Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Ngô Nguyên Nghiễm: Đọc “TỬ SINH CA” của Trần Yên Thảo

08/01/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Đọc TỬ SINH CA của Trần Yên Thảo

Ngô Nguyên Nghiễm

 

Ghi chú: Trần Yên Thảo (Trần Ngọc Minh) là người bạn thiết từ thuở thiếu thời của tôi ở Hàm Tân, Lagi, lúc chúng tôi mới lên 7 lên 8, cùng sống trong vùng tản cư Cù Mi, Láng Găng, Giếng Ngự, Láng Hàng, Bàu Mưa, Rừng Khỉ… cùng sốt rét rừng, cùng suy dinh dưỡng, và thiệt ngộ: cùng viết lách, thơ thẩn… sau này.

Trần Yên Thảo “chuyên trị” lục bát từ những ngày chúng tôi có những tập thơ chép tay truyền nhau. Anh sống như một Ông đạo, râu tóc lênh đênh như vừa ở Núi tuyết Hymalaya về.

Tử Sinh Ca là tập thơ mới của anh, gồm 351 bài thơ lục bát 4 câu, theo tôi là rất “đáng nể”.

Và bài viết của Ngô Nguyên Nghiễm cũng thiệt hay!

Xin đa tạ.

Đỗ Hồng Ngọc.

(7.1.2021)

 

 

Trần Yên Thảo
TỬ SINH CA
Nxb Thanh Niên, 2020

 

Đọc TỬ SINH CA của TRẦN YÊN THẢO

*Ngô Nguyên Nghiễm

 

        Trên lộ vắng, bước di hành vòng quanh mịt mịt trên một không-thời gian hiu quạnh của một kiếp người. Dù muốn thoát thai trở về một bản ngã sáng láng trong một vòng tròn luân hồi, hành giả chắc chắn phải hiểu rằng: Bước đi đốn ngộ chỉ dành cho một bừng ngộ mà a tăng tỳ kiếp mới hạnh ngộ một lần trong sác na đạo pháp.

Thiện căn của thi tập Tử Sinh Ca cũng hy vọng khai hóa, không thể gọi là cơ bản thiền hành cho một căn cơ đạo hạnh, vì tâm thức cũng chỉ còn vướng víu trong hữu vi. Điều chắc chắn, hành giả có ý niệm rải từng đóa hoa vô ưu trên dọc lộ trình đã bước qua, hy vọng như ngọn mộc đăng le lói trong khu rừng tịch mịch, mà người đi sau có lối bước về.

Chính vậy, khách quen chỉ muốn vén màn trên một quan điểm cổ sơ, về ý niệm Sinh Ca và Tử Ca, trong 12 nhân duyên hẹn gặp, dù không biết đến bao giờ thoát được vòng luân chuyển hằng sa?

Khao khát trên lộ trình bước lên bản ngã, hành trang là yếu tính của người lữ hành trong giai đoạn cập nhập vào hướng đạo. Giai đoạn chập chững nhập thân trong những bước sơ khai, tâm trí còn mờ mịt chưa định tâm nhớ quên, thất lạc mảnh trăng cổ đại một thời hữu vi còn không trong rừng già nẻo quê !

Vô tình lạc đến phố hoa, chân còn vướng mê muội giữa thánh phàm, mong một tiếng gọi chân thành từ quá khứ, nhưng bước đường thưa dần, làm sao trở bước lui chân. Hóa ra:

Cầm canh nhịp mõ đều đều

          ban mai nắng đón về chiều gió đưa 

Khiến cho trăm cõi sơ khai còn loạn mù sương khói, nên bước đi của kẻ lữ hành giữa đất trời quang lạnh, phải hiểu vì:

Đèn le lói suốt canh khuya

         xới tung kinh kệ còn chưa vỡ lòng 

       Lẫn trong tiếng gió đêm thâu, mà từ vô thủy đến hiện tại, lão tiều vẫn còn ngẩn ngơ dưới núi. Lạc lỏng giữa đêm về, khách thầm tự nghĩ đã đành Phật chẳng nói gì/ xưa nay báo nghiệp có trì hoãn đâu ( ?).

Chính vậy, chỉ vì cần ao ước giọt nước trên đồng khô, hành giả chợt hiểu và bước đi:

Sơn chưa tận thủy chưa cùng

         giấc Nam Kha đã cháy bùng ruột gan. 

        Lối về không tìm thấy, chân hoang bất chợt mất dấu cội nguồn, nhân dạng thay đổi theo từng bước đi. Thì thôi:

Bèo duyên mấy kiếp lạc bờ

        gậy tre bình bát nương nhờ thập phương

        ngựa về tháo bỏ yên cương

        trên mê lộ hãy còn vương lụy phiền 

Bao nhiêu kiếp nạn vấn vương từ bên kia tả ngạn, nên hành nhân còn ngơ ngác trong mịt mùng bốn phương. Bởi vì, tâm hoang còn lãng đãng trên đường cố lý. Muốn vô tình quên bẵng không màng vướng bận hữu thể, cho quang niên soi rọi được đường đi lối về:

Trăm sông xé nát mạch nguồn

        ………

         Trải đời bất kể gai chông

         thịnh suy chưa tỏ hưng vong chưa tường

        ……..

         Lê la áo rách giày mòn

         tới đây lụy những mối hờn con con

         khi về rủ áo đầu non

         ngoảnh trông dưới núi phấn son dập dìu 

     Mê lộ cuộc tình trần của hành giả, còn trong giai thể ba vá của một tiều tăng. Trên bước hội nhập làm sao sàng lọc tình và lý, khiến cuộc nhập thể đường trường còn nhiều phân vân trước hữu thể:

Long đong mấy bận nổi chìm

         Hết ham bước tới chẳng hiềm bước lui        

Vì rằng, trong cơn ảo giác của người ban sơ bước giữa đạo tràng :

         Phụ phàng đâu phải chơi ngông

         đóa hoa vô sắc nở trong vườn trần      

        Lành thay, chỉ là cơn mơ ảo diệu làm rối tung tâm thức khách du phương, vì hoa vô sắc cũng đâu bằng vô hoa. Nên, hành trình không thể là thi khúc tơ vương lộn mối, nên tử sinh thuyền đã ghé bờ/ hành nhân nấn ná còn chờ tiễn đưa. Tại sao vậy? Thế giới hằng sa, kẻ sơ đạo sao cứ ngoãnh lại nhìn về chân trời sau lưng. Khiến kỷ niệm vẫn là ảo giác hiện thực đã có, nhưng xòe tay ra xem, trong tay còn vướng đọng hình thể gì không? Nên ngồi chưa ấm chiếu vội vàng bỏ đi/ rạch ròi từng sợi lông mi/ cũng chưa thấu được lẽ nghi ngờ nầy. Chính vì vậy, hiễn dụ rõ rằng:

         Mất còn có cũng như không

         nên chi trời đất uổng công hẹn hò

         từ vô lượng kiếp đến giờ

         vượt sinh tử cũng tới bờ tử sinh 

         Trong chương Gót Tục bước vào những thi khúc: 

         Lang thang khắp cõi luân hồi 

         giữa cơn bĩ cực thấy đời đẹp hơn

         đâu cần lánh  ngụy tìm chơn

         thoát ly sinh tử nào hơn kém gì

         ………..

         Cầm bằng công lực kỳ khu

         thách ai ép được lá thu đừng vàng

        ………..

         Quanh đây chiếu lạnh gương mờ

         chuyến đò hóa nghiệp còn chờ đưa ai 

        Ranh giới cõi tục, khiến miếu thiêng quạnh quẽ, quỷ thần đứng dưới mưa mà khóc òa. Sự hoang dại địa giới thổ cư của quỷ thần, lô nhô sắc đá, rơi nhào từng viên gạch rụng giữa  thiên thu. Thì khác gì, mê trận đang bao quanh con người trong trận đồ đầy rẫy gót chân tục lụy còn quanh quẩn nhiều.

       Gót chân sơ thiền như những bước chân sơ khai của trẻ mới lớn, chập chững bước đi tự tại trên từng vuông đất vô tâm, trên từng phiến đá vô tri… Người sơ đạo vẫn còn chập chờn trên gót tục. Từ giáp vòng cũng lộn về đây/dù xưa chẳng hẹn đến nay chẳng hò/ tử sinh cùng đốt một lò/ chòm ong lũ kiến dẹp trò quỉ ma. Quanh quẩn trong tư niệm, nên kẻ còn dạo gót tục trên một không gian tục lụy, ảo giác cho tư tưởng Vốn từ phiến đá vô tri/ dầy công điểm nhãn có khi nhập thần/chẳng qua nhân sự bày đàng/ đẫm mùi nhang khói dần dần hóa thiêng. Chính vì sơ hoang trên gót tục, nên người đi đối mặt kẻ về/ ngu ngơ thiện ác vụng bề cương nhu/ gót phàm lê lết cõi tu/ cần đâu tách bạch xuân thu hai mùa. Còn vương vấn trên bước du hành chưa tròn thiện ý, làm sao chẳng trầm tư hướng tới:

       Đôi lần chùn bước tay du

       phân thân hành giả muốn thu gậy về

       trời tây hối đã gần kề

       nặng vai công đức khó bề thối lui

Chắc chắn là vậy, không thể dừng bước hay phải tìm phương hướng để hoàn tu qua núi khác:

       Một giây chểnh mảng ơ thờ

       đò qua bến khác có chờ ai đâu

       ai còn tưởng vọng bến sau

       khó hơn núi dựng sông sâu mấy trùng. 

Chuyển bước trong chương Những Vì Sao Bỏ Ngôi, bước qua thời dù đã xa bờ người khách lữ dù rằng âm thanh đời trước bây giờ còn nghe, khiến rách y sờn bát hình như mươi năm kinh sách đã trở thành hư vọng:

Cam lòng nhện đứt dây tơ

      từ niên thiếu đã bạc phơ mái đầu

     ……….

      Ta nằm chờ đá đơm bông

      chờ cơn gió núi cảm thông mây trời

    ………..

      Nãn lòng tiếng vạc kêu sương

      còn đôi ba khách hành hương lạc loài

      trăng thì soi suốt dặm dài

      hiềm vì khách đã đi ngoài ánh trăng

     ………..

      Chập chờn bóng quế hồn ma

      lẫn trong tiếng khóc vài ba giọng cười

      miếu thiêng quạnh quẽ lâu rồi

      thần linh chừng cũng kén người khói nhang 

Bước đi thầm lặng trên bến đời, khác gì con thuyền dộc mộc tiền kiếp, vật vã di hành qua các nẻo không gian nhiều thế hệ. Bước tới thế hệ, là bước tới miền tương lai, có một cuộc sống chưa biết rõ. Bước lùi về quá khứ, là trở về với bản lai, thành tụ hoại diệt đã trải qua như một tiền kiếp. Vậy, có thay đổi được gì trong quá khứ hay thành đạt được gì ở vị lai? Vì vậy, những vì sao bỏ ngôi chung quy phải tan biến thế nào vào lỗ đen vũ trụ, để quá khứ vị lai là một thế giới không ngày tháng, cho người hành giả? Vậy là, dễ gì tính sổ ngàn năm/ nợ từ bao kiếp đã thâm hụt nhiều/ chợ tan còn quán với lều/ đời tan, vắng cả cánh bèo trôi sông. Hay là, ước chừng cách chẳng bao xa/ tới khi rạc gót, thì ra ngàn trùng. Nợ từ bao kiếp (quá khứ), rạc gót thì ra ngàn trùng (vị lai)… Tất cả, thời-không bất biến trong cái tụ-thành-hư-hoại có ý nghĩa gì với vô vi. Chính vậy, hành giả có vội gì vượt núi qua đồi/ dựng cao vách đá tạc lời vô ngôn: 

          Nghiêng vai trút gánh quan hoài

          bỏ nơi mắt thấy bỏ ngoài tai nghe 

          đội trời bỏ lớp khăn che 

          bỏ luôn tích trượng bên khe hữu tình 

Để lắng nghe, có muộn gì trăm năm:

        Ngại gì tóc trắng hơn xưa 

        trong vườn diệu pháp mai chưa kịp vàng 

        trăm năm đâu đã muộn màng 

        còn kiên gan đợi đến ngàn năm sau. 

Hành trình bước sang giai đoạn mặc cho sức ngựa đường trường/ cổ lai vạn vật có thường hằng đâu/ bạt ngàn đồng thấp nương cao/ chừng nghe đất dậy lao xao sóng dồn. Chương Lớp Lớp Sóng Đùa, tất cả đều động và người sơ đạo chớp nhoáng nhìn ra cảnh tượng biến dịch trong cuộc sống:

Từng bước lạ giữa đường quen

      trần ai trót đã mấy phen lỗi thề

      vai bao tay gậy cặp kề

      chuyến đò cuối bến biết về nơi đâu

      ……….

      Miệng đời khó tỏ nông sâu

      vần xoay ác thiện lấy đâu nghĩ bàn

      ác nhân trừ kẻ bạo tàn

      thiện nhân cứu kẻ lăng loàn nhớp nhơ   

      ……….

      Suối còn róc rách qua khe

      có ngờ đâu núi đã xê dịch rồi

      chuông khua động dấu chân người

      hồn tu mấy kiếp đã rời đất tu 

     Người du phương bỗng dưng tâm thức hiển hiện, trùng trùng những hình bóng của bản ngã cổ sơ. Một giai đoạn còn khai nguồn trong ý niệm, qua đò trong tiếng réo gọi của thiện nghiệp.Vì vậy, làm sao thoát ra khỏi vòng vây của hữu vi, nên mọi phán đoán thể hiện một thường hằng của thế sự. Ý niệm chơn phương của bước sơ khởi còn mong manh giữa lối đi nẻo về, nên mọi tư hướng còn vắt trên vai một vùng sương muối thế nhân. Phán đoán mặc cho sức ngựa đường trường/ cổ lai vạn vật có thường hằng đâu. Có chứ, nhưng đồng hóa vạn vật hữu vi và vạn vật vô vi, cũng như phân biệt hai thái cực hoàn toàn khác biệt, nhưng cũng chìm đắm trong vạn vật đồng nhất thể. Sự ngổn ngang thế sự nghiêng bầu với ai, hoặc cung tên bỏ mặc bên bờ / mải mê nhác khỉ với trò rung cây. Thì bản lai không còn diện mục, mà thuyền giác đang xoay vòng trong vùng nước xoáy đa mang. Thì ra, một kiếp người du sĩ giữa cánh hạc chân mây trùng trùng bóng núi, tưởng chừng lạ hoắc chưa hề đi qua …

Thoáng đó, ảo giác vẫn bám bụi trần trên gót chân du phương. Trăm bề chụp xuống dầy đặc che kín không gian của kẻ đang đối bóng với vạch mây tìm lửa chân như….Xác xơ trong cuộc nổi chìm / sóng trùng khơi quét sạch niềm riêng tư.

