Mùng Một. Giáp Thìn 2024
Năm Mới. Tháng Giêng. Mùng Một Tết
Còn nguyên vẹn cả Một Mùa Xuân
(Nguyễn Bính)

Thiệp Xuân Giáp Thìn 2024.
Đinh Trường Giang
Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Mùng Một. Giáp Thìn 2024
Năm Mới. Tháng Giêng. Mùng Một Tết
Còn nguyên vẹn cả Một Mùa Xuân
(Nguyễn Bính)

Thiệp Xuân Giáp Thìn 2024.
Đinh Trường Giang
“VỀ THU XẾP LẠI…”
Nguyễn Thị Tịnh Thy

Ở tuổi 55, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc bần thần viết “Gió heo may đã về”, đến 60 thì viết “Già ơi… chào bạn!” như một reo vui, đến 75 còn… ráng viết “Già sao cho sướng?…” để sẻ chia cùng bè bạn đồng bệnh tương lân. Nhưng 80 thì thôi vậy. Đã đến lúc phải “VỀ THU XẾP LẠI”.
“Về thu xếp lại”… bởi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”…, “giật mình ôi chiếc lá thu phai”…
“Về thu xếp lại… bởi “cát bụi tuyệt vời” đã chuyển thành “cát bụi mệt nhoài”
“Về thu xếp lại…, “một ngày kia đến bờ”…, “đời người như gió qua”.
Hãy đón nhận ngày đó một cách bình thản, an nhiên như “mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi; mệt quá thân ta này, nằm xuống với đất muôn đời…” Có gì đâu! Nhẹ tênh mà!
Lấy cảm hứng từ những ca từ đầy tính triết lý phận người nhẹ nhàng mà sâu sắc của Trịnh Công Sơn, Đỗ Hồng Ngọc sẽ đưa chúng ta đến với các U80 bằng y học, tâm lý học, Phật học… trong dặt dìu của âm nhạc, thi ca.

minh hoạ Đỗ Trung Quân
Dí dỏm, duyên dáng, chất khoa học đan quyện trong chất nghệ thuật, sự nghiêm trọng chuyển tải qua các ngôn từ hài hước của cuốn sách nhỏ sẽ giúp những người già dễ dàng lắng nghe chính mình. Và đặc biệt, người trẻ sẽ hiểu hơn về người già.

minh hoạ Đỗ Trung Quân
Hiểu gì?
Hiểu rằng người già khó ăn, khó ngủ, khó tính, … nhưng lại dễ yêu: “…Có vẻ như càng già người ta càng yêu nhiều hơn, yêu vội hơn và càng yêu thì càng “sống khỏe sống vui” hơn! Khi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội” thì mới thấy còn có bao nhiêu thời gian để yêu thương và được yêu thương? Dĩ nhiên, tình yêu bấy giờ có thể chỉ là một mối tình lãng mạn, hoặc một mối tình “ngỡ đã quên đi/ bỗng về quá rộn ràng”… để rồi “như bờ xa nước cạn/ đã chìm vào cơn mưa”. Tình yêu lãng mạn có ý nghĩa rất lớn ở người có tuổi. Như “nuôi sống” họ bằng tình yêu. Hình như họ chỉ giữ được chút kích thích tố vừa đủ để “lãng mạn” cho cuộc đời đẹp ra, đáng sống hơn, sức khỏe cũng tốt hơn vì nó làm cho tim đập nhanh hơn, tuần hoàn não tốt hơn, trí tuệ minh mẫn hơn, hệ thống miễn dịch hoạt động tốt hơn, ít bệnh vặt hơn và nếu có bệnh thì rất mau lành!”
Có chắc như thế không nhỉ? Các anh chị em Tag vào Facebook của ông bà nội, ông bà ngoại xem các cụ comment thế nào nhé!
****
FB Nguyễn Thị Tịnh Thy.
(“Về thu xếp lại”, Nxb. Tổng hợp tp HCM, 2019, bìa Lê Ký Thương)
Thư gởi bạn xa xôi (30 Tết)
Có gì lạ không ư? Có đó. Sáng 30 Tết, không khí như loãng ra, trời như cao hơn, đất như rộng hơn. Im ắng lạ thường. Không một tiếng động dù là tiếng rao bánh mì nóng, xôi vò xôi đậu, thậm chí không có một tiếng động cơ xe ầm ào như mấy ngày trước. Lạ. Ba mươi thì có khác gì đâu. Cũng hai mươi bốn giờ, mỗi giờ cũng sáu mươi phút, mỗi phút cũng sáu mươi giây. Vậy mà lạ mới kỳ chớ.
Nghe cho kỹ thì ra có cái gì đó. Hình như mùa đang chuyển. Hình như trái đất vừa quay được một vòng quanh mặt trời và hớn hở mĩm cười như đã thành công! Trời bỗng hơi bẽn lẽn se lạnh. Không khí loãng ra, không còn đặc quánh với bụi khói, với tiếng ồn kia nữa. Không khí ùa vào phổi, chẳng cần phải ráng hít thở chi.
Nhớ André Maurois, một hôm ngồi uống cafe sữa ở vỉa hè Paris, khi quậy lên từ đáy cốc thì thấy sữa cuộn lại và lốm đốm những hạt li ti, quấn quít, trắng đục. Ông kêu lên: Dải Ngân Hà đây rồi. Và biết ngay đã có một ai kia quậy một ly cafe sữa tình cờ đâu đó mà ra ngàn vạn dải Ngân Hà xoắn tít xưa nay trên bầu trời vời vợi kia.
Bỗng nhớ Sóng về đâu của Trịnh Công Sơn. Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng về đâu! Thì về với nước. Có mất đi đâu. Nhưng không cần thiết phải xô nhau. Chỉ cần nước, gió, và bãi bờ để làm duyên cho sóng. Có khi rầm rập vỗ tan vào gành đá, có khi lướt thướt mượt mà chạy cuốn loanh quanh. Nó như có một số phận. Một cái nghiệp và duyên khởi thì duyên sinh.
Có lần tôi viết bài thơ ngắn:
Sóng
Sóng quằn quại
Thét gào
Không nhớ
Mình
Là nước…
(ĐHN, Thơ Ngắn Đỗ Nghê)
Và nhớ năm 2011, một con sóng thần đã ập vào Nhật bản, quét sạch cả một thành phố… Tôi đã viết bài thơ Giả sử

