Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Ghi chép lang thang

01/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

“Thơm bàn tay nhỏ”…

Đỗ Hồng Ngọc
Không biết sao mỗi lần ra Hà Nội tôi đều muốn đi lang thang ngoài đường phố quanh Hồ Gươm và thực sự mừng rỡ khi nhìn thấy một gánh hàng rong có món cốm vòng xanh thơm ủ kín trên cánh lá sen với mấy quả chuối tiêu vàng rượm… Tất cả như gắn với một dĩ vãng mơ hồ nào đó trong ký ức của một người chỉ biết Hà Nội qua những trang sách cũ. Cái mùi hồ gươm, mùi trời thu, mùi cốm vòng… như quyện lấy nhau khiến cho người xa lạ là tôi bỗng quen thân đến sửng sờ.
Hình như cốm vòng chỉ thực sự là vòng khi nó nằm nhẹ tênh trên chiếc mẹt, trên quang gánh. Nó không còn là cốm vòng nữa khi nó được đóng gói, bao bì công nghiệp, ghi ngày sản xuất, hạn sử dụng đâu đó đàng hoàng… Chấm miếng chuối tiêu lên nắm cốm vòng có mùi sen tỏa nhẹ, rụng rơi lả tả những hạt ngọc xanh thơm cho bầy chím ríu rít… giữa Hồ Gươm chẳng khoái lắm ru?

Ăn hàng rong, thực ra, không phải ăn hàng mà là ăn rong. Cho nên tôi nghĩ dẫu thế nào đi nữa thì hàng rong vẫn sẽ cứ còn mãi, vẫn “cốm sữa vỉa hè thơm bước chân qua…” (TCS)!
Ở Saigon phồn hoa đô hội này cũng vậy. Sáng sáng, cứ đến một góc đường, mua một gói xôi đậu phọng, đậu xanh núp quen thuộc. Khi kêu không lấy dừa nạo, không lấy đường cát thì bà bán xôi lập tức xúc thêm một muỗng xôi đầy để bù ngay cho, với một nụ cười cảm thông… cùng người kiêng đường kiêng béo! Bà đã nuôi hai đứa con vào đại học chỉ nhờ cái thúng xôi núp bên hè phố đó hàng chục năm qua rồi!
Chắc không ai đếm xuể Saigon HàNội và các thành phố lớn nhỏ trong cả nước có bao nhiêu gánh hàng rong, bao nhiêu người sống nhờ hàng rong… Gần đây người nhập cư ngày càng đông, hàng rong không chỉ là thức ăn mà cả cây cảnh, hoa trái các loại… trở nên nhộn nhịp nhếch nhác hơn bao giờ hết, kém hẳn vẻ mỹ quan đô thị!
Tuy vậy, hàng rong vẫn tồn tại vì bao giờ cũng… rẻ, cũng ngon, giá nào cũng có, hợp với túi tiền của mọi người. Nó lại sà đến bên mình, lại đon đả mời mọc, cung cấp một dịch vụ thân thiện, gần gũi, giá rẻ, chiều khách hết lòng… Sợ rằng các nhà kinh doanh tầm cỡ khó mà nghĩ ra cách nào tiếp cận hay hơn! Với hàng rong, người ta được mời chào, được chọn lựa, được thương thảo… thỏa thích, luôn có sự tương tác người bán người mua. Khác xa với cảnh lạnh lùng đăm chiêu láo liêng cảnh giác lúc đẩy xe giữa các hành lang hun hút của siêu thị, để rồi khi sắp hàng trả tiền thì đối diện với vẻ lạnh nhạt, mệt mỏi, cau có của nhân viên đồng phục… không kể ánh mắt lườm lườm ngờ vực của những tay bảo vệ đằng đằng và những camera đặt khắp nơi quan sát từng cử chỉ…
Ngày xưa khi Saigon còn vắng, trưa nào cũng nghe tiếng rao lãnh lót ai bột khoai nước dừa bún tàu đường cát … hôn? Phải nói nghe riết thành ghiền. Trưa nào không nghe cũng cảm thấy bứt rứt không biết hôm nay chị bán chè tàu thưng đó có đau ốm gì chăng? Cũng có người nhờ nghe tiếng rao đó mà đi học kịp lúc! Bây giờ ít còn nghe tiếng rao nào như vậy mà thay vào đó là tiếng rè rè hết pin bánh mì saigon đặc biệt thơm ngon một ngàn một ổ hoặc keo dính chuột… Tiếng rao cũng đã công nghiệp hóa mất rồi!
Người ta đã bàn nhiều cách để dẹp hàng rong. Dẹp không được. Người ta đã bàn nhiều cách để gom hàng rong. Gom không được. Chẳng lẽ ở Bàn Cờ cần mua cục xôi mà phải chạy lên tận Văn Thánh? Cũng đã có người có sáng kiến hay, gom một số hàng rong vào trong một cái quán, bày biện trang hoàng bắt mắt, nhưng giá đắt, chờ lâu và lại xuất hiện cửa quyền… Hàng rong ở đó cũng chỉ là hàng mà hết rong!
Mục đích của việc muốn “quản lý” hàng rong là vấn đề mỹ quan đô thị và an toàn vệ sinh thực phẩm. Quả thật hàng rong ngày càng nhếch nhác trong một đô thị ngày càng chật chội. Hàng rong la liệt trước cổng trường, cơ quan, xí nghiệp… thường không đảm bảo vệ sinh. Làm cách nào đây? Cũng đã thử mở vài lớp tập huấn về an toàn vệ sinh thực phẩm. Chẳng mấy người học. Cho kiểm tra tận nhà? Người đâu cho xuể? Kêu gọi tự giác? Còn lâu!
Vậy làm sao? Chỉ còn có cách chính người mua chủ động “đòi hỏi” ở người bán, buộc họ phải “thay đổi hành vi”. Khách hàng là “Thượng đế” mà! Một khi thượng đế đòi người bán phải mang găng tay, phải che khẩu trang, phải vệ sinh các vật dụng mới chịu mua thì… người bán đành chiều, nếu không muốn bị ế! Phụ huynh chỉ mua cho con em mình những món ăn hợp vệ sinh, người bán biết giữ vệ sinh. Chỉ cần “Ăn chín uống sôi” là đủ để phòng ngừa nhiều dịch bệnh, kể cả dịch tả. Dần dần các hàng rong nào không quan tâm “an toàn vệ sinh thực phẩm” sẽ bị ế dài dài và buộc phải thay đổi để tồn tại. Chỗ nào ngon, rẻ, tử tế và vệ sinh sẽ tự nhiên đông khách.
Ý thức an toàn vệ sinh thực phẩm hiện nay có vẻ đã dần khá lên. Bắt đầu thấy người bán hàng rong có đậy đệm, có mang găng, có muỗng vá múc riêng… khác với ngày xưa vừa bốc thức ăn vừa quẹt quẹt vào áo vừa thối tiền…
Lại nhớ “Mùa cốm xanh về/ thơm bàn tay nhỏ/ cốm sữa vỉa hè/ thơm bước chân qua…”.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

“NNN”

23/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Từ trái sang: DS Hồ thị Tường Vân, GS Trần Văn Khê, Lâm Duy Anh Kiệt, Đỗ Hồng Ngọc


Một hôm tôi nhận được một cú phone mời đi ăn trưa cùng với Chú Trần Văn Khê và Cô Tường Vân. Tưởng ai, hóa ra là Lâm Duy Anh Kiệt, con thầy Lâm Tô Bông và cô Hồ thị Tiểu Sính, cô giáo tiểu học của tôi hồi nhỏ ở Phan Thiết. Cô Tiểu Sính không chỉ là cô giáo , cô còn là một người ơn của tôi vì đã cho tôi học miễn phí ở ngôi trường Tiểu học của cô thời đó bên bờ sông Cà Ty (Mường Mán). Cô là con của Cụ Hồ Tá Bang, nhà ở kế bên trường Dục Thanh bây giờ. Khi tôi vào đệ thất Phan Bội Châu (1954) thì Anh Kiệt mới sinh nên tôi không được biết em. Thế nhưng, nghe em nhắc đến mẹ là Cô Tiểu Sính thì tôi đã vô cùng cảm động, nhớ buổi mai hôm đó, cậu Ngu Í của tôi đã dẫn tôi từ chùa HN đến gởi gấm cho cô- bạn thân của cậu- để tôi được đi học như bao trẻ em khác. Anh Kiệt đi Pháp từ nhỏ, rồi sang Canada, bây giờ ở Hồng Kông. Thỉnh thoảng em về thăm người dì ruột là Dì Sáu, dược sĩ Hồ thị Tường Vân và người bạn của mẹ là GS Trần Văn Khê.

Trong buổi ăn trưa bên bờ sông Saigon hôm đó, Kiệt kể một câu chuyện thú vị: em thường thấy mẹ đeo một tấm “lắc” có khắc 3 chữ “NNN” trên cổ tay mà không hiểu ý nghĩa. Người lạ thì tưởng là tên họ gì đó của mẹ. Sau này thì Kiệt đã hiểu rõ: Thì ra “dân” Phan Thiết không biết sao thường hay “ăn to nói lớn” nên khi cô Tiểu Sính sang sống ở Pháp, cái tật “nói lớn” đó không bỏ được. Thầy Lâm Tô Bông bèn làm cho cô một tấm “lắc” bằng vàng tây, khắc ba chữ NNN để nhắc nhở cô: “Nói Nho Nhỏ”! Khi cô mất, không biết các con cô có còn ai giữ để kỷ niệm không. Quả thật chỉ có thầy Lâm Tô Bông, vốn là trưởng hướng đạo mới nghĩ ra cách nhắc nhở vợ mình thú vị như thế, và chỉ có cô Tiểu Sính mới chịu mang cái tấm lắc với 3 chữ “NNN” như thế. Tôi nói với Kiệt, có lẽ dân Phan Thiết mình từ xưa sở dĩ thường nói lớn tiếng thành thói quen là do sống ở vùng biển, quen nói giữa “sóng to gió lớn” đó thôi. Thế nên nhiều khi nghe người ta nói chuyện tưởng như gây gổ mà thật ra là rất bình thường. Hôm nào về Phan Thiết để ý thử xem nhé.
Tôi cũng Phan Thiết nên có khi phải cần nhắc mình với 3 chữ “NNN” như vậy!

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi các bác sĩ trẻ

15/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 17 Bình luận

Vài dòng gởi đến các bác sĩ trẻ khóa 2005-2011,

Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM.

Ngày 9/12/2011 vừa qua, thầy biết các em đã trải qua biết bao cảm xúc, biết bao lo lắng và hy vọng trong buổi Lễ Tốt nghiệp truyền thống được tổ chức trang trọng hằng năm dưới mái trường này. Thầy rất tiếc đã bận việc không đến dự được như mọi năm để cùng chia sẻ với các em. Thầy cũng cảm ơn các em về buổi họp mặt thân mật giữa các thầy trò buổi tối đó tại Đông Hồ. Vậy là kể từ hôm nay, các em đã trở thành bác sĩ, người thầy thuốc, đồng nghiệp của các thầy cô, là người mà gia đình và xã hội đang kỳ vọng góp tay góp sức cứu giúp bệnh nhân, nâng cao sức khỏe cộng đồng.


Ra trường, ấy là lúc lòng lâng lâng bao cảm xúc, niềm hãnh diện, mối lo toan, nỗi ngại ngần… Từ nay rời xa mái trường thân yêu, xa thầy xa bạn, dấn bước vào đời với bao nhiêu nhọc nhằn khổ vui thách thức đợi chờ, ở một thời buổi mà ngành y có thể nói đầy sóng gió, “dầu sôi lửa bỏng”, khác xa với thời của thầy, hơn 40 năm về trước. Thầy thấy thương và qúy các em biết bao!

