi thở, vậy có tôi”. Nghĩa là nếu tôi không thở thì không có tôi. Nhưng cái thời tôi còn trong bụng mẹ, tôi cũng không thở mà vẫn có tôi đó thôi. Từ đó, suy ra rằng cái thời tôi… hết thở, ngừng thở, thì tôi vẫn còn đó chứ, sao không?  Tôi lúc đó cũng lại ở trong bào thai Mẹ (bào thai Như Lai) chứ? Tôi mới phải mang nghiệp theo để trả quả chứ? “Thường, Lạc, Ngã, Tịnh” ở đây chứ không chỉ Vô thường, Khổ, Vô ngã, Bất tịnh…

Rồi có cái gọi là Thời gian để cho Nghiệp vận hành không? Tính thể của thời gian là gì? Thời gian được tri giác bằng giác quan nào?

Câu trả lời là chính ta đã tạo ra thời gian cho mình. Thành ngữ kālaṃ karoti, “nó tạo tác thời gian”, nghĩa là nó chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người. Thời kinh nói: “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại”. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Kāla cũng được hiểu là do gốc động từ kal (kalayati) thúc giục, hối thúc, thường trực, sự chết đang hối thúc ta.

Tồn tại trong quá khứ và vị lai là những thực thể vi tế, ẩn áo, không phải tri giác thường nghiệm mà có thể bắt nắm được.

Nhưng với “Thuyết Tương Đối Rộng” ngày nay, ta biết thời gian sẽ chảy chậm trong con tàu vũ trụ chạy nhanh. Với một vận tốc nào đó thời gian đứng lại. Cho nên Từ Thức lạc động Thiên thai là chuyện có thực.

Có một sự gọi là Luân hồi không để nghiệp vận hành? Câu trả lời là có một “nguyên lý tồn tại” mà không phải hồn jīva hay ātman. Nguyên lý đó nói: có nghiệp, có dị thục của nghiệp, nhưng không có tác giả và thọ giả. Đây là một nguyên lý cực kỳ nghịch lý.

Nhưng may thay, các nhà Duy thức chứng minh được sự tồn tại của thức a-lại-da, hy vọng giải quyết được vấn đề nghiệp-dị thục và chủ thể luân hồi.

“Trong kinh Tăng nhất của Thuyết nhất hữu bộ cũng mật ý nói đến thức này với tên gọi là a-lại-da. Kinh nói: “yêu a-lại-da, vui a-lại-da, mừng a-lại-da, thích a-lại-da.”.

Trong bài “Ký Ức và Nghiệp” của Thầy Tuệ Sỹ ở sách “Tổng Quan Về Nghiệp” này nêu ra những câu hỏi có thể làm ta chới với mà lại cảm thấy vui, mừng, yêu, thích. Vì chính trong ta đôi khi cũng gợi lên những câu hỏi như vậy mà không dám trả lời. May thay có Thầy Tuệ Sỹ, à không, có nhà thơ Tuệ Sỹ hóa giải giùm, bởi như Thầy đã nói trong sách nói trên, chỉ có “Thơ dẫn kinh nghiệm vượt ra ngoài kinh nghiệm”.

Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh,
Ngoài hư không có dấu chim bay?
Từ tiếng gọi màu đen đất khổ,
Thắp tâm tư thay ánh mặt trời. (iii)

—

(i)  Tuệ Sỹ: Tổng Quan Về Nghiệp. Hội Đồng Hoằng Pháp xuất bản qua mạng Amazon, 2021.

(ii)  Chú thích: Tất cả các câu in nghiêng (italic) trong bài này là những câu trích từ sách “Tổng Quan Về Nghiệp”.

(iii)Tuệ Sỹ: bài thơ Phương Nào Cõi Tịnh, trong tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn. Hương Tích Phật Việt, 2020. Trích trong bài viết của thầy Tuệ Sỹ “Nhân đọc tác phẩm ‘Cõi Phật Đâu Xa’ của Đỗ Hồng Ngọc.”

*****

* Đọc thêm các nhận xét khác về sách này của HT. Thích Như Điển, GS. Cao Huy Thuần, GS. Trần Kiêm Đoàn, nhà văn Vĩnh Hảo: https://phatviet.info/gioi-thieu-sach-tong-quan-ve-nghiep-tue-sy/

* Độc giả có thể đặt mua sách trực tiếp trên mạng toàn cầu Amazon qua link này: https://pgvn.org/pg_2503na. Sách cũng sẽ được Hương Tích xuất bản tại Việt Nam nay mai.

…………………………………………

Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2021/10/25/ngoai-hu-khong-co-dau-chim-bay/

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Thiền và Sức khỏe

Thầy Giác Toàn: NGHĨ VỀ Bs. ĐỖ HỒNG NGỌC

20/10/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

NGHĨ VỀ Bs. ĐỖ HỒNG NGỌC

nhân đọc bản thảo TUYỂN TẬP TÔI HỌC PHẬT (Phiên bản 2)

 

HT Thích Giác Toàn

 

Thích Giác Toàn (1949-) bút hiệu Trần Quê Hương, quê Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, xuất gia năm 14 tuổi tại Mỹ Tho. Ông là thiền sư, thi sĩ. Thường trực lãnh đạo Hệ phái Khất sĩ – Phó Tổng biên tập Báo Giác Ngộ. Hiện trụ trì Pháp viện Minh Đăng Quang Tp.HCM.

(https://www.thivien.net/)

 

NGHĨ VỀ Bs. ĐỖ HỒNG NGỌC

nhân đọc bản thảo TUYỂN TẬP TÔI HỌC PHẬT (Phiên bản 2)

 

Tôi rất hoan hỷ và cảm ơn Bs. Đỗ Hồng Ngọc về việc anh gửi cho tôi qua email bản thảo TUYỂN TẬP TÔI HỌC PHẬT (Phiên bản 2, năm 2021). Viết bài này, tôi không có ý định nhận xét về tác phẩm lớn này, mà tôi chỉ nhân đây nêu một vài nhận xét về vị bác sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà Phật học và về phẩm chất của tác giả. Sơ sài, thiếu hệ thống và có thể có chỗ lệch lạc là bài viết này của tôi. Xin chư độc giả và Bs. Đỗ Hồng Ngọc niệm tình lượng thứ.

Tuyển tập dĩ nhiên là các đề tài Phật học đúng như tựa đề sách, gồm 8 mục: Nghĩ từ trái tim, Gươm báu trao tay, Ngàn cánh sen xanh biếc, Cõi Phật đâu xa, Thấp thoáng lời kinh, Thoảng hương sen, Thiền tập và Tạp ghi:Lõm bõm. Tất cả đều là những tác phẩm nổi tiếng đã được xuất bản mà tôi đã được đọc trước đây, ngoại trừ Tạp ghi chỉ được tìm thấy rải rác trên Trang nhà của Bs. Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Hình như tất cả các tác phẩm của Bs. Đỗ Hồng Ngọc đều được viết vì tấm lòng, từ cảm xúc, tư duy, kinh nghiệm của chính anh. Anh viết cho anh và cho mọi người già, trẻ, phụ nữ, trẻ em và cho các thiện tri thức thân hữu. Anh không được chính thức đào luyện về Phật học. Anh tự mày mò đến với Phật học khi tuổi đã đến lục thập. Vào rừng kinh điển Phật học, anh tự để cho cảm xúc, cho tâm hồn, cho trí óc tự do vận hành. Súc tích, lạc quan, dí dỏm và chân thành là những tác phẩm của anh, của con người Đỗ Hồng Ngọc.

