Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Đọc: NHỮNG NGƯỜI TRẺ LẠ LÙNG

21/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Nguyễn Duy Chính là tác giả của nhiều bài nghiên cứu lịch sử có giá trị, anh cũng là một dịch giả nổi tiếng về Kim Dung, hiện đang sống tại Hoa Kỳ. Bài viết này anh nhờ Lê Anh Dũng chuyển tới tôi từ năm 2002, những cảm nghĩ của anh khi đọc Những Người Trẻ Lạ Lùng.
Mười năm chứ ít chi?
DHN.

Cảm nghĩ khi đọc: NHỮNG NGƯỜI TRẺ LẠ LÙNG của Đỗ Hồng Ngọc.
1. Ở Pasadena, cách chỗ tôi ở chừng 40 dặm, có một khu vườn bách thảo với mấy thư viện tàng trữ sách cổ ( để ngắm), những bức danh họa, những pho tượng bằng cẩm thạch và bằng đồng của thời Trung Cổ… Mỗi lần ghé đến, tôi không bao giờ quên khu vườn Nhật, với những cây tre thẳng tắp, nhẵn nhụi trên có khắc tên những cặp tình nhân – mặc dù có những bảng nhắc cho du khách biết rằng đừng vì tình cảm riêng tư của mình mà làm mất vẻ thiên nhiên và mỹ quan của khu rừng. Bên cạnh đó là một dòng suối róc rách, một cái cầu gỗ cong, bên dưới hồ sen là những con cá koi lượn qua lượn lại.

Xế lên chút nữa là một vườn trưng cây bonsai, những cây cổ thụ được trồng trong bồn sứ nhỏ, một nét đặc thù của dân tộc Phù Tang mà nay đã là thú thưởng ngoạn của nhiều dân tộc khác. Nhìn những cây xanh tươi đã mấy trăm năm, dưới gốc sần sùi là rêu xanh mướt, nhưng hoa quả vẫn xuất hiện mùa nào ra mùa nấy, đúng như Trời đã định riêng cho mỗi loại cây tôi vẫn tự hỏi rằng, liệu con người có được như cây cỏ chăng, khi đến cuối cuộc đời vẫn còn đơm bông kết trái?
Nỗi lo lắng của tôi – và cũng là ước mơ – là làm thế nào mình có thể tiếp tục sáng tạo và đóng góp cho đến khi buông xuôi hai tay chứ đừng để phải sống như những bóng ma vật vờ mà tôi đã thấy những người già nơi trại dưỡng lão, bởi vì sống mà không sản xuất là một cuộc sống thừa, cũng như cây không đâm chồi nẩy lộc thì là một cây chết.
Chiều hôm 28 tháng 12 năm 2002 tôi nhận được cuốn sách của một văn hữu chưa từng gặp mặt từ Việt Nam gửi tặng, cuốn Những Người Trẻ Lạ Lùng của BS.Đỗ Hồng Ngọc ( NXB TPHCM, 2001). Đọc qua một mạch 23 đoản văn của anh, tôi mới thấy rằng những điều tôi thầm mơ là có thật. Nó không phải là suy nghĩ của một người bất bình thường, cũng không phải có cái gì trái khoáy. Những cây già vẫn có thể cho ta bông trái như cây non, và nó vẫn đượm mùi, vẫn đầy hương sắc – và không hề giả tạo chút nào. Chỉ có điều nó hiếm hoi hơn, khó khăn hơn, cũng như những cây bonsai kia, không phải là thứ cây kỹ nghệ để có thể thu hoạch hàng rổ mỗi năm. Nó lưa thưa vài chỗ, và nghệ nhân phải biết tỉa bỏ những bông trái èo uột để những hoa trái sau cùng này tô điểm thêm cho niên kỷ, xứng đáng với những thu hoạch cuối cùng chứ không thì là… “già dịch” rồi còn gì.
2. Có một cái lạ là đọc những đoản văn của Đỗ Hồng Ngọc, thỉnh thoảng dường như ta thấy cái bóng mình trong đó, có khi là một giấc mơ ám ảnh từ thuở nào, nhưng cũng có khi chập chờn như thật, mặc dầu tác giả viết về một người khác có thật mà anh là chứng nhân.
Mỗi một nhân vật, cũng như những bức chân dung anh phác thảo, đều chỉ là những nét thật đơn giản, đơn giản hơn cả lối tranh thủy mặc của Trung Hoa, nhưng Đỗ Hồng Ngọc để cho người đọc tự vẽ lấy những chỗ anh không vẽ, để hình dung ra cái đối tượng mà anh đang miêu tả. Cái may của tôi là tất cả những người anh đề cập đến tôi không quen một người nào, mặc dù đều là những bậc tiền bối thành danh. Chính vì thế, tôi có thể tưởng tượng rất nhiều, cũng như tôi chưa từng xem một bộ phim kiếm hiệp nào cả, chỉ vì muốn giữ mãi hình ảnh mà mình có trong đầu chứ không muốn mượn cái hình ảnh mà người khác đã tạo nên, dẫu biết rằng có những phim mà tài tử còn đẹp hơn những gì mình có thể hình dung ra được.
3. Có hai phát minh (?) mới độ mươi năm nay mà ngẫm nghĩ có cái gì tương đồng – tương đồng mà lại tương phản với lối viết của Đỗ quân.
Một là ngày nay người ta đã in hình những bức tranh chẳng có gì đặc biệt, ngoài những patterns được lặp đi lặp lại. Thế nhưng nếu chúng ta nhìn xuyên qua nó để tập trung vào phía sau bức tranh, ta sẽ thấy một hình ba chiều linh động, lắm khi chẳng liên quan gì đến những hình mẫu. Tôi cũng chẳng biết lối đó gọi tên là gì cả tiếng Mỹ lẫn tiếng Việt nhưng tôi tin rằng nói ra nhiều người sẽ biết ngay. Bản chất của bức tranh chỉ là sắp xếp làm sao để từ những cái thường kia hiện ra một cái bất thường như một bông cúc đen giữa những bông hoa trắng.
Lối viết của Đỗ Hồng Ngọc cũng vậy. Trong những cái hết sức tầm thường anh lại sắp xếp hết sức khéo léo nhưng rất nhạt để rồi đọc qua, đọc trở lại người ta sẽ… bắt được một cái gì mà tác giả cố tình đánh rơi.
Thứ hai là người ta dùng hàng ngàn bức tranh hay ảnh khác nhau thu nhỏ lại để cho computer lựa chọn rồi kết lại thành một bức tranh, hay chân dung một danh nhân. Nhìn xa chúng ta chỉ tưởng đó là một bức ảnh mà hột hơi to nhưng khi nhìn kỹ thì đó là những bức ảnh được ghép lại. Người ta đã ghép thành Tổng Thống Lincoln với hàng ngàn bức ảnh thời Nội Chiến (Cicil War), Bill Gates với hàng ngàn bức ảnh đủ mọi loại tiền trên thế giới, hay cô đào Marilyn Monroe với hàng ngàn bức ảnh của chính cô ta. Mấy năm trước, có kẻ cắc cớ đã thực hiện một bức ảnh Tổng Thống Mỹ Bill Clinton với hàng nghìn centerfolds và ảnh của tạp chí Playboy khiến những chàng trai ái mộ ông đổ xô đi mua như tôm tươi.
Lối viết của Đỗ Hồng Ngọc thì ngược lại. Anh đi từ ngoài vào trong, và người tinh ý đọc mỗi đoản văn lại nhón ra được một viên sỏi đẹp cho riêng mình. Có thể bạn và tôi cùng nhìn ra một điểm tương đồng nào đó nhưng cũng có thể hoàn toàn khác nhau như một bài thơ cắt rời rồi xếp lại một cách bâng quơ. Tôi tin rằng cái mà mình thấy chưa hẳn đã là chủ đích của người viết. Thoạt nhìn người ta tưởng anh viết hồi ký về một số người anh quen, nhưng thực ra anh đã vẽ họ bằng những góc ít người để ý nhất. Cái ông già nổi tiếng kia không đáng kể bằng tập album ông cất riêng cho ông để một lúc nào đó chia sẻ với một người hiểu ông, cũng như một ông lão khác phải giấu cây gai bàn chải trên sân thượng, chắc hẳn cũng để… lâu lâu lại dòm.
Thế nhưng đọc hết những đoản văn của anh, dường như ta thấy có một cái gì xuyên suốt và nhất quán, cái nọ lồng vào cái kia, xen kẽ và bổ túc cho nhau.
4. Một trong những cái tôi muốn tìm nhưng không thấy – mà tôi chắc là tác giả còn giấu ở đâu đó mà mình chưa có duyên được đọc. Cũng rất có thể tôi hiểu sai, sai vì đã suy bụng ta ra bụng người.
Tôi vẫn nghĩ rằng những người đa tài thì thường hay đa tình. Ba cái vẽ, thơ và văn không thể tách rời với cái yêu vẻ đẹp, mà đã yêu vẻ đẹp thì phải yêu người, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Mà đã yêu vẻ đẹp thì phải yêu rất sớm, rất nhiều,… và rất lâu.
Một trong những cái mất vui của nơi tôi đang sống là người ta thực tế quá. Thành ra tuổi trẻ không còn những cái thú như chúng tôi khi còn học tiểu học hay trung học. Không biết người khác thì sao nhưng khi tôi đi học, bọn trẻ con hay chơi trò gán ghép, gán đứa con trai này với đứa con gái nọ một cách tinh quái, lắm khi nhảm nhí. Tôi rất thông cảm với những nạn nhân bởi vì chính tôi là một nạn nhân của những đứa bạn rắn mắt.
Năm lớp Nhất (lớp 5 ngày nay) tôi học ở một trường làng, nam nữ học chung. Tôi ngồi ngay sau lưng một cô gái có mái tóc dài xõa xuống vai, thỉnh thoảng cô lại lúc lắc đầu khiến tóc cô lại chạm vào cuốn vở tôi đang viết. Tên cô ta là Duyên.
Những đứa trẻ tinh nghịch lắm khi hay kéo tóc con gái, và cô Duyên – của tôi – cũng hay bị chọc ghẹo. Tôi nói “của tôi” vì bọn kia hay chơi trò gán ghép nên lắm khi phải nổi cộc và ảnh hưởng không ít đến thái độ của mình, khi muốn mượn một cục gôm mà không dám.
Cô bé đó cũng bằng cỡ tôi, con một bà giáo (bố cô ta là thầy giảo, đã mất chứ không phải bà ta dạy học) nên thỉnh thoảng ba tôi cũng đến thăm gia đình người bạn cũ. Một hôm ông cho tôi đi theo và ngạc nhiên xiết bao khi thấy cô bé thập thò sau cửa, nhìn tôi cười nháy mắt. Ôi, bao nhiêu e thẹn ở trong lớp đều tan biến khi hai đứa trẻ đưa nhau ra sau nhà thăm cái vườn hoa nho nhỏ của nàng. Hóa ra không phải nàng lạnh lùng với tôi như tôi tưởng, và chắc cũng thích thầm cái trò nghịch ngợm của đám “du côn” kia.
Những chuyện như thế tôi chưa tìm ra trong các đoản văn của BS Đỗ Hồng Ngọc. Dĩ nhiên không phải trong đề tài “Những Người Trẻ Lạ Lùng”. Tôi đi tìm bởi vì những chuyện như thế thì anh sẽ không thể “vẽ” từ người khác mà chỉ có thể “self-portrait” được thôi.
Nguyễn Duy Chính
(2002)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