Cho nên dịp này, thầy muốn gởi đến các em một món quà nho nhỏ. Đó là bài nói chuyện của BS Nguyễn Hữu Phiếm, một người đàn anh, một bậc thầy của thầy đã trò chuyện cùng sinh viên y khoa Saigon ngày 29/6/1968. Bài nói chuyện sau đó được in thành sách do Trung tâm Học liệu BGD xuất bản năm 1972. BS Nguyễn Hữu Phiếm sinh năm 1910, là một bác sĩ nổi tiếng ở Saigon trước đây, bạn của nhà văn Nhất Linh (Tự lực văn đoàn), của học giả Nguyễn Hiến Lê… Ông nguyên là giảng viên môn Nghĩa vụ luận y khoa (Déontologie médicale) tại Đại học Y khoa Huế. Ông mất năm 1977 tại Paris. Thầy muốn gởi nguyên văn bài nói chuyện này đến các em dù giọng văn và từ ngữ, nội dung đôi chỗ xưa cũ, nhưng tình người, tính nhân bản của y khoa vẫn dạt dào.

Xin chân thành cảm ơn bác sĩ Lê Ngọc Dũng người đã sưu tầm và phổ biến bài này trên Ykhoanet.com gần đây.

Hy vọng món quà nhỏ này làm các em vui, và học được đôi điều từ người đi trước. Vậy cũng đủ rồi cho truyền thống y khoa chúng ta phải không?

Thân mến,

Thầy Đỗ Hồng Ngọc.
xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Đọc sách

“Đối thoại với Lê Hoàng”

06/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Trao đổi về vấn đề Giáo Dục Giới Tính
Ghi chú: Gởi bạn đường link này để có thể theo dõi buổi “Đối thoại với Lê Hoàng” về Giáo Dục Giới Tính của mình mà bạn đã không kịp xem trên VTV1 Chủ nhật 4/12 vừa qua.
Chương trình hoàn toàn không có kịch bản trước.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Tuổi mới lớn

Với Ngô Nguyên Nghiễm

03/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Phút tâm giao với nhà thơ-
bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC

Ngô Nguyên Nghiễm
Ghi chú: Ngô Nguyên Nghiễm, sinh 1944 tại Châu Đốc, tốt nghiệp Đại học Dược khoa Saigon nhưng người ta ít biết đến anh như một dược sĩ mà biết đến anh như một nhà thơ, nhà văn nhiều hơn. Anh đã có 12 tác phẩm văn học được xuất bản trước và sau 75, với hơn 40 tuyển tập thơ văn in chung, và đã từng là người chủ trương tạp chí Khai Phá. Một hôm anh phone tôi, nói muốn gặp gấp để làm một cuộc phòng vấn “bỏ túi” cho bộ sách mới của anh: Người Đồng Hành Quanh Tôi, Tác giả Tác phẩm. Tôi không có cách nào khác hơn là hẹn anh “bạn đồng nghiệp” quý mến của mình ra một quán cà phê góc phố… cùng với Trần Yên Thảo, giữa cái nắng Saigon…

Ngô Nguyên Nghiễm (NNN): Nhà thơ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc, đã góp mặt với nền văn học nghệ thuật thập niên 60 – 70 thế kỷ qua. Lúc đó, tác phẩm Thơ đầu tay được ấn hành là tập Tình Người (1967), và sau đó Thơ Đỗ Nghê (1973) là một dấu ấn đặc biệt. Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt y học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc? Ý kiến về cái thực của đời (Y học), và cái huyễn của Thi ca?

Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN): Không phải “rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê” đâu. Chỉ là “rửa tay gác kiếm” tạm thời thôi! Thời đó có quá nhiều “Ông Đồ xứ Nghệ”, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi. Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao? Ai bảo y khoa là cái thực và thi ca là cái huyễn? Y khoa vừa là khoa học vừa là nghệ thuật! Thuốc “giả” vẫn chữa được nhiều thứ bệnh thật đó chứ! Còn thi ca? Đọc được một bài thơ hay ta chẳng phải đã “sảng khoái” còn hơn ngàn thang thuốc bổ ư?

NNN: Hình như tản văn viết về y học dưới bút pháp Đỗ Hồng Ngọc lại là những tác phẩm văn chương tuyệt diệu. Anh có xem cả hai như một khối duy nhất? Vì sao?

ĐHN: Hình như trong tôi có sự lẫn lộn nào đó. Tôi không hề nghĩ rằng lúc này ta đang làm thơ và lúc này ta đang viết về y học. Thân và tâm đâu có tách rời, sắc thọ tưởng hành thức vẫn là một, ngũ uẩn vẫn “giai Không” mà! Viết, chỉ biết viết. Khi viết một bài về y học, thì hình như tôi đang làm thơ và khi viết một bài thơ thì hình như tôi đang làm… y học! Tôi không biết cách nào phân biệt rạch ròi hai lãnh vực nầy. Tại cái tạng nó vậy. Người đọc thơ tôi bảo “đời thường” quá, không có gì bay bỗng tuyệt vời cả, ngưới đọc tạp văn lại bảo như thơ… Thôi thì, nó sao kệ nó. “Phân biệt trí” đã làm ta khổ lâu rồi!

NNN: Sự hiện thực được bày tỏ trong tác phẩm thi ca mới nhất của Đỗ Hồng Ngọc, là Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác, càng đọc càng làm rúng động lòng người. Anh có thể tâm sự phút giây về những cảm xúc được ghi lại trong loạt thơ đầy nhân bản này?

ĐHN: Bạn vừa dùng một cụm từ lạ: “loạt thơ đầy nhân bản”. Chẳng lẽ có những loạt thơ không đầy nhân bản hay sao? Tôi nghĩ thơ, bản chất đã là nhân bản, dù được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác, ở thời đại này hay thời đại khác. “Người ta đẻ ra mà tỉnh, ấy là tính Giời cho nguyên như thế, cảm ở vật ngoài mà động thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn thời phải có nghĩ, đã có nghĩ thời phải có nói, đã có nói thời những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu cung bực, như không thôi đi được. Ấy tại thế mà sinh ra có thơ!”. Chu Hy đã viết như thế ngàn năm trước khi đề tựa cho tập Kinh Thi, khi có người hỏi ông: Thơ tại sao mà làm ra? (Tản Đà địch). “Như không thôi đi được”, bạn thấy không? Những người làm thơ… trên cõi nhân gian đều vậy đó, “như không thôi đi được”. Vậy nên lại có tập “Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác”…!

NNN: Thỉnh thoảng đọc các bài viết về Phật pháp của Đỗ Hồng Ngọc trên các tạp chí Phật giáo. Và tôi còn chiêm nghiệm về số vốn cao thâm của anh ở những ý kiến về Phật học. Tất cả tư tưởng trên có ảnh hưởng sâu sắc vào những sáng tác hơn 30 năm nay? Nếu phải, thì hé mở chút duyên ngộ mà nhà thơ, nhà văn hóa Đỗ Hồng Ngọc có được?

ĐHN: Hồi nhỏ tôi sống mấy năm trong một ngôi chùa ở Phan Thiết với người cô vì sớm mồ côi cha. Cô bị tai nạn xe lửa, không đi lại được nhưng rất mê sách. Tôi có nhiệm vụ đi mướn sách cho cô đọc. Mặc dù bị cấm con nít không được đọc, tôi đã ngốn hết… toàn bộ sách trong tiệm cho thuê sách đó. Lớn, đi học ở Saigon, dành tiền mua sách, mỗi sáng chỉ ăn một cục xôi. Sách đầy nhà. Tôi nhớ Tôn Hành Giả với 72 phép thần thông và cân đẩu vân tuyệt vời vậy mà cũng không nhảy qua khỏi bàn tay Phật, đành “tè” bậy dưới ngón tay. Thế nhưng, mãi đến năm 1997, sau cơn bệnh thập tử nhất sanh, tôi mới lại tìm đến với Tâm kinh, Kim cang… một cách khác. Học cách khác, hành cách khác. Cho nên như bạn thấy đó, những bài viết có chút hơi hướm, mà tôi nghĩ mình đang lõm bõm học từng chút, từng chút… rồi chia sẻ với bạn bè gần xa.

NNN: Tác phẩm Đỗ Hồng Ngọc nghiêm túc, hình như anh có một phương pháp và lộ trình sắp đặt cho hướng khai phá trong văn chương, dù đó là Nghệ thuật hay Y học. Nếu có dự trù nào cho tương lai, đề nghị hé mở những đóng góp quý giá này?

ĐHN: Tại cái tạng nó vậy. Tôi nghĩ khó có ai sắp đặt một lộ trình, một phương pháp… trong cõi văn chương! Tại cái tạng thôi. Có người nói tôi nghiêm túc lại có người nói tôi hài hước, dí dỏm; có người bảo tôi sơ sài quá, có người lại bảo thâm thúy… Vậy thì không phải “lỗi” ở người viết mà tại người đọc. Người đọc cũng “đồng tác giả” mà! Bạn thấy không, “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ”!
Còn “dự trù” gì đó ư? Sau Tâm kinh, Kim cang, tôi đang “nghiền ngẫm” kinh Pháp Hoa, và giật mình thấy nó đã được gói gọn trong bốn câu ca dao mà người Việt mình ai cũng thuộc: “Trong đầm gì đẹp bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh/ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”…

NNN: Cảm ơn Đỗ Hồng Ngọc, chúc thân tâm an lạc.
ĐHN: Cảm ơn bạn, Ngô Nguyên Nghiễm.

NGÔ NGUYÊN NGHIỄM thực hiện.
Mùa thu 2010.
……………………………………………
(*) Người đồng hành quanh tôi, Tác giả tác phẩm, tập II, NXB Thanh Niên, 12/2010

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Đọc sách

Thiền và Quán

29/11/2011 By support2 1 Bình luận

Kinh Kim Cang bắt đầu bằng một chuyện rất đỗi đời thường là “ăn ngủ, đi đứng nằm ngồi, hít thở…” và kết thúc cũng bằng một chuyện rất đỗi đời thường là nhìn mọi sự như “mộng, huyễn, bào ảnh, sấm chớp…”. Thì ra những cái sờ sờ đó, những cái tầm thường đó mới là sự sống, mới là cụôc sống. Những “thực tại hiện tiền” đó mới là kiếp người. Phật từ chối nói về những chuyện siêu hình cao xa, những chuyện thần thông quái lạ. Hãy cứu lấy người đang bị trúng tên. Rút mũi tên ra, làm sạch vết thương, khử độc, băng bó. . cái đã! Hạnh phúc không ở đâu xa, không từ trên trời rơi xuống, cũng không phải do ai ban phát. Hạnh phúc ở trong ta và ở quanh ta. Hạnh phúc hay khổ đau, thiên đàng hay địa ngục là những cái do ta tự… tạo ra cho mình, nên cũng phải do ta tự xoay chuyển lấy. “Phiền não vô tận” kia thực ra cũng chính là bồ đề vô lượng nọ!