      Cơn nổi chìm xơ xác như thế, có phải chăng ý niệm cho cơn sóng quy hồi:

Lũng sâu giờ đã thành đồi

         tận cùng qui hợp tới hồi phân ly

         dù sung mãn lúc ra đi

         chớ hoang sức ngựa phòng khi trở về

       Dù vậy, chương Nước Động Bóng Rung có lời thầy dặn, lấy nhiêu khê làm thường.Khổ hạnh của  khách du phương, trong thế sự trăm đường oan nghiệt nên ý và lời nhiều khi đùa cợt lẫn nhau: lên non được ý quên lời  / kể gì khổ hạnh một đời chơn tu…

     Một hòn đá cuội đánh võng trên mặt nước dòng sông, từng vòng chu luân hiện lên dầy đặc, rồi từng vòng tròn như luân xa dần dần tan biến trong từng khoảnh khắc hư vô. Chính vậy,

quanh năm thờ thẩn đi tìm / bóng hình tại chỗ sao nhìn không ra/ càng mỏi mắt tận phương xa / thì càng không thấy trong ta có mình. Câu hỏi nghiệm thể từ những tưởng như bất thường trong cuộc đời, thực chất vẫn còn sắp lớp như một thực thể bất biến mà người vô tình không thấy rõ:

Người người nương tựa bóng nhau 

        chen chân lối cỏ vượt bao núi đồi

        đâu đây tiếng vọng không lời

        pháp âm chuyển động lòng người thập phương 

Và như vậy, là:

        Dăm đăm vào cõi không hư

        cố hình dung lại chỗ Như Lai ngồi 

        tòa sen bỏ trống lâu rồi 

        trang kinh còn hiện rõ thời lập ngôn 

    Du sĩ bước vào chánh pháp, mọi tư hướng vật thể buông xã một cách không thương tiếc. Tất cả vay mượn như là chiếc bóng lung linh giữa thiên thu, chập chờn theo ngọn lửa phù hư.

có-không trong nghiệp chứng, là nước động bóng rung hằng sa ảo giác. Vì vậy, đâu còn rào giậu cách ngăn / chẳng còn thiện-ác không phân chánh-tà / khoanh tay đứng giữa ta bà / thản nhiên như cụm tre già bên sông.

Nhìn lại, quả nhiên tất cả hình dáng, âm thanh huyền hoặc giữa không gian cũng thể hiện lòng người, từ tâm ẩn hiện. Chính thế, kẻ du hành trong sơ nguyện cũng có nhiều khi ngơ ngẩn giữa thực hư:

Đắm nhìn trăng nước vu vơ

        lạc trong giấc ngủ bâng quơ đầu hè

        sáng ra chợt thấy e dè

        hình như mới bị bóng đè hôm qua

Ngôn từ phát khởi, cũng là tư hướng của tâm niệm duyên khởi ôn cố từ chương Góp Nhặt Lời Quê:      

         Khắc ghi lời tổ trong tâm

         trước giờ rũ áo về thăm cõi người

         cần đâu mắt biếc môi cười

         cái duyên thầm lặng chết người như chơi

Chắc phải như thế:

        Lá rơi vào cõi vô tình  

        thì đâu cần biết phận mình nông sâu 

        người về hỏi lá phương nao  

        lá không nghe được làm sao đáp lời

        .. ……………

        Vòng sinh tử khéo bông đùa

        hết cơn nắng hạ tới mùa mưa ngâu

        trải từng cội thóc nương dâu 

        lời quê góp nhặt dám đâu dông dài. 

Tư hướng của kẻ du sinh trên bước đường dài hoàn chỉnh bản thể, nhiều lúc cũng thấy thấp thoáng mở rộng vài chiêu thức rao truyền.Trong ngôn ngữ lập thể của mấy ngàn ký tự, dù thế nào cũng chỉ hóa hợp với thiện căn của từng bộ lạc có duyên phần. Vì vậy, ở mỗi không phận đạo pháp chỉ hành xử huyền đạo theo căn cơ phong thổ và tâm linh. Vượt thoát ra ngoại vi đó, chắc chắn là bóng ma ngày trước rập rình / hình như có vạn bóng hình trong ta / vẫy chào ngày tháng đi qua / thản nhiên như một bông hoa lìa cành.

     Thấy gì và nghĩ gì, cũng phiêu du trong vòng hữu hạn có sẵn giữa trời đất cũng thân tứ đại như mình vậy thôi.

Cái hữu hạn của chính bản ngã đã đưa hành giả bước vào vòng quay rao truyền một cách hoang sơ, tưởng tượng hình thái đầy mê tưởng sẵn có giăng đầy ngập trong giả tướng chung quanh. Dĩ nhiên, cái thực vẫn chồng lấp trong cái hư, khiến tâm thức u hoài trông ngóng vô minh:

Có nhà sư trẻ ngẩn ngơ

       tay vin tích trượng mắt lơ láo nhìn

       phấn son ở cõi nhơn tình

       cũng thân tứ đại như mình vậy thôi 

      Vì vậy, nghiệp vẫn được hồi báo như một bản thể sinh tồn vun quén từ vạn cổ kéo dài hàng ngàn kiếp sẽ tới. Nhắc nhở như tự thầm nhủ chính bản thể, người du sĩ chậm bước lê thầm trên hướng bước về nguồn cội của vô vi, gởi lại vài chiếc lá ngôn từ trong cơn gió lạnh phiêu bạt thiên thu:

       Chim xanh đáp xuống vườn lê

       hót rằng vạn vật còn xê dịch nhiều

       nhắn ai sầu sớm lo chiều

       thuyền vô ngạn cũng có nhiều bến sông 

Cố nhân có hồi báo hay không, chắc cũng phải chờ duyên nghiệp. Căn cơ cội nguồn xuyên suốt kéo dài vô tận, là kết quả của nhân quả của vạn thể sinh ra. Người hành giả mang theo trong hành trang, những ý niệm sơ đẳng, gọn nhẹ vài ký hiệu rao truyền. Từ sơ khởi đó, ngôn ngữ phát huy âm điệu, cho ca khúc tử sinh vời vợi thấm sâu vào tư chất người thừa nghiệp sẽ nắm bắt…Chính vậy, đối nhân lời lẽ chưa cùng / hoang mang cái thị ngại ngùng cái phi / nghi ngờ đến cả lương tri / khiến cho tâm sự  thường khi nặng nề…Chương Nước Tìm Chỗ Thấp nói lên điều tự nhiên hoằng hóa trong vô niệm : Thái sơn rồi cũng lạc loài / ích gì mơ tưởng đến nòi trâm anh / tìm người tri kỷ trong tranh … Muốn thành quả như vậy, người du sĩ cũng phải vạch trước một khung trời hoằng hóa ban đầu là: đến từ thăm thẳm tầng cao / đường vô ngại biết nói sao cạn lời / phất tay biệt cả núi đồi / tìm về chỗ thấp vui đời bể dâu…

      Tạo gióng gánh hành trang bước vội trên lộ trình chiêu hóa, dẫn nhập dung nhan cho tròn thị phi, hòa hợp nơi trở về … Đó là những bước tiến hóa độ trì theo cơ địa phong thổ nhân gian lưu xứ, người du sĩ cũng hiểu thâm sâu rằng:    

       Hóa ra về chẳng phùng thời

       sinh cơ lỡ hội lòng người đa đoan

       ngại đời lem luốc dung nhan

       ta bôi bùn đất tự trang điểm mình

      ………….

       Thuận đường về lại chốn xưa

       bến chưa kịp đón đò chưa kịp mời

       lòng mừng rơm rả với đời

       đất xưa dù đã vắng người ngàn xưa 

Nước tìm chỗ thấp, trở thành một cảnh ngộ trở thành người hôm nay tìm tri độ người hôm qua. Người của tiền kiếp đã bước qua thời gian nên không còn duyên ngộ, thuyền qua tả ngạn lâu rồi / ở đây còn nuối tiếc thời chưa xa. Trần duyên như gió thoảng, chỉ ngoái lại thời gian mà nương dấu về: 

       Lênh đênh lời nổi ý chìm

       khuất mờ nhân diện càng tìm càng xa

       dấu người lạnh ngắt tha ma

       khổ bao năm, tạc chưa ra hình hài

       ………… 

Tạc chưa ra hình hài, có thể đã bước qua hai phong cách. Một, là người xưa huyễn hóa theo duyên ngộ từ sơ khởi của một kiếp người, từ hạt bụi ngàn thu mà phủi qua cõi sống mà vọng tu cõi thiền. Hai, là hoại hóa theo luật thừa trừ của tạo hóa tử sinh.

Chương Trăng Tỏ Đường Về, báo hiệu sự huyển hóa như cây khô trốc gốc bao đời / sớm nay chợt thốt mấy lời an cư…

     Tâm nguyện của khách xưa, bản thể mịt mờ, soi trong trăm ánh đuốc. Giữa truông sâu, bao lần nguyệt khuyết, nguyệt tròn … dò dẫm ngỡ ngàng bên lối mòn hành hương. Giữa cái hư và cái thực mờ nhạt trong khuôn sáo của vô thường. Chốn đến và nơi về cũng mờ nhạt dấu tích, phương nầy mai kia còn tìm lại được chút gì hài cốt xưa?

Phàm trần đến cũng như đi 

       rừng hương dệt gấm sá chi vân đài

       chỉ xin tạc dấu phương nầy

       mai kia tìm lại chút hài cốt xưa

      ………….

       Biết mình lạc giữa truông sâu 

       hoa bao độ nở nguyệt bao lần tròn 

       kẻ đi dấu tích đâu còn  

       phí công dọ dẫm lối mòn hành hương

      ………….

       Khắc giờ đảo lộn tháng năm 

       đêm đi, bóng tối còn xâm lấn ngày 

       núi xưa biến đổi hình hài 

       thềm xưa rêu đã phủ dầy hơn xưa 

Từ cái hữu hạn bỗng nhiên phải thầm bước vào mệnh số. Chính thể vô hạn mênh mông, mọi phương hướng đều trôi lạc, như trở về cái hoang vắng tận cùng.

        Quay theo trời đất quay cuồng 

        thần xiêu phách lạc rẫy ruồng đôi nơi 

        cũng vì mộng mị xa xôi 

        đem thân hữu hạn vào nơi vô cùng

        ………….

        Ngại gì trời đất mênh mông

        sông không cách trở núi không bủa rào

        trớ trêu lòng vẫn héo sầu

        đường trăm ngả biết ngả nào cố hương 

Suốt đoạn đường chính lộ của ngày ra đi, từng ngỏ vắng băng qua, từng vườn hoang đón lối, người du sĩ vẫn bâng khuâng mịt mờ giữa lộ trình hướng tới chân như. Giai đoạn nầy, hình như cũng gieo rắc nhiều nỗi nghi ngờ trong tâm thức của người đang đo phương hướng.

Lối về đích vẫn như ảo giác, mờ mịt vô cùng. Nên dù sao, cũng nhiều phen gầy dựng trong lòng khách xưa, cảm thấy cô độc hoang mang bên hướng tới.

Hồ đồ bất kể tây đông

        rẽ bao lối tắt cũng không thấy gần

        hốt nhiên tâm trí bần thần

…………

Ngón đàn chừng đã mất thần

        hoang vu phách tấu lạc dần cung thương

        trông ra trời đã mù sương

        muốn tìm lại bóng thì gương đã mờ 

Quả thật vậy, thánh phàm khi đã tương thông / cõi viên dung có cần mong đợi gì. Đường về trăng đã tỏ, bước viên thông cũng mở được lối thoát ngàn xưa. Người trí không cần khuếch đại tri thức, mà bản thể cũng phiều phen tương ứng hoạt mở cánh cửa không…

Vì vậy, đâu còn ngỡ ngàng gì khi đã mà phải quanh co khi Bước Qua Cầu Sinh Tử, bởi

Khúc sông eo hẹp đã đành / lòng người eo hẹp mới thành trái ngang:     

        Lang thang một góc trời mờ

        trót ham phiêu lãng bây giờ nhớ nhau

        cựa mình từ giấc chiêm bao

        kịp khi tỉnh thức thì mau quay về 

 

        Giữa dòng gác mái buông câu

        nước- mây tự tại cần đâu cõi bờ

        chẳng mong tìm cõi nương nhờ

        không theo lối tục, phớt lờ nẻo tu 

Bỏ lại tất cả bụi hồng trên khoảnh khắc bước lên cầu sinh tử, là chính du sĩ bất chợt cũng hiểu rõ, tứ đại bất chợt lóe sáng như hư không. Những tạo vật chung quanh lối đi như hằng sa cát đá, lót giữa đường cho thưc-hư hỗn mang tụ thành thế giới ta bà. Chân dung ngày xưa sẽ rơi rớt từng mảng vụn trên nẻo đường hiu quạnh bước qua.

Lối đi đã chạm chân tường    

         thì trăm sự cũng hết đường mưu toan

         nổi chìm trong cuộc bi hoan

         làm sao thấy được dung nhan chính mình

 

         Tắt đèn, gởi lại kinh thư

         đêm vô tận, đã hầu như canh tàn

         hành trang gói ghém lìa ngàn

         câu kinh vô tự tiếng đàn vô âm 

Dù muốn dù không, đã bước lên lộ trình tìm cứu cánh giải thoát, thì cầu sinh tử mờ ảo hoa sắc dị hương. Đã thông thấu, nhìn ra trăm cõi hư phù, hư ảnh phù du dù lung linh réo gọi, người khách lữ hành như đã đạt được chút căn cơ. Căn cơ bồi đấp bằng ánh trăng huyền đạo trên đường giao tiếp giữa vạn vật và hư vô. Chiếc cầu ngũ sắc vắt ngang hai bến bờ hữu hình và vô vi, luôn thông thấu một tìm năng cho kẻ đạo hữu phần.