Là bác sĩ, anh chữa bệnh, gần gũi, an ủi, khích lệ đủ mọi lứa tuổi qua nhiều tác phẩm như Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, Thầy thuốc và bệnh nhân, Sức khỏe gia đình, Khi người ta lớn… và Già ơi…Chào bạn.

Già ơi…Chào bạn! Tôi nghĩ có lẽ anh có nghĩ đến Bonjour Tristesse của Nữ sĩ Françoise Sagan (Nhà văn Nguyễn Vỹ dịch là Buồn ơi chào mi) đã được nhiều triệu độc giả trên thế giới ca ngợi cách đây hơn 6 thập kỷ. Sách này xuất bản năm 1954, tác giả mới 18 tuổi, kể lại nỗi buồn của một cô gái 18 tuổi vì thi rớt Tú tài, cuối cùng cô nhận định rằng cuộc đời này buồn nhiều hơn vui. Già ơi… Chào bạn! của Đỗ Hồng Ngọc được xuất bản năm 1999, được viết lúc tác giả đã đến tuổi 60, và đang thư thái khởi đầu bước vào rừng kinh điển Phật giáo, một ông già vui vẻ, tươi tắn, lạc quan mà nghĩ rằng đời vẫn đẹp vì nó có ý nghĩa đẹp.

Ở Đỗ Hồng Ngọc là một tấm lòng chân thật, anh viết cho mình và cũng muốn gửi đến các thiện tri thức thân hữu và cũng muốn những gì anh đã làm theo gió bay xa. Tôi cũng muốn như anh, gửi những dòng này đến anh và muốn chúng theo gió bay xa…

Đỗ Hồng Ngọc, tôi kính mến anh…

Trân trọng!

 

Pháp viện Minh Đăng Quang,

Mạnh đông Tân Sửu – 2021.

Sa-môn Thích Giác Toàn

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

NT Khánh Minh “đọc” Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê): “Còn Chút Để Dành”

19/10/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Giới Thiệu “Còn Chút Để Dành” –

Nguyễn Thị Khánh Minh đọc Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)

Nguyệt Mai hân hạnh giới thiệu:

CÒN CHÚT ĐỂ DÀNH
Nguyễn Thị Khánh Minh đọc Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)
Tháng 8/2021

Bìa trước “Còn Chút Để Dành”

gồm 7 bài viết đặc sắc của nữ sĩ Nguyễn thị Khánh Minh:
1. Reo Tuổi
2. Con đường dài qua những bài thơ ngắn của Đỗ Nghê
3. Ngoại chờ bên kia sông
4. Lagi, ngày con về
5. Đỗ Hồng Ngọc, lang thang nghìn dặm trái tim
6. Cùng sông
7. Còn chút để dành

Mình vừa thực hiện một tập sách mỏng, kỷ niệm tuổi 81 này, với những bài viết rất hay của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh về Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê). Có thể nói Khánh Minh “Đọc” Đỗ Hồng Ngọc với một cảm xúc thi ca hiếm có, “Nhìn ra” một Đỗ Nghê (ĐHN) còn hơn ĐHN thấy biết về chính mình.

– Đỗ Hồng Ngọc

oOo

Quý bạn có thể xem sách ở đây.
Tập CÒN CHÚT ĐỂ DÀNH (Đỗ Hồng Ngọc) (1)

oOo

Sau đây là một số chia sẻ của bạn văn.

Một cuốn sách làm quà tặng vô cùng dễ thương.
Càng đọc càng thấy nữ sĩ Khánh Minh là một tri âm tri kỷ – rất quý của Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê). Đã hiểu anh một cách rất sâu sắc. Hình như chưa có người nào đọc ĐHN mà thấu đáo tận cùng như vậy.
Rất tuyệt vời.

– Nguyệt Mai

oOo

Hải không viết được về cuốn Còn Chút Để Dành của NT Khánh Minh. Tự cuốn sách đã hay rồi. Bây giờ bình luận thì không làm cho hay thêm.
Cũng giống như khi ngồi nghe một ca khúc của Phạm Duy. Thì Khánh Minh là một Phạm Duy của ngôn ngữ. Có viết thêm, cũng không làm ca khúc hay hơn.
Hãy cứ để như thế đi. Khi nghe nhạc hay, mà làm thêm tiếng động sẽ làm hỏng giây phút đó.

…………………………………………..

Trong thế giới thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, chúng ta còn nhìn thấy những bài thơ viết về cha, về mẹ, hay về những người bạn thân như nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ … Một thế giới được tái hiện bằng chữ. Nơi đó, Đỗ Hồng Ngọc quyện vào một màn sương của hồn dân tộc. Tôi xin thú thật, tôi không biết hồn dân tộc cụ thể là gì, vì chữ này trừu tượng quá, mơ hồ quá.
Nhưng tôi đã mơ hồ nhận ra trong bài Lagi Ngày Con Về, khi Nguyễn Thị Khánh Minh viết tặng nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc năm 2017, nơi đó họ Đỗ về thăm căn nhà của Mẹ ở Lagi, trích:

Bìa sau “Còn Chút Để Dành”

 

Nghe rất khẽ. Nghe như mơ. Tiếng chổi
Xào theo chân. Bóng mẹ mỏng như mây
Vườn thức giấc. Hồn tinh sương mẹ gọi
Con bướm bay về. Lá trổ trên cây

Vâng thưa Mẹ. Bếp nhà vừa cơi lửa
Cơm chiều ngon thơm lúa vụ mùa tươi
Mai mẹ về. Về với Ngoại xa xôi
Chiếc nón lá Mẹ cứ cài trên cửa

Có phải hồn dân tộc là cái gì có thể nghe được, như tiếng chổi của ký ức nơi hiên nhà của mẹ, hay có thể ngửi được như cơm mùa lúa mới, hay có thể thấy được như chiếc nón lá Mẹ cài trên cửa? Đây là thế giới như mơ, như thực đã hiện ra trên những dòng thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh.

– Phan Tấn Hải

oOo

NƯỚC – YouTube

Nước (Kể chuyện trăng tàn)
Thơ Đỗ Hồng Ngọc,
Nhạc Khúc Dương (Đặng Ngọc Phú Hòa)
Hát bởi Camille Huyền

oOo

Tuyển tập thu góp những bài viết đẹp đẽ đầy tình người của NT Khánh Minh về Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê) một lần nữa cho thấy có lẽ anh là người hạnh phúc và giàu có nhất trên đời.
Xin được chung vui cùng anh. Và xin chúc anh an lạc trong lòng thương yêu, quý mến của mọi người.
Thân mến,

– Tô Thẩm Huy

oOo

Hạnh phúc của người viết là nhận được sự đồng điệu nơi người đọc. Em nghĩ người viết Đỗ Hồng Ngọc hạnh phúc muôn phần khi nghe được khúc hòa âm từ tác giả Nguyễn Thị Khánh Minh.
Hơn tuần nay, em may mắn được đọc “REO TUỔI”, ngưỡng mộ vô cùng ngòi bút sắc sảo, uyên thâm mà dạt dào khôn tả; lại xuýt xoa với câu từ của chị Khánh Minh,thú vị và đẹp đẽ!
Đúng lúc hoang mang vì tuổi tác chất chồng, em cảm thấy an lòng đón thêm tuổi mới khi được đọc những dòng này!
Cảm ơn thật lâu với “Còn chút để dành”!