“Bàn tay nhỏ dưới mưa”

15/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

Bàn tay nhỏ dưới mưa
Trương Văn Dân du học ở Italia hơn 40 năm trước mà còn viết tiếng Việt giỏi, đáng khen. Một người bạn nói với tôi như vậy sau khi đọc BTNDM. Chẳng những vậy, anh dịch cũng được lắm. Anh vừa dịch một truyện ngắn của vợ, chị Elena Truong, viết bằng tiếng Ý đăng trên Tuổi trẻ Chủ nhật hôm nọ, một câu chuyện cảm động về tình yêu của cặp vợ chồng già!
Bàn tay nhỏ dưới mưa là cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, sau khi anh chị quyết định rời bỏ Italia về sống với quê nhà. Dân và vợ, chị Elena gởi tặng tôi BTNDM ở một quán café góc phố xóm nhỏ Bàn cờ, với lời ghi trân trọng: “Quý tặng anh, bác sĩ nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, người trị đau và chữa khổ – một tấm lòng tha thiết với đời- để cùng chia sẻ niềm đam mê văn học”. Còn chị Elena thì ghi bên cạnh nét chữ của chồng: « Un morceau de notre vie / comme un cadeau pour vous”.

Bàn tay nhỏ dưới mưa đúng là một mảnh đời của họ. Một mảnh đời với bao nỗi lo toan, buồn vui, hy vọng rồi tuyệt vọng, chạy đuổi miệt mài rồi dừng lại ngẩn ngơ… để rồi cuối cùng có vẻ như đã tìm ra một exit : Con đường quê hương. Con đường văn học. Con đường giải thoát. « Cuối cùng tôi nghĩ mình không cần phải tự xót thương. Chính cuộc hẹn với cái chết sẽ giúp tôi xóa bỏ những điều vô vị tạp nhạp, dừng ngay nhưng bận rộn, để đứng lại và hỏi xem thực sự mình muốn gì… Đi tìm ý nghĩa thực sự của đời sống! (tr 236)

Bàn tay nhỏ dưới mưa có vẻ như là một chuyện tình buồn, một cái chết, một nỗi chia lìa, nhưng với tôi, là một cuốn tiểu thuyết luận đề, là một tiếng kêu thống thiết, chới với của một bàn tay nhỏ không che nổi cơn mưa nặng hạt đời. Câu chuyện tình lãng mạn, cái sống cái chết, chỉ là một cái cớ để trên đó bày ra, vẽ lại những vấn đề lớn của xã hội hôm nay, những vấn đề có vẻ như bế tắc, không lối thoát, thể hiện rõ nét nhất trên quê hương anh. Vấn đề môi trường, vấn đề giao thông, vấn đề vệ sinh thực phẩm, vấn đề y tế, giáo dục…

« Đang thất thần và ngẩn ngơ thì có tiếng chuông chùa từ đâu vẳng đến. Cái sống, cái chết nối đuôi nhau trôi trong thinh không… bờ bên này bờ bên kia như không còn ranh giới ». (tr 410)

Và ở một đoạn kết khi gấp cuốn truyện lại: «Vì chúng tôi chẳng hoài chi đến cõi thiên đường. Có lẽ bởi chúng tôi đã từng là con người, đã từng hội đủ tâm hồn, si mê và trí tuệ, tham lam cùng sân hận… nên vẫn còn say mê trần gian, còn tha thiết làm người… »(tr 412)
Tôi nhớ Trịnh Công Sơn: Tôi là ai mà còn trần gian thế/ Tôi là ai, là ai… mà yêu quá đời này…
Và bỗng muốn nói với bạn : « Đừng tuyệt vọng, Dân ơi, đừng tuyệt vọng ! ».!

Đỗ Hồng Ngọc.
(12.2011)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học

08/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Hiến Lê
Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học
Vương Trung Hiếu
Ghi chú: Vương Trung Hiếu, bút danh Thoại Sơn, là nhà văn, nhà báo, quê gốc An Giang. Trên vanchuongviet.org, nhân 100 năm Ngày sinh Nguyễn Hiến Lê, (08.01.1912 – 08.01.2012) anh đã cho đăng bài viết này, trích từ Kỷ yếu của Hội cựu học sinh Trường trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, An Giang. Một bài viết ngắn gọn, nhưng rất có ích cho các bạn trẻ. Xin phép được đăng lại nơi đây.
Chân thành cảm ơn anh Thoại Sơn.
Đỗ Hồng Ngọc.

Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng, tên tuổi của ông gắn liền với nhiều tác phẩm, trong đó có quyển sách dịch “Đắc nhân tâm” (vẫn thuộc loại bán chạy nhất hiện nay trên Internet). Người ta biết NHL viết sách, chứ không nhiều người biết ông đã từng là nhà giáo. Tháng 11 năm 1950 NHL nhận lời mời dạy học ở trường Trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, đến năm 1952 ông xin nghỉ, lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, biên dịch sách, sáng tác và viết báo. Trong thời gian ở Long Xuyên, ông dạy môn Pháp văn, Việt văn, Đức dục, về sau thêm cả Hán văn (từ lớp 7 đến lớp 9 ngày nay). Quan điểm dạy học của ông tuy cách đây đã 60 năm, song vẫn còn hữu ích đối với thế hệ giáo viên trẻ ngày nay. Ông cho biết: “Tôi soạn bài kĩ, giảng cho rõ ràng, bắt học sinh làm nhiều bài tập,.. dù con bạn thân mà làm biếng tôi cũng rầy, dù con các người tai mắt trong tỉnh, nếu lười tôi cũng mắng nặng lời”. “Tôi cho rằng trong nghề dạy học, tư cách ông thầy quan trọng nhất: phải đứng đắn, nhất là công bằng; rồi lời giảng phải sáng sủa, có mạch lạc, muốn vậy ăn nói phải lưu loát, và soạn bài phải kĩ”.
“Trong trường học, giáo sư nên khuyến khích những học sinh chịu đọc thêm sách, chứ đừng khen những trẻ giỏi học thuộc lòng. Trong các kỳ phát phần thưởng, đừng mua sách giáo khoa để phát, mà nên lựa những sách giúp học sinh mở mang thêm kiến thức”.
Về giáo dục NHL nêu vài vấn đề mà ngày nay chúng ta cũng cần phải suy nghĩ. Trong quyển Thế hệ ngày mai, NHL cho rằng nền giáo dục trong thời đại của ông “ quá thiên về trí tuệ, xao nhãng thể dục và đức dục”. Từ bậc tiểu học đến đại học, người dạy đã nhồi nhét quá nhiều những môn “để luyện trí”. “Phương pháp dạy ở trường có tính cách quá nhồi sọ”. “Môn gì cũng cần nhớ, nhớ cho thật nhiều, tới môn toán pháp mà cũng không dạy trẻ phân tích, bắt học thuộc cách chứng minh các định lý”. Từ đầu thế kỷ 20, Nhiều giáo sư, học giả Pháp đã phê phán lối học “không tập cho suy nghĩ ấy”. Nhiều nhà doanh nghiệp phàn nằn rằng phần lớn “ những học sinh ở Trung học hay Đại học ra không hiểu chút gì về công việc, không biết kiến thiết, sáng tạo, chỉ huy”.
Một điểm đáng chú ý khác: Vì sao học sinh không thích học? Ông cho rằng học sinh có thể không thích học môn nào đó vì cảm thấy không hợp. Có người thích văn nhưng buộc phải học Toán; có người thích vẽ nhưng buộc phải học Sử. Ngoài ra, “Ta cũng có thể ghét sự học ở trường vì nhiều giáo sư giảng bài như ru ngủ chúng ta, hoặc tới lớp thì bắt ta chép lia lịa từ đầu giờ tới cuối giờ mà không hề giảng cho một chữ, chép tới tay mỏi rời ra, không đưa nổi cây viết, nguệch ngoặc không thành chữ, rồi về nhà phải cố đọc, đoán cho ra để chép lại một lần nữa cho sạch sẽ. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì có những ông giáo, suốt năm mặt lạnh như băng, vẻ quạu quọ, hờm hờm, coi học sinh như kẻ tù tội, phải hành hạ cho đến mực, làm cho học sinh gần tới giờ thì lo lắng, mặt xám xanh, như sắp bị đưa lên đoạn đầu đài. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì kỷ luật, hình phạt của nó, vì những kỳ thi liên miên bất tận..”.
Điều quan trọng nhất trong cách dạy của NHL không chỉ nằm ở chuyên môn, mà còn ở cách hướng dẫn học sinh tự học. Vì phần lớn học sinh thời ấy “không biết cách ghi chép lời giảng của thầy, không biết cách học bài, làm bài, không biết cách học ôn, cách tìm tài liệu, không có một thời dụng biểu ở nhà. Họ không hiểu rằng cách học một bài ám đọc (récitation), khác cách học một bài toán; một bài sử, địa khác một bài sinh ngữ… Họ không có cả một sổ tay ghi những điều cần nhớ để thường coi lại”.
Vâng, tự học là điều cần thiết không chỉ khi ngồi trên ghế nhà trường, mà còn là phương tiện giúp ta đi tới thành công trên đường đời. Đừng nghĩ rằng khi có bằng cấp cao là đã thành công và không cần phải tự học nữa. NHL viết: “Bạn có bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ mà không học thêm thì suốt đời cũng chỉ là một tiến sĩ, một thạc sĩ. Paul Doumer 14 tuổi đã phải thôi học, tự học lấy rồi sau thành Tổng thống nước Pháp. Louis Bertrand xuất thân làm thợ mà lên ngôi Tổng trưởng”. Ở nước ta cũng không thiếu người nhờ tự học mà có danh vọng”. Thí dụ như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Bạch Thái Bưởi và Trương Văn Bền…đã thành công lớn trong nghề nghiệp của mình.
Cách tự học
NHL viết: “trên con đường tự học, tôi chẳng có chút hiểu biết, kinh nghiệm nào cả, phương tiện thật thiếu thốn, tốn công nhiều mà kết quả rất ít. Vì nghĩ vậy mà sau này tôi viết cuốn Tự học để thành công (sau đổi tựa là Tự học, một nhu cầu của thời đại) để hướng dẫn thanh niên tránh những lỗi lầm của tôi”. Ông cho rằng “Tự học cũng là một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gắp trăm du lịch bằng chân”. “Tự học còn là một thú vui rất thanh nhã nó nâng cao tâm hồn ta lên”. Vậy, muốn tự học, trước hết phải thấy nó là một chuyến “du lịch”, là “thú vui” mới có thể kiên trì theo đuổi.
Theo NHL, người mới biết đọc, biết viết; người già cũng có thể tự học được. Quan trọng là có sức khỏe, thời gian và tin vào việc học của mình (có lợi cho bản thân, giúp ích cho người khác). “Nếu học 5-7 lần không thuộc, cũng đừng chán rồi bỏ cuộc. Học nhiều hơn nữa, có ngày sẽ thành công”.
Ông nghĩ rằng cái lợi của tự học là “tự do lựa môn học, lựa thầy học”. “Nếu chưa hiểu rõ một chương, ta có thể bỏ ra hàng tuần hàng tháng để học thêm…Nhờ vậy ta có nhiều thì giờ để suy nghĩ so sánh, tập xét đoán, giữ tư tưởng được tự do. Không ai nhồi sọ ta được, bắt ta phải lặp lại những điều mà ta không tin”. Tuy nhiên, ông cũng thấy cái hại của việc tự học là do “không ai dẫn dắt ta, nên ta không biết học cái gì”. Có người quyết học hết một bộ Bách khoa từ điển nhưng mới học khoảng một tuần thì bỏ ngang vì chán nản, không hiểu nhiều đoạn trong tự điển. “Có kẻ gặp cái gì đọc cái ấy… không tự lượng sức mình, chưa biết những sách đại cương về một môn nào đã đọc ngay những sách quá cao viết cho các nhà chuyên môn”. Đọc qua loa những điều mình thích nên không hiểu tường tận để áp dụng. “Học như vậy phí công vô ích”, do “không có một mục đích nhất định để nhắm, một chương trình hợp lý để theo”.
Ông cho rằng tự học “có mục đích gần và mục đích xa”. Học để có một chỗ làm, có cuộc sống tiện nghi là học với mục đích gần. Học để đủ tư cách làm chủ gia đình, một công dân và phần tử của nhân loại. Học để phát triển đức trí, giúp ít người khác mỗi ngày một nhiều hơn mới là mục đích xa. Nếu là giáo viên toán ta cũng nên đọc về kinh tế, chính trị; nếu là thợ thuyền cũng nên học về triết lý, luật khoa… “Nhà văn phải biết khoa học, vì khoa học giúp ta nhận xét, lý luận, hiểu vũ trụ hơn. Nhà khoa học cũng phải hiểu văn chương vì những áng văn thơ bất hủ nâng cao tâm hồn con người”… “Kẻ nào quá chuyên nghiệp, chỉ đọc những sách về ngành hoạt động của mình thì không khác chi đeo vào hai bên thái dương hai lá che mắt, không khác chi tự giam mình vào một phòng chỉ có mỗi một cửa sổ để thông ra ngoài.”
Những cách tự học
Theo NHL, có hai cách tự học: học có người dạy và tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm (theo ông, cách thứ hai “quan trọng hơn nhiều”).
Tự học (có người chỉ dẫn) là theo một lớp giảng công hay tư, một lớp hàm thụ hoặc nghe diễn thuyết.