đỗ hồng ngoc
Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang
Ập vào Mũi Né
Anh chị kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng
Vút qua những ngọn dừa
Những đồi cát trắng
Em nhớ mang theo đôi quả trứng
Vài nắm cơm
Vài hạt giống
Đừng quên mấy trái ớt xanh
Biết đâu mai này
Ta làm An Tiêm
Trở về làng cũ
Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang
Nơi kia gọi là Mũi Né
Cho nên
Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?…
(ĐHN)
Bạn biết không, không phải vô cớ mà nhà thơ Nguyễn Đình Toàn viết: Còn đêm nào vui bằng đêm Ba mươi… Anh nói với người phu quét đường. Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em…
Chiếc lá vàng làm “bằng chứng” ư? Chớ còn gì nữa. Chiếc lá vàng, rụng rơi xuống đất kia chẳng đủ làm bằng chứng rằng anh sẽ yêu em mãi đến như chiếc lá vàng kia đó sao?
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
(Saigon, 30 Tết Giáp Thìn 2024)
https://thuvienhoasen.org/a40640/mot-ngay-kia-den-bo-one-day-reaching-the-other-shore-song-ngu-vietnamese-english-
“MỘT NGÀY KIA…ĐẾN BỜ”(*)
Tuỳ bút
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Saigon, tháng 6.2023
Thật đáng buồn, là phần đông chúng ta chỉ bắt đầu thưởng thức được hương vị đời sống khi chúng ta sắp sửa chết.
Padmasambhava (Liên Hoa Sanh)
Một ngày kia… đến bờ?
Lời ngỏ
Bờ nào? Bờ bên kia hay bờ bên này? Đáo bỉ ngạn? Là mong cho tới bờ bên kia? Ý rằng bờ bên kia hẳn là hay hơn, đẹp hơn, tốt hơn bờ bên này? Sao biết? Đã có ai nói cho biết chưa? Có con rùa nào từng đi dạo lang thang từ dưới biển lên đất liền nói cho biết chỗ nào đáng sống hơn chăng?
Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté… một đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú… năng trừ nhất thiết khổ chân thật bất hư ư? Sao người ta vẫn đọc hà rầm khắp nơi, đọc hằng ngày câu chú trong Tâm kinh Bát Nhã đó mãi mà vẫn thấy cứ còn khổ, thậm chí “cực khổ”, nên chỉ mong sao được mau về miền “cực lạc”, được vãng sanh qua nơi khác, qua bờ bên kia. Vậy mà lạ, hình như ai cũng muốn sống lâu, thậm chí trường sinh bất tử, nghĩa là ở mãi nơi này, nơi “cực khổ” này? Tại sao?
Tôi viết những cảm nghĩ này ở tuổi U90 của mình, viết cho riêng mình đọc, lai rai đọc cho đến khi không cần đọc nữa! Và dĩ nhiên có thể chia sẻ cùng bè bạn thân
quen “cùng một lứa bên trời lận đận” của mình để có dịp “chí chóe” cho vui…!
Well-being và well-dying vậy nhé!
Đỗ Hồng Ngọc
(6.2023)
“One Day… Reaching the Other Shore”
Dr Do Hong Ngoc, MD
Saigon, June 2023
(Manuscript – write for myself aged U90)
Translated by Red Pine
It is really sad that the majority of us just begin enjoying the taste of life once we are on the verge of death. ( Padmasambhava)
One day reaching the other shore?
What shore? This shore or the other shore? Reaching the other shore? Yearn to come to that shore? Does that mean the other shore is far better than and more beautiful than this shore? Why know? Has anyone said that? Has any turtle roaming from sea to land informed where is more livable yet?
Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté… is the great mantra of great magic, unexcelled mantra, the mantra equal to the unequalled, which heals all the suffering and is true, not false? (Pine 3)1 The people recite it, the mantra in Heart Sutra, extensively everywhere, they still feel miserable, even so miserable, they just wish to soon reach the “land of overjoy”, be reborn to the other place or the other shore. So strange! Seemingly everyone wants to remain longer, even indefinite longevity without death, in this world, “the land of over-sorrow”? Why?
I am writing down this thought at the age of U90, writing for self-reading, little by little reading until unable to read! And obviously able to share with our close friends who are “at the same generation by the sky of turbulence” in order to gossip!
Hope well-being and well-dying as well!
Dr Do Hong Ngoc, MD
(June 2023)
………………………………….
Đọc bản tiếng Anh trên Thư viện Hoa Sen.
Thư gởi bạn xa xôi (1/2024)
Đi giữa Saigon
Phố nhà cao ngất
Hoa nở rực vàng
Mà không thấy Tết
Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay Xuân về
Vỡ oà ngực biếc…
(Đỗ Hồng Ngọc)
Bài thơ nhỏ, thiệt thà, viết đã lâu lắm rồi, vậy mà bây giờ nhiều người còn nhớ. Báo Trẻ xuân năm nay, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp đã chọn đăng lại trong mục Thơ xuân…
Với tôi, Gió Bấc ớn lạnh xương sống y hệt cơn sốt rét rừng như còn đang hoành hành trong cơ thể gầy nhom của mình. Nó buốt. Nó nhọn. Nó xót… và nó lạnh dĩ nhiên rồi – với một đứa trẻ lên mười mỏng manh như tôi những ngày tá túc trong một ngôi chùa Tàu nghèo ở Phan Thiết- lộp cộp guốc xuồng gỗ trên con đường Gia Long rồi lang thang dọc bờ sông Cà Ty mà nghe mùi cốm mùi pháo…
Khi tôi viết bài Mũi Né, đã hơn nửa thế kỷ trước: Em có về thăm Mũi Né không/ Hình như trời đã sắp vào xuân/ Hình như gió bấc lùa trong Tết/ Những chuyến xe đò giục bước chân… (Mũi Né, ĐHN 1970), thì cũng lại gió bấc, thứ gió hình như ám ảnh người miệt biển quê tôi nhiều nhất.
Cho nên bây giờ muốn nghe Tết, muốn thấy Tết, thì tôi lại về Lagi, Phan Thiết để tìm Gió bấc khôn nguôi của tuổi thơ mình.
Mùa bấc, biển như sánh lại, sệt lại, đục hơn và sóng rát hơn, dữ dội hơn bao giờ hết. Bãi bờ bị xoáy toang…

Biển Lagi mùa Gió Bấc

vắng hoe người

“Biển sóng biển sóng đừng xô nhau/ Ta xô biển lại sóng về đâu?” (TCS)

Lagifarmstay quen thuộc, mỗi lần về thăm quê. Ở đó, còn một chút cho riêng mình…

Ở đó, còn có thể “nhìn nắng hàng cau nằng mới lên… ” (HMT)

Và vô vàn hoa thanh long ở Phong Điền, Hiệp Nghĩa, quê ngoại

Rồi từ Lagi tôi đi một mạch dọc biển về Phan Thiết, qua Mũi Né, Bàu Trắng, đến Phan Rí Cửa, rồi Long Hương, Cổ Thạch, thăm nhà văn Hồ Việt Khuê, Nguyễn Phương cùng các bạn vùng La Gàn, gặp lại thầy Huỳnh Đình Tám…

La Gàn (Long Hương) mùa Bấc thổi…
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc
(1/2024)
T
T
Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh

Đinh Cường (ghi bởi Đỗ Hồng Ngọc, trước Nhà Thờ Đức Bà, Saigon, 2013)
NHỚ XANH TRONG TRANH NGƯỜI
Những đàn cây gầy ốm
Đang rủ nhau đi
Cùng ánh mắt chiều muộn
Như mùa đông vừa phết lên giấc mơ
Người thiếu nữ cổ cao. Áo dài đen. Thánh thiện*
Nóc nhà thờ ứa lệ
Rơi xuống tiếng chuông xanh
Mùa của tình yêu
Nhà thờ như cây nến cô đơn. Lung linh dãy phố
Nửa vầng trăng kéo đêm xanh
Chia cô đơn cùng ánh đèn khuya dưới mái nhà im lặng**
Thời của bạn hữu
Thơ Prévert. Cà phê nhòa nâu. Bức tranh buồn
Người phết mạnh bạo một vệt dài màu đỏ
Những đốm đỏ khắc khoải suốt thời binh lửa
Tiếng bom nào rơi trong hồn tôi
đêm nay
đêm hãi hùng như loài thú dữ (Đinh Cường)
Một thời người đã đi qua…
Nỗi hoài hương rưng rức xanh
Người và những hàng cây hồi ức
Soi mình dòng Potomac
Lạc lâm. Mùa xanh xưa***
Một thời người đã xa
Một tiếng thở dài
Một ngụm khói tan…
Như tôi vừa nghe. Giấc mơ nào thời trẻ
Đêm nay khóc cùng vệt mầu dở dang nơi phòng tối
Có tiếng gào
Ưng ức bầy tranh
Khóc nhớ…
Ngày 7.1.2021
(Nhớ Họa Sĩ Đinh Cường, ra đi ngày 7 tháng 1, 2016)
*tranh: Chân Dung T.NH. Để Nhớ Đà Lạt
**tranh: Phố Đêm
*** Những bức tranh: Lạc Lâm- Nhà Bên Sông Potomac- Đà Lạt Nostalgia
……………………………………………………………….
MỘT LINH HỒN TRONG SUỐT ĐANG BAY*
– Tưởng niệm họa sĩ Đinh Cường, ra đi ngày 7.1.2016
Thử gạch một đường xem tới đâu**
Xa như cuối trời vừa đóng lại
Vắng như đêm vừa mở giấc mơ bay
Bay cuối dòng gặp bạn ngồi trông
Tiếng đàn rung gợn lòng chín suối
Những mảng mầu thơ dại trổ bông
Bông vỡ tiếng cười rền rền sương khói
Người nghe chút nhớ tuyết mùa xưa
Con đường ấy đã một lần đứng lại
Cột dây giày, ngó mông trời ly viễn
Thở hơi ra ngụm khói tàn mau**
Con chim hót giọng khan ngày nhuốm bệnh
Ngó lên trời hạt nước mắt ai bay
Hương cố xứ thơm mùi cọ mới
Có mùa đông khóc tiễn trong mây
Ngó xuống ngày vàng xao xác lạnh
Mơ ai cào lá ngoài sân đêm**
Bay bay lên những linh hồn lá mỏng
Con chim đỏ hót mầu tuyết bỏng
Tôi bưng mặt. Mùa đông qua lồng lộng
Nghe đất trời vừa gần lại, hôm nay…
9.1.2016
* Linh hồn trong suốt, chữ của nhà văn Khuất Đẩu.
** Thơ Đinh Cường. Cào Lá Ngoài Sân Đêm, tên một thi họa phẩm của họa sĩ Đinh Cường.
Sáng 1.1.2024, về Lagi, ghé “Suối Đó Chùa Đây” thăm Thầy Thích Tấn Tuệ, nhà thơ Đinh Hồi Tưởng. Quen thầy đã lâu, có hơn 30 năm trước, khi thầy mới đến Lagi, lập cái chùa lá bên dòng Suối Đó, một con suối khá đẹp ngay trên đường chính vào Lagi.
Có lần đến thăm, thầy đi vắng, mình để lại mấy dòng:
Chùa đây suối đó thầy đâu
Mây ngàn hạc nội còn lâu mới về…
(ĐHN)
Bây giờ thầy đã là một vị Hoà Thượng, nhưng vốn là một nhà thơ, chùa vẫn được “bà con văn nghệ” đến chơi, đề thơ bên suối, nhưng còn khá ngổn ngang với bao nhiêu là cổ vật, thầy sưu tầm khắp nơi mang về. Mình khuyên thầy “về thu xếp lại” là vừa, cần một nhà kiến trức giúp sửa cho hoàn chỉnh ngôi chùa thơ mộng. Bè bạn thường chọc thầy Đinh Hồi Tưởng là “đương hồi tỉnh”, thầy vẫn cười cười, nói đương hồi tỉnh vẫn tốt hơn cứ mãi vô minh ư?