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Lõm bõm học Phật

Thơ Đỗ Nghê

23/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi…

Đúng là năm 1973 tôi có in tập Thơ Đỗ Nghê, Ý thức xuất bản, dưới dạng ronéo để tặng bạn bè, anh em. Một số bài trong đó đã đươc tuyển lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa (Nxb TRẺ 1993) và tập Thư cho bé sơ sinh & Những bài thơ khác (Nxb Văn Nghệ 2010). Nhưng cũng có một ít bài tạm gác…!
Gởi bạn bài viết của Thu Thủy trên báo Chính Luận ngày 20.11.1974 về Thơ Đỗ Nghê, đọc vui giữa thu xa.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc

Thơ Đỗ Nghêxem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Nhân viên sức khỏe cộng đồng

16/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư đi… Tin lại

Nhân viên sức khỏe cộng đồng (Community Health Worker)
dungttytthanhthuy@gmail.com
Wed, Oct 26, 2011 at 11:31 AM
Kính gửi thầy Đỗ Hồng Ngọc.
Thưa thầy em là Nguyễn Kim Ddung, bác sĩ đa khoa hiện đang làm việc tại Trung tâm y tế huyện Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ, em đã được xem nhiều bài viết cũng như các bài báo cáo của thầy trên trang Web, nhưng có một nội dung mà em rất quan tâm đó là các thông tin về đôi ngũ nhân viên Y tế thôn bản ở trên thế giới và trong nước mà em chưa tìm thấy có ở trong tài liệu nào.
Thưa thầy, hôm nay em mạo muội gửi thư này tới thầy, trước hết em kính mong thầy thông cảm và thứ lỗi, sau là em xin thầy nếu có thể được, thầy giúp em cho em xin các thông tin ấy có được không ạ? Em cảm ơn thầy và kính chúc thầy luôn mạnh khoẻ.
Bs dung nguyen kim

Ghi chú: Nhân bức thư của một bạn đồng nghiệp trẻ không quen biết từ một tỉnh miền Bắc xa xôi đặt vấn đề Nhân viên Y tế Thôn bản, tôi nghĩ rằng vấn đề em nêu cũng có ích phần nào cho một số các bạn trẻ khác, nên xin có mấy lời “phi lộ“:
Từ các năm 1984-1986, tôi đã triển khai Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em (Primary Child Care) tại Phường 13, Quận 6, Tp. Hồ Chí Minh (nay là Phường 10), lúc đó còn là một vùng ven, nông thôn, rất nhiều khó khăn sau chiến tranh. Chương trình được sự hỗ trợ của Bệnh viện Nhi Đồng (nay là BV Nhi đồng 1 Tp.HCM) đã mang lại nhiều kết quả rất đáng khích lệ, được coi như một mô hình Săn sóc sức khỏe ban đầu “ bài bản“, gắn sức khỏe với phát triển, tạo được sự Tham gia cộng đồng (community involvement) và Phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation) tốt.

Hiệp Phước (1986)

Hạt nhân chính của sự thành công này là lớp huấn luyện Nhân viên sức khỏe cộng đồng (community health workers), thực hiện ngay tại cơ sở, trong một ngôi chùa gần Trạm y tế, gồm 24 học viên được tuyển chọn kỹ và huấn luyện theo phương pháp giáo dục chủ động. Họ đã hoạt động rất tích cực và vẫn tiếp tục gắn bó dài lâu sau khi chương trình kết thúc. Các dì Khiếm, chị Sương… và các NVSKCĐ vẫn còn tiếp tục hoạt động nhiều năm sau. Trong nhóm, vế sau có người trở thành Nhân viên Chữ thập đỏ, có người trở thành bác sĩ.. Trưởng trạm Y tế lúc đó là Y sĩ Trần Văn Thình, phụ trách mạng lưới và các thầy cô, học sinh trường cấp 2 Phú Định đã tham gia nhiệt tình. Phường 13 Quận 6 đã trở thành nơi huấn luyện cho sinh viên y khoa. Chính tại đây, tôi đã hướng dẫn 4 luận văn tốt nghiệp Sơ bộ chuyên khoa Nhi của trường Đại học Y dược Tp.HCM cho các bác sĩ Nguyễn Thị Xuyến, Lê Đình Sang, Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Quốc Việt.

Hiệp Phước (1986)

Từ năm 1986, tôi tiếp tục tham gia Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu toàn diện (chứ không chỉ cho trẻ em) tại xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè Tp.HCM. Đây là một chương trình rộng lớn, có tính thí điểm để rút kinh nghiệm mở rộng cho toàn thành phố, do BS Dương Quang Trung, lúc đó là Giám đốc Sở Y tế chủ trì. Ban thư ký 5 người gồm Đỗ Hồng Ngọc (trưởng ban), Lê Trường Giang (thường trực), Nguyễn Thanh Nguyên, Dương Đình Công, Nguyễn Ngọc Chiếu. Tại đây, nguyên lý sức khỏe gắn với phát triển được thực hiện rõ ràng hơn cả. Chương trình không chỉ chăm sóc sức khỏe, chống dịch bệnh (sốt rét/ suy dinh dưỡng/ dân số kế hoạch…), nâng cao dân trí, giáo dục sức khỏe, mà còn xây dựng cầu liên ấp, đường sá, cung cấp nước sạch và điện nông thôn…

Chương trình Hiệp Phước (1986-1988) đã trở thành mô hình, không chỉ cho TP HCM mà còn cho một số tỉnh bạn phía Nam. Sau đó mở rộng qua xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh và dần dần lan ra các điểm khác, nội ngoại thành Tp. HCM. Tại Hiệp Phước, Tân Nhật… cũng tổ chức tốt hệ thống NVSKCĐ, chính nhờ họ, là một “cầu nối“ gắn kết Y tế với cộng đồng và gắn kết “sức khỏe“ với “phát triển“.

Huấn luyện Nhân viên Sức Khỏe Cộng đồng tại Tân Nhựt (1987)

Nhân viên Y tế Thôn bản nếu được thực hiện trên tinh thần như NVSKCĐ sẽ rất có hiệu quả cho các vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Hai nguyên tắc chủ chốt: Họ phải thực sự là “cầu nối“ giữa y tế và cộng đồng, đồng thời “sức khỏe“ phải gắn với “phát triển“ của địa phương thì mới thành công. Cách chọn người, cách huấn luyện và đãi ngộ sẽ rất quan trọng.

Chúc các bạn thành công,
Đỗ Hồng Ngọc.
(16/11/2011)

NHÂN VIÊN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
BS. Đỗ Hồng Ngọc
1. Sự cần thiết
Bằng cách nào có thể mở rộng được mạng lưới săn sóc sức khỏe đến tận nơi người dân sống và lao động, tiếp cận đến từng cá nhân, gia đình, từng cộng đồng để đạt mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người” trong Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu? Bằng cách nào tạo được sự tham gia chủ động và tích cực của cộng đồng để họ tự trách nhiệm, tự giải quyết những vấn đề sức khỏe và phát triển của chính họ?
Để giải quyết các yêu cầu đặt ra là mở rộng độ bao quát, tạo nên sự tham gia cộng đồng, sự phối hợp liên ngành, cần có một “cầu nối” có vai trò xúc tác, môi giới, trung gian đó là Nhân viên Sức khỏe Cộng đồng (NVSKCĐ).

2. Nhân viên sức khỏe cộng đồng
“Để triển khai SSSKBĐ, cần có NVSKCĐ. Đó là những người sống tại cộng đồng, được huấn luyện và làm việc cùng với các nhân viên y tế khác và các nhân viên thuộc chương trình phát triển của địa phương trong một ê kíp. NVSKCĐ là nơi tiếp xúc đầu tiên giữa cá nhân và hệ thống y tế. Tùy theo nhu cầu và phương tiện của từng nơi, mỗi cộng đồng có thể có các loại NVSKCĐ khác nhau. Thường đó là những người sống tại cộng đồng, được cộng đồng chọn lựa, và làm việc ngay tại cộng đồng đó. Ở một số nước, NVSKCĐ là những người tình nguyện, làm việc toàn thời gian hay bán thời gian, được cộng đồng hay cơ quan y tế trả công bằng tiền mặt hay hiện vật” (Glossary of Terms, WHO, 1981)

NVSKCĐ là chìa khóa để thực hiện thành công SSSKBĐ. Tại nhiều nước, có những cách tổ chức mạng lưới này khác nhau tùy yêu cầu của mỗi chương trình sức khỏe, không có nơi nào hoàn toàn giống nơi nào, nhưng có một số kinh nghiệm bước đầu quý báu và một số nguyên tắc chung cần nắm chắc.

NVSKCĐ không phải là nhân viên y tế mà là “cầu nối” giữa cộng đồng với y tế, có vai trò trung gian, môi giới, xúc tác nhằm tạo chuyển biến, thay đổi có lợi cho sức khỏe và sự phát triển chung của cộng đồng.

Là cầu nối, NVSKCĐ:
– Giúp cộng đồng xác định các nhu cầu, những vấn đề sức khỏe ưu tiên, đối tượng nguy cơ; đồng thời tác động tạo tham gia, đưa cộng đồng tiếp cận với dịch vụ y tế;
– Giúp y tế lập kế hoạch quản lý có hiệu quả và đưa các dịch vụ săn sóc sức khỏe (phòng bệnh, điều trị, giáo dục sức khỏe, phục hồi) đến tận nơi người dân sống và lao động.

NVSKCĐ phải cắm rễ vào cả hai phía, Y tế và Cộng đồng. Thiếu gắn bó với cộng đồng không tạo được sự tham gia; thiếu hỗ trợ của y tế hoạt động sẽ không có hiệu quả.

Kinh nghiệm cho thấy thất bại thường là do mối quan hệ này chứ không phải do hoạt động của NVSKCĐ.

3. Chức năng nhiệm vụ
Là người của cộng đồng, NVSKCĐ biết rõ hơn ai hết những vấn đề và đặc điểm của cộng đồng, những tài nguyên đang có, những nhu cầu bức thiết cũng như cơ cấu quyền lực địa phương, cấu trúc gia đình và xã hội, các phong tục tập quán v.v… Do đó, nếu được hướng dẫn tốt cách làm họ sẽ tham gia với y tế xây dựng chương trình sức khỏe trong suốt quá trình từ chẩn đoán cộng đồng đến tổ chức thực hiện và lượng giá.
Chức năng và nhiệm vụ cụ thể tùy y tế và cộng đồng đề ra cho họ. Nói chung, dựa trên các yếu tố của SSSKBĐ bao gồm các mặt phòng bệnh, điều trị và giáo dục sức khỏe, đồng thời tham gia vào các hoạt động phát triển khác của địa phương. Họ cần thiết phải biết sơ cấp cứu, điều trị bệnh và chấn thương thông thường trong phạm vi cho phép. Đừng quên điều trị tốt có thể nâng uy tín, nhưng nếu chỉ chú trọng điều trị sẽ thất bại vì họ tự biến mình thành một “y tá dở”.

Phòng bệnh và GDSK sẽ là nhiệm vụ chính của NVSKCĐ: Vệ sinh môi trường, Vệ sinh lao động, Sức khỏe bà mẹ và trẻ em, Kế hoạch hóa gia đình, Dinh dưỡng, Tiêm chủng v.v… NVSKCĐ chịu trách nhiệm vãng gia, thu thập thông tin, lưu giữ hồ sơ, tham gia các công tác phát triển khác do cộng đồng đề ra.

Họ cần được làm trong một ê-kíp có thể kết hợp với Chữ thập đỏ, vệ sinh viên, cô mụ vườn được tái huấn luyện, thầy lang v.v…

Về tỷ lệ, tùy nơi, tùy chương trình, trung bình 1 NVSKCĐ cho 50 hộ gia đình.

4. Tuyển chọn
“NVSKCĐ là người từ cộng đồng và do cộng đồng tuyển chọn”. Tuy nhiên, như đã nêu trên, NVSKCĐ cũng có thể là người từ bên ngoài, tình nguyện làm việc toàn phần hoặc bán thời gian cho cộng đồng.

