Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

“Úc du”… một chuyến (kỳ 2)

27/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

“Úc du”… một chuyến (kỳ 2)

 

Anh Tuấn dặn mình, ở đây khi nói đến chơi nhà ai, đến thăm ai, có nghĩa là đến… ăn. Cho nên khi có gia đình người bạn từ Sydney ghé thăm, anh tức tốc xách xe ra chợ đi một vòng, mua những thức ngon sẵn có mang về bày ra đầy bàn thành một bữa tiệc. Thế là đủ cho một bữa ăn thịnh soạn có heo quay, vịt quay, gà quay, gỏi, mực, tôm, cá hồi… các thứ, dĩ nhiên luôn có vài chai rượu chát, wishky… May mà ở Melbourne này, cấm hút thuốc. Mình tệ quá. Không uống rượu được, không ăn heo quay vịt quay… được, chỉ có thể chọn chút gà, chút cá hồi, vài con tôm. À mà tôm cũng lạ. Tôm luộc “đại dương”, nghĩa là luộc ngay lúc còn tươi, giữa biển rồi ướp lạnh. Để nguyên vậy ăn, không chế biến gì thêm. Ai cũng khen ngon. Mình chê… nhạt nhẽo quá. Phải nướng trên lửa than hồng, và ăn thì phải có muối… ớt, ớt hiểm cay xè mới thực ngon. Ai nấy chưng hửng. Bèn nướng thử vài con. Ai cũng kêu, ôi, thơm ngon thiệt.

Riêng anh Tuấn mình cực kỳ phản đối vụ đòi ăn… ớt. Ai đời, đi tour với người ta, xếp hàng vào quán fastfood… mà đòi ớt. Lại đòi ớt tươi nữa trời ạ! Lần sau, nhớ mua một túi ớt, mang lủng lẳng trước ngực cho chắc ăn nhé. Dĩ nhiên mình biết ăn uống là chuyện văn hóa. Văn hóa thì không giỡn chơi được. Có người mê mắm bồ hóc, người mê mắm ruốc, ngưới thích camembert…  Ai dám nói món này hơn món kia, người này hơn người khác về chuyện món ngon! Nghe có vị Sư nói “Nam mô Quan Thế Âm Bồ-tát mỗi người mỗi khác” mình rất chịu.

Lại có người tưởng mình ăn chay trường. Mình nói tôi ăn cái gì tôi… thích thôi, và cái gì tôi ăn cũng thành chay cả. Ăn trong chánh niệm và biết ơn mà. Hiện nay nhiều món ăn chay nhưng đặt tên rất “mặn”!

Mình phone thăm vài người bạn, rõ ràng họ rất vui, mời mình ở lại… ăn với nhau một bữa. Cô em họ kêu anh Ngọc hôm nay đi ăn với em một bữa nha, anh Ngọc mai đi ăn với em bữa nữa nha, trước ngày về nhớ đi ăn nhe… Ngay cả vợ chồng đứa cháu cũng tha thiết mời cậu đi ăn một bữa để được thăm cậu. Ô hay. Thăm sao phải ăn. Mình cương quyết… từ chối. Kêu tụi nhỏ đến nhà anh Tuấn thăm mình, uống trà hay nước lọc, trò chuyện cũng đủ. Mình nhắc chuyện quê nhà, chuyện bà con, nhắc chuyện ông bà ngoại, cha mẹ các cháu ngày xưa thế nào… Bọn trẻ há hốc ngồi nghe, cảm động. Rồi mình kết luận. Thấy chưa. Chuyện vãn đã đời nảy giờ vừa thân mật vừa gần gũi. Ra quán ăn, làm sao trò chuyện kiểu vậy được. Những người xung quanh nghĩ sao?  Mình vừa ăn vừa nói ào ào làm sao chánh niệm được!

Vì thế, nhiều lúc mình chọn cách đến thăm bạn bè… đột xuất, để bạn không kịp vất vả vì chuyện bữa ăn. Rồi cũng có người nhắc nhỏ mình: tại anh mới đến Úc lần đầu, bạn bè em cháu học trò… lâu ngày không gặp, chớ anh thử ở lâu lâu coi! Có lý. Cũng không sao. Lúc đó, mình lên chùa, xếp hàng lãnh cơm chay ăn miễn phí, vẫn ngon lành như thường. Nhớ hôm xếp hàng lãnh cơm chay ở chùa, không biết sao có người nhận ra mình. Hai vợ chồng lịch sự đến chào hỏi, và xin phép chụp chung cái hình. Thì ra cũng tại mấy cái youtube, những bài mình “Talk” ở chùa Hoằng Pháp, chùa Khánh An, chùa Xá Lợi…

 

Bữa ăn chay miễn phí mỗi sáng Chủ nhật ở Chùa Quang Minh.

 

Một bà mẹ kể chuyện hai vợ chồng làm việc cật lực, cắt ca cắt củm mua được cái nhà riêng cho con trai còn vị thành niên, nói sau này mẹ già con lo lại cho mẹ nhé. Thằng con trả lời sắc cạnh: Không! Cha mẹ già đã có nhà nước lo. Đúng, người già ở đây được nhà nước chăm sóc rất tốt, không để ai phải thiếu thốn. Phan Đổng Lý, người bạn làm social worker ở Úc hơn 40 năm nói Melbourne nổi danh 3 điều: đó là một garden state, nơi nào cũng vườn tược, cây xanh, không khí trong lành; một wellfare state, an sinh xã hội rất tốt, chăm lo cho người già, người neo đơn, trẻ 16 tuổi đã được trợ cấp riêng, y tế, giáo dục hoàn toàn miễn phí…; và là một legal system state, hệ thống pháp luật chặt chẽ, được tôn trọng tuyệt đối…

Phan Đổng Lý và Đỗ Hồng Ngọc, Melbourne 10.2019

 

Dĩ nhiên, ở một mặt khác cũng có nhiều vấn đề như sức khỏe tâm thần ở lứa vị thành niên, ở người có tuổi đang ngày càng gia tăng, bệnh tim mạch do lối sống, bệnh “ba cao một thấp” (cao máu, cao mỡ, cao đường và… thấp khớp!);  bệnh ung thư, đặc biệt ung thư đại tràng (colon) v.v… gia tăng, chủ yếu cũng là bệnh do lối sống.

 

 

Hẹn thư sau,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

Thư gởi bạn xa xôi: “Úc du”… một chuyến!

26/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

“Úc du”… một chuyến!

 

Hôm rời Melbourne trời lạnh 8 độ C, về đến Saigon 29 độ. Mưa to, gió lớn ở sây bay Tân Sơn Nhất, máy bay không hạ cánh được, phải bay vòng vòng hơn nửa tiếng đồng hồ nên khá là mệt mỏi, sau 8 giờ bay thẳng từ Úc về Việt Nam. Chênh lệch 4 tiếng, cũng chưa kịp quen. Đã vậy, về đến nhà còn bị cơn Gut hành hạ sau 3 tuần lễ giang hồ vặt ở xứ Kanguru từ Melbourne đến Canberra, Sydney… cho nên, thông cảm nhé. Ai biểu già mà còn ham! “Yamaha” đó, nhớ không?

Chuyện xin visa vào Úc tưởng dễ mà khó, bởi mình đã cao tuổi. Nghe nói làm online nhanh, mình yên tâm làm thủ tục. Mọi thứ trơn tru nhưng gặp rắc rối khi khám sức khỏe. Họ nói thận không tốt lắm. Các chỉ số chưa đạt như yêu cầu, bắt làm thêm linh tinh các thứ. Mình nói thôi dẹp. Nhưng rồi thử coi lại Textbook y khoa của Úc xem sao thì thấy ở tuổi mình các chỉ số như vậy là trong giới hạn bình thường, vả, đây không phải là thứ bệnh (?) lây nhiễm gì cho công đồng, nên thử viết cái thư… Họ bèn coi kỹ lại, OK, cấp ngay visa… 1 năm, đi nhiều lần, mỗi lần không quá 3 tháng và… không làm việc!  Việc của mình ở đây làm còn không hết! Chỉ muốn đi chơi một chuyến cho biết cái xứ Úc “thiên đường” nó ra sao. Nhập cảnh ở sân bay Melb, chưa đầy 10 giây đã xong. Họ chỉ dòm qua passport của mình, kêu bỏ cái kiếng ra rồi nở nụ cười, mời qua. Không thấy đóng dấu đóng diếc gì cả, cũng chả hỏi han gì cả. Mọi cửa như cứ mở rộng, chỉ tay đi rẹt rẹt.

Ông anh Đỗ Hồng Tuấn của mình ở Melbourne đã chuẩn bị sẵn kế hoạch đi tour Canberra, Sydney và  Great Ocean Road đâu đó cả rồi. Theo yêu cầu của mình, không đi máy bay, xe lửa mà chọn tour xe bus để có dịp ghé đó ghé đây. Ông dặn đi Úc không cần mang theo… tiền bạc và quần áo lạnh, vì tháng 10 Úc đã vào xuân! Sướng chưa? Ai dè đến Úc trời còn lạnh ngắt, đêm 7-8 độ, ngày 11-12 độ. Ai cũng kêu năm nay sao thời tiết lạ quá. Anh Tuấn là con bác Ba, bác ruột của mình, từ nhỏ anh em đã thân thiết, chỉ có điều anh mới 76, nhỏ hơn mình 4 tuổi, bơi lội, tài chí, đi bộ… nên còn khỏe lắm và chỉ cao hơn mình chừng 25cm thôi. Do vậy, quần thì mình mặc đến ngực, áo thì mặc gần tới đầu gối, phải nhờ bà chị cắt ngắn bớt. Anh đi như gió. Kêu mình đi lệt bệt quá anh không thể đi chậm được, thà đi một đoạn rồi đứng chờ còn hơn.

 

Đỗ Hồng Tuấn và Đỗ Hồng Ngọc trước Chùa Quang Minh ở Melbourne ngày 2-10-2019

 

Ủa, thành phố Melbourne đây sao? Sao giống Hốc Môn hay Thủ Đức quá vậy? Thì ra nhà ông anh cách City tới 40 phút! Lạ, cái xứ Úc. Họ không đo khoảng cách (không gian) bằng cây số, bằng kilomet mà đo bằng thời gian. Chỗ này cách chỗ kia bao xa? 1 giờ, 35 phút, 18 phút v.v… Và họ khổ vì xe hơi. Nhà nào cũng có hai ba chiếc, mỗi người một chiếc, mà chỉ thích đi xe bus, trame, xe lửa… vì khó tìm chỗ đậu xe. “Carpark” (bãi đậu xe) lúc nào cũng đầy nhóc. Dáo dác tìm một chỗ đậu, có người nhóm xe ra thì vài người… chen vào. Reo lên “lucky, lucky” khi  thấy còn một chỗ trống. Cứ “Pay Here” rồi thì cửa mở tự động. Nhiều khi kẹt gì đó cửa không thèm mở.  Hệ thống xe công cộng quá thuận tiện. Miễn phí trong nội thành. Giảm phí cho người già…

 

Nhà anh Tuấn ở St Albans, rộng thoáng và rất yên tĩnh, cách City chừng 40ph.

 

Quan tâm… hàng đầu của mình đến Úc là mua ngay cái sim card để điện thoại cho bạn bè ở Úc, gọi về Việt Nam, có 3-4G gì đó để có thể sử dụng bất cứ ở đâu, không cần Wifi lôi thôi. Ông anh mua ngay cho một cái xài luôn cả tháng cho đã! Ông chỉ “chịu hổng nổi” mình vài ba chuyện nhỏ: Điện thoại gì mà có cái cave cũ mèm, rách tươm, cầm chụp hình thấy mắc cỡ! Nhưng mình lại khoái cái cũ mèm đó! Rồi còn thêm cái túi rút xanh lè, kiểu túi nhái nhà quê thế kỷ trước, lúc nào cũng lủng lẳng trên lưng, chẳng ra cái thể thống gì cả… Mình cười túi này như túi ba gang, chứa sổ sách, giấy viết, giấy vẽ, áo lạnh, găng tay, tã lót… gì cũng có; lại khi ở trong đám đông người, lỡ có đi lạc, cũng dễ tìm thấy… Ông anh đành cười trừ cái ông em quái dị.

 

 

 

Quái dị nữa là chuyện ăn uống. Lúc nào mình cũng kêu sao ăn ăn nhiều quá. Gặp ai cũng được mời… ăn! Đủ thứ thịt: bò, gà, heo, cá, tôm, mực, sò ốc, rồi cả thịt trừu, cá sấu, kanguru… thứ nào cũng có. Cháo bào ngư mấy cháu trong nhà mời không chịu ăn, đòi ăn cháo trắng với muối… Thiệt chịu hổng nổi!

 

Melb City

 

 

 

Vậy đó, nếu bạn còn muốn đọc tiếp, thì hồi sau sẽ rõ.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(26.10.2019)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Hồ Đắc Đằng: Vô Kỵ Học Lái Xe

25/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Vô Kỵ Học Lái Xe

Hồ Đắc Đằng

Ghi chú: Bác sĩ Hồ Đắc Đằng là người bạn cùng khóa với tôi tại Y khoa Đại học đường Saigon (1962-1969) vừa có bài viết rất thú vị về chuyện “Vô Kỵ Học Võ” đã được post trên trang này và được rất nhiều bạn bè chia sẻ. Hôm nay anh gởi thêm bài Vô Kỵ Học Lái Xe cũng rất độc đáo.

Xin chia sẻ cùng các bạn.

Cảm ơn Hồ Đắc Đằng.

Đỗ Hồng Ngọc

PS Đa tạ Đèn Biển (Võ Quang), người đã chịu khó gõ Word từ bản viết tay “chữ bác sĩ” đọc không ra của Hồ Đắc Đằng.

………………………………………………………..

 

Vô Kỵ bây giờ đã trưởng thành, quyền cước điêu luyện, tâm thần sảng khoái, tánh tình khoan thai, điềm đạm. Hai thầy trò ngoài chuyện võ nghệ còn hay ngồi thiền với nhau. Vui nhiều. Một hôm thầy nó gọi nó vào.

– Vô Kỵ này. Ở đời không chỉ có đánh võ và tham thiền. Nếu đánh võ mà không có tham thiền thì cả 2 bên dễ bị gãy sườn, dập lách lắm. Ngoài đời dập lách nhiều lắm. Con phải xuống núi để dạy cho người ta vừa đánh võ vừa đỡ địch thủ kiểu múa Tango thì ai ai cũng vui, không còn ai thắng ai bại nữa. Ngoài đời thì rộng, chân con thì ngắn, đi bộ thì không biết bao giờ mới đến người ta được. Phật hồi xưa, ổng làm gì có xe. Ổng tà tà đi bộ, đôi khi đến chỗ người cần ổng giúp thì người đó đã chết mất rồi. Bây giờ mình có xe, mình đi được để đến giúp người khác. Con phải biết lái xe.

– Thưa thầy – Vô Kỵ nói – Con thấy lái xe dễ ợt. Con thấy mấy đứa con nít, mấy bữa trước còn mang tã, ngậm núm vú, mấy bữa sau tuyên bố với mẹ nó là nó 16 tuổi rồi nó muốn lái xe. Thế là bà mẹ phải bứt đầu, bứt tai đi mua cho nó một chiếc xe nhỏ cho nó lái, nó chạy phăng phăng, dễ ợt thưa thầy.

– Nầy Vô Kỵ. Chạy phăng phăng không hẳn là dễ. Chạy phăng phăng rồi vô phòng cấp cứu, đôi khi vô thẳng nhà xác là thường đó con. Chạy phăng phăng mà an toàn trên xa lộ mới là cái nghệ thuật của lái xe. An toàn cho mình và an toàn cho người mới là cái khó. Một kiểu Tango đó Vô Kỵ ạ. Lái nhường, lái nhịn là lái Tango. Con phải nhớ cái nầy.

Vô Kỵ: Thưa thầy, con thì thích cái gì nhanh. Đối với thầy, gió thổi nhè nhẹ trên mặt thầy là thầy đủ vui rồi. Con thì gió phải thổi bay tóc ra sau như khi con chạy xuống dốc núi thì con mới khoái. Lái xe mà cứ lái 5 dặm/giờ thì ai mà chịu được thưa thầy.

– Vô Kỵ này. Thầy không bảo là con phải chạy chậm luôn luôn. Đức Phật, ngồi yên một chỗ, chẳng nhúc nhích gì hết mà ổng cũng đủ vui rồi. Con còn ở đời. Con phải lái xe. Lái nhanh cũng được, lái chậm cũng được. Tùy lúc. Lái nhanh chẳng sao cả. Với một điều kiện.

– Điều kiện? Điều kiện gì thưa thầy? Đường phải không có ổ gà? Trời phải không có bão có tuyết? Phải không có sương mù khói phủ? Con sẽ rất cẩn thận.

– Vô Kỵ ơi. Con còn nông cạn quá. Mắt con sáng, phản xạ con nhanh, thời tiết tụi nó báo con biết trước từ 3–4 ngày trước thế mà tai nạn chết người vẫn xảy ra hằng ngày đó thôi. Tại sao con biết không?

– Xin thầy chỉ giáo.

– Tại vì không có cái thắng (phanh) tốt. Vậy đó con, người đời, xe của họ cái gì cũng tốt hết: máy mạnh, chạy nhanh ; đèn sáng, thấy rõ ; cảnh đẹp, mùi thơm 2 bên đường thì nhiều ; vui nhộn không thiếu ; chỉ thiếu có một cái thắng (phanh) tốt.

Con người ta có “3” cái xe: xe Thân, xe Khẩu (miệng) và xe Ý.

Cái thắng (phanh) của “xe Ý” là cái yếu nhất của người đời. Nếu con chưa thông thạo võ nghệ của thầy dạy thì con phải kiểm tra cái thắng nầy thật kỹ đấy. Một ý nghĩ bất thiện nảy ra là phải có đèn đỏ chớp lên trên dashboard của con.

Kế đến, là cái thắng của “xe Thân”. Cái nầy con đã thuần thục với kinh nghiệm học võ vừa qua. Con không còn có thể làm cho người khác, vật khác đau được nữa. Tụi Mỹ nó gọi “Do no harm to others and to yourself”. Con đã đạt đến cái thắng này qua học võ.