SUỐI ĐÓ Lagi

Thầy Thích Tấn Tuệ (nhà thơ Đinh Hồi Tưởng)

Đỗ Hồng Ngọc và Thích Tấn Tuệ (Chùa Đây Suối Đó, Lagi, 1/01/2024)

CHÙA ĐÂY (Thanh Trang Lan Nhã)
Thân mến,
ĐHN
NGƯỜI ĐÔ THỊ
Một nhttps://nguoidothi.net.vn/mot-ngay-kia-den-bo-42259.htmlgày kia đến bờ
Trước những truy vấn muôn thuở của nhân loại về sinh tử, trong vai trò bác sĩ, ông lần lượt tìm kiếm câu trả lời dưới góc độ khoa học như: tế bào, DNA, gen… Khi tất cả luận cứ thực chứng đều chưa thỏa nan đề, ông đã thong dong lần giở những trang kinh nhà Phật, và quán tưởng bằng pháp nhãn, bằng triết lý duyên, nghiệp, sắc, không… để cùng độc giả đi sâu hơn vào bản chất của kiếp người.
Bìa cuốn Một ngày kia đến bờ. Ảnh: Phanbook
Một ngày kia đến bờ (Phanbook và NXB Đà Nẵng liên kết ấn hành, 2023) gồm 26 tiểu mục, đề cập đến hầu hết các phần giáo lý cốt yếu từ những bộ kinh quan trọng của Phật giáo như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Kim Cang, Duy-ma-cật…
Sách đề cập đến những vấn đề quan trọng trong sự tu tập, từ sự nhận hiểu tinh yếu giáo pháp cho đến kinh nghiệm thực hành. Qua cuốn sách mỏng này, ông giúp người đọc nhận ra rằng “Một ngày kia… đến bờ” là tất yếu, là lẽ đương nhiên, vì vậy mà không cần sợ hãi, lo lắng, đau khổ khi đối diện với biệt ly sinh tử.
Tác giả Đỗ Hồng Ngọc đã biến mọi vấn đề khô khan hay trừu tượng, siêu hình trở nên gần gũi, dễ hiểu và thiết thực. Ông chia sẻ từ chính kinh nghiệm của người viết – những điều không thể tìm thấy trong bất kỳ bài thuyết giảng hay luận văn Phật giáo nào.
PV
Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc
Nguyên Cẩn

