Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

VU LAN: Về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”

10/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

 

Về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”
Đỗ Hồng Ngọc

(https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2019/08/10/ve-bai-tho-bong-hong-cho-me/)

Mùa Vu Lan.  Thật may mắn cho những ai được cài đóa hồng trên ngực áo. Bởi họ còn Mẹ. Tôi thì cài bông trắng. Nhưng điều tôi tin chắc là mẹ tôi đã gặp… bà Ngoại, và vì thế, mẹ đã có thể gài lên ngực một đóa hồng thật tươi từ đó…

Bông hồng cho Mẹ

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…

Đỗ Hồng Ngọc
(Vu Lan 2012)

Võ Tá Hân, người nhạc sĩ đã có đến hơn 30 CD nhạc Phật giáo và hằng trăm khúc tình ca nổi tiếng, một hôm tình cờ đọc được bài thơ ngắn ngủn này đã cảm xúc viết nên khúc hát Vu Lan thật thiết tha dành cho những người con… không còn Mẹ.
Và tiếng hát da diết của ca sĩ Thu Vàng thấy trên youtube:

 

 

Rồi Bội Hoàng, từ Cần Thơ đã cảm tác :

Tình yêu còn mãi

Đọc bài thơ mà mắt lệ đoanh tròng
Ai thấu hiểu một tình yêu đã mất
Ai tự hào cài hoa hồng lên ngực
Dù đã qua cái tuổi cổ lai hy!

Con chỉ muốn luôn được cài hoa đỏ
Dù tuổi đời Má đã rất mong manh,
Dù con Má đã con cháu vây quanh,
Vẫn muốn được mỗi ngày chăm sóc Má.

Được bón cơm, được đút cháo, châm trà
Được tắm rửa, được thay quần áo mới
Được ngồi bên nghe những lời Má nói
Mà dậy lên niềm thương cảm riêng tư

Má bỏ con năm Má chín mươi tư
Rời cõi tạm, Má lên đường thanh thản
Con cài hoa cho màu áo Má đỏ
Để Má về gặp Ngoại vui đoàn viên

(Bội Hoàng, 2014)

Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh từ Santa Ana, mùa Vu Lan 2016 viết trong bài “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”:

“Lại đến mùa Vu Lan. Những đóa hồng đỏ hạnh phúc bung nở vành môi vẽ một vòng xum vầy thỏ thẻ Mẹ Ơi. Những đóa hồng trắng ngân đọng nước mắt lung linh đôi bờ xa vắng âm vang tiếng gọi Mẹ Ơi. Trong niềm, vừa hân hoan vừa cảm động, tôi nhớ đến bài thơ về Mẹ mà khi đọc nhịp tim tôi như bị nghẹn,

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

(Bông Hồng Cho Mẹ, Đỗ Hồng Ngọc)

Thử xem. Đọc. Nghe. Rồi hít vào một hơi thở sâu, im vắng, thì mình như nghe được tiếng nước mắt đang vỡ ra… Vỡ bung như ngọn sóng xanh lấp lánh biển pha lê. Vỡ tung như ngọn pháo hoa rơi vô vàn sợi ánh sáng trong đêm. Những cái vỡ, không tan mà thăng hoa, phải chăng đó là tận cùng của Đẹp? Như hạt nước mắt này, nó bung bung. Ánh lên bóng của Ngoại đang đứng bên kia sông, bên kia là bên của miên viễn không còn sinh tử? Và Mẹ, Mẹ đang từ cõi chết đi vào cõi sống ấy để lọt vào vòng ôm ấm áp của Ngoại. Mẹ đi từ nụ hồng đỏ nở duyên trùng phùng Ngoại. Ý thơ mầu nhiệm làm sao.

Tôi thấy không nói nên lời được để tả cho chính xác cảm giác của mình về sự mênh mang “ý tại ngôn ngoại” trong sâu thẳm bài thơ này. Về cái rất không nghĩa của Mất Còn. Đến với tôi là ý niệm con đường sinh tử đang xóa đi dưới cảm xúc của đứa con, -là Đỗ Hồng Ngọc đây-, người chiêm nghiệm sống chết thật là như không, đóa hồng trắng người đang đeo là một thực tại, đóa hồng đỏ đang rưng rưng trên áo Mẹ kia, là áo nghĩa của thực. Tất cả đều ở thì đang, không còn hôm qua ngày mai phút tàn giây tới. Sinh mệnh không khởi đi và chấm hết bằng hai đầu tiếng khóc nữa. Là Đây. Là Đang. Một thực tại sống động xóa hết biên giới không gian và thời gian. Hình dung Mẹ, trong hơi thở hắt ra bỗng trong suốt nhẹ nhàng đứng lên, trong ngày hội tưng bừng của Tình Mẫu Tử, cúi nhìn bàn tay đứa con run run cài lên ngực áo mình một đóa hồng đỏ, và Mẹ phất phới đi trong nôn nao cho kịp giờ hẹn với Ngoại. Ôi ta mất mẹ và ôi Mẹ vừa có Ngoại. Vô biên lâng lâng nỗi Còn Mất… Huyễn ảo vô cùng khiến những giây tơ vi tế nhất trong cảm xúc ta bị đánh động.

Ngoại Chờ Bên Kia Sông, tôi viết hoa vì mỗi mỗi chữ của câu thơ này là khởi đề dẫn đến chiêm nghiệm ảo hóa về sinh tử. Và toàn bài thơ là tấm tình trong vắt ban sơ của người con, rất nhỏ, mà cũng đã rất già. Bởi rất nhỏ thì mới yêu thương Mẹ được hồn nhiên như thế. Và phải chăng, rất già mới có thể biến yêu thương ngây thơ thành một tình yêu vượt qua được đau đớn của chia lìa sinh tử, như thế.

Cảm ơn Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, cho tôi biết thêm một nhịp đập thương yêu nữa của Hiếu Tử, cho tôi từ bây giờ đã có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một lúc nào đó phải xa Mẹ. Không phải là một cái xa hẳn rồi, mất hẳn rồi như tôi vẫn thường nghĩ nữa. Trong hạt nước mắt rơi lại thấp thoáng nụ cười, nhìn Mẹ của ta lại cài hoa hồng đỏ về bên Ngoại. Ôi! Cái không nói của Ngoại Chờ Bên Kia Sông đã lấp đầy cảm xúc và ý nghĩ của tôi đến thế!

Và lúc này đây, còn được thấy mẹ ra vào thì hãy thỏ thẻ bên vai mẹ rằng,

… mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (thơ Đỗ Trung Quân)

Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình, gửi đến các con tôi,

… tận cùng hạt lệ mẹ
là nước mắt con rơi
tận cùng tiếng cười mẹ
là nụ cười con vừa mở
và con ơi
tận cùng hư vô mẹ
sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại

(thơ NTKM)

Thưa có phải cũng có chút gặp gỡ giữa “sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại” và “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”?

NTKM
Santa Ana, Mùa Vu Lan

 

mà nhà phê bình Tô Thẩm Huy cảm thán:

“Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 20 chữ, mà thâm thúy, ảo diệu vô cùng. Đọc lên điếng cả hồn.

Phải chép lại ra đây.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho Mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực,
Ngoại chờ bên kia sông

Rõ ràng Nguyễn Thị Khánh Minh đã cảm bài thơ đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Thật là may mắn có được người đồng điệu như thế.

Bài phổ nhạc hay, hai giai điệu khác nhau mà hòa hợp, hỗ tương lẫn nhau. Tuy thế, cảm xúc khi đọc bài thơ nó đến ào ạt, như cùng một lúc nó trào dâng, bủa vây tứ phía, làm bàng hoàng, run rẩy khắp cả châu thân. Cảm xúc từ bài nhạc nó đến khoan thai, từ tốn, êm đềm”.

Lê Uyển Văn từ Trà Vinh viết: Bài viết tuyệt vời được khơi nguồn từ bài thơ đẹp. May mắn cho chúng ta được thưởng thức những tuyệt phẩm này. Xin đa tạ!

Còn Trieu Minh (Úc) ghi cảm nhận khi nghe bài hát từ giọng ca Thu Vàng: “ Doc va nghe Nhac, nghe Nghen o nguc, nuoc tu lan tren Ma”.

ton  t  comment: “Nghe nhức xương, thấm tới tủy”;

chrslam thì ghi: Đã nghe đi nghe lại cả chục lần bài hát này. “…Mẹ nhớ gài lên ngực. Ngoại chờ bên kia sông…” Một cảm giác khó tả. Cám ơn thi sĩ và nhạc sĩ.

Và E-Temple ghi nhận: “ Chỉ có 4 câu ngắn ngủn thôi mà thành lời ca, và hát mãi không muốn dừng.  Con dập đầu lạy Phật, xin Mẹ được vãng sinh ‘ Nam mô Đại Từ Đại Bi A-Di-Đà Phật….’”

Nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy từ Huế viết trong “Yếu tố bất ngờ trong bài thơ bông hồng cho mẹ”:

“Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người… Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.

(…)

Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ.  Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật…”

(đặc san Liễu Quán, số 12, Vu Lan 2017).

Mùa Vu Lan này, xin gởi bạn đôi dòng về bài thơ Bông Hồng Cho Mẹ như một lời chúc mừng đến bạn, người đã rất sướng vui, tự hào, khi còn được cài một bông hồng đỏ thắm trên ngực áo của mình! “Rồi một chiều nào đó anh về, nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu… rồi nói nói với Mẹ rằng… Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?…” (Phạm Thế Mỹ).

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

CHỌN NHỮNG NỤ CƯỜI

07/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

CHỌN NHỮNG NỤ CƯỜI 
Đỗ Hồng Ngọc

(Văn Hóa Phật Giáo số 322 ngày 01-06-2019

Thư Viện Hoa Sen)

Có câu đúc kết “Năm năm / Sáu tháng / Bảy ngày”, nghĩa là ở tuổi 50, nên có kế hoạch năm; đến tuổi 60 thì chỉ nên làm kế hoạch tháng; còn đến 70 thì tốt nhất nên có kế hoạch… ngày! Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui! Chọn những bông hoa và những nụ cười!” (TCS) là phải quá! Vấn đề là ở chỗ chọn lựa. Thiên đàng Địa ngục hai bên… Một cụ già trên trăm tuổi được nhà báo hỏi bí quyết sống lâu, sống khỏe, ông nói có gì đâu, mỗi sáng, thức dậy, tôi tự hỏi hôm nay mình nên ở thiên đàng hay địa ngục đây… rồi tôi chọn thiên đàng.

Có những vùng khí hậu lạ. Một ngày mà có đủ cả bốn mùa: xuân hạ thu đông! Còn muốn gì hơn? Ở một tuổi quá cao nào đó, không phải chỉ cần có kế hoạch ngày mà nhiều khi còn phải có kế hoạch giờ! Sáng khác, trưa khác, chiều khác, tối khác rồi. Làm được gì thì làm ngay. Lát sau mọi thứ sẽ khác. Cần có phương án hai, phương án ba. Cẩm nang để sẵn trong các túi gấm, đến đâu giở ra đến đó!

Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. Dĩ nhiên có tiểu tiện và đại tiện khi các bộ phận thải chất bả này hình thành và hoạt động. Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. Thở mà không xong thì tiêu đời! Bác sĩ sẽ xịt alcool hoặc đét vào đít cho ta khóc thét lên. Khóc càng to càng tốt. Khóc to có nghĩa là thở mạnh. Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Rồi phải bú nữa trời ạ. Bú mẹ còn đỡ, cứ vùi đầu mà nút, chả cần ai chỉ dạy! Nhưng nhiều khi phải níu lấy cái bình bú cứng ngắc, ai đó nhét vào miệng vì không có sữa mẹ. Cứ thế mà chùn chụt để nuôi thân. Rồi biết lật, biết ngồi, biết bò, biết đứng chựng, biết đi, biết chạy nhảy, leo trèo… Rồi biết nói năng, suy nghĩ. Nhớ, tiếc, giận hờn, giành giựt, đấu đá, ghen tuông, ích kỷ, thất tình lục dục đủ thứ không lúc nào ngưng. Và dĩ nhiên vẫn thở và vẫn ăn. Rồi nam tu nữ nhũ. Rồi chọn lựa. Rồi giao cấu. Rồi đẻ ra một lô một lốc chẳng biết từ đâu ra.

Đến một hôm, ta từ hùng hục chạy, ta… lững thững đi, rồi chập chững đứng, vật vựa, nghiêng ngả, rồi ngồi một chỗ, mắt lờ đờ nhìn xa xăm, rồi lồm cồm, bò lê, bò lết… Từ chùn chụt, ngấu nghiến, ừng ực, dô dô 100%… ta bỏ ăn bỏ uống, thấy cái gì cũng rệu rạo, nhóp nhép vì xệu xạo răng cỏ. Rồi thở cũng cà giật, cà hước… Ta trở lại cái hồi thai nhi trong bụng mẹ, bây giờ là “mẹ Như Lai”, một vòng khép kín. Thì ra, ta đã từ đó mà đến để rồi loay hoay một vòng về lại chốn xưa. Cứ y như đàn cá hồi, cứ bốn năm lại “hồi” về chốn cũ, đẻ xong rồi chết, sau khi đã làm xong nhiệm vụ truyền giống. Con thiêu thân thì nhào vào ánh lửa. Con bọ ngựa giao cấu xong thì chết ngay trên bụng con cái, làm thức ăn cho con… Con bọ hung hùng hục chui vào đống phân, giành giựt đấu đá để vo tròn một cục phân mang về cho bọ hung cái nuôi con. Cá ếch nhái bò sát chim đều vậy. Cây cỏ cũng vậy. Hoa nở chẳng những đẹp mà còn thơm, lôi kéo lũ bướm ong dập dìu lui tới để mang phấn đi muôn phương.