Kế đến là cái thắng của “xe Khẩu”. Cái thắng này ít người để ý lắm! Nó không có đèn đỏ trên dashboard. Thắng này nếu nó không ăn, không chạy thì cũng ít ai hay biết. Nó (Khẩu) xuất “ra” đều đều, làm ai cũng đau, ai cũng giận mà mình vẫn không hay. Con nhớ trong Bát chánh đạo có một cái gọi là Chánh ngữ. Cái miệng của người ta ngộ lắm Vô Kỵ ạ. Miệng người ta có 2 chức năng: một là để Ăn, hai là để Nói. Ăn thì ai cũng biết. Vô Kỵ, con có nhớ lúc thầy dạy võ cho con những năm đầu, thầy đã dạy con ăn không?

– Vâng thưa thầy. Con còn nhớ là con muốn ăn chay vì con thương tất cả thú vật. Con không muốn tụi nó phải chết để con được sống. Chính thầy đã dạy con phải biết ăn trong Chánh niệm,  và biết ăn trong một tâm thức biết ơn. Eating in mindfulness and gratitude.

– Vô Kỵ, con giỏi lắm. Đó chỉ mới có một chức năng của miệng thôi: Ăn. Còn cái chức năng kia là Nói. Con có biết là thầy trước khi học võ, thầy làm nghề gì không?

– Thưa thầy, con thấy thầy hay dạy con về tinh bột, đường, mỡ, chất đạm (protein), có vẻ thầy là một nhà khoa học sinh vật học?

– Thầy thuốc, Vô Kỵ ạ. Thầy là một thầy thuốc. Thầy chỉ dạy cho bệnh nhân về dinh dưỡng là mấy cái thức ăn này. Đức Phật là một thầy thuốc (y vương), dạy người đời về cái chức năng thứ hai  của cái miệng, là cái xuất “ra”: Lời Nói. Cái “vô” là đồ ăn, cái ra là “lời nói”. Mấy cái ra này mới là cái ngộ nhất đấy. Cái “vô” mà sai quấy, nó chỉ hại cho một người thôi, người ăn. Cái “ra” mà lạng quạng là nó hại người khác không kể xiết được. Nhiều khi đại chiến xảy ra cũng chỉ vì mấy cái xe không có thắng này.

– Làm sao có một cái thắng tốt thưa thầy?

– Thắng tốt cho Ý: tham thiền. Thiền định là con quán chiếu cái ý của con, từng giây phút. Bông hoa thơm con cũng hay mà như cứt bò con cũng biết. Tùy con, nếu con thấy cứt bò là thơm thì con cứ theo, chẳng ai cản con được cả. Làm sao con biết cái ý nào của con là cứt bò?

– Xin thầy chỉ dẫn. Nhiều khi con cũng khoái cứt bò. Ra chợ mua Cow manure về bón hoa, tốt đáo để.

– Cứt bò kiểu đó không sao cả. Cũng tốt thôi vì hoa của con nở, người khác cũng được thơm lây. Cái cứt bò “ý” là khi nào con thấy ai cũng là cứt bò hết thì chính con là cứt bò đấy. Con nhớ chuyện Tô Đông Pha và sư cụ tham thiền với nhau thầy kể con khi xưa?

– Làm sao thắng cái Khẩu (miệng) này, thưa thầy? Con đọc Chánh ngữ trong Bát chánh đạo dài dài mà sao lâu lâu con cũng còn nói mấy cái mà con không được hài lòng lắm…

– Chẳng hạn?

– Thưa thầy, nói láo thì con không còn nói láo được nữa rồi. Nhưng mà đôi khi trong một cuộc nói chuyện với nhiều bạn khác, khi có người nào đó nói về một vấn đề gì đó thì con cũng hào hứng chen vào với những mẩu chuyện tương tợ để kể cho cả nhóm nghe! Nghĩ lại mà mắc cỡ. Tại sao mình lại cũng “quơ đũa cả nắm” theo họ cho vui vậy nhỉ. Vui cái giống nhau. Vui mình cũng giống bạn mình, cùng nghề, cùng sở thích, cùng xã hội. Con cứ ngẫm nghĩ rồi mắc cỡ cho cái miệng hay nói theo của mình. Con thấy con không phải là con nữa. Một mình thì con là con mà vô một nhóm “phe ta” thì con lại mất con. Mất mình. Làm sao bỏ được tật nầy, thưa thầy?

– Giỏi, giỏi lắm, Vô Kỵ con. Con biết mắc cỡ sau khi con nói mấy cái đó là con giỏi lắm đó. Nhiều người khác không thấy, không biết mấy cái mắc cỡ đó và tiếp tục cái tật “nói theo” này suốt đời họ. Muốn còn đi lại với mấy người như vậy, con phải tập cái tâm con cho nó mạnh. Dĩ nhiên, con phải có một cái thắng thứ thiệt, đạp một cái là đứng lại, là dừng lại ngay. Dừng lời nói.

– Tập cái thắng? Cái thắng nầy tập được? – Vô Kỵ tò mò hỏi thầy.

– Dĩ nhiên, cái gì trên đời nầy cũng tập được hết. Không có ai sanh ra, 2 tuổi vừa mới biết đi đã biết cưỡi xe đạp 1 bánh, 2 tay cầm 8 cây dùi cui quăng lên trên trời mà không cây nào rơi xuống đất, miệng lại thổi kèn harmonica. Đó là tập thân. Tham thiền là tập ý. Tập nói là tập thắng.

– Xin thầy dạy con tập Nói.

– Có 3 người giữ cửa. Miệng của con có 3 anh chàng giữ cửa: 1) Có thật không? (Is that true?). 2) Có tử tế không? (Is that kind?) và 3) Có cần thiết không? (Is that necessary?)

Nếu sau khi duyệt xét 3 cửa đó mà thoát hết thì cái lưỡi của con nó nói được. Đó là Chánh ngữ.

Vô Kỵ con, có nhiều người cho rằng lời nói là một cái huyền diệu mà Thượng đế ban bố cho loài người. Con phải cẩn thận. Huyền diệu thì cũng có thật mà tai hại thì cũng không thiếu. Lời nói là một công cụ (tool). Nó có thể làm một vết thương lành lại mà nó cũng có thể làm cho người khác đau thêm. Mà con thì đã qua cái ngưỡng cửa không còn muốn làm cho bất cứ ai hay vật nào đau nữa. Do vậy cái Khẩu (miệng) xuất “ra” của con, con phải có một cái thắng thật tốt.

Khi mà thắng con tốt rồi, thì chạy nhanh, chạy chậm không thành vấn đề. Dĩ nhiên, chạy chậm dễ dừng, chạy nhanh phải thấy xa. Nghe thầy nói nãy giờ, con học được cái gì về lái xe?

– Thưa thầy, xe con có 3 cái thắng mà cái thắng con phải dùng nhiều nhất là cái thắng của Miệng (Khẩu): Đó là lời nói. Nói sao cho người vui, nói sao cho người thanh thoát.

– Đúng vậy Vô Kỵ. Để thầy kể cho con nghe chuyện Mẹ của thầy dạy thầy thế nào nhé. “Nầy con, hễ có nói thì nói Pháp. Còn không thì tốt nhất là đừng nói”.

HĐĐ.

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Phật học & Đời sống

Bông hồng cho Mẹ và Mới hôm qua thôi: bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong

23/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Bông hồng cho Mẹ và Mới hôm qua thôi

(bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong)

Ghi chú:

Tôi vừa nhận được bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp hai bài thơ của tôi (Bông Hồng Cho Mẹ và Mới Hôm Qua Thôi) do TVD và Elena Pucillo Truong thực hiện lúc tôi đang còn ở Melbourne.

Nay xin trân trọng gởi đến bạn bè và chân thành cảm tạ TVD – Elena Pucillo Trương.

Đỗ Hồng Ngọc

(Đỗ Nghê).

…………………………………………………………………………………………………………

Thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)

( Bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong)

 

Bông hồng cho Mẹ                    La rosa per la madre                       La rose pour la mère

 

“Con cài bông hoa trắng           Io mi attacco la rosa bianca                     “ Je m’attache la rose blanche

Dành cho mẹ đóa hồng             Lascio a te, mamma,  la rosa rossa,          À toi, maman, je laisse la rose rouge

Mẹ nhớ gài lên ngực                  Ricorda di attaccartela sul petto                Souviens-toi de l’attacher sur ta poitrine

Ngoại chờ                                  La nonna ti aspetta                                     La Grand-Mère t’attend

bên kia sông…”                        dall’altra parte del fiume                           de l’autre côté  du fleuve…”

Đỗ Hồng Ngọc  (Vu lan 2012)

 

Trong một nhà giữ lão ở Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)

La poesia scritta al Nursing home a Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)

Le poème écrit à la Maison de Retraite de Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)

 

“Mới hôm qua thôi”.             Soltanto ieri                         Juste hier

Họ ngồi đó                                       Stanno lì, seduti                         Ils restent là, assis

Bên nhau                                          Insieme.                                     Ensemble.

Đàn ông                                            Uomini                                       Des hommes

Đàn bà                                              Donne                                        Des femmes

Không nhìn                                       Senza guardare                          Sans regarder

Không nói                                         Senza parlare                             Sans parler

 

Họ ngồi đó                                       Stanno li, seduti                         Ils restent là, assis

Gục đầu                                            Le teste abbassate                      Les têtes baissées

Nín lặng                                           In silenzio                                   En silence

Ngửa cổ                                          Alza la testa                                  La tête levée

Giật nhẹ tay chân                            Braccie e gambe tremano            Les bras et les jambes qui tremblent

Có người                                         C’è qualcuno                               Il y a quelqu’un

Trên chiếc xe lăn                            Sulle sedie a rotelle                      En fauteuil roulant

Chạy vòng vòng                               Gira qua e là                               Qui tourne ici et là

Có người                                           C’è qualcuno                             Il y a quelqu’un

Trên chiếc xe lăn                              Sulla sedia a rotelle                   En fauteuil roulant

Bất động                                           Immobile                                    Immobile

Họ ngồi đó                                        Stanno li, seduti                         Ils restent là, assis

Hói đầu                                              Le teste pelate                            Les têtes chauves

Bạc trắng                                           O i capelli d’argento                  Ou les cheveux blancs argentés

Móm sọm                                          Presto sdentati                           Tôt sans dents

Nhăn nheo                                        Rugosi                                        Ridés

 

Mới hôm qua thôi                          È solo da ieri                               Juste hier

Nào vương                                     Quali imperatori                        En tant qu’empereurs

Nào tướng                                      Quali generali                             En tant que généraux

Nào tài tử                                        Quali artisti                                En tant qu’artistes

Nào giai nhân                                 Quali miss universo                   En tant que Miss Univers

Ngựa xe                                          Carrozza trainata da cavalli       Calèche à chevaux

Võng lọng                                       Ombrelli parasole                       Ombrelles parasols¹

 

Mới hôm qua thôi                          Soltanto ieri                                Juste hier

Nào lọc lừa                                      Quali inganni                            Quelles duperies

Nào thủ đoạn                                  Quali colpi di mano                   Quelles astuces

Khoác lác                                        Bugie                                         Des  mensonges

Huênh hoang                                   E Vanità                                     Et de la Vanité

 

Mới hôm qua thôi                          Soltanto ieri                               Juste hier

Nào galant                                       Quali signori                              Quels messieurs

Nào quý phái                                  Quali nobili                                 Quels nobles

Nói nói                                             Parlare                                        Parler

Cười cười                                        Ridere                                         Rire

Ghen tuông                                     Gelosia                                       Jalousie

Hờn giận                                          Rabbia                                        Rage

 

Họ ngồi đó                                      Stanno lì, seduti                        Ils restent là, assis

Không nói năng                              Senza parlare                             Sans parler

Không nghe ngóng                         Senza ascoltare                         Sans écouter

Gục đầu                                            Teste piegate                           Les têtes pliées

Ngửa cổ                                            Teste alzate                             Les têtes levées

Móm sọm                                         Sdentati                                   Édentés

Nhăn nheo                                        Rugosi                                     Ridés

Ngoài kia                                           Mentre Fuori                          Alors que dehors

Tuyết bay                                          Cade la neve                          Tombe la neige

Trắng xóa                                          Candida                                   Blanche

Ngoài kia                                           Mentre fuori                           Alors que dehors

Dòng sông                                         Il fiume                                   La rivière

Mênh mông                                      Immenso                                  Immense

Mênh mông…                                   Immenso                                  Immense

 

Đỗ Hồng Ngọc (Montréal, 1993).

  • Voir Racinet, Le costume historique, Firmin-Didot, Paris, 1888 sur les costumes et les insignes des mandarins chinois, qui employaient des parasols dont la largeur et la couleur indiquaient les différents rangs. (racinet_costume.doc ou racinet_costume.pdf).

(Racinet, Le costume historique, Firmin-Didot, Paris, 1888 sui costumi e le insegne dei mandarini cinesi, che usavano degli ombrelli diversi per larghezza e colore, che indicavano I diversi ranghi.

(racinet_costume.doc  ou racinet_costume.pdf).

 

 

EPT  Saigon- 6-2019

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Rồi Cũng Về Thôi: viết cho Du Tử Lê

22/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

RỒI CŨNG VỀ THÔIi

(tặng Tuyền-Lê)

 

Rồi cũng về thôi du tử ơi

Bao năm lưu lạc cõi con người

Một hôm sực nhớ miền quê cũ

Tung cánh vàng xưa hạc vút bay…

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Melb, 14.10.2019)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim

Nhân năm học mới, đọc lại “Phỏng vấn Bs Đỗ Hồng Ngọc”

25/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Ghi chú: Chiều hôm qua, 24.9.2019, là buổi học đầu năm dành cho Sinh viên Năm thứ nhất Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp HCM, do Bộ môn Y đức-Khoa học hành vi-Giáo dục sức khỏe (mà tôi nguyên là Trưởng Bộ môn và sau đó là Cố vấn) phụ trách, Bộ môn đã có nhã ý mời tôi tiếp tục giảng cho các em như mọi năm nhưng tôi đã từ chối vì biết mình tuổi tác cách biệt đã hơn 60 năm, mà khoa học y học ngày nay tiến bộ như vũ bão…

Tuy vậy, bài “phỏng vấn Bs Đỗ Hồng Ngọc” của Hà Thanh, báo Tuổi Trẻ, trong “Chuyên mục Thời tuổi trẻ của tôi” trước đây có thể “post” lại để các em tham khảo vì có những câu hỏi liên quan đến vấn đề “chọn nghiệp”, vấn đề y đức v.v…

Cảm ơn Hà Thanh.

ĐHN

…………………………………………………………………

 

Hà Thanh phỏng vấn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Chuyên mục “Thời Tuổi trẻ của tôi” 2011- tuoitre.vn)

 

Xin bác sĩ tự “phác họa” đôi dòng về mình?

Đó là một người có cái tên rất “đàn bà” nhưng lại làmột người đàn ông thứ thiệt. Hồi tôi giữ mục Phòng mạch Mực Tím trên báo Mực Tím dành cho tuổi mới lớn, nhiều em viết thư: Thưa cô, em có điều này rất bí mật, không dám nói với ai…

Thứ hai, đó là một ông già mà nhiều người tưởng hãy còn trẻ lắm, nhờ tóc chưa bạc nhiều và viết lách lăng nhăng làm cho người ta cười…

Thứ ba, đó là một bác sĩ nhà quê đến nỗi người ta không biết là bác sĩ, vì toàn nói chuyện làm sao cho người ta biết tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe mình, ít phải lệ thuộc vào thầy vào thuốc…

 

Ai là người có ảnh hưởng lớn trong quãng đời tuổi trẻ đã qua của bác sĩ? Bác sĩ kể cho nghe một chút về người đó đi ạ?

Hai người. Cậu tôi, ông Nguiễn Ngu Í (Nguyễn Hữu Ngư). Ông là một nhà báo nổi tiếng trên Bách Khoa của hơn nửa thế kỷ trước ở Saigon, nhưng cũng là một người điên nổi tiếng, điên thứ thiệt, từng nằm nhà thương Chợ Quán, dưỡng trí viện Biên Hòa nhiều lần… Lúc ở dưỡng trí viện, ông có xuất bản một tập thơ lấy tên là “Thơ điên thứ thiệt”, với sự góp mặt của Bùi Giáng và nhiều “bạn thơ” khác đang nằm ở đó… Người thứ hai là học giả Nguyễn Hiến Lê. Mặc dù không được học với ông ngày nào trên ghế nhà trường nhưng với tôi, ông vẫn là một vị thầy lớn vì ông đã dạy tôi cách sống, cách học và cách viết…

 

Bác sĩ đã trải qua tuổi thơ như thế nào ạ?

Lúc 5 tuổi thì tôi cùng gia đình tản cư lên rừng ở vùng Láng Găng, Bưng Riềng, Xuyên Mộc… Bị sốt rét triền miên, kiết lỵ, suy dinh dưỡng… đủ thứ. Khi cha tôi mất thì tôi 12 tuổi, theo mẹ về Phan Thiết tá túc trong một ngôi chùa với người cô bị tật nguyền. Tôi nhớ lúc đó cân nặng được 25kg, da xanh mét, lá lách sưng to. Mỗi ngày đi nhà thương thí để chích thuốc. Riết rồi ghiền cái mùi nhà thương. Cô tôi nghèo lắm. Sống bằng nghề chằm lá buông. Tôi phụ phơi lá trong sân chùa. Nhớ những khi trời mưa thì ào ào cuốn lá… chạy! Sáng nào mọi người cũng ăn một chén cháo trắng. Có điều cô và các chị tôi rất mê truyện Tàu, mê tiểu thuyết đủ loại. Tôi được sai đi mướn truyện nhưng cấm đọc (vì con nít mê đọc truyện không tốt). Tôi thường lén đọc trên đường đi, dưới gốc cây, nơi bệ đá cổng chùa… trước khi mang về. Đọc tuốt hết, không chừa thứ gì trong tiệm cho thuê sách đó. Tôi được dạy phải tôn trọng chữ thánh hiền, không được lấy giấy báo đi vệ sinh! Thế rồi, một hôm cậu Ngu Í điên của tôi đến thăm. Người ta nói ông điên vì ngộ chữ, vì học nhiều quá hóa điên. (Ở quê tôi ông là người hay chữ nhất, được bà con rất quý trọng. Ông là bạn học cùng tuổi cùng lớp với Trần Văn Khê, Lưu Hữu Phước… ở trường Petrus Ký thời đó). Thấy tôi 12 tuổi rồi mà học hành ấm ớ trong rừng, ông dẫn tôi tới trường tiểu học của một người bạn, gởi cho học miễn phí. Ông còn tặng tôi một đống sách báo từ Saigon mang về. Tôi mê tít.