hà thảo
Khi Đỗ Hồng Ngọc viết “Thư cho bé sơ sinh”, anh đã chân thành nói :
Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ.
….
Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận…
Con người.
(ĐHN 1965)
Và rồi “tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người “ ( Trịnh Công Sơn ) đã cùng đứa bé ấy bước vào hành trình “ Sinh- Lão- bệnh – Tử “ với tất cả thất tình lục dục cho tới “ Một ngày kia …đến bờ “. Hôm nay đây Đỗ Hồng Ngọc ( ĐHN) vị bác sĩ viết bài thơ ấy nhìn lại toàn bộ hành trình của mình và anh , qua 26 đề mục của những bài tùy bút , viết theo dòng cảm hứng ngỡ như bất chợt , đã lý giải sự hiện hữu của kiếp người , những thắc mắc băn khoăn về Ngã , về Ma chướng , về Nghiệp, về Phật tánh , về chân Không diệu Hữu , về Như lai tạng… , đồng thời đúc kết những giải pháp giúp ta sống trọn vẹn , đầy đủ , viên mãn . Anh viết với tư cách một hành giả , trải nghiệm thực chứng bằng chính kinh nghiệm tu tập của mình , và dưới lăng kính một bác sĩ , một nhà khoa học , lý giải nhiều vấn đề bằng tri thức về y học . Anh viết “ tưng tửng “ , nhẹ nhàng , dễ hiểu nhưng sâu sắc , thấp thoáng sau bài viết nụ cười của một thiền giả . Ví dụ anh “ thấy tức cười |” vì tự nhiên mình có mặt trên cuộc đời này , vì sao ? Anh lý giải “ từ cái duyên của cha mẹ ông bà từ muôn vạn thứ duyên khác , từ đất , nước , gió lửa…”Nhà Phật gọi là thân tứ đại .Rồi nhìn vũ trụ này , vạn vật này, anh nhận xét :
“Tóm lại trùng trùng những dây mơ rễ má , dính chùm dính chụp, mà ngộ , con nào ra con đó ..Gene chăng , DNA, RNA, virus vi khuẩn rào rào kiếm ăn rồi nhân giống , con này ăn con kia , rồi đơn bào đa bào , đâu đó răm rắp nề nếp chẳng chơi…phải có một design , một thiết kế vĩ đại từ con virus đến con khủng long nhưng không có designer .”Anh hiểu vạn pháp do duyên sinh .
Lý luận về Nghiệp , ĐHN không giải thích cầu kỳ mơ hồ về quan hệ nhân-duyên- quả , tiền kiếp hay hậu kiếp mà anh dùng chính ý kiến của Thiền sư Tuệ Sỹ “
Ngoài cơ chế vật lý của ký ức , còn có sự tham gia của một yếu tố phi vật chất , không nhất thiết là ý thức , để lấy đó làm cơ sở tiếp cận đến vấn đề nghiệp tích lũy, cho đến trong đời sau được xử lý cho quả dị thục của nó “ Thế nên , Nghiệp theo ĐHN không chỉ từ gène mà còn từ môi trường ( biểu sinh = ngoại di truyền epigenetic) chế độ ăn uống , bệnh tật, nghiện ngập , lối sống là cơ chế của y báo (ngoại di truyền , epigenetic mechanisms, có tác động đến hoạt động của các gène , điều hòa các gène.”
Đặc biệt anh giải thích Phật và Như lai là một mà không phải một vì Phật cũng ốm đau bệnh hoạn già chết nhưng Như lai thì không.” Thiện nam tử , Thân Như lai là thân thường trụ , thân không thể hư hoại , thân kim cang , càng không phải thân do sự ăn uống mà thành , chính là pháp thân “ ( Đại bát Niết bàn kinh ) “Phật thị hiện bệnh khổ , thị hiện : là hiện ra cho thấy trước sau gì cũng …già, cũng bệnh cũng chết . Thôi đừng có tham sân si gì nữa cho …mệt … Hãy sống trong pháp thân trường cửu “
Ở đây chúng ta cần phân biệt báo thân, pháp thân và ứng thân là khác nhau . Ứng thân (hóa thân ) chịu mọi đau khổ của già chết bệnh tật . sau khi chết ứng thân tự tiêu diệt . Báo thân thường mang ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp và chỉ Bồ Tát mới thấy trong giai đoạn cuối cùng của thập địa . Riêng pháp thân ( mà trong MKKĐB , ĐHN gọi là Như lai ) thì không ,vì Như lai thì “ vô sở tùng lai , diệc vô sở khứ “ ( không từ đâu mà đến , chẳng đi về đâu ) Như lai được xem là danh hiệu Phật , là sứ gỉả trực tiếp của Chân như , là gạch nối giữa hiện tượng và bản thể . Nên ĐHN viết “Khóm cây ngọn cỏ cũng là Như lai;con ong cái kiến cũng là Như lai …”Phải chăng cũng trong suy nghĩ ấy , Phạm Thiên Thư viết :
Mười con nhạn trắng về tha
Như lai thường trụ trện tà áo xuân
Và Bùi giáng cũng tha thiết nhìn cuộc đời qua diệu pháp
“ Trần gian ơi , cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn “
Vì như ĐHN nhận thức “ Một là tất cả “,khi anh nhìn người thợ tạo hình từ đất sét, đã tạo nên nhiều hình tượng khác nhau ( duyên sinh ) Đất sét là một tạng . Từ một đó mà cho ta tất cả . Rồi một hôm tất cả các vật dụng , sắc tướng này đổ bể , tan vụn lại thành đất sét .Như nhạc sĩ họ Trịnh viết “ Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / để một mai tôi về làm cát bụi “ Chẳng phải một là tất cả và tất cả là một sao ?Chân không mà diệu hữu đó sao ?”Cho nên bảo thực tướng là vô tướng mà chẳng phải vô tướng .’Kiến tướng phi tướng tức kiến Như lai’ ( Kinh Kim Cang )
ĐHN nhận định “Trong thân chúng sanh vốn có Phật tánh , tức Như lai tạng cũng đã thấy biết Thường , Lạc , Ngã, Tịnh . Hãy tự quy y chỗ ‘tam quy chân thật này , chẳng cần tìm kiếm đâu xa .” Người trí biết rõ tánh đó vốn không có hai (Bất nhị), đó là thật tánh .”
Như lai tạng vốn lìa ngoại tướng hữu vi .Cho nên Như lai tạng là ‘cái duy trì , cái thiết lập ‘( Kinh Thắng Man ) Đến đây , ĐHN đưa ra ví dụ Francis Crick , người cùng James D. Watson đồng phát hiện ra cấu trúc phân tử DNA và tuyên bố ‘ Phân từ DNA là hệ thống chứa thông tin hiệu quả nhất trong toàn vũ trụ …Hình thành sự sống là một phép mầu. ”