         Nhờ vào cung bậc tri âm

         cũng còn chỗ gởi chút tâm sự thừa

 

         nắng mưa chẳng đợi giao mùa

         hiềm vì phàm-thánh mãi đùa cợt nhau

 

         Bận lòng chi chút hẹn xưa

         gió đem ly biệt, gió đưa trùng phùng

         từ vô thỉ đến vô cùng

         hóa thân với gió chưa từng hoài nghi 

Tuy bước lên cầu sinh tử,  thiện giả vẫn còn đôi tâm thức bâng khuâng bởi chẳng qua thói tục được đuôi quên đầu nên cõi ngưởi vẫn vấn vương như gió thoảng trên lớp y lam còn vương chút phấn bụi sơ nguyên.Vì vậy, quanh đây gió bãi sương đồng / và ta với một cõi lòng quạnh hiu. Phải chăng, giữa phân thể vật chất hiện hữu vướng nỗi băn khoăn vật lý, là sự cô lẻ trong vũ trụ lưỡng nghi, khiến thiện giả bay phiêu hốt trong chân không hư tưởng? Giây phút trên cầu sinh tử, lành thay chợt thức ngộ được rằng:

       Tử sinh đương lúc cận cùng

       ngọn tây phong thổi qua vùng si mê

       đạp phăng xiềng xích ta đi

       ngoài vòng ngoảnh lại nhiều khi giật mình… 

Trên cầu lặng lẽ ngọn gió tử sinh, phủ đạo cho hàng hàng lớp lớp thiện giả. Dù nước vẫn lưu chảy mãi thế nầy, nhưng vẫn cuốn không trôi khỏi không-thời gian chiếc bóng ảo diệu của phi thường đạo. Chiếc Bóng Ngàn Trùng khơi lại nỗi chiêm nghiệm lặng lẽ trong suốt quá trình trôi nổi trên đường sinh diệt. Vì vậy, thiện giả vẫn băn khoăn trong tư hướng của trần tục chưa diệt thoát nẻo phù sinh:

Đành liều thuyền dạt sóng trôi

        con quay hóa chuyển còn vô số lần

        thác thân chưa phú đã bần

        chưa sinh đã diệt chưa gần đã xa

        ………….

        Quản gì đầu núi chân mây

        đôi bờ phúc-họa từ đây nối liền

        ta ôm một nửa buồn phiền

        nửa kia đem vãi khắp miền vô ưu

       …………..

        Du tăng cất bước qua cầu

        bỗng dưng sực nhớ mái đầu xuân thu

        từ ngày nương bóng chân sư

        tóc xanh chẳng biết phiêu du cõi nào

        ………….

        Tạm thời quán trọ qua đêm

        bầy chim én cũ không đem xuân về

        không hành trang,cũng nặng nề

        biết ai mách lối ta về cõi ta 

  Như thế, tư thế hướng ngoại vẫn còn như sương mù giăng mắc rải rác trong không gian tiềm thức. Chân như dù bàng bạc trên lộ trình đi tìm chân thể, thì sự phân cách khốc liệt giữa bản thể và hiện tượng vẫn giằng co hỗn loạn giữa hữu vi và vô vi. Minh chứng, trước ngưỡng cửa qua cầu sinh tử, thiện giả vẫn nhìn chiếc bóng ngàn trùng, mà rằng:

Chiều nay đứng trước ba đào

        hốt nghe tiếng sóng vỗ vào tâm cang

        ý lòng chưa kịp giải phân

        dư âm ngọn sóng đã tan vào chiều 

Trước dư âm ngọn sóng đã tan vào chiều, dư âm mang nhiều tâm thức rao truyền mà thiện giả phủ dầy đặc trên Tử Sinh Ca. Chương Sóng Lòng Chưa Lặng, kết thúc 12 phân khúc Tử Sinh Ca. Nhìn xem tư hướng cuối cùng của một tư tưởng lặng thầm, đành lòng trút hết cho người đến sau: 

        Sóng xô lớp lớp xa bờ

        còn nghe từng đợt reo hò trong ta

        Sóng trùng dương sóng đi xa

        thanh âm réo gọi thì ra sóng lòng

        …………..

        Tình nhà xé nát tim gan

        từ sơ sinh đã lang thang đến giờ

        Tóc xanh rẽ sóng tìm bờ

        bạc đầu còn mãi vật vờ giữa khơi

        ……………

        Về đây mất dấu quê làng

        trải dài cảnh lạ ngút ngàn chân mây

        Nhủ lòng thềm cũ đâu đây

        chẳng qua tâm địa bấy nay lạc loài

        …………….

         Đường trần lắm ngả phân ly

         lòng không an định biết đi hướng nào

         Thác thân nhầm cõi ba đào

         liệu đem sinh tử cấy vào tay ai. 

Trong lớp y quan của thi phẩm Tử Sinh Ca, hình thể lục bát là một tiêu biểu năng lực phù ảo trong thơ của Trần Yên Thảo. Yếu tính phát huy chân tướng thực thể sáng tạo cổ phong, chứa đựng mênh mông bản thể sáng láng huyền nhiệm trong thơ…

 

NGÔ NGUYÊN NGHIỄM

Thư trang Quang Hạnh

Viết xong tháng 6/2019.

……………………………………………………………………………….

*Thi phẩm TỬ SINH CA của Trần Yên Thảo gồm 12 chương:

Giọt Nước Trên Đồng Khô – Du Phương Khúc – Gót Tục – Những Vì Sao Bỏ Ngôi – Lớp Lớp Sóng Đùa – Nước Động Bóng Rung – Góp Nhặt Lời Quê – Nước Tìm Chỗ Thấp – Trăng Tỏ Đường Về – Bước Qua Cầu Sinh Tử – Chiếc Bóng Ngàn Trùng – Sóng Lòng Chưa Lặng.

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Đọc sách

Trần Văn Chánh đọc “Chớ quên mình là nước” của Văn Công Tuấn

20/08/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc sách “Chớ Quên Mình Là Nước” của Văn Công Tuấn

Trần Văn Chánh

 

Trong khoảng chục ngày nay, các báo Việt Nam đưa tin toàn chuyện dịch bệnh CoViD-19, vì nó đang đe dọa trở lại sau một thời gian 3 tháng tạm thời im ắng. Ngay lúc này, giở ra đọc lại sách Chớ quên mình là nước – Tạp văn, khảo luận về nước và môi trường của Văn Công Tuấn mà tôi đã được tác giả gởi tặng từ một tháng trước, ý thức về tầm quan trọng đối với môi trường sống của tôi càng trở nên đậm nét.

Nói chung người Việt Nam chúng ta mải lo chạy theo cuộc sống thực tế trước mắt hàng ngày nên vẫn còn khá hờ hững trước các vấn đề môi trường, vì “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”, trong khi tình trạng khủng hoảng môi trường giờ đây cũng đã trở thành một thực tế không thể ngó lơ, và đại dịch CoViD-19  có lẽ phần nào nhắc nhở sự tỉnh thức, bởi sự xuất hiện virus Corona (SARS-Co V-2) cũng không ra ngoài lý do môi trường, nhưng người ta có vẻ sợ hơn những thứ khác vì chúng có thể đe dọa trực tiếp và tức khắc mạng sống con người, so với hiện tượng biến đổi khí hậu tuy cũng nguy hiểm nhưng tác động chậm hơn. Cuốn Chớ quên mình là nước xuất bản trong lúc này tại Việt Nam vì thế có vẻ như rất thích hợp, góp thêm phần cảnh giác/ báo động trước một vấn đề vô cùng hệ trọng đối với con người thời hiện đại.

Trong lời tựa cho lần tái bản sách này tại Việt Nam (NXB Hồng Đức, Quý III-2020), tác giả (một kỹ sư chuyên viên kỹ thuật y khoa định cư làm việc ở Đức) cũng khơi mào câu chuyện bằng thời sự CoViD-19 , cho biết “khi đi làm việc tại khu cấp cứu cách ly dành cho bệnh nhân CoViD-19  tại Uniklinikum UKSH Kiel, tôi càng có dịp suy nghĩ thêm về mối tương quan giữa con người và thiên nhiên… Người ta biết rằng, khi môi trường tự nhiên bị hủy hoại, khi trật tự vũ trụ bị đảo lộn thì thiên nhiên phải tự ra tay thiết lập trở lại sự cân bằng. Kết quả có thể là những thiên tai khủng khiếp như hạn hán, lũ lụt, sóng thần, động đất… hoặc những cơn đại dịch chết người hàng loạt… Trong khi đó, chúng ta không ngừng gây ô nhiễm môi trường, chúng ta phung phí nước bất kể nhiều vùng trên trái đất đang ngày càng khô cằn, đồng loại ta đang chết khát…” (tr. 8-9).

Ở nước ta từ nhiều năm nay, nạn thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước, xâm nhập mặn… đã ngày càng trở nên rõ rệt và phổ biến, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt hàng ngày và hoạt động sản xuất của người dân. Thiếu nước nghĩ xa hơn cũng là thiếu lương thực, có thể gây nên nạn đói trong tương lai khi dân số ngày một gia tăng vì nước chiếm một tỉ lệ quan trọng tuyệt đối trong sản xuất nông nghiệp.

Trong bài viết thứ hai, “Buồn ơi – gặm nhắm thêm chi”, tác giả nêu lên nguy cơ biến đổi đổi khí hậu (làm nước biển dâng…), giới thiệu sơ qua phong trào kêu gọi hãy cứu lấy môi trường của lớp trẻ toàn thế giới từ tháng 8.2018, mà có lúc chính tác giả, tuy thuộc lớp già, cũng đã tham gia biểu tình chung với 7.000 học sinh và sinh viên người Đức với tấm biểu ngữ khôi hài mà cười… ra nước mắt: “Hãy chuẩn bị mặc quần tắm vào đi, biển ngập tràn khắp rồi!” (tr. 27)

Theo tác giả, nước là trung tâm của mọi nguyên tố (element) trên trái đất. Không có nước là không có sự sống. Cho đến nay không có bất cứ vật thể gì tồn tại được nếu thiếu nước. “Nước hiện diện trong mọi vật thể quanh ta mà ta thực sự ít quan tâm đến nó. Nước là yếu tố đầu tiên cho sự sống… Để nhấn mạnh ý nghĩa này, Liên Hiệp Quốc từ năm 2003 đã chọn ngày 22 tháng 3 là Ngày Nước Thế Giới” (tr. 53). Trong bài  “Khô khan chuyện Nước”, tác giả tái khẳng định: “Không ai chối cãi được, thiếu nước là vấn nạn lớn nhất của chúng ta hiện nay” (tr. 57). Tiếp theo, nêu lên yêu cầu bức thiết phải tiết kiệm nước tối đa trong mỗi hành vi sinh hoạt, và đề nghị nêu gương theo bài học thoát hạn của Do Thái, đề cao một nền văn hóa tôn trọng nước: “Nói tóm lại, cái viễn cảnh thiếu nước ngọt để sử dụng của chúng ta trên địa cầu này là tất yếu, chắc chắn sẽ xảy ra. Nhưng qua kinh nghiệm Do Thái, ta thấy cũng có thể có một sinh lộ” (tr. 68).

Bài “Bà Ny-lông, Ông Mủ nhựa” cảnh báo nguy cơ rác thải bao bì bằng nhựa làm ô nhiễm nguồn nước từ sông ra tới biển: “Hiện nay mỗi năm có khoảng 8 tấn rác mủ nhựa ny-lông đổ vào biển”. Rồi cá voi (thuộc lớp Thú) cũng bị tiêu diệt dần, các loài chim trời cá nước khác cũng vậy (xem bài “Dưới biển cá thôi bơi, trên trời chim hết lượn”, (tr. 142). Một nguy cơ cho toàn thể nhân loại, “Cá tuyệt chủng thì ngư dân cũng tuyệt chủng. Tôi và anh chị rồi cũng sẽ đi vào đường tuyệt chủng khi cây cỏ và sinh vật chung quanh chúng ta tuyệt chủng” (tr. 150).

Số bài còn lại hầu hết là những tản mạn việc đời, biểu lộ những nỗi suy tư trăn trở, thường cũng gắn liền với yếu tố “nước”, phong cách viết thong thả, đầy tính văn nghệ. Bài nào cũng có dẫn thơ, ca dao, danh ngôn của các bậc hiền triết, và nhất là điển tích, ngụ ngôn lấy từ trong các kinh sách Phật giáo, nên dễ đọc, đọc mà không cảm thấy quá nặng nề, lại thêm được bồi bổ nhiều loại kiến thức liên quan đến tôn giáo, triết học…

Tác giả chọn “nước” làm đầu đề triển khai cho toàn tác phẩm không chỉ vì lý do đơn thuần khoa học, mà còn vì những cảm thức cá nhân liên quan đến cái chất liệu quan trọng này đã có trong ông từ buổi ấu thơ sống trong môi trường thiên nhiên lành mạnh đầy kỷ niệm đẹp của quê hương mến yêu, từ khi nước chưa bị thiếu và chim, cá chưa bị chết do môi trường bị hủy hoại như bây giờ. Cho nên cuốn sách được cấu trúc không hoàn toàn như một công trình biên khảo khoa học khô khan, mà lồng vào 16 bài viết ngắn dài, tác giả đưa ra những lời tâm sự, “cũng chỉ vì một ước mong duy nhất” là để nhắc nhở mọi người cần biết trân quý trái đất này của chúng ta: “Chúng ta cũng nên biết giữ gìn những giọt nước của đất, vốn phủ đầy hai phần ba địa cầu. Đất này, nước này là những dấu tích còn lưu lại của đời trước, là nơi an nghỉ của tổ tiên. Đất và nước không thể là sở hữu của riêng bất cứ một ai. Xin đừng nói ngây thơ là ai đó vì có tên trong hồ sơ bất động sản nên là kẻ sở hữu. Nếu có chăng những kẻ sở hữu thì kẻ ấy chính là con cháu chúng ta ở các thế hệ sau… Phải biết chăm sóc đất, phải tử tế với nước…” (trích “Lời thưa”, tr.20-21).