4.1. Chọn ai?
Ngưòi từ cộng đồng hay ngưòi ngoài cộng đồng, ai tốt hơn? Người ngoài cộng đồng dễ chiếm được lòng tin hơn vì thường “Bụt nhà không thiêng”; nhưng mặt khác, về lâu về dài, thì người ngoài cộng đồng sẽ tạo ra sự lệ thuộc, làm mất tính tự lực tự quyết của cộng đồng, do vậy, tốt nhất vẫn là người tại chỗ.

4.2. Ai chọn?
Cộng đồng chọn thì cộng đồng sẽ chấp nhận và trong quá trình chọn lựa này, cộng đồng đã trực tiếp tham gia. Ngoài ra NVSKCĐ được chính cộng đồng chọn sẽ cảm thấy có trách nhiệm với cộng đồng và gắn bó mật thiết hơn với cộng đồng.

4.3. Tiêu chuẩn
Chọn người tử tế, có tinh thần trách nhiệm, khiêm tốn, chín chắn, cởi mở, ham học hỏi, quan tâm đến các vấn đề sức khỏe của cộng đồng, có nếp sống lành mạnh (không rượu chè, thuốc lá…) được cộng đồng quí mến….

4.4. Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa không cần cao, dễ hòa đồng bà con, và không bỏ cộng đồng để đi nơi khác. Họ cũng là người có khả năng thuyết phục, kể chuyện hay, hoạt bát, giỏi vận động, giỏi tổ chức và thông hiểu phong tục tập quán địa phương…Những người có uy tín ở địa phương như hội viên chữ thập đỏ, thầy lang, cô mụ vườn, thầy giáo, người về hưu… dễ dàng được chọn.

4.5. Nam nữ
Có nơi cần nữ vì tính dịu dàng, nhẫn nại, thận trọng, lại tiện cho việc chăm sóc phụ nữ và trẻ em (chiếm tỷ lệ 3/4 dân số ở địa phương), gần gũi gắn bó với xóm giềng, dễ gặp gỡ. Có nơi chọn nam vì nam giới đi lại dễ dàng hơn, xốc vác, lanh lẹ, có thể làm việc nặng v.v…

Nếu là chương trình Sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kế hoạch gia đình… thì nên chọn nữ, còn về Môi trường, Chống dịch thì có thể chọn nam. Cả hai thì tốt.

4.6. Tuổi
Tuổi tốt nhất khoảng 25-40. Trẻ quá không có được uy tín, tinh thần trách nhiệm chưa cao. Lớn quá cũng bất tiện vì bận bịu, trừ trường hợp về hưu có nhiều thời gian và sẵn sàng tham gia công tác xã hội.

5. Huấn luyện
NVSKCĐ học là để làm, chứ không phải học để biết. Do đó, thầy phải được chọn lựa kỹ, xác định rõ là dạy cái gì, dạy cách nào. Nội dung cần là:
– Một số kỹ năng thực hành;
– Những kiến thức cơ bản cần thiết;
– Các kỹ năng truyền thông, giao tiếp, vận động;
– Kỹ năng tổ chức.
Kỹ năng truyền thông và tổ chức rất quan trọng, thường hay bị bỏ qua trong lúc xây dựng chương trình huấn luyện NVSKCĐ.

5.1. Thời gian
Tuỳ mục tiêu
– Thường khoảng 3 tuần.
– Cũng có thể học 1 tuần rồi bồi dưỡng dần sau.

5.2. Nội dung
Cần có sự “Tham gia cộng đồng” ngay trong giai đoạn lập chương trình. Chương trình phải dựa trên phân tích nhu cầu sức khỏe của cộng đồng, các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội, nhiệm vụ cụ thể của NVSKCĐ, các điều kiện làm việc, từ đó liệt kê các kỹ năng, thái độ, hành động mà người NVSKCĐ cần có để lập chương trình; phải xác định rõ phương pháp, thời khóa biểu và lượng giá trước, sau lớp và về lâu dài.

5.3. Phương pháp
Phải được coi trọng như nội dung. Học cách nào sẽ ứng dụng cách đó khi công tác. Phương pháp giáo dục chủ động với thảo luận nhóm, tham quan, sắm vai, giải quyết một vấn đề cụ thể… thường có kết quả tốt. Nên đi từ một vấn đề thực tế cụ thể của địa phương để dẫn dắt vào nội dung, gần gũi và sinh động.

5.4. Học cụ
Tài liệu huấn luyện (nên tự soạn cho phù hợp, ngôn ngữ, hình ảnh, thí dụ… lấy từ thực tế ở địa phương), các phương tiện nghe nhìn… không cần kỹ thuật cao (laptop, projector…). Nên chế tạo các học cụ với phương tiện sẵn có tại chỗ để tránh tính ỷ lại của học viên sau này và giúp họ tự tin hơn khi về công tác.

5.5. Nơi học
Học ngay tại cộng đồng là tốt nhất. Dạy NVSKCĐ tại bệnh viện sẽ thất bại, vì sẽ biến họ thành y tá “dở”. Nhưng có thể tham quan bệnh viện quận huyện để có dịp tiếp xúc các bệnh thường gặp ở cộng đồng.

5.6. Người dạy
Thường không đạt yêu cầu vì người dạy không biết cách dạy, coi NVSKCĐ là NV Y tế! Nếu bác sĩ hay y tá dạy thì cần phải được tập huấn kỹ trước. Một chương trình đào tạo ngắn ngày, nhiều đợt, nâng cao dần, có lợi hơn là học tập trung nhiều ngày. Vừa học vừa hành để rút kinh nghiệm. Đào tạo theo phương pháp giáo dục chủ động sẽ phát huy được tính tự chủ cao của học viên.

Nên có nhiều thầy, có thể là những NVSKCĐ khóa trước, có kinh nghiệm thực tế, nhân viên phát triển cộng đồng, cán bộ y tế và các ngành liên quan khác (tâm lý, xã hội…)

6. Thù lao
Đây là một vấn đề rất quan trọng để có thể duy trì hoạt động của mạng lưới NVSKCĐ. Nguyên tắc chung là tùy hoàn cảnh kinh tế xã hội của cộng đồng. Chính họ sẽ là người trả công cho NVSKCĐ bằng tiền, bằng hiện vật hay cách nào khác một cách xứng đáng mới có thể duy trì được hoạt động bền lâu. Điều không kém quan trọng là họ phải được tôn vinh đúng mực, được địa phương đánh giá trong các buổi sinh hoạt để động viên khuyến khích. (Một miếng giữa làng bằng một sàng trong bếp!)

7. Tương lai nghề nghiệp
Cần quan tâm đến tương lai nghề nghiệp của người NVSKCĐ. Ở Tây Ấn, 62% NVSKCĐ muốn thăng tiến trong ngành y. Tuy nhiên, nghiêng hẳn về y là làm lệch mối quan hệ và không còn hiệu quả nữa vì họ sẽ trở thành một nhân viên y tế mất rồi!

Do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ bỏ cuộc khoảng 20% sau 1-2 năm. Có nơi, như chương trình dinh dưỡng ở Ấn (Kasa Palghar) bỏ cuộc 60% sau 2 năm. Nam giới bỏ cuộc nhiều hơn nữ giới. Lý do: trả công thấp, làm việc nặng, kiếm được việc khác hoặc lập gia đình.

8. Hỗ trợ
Thiếu sự hỗ trợ của hệ thống y tế, NVSKCĐ sẽ không thể hoạt động có hiệu quả.

8.1. Hỗ trợ thuốc men – trang bị
Phát triển mạng lưới, mở rộng độ bao quát để có thể tiếp cận đến từng người dân thì không thể không tăng cường thuốc men và trang bị, đặc biệt ở nông thôn, bà con rất hy vọng ở mạng lưới NVSKCĐ. Cần cấp đủ thuốc thông thường – theo danh mục cho phép NVSKCĐ sử dụng – và phải là thuốc tốt về chất lượng, bổ sung kịp thời. Điều này giúp tăng uy tín của mạng lưới. NVSKCĐ cần biết sử dụng thông thạo thuốc nam và các biện pháp chữa trị không cần thuốc. Ngoài thuốc, cần trang bị ống nhiệt kế, cân trẻ con, biểu đồ tăng trưởng, ORS, và các phương tiện Giáo dục sức khỏe (tranh ảnh, sổ tay, sách lật, bướm…).

8.2. Giám sát
Sinh hoạt hàng tháng với Trạm y tế là cách giám sát tốt nhất, đồng thời nâng cao trình độ, bồi dưỡng ”nghiệp vụ”. Cần chú ý một lần nữa “nghiệp vụ” đây không phải là ”chữa bệnh”. Ở nơi xa xôi cần bố trí một “điểm” hướng trợ, giúp đỡ cho NVSKCĐ khi cần tham khảo, có thể là một NVSKCĐ khóa đàn anh, một nhân viên y tế, một người trong Ban chỉ đạo chương trình sức khỏe. Có sự hỗ trợ này, người NVSKCĐ vững tâm hơn.

Giám sát tốt dễ thành công hơn. Giám sát là nhằm hỗ trợ và giúp đỡ hơn là kiểm tra, thanh tra. Nên có Check-list để đánh giá chính xác NVSKCĐ nên có đại diện trong Ban chỉ đạo chương trình sức khỏe. Tiếng nói của họ phải có trọng lượng như các thành viên khác.

9. Kết luận
Để thực hiện SSSKBĐ, cần thiết phải có mạng lưới NVSKCĐ. Đó là những người được tuyển chọn từ cộng đồng, được huấn luyện để thực hiện một hay nhiều chương trình sức khỏe, có mối quan hệ mật thiết với cộng đồng, và được sự hỗ trợ tích cực của y tế. Cần xác định rõ vai trò “cầu nối”, ”người trung gian”, “người xúc tác” của NVSKCĐ – mà nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục sức khỏe, nâng cao sức khỏe của cá nhân và cộng đồng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Đừng biến NVSKCĐ thành một người y tá “dở” của Trạm y tế hay người “sai vặt” cho y tế. Cần nuôi dưỡng mạng lưới tương xứng với công lao đóng góp của họ. Để có thể duy trì hoạt động, cần có nội dung cụ thể, có hệ thống hỗ trợ và lượng giá. NVSKCĐ là nơi thực hiện lồng ghép tốt nhất cho các Chương trình sức khỏe có mục tiêu. Không nên đào tạo quá nhiều NVSKCĐ mà nên tổ chức làm việc có ê-kíp, có lồng ghép ngay từ đầu. Nhờ vậy đỡ tốn kém hơn.

Nhiệm vụ Trưởng Trạm y tế là nắm rõ chức năng nhiệm vụ của mạng lưới NVSKCĐ để tham gia trong tuyển chọn, huấn luyện, hỗ trợ và giám sát; tổ chức sinh hoạt định kỳ, thường xuyên chăm lo bồi dưỡng để duy trì hoạt động tốt cho mạng lưới NVSKCĐ.

(Chỉnh sửa: 11/2011)
Tài liệu tham khảo (lược)
………………………………………………………………………………………………………………………
Nguồn: BS Đỗ Hông Ngọc
Tài liệu huấn luyện Giáo dục sức khỏe & Nâng cao sức khỏe
Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe TP. HCM ấn hành, 1999,tái bản 2003.
Website: www.dohongngoc.com/web/
Email: dohongngocbs@gmail.com

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Ở nơi xa thầy thuốc

GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

13/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

Cần có một chương trình toàn diện
Đỗ Hồng Ngọc
Ghi chú: Chương trình Mỗi tuần một chuyện (Đối thoại với Lê Hoàng) của VTV vừa qua có mời tôi trao đổi một vấn đề khá nóng bỏng: Giáo dục giới tính. Tôi thích những “talkshow” sống động – không có kịch bản – như vậy, nhất là với Lê Hoàng- đạo diễn, nhà văn, vốn nổi tiếng rất sắc sảo trong những cuộc đối thoại- và dưới sự đạo diễn của Nguyễn Quang Dũng. Vấn đề đặt ra của Lê Hoàng là tại sao ở Việt Nam ta tỷ lệ phá thai quá cao ở trẻ vị thành niên, phải chăng do ta làm Giáo dục giới tính không tốt?

