Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

“Phép lạ là đi trên mặt đất”

06/04/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (tháng 4. 2024)

“Phép lạ là đi trên mặt đất”

Đó là Khoá Thực hành cho Doanh nhân, lần thứ 6, tổ chức tại Mũi Né, Phan Thiết, do CLB Doanh Nhân Saigon phối hợp với các Sư Thầy Sư Cô Làng Mai từ nhiều nơi về hướng dẫn… Có các vị từ Pháp, từ Thái Lan, từ Huế, từ Ban Mê Thuộc, từ Cam Ranh, từ Đồng Nai… với hơn 20 vị và với trên 200 doanh nhân về tham dự trong 4 ngày tại một Resort rộng rãi, đẹp đẻ của khu du lịch nổi tiếng Mũi Né.

Mình không phải doanh nhân, cũng không xa lạ với các phương pháp tu tập của Làng Mai, nhưng vừa học xong Phẩm “Nhập Pháp Giới” của Kinh Hoa Nghiêm với Nhóm Học Phật ở chùa Xá Lợi nên  muốn trực tiếp “nhập” một phen xem sao. May mắn là Ban Tổ chức có các bạn Lê Bá Thông, chị Yến Ngọc (dân Phan Thiết) nên các bạn “hoan hỷ” cho mình đi ké, bên lề, không bị “dính” gì với Chương trình thực tập nghiêm túc, mình chỉ quan sát, ghi nhận, ngẫm nghĩ, phù hợp với sức khỏe, tuổi tác, cùng thói quen “tuỳ nghi, tự tại… vô ngại” của minh. Đã vậy mình chỉ tham dự được vài hôm thôi, vì phải về quê ở La Gi dự Họp Mặt bà con họ Đỗ mà mình nay đã gần là… Trưởng lão, với tuổi 85 rồi (Tuổi ta!).  Dù vậy, BTC đã không quên mời mình tham gia vào buổi Toạ đàm ở ngày thứ hai, về 5 Phương pháp Thực tập Chánh niệm, sẽ là nền tảng vững bền cho Doanh nghiệp, trên Chủ đề chung của Khoá thực hành này: “Phép lạ là đi trên mặt đất”…

Phải nói là BTC đã khéo léo sắp xếp một Chương trình “thực hành” vô cùng phong phú.  Có thiền tập, thiền ca, có pháp thoai, pháp đàm, tham vấn, lửa trại, đọc thơ, thiền hành… Mình chỉ hơi tiếc, giá thời gian kéo dài được vài tuần hẳn mọi người sẽ “thấm” sâu hơn. Nhưng không lo. Những người đến đây đều đã học Phật từ lâu, nay muốn có dịp trải nghiêm thực hành với những phương pháp cụ thể ra sao và dĩ nhiên sau đó sẽ thực hành dài lâu trong đời sống hàng ngày. Phần mình dĩ nhiên cũng có nhiều buổi “ngoại khoá’ với Chương trình kể chuyện, đọc thơ, ca hát, trao đổi… cũng không kém phần thú vị, sẽ kể riêng bạn sau nhe.

Như thường lệ, mình chỉ đưa lên đây một ít hình ảnh để chia sẻ cùng bạn xa xôi.

 

 

 

 

Hoàng hôn trên bãi biển Mũi Né (27.3.2024)

Bình minh trên bãi biển Mũi Né (28.3.2024)

Đi dạo quanh vườn.

 

 

 

 

 

 

 

Toạ đàm tối 29.3.2024 (từ trái: Thầy Linh Thứu, Doanh nhân Thuỳ Dương, Sư cô Khải Nghiêm, Doanh nhân Lê Bá Thông, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc).

 

Mỗi ngày đều có buổi thiền hành trên bãi biển Mũi Né.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon 6.4.2024)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

GS Trần Văn Khê nói về cuốn “Nghĩ từ trái tim” của Đỗ Hồng Ngọc

19/03/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

GS Trần Văn Khê nói về cuốn “Nghĩ từ trái tim” của Đỗ Hồng Ngọc

( Ghi theo băng audio-cassette do chị Lý Thị Lý thu tại bệnh viện Triều An, ngày 17.10.2003. Chị Lý Thị Lý là phu nhân nhà báo Trần Trọng Thức, cũng là người đã thực hiện bộ Hồi ký Trần Văn Khê, NXB Trẻ, 2002).

Lời của Giáo sư Nhạc sĩ Trần Văn Khê:

Tôi đọc “Nghĩ từ trái tim” của Đỗ Hồng Ngọc trong lúc đang ở bệnh viện một cách say mê liên tục từ đầu tới cuối, vừa đọc vừa ghi chú bên lề những cảm giác có tại chỗ hoặc những ý gợi lại những chuyện xưa. Trước hết là con đường đi tới Tâm Kinh của tôi.

Thuở nhỏ tôi đã từng nghe đọc kinh, trong đó có Tâm Kinh. Khi đó tôi chỉ biết:

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá lợi tử! Sắc bất dị không. Không bất dị Sắc. Sắc tức thị Không. Không tức thị Sắc.

Đến năm 8 tuổi tôi theo gánh hát cải lương của cô Ba. Trong màn Võ Đông Sơ tưởng Bạch Thu Hà chết rồi nên tổ chức đàn làm chay, cậu Năm tôi đưa cả thầy tu lên sân khấu đọc kinh, tụng kinh, tán và có thay đổi một số vần điệu để có tính chất cải lương. Từ một bài Tâm Kinh cậu Năm phổ nhạc ra thành hai bài gồm “Phật y phổ niệm” là đoạn đầu cho tới “diệc vô vô minh tận nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận”, phần sau mang hơi buồn là “Bạch hạc minh bi” (Con chim hạc trắng kêu lên một tiếng buồn thảm). Hồi đó tôi bị nhạc của cậu Năm làm cho có một quan điểm sai về Tâm Kinh vì cậu Năm vốn không phải là người hiểu rõ về Phật học mà chỉ phổ nhạc Tâm Kinh theo tư tưởng của người không nắm được Phật giáo.

Đến năm 1965 tôi viết về nhạc của Phật giáo nên thường xuyên được thầy Nhất Hạnh giảng cho nghe những bài kinh, bài tán, nhờ đó tôi hiểu được với từng nội dung có những nét nhạc khác nhau. Thầy chỉ nói một câu rằng Tâm Kinh chính là bản tóm tắt hầu hết những điều Phật dạy. Điều quan trọng đối với tôi lúc đó không phải là giáo lý Phật giáo mà là nhạc Phật giáo, có mấy cách tán, khi nào thì tán rơi, tán sấp hay tán trạo, nhạc đánh làm sao… Sau đó tôi học qua với thầy Viên Châu về những cách niệm hương, khai kinh.

Năm 1995 khi qua Mỹ tôi tình cờ đọc được bài viết của thầy Nhất Hạnh nói về Trái tim hiểu biết. Thầy dịch rất sát nghĩa, tuy tôi hiểu được chữ Hán một phần nhưng chỉ theo cách hiểu của bản thân. Quyển sách chủ yếu mang tính chất giáo khoa.

Con đường đi tới Tâm Kinh của tôi vòng vo như vậy, mãi cho tới khi gặp bà Karfung tôi mới hiểu rõ hơn. Bà Karfung là một thầy thúôc châm cứu, dạy khí công của tôi. Suốt một năm rưỡi bà chỉ chuyên tâm cắt nghĩa Tâm Kinh bằng tiếng Pháp..

Bà Karfung đọc và giảng từng câu cũng như Đỗ Hồng Ngọc đã đề cập trong cuốn sách của mình. Bà Karfung cho rằng không dịch ra mà để nguyên chữ Phạn, chỉ đọc ra âm thanh thôi. Âm thanh đó nhắc nhở con người phải hành, phải đi tìm chân lý, bến giác. Đến chữ “Yết đế” trong câu Yết đế, Yết đế, Bala yết đế, Bala tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha!, bà dịch là avant, encore en avant, toujours en avant et plus loin en avant (đi tới, đi tới, còn đi tới nữa và luôn luôn đi xa tới hơn nữa) để tới đáo bĩ ngạn, tới Paramita.

Thêm một cái may nữa là lần này về Việt Nam được đọc cuốn sách Nghĩ từ trái tim của Đỗ Hồng Ngọc, những điều tôi biết về Tâm kinh từ bà Karfung đều được Đỗ Hồng Ngọc nói rõ ràng bằng tiếng Việt, văn phong chẳng những giản dị mà còn dí dỏm, kèm thêm những thí dụ trong cuộc đời, lâu lâu lại chêm vài câu Kiều, thơ của Xuân Diệu hay lời ca của Trịnh Công Sơn. Càng đọc tôi càng thấy thấm thía và có phần gần gũi. Tôi đọc mà vô cùng thú vị, qua đó cho thấy hiểu biết của tác giả rất sâu sắc. Có những điều tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả. Mọi người cho rằng trong Tâm Kinh, đức Phật phủ định tất cả những gì mình đã dạy. Nhưng Đỗ Hồng Ngọc lại nghĩ ngài không phủ định mà chỉ khẳng định lại những điều mình đã dạy một cách rõ ràng hơn. Điều đó đúng quá, Đức Phật nói lần lần cho người ta hiểu.

Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, làm như phải có khoa học thì mới tìm được những chi tiết trong Tâm Kinh. Người bác sĩ này có cả tâm hồn hướng về con người nên đã viết cho trẻ con, cho những người già, người sản phụ, tìm hiểu căn bệnh để trừ bệnh, để giúp cho người ta bớt bệnh bớt khổ. Tâm tư đó là tâm từ đi tới bi. Người bác sĩ đó có được một tinh thần phóng khoáng, một tâm từ, còn là một nhà văn dí dỏm, một nhà thơ mộc mạc dễ thương nên hiểu được Tâm Kinh như thế. Phải trải qua một trận đau, một lần bị giải phẫu, khi đó cả một cơ thể mình chuyển động thay đổi, tâm tư thay đổi thì tự tìm lấy cách để trị bệnh cho mình. Trong khi học trị bệnh tức là đã hành. Tâm Kinh không chỉ đọc hiểu không thôi mà phải hành. Đỗ Hồng Ngọc nhờ tổng hợp được những yếu tố đó mà viết ra được quyển Nghĩ từ trái tim như thế này thì tôi cho đây là một tuyệt tác, nắm được tinh hoa của đạo Phật giảng ra một cách dễ hiểu, dễ dàng để cho người ta tìm thấy được mỗi chuyện làm ở trong đời….

Theo bà Karfung, Tâm kinh tuy gồm 260 chữ nhưng gút lại có bốn chữ vô cùng quan trọng là “ngũ uẩn giai không”, tôi thấy Đỗ Hồng Ngọc cũng nói về ngũ uẩn giai không như thế. Đỗ Hồng Ngọc còn đi xa hơn một chút. Bà Karfung cắt nghĩa chữ Không là vacuité, tức là không mà có rồi lần lần đi tới chỗ không mà không có là đi tới chữ vô. Đỗ Hồng Ngọc cắt nghĩa rõ ràng từ chữ không đi tới chữ vô. Cái vô đó không phải phủ nhận nhưng phải một người như Đức Phật mới dám nói tới chữ vô vì ông đưa ra Tứ diệu đế, đưa ra cái khổ của con người ai cũng phải có mà bây giờ ông nói là không khổ gì hết. Không khổ như thế mới là vô quái ngại, không sợ sệt, vượt ra khỏi vòng sanh tử rồi mới thanh thản đi tới chỗ đời sống. Đọc Tâm Kinh này mà mình thưởng thức và hành được thì mới thành công. Trong cái hành đó có cái thiền. Cái thiền đó tác giả nói cũng rõ ràng lắm. Thiền đó không phải học chơi mà phải làm. Trong đó có nhiều chuyện làm cho mình thích lắm. Người bác sĩ như Đỗ Hồng Ngọc không phải chỉ có cái nhìn của nhà khoa học không mà còn có cái nhìn từ bi của con người thương con người, thấu hiểu được tâm kinh, hiểu được biết bao nhiêu chuyện đời, chắt lọc được tất cả những cái gì hay, đưa ra một cách giản dị, làm cho người mới đọc lần đầu sơ sơ đã thấy có cái gì như ánh sáng loé lên, càng đọc càng thấy rõ. Tôi cho rằng quyển sách này tuyệt vời.

Trong trang 37 Đỗ Hồng Ngọc nói người nào kiểm soát được hơi thở thì kiểm soát được cái tâm của mình.Khi kiểm soát hơi thở mình kiểm soát được cái tâm, cái tình cảm của mình rất là đúng. Đó là kinh nghiệm bản thân của tôi.

Ngoài ra đến trang 102, Đỗ Hồng Ngọc nói rằng: “Biết sống hôm nay, ở đây và bây giờ”. Đó cũng là kinh nghiệm của tôi theo một câu kinh. “Không nên hối tiếc quá khứ, đừng quá bận tương lai vì quá khứ đã qua rồi mà tương lai thì chưa tới. Hãy biết sống trong hiện tại”.

Trang 80 Hồng Ngọc có ghi rằng: “Mây lang thang vô định, xây thành rồi tan biến rồi lại xây. Mây thành mưa. Mưa thành suối, sông hồ, biển cả rồi lại bốc hơi thành mây”. Tôi đọc câu đó mà nhớ đến thời điểm năm 1952, tôi đang ở bịnh viện thì người ta nói rằng ráng một tháng nữa sẽ được ra viện. Tôi chờ đợi cho hết tháng rồi tới gặp bác sĩ, ông  nói chưa ra được ráng thêm ba tháng nữa. Từ tưởng tượng mình được ra viện bỗng cũng như mình được lên trời lại phải trở về chỗ cũ. Bữa đó buồn quá nên tôi ngồi viết bài “Mưa”. Lúc ấy tôi đang nghiên cứu về nhạc miền Trung nên bài Mưa mang hơi hướm của Nam bình Huế:

Hôm nay suối lạc dòng
Hôm nay suối lạc dòng
Dưới ánh nắng vàng nước tan thành hơi
Nước lên trời, lên trời thành mây, mây ơi!
Khi bay theo đám mây lành, bỗng gặp cơn gió lạnh
Hồn nước biến thành mưa trở về trần gian chảy kiếp thừa.

Đọc cuốn sách của Đỗ Hồng Ngọc, từng đoạn từng đoạn vừa hiểu được Tâm Kinh mà thấy rằng cách diễn tả đó nếu người nào chịu khó đọc rồi cũng sẽ hiểu được Tâm Kinh. Mà nếu chịu khó hành Tâm Kinh, trước nhứt là kiểm tra hơi thở của mình lần lần kiểm tra được tình cảm của mình, tìm thấy được mọi việc. Cái mà mình tưởng là có thì chỉ là ảo ảnh của chuyện đó. Từ đó mà cái mất cái còn đối với mình không còn quan trọng. Mất thì mình tiếc chuyện đó vì tưởng nó có hình thức nhưng thực ra nó không có gì hết, nó có mà không có, mất rồi thì sẽ có cái khác. Trong tất cả những chuyện đó mình đi lần tới chỗ vô ngã thì chừng đó người ta chửi thì mình cũng không giận. Mình giận là tại sao họ dám động tới “ta”. Làm sao đi tới chỗ mình thấy ngã không còn là quan trọng nữa. Thầy Thiện Siêu có nói vô ngã là niết bàn. Điều đó khi tôi đọc quyển sách hiểu thấu được như vậy, tôi vô cùng hoan nghênh.

Trang 54 Đỗ Hồng Ngọc có nói rằng khi có cảm gió thì thưởng thức lá xông, tô cháo hành. Cảm gió tùy theo loại cảm gió, nếu đó là gió luồng, gió mưa hay gió tuyết thì khi bị cảm thì khí âm nhập vào người mặc dầu nó làm mình nóng sốt nhưng trong cái sốt đó âm rất nhiều. Vì vậy mà khi cảm lạnh thì người Việt Nam mình ăn một chén cháo gừng vì gừng đem dương vô chế ngự khí âm. Nhưng nếu bị cảm nắng thì phải ăn cháo hành vì cảm nắng dương vô nhiều quá phải đem hành là cái âm vô để chế ngự lại. Cái đó chứng tỏ người Việt Nam mình trong cách ăn là đã trị bịnh phù hợp âm dương rồi. Cho nên có những câu cách ngôn thông thường mà suy nghĩ kỹ mình mới thấy hay thí dụ: “Mùa hè ăn cá sông mùa đông ăn cá biển”. Mùa hè thì chung quanh ta là khí dương mà cá sông có nước ngọt thấm vào có nhiều khí âm để chế ngự trong khi mùa đông khí âm tràn lan, cá biển thấm nước mặn và thấm cả khí dương nên ăn vô trị cái âm của trời đất.

Đọc cuốn sách của Đỗ Hồng Ngọc có nhiều cái suy tư, nhớ lại, trùng hợp nhiều cái thành ra thú vị vô cùng. Mỗi trang sách có sự thú vị khác nhau. Nhưng cảm giác này mãnh liệt dồi dào và xảy ra trong lúc đang bịnh nằm trong bịnh viện mà đọc đựơc Nghĩ Từ Trái Tim. Nhờ có cuốn sách mấy ngày đó tôi quên bịnh, chỉ đọc cái đó mà thú vị, đọc vô thấy khỏe trong người và ghi trở lại một vài điều hôm nay.

(tặng Thức-Lý)

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe, Vài đoạn hồi ký

Sư Giới Đức: Vài Lời Về Dịch Phẩm “Vị Thánh Tăng Cận Đại”

23/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú:

Mùng 4 Tết Giáp Thìn (13. 02. 2024), tại Huyền Không Sơn Thượng, Huế, Sư Giới Đức trao cho tôi cuốn sách này, và dặn dò, bác sĩ nhớ đọc kỹ nhe.  Và, tôi đọc kỹ, ngạc nhiên, thì ra có một vị Sư đã “học” và đã “hành” Phật pháp theo “một lộ trình tu tập” như vậy đó…

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Vài Lời Về Dịch Phẩm

“Vị Thánh Tăng Cận Đại”

 

Tỳ-khưu Giới Đức

(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)         

Sư Tường Phát, đệ tử của ngài Pháp Tông, chùa Huyền Không-Huế, trao tôi một tập bản thảo dày hơn một trăm năm mươi trang khổ giấy A4, nói đây là bản dịch của một nhóm Phật tử chùa Bửu Long, đệ tử của thiền sư Viên Minh, về cuộc đời của một vị Thánh, nhờ tôi xem và nhuận sắc.

Nghĩ là cần một vài lời giới thiệu để độc giả nắm bắt khái lược những chi tiết nội dung mà tôi cho là hay, là độc đáo, là cần thiết cho mọi người tu Phật.

 

1- Đại đức Mahn Bhūridatta, sinh năm 1870 và mất năm 1949 tại Thái Lan, ngài khởi tâm tu và xuất gia từ nhỏ, học hành không được nhiều. Sau khi thọ giới tỳ-khưu năm 22 tuổi rồi theo thầy là đại đức Sao cùng vào núi rừng tu hạnh đầu-đà, và thọ trì được bảy trong mười ba chi pháp của đời sống khổ hạnh này.