Ở đây, khi nói “nước” đi liền với “đất”, nhiều chỗ trong sách, tôi nghi rằng tác giả Văn Công Tuấn có ý dùng thuật chơi chữ một cách tế nhị, với hàm ý yêu nước, bảo vệ nguồn nước cũng là yêu quê hương đất nước, và phải ra sức bảo vệ nó. Đọc tới bài “Cụ Phan gọi trà” (tr. 103), có trích dẫn câu thơ trong bài  “Gọi trà” của Phan Bội Châu “Trà ơi còn nước là vinh hạnh”, ta càng thấy rõ thâm ý này của tác giả, với lời bình luận: “Cụ thương nước thương nòi, nhưng bấy giờ phải lâm tình cảnh bị giam lỏng nên cụ cứ phải ‘khát nước hoài’. Nước hiểu theo đầy đủ tất cả nghĩa. Một lối chơi chữ quá tài hoa: vừa là đất nước vừa là dòng nước mà cũng là dòng đời lênh đênh của cụ. Cái nào cũng quý và cái nào cũng đang lâm nạn. Mình chỉ nhận ra khi không còn có nữa” (tr. 104).

Trần Văn Chánh
31.7.2020

(Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2020/08/11/doc-sach-cho-quen-minh-la-nuoc-cua-van-cong-tuan/)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Đọc sách

PNO: Biển rì rầm kể chuyện

03/07/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Biển rì rầm kể chuyện

LỤC DIỆP

PNO – Một cuốn sách không nặng nề suy niệm, tiếc nuối mà ngược lại, rất tươi mới, hóm hỉnh. Một tinh thần “rất trẻ” và tràn đầy năng lượng sống.
“Rồi một hôm, trong buổi “về thu xếp lại”, tôi gom góp một số bài tùy duyên, tùy hứng, tùy nghi, tùy hỷ…bấy lâu mình ưa thích làm thành một “tạp tuyển” ở tuổi 80 này, như một món quà lưu niệm dành riêng đọc vui một mình, rồi biết đâu cũng có người đồng điệu…” – bác sĩ – nhà văn Đỗ Hồng Ngọc bộc bạch như vậy, khi in cuốn Để làm gì (tạp bút, Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM vừa ấn hành).

Tôi đọc sách ông viết trên những chuyến xe dài, những trang viết ngắn dễ đọc, dễ cảm; đa dạng đề tài, nhiều cảm xúc. Cảm giác đọc Để làm gì như cách người ta thưởng thức một tách trà, nhẩn nha, ngẫm ngợi; lúc miên man cảm xúc lúc lại bật cười, thú vị. Đó là một cuộc đối thoại vô ngôn cùng tác giả, cùng chạm đến những tâm tư, ký ức của người viết theo cách lặng lẽ cảm nhận và sẻ chia. Những năm về sau, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc theo học Phật pháp, nên chữ của ông cũng tỏa ra năng lượng an lạc, tích cực.

Có những lúc xe ngang qua mưa, tôi giở đến những bài tác giả viết dành cho những người bạn văn chương, xúc động với một cuộc đời “cô đơn uy nghi” của nhà văn Võ Hồng; ấm áp trong tình cảm chan hòa giữa những người bạn thơ: Võ Phiến, Nguyễn Như Mây, Từ Thế Mộng… Đây có lẽ là cuốn tạp bút viết cảm thơ nhiều nhất mà tôi từng đọc.

Cái sự “tùy duyên” mà bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nói được thể hiện qua cả những ký ức thơ, phát hiện tình cờ hoặc những tập thơ được bạn bè gửi tặng ông. Trong mạch nguồn thơ len lỏi chảy suốt tập sách nhỏ này, thấy rõ nhất hai chữ “chân tình” mà tác giả dành cho bạn bè thơ văn khắp chốn. Đó là những bài viết: Làm mới thơ, Chiều nước lên, Một cốt cách ở đời, Lắm nỗi không đành, Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi…

Có những mẩu chuyện tưởng chừng rất nhỏ nhưng xâu chuỗi lại là những “gói ghém tinh thần”, truyền tải những điều lớn lao hơn về những nhận diện và hạnh ngộ. Một người già cầm bút, viết trong tâm thế tùy duyên và an lạc, nên cuốn sách nhỏ có ký ức về quê biển Phan Thiết, có những chuyến đi xa xôi cả trong và ngoài nước, những chia sẻ về nghề với người…

Vậy nhưng cuốn sách ấy không nặng nề suy niệm, tiếc nuối mà ngược lại, rất tươi mới, hóm hỉnh. Một tinh thần “rất trẻ” và tràn đầy năng lượng sống. Bởi thế mà trong nhiều chuyến đi tình cờ, ông đã gặp được những độc giả lâu nay vẫn gối đầu giường sách Đỗ Hồng Ngọc. Họ chia sẻ rằng nhờ đọc những quyển sách ông viết mà học hỏi được nhiều điều hay, tinh thần suy nghĩ tích cực hơn. Thậm chí, nhờ sách ông mà những người già biết cảm thông với tuổi già của nhau hơn.

Để làm gì như lời biển rì rầm kể chuyện, hết đợt sóng này đến lớp sóng khác. Những mẩu chuyện xếp lên nhau tạo thành một mảng dày kiến thức, trải nghiệm, tâm cảm, kỷ niệm… từ một đời người kể từ bãi biển Phan Thiết, đỉnh Tà Cú, Lagi quê nhà tác giả đến Huế, Hội An, Đà Lạt, sông nước miền Tây, Melbourne (Úc), mùa thu vàng ở Boston (Mỹ), những cuộc hành hương trên đất Phật Ấn Độ… Xen lẫn vào đó là những mẩu hài hước về chuyện Ếch kêu, Sáng mắt chưa, Bò sao lại điên, Sến già nam, Chơn mạng đế vương…

Tản văn của Đỗ Hồng Ngọc thật lành, thật nhã. Sáng, trưa, chiều tối với “trà Tào-Khê, cơm Hương-Tích, thuyền Bát-Nhã, trăng Lăng-Già…”.

“Và thấy hình như có mình trong đó, nhận ra mình cần chậm lại, để nghe trái tim lên tiếng, để cảm nhận những chuyển biến dù nhỏ nhất xung quanh mình, trong bản thân mình” – tâm sự của bạn đọc trẻ như một thay lời dành cho Để làm gì. Một cuốn sách truyền tải được năng lượng tích cực, nhận được sự đồng cảm, trân trọng của bạn đọc – đó đã là thành công lớn của người viết.

Lục Diệp

(Nguồn: Phụ Nữ Online- PNO Tp.HCM 3.7.2020)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Đọc sách

“THẤP THOÁNG LỜi KINH”, Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc

13/12/2019 By admin Để lại bình luận

Mời bạn xem tuyển tập “Thấp Thoáng Lời Kinh” do Anh 5 Hiền (Nguyễn Hiền, Nguyễn Hiền Đức) thực hiện.

File gốc tại Thư Viện Hoa Sen

Xem sách online tại đây

(Chú ý: Dưới góc trái trang sách có mũi tên chỉ lên và chỉ xuống. Bấm vào đó để lật trang).

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Phật học & Đời sống, Đọc sách Tag với:thap thoang loi kinh, thu vien hoa sen

Huỳnh Như Phương: Giấc mơ, Cảnh tượng và Cái nhìn,

17/06/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đôi dòng về :

Giấc mơ, Cảnh tượng và Cái nhìn,

của Huỳnh Như Phương

NXB Hội Nhà Văn, phối hợp IRED ấn hành (4.2019)

 

 

 

Mai Sơn, trong Thay lời tựa với bài “Sự điềm tĩnh của lý trí” đã nêu lên một vài nhận xét thú vị khi viết về Huỳnh Như Phương:

“Sự phóng đãng của lý trí có thể đem đến nhiều phát kiến, nhiều giá trị, thậm chí là chân lý, nhưng sự điềm tĩnh của lý trí cũng làm được việc đó không kém…”

Thì ra Mai Sơn nhận biết HNP không chỉ là một người “điềm tĩnh của lý trí” (nhà phê bình?) mà còn là một người “phóng đãng của lý trí” (nhà văn?), vì HNP theo Mai Sơn, không chỉ là một nhà nghiên cứu văn học, “một nhà phê bình văn học đáng tin cậy” mà còn là một nhà văn, một nhà báo…

Cho nên Mai Sơn viết “ Thỉnh thoảng (HNP) lại cất lên một mẻ lưới. Để chia sẻ với mọi người. Như món quà của người bạn đường văn chương lịch duyệt”.

Cuốn sách gồm 3 phần, cũng theo Mai Sơn:

Phần 1 về thơ Gọi tên những giấc mơ: HNP tỏ ra say đắm trong tư cách người thưởng ngoạn, tiếp nhận, cảm tính và lý tính đan xen…

Phần hai về văn xuôi Những cảnh tượng trần gian bớt tâm lý thưởng thức để đối thoại, phân tích, khai mở những văn bản phức tap…

Phần 3 Khoảng cách và cái nhìn gồm những tiểu luận dài hơi, công phu về những hiện tượng văn hóa, văn học trước 1975 ở miền Nam, phát huy bề dày kiến thức và thái độ điềm tĩnh cũa mình…

Và Mai Sơn kết luận: đó là “những giấc mơ văn học của HNP… Cho phép ông giữa ban ngày vẫn dám mơ một giấc mơ đẹp về tương lai của văn học Việt Nam”.

HNP thì nói rõ hơn: “nhà nghiên cứu cũng như người sáng tác là những người góp phần bảo toàn khuôn mặt tinh thần của giới trí thức môt dân tộc. Qua những gì họ viết ra cũng như cách mà họ hành xử các mối quan hệ, có thể nhìn thấy phẩm chất và lương tri của tầng lớp trí thức, nội lực và tầm văn hóa của một dân tộc”.

Tôi nghĩ, với Giấc mơ, Cảnh tượng và Cái nhìn, trong thẩm sâu HNP chỉ muốn chia sẻ đôi điều cốt lõi: Phải đổi mới tư duy để “hòa đồng cùng nhân loai”(tr 225), để “đối mặt với toàn cầu hóa” (tr 241) bởi vì theo ông, văn học có cơ sở để “hướng tới sự hòa giải, hòa hợp” ( tr 255).

Một cuốn sách để đọc và suy gẫm.

Đỗ Hồng Ngọc

(15.6.2019)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Đọc sách

Nguyễn Hiến Lê: Con người và Tác phẩm

06/01/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Giao lưu và Giới thiệu sách

Nguyễn Hiến Lê: Con người và Tác phẩm

 

 

NXB Thành phố Hồ Chí Minh kính mời quý vị và các bạn tham dự buổi Giao lưu và Giới thiệu sách:

NGUYỄN HIẾN LÊ: Con người và Tác phẩm 

cùng: Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Giáo sư – Bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng

Nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh

thay mặt Nhóm Tác Giả vào lúc 9g sáng Thứ Bảy, ngày 12.01.2019

Tại Sân khấu chính Đường Sách Tp Hồ Chí Minh,

Nguyễn Văn Bình, Quận 1.

Trân trọng,

…………………………………………………………………………….

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Đọc sách

Hai Trầu: Đọc lại “Nếp Sống An Lạc” của Bs ĐHN

29/12/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc lại “NẾP SỐNG AN LẠC”

của Bs ĐỖ HỒNG NGỌC

 

Thế là thêm một lần nữa năm lại sắp hết, có nghĩa là người thì cũ nhưng tuổi đời lại sắp thêm một tuổi mới nữa rồi! Làm sao mà có một “nếp sống an lạc” được đây! Thôi thì, chi bằng nói dong nói dài, hổng gì hơn là tôi thử ngồi xuống đọc lại tác phẩm “Nếp Sống An Lạc” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc xem sao!

Tôi thường nghe trong dân gian hay nói “an bần lạc đạo”, hoặc “an cư lạc nghiệp”, tức là hai cặp thành ngữ ấy đều có mấy chữ “an lạc” đi kèm. An bần lạc đạo, thường được hiểu một cách nôm na là yên phận nghèo mà vui với lẽ trời hoặc chịu phận nghèo mà vui vẻ để mà sống, không oán người cũng như không trách trời. Nguyễn Công Trứ trong bài Hàn Nho Phong Vị Phú có câu:

“Cùng con cháu thuở nói năng chuyện cũ,

Dường ngâm câu lạc đạo vong bần;

Gặp anh em khi bàn bạc sự đời,

Lại đọc chữ vi nhân bất phú.”

Còn an cư lạc nghiệp là thời thái bình ai nấy đều ở yên chỗ ở của mình và vui với nghề nghiệp của mình như trong thơ xưa có câu:

“Thời thịnh trị an cư lạc nghiệp,

Khắp muôn nhà đều hát khúc hoan ca.”

Ngoài ra, mỗi lần chuẩn bị bước sang một năm mới, người ta cũng thường gởi lời chúc cho bạn bè thân thiết lời cầu chúc “Thân tâm thường an lạc”, như vậy với ý nghĩa gì? Thật tình ra, tôi đôi lúc cũng hiểu mấy chữ “Thân tâm thường an lạc” hay nói gọn là “Thân tâm an lạc” một cách lờ mờ lắm! Đại khái là con người có hai phần, một là thể xác, thuộc về thân thể, vật chất; hai là tinh thần gồm cái tâm và cái tình cảm của mình. Hai chữ thân và tâm ấy nó ở cùng trong một con người, không tách rời được! Vậy thì muốn được an lạc thì phải làm sao? Có phải cùng một lúc mình làm cho cái thân vui, đồng thời cũng làm cho cái tâm vui nữa không?