– Lê Uyển Văn

oOo

BÔNG HỒNG CHO MẸ – Nhạc Võ Tá Hân – Thơ Đỗ Hồng Ngọc – Ca sĩ Thu Vàng – YouTube

Bông Hồng Cho Mẹ
Thơ Đỗ Hồng Ngọc
Nhạc Võ Tá Hân
Hát bởi Thu Vàng

oOo

Em chào anh,
Được mail anh mừng lắm. Vì anh vẫn khỏe, vẫn an lạc cùng chữ nghĩa văn chương.
Tuyệt quá, chúc mừng anh.
Anh thật hạnh phúc có người đọc tuyệt vời như Khánh MInh.
Cảm nhận sâu sắc, đồng điệu thật ngưỡng mộ. 7 bài là bảy cung bậc đọc ĐN-ĐHN
Em thích CON ĐƯỜNG DÀI QUA NHỮNG BÀI THƠ NGẮN…
Thăm anh chị mùa dịch bình an và chúc mừng anh niềm vui sáng tạọ tái sinh sáng tạo…
Em gửi lời thăm chị Khánh Minh nghen.
Quý mến,
Hoàng Kim Oanh

oOo

Anh Ngọc và KM ơi,
Chúc mừng anh Ngọc vừa tặng KM một tác phẩm quá mỏng mảnh, quá thi vị, quá dễ thương… “Các em” đã vất vả nằm thin thít trong thùng tối để vượt đường xa về với chị KM, các em đã “ lội ngược dòng” từ đông sang tây để đến với “các bạn trẻ” của anh Ngọc, và bạn trẻ đầu tiên đã được cầm nó trên tay háo hức đọc lại từng chữ của người thân yêu hàng ngày chia buồn sẻ vui mà tưởng tượng đến một người thân yêu khác đã tìm tòi, lục lọi, đã tỉ mẩn sắp xếp lại từng trang sách, từng bản nhạc… để hoàn thành một kỷ vật thật đáng quý.
Vui quá, vui quá nè anh Ngọc, KM ơi. “Các bạn trẻ” của anh Ngọc chuẩn bị ăn mừng nhe.

Thu Vàng

oOo

Ca khúc Sông ơi cứ chảy – YouTube

Sông Ơi Cứ Chảy…
Thơ Đỗ Hồng Ngọc
Nhạc Nguyễn Đức Vinh
Hát bởi Thu Vàng

oOo

Đọc tập “Còn Chút Để Dành” của Nguyễn Thị Khánh Minh viết về nhà thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc không thể không liên tưởng đến Bá Nha – Tử Kỳ, mối tri kỷ chỉ hiện hữu ở tình bạn tuy giữa hai người mà đã là như một. Tưởng là chuyện chỉ xảy ra thời Xuân Thu Chiến Quốc, ngờ đâu truyền kỳ ấy lặp lại giữa thời đại chúng ta. Thật là một tương lân thân tình hiếm có!
Với một bút pháp sâu sắc, diễm lệ, Khánh Minh bắt đúng mạch và dẫn người đọc đến một thế giới thơ mộng Đỗ Nghê chan hòa giữa đạo và đời, nói đúng ra một nếp sống an lạc trong lục hòa. Từ đó ta bắt gặp một Bồ tát không tuổi bởi “Anh không có ngày sinh nhật/ Nên mỗi ngày/ Là sinh nhật của anh.”  Anh sống trong hiện thị đương là, từng giây phút ngập tràn luân sinh chất ngất, vô thủy vô chung nên vô sinh, không sinh ra nên không chết đi cho lý nhân quả dừng lại. Không những thế ta còn khám phá ra những dòng thơ ngắn, cô đọng, đời thường của Đỗ Nghê vậy mà “vỡ òa ngực biếc” bởi những gì là thân yêu nhất không thể thay thế: tình quê, tình Mẹ. Và rất nhiều nữa.
Cám ơn nhà văn Khánh Minh, không có những tản văn cô đọng và đúc kết như thế của cô, có lẽ chúng ta sẽ không thấy hết, thấy đầy đủ một viên ngọc quý: Đỗ Hồng Ngọc.

– Vũ Hoàng Thư

oOo

Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc và Khánh Minh đã tặng tập sách quý “Còn Chút Để Dành”. Cuốn sách tuy mỏng mà nặng… Bìa đẹp với mùa thu thơ mộng và lãng mạn, rất thích hợp với văn phong NTKM. Đọc sách điều TL cảm nhận được là một mối hòa điệu tri kỷ của người đọc và người được đọc. Thật không gì hạnh phúc hơn khi viết mà nhận được những đáp ứng sâu sắc ân tình như bảy bài viết của Khánh Minh. Tự nhiên TL nhớ mấy chữ Hiểu và Thương của thiền sư Nhất Hạnh, Khánh Minh viết cảm nhận về văn Đỗ Hồng Ngọc như thế, không chỉ là HIỂU mà còn THƯƠNG.

– Nguyễn Thị Thanh Lương

oOo

kẹp sách cho “Còn Chút để dành”, gửi nhà văn, thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc.
duyên

………………………………………………..

Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2021/10/19/gioi-thieu-con-chut-de-danh-nguyen-thi-khanh-minh-doc-do-hong-ngoc-do-nghe/

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Tập Thơ “Đêm” Của Nguyễn Thị Khánh Minh

18/10/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Tập Thơ “Đêm” Của Nguyễn Thị Khánh Minh

ĐÊM

tập thơ NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2021

DML_Cover_PreOrder.jpg

Tựa: Tô Thẩm Huy
Tranh bìa: Phạm Cung
Ký họa chân dung Nguyễn Thị Khánh Minh:
Đinh Cường – Trương Thìn – Lê Thánh Thư –
Bảo Huân – Trương Đình Uyên – Phan Tấn Hải

 

Viết về Nguyễn Thị Khánh Minh:
Phan Tấn Hải – Nguyễn Xuân Thiệp – Trần Thị Nguyệt Mai –
Lê Lạc Giao – Hoàng Xuân Sơn – Hồ Đình Nghiêm – Trịnh Y Thư –
Lê Giang Trần – Tô Đăng Khoa – Nguyễn Lương Vỵ

@@@

Lời của Thơ

Tựa: Tô Thẩm Huy
–––––––––––––––––––––
Nguyễn thị Khánh Minh và thi tập
Đêm
Bóng Sáng – Bóng Tối

Night, the shadow of light,
and life, the shadow of death.
A.C. Swinburne

– Sao gọi là lời?
– Thưa: logos
– Là?
– Là ẩn ngữ ân điển từ cõi trời Hy La uyên nguyên vọng về.
– Vọng về điều gì?
– Thưa: Có một lỗ thủng màu trắng trên nền trời đen tối.