2- Nhờ đại đức Sao hướng dẫn vài cách thức tập thiền ban đầu, sau đó ngài phải tự mày mò hành trì một mình. Khi gặp những hoài nghi hoặc bế tắc nào đó, đại đức hỏi thầy thì thầy đáp, đại lược là: “Tâm của ông khác tâm của tôi, vậy ông hãy tự tìm ra phương pháp, giải pháp cho mình”. Nghĩa là, bắt đầu từ đó, đại đức không còn ai là thầy nữa trên lộ trình đầy cam go, gian khổ để giải quyết những tham sân, phiền não của chính mình.

3- Không bao lăm chữ nghĩa, không trang bị kinh điển, không có thầy trực tiếp hướng dẫn, đời sống hoàn toàn cơ cực, thiếu thốn nhưng đại đức đã quyết tâm tự tu tập một cách kiên trì và bất khuất. Đối diện với cọp dữ, voi rừng, ma thiêng, chướng khí, đói rét… đại đức không hề thối chí, ngả lòng. Những khi ốm đau, nhất là bị bệnh sốt rét hành hạ, đại đức không dùng thuốc men, chỉ sử dụng “pháp dược” tự chữa trị cho mình. Và suốt đời, đại đức đã dùng “pháp” để đánh bại tất cả chướng ma ngoại giới cũng như nội tâm.

4- Lộ trình tu tập của đại đức ban đầu là thiền định; có định sâu, thành tựu một vài thắng trí, có thể cảm hóa hung thần, có thể đi thăm thiên đường, địa ngục. Sau, đại đức chuyển sang tu tập vipassanā, tuệ quán cho đến lúc giải thoát tất thảy mọi tham sân phiền não. Từ đó, đại đức tuyên bố định-tuệ song tu, không có tuệ thì định có thể bị lầm lạc, dính mắc.

5- Đại đức có giới luật nghiêm minh, suốt đời thân giáo, giáo giới nghiêm khắc, không mệt mỏi đến chúng đệ tử, nhất là chư sư đầu-đà khổ hạnh. Đại đức đã làm sống lại bảy trong mười ba pháp hạnh đầu-đà, đồng thời thổi vào nếp sống thiền môn không khí tu tập cổ xưa thời đức Phật, đấy là giới, định, tuệ một cách rất điển hình, mẫu mực và nghiêm túc. Các vị thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan đương đại, đều là lớp đệ tử thế hệ thứ hai, thứ ba, thứ tư… nối tiếp được truyền thừa này và hiện đang phổ cập trên thế giới.

Tuy nhiên, điều tôi tâm đắc để giới thiệu cuộc đời đại đức không chỉ do tất thảy các tiêu biểu kể trên mà còn chính là “lộ trình tu tập”! Đa phần người ta thường nghiên cứu kinh điển, tìm nghĩa lý, nắm rõ giáo pháp rồi mới hạ thủ công phu. Lộ trình ấy tạm đúc kết theo tiến trình thứ tự là giáo, lý, hành và quả. Trường hợp này là phổ thông trên thế giới, xưa và nay vì dựa vào kinh điển. Tuy nhiên, nếu điểm tựa kinh giáo (giáo) chỉ cần bị “khúc xạ một ly” thì ý nghĩa (lý) trong đó đã “lệch lạc một dặm”; do đó, việc tu tập (hành) không biết đắc được cái đạo (quả) nào? Người dựa vào kinh điển hoặc chưa chứng nghiệm, giác ngộ, giải thoát mà đã dạy đạo, dạy thiền thường rơi vào trường hợp “sai một ly, đi một dặm” nêu trên.

Đại đức Mahn Bhūridatta không đi theo công thức ấy, vì có điều thật lạ lùng là ngài chẳng có giai đoạn giáo và lý; tuy có hành nhưng không có kinh điển, không có thầy, thế là tự mình mầy mò cho đến lúc giác ngộ (quả) giải thoát luôn. Sau đó mới xuống non hoằng pháp. Vậy thì đại đức đã đi ngược lại tiến trình do chư “học giả Phật giáo” thiết định. Đại đức đã đi thẳng, trực tiếp từ tâm, học “cái thực” từ nơi tâm, miệt mài đối trị, chuyển hóa, phấn đấu, lắng nghe, nhìn ngắm, “điều tra” cái bộ mặt thực của tham sân si nó ra sao – hoàn toàn trong cô liêu, đơn độc và thầm lặng. Sau khi giác ngộ, giải thoát (đạo) rồi, đại đức mới hướng dẫn đệ tử tu tập (hành) từ “cái thực” mà ngài đã chứng nghiệm. Lý và giáo như thực cũng từ đó mà sinh ra. Thật không ngạc nhiên gì, khi sau này, đại đức đọc kinh điển rồi giải thích nghĩa lý (lý, giáo) cho chư đệ tử nghe mặc dầu ngài không rành thông hoặc kinh qua kinh điển. Trường hợp này là đại đức chỉ lấy kinh điển để so sánh, đối chiếu với tâm và tuệ của mình thôi.

Con đường tu tập được bắt đầu học “cái thực” từ nội tâm là đúng đắn, là chơn chánh. Tứ đế nằm ở đấy. Chân lý, Sự Thật, Thắng Nghĩa, Tự Tánh, Bản Lai Diện Mục, Vô Vị Chân Nhân, Đạo, Niết-bàn, Bờ Kia, Tuyệt Đối, Bất Tử, Vô Sanh, Chân Phúc… ở đây và bây giờ trong mỗi chúng ta, trong tương quan vận hành duyên khởi. Nó không có biên ranh giữa tiểu thừa, nguyên thủy, đại thừa, kim cương thừa, Zen, thiền tông…

Viết đến đây, tôi sực nhớ cách đây khoảng mười mấy năm về trước, thiền sư Viên Minh đã thuyết giảng “cái thực” này tại Huế, sau đó, Phật tử ở Pháp xin in và họ lấy tên là “Thực tại hiện tiền”. Thiền sư Viên Minh là người đã bác lãm chư kinh điển Đại Thừa, đã nghiên cứu thấu đáo tinh hoa của Khổng, Lão; lại còn suốt thông các Nikāya và Abhidhamma, nhưng khi tu tập, ngài không trụ, không ly chư kinh giáo, lắng nghe “cái thực” trong tâm mà xử lý mọi vấn đề vi tế ở nội tâm. Khi đã nắm chắc, thấy rõ “cái thực” là gì rồi, nhiều năm nay, thiền về “cái thực” này đã được ngài giảng nói qua cả hằng chục khóa thiền ở Bửu Long, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, Úc, Malaysia, Mỹ quốc, Châu Âu… Ngài đã chỉ bày, gợi mở cho mọi người nắm “cái nguyên lý” mà lên đường chứ không đi qua “pháp môn phương tiện” nào cả! Và đã giúp cho rất nhiều hành giả giải thoát khỏi những vướng mắc về kinh giáo, lạc định, ước lệ, phạm trù của tâm trí cùng những bản ngã sở đắc! Trả vô thường lại cho vô thường, trả dukkha lại cho dukkha, trả vô ngã lại cho vô ngã! Và rồi, chư kinh giáo, nếu có nói đến cũng chỉ để nhằm đối chiếu, so sánh với “cái thực” này mà thôi!

Pháp đang hiện tiền, “cái thực đang hiện tiền” và nó luôn thuyết pháp không ngưng nghỉ, ngày cũng như đêm. Ai có tai hãy nghe, có trí hãy tìm hiểu!

 

Huyền Không Sơn Thượng, 

Mai Trúc Am, Sơ Xuân Giáp Ngọ

Tỳ-khưu Giới Đức

(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

 

Ảnh: Tịnh Thy

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Lõm bõm học Phật

Họp mặt “bỏ túi” ở Lan Viên Cố Tích

20/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi ( M5 Tết Giáp Thìn, 2024)

Họp mặt “bỏ túi” ở Lan Viên Cố Tích

 

Cứ tưởng là cổ tích, nhưng không. Cố Tích. Vết xưa. Dấu xưa. Lối xưa. “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo…” (BHTQ).

Chiều Mùng 5, (ngày 14.2), có một buổi Họp mặt “bỏ túi” thân tình ở vườn nhà Thái Kim Lan, khu Kim Long, Huế.

Gọi là “bỏ túi” vì đó là một buổi họp mặt nho nhỏ, thân tình, đầu năm, giữa vài bạn bè thân quen với Đỗ Hồng Ngọc vừa từ phương Nam mang chút nắng vàng về… Kinh.

Thái Kim Lan “chủ xị”, lúc đầu tính mời rộng qua FB nhưng mình can, Tết nhứt, ai cũng bận bịu. Vậy mà cũng hơn vài ba mươi người chớ không ít.

Gởi bạn vài tấm hình coi chơi thôi nhe.