 

Việc học ngày xưa của bác sĩ như thế nào? Bác sĩ hãy kể cho nghe những kỷ niệm khó quên ở khoảng thời gian này?

Mới đầu trường cho tôi vào học thử lớp Ba. Vài tháng sau, nói tôi học được, cho lên lớp Nhì (lớp 4 bây giờ). Vài tháng sau nữa cho tôi vào thẳng lớp Nhất (lớp 5). Trường tư, trong một ngôi chùa, điều kiện nếu học giỏi thì được miễn học phí. Tôi học giỏi. Cuối năm nhất lớp, chở phần thưởng về… chùa bằng xe xích lô! Cô tôi khen ngợi thưởng cho 10 đồng, đủ ăn 5 chén chè sâm bổ lượng với mấy người bạn thân! Nghĩ lại, tôi thấy cái hồi học tùm lum trong rừng hóa ra mình đã được “luyện nội công” mà không hay, rồi lúc ở chùa luyện cả đống truyện Tàu và tiểu thuyết nữa. Hồi 12 tuổi, tôi viết nhật ký, viết nhận xét phê bình này nọ mỗi khi đọc xong một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn nào đó… Tôi thi đậu cao vào Đệ thất (lớp 6) Phan Bội Châu… Hằng ngày vừa đi học, vừa lo cơm nước cho mẹ tôi bán hàng ngoài chợ. Thế rồi, giữa chừng lại bỏ học, vì cả gia đình dời về quê cũ Lagi, Bình Tuy. Tỉnh mới thành lập, chưa có trường trung học. Tôi lại thất học, phụ bán hàng xén với mẹ ở chợ Lagi. Ba năm sau mới có lớp Đệ thất đầu tiên trong một ngôi nhà thờ (hết chùa tới nhà thờ!). Nhớ lại chuyện học nhảy lớp tưng bừng của mình hồi nhỏ, tôi tính chuyện học nhảy tiếp để theo kịp bạn bè. Nhân một chuyến theo xe chở cá nước đá về Saigon bổ hàng cho mẹ, tôi lang thang lề đường, nơi bán sách cũ, vớ được cuốn “Kim chỉ nam của học sinh” của tác giả Nguyễn Hiến Lê. Tôi đọc, thấy trúng ý mình quá. Tôi bèn đánh bạo viết thư hỏi ý kiến ông, nói muốn học nhảy lớp, có nên không. Ông trả lời ngay: Cháu có thể học nhảy lớp được, vì đọc thư, thấy sức cháu có thể học lớp Đệ tứ (lớp 9) rồi đó. Tôi bèn lập chương trình học nhảy lớp. Thi đậu ngay Trung học đệ nhất cấp, lại nhảy tiếp, bỏ đệ tam, đậu Tú tài I rồi Tú tài II, sau đó đậu vào trường Y khoa. Y khoa thời đó học 7 năm, ra Tiến sĩ Y khoa quốc gia. Hết nhảy được nữa! Tuy vậy, tôi cũng đã ghi danh học thêm Văn khoa, Xã hội học, những ngành mà tôi thích. Tóm lại, tôi mê học và học cho đã. Tôi thấy mình hên, thi đâu đậu đó, nhưng phải nói là nhờ biết cách học, nhất là biết cách tự học. Tôi nghĩ học sinh muốn giỏi phải có chí và biết tự học. Những năm này tôi đã vào Saigon “du học”, ở nhà trọ, ăn cơm tháng trong khu ổ chuột Bàn Cờ và thường xuyên đến thăm ông Nguyễn Hiến Lê. Ông luôn động viên, khuyến khích việc học của tôi. Trong một bức thư ông viết mong sau này tôi dùng ngòi bút để mang lại lợi ích cho nhiều người hơn trong nghề nghiệp bác sĩ của mình. Khi báo Bách Khoa ra số đặc biệt kỷ niệm 100 đầu sách của ông, tôi viết bài “Ông Nguyễn Hiến Lê và tôi”. Ông nói đây là “món quà” quý nhất của ông. Ông đã coi tôi như một người học trò “chân truyền” rồi vậy.

 

Vì sao bác sĩ chọn nghề Y? Đi trên con đường này một thời gian dài, có lúc nào bác sĩ muốn rẽ sang một hướng khác hoặc thoáng nghĩ rằng mình đã không chọn đúng con đường phù hợp với mình hay không?

Trước hết có lẽ vì thấy cha mình chết trong rừng do thiếu thầy thiếu thuốc, bản thân hồi nhỏ phải vào nhà thương thí thường xuyên, nên tôi có ý muốn học Y. Thế nhưng khi đậu Tú tài toàn phần xong, tôi băn khoăn trước ngã ba đường giữa học Y, học Sư phạm hay học Văn khoa. Cái nào cũng thích. Ông Nguyễn Hiến Lê lần nữa lại khuyên nên học Y để giúp gia đình, giúp đời cụ thể hơn, nếu học giỏi có thể dạy học và nếu có tâm hồn, vẫn có thể viết lách được. Đã có nhiều nhà văn là bác sĩ như Tchekhov, Cronin, Somerset Maugham… Tôi đã làm đúng như thế thật.

Sao lại phải rẽ sang hướng khác? Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Tiếp cận với những cảnh đời, những con người, chẳng phải cũng là một nguồn cảm xúc để cầm lấy cây bút sao?

 

Kỷ niệm nào sâu sắc nhất trong công việc của bác sĩ?

Ra trường ba năm, tôi viết cuốn sách đầu tay: Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972). Cuốn sách này do ông Nguyễn Hiến Lê đề tựa. Ông viết rất trang trọng và có một câu mà tôi nhớ mãi: “Một bác sĩ mà là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”. Tôi mê văn chương, làm thơ, vẽ tranh… từ nhỏ. Khi còn là sinh viên, đã xuất bản thơ, viết báo… Nói khác đi, không phải ra trường làm bác sĩ rồi mới cầm bút. Với tôi, bác sĩ là cái “nghề”, còn văn chương là cái “nghiệp”. Tôi mê cả hai.

 

Bác sĩ có thể kể vài kỷ niệm về những lúc bị công việc cuốn hút mà quên đi sức  khỏe của mình được không ạ? Gia đình có than phiền, “rầy rà” để bác sĩ chú tâm hơn đến sức khỏe của bản thân và chăm lo gia đình nhiều hơn không?

Tôi có tật xấu: mê học cũng như mê làm việc. Cái gì mê quá cũng không tốt. Một lần bị xuất huyết tiêu hóa, ngất xỉu trong toilet lúc đang khám bệnh phải đưa đi cấp cứu. Một lần bị tai biến mạch máu não phải mổ sọ với hai lỗ thủng… Lần mổ sọ não có một kỷ niệm đáng nhớ: Lúc đang còn nằm trần truồng trong phòng hậu phẫu, chỉ đắp một tấm “ra” trắng mỏng trên người thì một em điều dưỡng tới chích thuốc, hỏi có phải là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc Phòng mạch Mực Tím không, tôi ú ớ gật thì nghe em kêu lên mừng rỡ: Các bạn ơi, lại “coi” bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nè! Bốn năm cô chạy tới quanh giường coi mình trong tình thế đó! Thì ra lâu nay đọc báo Mực Tím, các em biết tên mà chưa biết mặt… Rồi tôi còn nghe kể bạn bè mở tiệc ăn mừng. Không phải mừng tôi bệnh nặng mà mừng họ chưa bệnh. Lâu nay tôi vẫn là người thường khuyên họ đừng uống rượu, đừng hút thuốc lá mà!

Tôi may mắn được gia đình ủng hộ, vì biết tánh tôi vậy, không “rầy rà” chi cả! Tôi vẫn nhớ ông Nguyễn Hiến Lê khuyên: Đừng để nghèo túng, nhưng khi đủ ăn rồi thì đừng ham làm giàu, dành thì giờ làm chuyện khác có ích hơn…

 

Ai cũng có những lúc đau buồn, tức giận, chống chếnh… trong cuộc sống riêng. Có bao giờ tâm trạng đó làm ảnh hưởng đến công việc của bác sĩ không? Bác sĩ làm cách nào để tránh hay giảm bớt?

Có chứ. Nhưng cũng phải vượt qua thôi. Những năm có tuổi, nhất là sau đợt bị tai biến, tôi nghiên cứu sâu và thực hành thiền, thấy có nhiều hiệu quả, góp phần giải stress và giữ đời sống cân bằng hơn. Đặc biệt trong thời buổi hiện nay cuộc sống có quá nhiều căng thẳng thì ở góc độ y học, thiền đã được nghiên cứu như một liệu pháp. Thực tế, thiền không chỉ dừng ở đó.

 

Theo bác sĩ, y đức có quan trọng hơn tay nghề, kỹ thuật chuyên môn không? Bác sĩ từng trả lời trên tạp chí Sống khỏe rằng “Chuyện y đức của người thầy thuốc hôm nay – đang bị xã hội ta thán – thì không phải lỗi ở họ”. Bác sĩ có thể nói rõ hơn về điều này không ạ?

Không nên tách bạch. Hai cái là một. Có y đức suông mà không có tay nghề, kỹ thuật chuyên môn thì… hại người ta nhiều hơn, làm cho người ta “đau” nhiều hơn. Còn giỏi kỹ thuật chuyên môn mà thiếu y đức thì làm cho người ta “khổ” nhiều hơn. Người thầy thuốc phải quan tâm cả cái đau và cái khổ của con người. Tiếng Việt ta thật dễ thương: đau khổ, bệnh hoạn… luôn là những từ kép!

Y đức không đơn giản, không phải là một khẩu hiệu. Nó phải được học tập và rèn luyện xuyên suốt trong quá trình học y khoa nhiều năm và trong quá trình hành nghề. Nó phải được dạy đầy đủ ở trường, riêng và chung với các môn học khác. Rồi về tổ chức, phải có nghiệp đoàn nghề nghiệp (Bác sĩ Đoàn chẳng hạn) để quản lý chuyên ngành, với những đặc thù riêng của nó, có luật lệ riêng phải tuân thủ, đó là Nghĩa vụ luận y khoa (Déontologie médicale), quy định từng hành vi trong mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân. Nghề y là một nghề đặc biệt, đào tạo lâu dài, nặng nhọc, trách nhiệm cao, “người bệnh phó thác tánh mạng” trong tay thầy thuốc nên họ cần được xã hội tôn trọng và “đối xử” đúng mực. Hiện nay có khuynh hướng coi bác sĩ tốt nghiệp y khoa 6 năm như một cử nhân đại học 4 năm và lương hướng của một bác sĩ trẻ mới ra trường chỉ bằng… một phần ba người nuôi bệnh ở các bệnh viện! Đó là những “chuyện lạ” ngoài tầm tay của người thầy thuốc vậy.

 

Khi bắt đầu qua tuổi hưu, bác sĩ có hụt hẫng không ạ? Bác sĩ đã trải qua bước chuyển đó như thế nào?

Tôi không cảm thấy có bước chuyển nào cả! Nghề y vốn là một nghề độc lập. Người thầy thuốc có thể làm việc suốt đời nếu còn đủ sức khỏe. Nghề văn cũng vậy, là một nghề tự chủ, có thể làm việc suốt đời, nếu còn thấy hứng thú…

 

Bác sĩ có lời khuyên gì cho những bạn trẻ mong muốn chọn ngành y làm con đường đi ạ?

Rất hoan nghênh các bạn trẻ này. Đây là một ngành đang có nhu cầu rất lớn của xã hội. Nhưng chọn học y là chọn con đường gian nan, hằng ngày trực diện với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người (sanh, bệnh, lão, tử)… Phải thực sự yêu nghề và có năng lực. Nói chung, học y cần có một lý tưởng nhân đạo, một “tiếng gọi sâu thẳm” (vocation) của nghề nghiệp. Nếu học y để mong đầu tư… làm giàu trên bệnh nhân thì không nên! Thực ra học y cũng rất thú vị, nhiều thử thách, đòi hỏi trách nhiệm cao. luôn đứng trước lương tâm của mình. Hạnh phúc rất lớn khi thấy mình sống hữu ích cho gia đình, cho cộng đồng, cho xã hội. Bà con mình thường nói “Cứu sống một mạng người bằng lập… năm bảy kiểng chùa” phải không?

 

Cảm ơn bác sĩ rất nhiều ạ.

 

Hà Thanh

(thanhlth@tuoitre.com.vn)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc về chuyện “Để Làm Gì?”

20/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc

Về chuyện “Để làm gì?”

Lời thưa: Thưa anh Hai Trầu,

Tôi phải thành thật xin lỗi anh Hai:

  1. Không ngờ bài viết “tào lao” của tôi “Thư gởi bạn xa xôi” vừa rồi (Để làm gì?) đã làm anh Hai bị “tụt mood” (nói theo cách tuổi teen bây giờ) nên sanh ra chán nản mọi việc, đến nỗi dù đã sẵn bản thảo cuốn Người Đọc & Người Viết III rồi mà chẳng chịu cho in dù mấy cháu hối “Ba in mau mau để vài ba năm nữa Ba sẽ quên hết!”…
  2. Anh căn dặn bức thư này anh viết cho tôi “đọc chơi” thôi, đừng có post lên mạng, không ngờ tôi “đọc thiệt” và thấy nó rất có ích cho tôi, cho anh, cho chúng ta… và cho nhiều người khác nữa, nên xin phép anh cho tôi đăng đại lên đây, ai phiền trách gì tôi… xin chịu trách nhiệm.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(20.9.2019)

……………………………………………………………………………………………………….

Houston ngày 18 tháng 9, năm 2019

Kính gởi Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,

Nhớ mới cách nay không lâu cùng ngồi uống cà phê với bác sĩ ở Đường Sách Sài Gòn, vậy mà ngày qua ngày, nay sực nhớ lại thì đã tròn một năm rồi đó bác sĩ! “Thời giờ thắm thoát thoi đưa” thiệt mà! Và nay nhìn lại mình, tôi thấy sao mau già quá mạng, bác sĩ ơi!

Và rồi mới mấy bữa trước đọc được “Thư gởi bạn xa xôi” của bác sĩ, bác sĩ có nhắc ông André Maurois trong cuốn “Nghệ thuật già” (L’art de vieillir)  có nói rằng: “Khi nào trong đầu mình nảy ra cái ý “Để làm gì?” thì lúc đó mình đã già thiệt rồi!”; thì đúng y chang là tôi dạo này lại có ý nghĩ mỗi khi muốn làm điều gì, tôi hay tự hỏi “để làm gì?”

Chẳng hạn như vào tháng 5-2019, gặp bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều, và chị Thanh Hằng, hiền thê của ảnh, tôi nhận ra phong cách anh chị là phong cách của người Sài Gòn của mấy chục năm về trước lúc tôi còn nhỏ từ dưới làng quê lên Sài Gòn đi học, một phong cách mà tôi luôn trân quý và kính trọng! Và rồi tôi có viết một bài về Sài Gòn với cái tựa “Nhớ Sài Gòn…”; nhưng rồi bài viết xong, cứ để đó hoài, không muốn gởi cho ai đọc!

Hoặc như, có lần thấy cảnh xuồng ghe cũ mục cứ nằm lăn lóc bên lề đường hoặc trong khu vườn cây rập rạp hết tháng này qua tháng khác, rồi tôi lại nghĩ đến thân phận mình, đến một lúc nào đó tuổi già chồng chất và thế hệ mình rồi cũng hết xài như những chiếc xuồng nằm phơi nắng phơi sương bốn mùa; nên tôi ngồi xuồng viết một bài về thân phận những chiếc xuồng bị bỏ quên lăn lóc giữa nắng mưa bên lề đường với cái tựa “Lời tự sự của những chiếc xuồng cũ mục”. Vậy mà rồi, viết rồi, tôi cũng chẳng muốn gởi cho ai đọc và đọc những lời tự sự của kiếp đời tàn tạ ấy “để làm gì?”

Hoặc như mấy tháng trước trong năm nay, người ta ùn ùn kéo nhau coi chiếc cầu Vàm Cống đã bắc qua hai bờ con sông Hậu Giang khúc Lấp Vò và Thốt Nốt, tôi định viết một bài về “Nỗi niềm của bến bắc Vàm Cống”. Vậy mà rồi, tôi đã viết về một bến bắc có mặt nơi một khúc sông có gần 95 năm (từ 1925-2019) đưa rước khách qua sông, nay bến bắc ấy chỉ còn là hoài niệm của những người già mỗi lần họ có dịp đứng nơi bờ sông bên này nhìn qua bớ sông bên kia với những chiếc bắc 10, bắc 20 nay đã thui thủi dời đến một bến sông nào khác rồi! Biết đường đâu mà mò!

Hoặc như, lúc đầu năm nay, tôi dự định sẽ viêt thêm vài mùa cũ nữa rồi gộp vô các mùa trước đó đã in thành sách đâu chừng trên ba mươi mấy mùa để tái bản cuốn Mùa Màng Ngày Cũ in lại hồi 2017 mà lần đó Bác sĩ có viết lời giới thiệu, nay sách đã hết rồi; nhưng rồi tự dưng cũng thấy lòng mình bớt hăng hái về việc in lại Mùa Màng Ngày Cũ nữa rồi! Chắc cũng tại ông André Maurois nhắc cái ý nghĩ “Để làm gì?” của người già!

Hoặc như, sắp nhỏ tôi nhắc: “Ba muốn in sách gì thêm thì chuẩn bị rồi tụi con lo in, để vài ba năm nữa Ba sẽ quên!” Tôi mới coi lại còn bản thảo cuốn Người Đọc & Người Viết Quyển III, dày khoảng 600 trang, lúc đầu rồi cũng muốn in; lúc trước có hai cuốn I và II rồi, nay in cuốn III cho vui, nhưng nghĩ đi nghĩ lại rồi tôi lại thôi, không cần in thêm sách nữa và mình nghĩ in sách ra cho nhiều “để làm gì?”