Nhìn suốt cuộc hành trình đó, có cái gì tức cười, vừa tàn nhẫn vừa thương tâm. Cái hiện hữu chỉ là thị hiện, trình hiện chút chơi vậy thôi. Nó giả. Nó tạm. Vậy mà sao ta cứ tưởng thiệt mới đáng thương làm sao. Gieo rắc và sinh sôi. Cứ vậy. Như Lai thọ lượng. Như Lai thần lực. Cứ vậy. Người tỏ ngộ tủm tỉm cười, vui vẻ chui vào tháp báu, gặp Như Lai Đa Bảo của mình ngồi đó, tay bắt mặt mừng. Schopenhauer nói cô con gái liếc mắt đưa tình, tìm kiếm chàng trai râu hùm hàm én mày ngài, oai vũ là để trao thân vì chắc hẳn sẽ là giống tốt; chàng trai thì tìm giai nhân chân dài, đáy thắt lưng ong, ngực nở, mông to để mắn đẻ. Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống là vậy. Con người thông minh hiện đạilàm phiền Như Lai hết sức, vì chỉ muốn tìm vui mà quên nhiệm vụ thiêng liêng!

Đất (Nitrogen) nước (Hydrogen) gió (Oxygen) lửa (Carbon) cùng 62 nguyên tố đồng chì sắt kẽm được vo cục lại, nắn nót, thêm thắt, vẽ bày, hà hơi tiếp sức rồi thảy vào Ta-bà nhộn nhạo theo một cái duyên, cái nghiệp nào đó. Mãi mới nhận ra “bổn lai vô nhất vật”. À há, nó là không, nó là chân không diệu hữu. Nó bày trò, vờ vịt, vớ vẩn, giỡn chơi thôi. Không muốn ngộ rồi cũng ngộ. Không muốn giác rồi cũng giác.

Sanh bệnh lão tử hay sanh lão bệnh tử thì cũng vậy. Lập trình nó vậy rồi. Nhưng “tử” dễ nghe hơn “chết”. Chết khó nghe và thấy sợ. Tại sao sợ? Không biết. Tại vì không biết cho nên sợ. Nhưng lạ, cũng là chết mà có nhiều từ khác nhau để gọi. Vua chết gọi là “băng hà”. Sư chết gọi là “viên tịch”. Phật chết gọi là nhập Niết-bàn. Lính chết gọi là “hy sinh”… Dân chết có khi gọi là “mất” là “qua đời” là “lìa trần”, v.v…

Người ta sợ chết mà không sợ sanh. Vì sanh có biết đâu mà sợ. Nhưng có phải tự nhiên mà sanh ra không? Nếu ba mẹ ta mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Nếu ông bà nội ông bà ngoại mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Vậy ta từ đâu ra? Có phải chỉ tinh cha huyết mẹ là đủ hay còn cần phải có một điều kiện nào khác? Có cái gì khác đó chui vào, can thiệp vào để có ta chứ? Cái đó gọi là “thức tái sanh” ư? Là “nghiệp” dẫn dắt ư? Chính điều nầy làm ta thấy có trách nhiệm sống, vì sống cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Ta có trách nhiệm hơn. Ta có tự do hơn. Để tự chọn lựa.

Một cặp thai song sanh sợ hãi khi sắp tới ngày sanh, muốn ở lại trong thiên đàng lòng mẹ càng lâu càng tốt. Hai cái thai tranh cãi quyết liệt không ai chịu ra đời trước, vì không biết chuyện gì chờ đón họ ngoài kia. Cuối cùng dù giằng co thế nào thì cũng có một cái thai chui ra trước. Hóa ra… đời vui quá! Người ta đón chào rôm rả. Thai kia thấy thế cũng vội vã ra theo. Rồi oa oa chào đời. Rồi hít thở, rồi bú mớm. Rồi lớn như thổi, rồi yêu thương, rồi ganh tỵ, hờn ghen, đấu đá, giành giật… rồi cuối cùng cả hai cùng một lần nữa lại bị kéo ra… khỏi cuộc đời. Cũng lại quyết liệt tranh cãi không chịu, cũng lo lắng, sợ hãi, đòi ở lại càng lâu càng tốt… Không có sự khác biệt giữa cái chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cái chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy.

Rồi cùng mà mỉm cười. Nụ cười của Phật. Của Bayon. Của La Joconde…

Đỗ Hồng Ngọc

……………………………………………………………

Ghi chú: Chắc ít ai không biết câu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui/ Chọn những bông hoa và những nụ cười…” của Trịnh Công Sơn. Trong cuốn “Về Thu Xếp Lại…” tôi có hẳn một chương với câu hát này. Hôm rồi, bạn tôi, anh Trần Tuấn Mẫn, phó Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Phật giáo hối thúc gởi bài gấp, tôi đang cảm cúm, đành phải “biên tập” một đoạn trong chương sách của Về Thu Xếp Lại… gởi cho báo với cái tựa là “Chọn Những Nụ Cười”…

Nghĩ lại, làm vậy cũng là không nên. Có lỗi với các bạn đã có trong tay quyển sách. Không ngờ bài “viết lại” này được nhiều bạn đọc ưa thích, có lẽ do nó ngắn gọn, khúc chiết hơn. Thư Viện Hoa Sen cũng đưa ngay lên online và đã có vài ngàn người vào đọc. Thì ra, sách thì ế, bán lai rai, trong khi lên mạng thì dễ đến với độc giả hơn. Sáng nay, một người bạn lại chuyển tôi hình ảnh của một Facebook đăng lại bài này để chia sẻ cùng bè bạn và thấy có cả những “bình luận” rất dễ thương.

Có bạn còn làm mấy câu thơ nữa, thật thú vị. Tôi không có Fb, lâu lâu có bạn gởi cho một “thông tin” thì cảm động lắm, bèn “hào hứng” đưa lên trang nhà này vừa chia sẻ vừa để lưu trữ. Rất mong được thông cảm.

Cảm ơn T.A nhiều nhé.

(ĐHN).

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Tuệ Sỹ: PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH (viết từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của ĐHN)

03/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Thư Đỗ Hồng Ngọc kính gởi Thầy Tuệ Sỹ

Vườn Chuối, 21.7.2019

Mới thôi mà đã hơn 2 năm, từ ngày Thầy gởi tôi bài  PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH “viêt từ cảm hứng Cõi Phật Đâu Xa của Đỗ Hồng Ngọc” và bảo để in vào sách khi tái bản.

Vừa rồi, máy vi tính của tôi bị hỏng toàn bộ ổ cứng, mất hết các dữ liệu. May sao người cháu “cứu” được một ít trong đó giữ lại được bản này. Tôi đọc lại mà rưng rứt, nhớ Tết nào cùng Thân Trọng Minh đến thăm thầy ở Thư quán Hương Tích, trò chuyện thật vui, đặc biệt về vở “nhạc kịch Duy-ma-cật”  vốn đầy kịch tính, từ những nhân vật “phản diện” cho đến bối cảnh, với những cao trào có thể mang tính nghệ thuật cao, với vai “Người dẫn truyện” của Văn Thù, vai Thiên nữ tán hoa cùng tiếng đàn hát dìu dặt, thanh thoát…

Tôi hiểu từ lâu thầy đã ấp ủ “kịch bản” này đâu đó sẵn rồi. Thân Trọng Minh và tôi chỉ đóng góp thêm vài ba ý cho thêm phần “hấp dẫn”. Thầy biết đó, Thân Trọng Minh vốn là người viết kịch! Cao Huy Thuần bên trời Tây nghe được cũng hết lòng ủng hộ và nói sẵn sàng sắm một vai…

Tôi nay đã 80 tuổi, già nhanh rồi, mà vừa trải qua những ngày không vui vì mất hết dữ liệu trong ổ cứng máy tính. Nhờ người cháu tậu cho cái ổ cứng mới nên nay vội viết thư này xin phép thầy hoan hỉ cho phép tôi đưa bài “Phương nào cõi tịnh” lên dohongngoc.com. Đây là trang web của riêng tôi, chỉ nhằm lưu trữ bài vở, và cũng in ra giấy để giữ.

Vừa rồi tôi nóng ruột, đã thử phone thầy và nhắn tin xin phép, mới hay Thầy và cả thầy Hạnh Viên đều đang nhập thất mùa An Cư Kiết Hạ.

Tôi hoàn toàn đồng ý với thầy:

“trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn”…

Mong Thầy hoan hỷ nhấp một chung trà lão Triệu, với nụ cười rất tuệ sỹ vậy nhe.

Thân kính,

Đỗ Hồng Ngọc.

Đỗ Hồng Ngọc, Thân Trọng Minh và Thầy Tuệ Sỹ (Thư quán Hương Tích).

………………………………………………………………………………..

 

 

PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH

Tuệ Sỹ

(viêt từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của Đỗ Hồng Ngọc)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh,

Ngoài hư không có dấu chim bay?

Từ tiếng gọi màu đêm đất khổ,

Thắp tâm tư thay ánh mặt trời.

 

Lần đầu tiên tôi tình cờ gặp bản dịch Duy-ma-cật sở thuyết của ngài Huệ Hưng; hành tung ly kỳ và chuổi lý luận của Duy-ma-cật khiến đọc say mê, nhiều đoạn học thuộc lòng. Có thể không “choáng ngợp” như anh Cao Huy Thuần vì trình dộ nhận thức của tôi bấy giờ chỉ là của một cậu bé 14 tuổi, không thể sâu sắc như  vị giáo sư trẻ tốt nghiệp Đại học Luật khoa Huế. Một chú tiểu tu chùa Việt nhưng học kinh điển theo hệ Theravāda với các Sư người Lào, do đó cực kỳ kính trọng các A-la-hán, và vì vậy không có cảm giác Duy-ma-cật đã có thể triệt hạ địa vị các Đại Thanh văn. Lớn lên chút nữa, qua nhiều năm học thêm nhiều kinh luận Đại thừa, đọc thêm các nhà luận giải Trung hoa chê bai tư tưởng các vị Thanh văn thấp kêm, tâm tư nhỏ hẹp, và kêt án khá nặng là “hạng tiêu nha bại chủng”, hủy diệt mọi thứ mầm non và hạt giống tốt của giác ngộ.

Cùng với sự phát triển của loại “khẩu đầu Thiền”, thuyết lý Thiền tông trên đầu môi chót lưỡi, phát sinh một lớp sư tăng “cuồng thiền”: thỏng tay vào chợ, thanh lâu, hý viện, đâu chẳng là thanh tịnh đạo tràng. Nhưng với sự huân tập từ hồi còn là tiểu nhóc, tôi chưa hề cảm thấy, mặc dầu với lý luận biện tài vô ngại, Duy-ma-cật đã lấn lướt vượt qua các vị Thanh văn như thế nào. Tuy nhiều vị luận giải Trung hoa quả có chế diễu ngài Xá-lợi-phất, và nhiều vị Đại Thanh văn khác nữa, như khi ngài hỏi Duy-ma-cật các Thánh giả sẽ ăn cơm ở đâu, sẽ ngồi chỗ nào; dù vậy, tôi vẫn cảm thấy trong đó có ẩn ngữ mình chưa hiểu.

Cho tới một lúc, lớn thêm chút nữa, giữa xã hội xô bồ đảo điên, tăng đồ như một cộng đồng ô hợp, riêng Phật riêng thầy, riêng tông môn pháp phái, bấy giờ bỗng xuất hiện những cư sỹ lão thành cự phách, mà trình độ thâm hiểu giáo lý không nhường các bậc trưởng lão trong sơn môn. Bên trong, hiểu và hành sâu xa nội điển; bên ngoài nhạy bén trước các biến cố đảo điên của xã hội; hiểu đạo sâu mà hiểu đời rộng, tài và trí ấy, hiểu và hành ấy, đã góp phần rất lớn trong những đoạn đường khơi lạc nguồn mạch tư duy.

Không chỉ một Duy-ma-cật, mà có rất nhiều Duy-ma-cật, khoác nhiều hành trạng khác nhau trong nhiều địa vị xã hội khác nhau, đã từng xuất hiện ở đây, sống giữa chúng ta. Họ lăn lóc trong bụi đời, nếm đủ thứ “mùi tục lụy” nhưng vẫn không ngừng vươn lên theo chiều cao của Đạo Pháp. Trong một thời đại mà không còn tìm thấy thấp thoáng bóng dáng của Duy-ma-cật, Phật pháp đạo lý có thể chỉ như món hàng trong siêu thị; có lúc chỉ như gánh hàng rong trên hè phố.

Duy-ma-cật là ai mà được ví von như thế? Một nhân vật nửa lịch sử, nửa huyền thoại. Nhân cách ấy là tập hợp tất cả phẩm tính để được gọi là “đích tử”, con chân thật, của các đấng Giác Ngộ. Mỗi nhân cách nổi lên trong một thời đại lịch sử riêng biệt, trong mỗi thời đại ấy là những nhân cách từ phẩm chất và phẩm trật trong từng xã hội cá biệt. Nhân cách ấy ẩn mình đơn độc trong rừng sâu, hoặc hiện diện giữa chợ đời huyên náo, mà không gian bao trùm bởi trực tâm và thâm tâm. Trực tâm, mà Huyền Trang gọi là “thuần ý lạc (āśaya)”, đó chính là ý chí hướng thượng, nhìn đời bằng con mắt yêu thương, định hướng cho cuộc đời của mình và cùng với tất cả cùng đi lên bằng tình yêu và trí tuệ. Từ trực tâm ấy, với ý chí quyết định, kiên trì mục đích, đó gọi là thâm tâm, cũng nói là tăng thượng ý lạc (adhy-āśaya). Đó là nhân vật mà ta có thể gặp đâu đó.

Bằng thuần ý lạc địa, từ cơ sở đó mà bảy bước phát khởi tâm bồ đề, khởi từ tình yêu thâm thiết đối với Mẹ thân sinh, vì sự an lạc của Mẹ mà phát nguyện hành bồ-đề. Rồi với tình Mẹ bao la mà tâm nguyện bồ-đề cũng theo đó mà rộng lớn lên, theo một đường thẳng như tấm lòng ngay thẳng. Từ tâm tư thuần ý lạc địa ấy mà kiên định chí hướng, in sâu trong tận cũng tâm khảm, trong thâm tâm.