Vậy, xin mời bạn thử theo Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, qua tác phẩm Nếp Sống An Lạc, để coi cuộc đời này có gì vui! Sách “Nếp Sống An Lạc” (với cái tựa sách đầy đủ là “Trò chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về nếp sống an lạc”, đây là một tập tài liệu tập họp các bà nói chuyện của tác giả như trong lời tựa: “Mấy năm gần đây, tôi thường được mời nói chuyện về “Một nếp sống An lạc” ở nơi này nơi khác. Có khi ở một ngôi chùa, có khi ở một trung tâm mục vụ, có khi ở một hội quán, câu lạc bộ doanh nhân, một nhóm bạn trẻ, hoặc cùng các bậc trí thức…”(NSAL, trang 7)

Nhìn một cách tổng quát, tác giả nhắc cho bạn đọc đến bốn lượt hai chữ “hạnh phúc”; như vậy, dù muốn dù không, hai chữ “hạnh phúc” cũng có thể là một trong những yếu tố đầu tiên và cuối cùng mà tác giả muốn bàn trong các chủ đề trọng yếu của cuốn sách, giúp cho mỗi người trong chúng ta có thể sống với một nếp sống an lạc sao cho hạnh phúc. Chẳng hạn, ngay ở chương đầu: “Một nếp sống hạnh phúc”, trước tiên người đọc sẽ rất thú vị khi gặp ngay sự phân biệt của tác giả khá chi tiết thế nào là nếp sống và không hẹp hòi gì, tác giả minh định liền:

“Khi tôi nói “một nếp sống” cũng có nghĩa là chúng ta có thể có rất nhiều nếp sống hạnh phúc khác nhau: có người chọn “nếp” này, người chọn “nếp” kia, không chắc nếp sống của người này là đúng hơn của người kia đâu.” (NSAL, trang 11)

Chính vì nếp sống hay cách sống mỗi người khác nhau như vậy nên hạnh phúc cũng vậy, mỗi người quan niệm hạnh phúc rất khác nhau. Và tác giả cũng nêu ra nhận định:

“Mỗi người hiểu hạnh phúc theo một cách riêng: Có người nghĩ hạnh phúc tức là làm được một cái gì đó thành công, có người thì nói chỉ cần tôi hơn người hàng xóm là tôi hạnh phúc rồi… Như vậy có rất nhiều thứ để người ta nhận định hạnh phúc là như thế nào. Cho nên nói về đề tài hạnh phúc là rất khó, mà tôi nói về một nếp sống hạnh phúc thì còn khó hơn nữa.” (NSAL, trang 14)

 Trong đề mục này, tác giả dẫn ra bài ca dao:

“Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,

Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè,

Tháng Tư đong đâu nấu chè,

Ăn Tết Đoan Ngọ trở về tháng Năm,

Tháng Sáu buôn nhãn bán trăm,

Tháng Bảy ngày rằm xóa tội vong nhân,

Tháng Tám chơi đèn kéo quân…”

Rồi tác giả nhận định: “Tức là cả năm chỉ thấy… vui chơi không! Vậy không phải “hạnh phúc” là gì! Rồi làm ruộng thì người xưa làm một mùa thôi nhưng cũng ăn đủ cả năm rồi, thành ra họ rất thảnh thơi, vui thú.” (NSAL, trang 14)

Vâng, về điểm này, tôi với tư cách là một người đọc nhà quê già, có một thời khá lâu tôi chứng kiến những năm còn làm lúa sạ, lúa mùa với mỗi năm chỉ làm một mùa lúa duy nhứt ở miệt Mặc Cần Dưng (Long Xuyên), tôi biết rất rõ bà con nông dân tay lắm chân bùn nhưng nhà nào cũng lúa đầy bồ, vui lắm! Đó là chưa kể tới mùa mưa bắt cá lên đồng; tới mùa nước lên giăng câu, giăng lưới; tới mùa nước gần giựt bắt chim lượm trứng trên cánh đồng lúa trổ đòng-đòng; tới mùa cá ra sông, cá dại, ôi thôi, cá tôm biết làm gì cho hết cá, hết tôm nổi đầy mặt nước và còn nhiều thú vui vơi mùa màng những ngày xa xưa ấy nữa; nên về điểm này tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả là:“… làm ruộng thì người xưa làm một mùa thôi nhưng cũng ăn đủ cả năm rồi, thành ra họ rất thảnh thơi, vui thú.”

Để xác nhận người xưa “thảnh thơi, vui thú” hơn người nay, tác giả viết:

“Còn bây giờ chúng ta sống “hùng hục”, chúng ta làm đầu tắt mặt tối, từ sáng đến chiều, làm từ ngày này qua ngày khác, hết việc ở cơ quan, ở công ty rồi mang một đống việc về nhà làm tiếp. Cho nên dù bây giờ chúng ta có phương tiện dồi dào hơn, nhà cửa sang trọng hơn nhưng dường như lại thiếu hạnh phúc hơn người xưa.” (NSAL, trang 15)

Thưa vâng, về điểm này, tôi xin ghi thêm ở đây, chẳng phải chỉ đời sống ở thành thị như tác giả vừa lược kể thì sự bận rộn vốn phải chạy theo thời là như vậy đã đành; còn ở nông thôn, nơi mà ngày nay người nông dân phải làm ruộng mỗi năm lên tới ba mùa; hết mùa Đông Xuân, qua mùa Hè Thu, hết mùa Hè Thu lại sang tới mùa lúa lỡ kế tiếp nữa…

Do vậy, con người chạy theo thời không được nghỉ ngơi gì thì đã đành, mà đất đai cũng không được nghỉ ngơi để nhận lại phù sa cho mùa mới; mà làm gì có phù sa cho đất mầu mỡ khi người ta khôn lanh quá mức cứ lấy sức người đắp đập ngăn nước bốn mùa không cho nước lên đồng để tận dụng sức đất, chẳng những đất thì khô cằn, cá tôm cũng không có nước lấy gì mà sinh sôi nẩy nở để mà sống, cho chí đến cua ốc, cái loài sinh vật gần gũi với nhà nông nơi đồng ruộng cũng hổng có luôn nữa mà kết quả nhận lại được gì nếu không muốn nói là ngày nay ở nhà quê làm ruộng mỗi năm ba mùa, mỗi mùa ba tháng, mỗi tháng ba mươi ngày vậy mà rồi hổng có nhà nào có được một hột lúa để ví bồ, để dành ăn, chứ đừng nói gì lúa trăm, lúa thiên như hồi sáu bảy chục năm trước làm ruộng mỗi năm chỉ có một mùa mà lúa bồ, lúa lẫm! Rồi chắc bạn sẽ đặt câu hỏi: Sao lại có hiện tượng lạ như vậy được? Thưa bạn, có chứ!

Vì ngày nay người ta văn minh dữ lắm! Họ chế ra máy cắt, máy gặt, máy suốt lúa chung vô một cái máy thôi, hổng có kêu công cắt, công gặt gì ráo trọi! Thế là tới lúc lúa chín thì hẹn máy tới rồi chuẩn bị bao bị giao cho chủ máy họ cắt, họ suốt lúa và hứng lúa hột vô bao luôn; xong đâu đấy họ chở lúa ra tận bờ kinh và chủ ruộng ra bờ kinh có ghe mua lúa chờ sẵn và cứ cân lúa tươi lúa ướt mà tính tiền. Tiện lắm! Còn lúa đâu mà vô bồ vô lẫm gì nữa! Tiền bỏ túi chưa nóng bàn tay thì lại ma-róc trả tiền mua phân còn thiếu chịu, trả tiền máy cắt máy gặt vừa rồi, trả tiền thuốc sâu, phân bón mua chịu mấy tháng trước, trả tiền cày, tiền bừa, tiền trục, tiền trang đất cho bằng vân… vân…, trăm thứ tiền…, rồi lại vùi đầu lo làm mùa mới tiếp theo! Làm sao có thì giờ đâu mà nghỉ ngơi, an lạc, hạnh phúc?!?

Hồi đời xưa, một khoảng đất có tên là Đông Pha, nằm về phía đông của Hoàng Châu, Tô Đông Pha làm ruộng ở đó và ông có làm tám bài thơ thuật sự  tại đây dể tả cảnh sinh hoạt thường ngày của mình, trong đó có bài thơ thứ V, ông có nhắc về việc làm ruộng:

“Lương nông tích địa lực

Hạnh thử thập niên hoang

Tang giá vị cập thành

Nhất mạch thử khả vọng…”

 Tuệ Sỹ dịch:

 “Nhà nông giỏi thì biết tiếc sức đất.

Đất này nhờ mười năm bỏ hoang

Dâu đỏ dâu đen chưa đến lúc lớn,

có thể mong được một mùa lúa mạch…”

Vâng làm ruộng mà không cho đất nghỉ, không “biết tiếc sức đất”, chẳng khác nào mình tự mang cái nghèo đeo lên cổ mình vậy!

Thưa bạn,

Thêm nữa, tôi cũng để ý thấy về việc sanh nở trong chương “Cân bằng cuộc sống”, tác giả vào đề một cách nhẹ nhàng nhưng vẫn gây cho người đọc theo dõi câu chuyện khá hồi hộp, vì vấn đề “cân bằng cuộc sống” nó liên hệ rất mật thiết đến hạnh phúc, đến an lạc chứ hổng chỉ là sống sao cũng được, cân bằng hay không cân bằng gì cũng được:

“Bây giờ có vẻ cuộc sống của chúng ta ngày càng thiếu cân bằng, thiếu cân bằng thì cuộc sống sẽ không hạnh phúc, không an lạc được.”(NSAL, trang 83)

Và tác giả có kể một câu chuyện thực tế để làm thí dụ về sự thiếu cân bằng cuộc sống, đó là việc sanh nở hồi đời trước và việc sanh đẻ ngày nay không còn giống nhau nữa:

 “Năm 1986, khi tôi tới xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè thực hiện chương trình Chăm Sóc Sức Khỏe Ban Đầu (Primary Health Care) cùng với các đồng nghiệp của Sở Y Tế thành phố thì Hiệp Phước còn là một xã cù lao rất nghèo, chưa có công nghiệp hóa như bây giờ, lúc đó còn nhà quê lắm, phải đi xuồng qua sông chớ không có cầu như bây giờ. Ở đó bệnh sốt rét rất nhiều, rồi suy dinh dưỡng các thứ và nhất là tỉ lệ sanh đẻ rất cao. Sông nước chằng chịt, chưa có cầu đi lại nên nhiều khi người ta đẻ rớt trên thuyền. Hỏi người ta tại sao để bị sốt rét nhiều thì họ nói là họ có thói quen ngủ mùng nếp; ngủ mùng nếp có nghĩa là nhậu rượu đế vào rồi say nằm ở trần cứ thế mà ngủ nên muỗi đốt họ và gây bệnh sốt rét. Tỉ lệ phát triển dân số vùng này rất cao, hỏi tại sao thì họ trả lời là : “Tại vì ở đây không có cái gì vui hết chỉ có đẻ là vui thôi, cứ nhậu rồi đẻ…”(NSAL, trang 84).

Vậng, thưa bạn, cứ như cái lệ, chỗ nào càng buồn buồn, càng vắng vẻ thì chỗ đó dân số tăng lên. Chẳng hạn, đâu có khác gì chỗ xã Hiệp Phước ở Nhà Bè mà bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nêu lên là dân số đông, mà dưới các làng quê miền Tây dưới chỗ tôi ở, hồi đời xưa cho chí đến mấy năm thập niên 1980-1990, bà con dưới quê còn thói quen sanh con nhiều lắm! Cặp vợ chồng nào cũng có tối thiểu năm ba đứa con; còn trước đó nữa, tức những năm 1940-1960, có nhiều cặp vợ chồng có tới bảy tám đứa con, có khi có cả chục đứa nữa; hết út mười, rồi đẻ thêm vai đứa nữa đặt tên Út Mười Một, Út Mười Hai cho đủ chục có đầu! Gia đình nào cũng đông rần-rần, rồ-rộ; gia đình nào cháu con cũng xôm tụ, vui lắm! Có khi, vô măm cơm phải nấu cơm bằng nồi gang, loại nồi số 10, hoặc số 12, sắp nhỏ ăn mới đủ!

Mất hào của đặng hào con cũng quý nhưng hơi chật vật vì phải lo miếng ăn, lo quần áo, lo nhà cửa cho có chỗ cho con cái ăn ở, vậy là chắc chưa an lạc được; nhưng nói như tác giả kể thì nhiều cặp vợ chồng muốn có con mà hổng có được, cứ làm vợ chồng son hoài, cũng chưa chắc là được an lạc, được hạnh phúc:

“Bây giờ tôi thấy nhiều người đẻ không được, vô sinh, đi thụ tinh nhân tạo rất là khổ; còn ngày xưa thì người ta sinh đẻ dễ dàng, thậm chí người ta còn bảo là con trai con gái đừng ngồi gần nhau, đừng nắm tay nhau, chỉ cần ngồi chung chiếu thôi là đã có bầu rồi.”(NSAL, trang 85).

Có lẽ ngày nay, nhiều người trẻ nghe bác sĩ nói hoặc đọc thấy như vậy chắc có là sẽ ngạc nhiên lắm; nhưng ở thế hệ của tôi, hồi sáu bảy chục năm về trước, tôi cũng tin như vậy và hổng dám nắm tay ai và cũng hổng dám ngồi gần ai!

Cân bằng cuộc sống mà tác giả nhấn mạnh trong Nếp Sống An Lạc, không chỉ cân bằng việc sanh sản, mà còn nhiều khía cạnh khác nữa. Đây là một vấn đề cấp thiết và khó vì cuộc sống theo phân tích của tác giả là bao gồm nhiều khía cạnh, nhưt là thời đại văn minh tiến bộ về kỹ thuật tân tiến của khoa học computer ngày nay, nó dễ gây ra nhiều hậu quả không phải ai cũng dễ nhận ra và tránh khỏi. Chẳng hạn dễ bị căng thẳng đầu óc, vợ chồng ít có thời giờ dành cho nhau vì mạnh ai nấy đi làm đầu tắt mặt tối suốt ngày này qua ngày khác; tình cảm giữa người này với người khác nói là thân nhưng lại rất hời hợt, và nếu không muốn nói là đôi khi rất mất lịch sự theo cái nhìn của người già. Chẳng hạn, nói là rủ nhau ra uống cà phê nhưng những người bạn ngồi chung bàn chẳng ai nói với ai lời nào mà cứ chăm chú theo dõi cái điện thoại cầm tay coi ai gởi tin nhắn, hoặc ai gởi email, etc… mà hổng để ý gì đến người bạn ngồi bên cạnh mình có khi khá lâu mới được gặp lại nhau! Tác giả than với trang sách nhưng mà người đọc già nhà quê như tôi nghe ra cũng thấy rất đau lòng:

“Trái đất còn như một hòn bi thôi, rất gần gũi. Mình gửi email, bấm một cái là ở bên kia nửa vòng trái đất bạn mình nhận được trong vòng chưa tới một giây. Mình thấy như vậy là hạnh phúc nhưng nó cũng có mặt trái. Phương tiện kỹ thuật có vẻ như giúp mình gần nhau nhưng thiệt ra thì xa nhau hơn; chẳng hạn như cả nhóm bạn ngồi bên nhau, nhưng mỗi người một cái máy di động, vui cười trò chuyện với một người khác ở phương trời nào đó…” (NSAL, trang 87)

Ở chỗ khác trong chương “Cân bằng cuộc sống” với giọng văn như một người bạn, mà cũng là một vì thầy thuốc, tác giả từ từ hỏi và kể lại rất ân cần, mà tôi nghĩ anh bạn nào được tác giả hỏi như vậy chắc là vừa ngại ngùng vừa e thẹn dữ lắm, nếu nghe được lời khuyên của tác giả:

“Tôi thấy có nhiều bạn trẻ mời tôi đi ăn trưa mà mỗi người rút trong túi ra một cái hộp có 6-7 món thuốc để uống một cách tự nhiên, thành phản xạ. Tôi hỏi uống thuốc gì vậy thì các bạn kêu là uống thuốc bổ, tôi mới hỏi uống làm gì vậy, mình đâu có thiếu đâu mà uống, mình phải thiếu thì mới cần bổ chứ, đàng này thấy người ta uống mình cũng uống, vừa tốn tiền vừa vô ích.”(NSAL, trang 106)

Ở chương “Có một con đường hạnh phúc”, tác giả mở đầu:

“Đây là lần đầu tiên tôi đến đây, cũng là lần đầu tiên tôi nhận được một lúc hai bó hoa, thường thường có một bó; thành ra đó là một điều rất đặc biệt, rõ ràng là không cần đi tìm hạnh phúc đâu nữa, đây là một niềm hạnh phúc rồi.”(NSAL, trang 117)

Biết rằng, muốn định nghĩa thế nào là hạnh phúc rất là khó, tác giả đã vào đề một cách vừa trực diện mà cũng vừa mở ra một ý niệm rất bao quát về hai chữ “hạnh phúc”; theo đó, người nhận là tác giả đã nhận ra mình nhận được một lần được tặng hai bó hoa là “một niềm hạnh phúc rồi”, và ngược lại, những người tặng hoa cho diễn giả khi được diễn giả nói lên như thế, họ có biết rằng họ cũng hạnh phúc lắm không?