Anh giải thích giản dị nhưng sâu sắc “ Thực tướng là ta vừa vô tướng , vừa hữu tướng . Vô tướng vì hiểu Bát Nhã , hiểu chân Không . Hữu tướng vì ta biết cái duyên sinh , với vô vàn hình tướng , cái diệu Hữu ( Hoa Nghiêm ) Cho nên “ sự sự vô ngại “ đó thôi… Ung dung , tự tại , an nhiên. Chẳng vì ta mà hoa nở , hoa tàn chẳng vì ta mà gió mát trăng thanh , nhưng ta biết thưởng thức , ta “ enjoy” cuộc sống của mình trong từng giây phút .
Chúng ta hiểu sống trong pháp giới Hoa Nghiêm là sống trong “tánh khởi” hay trong Nhất Tâm của tất cả chúng sanh và thế giới. Tâm bất tịnh thì biến pháp giới trở thành thế giới bất tịnh, do đó sống trong chia cắt, chướng ngại, xung đột, khổ đau. Tâm thanh tịnh thì thấy và sống trong pháp giới thanh tịnh của Phật. Tâm Phật thì tạo ra cảnh giới Phật. Tùy mức độ thanh tịnh của tâm đến đâu thì chứng nghiệm được sự thanh tịnh của pháp giới đến đó.
Nói như Tô Thùy Yên
“Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi“
( Ta về )
Theo Tâm kinh thì “ Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng: Bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm” Các pháp vốn không tướng nhưng khi có ảo tưởng, vọng thức thì liền có các giả tướng B’, B’’. Khi trí tuệ bát-nhã chiếu soi thì không tướng hay thực tướng của pháp xuất hiện. Vì vậy trí tuệ bát-nhã còn gọi là tuệ không. Tuệ không nghĩa là không vô minh, ái dục, không ảo giác, ảo tưởng, không lý trí, vọng thức v.v. Nhìn pháp bằng tuệ không thì thấy pháp là không tướng, không tướng lại chính là thực tướng nên mới nói:
“Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không”.( Từ Đạo Hạnh )
Tướng không của pháp vượt ngoài ý niệm sinh diệt, sống chết, nhưng vẫn có thực tánh sinh diệt, vì đó là bản chất của pháp hữu vi mà Dịch Lý gọi là “sinh sinh chi vị dịch”. Cho nên em bé có sinh thì đương nhiên có chết. Chỉ có pháp vô vi mới thực sự không sinh không diệt, nhưng vì không sinh nên không diệt chứ không có nghĩa là trường tồn bất biến theo ý niệm thời gian của thường kiến luận.
ĐHN cũng đề cập ý này : “ Cho nên Tâm kinh viết ‘ Vô vô minh, diệc vô vô minh tận,’ Không có vô minh mà cũng chẳng bao giờ hết vô minh ! Khoái thật. “ Hay nói cách khác , không có lão tử cũng không có hết lão tử, tức không có 12 nhân duyên.
Anh cũng đã từng trải qua giai đoạn làm việc quá độ rồi bị tai biến.Khi thoát được giai đoạn thập tử nhất sinh ấy , anh thấy phải đi tìm một con đường khác. Đọc Tâm kinh ,anh thấy câu “…chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách. ”Anh thấy phải ‘ tự tại “ thôi . Phải dựa vào chính mình . Phải thực hành thôi .”
Chúng ta đã biết rõ ngũ uẩn được cấu tạo như thế nào nên cũng có thể hiểu tại sao soi thấy ngũ uẩn đều không thì vượt qua tất cả sự trói buộc của phiền não khổ đau. Chính hành làm cho sắc, thọ, tưởng, thức bị rối loạn, nhưng khi hành được tuệ chuyển hóa thì tưởng và thức không còn chấp trì kinh nghiệm, thành kiến, quan niệm để bóp méo sự thật nữa, nghĩa là ngũ uẩn trở thành không: không ảo tưởng, ảo giác, không còn cái gọi là A’, A’’, B’, B’’, không vô minh, ái dục.
Và thiền định là một giải pháp . ĐHN thấy rằng có sẵn một con đường mà bấy lâu mình xa lạ. Con đường” chiếu kiến ‘ đó chính là Thiền Quán niệm hơi thở (Anapanasati) An ban thủ ý , nhập tức xuất tức niệm “Thở vào thì biết thở vào , thở ra thì biết thở ra. Trong 40 đề mục thiền quán , anh chọn một : chọn hơi thở . Thở luôn trong thì hiện tại , ở đây và bây giờ Khi vào sâu trong thiền , hành gỉả sẽ không cảm nhận mình còn thở nữa . Đó chính là “ quãng lặng :” ở cuối thì thở ra ..
Yếu tố quyết định nữa là thả lỏng toàn thân , giảm tiêu hao năng lượng ..Tác giả cho biết nhúc nhích cơ hoành 1cm , đã có 250 ml không khí vào ra , bấy giờ họ cần rất ít oxy …hiện tượng thiếu oxy kinh niên ( chronic hynoxia) tạo ra các hormones như dopamine, serotomine, endorphine , oxytocin giúp sảng khoái . lâng lâng , dễ chịu , gia tăng trí nhớ , giảm đau .. chính là trạng thái thiền duyệt vậy. tác giả viết :”“Khi học Phật chữ Anapanasati tôi bèn tự đề ra cho mình chữ Pranasati ,nghĩa là đặt chánh niệm vào giữa khoảng thở vào và thở ra đó. Nó là quãng lặng , là nghỉ ngơi , là ’ bardo’ giữa hai hơi thở , giữa sự sống và chết , tái sinh .”
Như Thiền sư Nhất Hạnh dạy chúng ta
Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giây phút đẹp tuyệt vời
Khi đã thiết lập được đời sống thăng bằng, bước tiếp nữa là điều phục tâm. “Hãy chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác” là pháp hành quan trọng, cần duy trì liên tục. Tâm luôn bị các chướng ngại pháp xâm chiếm. Chỉ một giây lơ là, vọng tưởng sẽ dẫn dắt và lôi kéo chúng ta rời xa chánh niệm. Luôn nhớ nghĩ về đề mục, nhiếp tâm vào đề mục với sự tỉnh thức và rõ biết tất cả. Những hoạt động trong đời sống hàng ngày đều được ghi nhận rõ ràng. Chánh niệm, tỉnh giác hỗ trợ nhau và là nền tảng quan trọng để tiến sâu vào thiền định.
ĐHN chỉ chúng ta Tứ niệm xứ .” Tứ Niệm xứ là con đường Thiền định .Thân thọ tâm pháp mà các vị Tổ sau này rút gọn cho dễ nhớ :Thân bất tịnh , Thọ thị khổ, Tâm vô thường , pháp vô ngã …Quán thân , thọ , tâm , pháp để đi vào Samadhi ( định ) .Phật lúc nảo cũng ở trong “ định “ và theo con đường Trung đạo.Vì chính Phật lúc tưởng đâu chết vì ép xác tu khổ hạnh thì chén cháo sữa của Sujata làm cho Người tỉnh táo . ĐHN đã rút ra bài học xương máu ấy và kết luận “ Thực tập thiền Tứ niệm xứ ,quán, thấy biết và chứng cái tâm vô thường thì tất cả mọi việc mình coi như gió thoảng mây bay. Cuối cùng thực chứng pháp vô ngã, phá được tất cả trần lao, nghiệp chướng của chúng ta. Thật vậy, các pháp vô ngã thì ta, người và sự vật đều vô ngã, không có thực tánh vì các pháp do duyên sanh. Quán sát và thực chứng pháp vô ngã, tất nhiên phiền não không khởi lên, mình trở thành thanh tịnh Tỳ-kheo giải thoát.” Và anh viết :”Ta cứ thuận pháp mà sống , hồn nhiên như nhiên. ‘Đến nay ngẫm lại chừng quên hết / chỉ nhớ trên đầu một chữ Như ‘( TS Phước Hậu ) .
Vì anh nói “Tôi cho rằng chính lúc cận kề vối cái chết , giai đoạn cận tử đó là đang ở trong trạng thái “ Diêt thọ tưởng định “ mới thấy được cái vô tướng từ Như lai tạng mà ra, từ Pháp thân của chính mình mà tỉnh ngộ … Từ đó có Tứ Diệu đế , Bát Chánh đạo , Thập nhị nhân duyên để dần dần xóa bỏ Tham sân si của kiếp người “ Cũng nên chú giải thêm về Thập nhị nhân duyên , Hành là nhân chính tạo ra ngũ uẩn mới, vòng duyên khởi mới. Và nếu hóa giải được sự tác nghiệp của hành là vượt khỏi tam giới, là thoát ra luân hồi sinh tử, đến bờ kia và vượt qua mọi khổ ách. Sở dĩ hành (ái, thủ, hữu) tạo tác được là do vô minh. Như vậy, khi trí tuệ hay tri kiến như thực soi chiếu thì tưởng – hành không còn khả năng biến A thành A’, A’’, không thấy B thành B’, B’’ được nữa, nghĩa là toàn bộ ảo tưởng, ảo giác, ảo ảnh, ảo kiến, vọng thức trong khái niêm A’, A’’ – B’, B’’ đều biến mất, nhường chỗ cho thực tánh hiển lộ. Đó chính là qua bờ bên kia (paramitā), là đáo bỉ ngạn.
Vì vậy trí tuệ này gọi là bát-nhã ba-la mật-đa (paññā paramitā). Từ lâu nguyên tính A và B bị ngăn cách bởi sông mê (vô minh) bể khổ (ái dục).
Vượt qua – vượt qua bờ bên kia – chính là vượt qua vô minh ái dục, vượt qua ngũ uẩn mà cụ thể là tưởng – hành. “Biển khổ mênh mông hồi đầu là bến”, cho nên bỉ ngạn cũng chính là thực tại hiện tiền,không phải lúc nào, nơi nào khác. Quay lại là thấy ngay tức khắc, chẳng cần rong ruổi tìm kiếm đâu xa.
Bờ đây là bờ mé của giác ngộ hay bờ vực cận kề cái chết ? Trí tuệ bờ kia (paññā pāramitā) , bờ trên (paññā upapāramitā ) hay bờ cao thượng (paññā paramattha pāramitā) là trí tuệ vượt qua vô minh ảo vọng, chấm dứt sự tạo tác luân hồi sinh tử của các hành qua trực tiếp liễu tri thực tánh của pháp là chính.
Gate là vượt qua sông mê biển khổ ; Paragate là vượt qua luân hồi sinh tử bằng trí tuệ này ;Parasamgate là trải nghiệm đại dụng của các pháp ,vượt qua trầm luân sinh tử, vượt thoát vô minh ái dục bằng trí tuệ này…
ĐHN viết về “ ngày kia đến bờ” phải chăng nói về cái chết khi anh viết “Giác ngộ tốt nhất là hiểu được cái chết là tất yếu và …thiết yếu , không có không được của cuộc đời ta.”
Khi tôi viết bài này, một nhà văn dịch giả vừa qua đời ngay trong đêm Noel 2023,anh Mai Sơn . Nhắc về anh, người ta đăng lại bài phỏng vấn anh về tác phẩm “ Hư cấu “ . Người ta hỏi “Vậy trong Hư cấu (NXB Hội Nhà văn, 7/2004) với 10 truyện ngắn, những ý tưởng mà anh cần bám đuổi và mổ xẻ nhiều nhất là gì? “Mai Sơn trả lời “:
– Nhiều nhất vẫn là cái chết. Không phải vì nó bí ẩn và đáng sợ mà vì cái chết đã bị quên lãng trong cuộc tồn tại bề bộn này. Thật ra ai cũng biết, để vượt qua cuộc sống khổ ải này thì cần phải rũ bỏ bớt những gánh nặng, đặc biệt là gánh nặng về cái chết tất yếu. Nhưng cũng rất nhiều người tưởng mình sẽ sống mãi. Chính vì những người này mà chúng ta cần phải phục hiện bộ mặt đáng kính của cái chết. Và để thấy rằng sự chết là một thành phần sống động trong hiện hữu đầy ắp của con người. Martin Heidegger nói: “Bản chất con người là luôn luôn bị ném về phía trước, mà phía trước xa nhất là gì nếu không phải là cái chết.”
ĐHN đã tìm ra lời giải hay đáp số cho bài toán ấy. Anh viết “Chữ không ( sunyata) như trả lời tôi câu hỏi ‘ Tại sao ?’ ( Why ?) Thắc mắc bấy nay về ‘ Tại sao có ta ?
Ta từ đâu đến ?Đến để làm gì ? ‘ … Và chuẩn bị cho một cái chết tốt ( good death ) và một giai đoạn cận tử vui…vui..”
Vậy giai đoạn cận tử ấy ,sau hơn 80 năm sống trên cõi đời này ,trải qua những giây phút cận kề cõi bên kia , sống như thế nào ? ĐHN cho rằng sống với chữ Như, trong thiền định và quán hơi thở, là “sống trong từng giây phút một . Mỗi khoảnh khắc , mỗi sát na là vô tận .Bởi không có thời gian chẳng có không gian , là sống với Như lai , sống cùng Như lai , sống trong Như Lai với Thường , Lạc , Ngã, Tịnh… và hiểu ngay Không đây không phải là không có mà do mà do duyên sanh , duyên khởi , không có tự tánh riêng biệt . “Vì anh biết rằng “..cái tướng mà ta đang sống đầy khổ đau đây vì “ vô thường , khổ , vô ngã , bất tịnh “ chẳng qua chỉ là cái thấy biết vì “ điên đảo mộng tưởng “ không có thiệt , bởi nó chỉ là thực tướng ‘ ảo‘. “ Và hãy nhớ “ well-being and well-dying nhé !”
Ta nhớ lời kinh nguyện “ngày an lành , đêm an lành , ngày đêm 6 thời đều an lành
… sống an lành và chết cũng an lành .“
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai như ánh chớp mây chiều (Tuệ Sỹ )
Xin mượn lời Thiền sư Tuệ Sỹ để kết bài viết này .
“Sống, tuy có danh nhưng không cần, không bám vào nó. Sống an nhiên với tâm niệm rồi đây thân và danh này cũng mục nát với cỏ cây. Nếu có tài, gặp cơ duyên thích hợp thì đem ra phụ giúp cho đời, đem khả năng của mình ra để phục vụ nhân sinh. Hợp thời thế thì làm, bằng không thì cũng chẳng buồn bã chi. “Bất đắc chí, độc hành kỳ đạo” có bạn đồng hành để xây dựng xã hội thì mình đi vào, không thì sống với triết lý riêng của mình. Sống với thiên nhiên, với vũ trụ của mình. …Cái triết lý sống này rất đẹp, nó gián tiếp tạo nên một cái trật tự xã hội, tạo nên một sự cần thiết. Chúng ta sống làm sao cho đến lúc chết không có gì hối hận, không có gì sai lầm. Đối với bạn bè không có sự lường gạt. Giao tiếp với mọi người không có sự gian dối. Cho tới khi mình chết, mình an tâm, an toàn. Chết đi về đâu, không cần biết. Chỉ cần biết mình đã làm những điều chân chánh , hợp đạo lý thì khi chết nhất định sẽ đến những chỗ an toàn. (HT. Thích Tuệ Sỹ)
Tác phẩm của ĐHN được viết nhẹ nhàng , nhưng sâu lắng , nói bâng quơ như những câu chuyện nhàn đàm nhưng là kết tinh của bao năm nghiên cứu Phật học thâm sâu , với bao kinh nghiệm thực chứng của một hành giả trên hành trình tìm chân lý , kể lại cho chúng ta nghe , để cùng cảm nhận và chia sẻ , dù khó khăn hay dễ dàng tùy quá trình tu tập hay căn cơ từng người để rồi hiểu ra mình cũng sẽ “ một ngày kia …đến bờ “ vì ‘ đời người như gió qua. “ ( Trịnh Công Sơn )
Hãy hoan hỷ đọc và chiêm nghiệm với một nụ cười thanh thản .
Nguyên Cẩn
27.12.2023
Buổi Họp Mặt với Đỗ Hồng Ngọc tại quê nhà Lagi 2022.
Tôi vừa nhận được clip này từ Nguyễn Văn Quyền gởi đến trong ngày cuối năm 31.12.2023. Cảm ơn Quyền và các cháu Dung Phan, Hà, Hải… ở Lagi đã ghi hình buổi Họp Mặt rất nhiều kỷ niệm của riêng tôi với quê hương Lagi, Hàm Tân, Bình Tuy…
Cảm ơn các nhà thơ Đỗ Ái Liên, Phan Chính, Cao Hoàng Trầm, Dũng Nguyên… và các thân hữu văn nghệ sĩ Lagi, cùng anh chị em, bà con họ hàng, bạn bè thân thiết … đã tham dự buổi Họp Mặt. Riêng cảm ơn các cháu Trí và Đông của LagiFarmstay.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
TÌM CHỐN NƯƠNG TỰA TRONG THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Trần Đăng Khoa
Trong hai tiếng đồng hồ tối ngày 27/12/2023, buổi Trò chuyện về “Cân bằng trong Khủng hoảng”, khán phòng The Prism của Nam Thi House chật kín chỗ ngồi, hơn một trăm độc giả đã có mặt để lắng nghe hai diễn giả của chương trình – nhà văn – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cùng nhà văn Nguyễn Tường Bách chia sẻ câu chuyện về cân bằng trong khủng hoảng của xã hội hiện đại.
Giữa không gian ấm cúng nhưng cũng không kém phần sôi nổi, liên tục nhiều câu hỏi, trăn trở hàm chứa nỗi bất an, vô định đã được gửi đến hai diễn giả để mong muốn tìm kiếm được lối thoát trước tình thế bế tắc của đời sống.