Thế nhưng có thể chúng ta dễ bị choáng ngợp bởi những từ ngữ mang tính triết học, do đó mà thấy Duy-ma-cật là một nhân vật cao diệu, xa vời. Vậy, chúng ta bắt đầu từ diễn tả bằng ngôn ngữ đời thường, như Đỗ Hồng Ngọc viết trong Cõi Phật Đâu Xa: anh viêt Kinh dễ dàng và cũng rất thận trọng cân nhắc, y như bác sỹ viết toa thuốc:

“Lòng ngay thẳng – trực tâm – chính là sự bình đẳng, không phân biệt, không kỳ thị … Không kỳ thị, không phân biệt đối xử mới có lòng tôn trọng như Thường Bất Khinh, mới có lòng Từ bi, Thấu cảm như Quán Thế Âm, mới có lòng Chân thành để “ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng” như Dược Vương. Tôn trọng, chân thành, thấu cảm phải dựa trên điều kiện tiên quyết không phân biệt, là Bình đẳng. Đó chính là Bất nhị.”

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa cũng sợ; chúng ta lại gặp một từ ngữ triết học rắc rối hơn nữa: “bất nhị.” Đó là nguyên lý chỉ đạo cho tư duy và hành động của Duy-ma-cật, khi ông nói với ngài Xá-lợi-phất: “Hiện các oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) mà vẫn không xuất tưởng thọ diệt định, đó mới chính là tĩnh tọa.” Hoặc khi ông chào đón Bồ-tát Văn-thù đến thăm bệnh, và ở đó, trong “Cõi Phật Đâu Xa”,  ta cũng nghe rõ như lời bệnh nhân chào đón y sỹ: “Lành thay, Văn-thù mới đến! Tướng chẳng đến mà đến. Tướng chẳng thấy mà thấy.” Bệnh chứng, bệnh nguyên, tất cả các tướng ấy, chẳng đến mà đến, chẳng thấy mà thấy; bệnh nhân không tìm đến y sỹ, và y sỹ không đi đến bệnh nhân.

Trong đối thoại này, Duy-ma-cật cũng chào đón Văn-thù bằng ngôn ngữ thông thường: svāgatam: nghĩa đen được hiểu đã đến một cách khéo léo, tốt đẹp; đây là một từ chào hỏi tương đương chính xác với lời chào tiếng Anh: “Welcom!” Từ chào hỏi này liên hệ đến từ Tathāgata: Như Lai, mà Kinh Kim cang định nghĩa: “Như Lai, vị khéo đến, vì không từ đâu đến, cũng không đi đến đâu.”  Nó cũng liên hệ các từ  Phạn gata, āgata, anāgata: đã đi, đã đến, không đến, chưa đến, đó là những từ mà chúng ta đọc hằng ngày trong Tâm Kinh: gate gate paragate parasaṃgate bodhi svāha. Đến mà không đến, đi mà không đi, là thể tính Như Lai: Tathāgata: tathā gata/āgata. Các vị Thánh giả chào nhau bằng ngôn ngữ đời thường mà trong đó vẫn bao hàm thế giới siêu việt.

Nhưng, tư tưởng bất nhị là căn nguyên tư tưởng của một nhánh trong triết học Vedānta, tiếng Phạn nói là advaita-vāda, dịch theo ngôn ngữ triết học quen dùng ngày nay, đó là chủ thuyết lý “Nhất nguyên Tuyệt đối”. Đạt đến nhất nguyên tuyệt đối, là đạt đến giải thoát, bấy giờ Phạm-Ngã đồng nhất, Tiểu ngã và Đại Ngã hiệp thành nhất thể tuyệt đối. Nói cách khác, Linh hồn và Thượng đế là Nhất thể Tuyệt đối. Kinh Phật không nhận có Thật Ngã tồn tại, dó đó không thừa nhận thuyết Nhất nguyên tuyệt đối này.

Để khỏi phái bối rối, choáng ngợp trước những từ ngữ và lý luận biện chứng siêu nghiệm, từ nhất nguyên tuyệt đối của Phạm-Ngã nhất thể, cho đến “Như Lai đến mà không đến, đi mà không đi”, chúng ta cũng có thể bắt đầu với nhận thức đơn giản hơn từ dẫn giải bởi Đỗ Hồng Ngọc, hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh:

“Ở tại nơi sanh tử mà chẳng làm việc ô trược, trụ nơi Niết-bàn mà chẳng diệt độ mãi; hành tánh không mà vẫn trồng các cội công đức; hành vô tướng mà vẫn độ chúng sanh; hành vô khởi mà khởi tất cả thiện hạnh…”

Đây là đoạn dẫn tóm tắt khi Duy-ma-cật nói với Văn-thù về sở hành cảnh giới của Bồ-tát, môi trường hành đạo và đối tượng quán sát của Bồ-tát; trong đó nói hành tánh không (śūnyatā-gocara), hành vô tướng (animitta-gocara), là hai trong ba giải thoát môn mà một vị Thanh văn lập làm đối tượng quán sát để chứng nghiệm Niết-bàn. Ba giải thoát này là Không, Vô tướng, Vô nguyện (apraṇihita), hay nói là  Vô tác theo La-thập.  Chưa thấy và chưa biết Niết-bàn là gì thì chớ vội nói sinh tử và Niết-bàn là một, không hai. Thế nhưng, đây là những lời người bệnh nói với người thăm bệnh. Bệnh hay vô bệnh, sinh tử hay Niết-bàn, đây và đó qua lại trong ba ngõ: người bệnh vốn không, hiện tượng bệnh cũng không, cho nên không có gì để nói hy vọng hay tuyết vọng.

Những điều như vậy cũng không phải dễ hiểu; do đó chúng ta nên nghe lời dẫn từ Cõi Phật Đâu xa:

“Bồ-tát luôn đứng giữa hai bờ…” và tại đây ông giới thiệu lời trong ca khúc của Trịnh Công Sơn: trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyêt/ Rọi suốt trăm năm một cõi đi về. Nếu đưa thẳng vào tư duy triết học thì lời nhạc của Trịnh Công Sơn không liên hệ gì đến pháp môn bất nhị. Nhưng nó cũng khiến chúng ta nhớ đến câu chuyện một nhạc công của Thiên đế Indra thất tình với một thiên nữ, bèn tìm đến đức Phât, hát lên “bản tình ca dâng Phật”, với đoạn tả tình thắm thiết: “Tôi yêu nàng như A-la-hán yêu Chánh Pháp”. Có lẽ chẳng có ca từ mô tả tình yêu chung thủy nào chân tình hơn thế. Lời nhạc đã lạ lùng với đôi tai người đọc kinh Phật nghiêm túc, mà câu trả lời của Phât cũng thất lạ lùng khó hiểu: “Hay lắm, nhạc hòa hợp với lời, lời hòa hợp với nhạc; trong đó có ái dục mà cũng có Niết-bàn,” Ái dục là tình yêu hệ lụy sắc dục, và Niết-bàn là cảnh giới ly dục. Há lại có nghĩa, từ trong ái dục mà thấy Niết-bàn, từ Niết-bàn mà thấy rõ thể tính của ái dục? Đơn giản hơn, từ bùn lầy hôi thối mà tìm thấy hoa sen?

Rốt cục, cửa dẫn vào pháp bất nhị này là đâu, là cái gì?

Chuyện tình nhạc công của Thiên đế diễn thành kịch bản để nói những điều không thể nói, vì tính chẩt phản diện được cấu trúc trong đó. Cũng thế đó, người đọc Duy-ma-cật sở thuyết có thể dễ dàng nhận ra bản văn này được cấu trúc theo thể loại kịch. Trong kịch bản, tính phản diện của các nhân vật được sử dụng để diễn tả nội dung theo ý nghĩa muốn nói.

Trong đoạn dẫn của Đỗ Hống Ngọc nêu trên, chúng ta thấy Bồ-tát tu tâm như một Thánh giả Thanh văn xuất thế, nhưng hành đạo như một phàm phu trong sinh tử: trong bùn mà chằng hôi tanh mùi bùn. Đó là căn bản của tư duy bất nhị. Thánh nhân xuất thế, và phàm phu sinh tử, hai mặt phàn diện mà lại đồng nhất thể tính. Người đọc nếu không nhìn ra những cặp phản diện trong Sở thuyết này tất sẽ thấy Duy-cật-đã đã “lấn lướt” các Thánh giả Thanh văn, đã “dồn ví” các ngài vào ngõ bí.

Trong kịch bản Duy-ma-cật sở thuyết, người ta nghe được những đối đáp tương xứng giữa Văn-thù và Duy-ma-cật, nhưng đây không phải là cặp nhân vật phản diện; mà trong đây Văn-thù chính là vai người dẫn kịch. Không có người dẫn kịch thì khó có thể hiểu nội dung của kịch bản. Đây là cấu trúc cổ điển của kịch. Như trong khi Văn-thù nói và hỏi, Duy-ma-cật im lặng; nếu không có Văn-thù như là vị dẫn kịch, thì sự im lăng của Duy-ma-cật chẳng có ý nghĩa gì; do đó đây không phải là cặp đối đáp phản diện.

Thực ra, Duy-ma-cật xuất hiện trong nhiều lớp áo khác nhau, nên đồng thời thủ vai phản diện cho nhiều vị Thánh giả, từ các A-la-hán cho đến các Bồ-tát. Khi ngài Xá-lợi-phất tĩnh tọa trong rừng vắng, Duy-ma-cật xuất hiện với lý luận sắc bén khiến cho vị Đại Thanh văn này không còn lời đối đáp. Dễ chừng người ta chỉ thấy một Tôn giả Xá-lợi-phất trong rừng vắng nhập tưởng thọ diệt tận định, thân tâm bất động, có thể lưu thọ hành để giữ cho thân thể tồn tại không mục rã qua một đại kiếp, hằng triệu năm của mặt trời; ấy thế nhưng lại không thấy ngài ôm bát lang thang trong hang cùng ngõ hẻm với cái bụng đói. Nếu để thọ hưởng an lạc tịch tĩnh chính mình qua hằng nghìn năm cho đến khi thân ấy mục rã nếu muôn, thế thì cần gì phải ăn để mà sống. Vậy ôm bát đi khất thực vì lẽ gì?  Vì cơn đói sẽ hành hạ bản thân, hay vì để thức tỉnh thế gian đang trầm luân trong khổ lụy? Thế thì Duy-ma-cật đi vào đời để xây dựng cho đời an vui có cao quý hơn ngài Xá-lợi-phất ngồi trong tịch nhiên bất động? Phải chăng tượng Phật ngồi bất động trên bàn chẳng ích lợi gì cho ai, chẳng bằng sư trụ trì tụng kinh cầu siêu, cầu an cho bá tánh? Đấy là cặp phản diện làm hiện rõ bản chất của tồn tại.

Mặt khác, trong phong thái Thánh giả xuất trần Xá-lợi-phất lại xuất hiện trước một phản diện là cô thiên nữ cực kỳ diễm lệ. Với sắc đẹp vượt lên cả hàng thiên hương quốc sắc ây, với vũ điệu thiên nữ tán hoa kỳ ảo hơn cả vũ khúc nghê thường ấy, cũng rất dễ khiến cho Đường Mimh Hoàng mất ngôi mất nước. Nhưng sao nàng sống chung trong một căn phòng trống trải với lão cư sỹ Duy-ma-cật; rồi lại xuất hiện múa hát trước các Thánh nhân xuất thế, những vị mà tâm tư lắng đọng không hề gợn sóng dục tình; hiện diện với ý nghĩa gì? Đối đáp giữa thiên nữ và Xá-lợi-phất đã dẫn cặp phản diện ô nhiễm và thanh tịnh lên đến kịch tính gay cấn, khiến cho Xá-lợi-phất biến hình thành thiên nữ kiều diễm, và thiên nữ biến hình thành Thánh giả Xá-lợi-phất nghiêm trang.

Nhận diện được những cặp nhân vật phản diện trong Kinh thì cũng có thể bằng hình ảnh ấy mà chiêm nghiệm thế nào là ý nghĩa bất nhị, bằng cánh cửa nào để đi vào cảnh giới bất nhị ấy.

Thêm nữa, ngoài những nhân vật phản diện, cũng nên đi sâu vào những bối cảnh phản diện. Khu vườn xoài, sở hữu của kỹ nữ Am-la-bà-lị, nơi các vương tôn công tử buông mình thả trôi trong dục vọng, lại trở thành nơi tịnh tu của các Thanh văn xuất thế, trong ô nhiễm mà không ô nhiễm. Tư gia của Duy-ma-cật, nơi ông tiếp những chính khách đang lao mình trong đấu trường quyền lực, những thương gia đang cạnh tranh ráo riết trên thương trường, mhưng chỗ ấy lại cũng là nơi lai vãng của các Thánh giả xuất trần, Thanh văn và Bồ tát. Tư gia của trưởng giả Duy-ma-cật, khu vườn xoài của kỹ nữ Am-la-bà-lị: cặp phản diện của náo nhiệt và tịch tĩnh, của ô nhiễm và thanh tịnh.

Giữa thế giới Ta-bà và cõi Phật Chúng Hương, tòa sư tử và thành Tì-la-da, cái vô cùng lớn đến trong cái vô cùng nhỏ, và cái nhỏ đi vào trong cái lớn: đây cũng là cặp phản diện bối cảnh làm lộ rõ thể tính tồn tại của thế gian, vũ trụ. Bằng hình ảnh đó mà tập luyện cho tư duy vượt ngoài khuôn sáo ước lệ, vượt qua thế giới thường nghiệm để vươn lên cảnh giới siêu nghiệm, bất khả tư nghị.