Sở dĩ, tôi có suy nghĩ ấy vì rằng, đôi lúc có người mang tặng cho người khác một món quà đơn sơ nào đó, hoặc một vật nào đó mà họ để hết tấm lòng của họ vào món quà ấy mà người nhận lại vô tình hờ hững không nhận ra tấm lòng của anh bạn mình, thì dĩ nhiên người tặng quà chắc cũng kém vui; mà đã gọi là kém vui thì làm sao mà hạnh phúc cho được! Phải vậy hông? Do vậy mà hạnh phúc là một hiện tượng tương tác, cộng hưởng giữa người này với người khác trong cuộc sống; chứ một mình mình thôi thì khó có hạnh phúc lắm!

Trở lại trong chương này, như tác giả mở đầu với đề nghị “Chúng ta nói chuyện hai chiều chứ không phải một mình tôi nói”, với những câu hỏi của người nghe và câu trả lời của diễn giả; gồm cả thảy sáu khách mời đặt câu hỏi và tác giả là diễn giả giải đáp những câu hỏi bao quanh vấn đề hai chữ “hạnh phúc” một cách rành mạch, lôi cuốn, hấp dẫn…

Đỗ Hồng Ngọc và Hai Trầu tại Hồ Kỳ Hòa, Saigon 2017.

Hồi năm ngoái, tháng 6 năm 2017, tôi đã đọc tác phẩm Nếp Sống An Lạc của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc dịp lần đầu tiên ghé thăm anh ở hồ sen Kỳ Hòa (Sài Gòn) anh có nhã ý ký tặng; nay sau hơn một năm, vào những ngày cuối năm 2018, tôi ngồi đọc lại và ghi vội mấy hàng này với một tâm cảm rất vui và hạnh phúc khi nhớ lại lần gặp tác giả lần đầu ấy, mặc dù không có thời giờ nhiều mà trời lại cứ mưa nữa, những chiếc lá sen trên mặt hồ hứng đầy những giọt nước mưa long lanh trong vắt, mà gốc phượng già xa xa bên kia bờ hồ đứng lặng trong mưa là những hình ảnh mà tôi cho là đẹp và hạnh phúc giữa một khung cảnh thân ái với tác giả và gần gũi giữa Sài Gòn. Không biết nói gì hơn là tôi xin chân thành đa tạ Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tác giả Nếp Sống An Lạc, đã thân ái tặng cho tôi những giây phút vô cùng an lạc và hạnh phúc ở những ngày tuổi già của tôi từ hồi năm ngoái tơi nay rồi vậy!

 

Hai Trầu

Houston, ngày 28 tháng 12 năm 2018

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Đọc sách

Đọc thơ bạn thơ: “Sương khói trăm năm” của Võ Tấn Khanh

30/11/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sương khói trăm năm”

Thơ Võ Tấn Khanh (2007)

Ghi chú: Có lần nhà văn Võ Hồng ở Nha Trang, trong một bức thư viết tay gởi tôi trên giấy pelure mỏng tanh nói: đọc lại mình, “moa” thấy văn thì ngộ, còn thơ thì ngượng!

Đọc thơ mình thấy ngượng? Võ Hồng giải thích cái gì mà anh anh em em, giấu không nổi nỗi lòng mình! Văn thì còn đổ tại bị vì bởi “hư cấu”!

Có một thời, các nhà thơ thường ký bút danh “rất nữ”, để được ưu tiên vì các ông Chủ bút rất galant. Cái thời thật dễ thương đó chứ. Võ Tấn Khanh ký Tôn Nữ Hoài My, rất Huế…

Năm 2007, anh gom góp một số bài thơ để in thành một tập kỷ niệm, chia sẻ chốn bè bạn thân quen, và kêu tôi viết cho anh cái Tựa. Ừ thì viết.

Người già hay nói chuyện xưa mà!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

…………………………………

Lắm nỗi không đành!

viết cho Sương khói trăm năm

Thơ Võ Tấn Khanh, 2007

 

Thơ Võ Tấn Khanh như vậy. Không màu mè, hình thức. Chỉ là một thứ tiếng lòng thổn thức, trong lúc lỡ “ngậm ngùi ngợi than” mà thành cung điệu. Có người nói thơ anh “hiền” quá. Mà không hiền quá sao được, anh vốn đã vậy, vốn là vậy.

Gần bốn mươi năm trước có một nhà thơ nữ mang cái tên rất Huế là Tôn Nữ Hoài My có những bài thơ tình trên báo chí lúc đó khiến nhiều bậc mày râu khá ngẩn ngơ. Một hôm, nhà thơ “hiện nguyên hình” thành một trang “nam tử hán”, chính là Võ Tấn Khanh, chàng thư sinh hiền lành, nho nhã, có nét cười hồn hậu, giọng nói nhẹ nhàng như nước sông Phan Rang những mùa nắng cháy. Phải, chỉ những mùa nắng cháy không thôi, chứ mùa mưa lũ thì dòng sông lại trở nên ầm ào dữ dội, đôi lúc tràn bờ. Và, Tôn Nữ Hoài My dạo đó, Võ Tấn Khanh sau này đã có những bài thơ! Nàng thơ đã “hình hiện” cách nào đó, qua một cô My nào đó, quả thật đã làm cho người ta hoài nhớ khôn nguôi:

Tôi nào biết chim xa rừng nẻo lạ

Và trái hồng chín rụng xuống thiên thu

(Hoài My)

Lứa tuổi chúng tôi ai cũng thấm một câu ca dao từ thuở nhỏ: Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội/ Người xa người tội lắm người ơi! Võ Tấn Khanh không kêu tội lắm người ơi, anh chỉ kêu “rụng xuống thiên thu”. Cái gì rụng? Trái hồng. Thứ trái cấm của mối tình đầu đã lỡ.

Lạ, cái mối tình học trò đó. Khi người ta lớn lên, tưởng đã quên, đã nguôi. Nhưng không. Nó vẫn quẩn quanh, quẩn quýt đâu đó, thấm vào cây lá, vào núi thẳm sông sâu:

Cây nhớ lá đã đôi lần khóc gọi

Đường nhớ chân từng lớp cuội rang sầu

Chim nhớ bạn quẩn quanh từng cánh mỏi

Tôi nhớ người như núi thẳm sông sâu

(Hoài My, khi về lại)

Hình như cái xứ Phan Rang đó, cái xứ mà như người ta thường gọi là “gió như phang” mà “nắng như rang” đó có cái gì rất lạ, như sắc lại, keo lại trong tâm hồn những con người đã sống và lớn lên từ đó. Như những vết gạch khắn vào nhau của những tầng tháp cổ.

Xuống một chút thì biển. Lên một chút thì rừng. Thung lũng với những ngôi tháp ngàn năm phì phò hơi thở nóng, những mái chùa cong vút ôm lấy vầng trăng xưa, những cánh đồng nho nhỏ xanh mượt mạ tươi non và những cánh cò trắng phất phơ lặng lẽ hình như đã nuôi dưỡng những tâm hồn mộc mạc mà sâu lắng, chơn chất mà đắm say. Cây cỏ cứ quắt queo lại, củ hạt cứ quắt queo lại không ngờ nhờ đó mà đậm đặc hơn, nồng thắm hơn, ngọt bùi hơn. Hương tỏi, hương ổi, hương cau… ở Phan Rang đều rất lạ. Và rồi, những rặng nho, tầng tầng lớp lớp làm cho người ta dễ ngậm ngùi “cùng trông lại mà cùng chẳng thấy”…

Khanh viết về quê hương mình, về người mẹ tảo tần của mình thật đằm thắm thiết tha:

Nắng trưa rang cháy vườn cây

… … …

Bước xiêu khập khiễng mô gò

Mắt leo lét chậm nhử, mồ hôi tan

(Đời mẹ)

Tôi thích chữ leo lét.. Mắt leo lét. Như một ngọn đèn khô. Hình ảnh sống động của bà mẹ quê miền gió cát bạt ngàn này. Và tôi cũng thích chữ chậm nhử, chậm ghèn. Ít ai đưa vào thơ những hình ảnh như thế. Nhưng với tôi, có lẽ méo mó nghề nghiệp một chút, nó lại rất thơ, nhất là khi viết về người mẹ. Bước chân xiêu vẹo, khập khiễng, còng lưng, nhấp nhô giữa trưa nắng cháy rang người, mắt leo lét, chậm nhử, để kiếm lấy trái bắp trái cà về nuôi con. Khanh như khắc mà không vẽ.

Cũng vậy, dòng sông Phan Rang hiền hòa, mùa nắng phơi trần những bãi cát cho trẻ con vọc phá, mùa mưa ập xuống những cơn lũ, cuốn phăng những mái nghèo ven sông là những hình ảnh đậm sâu trong thơ anh:

Ôi, Phan Rang đã nuôi ta từ tấm bé

Với dòng sông, bãi cát, con đường

(Khúc ly hương)

Rất thường đó thôi. Chẳng có chút gì là cầu kỳ, là thơ mộng! Vài nét bâng quơ. Nhưng phải là những người đã từng phen vọc cát ở lòng sông những ngày nắng hạ, những người đã từng quen lang thang trên những con đường nhỏ rợp bóng me, với tấm lòng hớn hở thênh thang tuổi xuân thì mới nghe hết được những điều giấu nhẹm bên trong.

Tôi đặc biệt thích bài thơ viết về ngôi trường cũ, “Duy Tân, ngày trở lại” của Khanh:

Mỗi bước run theo mỗi ngập ngừng

Từng viên đá cuội cũng rưng rưng

… … …

Còn ai nữa? Còn ai nữa bên song cửa lớp? Còn ai nữa rộn rã buổi trưa hè? Bởi “bầy chim sáo cũ không về nữa”. Thế nhưng không phải vậy. Bầy chim sáo thì không còn mà hơi hướm thì vẫn còn. Những vật vô tri vẫn luôn có một linh hồn.

Vẫn ghế bàn thơm hơi hướm nhau

Bàn tay vụng dại cánh thơ đầu…

Cũng có lúc nỗi đời trăn trở, vất vả, anh cũng muốn tính toan như bao người:

Cũng muốn như người reo thích chí.

Lọc lừa trăn trở bán lương tri

 

Nhưng rồi:

Nghiêng cốc chưa khô lòng đã cạn

Nghêu ngao lời đục rót canh chầy

Vầng trăng vàng những hồn xưa sáng

Có rủ nhau về vui tối nay?

(Độc ẩm)

Khi biết gần gũi “những hồn xưa sáng” thì khó mà người ta tính toan, đo đếm. “Một đời lận đận đo rồi đếm/ Mỏi gối người đi đứng lại ngồi” (Bùi Giáng).

Tới một cái tuổi nào đó, bỗng nhiên người ta ngộ ra nhiều điều:

Dẫu biết trăm năm là sợi khói

Nhưng lòng ta còn lắm nỗi không đành…

Chính cái “lắm nỗi không đành” đó làm ra thơ Khanh.

Võ Tấn Khanh làm thơ tự nhiên như hơi thở của dòng sông, của cánh đồng, lúc yên ả, lúc ầm ào, cứ tự nhiên tràn ra “như không thôi đi được” vậy. Tôi, người bạn anh gần bốn chục năm qua, một hôm bạn gởi cho tập bản thảo, bảo viết đôi lời. Viết cho bạn mình sao khỏi chủ quan? Thôi thì cứ chủ quan vậy.

Đỗ Hồng Ngọc.

…………………………………………

(Cảm ơn Đèn Biển đã gõ Word từ những trang sách! ĐHN)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

“Sách nói” : CÕI PHẬT ĐÂU XA (về kinh Duy Ma Cật)

06/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Có một cuốn “Sách nói”:

CÕI PHẬT ĐÂU XA

(Đỗ Hồng Ngọc viết về Kinh Duy Ma Cật)

 

Thiệt là ngạc nhiên! Tôi vừa nhận được sáng nay, cuốn sách nói “Cõi Phật Đâu Xa” của Thảo Nhiên Nguyễn Ngọc Trinh, một thành viên trong Gia đình Hoa Sen Đà Lạt gởi tặng. Thảo Nhiên nói đọc xong Cõi Phật Đâu Xa thấy nên chia sẻ với mọi người, nhất là những người cao tuổi, những người đọc chữ in đã khó, coi trên Internet cũng không dễ, muốn mang theo mình không biết tính sao, nên tốt nhất… “nghe” lai rai! Vậy là cô tranh thủ những lúc rỗi rảnh, đọc rồi tự thu vào điện thoại, tạp âm tùm lum… May sao, tình cờ gặp em Hoàng Tuyến, ở tận Thái Nguyên, một lần gặp nhau ở Đà Lạt – là người từng có kinh nghiệm làm PTTH, biết chuyện, đã tình nguyện chỉnh âm giùm và… post lên mạng.

Vậy là bỗng nhiên có một cuốn sách nói “trời ơi” thật dễ thương như vậy.

Lẽ nào không chia sẻ nơi đây?

