Nhắc Nguyễn Tường Bách người ta dễ nhớ ngay đến những tác phẩm biên dịch đặc sắc của anh từ Govinda, Krishnamurti, Herrigel, Capra… mà dễ quên đi một Nguyễn Tường Bách của tuỳ bút, của ký sự rất sâu lắng, rất hàm súc. Đọc anh, nhiều khi thấy nao nao. Có khi là một nỗi ngậm ngùi. Có khi là một niềm tiếc nhớ.
Mộng đời bất tuyệt là tác phẩm mới nhất của Nguyễn Tường Bách sau Mùi trầm hương , Lưới trời ai dệt… có cái tựa nghe chút gì xưa cũ, như những thành quách rêu phong của một Huế xưa, quê hương anh, nơi “dòng người bất tận” vẫn từ thế hệ này sang thế hệ khác đi về ngôi “chùa nhà” nho nhỏ của mình, nơi vị sư già nối tiếp những vị sư già có có không không.
Thoáng đó, anh dẫn ta về chân núi Linh Thứu, nơi cũng những dòng người bất tận tìm về chốn nương náu tâm linh trong thời đại mà Krishnamurti cũng phải kêu lên “Cuộc đời vốn chỉ là tranh chấp, mâu thuẩn, bất an, phiền muộn, thỉnh thoảng có chút niềm vui…”, để rồi Hermann Hesse khẳng định “Dù bị đau đớn quằn quại/ Ta vẫn yêu thương trần gian điên dại này”( Mộng đời bất tuyệt ). Làm nhớ Trịnh Công Sơn “Dù đến rồi đi, tôi cũng xin tạ ơn đời, tạ ơn người, tạ ơn em…”.
Đọc Nguyễn Tường Bách có khi ta chợt “ngộ” ra một một điều gì đó xa lạ mà thân quen. Đang đắm say với một màu phượng thắm rực nắng hè ở Huế bên bờ tường cổ trăm năm bỗng ngỡ ngàng chạm mặt với những trụ đá khổng lồ nhiều ngàn năm ở xứ sở Ai Cập, nơi những phế tích không còn khái niệm thời gian.Mảnh tường rêu phong của Huế với sắc hoa phượng thắm chỉ còn là một cái cớ cho trăm năm ngơ ngẩn trước ngàn năm. Ta hiểu được bước chân hoang mang của tác giả “trong bóng dêm cùng đoàn người men theo những con đường lót đá hoa cương, trở lại những trụ đá khổng lồ với chút long run sợ mình đang phá giấc ngủ của các vị thần”. Để rồi bỗng choáng ngợp dưới ánh trăng đỏ ối đột ngột xuất hiện giữa các hàng cột đá.
Rùng mình. Run sợ. Thời gian là gì? Thiên nhiên thực là tâm đang hiện hành hay thiên nhiên đang soi bóng trong tâm? Những câu hỏi ngàn đời không lời đáp. Nó vậy đó. Không từ đâu đến, cũng chẳng về đâu. Chỉ có con người là run sợ. Run như run thần tử thấy long nhan/ Run như run hơi thở chạm tơ vàng (Hàn Mặc Tử). Rồi bất ngờ tác giả phát hiện cái cây phượng vĩ đặc trưng tưởng như chỉ riêng có ở quê mình kia thì ra gốc gác là ở quê người! Thời gian cũng không mà không gian cũng không; người cũng không mà ta cũng không rồi! Cái thứ hoa gọi tên “hoa thuốc phiện” thì nghe xấu xa, không chịu nổi, mà gọi “hoa anh túc” thì sao nghe dễ thương quá chừng, dù cũng chỉ là một, chỉ là cách gọi tên, cũng chứa chất morphine chết người. Chết người đó mà cứu người cũng đó. Ta lại ngỡ ngàng giữa danh và sắc, tướng và tánh. Rồi từ chuyện trên trời, tác giả dẫn ta đến chuyện dưới đất. Cái giường của Napoléon trên đảo Ierapetra làm ta ngậm ngùi với núi Bân của Nguyễn Huệ (Còn đâu áo vải cờ đào). Cái cảnh người về người đi dệt mộng phù du trên một chuyến máy bay, cái tiếng mì gõ lóc cóc đêm khuya, tiếng muỗng lách cách quậy ly cà phê đá buổi sớm, tô mì hoành thánh, món sò huyết ở những quán cóc ven đường của Saigòn thân quen. Tưởng anh nói chuyện cô con gái xinh đẹp hóa ra là chuyện bà mẹ già vừa mới mất hôm trước; tưởng anh nói chuyện toàn cầu hoá lớn lao hóa ra là những giấc mơ con, những cuộc đời nhỏ bé, những số phận không tên (Quán cóc bên đường)…
Nhưng rồi mặc Krishnamurti, mặc Hermann Hesse tác giả dẫn ta về lại với Nguyễn Du: Trạm trạm nhất phiến tâm/ Minh nguyệt cổ tĩnh thuỷ (Vằng vặc một mảnh lòng/ Giếng trong trăng rọi bóng. Quách Tấn dịch). Mới hay Khi tâm tĩnh lặng thì quá khứ ngàn năm và thiên nhiên vô tận cũng chỉ nằm trong một màu hoa thắm ( Màu phượng thắm).
Đọc Nguyễn Tường Bách là đọc cái “tức phi thị danh”: Vậy mà chẳng phải vậy. Chẳng phải vậy mà vậy.
BS. Đỗ Hồng Ngọc

Để lại một bình luận