Hoặc như, hôm tháng 7-2019, vợ chồng tôi có dịp theo con cháu về Boston tìm lại cái nôi lúc các cháu mới qua đây bắt đầu lại những ngày đi học từ những năm mà Bác sĩ cũng có mặt nơi thành phố Boston này để tu nghiệp về Y Tế Công Cộng tại  Harvard (Boston, 1993)). Tôi cũng ghé qua phố Tàu ở Boston để tìm lại cái cảm giác “gió co ro lạnh” trong Thơ Ngắn Đỗ Nghê mà anh Tô Thẩm Huy đã nhìn ra có lúc ảnh cũng đến phố Tàu ở Boston để nghe “gió co ro lạnh” như thế nào…

Anh Tô Thẩm Huy viết: “…tôi cũng một mình lang thang ở phố Tàu Boston. Tuyết không rơi, nhưng chao ơi gió lộng, và lạnh thấu trời. Hai tai muốn rụng xuống vì mũ đội không che phủ được hai tai. Chính nhờ thế nên khi viết về bài thơ Tuyết của anh Đỗ Hồng Ngọc tôi đã rất “phê”. “Gió” mà nó còn phải “co” thì Tô Thẩm Huy này làm sao mà không “ro” được.]

 Tuyết

Tuyết bay

Bay nhẹ

Phố tàu

 

Gió co

Ro lạnh

Phố

Đìu hiu

Theo…

 (Đỗ Nghê, Boston 1993).

 

Thưa bác sĩ,

Cứ tiếp tục như vậy, nhiều ý nghĩ muốn ghi lại lắm như mới đây anh Năm Hiền bên California gởi cho đọc bài viết của cô Nguyễn Thị Hậu viết về “Mùa vịt chạy đồng”; sau khi đọc xong, tôi dự định viết một bài về “mùa nuôi vịt chạy đồng” chi tiết hơn, thực tế hơn nhưng rồi lại làm biếng quá mạng, chỉ viết nửa chừng chừng năm, mười trang rồi bỏ đó và tự hỏi viết ra “để làm gì?”

Hoặc nữa, như Bác sĩ biết tính tôi là ưa nói lại cho trúng các chi tiết của bất cứ một bài viết của bất cứ tác giả nào mỗi khi họ viết về đời sống ở nhà quê mà tôi có dịp được đọc, tôi thấy chưa đúng là tôi sữa lại liền, để không khéo người đọc chưa sống ở nhà quê, họ tưởng các tác giả viết như vậy là đúng rồi, rồi từ đó cứ nghĩ lầm rằng nhổ bông súng là phải lặn xuống nước nhổ từng cọng, từng cọng; hoặc cá rô cam tích là cá rô tôm tích; hoặc một giạ là 20 lít như có các tác giả đã giải thích trong bài viết như vậy!

Thực sự thì nhổ bông súng chỉ ngồi trên xuồng đang nằm giữa cánh đồng đầy bông súng nỏ, người ta chỉ vói bàn tay cầm bông súng rồi nhổ mạnh lên thôi, không cần phải lặn hụp gì ráo trọi! Còn cá rô lúc nhỏ ở nhà quê hay gọi là cá rô non; chúng ăn bông cỏ cùng các loại phiêu sinh vật trên mặt nước làm cái bụng no óc nóc giống như trẻ nhỏ mắc bịnh cam tích; từ đó dân quê mới đặt tên cho loại cá rô non này là “cá rô cam tích” chứ hổng có “cá rô tôm tích” gì ráo trọi nhe Bác sĩ! Còn cái vụ “một giạ mà 20 lít”, nếu mình tin như tác giả bài viết này giải thích thì chắc dân quê tụi tôi bán lúa giống là cái chắc! Dốt gì thì dốt, dân quê tụi tôi dưới này từ xưa tới nay cứ theo qui định một giạ là 40 lít nhe Bác sĩ! Nửa giạ hoặc một thùng, hoặc một táo mới 20 lít.

Và còn nhiều cái trật tương tự như vậy nhiều lắm nhe Bác sĩ! Nhưng rồi, tôi lại tự hỏi mình viết ra mấy cái chưa trúng ấy “để làm gì?” Và rồi tôi lại bỏ dỡ những bài viết về những chi tiết không chính xác của nhiều tác giả mà tôi đã có dịp đọc qua như vừa kể…

Thưa Bác sĩ,

Trong thư vừa kể, Bác sĩ có nhắc Hai Trầu:

“Gởi “meo” cho anh Hai Trầu, người bạn hơi già của tôi hỏi sao lâu nay im re, anh nói già sao nhanh quá anh ơi, chả muốn làm gì cả. Thì ra, tuổi già, đúng là “Chả cần gì! Chỉ cần già!” là vậy.”

Thì ra, qua những lời tâm sự vừa rồi với Bác sĩ, nay tôi thấy mình như Bác sĩ gợi ý là “Chả cần gì! Chỉ cần già!”. Và qua một vài ý nghĩ về việc “để làm gì” ấy mà tôi muốn chi xớt cùng Bác sĩ chẳng những đó là một chọn lựa không mang một chút chán nản nào trong đời sống của tôi trong hiện tại, mà ở đó nó còn thể hiện là một nếp sống rất thiết thực, yêu đời với những công việc thân thiết mỗi ngày mà tôi đang bận rộn như làm vườn, trồng cây, nuôi cá, và đưa rước các cháu đi học mỗi ngày… Vui lắm nhe Bác sĩ!

Cá nhân tôi, xin chân thành cảm ơn tấm thạnh tình mà bác sĩ lúc nào cũng nhớ và nhắc Hai Trầu, nhiều lắm!

Thân kính,

Hai Trầu

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Thư đi tin lại, Vài đoạn hồi ký

Tựa CHỚ QUÊN MÌNH LÀ NƯỚC, Văn Công Tuấn

14/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú:

Văn Công Tuấn ở bên trời Tây, tôi ở bên Đông, cách nhau ngàn vạn dặm, chưa có dịp gặp nhau nhưng tình đã thân quen vì cùng có chung những người bạn quý: Thầy Phước An ở Nha Trang, Nguyễn Hiền Đức gốc Hội An và Nguyễn Minh Tiến ở Sông Xoài dạo trước…

Một hôm, Văn Công Tuấn gởi về tôi một bản thảo và đề nghị viết cho anh đôi dòng như một cái “Tựa” gì đó… cho cuốn sách “Chớ quên mình là nước”. Và tôi đã đọc, đã nghe, đã thấy… bèn có đôi lời cho bạn xa xôi…

ĐHN 

 

Tựa “CHỚ QUÊN MÌNH LÀ NƯỚC”

 

 

Như những lời tâm sự

Văn Công Tuấn viết trong “Chớ quên mình là nước” như sau: “Những bài viết trong tập sách này chỉ là việc đi chắt mót, ngồi xâu chuỗi lại những suy tư và nỗi niềm để tâm sự cùng bạn đọc. Nó không phải là công trình khảo cứu cũng chẳng là tác phẩm văn học. Nó chỉ là một cõi lòng…”

Một cõi lòng. Chút “thốn tâm”. Chắt mót. Xâu chuỗi. Nhưng với tôi vô cùng thú vị và đầy những bài học. Có khi nói ra, có khi không nói ra. Là một cõi lòng nên ta hãy đọc từ một cõi lòng. Một cõi lòng không phân biệt.

Có khi là một câu thơ. Có khi là một khúc hát. Khi lại là một công thức. Một bản vẽ. Mấy con số ngoằn ngoèo… Hãy đọc. Ngẫm ngợi. Đôi khi công thức cũng là thơ, bản vẽ cũng là nhạc… Hãy để cho cõi lòng tự trôi chảy.

Trôi chảy như dòng sông cát hôm nay mà ngày xưa chính nơi này là dòng nước chảy xiết, nơi Gotama đã đặt bình bát với lời đại nguyện:

“… một buổi trưa nóng cháy ở Bodh Gaya lắng tai nghe lời anh bạn Ấn Độ kể: ‘Chỗ này là ngay giữa sông Ni Liên Thuyền, ngày xưa Sa môn Gotama đã thả bình bát và phát lên một lời đại nguyện, chỗ này nước chảy xiết lắm nhưng bình bát đã trôi ngược.’

“(…) Khi anh Naresh với tất cả lòng cung kính đặt bình bát xuống cát, nơi được xem như là giữa dòng sông lúc bình bát trôi ngược.

Tôi thì đã nằm dài dưới cát nóng cầm sẵn máy ảnh để chụp hình. Tôi muốn chụp tấm hình phía trước là bình bát mà đàng sau có phông nền là hình ngôi Tháp Đại Giác Bồ Đề. Chăm chú nhìn vào ống kính, tôi giật mình tưởng mắt mình đang hoa. Hay do vì buổi trưa nắng Ấn Độ mà cát lại nóng quá nên tôi bị lóa mắt? Tôi đẩy máy ảnh qua bên và nhìn kỹ bình bát. Tôi đã nhìn thấy. Vâng, tôi thấy bình bát chuyển động trong vòng gần một phút. Có thể nào do cát lún nên bình bát “rục rịch” như vậy? Hay là một cái rùng mình của đất trời?

Nhưng sao kéo dài cả phút. Trong tôi dấy lên một niềm rung động kỳ lạ. Naresh cũng thấy như tôi và đứng ngẩn người trố mắt nhìn. Có phải có bàn tay chư Thiên hay có con rắn chuyển mình làm bình bát chuyển mình trên cát?

“Không, tôi nghe rất rõ: “hồn nước” đang nhẹ nhàng luân chuyển dưới nguồn sâu trong lòng cát nóng buổi chiều Ấn Độ.

“Hai chúng tôi đứng yên lặng tại địa điểm lịch sử này rất lâu, mỗi người đắm chìm trong suy nghĩ của mình. Sau đó mới cùng nhau chậm rãi ôm bình bát đi về hướng cây Ajapala ở Tháp Đại Giác.

Chúng tôi thỉnh bình bát về khu vực tháp và kết thúc một chuyến đi: Ôm bình bát dõi theo bước chân Sa môn Gotama ngày xưa”…

Rồi từ câu chuyện của dòng sông nay đã trở thành sa mạc cát mênh mông, Văn Công Tuấn nói về chuyện môi trường, chuyện nylon, mủ nhựa…

“Xin cùng nhau bắt tay ngay cứu hành tinh của chúng ta, trước khi nỗ lực đi chiếm hữu Sao Hỏa hay Cung Trăng. Với lòng tham và tâm bất thiện thì dù con người có sở hữu mười Sao Hỏa, trăm Cung Trăng cũng không thấy đủ. Rồi rác cũng sẽ tràn ngập ở bên đó.

Mà đúng vậy, không phải nói chơi, NASA đã xác nhận, ngay bây giờ cũng đã thấy plastic trên Sao Hỏa rồi đó. Thật hết ý!”

Rồi ngẫm ngợi chuyện xưa chuyện nay, Văn Công Tuấn… tự nhắc mình với những bài học:

Cũng tại bát nước mà Tôn giả A Nan đã gặp gỡ Ma Đăng Già hôm đó. “Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có…” để rồi Phật phải vất vả một phen. “Tựu trung cũng từ một bát nước ấy mà sinh sự. Giả sử, hôm đó Tôn giả A Nan cũng đi khất thực như mọi ngày mà không khát nước thì đâu có chuyện gì xảy ra. Hoặc giả, nếu gặp người con gái không đa tình như Ma Đăng Già thì chỉ có vài mẩu đối thoại ngắn, rồi dâng nước, rồi uống nước là xong chuyện.”

Bài học là đừng có… khát nước!

Rồi chuyện của nhà bác học Alexander Fleming (1881-1955) ân nhân vĩ đại của nhân loại đã phát minh ra Peniciline đã tuyên bố tại Hàn Lâm Viện Y Khoa Anh Quốc: “Sao người ta cứ gán cho tôi cái công phát minh ra chất Peniciline. Không ai phát minh ra được chất Peniciline, vì tạo hóa đã sinh ra nó từ thuở nào đến giờ, nhờ một loại mốc… Tôi chỉ có công làm cho mọi người chú ý tới chất đó, và đặt cho nó cái tên, thế thôi.”

Phật cũng bảo Ta chẳng nói gì, Ta chẳng dạy ai điều chi, mọi thứ đã sẵn có đó thôi!

Rồi chuyện Nhà Nho và Phật giáo. Anh nhắc học giả Cao Huy Thuần kể chuyện nhà nho, nhà khoa học Hoàng Xuân Hãn… ngày ngày đi chùa Trúc Lâm ở Paris vì rằng “Nho thì động mà Phật thì tịnh. Động rồi thì phải tịnh thôi.” Văn Công Tuấn kể chuyện cụ Phan Sào Nam, nhà Nho với “Khổng Học Đăng” sau này đã thường xuyên lui tới chùa và viết “Phật Học Đăng”. Cụ Sào Nam thường tìm đến chùa Tường Vân để hàn huyên, bàn chuyện văn thơ, chuyện thế sự và Phật pháp với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết. Hai con người uyên thâm Hán học ấy đã một thời là bạn tâm giao, chỉ khác: một người là Hòa Thượng, một người là Nho Sĩ.

Nước xuôi ra biển lại tuôn về nguồn.

***

“Chớ quên mình là nước”, Văn Công Tuấn ngậm ngùi sẽ đến lúc “dưới biển cá thôi bơi, trên trời chim hết lượn…” để rồi nhắc đến cái chết của dòng sông Cửu Long.

Anh nói, đọc cuốn ký sự Đi Dọc Dòng Sông Phật Giáo tự dưng thấy sao… nước mắt tự động chảy ra, không cầm được:

Bởi vì chiều buồn chiều về giòng sông

Bởi vì tình đời nào chỉ thù oán

Hãy cất tiếng ca cho đời thêm buồn

Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo…

(Phạm Duy)

“Vậy một con rồng của Tiền Giang đã chết. Ở Hậu Giang thì hiện nay, cửa sông Ba Lai được thay thế bằng hệ thống cống đập ngăn mặn chặn vĩnh viễn dòng chảy…”

“Cửu Long bây giờ là 7 con rồng. Nói sao nghe khó lọt lỗ tai quá.

“Hèn chi chật chội. Hèn chi sinh sự!”

Rồi cảm thán:

“Có phải vì vậy mà người Khmer gọi Mê Kông là Dòng Sông Mẹ. Tiếng Miên chữ “Mê” là “mẹ” còn “Kông” là “sông”. Tại sao? Vì những chàng, những nàng có tên gọi “Buổi chiều Lục tỉnh” hay ham vui, hay dzô dzô ba xị đế, hay hò ơ dí dầu, hay đàn ca tài tử… Nhưng khi buồn quá thì những trò vui đó không khỏa lấp hết nỗi buồn, những chàng hay nàng “Chiều” mới tìm về với Cửu Long. Tâm sự với dòng sông. Yên lặng với dòng sông. Như chàng Tất Đạt của Hermann Hese đã về với dòng sông và lắng nghe dòng sông. Chỉ có dòng sông mới nghe, mới hiểu nổi buồn của Chiều”.

Để rồi kết:

“Nhớ da diết đám lục bình trôi trên sông Tiền, sông Hậu. Không biết giờ này chúng lưu lạc ở đâu?”

Phải. Như những phận người.

Chớ quên mình là nước.

 

Đỗ Hồng Ngọc

Saigon, tháng 6.2019

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (9.2019)

11/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (9.2019)

“ĐỂ LÀM GÌ?”

Đỗ Hồng Ngọc

 

André Maurois trong cuốn “Nghệ thuật già” (L’art de vieillir)  có nói rằng khi nào trong đầu mình nảy ra cái ý “Để làm gì?” thì lúc đó mình đã già thiệt rồi!

Tôi vừa mới nói “già thiệt” phải không? Ấy, bởi vì lâu nay mình vẫn biết là đã già, đang già tốc hành, già khú đế mà vẫn cứ nghĩ là mình đang “già giả” thôi! Mà không phải mình tôi nghĩ đâu nha. Ông họa sĩ “trời ơi” là Picasso có cái hình này bạn coi nè.

Ông vẽ cái “già” chẳng qua chỉ là cái mặt nạ thôi, đeo chơi vậy, trong khi trong ta là một cậu thanh niên trai trẻ, tươi non, hừng hực lửa yêu thương đó thôi. Tôi vừa gọi Picasso là ông họa sĩ “trời ơi” phải không? Là bởi vì theo tôi, trường phái “trườu tượng” của ông thực ra chỉ vì ông có quá nhiều người yêu, vẽ mà như thực chắc chịu hổng nổi với mấy bà, bèn vẽ bà này cái mũi, bà kia cái mắt, bà nọ cái môi… rồi chồng chéo lên nhau thế là ổn cả, mặc cho các nhà phê bình nghệ thuật diễn giải, ổng chỉ cười tủm tỉm một mình thôi!

Tôi bây giờ cứ định làm gì đó thì bỗng nảy ra ý: Để làm gì? Chẳng hạn gặp một chuyện gì đó vui vui, hay hay, xưa thì đã “thư gởi bạn xa xôi” kể cho bạn nghe, hoặc cũng “Ghi chép lang thang” chút gì đó, nhưng nay “Để làm gì?”. Ngay cả những vấn đề cần tranh luận, cần giải thích, cần đưa quan điểm chung riêng gì đó, nhưng rồi cũng… “để làm gì?”. Vậy đó.

Rồi tôi lại loay hoay “về thu xếp lại…” một mình giữa ngổn ngang tư liệu, sách vở, gặp chuyện buồn chuyện vui không thiếu định chia sẻ với bạn rồi “để làm gì?”. Gởi “meo” cho anh Hai Trầu, người bạn hơi già của tôi hỏi sao lâu nay im re, anh nói già sao nhanh quá anh ơi, chả muốn làm gì cả. Thì ra, tuổi già, đúng là “Chả cần gì! Chỉ cần già!” là vậy.

Chủ nhật rồi, tôi đi Hốc Môn thăm BTD, người bạn đã thân quen từ 60 năm trước, năm 1960 từng đi chơi suối Lồ Ồ với Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Hồ Xích Tú (con ông Hồ Hữu Tường), Quách Giao (con nhà thơ Quách Tấn), Nguyễn Công Thuần… Anh vốn là người mê văn chương, mê sách cổ, vốn có một vườn cây kiểng, đá kiểng… nổi tiếng một thời, bây giờ đang… Alzheimer, quên hết mọi thứ. Nhắc chuyện xưa, nhớ chút chút… Anh nhứt định đòi tôi tặng anh cuốn “Già sao cho sướng?” mà cũng không biết sướng “để làm gì?”.