Đa tạ Thảo Nhiên, đa tạ Hoàng Tuyến.

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 6.8.2018)

TB: Tôi cũng không biết làm sao đưa lên www.dohongngoc.com/web/, đành copy rồi đưa nguyên một cụm như vậy. Cứ tùy nghi nhé. Thân mến.

……………………………………………………………………………………….

Sách Nói: CÕI PHẬT ĐÂU XA

Đỗ Hồng Ngọc (viết về kinh Duy Ma Cật)

Giọng đọc: Thảo Nhiên (2018).

https://youtu.be/Dm3EsQmGsO4 ( PHẦN 1)
https://youtu.be/jVPpzeDFoUw ( PHẦN 2)
https://youtu.be/R5lDemtkHfU (PHẦN 3)
https://youtu.be/7Op075g3dS4 (PHẦN 4)
https://youtu.be/An6h3Oxbkz4 (PHẦN 5)
https://youtu.be/KKdwc4ni8gQ (PHẦN 6)
https://youtu.be/syDMmRaWZMw (PHẦN 7)
https://youtu.be/Vgw8OHariMo (PHẦN 8)
https://youtu.be/VRQQQwvIHWI (PHẦN 9)
https://youtu.be/xeE5xy8X8NA (PHẦN 10)
https://youtu.be/nm_nBVUomVM (PHẦN 11)
https://youtu.be/xuKHM-SHWAs( PHẦN 12)
https://youtu.be/KPX-RMO_jsQ ( ĐÔI DÒNG)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Phật học & Đời sống, Đọc sách

Một Thời Để Nhớ (Quán Văn số 55)

17/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

MỘT THỜI Ý THỨC

Bán nguyệt san Văn học nghệ thuật Ý THỨC (1970-1975)

 Ghi chú: Bài này là một phần bài viết của nhà văn Nguyên Minh, chủ biên Bán nguyệt san Văn học nghệ thuật Ý Thức tại Saigon (1970-1975), đã đăng trên Vanchuongviet.org của Nguyễn Hòa vcv ngày 01 Oct 2010.

Nhân dịp Quán Văn 55 chủ đề Một Thời Để Nhớ ra mắt ngày 20.5.2018, tôi trích đăng lại một vài đoạn dưới đây như một kỷ niệm một thời tuổi trẻ của bạn bè anh em.

Đỗ Hồng Ngọc 

…………………………………………………….

(…)  Năm 1967, tại Phan Rang, khi Ngy Hữu và Nguyên Minh về dạy học tại đó, tập họp bài vở anh em trong nhóm ở xa làm một số Xuân Gió Mai, in roneo, khô 21×30. Đến năm 1969, Gió Mai mở rộng và đổi tên là Ý Thức, hai tháng ra một số báo, in ronéo. Lúc này, nhóm chủ trương có thêm Trần Hữu Lục, Lê Ký Thương, Võ Tấn Khanh, Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc). Tòa soạn : Theo chân người viết. (Thực ra là 11 Nguyễn Thái Học. Phan Rang).

Báo ra được 6 số thì dọn vào Sài Gòn, ra chính thức Bán nguyệt san văn học nghệ thuật, in Typô rồi đến Offset, phát hành rộng rãi toàn quốc. Tòa soạn đặt tại 666 Phan Thanh Giản, Sài Gòn. Chủ nhiệm trên pháp lý là Dược Sĩ Nguyễn thị Yến, một người bạn của Nguyên Minh, không biết gì về văn chương, trên thực tế là Nguyên Minh với chức danh trên giấy phép do Bộ Thông Tin cấp là Tổng Thư Ký. Tại tòa soạn, những số báo đầu tiên có Thái Ngọc San, Nguyễn Mai phụ tá, sau đó có Võ Tấn Khanh, Lê Ký Thương vào giúp sức với Nguyên Minh. Báo ra 24 số thì tạm đình bản. Đầu năm 1975, Ý Thức ra bộ mới do Lữ Kiều chủ biên. Báo vừa in xong số 2 tháng 3 năm 1975 xảy ra, chưa kịp phát hành.

Lữ Kiều, Lê Ký Thương,(…)Trần Hữu Lục, Phạm Văn Hạng, Nguyên Minh (giữa), Đỗ Hồng Ngọc,Trần Duy Phiên, Hồ Thanh Ngạn  tại nhà Lữ Kiều

Kể từ Ý Thức thời quay ronéo đã có thường xuyên các truyện ngắn, thơ của Tần Hoài Dạ Vũ, Mường Mán, Đông Trình, Doản Dân, Nguyễn Kim Phượng, Hồ Minh Dũng, Từ Hoài Tấn, Luân Hoán, Chu Trầm Nguyên Minh, Thế Vũ, Nguyễn Lệ Tuân, Thái Ngọc San…

Ý Thức thời in Typô và offset có thêm Trần Nhựt Tân, Huỳnh Hữu Ủy, Nguyễn Ước, Huỳnh Ngọc Sơn, Bảo Cự, Trần Duy Phiên, Nguyễn Lệ Uyên, Mang Viên Long, Bùi Giáng, Huy Tưởng, Từ Kế Tường, Nguyễn Tôn Nhan, Lê Văn Thiện, Phạm Ngọc Lư, Phan Việt Thủy, Trịnh Công Sơn, Kinh Dương Vương, Nguyễn Xuân Thiệp, Huỳnh Phan Anh, Cao Hữu Huấn, Phan Tấn Uẩn, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Phan Thịnh…

Hình Thức: Chữ Ý Thức thời ronéo do Lê Ký Thương kẻ. Khổ báo là 21×30. Đánh máy trên stencil là Chị Hồ Thị Kim Phương, một người bạn gái của Nguyên Minh, rất sính văn chương, tẳn mẳn đếm từng chữ để canh hai bên lề ngay ngắn, không khác gì sắp chữ chì in typô.

Khi Ý Thức chính thức có giấy phép của Bộ Thông tin, khổ báo được đổi thành 14x2O. Số 1 bìa do Lê Ký Thương trình bày. Số 2 do Đỗ Quang Em. Số 3 do Vị Ý. Số 4 đến số 7 trở lại Lê Ký Thương. Số 8 tranh bìa Hoàng Ngọc Biên.

Bắt đầu số 9, Ý Thức lại thay đổi khổ báo, hình vuông 19×19. Bìa và ruột do Nguyễn Bom trình bày, rất mới lạ. Số 12, tranh bìa của Bửu Chỉ: Quê hương ta ngày trùng tu. Số 18, tranh bìa của Hồ Đắc Ngọc. Số 21 Ý Thức chuyển qua in offset. Lê Ký Thương trình bày và kỹ thuật in do Nguyên Minh chăm nom.

Khai trương nhà xuất bản Ý Thức thời ronéo là tập truyện Nỗi bơ vơ của bày ngựa hoang của Trần Hoài Thư.

Khi cơ sở Ý Thức dời về Sàigòn, tập truyện Cát Vàng của Lữ Quỳnh được xuất bản, bìa in offset do Nguyễn Trung trình bày, phát hành rộng rãi trên toàn quốc. Tuần tự, cũng mang tên Ý Thức, đã xuất bản: Những vì sao vĩnh biệt, tập truyện thứ hai của Trần Hoài Thư. Sau đó là Sông Sương Mù , tập truyện thứ hai của Lữ Quỳnh, Bìa của Hoàng Ngọc Biên. Sách được in tại nhà in Thanh Bình.

In tại nhà in riêng offset đặt tại Phan Rang: Bếp lửa còn thơm mùi bả mía, tập thơ của Lê Ký Thương, Thơ Đỗ Nghê (một bút hiệu khác của Đỗ Hồng Ngọc), Kẻ phá cầu, tập kịch của Lữ Kiều

Ý Thức, tủ sách Hoa Niên, dành cho thiếu niên, đã xuất bản: Đám tang đa đa, truyện dài của Nguyên Minh. Mưa qua thành phố, tập truyện của Nàng Lai (một bút hiệu khác của Lữ Kiều). Em bé bất hạnh, Anh hùng tí hon, của Trần Quang Huề. Tranh bìa bốn cuốn sách trên của họa sĩ Nguyễn Trung. Chim bay về đâu, truyện dài dành cho lứa tuổi 16, của Võ Tấn Khanh. Sách dịch có Cậu bé gỗ của Châu Lang (một bút hiệu khác của Châu văn Thuận), Trên ngọn hải đăng của Lê Ký Thương…

Mang tên nhà xuất bản Tiếng Việt, có Ngọn cỏ ngậm ngùi, tập truyện thứ ba của Trần Hoài Thư, Sông sương mù, tập truyện của Nguyễn Mai. Sách dịch có Mười hai năm bên cạnh Hitler của Nguyên Thạnh (bút hiệu của Nguyễn Mậu Hưng).

Theo Nguyên Minh (Vanchuongviet.org Oct 1.2010)

 

Nguyên Minh, Đỗ Nghê, Đinh Cường, Lữ Kiều, Chu Trầm Nguyên Minh, Elena Trương, Lữ Quỳnh, tại chuồng Bồ câu Quán Văn (2011)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Nguyễn thị khánh minh: Đọc ”Thơ Ngắn Đỗ Nghê”

16/11/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nguyễn thị khánh minh: Đọc ”Thơ Ngắn Đỗ Nghê” (bản thảo, 2017)

CON ĐƯỜNG DÀI QUA NHỮNG BÀI THƠ NGẮN CỦA ĐỖ NGHÊ

 

 

Trong những điện thư gửi cho bạn hữu anh em, Nhà Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc) thường cho đọc những bài thơ ngắn mà anh thường gọi là “thơ trời ơi.” Trời ơi là chuyện không đâu. Trời ơi là tiếng kêu ngạc nhiên. Trời ơi để diễn tả sau đó một vui mừng, một âu yếm. Trời ơi là tiếng than trong cơn bi sầu. Trời ơi đôi khi lại là bótay.com. Mà vì sao lại thốt lên như thế? Vì cảnh đời tang thương ngẫu lục. Vì sáng trưa chiều tối vút qua thoắt cái tất cả đều biến dịch trong từng khoảnh khắc. Trời ơi, Mới Hôm Qua Thôi…

Đến và đi là chuyện thường, biết những thay đổi kia là đương nhiên, thế nên, như hành giả đi ngao du trong đất trời thưởng thức phút giây đang đến rồi đi không vướng bận, sảng khoái đón nhận tất cả như chuyện trời ơi mà nhắn nhe chia sẻ với bạn đồng hành.

Đó là một thái độ sống nhẹ thường với cuộc phù du. Cho nên những bài thơ ngắn này là những trân trọng bật sáng ngay phút giây lúc đang là. Như Thiền sư Chadgud nói, “Thể xác, lời nói, ý nghĩ của chúng ta biến dịch nhanh như thời gian mũi kim xuyên qua cánh hoa hồng.”* Trong tích tắc ấy, Nhà Thơ đã cảm nhận cái trùng phùng của nghìn năm và phút giây, xẹt qua cảm xúc tức thì, lóe lên trong từng nhích kim xuyên qua thời gian lá mỏng.

Tôi cảm nhận như thế vì tính nhanh và chậm cùng cư ngụ trong mỗi bài thơ của Đỗ Nghê (ĐN). Cảm xúc như một đường tơ nối nghìn dặm không gian, thời gian vào lúc con chữ tượng nên lời thơ.

 

Giữa đêm

Thức giấc

Giữa ngày…

 

Boston, 1993

(Trái Đất, tr. 7)

 

Tôi thấy cả một nỗi trăn trở trên ba dấu chấm kia… Lăn về phía đêm hay ngày… lăn qua trở lại bỗng thấy phương em mặt trời đang chiếu sáng, trời ơi quê nhà! Thử hỏi nỗi nhớ xuyên qua đêm và ngày để thấy đây và kia gần quá trong một thức giấc?

 

Tiếng quạ vừa nhấn chiều thu, phản xạ là giật mình bật ra ánh chớp nỗi xa nhà, kêu, nhớ quá, kêu nhanh như vừa thả dây cung. Cái rơi xuống của mũi tên nhớ là một nỗi im lặng dài. Mà âm ba cảm xúc ngân ngân… Tôi không nhớ một nhà phê bình văn học đã nói, đó là “tính Trì Cữu và Trực Tốc ở một bài thơ,” tôi rất thích ý lời này, và thấy thật đúng trong không khí thơ ngắn Đỗ Nghê.

 

Chiều thu

Nghe tiếng quạ

 

Giật mình

Nỗi xa nhà

 

Nhớ sao

Mà nhớ

 

Quá!

 

Boston 1993

(Thu, tr. 74)

 

Khởi đi từ cánh hoa vàng phố thị, người chỉ thấy nhà cao, đi khơi khơi qua những con đường rồi lọt vào cơn gió bấc nhà quê, vỡ trái tim xanh nỗi nhớ nhà, thử hỏi thời gian giữa cánh hoa vàng và cơn gió bấc?

 

Đi giữa Sài Gòn

Phố nhà cao ngất

Hoa nở rực vàng

Mà không thấy Tết

 

Một sáng về quê

Chợt nghe gió bấc

Ơ hay xuân về

Vỡ òa ngực biếc!

 

(Gió Bấc, tr. 67)

 

Trong một tức thì nhìn thôi, mà mùa đang ở đang qua, mà xong bao đời lá, nhờ biết lẽ thay đổi mà người sống rất trọn vẹn từng chớp mi, vậy không phải sao, người sống được miên viễn trong khoảnh khắc?

 

Còn cây

trơ lại với cành

Với linh hồn lá

ngập ngừng trút qua…

 

Boston, 1993

(Đông Boston, tr. 72)

 

Cũng vậy ở bài thơ sau, tính nhanh chậm xô thời gian chập chùng trên cảm xúc chợt đến, ai ngàn năm xa kia bỗng trở thành một làn thơm tho. Trong cột gỗ vô tri bỗng nghe hồn Đường Thi ngân nga trên nét khắc nghìn xưa. Chắc là phút giây thinh lặng lắm nên đôi bên có sức thần thông giao cảm nhau?

 

Dưới những tàng cây

Con đường quanh co

Khúc khuỷu

 

Ai đã qua đây

Ngàn năm cũ

Mà hơi thở còn thơm tho vậy

 

Ta sờ tay vào cột gỗ

Nghe thì thầm

Đẽo gọt

Nét Đường thi.