+ Lớp giảng: Theo ông, “ở Âu, Mỹ, có rất nhiều trường công hay tư dạy những người lớn muốn học thêm” (từ tiểu học đến đại học). “Lại có những trường dạy một ngành chuyên môn như môn Tổ chức công việc, môn viết văn, làm báo, khoa nói trước công chúng, khoa nội trợ…”.
+ Lớp hàm thụ: học từ xa bằng những phương tiện thông tin đại chúng, “
học những trường này phải trả tiền vì đều là trường tư, hoặc bán công tư”.
+ Nghe diễn thuyết: nghe những diễn giả nói về đề tài mà mình muốn biết thêm.
Tự học không có người chỉ dẫn là tập nhận xét và đọc sách…
+ Nhận xét: NHL viết: “Người tự học nào cũng phải tập nhận xét. Phần đông chúng ta không nhìn bằng mắt mà bằng óc, bằng tim”. Một giáo sư đại học bảo sinh viên tập trung nhìn những ông làm rồi bắt chước làm theo. Ông nhúng một ngón tay vào một ly nước rồi đưa lên miệng nếm. Mỗi sinh viên đều làm như vậy, nhưng lại nhăn mặt vì nhận thấy nước rất hôi thối. Sau khi họ nếm xong, vị giáo sư mỉm cười, bảo: “ Các cậu không nhận thấy ngón tay tôi đưa lên miệng không phải là ngón tay đã nhúng vào nước à”. Vị giáo sư nhúng ngón tay này vào nước nhưng lại nếm ngón tay kia nên không có cảm giác hôi thối, còn sinh viên thì…. Điều này cho thấy “họ đã không nhìn bằng mắt mà bằng óc. Óc họ tưởng tượng ra sao thì họ thấy vậy”. Tóm lại, muốn học hỏi thì ta phải tập nhìn bằng mắt, chứ đừng bằng óc hoặc tim. Trước khi nhận xét, phải có một chương trình: xét những điểm nào? điểm nào trước? điểm nào sau? Thí dụ, muốn nhận xét một cây, bạn phải: quan sát từng bộ phận của nó (từ gốc rễ đến cành lá); cây này mọc ở miền nào, hợp với loại đất nào; mùa nào trổ bông, có trái; cách trồng ra sao; ích lợi thế nào… Lập sẵn chương trình như vậy thì không sợ quên những chi tiết nhiều khi quan trọng. Trong khi nhận xét phải so sánh (như cây sao với cây dầu giống nhau chỗ nào, khác nhau chỗ nào?), phân tích (như xét một bông phải xét: đài, cành, nhụy, sắc hương). “Chịu nhận xét, tập chú ý vào những điều trông thấy thì tài nhận xét sẽ tăng lên. Mỗi ngày ta nên tập nhận xét vài lần… không tốn thì giờ mà chỉ trong vài ba tháng đã thấy nhiều kết quả”.
+ Đọc sách: theo một lớp giảng hoặc một lớp hàm thụ chỉ là biện pháp nhất thời. Muốn tự học suốt đời, thì phải đọc sách, vì thế “có thể nói tự học là đọc sách”. “Khi đọc tôi luôn luôn có một cây viết chì để đánh dấu những chỗ đáng nhớ, hoặc có thể dùng tới sau này; cuốn nào thường phải đọc lại thì tôi ghi những ý quan trọng cùng số trang lên mấy trang trắng”…“sách nào thường dùng tôi để riêng, sắp theo từng loại”.
Học từ dễ đến khó
Muốn học môn gì đó, cần phải tìm đúng sách rồi học từ dễ đến nâng cao dần. Không thể ngay từ đầu học những điều quá khó, vì như thế sẽ không hiểu, một thời gian sẽ chán nản rồi bỏ cuộc. Nhìn chung, những người như thế “không thành công vì không biết cách học”. Ho chưa biết những điều thường thức đã vội đọc ngay những sách cao đẳng. Họ “chưa có một khái niệm gì rõ ràng đích xác về đạo Phật mà đọc ngay kinh Tam Tạng! Tự học mà thiếu phương pháp như vậy thì 100 người có tới 95 người thất bại”.
Cách học ngoại ngữ
Ngoài tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức, bắt buộc phải học vào thời ấy, NHL còn học thêm tiếng Hán và tiếng Anh. Hồi nhỏ ông học chữ Hán cốt để “đọc được gia phả”, “chỉ nhớ mặt chữ, hiểu nghĩa là được rồi”. Sau khi học xong ngành Công chánh, trong thời gian chờ phân công nhiệm sở, ông lại tự học chữ Hán. “Mỗi ngày, buổi chiều tôi lại thư viện Trung Ương đường Trường Thi, mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh…rồi bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và từ ngữ nào tôi đoán là thường dùng mà chưa biết thì tôi chép lại trong một tập vở. Tôi ở thư viện từ 3 đến 5-6 giờ chiều. Tối hôm đó và sáng hôm sau, tôi học hết những trang đã ghi đó; rồi chiều lại ra thư viện chép bài học sau. Mỗi tuần nghỉ một ngày để ôn lại những bài trong tuần. Học ba tháng, được độ ba ngàn từ”. Về sau NHL tự học thêm nữa để có thể viết sách về văn học Trung Quốc. Về tiếng Anh, ông học chủ yếu là hiểu nghĩa từ và văn phạm, học để đọc tài liệu nước ngoài, để viết và dịch sách chứ không chủ trương học để nói lưu loát. Theo ông, “muốn hiểu một ngoại ngữ thì phải dịch ra tiếng Việt”. “Khi dịch, bắt buộc ta phải tra tự điển; câu nào dịch rồi mà ý nghĩa không xuôi, có điểm nào vô lí hoặc mâu thuẫn với một số câu ở trên thì bắt buộc ta phải soát lại xem mình dịch sai ở chỗ nào”.
Viết sách để tự học
Từ 1949 đến 1953, NHL “làm việc rất nhiều, vừa dạy học, vừa học, vừa viết sách, không có thì giờ để hưởng nhàn”. Ông dạy học, tự học môn Tổ chức, tiếng Anh và văn học Trung Hoa. Ngoài ra ông còn ghi danh học một số lớp hàm thụ. Chính nhờ bài học từ những lớp này NHL đã có tài liệu để viết sách (quyển Nghề viết văn, Hương sắc trong vườn văn và nhiều sách Học làm người).
Theo ông, “viết sách là tự ra bài cho mình làm. Học mà không làm bài thì chỉ là mới đọc qua chứ không phải học.” Và ông cho rằng “khi viết nên nhớ mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới”.
Sức làm việc của ông thật đáng nể, theo Wikipedia, “mỗi ngày ông làm việc 13 tiếng đồng hồ (6 tiếng để đọc tài liệu và hơn 6 tiếng để viết). Thời gian biểu này được áp dụng một cách nghiêm ngặt không ai được vi phạm kể cả chính ông, nhờ vậy mà ông đã hoàn thành một khối lượng công việc, tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật đồ sộ”. NHL cho biết: “nhiều người, từ bạn bè đến độc giả bảo tôi sống như một nhà tu khổ hạnh. Tôi không biết các nhà tu khổ hạnh có thấy khổ hay không khi họ nhịn ăn, nhịn uống, nhịn ngủ, … chứ riêng tôi, chẳng tu hành gì cả, không thấy lối sống của tôi với sách vở là khổ”.
Trong lời nói đầu của quyển “Đời viết văn của tôi”, NHL viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Có lẽ, nhờ quan niệm như thế nên NHL để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm đồ sộ, có giá trị cao về học thuật, đó là mảng sách về triết học và lịch sử. Mảng sách về văn học của ông cũng khá phong phú, chủ yếu là văn học Trung Quốc, bên cạnh đó là một số quyển tiểu thuyết dịch từ tiếng Anh và Pháp. Tuy nhiên, mảng sách mà NHL được nhiều người biết đến, đem lại dang tiếng cho ông chính là loại “sách học làm người”. Ông viết và dịch nhiều sách về mảng này, trong đó có một quyển đã làm “thay đổi hẳn cuộc đời của một thanh niên hiếu học nhưng nhà nghèo”, người mà sau này đã trở thành bác sĩ và cũng khá nổi tiếng, đó là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.
Quyển sách ấy có tựa đề là Kim chỉ nam của học sinh, một quyển mà NHL muốn “giúp học sinh biết cách học”. Ông khởi sự viết quyển này vào tháng 2 năm 1951, tức giai đoạn ông còn dạy học ở trường Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên. Sau khi quyển sách ấy được phát hành, nhiều phụ huynh và giáo sư đã hết lời khen ngợi sự hữu ích của nó. Trong tờ Bách Khoa số 20-4-75, Đỗ Hồng Ngọc viết: “Kim chỉ nam đã mở cho tôi chân trời mới, đọc xong, tôi thấy gần gũi với ông (NHL) kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ thống hoá, đặt ra những nguyên tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viễn vông, nhàm chán”.
Dẫu sống ở Sài Gòn nhiều năm, song Nguyễn Hiến Lê vẫn rất nhớ cái nơi ông đã từng dạy học, nơi mà ông đã về sống những năm cuối đời. NHL tâm sự: “ Long Xuyên đúng là quê hương thứ hai của tôi, mà bây giờ tôi quyến luyến với nó hơn quê hương thứ nhất nhiều”.
Vương Trung Hiếu

