Đúng rồi đó, “Anh chưa thi đỗ thì chưa… động phòng?”. Chuyện gì vậy? Thi cử sao lại dính tới chuyện “động phòng” ở đây? Ngày xưa, thi cử rất khó khăn, cứ mỗi 3 năm nhà vua mới mở khoa thi một lần để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước. Người thi đỗ được vinh quy bái tổ, “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”, vinh dự không chỉ cho gia đình, dòng tộc mà còn cho cả xóm làng. Sĩ tử ngày xưa thường đã lớn tuổi, nhiều người thi hết đợt này tới đợt khác! Nguyễn Công Trứ chẳng hạn, đến 42 tuổi mới đỗ tiến sĩ, ra làm quan. Do vậy chuyện…có vợ trước khi đi thi là chuyện thường (Đừng bắt chước nha!). Không những có vợ mà có người còn con cái đùm đề nữa. Như Tú Xương trước ngày thi đã căn dặn vơ con: Phen này tớ hỏng tớ đi ngay/ Cúng giỗ từ đây nhớ lấy ngày… Dĩ nhiên Tú Xương…hỏng. Nhờ vậy mà sau này ta có…nhà thơ Tú Xương đi vào văn học sử! Nói cách khác, thi rớt cũng chả làm sao! Thua keo này, bày keo khác! Học không phải một ngày, một tháng, mà phải học suốt đời. Có người không thành công trong trường ốc mà lại thành công trong trường đời. Nhất nghệ tinh nhất thân vinh! Trở lại chuyện ngày xưa. Có những sĩ tử may mắn có được người vợ đảm đang, tảo tần, nuôi cho ăn học, nên dành hết thì giờ cho chuyện “dùi mài kinh sử”, không chễnh mãng, rượu chè, bài bạc, đắm mê nhan sắc để phải làm lỡ sự nghiệp công danh. Vì vậy mà có câu vợ khuyên chồng: “Anh chưa thi đỗ thì chưa… động phòng”! Nghĩa là trong lúc học thi, ôn thi, không đươc gần gũi, ăn nằm với nhau, nói theo bây giờ là phải kiêng nhịn tình dục, lo tập trung cho chuyện học hành. Thi đỗ xong…rồi tính! Người xưa gọi thi đỗ là “đại đăng khoa” còn lập gia đình là “tiểu đăng khoa”. Phải lo “đại” trước rồi mới tới “tiểu” sau. Kẻ đắm mê nhan sắc sớm thì dễ… hư đời, công danh sự nghiệp lỡ dỡ!
Cứu lấy… Cầu Khỉ!
Cứ mỗi lần thấy một bức ảnh trúng giải thưởng quốc tế của các nghệ sĩ nhiếp ảnh nước ta có liên quan đến cây cầu khỉ – khi thì một cô giáo dẫn học sinh qua cầu, khi thì một đôi thanh niên nam nữ âu yếm dắt tay nhau, khi thì một đám cưới miệt vườn… tôi lại lo ngay ngáy đến một ngày nào đó không còn tìm thấy bóng dáng chiếc cầu khỉ thơ mộng bắc qua những con kênh rạch chằng chịt khắp các nẻo đường đồng bằng Nam bộ, khi mà chương trình “xoá cầu khỉ” hoàn tất trong thời gian tới! Lúc đó có lẽ chúng ta chỉ còn có dịp đi trên những chiếc cầu bê-tông to bè, cứng nhắc hoặc cầu nhựa tổng hợp láng o, láng coóng… Dĩ nhiên là giao thông sẽ thuận tiện hơn, xe cộ chạy ào ào, tấp nập, người đi lại trùm đầu kín mít với chiếc nón bảo hiểm, che mũi miệng với khẩu trang hai lớp, chỉ lộ hai con mắt lom lom nhìn qua mica như người ngoài hành tinh, trang bị điện thoại di động đa chức năng và máy thăm dò tình cảm, sẳn sàng kêu bíp bíp báo tin khi có người đi ngược chiều cùng tần số để làm quen.
Thi rớt…?