Trăng buồn
Lỗ thủng trắng
Trời đêm

– Thật vậy sao? Làm sao nghe ra tiếng vọng ấy?
– Thưa ấy là từ thuở con người vẫn hiểu tiếng nói của chim muông, cây cỏ, biết nghe tiếng đêm, biết tan vào bóng tối mà ẵm bóng sáng vào lòng.

Dằng dặc đêm. Trăng hoài không rơi
Vắng trong tôi. Tôi hoài không lời
Chịu không nổi. Một cành cây đập gió

Nghe thấy không? Trong đêm dằng dặc, một cành cây đang đập gió. Mà trăng hoài vẫn cứ không rơi. Làm sao chịu nổi! Cây ơi, ngừng lại, đừng đập gió nữa.

Tôi không nói
Chỉ có hàng cây gió thổi
Và bóng. Tối

Tôi không ngủ
Chỉ có đêm đang trôi
Có lẽ sẽ một lời
Để đừng tan vào bóng tối

Thi sĩ là ai trong đêm đang trôi? Thưa là bức tường xôn xao ở lại cùng bóng sáng sau khi cửa sổ đã bay đi:

Bóng trôi ra ngoài cửa sổ
Như với theo
Cái gì đó vụt bay
Gió bay đi
Đêm bay đi
Giấc mơ bay đi
Chiếc cửa sổ bay đi
Nỗi chờ đợi cũng bay đi

Và:

Rưng trên tay
Bóng sáng
Người để lại

Thi tập “Đêm” gom lại những bài thơ tác giả viết đây đó những 20 năm thao thức, sắp xếp theo những chủ đề xoay quanh hai dòng ý tưởng: Bóng Sáng và Bóng Tối.

Sao gọi là bóng sáng? Đã bóng sao lại sáng?

Thưa nếu không thế thì làm sao có thể làm đầy những lỗ hổng của giấc mơ:

Bầu trời sâu
Kéo đêm lên là những chấm sao
Bóng tối sâu
Đang vực tôi lên là đường tròn
Một đường tròn
Chở bóng sáng trong
Một đường tròn
Đang dịu dàng tròn mãi
Dựa vào nó
Tôi đi trên con đường khúc khuỷu của mộng
Dựa vào nó
Tôi làm đầy những lỗ hổng của giấc mơ trong cuộc sống.

Sao là những lỗ hổng của giấc mơ? Từ nay liệu chúng ta có thể yên tâm để mơ về những giấc mộng không còn lỗ hổng chăng?

Thế bóng tối là sao? Đã bóng thì hẳn phải tối chứ?

Thưa chuyện ấy cũng còn tùy. Phải bật lên đã, thì đêm mới tối:

Bật đêm lên
Một điểm bất ngờ
Vành trăng úp mặt hổ ngươi

Rồi phải với lấy vầng trăng đang trôi nổi trong đêm:

Sợ xa thêm ánh sáng vì sao
Sợ chìm xuống trong khuya sâu
Tôi với lên một vừng trăng đang nổi

Sau đó phải đi vời áng mây trắng:

Tìm trong đêm, mây trắng
Hỏi xem nhà ta đâu
Đêm cúi nhìn im lặng
Cả ba buồn như nhau

Đã có ai trò chuyện với mây, lặng lẽ nhìn đêm, mà ngậm ngùi thương nhớ người thân?

Nếu cho ba điều ước
Tôi xin đừng nhìn ngược
Tôi xin đừng nghe xuôi
Và ước mơ lúc nào cũng chờ tôi phía trước

Ước chi ai ai lúc nào cũng nhớ ba điều ước ấy.

Khi tôi nắm vào trong tay
Ít nắng
Thì cùng lúc tôi nắm vào chút nhỏ nhoi của bóng tối

Khi tôi ôm vào lòng
Ít gió
Cũng là lúc tôi đầy trống không, im lặng

Khi tôi bắt đầu một giấc mơ
Cũng là lúc tôi đã chìm sâu
Giấc ngủ
Và để biết có giữ được gì không
Tôi bắt đầu hy vọng

Và từ niềm hy vọng ấy:

Tôi nhóm lên một ngọn lửa
Gió thổi tắt đi

Tôi nhóm lên một ngọn lửa nữa
Gió lại thổi tắt đi

Khi tôi không còn hy vọng
Thì gió
Lại làm những que tàn kia bắt lửa…

Và niềm hy vọng từ đấy sẽ mãi mãi phục sinh trên thân phận chúng ta:

Tôi hút vào bóng tối
Đôi mắt mù không hay
Ánh sáng trong tôi nói
Cái sáng từ tôi đây

Hãy dùng nó làm khiên
Hãy dùng nó làm đèn
Hãy dùng nó để tỏ
Với lòng ngươi đêm đen

– Sao gọi là Minh?
– Thưa Minh có thể là nhật giao thoa với nguyệt mà chan hòa ánh sáng:

Mặt trời
Trong phút giây thức dậy đẹp đẽ nhất
Chàng mở mắt
Và trái đất có bình minh

Trăng
Nơi cao lồng lộng
Nàng hỏi bằng ánh mắt thơ ngây nhất
Và đêm có đêm rằm

Từ đó, khi nghe gọi tên:

Ánh sáng chọn
Ngày
Để tan ra

Ánh sáng chọn
Đêm
Để lấp lánh

Tôi chọn ánh sáng
Để tự vệ với bóng tối
Nơi mình

Đó cũng là tên
Khi người ấy gọi tôi
Âu yếm

(Gọi Tên)

Mà Minh cũng có thể là tiếng hót đến từ chiếc lưỡi của cánh chim đang chao lượn trong gió mà nếu không có vầng trăng trầm mình dưới mặt giếng tĩnh lặng thì làm sao nó có thể hân hoan xao xuyến với về tấm lòng trong thanh tơ trắng của Tố Như Tử: Trạm trạm nhất phiến tâm, Minh nguyệt cổ tỉnh thủy.

Không rộn lòng dâu bể
Tỉnh thủy vô ba đào
Nếu mà không hạt lệ
Thử tâm chung bất dao…

Nếu mà không trăng sáng
Làm sao nối xưa sau…

Và nếu không có bóng trăng lặng trên mặt giếng thì làm sao đêm có thể mọc lên từ bức tranh?

Đêm mọc lên từ bức tranh
Ứ đầy tĩnh lặng…

…Trên con đường ánh mắt đang đi
Đêm thiếu nữ. Òa vỡ…

Từ đấy, logos trong “Đêm” trở thành bức tranh chan hòa mầu sắc của lời thơ Khánh Minh:

Nếu bảo tôi vẽ bóng tối. Tôi sẽ vẽ
Những đôi cánh của chiêm bao mọc ra từ trái tim trong suốt. Vầng trăng trên gối ngủ bài thơ. Ngọn đèn cô đơn bên trang bản thảo.

Tôi sẽ vẽ cả tôi đang vượt qua đêm dài. Tôi sẽ vẽ làm sao để người xem tranh thấy được. Bóng tối chỉ là ảo ảnh…

Phải chăng vì đời sống chỉ là bóng hình của cái chết?