Như thế, đọc Duy-ma-cật sở thuyết như đang xem một kịch bản, với những nhân vật và bối cảnh phản diện, với những biến cố mang đầy kịch tính, đó là cách tự huấn luyện và tự trang bị cho mình một công cụ định hướng tự duy để vươn lên chiều cao của giác ngộ.

Trong khi chúng tôi cùng tìm hiểu ý nghĩa phản diện và kịch tính trong Duy-ma-cật sở thuyết, hai ông bạn cư sỹ Đỗ Hồng Ngọc và Thân Trong Minh tỏ ra tâm đắc và cao hứng, cố ý muốn viết lại một kịch bản và dàn dựng sân khấu như thế nào đó để có thể hiểu rõ hơn điều mà Kinh muốn chỉ điểm; vì trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn.

Hy vọng các bạn cư sỹ thành tựu như ý. Riêng tôi, trở về thảo am thơ thẩn, gởi lại hai bạn cư sỹ hai câu thơ:

Nhà tranh mái cũ quen chừng,

Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn.

 

Thị ngạn am, tiết Lập xuân, Đinh dậu

Tuệ Sỹ

(3.2017)

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

“Café” Dương Thụ – Đỗ Hồng Ngọc (tiếp theo)

03/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

“Café” Dương Thụ – Đỗ Hồng Ngọc (tiếp theo)

Cám ơn bạn đã chịu khó ngồi nghe toàn bộ buổi “Café” Dương Thụ – Đỗ Hồng Ngọc từ 12h đêm đến 1:30 sáng! Dài quá phải không? “Mấy ông già nhiều chuyện” quá phải không? Có bạn bên kia nửa vòng trái đất bảo phải nghe 2,3 lần mới hết, kể cả mấy bài hát! Có bạn còn bảo nghe đi rồi nghe lại…

Nhưng, đa số “thắc mắc”: thế thì bài hát “Thư cho bé sơ sinh” của Phạm Trọng Cầu phổ thơ Đỗ Hồng Ngọc vẫn chưa có ai hát ư? Chưa. Trước đây có ca sĩ Thu Vàng bảo đã hát “nháp” thử mà không dễ, bởi PTC phổ bài thơ gần như thành “nhạc kịch”!

May thay, sau này, nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc bài thơ Thư cho bé sơ sinh và đã đưa lên youtube một clip rất hay với những hình ảnh minh họa do Giao Trinh (Diệu Hạnh) thực hiện.

Mời bạn thử nghe xem nhé.

Thân mến,

ĐHN.

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Vài đoạn hồi ký

Nhạc sĩ Dương Thụ: “Café” với Đỗ Hồng Ngọc

23/07/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nhạc sĩ Dương Thụ: “Café” với Đỗ Hồng Ngọc 13.7.2019

 

nvquyen vừa gởi clip ghi buổi “Tâm tình” của Đỗ Hồng Ngọc với Dương Thụ và các bạn tại CAFE THỨ BẢY ngày 13.7.2019 vừa qua. Xin chia sẻ.

Đa tạ nvquyen.

ĐHN.

 

Viết thêm:

Có vài bạn “phàn nàn” rằng nghe nhạc sĩ Dương Thụ hỏi về thơ tình Đỗ Nghê mà tôi cứ như “né” đi. Nay xin gởi bài thơ Mũi Né này (đã đăng trên Bách Khoa, 1970) và nay nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã phổ nhạc với tiếng hát Thu Vàng để tặng các bạn vậy nhé.

Bài này nvquyen cũng đã chuẩn bị để trình chiếu hôm đó nhưng thấy ít thời gian nên ngưng.

Cảm ơn nvquyen.

Trân trọng.

(ĐHN)

 

 

Và đây là bài thơ Xin Cám ơn, cám ơn tôi viết ngày còn nằm ở BV mà bạn Quách Mạnh Kha đã đặt câu hỏi trong buổi Giao lưu 13.7.2019 tại Cafe Dương Thụ:

Xin Cám ơn, cám ơn

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Như cỏ cây trước cơn bão dữ
Như con thuyền tung hê lên vách núi cao

Cho ta trở về làm con thú hoang sơ
Trần truồng như nhộng
Kẻ cạo đầu người lột da
Kẻ đục sọ người giúp thở

Kẻ đặt ống sonde vào đường tiểu
Người bơm thuốc qua dịch truyền
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Không lý trí không nghĩ suy không toan tính.

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo như cơn bão dữ
Bản tin thời tiết chưa kịp loan truyền
Quất qua đời ta cây cỏ
Để khi tỉnh dậy ta nhìn ra em
Nhớ tiếng người này nhìn ra người nọ
Gọi tên người này nhớ mặt người kia
Như đã qua một kiếp khác
Bao năm xa vắng quê nhà!

Nhớ bước chân trâu nhớ giàn bông bí
Nhớ cây khế ngọt nhớ trái dừa xanh
Nhớ tiếng mẹ già nhớ đàn con trẻ,
Nhớ người hàng xóm lâu nay còn lạ
Nhớ những người thương nhớ luôn người ghét
Thấy ai cũng tôi nghiệp
Như ta
Đã bao lâu ta không sống với mình
Ta có ta mà quên ta phứt.

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc
Cho ta trở lại với mình
Ta muốn ôm hôn tất cả mọi người
Và ôm hôn ta nữa
Cái đầu trọc lóc bình vôi
Hai lỗ thủng và 18 vết khâu từ ái
Ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở
Lắng nghe sự sống cục cựa trong mình.

Xin cám ơn, cám ơn
Những cơn đau vật vã toát mồ hôi
Những nhức buốt thiệt thà thú vật
Khi đứng được hai chân như con người
Thật vô cùng hạnh phúc
Khi bước đi những bước con người
Khi còn được nghe được nói
Được cầm cây viết vẽ bâng quơ
Được đọc vài trang báo
Ôi phép lạ nhiệm mầu!

Những hòn sỏi bỗng có linh hồn
Những lá cây đong đưa lạ lẫm
Tiếng chim và ánh nắng
Như đã lâu rồi ta mới gặp nhau
Như đã lâu rồi ta mới quen nhau…

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Tràn đầy hạnh phúc
Để ta biết chắc một điều có thực
Tình yêu
Đã giúp ta tìm lại chính mình
Đã giúp ta vượt thoát!

Đỗ Hồng Ngọc
(Bệnh viện AB 12/1997)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Vài đoạn hồi ký

Một hôm gặp lại Nguyễn Xuân Thiệp

22/07/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (7.2019)…

Một hôm gặp lại Nguyễn Xuân Thiệp

Bạn biết đó, mình vừa mất toàn bộ các bài viết, draft, hình ảnh… trong cái “ổ cứng” kỳ cục gì đó của máy vi tính… Đứa cháu nói để con ráng “cứu” dữ liệu xem sao. Thất bại. Mà như bạn biết, “Thất bại là mẹ đẻ của… đại bại” nên không có gì đáng ngạc nhiên.

Lò mò thế nào, lượm được bài Nguyễn Xuân Thiệp đọc “Một Hôm Gặp Lại” của Đỗ Hồng Ngọc. Trời ơi, xưa giờ chưa thấy một bài “đọc sách” nào trời ơi đất hỡi như vậy. Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, chủ xị phovanblog bạn nhớ chứ? Mình chưa gặp anh lần nào mà đã thân thiết lắm. Anh lứa lớn, bạn với anh Cao Huy Thuần mà. Cao Huy Thuần bảo ngay từ hồi còn bé, chơi với nhau chỉ thấy Nguyễn Xuân Thiệp làm thơ! Và thơ anh ngay từ thời xa xưa đó không chỉ có từ có tứ có âm có vận mà còn rất “tân hình thức” nữa. Những dấu chấm đột ngột, những ngắt dòng đột ngột… đã khiến câu thơ sửng sốt thành vô số tứ thơ, bài thơ…

Và như thế, Nguyễn Xuân Thiệp đã “đọc sách” Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc. Một bài đọc sách kỳ cục, một bài rất thơ nguyễn xuân thiệp… Rảnh đọc lai rai vậy nhé.

Ta sẽ giật mình “gặp lại” biết bao người, biết bao nỗi niềm từ Bồ Tùng Linh đến Nguyễn Du, Saint Exupery, rồi Bùi Giáng, Mai Thảo, Quách Thoại, Hoàng Ngọc Biên, Diễm Châu, Trịnh Công Sơn, Đỗ Trung Quân, Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn, rồi Đinh Cường, Bửu Ý, Nguyễn Đức Sơn, Hà Thanh, rồi Võ Phiến, Trang Thế Hy, Thận Nhiên, Diễm Tú, Hoàng Chu, Xuân Phước, Kim Phượng, rồi Trần Hoài Thư và Yến, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương…

Và vì thế, không có lý do gì ta chẳng “gặp lại” Nguyễn Xuân Thiệp “một hôm”,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Sg 22.7.2019)

 

 

MỘT HÔM GẶP LẠI*

Nguyễn Xuân Thiệp

 

 

Bạn từ quê nhà gởi cho cuốn sách

ôi. món quà quý giá biết bao

và tôi gặp lại

chàng hoàng tử bé

với hình con trăn nuốt con voi. đang nằm nghỉ. như chiếc nón úp

đơn giản vậy. mà người lớn không ai hiểu cả

và cậu đã trồng. một cây hồng. trên hành tinh bé xíu

saint-exupéry ơi. ông sẽ sống mãi. với cây hoa hồng. và chàng hoàng tử bé này

tôi cũng thấy. mình là người đi chia lửa. như lời phật nói
ghi trong sách đỗ hồng ngọc

tôi đi chia. hơi ấm. của một mối tình đã chết. với làn hương. mê

tôi cũng chia. ánh đèn của một sân ga nhỏ. tiếng chuông xe điện leng keng. bên bờ sông vắng

cùng những cánh môi khô

của cánh đồng gai

và cả mùi hôi. của một vùng biển quê nhà

ôi ngọn lửa của tôi

không được như lời phật dạy

thơ tôi. rồi sẽ tắt. cùng đời tôi

may thay. tôi gặp lại. dòng sông thuở bé, như thanh kiếm dựng giữa trời. trong thơ cao bá quát

sông hương đó anh ngọc ơi
dòng sông đã theo tôi. trên khắp chặng đường tôi qua

qua nắng. qua mưa. và tuyết phủ

trận thunderstorm

và mùa thu. trên quảng trường harvard square. của boston

trên chuyến xe lửa ngày nào

tôi cũng làm người kể thơ

cho cô susan nghe

những câu thơ bụi. có mùi thơm của cánh hoa khô. trên vỉa hè

tôi gặp lại. trịnh công sơn. với miệng cười khúc khích trên lưng

và con tinh yêu thương. vô tình chợt gọi**

mặt trăng. nằm ngủ trên đồng cỏ khô

 

Khi ở thành phố Garland, June 2016

*Tuyển tập Tùy Bút Đỗ Hồng Ngọc

**Ca từ Trịnh Công Sơn

(http://phovanblog.blogspot.com/2016/06/mot-hom-gap-lai.html)

………………………………………………………….

MỘT HÔM GẶP LẠI. TIẾP TỤC…

nguyễn xuân thiệp

 

anh đỗ hồng ngọc ơi

hôm nay thấy có hứng chút chút

nên muốn được cùng anh

trở lại với mùa thu boston

cùng anh đi trên chuyến bus. có cô susan

ngồi kể thơ

vẫn là thơ của anh chàng đỗ trung quân

nhưng không phải. chùm khế ngọt. hay giỏ xe chở đầy hoa phượng.

đỏ

những thứ ấy là của tuổi học trò. xưa rồi

mình già đầu

chơi thứ khác

có chút xì ke. đế. và thêm chút gái. càng phê

vâng. ta sẽ kể cho susan nghe. chuyện cùng với chàng thi sĩ họ đỗ. gầy còm

ngồi trong garage để xe. nhưng không có xe

xe nằm ngoài đường

đây là nhà hoàng ngọc biên

người tôi quen thân

ngồi ở đây. nhé susan. ta vừa uống bia. vừa hút thuốc lá. nói chuyện văn chương. thời thế. cả chuyện cá chết. và biển thúi

chuyện cô học trò hát rap

và obama núp mưa. trong quán chiều. hà nội

chung quanh chỗ chúng ta ngồi. có hơi sương mù. và chú sóc giỡn chơi

ô. anh và susan. có ngửi thấy mùi của những bông khuynh diệp vàng cháy khét. diễm châu đang dùng quẹt ga đốt. trên đường chiều trương định. có tiếng chuông nhà thờ xa

diễm châu giờ đã chết

anh ngọc ơi

còn tôi đây, muốn kiếm một bà già dẫn mình ra bờ sông tình tự. nhưng hỡi ơi. bà ấy chỉ thích đi kéo máy casino

chán không. chung quanh tôi cũng có dăm cô sồn sồn. nhưng mấy cô này chỉ muốn đi với kép trẻ. tiên sư cái sự đời

thôi thì ta trở về với cô bé có mái tóc bánh bèo. nhớ lại thời mình chăn trâu. đầu húi cua. khét nắng

đời đơn sơ vậy mà vui. lại được cùng cô bé cạp chung củ khoai lang nướng. có mùi sùng. như tôi với cô bé thỏ. thời vương phủ

đêm qua. tôi đi bụi ở nhà diễm tú. cùng với nghĩa và thận nhiên hát quán bên đường. tôi chỉ hát ké thôi, vì sợ hư bè như nhật hoàng nói

ôi. mình gặp lại cô bé mái tóc bánh bèo trong một quán bar khuya. hình như là the house of the rising sun

em bây giờ. bẹo hình hài. đem thân xác hiến cho phường tục tử. kiếm tiền

còn tôi làm nghề viết mướn

em hỏi đời buồn hay vui

tôi đáp. buồn hay vui. thì cứ hỏi cuộc đời

tới đây. tôi cầm ly rượu đập xuống bàn. đánh rầm

khiến  hoàng chu đứng gần đó. giật mình. trợn mắt. ngạc nhiên

(còn tiếp)

NXT

…………………………………………………………………

 

