Có một chàng thi sĩ một hôm vì lẽ gì đó bỏ đi làm thầy thuốc. Mười năm… hai mươi năm… anh cặm cụi chăm sóc, chữa lành, làm dịu nỗi đau của trẻ thơ; anh buồn vui cùng nỗi buồn vui của những người làm cha mẹ.
Đời sống trôi đi trong bận rộn thường ngày. Nhưng những hoàng hôn tím biếc ngày xưa vẫn còn loang mãi trong sâu thẳm riêng mình. Những sân ga ngày xưa vẫn còn nguyên vẹn bóng hai người không đi cùng chuyến tàu hạnh phúc. Sợi tóc ngày xưa vẫn thương hoài ngàn năm trong ký ức. Không có ai ngoài chính mình, người thầy thuốc ấy lại tự an ủi, tự băng bó bằng tiếng thì thầm của chàng thi sĩ buồn bã. Thơ – thứ không cần thiết cho người này nhưng cần thiết cho người khác.
Trời ạ! Cuộc cãi nhau này làm sao cho cùng? Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói không, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nói có, nói chớm.
Thực ra thì cách đây mấy ngàn năm, thế giới đã phẳng rồi. Trời tròn đất vuông. Bánh chưng bánh dày. Trung Quốc là nước nằm ở… chính giữa thế giới phẳng đó, là thiên triều, xung quanh là man di, mọi rợ, phải triều cống và phải được khai hóa… Cho nên hết Tiết Nhơn Quý chinh Đông lại đến Tiết Đinh San chinh Tây rồi La Thông tảo Bắc.. Cũng có những lúc Mông Cổ, Mãn Châu… đánh chiếm trung nguyên, lập ra nhà Nguyên nhà Thanh nhưng rồi chẳng bao lâu sau họ đều tự biến thành người Trung quốc. May thay, nước ta dù bị Bắc thụôc cả ngàn năm vẫn không bị đồng hóa có lẽ nhờ có một nền văn hóa có sức đề kháng lạ lùng!
BS.Đỗ Hồng Ngọc là cây bút quen thuộc trong ngành y. Nhiều cuốn sách phổ cập y học của ông thuộc hàng best seller, liên tục tái bản cả chục lần. Nhiều cuốn sách của ông không còn đơn thuần là sách phổ biến kiến thức y học, mà trở thành tác phẩm văn học với các thể tài tùy bút, tản văn. Văn ông vừa giản dị, trong sáng, chuyển tải được tri thức khoa học của một người làm công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, vừa giàu chất suy tưởng chiêm nghiệm, thấm đẫm tinh thần đạo học phương Đông, nhất là Phật giáo.
Lần nào đọc Cao Huy Thuần tôi cũng có một cảm giác sảng khoái. Có lúc giật mình. Có lúc tủm tỉm cười. Anh có kiểu viết vừa bác học lại vừa bình dân, vừa giáo sư đại học vừa thầy giáo làng, vừa là nhà luật học vừa là một người “hành thâm Bát nhã”. Cái gì tôi cảm thấy lờ mờ thì hình như được anh “zoom” lại cho, giải thích có ngành có ngọn. Văn anh thâm trầm, kín đáo, mà không thiếu dí dỏm, hài hước. “Nói chung” là nhẹ nhàng, dễ đọc, dù đề cập một vấn đề không dễ như cuốn Tôn Giáo & Xã Hội Hiện Đại, một cuốn sách mới của anh luận về sự biến chuyển lòng tin ở phương Tây trong bối cảnh “cực hiện đại”, “siêu hiện đại”, do Thuận Hoá vừa mới xuất bản.
Hơn 40 năm trước, một chú nhóc vào tuổi 15, thất học, phụ mẹ bán hàng xén tại một thị trấn nhỏ xa thành phố, một hôm, trong dịp đi Sài gòn bổ hàng cho mẹ đã tình cờ mua được một cuốn sách “xôn” trên vỉa hè, đó là cuốn Kim chỉ nam cho học sinh, tác giả Nguyễn Hiến Lê. Cuốn sách nhỏ đó làm thay đổi đời chú. Chú thực hành theo hướng dẫn của sách, lập chương trình học ôn, “học nhảy” để đuổi kịp bạn bè mà do hoàn cảnh mà chú phải bỏ học nhiều năm. Về sau, khi trở thành một bác sĩ, và cũng là người học trò gần gũi với tác giả, chú đã viết một cuốn sách “bổ sung” cho Kim chỉ nam của học sinh, đó là cuốn “Những bệnh tật thông thường trong lứa tuổi học trò” (1972) do chính Nguyễn Hiến Lê đề tựa. Chú nhóc đó – nói ra hơi mắc cở một chút – chính là tôi, đang cần trong tay cuốn Kim chỉ nam của học sinh vừa tái bản sau gần nữa thế kỷ (in lần đầu năm 1951) mà không khỏi có chút bùi ngùi, cái cảm xúc có lẽ gần giống như Anatole France ngồi ở vườn Luxemboug nhìn những chú nhỏ tung tăng trong buổi tựu trường với cập vở trên vai mà thấy lại hình ảnh chính mình ngày xưa.