Và hỡi những họa sĩ thân yêu trên trần gian này, tôi xin được làm cậu Hoàng Tử Bé của St Exupery, yêu cầu quý vị vui lòng vẽ hộ tôi – không phải con cừu đang gặm cỏ trên tinh cầu xa xôi – mà làm ơn vẽ hộ tôi bức tranh của bóng khuya – không phải là bóng khuya lúc đang ngồi tỉ tê cạnh bóng đêm, mà là lúc đang lững thững đi dạo dưới trăng – để tôi có dịp được ngắm bức tranh vẽ lúc “bóng về” của họa sĩ Khánh Minh:

Ai vẽ được bóng khuya đi
Cho tôi đọ với bóng về. Của tôi

Lời của thơ trong “Đêm” là tiếng nói của con người nguyên sơ mà chúng ta đã lâu ít còn được nghe thấy ai nói, đến gần như đã quên mất. Xin mời nghe lại mấy lời:

Gió vườn nhà êm ả
Ai nói gì qua lá
Mà khuya đầy trăng thơm

Đêm ngó trời. Cao quá
Hỏi trăng gần, trăng xa
Đâu là chốn quê nhà…

Sáu câu thơ tuyền những lời giản dị mà vang vọng một trời âm nhạc, êm đềm mà man mác thớ vị chua xót, ngân nga trong đêm u hoài tiếng ai thầm thì qua lá. Và chao ôi, sao hai chữ “cao quá” trong lời thơ ấy nghe thất thanh, lặng ngắt một nỗi sợ hãi bâng quơ, đơn côi, nhỏ bé!

Thế giới của “Đêm” trong thơ Khánh Minh trừu tượng những hình ảnh tươi mát ban đầu, chan chứa những ý tưởng tinh khôi, ẩn hiện những tâm tình thanh cao, diệu vợi. Thế giới ấy trước khi bước vào thật nên làm theo lời khuyên của Tagore mà tắm gội, tẩm mình bằng hương trầm, để đón vọng:

Một mảnh trăng vắt cong ngoài cửa sổ
Yên bình đến nỗi
Để thưởng thức nó
Tôi có cảm giác như mình đang phạm lỗi…

Tôi cũng thế. Tôi cũng nhiều khi có cảm giác như mình đang phạm lỗi – những lúc đọc thơ Nguyễn Thị Khánh Minh.

Bốn câu thơ trên là những lời sau cuối của “Đêm”. Những câu thơ “sau dấm chấm hết”. Vậy nên tôi xin được có thêm lời ước thứ tư: Rằng chúng ta sẽ còn được thêm nữa nhiều đêm hạnh phúc nghe lời Khánh Minh trò chuyện.

Thật may mắn những ai thường được gặp gỡ, gần kề với cái thế giới tinh khôi ấy.

– Tô Thẩm Huy
Houston, Tiết Đại Thử, tháng 7, 2021

Ký họa chân dung Nguyễn Thị Khánh Minh. – Đinh Cường

………………………………………………….

Nguồn: tranthinguyetmai.wodpress

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Đọc sách

Thơ Trần Vấn Lệ

17/10/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú:

TVL ơi, bài thơ hay rồi, dịch ra tiếng Pháp làm chi cho nó thành dở?

Thân mến,

ĐHN

 

Bạn Dịch Bài Thơ Này Ra Tiếng Pháp Được Không

Những con quạ.  Buổi sáng.  Không thấy ghé thăm mình!  Mình như kẻ thất tình, nhớ những con quạ quá!
Các em đâu hết cả?  Trời sáng nay không mưa, các em đang trên bờ con sông Los Angeles?
Các em có vui thiệt hay là vui giả đò?  Các em có thấy thơ của tôi xuôi dòng nước?
Các em là Ô Thước hay là Chim Họa Mi?  Các em bỏ đồng quê, các em chơi thành phố?
Nhớ ơi các em nhỏ, các em học trò xưa…Bao nhiêu năm tháng mờ trong lòng tôi nước mắt…
Quê Hương là Tổ Quốc, nhớ quá tôi chưa về…nhìn bà Mẹ gánh quê, nhìn ông Cha giảng đạo…
Tôi đã là con sáo xổ lồng bay qua sông…Tôi bay vào mịt mùng của cõi đời vô tận…
Tôi nhớ lắm hương phấn, phấn thông vàng Lang Bien…Tôi nhớ lắm Đa Nhim, mặt hồ sương phẳng lặng!
Ôi sáng nay buổi sáng, bầy quạ đâu không về?  Mùa Thu nắng vàng hoe hay hoa vàng vậy nhỉ?
Ông Nguyễn Khuyến thủ thỉ:  “Mấy chùm trước ngõ hoa năm ngoái, một tiếng trên không, ngỗng nước nào?”.
Mùa Thu sẽ qua mau, mùa Đông buồn sắp tới, Quê Hương ơi vời vợi…Nhớ quê, buồn với ai?
Sáng nay buổi sáng nay làm thơ muốn ai dịch từ những lời tiếng Việt ra tiếng Pháp giùm tôi…
Tôi muốn đi xa xôi nơi nào tôi chưa tới…nơi nào cũng vời vợi như buồn tôi bao la…

Trần Vấn Lệ

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim

Hãy vui với tuổi vàng của mình

01/10/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Nhân Ngày Quốc tế Người Cao Tuổi 1.10.2021

 

(internet)

 

 

(internet)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ghi chú: Bác sĩ Lê Quang Khánh, người bạn cùng khóa với tôi ở Y khoa Đại học đường Saigon (1962-1969) hiện sống ở Melbourne Úc vừa gởi tôi bài viết này của một người bạn nào đó đã trích từ cuốn sách Về Thu Xếp Lại của tôi (2019), đặt cho cái tựa mới, chèn mấy bức minh họa thiệt dễ thương…

Cảm ơn LQK.

Hãy Vui Với Tuổi Vàng Vì Đó Chính Là Tuổi Tuyệt Vời Nhất !

Đỗ Hồng Ngọc
 
Tôi nay ở tuổi 80. Thực lòng… đang tiếc mãi tuổi 75! Thấy những bạn trẻ… trên dưới bảy mươi mà “gato” ! Mới vài năm thôi mà mọi thứ đảo ngược cả rồi. Bây giờ có vẻ như tôi đang lùi dần về lại tuổi ấu thơ, tuổi chập chững, tuổi nằm nôi…
 
Vòng đời rất công bằng. Chỉ còn cách tủm tỉm cười một mình mà thôi!

Cái tuổi đẹp nhất của đời người theo tôi có lẽ ở vào lứa 65-75. Đó là lứa tuổi tuyệt vời nhất, sôi nổi nhất, hào hứng nhất… Tuổi vừa đủ chín tới, có thể rửa tay gác kiếm, tuyệt tích giang hồ, “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo” (NCT), nhưng cũng là tuổi có thể lại vướng víu, đa đoan nhiều nỗi, để một hôm ngậm ngùi ta là ai mà còn khi giấu lệ/ ta là ai mà còn trần gian thế? (TCS)

Nhớ hồi ở tuổi 55, mới hườm hườm, tôi ngẫm ngợi, ngắm nghía mình rồi lẩn thẩn viết Gió heo may đã về. Đến 60 thì viết Già ơi… chào bạn! như một reo vui, đến 75 còn… ráng viết Già sao cho sướng?… để sẻ chia cùng bè bạn đồng bệnh tương lân. Nhưng 80 thì thôi vậy.