Đọc chuyện một “teen” tự tử khi nghe mình thi rớt đại học trên báo chí năm ngoái tôi không khỏi giật mình! Tôi nhớ đã nhiều lần chuẩn bị tư tưởng… cho các em sẵn sàng thi rớt, sẵn sàng thua keo này bày keo khác rồi mà! Tôi còn nhớ có nhắc chuyện ngày nay không ai còn nhớ mấy ông tiến sĩ mủ áo xênh xang được khắc tên trên văn bia Quốc tử giám mà chỉ nhớ… Tú Xương, một “chuyên gia” thi rớt: “Phen này tớ hỏng tớ đi ngay! Cúng giỗ từ nay nhớ lấy ngày. Học đã sôi cơm nhưng chữa chín. Thi không ăn ớt thế mà cay…”! Nhưng thế vẫn còn chưa đủ!
“ Trăng gió kho vô tận…”
Thiền có lẽ đã có từ rất lâu đời. Có lẽ ngày xa xưa con người tự dưng phát hiện ra những giây phút rơi vào trạng thái sảng khóai, một trạng thái “hỷ lạc” nào đó, nói không được, mà chỉ có thể cảm nhận, trực nhận bởi chính bản thân mình, rồi tích lũy kinh nghiệm, truyền đạt lại cho nhau bằng nhiều cách. Không phải vô cớ mà ngày nay các trung tâm y khoa lớn trên thế giới đưa thiền vào nghiên cứu và ứng dụng như một liệu pháp hữu hiệu chữa trị nhiều thứ bệnh thời đại.
Thơ
Di chỉ
Tôi làm răng
Người nha sĩ chích thuốc tê
Bỗng thấy mình đất sét
Người nha sĩ đôi tay thoăn thoát
Vọc gốm bàu trúc
Tôi nhe ra ngậm lại trăm lần
Chẳng là ta
Chẳng của ta
Chì là hơi thở
Tình cờ…
“…Còn sữa để cho con…”
Phải học đến năm thứ V, Đại học Y khoa Sài Gòn lúc đó (1962-1969), chúng tôi mới được học môn Nhi khoa với giáo sư Phạm Gia Cẩn, giáo sư Phan Đình Tuân và nhiều thầy cô khác, nhưng nhớ nhất là giáo sư Phạm Gia Cẩn vì ông luôn có cách hỏi thi vấn đáp rất lạ thường mà sinh viên nào cũng ngán sợ. Chẳng hạn ông thường hỏi những câu như: “Khi bé mấy tháng tuổi thì có thể bế sang nhà hàng xóm chơi?”; “Khi bé mấy tháng tuổi thì cho ăn trứng gà?”; “Hãy so sánh sữa bò với sữa mẹ?”. Nhiều sinh viên rớt kỳ I vì những câu hỏi oái oăm này! Câu hỏi “Khi bé được mấy tháng tuổi thì có thể bế sang nhà hàng xóm chơi?” thì đa số sinh viên ớ ra vì chưa được dạy bao giờ. Câu trả lời chính xác là… “Khi bé đã được chủng ngừa đầy đủ”! Chủng ngừa đầy đủ rồi thì bế sang hàng xóm chơi sẽ an toàn, không còn sợ bị lây bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà, lao, sốt bại liệt… gì nữa. Câu hỏi này thực ra là để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chủng ngừa. Thay vì hỏi lịch tiêm chủng thì sinh viên nào cũng trả lời ro ro, ông đã đặt một câu hỏi như vậy.
Real Romantic!
Cách đây mấy năm, tôi có dịp thấy dòng chữ đó trên các xe buýt chở sinh viên trước cổng trường đại học Harvard, để quảng cáo cho một cuốn phim mới sắp phát hành. Thì ra đã hết cái thời người ta làm phim khai thác tình dục, quảng cáo hình ảnh Adam, Eva, để thu hút giới trẻ, nay người ta làm phim và quảng cáo real romantic (thực sự lãng mạn) mới mong có khách.