Thực ra Giáo dục giới tính không phải nhằm để làm giảm tỷ lệ phá thai! Giáo dục giới tính không phải là dạy cách phòng tránh thai mà là một chương trình “học làm người” để có cuộc sống hạnh phúc. Nhưng thực tế thì cho đến nay ta làm GDGT chưa tốt vì chưa có hẳn một Chương trình GDGT toàn diện. Do thời lượng hạn chế của chương trình truyền hình, tôi nghĩ có lẽ nên chia sẻ với bạn bè bài viết dưới đây, đã đăng trên Saigon Tiếp Thị ngày 11.11.2011. (ĐHN).

Giáo dục giới tính là một tiến trình suốt cả đời người, là chuyện phải làm hằng ngày, trước hết là ở gia đình nhằm trang bị kiến thức, hình thành nhân cách, tạo nên một nền tảng vững chắc cho sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản sau này. Nó bao gồm những hỉêu biết về phát triển tính dục, các mối quan hệ, hình ảnh về thể chất và vai trò giới, tình bạn, tình yêu, tình dục.

Giáo dục giới tính đề cập đến các khía cạnh về sinh học, văn hóa xã hội, tâm lý và tâm linh của vấn đề giới tính, từ lĩnh vực nhận thức (thông tin) đến lĩnh vực tình cảm (cảm xúc, giá trị, thái độ) và lĩnh vực hành vi (kỹ năng truyền thông, giao tiếp và kỹ năng quyết định) của mỗi cá nhân.

Tính dục gắn với con người từ trong trứng nước. Khi thụ tinh thì đã sẵn các nhiễm sắc thể X,Y, phân định giới tính cho đứa trẻ, dù đến 3 tháng trong bụng mẹ, thai nhi mới có đầy đủ các bộ phận sinh dục nam hay nữ! Bên cạnh đó, thiên nhiên còn trang bị sẵn một hệ thống các tuyến sinh dục, để tới tuổi nào đó thì sẽ cho kích hoạt… tạo ra các kích thích tố cần thiết để phát triển giới tính! Chờ đến lúc đó mới “dạy” thì nhiều khi đã muộn!

Cha mẹ có bổn phận phải dạy con cái ngay từ trong gia đình, không thể “khoán” cho ai khác. Và phải dạy rất sớm vì đây là vấn đề liên quan đến nếp sống của mỗi gia đình, đến giá trị, lòng tin, thái độ và nhất là hành vi, hình thành nhân cách của mỗi con người để có một cuộc sống hạnh phúc về sau. Ngay từ lúc mới sinh, trẻ đã được học về tình yêu thương, trìu mến, vuốt ve, cưng nựng, học về những mối quan hệ anh chị em, cha mẹ, ông bà… Trẻ học về giới tính khi cha mẹ chăm sóc, chuyện trò hằng ngày, lúc vui chơi với chúng, lúc thay quần đổi áo cho chúng, dạy chúng biết các bộ phận của cơ thể từ mắt mũi, tai miệng, đến bộ phận sinh dục… Ngay từ lúc đó, trẻ đã học “không phân biệt đối xử” với các bộ phận trong cơ thể mình, và có trách nhiệm gìn giữ vệ sinh đâu đó đàng hoàng. Trẻ lớn dần lên thì hiểu biết sẽ mở rộng thêm về sinh lý học, về các hành vi, thái độ, giá trị liên quan giới tính của gia đình cũng như môi trường văn hóa xã hội chúng đang sống.

Thẳng thắn, chân tình, cởi mở và khoa học trong trao đổi là cách tốt nhất để truyền thông giữa cha mẹ và con cái suốt giai đoạn tuổi thơ cũng như ở tuổi tiền dậy thì và dậy thì, tuổi thanh niên, nhờ đó tạo nên một phương cách xử thế khi trẻ trưởng thành cho vấn đề sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản. Do vậy, cha mẹ cũng phải trang bị cho mình đủ kiến thức để tự tin và có phương pháp tiếp cận phù hợp với từng lứa tuổi theo sự tăng trưởng và phát triển của trẻ.

Thế nhưng do từ trước người lớn chúng ta cũng chưa hề được “giáo dục giới tính” bao giờ nên không tránh khỏi lúng túng và lấn cấn trong tư tưởng. Do vậy, để có thể “vượt qua chính mình” cần xem xét lại một số nhận thức, quan điểm của bản thân mình về giới tính, về tình dục để có thái độ thích hợp. Trang bị kiến thức về cơ thể học, sinh lý học tuy vậy không khó bằng cách nhìn nhận vấn đề, tức “quan điểm” – cũng gọi là các “giá trị” – của chính bản thân. Cần thấy rằng khi nói đến tình dục, không thể chỉ nói đến chuyện giao hợp mà phải bao gồm toàn bộ các khía cạnh liên quan như thể chất, đạo đức, xã hội, tâm linh, tâm lý và cảm xúc. Như vậy, giáo dục giới tính là giáo dục toàn diện về các khía cạnh đó, chứ không phải chỉ dạy cách dùng bao cao su hay sử dụng thuốc ngừa thai.

Vì thế cần có một chương trình giáo dục giới tính toàn diện, không manh mún, lẻ tẻ, mà có hệ thống, được soạn thảo không bởi một vài cá nhân “có thẩm quyền” nào đó theo quan điểm riêng của họ rồi áp đặt cho mọi người mà phải do một nhóm chuyên viên về y học, giáo dục, tâm lý xã hội v.v… ngồi lại với nhau để thống nhất trước trên một số nguyên tắc cơ bản – các giá trị- để có tiếng nói chung. Chẳng hạn tính dục là một phần tự nhiên và lành mạnh của đời sống con người. Mọi người ai cũng có tính dục. Tính dục không đơn thuần là chuyện giao hợp. Với con người, tính dục bao hàm sinh học, đạo đức, xã hội, tâm linh, tâm lý, cảm xúc…

Mọi người ai cũng có nhân phẩm, mỗi người là một cá thể độc đáo trong bối cảnh văn hóa chung. Đừng vì thấy người ta khác mình mà cho là sai lạc, bệnh hoạn rồi đối xử kỳ thị, bất công. Mỗi cá nhân có kiểu hành xử tình dục riêng, miễn là không mang lại bệnh hoạn, tai họa cho mình hay cho người và không trái thuần phong mỹ tục, văn hóa chung của cộng đồng.

Mỗi người tự quyết định và chịu trách nhiệm về hành vi tính dục của mình và về những hậu quả của nó nếu có. Do vậy, cần có đủ kiến thức và kỹ năng để tự bảo vệ. Cũng cần nhớ rằng trẻ con thích “khám phá” và luôn tò mò học hỏi về tính dục là một tiến trình tự nhiên để phát triển.

Chương trình này sẽ không chỉ dành riêng cho các nhà giáo dục, cho nhà trường – từ nhà trẻ đến sau đại học- mà còn cho truyền thông đại chúng, cho các tổ chức xã hội, tôn giáo, và cho các bậc phụ huynh- kể cả người giúp việc trong gia đình… để nói cùng thứ tiếng, tránh “ông nói gà bà nói vịt”.

Về nội dung ít nhất phải đề cập về sự phát triển của con người- từ trong bụng mẹ đến tuổi trưởng thành, mối tương quan giữa các yếu tố thể chất, tâm lý, các mối quan hệ, tương tác, các kỹ năng cá nhân – đối với bản thân mình cũng như giữa người với người- đến các hành vi tính dục- dựa trên nền tảng văn hoá của mỗi cộng đồng- rồi mới đến các vấn đề về sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản với các bệnh lây truyền qua đường tình dục v.v… Trong mỗi nội dung đó, phải dạy cả về kiến thức, thái độ, về các giá trị, về hành vi, lối sống, cách ứng xử phù hợp trong môi trường văn hoá của cộng đồng./.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Tuổi mới lớn, Viết cho tuổi mới lớn

Lõm bõm: “Con đường độc nhất”

11/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Lõm bõm(4)

« Con đường độc nhất »
« Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn »… Thật không, một con đường như vậy ? Phật nói như đinh đóng cột, chắc là phải có rồi. Nói từ hồi bắt đầu dạy những bài học đầu tiên cho đến lúc sắp nhập Niết bàn. Nói đi nói lại hoài. Sợ người ta quên. Sợ người ta coi nhẹ, mải mê chạy theo những hí luận nọ kia… Bởi con đường « độc nhất » đó lại quá ư đơn giản, đơn giản đến khó tin !

Con đường nào vậy ? Độc nhất. Thanh tịnh. Chánh trí. Niết bàn. Diệt trừ khổ ưu? Nếu có, quả là phương thuốc thần cho cuộc sống đầy bát nháo, điên đảo mộng tưởng… trên một thế giới phẳng, toàn cầu hóa hôm nay ?
Đó chính là Anapanasati – có khi gọi là « An ban thủ ý » hay « Nhập tức xuất tức niệm » – được dạy trong Tứ Niệm Xứ. Hình như ngay Tứ niệm xứ với « thân thọ tâm pháp » … vẫn còn có vẻ phức tạp quá, nên Phật giản hóa đi bằng cách chỉ dẫn một « kỹ thuật » giản đơn nhất mà cũng tuyệt vời nhất, như cánh cửa mở vào kho tàng của … Như Lai.
Ana là thở vào, Apana là thở ra và Sati là niệm, là nhớ, là nghĩ. Chỉ có vậy thôi sao ? Chỉ vậy.
Thở vào thở ra thì ai mà chẳng thở? Vậy thì có cái gì hay ? Cái hay, cái « bí quyết » nằm ở chữ niệm. Niệm, ấy là nhớ, nghĩ. Nhớ cái thở. Và, nghĩ về cái thở. Xưa nay ta vẫn thở, còn sống thì còn thở nhưng mấy khi ta nhớ ta nghĩ về nó. Đôi khi khò khè cò cử ta cũng có nhớ, có nghĩ chút chút, nhưng nhớ và nghĩ theo… bệnh lý ! Còn Phật muốn ta nhớ nghĩ (niệm) về cái thở theo một cách khác. Hãy nhớ nghĩ thiệt sâu xem sao. Nói khác đi, không phải chỉ « niệm » mà « chánh niệm » xem sao. Hãy thử rình mò, dõi theo nó xem sao. Có gì lạ không? Có đó. Nhưng, đừng nói. Bất khả thuyết. Thử đi. Nếm đi. Hãy đến và nếm thử đi. Thì ra, một khi ta thực sự « nhớ » đến nó (chánh niệm), ta quên mọi thứ trên đời ! Cứ y như một cái công tắc. Bật qua bật lại. Hoặc nhớ chuyện nọ kia thì quên cái thở, nhớ cái thở thì quên chuyện nọ kia. Sinh lý nó vậy. Vỏ não nó vậy. Khi một vùng này của vỏ não được kích hoạt thì vùng kia bị ức chế. Thời đại của… options. Tùy chọn. Giận thì bầm gan tím ruột. Tức thì đỏ mặt tía tai. Mất bao nhiêu là năng lượng. Bãi hoãi tay chân, bao tử, tim mạch, huyết áp…
Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chưa đủ. Niệm không chỉ là nhớ mà còn là nghĩ nữa. Có gì hay để nghĩ về cái hơi thở đó? Có đó. Giật mình thấy đời người chẳng qua là một hơi thở. Lúc sinh hít vào một hơi. Lúc tử hắt ra một cái. Khoảng giữa là những lăn tăn. Lăn tăn mà cũng bày đặt tham lam, sân hận, khổ đau… Giật mình thấy hơi thở chẳng phải của mình, chẳng phải là mình… Ngàn xưa ngàn sau nó đến nó đi ung dung… tự tại ngoài ta, chẳng cần biết có ta trên cõi đời. Chẳng phân biệt, chẳng thêm bớt. Cái hơi thở vào thở ra của Phật, của Bồ tát, của Alahán… kia hình như cứ còn bay bay lởn vởn đâu đây cùng ta phì phò mọi lúc mọi nơi…
Nhưng hình như không dừng ở đó. Cho đến một lúc, chánh niệm trở thành vô niệm.
Ở đó, một thứ tâm bất sinh.