Đã đến lúc phải “Về thu xếp lại…”, bởi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”… rồi đó thôi!

Chu trình “khép kín” đó bắt đầu tăng tốc ở lứa 65-75 tuổi. Tăng tốc khô héo, tăng tốc nhăn nheo. Sự tăng tốc của lứa tuổi này cũng làm ta há hốc, muốn kêu lên kinh ngạc… như ở tuổi dậy thì, tuổi mới lớn. Cái vòng đời nó diễn biến tuyệt vời đến vậy, liên tục đổi thay đến vậy thì có gì đáng phàn nàn đâu! Nhiều bạn cùng lứa than với tôi sao thế này sao thế khác, tôi thường chỉ nói “Ai biểu già chi?” rồi cười xòa với nhau mà không khỏi có chút… ngậm ngùi.
 

Anh chàng Alexis Zorba (*) nói: “Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ, hãy thương nó một chút. Cho nó ăn với. Cho nó nghỉ với. Đó là con lừa kéo xe của ta, nếu không cho nó ăn, nó nghỉ, nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi”.

Từ ngày biết thương “con lừa” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho con lừa của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá, đừng nhiều mỡ quá!

Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình. Không ai giống ai. Như vân tay, như mống mắt vậy. Cho nên không cần bắt chước. Chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo. Nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc thì phải cảnh giác!

Thời tôi học y khoa được học tế bào thần kinh không thể sinh sản, mất là mất luôn, hư hỏng thì không thể tự sửa được, không như tế bào ở các mô khác. Ngày nay người ta biết có khoảng 100 tỷ neuron thần kinh và 100 nghìn tỷ kết nối giữa chúng, nhưng thật ra não bộ còn rất nhiều điều bí ẩn chưa thể biết hết. Khoa học ngày nay tiến bộ, cho thấy tế bào thần kinh chẳng những rất nhu nhuyến (plasticity), có khả năng tự thích nghi, tự điều chỉnh mà còn có thể sinh sản tế bào mới (neurogenesis). Chúng có thể kết nối tự bên trong, hoán chuyển vị trí… chứ không phải tập trung từng khu vực cứng ngắc như ngày xưa đã tưởng. Khả năng thay đổi và thích nghi này của não không bị mất đi, tuy khi có tuổi thì các khả năng nhận thức, ngôn ngữ, trí nhớ, suy luận cũng kém đi theo tiến trình chung. Nghiên cứu gần đây cho thấy ở tuổi 80 não bộ vẫn còn tiếp tục tạo nên những con đường mới nối kết bên trong nên vẫn phát triển được.

Bây giờ thời đại cái gì cũng “thông minh” đáng ngại. Không lâu nữa, chắc con người sẽ có đủ “tam minh lục thông” chăng?
Tam minh là Túc mạng minh (biết rõ kiếp trước của mình), Thiên nhãn minh (biết rõ… kiếp sau của mình), Lậu tận minh (dứt tất cả lậu hoặc).
Lục thông gồm: Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Thần túc thông,…

Từ ngày có trang web riêng mình, do một bạn trẻ giúp cho, tôi bận bịu với nó nhiều hơn. Rồi nhờ nó mà tôi lần mò học cách post bài, đưa hình ảnh, chỉnh sửa tùm lum… Nó giúp tôi như quên ngày tháng, quên đi những buổi mai buổi chiều buổi trưa buổi tối… Nhưng cũng nhờ nó, tôi mở rộng việc học hỏi, mở rộng giao tiếp, thấy quả đất chỉ còn là một hòn bi xanh trong lòng bàn tay… Và chiếc điện thoại thông minh cũng giúp mình nhiều việc, dù thực tế nhiều lúc thấy nó thiệt là… ngu!

Mắt kém, đọc mỏi, tôi bắt đầu ít đọc báo, ít xem TV – ngày trước, mỗi ngày ngốn chục tờ báo là thường! Nay chỉ đọc lướt qua cái tựa là xong. Thời đại cần cái gì, gõ gõ vài cái có người đưa tới tận nhà! Hy vọng không lâu nữa, họ gởi các thứ qua mạng, bấm nút in ba chiều, muốn gì cũng có… Nghe nói người ta đã có thể “fax” một con người từ nơi này sang nơi khác… giúp ta không phải đợi chờ lâu! Máy móc, kỹ thuật, phương tiện nghe nhìn ngày càng chiếm ngụ trong ta, “thay mãi đời ta”…

(ĐHN)

………….
(*) nhân vật của Nikos Kazantzakis

Viết thêm: Cảm ơn chị Sương Lam Trần và anh Võ Tá Hân

 

Sương Lam

(Suong Lam Portland)

Chào BS Đỗ Hồng Ngọc,

Trong tinh thần sống vui vẻ trong tuổi “hoàng hạc”, Sương Lam thường giới thiệu hoặc chuyển tiếp những bài viết, những tài liệu đem lại niềm vui tinh thần  sống vui, sống khỏe, sống an nhiên tự tại đến các thân hữu của  Sương Lam.

Trang nhà của anh Ngọc Đỗ (www.dohongngoc.com) là một trong những trang nhà SL thích và muốn giới thiệu đến các thân hữu của SL như trang youtube  của thầy Thích Tánh Tuệ, của Thầy Thích Pháp Hòa, trang youtube của anh Võ Tá Hân, trang nhà Quán Ven Đường của anh Hùynh Chiếu Đẳng …

Kính chúc anh Đỗ Hồng Ngọc nhiều sức khỏe và an lạc trong cuộc sống,

Thân mến,

 

……………………………………………………………………………………

Võ Tá Hân

(hanvota.com)

Anh Đỗ Hồng Ngọc & Chị Sương Lam mến,

Anh Ngọc có khuyến khích người cao niên dùng máy vi tính thì cũng đừng quên khuyên họ nên … học đàn guitar nữa nhé.

Ngồi chăm chú tập đàn – quên hết mọi phiền toái cuộc đời – thì cũng là một cách “thiền”, luyện tập các ngón tay thì cũng giúp mình đỡ bị phong thấp, rồi 50 năm sau, nay mới ôm đàn hát được những những bài mình hằng yêu thích từ thuở 20 thì còn gì hạnh phúc hơn!

Sáng mai lớp Guitar Ngàn Thương sẽ có một buổi họp mặt ngoài trời – mọi người đều đã chích 3 mũi thuốc! (…)  Các “cụ nhạc sinh” góp mặt trong CD này hầu hết là các ông bà có trung bình 2 cháu nội ngoại, học đàn từ vài tháng đến khoảng 3 năm.

… và đây là hình ảnh lớp đàn đầu tiên mà tôi dạy năm 2017 cho nhóm bạn cao niên vùng Little Sài Gòn, Nam Cali.