Khu vực vườn nhà Thái Kim Lan rất rộng, có cả bảo tàng cổ vật sông Hương, thư viện, hội trường…

 

 

bạn bè đến khá đông vui… nhiều người tóc đã trắng phau, vẫn áo dài truyền thống thướt tha đầy màu sắc…

Một… hội trường mở rộng vào không gian vườn vừa cổ xưa vừa hiện đại… Mình được mời nói một chút về chuyện Thơ văn, chuyện học Phật…

Và bắt đầu sôi nổi với những câu hỏi của nhà báo Nguyễn Khoa Diệu Hà, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy, của bác sĩ Pham Đức Thành Dũng, của nhà Phật học Nguyễn Phố…

D

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

19/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (Tết, tiếp theo)

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Lần nào về Huế, mình cũng ghé Huyền Không Sơn Thượng thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh. Một nhà thơ, một nhà thư pháp có tiếng từ thuở xa xưa và là một vị thiền sư bên cạnh các Thiền sư Viên Minh, Pháp Tông, Tuệ Tâm của Phật giáo Nguyên Thuỷ…

Năm ngoái, cùng với các bạn Tạp chí Quán Văn ghé thăm (trong đó, có nhà văn Nguyên Minh vốn là đồng môn Sư phạm Quy Nhơn hơn nửa thế kỷ trước với Sư Giới Đức), mình hỏi thầy về kinh nghiệm sau 3 năm nhập thất… Thầy kể rất chi tiết cái được cái không, cái thấy cái biết và kết: Bây giờ thì đã rõ “Bình thường. Thanh thản. Tự nhiên thôi/ Với cả nhân gian một nụ cười”.

`Thầy nói về cây hoa thuỷ tiên,

 

 

Và thật vậy, hôm nay gặp lại, đúng là thầy cười rất tươi, không còn chút gì căng thẳng, vất vả tìm kiếm như những ngày xa xưa nữa.

 

Từ trái: Nguyễn Thị Tịnh Thy, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Văn Dũng (Dũng Võ), Ngô Tiến Nhân và nhà báo Minh Tự. (Mùng 4 Tết Giáp Thìn, 13.2. 2024). Sư đều tặng cho mỗi người 3 cuốn sách to đùng về Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, một tập Thơ. Ngoài ra còn có cuốn sách của Thầy Chơn Tín về chuyến hành hương Ấn Độ.

 

 

 

 

Sư gọi đệ tử gởi ngay 10 tập Thơ riêng cho “Nữ sĩ”, khi biết Tịnh Thy là người đã viết rất hay về Thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh trước đây.

 

 

 

Với Đỗ Hồng Ngọc, Sư tặng cuốn sách mới dịch: Cuộc Đời & Hành Trạng Ngài Ajahn Mun (1870-1949), một Tỳ Khưu độc đáo, Vị Thánh Tăng cận đại, có những cách học và hành Phật pháp rất đặc sắc.

 

 

 

T

Thuộc chủ đề:Gươm báu trao tay, Phật học & Đời sống, Vài đoạn hồi ký

Mùng Một. Giáp Thìn 2024

10/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Mùng Một. Giáp Thìn 2024

Năm Mới. Tháng Giêng. Mùng Một Tết

Còn nguyên vẹn cả Một Mùa Xuân

(Nguyễn Bính)

 

Thiệp Xuân Giáp Thìn 2024.
Đinh Trường Giang

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

“VỀ THU XẾP LẠI…”

09/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“VỀ THU XẾP LẠI…”

Nguyễn Thị Tịnh Thy

 

 

Ở tuổi 55, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc bần thần viết “Gió heo may đã về”, đến 60 thì viết “Già ơi… chào bạn!” như một reo vui, đến 75 còn… ráng viết “Già sao cho sướng?…” để sẻ chia cùng bè bạn đồng bệnh tương lân. Nhưng 80 thì thôi vậy. Đã đến lúc phải “VỀ THU XẾP LẠI”.
“Về thu xếp lại”… bởi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”…, “giật mình ôi chiếc lá thu phai”…
“Về thu xếp lại… bởi “cát bụi tuyệt vời” đã chuyển thành “cát bụi mệt nhoài”
“Về thu xếp lại…, “một ngày kia đến bờ”…, “đời người như gió qua”.
Hãy đón nhận ngày đó một cách bình thản, an nhiên như “mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi; mệt quá thân ta này, nằm xuống với đất muôn đời…” Có gì đâu! Nhẹ tênh mà!
Lấy cảm hứng từ những ca từ đầy tính triết lý phận người nhẹ nhàng mà sâu sắc của Trịnh Công Sơn, Đỗ Hồng Ngọc sẽ đưa chúng ta đến với các U80 bằng y học, tâm lý học, Phật học… trong dặt dìu của âm nhạc, thi ca.

 

minh hoạ Đỗ Trung Quân

Dí dỏm, duyên dáng, chất khoa học đan quyện trong chất nghệ thuật, sự nghiêm trọng chuyển tải qua các ngôn từ hài hước của cuốn sách nhỏ sẽ giúp những người già dễ dàng lắng nghe chính mình. Và đặc biệt, người trẻ sẽ hiểu hơn về người già.

minh hoạ Đỗ Trung Quân

Hiểu gì?
Hiểu rằng người già khó ăn, khó ngủ, khó tính, … nhưng lại dễ yêu: “…Có vẻ như càng già người ta càng yêu nhiều hơn, yêu vội hơn và càng yêu thì càng “sống khỏe sống vui” hơn! Khi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội” thì mới thấy còn có bao nhiêu thời gian để yêu thương và được yêu thương? Dĩ nhiên, tình yêu bấy giờ có thể chỉ là một mối tình lãng mạn, hoặc một mối tình “ngỡ đã quên đi/ bỗng về quá rộn ràng”… để rồi “như bờ xa nước cạn/ đã chìm vào cơn mưa”. Tình yêu lãng mạn có ý nghĩa rất lớn ở người có tuổi. Như “nuôi sống” họ bằng tình yêu. Hình như họ chỉ giữ được chút kích thích tố vừa đủ để “lãng mạn” cho cuộc đời đẹp ra, đáng sống hơn, sức khỏe cũng tốt hơn vì nó làm cho tim đập nhanh hơn, tuần hoàn não tốt hơn, trí tuệ minh mẫn hơn, hệ thống miễn dịch hoạt động tốt hơn, ít bệnh vặt hơn và nếu có bệnh thì rất mau lành!”

Có chắc như thế không nhỉ? Các anh chị em Tag vào Facebook của ông bà nội, ông bà ngoại xem các cụ comment thế nào nhé!
****
FB Nguyễn Thị Tịnh Thy.

(“Về thu xếp lại”, Nxb. Tổng hợp tp HCM, 2019, bìa Lê Ký Thương)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (30 Tết)

09/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (30 Tết)

Có gì lạ không ư? Có đó. Sáng 30 Tết, không khí như loãng ra, trời như cao hơn, đất như rộng hơn. Im ắng lạ thường. Không một tiếng động dù là tiếng rao bánh mì nóng, xôi vò xôi đậu, thậm chí không có một tiếng động cơ xe ầm ào như mấy ngày trước. Lạ. Ba mươi thì có khác gì đâu. Cũng hai mươi bốn giờ, mỗi giờ cũng sáu mươi phút, mỗi phút cũng sáu mươi giây. Vậy mà lạ mới kỳ chớ.

Nghe cho kỹ thì ra có cái gì đó. Hình như mùa đang chuyển. Hình như trái đất vừa quay được một vòng quanh mặt trời và hớn hở mĩm cười như đã thành công! Trời bỗng hơi bẽn lẽn se lạnh. Không khí loãng ra, không còn đặc quánh với bụi khói, với tiếng ồn kia nữa. Không khí ùa vào phổi, chẳng cần phải ráng hít thở chi.

Nhớ André Maurois, một hôm ngồi uống cafe sữa ở vỉa hè Paris, khi quậy lên từ đáy cốc thì thấy sữa cuộn lại và lốm đốm những hạt li ti, quấn quít, trắng đục. Ông kêu lên: Dải Ngân Hà đây rồi. Và biết ngay đã có một ai kia quậy một ly cafe sữa tình cờ đâu đó mà ra ngàn vạn dải Ngân Hà xoắn tít xưa nay trên bầu trời vời vợi kia.

Bỗng nhớ Sóng về đâu của Trịnh Công Sơn. Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng về đâu! Thì về với nước. Có mất đi đâu. Nhưng không cần thiết phải xô nhau. Chỉ cần nước, gió, và bãi bờ  để làm duyên cho sóng. Có khi rầm rập vỗ tan vào gành đá, có khi lướt thướt mượt mà chạy cuốn loanh quanh. Nó như có một số phận. Một cái nghiệp và duyên khởi thì duyên sinh.

Có lần tôi viết bài thơ ngắn:

Sóng

Sóng quằn quại

Thét gào

Không nhớ

Mình

Là nước…

(ĐHN, Thơ Ngắn Đỗ Nghê)

Và nhớ năm 2011, một con sóng thần đã ập vào Nhật bản, quét sạch cả một thành phố… Tôi đã viết bài thơ Giả sử

đỗ hồng ngoc

Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang

Ập vào Mũi Né

Anh chị kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng

Vút qua những ngọn dừa

Những đồi cát trắng

Em nhớ mang theo đôi quả trứng

Vài nắm cơm

Vài hạt giống

Đừng quên mấy trái ớt xanh

 

Biết đâu mai này

Ta làm An Tiêm

Trở về làng cũ

Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang

Nơi kia gọi là Mũi Né

 

Cho nên

Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?…

(ĐHN)

Bạn biết không, không phải vô cớ mà nhà thơ Nguyễn Đình Toàn viết: Còn đêm nào vui bằng đêm Ba mươi… Anh nói với người phu quét đường. Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em…

Chiếc lá vàng làm “bằng chứng” ư? Chớ còn gì nữa. Chiếc lá vàng, rụng rơi xuống đất kia chẳng đủ làm bằng chứng rằng anh sẽ yêu em mãi đến như chiếc lá vàng kia đó sao?