Một hôm, tôi ra ngồi một mình ở café Đường Sách, trời còn lành lạnh sau cơn bão rớt, chăm chú đọc La Sơn Phu Tử của Hoàng Xuân Hãn, bỗng một cô bé áo vàng đến hỏi dạ bác tên gì ạ? Tôi ngạc nhiên, ngó lên. Để làm gì? Dạ để chú thích cái hình con mới chụp lén bác, một ông già đang mê đọc sách nè… Bác không có tên con ạ. Tôi trả lời. Cô thất vọng bỏ đi. Tôi tội nghiệp hỏi. Con làm việc ở đâu? Con tập sự ở báo…, mới ra trường, làm ở phòng… muốn đăng hình phải có tên người. Ờ, sếp con là ai? Cô nói tên đến người Sếp thứ ba, thứ tư gì đó… tôi mới à một tiếng có biết. Bác làm nghề gì? Cô hỏi lại. Con đoán xem. Hình như bác làm ngành giáo dục? Có một chút. Bác làm bên văn học nghệ thuật? hay Báo chí? Có một chút. Tôi đành khai. Bác làm bên ngành y. Bác là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Cô ngẩn ra. Người bạn đi cùng cô à hình như có một nữ bác sĩ tên là Đỗ Hồng Ngọc, con có đọc đâu đó một bài thì phải. Cô áo vàng bỗng reo lên: À, gõ Google coi nào! Cô bấm bấm cái điện thoại. Ồ, bác có trong Google này. Tôi nói thêm. Con thử gõ dohongngoc.com xem. Cô lại ồ bác có “chấm com” nữa hả?  Chiều đó, cô gởi tôi cái hình chụp lén và nói con may mắn được quen biết bác…

Cũng ngộ phải không? Cô bé chỉ nhỏ hơn mình chưa tới 60 năm, huống chi cái ông Từ Thức lên non mấy tháng trở về đã nhiều trăm năm trôi qua mà còn đi hỏi thăm người này người nọ!

Lục trong đống thư từ cũ thấy có một thư viết tay của một em bé 15 tuổi ở Bến Tre nói em tình cờ đọc cuốn “Gió heo may đã về” của tôi (1995) bèn mua về cho Ba Mẹ. Ba mẹ em tuổi mới ngoài 50, hục hặc nhau luôn, từ ngày đọc cuốn này đã thôi không còn gây gỗ nữa, em rất mừng viết thư cảm ơn. Nhưng bất ngờ nhất là có một em coi cuốn Nghĩ Từ Trái Tim, viết về Tâm kinh Bát-Nhã (2003), mua về đọc cho Bà Nội nghe vì thấy bà nội thường tụng Tâm kinh hàng ngày. Bà nội thích lắm, bắt đọc cho nghe hoài… Đến khi bà mất, em đã đem cuốn sách Nghĩ từ trái tim đó “đốt” theo Bà!

Toàn chuyện “tào lao” phải không. Đừng phiền nha. Thôi thì nói qua chuyện khác vậy. Bạn biết đó, thơ Đường (thất ngôn bát cú) là thứ thơ ngày nay ít ai để ý (trừ Tô Thẩm Huy, trước đây giữ mục Đùa với Đường thi trên báo). Tôi nhớ Nguyên Sa có nói muốn làm thơ Tự do cho hay thì phải giỏi thơ Đường trước đã! Bạn nhớ nhà thơ Tường Linh không?  Đây là một bài thơ anh gởi mấy năm trước.

 

 

Và đây nữa , bài thơ tôi viết mừng nhà thơ Huy Cận, trong buổi kỷ niệm Tuổi 80 của ông ở Saigon. Đọc vui thôi nhe. Đừng có kêu “Để làm gi” nhe.

 

bản thảo viết tay của Đỗ Hồng Ngọc tặng nhà thơ Huy Cận, 1999.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Du Tử Lê viết về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc)

10/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Nhà thơ Du Tử Lê viết về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc) kỳ 02

Xin mời các bạn xem tiếp kỳ 02 nhé.

Cảm ơn Du Tử Lê

ĐHN

…………………………………………………………..

 

Đỗ Hồng Ngọc, thơ và thiền song sinh?

Du Tử Lê

December 15, 2017

 

 

Nhà thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc. (Hình: Trang nhà của Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc – dohongngoc.com)

 

Tôi cũng không quên mới đây, nhà thơ Phạm Chu Sa đã ghi nhận một cách chi tiết, chân tình về Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc. Nhưng dù các bài viết về cõi-giới văn chương của ông, thâm trầm hay nhẹ nhàng, đơn giản thì, tự thân những bài viết ấy, cũng đã thắp sáng những thành tựu, hiểu theo nghĩa “hạnh phúc” mà Đỗ Hồng Ngọc đã đạt được.

Nhà thơ Phạm Chu Sa cho rằng, nhiều người nghĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ làm thơ, viết văn và gọi anh là bác sĩ-nhà văn (4).

Nhưng Phạm Chu Sa cho biết, ông vẫn thích gọi Đỗ Hồng Ngọc là “thi sĩ hơn là bác sĩ,” bởi vì Đỗ Hồng Ngọc có cốt cách thi sĩ trong con người bác sĩ.

Phạm Chu Sa kể rằng Đỗ Hồng Ngọc làm thơ và có thơ in từ thời sinh viên – tập “Tình Người” (xuất bản năm 1967), ký bút hiệu Đỗ Nghê. Mấy năm sau khi ra trường là “Thơ Đỗ Nghê” (in năm 1973). Tập thơ đã gây được tiếng vang trong văn đàn thuở đó. Sau này ông trích một số bài trong hai tập thơ trên in lại trong các tập thơ “Giữa Hoàng Hôn Xưa” (1993), “Thư Cho Bé Sơ Sinh và Những Bài Thơ Khác” (2010).

Bài thơ làm tựa chính “Thư Cho Bé Sơ Sinh…” Đỗ Hồng Ngọc viết năm 1965, khi còn là sinh viên y khoa thực tập tại bệnh viện Từ Dũ: “Khi em cất tiếng khóc chào đời/ Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười/ Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao kẻ cười người khóc/ Trong cùng một cảnh ngộ nghe em…/ Khi anh cắt rún cho em/ Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé/ Vì từ nay em đã phải cô đơn/ Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ… Thôi trân trọng chào em/ Mời em nhập cuộc/ Chúng mình cùng chung/ Số phận con người” (Một bài thơ đặc biệt vì dường như chưa nhà thơ nào viết về đề tài này).

Vẫn theo trí nhớ của nhà thơ Phạm Chu Sa thì đâu khoảng thời gian sau ngày ký hiệp định Paris (1973) ít lâu, họ Đỗ đã gửi tặng ông tập “Thơ Đỗ Nghê” mới xuất bản, in ronéo nhưng trình bày khá trang nhã. “Thơ Đỗ Nghê” bàng bạc khát vọng hòa bình và cả nỗi ám ảnh của chiến tranh, đã gây được tiếng vang trong văn đàn bấy giờ. Họ Đỗ ru con: “Ngủ đi con ngủ đi con/ Rồi ngày mai khôn lớn/ Cầm súng với cầm gươm.”

Và ông cũng ru người bạn đời (hay người yêu?) của mình: “Ngủ đi cưng, ngủ đi cưng/ Kề tai đây anh bảo/ Coi như mình chẳng có quê hương.”

Vẫn nhà thơ Phạm Chu Sa cho biết, hơn 20 năm sau biến cố Tháng Tư, 1975, Đỗ Nghê đã cho ra đời tập thơ “Vòng Quanh” – một “bút ký thơ” kèm những ký họa rất đặc biệt của chính tác giả vẽ lại những nơi chốn tác giả  đã đi qua như Huế, Hà Nội, Boston, Montreal, Bắc Kinh… Nhưng có lẽ ấn tượng nhất với họ Đỗ là Paris. Một tâm hồn thi sĩ như Đỗ Hồng Ngọc mà lạc lối tới Paris giống như… “trở về.” Thơ viết về Paris tựa viết về một tình yêu, sau bao chờ đợi… Có dễ vì thế mà gần phân nửa tập thơ, là những tình khúc họ Đỗ dành cho Pais?

***

Để chấm dứt bài viết của mình, nhà thơ Phạm Chu Sa khẳng định: “Tôi nghĩ sau này người ta có thể quên một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhưng người ta không quên Đỗ Hồng Ngọc thi sĩ.”

Không chỉ Nguyễn Lệ Uyên hay Phạm Chu Sa mà còn nhiều bằng hữu khác, ghi nhận về tiếng thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc như một thành tựu tốt đẹp, dẫn người đọc tới kết luận những người làm thơ, được nhiều người ưa thích, là những người có được cho họ niềm hạnh phúc tinh khiết trong cuộc sống thực tế chấp chới những khổ đau, bất toàn này.

Đa số bằng hữu của họ Đỗ cho rằng về hạnh phúc có được từ thơ, của Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc khiến tôi thấy cảm nhận của tôi về những “lao động” thi ca của những người làm thơ có phần không đúng. Ít nhất cũng đối với Đỗ Nghê.

Tôi càng thấy sự “cường điệu hóa” (?) của tôi về hành trình của thi ca của Đỗ Nghê trong quá khứ là những nhận định thiếu cơ sở – tiêu biểu là thi phẩm mới nhất, có tên “Thơ Ngắn/Đỗ Nghê” của ông.

Tôi không muốn nói về những bài thơ ngắn của họ Đỗ, có xu hướng thơ Haiku của Nhật bản: Ngợi ca thiên nhiên hoặc tương tác giữa con người và vũ trụ,… đã hiện diện khá nhiều trong thi phẩm mới nhất của ông. (5)

Người đọc sẽ rất khó tìm thấy những bày tỏ bi quan, hoặc than thở, “vật vã” trong thơ Đỗ Nghê, nhất là với thi phẩm “Thơ Ngắn/Đỗ Nghê” mới ấn hành những ngày cuối năm 2017 này. Ngay cả khi tác giả viết về phần thịt, xương đã mất, như:

“Mỗi năm
Mỗi người
Thêm một tuổi
Chỉ mình con
Mãi mãi
Tuổi đôi mươi…”

(Bài “La Ngà 3” – 1990)

Hoặc tương quan với kẻ khác:

“Khi nhìn nhau xa lạ
Là rất đỗi thân quen
Khi nói năng vô nghĩa
Là thác reo trong hồn.”

(Bài “Không Tên”)

“Lá chín vàng
Lá rụng
Về cội
Em chín vàng
Chắc rụng
Về anh.”

(Bài “Lá”)

Hay ảnh hưởng của thiên nhiên, vũ trụ lớn vào vũ trụ nhỏ là cá nhân con người:

“Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố tàu

Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo”

(Bài “Tuyết” – Boston, 1993)

“Chiều thu
Nghe tiếng quạ

Giật mình
Nỗi xa nhà

Nhớ sao
Mà nhớ
Quá!”

(Bài “Thu” – Boston, 1993)

“Đất động ta cũng động
Sóng thần ta cũng sóng
Giật mình chợt nhớ ra
Vốn xưa ta là đất”

(Bài “Đất”)

“Nước xanh như ngọc
Sâu đến tận trời
Vốc lên một vốc
Ơi mùa Xuân ơi!”

(Bài “Tuyền Lâm”)

Ngay cả khi nhớ tới và viết về đứa con đã mất của mình, một tai họa khủng khiếp, ai cũng tưởng, Đỗ Nghê sẽ không thể vượt qua được. Nhưng, tâm thái của một hành giả: Hiểu thấu sống, chết… cách gì cũng không ra khỏi lẽ vô thường, họ Đỗ đã nhìn sự việc như một bài học tự nhiên đời sống mà thôi:

“Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút

Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con

Nỗi mất!”
(Bài “La Ngà 5” – 1990)

Hoặc về người mẹ đã qua đời mình, ông vẫn có cái thanh tịnh lạc quan, của một tâm thức không còn trụ, bám vào mất còn:

“Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…”

(Bài “Bông Hồng Cho Mẹ” – 2012)

Hoặc:

“Mẹ tôi cứ vẫn cười cười như thế
suốt ba năm trên bàn thờ!”

(Trích “Nụ Cười Của Mẹ” – 2014)

Tôi cho những phong thái kể trên của Đỗ Nghê là phong thái của một hành giả đã khu trừ được cái tâm nhiễu loạn, nguồn gốc của cái “tôi,” để thong dong dạo chơi giữa vườn đời…

Tôi thấy trong Đỗ Nghê không chỉ có một thi sĩ mà, thi sĩ ấy, còn song sinh với một thiền gia nữa. Như thiên/địa, nhật/nguyệt, tuy hai mà, thực ra cũng chỉ là một thôi. (Du Tử Lê)

————

Chú thích:

(3), (4) Nguồn dutule.com

(5)Tôi nói Đỗ Nghê thơ ngắn Đỗ Nghê…“xu hướng” Haiku – Thể thơ ngắn của Nhật Bản chỉ có 17 âm tiết trong ba câu; vì, thơ ngắn của họ Đỗ không nhất thiết theo đúng quy luật này. Nhưng “thần thái” những bài thơ ngắn của ông, thì rất gần với tinh thần của thơ Haiku vậy.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Du Tử Lê viết về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc)

10/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Đang loay hoay “về thu xếp lại…” thì gặp bài viết này của nhà thơ Du Tử Lê trên dutule.com về tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc). Bèn post lại đây để sẻ chia cùng bè bạn thân quen.

Cảm ơn Du Tử Lê.

ĐHN.

…………………………………………………………………

 

Đỗ Hồng Ngọc, thơ như một hạnh phúc? (Kỳ 01)

21 Tháng Mười Một 2017

Du Tử Lê

Nhiều độc giả (kể cả một số người có làm thơ), nói với tôi rằng, biết làm thơ và làm được thơ là một hạnh phúc! Tôi nghĩ khác.

Với tôi, trừ những người đến với thi ca như một thời thượng, làm dáng, hoặc, một cuộc du ngoạn ngắn hạn thì; làm thơ là một lao động (tinh thần,) vất vả. Một thao tác trí tuệ ngặt nghèo. Thường khi bất lực. Đuối sức.

Với tôi, đó là một cuộc chạy đua việt dã không đích đến. Không bạn đồng hành. Khi đối diện với bài thơ thì, chỉ có mình y, cùng lắm là… chiếc bóng.

Ngoài ra, tôi chưa thấy một cá nhân bình thường, không bị một khuyết tật tinh thần nào, lại ở được bền lâu, với thi ca. Tôi cũng chưa thấy một cá nhân thỏa mãn mọi lãnh vực trong đời thường, có thể tạo được một hôn phối tốt đẹp với thi ca. Tại sao?

Xin thưa, vì căn bản, thi ca là đỉnh ngọn chênh vênh, nhọn, sắc nhất của định mệnh bất toàn.
Vì căn bản, thi ca là cõi trú đầu tiên và, cuối cùng của những tâm hồn bất an.
Những sinh phần liu điu, cần sự cân bằng sinh-thái-tinh-thần…

Hiểu như thế, với tôi, nhà thơ trước nhất, là người thợ đào bới để làm mới những con chữ đã cũ, hoặc hình ảnh, chân dung những mảnh đời đã mất. Khi tìm được những hầm mỏ chữ, nghĩa, những “trầm tích” gặp được ở độ sâu đủ thì, tôi cho, đó là lúc nhà thơ sức thả mình, rớt xuống. Y hoàn tất cuộc đua việt-dã-trí-tuệ (một mình.) Y hoàn tất trận đánh sinh, tử (dài lâu), với địch thủ trên cơ: Định mệnh. Y san bằng mọi bất toàn. Y cân bằng sinh-thái-thân-tâm. Nhưng, đau đớn thay, đó cũng là lúc, y thấy tận cùng vẫn là thất bại, hiểu theo nghĩa nào đấy – – Để rồi y lại khởi sự một lên đường khác (?)

Trên hành trình chữ nghĩa, ở đôi ba giao lộ, tôi may mắn được gặp một số bằng hữu. Những thi sĩ. Trong đó, có Đỗ Hồng Ngọc. Thi sĩ.
Tôi không chủ quan nghĩ rằng, Đỗ Hồng Ngọc, sẽ sẵn sàng chia sẻ những quan điểm của tôi về thi ca và, đời sống: Chữ nghĩa và sự bất toàn. Khuyết tật và định mệnh.
Nhưng, là người dõi theo hành trình văn chương của Đỗ Hồng Ngọc, trên dưới sáu mươi năm qua – – Từ những bài thơ đầu đời, tới những bài thơ mới nhất trong thi phẩm “Thơ Ngắn / Đỗ Nghê” (của năm 2017), tôi nghĩ, Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, thi sĩ, không chỉ muốn hoàn tất cuộc đua việt-dã-trí-tuệ (một mình). Ông cũng không chỉ muốn hoàn tất trận đánh sinh, tử (dài lâu,) với địch thủ trên cơ, định mệnh. Mà, ông còn muốn trả ơn người, tạ ơn đời bằng chính những lao tác tinh thần, song song với những lao động đời thường, với tư cách một bác sĩ, của ông nữa.
Ở quá xa, tôi không thể tìm đến ông (như ngày nào), để ngả mũ chào ông: Một thi sĩ. Tôi viết xuống, những dòng chữ này, như một lời xin lỗi, thi sĩ.
Hôm nay, giữa thập niên 2010s của một thiên niên kỷ khác, tôi lại thấy tôi sẽ rất không phải với họ Đỗ, nếu không sớm nói với Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc rằng, cá nhân tôi, cũng rất biết ơn ông với những trang văn xuôi đẹp như thơ, ông gửi cho người, cho đời. Thí dụ “Gió heo may đã về”. Thí dụ “Già ơi…Chào bạn”. Thí dụ “Nghĩ từ trái tim”. Thí dụ “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” cùng nhiều nữa… và, mới đây: “Ghi chép lang thang”. (*)
Tôi thích lắm tựa đề của tác phẩm của họ Đỗ. Ông gọi đó là những “Ghi chép lang thang”, đúng nghĩa… lang thang – – Nơi trang 287 và 288 của tác phẩm này, khi phải trả lời câu hỏi của độc giả Lê Uyển Văn, tác giả giải thích, ghi chép lang thang, thực ra là những ghi chép không đầu không đuôi, kiểu “cà kê dê ngỗng” trong lúc lang thang nơi này hay nơi khác. Ông chợt nghĩ, chợt nghe, chợt nhớ… một điều gì đó có khi chỉ là mùi khoai nướng, có khi chỉ là mùi dĩa bánh căn, mùi cá khô đuối xúc hột vịt…, thậm chí mùi phân trâu bò trên đường làng cũ, nhưng cũng có khi là một câu nói đanh thép của nhà vua trong bảo tàng viện với hàng trăm chiếc… thuyền thúng giăng ngang bãi biển La-Gi (1) một ngày lộng gió…

Cũng trong 2 trang sách vừa kể, với bản chất khiêm cung, luôn chọn vị trí cách xa ánh đèn sân khấu tiền trường, giấu mặt trước những lời khen dù chân thật của đám đông, Đỗ Hồng Ngọc đã viết thêm:
Tác phẩm “Ghi chép lang thang” của ông, không phải là chuyện ‘văn chương chi sự’ mà, chỉ là những ghi chép riêng tư cho đừng quên với người tuổi tác.