Lần nữa. MỘT HÔM GẶP LẠI

Nguyễn Xuân Thiệp

 

anh đỗ hồng ngọc thân

đêm qua. một trận thunderstorm. kéo qua bầu trời

tỉnh giấc. ba giờ sáng

tôi nghe như tiếng không lộ thiền sư. hú rền. lạnh thái hư

nhìn ra. thấy bóng đinh cường. bạn chúng ta. mặc áo tím. đi trong mưa. qua rừng natick. có tiếng còi tàu

vọng lại

và tôi muốn khóc

gọi thầm tên nhau. như sơn. gọi thầm. gọi thầm tên nhau. đừng bỏ tôi đi*

ơi hà thanh. … xứ huế bây giờ / vẫn còn núi ngự bên bờ sông hương**. bùi giáng ngày nào đã hạ bút.

vậy mà hà bỏ đi sao. huế và hà thanh. chưa ai hát hải ngoại thương ca hay bằng hà. cả mình và nguyễn

xuân phước đều mê. đêm qua nhân giỗ đầu của hắn mình vừa nghe lại. đêm trên trời có một vầng trăng.

trăng của dòng sông xanh đó. hà ạ.

vừa dẫn thơ. bỗng thấy bùi giáng chợt hiện

đứng múa. trên ngã ba đường bà lê chân. tân định

bùi giáng. lưng đeo đầy túi cói. và lon cóng

cầm chiếc quạt

đưa cao. hát

em ơi. em đẹp vô cùng

vì em có cái lạ lùng bên trong**

a. cái lạ lùng bên trong là gì. đọc một hôm gặp lại của đỗ hồng ngọc. chỉ thấy anh ỡm ờ. không chỉ đích

xác

tức quá. bèn tìm cho ra

và rồi chợt ngộ

đúng rồi. cái chỗ đặt của mai thảo*** đó mà. thảo nào

nhiều người mê

như mê sến già nam. ý. đừng. mê sến nữ trẻ thôi

bỗng dưng. thèm đi ra bãi biển phan thiết của anh đỗ hồng ngọc. ăn cái bánh căn. rồi tắm biển. không sợ

cá chết. nước nhiễm độc

ở đây tôi gặp. từ thế mộng và nguyễn bắc sơn. ngồi nhậu trong một quán lá bên đường. đọc thơ

tôi nghe. mấy hôm nay biển thở dài / thì ra em bệnh đã vài bốn hôm…**** và nghe. ta vốn ghét đàn bà

như ghét cứt / nhưng vì sao ta lại yêu em…*****

ôi. ghét đàn bà ư. ở đó mà tin mấy ông nhà thơ. tui thì đàn bà nào cũng mê và còn dại gái nữa. như một

chị bạn xinh đẹp ở đây từng nhận xét

hơn thế nữa. muốn làm chàng trai ở rể được người yêu cẩn thận dặn dò. chuột kêu chút chít trong rương

/ anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay

và làm chàng thư sinh mặt trắng của bồ tùng linh gặp cô ma nữ hỏi không đáp bèn giao hoan

thôi. nói chuyện bậy bạ quá trời. đó là do ông đỗ hồng ngọc đầu têu. xin người yêu đứng đắn của tôi ở

bên bờ tây đừng rầy la. tội nghiệp

thôi. chuyện nghiêm chỉnh vậy

trước hết là chuyện ông võ phiến. cùng bạn. ngồi nhìn bồ câu bay. lâu lâu con mái xòe đuôi để con đực

“lắp ráp”. rồi lại bay đi. trưa nào cũng bay******

trời ơi. lại nói bậy rồi. cho dù nói theo hai ông đỗ hồng ngọc và võ phiến. xin trở về với các bạn ta. chắc

ăn hơn

đinh cường chẳng hạn. không bao giờ nói bậy. chỉ nói những lời có cánh dễ thương. nên được bạn bè

yêu mến. xin kể ra đây tựa đề những đoạn ghi của cường theo sách đỗ hồng ngọc. đoạn ghi ngắn nhớ

ngày 15 tháng 3 sinh nhật cháu. cho con dốc sâu xuống thân trọng điền trang. thăm những nhà ga sắp

hồi sinh. thức dậy ngồi im trong đêm khuya. tạm biệt sài gòn lần nào cũng mưa chiều nặng hạt. từ đà lạt

thuê xe tắc xi cùng bửy ý về thăm sơn núi. v.v…

cường ơi. tôi muốn một hôm nào đó. xin trở lại thăm cái basement của bạn. ngắm các bức tranh. những

chân dung bạn bè. và nhìn hình chụp bạn cùng tôn nữ kim phượng. thời còn trẻ. nắm tay nhau chạy

xuống đồi. với tôi tấm hình này là đẹp nhất trong những trang đẹp của đời bạn

và lữ kiều. người chủ dễ thương của thân trọng điền trang ở đà lạt. chàng yêu thơ từ lúc trẻ. không hề

coi thơ là thứ để trang sức. chàng viết. con dế mèn có thể hát để mà hát nhưng tôi không thể viết để mà

viết

còn lê ký thương nữa. người luôn bị ám ảnh bởi bông sen. mải mê vẽ nó. để rồi cuối cùng thị được và

sụp lạy cúi đầu như quách thoại trước bông thược dược…

lại nữa. tôi từng đọc và mê chiếc piano treo ngược và những giấc mơ của lữ quỳnh có bạn bè cười nói

đông vui, ấm áp. lữ quỳnh từ bao lâu nay vẫn là người thiết tha, thủy chung với bạn. những niềm vui, nỗi

buồn của anh hầu như lúc nào cũng có bóng người bạn bên mình. nhưng theo đỗ hồng ngọc, thơ lữ

quỳnh gần đây đọng một nỗi sầu dằng dặc đến phải kêu lên “đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi”!

với trần hoài thư. người chủ thư quán bản thảo và thư ấn quán. vẫn là con bìm bịp gọi chiều nước lên.

anh và chị yến đã bỏ bao công sức và thì giờ cho những công trình văn học miền nam. có hôm trên

đường tới thư viện tìm tài liệu. giữa tiểu bang mênh mông. anh và chị yến dừng xe thổn thức. chị yến giờ

này nằm một chỗ trong nursing home. anh một mình ra báo in sách. ôi. văn chương vô mệnh lụy phần

dư. là nguyễn du hay là anh đó. hả anh thư. son phấn có thần chôn vẫn hận. văn chương không mệnh

đốt đi lụy vẫn còn*******. ôi. tôi vẫn mong tới thăm anh và chị yến một lần mà không có ai cùng đi.

anh đỗ hồng ngọc ơi. bây giờ cho nổ sảng chút chơi nha

trong dư vang tiếng sấm. đọc lại thơ mình tôi thấy hiện lên cây sequoia ngàn tuổi. sừng sững giữa đại

ngàn. ngọn vươn tới trăng sao

 

Khi ở Garland. Đêm 17 tháng 6. 2016

Nguyễn Xuân Thiệp

(nguồn: Thư Quán Bản Thảo số 71, tháng 7. 2016)

………………………………………………………………………….

*Ca từ Trịnh Công Sơn

**Thơ Bùi Giáng

***Đặt tay vào chỗ không thể đặt…

(Chỗ Đặt. Mai Thảo)

****Thơ Từ Thế Mộng

*****Thơ Nguyễn Bắc Sơn

******Văn Võ Phiến

*******Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

          Văn chương vô mệnh lụy phần dư.

(Nguyễn Du. Độc Tiểu Thanh Ký)

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thu goi ban xa xoi…

19/07/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Ban nghĩ gì khi một lão 80 bi hư máy vi tinh! Loay hoay, lò mò, lọ mọ… lơ mơ bấm bấm mở mở, quên mật khẩu, go go go go năm lần bảy lượt… bị xoá toàn bộ mấy bài mới viết, đang viết, hình ảnh…  Đành cười trừ. Thử nhờ mấy cháu nhỏ “cứu” dữ liệu xem sao… Nói nặng quá, cứu hổng nổi. Mua cục “cứng” mới lam lại từ đầu! Thiệt đáng ganh ti với Ông Tô ( Tô Đông Pha) có một nàng Vân theo hầu, mài mực, đọc thơ… những lúc thả thuyền trên sông…  DHN.

Thuộc chủ đề:Uncategorized

TỊNH THY: Văn chương lại gõ cửa Huỳnh Như Phương

12/07/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Văn chương lại gõ cửa Huỳnh Như Phương

TTO (11.07.2019) – Tôi thích câu này của GS Huỳnh Như Phương: “Nếu văn chương là bản mệnh đeo đuổi một con người, thì nó sẽ gõ cửa số phận không chỉ một lần, bởi nó tin rằng người được gọi sẽ góp phần làm nên công tích”.

Văn chương đã từng gõ cửa nhà văn, nhà lý luận – phê bình Huỳnh Như Phương nhiều lần và nó được đáp trả với gần 20 tác phẩm sáng tác lẫn nghiên cứu có giá trị. Lần này, văn chương lại gõ cửa, và “công tích” là tập tiểu luận Giấc mơ, Cảnh tượng và Cái nhìn.

Cuốn sách tập hợp 21 bài nghiên cứu, phê bình của tác giả đã từng công bố, được cấu tứ thành 3 phần một cách khoa học và đặt tên rất nên thơ: Gọi tên những giấc mơ (thơ), Những cảnh tượng trần gian (văn xuôi), Khoảng cách và cái nhìn (phê bình, lý luận). Cuốn sách có khả năng cuốn hút và mang lại bất ngờ cho người đọc ngay cả khi bạn đã đọc các tiểu luận này rải rác trên báo chí.

Đối tượng nghiên cứu của cuốn sách rất rộng với nhiều tác gia, tác phẩm và trào lưu: Trần Mai Châu, Nhất Hạnh, Trụ Vũ, Đỗ Hồng Ngọc, Chinh Ba, Lữ Quỳnh, Tam Ích, tạp chí Trình Bầy, văn xuôi hư cấu, những nhà văn khuynh tả ở miền Nam trước 1975, báo chí và phê bình văn học…

Cho dù khảo sát những đối tượng cũ hay mới, “chìm” hay “nổi” trên văn đàn, tác giả Huỳnh Như Phương cũng mang lại cho người đọc những kiến thức mới mẻ về nội dung lẫn phương pháp phê bình.

Ngay cách đặt nhan đề, tiêu đề của các tiểu luận trong cuốn sách cũng cho thấy sự gia công nghệ thuật và sáng tạo của người viết. Kháng cự Thơ Mới? Bùi Giáng: thơ phơi giữa nắng, Mộ huyệt và cơn khát nắng, Cái chết và cuộc trở dạ, Văn xuôi – chứng từ của chiến tranh, Đầu thai nhằm lúc sao mờ, Khối tình mang xuống… Dạ Đài chưa tan, Tình thế của những nhà nghiên cứu văn học… đó là những câu chữ có sức vẫy gọi rất lớn.

Luôn luôn như vậy, không rộn ràng khái niệm, không rổn rảng thuật ngữ, GS Huỳnh Như Phương chinh phục người khác bằng những nhận định sắc bén nhưng điềm đạm với một kiểu văn phong mềm mại nhưng quả quyết.

Ông thường chỉ ra được “dấu vân tay” của mỗi nhà văn, đặc biệt là các nhà văn chưa được giới phê bình chú ý nhiều. Điều đó cho thấy sự âm thầm đãi cát tìm vàng, tôn trọng cái riêng trong sáng tác của các nhà văn không có huy chương với tinh thần tiên phong của một nhà nghiên cứu.

Đọc bài phê bình của Huỳnh Như Phương, ta luôn nhận được những nhận định có tính khái quát và gợi mở cao: “Bùi Giáng là một thứ của lạ, của hiếm trong văn học Việt Nam. Ông là thứ quả mà cây văn chương chỉ kết được một lần”; “Bài thơ trên xương cụt” của Chinh Ba là “một trong những truyện ngắn hay nhất của văn học Việt Nam thế kỷ 20”. Những tác phẩm như thế, cùng với những anh em ruột thịt của nó trong văn học miền Nam, qua “phong ba bão táp của thời cuộc, thiếu chút nữa thì bị bỏ quên bên dòng trôi đi vô tình của lịch sử…”.

Ở một chừng mực nào đó, trong “sự điềm tĩnh của lý trí”, ta sẽ nhìn thấy tấm lòng người viết muốn tái sinh những giá trị bị bỏ quên trong vô tình và cố tình của lịch sử. Đó chính là tính công bằng trong nghiên cứu văn chương, bởi vì cuộc đời văn chương cũng như cuộc đời con người, những thăng trầm xảy ra nhiều lúc không phải từ lỗi lầm mà từ vận mệnh của chính nó.

Hãy cùng nối tiếp Giấc mơ, mở rộng Cảnh tượng với Cái nhìn công bằng như một khát vọng công lý văn chương của GS Huỳnh Như Phương.

TỊNH THY

(Nguồn: TuoiTre Online)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định

Ns Dương Thụ: Thư mời Cafe Thứ bảy 13.7.2019

09/07/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Salon Văn Hóa Cà Phê Thứ Bảy 13/7/2019

Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy

CÀ PHÊ THỨ BẢY
THƯ MỜI
CÀ PHÊ GẶP GỠ & ĐỐI THOẠI

Anh chị và các bạn thân mến!
Vào lúc 9 giờ sáng thứ bảy 13/07/2019
tại SALON VĂN HÓA quán CÀ PHÊ THỨ BẢY,
lầu 1, số 38 Võ Văn Tần Q.3 TPHCM
sẽ diễn ra buổi CÀ PHÊ GẶP GỠ & ĐỐI THOẠI
“Cà phê” với BS ĐỖ HỒNG NGỌC
Chủ đề: TÂM TÌNH CỦA MỘT NHÀ KHOA HỌC
 – NHÀ VĂN ĐỖ HỒNG NGỌC
Chủ trì:  DƯƠNG THỤ
Rất mong các bạn đến tham dự.
Hân hạnh được đón tiếp

GĐ CPTB
Dương Thụ

__________________

LỜI DẪN

“Đỗ Hồng Ngọc nổi tiếng từ rất sớm. Trước năm 1975, anh sáng tác thơ với bút danh Đỗ Nghê, đã có tác phẩm đăng trên các báo Bách Khoa, Tình Thương… Nhiều bài nổi tiếng như Em còn sống mãi, Tâm sự Lạc Long Quân, Lời ru, Cổ tích về ngôn ngữ  v.v… Sau này anh đã tập hợp in trong tập thơ đầu tay Tình người, xuất bản năm 1967.