Từ trái: Nguyễn Tường Bách, Đỗ Hồng Ngọc, MC Tuyết Anh



Nhà văn Đỗ Hồng Ngọc và nhà văn Nguyễn Tường Bách đã có những kiến giải về nguồn gốc của làn sóng khủng hoảng hiện tại từ góc nhìn của những người làm khoa học thấu triệt tinh thần Phật giáo. Từ đó gợi mở ra con đường lạc quan từ quan điểm của phương Đông và phương Tây, của khoa học và thiền học.
Theo bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, chúng ta đang sống trong thời đại VUCA – Volatility (Biến động), Uncertainty (Không chắc chắn), Complexity (Phức tạp), và Ambiguity (Mơ hồ)…
Xã hội đầy rẫy những ngổn ngang, khiến nhiều người không thể bình an, thậm chí bị tâm thần!
“Như căn bệnh phổ biến trên toàn thế giới ngày nay chứ không riêng gì chúng ta, được gọi là S.A.D (viết tắt của Stresse- căng thằng, Anxiety- lo âu, sợ hãi, và Depression- trầm cảm). Đó là 3 thứ “tâm bệnh” không có thuốc nào chữa khỏi, mà phải chữa bằng Tâm lý trị liệu, Thiền định…”, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho biết.

Còn nhà văn Nguyễn Tường Bách thì cho hay, ngay cả ở các nước giàu như Mỹ và châu Âu vẫn phổ biến tình trạng rối loạn lo âu. Mỗi cá nhân sẽ có những mối lo âu riêng dẫn đến khủng hoảng, khủng hoảng cá nhân kéo theo khủng hoảng xã hội. Và thế giới đang phải đối mặt với năm vấn đề nghiêm trọng, đó là: Thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh và di dân. Năm sự khủng hoảng đó dường như cảnh báo chúng ta về một vũ trụ đang xoay trục.
Cả hai diễn giả đều nhấn mạnh đến những hệ lụy nhãn tiền sự phát triển của công nghệ trong đời sống hiện đại. Biểu hiện rõ nhất là tình trạng lạm dụng internet trong giai đoạn giãn cách xã hội, gây nên các biểu hiện lệch lạc về đời sống tinh thần, thúc đẩy lo âu và mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng… Hai vị diễn giả cũng cảnh báo về nguy cơ của trí tuệ nhân tạo (AI), khi công nghệ tưởng chừng như đỉnh cao phát kiến của nhân loại lại đang quay ngược trở lại kiểm soát và điều khiển hành vi con người.
Quay về bên trong, “nương tựa chính mình” chính là lối thoát cho cuộc khủng hoảng hiện tại, đó là quan điểm chung của hai diễn giả với con mắt của những người học Phật. Tuy nhiên, ngày nay khi nói về thiền, chúng ta lại cảm thấy bối rối vì có quá nhiều “thầy”, quá nhiều sách, vô hình trung trong cuộc tìm kiếm hướng đi ta lại bị dẫn vào mê cung của giải pháp. Theo bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, để không bị lạc lối, chúng ta có thể lựa chọn thực tập thiền theo phương pháp đơn giản và khoa học nhất đó là tập trung vào hơi thở (Anapanasati).