 

1995

(Văn Miếu, tr. 77)

 

Thời gian ở đây quả là một con đường bất tận của không điểm bắt đầu không nơi kết thúc, mang mang tự hỏi quê nhà ấy là đâu, là nơi chôn nhau cắt rốn hay là nơi mà sinh tử chạm nhau để kết thúc và bắt đầu. Cũng như một vòng biến hóa của hạt nước kia,

 

Lâu không về thăm quê

Những người xưa biền biệt

Lũ trẻ lớn lên

Ngơ ngác

“ Ủa, chú là ai?

Làm sao chú biết…?”

 

(Về Thăm Quê, tr. 52)

 

 

Nước từ đâu đến

Nước trôi về đâu

Từ con suối nhỏ

Từ dòng sông sâu

Từ khe núi lở

Từ dưới nhịp cầu

Từ cơn thác lũ

Từ giọt mưa rơi

 

Nước đến từ đâu

Nước trôi về đâu

Từ cơn gió thoảng

Từ làn mây trôi

Từ hơi biển mặn

Từ phía mặt trời

 

Nước vẫn muôn đời

Không đi chẳng đến

Ai người nỡ hỏi

Nước đến từ đâu

Ai người nỡ hỏi

Nước trôi về đâu…

 

Paris, 1997

(Nước, tr. 9)

 

 

Ta bay vù vù trong không gian

Mà cứ tưởng nằm im

Trên gối

 

Mỗi ngày ta rơi rụng

Mỗi ngày ta phục sinh

Mà cứ tưởng không hề thay đổi…

 

(Vô Thường, tr. 49)

 

Có rơi rụng mới có đâm chồi, có ngày qua đi mới có ngày nay, như hạt nước kia, dòng sông kia luôn chảy và biến hóa phát sinh ra cái khác, có phải người thơ đã nhận biết và chấp nhận nhẹ nhàng những đổi thay, sinh hoại diệt, nên có được an nhiên tự tại, không còn đinh ninh vào ý nghĩ lẫn sự vật?

 

Sông ơi cứ chảy

Cứ chảy về trời

Cứ về biển khơi

Cứ làm suối ngọt

Cứ làm thác cao

Cứ đổ ầm ào

Cứ làm gió nổi

Cứ làm mây trôi…

 

Sông ơi cứ chảy

Chảy khắp châu thân

Chảy tràn ra mắt

Chảy vùi bên tai

 

Dòng sông không tắt

Dòng sông chảy hoài…

 

(Giỗ một dòng sông, tr. 28)

 

Có chút man mác nguyện cầu trong tình ý bài thơ này ở những “cứ, hoài…”

 

 

Ở Hội An Sớm, thấy rõ sự thay đổi nối tiếp nhau theo thời gian trong một vài bước, bước vừa chạm xuống bước cất lên, trăng đã tàn, Hội An, Ta và Gà cùng giật mình vì tiếng chổi sớm, ba câu đầu đều động, nhưng tiếng “gà gáy vàng trong sương” lại u tĩnh vậy…

 

Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương

 

(Hội An Sớm, tr. 38)

 

Đâu có gì thường còn, sự vật cùng ý nghĩ ta cứ quay như kính vạn hoa, vậy nên

nhắn bạn đồng hành hãy yêu thương nhau ngay lúc này, tại đây, cái sắc màu vừa hiện,

 

Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang

Ập vào Mũi Né

Anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng

Vút qua những ngọn dừa

Những đồi cát trắng

 

Em nhớ mang theo đôi quả trứng

Vài nắm cơm

Vài hạt giống

Đừng quên mấy trái ớt xanh…

 

Biết đâu mai này

Ta làm An Tiêm

Trở về làng cũ

Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang

Nơi kia gọi là Mũi Né…

 

Cho nên

Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?…

 

2011

(Giả Sử, tr. 21)

 

Trong tập những bài thơ ngắn này, tôi xúc động nhất là bài về Mẹ và những bài về đứa con gái yểu mệnh La Ngà, đọc lên là thấy tim mình phản xạ để đập đồng hành với cảm xúc của người thơ,

 

Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…

 

2012

(Bông Hồng Cho Mẹ, tr.12)

 

Đâu còn khái niệm sinh tử mất còn, rờ rỡ từng bước hiện thực trong phút giây giao cảm nhất của con và Mẹ, lạ thay phút chia ly lại hoan hỷ đến thế…

 

Mỗi năm

Mỗi người

Thêm một tuổi

Chỉ mình con

Mãi mãi

Tuổi đôi mươi…

 

1990

(La Ngà 3, tr. 26)

                   

 

Ba dạy con

Mỗi ngày

Một chút

 

Không bài học nào

Như ba đã học

Từ con

 

Nỗi mất!

 

1990

(La Ngà 5, tr. 27)

 

Thử đặt mình vào khoảng thời gian con mãi mãi đôi mươi và cha mỗi ngày một thêm tuổi, thì mới thấm thía cảm động nỗi mất con để lại cho cha, và từ đây cha lại học thêm được cách vượt qua phiền não.

Từ đó mà tôi hiểu nghĩa lý bài thơ: Đừng nói điều hạnh phúc / Chẳng ai tin đâu / Hãy nhắc điều bất hạnh / Ai nấy đều vui… (Niềm Tin, tr .54)). Nhắc có nghĩa là chia sẻ, là thương và hiểu, nhắc để cùng nhau tìm cách vượt qua nỗi đau, và vui vì hiểu ra lẽ vô thường.

Việc cùng-tìm cách vượt qua mọi phiền não nghiệp chướng là nguyện của người đang tu tập?

 

Tham chẳng còn

Sân cũng hết

Si đã tuyệt

 

Niết Bàn

Tịch diệt

Để làm chi?

 

(Ngộ, tr. 51)

 

Khi đoạn diệt được Tham Sân Si thì người hẳn sẽ đạt được thân tâm thanh tịnh. Nhưng người tu kia lại tự hỏi Để làm chi, hưởng một mình sao? Khi tôi hỏi, Nhà Thơ bảo, “Niết Bàn này chỉ là ‘hóa thành’ như trong kinh Pháp Hoa nói, còn phải tiến thêm: Phát tâm Bồ Đề để tiếp tục hành Bồ Tát đạo với lòng Từ Bi và Trí Huệ, không chỉ Tự Lợi mà còn Lợi Tha”. (A.Tôi thấy thích thú khi đã viết từ bài Niềm Tin trên, tôi vô tình chạm khẽ vào Tự Lợi Lợi Tha này).

Trong một bài giảng của Thầy Thích Quảng Lục chùa Hội Phước cũng nói, “Có nhiều hành giả đắm chìm trong cảnh giới an lạc tịch tĩnh mà quên mất chí nguyện chia sẻ cho người khác nên đạo hạnh của họ cũng dừng lại ở mức tương đối, vì chỉ có tâm mở rộng đến tha nhân thì trí tuệ mới trải rộng khắp…”** Ra Để làm chi là một nhắc nhở về một chặng đường tiếp nối của đạo hạnh.

 

Con đường rất dài… và phải chăng phải tu tập hằng ngày để mình được vững vàng và theo khả năng đó mà chia sẻ nhắc nhở người khác? Như người thơ đã và đang theo đuổi hằng ngày qua những bài thơ bài viết của mình?

Thiền. Tôi rất thích một thiền đường có lần tôi đến đứng nhìn vào qua ô cửa sổ. Ở đó, thời gian không gian và ý tưởng gặp nhau ở nhịp nhàng hơi thở. Cái không khí lắng trong ấy như tỏa ra bao phủ và thấm vào người tôi. Tôi thích một góc nhỏ trong nhà nơi tôi tập thiền để chữa bịnh, người bạn bảo, cứ tập trung vào hơi thở, nhưng, bao nhiêu thứ trong đầu cứ lăng xăng, tôi thầm nguyện, bước đầu rồi sẽ vượt qua, vượt thêm để đạt được chánh niệm tự thân, vượt nữa… “Hãy nhắm mắt lại, và nghĩ đến niệm lành cho chính bạn, nếu bạn không thể cảm thấy một khát vọng chân thực cho hạnh phúc riêng của bạn- sẽ không có cách nào bạn có thể chân thực ước muốn cho kẻ khác có hạnh phúc.” (Đại SưThanissaro Bhikkhu)***

 

Thả lỏng toàn thân

Như treo móc áo

Ngồi xếp bằng tròn

Vai ngang lưng sổ

Dõi theo hơi thở

Như mượn từ xa

Khi vào khi ra

Khi sâu khi cạn

Chú tâm quãng lặng

Pranasati

Hơi thở xẹp xì

Thân tâm an tịnh

Không còn ý tưởng

Chẳng có thời gian

Hạt bụi lang thang

Dính vào hơi thở

Duyên sinh vô ngã

Ngũ uẩn giai không

Từ đó thong dong

Thõng tay vào chợ…

 

(Vè Thiền Tập, tr. 96)

 

Lại nghe nói, tu ở chợ mới thật là công đức viên mãn, vì tới đây hành giả đã thực sự “tâm bồ đề kiên cố” thõng tay vào chợ để Lợi Tha…

 

Nguyễn thị khánh minh

Santa Ana

11.2017

* Theo Phật Giáo Thực Hành Pháp Đại Hoàn Thiện

**chuahoiphuoc.net

*** https://thuvienhoasen.org/p22a24158/huong-dan-thien-tap

 

Những bài thơ trích từ tâp Bản Thảo 2017 THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ (ĐỖ HỒNG NGỌC) với sự trình bày của Họa Sĩ Lê Ký Thương

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

“Một cốt cách ở đời”: Võ Phiến

29/09/2016 By admin 2 Bình luận

“Một cốt cách ở đời” (*)

Đỗ Hồng Ngọc

(Vài cảm nghĩ khi đọc Cuối Cùng của Võ Phiến, NXB Thế kỷ 21, 2009)

vo-phienCuối Cùng của Võ Phiến là sự Mộc Mạc.

Suốt một đời người đeo đẳng văn chương chữ nghĩa, chẽ sợi tóc làm tư, lặn lội vào những nẻo u uẩn ngóc ngách của lòng người, bỗng dưng cuối cùng hiện ra trước mắt một vầng sáng: Mộc Mạc.

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Đọc sách

Đọc Đỗ Hồng Ngọc: MỘT HÔM GẶP LẠI

17/04/2016 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Đọc Tùy Bút Đỗ Hồng Ngọc

MỘT HÔM GẶP LẠI

Trần Vấn Lệ

 

Đỗ Hồng Ngọc là một Bác Sĩ Y Khoa nhưng cũng là một nhà thơ, nhà văn có tiếng trên văn đàn Việt Nam thời cận đại và nay, thời hiện đại.  Trước, thế kỷ trước, thế kỷ hai mươi, ông làm thơ và ký bút hiệu là Đỗ Nghê, kết hợp nội ngoại sinh thành ra ông, Đỗ là họ thân sinh và Nghê là họ của thân mẫu.  Với Mẹ, với Cha, với  ông bà Tiên Tổ ông luôn luôn nhớ ơn, nhớ công, thì với đối tượng nghề nghiệp, y khoa bác sĩ, các bé mới ra đời, các sản phụ, ông không quên.  Đất nước ông, xã hội ông và thân chủ của ông, và bạn bè bằng hữu của ông, ông không quên ai.  Đặc biệt, đâu đó, trong một hay nhiều lần, chúng ta nghe ông nói về lòng biết ơn của ông đối với học giả Nguyễn Hiến Lê, ông coi như người Thầy, người chỉ đường cho ông vào cuộc đời với hành trang là tinh thần xây dựng, cầu tiến và với trái tim đầy tình người.  Nay, thế kỷ này, ông ký tên thật của mình là Đỗ Hồng Ngọc.  Bạn bè ông quen biết ông xưa nay đều một nhận xét:  Đỗ Hồng Ngọc là một người dễ thương, hòa nhã, thuận thảo và luôn luôn trẻ trung dù bây giờ ông đang ở tuổi khá cao…

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

PNB: Đôi nét về cuốn CÕI PHẬT ĐÂU XA

19/03/2016 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Cõi Phật đâu xa

Cõi Phật đâu xa (Thấp thoáng lời kinh Duy-ma-cật) không hẳn là tác phẩm bàn luận về kinh Duy-ma-cật sở thuyết, mà nói đúng hơn là mượn kinh Duy-ma-cật sở thuyết để bày tỏ những suy tư, trăn trở của một người thầy thuốc, một công dân đối với đời sống xã hội hôm nay – mà sự náo nhiệt, phồn hoa, ô trược đã chẳng khác gì thành Tỳ-da-ly năm ấy.

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Đọc sách

Trần Vấn Lệ với DÃ QUỲ THƯƠNG NHỚ !

24/12/2015 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Trần Vấn Lệ với DÃ QUỲ THƯƠNG NHỚ !

Kiều Minh Mạnh

 

DC Dran 2Ảnh: Nguyễn Hữu Độ

 

Ai cũng biết đến những loài hoa dại: trinh nữ, sim tím qua thi ca nhạc họa. Rồi không biết từ lúc nào, loài hoa quỳ vàng hoang dại trên cao nguyên Lâm Viên đã nở rộ từ nỗi nhớ của những đứa con xa quê, trở thành “sứ giả của mùa đông cao nguyên” và đi vào thơ. Loài hoa dại mang tên hoa quỳ, rồi đã từ lâu lắm nó được gọi cúc quỳ- có lẽ vì nhìn nó rất giống với loài hoa cúc mà người Đà Lạt thường trồng. Gần đây có ai đó đã gọi Dã quỳ: loài hoa quỳ hoang dại?  “Cúc quỳ”- nghe gần gũi thân thương! “Dã quỳ”, nghe có quý phái hơn không? Nhưng dù người đời có tô son dặm phấn, thì loài hoa này vẫn chỉ đẹp nơi sơn dã, làm ấm lại những nẻo đường  cao nguyên trong mùa gió heo may. Những người dân sống ở cao nguyên vẫn nhìn nó giản dị như vốn vậy: một buổi sáng trở lạnh nhìn thấy những vạt nắng  hoang hoải suốt những nẻo đường, trên những vạt đồi, người lớn chép môi: “Hoa quỳ nở, hết mưa, lập đông rồi đó!  Vậy đó, chẳng kiêu sa đài các, loài hoa âm thầm khoe sắc vàng báo buổi lập đông, rồi nhanh chóng phai tàn như một chiều tắt nắng, để nhường cho màu hồng rực của hoa anh đào khắp nẻo báo hiệu xuân sang!

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Đọc sách

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Interim pages omitted …
  • Trang 7
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email