Từ ba bốn thập kỷ nay, giới trẻ Âu – Mỹ sống trong một môi trường hoàn toàn giải phóng tình dục, coi quan hệ tình dục như chuyện cơm bữa. Tại Mỹ, các thống kê cho thấy ở lứa tuổi 15 – 17, tỷ lệ đã có quan hệ tình dục rất cao. Giới trẻ còn bị áp lực mạnh của bạn bè cùng lứa. Ai còn “gin” thì bị châm chọc chê bai đủ thứ… đến nỗi muốn theo kịp bạn bè thì phải lao vào sex như mọi người…
Con Tinh Yêu Thương…
Ở Paris, dưới chân ngọn đồi tuyệt đẹp nổi tiếng với nhà thờ uy nghiêm Sacré Coeur không xa là khu Pigale cũng nổi tiếng không kém với những nhà hàng ăn chơi và các rạp chiếu phim sex, những sex-shop bán sách báo, phim ảnh khiêu dâm cùng với những vật dụng… phục vụ cho chuyện tình dục của con người. Người bạn cùng đi khuyên tôi đừng vào rạp phim sex, bởi vì sau khi xem xong ra đường sẽ thấy chán đời không thể tả! Âu Mỹ có cái lạ là chuyện yêu đương mà gọi là “làm” (make love, faire l’amour), chẳng trách người ta phải hùng hục, phải… đổ mồ hôi sôi nước mắt, thật khác với Đông phương thường được gọi là “thương”, là “cưng”, là “chìu”, là “ăn nằm”, là “gần gũi”… Trong một sex-shop, tôi lật lật mấy tờ báo coi chơi. Mới đầu cũng thấy hay hay, sau thì chán ngắt. Tôi thích hình ảnh “cô sơn nữ miệng cười khúc khích…” hoặc “ngoài phố mùa đông, đôi môi em là đóm lửa hồng…” hơn. Người chủ tiệm đon đả mời chào: “Hay ông chọn một người nhé! Da trắng, da vàng, da đen… đều có cả!”. Rồi ông đưa cho tôi mấy cái hộp carton. Thì ra đó là những búp bê, khi cần thì thổi phình to lên như người thật, có thể “ăn nằm” với nhau được. Toàn là những người mẫu xinh đẹp, những diễn viên nổi tiếng trên thế giới! Thật tội nghiệp cho Đoàn Dự, nhân vật của Kim Dung, say mê Vương Ngọc Yến như điếu đổ mà cô chỉ yêu biểu ca của mình! Giá mà có Đoàn Dự ở đây, hẳn chàng có thể đặt làm riêng cho mình một “con” giống hệt Vương Ngọc Yến để được luôn tôn thờ, gần gũi, kề cận bên mình khi hành tẩu giang hồ. Còn có nhiều dụng cụ khác nữa khiến người ta nghĩ rằng có thể “yêu thương” mà chẳng cần có con người!
Về “Thở để chữa bệnh”
BS Đỗ Hồng Ngọc: Do có nhiều bạn đọc hỏi thêm cho rõ về phương pháp THỞ BỤNG để chữa bệnh, tôi xin nhắc lại đây là phương pháp phụ trợ cho việc điều trị của bác sĩ, không thể thay thế hoàn toàn thuốc men đựơc. Việc luyện tập phải kiên nhẫn, không nóng vội. Dưới đây xin ghi lại những nét chính của phương pháp này và ý kiến đóng góp của Kỷ sư Phạm Văn Bảy, người đã có kinh nghiệm nhiều năm trong vấn đề này và ý kiến của một độc giả- ông Phạm Đình Đễ- để bạn đọc tham khảo thêm. Trân trọng.
Giữa Hoàng Hôn Xưa
Có một chàng thi sĩ một hôm vì lẽ gì đó bỏ đi làm thầy thuốc. Mười năm… hai mươi năm… anh cặm cụi chăm sóc, chữa lành, làm dịu nỗi đau của trẻ thơ; anh buồn vui cùng nỗi buồn vui của những người làm cha mẹ.