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Thư gởi các bác sĩ trẻ

15/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 17 Bình luận

Vài dòng gởi đến các bác sĩ trẻ khóa 2005-2011,

Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM.

Ngày 9/12/2011 vừa qua, thầy biết các em đã trải qua biết bao cảm xúc, biết bao lo lắng và hy vọng trong buổi Lễ Tốt nghiệp truyền thống được tổ chức trang trọng hằng năm dưới mái trường này. Thầy rất tiếc đã bận việc không đến dự được như mọi năm để cùng chia sẻ với các em. Thầy cũng cảm ơn các em về buổi họp mặt thân mật giữa các thầy trò buổi tối đó tại Đông Hồ. Vậy là kể từ hôm nay, các em đã trở thành bác sĩ, người thầy thuốc, đồng nghiệp của các thầy cô, là người mà gia đình và xã hội đang kỳ vọng góp tay góp sức cứu giúp bệnh nhân, nâng cao sức khỏe cộng đồng.


Ra trường, ấy là lúc lòng lâng lâng bao cảm xúc, niềm hãnh diện, mối lo toan, nỗi ngại ngần… Từ nay rời xa mái trường thân yêu, xa thầy xa bạn, dấn bước vào đời với bao nhiêu nhọc nhằn khổ vui thách thức đợi chờ, ở một thời buổi mà ngành y có thể nói đầy sóng gió, “dầu sôi lửa bỏng”, khác xa với thời của thầy, hơn 40 năm về trước. Thầy thấy thương và qúy các em biết bao!

Cho nên dịp này, thầy muốn gởi đến các em một món quà nho nhỏ. Đó là bài nói chuyện của BS Nguyễn Hữu Phiếm, một người đàn anh, một bậc thầy của thầy đã trò chuyện cùng sinh viên y khoa Saigon ngày 29/6/1968. Bài nói chuyện sau đó được in thành sách do Trung tâm Học liệu BGD xuất bản năm 1972. BS Nguyễn Hữu Phiếm sinh năm 1910, là một bác sĩ nổi tiếng ở Saigon trước đây, bạn của nhà văn Nhất Linh (Tự lực văn đoàn), của học giả Nguyễn Hiến Lê… Ông nguyên là giảng viên môn Nghĩa vụ luận y khoa (Déontologie médicale) tại Đại học Y khoa Huế. Ông mất năm 1977 tại Paris. Thầy muốn gởi nguyên văn bài nói chuyện này đến các em dù giọng văn và từ ngữ, nội dung đôi chỗ xưa cũ, nhưng tình người, tính nhân bản của y khoa vẫn dạt dào.

Xin chân thành cảm ơn bác sĩ Lê Ngọc Dũng người đã sưu tầm và phổ biến bài này trên Ykhoanet.com gần đây.

Hy vọng món quà nhỏ này làm các em vui, và học được đôi điều từ người đi trước. Vậy cũng đủ rồi cho truyền thống y khoa chúng ta phải không?

Thân mến,

Thầy Đỗ Hồng Ngọc.
xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Đọc sách

Với Ngô Nguyên Nghiễm

03/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Phút tâm giao với nhà thơ-
bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC

Ngô Nguyên Nghiễm
Ghi chú: Ngô Nguyên Nghiễm, sinh 1944 tại Châu Đốc, tốt nghiệp Đại học Dược khoa Saigon nhưng người ta ít biết đến anh như một dược sĩ mà biết đến anh như một nhà thơ, nhà văn nhiều hơn. Anh đã có 12 tác phẩm văn học được xuất bản trước và sau 75, với hơn 40 tuyển tập thơ văn in chung, và đã từng là người chủ trương tạp chí Khai Phá. Một hôm anh phone tôi, nói muốn gặp gấp để làm một cuộc phòng vấn “bỏ túi” cho bộ sách mới của anh: Người Đồng Hành Quanh Tôi, Tác giả Tác phẩm. Tôi không có cách nào khác hơn là hẹn anh “bạn đồng nghiệp” quý mến của mình ra một quán cà phê góc phố… cùng với Trần Yên Thảo, giữa cái nắng Saigon…

Ngô Nguyên Nghiễm (NNN): Nhà thơ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc, đã góp mặt với nền văn học nghệ thuật thập niên 60 – 70 thế kỷ qua. Lúc đó, tác phẩm Thơ đầu tay được ấn hành là tập Tình Người (1967), và sau đó Thơ Đỗ Nghê (1973) là một dấu ấn đặc biệt. Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt y học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc? Ý kiến về cái thực của đời (Y học), và cái huyễn của Thi ca?

Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN): Không phải “rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê” đâu. Chỉ là “rửa tay gác kiếm” tạm thời thôi! Thời đó có quá nhiều “Ông Đồ xứ Nghệ”, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi. Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao? Ai bảo y khoa là cái thực và thi ca là cái huyễn? Y khoa vừa là khoa học vừa là nghệ thuật! Thuốc “giả” vẫn chữa được nhiều thứ bệnh thật đó chứ! Còn thi ca? Đọc được một bài thơ hay ta chẳng phải đã “sảng khoái” còn hơn ngàn thang thuốc bổ ư?

NNN: Hình như tản văn viết về y học dưới bút pháp Đỗ Hồng Ngọc lại là những tác phẩm văn chương tuyệt diệu. Anh có xem cả hai như một khối duy nhất? Vì sao?

ĐHN: Hình như trong tôi có sự lẫn lộn nào đó. Tôi không hề nghĩ rằng lúc này ta đang làm thơ và lúc này ta đang viết về y học. Thân và tâm đâu có tách rời, sắc thọ tưởng hành thức vẫn là một, ngũ uẩn vẫn “giai Không” mà! Viết, chỉ biết viết. Khi viết một bài về y học, thì hình như tôi đang làm thơ và khi viết một bài thơ thì hình như tôi đang làm… y học! Tôi không biết cách nào phân biệt rạch ròi hai lãnh vực nầy. Tại cái tạng nó vậy. Người đọc thơ tôi bảo “đời thường” quá, không có gì bay bỗng tuyệt vời cả, ngưới đọc tạp văn lại bảo như thơ… Thôi thì, nó sao kệ nó. “Phân biệt trí” đã làm ta khổ lâu rồi!

NNN: Sự hiện thực được bày tỏ trong tác phẩm thi ca mới nhất của Đỗ Hồng Ngọc, là Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác, càng đọc càng làm rúng động lòng người. Anh có thể tâm sự phút giây về những cảm xúc được ghi lại trong loạt thơ đầy nhân bản này?

ĐHN: Bạn vừa dùng một cụm từ lạ: “loạt thơ đầy nhân bản”. Chẳng lẽ có những loạt thơ không đầy nhân bản hay sao? Tôi nghĩ thơ, bản chất đã là nhân bản, dù được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác, ở thời đại này hay thời đại khác. “Người ta đẻ ra mà tỉnh, ấy là tính Giời cho nguyên như thế, cảm ở vật ngoài mà động thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn thời phải có nghĩ, đã có nghĩ thời phải có nói, đã có nói thời những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu cung bực, như không thôi đi được. Ấy tại thế mà sinh ra có thơ!”. Chu Hy đã viết như thế ngàn năm trước khi đề tựa cho tập Kinh Thi, khi có người hỏi ông: Thơ tại sao mà làm ra? (Tản Đà địch). “Như không thôi đi được”, bạn thấy không? Những người làm thơ… trên cõi nhân gian đều vậy đó, “như không thôi đi được”. Vậy nên lại có tập “Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác”…!