Nhớ đến anh, lập tức những câu thơ trong bài Thư cho bé sơ sinh thấm đẫm tính nhân văn, thấu hiểu lẽ vô thường trong cõi nhân sinh lại vọng về trí nhớ: Khi anh cắt rún cho em/ Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé/ Vì từ nay em đã phải cô đơn/ Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ

Từ 1972, nhà văn hóa Nguyễn Hiến Lê nhận xét về anh: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”. Câu này, càng về sau lại càng thấy đúng.

Từ quyển sách Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972), và nhất là Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng (1974) đã tái bản rất nhiều lần, đáng chú ý nhất là các tập sách mà anh phân loại một cách dí dỏm là viết cho “Tuổi hườm hườm” như Gió heo may đã về;   Già ơi… chào bạn, Chẳng cũng khoái ru?,  Những người trẻ lạ lùng, Thư gởi người bận rộn… Những năm tháng gần đây, anh đã chú tâm nghiên cứu về Phật học, về thiền. Có thể kể đến những tập sách như Nghĩ từ trái tim, Gươm báu trao tay, Thiền và Sức khỏe, Gì đẹp bằng sen?… Đọc anh còn là một cách thư giãn, như được trò chuyện với một người bạn gần gũi và thân mật.

Nhắc đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, lập tức chúng ta nghĩ ngay đến một nhân vật khá đặc biệt: lãng tử và phiêu bồng trong thơ, dí dỏm và mạch lạc khi viết về y học, trầm mặc và sâu lắng trong tạp bút và thỉnh thoảng ông cũng ký họa chân dung bạn bè… Ông không ồn ào và gần như ít la cà chốn đông người. Và cứ thế, lặng lẽ sống an nhiên và lao động hết mình, ông đã có nhiều tác phẩm quen thuộc với bạn đọc.”

(Trích trong bài viết “Một người bạn gần gũi và thân mật” của nhà thơ Lê Minh Quốc).

Một con người như thế sẽ tâm tình với  chúng ta trong buổi cà phê mà CPTB đặc biệt dành cho ông.

__________________

VÀI NÉT VỀ DIỄN GIẢ

Image result for bs do hong ngoc

Tiến sĩ Y khoa quốc gia, tốt nghiệp Y khoa Đại học đường Saigon, năm 1969.
Tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard Hoa Kỳ (1993) và Giáo dục sức khỏe tại  CFES, Pháp (1997).
Nguyên giám đốc Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe Tp.HCM.
Nguyên giảng viên thỉnh giảng Đại học Y dược; nguyên Trưởng Bộ môn Khoa học hành vi & Giáo dục sức khỏe, Cố vấn Bộ môn Y đức-Khoa học hành vi Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM.

Website: www.dohongngoc.com
Email: dohongngocbs@gmail.com

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Fan “Thầm Lặng”

03/07/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Fan “Thầm Lặng”

My Ngoc Vota

Tôi đọc văn của BS Ðỗ Hồng ngọc lâu lắm rồi, sau đó thì subscribed từ internet để mỗi khi có bài mới, sẽ được đọc ngay

Tôi thích lối viết của BS DHN, như đọc những truyện của thời trước 1975, dạo sau này đọc văn theo lối viết mới, dùng các i ngắn thay Y, nghe thật khó nuốt!

Và cũng may mắn có được gần như hầu hết các sách của BS DHN, dù ở xa cũng ráng nhờ cô cháu hay bạn bè bên VN mua rồi ai sang Mỹ lại nhờ mang qua dùm.

Nghe cô bạn sắp về công tác ở VN, tôi “text” dặn nhờ mua dùm sách mới ra ” Về Thu Xếp Lại”, nếu tôi viết hoa đóng ngoặc đàng hoàng thì làm gì có chuyện nhầm lẫn!

Cô bé về VN, ra nhà sách mua dùm tôi, khi trở lại Mỹ, chụp hình cả chục cuốn sách, không có cuốn mới ra lò mà tôi nhờ, lại còn chụp hình bày sách ra cho tôi xem nữa chớ, cô nàng bảo :” em về bển, nhớ tên BS DHN nhưng không nhớ chị dặn tên sách gì nên em hốt hết, tôi mới lập lại tên cuốn sách mới, cô bé tỉnh queo: ” Em tưởng chị dặn em về thu xếp lại”!!!!!

Rồi xong!

Sau đó tôi phải nhờ cô Cháu chạy ra nhà sách mua, sẵn mang đến nhà xin chữ ký tác giả và chờ người qua Mỹ mang sang dùm, đấy có được cuốn sách thật nhiêu khê không các bạn?

Như đã nói, tôi thích lối văn của tác giả, thích luôn cả cách đặt các tựa đề của mỗi cuốn sách, thí dụ như “Gió Heo May Đã Về” đế chỉ cho cái tuổi Già đang đến mà theo ý tôi là tuổi Già “lù lù” đến viếng thăm mà đuổi không đi nhất định ở lại với mình, ha ha!!!

Cuốn sách mới nhất tôi có là “Về Thu Xếp Lại” khi Tác Giả bước vào tuổi 80
mà tôi đang nghiên cứu đây

Các bạn có thể vào trang nhà của BS Đỗ Hồng Ngọc tìm đọc nhé (nếu thích… như tôi).

Tính chấm dứt vài chục dòng suy nghĩ của tôi mà còn quên 1 chuyện, ngoài những Truyện viết, Tác Giả còn có những bài thơ hay mà ông Anh tôi đã phổ nhạc, nghe đi nghe lại không chán, à không phải mèo khen mèo dài đuôi đâu nghe bạn, nói thiệt đó 🙂

xin mời nghe:

Bông Hồng Cho Mẹ

youtu.be/CBk4jUw1IKs

Mới Hôm Qua Thôi

www.youtube.com/watch?v=I8CXZSy2Omg

Thư Cho Bé Sơ Sinh

www.youtube.com/watch?v=AFcTNEGe9n0

 

(Mỹ Ngoc Vota 7/1/19)

…………………………………………………………………………………………

Ghi chú: Bài này thấy trên Flickr, ghi An album by My Ngoc Vota. Và một người bạn xa xôi đã chuyển cho tôi. Xin cảm ơn My Ngoc Vota, cảm ơn DH.

“Vota” là “Võ Tá”. Mỹ Ngọc là em ruột của nhạc sĩ Võ Tá Hân đó bạn ạ, nên cô mới nói “không phải mèo khen mèo dài đuôi đâu nghe” khi khen nhạc của ông anh mình!

“Tủ sách” của My Ngoc Vota

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (1.7.2019)

01/07/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Ra mắt sách ở “Chuồng Cu Quán Văn”

Bạn ơi, cái tên gọi “Chuồng Cu Quán Văn” là do mình đặt ra cho cái “tòa soạn” này của Quán Văn từ ngày đầu và nay nó đã đi vào… lịch sử “văn học”.

Phải, đó là một cái phòng rộng khoảng hơn mười mét vuông một chút, kê cái bàn vi tính, mấy tủ sách báo, chỉ chừa vài góc cho bạn bè ngồi chen chúc của ông chủ “Quán Văn” Nguyên Minh. Từ ngày xa rời tờ bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức với nỗi nhớ khôn nguôi, Nguyên Minh bệnh lên bệnh xuống cho đến khi gây dựng lại “sự nghiệp” với cái tòa soạn chuồng cu này ông mới bỗng khỏe re không ngờ! Thì ra tại cái máu mê văn chương, mê sách báo, mê in ấn của Nguyên Minh. Có lần mình nghe Nguyên Minh nói mà cảm động: “cứ nghe tiếng máy in chạy soàn soạc là bệnh gì mình cũng hết”!

Gần 80 tuổi đầu, tóc còn loe hoe mấy sợi, râu lưa thưa cũng đã trắng phau, da nhăn xếp lớp lớp , chỉ có đôi mắt là sáng và cái miệng có chút móm duyên khi có đông vui bè bạn… Nguyên Minh khi cần phát biểu gì đó thì nửa chừng nghẹn, chảy nước mắt, còn khi nghe ai hát “Anh còn nợ em” thì… rống lên. Mới đầu tưởng hắn nợ cô nào, ai dè nợ… chuyện văn chương, sách báo!

Ngồi trong chuồng Cu, dòm qua cái khung cửa sổ bằng B40, thấy một thảm cỏ xanh mênh mông và những chuyến máy bay lên xuống liên tiếp. Nguyên Minh hãnh diện giới thiệu: Nhà mình rộng, đất rộng, nhưng dành để trồng cỏ và cho máy bay lên xuống coi chơi! Thì ra, cái chuồng cu Tòa soạn nằm sát sân bay!

Những năm gần đây, chỗ chuồng cu này ngoài dùng làm tòa soạn Quán Văn còn là nơi “Ra mắt sách”… của anh chị em giữa vòng thân mật bạn bè. Những buổi Rms kiểu này gần như là một buổi họp mặt potluck… mỗi người tự mang đến khoai, bắp, xôi, chuối…  và cả rượu, bia, thịt nướng… các thứ. Dĩ nhiên không thiếu hoa cùng tiếng đàn hát…

Thứ bảy rồi, 29.6.2019, “Ra mắt” cùng lúc 2 cuốn sách, một của Đặng Châu Long, và một của Trần Thị Trúc Hạ.

Thôi, tốt nhất là nghe Nguyễn Thị Tịnh Thy viết về Rung Nhẹ Tơ Văn của Đặng Châu Long:

“…Bằng trái tim nhân ái, bao dung và thấu hiểu lẽ đời, Đặng Châu Long rất nhiều lần cảm ơn đời đã cho anh những cuộc gặp đượm nhân văn đó trong nhiều tập bút ký Viết để nhớ. Và lần này anh dành riêng cho cuộc gặp văn chương với tác phẩm Rung nhẹ tơ văn.

Rung nhẹ tơ văn khe khẽ thôi, để hồn ta quấn quýt hồn người, để nụ cười không bao giờ tắt giữa những con người biết trọng tình hơn trọng chữ…” (NTTịnhThy 6.2019).

Và về Giấc Mơ Của Cỏ của Trần Thị Trúc Hạ:

“Khi tinh nghịch dí dỏm, khi khắc khoải da diết… Trần Thị Trúc Hạ cuốn hút ta bằng ký ức của thời thiếu nữ hồn nhiên kiêu sa và thời thiếu phụ ưu tư đa cảm… Giấc mơ của cỏ quặn thắt nỗi niềm thương cảm cho những điều chia xa, mất mát, dở dang…

Đi qua nhũng dâu bể của con người và thế sự, giấc mơ ấy vẫn luôn bền bỉ, hiền lành, giản dị và bao dung như cỏ…” (NTTịnh Thy).

Bây giờ mình nhường lời cho Đặng Châu Long thì tốt hơn nhé.

Thân mến,

Hẹn thư sau.

Đỗ Hồng Ngọc

(1.7.2019)

………………………………………………………………………………

 

VÌ NHAU RUNG NHẸ TƠ VĂN  CÙNG GIẤC MƠ CỦA CỎ

Đặng Châu Long

Mười hai mét vuông trong căn phòng nhỏ bé của tòa sọan Quán Văn đã trở nên thân thiết với tất cả chúng tôi từ gần tám năm nay. Ngày bình thường, nơi này bề bộn sách, giấy, máy in lớn nhỏ. Đều đặn mỗi sáng, lúc bốn giờ, anh Nguyên Minh bắt dầu ngày mới của anh tại nơi đây. Tiếng máy in lại vang lên thay thế tiếng chuông công phu đầu ngày. Một mình. Anh vẫn cặm cụi trò chơi văn chương cùng máy in, mực, giấy, trong niềm vui bất tận suốt  gần ba ngàn ngày như thế.

(…)

“Chủ xị” Nguyên Minh làm hột nhưn ngồi giữa…

Buổi sáng trời dịu không nắng. Tôi và Hạnh chạy đến tòa soạn thật sớm để phụ anh Nguyên Minh sắp đặt lại. Con số người dự trù là 20, có thể tăng thêm một vài. Trong khi bốn bên phòng chỉ chứa tối đa là 16, chưa kể những bạn hơi quá khổ, khổ quá, nhưng thân tình.

(…)

Lương Minh, Nguyễn An Bình, Đoàn văn Khánh đến, rồi anh Đỗ Hồng Ngọc cũng sang dù trưa nay anh bận một cuộc hẹn. Chỉ chưa đầy mười lăm phút sau phòng nhỏ đã chật chội tiếng cười vui của Anh Nguyên Minh&chị Lan, Vũ Trọng Quang&Quý, Trương văn Dân&Elena, Nguyên Cẩn&Ngọc Anh, Ngô Thị Mỹ Lệ&An, Đặng Châu Long&Hạnh, anh Đỗ Hồng Ngọc, Đoàn văn Khánh, Lương Minh, Hoàng Kim Oanh, Nguyễn An Bình, Quách Mạnh Kha, An Thảo, Quang Đặng, Trần Thị Trúc Hạ, Dung Thị Vân, Hoài Huyền Thanh, hai mươi ba người chen chúc chia nhau ngồi trong không gian 12 mét vuông. Nếu trừ đi không gian dành cho khu vực máy in, máy laptop và bàn thì mỗi người chỉ còn dưới nửa mét vuông. Chúng tôi đang cô đặc lại đến mức phải hạn chế từng động tác thừa. Chỉ có tiếng cười nói vô hạn định.