Đời sống trôi đi trong bận rộn thường ngày. Nhưng những hoàng hôn tím biếc ngày xưa vẫn còn loang mãi trong sâu thẳm riêng mình. Những sân ga ngày xưa vẫn còn nguyên vẹn bóng hai người không đi cùng chuyến tàu hạnh phúc. Sợi tóc ngày xưa vẫn thương hoài ngàn năm trong ký ức. Không có ai ngoài chính mình, người thầy thuốc ấy lại tự an ủi, tự băng bó bằng tiếng thì thầm của chàng thi sĩ buồn bã. Thơ – thứ không cần thiết cho người này nhưng cần thiết cho người khác.
Về xứ hoa đào…
1. Về phía mặt trời
Gần mười năm tôi mới có dịp đi lại máy bay đường dài. Sau đợt bệnh nặng năm đó, bác sĩ điều trị khuyên tôi nên tránh những căng thẳng không cần thiết. Năm kia, đi môt chuyến trong nước có vài giờ mà tôi đã thấy rất mệt mỏi. Lúc nào tôi cũng thao láo, nín thở, căng thẳng. Cất cánh. Hạ cánh. Vào vùng trũng. Thắt dây an tòan… Tôi còn dõi theo cao độ, vận tốc, nhiệt độ bên ngoài bên trong … các thứ. Làm như tôi chỉ cần sơ sẩy chút xíu, lơ đễnh chút xíu là có chuyện không hay! Tôi đã từng coi nhiều bộ phim mô tả chuyện máy bay rớt giữa vùng tuyết giá, giữa biển khơi . Cho nên phải nghe kỹ người ta hướng dẫn cách thở oxy qua mặt nạ, cách mặc áo phao, thổi còi… Người bạn ngồi bên còn hỏi nếu lỡ máy bay rớt ngoài biển thì phải làm sao hả anh, càng làm cho tôi yên chí máy bay sắp rớt. Ấy vậy mà trong chuyến bay đi Nhật tháng tư lần này tôi hoàn toàn sống trong một trạng thái “vô sở trụ”. Tôi thấy ra hinh như chuyện máy bay có rơi hay không không phải là nhờ tôi… lo lắng cho nó, căng thẳng vì nó. Tự dưng tôi thấy nhẹ nhõm, thanh thản. Tôi nhìn qua cửa sổ. Ánh trăng thượng tuần nửa vành lơ lửng, sáng hơn thường lệ vì không bị che khuất bởi những đám mây.
“Sài Gòn Đẹp Lắm…”
Sống và lớn lên ở Sài Gòn, ta ít có dịp “nhớ về”, “hướng về” Sài Gòn, trái lại ta thường dễ “bực bội” với Sài gòn về đủ thứ chuyện trên đời, cho đến một hôm…
Lần đó tôi có dịp đi công tác ở Chiang Mai, Thái Lan cùng với một anh bác sĩ bạn. Chúng tôi trọ trong một khách sạn trung bình, sạch sẽ và yên tĩnh. Buổi tối rảnh rỗi, không biết làm gì, chúng tôi xuống tầng trệt, vào cái bar trần ở đó, gọi hai ly cam vắt và nghe hát. Khách lưa thưa, chủ yếu là người Âu, Mỹ. Một chiếc dương cầm. Một cô ca sĩ. Cô ca sĩ gầy nhom, khoác chiếc áo veste đen cũ kỹ. Người đệm đàn cho cô hát râu ria xồm xoàm, cũng ăn mặc rất giản dị, dáng vẻ nghệ sĩ. Cô hát, hết bài này đến bài khác từ bài Thái, đến Nam Mỹ, Bắc Mỹ, châu Âu, các bài hát nổi tiếng…Đột nhiên nhạc trỗi lên một điệu quen thuộc và cô ca sĩ cất tiếng hát bằng tiếng Việt, nghe rất rõ ràng dù phát âm còn chưa chuẩn: “Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai… Đường xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay… Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi này… Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!…”. Tôi giật mình, nghe như có cái gì đó xao xuyến trong lòng, một cảm giác rưng rưng khó tả. Tôi bỗng “nhớ” Sài Gòn, một nỗi nhớ da diết lạ lùng như đã xa Sài Gòn từ lâu lắm! Bạn tôi cũng vậy, gõ nhịp hoan hỉ trên ly cam vắt và khe khẽ hát theo. Cô ca sĩ bổng nhiên đẹp hẳn lên, rực rỡ dưới ánh đèn, chiếc áo veste như có gió bay lên và người nghệ sĩ đệm piano lắc lư say đắm trên các phím đàn. Bài hát dứt lúc nào không hay. Tôi lên cám ơn cô, nói tôi vừa ở Sài Gòn đến. Tôi như muốn nói thêm rằng nhờ cô mà tôi phát hiện được một Sài Gòn rất thực của mình. Cô nói cô không ngờ chúng tôi ở Sài Gòn đến và sẳn sàng hát lại bài hát lần nữa tặng chúng tôi… Chúng tôi cũng không quên giúp cô phát âm chuẩn vài từ trong bài hát để đêm đêm cô hát “Sài Gòn đẹp lắm…” cho du khách thập phương nghe.