Thế rồi thế giới bỗng nhiên phẳng, người người trong nháy mắt có thể tâm tình trao đổi cùng nhau, bèn cùng mò mẫm mà “tung” lên cho bạn bè gần xa khắng khít nhau hơn. Ghi chép lang thang như vậy cũng chỉ là những cảm xúc bất chợt, không tính toán, không… hư cấu. Mà thực ra ‘ghi chép’ cũng chẳng phải là “ghi chép”… Ông nói:
“… Có khi viết lách lăng nhăng dòm trông giống bài thơ mà không biết có phải thơ không, hoặc có khi ngoằn ngoèo như một phác thảo… mà không biết phải họa không”… (2)

Sau này, được đọc nhiều bài biết của bằng hữu về cõi giới văn chương Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, tôi thấy dường như quan điểm của tôi về văn chương của Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, có nhiều phần nghịch với quan điểm của nhiều tác giả khác.

Thí dụ nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, khi viết về thế giới thi ca Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, trong bài tựa đề “Khói trời phương đông”, đã ghi nhận rằng, Với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, từ những bài tùy bút cho đến thơ, họ Đỗ luôn trân trọng với chữ nghĩa. Ông không hề đùa cợt với chữ nghĩa, “lên gân” cho mọi sự vật… Ông cẩn thận quan sát những hiện tượng quanh mình, trong chính cuộc đời mình y như người thầy thuốc chẩn đoán căn bệnh cho bệnh nhân. Bởi vì căn bản ông là một thầy thuốc yêu nghề, có lương tâm.

Vẫn theo nhà văn Nguyễn Lệ Uyên thì, với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, gồm nhiều thể loại: Thơ, tùy bút, tạp văn, y học và cả Phật học… không biết nên xếp Đỗ Hồng Ngọc vào “hàng ghế” nào cho thật chuẩn. Nhà thơ, thầy thuốc, nhà nghiên cứu, nhà văn? Đối với họ Nguyễn, vị trí nào cũng chính xác. Bởi những gì Đỗ Hồng Ngọc viết, đã xuất bản và đến tay độc giả đều tròn đầy, khiến họ thích thú đến bất ngờ. Vì ngoài cốt cách văn chương, những suy nghĩ của họ Đỗ về các vấn đề xã hội, đời sống, không xa vời; nó gần gũi, quanh quẩn, ẩn núp đâu đó quanh ta mà ta chưa thể nhìn thấy; chỉ đợi khi ông viết lên, đọc lại, ta mới chợt thấy ra…Nó vẫn có đấy nhưng ta không nhìn thấy, không nghĩ ra được nhỉ?
Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên nhấn mạnh rằng, những điều bình thường cũ rích, trong đời sống, nhưng qua ngòi bút của Đỗ Hồng Ngọc, chúng được “hóa giải, đã giúp ta từ bỏ thói quen nhìn, nghĩ đời sống quanh ta, một cách hạn hẹp… bất cập – – Để từ đó, ta có được cái nhìn cởi mở, thênh thang, không thiên kiến…” Nđd)
Là một người sáng tác văn chương, họ Đỗ được nhà văn tên tuổi Nguyễn Lệ Uyên ngợi ca là đã “hóa giải” phần nào chướng ngại tinh thần của người đọc thì, thành quả đó, chẳng phải là một “hạnh phúc” đáng kể hay sao?

(Còn tiếp một kỳ)

________
Chú thích:

(1) Bãi biển La-Gi, thuộc tỉnh Phan Thiết (Bình Thuận), một thắng cảnh nổi tiếng ở miền Trung, nguyên quán của họ Đỗ. Được ông nhắc tới rất nhiều lần trong thơ. (Theo Wikipdia-Mở)

(2) Bài viết của DTL, tựa đề “Đỗ Hồng Ngọc, như một lời xin lỗi” – – đã đăng trên Web Site, dutule.com tháng 1 – 2015.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Nguyên Giác: KINH PHÁP CÚ TÂY TẠNG

01/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

LỜI GIỚI THIỆU

KINH PHÁP CÚ TÂY TẠNG

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali. Phổ biến nhiều thứ nhì là Kinh Pháp Cú Hán Tạng. Duy ít nghe tới là Kinh Pháp Cú Tây Tạng (Tibetan Dharmapada), còn tên khác là Udanavarga; hiện chưa có bản Việt dịch nào.

Kinh Pháp Cú Nam Truyền, từ Tạng Pali, gồm 26 phẩm, 423 bài kệ — đã nhiều bản Việt dịch, trong đó bản phổ biến nhất là của Hòa Thượng Thích Minh Châu.

Kinh Pháp Cú Bắc Truyền, còn gọi là Kinh Pháp Cú Hán Tạng, gồm 39 phẩm, 759 bài kệ. Bản do Thiền sư Nhất Hạnh dịch còn lấy tên là “Kết một tràng hoa.” Bản Việt dịch gần nhất được xuất bản năm 2019, của hai dịch giả Thích Nguyên Hùng và Thích Đồng Ngộ.

Kinh Pháp Cú Tây Tạng, thường gọi là Kinh Udanavarga, gồm 33 phẩm, 1,100 bài kệ. Bản gốc từ tiếng Sanskrit, được dịch sang tiếng Tây Tạng, và hiện nay có ba bản Anh dịch. Chưa có bản Việt dịch nào trước đây.

Bản Việt dịch này dựa vào ba bản Anh dịch sau.

– Udanavarga: A Collection of Verses from the Buddhist Canon (ấn bản 1883). Dịch giả là William Woodville Rockhill (1854-1914). Rockhill là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ, cũng là người Mỹ đầu tiên học tiếng Tây Tạng.

— The Tibetan Dhammapada (ấn bản 1983). Dịch giả là Gareth Sparham, có Lời Giới Thiệu của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14. Sparham sinh tại Anh quốc, xuất gia và tu học khoảng 20 năm theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng tại Dharamsala, Ấn Độ.

— The Dhammapada with the Udananvarga (ấn bản 1986). Dịch giả là Raghavan Iyer (1930-1995). Iyer sinh tại Ấn Độ, tốt nghiệp Tiến sĩ năm 1962, dạy tại University of California, Santa Barbara từ 1965 cho tới khi về hưu năm 1986. Iyer từ trần ở Santa Barbara năm 1995.

Theo ngài Long Thọ (https://en.wikipedia.org/wiki/Udanavarga) sách Udanavarga (tức là Pháp Cú Tây Tạng) do các tu sĩ kết tập ngay khi Đức Phật nhập Niết Bàn.

Như thế, các Kinh Pháp Cú thuộc các nhóm kinh kết tập xưa cổ nhất, tính kể từ khi Đức Phật nhập diệt, và khi các nhóm tu sĩ đi phân tán ra các hướng khác nhau, dần dà mới có dị biệt.

Theo truyền thuyết, Kinh Pháp Cú Tây Tạng do Tôn giả Pháp Cứu (Dharmatrāta) tuyển soạn, kết tập; nhiều học giả ngờ vực rằng có thể có nhiều vị kết tập qua nhiều thời kỳ.

Bản Việt dịch này được thực hiện với nhiều đối chiếu. Khi thấy các bản Anh dịch có một số câu dị biệt, tất cả các dị biệt đó đều được dịch ra đầy đủ, không dám bỏ sót ý nào.

Nhìn chung, Pháp Cú Tây Tạng khuyến tấn nhận ra Tứ Diệu Đế, sống ly tham, trì giới, quán vô thường, biết đủ, giữ hạnh cô tịch, phòng hộ sáu căn, hành thiền, dạy tránh danh vọng, khuyên chớ coi thường những người học kém, vì vẫn có nhiều người học kém nhưng kiên tâm trì giới, sống theo chánh pháp đã đắc được Tam Minh. Và rất nhiều lời dạy quan trọng khác.

Đặc biệt, tư tưởng Thiền Tông, hay Thiền Đốn Ngộ (tại Việt Nam là Thiền Trúc Lâm) lặp đi lặp lại ở nhiều bài kệ. Nơi đó, tâm sẽ tức khắc không thấy tham, sân, si là khi:

— Tâm vô sở trụ, không dính mắc, không chấp thủ, dù là dính vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

— Tâm buông bỏ những gì ở quá khứ, chớ mơ tưởng gì nơi tương lai, và không tơ vương gì với hiện tại.

— Tâm để cái được thấy nghe hay biết chỉ là cái được thấy nghe hay biết, và sống với các pháp như thị.

— Tâm đón nhận vô thường trôi chảy, nơi đó là rỗng rang, không lời, không gì để thêm, không gì để bớt.

— Tâm xa lìa cả bờ này và bờ kia, xa lìa cả thiện và ác.

— Tâm lắng nghe cái tịch lặng, nơi ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt – nơi lời nói dứt bặt, tâm bất động như núi.

— Tâm thấy tất cả các pháp đều là như huyễn, đều là rỗng rang không tự tánh.

Nơi các lời đó, khi tâm ly tham sân si, là tức khắc Niết bàn.

Tất cả những dòng chữ nơi đây được trân trọng viết để cúng dường Tam Bảo và phụng sự chúng sinh. Tất cả các bất toàn, người biên dịch xin chân thành sám hối.

(PTH)

(2019)

Thuộc chủ đề:Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

LÕM BÕM HỌC PHẬT

31/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Lõm Bõm Học Phật

Đỗ Hồng Ngọc

Kinh sách khuyên học Phật dù một câu một chữ cũng… quý!
Lục tổ Huệ Năng lúc còn gánh cũi trên rừng chỉ nghe người ta tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà hoát nhiên đại ngộ. Lại nhớ chuyện một thiền sư cho đệ tử mỗi một chữ “Vô” để làm “thoại đầu” mà thiền tập…
Các bậc tôn túc tự xưa đã đúc kết những câu những chữ chẳng đáng cho ta ngẫm ngợi đó sao?
Chẳng hạn “trà Tào Khê”, “cơm Hương Tích”, “thuyền Bát Nhã”, “ trăng Lăng Già” !

 

Trà Tào Khê

Huệ Năng từ phương Nam lặn lội đến Huỳnh Mai bái Ngũ tổ Hoàng Nhẫn. Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật chi ?” Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ông người Lãnh Nam quê mùa, ít chữ, làm sao kham làm Phật ?” Huệ Năng đáp: “Người có Bắc Nam chớ Phật tánh đâu có Nam Bắc. Kẻ quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác!” Hoàng Nhẫn giật mình. Cho xuống bếp… bửa củi, nấu cơm, giã gạo!

Không lâu sau đó, Ngũ Tổ gọi riêng truyền dạy cho, rồi trao y bát, lẻn đưa Huệ Năng xuống thuyền trốn về phương Nam xa xôi nơi có dòng suối mát Tào Khê tu tập. Huệ Năng trở thành Lục Tổ từ đó, ngày ngày uống ngụm trà Tào Khê, bắt đầu truyền thụ dòng Thiền “đốn ngộ”. Tâm truyền tâm. Bất lập văn tự. Kiến tánh thành Phật. Lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc.

Huệ Năng dạy học trò nghiêm khắc. Đệ tử từ xa tìm đến tham vấn, xin ấn chứng mà chưa tỏ ngộ, chưa thấy “bổn lai vô nhất vật”, chưa nhận ra “Thức tự tâm chúng sanh/ Kiến tự tâm Phật tánh”, còn loay hoay dính mắc mãi những đâu đâu thì thường bị quở phạt, trách mắng, cảnh tỉnh.

Một hôm có người học trò Vĩnh Gia Huyền Giác đến Tào Khê. Huyền Giác xuất gia từ nhỏ, tinh thâm Thiên Thai tông, nhờ xem Duy Ma Cật Sở Thuyết mà tâm địa bừng ngộ.
Gặp Huệ Năng, ông đi quanh ba vòng rồi chống tích trượng đứng yên.
Huệ Năng trách :
– Phàm làm Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?
Huyền Giác trả lời: Sinh tử sự đại/ Vô thường tấn tốc (sinh tử việc lớn, vô thường mau chóng, lễ nghĩa làm chi!).
Huệ Năng đáp :
Sao không nhận cái lý (thể) “Vô sinh” và thấu rõ (liễu) cái nghĩa “không chóng”.
Huyền Giác đáp: “Thể” tức vô sinh, “liễu” vốn không chóng.
Huệ Năng khen: Đúng vậy! Đúng vậy!
Thế rồi Huệ Năng cùng Huyền Giác đối đáp, càng lúc càng sôi nổi.
Đoạn, Huyền Giác xin kiếu về, Huệ Năng hỏi.
Về chóng thế sao?
Rồi, mời Huyền Giác ở lại Tào Khê với mình một đêm để cùng uống trà… mà đàm đạo!
Về sau, Huyền Giác viết Chứng đạo ca:
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân,
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân ?
Vô minh thực tánh tức Phật tánh,
Ảo hoá không thân tức Pháp thân.
(…)

 

Cơm Hương Tích

Hôm đó Duy Ma Cật tiếp Bảo Tích và năm trăm vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà viên ngoại- là những Bồ-tát tại gia tương lai- tại cái thất trống trơn của ông ở thành Tỳ-da-ly.
Giữa lúc mọi người đang sôi nổi hào hứng bàn những chuyện cao xa như hữu lậu với vô lậu, hữu vi và vô vi, sinh tử và niết bàn… thì Xá-lợi-phất, vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật, lên tiếng đưa mọi người về “mặt đất”: “Sắp đến giờ ăn rồi. Các vị Bồ Tát này sẽ ăn thức gì đây?”.
Duy-ma-cật: “ Xin đợi cho giây lát, tôi sẽ khiến quý vị được thứ thức ăn chưa từng có”.
Thức ăn chưa từng có ư? Với các vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà trưởng giả này thì cao lương mỹ vị có gì là lạ, tổ yến hồng sâm, nem công chả phượng có gì là lạ.
Họ háo hức chờ đợi Duy-ma-cật mang đến thứ thức ăn “chưa từng có”!

Thì ra… Duy-ma-cật mang đến một mùi hương! Một mùi hương thơm. Thứ “thức ăn” xin được từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích! Đó là một thứ “thức ăn” chưa từng có.
Duy-ma-cật liền nhập vào Tam-muội, dùng sức thần thông khiến cho đại chúng nhìn thấy về hướng trên, cách đây nhiều cõi Phật liên tiếp nhau như số cát của bốn mươi hai con sông Hằng, có một cõi nước tên là Chúng Hương, hiện có đức Phật hiệu là Hương Tích ngự tại đó. Nước ấy có mùi thơm bậc nhất đối với các mùi thơm của người ta và chư thiên ở các thế giới chư Phật mười phương. Khắp cõi ấy, mùi thơm tạo ra lầu gác. Người ta đi trên đất bằng mùi thơm. Các cảnh hoa viên và vườn tược đều bằng mùi thơm. Từ nơi thức ăn, mùi thơm bay tỏa ra khắp vô lượng thế giới mười phương.
Duy-ma-cật chỉ xin “chút xíu thức ăn thừa” của Phật Hương Tích để đãi các vương tôn công tử tại Tỳ-da-ly hôm ấy. Chỉ một chút xíu thức ăn thừa thôi nhé. Một chút thức ăn thừa thôi cũng đã là quá đủ, bởi thứ « thức ăn chưa từng có” đó là một thứ « vô tận hương » đến từ bên trong của người có giới đức. Chính là hương giới đức. Một thứ hương có thể “bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió”!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. “Hương” thơm đó phải được “Tích” chứa từ từ mới đầy dần lên được, mới sung mãn, mới tràn trề… mới “ngát hương”!

Nhờ giới đức, cõi Chúng hương đó của Phật Hương Tích chẳng cần phải thuyết pháp bằng văn tự mà chỉ dùng các mùi hương là đủ. Mọi chúng sanh nhờ hương giới đức mà đắc nhập luật hạnh. Bồ-tát ở cõi đó mỗi vị đều ngồi nơi cội cây thơm, nghe mùi thơm vi diệu kia mà thành tựu hết thảy các phép Tam-muội Đức tạng. Chẳng cần phải nói năng cho phiền hà, gây tranh cãi, hí luận. Bởi Giới là gốc. Có Giới thì có Định, có Huệ đó vậy.

 

Thuyền Bát Nhã

“Bát Nhã” lúc nào cũng phải có… “thuyền”! Nhưng có lúc “bè” cũng được… Có lần Phật bảo các đệ tử: Qua sông rồi còn vát bè theo chi cho nặng!
Quán Tự tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã ba-la-mật-đa (Prajna Paramita) thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Bát Nhã luôn là Bát Nhã “Ba-la-mật”. Prajna paramita. Para: bờ kia, bên kia. Mita: đến. Paramita: là đến bờ kia, là “đáo bỉ ngạn”. Từ bờ mê qua bến giác.
Qua bờ kia thì “Độ nhất thiết khổ ách” được ư? Được. Với điều kiện hành thâm Bát Nhã. Thấy rõ năm uẩn đều Không. Chẳng những vậy, khi đã thấy không tướng, thực tướng vô tướng, đã sống với Bát Nhã, sống trong Bát Nhã thì… cái núi Tu Di to đùng kia có thể nhét vào hột cải, nước bốn biển mênh mông nọ có thể cho vào một lỗ chân lông… !
Một khi lý đã vô ngại thì sự vô ngại. Lý sự đã vô ngại thì sự sự vô ngại…

Nhưng, thuyền có đi thì có về, có qua thì có lại. Các vị Bồ-tát theo nguyện vì người mà nấn ná cõi Ta-bà, qua qua lại lại giữa đôi bờ. Thuyền thong dong qua lại mà cũng chỉ quanh quẩn ở lòng ta, tâm ta.