NNN: Thỉnh thoảng đọc các bài viết về Phật pháp của Đỗ Hồng Ngọc trên các tạp chí Phật giáo. Và tôi còn chiêm nghiệm về số vốn cao thâm của anh ở những ý kiến về Phật học. Tất cả tư tưởng trên có ảnh hưởng sâu sắc vào những sáng tác hơn 30 năm nay? Nếu phải, thì hé mở chút duyên ngộ mà nhà thơ, nhà văn hóa Đỗ Hồng Ngọc có được?

ĐHN: Hồi nhỏ tôi sống mấy năm trong một ngôi chùa ở Phan Thiết với người cô vì sớm mồ côi cha. Cô bị tai nạn xe lửa, không đi lại được nhưng rất mê sách. Tôi có nhiệm vụ đi mướn sách cho cô đọc. Mặc dù bị cấm con nít không được đọc, tôi đã ngốn hết… toàn bộ sách trong tiệm cho thuê sách đó. Lớn, đi học ở Saigon, dành tiền mua sách, mỗi sáng chỉ ăn một cục xôi. Sách đầy nhà. Tôi nhớ Tôn Hành Giả với 72 phép thần thông và cân đẩu vân tuyệt vời vậy mà cũng không nhảy qua khỏi bàn tay Phật, đành “tè” bậy dưới ngón tay. Thế nhưng, mãi đến năm 1997, sau cơn bệnh thập tử nhất sanh, tôi mới lại tìm đến với Tâm kinh, Kim cang… một cách khác. Học cách khác, hành cách khác. Cho nên như bạn thấy đó, những bài viết có chút hơi hướm, mà tôi nghĩ mình đang lõm bõm học từng chút, từng chút… rồi chia sẻ với bạn bè gần xa.

NNN: Tác phẩm Đỗ Hồng Ngọc nghiêm túc, hình như anh có một phương pháp và lộ trình sắp đặt cho hướng khai phá trong văn chương, dù đó là Nghệ thuật hay Y học. Nếu có dự trù nào cho tương lai, đề nghị hé mở những đóng góp quý giá này?

ĐHN: Tại cái tạng nó vậy. Tôi nghĩ khó có ai sắp đặt một lộ trình, một phương pháp… trong cõi văn chương! Tại cái tạng thôi. Có người nói tôi nghiêm túc lại có người nói tôi hài hước, dí dỏm; có người bảo tôi sơ sài quá, có người lại bảo thâm thúy… Vậy thì không phải “lỗi” ở người viết mà tại người đọc. Người đọc cũng “đồng tác giả” mà! Bạn thấy không, “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ”!
Còn “dự trù” gì đó ư? Sau Tâm kinh, Kim cang, tôi đang “nghiền ngẫm” kinh Pháp Hoa, và giật mình thấy nó đã được gói gọn trong bốn câu ca dao mà người Việt mình ai cũng thuộc: “Trong đầm gì đẹp bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh/ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”…

NNN: Cảm ơn Đỗ Hồng Ngọc, chúc thân tâm an lạc.
ĐHN: Cảm ơn bạn, Ngô Nguyên Nghiễm.

NGÔ NGUYÊN NGHIỄM thực hiện.
Mùa thu 2010.
……………………………………………
(*) Người đồng hành quanh tôi, Tác giả tác phẩm, tập II, NXB Thanh Niên, 12/2010

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Đọc sách

Thơ Đỗ Nghê

23/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi…

Đúng là năm 1973 tôi có in tập Thơ Đỗ Nghê, Ý thức xuất bản, dưới dạng ronéo để tặng bạn bè, anh em. Một số bài trong đó đã đươc tuyển lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa (Nxb TRẺ 1993) và tập Thư cho bé sơ sinh & Những bài thơ khác (Nxb Văn Nghệ 2010). Nhưng cũng có một ít bài tạm gác…!
Gởi bạn bài viết của Thu Thủy trên báo Chính Luận ngày 20.11.1974 về Thơ Đỗ Nghê, đọc vui giữa thu xa.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc

Thơ Đỗ Nghêxem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

“Sầu đong càng lắc càng đầy”

24/08/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Cảm nghĩ khi đọc “Khi tựa gối khi cúi đầu” của Cao Huy Thuần.
Đỗ Hồng Ngọc.

Đó là quyển sách mới nhất của Cao Huy Thuần, một tác giả không xa lạ. Tôi chú ý tới cái bìa. Cái bìa đẹp. Trang nhã. Một cành sen vươn lên trong đầm lầy. Không, trong bùn. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Bởi nói cho cùng, lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng rồi cũng nhị vàng bông trắng lá xanh thôi. Chẳng thêm chẳng bớt, bất cấu bất tịnh…
Hình như vậy. Hình như thôi. Nhưng sao lại “khi tựa gối, khi cúi đầu”? Chắc phải còn cái gì khác nữa chứ? Quả đúng, trong sách còn thấy có “khi vò chín khúc/ khi chau đôi mày”. Sao lại phải vò, sao lại phải chau? Thì ra kẻ “xớ rớ uyên thâm” thì bao giờ và ở đâu cũng vậy, giống nhau, từ Chu Văn An đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi… Cheo leo ở giữa lý tưởng trong veo và thực tế phũ phàng (Giữa đất và trời).
Xớ rớ không thì không sao. Biết thân mình. Uyên thâm không cũng không sao. Biết phận mình. Xớ rớ mà uyên thâm mới mệt. Thức khi người ta ngủ. Cỡi chiếc hoàng bào trả lại. Cạo trọc cái thanh xuân trên mái tóc (Chiếc y của Phật).xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Đọc sách

Nhân ngày Phật Đản

17/05/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Thư gửi Cao Huy Thuần
Đọc “Thấy Phật”

Anh Cao Huy Thuần ơi,
Tôi viết thư này cho anh đúng vào ngày Phật Đản, cũng ngộ! Tình cờ thôi. Tôi mới nhận được cuốn Thấy Phật của anh hôm qua, đọc và viết liền cho anh vài “cảm xúc”, kẻo nguội. Nhìn lại lịch, thì ra là ngày Phật đản!