“Tam-ma-địa”

Nghe cứ rờn rợn như “đất của ba con ma” nào đó vậy. Hóa ra không phải. Tam-ma-địa là một từ, phiên âm từ tiếng Phạn: Samadhi. Là Chánh định trong Bát Chánh Đạo. Nhưng hiểu “đất-của-ba-con-ma” cũng hay chứ! Ma tham, ma sân và ma si. Trẻ con thường hát: “Một ông Phật hiện ra/ Ba con ma biến mất!”. Nơi nào có ông Phật hiện ra thì nơi đó ba con ma phải biến mất. Hay nói cách khác, nơi nào có ba con ma hiện ra thì lập tức có ông Phật xuất hiện. Nếu chẳng có ba con ma Tham, Sân, Si thì Phật hiện ra làm gì cho mất công! Cho nên muốn biết Phật ở đâu thì hãy tìm trong… tham sân si. Tham sân si càng lớn, Phật càng to.
Có thể nhập chánh định ngay ở hơi thở đầu tiên được không? Không biết. Nhưng các thiền sư khẳng định là có thể. Phật thường ở trong định. Đi đứng nằm ngồi trong định. Khi cần lắm thì “xuất định” để thuyết giảng chút gì đó, rồi nhập định trở lại ngay. Như như bất động. An nhiên. Tự tại. Nhiều lúc trước khi “thuyết” phải hỏi lại đôi ba lần người ta có tin không. Thuyết xong thấy người ta vẫn ú ớ chưa tin chưa hiểu bèn bảo “chỉ có Phật với Phật mới hiểu nhau thôi”. Bởi Phật nói ra cái điều thấy biết từ trong định, không phải cái thấy biết của ta. Cho nên có những buổi Phật thuyết mà người ta bỏ đi… gần hết. Phật mặc kệ.
Định dẫn đến Tuệ. Người bình thường như ta đôi khi cũng bừng ngộ, lóe sáng, thức tỉnh một chút, nhưng không lâu, lại đắm chìm, lại tắt ngấm.
Bởi thiếu “Tam ma địa”.

« Bố thí thân mạng »

“Buổi sáng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, buổi trưa lại đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, buổi chiều cũng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí…”.
Bố thí hơi nhiều đó nhé! Và, thân mạng đâu mà lắm thế? Trong khi ta chỉ có mỗi một tấm thân ngũ uẩn nhẹ hều!
Nhưng chuyện bố thí hằng hà sa số thân mạng sáng trưa chiều tối là có thật. Cứ nhìn vào cơ thể mình thì biết. Cơ thể ta hình thành từ khoảng một trăm ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một “sinh vật”, một “chúng sinh” hẳn hòi, hoạt động có tổ chức, có đầy đủ các chức năng, sắc thọ tưởng hành thức… đàng hoàng chớ chẳng chơi. Và điều kỳ diệu, cứ mỗi giây đồng hồ lại có vô số tế bào được… “bố thí” hay nói khác đi được hủy bỏ để thay thế bằng những tế bào khác, mới hơn, khỏe hơn. Chẳng hạn chỉ riêng hồng cầu, mỗi giây đã có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu được hủy diệt và thay thế. Các chất liệu được đưa về “kho chứa” là lá lách để sẵn sàng sử dụng lại, chế tạo các hồng cầu mới. Hệ thống mao mạch – các mạch máu nhỏ li ti dẫn máu đến từng tế bào trong cơ thể, cung cấp Oxy và các dưỡng chất để sản xuất năng lượng – nếu nối lại đã có độ dài bằng một vòng quanh trái đất. Mỗi ngày, trái tim nhỏ bé của ta co bóp với một lực mạnh đủ để kéo một đầu máy xe lửa… Cơ thể ta quả một thế giới kỳ diệu, một vũ trụ chưa được khám phá hết. Đừng tìm kiếm đâu xa. Hãy “nương tựa chính mình” là vậy. Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp. Vô thường ở đó, vô ngã ở đó, niết bàn điạ ngục ở đó…
Bố thí thân mạng nhiều như cát sông Hằng, ngày ba buổi sáng trưa chiều chính là các thời… thiền định của một người tu tập. Trong sâu thẳm của chánh định, sẽ thấy biết… không còn có cái thân nào nữa – hay nói khác đi “bố thí” sạch trơn rồi, “buông xả” sạch trơn rồi. Ngã nhân chúng sanh thọ giả dứt sạch rồi. Chẳng phải trong trạng thái vô ngã đó, đã hoàn toàn “bố thí thân mạng” đó sao?
Như vậy phải chăng “buổi sáng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí…” không bằng biên chép đọc tụng câu kinh tiếng kệ nhằm nhắc ta rằng đừng có mà ngồi ỳ ra đó, đừng có mà lo ngày ba thời thiền định dưới gốc cây, quên ăn quên ngủ, bỏ mặc sự đời. Hãy gieo trồng dù chỉ là một hạt giống nhỏ, để đem lại hạnh phúc cho chúng sinh…
Cho nên bố thí thân mạng chẳng phải là bố thí thân mạng nên mới gọi là bố thí thân mạng đó vậy.

“Giải thoát” và “Giải thoát”

Thì ra có hai thứ Giải thoát. Giải thoát và giải thoát tri kiến. Hay nói cách khác, một thứ là giải thoát thân và một thứ là giải thoát tâm.
Vô sanh. Đặt gánh nặng xuống. Phạm hạnh đã đầy. Không trở lại con đường cũ nữa. Vậy là giải thoát. Giải thoát cái gì ? Giải thoát sanh tử. “Vô sanh” thì “vô tử” mà. Có sanh đâu mà tử ? Có tử đâu mà sanh ? Nhưng “sanh tử” này là sanh tử của các pháp. Sanh, trụ, dị, diệt. Nó vậy đó, nó cứ vậy đó, không ngừng. Sanh tử là một. Vô sanh là cắt đứt đường sanh tử. Các bậc vô sanh đều tới cõi này, nhưng sao…?
Phật nói còn thiếu Từ bi. Bởi Phật rồi cũng chết, cũng “niết bàn” mà, dù chỉ là một cách “thị hiện” chơi thôi, nhằm để răn dạy người đời thôi.
Cho nên giải thoát sanh tử không phải là không còn chết nữa, mà là chết một cách khác, chết an nhiên, chết tự tại, vì đã sống an nhiên, tự tại.

Nhưng giải thoát sinh tử mới chỉ là giải thoát thân, còn cái tâm mù mịt kia vẫn quấn quít, vẫn dằn vặt khôn nguôi. “Lậu hoặc” vẫn đầy ra đó, phiền não vẫn đầy ra đó. Nên “giải thoát thân” mới chỉ là bước một. Độc cư và thiền định đã có thể đưa đến thứ giải thoát này. Bố thí thân mạng ngàn vạn lần sáng trưa chiều tối có thể đưa đến giải thoát này. Nhưng nó chỉ là một trạm dừng chân, nghỉ qua đêm ở hóa thành.
Do vậy, thiền định (Samatha) cần mà chưa đủ, phải thiền quán (Vipassana) để có “tri kiến” thật. Nhưng hai thứ đó quấn quít chằng chịt với nhau, bổ sung cho nhau. “Định” đến mịt mờ cũng chẳng đến đâu, “Quán” đến hí luận cũng chẳng đến đâu. Có người bảo chỉ cần định là đủ, có người bảo chỉ cần quán là đủ. Các triết gia xưa nay vẫn luôn “quán” mọi sự không ngừng đó chứ, nhưng cũng chẳng đến đâu. Còn ôm gốc cây mà mài gạch cho thành gương thì cũng khó! Giải thoát tri kiến thực sự có được phải là cái « tri kiến » Phật. Thứ tri kiến ở đó thức đã chuyển thành trí. Thấy biết Như Lai. “Ngộ” vẫn chưa đủ. Còn phải “nhập” nữa. Khi Lục tổ Huệ Năng “ngộ” rồi thì cũng phải “nhập” mười lăm năm hành tẩu giang hồ mới dám một phen xuống núi: “Gió không động, phướng không động…”.
Một đạo hào quang trí tuệ ở giữa chặng lông mày quét một cái cho thấy toàn cục. Nó vậy thì nó vậy. Tánh tướng nó vậy thì sanh vậy trụ vậy dị vậy diệt vậy… Nó Như Thị. Sáu đạo luân hồi đông vui, dìu dặt. Các vị Phật hằng hà sa số giảng pháp… mọi lúc mọi nơi. Như Lai lặng tiếng. Như như bất động. Nhưng vô vàn để vổ về nhắc nhở.
Ấy là lúc tri kiến Phật tỏ bày?