Ngoài ra, theo nhà văn Nguyễn Tường Bách, bên cạnh thiền định, nghiên cứu ở các nước phương Tây cho thấy những hoạt động tìm về với thiên nhiên, chơi thể thao, học một môn nghệ thuật cũng có tác dụng tích cực giúp thư giãn tâm trí.
“Cân bằng trong khủng hoảng” là chủ đề lớn, trong thời lượng giới hạn của chương trình khó có thể giải quyết thật rốt ráo. Song chương trình đã “xới lên” nhiều vấn đề xã hội quan tâm, đó cũng là cơ sở để mở ra nhiều cuộc đàm luận tương tự trong thời gian tới!
(TĐK)

Ảnh: Trần Huy Cường
Đó là nhận định của bác sĩ, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc tại buổi giao lưu tối 27-12 về chủ đề Cân bằng trong khủng hoảng.
Tọa đàm còn có sự góp mặt của tiến sĩ vật lý, nhà văn Nguyễn Tường Bách.
Cuộc trò chuyện bàn về những khủng hoảng tâm lý trong và sau đại dịch mà con người phải đối mặt và giải pháp vượt qua từ góc độ khoa học và thiền.
Tại buổi giao lưu, nhiều ý kiến cho rằng sau đại dịch, con người phải đối diện với khủng hoảng tâm lý, trong đó có khủng hoảng niềm tin và hiện sinh.
Tác phẩm Một ngày kia… đến bờ của nhà văn, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là những chiêm nghiệm về việc “con người đến từ đâu và sẽ đi về đâu?” – Ảnh: HỒ LAM
Chúng ta mất đi niềm tin vào chính mình, những người xung quanh và đôi khi hoang mang không biết mình sống để làm gì.
Theo tiến sĩ, nhà văn Nguyễn Tường Bách việc giãn cách xã hội trong đại dịch cùng với sự phát triển của Internet đã gây ra không ít tiêu cực cho sức khỏe tâm thần của nhiều người.
“Trong đại dịch, nhiều gia đình phải giam mình trong bốn bức tường. Cha mẹ, con cái không thể đi làm, đi học.
Họ bị tù túng, không có sự kết nối thực sự với xã hội, dẫn đến những tranh cãi, bất hòa. Và những cuộc ly hôn sau đại dịch tăng vọt”, ông Bách phân tích.
Ngoài ra, cả hai diễn giả đều đồng tình rằng dù sự phát triển vượt bậc của Internet, mạng xã hội có nhiều lợi ích to lớn nhưng cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự lệch lạc trong tâm lý.
Nhiều người trẻ đang “nghiện” Internet và không thể sống được nếu thiếu điện thoại.
Đã có không ít trường hợp mắc chứng trầm cảm, rối loạn lo âu và mất dần đi động lực sống đúng nghĩa vì dùng mạng xã hội quá đà.
Nhà văn Nguyễn Tường Bách giải thích: “Hành thiền là lúc chúng ta ngồi lại để tìm sự an tĩnh trong tâm hồn. Đó là cách tốt nhất để chữa trầm cảm và lệch lạc trong tâm trí.
Lúc ấy, tôi tin rằng ta sẽ có cơ hội thấy rõ mình và còn có thể thấy được tâm của người khác. Từ đó, lòng từ bi sinh ra, tâm an thay thế tâm ác”.
Trong Phật giáo, có nhiều phương pháp hành thiền. Nhưng với bác sĩ Ngọc, việc tập trung vào hơi thở là quan trọng nhất.
“Chúng ta cần tập trung vào hơi thở để thả lỏng tâm trí. Khi hít thở đúng thì cơ thể sẽ tiết ra hormone hạnh phúc – dopamin, serotonin, endorphine, oxytocin”, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ.
Bên cạnh việc thiền, tìm về với thiên nhiên, chơi thể thao, học một môn nghệ thuật cũng là những cách hữu ích giúp con người giải tỏa những khủng hoảng tâm lý.
…………………………….
(*) www.dohongngoc.com
MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ

Tuỳ bút
Đỗ Hồng Ngọc
Cuốn sách gồm 26 tiểu mục với những chủ đề dàn trải, đề cập đến hầu hết các phần giáo lý cốt yếu từ những bộ kinh quan trọng của Phật giáo như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Kim Cang, Duy-ma-cật… và đề cập đến những vấn đề quan trọng trong sự tu tập, từ sự nhận hiểu tinh yếu giáo pháp cho đến kinh nghiệm thực hành.
Đỗ Hồng Ngọc đã biến mọi vấn đề khô khan hay trừu tượng, siêu hình trở nên gần gũi, dễ hiểu và thiết thực, đó là những chia sẻ từ chính kinh nghiệm của người viết- những điều không thể tìm thấy trong bất kỳ bài thuyết giảng hay luận văn Phật giáo nào.
Tác giả đưa người đọc đi vào nội dung quyển sách từ những chiêm nghiệm của cả một đời người. Ở đó, ông tự mình vấn đáp về các vấn đề vĩnh hằng của vũ trụ: “con người từ đâu tới và sẽ đi về đâu?”.

Thư pháp của Thầy Viên Thức, Đà Lạt
(Viết tại Đường Sách Tp.HCM, ngày 16.12.2023)
Trước những truy vấn đó, trong vai trò bác sĩ, ông lần lượt tìm kiếm câu trả lời dưới góc độ khoa học về sinh lý con người như: Tế bào, DNA, Gen… Và khi tất cả đáp án đều chưa thỏa nan đề của tạo hóa, ông lại trở thành một thiền giả, luận giải từ góc nhìn của nhà Phật, bằng con mắt pháp, bằng triết lý duyên, nghiệp, sắc, không…
Để từ đó giúp tất cả chúng ta thấy rằng “Một ngày kia… đến bờ” là tất yếu, là lẽ đương nhiên, vì vậy mà không cần sợ hãi, lo lắng, đau khổ khi đối diện với biệt ly sinh tử.
“Well-Being & Well-Dying” Đỗ Hồng Ngọc viết.
Trần Đăng Khoa
Trân trọng kính mời Anh/Chị và các bạn đến tham dự Chương trình Giao lưu “CÂN BẰNG TRONG KHỦNG HOẢNG” với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và Nhà văn Nguyễn Tường Bách:

Sẽ có nhiều vấn đề được đặt ra trong buổi Trò chuyện thân mật này với các “diễn giả”:
– Thời gian qua, thế giới chúng ta đang sống liên tục chịu nhiều tổn thương (dịch bệnh, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh…). Những vấn đề đó ảnh hưởng ra sao đến tâm thức xã hội?
– Tình trạng mất cân bằng hiện nay thực sự đến từ những nguyên nhân khách quan hay từ chính bên trong chúng ta?
– Làm cách nào để con người tìm lại sự cân bằng trước những biến động?
– Thiền có phải là lối thoát cho cuộc khủng hoảng này?
– Khoa học nhìn nhận như thế nào về khả năng điều trị thực tế của thiền?
– Làm gì để có thể vững tâm đối diện với các biến cố tương tự có thể sẽ còn gặp lại trong tương lai?…
Trân trọng,
BTC
Ghi chú: Vào cửa tự do.