Không hẹn nhau, mỗi bạn mang một món: bia, rượu, xôi gói bánh tráng phồng, thịt nướng, bắp xảo, măng cụt, bánh các kiểu, bánh mì pâté, hoa hướng dương….bàn không đủ chất, cũng là vui.

Anh Nguyên Minh khai màn bằng một bài nói dở nhất của anh chỉ vì cảm xúc không nói được thành lời. Tôi coi đó là lời vô ngôn về tình thân ý nghĩa nhất của nhóm khi lòng đã dậy tuôn xúc cảm. Trúc Hạ đỡ lời anh Nguyên Minh kết luận: Hôm nay chúng ta lại thấy nhau, vui và “dzô” là đủ. Đúng, ờ thì dzô, ba chục lon bia cho 23 người cũng đã là nhiều. Và 4 giờ chen chúc cùng nhau vui đã là quá ít.

Tôi chật vật ghi hình. Tôi nói phòng này có dùng flycam cũng không ghi được toàn cảnh vì thiếu độ cao. Chiếc máy ảnh được chuyền tay nhau cùng ghi toàn cảnh rời. Những hình ảnh thật ngộ nghỉnh.

Trần Thị Trúc Hạ và Giấc Mơ Của Cỏ, với bìa Lê Ký Thương!

Đặng Châu Long

 

Đình An và Mỹ Lệ song ca 2 bài nhạc phổ thơ rất hay của Vũ Trọng Quang, và bây giờ là tiếng hát của Quách Mạnh Kha với An Thảo: Gọi người yêu dấu của Vũ Đức Nghiêm “…thương em mong manh như một cành lan”

“Sân khấu” hôm nay là khung cửa be bé của phòng. Chỉ còn nơi đó còn chừa lại chút không gian. Mà chỉ cần có chỗ đứng và hát bằng cả lồng ngực cùng nhau. An Thảo, con của Trần Hữu Hội cũng hòa vui cùng mọi người, hứa hẹn là một thành viên thường xuyên đồng hành cùng thân hữu. Nguyễn Thị Tịnh Thy háo hức từ Huế gọi hùn vui, chào mọi bằng hữu bằng hình ảnh từ video, hẹn ngày ra mắt Quán Văn sau.

(ĐCL)

29-06-2019

……………………………………………………………………………..

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nguyên Cẩn đọc “Về Thu Xếp Lại…” của Đỗ Hồng Ngọc

28/06/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Tản mạn khi đọc  “Về thu xếp lại…”

 của Đỗ Hồng Ngọc

 

Từ “ cát bụi tuyệt vời “ đến “ cát bụi mệt nhoài “

Từ trái: Trương Văn Dân, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyên Cẩn
(Cafe Bờ kè Elena Pullino Trương, Saigon 6.2019)

Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN) mở đầu quyển sách mới nhất  gồm 10  chương  của mình bằng chương “ Cát bụi tuyệt vời…” .Anh viết :”   “ Cái hình ảnh lấy cát bụi vo thành một cục rồi thổi vào đó một hơi dài để vươn vai lớn dậy làm người thì thật là thú vị . “ Nhưng  “ Có điều để cái “ cái bụi tuyệt vời  “ này trở thành “ cát bụi mệt nhoài “ là lỗi tại ta .” Tạ sao vậy ? Chúng ta đều biết rằng cơ thể của mình khi sinh ra đã được lập trình sẵn đến giờ G thì nó sẽ ra đi , thậm chí sớm hơn nếu gặp tai nạn . “ Sinh thành hoại diệt” là quy luật  ai cũng biết . Từ xa xưa  trong tiếng La tinh khi nói về con người , người ta dùng từ Homo , bắt nguồn từ Humus nghĩa là cát bụi  và cũng từ căn ngữ ấy mà con người phải hiểu phải sống  khiêm cung , nhún nhường , kính trọng những gì làm nên sự sống ( Homo- Humus –Humble – Humility…)  Nhưng sao “ cát bụi mệt nhoài ‘? Vì ta thôi ! Ta không biết tận hưởng cuộc  sống này , ta loay hoay trong những ước mơ , tham vọng , mưu đồ  toan tính và biến cuộc sống này trở thành nơi đấu tranh hay tệ hơn nơi giành giật niềm vui , thành đạt có khi từ tay người khác

Tác giả nhìn  vòng đời của con người trôi qua một cách lặng  lẽ với sự hiểu biết những nguyên lý vận hành cua nó vì bản thân anh là bác  sĩ “ Nhiều khi ,sáng dậy , nhìn  vào gương soi tôi lại thấy  tức cười .Tôi đó  sao ? Nhăn dần từng nét ngộ nghĩnh trên mặt trên da…Mấy tế bào của cơ mặt  hình như sinh tật làm biếng  , xệ xuống cho khỏe .” Anh cũng chợt nhận ra “ Lâu nay tôi hoang phí năng lượng vào những chuyện không đâu cho nên cơ thể căng cứng , rã rời. Lúc nào phổi cũng phải bơm hơi cho kịp , tế bào cũng hì hục sản xuất năng lượng .”  (Tôi chợt nhìn ra tôi )

Thu xếp hay buông thư  ?

Từ “ Gió heo may đã về “ ĐHN  đã nhìn thấy tuổi già lặng lẽ  bước đến ở tuổi 55 , đến 60 anh lại “ Già ơi …, chào bạn !“ . Đến  75 anh còn thủ thỉ “ Già sao cho sướng ? Nay thì đã 80 rồi , trên cả thượng thọ , anh thấy cần phải “Về thu xếp lại “.   Anh thu  xếp cái  gì ? Cho ai ? Trước hết , anh thu xếp giờ giấc cho chính mình . Thu mà không thu . Mặc kệ nó . Muốn ăn thì  ăn ; muốn ngủ thì ngủ , không đặt ra chương trình “ hành động “ cho mỗi ngày .Nhưng cũng phải có  chút kỷ luật , ngăn nắp : ăn vừa đủ  , ngủ vừa đủ , làm việc lai rai  cho đỡ mụ mị đầu óc ,và đặc biệt rèn luyện thân tâm qua việc ngồi thiền , nhưng ngồi cũng vừa đủ , tránh “ tẩu hỏa nhập ma. “ Kể cả thở ,“Bây giờ tôi chủ trương thở vừa đủ xài . xài ít thì thở ít.” Nhân nói chuyện thu xếp, tình cờ hôm nọ  vào nhà sách Phương Nam  , tôi mua được quyển “ The Life- Changing Magic of Tidying “ của Marie Kondo ,  đọc  để thay đổi thói quen hành vi của chính mình  vì tôi vốn dĩ luộm thuộm, lôi thôi bị rầy hoài mà vẫn quen tật ‘ lộn xộn ‘, sách vở để lung tung !  Trong sách , ngay phần mở đầu tác giả đã viết “Khi bạn hoàn tất việc sắp xếp lại căn nhà của mình  , bạn sẽ thấy  cuộc đời mình thay đổi một cách diệu kỳ. “ Một đoạn khác tác giả viết “ Nó cũng hệt  như thực  hành “ phong thủy “ , khi  bạn thu xếp căn nhà  của mình trong một trật tự hoàn hảo thì bàn ghế và các vật trang trí sẽ mang lại sức sống cho ngôi nhà đó .” , và cho  rằng khi bạn thu xếp đồ đạc quanh mình gọn gàng , bạn đã ‘lập trình ‘lại tâm mình .  Nguyên tắc căn bản đầu tiên là : Phải biết vứt đi ! Nghĩa là bỏ đi hết  những thứ không cần , không dùng , kể cả sách vở  không đọc , hay dự tính sẽ  đọc…. Làm những gì cần phải làm . Nói như ĐHN là “ rửa tay gác kiếm “ . Giờ đây , anh không khám bệnh , chỉ dự tham vấn thôi.”Dạy ít dần . dạy, chủ yếu là kể chuyện đời xưa cho sinh viên nghe , không dạy kiến thức , kỹ năng mà dạy về thái  độ , về mối quan hệ thẩy thuốc , bệnh nhân , về y nghiệp, y đức.Đó là cách  tôi “chọn ưu tiên” và “ tối ưu hóa “ việc của mình ở tuổi gìà này  “ , cũng là  biết sắp xếp công việc phù hợp tuổi tác và sức khỏe.

Đó là việc bên ngoài .Còn  bên trong thì sao ? Anh ĐHN muốn ta sắp xếp cái “ phong thủy” bên trong vốn lộn xộn ,“ tâm viên ý mã “ như khi anh viết Chương “ Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi “,  anh đề cập đên chuyện cảm xúc tuổi già , dễ mau  nước mắt , xem phim , đọc truyện tới đoạn nào lâm ly là khóc , khóc không kiểm soát  được . Tôi đã chứng kiến nhiều lần việc này ở  những người bạn U- 70 hay U-80 của mình : có người  đi công tác ra Côn Đảo với tôi nghe kể chuyện về các tù nhân  ngày xưa trong các trại  , khóc ngon lành , khóc không dỗ được ; hay có người chỉ cần nghe lại nghe một bài hát quen thuộc là khóc  , bất kể ở đâu …Thế nên thu xếp lại là điều chỉnh mình “ , sắp xếp cái “ đồng hồ sinh học “ cho nó sao cho ổn hơn , để nhận ra  cuối đời  rằng “ trăm  vết thương rồi như đá ngây ngô . “và cũng  hiểu rằng  cái chết đã được lập trình ngay khi sinh ra như đã nói ở trên .

Là bác sĩ đồng thời lại “ thâm  nhập kinh tạng “ khá sâu sắc , ĐHN hiểu ‘ ngũ uẩn giai  không “ , hiểu lý vô thường ,vô ngã của thân tâm ta  , của vạn pháp quanh ta. Anh hiểu  bốn sự thật  mầu nhiệm, mà Đức Phật dậy , khởi đi từ Khổ đế gồm Khổ khổ , Hành khổ và Hoại  khổ ví như đau răng là khổ mà không  đau răng cũng là khổ vì hễ  có răng là có khổ ,có thân là có bệnh như lẽ tất yếu mà mầm  hoại  diệt nằm trong cái được sinh ra . Đó là ý nghĩa của Tập  đế – nguồn gốc của các khổ . ĐHN muốn ta “ giành lại chủ quyền “ trong những ngày tháng  cuối khi ta phải biết kết hợp thân tâm .Nói như Thiền sư Nhất Hạnh “ Tâm ta là một vương quốc với lãnh thổ khá rộng bao gồm sắc, thọ. tưởng .hành và thức . Nếu ta  để cho những cảm xúc  và tri giác bị kéo đi bởi  những thói quen và tập khí thì ta đánh mất chủ quyền  ngay trên lãnh thổ chính mình “ (TNH-Con đã có đường đi )

Anh tìm đến cội nguồn của phiền muộn , của vô minh khi viết  “ Kiến tánh là Giác Ngộ  . Dễ không ? Còn  lâu.Nói chung thì vì cái tâm mình  nó lờ mờ , nó tù mù , nó u tối nên sinh ra tham lam . Gì cũng muốn , bao nhiêu cũng không đủ…Rồi cũng vì cái tâm lờ mờ ….nên sanh ra giận ( sân ) . No mất ngon giận mất khôn .  Cuối cùng anh trở về với tự thân mình “ Nghiệp từ thân khẩu ý mà nên. Cho nên chỉ có  ta mới cửu được ta .Cho nên phải quay lại với mình , phải nương tựa chính mình  , còn tìm kiếm đâu xa”  (Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt )

Chúng ta biết theo nhà Phật , nếu bát chánh đạo là con  đường đưa đến giải  thoát thì bát tà đạo  là con đường đưa đến khổ đau ví dụ như  tà niệm  lúc nào cũng muốn làm sao có nhiều quyền hành danh vọng và sắc dục  hay tà tinh tấn là mải mê làm việc quên cả việc chăm lo bản thân và gia đình  ….Ta phải về nương ‘ hải đảo tự thân “ vì khổ đau có mặt cùng lúc với  hạnh phúc. Chỉ vì ta không biết  .Thế nên Nhà Phật  dạy Diệt đế là sự  vắng mặt của khổ đau như là bóng tối và ánh sáng . Trong ta vửa có bùn lại vừa có sen , có cả rác và hoa .

Bác sĩ họ Đỗ bàn sâu  về ngồi thiền . Trong   vài Chương sau cùng ,  anh viết về “ Tứ niệm xứ “ , về phương pháp thiền quán  theo Kinh An Ban Thủ ý. Anh nói  về hơi thở và cách thở “ Cứ ngồi yên đó , lắng nghe  hơi thở của mình . Thở vào …thở ra . Một  hơi thở là một cuộc sống “ .. Không có hơi thở nào của hôm qua ,Không có hơi thở nào của ngày mai . hơi thở chỉ có hôm nay .Ở đây và bây giờ . Cho nên biết thở là biết  sống ở đây và bây giờ . Người nào luôn nhớ cái chết thì sống hạnh phúc ”( Đôi khi trên lá khô một  dòng suối ) Nói theo giáo lý nhà Phật thì đó chính là” Hiện pháp lạc trú “ hay Sức mạnh của hiện tại ( The Power of Now ). Anh cũng nói “ Thở sẽ tự động điều  chỉnh theo nhu cầu năng lượng của hành  giả .. Cảm nhận lúc đó như tan vào hư không  , không còn ngã , nhân , chúng sanh thọ giả gì nữa .”Nhờ “ quán hơi thở “ ta sẽ thấy hay nhận ra những nguyên lý khác của sự sống, của các pháp quanh ta .“ Một chiếc lá vàng rơi, người thi sĩ thấy cả mùa thu .. nhưng người quán chiếu lại thấy sự vô thường , vô ngã ,bất sinh bất diệt” ( Trời cao đất rộng một mình tôi đi )

ĐHN nói rằng nhờ học Phật  khiến thân tâm   trở về hợp nhất nên anh  “ Ăn được , ngủ được , tức ăn ngon , ngủ yên , làm việc nghiên cứu , giảng dạy viết  lách ít mệt mỏi , suy nghĩ tập trung tốt  …Sau đó biết thưởng thức cuộc sống , bớt sợ hãi , bớt lo toan tính toán … Không phải là lý thuyết suông mà là sự  thể nghiệm làm ngay trên bản  thân mình ..”( Để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười ) .