Bồ tát Di Lặc

Các vị Bồ tát hình như chẳng ai có một cái tên riêng. Ngoài các vị quá thân quen như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm, Dược Vương… (thực ra là những đức, hạnh), ta còn có vô số các vị mang những cái “tên” rất ngộ nghĩnh: Thường Bất Khinh, Thường Tinh Tấn, Bất Hưu Tức, Vô Tận Ý… nếu dịch ra sẽ là: Luôn Tôn Trọng, Luôn Siêng Năng, Không Ngừng Thở, Người Nhiều Chuyện…! Cho nên ta không lấy làm lạ khi có tới hai vạn vị Phật mang cùng một tên gọi duy nhất Nhật Nguyệt Đăng Minh… làm nhớ “trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt/ rọi suốt trăm năm một cõi đi về…” (TCS).
Dễ thương nhất có lẽ là Bồ tát Di Lặc. Bồ tát có cái bụng bự, lúc nào cũng cười toe toét, làm biếng và… hám danh kinh khủng (nên còn có tên là Cầu Danh). Hôm đó giữa hội trường , ông ngơ ngác đứng gãi đầu hỏi hôm nay có gì lạ mà Phật Thích Ca phô trương thanh thế, “đánh trống múa lân” ầm ỉ quá vậy? Bồ tát Văn Thù mới tủm tỉm cười « dẫn chuyện gần xa »: Sẽ có chuyện lạ đó! Chờ xem. Nhớ xưa mỗi lần như vầy thì sẽ có thuyết giảng Diệu pháp Liên hoa đó. Chờ xem. Đừng nóng. Hồi đó tôi cùng tu học với ông, chẳng qua ông biếng nhác, học hoài không thông…
Bụng bự, biếng nhác, hám danh… phải chăng muốn “ám chỉ” chúng ta ngày nay? Ta ngày nay chẳng phải bụng bia, gan nhiễm mỡ, béo phì, bằng cấp giả… đầy đó sao?
Thật ra thì Phật có phô trương thanh thế, có thuyết giảng gì mới lạ đâu. Vô số các vị Phật xưa nay đời đời kiếp kiếp đều nói y một pháp như vậy, có giấu giếm gì đâu, chẳng qua vì không ai muốn nghe, không ai biết nghe thôi. Phật Thích Ca, suốt bốn mươi lăm năm trời phải nói đi nói lại hoài bằng nhiều cách cho nhiều đối tượng khác nhau, để rồi cuối cùng cũng đã khẳng định… “ai bảo Phật có thuyết pháp này nọ là phỉ báng Phật”! Chẳng qua vì “đối tượng” khác nhau nên “mục tiêu” và “phương pháp” cũng phải khác nhau vậy thôi. “Student-centered approach” mà! Lần này trong hội Pháp Hoa, có vẻ Phật Thích Ca hơi bực mình sao đó nên không chỉ nói mà còn bày biện ra, trình diễn, xếp đặt như một cuộc triển lãm, như một phim 3D cho thấy tận mắt. Hãy coi kỹ đây nè. Nó vậy đó. Nó Như Lai. Chẳng có thời gian, chẳng có không gian. Vô lượng thọ. Vô lượng quang. Thực tướng vô tướng… Chuyện khó tin nhưng có thiệt. Một số vị đã rời bỏ hội trường. Kệ, cho đi.
Ông bụng bự, làm biếng, cầu danh… ở lại. Tuyệt vời! Ông hỏi : “Con muốn mau thành Phật. Có cách nào cho mau thành Phật không?”. Chưa bao giờ, ở đâu, có một kẻ nôn nóng thành Phật, nôn nóng “Vô thượng chánh đẳng chánh giác” như thế. Nhưng Phật đã mỉm cười: Có đó. Dễ lắm. Con nít chơi đất chơi cát… cũng thành Phật được, trẻ con người già, đàn ông đàn bà gì cũng thành Phật được. Bởi ai ai cũng sẵn có hạt giống đó cả rồi. Miễn là phải tưới bón!
Con người hôm nay trên thế giới phẳng, toàn cầu hóa này dù… bụng to, làm biếng, cầu danh, muốn mau thành “chánh quả”… vẫn có thể thành được không khó, miễn là có đủ “tri kiến” Phật và hằng sống “ngộ nhập” với tri kiến đó.
Nhưng, còn thiếu chút gì chăng? Từ Bi. Bồ tát Di Lặc, Maitreya, Từ Thị… vốn dòng dõi Từ Bi. Ông “thị hiện” chút chơi để dạy ta rằng phải có Từ Bi cái đã. Bởi Từ Bi thì mới Hỷ Xả. Nếu không, sao bụng lại to, sao cười lại rộng?

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon 11.11.11)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Truyện kể cho các bé (tiếp theo)

03/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 17 Bình luận

Một cuộc du lịch kỳ quái

Ra khỏi cơ thể người, trứng lãi đũa bỗng co rúm lại vì bị chói nắng ( vì thế mà vỏ trứng lãi đũa bao giờ cũng nhăn nheo)… Rồi một trận mưa rào đổ ập đến, kéo trứng lãi trôi phăng đi. Hốt hoảng, trứng lãi cố ngoài mình bám chặt vào một nhánh lá rau đang đong đưa trước gió. Trứng lãi bám rất chắc vì sợ một trận mưa nữa lôi đi thì nguy mất!

Chẳng bao lâu, bên trong cái vỏ đã loi nhoi một con lãi đũa con mới nở. Nó được đặt cho một cái tên khá thi vị: ấu trùng!
Một hôm, ấu trùng (vẫn nằm cuộn mình trong vỏ trứng) bị nhấc bổng lên làm chú khiếp vía, càng bám chặt vào lá rau cho khỏi té. Thì ra chú bị mang ra chợ bán cùng với lá rau chú đang trú ngụ. Chú nghĩ có lẽ đây chỉ là một sự nhầm lẫn thôi chứ người ta không cố ý đem chú đi bán. Tuy vậy, chú cũng hồi hộp hết sức vì sợ người ta cho vào nồi nước sôi. Nhưng may quá, vì là một loại rau ăn sống nên chỉ được rửa qua loa rồi dọn lên bàn ăn! Ấu trùng chưa kịp nghĩ ngợi gì nhiều thì đã bị ai đó nuốt tọt vào dạ dày. Tiếp đó, ấu trùng bị đẩy xuống ruột non. Ở đây, khí hậu nóng ấm, chú vội vàng chui ra khỏi vỏ. Chú ngỡ ngàng một chút trước khung cảnh lạ. Và rồi như có di truyền một dòng máu giang hồ trong người, chú lập tức làm ngay một cuộc phiêu lưu mới, thăm dò nơi ăn chốn ở. Chú vượt qua thành ruột non, theo dòng máu tĩnh mạch đến gan. Vượt gan, chú bơi một mạch lên phổi. Sau một cuộc hành trình dài đầy mệt mỏi và hứng thú, chú trông rắn rỏi hẳn lên. Gặp không khí tốt lành ở phổi, chú quyết định ở lại đó nghỉ ngơi một thời gian. Chỉ trong ba tuần lễ, chú đã thay đổi hẳn: lớn ra, trông bảnh trai không thua bất cứ một con lãi đũa nào khác!
Thế rồi, tiếp tục cuộc hành trình, chú chui vào cuống phổi, leo đến tận cổ họng của “khổ chủ” để được một lần nữa, nuốt tọt vào dạ dày. Sau một cuộc du lịch kỳ thú như thế, nay chú nghiễm nhiên là một chú lãi đũa trưởng thành ở ruột non. Không còn ai dám gọi chú bằng cái tên “ấu trùng” như xưa kia nữa. Chú bèn lập gia đình và tiếp tục đẻ mỗi ngày hai trăm ngàn trứng lãi.
Ra khỏi cơ thể người, trứng lãi đũa bỗng co rúm lại vì bị chói nắng…

Như vậy đó, lãi đũa đã đi “chu du” trong cơ thể của chúng ta. Cuộc du lịch rất thú vị đối với chúng, nhưng đối với ta thì chẳng “khoái” tí nào. Thời gian ba tuần lễ lãi con ở phổi làm cho ta bị nóng sốt, ho hen, khó thở. Và thời gian lãi ở ruột thì ta luôn bị đau bụng, ói mửa, gầy còm, xanh xao vì chúng đã hút mất khá nhiều chất bổ dưỡng của ta. Thỉnh thoảng, có chú lãi đũa tinh nghịch còn chui vào ống dẫn mật, vào ruột thừa, hay ôm nhau khiêu vũ thành từng cuộn lãi to gây nghẹt ống mật, tắc ruột…
Để cơ thể ta không trở thành nơi “lý tưởng” cho lãi du lịch, ta phải giữ vệ sinh tốt. Rửa tay trước mỗi bữa ăn, cắt sạch móng tay. Không ăn rau cải sống sít, rửa không kỹ. Không đi tiêu bừa bãi ngoài đồng… Nhưng nếu rủi chúng đã lọt vào cơ thể ta, thầy thuốc cũng sẽ giúp ta trục xuất chúng ra bằng các loại thuốc xổ lãi… Hột bí (bí ngô, bí rợ) cũng chữa được lãi. Rang hột bí, ăn chừng nửa chén cũng đủ hết lãi!
Đỗ Hồng Ngọc

Có “Chí” thì… hư!

Gia đình nhà Chí gồm có Chí đực, Chí mén… và trứng. Chí đực to nhất nhà, dài đến 3mm, màu xám lợt, có sáu chân rắn chắc, nở nang, giỏi leo trèo. Cuối chân chí có móng cong tạo thành một cái kẹp bám chắc vào tóc. Khác với các loài khác, Chí đực có nhiệm vụ… sinh đẻ! Còn Chí mén là những chí bé tí mới nở, thân hình mảnh khảnh, nhỏ nhắn, da trắng trẻo, có vẻ hơi ngơ ngác một tí nhưng khi cắn thì… ngứa kinh khủng!
Dòng họ nhà Chí làm nghề… sống bám (ký sinh), chuyên hút máu người. Chí được trang bị một cái vòi khá tối tân, có thể co ra thụt vào. Mỗi lần Chí thò vòi ra hút máu xong, liền co rụt vòi vào thân một cách tỉnh bơ như chẳng có việc gì xảy ra, trong khi “thân chủ” thì bị ngứa không chịu nổi. Tai hại nhất là Chí có thói quen chích hút máu xong bèn… ị ngay tại chỗ. Phân chí chứa nhiều siêu vi trùng có thể gây bệnh làm chết người. Trong lịch sử y học, đã có những trận dịch chí giết chết hằng triệu người, đó là các bệnh sốt ban nhiệt chí, bệnh sốt hồi quy chí do siêu vi trùng Rickettsia prowazekii và ký sinh trùng Spirocheta recurrentis gây ra.
Mỗi con chí đẻ mỗi ngày từ 5 đến 7 trứng. Đẻ xong, Chí đực phết cho trứng một chất keo dán chặt vào tóc, nhờ tóc giữ giùm.
Một tuần sau trứng nở thành ấu trùng và sau ba lần lột xác, biến hóa, một chú chí bảnh bao xuất hiện: ấy là Chí mén.
Bà con gần gũi nhất của Chí là Rận, nhưng ít khi họ chơi chung với nhau. Họ nhà Chí rất tự hào về dòng dõi “quý tộc”… cao cả của mình vì chúng chỉ sống trên đầu người ta! Họa hoằn lắm Chí mới chịu bám vào râu hay lông mày. Chí khinh bọn rận là bọn… thấp hèn, sống ở những chỗ không mấy lịch sự (trong quần áo đầy mồ hôi hay trong mùng mền).
Tóc càng dài, Chí càng khoái vì dễ ẩn náu kiếm ăn. Có những bạn gái, Chí nhiều đến nỗi chỉ cần vuốt tóc một cái cũng tóm được vài “trự” Chí. Có người… “yêu” chí đến nỗi “cắn” chí lụp bụp ngon lành, có người lại thích bóp chí lách tách giữa hai móng tay. Các trò tiêu khiển không lành mạnh này gây tai hại: có thể tạo thành bệnh dịch ở người.
“Nuôi”… Chí không ích lợi gì cả, chỉ chứng tỏ mình là kẻ… ở dơ. Bạn nào để đầu tóc có Chí là hư đó. Muốn diệt trừ Chí các bạn phải cắt tóc ngắn, gội đầu thường xuyên bằng xà bông. Có thể dùng lược dầy để chải chí một cách liên tục, hoặc ra nhà thuốc hỏi mua một thứ thuốc xức chí. Ở nhà quê có thể dùng hột mãng cầu (na) rang vàng, tán nhuyễn, trộn với dầu dừa xức chí. Không được dùng thuốc rầy hoặc dung dịch DDT dễ gây ngộ độc… Khi diệt chí, hãy nhớ diệt chí cho cả nhà cùng lúc, để tránh lây Chí qua lại lẫn nhau. Tóm lại, có “Chí” thì…hư!
Đỗ Hồng Ngọc