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 30 Tết Giáp Thìn 2024)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Thư viện Hoa Sen: Một Ngày Kia… Đến Bờ (Song ngữ Việt-Anh)

22/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

https://thuvienhoasen.org/a40640/mot-ngay-kia-den-bo-one-day-reaching-the-other-shore-song-ngu-vietnamese-english-

“MỘT NGÀY KIA…ĐẾN BỜ”(*)
Tuỳ bút
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Saigon, tháng 6.2023

Thật đáng buồn, là phần đông chúng ta chỉ bắt đầu thưởng thức được hương vị đời sống khi chúng ta sắp sửa chết.  

Padmasambhava (Liên Hoa Sanh)

Một ngày kia… đến bờ?

 

Lời ngỏ

Bờ nào? Bờ bên kia hay bờ bên này? Đáo bỉ ngạn? Là mong cho tới bờ bên kia? Ý rằng bờ bên kia hẳn là hay hơn, đẹp hơn, tốt hơn bờ bên này? Sao biết? Đã có ai nói cho biết chưa? Có con rùa nào từng đi dạo lang thang từ dưới biển lên đất liền nói cho biết chỗ nào đáng sống hơn chăng?

Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté… một đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú… năng trừ nhất thiết khổ chân thật bất hư ư? Sao người ta vẫn đọc hà rầm khắp nơi, đọc hằng ngày câu chú trong Tâm kinh Bát Nhã đó mãi mà vẫn thấy cứ còn khổ, thậm chí “cực khổ”, nên chỉ mong sao được mau về miền “cực lạc”, được vãng sanh qua nơi khác, qua bờ bên kia. Vậy mà lạ, hình như ai cũng muốn sống lâu, thậm chí trường sinh bất tử, nghĩa là ở mãi nơi này, nơi “cực khổ” này? Tại sao?

Tôi viết những cảm nghĩ này ở tuổi U90 của mình, viết cho riêng mình đọc, lai rai đọc cho đến khi không cần đọc nữa! Và dĩ nhiên có thể chia sẻ cùng bè bạn thân

quen “cùng một lứa bên trời lận đận” của mình để có dịp “chí chóe” cho vui…!

Well-being và well-dying vậy nhé!

Đỗ Hồng Ngọc

(6.2023)

 

“One Day… Reaching the Other Shore”

Dr Do Hong Ngoc, MD
Saigon, June 2023
(Manuscript – write for myself aged U90)

Translated by Red Pine 

It is really sad that the majority of us just begin enjoying the taste of life once we are on the verge of death. ( Padmasambhava)

One day reaching the other shore?

What shore? This shore or the other shore? Reaching the other shore? Yearn to come to that shore? Does that mean the other shore is far better than and more beautiful than this shore? Why know? Has anyone said that? Has any turtle roaming from sea to land informed where is more livable yet?

Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté… is the great mantra of great magic, unexcelled mantra, the mantra equal to the unequalled, which heals all the suffering and is true, not false? (Pine 3)1 The people recite it, the mantra in Heart Sutra, extensively everywhere, they still feel miserable, even so miserable, they just wish to soon reach the “land of overjoy”, be reborn to the other place or the other shore. So strange! Seemingly everyone wants to remain longer, even indefinite longevity without death, in this world, “the land of over-sorrow”? Why?

I am writing down this thought at the age of U90, writing for self-reading, little by little reading until unable to read! And obviously able to share with our close friends who are “at the same generation by the sky of turbulence” in order to gossip!

Hope well-being and well-dying as well!

Dr Do Hong Ngoc, MD

(June 2023)

………………………………….

Đọc bản tiếng Anh trên Thư viện Hoa Sen.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024)

08/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024)

Gió Bấc

Đi giữa Saigon

Phố nhà cao ngất

Hoa nở rực vàng

Mà không thấy Tết

Một sáng về quê

Chợt nghe gió bấc

Ơ hay Xuân về

Vỡ oà ngực biếc…

(Đỗ Hồng Ngọc)

Bài thơ nhỏ, thiệt thà, viết đã lâu lắm rồi, vậy mà bây giờ nhiều người còn nhớ. Báo Trẻ xuân năm nay, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp đã chọn đăng lại trong mục Thơ xuân…

Với tôi, Gió Bấc ớn lạnh xương sống y hệt cơn sốt rét rừng như còn đang hoành hành trong cơ thể gầy nhom của mình. Nó buốt. Nó nhọn. Nó xót… và nó lạnh dĩ nhiên rồi – với một đứa trẻ lên mười mỏng manh như tôi những ngày tá túc trong một ngôi chùa Tàu nghèo ở Phan Thiết- lộp cộp guốc xuồng gỗ trên con đường Gia Long rồi lang thang dọc bờ sông Cà Ty mà nghe mùi cốm mùi pháo…

Khi tôi viết bài Mũi Né, đã hơn nửa thế kỷ trước: Em có về thăm Mũi Né không/ Hình như trời đã sắp vào xuân/ Hình như gió bấc lùa trong Tết/ Những chuyến xe đò giục bước chân… (Mũi Né, ĐHN 1970), thì cũng lại gió bấc, thứ gió hình như ám ảnh người miệt biển quê tôi nhiều nhất.

Cho nên bây giờ muốn nghe Tết, muốn thấy Tết, thì tôi lại về Lagi, Phan Thiết để tìm Gió bấc khôn nguôi của tuổi thơ mình.

Mùa bấc, biển như sánh lại, sệt lại, đục hơn và sóng rát hơn, dữ dội hơn bao giờ hết. Bãi bờ bị xoáy toang…

Biển Lagi mùa Gió Bấc

vắng hoe người

“Biển sóng biển sóng đừng xô nhau/ Ta xô biển lại sóng về đâu?” (TCS)

Lagifarmstay quen thuộc, mỗi lần về thăm quê. Ở đó, còn một chút cho riêng mình…

Ở đó, còn có thể “nhìn nắng hàng cau nằng mới lên… ” (HMT)

Và vô vàn hoa thanh long ở Phong Điền, Hiệp Nghĩa, quê ngoại

 

Rồi từ Lagi tôi đi một mạch dọc biển về Phan Thiết, qua Mũi Né, Bàu Trắng, đến Phan Rí Cửa, rồi Long Hương, Cổ Thạch, thăm nhà văn Hồ Việt Khuê, Nguyễn Phương cùng các bạn vùng La Gàn, gặp lại thầy Huỳnh Đình Tám…

 

 

 

 

 

 

 

La Gàn (Long Hương) mùa Bấc thổi…

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(1/2024)

 

T

 

T

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Thiền và Sức khỏe, Uncategorized

Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh: NHỚ ĐINH CƯỜNG

08/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nhớ Đinh Cường

Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh

 

Đinh Cường (ghi bởi Đỗ Hồng Ngọc, trước Nhà Thờ Đức Bà, Saigon, 2013)

 

NHỚ XANH TRONG TRANH NGƯỜI

Những đàn cây gầy ốm
Đang rủ nhau đi
Cùng ánh mắt chiều muộn
Như mùa đông vừa phết lên giấc mơ
Người thiếu nữ cổ cao. Áo dài đen. Thánh thiện*
Nóc nhà thờ ứa lệ
Rơi xuống tiếng chuông xanh
Mùa của tình yêu

Nhà thờ như cây nến cô đơn. Lung linh dãy phố
Nửa vầng trăng kéo đêm xanh
Chia cô đơn cùng ánh đèn khuya dưới mái nhà im lặng**
Thời của bạn hữu
Thơ Prévert. Cà phê nhòa nâu. Bức tranh buồn
Người phết mạnh bạo một vệt dài màu đỏ
Những đốm đỏ khắc khoải suốt thời binh lửa
Tiếng bom nào rơi trong hồn tôi
đêm nay
đêm hãi hùng như loài thú dữ
 (Đinh Cường)
Một thời người đã đi qua…

Nỗi hoài hương rưng rức xanh
Người và những hàng cây hồi ức
Soi mình dòng Potomac
Lạc lâm. Mùa xanh xưa***
Một thời người đã xa
Một tiếng thở dài
Một ngụm khói tan…

Như tôi vừa nghe. Giấc mơ nào thời trẻ
Đêm nay khóc cùng vệt mầu dở dang nơi phòng tối
Có tiếng gào
Ưng ức bầy tranh
Khóc nhớ…

Ngày 7.1.2021
(Nhớ Họa Sĩ Đinh Cường, ra đi ngày 7 tháng 1, 2016)

*tranh: Chân Dung T.NH. Để Nhớ Đà Lạt
**tranh: Phố Đêm
*** Những bức tranh: Lạc Lâm- Nhà Bên Sông Potomac- Đà Lạt Nostalgia

……………………………………………………………….


MỘT LINH HỒN TRONG SUỐT ĐANG BAY*

– Tưởng niệm họa sĩ Đinh Cường, ra đi ngày 7.1.2016

Thử gạch một đường xem tới đâu**
Xa như cuối trời vừa đóng lại
Vắng như đêm vừa mở giấc mơ bay

Bay cuối dòng gặp bạn ngồi trông
Tiếng đàn rung gợn lòng chín suối
Những mảng mầu thơ dại trổ bông

Bông vỡ tiếng cười rền rền sương khói
Người nghe chút nhớ tuyết mùa xưa
Con đường ấy đã một lần đứng lại

Cột dây giày, ngó mông trời ly viễn
Thở hơi ra ngụm khói tàn mau**
Con chim hót giọng khan ngày nhuốm bệnh

Ngó lên trời hạt nước mắt ai bay
Hương cố xứ thơm mùi cọ mới
Có mùa đông khóc tiễn trong mây

Ngó xuống ngày vàng xao xác lạnh
Mơ ai cào lá ngoài sân đêm**
Bay bay lên những linh hồn lá mỏng

Con chim đỏ hót mầu tuyết bỏng
Tôi bưng mặt. Mùa đông qua lồng lộng
Nghe đất trời vừa gần lại, hôm nay…

9.1.2016

* Linh hồn trong suốt, chữ của nhà văn Khuất Đẩu.
** Thơ Đinh Cường. Cào Lá Ngoài Sân Đêm, tên một thi họa phẩm của họa sĩ Đinh Cường.