Tôi mừng cho anh, anh Thuần à, mừng anh đã “thấy Phật”, à mà không, anh thấy pháp thân của Phật, à mà không nữa, anh thấy Như Lai. Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai. Là cánh hoa mai nở thiên thu giữa đêm trừ tịch, là cánh hoa đào “năm ngoái” vẫn còn cười với gió đông. Thật ra anh biết đó, làm gì có hoa đào năm ngoái. Hoa đào thiên thu thì có, đời đời kiếp kiếp, chẳng sinh chẳng diệt thì có. Nó cứ việc nở với gió đông và ngộ thay, nó cười mỉm, cười mũi vào anh chàng thi sĩ ngờ nghệch kia cứ tưởng hoa đào năm ngoái của anh còn đó để mà than thở nhân diện đào hoa nay đã về đâu? Về đâu? Chẳng về đâu cả, bởi chẳng đến từ đâu. Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ… Tôi khoái cái “tiếu đông phong” của hoa đào trong thơ Thôi Hộ. Cái hoa đào đó nó cười tủm tỉm anh chàng thi sĩ chưa thấy biết như lai kia. Còn người đẹp nhân diện đào hoa nọ có mất đi đâu bao giờ, có nhạt phai bao giờ đâu, ngàn năm trước ngàn năm sau vẫn vậy, vẫn tương ánh hồng mãi đó thôi. Chỉ có chàng thi sĩ loay hoay trong cái ngã của mình, là ta, của ta, nên mới buồn rầu, than thở. Anh không phải là chàng thi sĩ đó, nhưng như anh nói, cũng chỉ là một người mù với chiếc gậy, tệ hơn, “mắt mở nhưng nào thấy” như phần đông chúng ta, trong đó có tôi. Nhưng vì anh là một phật tử trí thức, tôi không tin là anh “xớ rớ uyên thâm” như người ta vẫn nói mà anh quả đã có con đường để đi, để thấy, để “ngộ” và để “nhập”. Tôi tin anh đã thõng tay vào chợ từ lâu. Anh đã thấy hoa mai nở giữa đêm trừ tịch, anh đã lại thấy mặt trăng tròn nhất, sáng nhất giữa ngày Vu lan, và anh còn thấy được cả bầy khỉ nắm đuôi nhau mò trăng đáy nước, chẳng chịu nhìn lên một chút! Có điều khi thấy biết (tri kiến) như vậy rồi thì người ta thường ú ớ, nói không được, bất khả thuyết, nên phải dùng ẩn dụ, ngụ ngôn. Thấy Phật của anh đầy những ẩn dụ, ngụ ngôn là vậy. Nói vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà vậy. Tức phi thị danh. Anh bắt chước Pháp Hoa kể chuyện trên trời dưới đất để “ẩn đi chỗ khác” mà chỉ đây là diệu pháp, kia là liên hoa, đưa đạo vào đời, cư trần lạc đạo, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Anh nhìn bất nhị, anh thấy cái chẳng khác trong cái chẳng một, nên chẳng cần dính mắc đó đây. Nhưng thú vị nhất trong Thấy Phật, theo tôi, là anh đã bắt chước người xưa mà đi “chăn trăng”. Đầu tiên là anh mơ trăng, rồi nhìn trăng, thấy trăng, theo trăng, tán tỉnh đùa cợt với trăng để rồi sau cùng… trời ơi, hoá ra đằng sau trăng là nguyệt! Chả có trăng nào cả. Anh theo trăng mà gặp nguyệt! Tôi bỗng nhớ Trịnh Công Sơn: Từ khi trăng là nguyệt, cho tôi bóng mát thật là…. Thật là sao thì chàng không nói được, chàng ú ớ, bất khả thuyết. Cái không may của Trịnh là “từ khi em là nguyệt”, thì “trong ta có những mặt trời”!
Anh Cao Huy Thuần, anh “chăn trăng” là để thấy nguyệt. Nhìn trăng thấy Phật. Nhìn Phật thấy Như Lai. Ấy là con đường tất yếu. Nếu không vậy thì Bồ tát Thường Bất Khinh đâu có cả đời chắp tay cung kính vái chào mọi người, rằng “Ngài sẽ là một vị Phật tương lai”. Vấn đề còn lại là mê ngộ như anh nói. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Nhưng ngộ cái gì, ngộ cái đằng sau trăng là nguyệt, nguyệt Như Lai, nguyệt vĩnh hằng, thường lạc ngã tịnh. Nó vằng vặc ngàn đời, nó tự tròn đầy, nó không dao động… Anh nói “Bây giờ tóc bạc cả rồi, đọc đoạn kinh Ta ẩn đi chỗ khác mà họ không biết, tôi rung động cả người” thì tôi hiểu cái sự rung động đó của anh, đó là cái rúng động của sáu thức đã chuyển hoá thành diệu quan sát trí, khi người ta đã biết nhìn “với mắt ở trong lòng”, mắt Tuệ, mắt Không.
Cho nên khi một nhà văn, một trí thức, chữ nghĩa như anh mà ú ớ, mà nói không được, mà rúng động, thì tôi không ngạc nhiên chút nào cả khi đọc mấy câu thơ “hò hẹn” của anh, khi khép lại cuốn sách. Khác với Trịnh Công Sơn, “những hẹn hò từ nay khép lại”, với anh, thì những hẹn hò từ nay… mở ra!
Đâu có lạ quen gì
Gặp nhau không hò hẹn

Bởi nó là “cái đó”. Nó vậy đó! Cho nên tôi mừng anh chẳng những “thấy Phật” mà còn thấy cả “cái đó”, Tathagata.

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Đọc sách

ĐI CŨNG LÀ VỀ !

30/03/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 23 Bình luận

Đỗ Hồng Ngọc

Có người hỏi tôi có phải Trịnh Công Sơn là một thiền sư không mà sao cứ thấy tôi nhắc và trích dẫn ca từ của anh trong các bài viết về Thiền, về Phật pháp của tôi?

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Đọc sách Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc

Gọi chiều nước lên…

06/02/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 12 Bình luận

“Gọi chiều nước lên…”
( Vài cảm nghĩ khi đọc XA XỨ, Thơ Trần Hoài Thư, Thư Ấn Quán Xuất Bản 2010)

Đỗ Nghê

Tập thơ mỏng tanh mà nặng trĩu với tôi. Tôi đọc mà nghe lòng mình rưng rứt. Toàn tập thơ có thể nói chỉ là một bài duy nhất từ đầu đến cuối- như một bản trường ca chưa viết xong – mà cũng có thể coi là một tập hợp của nhiếu bài thơ rải rác mang một cái tên chung: Xa Xứ.xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Đọc sách

Một cốt cách ở đời (*)

01/02/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

“Một cốt cách ở đời”
(Vài cảm nghĩ khi đọc Cuối Cùng của Võ Phiến, NXB Thế kỷ 21, 2009)

Cuối Cùng của Võ Phiến là sự Mộc Mạc.
Suốt một đời người đeo đẳng văn chương chữ nghĩa, chẽ sợi tóc làm tư, lặn lội vào những nẻo u uẩn ngóc ngách của lòng người, bỗng dưng cuối cùng hiện ra trước mắt một vầng sáng: Mộc Mạc.
Phải, Mộc Mạc. Đó là tựa của một bài Thơ đặt ở trang cuối cùng của cuốn Cuối Cùng, như một khép lại: Những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây… Chút nắng vàng giờ đây cũng vội… (TCS). Với tôi, Cuối Cùng là bài thơ, một bài thơ Thiền. Nhiều người tưởng Võ Phiến là một nhà văn, hóa ra ông là một nhà thơ. Đọc kỹ đi rồi thấy. Có người mắt tinh đời sớm nhận ra điều đó: “Võ Phiến là thi sĩ. Mà là thi sĩ của trần gian nữa. Dù có khi anh viết bằng văn xuôi”. (Đặng Tiến).

Cuối Cùng của Võ Phiến là một tập sách trang nhã. Bìa cứng cổ điển. Nhưng bìa bọc ngoài lại là một mầu trời xanh và mây trắng với những cái bóng của Võ Phiến. Không phải hình, mà bóng. Một cái lõi, xưa cũ, cứng cáp bên trong; một cái vỏ, bay bỗng, tuyệt mù.. bên ngoài.
Trang cuối không đánh số trang của Cuối Cùng như đã nói là một bài thơ. Mộc Mạc là tên bài thơ đó. Một sự trở về. Về với mộc mạc, với chân phác. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt (TCS). Chắc vậy rồi. Với Võ Phiến, chốn về đó là xóm là làng, có con trâu, con chó, con gà, đàn cò, lũ sẻ, bà con cô bác…

Xưa từng có xóm có làng
Bà con cô bác họ hàng gần xa
Con trâu, con chó, con gà
Đàn cò, lũ sẻ, đều là cố tri.
(Mộc Mạc)

“Đều là cô tri”. Họ thân thiết nhau quá, gần gũi nhau quá mà! Đi sao nỡ. Xa sao đành. Chẳng qua gặp thời thế thế thời thôi. Một người như Võ Phiến hẳn “chân bước đi mặt còn ngoảnh lại, từ cái mái nhà cái thềm nhà cho đến bụi cây khóm cỏ…:” (Quốc văn giáo khoa thư). Rứt sao ra.
Rồi Võ Phiến viết tiếp sau khi ngậm ngùi nhớ những “cố tri” đó của mình:

Múa may mãi chẳng ra gì
Mỗi lâu thêm một cách ly rã rời.
( Mộc Mạc)