Thầy Tuệ Sỹ, nơi bàn làm việc tại chùa Già Lam
Photo by nt khánh minh (2009)
Vâng, chóng đến nỗi tôi nghĩ đó là giấc mộng, giấc mộng thiện hảo quý báu quá khiến tôi tiếc ngẩn ngơ sao chóng đến vậy.
Đó là buổi ra mắt tập thơ của tôi tại quán cà phê Du Miên. – Chỉ với 50 ấn bản Bùa Hương do Ý Thức Bản Thảo ấn hành 2009 – với sự có mặt của các anh chị Đỗ Hồng Ngọc-Ngọc Bích, Lê Ký Thương-Kim Quy, anh Nguyên Minh và anh Lữ Kiều, và tôi. Bảy người, đối với riêng tôi, số 7 khiến tôi liên tưởng đến bảy sắc cầu vồng, bảy nốt trong âm nhạc, thất bảo, của một buổi sáng tuyệt vời.
Và bản quý duy nhất, Bùa Hương, được ấn chứng bằng những chữ ký thân tình. Buổi sáng đẫm hương bằng hữu. Nó không chỉ chấm dứt vào buổi trưa khi chia tay. Nó kéo dài cho tới bất cứ lúc nào hồi ức tôi lay động.
Sau buổi sáng, anh Lữ Kiều bảo, giờ anh sẽ đưa em đến chùa Già Lam, – Thầy Tuệ Sỹ ạ? – Ừ, mình cùng đi với Giai Hoa.
Lòng tôi vừa bồi hồi vừa lâng lâng khó tả. Run run. Vì sắp được gặp một người mà mình nghĩ rằng khó có cơ hội được diện kiến. Chùa Già Lam. Có đóa sala rụng ở sân chùa, cầm trong tay thơm ngát. Ép vào sách, đến giờ giở ra còn nghe thơm. Thơm phút giây nhặt nó ở sân chùa, thơm vì nó cùng tham dự với tôi buổi trưa độc nhất ấy, nơi có vị sư của những lời thơ Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ/ Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn… (Tuệ Sỹ, Không Đề) Đã bao trăng tàn bên chiếc lan can này nghe Sư nói chuyện một mình? Hai bóng sáng hòa âm trong đêm, để lại cho đời những lời thơ bất hủ, theo mãi trong lòng người hình bóng một vị chân tu.
Chúng tôi ngồi ở đó, ban công trước phòng Sư, trông xuống một vườn cảnh nhỏ, gió buổi trưa hiu mát, trái tim tôi như chiếc lá bay. Sư và anh Lữ Kiều, Giai Hoa đang bàn về chương trình buổi ra mắt tập thơ Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm, tập thơ tôi được Sư tặng sau đó.
Tôi tặng Sư tập thơ Bùa Hương, và tôi có được chữ của Sư trong bản duy nhất kia. Chữ của Sư, chữ Hán lẫn Việt, lấp lánh dưới nắng trưa: Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn/ Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về. Nét chữ có linh hồn của sự cương nghị bất khuất và u ẩn một điều cưu mang…
Mỗi khi giở xem lại nét chữ ấy lòng run run như đang mở xem điều gì đó vô cùng quý báu.
– Giai Hoa là người phụ đạo piano cho thầy-. Anh Lữ Kiều nói. Rồi, chúng tôi được nghe và thấy Sư ngồi đàn, một Nhà Thơ gõ trên phím những nốt nhạc của tâm hồn, Sư ngồi đó, Sư đang ở đó, như vừa mới đến, như vừa ra đi trong âm ba tiếng nhạc. Không gian thời gian như nhập lại một dòng trôi vi diệu vô thường…
Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng… ôi, Như Lai đâu có đi có đến…
Thời gian tiếng dương cầm, giờ như đang đọng từng hạt vàng trong nắng Già Lam. Đó Ngày Mộng của tôi. Ngày mộng khởi duyên cho bao thiện lành trong từng bước tu hướng về Người…
ĐỈNH ĐÁ NÀY VÀ HẠT MUỐI ĐÓ CHƯA TAN
(Tuệ Sỹ, Khung Trời Cũ)
Tôi kính ngưỡng nỗi u ẩn trong tình tự hạt muối chưa tan. Ôi biển đời kia xô động…
Cũng vì vậy, đọc thơ Tuệ Sỹ, tôi cứ thấy hình ảnh con đường dài, và muôn dặm bóng cô lữ một khung trời viễn mộng dằng dặc nỗi ưu tư,
Trời viễn mộng đọa đày đi mấy thuở
Mộng kiêu hùng hay muối mặn giữa trùng khơi
(Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm)
Bước độc hành như sương hạt rơi khuya, như tiếng mõ trầm trầm hun hút ở rừng thẳm, ở núi cao… nhưng khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, của một vì sao bên khoé miệng rưng rưng, thấp thoáng ẩn hiện. Hiện lên Người và ẩn một cõi thơ tịnh tĩnh. Khó làm sao lọt được vào cõi im lặng tủy đá ấy…
Có chăng, tôi lần theo bằng nhịp đập của trái tim thơ khởi đi từ hạt lệ mở đường,
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…
Cô quạnh và tự tại của hạt lệ đèn hòa thanh ánh trăng, và câu chuyện gì khiến thế gian nhỏ lệ? Đọc thơ Người thấy mình nhỏ bé quá dưới cái huyễn lộng, hay chỗ nào, vì sao hay, hỏi như hỏi mây xanh bay, theo như đuối dòng nước trôi hoài kia. Chuyện trăng tàn là chuyện gì, chưa nghe thấu nỗi đã rúng động. Trăng tàn giật mình sững sờ cái núi lạnh biển im, tấm lòng băng khiết?
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan…
Hỏi, tại sao, vì đâu lòng muối kiên định… để bất khuất chưa tan?
Tưởng chỉ là Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ, bỗng vầng trăng vụt sáng mới hay Lãng du ai ngỡ cô liêu bạc đầu! (Tóc huyền) Cô liêu tóc trắng ấy cũng ngang ngửa với cái cô quạnh nghìn năm viên đá cuội. Nghe quá cảm khái trong câu hỏi hồn tôi đâu…
Viên đá cuội mấy nghìn năm cô quạnh
Hồn tôi đâu trong dấu tích hoang đường?
(Dạ Khúc)
Hay đó là mênh mang sầu của cánh mỏng về đâu, là chiếc lá xa mùa đau lòng phận nước?
Con bướm nhỏ đi về trong cánh mỏng
Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa…
(Mưa cao nguyên)
Tôi sứ giả hư vô
Xin gởi trong đôi mắt bà
Một hạt cát
(Hạt cát)
Sứ giả của hư vô, gửi vào đôi mắt một hạt cát, để khơi lệ huyễn mộng rực rỡ không dấu chấm hết? Một hạt cát chứa vô biên không gian thời gian.
Tất cả câu hỏi về thơ Người, chỉ có thể tìm được câu trả lời qua những bước chân cô độc kiên trì trên con đường dài Người đã đi, qua tấm lòng băng khiết Người đã sống với Đạo với Đời, qua nếp sống giản dị thanh bạch của hạt cát tinh tuyền, giờ hạt cát ấy đã lồng lộng hư vô, nhưng âm thanh của cát vẫn vang động. Nếu chúng ta cùng nghe được âm vang của một hạt cát thì sứ giả hư vô ấy là trái tim son sắt của Người.
NHỚ BUỔI NGHE SƯ ĐÀN
Cùng nhà thơ Lữ Kiều và Giai Hoa, 20.9.2009, tại cốc của sư trong vườn chùa Già Lam
Buổi trưa ngồi nghe sư đàn
Trăm con lá rớt. Tình tang cõi ngoài
Mùa đâu hốt đã thu phai
Một phương viễn mộng. Đọa đày*. Bao thu
Viên đá cuội nghìn năm*. Ru
Niềm cô quạnh. Dấu biệt mù. Âm xưa
Trăng tàn nhỏ lệ đèn khuya
Hắt con bóng dựng đá chờ nước non
Áo tỳ khưu. Dặm mỏi mòn
Trùng khơi. Hạt muối đó còn chưa tan…
Nguyễn Thị Khánh Minh
9.2020
* Thơ Tuệ Sỹ: Trời viễn mộng đọa đày đi mấy thuở/… Viên đá cuội mấy nghìn năm cô quạnh/ Hồn tôi đâu trong dấu tích hoang đường…
(Nguồn: tranthinguyetmai.wordpress.com)