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024) tiếp theo

07/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Sáng 1.1.2024, về Lagi, ghé “Suối Đó Chùa Đây” thăm Thầy Thích Tấn Tuệ, nhà thơ Đinh Hồi Tưởng. Quen thầy đã lâu, có hơn 30 năm trước, khi thầy mới đến Lagi, lập cái chùa lá bên dòng Suối Đó, một con suối khá đẹp ngay trên đường chính vào Lagi.

Có lần đến thăm, thầy đi vắng, mình để lại mấy dòng:

Chùa đây suối đó thầy đâu

Mây ngàn hạc nội còn lâu mới về…

(ĐHN)

Bây giờ thầy đã là một vị Hoà Thượng, nhưng vốn là một nhà thơ, chùa vẫn được “bà con văn nghệ” đến chơi, đề thơ bên suối, nhưng còn khá ngổn ngang với bao nhiêu là cổ vật, thầy sưu tầm khắp nơi mang về. Mình khuyên thầy “về thu xếp lại” là vừa, cần một nhà kiến trức giúp sửa cho hoàn chỉnh ngôi chùa thơ mộng. Bè bạn thường chọc thầy Đinh Hồi Tưởng là “đương hồi tỉnh”, thầy vẫn cười cười, nói đương hồi tỉnh vẫn tốt hơn cứ mãi vô minh ư?

SUỐI ĐÓ Lagi

 

Thầy Thích Tấn Tuệ (nhà thơ Đinh Hồi Tưởng)

Đỗ Hồng Ngọc và Thích Tấn Tuệ (Chùa Đây Suối Đó, Lagi, 1/01/2024)

 

CHÙA ĐÂY (Thanh Trang Lan Nhã)

 

Thân mến,

ĐHN

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Một ngày kia… đến bờ

07/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

NGƯỜI ĐÔ THỊ

Một nhttps://nguoidothi.net.vn/mot-ngay-kia-den-bo-42259.htmlgày kia đến bờ

Một ngày kia đến bờ

 

Đó là tựa đề cuốn tùy bút mới nhất của nhà văn, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vừa ra mắt bạn đọc. “Một ngày kia đến bờ” là những chiêm nghiệm sâu sắc từ một nan vấn: “Con người đến từ đâu và sẽ đi về đâu?”.

Trước những truy vấn muôn thuở của nhân loại về sinh tử, trong vai trò bác sĩ, ông lần lượt tìm kiếm câu trả lời dưới góc độ khoa học như: tế bào, DNA, gen… Khi tất cả luận cứ thực chứng đều chưa thỏa nan đề, ông đã thong dong lần giở những trang kinh nhà Phật, và quán tưởng bằng pháp nhãn, bằng triết lý duyên, nghiệp, sắc, không… để cùng độc giả đi sâu hơn vào bản chất của kiếp người.

Bìa cuốn Một ngày kia đến bờ. Ảnh: Phanbook


Một ngày kia đến bờ (Phanbook và NXB Đà Nẵng liên kết ấn hành, 2023) gồm 26 tiểu mục, đề cập đến hầu hết các phần giáo lý cốt yếu từ những bộ kinh quan trọng của Phật giáo như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Kim Cang, Duy-ma-cật…

Sách đề cập đến những vấn đề quan trọng trong sự tu tập, từ sự nhận hiểu tinh yếu giáo pháp cho đến kinh nghiệm thực hành. Qua cuốn sách mỏng này, ông giúp người đọc nhận ra rằng “Một ngày kia… đến bờ” là tất yếu, là lẽ đương nhiên, vì vậy mà không cần sợ hãi, lo lắng, đau khổ khi đối diện với biệt ly sinh tử.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc đã biến mọi vấn đề khô khan hay trừu tượng, siêu hình trở nên gần gũi, dễ hiểu và thiết thực. Ông chia sẻ từ chính kinh nghiệm của người viết – những điều không thể tìm thấy trong bất kỳ bài thuyết giảng hay luận văn Phật giáo nào.

PV

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

31/12/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Nguyên Cẩn

 

hà thảo

 

Khi Đỗ Hồng Ngọc viết  “Thư cho bé sơ sinh”, anh đã chân thành nói :

Khi anh cắt rún cho em

Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé

Vì từ nay em đã phải cô đơn

Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ.

….

Thôi trân trọng chào em

Mời em nhập cuộc

Chúng mình cùng chung

Số phận…

Con người.

(ĐHN 1965)

 

Và rồi “tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người “ ( Trịnh Công Sơn ) đã cùng đứa bé ấy bước vào hành trình “ Sinh- Lão- bệnh – Tử “ với tất cả thất tình lục dục cho tới “ Một ngày kia …đến bờ “. Hôm nay đây Đỗ Hồng Ngọc ( ĐHN) vị bác sĩ viết bài thơ ấy nhìn lại toàn bộ hành trình của mình và anh , qua 26 đề mục của những bài tùy bút , viết theo dòng cảm hứng ngỡ như bất chợt , đã lý giải sự hiện hữu của kiếp người , những thắc mắc băn khoăn về Ngã , về Ma chướng , về Nghiệp, về Phật tánh , về chân Không diệu Hữu , về Như lai tạng… , đồng thời đúc kết những giải pháp giúp ta sống trọn vẹn , đầy đủ , viên mãn . Anh viết với tư cách một hành giả , trải nghiệm thực chứng bằng chính kinh nghiệm tu tập của mình , và dưới lăng kính một bác sĩ , một nhà khoa học , lý giải nhiều vấn đề bằng tri thức về y học . Anh viết “ tưng tửng “ , nhẹ nhàng , dễ hiểu nhưng sâu sắc , thấp thoáng sau bài viết nụ cười của một thiền giả . Ví dụ anh “ thấy tức cười |” vì tự nhiên mình có mặt trên cuộc đời này , vì sao ? Anh lý giải “ từ cái duyên của cha mẹ ông bà từ muôn vạn thứ duyên khác , từ đất , nước , gió lửa…”Nhà Phật gọi là thân tứ đại .Rồi nhìn vũ trụ này , vạn vật này, anh nhận xét :

“Tóm lại trùng trùng những dây mơ rễ má , dính chùm dính chụp, mà ngộ , con nào ra con đó ..Gene chăng , DNA, RNA, virus vi khuẩn rào rào kiếm ăn rồi nhân giống , con này ăn con kia , rồi đơn bào đa bào , đâu đó răm rắp nề nếp chẳng chơi…phải có một design , một thiết kế vĩ đại từ con virus đến con khủng long nhưng không có designer .”Anh hiểu vạn pháp do duyên sinh .

Lý luận về Nghiệp , ĐHN không giải thích cầu kỳ mơ hồ về quan hệ nhân-duyên- quả , tiền kiếp hay hậu kiếp mà anh dùng chính ý kiến của Thiền sư Tuệ Sỹ “

Ngoài cơ chế vật lý của ký ức , còn có sự tham gia của một yếu tố phi vật chất , không nhất thiết là ý thức , để lấy đó làm cơ sở tiếp cận đến vấn đề nghiệp tích lũy, cho đến trong đời sau được xử lý cho quả dị thục của nó “ Thế nên , Nghiệp theo ĐHN không chỉ từ gène mà còn từ môi trường ( biểu sinh = ngoại di truyền epigenetic) chế độ ăn uống , bệnh tật, nghiện ngập , lối sống là cơ chế của y báo (ngoại di truyền , epigenetic mechanisms, có tác động đến hoạt động của các gène , điều hòa các gène.”

Đặc biệt anh giải thích Phật và Như lai là một mà không phải một vì Phật cũng ốm đau bệnh hoạn già chết nhưng Như lai thì không.” Thiện nam tử , Thân Như lai là thân thường trụ , thân không thể hư hoại , thân kim cang , càng không phải thân do sự ăn uống mà thành , chính là pháp thân “ ( Đại bát Niết bàn kinh ) “Phật thị hiện bệnh khổ , thị hiện : là hiện ra cho thấy trước sau gì cũng …già, cũng bệnh cũng chết . Thôi đừng có tham sân si gì nữa cho …mệt … Hãy sống trong pháp thân trường cửu “

Ở đây chúng ta cần phân biệt báo thân, pháp thân và ứng thân là khác nhau . Ứng thân (hóa thân ) chịu mọi đau khổ của già chết bệnh tật . sau khi chết ứng thân tự tiêu diệt . Báo thân thường mang ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp và chỉ Bồ Tát mới thấy trong giai đoạn cuối cùng của thập địa . Riêng pháp thân ( mà trong MKKĐB , ĐHN gọi là Như lai ) thì không ,vì Như lai thì “ vô sở tùng lai , diệc vô sở khứ “ ( không từ đâu mà đến , chẳng đi về đâu ) Như lai được xem là danh hiệu Phật , là sứ gỉả trực tiếp của Chân như , là gạch nối giữa hiện tượng và bản thể . Nên ĐHN viết “Khóm cây ngọn cỏ cũng là Như lai;con ong cái kiến cũng là Như lai …”Phải chăng cũng trong suy nghĩ ấy , Phạm Thiên Thư viết :

Mười con nhạn trắng về tha

Như lai thường trụ trện tà áo xuân

Và Bùi giáng cũng tha thiết nhìn cuộc đời qua diệu pháp

“ Trần gian ơi , cánh bướm cánh chuồn chuồn

Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại

Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn “

Vì như ĐHN nhận thức “ Một là tất cả “,khi anh nhìn người thợ tạo hình từ đất sét, đã tạo nên nhiều hình tượng khác nhau ( duyên sinh ) Đất sét là một tạng . Từ một đó mà cho ta tất cả . Rồi một hôm tất cả các vật dụng , sắc tướng này đổ bể , tan vụn lại thành đất sét .Như nhạc sĩ họ Trịnh viết “ Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / để một mai tôi về làm cát bụi “ Chẳng phải một là tất cả và tất cả là một sao ?Chân không mà diệu hữu đó sao ?”Cho nên bảo thực tướng là vô tướng mà chẳng phải vô tướng .’Kiến tướng phi tướng tức kiến Như lai’ ( Kinh Kim Cang )

ĐHN nhận định “Trong thân chúng sanh vốn có Phật tánh , tức Như lai tạng cũng đã thấy biết Thường , Lạc , Ngã, Tịnh . Hãy tự quy y chỗ ‘tam quy chân thật này , chẳng cần tìm kiếm đâu xa .” Người trí biết rõ tánh đó vốn không có hai (Bất nhị), đó là thật tánh .”