Đỗ Hồng Ngọc
Nhớ Tiếng Thu giữa Boston
Tôi đi giữa Boston. Cả một mùa thu. Trọn một mùa thu. Nhớ tới Xuân Diệu với “Lá không vàng, lá không rụng, lá lại thêm xanh, ấy là mùa thu đã về, mùa thu mới về, yểu điệu thục nữ…”. Thực ra, lá như ráng níu lại chút xanh, và vì níu lại nên có vẻ chặt hơn, xanh hơn lên mà thôi. Bởi vì rất nhanh, lá bỗng vàng rượm, vàng rực, vàng tía, vàng buốt… và bầu trời rộng ra, thênh thang, yểu điệu kỳ cục. Mới mấy ngày thôi mà cây cứ tô dần tô dần cái màu vàng buốt, óng ả, rực rỡ chen lẫn với xanh đậm, xanh lợt mong manh đó… và sáng hôm sau, rơi từng lá từng lá tràn ngập các lối đi.
Tuổi đẹp nhất!
Nếu có ai hỏi tôi tuổi nào là tuổi đẹp nhất của người phụ nữ thì tôi bảo đó là tuổi bốn mươi. Tại sao ư? Bởi nó như một thứ trái cây chín tới mà chưa đủ muồi. Nó hườm hườm, chưa gọi là chín được mà cũng chẳng còn xanh nữa! Cho nên nó vẫn còn căng cứng, còn mơn mỡn, mướt rượt chớ không xanh xao, ẻo lả, và dĩ nhiên nó cũng chưa mềm èo, mềm rục. Nó chuyển như mùa, như trời đất vào thu. Nó vàng mơ. Vàng ươm. Nó rạo rực.Nó thổn thức. Và nó tươm mật. Nghề nghiệp đã vững chãi. Kinh nghiệm đã no nê. Khó mà lường gạt nó trừ phi nó cố tình để cho …lường gạt. Nghề nghiệp chín rộ, chín tới nên nó tự tin, tự tin ở chính mình, và từ đó, dẫn đến tự tại. Cái inner freedom đó làm cho nó vừa đủ kiêu hãnh mà cũng vừa đủ nhún nhường, vừa đủ khoan dung mà cũng vừa đủ cứng rắn, với mình, với người. Cho nên nó hấp dẫn. Về tình yêu nó là tuổi của dâng hiến. Cũng là tuổi của nề nếp. Hết mình cho tình yêu. Chung và riêng. Nó bớt đắn đo, nó không toan tính. Như đã vượt ra, vượt qua, vượt lên một đời lận đận đo rồi đếm/ mỏi gối người đi đứng lại ngồi (Bùi Giáng). Bây giờ nó đứng nó ngồi đã thong dong. Tình yêu không như tình đầu mà như tình cuối, lúc nào cũng tình cuối!
Thơ
Khi mắt mũi kèm nhèm
Là áp thấp nhiệt đới
Khi bần thần rã rượi
Là áp thấp gần bờ
Khi huyết áp tăng cao
Là bão từ nổi dậy
Từ phía mặt trời xa…
Vũ trụ chừng nhỏ lại
Còn chút xíu trong ta!