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Nguyên Giác: Đọc “Tôi học Phật” của Đỗ Hồng Ngọc

27/09/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc “Tôi học Phật” của Đỗ Hồng Ngọc

Nguyên Giác

Báo GIÁC NGỘ TP.HCM, 26.09.2021

(https://giacngo.vn/doc-toi-hoc-phat-cua-do-hong-ngoc-post58829.html)

 

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
GN – Có những người làm gì cũng hay, viết gì cũng hay. Tôi luôn luôn kinh ngạc về những người như vậy. Họ như dường lúc nào cũng chỉ ra một thế giới rất mới, mà người đời thường như tôi có ngó hoài cũng không dễ thấy ra.

Đỗ Hồng Ngọc là một người như thế.

Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ; dĩ nhiên ai cũng biết, bởi vì anh nổi tiếng hơn rất nhiều bác sĩ khác, và được báo chí phỏng vấn thường xuyên. Nhưng anh cũng nổi tiếng làm thơ hay từ thời sinh viên. Thơ của anh nhiều đề tài, có cả thơ Vu lan, thơ tặng mẹ, thơ tình, thơ tặng em bé sơ sinh, thơ tặng bà bầu, và đủ thứ.

Trong khi tôi đọc, thưởng thức, và thán phục các vần thơ tuyệt vời của anh, nhưng tận cùng thích nhất vẫn là đọc Đỗ Hồng Ngọc viết về kinh Phật. Chính nơi lĩnh vực này, họ Đỗ viết gì cũng hay, viết ngắn cũng hay, viết dài cũng hay, viết về Thiền thở cũng hay, viết về ngũ uẩn giai không của Tâm kinh cũng hay, viết về ưng vô sở trụ của kinh Kim cang cũng hay, viết về kinh Pháp hoa, kinh Duy Ma Cật cũng hay. Và tôi tin, nhiều thế hệ sau sẽ nhớ tới một Đỗ Hồng Ngọc viết về lĩnh vực này, đó là những gì anh đã đọc, đã hiểu, đã sống và đã ghi xuống các trang giấy trọn một pháp giới học Phật của anh.

 

Đọc "Tôi học Phật" của Đỗ Hồng Ngọc ảnh 1
Thiết kế: Tống Viết Diễn (Báo Giác Ngộ số 1116-1119)

 

Nhiều thế hệ tương lai sẽ không nhớ tới một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, và cũng chẳng thắc mắc chuyên ngành của anh có phải tai mũi họng hay nhi khoa, hay nội khoa. Cũng như chúng ta bây giờ chỉ mơ hồ hình dung về một bác sĩ Lê Đình Thám, nhưng dễ dàng nhớ về một cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám đã dịch kinh Lăng nghiêm, Đại thừa Khởi tín luận, v.v… cũng là người đã sáng lập Gia đình Phật Hóa Phổ, tiền thân của Gia đình Phật tử. Vâng, đời sau hẳn là sẽ nhớ tới Đỗ Hồng Ngọc với tuyển tập Tôi học Phật, một tuyển tập đã gom chung nhiều tác phẩm đã in rời trước kia.

Làm thế nào Đỗ Hồng Ngọc viết hay như thế? Phước đức, học lực của một đời hẳn là không đủ. Hẳn phải là nhiều đời. Tôi suy nghĩ về câu hỏi đó, khi đọc Tôi học Phật – phiên bản 2 của Đỗ Hồng Ngọc. Đây là ấn bản họ Đỗ biên tập lại nhân dịp nằm nhà khi cả nước rơi vào mùa dịch, như lời anh giải thích khi qua email:

“Cả gần 3 tháng nay nằm nhà. Tình hình Covid-19 ở Sài Gòn căng thẳng lắm như Hải đã biết. Trong suốt thời gian này, mình chỉ làm một việc là ‘biên tập’ lại toàn bộ cuốn Tôi học Phật, chủ yếu là một cách ôn tập cho bản thân. Nay tương đối hoàn chỉnh bản thảo này, mình in ra một ít để kỷ niệm. Bìa do mình tự ‘dàn dựng’, cảm hứng từ đặc san Liễu Quán (Huế), mang tính ‘lõm bõm’ ‘lãng mạn’ của mình…”

Đỗ Hồng Ngọc giải thích về cơ duyên học Phật sau 6 thập niên loanh quanh: “Khi là sinh viên ở Sài Gòn, tôi cũng đọc Bát-nhã, đọc Suzuki, Krishnamurti…nhưng đọc chỉ để mà đọc. Đến năm tuổi gần 60, sau một cơn bệnh thập tử nhất sinh, tôi thấy mọi sự khác hẳn đi. Tôi đọc Tâm kinh thấy không khó nữa. Như vỡ ra. Và với Tâm kinh, tôi thấy chỉ cần học một chữ thôi. Chữ không. Từ đó mà vô trụ, vô trí, vô đắc…”.

Nếu chúng ta nhìn về không khí học Phật nơi thế giới Tây phương, cụ thể là tại Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc châu… chúng ta có thể thấy 2 khuynh hướng lớn. Thứ nhất, khuynh hướng thế tục hóa Phật giáo, làm cho Phật giáo trở thành một ứng dụng đời thường, biến Phật pháp thành một pháp mindfulness đơn giản để thư giãn, để chữa bệnh, để làm một liệu pháp nơi góc bệnh viện, thậm chí để làm một pháp tỉnh thức bổ túc cho các tôn giáo khác. Thứ hai, khuynh hướng xuất thế gian, học Phật để bước đi trên đường giải thoát của Phật giáo, nơi đây lại chia ra ba tông phái lớn: Nam tông, Bắc tông, Kim Cang thừa (Phật giáo Tây Tạng).Đó là cơ duyên lớn của tác giả họ Đỗ. Vì có những người tụng Tâm kinh cả đời, nhưng không hiểu được. Cũng như có người đọc chú giải Tâm kinh từ nhiều thầy, nhưng lại không vào được. Có người sau nhiều năm không hiểu, lại ngờ vực Tâm kinh. Rồi có những người chọn thái độ kính nhi viễn chi, dặn nhau là nên tìm những gì cho đơn giản, thích nghi với đời sống hơn, nói sai lầm rằng Tâm kinh chỉ là kinh để tụng trong chùa. Hiển nhiên là trăm ngả rẽ. Hẳn là tùy cơ duyên.

Tuyệt vời nơi Đỗ Hồng Ngọc là chúng sinh muốn nghe chuyện gì thì anh nói chuyện đó. Muốn nghe chuyện ứng dụng thế gian, họ Đỗ trở thành một bác sĩ phân tích về sức khỏe thân và tâm. Muốn nghe chuyện giải thoát, họ Đỗ liền trở thành một người kể lại các kinh nghiệm học Phật mà ai cũng có thể học theo và tự chứng ngộ được.

Thí dụ, Đỗ Hồng Ngọc, trong tư cách bác sĩ, đã viết về chữa bệnh: “… Đặc biệt là phương pháp ‘thở Chánh niệm’ – mà Phật đã dạy từ những bài học đầu tiên sau khi giác ngộ – tôi thấy có thể có hiệu quả trong phòng ngừa và điều trị một số bệnh thời đại, những bệnh dịch không lây, nhưng rất nguy hiểm, gây khổ đau, tàn phế cho nhiều người mà Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) đã luôn cảnh báo trong những năm gần đây, làm giảm chất lượng cuộc sống của con người, chủ yếu do lối sống và môi trường sống đầy căng thẳng, bất an…”.