Con thuyền vẫn đi có khi trên dòng nước xuôi, có khi trên dòng nước ngược. Phải chèo phải chống. Không dễ mà lõng buông tay lái. Bố thí. Trì giới. Nhẫn nhục. Tinh tấn. Thiền định. Trí huệ.

Bát Nhã, Prajna, là cái Biết trước cái Biết. Pra là trước, Jna là biết. Cái biết trước cái biết là cái biết hiện tiền, biết “như thực”, không qua suy luận, phê phán, biện biệt. Cho nên nó đã là Trí chớ không còn là Thức nữa. Hay nói cách khác Thức đã chuyển thành Trí.

 

Trăng Lăng Già

Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…” giữa đêm trăng Lăng Già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ tát.
Ấy bởi Phật đã thuyết giảng chân lý giúp cho mọi người chuyển hóa tâm thức, vượt ngoài tri thức lý luận, vượt cả tam-ma-địa thông thường để mà an trú trong Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, cảnh giới cao nhất, nhập vào Như lai tạng, bằng tự chứng tự nội…

Giữa đỉnh núi ở trên đảo Lăng Già khi nhìn những ánh trăng bập bềnh trên sóng nước, vỡ tan, vỡ tan theo từng con sóng, Phật đã cất tiếng cười to. Ánh trăng vỡ tan và gom tụ lại. Rồi vỡ tan, rồi gom tụ lại. Hoa đốm hư không. Dấu chân chim ngang trời. Bức tranh vân cẩu. Nó vậy đó. Thế giới muôn hồng ngàn tía cũng chỉ do tâm thức tạo ra. Nó như huyễn, nó như mộng, như bào ảnh, như sương mai, như ánh chớp… Bên dưới đó, là Như Lai tạng, là A-lai-da vẫn im ả, “như như bất động”. Chỉ có cái thức tâm phân biệt của ta quậy phá chính ta. Cái tâm thanh tịnh bổn nhiên kia vẫn im ắng. Không lay động. Vẫn bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Vì thức khởi mà sự sinh. Thế giới chỉ là tâm thức của chính mình. Chúng sanh là ảo vật do ảo thuật gia là ta vẽ bày để rồi tự mình phan duyên, dính mắc, khổ đau…

Bồ tát thấy biết như vậy, thấy biết nhứt thiết duy tâm tạo, thấy chúng sanh là ảo vật do chính mình tạo ra rồi thức tâm phân biệt, chấp trước mà khổ đau bèn nói thẳng cho mọi người cùng biết. Nói thẳng ra như thế mới là “lòng từ chân thật”, không giấu giếm, che đậy, không hù dọa, gạt gẫm nhau chi! Vì như huyễn, mà có lòng Từ. “Trí chẳng đắc có không/ Mà hưng tâm đại bi”.

Tâm bất sinh thì vô sinh. Vô sinh thì vô sự. Dứt mọi phân biệt của thức tâm thì không bị quậy phá nữa. Ở đó là Như Lai tạng. Nhất thiết chủng trí. Đại viên cảnh trí.
Thấy biết Như Lai, thì sống với Như Lai, sống trong Như Lai, sống cùng Như lai vậy.

(ĐHN)
(6.2019)
………………………..

Ghi chú: các hình trong bài này từ Internet. 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Hồ Đắc Đằng: VÔ KỴ HỌC VÕ

21/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

VÔ KỴ HỌC VÕ

Ghi chú: Bác sĩ Hồ Đắc Đằng là người bạn cùng khóa với tôi tại Y khoa Đại học đường Saigon (1962-1969) vừa có bài viết rất thú vị về chuyện “Vô Kỵ Học Võ” mà anh có vài lời “phi lộ” như sau: “Tự nhiên, nổi hứng, viết cho tất cả các bạn cùng lớp của tụi mình. Tôi có một câu chuyện kể các bạn xem cho vui. Nửa bịa đặt, nửa thật. Tên thì bịa đặt, nơi chốn thì thật, phương cách dạy, quyền cước thì nửa thật, nửa tượng trưng (symbolic), kết quả thì thật…”.

Xin chia sẻ cùng các bạn.

Cảm ơn Hồ Đắc Đằng.

ĐHN

……………………………………………………………………..

VÔ KỴ HỌC VÕ

 

Vô Kỵ

Vô Kỵ là một thằng bé 11 tuổi, ở Tích Lan (Srilanca), người thì không có gì mạnh mẽ, nhanh nhẹn. Nó thì hiền lành nhưng tự nhiên lại nổi hứng muốn học đánh võ. Nó tìm được một ông thầy dạy võ già, nổi tiếng là võ nghệ cao cường, kiến thức uyên bác, đạo hạnh nghiêm túc. Bố mẹ nó cũng không vui lắm vì muốn nó trở thành một người thường, làm ăn lương thiện, thành công và cưới vợ, đẻ con như tất cả mọi người. Bố nó giận nó, nói dỗi:

–          Mầy có muốn học võ thì mầy đi ở luôn với ông thầy dạy võ đó đi. Đừng có về nhà nữa.

Thế là nó làm thật. Nó ở luôn với ông thầy võ đó. Thế mới đổ nợ cho bố nó, bị vợ ổng (mẹ nó) mắng cho một trận:

–          Tại ông đó, nó mới bỏ nhà đi như vậy. Phải ông để tôi dùng lời nhỏ nhẹ, tôi đã có thể giữ nó lại nhà làm người tốt như ông tính.

Bài học: Muốn cái gì thì cứ thong thả, từ từ; thẳng thừng là nó làm thật đấy.

Dạy ăn

Nó đòi học võ, ông thầy chẳng chịu dạy gì cả:

–          Vô Kỵ, trước khi học võ, phải học ăn trước. Thân thể gầy ốm thế này thì đấm với đá cái gì. Phải nuôi cho nó lớn, mạnh lên. Con thích ăn cái gì?

–          Thưa sư phụ, con thích ăn balanced diet. Mấy người thầy thuốc dặn ăn balanced diet, tinh bột, thịt mỡ, con biết hết. Nhưng con nhất định ăn chay tại con thương thú vật. Con không muốn bất cứ một con gì phải  bi chết để con được sống và học võ.

–          Nầy Vô Kỵ, nếu con nhất định như vậy thì sư phụ sẽ không còn ai để dạy nữa.

–          Sao vậy sư phụ? Có biết bao protein thực vật mà mình đâu có cần giết con gì đâu?

–          Vô ích, Vô Kỵ ạ. Con có biết một bát cơm con ăn là do biết bao triệu sâu bọ đã bị giết để con còn có lúa trên đồng không? Nếu không có mấy cái xịt thuốc rầy, thì tụi nó đã ăn hết lúa, hết hoa quả của con. Con sống được là nhờ tụi nó chết. Con hãy mang ơn tụi nó khi con nhai cơm, ăn táo trong miệng con. Đó là đời sống đó con. Xác thân con sống được như vậy là do công ơn của muôn vạn sanh linh, từ người đến thú. Đó là chưa kể đến những vật vô tri giác như nước, không khí và ánh sáng. Kết luận? Thầy sẽ cho con ăn cái gì thầy có. Lòng từ bi, thầy cũng có như con. Thầy dạy con ăn, không phải cái gì con nên ăn, mà thầy dạy con ăn trong tâm thức nào: tâm thức mang ơn.

–          Con xin nhận lãnh những lời giáo hóa nầy. Vô Kỵ cúi đầu. Hắn hiểu.

Dạy đi

Dạy ăn rồi mà vẫn chưa xong với ông thầy dạy võ nầy. Vô Kỵ nóng nảy muốn học võ mà cả năm qua, chẳng thấy thầy dạy động tác nào trước, bước đá nào sau. Nội cái đi tới đi lui trong sân mà thầy hắn cứ phải nhắc đi chậm lại. Trời đất, đi học đánh võ mà cái gì cũng phải chậm. Hắn cứ muốn học sao cho nhảy cao, đá mạnh. Vô ích, ông thầy dạy:

–          Vô Kỵ, nghe cho kỹ, cái võ thuật thầy dạy không nằm trong cái vận tốc và lượng (mass) mà là nội công của cái tĩnh lặng tuyệt đối. Nhớ 3 điều nầy:

. Một cái tâm nhanh là tâm bệnh

. Một cái tâm chậm là tâm mạnh

. Một cái tâm yên lặng là tâm thánh thần

(A mind which is fast is sick

A mind which is slow is sane

A mind which is still is divine)

Dạy thở

Ba năm đã qua mà Vô Kỵ vẫn chưa được dạy một miếng võ nào. Hắn ăn cái gì thầy hắn cho. Thật ra mấy người trong làng hắn cho thầy hắn rồi thầy trò ăn với nhau. Khi ăn thì không nói. Chỉ biết ăn là ăn cái gì, nghe mùi vị trong mũi, trên lưỡi của nó và đầy lòng biết ơn.

–          Thở mà cần gì phải dạy, thưa thầy. Con biết thở từ lúc mới sanh.

–          Con nuốt thức ăn xuống dạ dày không có nghĩa là con biết ăn. Ăn trong im lặng, ăn trong lòng mang ơn mới gọi là biết ăn. Đi cũng vậy, đặt chân xuống đất và bước đi trong cả đường dài không có nghĩa là con biết đi. Con đi từng bước chậm rãi, chú ý, quan tâm tới cái mầu nhiệm của mỗi cái ngã mà con tránh được của mỗi bước. Đó mới là con biết đi đấy.

Còn thở cũng vậy. Mũi con thở mà tâm con nóng lòng học võ để con có võ nghệ cao cường là con chưa biết thở. Con hãy buông bỏ hết tất cả ý tưởng bay nhảy, suy luận và chỉ đắm mình trong một cái thở ra, một cái thở vô nhịp nhàng, không cố gắng, không ham muốn. Một cái thở bao dung, hòa đồng, không ranh giới, trao đổi dưỡng khí với trọn thế giới quanh con. Không còn hơi thở nào là của con hay là của bạn con xung quanh. Hơi thở dịu dàng, nhịp nhàng, không ranh giới, vô tận. Đó mới thật là biết thở. Dĩ nhiên Vô Kỵ con, con không thể nào biết thở kiểu này 24/7. Mỗi ngày 15 đến 45 phút là đủ rồi. Khi nào con cảm thấy mấy cái hơi thở vô, thở ra của con là “đẹp đẽ” thì con khá lắm đó. Nhớ: The beautiful Breath .

–          Thầy có thấy hơi thở đẹp không? Vô Kỵ hỏi.

Ông thầy chỉ cười, không trả lời. Vô Kỵ cũng không có hỏi gạn.

Dạy võ

8 năm qua. Vô Kỵ bây giờ 19 tuổi. Thân thể tráng kiện, mắt sáng, tai thính, bước đi nhẹ nhàng, mỗi một bước chân xuống vững chãi như một cái máy cầy John Deere , nhấc lên nhẹ nhàng như một tai hoa sen. Miệng hắn hiền hòa, điềm đạm, hay cười. Hắn vui lắm.

–          Nầy Vô Kỵ, bao nhiêu kiến thức về võ thuật, tấn thối, ngửa đầu, cúi đầu con đều đã nằm lòng. Bây giờ thầy chỉ nhắc lại con có hai động tác là con phải quán suốt tận tường. Một là xuống tấn; hai là Tango.

Xuống tấn

–          Như kiểu phòng thủ. Chân trái gập nửa gối, phía trước. Tay trái thẳng, hạ thấp một chút. Tay phải xòe, hướng ra trước phía đối thủ, mấy ngón tay khít lại, cả ngón cái. Khuỷu tay co lại một chút. Đấy đấy, được đấy. Sư phụ của hắn vừa dạy vừa ra bộ luôn.

–          Năm ngón tay là 5 giới (Sila). 10 ngón tay cũng được. Tư thế có khác một chút: 2 bàn tay xòe về phía đối thủ như để chặn đứng một cánh cửa đang ập xuống. Đó là 10 Commandments. Cả hai động tác có một ý nghĩa tương tự: Đừng làm mấy cái đó. Vô Kỵ, con hãy chuẩn bị chân con cho vững vì mấy cái lực tấn công con nó rất mạnh. Con đỡ nó mà không vững chân thì nó đánh con ngã đó: Lực mà 5 giới (precepts) và 10 điều răn (commandments) con phải đối phó: Đừng có làm.

Tất cả các đường quyền, đường cước đều phải dựa lên cái xuống tấn phòng thủ nầy để khỏi bị địch thủ đánh ngã.

Tango

–          Vô Kỵ, bên Âu Châu tụi nó có điệu múa, hình như của Tây Ban Nha thì phải, gọi là Tango. Trong khi múa, vũ kiểu nầy, có lúc người đàn bà như bị ngã ngửa ra đằng sau, gần như lưng đụng sàn. Thì tự nhiên một cánh tay của vũ công nam ,uyển chuyển, mềm mại nhưng mạnh khỏe vô cùng đã đợi sẵn ở đó và người phụ nữ không bao giờ bị ngã đau. Đó là Tango.

Con đánh võ cũng vậy. Đánh võ là có ngã. Thầy dạy con đường quyền, đường cước để chân tay khéo léo, mạnh mẽ, không phải để làm cho người ta đau hay ngã xuống.

–          Thưa thầy, nhưng nếu đối thủ không ngã, không đau thì làm sao con thắng được?

–          Thắng? Thắng là cái gì? Con sao tối dạ thế? Vô Kỵ. Con nói con muốn học võ, thầy dạy võ. Thầy có dạy cho con thắng ai đâu? Con đủ sức thắng được, đỡ được cánh cửa nặng của 5 giới, của 10 điều răn, con còn sức đâu để thắng ai nữa. Con chẳng còn mong muốn gì hết, huống là muốn thắng.

Quyền Tango là con đỡ cho địch thủ khỏi đau đó.

Cuộc đấu thực sự

Bây giờ, Vô Kỵ đã 25, thân thể vạm vỡ, bước đi uyển chuyển, dịu dàng, nhịp nhàng, quyền cước thuộc lòng, tâm tính bao dung, trong sáng nhưng vẫn còn một cái muốn: muốn thắng.

Đối thủ có vẻ già giặn, lịch thiệp, có vẻ hơi kiêu ngạo một chút vì hắn học trường rất nổi tiếng trong vùng. Nhiều tiền lắm mới vô học được trường nầy, toàn là người thành công trong đời tranh nhau đưa con đến học, đôi khi phải hối lộ mấy người xét đơn nhập học. Trường võ của Vô Kỵ thì nghèo. Từ bi, rộng lượng nhưng nghèo và không danh tiếng bằng.

Hiệp nhất

Vô Kỵ thua te tua, ngã mấy cái đau điếng. Địch thủ mạnh lắm, Vô Kỵ xin time out vô động đá vấn kế sư phụ. Sư phụ ngồi yên, theo dõi từng quyền, từng cước. Sư phụ dạy: Con đánh rất đúng quy luật thể thức nhưng còn nhớ bài nhiều quá, theo quy luật, giáo điều quá. Quên bớt đi.

Hiệp hai

Vô Kỵ ngồi nghỉ mệt một chút, xem xét mình còn nhớ bài được bao nhiêu. Quên được 75% bài học của thầy. Thầy cho ra đánh tiếp hiệp hai. “Quái lạ, thằng này đánh khá hẳn lên” đối thủ ngạc nhiên, vất vả hơn nhiều nhưng rốt cuộc cũng đánh ngã được Vô Kỵ. Lần nầy ngã nhưng không có đau bằng lần đầu. Xin time out, vô vấn kế sư phụ lại.

Hiệp ba

–          Con còn nhớ bài nhiều quá. Nhớ 25% là quá nhiều. Con phải biết là địch thủ nầy nó rất giỏi về đoán trước động tác của con. Nó thấy được con ở đâu, con là ai, nó tấn công con ở đó. Con phải quên hết bài bản, quên con là ai, con không còn là Vô Kỵ nữa thì con sẽ thấy. Quên hết đi. Buông bỏ hết đi. Con không còn tự nhận định (self-identify) với một đơn vị nào nữa. Không còn là Vô Kỵ nữa. Nghe chưa?

Vô Kỵ làm thinh, tư tưởng trống rỗng, tâm thức trong sáng, lắng đọng, hay biết tất cả.

–          Con xin lãnh giáo.

Hắn chậm rãi trở ra, nhìn thẳng vào địch thủ, nở một nụ cười hiền từ, bao dung, không sợ thua mà cũng không muốn thắng nữa. Hắn múa may không theo bài bản gì cả. Chân hắn như đi trên mây, tay hắn múa may như Tango. Hắn khi thì ở trước địch thủ, khi thì ở sau, ở trên, ở dưới. Địch thủ không thấy một Vô Kỵ mà vố số Vô Kỵ, ở khắp nơi, như gió thổi, như mây bay. Động mà không động, không động mà động. Rốt cuộc địch thủ chịu thua không phải vì Vô Kỵ thắng mà vì địch thủ của Vô Kỵ không còn ai để mà thắng nữa.

Sư phụ cười. Hai địch thủ chậm rãi đến trước vị võ sư già cùng cúi đầu đảnh lễ. Chấm dứt một cuộc đấu võ ngoạn mục và cả hai trở thành võ sĩ tài ba, lỗi lạc mà không có ai thua ai thắng hết.

Footnote: Vô Kỵ bây giờ 62 tuổi ở Woodstock, IL., dạy thiền định thay vì dạy võ. Tôi là một học trò. Học ăn, học đi và học thở rồi. Còn học múa võ thì còn học dài dài. Không, không có Tango. Các bạn nào giỏi Tango, dancing dạy mình múa đi, múa sao cho người vũ viên của mình ít bị ngã, mà có ngã thì cũng khỏi đau.

 

Hồ Đắc Đằng

8/15/2019

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Krishnamurti: CÁI  TRỐNG  RỖNG NỘI  TÂM

16/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

CÁI  TRỐNG  RỖNG (1) NỘI  TÂM

Krishnamurti

Dịch giả: Nguyễn Tường Bách

(Cám ơn dong phan đã gởi. Đang đợi cuốn sách dịch này của NTB).