“…Trước giờ mình là một đứa vô thần. Hồi còn bé, mình không thích Phật giáo, không hiểu lý do vì răng. Nếu không kể những gì được học ở trường Đại học thì cuốn Nghĩ từ trái tim của Đỗ Hồng Ngọc là cuốn đầu tiên về Phật giáo mình đọc được. Lúc đầu mình không biết là ông viết về Tâm kinh Bát Nhã, tìm đọc chỉ vì thích Đỗ Hồng Ngọc.Đây là cuốn mình đọc đi đọc lại nhiều nhất, tới bảy tám lần. Cũng là cuốn mình mua nhiều nhất, mua cho và mua tặng, cũng khoảng bảy tám lần.
Cao Sơn Lưu Thủy Ngộ Tri Âm là tập Tản mạn của Trần Đình Sơn, một người khá quen thụôc trong giới sưu tầm cổ vật, say mê cổ ngọan, yêu thích thơ văn Hán Nôm trên gốm sứ cổ Việt Nam. Ông tâm sự: “Thỉnh thỏang gặp giữa chợ đời một vài vật phẩm đối với người khác không đáng dùng cho mèo ăn, nhưng tôi thì chết mê chết mệt!” Vì sao? “Chỉ vì trên đó còn lưu lại một chút tâm sự của người xưa…” Cũng tại cái chết mê chết mệt đó mà ông còn lắm nỗi… gian truân! Phú Xuân là một quán ăn Huế nổi tiếng ở Đakao Tp.HCM, mà chủ nhân của nó chính là Hòang Anh, chuyên gia ẩm thực, phu nhân của Trần Đình Sơn. Cho nên ngoài những giờ “chết mê” ngoài đường, Trần Đình Sơn về “trụ trì” cái quán của mình cũng đủ… “chết mệt”!
Hạnh ngộ, đó là cuộc “trùng phùng “ giữa hai con người xa lạ! Người này ở trong người kia. Cả hai đều không biết mình từ đâu đến và dĩ nhiên cũng chẳng biết mình sẽ đi về đâu… Nhưng họ ở trong nhau. Họ gặp nhau ngỡ ngàng, xa lạ, đầy “kịch tính”! (chữ của Việt Linh). Đó là hai… mẹ con! Mẹ, một người đàn bà… rất đàn bà và con, một cái trứng nước còn trứng nước. Họ chăm bẳm quan sát nhau, ngọ ngọay, hú hí, nâng niu, đấu đá và nhường nhịn nhau… Họ nôn nóng gặp mặt nhau, mỏi mòn chờ đợi nhau. Họ tương tác, tương sinh, tương khắc … với nhau bất kể ngày đêm. Cuối cùng họ cũng đựơc toại nguyện sau một hành trình cam go gọi là mang nặng đẻ đau, để hai kẻ xa lạ ngỡ ngàng kia đựơc nhìn thấy nhau sau chín tháng mười ngày đợi chờ đầy “thiêng liêng, lãng mạn, hài hước và tò mò” để cuối cùng người mẹ đựơc “gặp một công trình kỳ vĩ- một con người- mà mình được vinh hạnh tham gia cùng tạo hóa”– (Hạnh ngộ, Chuyện mình chuyên người, Tạp bút, NXB Trẻ 2008). Trong cuộc hạnh ngộ kỳ diệu này, Việt Linh đạo diễn có lẽ đã choáng ngợp với một đạo diễn khác, kẻ giấu mặt, có vẻ hững hờ mà sắp đặt đâu đó cả rồi, đâu như “từ muôn kiếp trứơc” rồi, và người mẹ chỉ kịp nhận ra một “ trạng thái bồng bềnh”, bay bỗng, ngất ngây… Họ ngỡ ngàng nhìn nhau, ngơ ngác nhìn nhau. Người mẹ chưa biết làm mẹ. Người con chưa biết làm con. Thế nhưng lạ lùng thay, họ bấu víu lấy nhau, chùn chụt với nhau. Và rồi trong phút giây người mẹ chợt nhận ra đứa con là máu thịt của mình, là sở hữu của mình. Có lẽ từ đó cũng chính là những nỗi niềm đằng đẵng của một kiếp nhân sinh!
Nhắc Nguyễn Tường Bách người ta dễ nhớ ngay đến những tác phẩm biên dịch đặc sắc của anh từ Govinda, Krishnamurti, Herrigel, Capra… mà dễ quên đi một Nguyễn Tường Bách của tuỳ bút, của ký sự rất sâu lắng, rất hàm súc. Đọc anh, nhiều khi thấy nao nao. Có khi là một nỗi ngậm ngùi. Có khi là một niềm tiếc nhớ.
Hơn bốn mươi năm cầm bút, chàng “nho sinh” kia vẫn chỉ có mỗi một việc để làm , miệt mài, không mệt mỏi, ấy là thử bút. Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà ngập ngùng, rồi thè lưỡi liếm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắc lại như gom nội lực vào nhất điểm; rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhúng bút sâu vào nghiêng mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán, rút nhanh ra rồi chắt vào thành nghiên, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim, phóng bút…Chàng “nho sinh” mỉm cười khoái trá, trút đi gánh nặng ngàn cân, kiệt sức, nhanh tay nhúng bút vào lọ nước trong… Những giọt mực thừa rơi lả tả…
Với tôi, Phan Thiết không chỉ dễ thương với Mũi Né, Tà Dôn, Tà Cú…mà còn đặc biệt dễ thương với ba nhà thơ bạn mình, đó là Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn và Nguyễn Như Mây.