Như thế rất thực dụng, bất kỳ tín đồ tôn giáo nào cũng có thể áp dụng được. Phương pháp thiền Tỉnh thức dùng trong các trường học, và trong các bệnh viện tại Hoa Kỳ hiện nay cũng dựa nhiều vào pháp thở Chánh niệm. Khi Phật pháp ứng dụng để dùng trong trường học và bệnh viện, tất cả yếu tố tín ngưỡng và tôn giáo đều phải gỡ bỏ.

 

Đọc "Tôi học Phật" của Đỗ Hồng Ngọc ảnh 3
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ chủ đề “Tôi học Phật” tại chùa Thiên Quang (Bình Dương)

 

Nơi mặt ngược lại, khi nói về giải thoát luận, Đỗ Hồng Ngọc đã chỉ ra những cách nhìn để xúc chạm sâu thẳm tới các pháp ấn: vô ngã, vô thường, khổ, không. Chúng ta có thể nhớ rằng, chư Tổ ngày xưa lấy cỗ xe ra để giải thích lý vô ngã, để nói rằng không hề có cái gì gọi là xe nào trong cỗ xe, gọng xe, bánh xe… Và rất hiện đại hóa, Đỗ Hồng Ngọc lấy cái đồng hồ ra để giải thích về lý vô ngã:

“Bị bó rọ, bị thành kiến che khuất, lấp chặt, dần dần ta bị lệ thuộc, bị níu kéo, ta giữ lề, cho ‘xứng với ta’, với vai ta đóng và bản ngã ta sẽ ngày càng to, càng dầy ra, chính là nguồn gốc của khổ đau. Cái gì có ‘ta’ trong đó thì tạo ra khổ đau. Nhà ta, của ta, con ta, người yêu ta và thân ta… Mà cái ta đó, theo cái nhìn Bát-nhã Tâm kinh chỉ là sự kết hợp của những thành tố do duyên mà tụ lại, tương tác, tương sinh, tương hợp, cái này có là do cái kia có, quấn quýt chằng chịt lẫn nhau – như những thành tố tạo nên cái đồng hồ gồm kim, bánh xe, con lắc… và sinh ra tiếng ‘tích tắc’. ‘Tích tắc’ vốn không có, thực không có, do kết hợp các thành tố riêng lẻ mà có. Gỡ bỏ các thành tố ra để tìm lấy tiếng tích tắc (cái ngã) sẽ không thấy đâu nữa! Ráp lại thì có. Cái tiếng tích tắc, không mà có, có mà không, trống rỗng mà tràn đầy là sự vận hành tuyệt diệu của cái đồng hồ. ‘Chân không’ cũng chính là ‘diệu hữu’. Dừng lại ở ‘không’ đơn thuần, như một xóa bỏ, từ chối, hư vô chủ nghĩa là một sai lầm tai hại”.

Có thể tin rằng, những gì tác giả Đỗ Hồng Ngọc viết về học Phật sẽ lưu giữ rất lâu trong nền văn học Phật giáo quê nhà, vì toàn văn tuy rời rạc, nhiều chủ đề, nhưng vẫn xuyên suốt là một tập luận thư để chú giải kinh Phật. Điều rất khác giữa Đỗ Hồng Ngọc và nhiều vị tiền bối là từ chỗ rất lơ mơ trong 6 thập niên, chứ không phải vào chùa học Phật từ thời thơ ấu, cho nên văn phong của anh là một pháp giới xen lẫn của một nhà văn, một nhà thơ, và là một nhà khoa học. Đây cũng là chỗ độc đáo không chỉ của anh, mà là của rất nhiều người từ một thế hệ học Phật cùng thời.

Nơi đó, để Phật hóa cõi nhân gian, một thế hệ học Phật đã từ nhiều cõi nước hẹn nhau bước tới Việt Nam, để học, để tu, để dịch, để dạy và để viết – trong đó có cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, thầy Minh Châu, thầy Nhất Hạnh, thầy Thanh Từ, thầy Tuệ Sỹ, Giáo sư Lê Mạnh Thát, Ni trưởng Trí Hải, Ni trưởng Hải Triều Âm… Và nơi mặt khác, để thi hóa cõi trần gian đầy đau đớn này, để chỉ ra Khổ đế nhằm làm tiền đề cho Đạo đế hiển lộ, một thế hệ các văn nghệ sĩ đã hẹn nhau tới Việt Nam để sống và để viết lên những cõi thơ dị thường, trong đó có Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Đỗ Hồng Ngọc, Thích Tánh Tuệ, Nguyễn Lương Vỵ…

Nói theo Phật giáo Tây Tạng, họ là những bậc tái sinh. Dĩ nhiên, tác giả Đỗ Hồng Ngọc không đồng ý về nhận xét này. Vì họ Đỗ sẽ dẫn ra ngay rằng anh không hề thấy có cái gì gọi là “cái ta, cái của ta” trong thân ngũ uẩn, thì hà huống gì lại nói rằng có một chàng họ Đỗ hẹn tới Việt Nam để làm thơ, để viết văn, để chú giải kinh Phật:

“Trong cái tánh “Không” đó, tất cả là Vô, hay nói khác đi, tất cả là không có! Không có hình thể, sắc tướng; không có cảm thọ – không có tưởng, hành, thức gì cả. Tóm lại, là vô ngã. Không có cái ta thực mà chỉ có cái ta giả tạm, bọt bèo, cái ta đang ăn uống, nói năng, huênh hoang, tự mãn, tự ti, tham lam, sân si, mê đắm… đủ thứ, đủ kiểu. Cái ta giả này làm khổ cái ta thật. Cái ta giả làm Tôn Ngộ Không bị kim cô siết đau muốn chết, còn cái ta thật thì Tôn Ngộ Không đã bay bổng biến ra vô số những Tôn Ngộ Không khác rồi! Mà đã vô sắc (cái thân xác) thì đương nhiên sẽ vô nhãn (mắt), vô nhĩ (tai), tỷ (mũi), thiệt (lưỡi), thân (xúc giác), ý (suy tưởng). Toàn thân đã không có lẽ nào có từng thành phần?”.

Một điểm đặc biệt trong Tôi học Phật của Đỗ Hồng Ngọc, và cũng hiếm thấy nơi các tác giả khác: bạn có thể ngưng ở bất kỳ trang nào, ở bất kỳ dòng chữ nào, để tự nghiệm những lời kinh được chú giải ngay trên thân và tâm của bạn. Bạn hãy đọc rất chậm và hãy nghiệm như thế, nơi từng hơi thở của bạn, nơi từng niệm và nơi từng cảm thọ của bạn. Những dòng chữ Đỗ Hồng Ngọc viết xuống trong sách cũng là từ các thể nghiệm thực chứng của tác giả. Đó là những dòng trực giải kinh Phật rất mực trang nghiêm, nơi đó từng dòng chữ đã trở thành những trận mưa hoa để cúng dường chư Phật. Nơi đó là hạnh phúc, là an lạc và là vô lượng công đức.

Nguyên Giác/ Báo Giác Ngộ
(26.09.2021)

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 9
  • Trang 10
  • Trang 11
  • Trang 12
  • Trang 13
  • Interim pages omitted …
  • Trang 55
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email