Cô đội trên đầu một chiếc giỏ to, một tay giữ cho khỏi rơi; cái giỏ hẳn phải nặng lắm nhưng trọng lượng của nó không hề làm lệch bước cô đi. Cô giữ thăng bằng một cách tuyệt vời, cô bước đi nhẹ nhàng và có nhịp. Tay cô mang vòng phát nhẹ tiếng kêu leng keng, chân mang giày xăng – đan đã cũ. Chiếc váy sari của cô đã rách và bẩn vì đã mặc quá nhiều. Thường thì cô có nhiều bạn cùng đi, ai nấy đều đội giỏ cả, nhưng hôm nay cô chỉ một mình trên con đường gập ghềnh. Mặt trời chưa đến nỗi quá nóng và trên bầu trời xanh nhiều con chim kên kên lượn những vòng rộng, cánh không hề vỗ. Dòng sông chảy yên lặng dọc bên đường. Thật là một buổi sáng rất bình an, và cô gái cô đơn với chiếc giỏ trên đầu dường như là tâm điểm của cái đẹp và ân sủng; tất cả mọi sự dường như hướng về cô và nhận cô làm một phần sự tồn tại của chính mình. Cô không phải là một đơn vị tách rời, mà là một phần của bạn và tôi, và của cây me kia. Cô không đi trước mặt tôi mà lại là tôi đang đi với chiếc giỏ trên đầu. Đây không phải là ảo giác, là cái tự nghĩ, cái mong ước và sự tự đồng hóa được bày vẽ ra – nếu có thì thật là xấu hết chỗ nói – mà là một chứng nghiệm tự nhiên và tức thì. Vài bước chân cách ly giữa chúng tôi đã biến mất; thời gian, ký ức và khoảng cách không gian, những điều do tư tưởng sinh ra, đã hoàn toàn biến mất. Chỉ còn một cô gái này chứ không có tôi đang nhìn cô. Và cũng còn một đoạn dài nữa mới đến phố chợ, chỗ mà cô sẽ bán những đồ đựng trong giỏ. Buổi tối cô sẽ về lại dọc theo con đường này, qua cầu tre nhỏ về tới làng, và sáng mai mới ra lại với chiếc giỏ đầy.

Anh rất đứng đắn, độ tuổi trung niên nhưng anh có một nụ cười vui thích và cũng còn rất khỏe mạnh. Ngồi xếp bằng trên sàn, anh nói tiếng Anh một cách ngập ngừng. Anh hơi bẽn lẽn vì đã học đại học và đậu bằng thạc sĩ nhưng đã nhiều năm nay anh không nói tiếng Anh và do đó quên đi cũng nhiều. Anh đọc một số kinh sách bằng tiếng Sanskrit, những từ Sanskrit hay được thốt ra trên môi anh. Anh cho biết tới đây để đặt vài câu hỏi về sự trống rỗng nội tâm, sự trống không của tâm. Rồi anh bắt đầu ca bằng tiếng Sanskrit và căn phòng tức khắc tràn ngập bởi một sự cộng hưởng sâu lắng, thanh tịnh và thấm đượm. Anh tiếp tục hát một hồi và thật là hân hoan khi được nghe anh hát. Khuôn mặt anh ngời sáng lên với ý nghĩa của mỗi từ trong câu hát, anh dò tìm nội dung những từ đó với một tình thương yêu. Anh không có chút giả tạo nào, anh quá đứng đắn đến nỗi không biết làm bộ tịch.

“Tôi rất vui mừng được ca những bài sloka (2) này trước mặt ông. Đối với tôi những bài ca này có ý nghĩa sâu xa và chứa đầy vẻ đẹp; tôi đã thiền định từ nhiều năm nay và những bài ca này là suối nguồn của sự hướng dẫn và sức mạnh. Tôi đã tập mình đừng dễ bị xúc động thế nhưng những bài ca Sloka này làm tôi dâng trào nước mắt. Âm hưởng của từ ngữ với nội dung phong phú của nó tràn đầy tim tôi để tôi thấy cuộc đời không còn vất vả và thống khổ nữa. Cũng như mọi người khác, tôi đã biết khổ; biết đến sinh tử và niềm đau của cuộc sống. Vợ tôi đã chết và sau đó tôi từ bỏ cuộc sống êm ấm của gia đình, và bây giờ tôi hiểu ý nghĩa của thái độ tình nguyện chấp nhận nghèo khổ. Tôi kể để cho ông hiểu thôi. Tôi không bị thất vọng, không cô đơn, hay tương tự như thế. Tâm tôi thấy vui thích trong nhiều thứ, nhưng cha tôi thường kể về các cuộc nói chuyện của ông, và một người quen khuyên tôi nên tìm gặp ông, và vì thế mà tôi đến đây”.
“Tôi muốn nghe ông nói về sự trống rỗng vô lượng”, anh nói tiếp, “tôi có cảm nhận về sự trống rỗng đó, và tôi có cảm giác đã chạm đến biên giới của nó trong những lần đi hành cước và thiền định”. Sau đó anh trích đoạn một bài ca sloka để giải thích chứng nghiệm của mình.

Krishnamurti: Cần phải nói rằng, thẩm quyền của một ai khác, dù to lớn tới mấy, cũng không chứng minh kinh nghiệm của anh là đúng hay sai. Chân lý không cần phải được chứng minh bằng hành động, nó cũng không lệ thuộc vào bất cứ thẩm quyền nào; thế nên hãy dẹp qua một bên tất cả thẩm quyền và truyền thống và hãy tự mình tìm ra chân lý cho chính mình.

“Điều đó thật là khó cho tôi vì tôi bị ngâm trong truyền thống – không phải truyền thống của thế gian mà trong giáo pháp của Gita, của Upanishad (3), vân vân… Có đúng là tôi nên bỏ cả đi hay sao? Tôi sẽ là người vô ơn bạc nghĩa không?”.

K: Trong việc này không hề có vấn đề biết ơn hay vô ơn; chúng ta đang nói về việc khám phá cái đúng hay cái sai của sự trống rỗng mà anh nói đến. Nếu anh đi theo con đường của thẩm quyền và truyền thống, những thứ đó là tri thức, thì anh chỉ chứng nghiệm những gì anh muốn chứng nghiệm, được thẩm quyền và truyền thống hổ trợ. Nó không phải là một sự phát hiện mới mẻ; thứ đó đã được biết tới, như một vật cần được anh nhận biết và chứng nghiệm. Thẩm quyền và truyền thống có thể sai lầm, chúng có thể chỉ là những ảo giác đầy tiện nghi. Muốn khám phá sự trống rỗng nọ là đích thực hay hư vọng, hay liệu nó chỉ là sự bày vẽ của tâm, tâm phải thoát khỏi mạng lưới của thẩm quyền và truyền thống.
“Liệu có lúc nào tâm thoát được khỏi mạng lưới đó không?”

K: Tâm không thể nào tự giải phóng mình, vì mỗi cố gắng tự giải phóng của nó chỉ dệt nên một mạng lưới khác mà trong đó nó lại bị ràng buộc. Sự tự tại không phải là cái đối nghịch với bất cứ cái gì, tự do không phải là tự do thoát khỏi một cái gì đó, đó không phải là tình trạng được cởi trói. Chính bản thân niềm mong ước được tự tại nuôi dưỡng cái tù ngục. Tự tại là dạng của sự tồn tại mà dạng đó không phải được sinh ra từước mong được tự tại. Khi tâm thấu hiểu được điều này và thấy cái hư vọng trong thẩm quyền lẫn truyền thống, thì cái hư vọng sẽ tự tan rã.

“Có thể tôi bị xui khiến khi đọc sách, hay khi suy tư về những điều trong sách; ngoài ra thì từ hồi còn nhỏ, tôi đã cảm nhận mơ hồ, như mơ, về một cái trống rỗng. Trong tôi luôn luôn có một sự gợi biết về nó, một cảm nhận bâng khuâng; và khi lớn lên, khi đọc các sách tôn giáo tôi cảm thấy cảm giác này còn mạnh hơn, sinh động hơn, chắc chắn hơn. Tôi cũng bắt đầu thấy những gì ông nói. Hầu như tôi hoàn toàn bị lệ thuộc vào sự miêu tả về những chứng nghiệm của người khác, như được ghi lại trong kinh sách. Tôi có thể từ bỏ sự lệ thuộc này vì thấy cần thiết phải làm, nhưng liệu tôi có thể sống lại được cái cảm nhận độc đáo, thanh tịnh nằm ngoài mọi ngôn từ được không?”.

K: Cái được làm sống lại không phải là cái sinh động, cái mới; đó chỉ là ký ức, một thứ đã chết, và anh không thể thổi sự sống vào trong cái đã chết. Sống lại và sống trong ký ức chỉ là sự nô lệ của sự tự kích thích, và một cái tâm mà lệ thuộc vào sự kích thích, dù ý thức hay không ý thức, thì chắc chắn sẽ cùn nhụt và trở thành vô cảm. Làm sống lại chỉ là kéo dài thêm sự thất vọng. Quay về quá khứ đã chết trong cơn khủng hoảng đang xảy ra là đi tìm một khuôn mẫu để sống, điều này chính là sự hủy hoại. Điều mà anh cảm nhận là tuổi thanh niên, hay chỉ mới ngày hôm qua thôi, điều đó đã qua, đã mất; nếu anh bám giữ vào quá khứ thì anh chỉ ngăn chận sự chứng nghiệm tươi tắn của cái mới mẻ.

“Như ông thấy, tôi thật sự nghiêm túc và đối với tôi có cái thôi thúc phải hiểu ngộ và hòa nhập được vào Tính Không (4) đó. Tôi cần phải làm gì?”.

K: Người ta phải xả bỏ tâm thức của những cái đã biết; tất cả tri thức mà ta đã tích lũy phải dứt bặt thì mới mong nhận được ảnh hưởng của tâm đang sống động. Tri thức luôn nói về quá khứ, nó là một quá trình của quá khứ và tâm phải thoát khỏi quá trình đó. Nhận thức là một giai đoạn của quá trình tri thức, đúng thế không?

“Thế là sao?”

K: Muốn nhận thức một vật, anh phải biết đến nó rồi hay phải kinh nghiệm về nó trước đó và những kinh nghiệm này được tích lũy thành tri thức, thành ký ức. Nhận thức xuất phát từ quá khứ. Có lẽ anh đã một lần chứng nghiệm cái trống không này; và khi đã có, anh khao khát có nữa. Cái chứng nghiệm độc đáo đó đã đến khi anh không truy tìm nó; bây giờ thì anh đang tìm và cái mà anh đang tìm không phải là Tính Không mà làsự tái diễn của một ký ức cũ. Nếu nó phải xảy ra lại lần nữa thì tất cả ký ức về nó, tất cả tri thức về nó, phải biến mất đã. Tất cả mọi sự tầm cầu phải ngưng bặt, vì sự tìm kiếm luôn luôn dựa vào mong ước được chứng nghiệm.

“Thật sự ông muốn nói là tôi không được phép tìm kiếm? Nghe thật là điều khó tin!”.

K: Động cơ của sự tìm kiếm thường đáng biết hơn bản thân sự tìm kiếm. Động cơ thâm nhập, dẫn dắt và hình thành sự tìm kiếm. Động cơ từ lòng sở cầu của anh là mong được chứng nghiệm cái chưa biết, được nhận thức ân sủng và tính chất vô hạn lượng của nó.Tâm sở cầu này sinh ra người chứng nghiệm, kẻ mong ước sự chứng nghiệm (5). Người chứng nghiệm đi tìm sự chứng nghiệm to lớn hơn, bao trùm hơn và quan trọng hơn. Khi tất cả mọi kinh nghiệm khác đã hết hấp dẫn, người chứng nghiệm nóng lòng tìm Tính Không; vì thế mà có người chứng nghiệm một bên và bên kia là vật được chứng nghiệm. Thế nên mối tranh chấp nhị nguyên đã hình thành giữa hai cái, người theo đuổi và vật bị theo đuổi.

“Tôi hiểu rất rõ điều này, vì nó chính là tình trạng hiện nay của tôi. Giờ thì tôi thấy mình đang bị ràng buộc trong một mạng lưới do mình tự tạo”.

K: Đó cũng là tình trạng của mọi kẻ tầm cầu khác thôi, không phải của riêng những ai đi tìm Thượng đế, Tính Không, vân vân… Mỗi ai có tham vọng và khao khát, kẻ đi tìm quyền lực, địa vị, tiếng tăm, mỗi ai yêu lý tưởng, mỗi ai sùng bái sự đạt đạo, mỗi ai xây dựng một vương quốc ảo tưởng – tất cả họ đều bị ràng buộc vào trong cùng một mạng lưới. Thế thì khi anh đã hiểu thấu toàn bộ ý nghĩa của sự tầm cầu, anh còn tiếp tục tìm kiếm Tính Không nữa không?

“Tôi hiểu nội dung sâu kín câu hỏi của ông và tôi cũng đã chấm dứt sự tìm kiếm”.

K: Nếu quả thật như thế thì tình trạng của tâm phi sở cầu như thế nào ?

“Tôi không biết, câu chuyện đối với tôi mới mẻ đến nỗi tôi phải cố tập trung hết sức mình và quan sát. Cho tôi vài phút trước khi tiếp tục”.

Sau khi nghỉ một lát, anh tiếp.

“Tôi nhận ra thật hết sức vi tế, thật khó khăn nếu không cho người chứng nghiệm, người quan sát hiện diện. Hầu như không thể cấm tư tưởng tạo tác ra người tư tưởng; thế nhưng hễ có người tư tưởng, có người chứng nghiệm thì rõ ràng phải có một sự chia cắt với cái được chứng nghiệm và như thế là có tranh chấp với nó. Và bây giờ ông lại hỏi, thế thì trạng thái của tâm vắng bóng tranh chấp nhị nguyên thì như thế nào?”.

K: Tranh chấp nhị nguyên hiện diện khi sự thèm muốn lấy dạng của người chứng nghiệm và theo đuổi cái phải được chứng nghiệm; vì cái phải được chứng nghiệm đó chẳng qua cũng do sự thèm muốn hình thành nên.

“Xin hãy kiên nhẫn với tôi, hãy từ từ để tôi hiểu những gì ông đang nói. Sự thèm muốn không những chỉ tạo nên người chứng nghiệm, người quan sát, mà còn sinh ra những cái phải được chứng nghiệm, vật bị quan sát. Thế nên ái dục là nguyên nhân của sự tách rời giữa người chứng nghiệm và cái được chứng nghiệm; và đó là sự phân biệt ngầm chứa tranh chấp nhị nguyên. Bây giờ ông hỏi trạng thái của tâm phi nhị nguyên, không bị ái dục lôi kéo thì sao? Nhưng làm sao trả lời câu hỏi này nếu bây giờ không có người quan sát chứng nghiệm cái vắng bóng ái dục này?”.

K: Khi anh ý thức về sự khiêm tốn của mình, không phải sự khiêm tốn chấm dứt ư? Có còn đạo đức nữa chăng khi anh cố tình thực hành đạo đức? Kiểu làm như thế chỉ tăng cường cho hoạt động vì tự ngã của mình, nó là kẻ chấm dứt đạo đức. Lúc mà anh ý thức mình đang hạnh phúc, lúc đó anh đã chấm dứt sự hạnh phúc. Tình trạng của tâm thế nào khi nó không bị ràng buộc bởi ái dục? Ý muốn tìm ra nó cũng là một phầncủa ái dục, nó sinh ra người chứng nghiệm và vật bị chứng nghiệm, không phải sao?

“Đúng vậy. Câu hỏi của ông là một cái bẫy cho tôi nhưng tôi cảm ơn ông đã nêu lên. Tôi thấy thêm tính chất vi tế của ái dục”.

K: Đó không phải là cái bẫy mà là câu hỏi tự nhiên và không thể tránh khỏi mà anh đã tự hỏi mình trong lúc nói chuyện. Nếu tâm không hết sức cảnh giác, tỉnh táo, thì nó sớm bị ràng buộc trong mạng lưới ái dục của chính nó.

“Câu hỏi cuối cùng: Tâm có khả năng thật sự thoát khỏi mọi ái dục tìm kiếm chứng nghiệm không, điều mà sẽ xóa bỏ ranh giới giữa người chứng nghiệm và vật được chứng nghiệm? (6 )”.

K: Anh hãy tự mình tìm ra. Nếu tâm hoàn toàn tự tại thoát khỏi mọi cấu trúc của ái dục thì tâm đâu có khác gì Tính Không?

Dịch giả : NGUYỄN TƯỜNG BÁCH

………………………………………………………………………………………………..

Ghi chú của người dịch

(1) Void. Từ này được dịch là “sự trống rỗng” hay “Tính Không” tùy theo nội dung câu chuyện.

(2) Thơ hay kệ bằng tiếng Sanskrit, thường gồm hai câu, mỗi câu 16 âm.

(3) Gita. Viết tắt của Bhagavad-Gita (Chí tôn ca) và Upanishad (Những bài thuyết giảng) là kinh sách then chốt của Ấn Độ giáo.

(4) Kể từ đây từ “Void”được dịch là Tính Không vì đã đi vào nội dung đích thực của triết học Tính Không.

( 5) “Tâm sở cầu sinh ra người chứng nghiệm” chứ không phải “người chứng nghiệm có tâm sở cầu”. Xin độc giả chú ý, đây là chỗ cần hiểu rõ: “Tâm sở cầu” tạo nên trong dòng tâm thức một chủ thể mà ta mệnh danh là “Người chứng nghiệm”. Không có tâm sở cầu thì cũng không có người chứng nghiệm.

(6) Khi ranh giới giữa người chứng nghiệm và vật được chứng nghiệm được xóa bỏ thì sẽ có tình trạng phi thường mà tác giả nói về cô bé đội giỏ trong phần đầu của bài này.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Phật học & Đời sống

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 31
  • Trang 32
  • Trang 33
  • Trang 34
  • Trang 35
  • Interim pages omitted …
  • Trang 97
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • VU LAN Bông Hồng Cho Mẹ
  • Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU
  • Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • đỗ hồng ngọc trong Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • Đồng xuân trong Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • Đỗ Châu Việt trong Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Minh Lê NT trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Đỗ Tú Quyên trong Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email