Như lai tạng vốn lìa ngoại tướng hữu vi .Cho nên Như lai tạng là ‘cái duy trì , cái thiết lập ‘( Kinh Thắng Man ) Đến đây , ĐHN đưa ra ví dụ Francis Crick , người cùng James D. Watson đồng phát hiện ra cấu trúc phân tử DNA và tuyên bố ‘ Phân từ DNA là hệ thống chứa thông tin hiệu quả nhất trong toàn vũ trụ …Hình thành sự sống là một phép mầu. ”

 

 

Anh giải thích giản dị nhưng sâu sắc “ Thực tướng là ta vừa vô tướng , vừa hữu tướng . Vô tướng vì hiểu Bát Nhã , hiểu chân Không . Hữu tướng vì ta biết cái duyên sinh , với vô vàn hình tướng , cái diệu Hữu ( Hoa Nghiêm ) Cho nên “ sự sự vô ngại “ đó thôi… Ung dung , tự tại , an nhiên. Chẳng vì ta mà hoa nở , hoa tàn chẳng vì ta mà gió mát trăng thanh , nhưng ta biết thưởng thức , ta “ enjoy” cuộc sống của mình trong từng giây phút .

Chúng ta hiểu sống trong pháp giới Hoa Nghiêm là sống trong “tánh khởi” hay trong Nhất Tâm của tất cả chúng sanh và thế giới. Tâm bất tịnh thì biến pháp giới trở thành thế giới bất tịnh, do đó sống trong chia cắt, chướng ngại, xung đột, khổ đau. Tâm thanh tịnh thì thấy và sống trong pháp giới thanh tịnh của Phật. Tâm Phật thì tạo ra cảnh giới Phật. Tùy mức độ thanh tịnh của tâm đến đâu thì chứng nghiệm được sự thanh tịnh của pháp giới đến đó.

Nói như Tô Thùy Yên

“Ta về cúi mái đầu sương điểm

Nghe nặng từ tâm lượng đất trời

Cảm ơn hoa đã vì ta nở

Thế giới vui từ nỗi lẻ loi“

( Ta về )

Theo Tâm kinh thì “ Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng: Bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm” Các pháp vốn không tướng nhưng khi có ảo tưởng, vọng thức thì liền có các giả tướng B’, B’’. Khi trí tuệ bát-nhã chiếu soi thì không tướng hay thực tướng của pháp xuất hiện. Vì vậy trí tuệ bát-nhã còn gọi là tuệ không. Tuệ không nghĩa là không vô minh, ái dục, không ảo giác, ảo tưởng, không lý trí, vọng thức v.v. Nhìn pháp bằng tuệ không thì thấy pháp là không tướng, không tướng lại chính là thực tướng nên mới nói:

“Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không”.( Từ Đạo Hạnh )

Tướng không của pháp vượt ngoài ý niệm sinh diệt, sống chết, nhưng vẫn có thực tánh sinh diệt, vì đó là bản chất của pháp hữu vi mà Dịch Lý gọi là “sinh sinh chi vị dịch”. Cho nên em bé có sinh thì đương nhiên có chết. Chỉ có pháp vô vi mới thực sự không sinh không diệt, nhưng vì không sinh nên không diệt chứ không có nghĩa là trường tồn bất biến theo ý niệm thời gian của thường kiến luận.

ĐHN cũng đề cập ý này : “ Cho nên Tâm kinh viết ‘ Vô vô minh, diệc vô vô minh tận,’ Không có vô minh mà cũng chẳng bao giờ hết vô minh ! Khoái thật. “ Hay nói cách khác , không có lão tử cũng không có hết lão tử, tức không có 12 nhân duyên.

Anh cũng đã từng trải qua giai đoạn làm việc quá độ rồi bị tai biến.Khi thoát được giai đoạn thập tử nhất sinh ấy , anh thấy phải đi tìm một con đường khác. Đọc Tâm kinh ,anh thấy câu “…chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách. ”Anh thấy phải ‘ tự tại “ thôi . Phải dựa vào chính mình . Phải thực hành thôi .”

Chúng ta đã biết rõ ngũ uẩn được cấu tạo như thế nào nên cũng có thể hiểu tại sao soi thấy ngũ uẩn đều không thì vượt qua tất cả sự trói buộc của phiền não khổ đau. Chính hành làm cho sắc, thọ, tưởng, thức bị rối loạn, nhưng khi hành được tuệ chuyển hóa thì tưởng và thức không còn chấp trì kinh nghiệm, thành kiến, quan niệm để bóp méo sự thật nữa, nghĩa là ngũ uẩn trở thành không: không ảo tưởng, ảo giác, không còn cái gọi là A’, A’’, B’, B’’, không vô minh, ái dục.

Và thiền định là một giải pháp . ĐHN thấy rằng có sẵn một con đường mà bấy lâu mình xa lạ. Con đường” chiếu kiến ‘ đó chính là Thiền Quán niệm hơi thở (Anapanasati) An ban thủ ý , nhập tức xuất tức niệm “Thở vào thì biết thở vào , thở ra thì biết thở ra. Trong 40 đề mục thiền quán , anh chọn một : chọn hơi thở . Thở luôn trong thì hiện tại , ở đây và bây giờ Khi vào sâu trong thiền , hành gỉả sẽ không cảm nhận mình còn thở nữa . Đó chính là “ quãng lặng :” ở cuối thì thở ra ..

Yếu tố quyết định nữa là thả lỏng toàn thân , giảm tiêu hao năng lượng ..Tác giả cho biết nhúc nhích cơ hoành 1cm , đã có 250 ml không khí vào ra , bấy giờ họ cần rất ít oxy …hiện tượng thiếu oxy kinh niên ( chronic hynoxia) tạo ra các hormones như dopamine, serotomine, endorphine , oxytocin giúp sảng khoái . lâng lâng , dễ chịu , gia tăng trí nhớ , giảm đau .. chính là trạng thái thiền duyệt vậy. tác giả viết :”“Khi học Phật chữ Anapanasati tôi bèn tự đề ra cho mình chữ Pranasati ,nghĩa là đặt chánh niệm vào giữa khoảng thở vào và thở ra đó. Nó là quãng lặng , là nghỉ ngơi , là ’ bardo’ giữa hai hơi thở , giữa sự sống và chết , tái sinh .”

Như Thiền sư Nhất Hạnh dạy chúng ta

Thở vào tâm tĩnh lặng

Thở ra miệng mỉm cười

An trú trong hiện tại

Giây phút đẹp tuyệt vời

Khi đã thiết lập được đời sống thăng bằng, bước tiếp nữa là điều phục tâm. “Hãy chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác” là pháp hành quan trọng, cần duy trì liên tục. Tâm luôn bị các chướng ngại pháp xâm chiếm. Chỉ một giây lơ là, vọng tưởng sẽ dẫn dắt và lôi kéo chúng ta rời xa chánh niệm. Luôn nhớ nghĩ về đề mục, nhiếp tâm vào đề mục với sự tỉnh thức và rõ biết tất cả. Những hoạt động trong đời sống hàng ngày đều được ghi nhận rõ ràng. Chánh niệm, tỉnh giác hỗ trợ nhau và là nền tảng quan trọng để tiến sâu vào thiền định.

ĐHN chỉ chúng ta Tứ niệm xứ .” Tứ Niệm xứ là con đường Thiền định .Thân thọ tâm pháp mà các vị Tổ sau này rút gọn cho dễ nhớ :Thân bất tịnh , Thọ thị khổ, Tâm vô thường , pháp vô ngã …Quán thân , thọ , tâm , pháp để đi vào Samadhi ( định ) .Phật lúc nảo cũng ở trong “ định “ và theo con đường Trung đạo.Vì chính Phật lúc tưởng đâu chết vì ép xác tu khổ hạnh thì chén cháo sữa của Sujata làm cho Người tỉnh táo . ĐHN đã rút ra bài học xương máu ấy và kết luận “ Thực tập thiền Tứ niệm xứ ,quán, thấy biết và chứng cái tâm vô thường thì tất cả mọi việc mình coi như gió thoảng mây bay. Cuối cùng thực chứng pháp vô ngã, phá được tất cả trần lao, nghiệp chướng của chúng ta. Thật vậy, các pháp vô ngã thì ta, người và sự vật đều vô ngã, không có thực tánh vì các pháp do duyên sanh. Quán sát và thực chứng pháp vô ngã, tất nhiên phiền não không khởi lên, mình trở thành thanh tịnh Tỳ-kheo giải thoát.” Và anh viết :”Ta cứ thuận pháp mà sống , hồn nhiên như nhiên. ‘Đến nay ngẫm lại chừng quên hết / chỉ nhớ trên đầu một chữ Như ‘( TS Phước Hậu ) .