Chúng ta biết thiền ( Dhyana) nghĩa là buông thư , dừng lại , trong khi chúng ta ai cũng mang  hạt giống ham muốn , rong ruổi ,tìm kiếm . Nhà thơ Vũ Hoàng Chương từng viết :

”Lang thang từ độ luân hồi

U minh nẻo trước xa xôi dặm về  (VHC- Nguyện Cầu )

Đề làm điều này nhà Phật dạy ta dùng  chánh niệm .Niệm là chú tâm quán sát , là biết  những gì đang xảy ra quanh ta và quan trọng hơn , trong ta , Phải thu xếp lại ,nói như ĐHN  ,niệm để đạt samadhi ( định ), nếu không sẽ không thể có tuệ giác được . Nhờ đó ta hiểu biết  rốt ráo về nguồn gốc nỗi khổ và phương pháp diệt trừ những nỗi khổ ấy , chuyển  hóa tận gốc những phiền  muộn bằng Đạo đế .Thiền sư  Nhất Hạnh dạy ta phải biết “ ôm ấp  niềm đau “vì trong chúng ta  ai cũng có một chút bệnh ,không nhiều thì  ít , nên  kinh An ban thủ ý có một bài thực tập “ An tịnh thân  hành “ và một bài “ An tịnh tâm hành “, nghĩa là  buông thư thân rồi tiếp theo là buông thư thân .Người viết “  Chúng ta  thường có hai khuynh hướng tư duy , một là đi tới cái giận ,hai là đi tới cái thương . Nhưng khổ nỗi tư duy ta cứ thích chạy  về phía giận hờn và trừng phạt .”(TNH-sđd) Người ta trước những biến động cuộc đời  thường đi xa cái tâm ‘ trong sáng ngây thơ “ ban đầu của mình như lời thơ Bùi Giáng :’

Hỏi tên ? Rằng biển xanh dâu

Hỏi quê ? Rằng mộng ban đầu đã xa

Gọi tên là một  hai ba

Đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm

Kinh Phật nói vạn pháp  như mộng ,huyễn ,bọt sóng , hết thảy đều vô thường biến ảo . Có người giải  thích  hai câu sau là pháp ngồi thiền , sổ tức , đếm hơi thở trở về với bản thể chân tâm còn đo là vì tâm còn  mong cầu , nghi hoặc . Con người phai biết chấp nhận cả họa và phúc  mới đạt được an lạc , bình tâm .

VTXL viết nhẹ nhàng sâu lắng với 10 chương đều bắt đầu bằng những ca từ trong các bản  nhạc  Trịnh Công Sơn như một cẩm  nang thực hành chứ không thuần lý thuyết , trong đó chứa đựng cả một nền tảng Phật pháp uyên bác và những nguyên lý thiền quán giúp ta “ thu xếp “ lòng mình nhẹ nhàng . Có người rất thân với tôi dã tâm sự  “ Đọc xong VTXL,mình  mới thấy cuộc sống này đáng yêu đáng qúy biết chừng nào vì quỹ thời gian gần cạn  kiệt , chẳng nên so đo suy tính thiệt hơn với đời nhiều quá

Ta tiếc đời ta sao hữu hạn

Đành không trải hết được lòng ta ” ( Ta về – Tô Thùy Yên )

Trong Chương cuối ,  ĐHN viết :” Tóm lại vì có cái ta mà phát  sinh phiền não khổ đau. Pháp vận hành theo pháp, chẳng vì ta . ”( Để lại thiên thu hình dáng nụ cười ). Chúng ta hiểu thư giãn là hạnh phúc nhưng đồng thời cũng  vẫn phải cảm ơn cuộc đời ,cảm ơn  cha mẹ , thầy tổ ,chúng sinh, cả đất  và trời che chở cho ta , nghĩa là vạn  pháp vì biết ơn cũng là hạnh phúc .Ta cảm nhận tâm tình  của  thi nhân khi viết :

Ta về cúi mái đầu sương điểm

Nghe nặng từ tâm lượng đất  trời

Cảm ơn hoa đã vì ta nở

Thế giới vui từ nỗi lẻ loi.

( Tô Thùy Yên-Ta về )

Đó cũng là nguyên tắc bất nhị khi chủ thể và đối tượng là một mà bác sĩ họ Đỗ đề cập thoáng qua khi nói đến Tứ niệm xứ .

Trong cái “ thế giới vui “ấy , ĐHN viết “ Xưa nay chưa ai  mô tả một sự “ Cực Khoái “. Nếm trải mới biết . Cuối cùng là  tìm  một nụ cười . Nụ cười ấy là sự giác ngộ , giải thoát. “ (Để lại thiên thu hình dáng nụ cười) Cuộc đời như ai đó nói là đo hay đếm bằng những nụ cười . Hãy “ thu xếp lại “ lòng mình để tìm  nụ cười ấy ,theo tôi là tâm huyết của  tác giả  trong “Về Thu Xếp Lại…”.

 

Nguyên Cẩn

(6.2019)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Về Phan Thiết

21/06/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Về Phan Thiết

(tặng Trần Vấn Lệ)

Mình vừa định kể chuyện mấy lần về Phan Thiết gần đây cho bạn nghe thì Trần Vấn Lệ đã có thư hỏi “Có về Phan Thiết không? Có nhớ không…?”. Cho nên thư này, như viết riêng cho Trần Vấn Lệ, thiệt ra cũng là cho Phan Đổng Lý, Phan Bá Thụy Dương… cùng những bạn bè xa xôi khác!

Về Phan Thiết, lần nào đi ngang núi Tà Cú, dãy Ba Hòn, lang thang bên bờ sông Cà Ty (sông Mương Mán) … mình không thể không nhớ Hoài Khanh, nhà thơ xứ mình. Nhất là khi đi ngang Ba Hòn mình thường nhẩm câu thơ của Hoài Khanh “Người đi để dãy Ba Hòn chơ vơ” và cái Bưng Cò Ke ở ngay dưới chân dãy núi đó . Thế nhưng, nhớ lần ghé thăm anh ở Biên Hòa, anh đính chánh “Người đi nhớ dãy Ba Hòn trơ vơ” chứ!   …

Cái xứ mình lạ, cứ Tà Dôn, Tà Cú, Tà Đặng, Tà Mon, Tà Lài… cứ La Gàn, La Ngâu, LaGi, La Ngà…
Hoài Khanh sinh ra và lớn lên ở Đức Nghĩa, Phan Thiết. Nhà anh cách chỗ mình ở không xa. Anh lứa lớn, đã phiêu bạt… giang hồ tự thuở nào, lúc mình còn cắp sách đến trường tiểu học bên bờ sông Cà Ty! Anh vào Saigon, làm thơ, làm báo và một mình dựng nên Nhà xuất bản Ca Dao nổi tiếng một thời. Và thơ Hoài Khanh thì thời tụi mình không ai không thuộc ít nhiều. Trong bài thơ Đức Nghĩa, Hoài Khanh viết:

Biển mang niềm nhớ đi hoang
Gió Trường Sơn luyến mây ngàn Tà Dôn
Ôi sương Núi Cú lạnh hồn
Người đi nhớ dẫy Ba Hòn trơ vơ
Cành dương cát trắng hững hờ
Nhìn nhau thuở ấy bây giờ nhớ nhau.

Hoài Khanh

Vậy đó. Nói tới Phan Thiết là vậy đó. Biển. Cát trắng. Đồi dương. Mây ngàn. Tà Dôn. Tà Cú. Ba Hòn…

Gởi bạn mấy tấm hình để nhớ. Viết, mình làm biếng quá rồi bạn ơi!

một bức phù điêu để nhớ

Biển Phan Thiết (Ngãnh, Lagi)

Và mùa hè đến…

 

 

 

 

 

 

 

Lần nào về ngang Lagi mình cũng ghé Đập Đá Dựng làm một ly Càphê. Hồi nhỏ, thì đi xe đạp cùng bạn bè băng qua các láng tranh cao quá đầu, vèo đến Đá Dựng, lúc còn những tảng đá cao ngất (khi chưa xây đập), dựng xe, nhảy ùm xuống nước. Khi xây đập thì thấy giữa dòng sông có dựng một ngôi thủy tạ (nhà một cột) khá hùng vĩ, về sau có lẽ đã đổ ụp xuống lòng sông.

Nay dọc biển đã có những resorts… khá đẹp

và Núi Tà Cú cũng đã có cáp treo;

Bãi biển Đồi dương nhìn qua Lầu Ông Hoàng…

 

Và không gì tốt hơn, ngồi đây, dưới bóng dừa bên bờ biển đọc một vài trang sách… với một trái dừa ba nhát… quen thuộc.

 

 

 

Từ đó, không thể không ra Mũi Né…

Đừng quên ăn một chén chè đậu hủ nóng bên bờ biển, chỗ Đá Ông Địa.

Thuyền thúng về bày hải sản bán ngay tại bãi Đá Ông Địa…

Đá Ông Địa… xưa là một nơi nổi tiếng linh thiêng trên đường đi Mũi Né; cũng là bãi tắm đẹp, nơi du ngoạn, chỗ cắm trại của học sinh và những bạn trẻ ngày nào…

Đá Ông Địa ngày nay chỉ còn một ngôi miếu thờ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hẹn bạn thư sau.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Vài đoạn hồi ký

Huỳnh Như Phương: Giấc mơ, Cảnh tượng và Cái nhìn,

17/06/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đôi dòng về :

Giấc mơ, Cảnh tượng và Cái nhìn,

của Huỳnh Như Phương

NXB Hội Nhà Văn, phối hợp IRED ấn hành (4.2019)

 

 

 

Mai Sơn, trong Thay lời tựa với bài “Sự điềm tĩnh của lý trí” đã nêu lên một vài nhận xét thú vị khi viết về Huỳnh Như Phương:

“Sự phóng đãng của lý trí có thể đem đến nhiều phát kiến, nhiều giá trị, thậm chí là chân lý, nhưng sự điềm tĩnh của lý trí cũng làm được việc đó không kém…”

Thì ra Mai Sơn nhận biết HNP không chỉ là một người “điềm tĩnh của lý trí” (nhà phê bình?) mà còn là một người “phóng đãng của lý trí” (nhà văn?), vì HNP theo Mai Sơn, không chỉ là một nhà nghiên cứu văn học, “một nhà phê bình văn học đáng tin cậy” mà còn là một nhà văn, một nhà báo…

Cho nên Mai Sơn viết “ Thỉnh thoảng (HNP) lại cất lên một mẻ lưới. Để chia sẻ với mọi người. Như món quà của người bạn đường văn chương lịch duyệt”.

Cuốn sách gồm 3 phần, cũng theo Mai Sơn:

Phần 1 về thơ Gọi tên những giấc mơ: HNP tỏ ra say đắm trong tư cách người thưởng ngoạn, tiếp nhận, cảm tính và lý tính đan xen…

Phần hai về văn xuôi Những cảnh tượng trần gian bớt tâm lý thưởng thức để đối thoại, phân tích, khai mở những văn bản phức tap…

Phần 3 Khoảng cách và cái nhìn gồm những tiểu luận dài hơi, công phu về những hiện tượng văn hóa, văn học trước 1975 ở miền Nam, phát huy bề dày kiến thức và thái độ điềm tĩnh cũa mình…

Và Mai Sơn kết luận: đó là “những giấc mơ văn học của HNP… Cho phép ông giữa ban ngày vẫn dám mơ một giấc mơ đẹp về tương lai của văn học Việt Nam”.

HNP thì nói rõ hơn: “nhà nghiên cứu cũng như người sáng tác là những người góp phần bảo toàn khuôn mặt tinh thần của giới trí thức môt dân tộc. Qua những gì họ viết ra cũng như cách mà họ hành xử các mối quan hệ, có thể nhìn thấy phẩm chất và lương tri của tầng lớp trí thức, nội lực và tầm văn hóa của một dân tộc”.

Tôi nghĩ, với Giấc mơ, Cảnh tượng và Cái nhìn, trong thẩm sâu HNP chỉ muốn chia sẻ đôi điều cốt lõi: Phải đổi mới tư duy để “hòa đồng cùng nhân loai”(tr 225), để “đối mặt với toàn cầu hóa” (tr 241) bởi vì theo ông, văn học có cơ sở để “hướng tới sự hòa giải, hòa hợp” ( tr 255).

Một cuốn sách để đọc và suy gẫm.

Đỗ Hồng Ngọc

(15.6.2019)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Đọc sách

Ca sĩ Lâm Dung với “Bông hồng cho Mẹ”

17/06/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ca sĩ Lâm Dung với “Bông hồng cho Mẹ”

Tôi vừa nhận được youtube này từ Ca sĩ Lâm Dung. Cô Lâm Dung đã trình bày đầy cảm xúc và trang trọng bài Bông Hồng Cho Mẹ của nhạc sĩ Võ Tá Hân (phổ thơ Đỗ Hồng Ngọc) trong buổi Sinh hoạt Văn nghệ tại Viện Việt-Học, thứ bảy 8.6.2019 vừa qua.

Chân thành cảm ơn ca sĩ Lâm Dung, nhạc sĩ Võ Tá Hân và cô MC (chưa được biết tên) là người đã có lời giới thiệu đầy xúc động…

Xin được chia sẻ nơi đây cùng bè bạn.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Anh Võ Tá Hân vừa cho biết cô MC tên là Giáng Tuyết. Lần nữa, xin cảm ơn Giáng Tuyết). 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 32
  • Trang 33
  • Trang 34
  • Trang 35
  • Trang 36
  • Interim pages omitted …
  • Trang 96
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU
  • Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email