Ra gì là ra gì? “Múa may” coi cũng được quá đó chứ! Mọi người đều nhìn nhận Võ Phiến, dù không nói ra mà ai cũng phải gật gù. Đông Hồ khen “nhất” miền Nam. Nguyễn Hiến Lê khen tùy bút sâu sắc, tự nhiên, dí dõm, đa dạng…Đặng Tiến bảo tác giả hàng đầu, Nguyễn Hưng Quốc kêu nhà văn của thế kỷ… Vậy mà múa may mãi chẳng ra gì sao? Tới bây giờ, nhớ Đêm xuân trăng sáng hay Thác đổ sau nhà của ông đọc từ hồi còn trẻ, tôi vẫn còn như nghe nhột nhột ở đùi trong…
Tuyệt vời nhất ở hai chữ: mỗi lâu. Vừa mộc mạc vừa sâu thẳm. Sao lại “mỗi lâu”? Ấy là bởi ông đã đợi chờ, đã nghe ngóng, đã mong mỏi nó “rụp rụp” cho rồi, ai dè nó cứ dùng dằng dủng dẳng, bực cả mình. Rụp rụp như cái dao phay chặt thịt mà ông từng thấy ở một người đàn ông mặc áo thun, bán hủ tíu, quơ dao múa may mấy cái rồi rụp rụp ngon lành. Đầu này nó cứ đủng đỉnh, cứ lằng nhằng. Nó càng đủng đỉnh, càng lằng nhằng ông càng bẽn lẽn vì đã có đôi lần ông làm thơ “giã biệt” gởi cho “những người ở lại’ rồi, thế mà, chính ông lại ở lại. “Quê” quá chứ phải không? Nhưng mỗi lâu rồi thì sao? Thì, khổ thay, cứ mỗi lâu nó lại thêm một cách ly, rã rời! Cách ly? Rã rời? Ông thấy hình như mọi người đâu đó đã sẵn sàng cả rồi, hồi hộp chờ đợi cả rồi, vậy mà chuyện lại không tới. Tẻn tò, tản ra, xa dần, quên lãng… ? Tự ông, ông cảm thấy “ngượng ngập vu vơ”. Ngượng ngập. Vu vơ. Văn viết không ra, chỉ có thơ mới “nói lên” được: mỗi lâu thêm một cách ly rã rời…

Thân tàn đất lạ chơi vơi
Trông lên chỉ gặp bầu trời là quen.
( Mộc Mạc)

Người ta thì gần đất xa trời, ông thì gần trời xa đất. Đất lạ, trời quen. Với người xa xứ “lạc loài đến đây” như ông thì cách ly với con trâu, con chó, con gà, đàn cò, lủ sẻ đã đành là khổ, mà cách ly với những thân tình càng khổ hơn: “Gần đây nhiều lần nghe những trao đổi tưng bừng về các hướng thơ văn cũ mới, bị không khí sôi nổi lôi cuốn mạnh, tôi xun xoe nhấp nhỏm. Bỗng chợt buồn, tặc lưỡi: Mình còn được bao nhiêu ngày tháng? Những chuyện … như thế… trên đời… ối dào! ( Người ơi người ở dài dài, tr45)”. Mãn Giác thiền sư chẳng đã từng than “Sự trục nhãn tiền quá/ Lão đầu tùng thượng lai…” đó sao? Còn “rã rời”. Làm sao mà không rã rời cơ chứ? Có cái gì gắn với cái gì đâu. Toàn tạm bợ, lắp ráp cả đó chứ. Ngũ uẩn giai không mà! Bài thơ “Cũng Hợp” –lại Thơ- mở đầu cho cuốn Cuối Cùng, ông chẳng bảo “lắp ráp” xài chơi, lâu ngày chầy tháng thấy “cũng hợp”, cũng OK. Rồi đến một lúc nghĩ hay là ta… ở lại trần gian luôn chừng nghìn năm nữa cũng được. Để rồi giật mình: đã lắp ráp thì hẳn có lúc phải rời ra. Một câu hỏi đặt ra: Lắp ráp để chi? Để “trưa nào cũng bay” ( tr 139) chớ chi. Hoàn thành nhiệm vụ rồi thì rã. Rã rồi lại ráp không chừng. “Cả năm uẩn chúng quấy ta là thế” (Cũng Hợp). Võ Phiến hiện nguyên hình thành một… thiền sư!

Dặn lòng lòng vẫn nao nao
Ta đi mây ở, trưa nào cũng bay

Nhưng thiền sư mà có cái chuyện dặn lòng này mới lạ! Dù sao thì cũng chỉ nao nao thôi. Nao nao khác với bừng bừng. Đó là khi ông nhìn những phút “ân tình” của chim câu: “…cái đuôi con chim mái, vẹt qua một phía… “. Xong. Rồi bay. Trưa nào cũng bay. Ông thấy “nao nao”. Nao nao quá chớ. Nó đến nó đi hờ hững thản nhiên. Sao trời nỡ đọa đày nhau đến thế? (Cũng Hợp, tr 17).

* *
*
“Cái còn lại của một cốt cách : ít ỏi quá, mong manh quá”. (Hình bóng cũ, tr 32).
Không đâu. Cái cốt cách ở đời của Võ Phiến theo tôi không ít ỏi quá, cũng chẳng mong manh quá. Nó đáng cho ta ngã mũ chào. Với một nụ cười tủm tỉm, hân hoan.

Đỗ Nghê
(Saigon, 2010)
………..
(*) Hình bóng cũ, Võ Phiến.

Thuộc chủ đề:Uncategorized, Đọc sách

Giao lưu cafe sách

11/11/2010 By support2 8 Bình luận

Khi nhà thơ-bác sĩ tâm tình về sức khỏe

Sáng ngày 6.11, tại cà phê sách Phương Nam – số 3 Nguyễn Oanh, quận Gò Vấp, TP.HCM, nhà thơ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã có buối nói chuyện về sức khoẻ và văn chương, thu hút nhiều bạn đọc tham dự.xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Đọc sách Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, Suc khoe, Sức khỏe

Đôi lời cho EBOOK “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” – Tặng Ebook cho 100 bạn đọc đầu tiên

06/11/2010 By support2 25 Bình luận

“Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” là một cuốn sách y học phổ cập khá quen thuộc với nhiều ông bố bà mẹ suốt gần bốn thập kỷ qua. Nhiều bà mẹ bày tỏ đây là cuốn sách gối đối giường của họ trong những ngày tháng ngóng đợi đứa con đầu lòng cũng như suốt thời kỳ chăm sóc nuôi nấng con nhỏ dại. Sách đã giúp họ an tâm, nhất là trong thời buổi hiện nay, nhiều gia đình hạt nhân, thậm chí đơn thân.
Tôi viết cuốn sách này từ những kinh nghiệm khi đang làm việc tại Bệnh viện Nhi đồng Saigon, hằng ngày tiếp xúc với biết bao cảnh đời thực tế; tôi cũng lại viết từ nỗi lòng của một người làm cha mẹ, vì lúc đó đã vừa có ba đứa con với nhiều nỗi âu lo. Thời gian qua nhanh! Mới ngày nào một chú bé sơ sinh được mẹ bế đến khám bệnh thì nay đã lại thấy chú bế một bé sơ sinh khác- là con của chú- đến khám.

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Đọc sách Tag với:bà mẹ, BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, con dau long, con đầu lòng, con đầu long2, em bé, so sinh, sơ sinh, Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng

Thư gởi một nhà doanh nghiệp

30/10/2010 By support2 6 Bình luận

BS Đỗ Hồng Ngọc

Bạn thân,

Chúc mừng bạn đã có đứa con đậu vào trường y năm nay. Đúng như bạn nói, nghề y là một nghề đặc biệt, gần như phải có một « thiên hướng » nào đó mới vào học y chớ không thể coi như là một « đầu tư » để  kiếm lợi về sau. Bệnh viện mở ra liên tục mà lúc nào cũng tràn ngập, cũng « quá tải », cho nên không ít người có đầu óc « làm ăn » đã nghĩ tới chuyện « kinh doanh sức khỏe ». Hẳn là món hời nhất trong các thứ kinh doanh ! Thế nhưng như người xưa thường nói « nhất thế y tam thế suy », làm y thuật mà không có đức, thì một đời giàu ba đời khốn. Hay như dân gian vẫn nôm na : « làm thầy thuốc mà ác đức thì đẻ con không có lỗ đít »!

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Đọc sách Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc

Phương Nam Book giới thiệu 2 cuốn Audiobook của Đỗ Hồng Ngọc.

20/09/2010 By support2 2 Bình luận

Nghe: Lời giới thiệu

Gió heo may đã về…

Nghe: đoạn 1

Nghe: đoạn 2

Nghe: đoạn 3

Lời cảnh báo dễ thương cho mọi người về một quãng đơi mới.

Vẫn với cách trò chuyện tinh tế và dí dỏm của Đỗ Hồng Ngọc , người thầy thuốc ý nhị và tài hoa…

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Đọc sách Tag với:Già ơi… Chào bạn!, Gia oi… Chao ban!, Gio heo may da ve…, Gió heo may đã về…, Phương Nam Book, phuong nam book

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Trang 5
  • Trang 6
  • Trang 7
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email