Vì anh nói “Tôi cho rằng chính lúc cận kề vối cái chết , giai đoạn cận tử đó là đang ở trong trạng thái “ Diêt thọ tưởng định “ mới thấy được cái vô tướng từ Như lai tạng mà ra, từ Pháp thân của chính mình mà tỉnh ngộ … Từ đó có Tứ Diệu đế , Bát Chánh đạo , Thập nhị nhân duyên để dần dần xóa bỏ Tham sân si của kiếp người “ Cũng nên chú giải thêm về Thập nhị nhân duyên , Hành là nhân chính tạo ra ngũ uẩn mới, vòng duyên khởi mới. Và nếu hóa giải được sự tác nghiệp của hành là vượt khỏi tam giới, là thoát ra luân hồi sinh tử, đến bờ kia và vượt qua mọi khổ ách. Sở dĩ hành (ái, thủ, hữu) tạo tác được là do vô minh. Như vậy, khi trí tuệ hay tri kiến như thực soi chiếu thì tưởng – hành không còn khả năng biến A thành A’, A’’, không thấy B thành B’, B’’ được nữa, nghĩa là toàn bộ ảo tưởng, ảo giác, ảo ảnh, ảo kiến, vọng thức trong khái niêm A’, A’’ – B’, B’’ đều biến mất, nhường chỗ cho thực tánh hiển lộ. Đó chính là qua bờ bên kia (paramitā), là đáo bỉ ngạn.

Vì vậy trí tuệ này gọi là bát-nhã ba-la mật-đa (paññā paramitā). Từ lâu nguyên tính A và B bị ngăn cách bởi sông mê (vô minh) bể khổ (ái dục).

Vượt qua – vượt qua bờ bên kia – chính là vượt qua vô minh ái dục, vượt qua ngũ uẩn mà cụ thể là tưởng – hành. “Biển khổ mênh mông hồi đầu là bến”, cho nên bỉ ngạn cũng chính là thực tại hiện tiền,không phải lúc nào, nơi nào khác. Quay lại là thấy ngay tức khắc, chẳng cần rong ruổi tìm kiếm đâu xa.

Bờ đây là bờ mé của giác ngộ hay bờ vực cận kề cái chết ? Trí tuệ bờ kia (paññā pāramitā) , bờ trên (paññā upapāramitā ) hay bờ cao thượng (paññā paramattha pāramitā) là trí tuệ vượt qua vô minh ảo vọng, chấm dứt sự tạo tác luân hồi sinh tử của các hành qua trực tiếp liễu tri thực tánh của pháp là chính.

Gate là vượt qua sông mê biển khổ ; Paragate là vượt qua luân hồi sinh tử bằng trí tuệ này ;Parasamgate là trải nghiệm đại dụng của các pháp ,vượt qua trầm luân sinh tử, vượt thoát vô minh ái dục bằng trí tuệ này…

ĐHN viết về “ ngày kia đến bờ” phải chăng nói về cái chết khi anh viết “Giác ngộ tốt nhất là hiểu được cái chết là tất yếu và …thiết yếu , không có không được của cuộc đời ta.”

Khi tôi viết bài này, một nhà văn dịch giả vừa qua đời ngay trong đêm Noel 2023,anh Mai Sơn . Nhắc về anh, người ta đăng lại bài phỏng vấn anh về tác phẩm “ Hư cấu “ . Người ta hỏi “Vậy trong Hư cấu (NXB Hội Nhà văn, 7/2004) với 10 truyện ngắn, những ý tưởng mà anh cần bám đuổi và mổ xẻ nhiều nhất là gì? “Mai Sơn trả lời “:

– Nhiều nhất vẫn là cái chết. Không phải vì nó bí ẩn và đáng sợ mà vì cái chết đã bị quên lãng trong cuộc tồn tại bề bộn này. Thật ra ai cũng biết, để vượt qua cuộc sống khổ ải này thì cần phải rũ bỏ bớt những gánh nặng, đặc biệt là gánh nặng về cái chết tất yếu. Nhưng cũng rất nhiều người tưởng mình sẽ sống mãi. Chính vì những người này mà chúng ta cần phải phục hiện bộ mặt đáng kính của cái chết. Và để thấy rằng sự chết là một thành phần sống động trong hiện hữu đầy ắp của con người. Martin Heidegger nói: “Bản chất con người là luôn luôn bị ném về phía trước, mà phía trước xa nhất là gì nếu không phải là cái chết.”

ĐHN đã tìm ra lời giải hay đáp số cho bài toán ấy. Anh viết “Chữ không ( sunyata) như trả lời tôi câu hỏi ‘ Tại sao ?’ ( Why ?) Thắc mắc bấy nay về ‘ Tại sao có ta ?

Ta từ đâu đến ?Đến để làm gì ? ‘ … Và chuẩn bị cho một cái chết tốt ( good death ) và một giai đoạn cận tử vui…vui..”

Vậy giai đoạn cận tử ấy ,sau hơn 80 năm sống trên cõi đời này ,trải qua những giây phút cận kề cõi bên kia , sống như thế nào ? ĐHN cho rằng sống với chữ Như, trong thiền định và quán hơi thở, là “sống trong từng giây phút một . Mỗi khoảnh khắc , mỗi sát na là vô tận .Bởi không có thời gian chẳng có không gian , là sống với Như lai , sống cùng Như lai , sống trong Như Lai với Thường , Lạc , Ngã, Tịnh… và hiểu ngay Không đây không phải là không có mà do mà do duyên sanh , duyên khởi , không có tự tánh riêng biệt . “Vì anh biết rằng “..cái tướng mà ta đang sống đầy khổ đau đây vì “ vô thường , khổ , vô ngã , bất tịnh “ chẳng qua chỉ là cái thấy biết vì “ điên đảo mộng tưởng “ không có thiệt , bởi nó chỉ là thực tướng ‘ ảo‘. “ Và hãy nhớ “ well-being and well-dying nhé !”

Ta nhớ lời kinh nguyện “ngày an lành , đêm an lành , ngày đêm 6 thời đều an lành

… sống an lành và chết cũng an lành .“

 

Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng

Như sương mai như ánh chớp mây chiều (Tuệ Sỹ )

Xin mượn lời Thiền sư Tuệ Sỹ để kết bài viết này .

“Sống, tuy có danh nhưng không cần, không bám vào nó. Sống an nhiên với tâm niệm rồi đây thân và danh này cũng mục nát với cỏ cây. Nếu có tài, gặp cơ duyên thích hợp thì đem ra phụ giúp cho đời, đem khả năng của mình ra để phục vụ nhân sinh. Hợp thời thế thì làm, bằng không thì cũng chẳng buồn bã chi. “Bất đắc chí, độc hành kỳ đạo” có bạn đồng hành để xây dựng xã hội thì mình đi vào, không thì sống với triết lý riêng của mình. Sống với thiên nhiên, với vũ trụ của mình. …Cái triết lý sống này rất đẹp, nó gián tiếp tạo nên một cái trật tự xã hội, tạo nên một sự cần thiết. Chúng ta sống làm sao cho đến lúc chết không có gì hối hận, không có gì sai lầm. Đối với bạn bè không có sự lường gạt. Giao tiếp với mọi người không có sự gian dối. Cho tới khi mình chết, mình an tâm, an toàn. Chết đi về đâu, không cần biết. Chỉ cần biết mình đã làm những điều chân chánh , hợp đạo lý thì khi chết nhất định sẽ đến những chỗ an toàn. (HT. Thích Tuệ Sỹ)

Tác phẩm của ĐHN được viết nhẹ nhàng , nhưng sâu lắng , nói bâng quơ như những câu chuyện nhàn đàm nhưng là kết tinh của bao năm nghiên cứu Phật học thâm sâu , với bao kinh nghiệm thực chứng của một hành giả trên hành trình tìm chân lý , kể lại cho chúng ta nghe , để cùng cảm nhận và chia sẻ , dù khó khăn hay dễ dàng tùy quá trình tu tập hay căn cơ từng người để rồi hiểu ra mình cũng sẽ “ một ngày kia …đến bờ “ vì ‘ đời người như gió qua. “ ( Trịnh Công Sơn )

Hãy hoan hỷ đọc và chiêm nghiệm với một nụ cười thanh thản .

Nguyên Cẩn

27.12.2023

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Phật học & Đời sống

Họp mặt với Đỗ Hồng Ngọc ở quê nhà Lagi (Bình Tuy) 2022

31/12/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Buổi Họp Mặt với Đỗ Hồng Ngọc tại quê nhà Lagi 2022.

Tôi vừa nhận được clip này từ Nguyễn Văn Quyền gởi đến trong ngày cuối năm 31.12.2023. Cảm ơn Quyền và các cháu Dung Phan, Hà, Hải… ở Lagi đã ghi hình buổi Họp Mặt rất nhiều kỷ niệm của riêng tôi với quê hương Lagi, Hàm Tân, Bình Tuy…

Cảm ơn các nhà thơ Đỗ Ái Liên, Phan Chính, Cao Hoàng Trầm, Dũng Nguyên… và các thân hữu văn nghệ sĩ Lagi, cùng anh chị em, bà con họ hàng, bạn bè thân thiết … đã tham dự buổi Họp Mặt. Riêng cảm ơn các cháu Trí và Đông của LagiFarmstay.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Trang 5
  • Trang 6
  • Trang 7
  • Interim pages omitted …
  • Trang 55
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email