Cái mũi

“Ngày xưa… có một chú voi con…”. Câu chuyện cháu biết rồi đó. Chú voi con tinh nghịch, đánh nhau với cá sấu, bị cá sấu ngoạm lấy cái mũi của chú kéo xuống nước, chú ráng sức kéo lên. Giằng co mãi, sau cùng chú voi thắng cuộc, nhưng từ đó loài voi có cái mũi dài ngoằn ra thành một cái vòi… Nhiều cháu bé cũng có… vòi như voi ấy, nghĩa là mũi cứ lòng thòng, đặc quánh làm cho bé không thở được bằng mũi, phải há miệng để thở, lâu ngày răng hô ra và lồng ngực dẹp lại, không phát triển được.
Cái mũi, dĩ nhiên là dùng để… thở. Ta cũng có thể thở bằng miệng, nhưng miệng chỉ để dành “sơ cua” khi cần thiết, vì thở bằng miệng không tốt như thở bằng mũi. Mũi giúp ta thở nhẹ mà sâu. Thử bịt mũi rồi thở miệng xem. Rõ ràng là chỉ hời hợt phơn phớt bên ngoài, không sâu tận đáy phổi được. Lâu ngày, phần đáy phổi ít dùng tới sẽ bị xẹp xuống làm “ổ” cho vi trùng lao nữa!
Mũi chúng ta được trang bị khá tốt: Lông mũi dùng làm chổi quét bụi khói, nhất là ở thành phố nhiều khói bụi, ít cây xanh. Lông mũi có bổn phận chặn bụi từ bên ngoài… tạo thành “cứt mũi”. Niêm mạc mũi có nhiều mạch máu, sưởi ấm và làm ẩm không khí trước khi không khí đi vào phổi. Khi trời lạnh đột ngột, niêm mạc mũi phồng lên để… nhanh chóng sưởi ấm không khí, nhưng phồng to quá lại làm ta bị nghẹt mũi! Xuất tiết gia tăng, làm ta bị chảy nước mũi. Có người quá nhạy cảm còn ách xì lia lịa, rồi tưởng có ai đó nhắc mình! Hai bên mũi còn có xoang mũi giúp cho sự phát âm được tốt. Khi nghẹt mũi, xoang bị bít lại, ta nói bằng “giọng mũi” nghe rất lạ tai.
Đừng lạm dụng thuốc nhỏ mũi. Thuốc sẽ làm co mạch máu ở mũi, làm bớt nghẹt nhưng sau đó lại phồng to hơn. Về sau sẽ bị viêm mũi do thuốc. Niêm mạc mũi hư đi mà lông thì rụng hết!
Nên thở bằng mũi, thở sâu, đều và nhẹ nhàng.
Đỗ Hồng Ngọc

Nghỉ hè, nên làm gì?

Gặp chú Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở hành lang bệnh viện Nhi Đồng, phóng viên tí hon liền tranh thủ mở ngay một cuộc phỏng vấn “bỏ túi”:
– Thưa chú, nghỉ hè rồi! Để có một mùa hè vui khỏe, chú khuyên cháu và các bạn nên làm gì?
– Lời khuyên đầu tiên của chú là nên nghỉ. Có vậy mới gọi là nghỉ hè chứ, phải không? Nhưng nghỉ thế nào là chuyện phải bàn! Muốn làm việc có năng suất thì phải biết nghỉ ngơi. Nhưng nghỉ ngơi không có nghĩa là chỉ ngồi một chỗ, hay là không hoạt động gì cả. Nghỉ hè! Đó là thời gian tốt nhất để chúng ta về quê, lên núi, xuống biển, tiếp xúc với thiên nhiên, lao động chân tay, hoạt động thể dục thể thao, tham gia sinh hoạt tập thể và các hoạt động xã hội bổ ích khác…
– Sau nghỉ ngơi là gì hở chú?
– Là ngủ. Tuổi đang lớn rất cần ngủ. Trong lúc ngủ, cơ thể tiết ra kích thích tố tăng trưởng, lại giảm tiêu hao năng lượng, để dành năng lượng cho sự phát triển. Dĩ nhiên, ngủ nhiều quá cũng không tốt, “mụ” người đi. Bình quân mỗi ngày 8-10 giờ là đủ.
– Sau ngủ là…
– Sau ngủ là ăn! Ăn cũng phải học cháu ạ! Phải biết cách ăn. Chả cần cao lương mỹ vị gì đâu! Tuổi đang lớn cần nhiều chất đạm, sinh tố, khoáng chất: thịt cá tôm cua, đậu nành, rau củ, trái cây, trứng, sữa v.v… đều rất cần thiết. Chú ý đừng để bị… Tào Tháo đuổi do thiếu “vệ sinh an toàn thực phẩm” là được!
– Một số bạn bè cháu tính trong dịp hè sẽ đi chữa bệnh?
– Đúng đó.
– Và sau đó?
– Sau đó là học.
– Chú nói không học mà!
– Đâu có! Chú chỉ nói hè nên nghỉ, ngủ, ăn, chữa bệnh… chứ đâu bảo không học. Trong mấy tháng hè, các cháu lớn có thể học lấy một “nghề” có ích để giúp đỡ gia đình được thì tốt. Ba má sẽ rất ngạc nhiên và vui sướng khi thấy cậu con trai “bỗng nhiên” biết sửa cái bàn, chữa được cái tủ; cô con gái biết may, vá, đan, thêu, v.v… Rồi còn phải học bơi, học hát, học đàn, vẽ, chụp hình… Ngoài ra, đừng quên ôn tập, chuẩn bị bài vở cho năm học mới!
– Còn vấn đề phòng bệnh? Cháu và các bạn cháu có thể làm được gì?
– Nhiều thứ lắm. Cần lưu ý tránh các tai nạn trong dịp hè. Vui chơi điều độ và cảnh giác! Các tai nạn hay gặp là té gãy tay, gãy chân, bị rắn cắn, trúng nắng, nhất là chết đuối… Cần học cách sơ cấp cứu tốt khi có tai nạn xảy ra. Đặc biệt, về bệnh cần đề phòng sốt xuất huyết, sốt rét, tiêu chảy… Cháu và các bạn nên giữ cho nhà cửa thoáng đãng, sạch sẽ, không treo quần áo lung tung làm chỗ cho muỗi trú ấn, lấp các vũng nước đọng và nên ngủ mùng.
– Cảm ơn chú! Bọn cháu “dư sức” làm các điều chú dặn.

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc, Tuổi mới lớn, Uncategorized

Truyện kể cho các bé

02/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 7 Bình luận


Ghi chú: Đầu những năm 80, tôi có viết một số truyện thiếu nhi cho báo Khăn Quàng Đỏ – những chuyện về sức khỏe trẻ con – sau đó được NXB Thanh Niên tập hợp in thành cuốn sách nhỏ: Có một con mọt sách (1996). Sách đã “tuyệt bản” từ lâu, may nhờ một “thiếu nhi” (nay đã là bác sĩ) còn giữ được và đánh máy giúp cho. Xin gởi tặng các bạn nhỏ một ít truyện đọc cho vui -sau khi đã “hiệu đính” lại chút đỉnh.
Chân thành cảm ơn bác sĩ NVMT.
Đỗ Hồng Ngọc.

Có một con mọt sách

“Cậu bé Sinh, người đất Hàm, lên tám đã nổi tiếng là thần đồng, bảy bước xong bài thơ, lên mười đã làu thông kinh sử. Sinh mê sách không gì sánh bằng. Lúc đang đọc thì dù sấm to, chợp động bên ngoài cũng không giật mình. Sinh đọc không từ một loại sách nào: xưa lẫn nay, tốt lẫn xấu, bạ đâu đọc đó. Lượm được miếng giấy gói rau của mẹ đi chợ về, Sinh cũng đọc ngấu nghiến. Đêm trăng sáng đã đành, mà đêm trăng mờ cũng mang sách ra đọc ngoài hiên. Có bữa thiếu đèn, Sinh bắt chước người xưa, bắt đom đóm làm đèn, nhập nhòa đọc sách. Cha mẹ Sinh có lúc muốn can ngăn, nhưng vốn chiều con nên chẳng nói gì. Sinh được trớn càng đọc nhiều hơn. Mới đầu, còn ngồi ngay ngắn trước án thư, sau nằm dài trên chõng mà đọc, có lúc ngủ quên, gối đầu trên đống sách… Càng ngày, Sinh càng gầy ốm xanh xao vì thiếu nắng, thiếu gió. Có người thấy vậy, ngỏ lời khuyên điều vệ sinh mắt: chỉ nên đọc sách tốt, nơi có đủ ánh sáng, tư thế ngay ngắn… Cha Sinh nghe lời, cấm con đọc sách. Từ đó Sinh lén cha trùm kín mền giả bịnh mà đọc. Mới mấy tháng, Sinh đã không thể đọc rõ chữ khi để sách hơi xa mắt một chút và ngày càng phải đặt sách gần sát mắt để đọc. Có khi mắt đỏ lên, chảy cả nước mắt sống. Một đêm, dưới trăng hạ tuần vàng vọt, Sinh nằm bẹp trên trang sách, dí mắt vào đọc, người cứ thu nhỏ dần, nhỏ dần, sau cùng phải bò trên trang sách mà nghiền từng dòng từng chữ. Sáng hôm sau, người nhà tìm không thấy Sinh đâu, mãi sau mới thấy một con mọt mải mê bò trên đống chữ…

– Đó là chuyện con mọt sách, chủ kể theo lời yêu cầu của cháu, cháu có hỏi thêm gì không?
– Có phải chú định khuyên cháu nên đọc sách tốt và đọc nơi có đủ ánh sáng, đúng tư thế không?
– Cháu thông minh lắm! Đúng thế! Trăm người cận thì thì chin mươi người là do không giữ vệ sinh mắt. Chỉ nên đọc sách tốt, vì đó mới là thầy, là bạn quý của ta. Lúc đọc phải có đủ ánh sáng để mắt không bị mỏi. Phải ngồi ngay ngắn để tránh vẹo xương, còng lưng và nên giữ khoảng cách từ sách đến mắt ba mươi, bốn mươi phân là vừa, không để gần mắt quá sinh cận thị. Thỉnh thoảng cho mắt nghỉ… xả hơi.
– Mắt cũng nghỉ xả hơi hả chú?
– Mắt đọc nhiều cũng mệt mỏi chứ! Nhất là những ngày học thi. Khi mỏi mắt nên cho mắt “xả hơi” bằng cách nhắm mắt lại một lúc hoặc nhìn vào khoảng tối ở xa xa… Nên ăn các loại thức ăn có nhiều sinh tố A như rau dền, rau muống, cà rốt, đu đủ, cà chua, bí rợ, khoai lang đỏ, trái gấc… rất tốt cho mắt. Mỗi người nên có khăn riêng của mình và không nên dụi mắt với tay dơ bẩn. Khám mắt ngay khi có các triệu chứng bất thường…
– Triệu chứng bất thường là như thế nào chú?
– Như nhìn xa không rõ, nhìn gần mỏi mắt, nhìn chỗ rõ chỗ không, nhìn màu đỏ ra màu xanh, nhìn một vật hóa hai… hoặc khi thấy nhức đầu chóng mặt dai dẳng, học tự nhiên sút kém đi… Phần cháu, cháu đã cận khá nặng rồi đó! Phải giữ vệ sinh mắt thiệt tốt và nên mang kiếng thường xuyên để tránh cho mắt đỡ mệt, mau tăng độ cận
– Nếu không cũng sẽ trở thành con mọt sách hở chú?
– Dĩ nhiên! Nhưng có hơi khác một chút. Nếu cháu trở thành con mọt sách thì đó là một con mọt đặc biệt vì… có đôi kiếng cận trên mắt!

Đỗ Hồng Ngọc

Chuyện Cá bảy màu

Ngày xưa, có một vị vua cá sinh được bảy hoàng tử. Các hoàng tử đều rất khỏe mạnh, thông minh và tài giỏi. Mỗi vị thường khoác lên người một chiếc áo choàng màu sắc sặc sỡ: đỏ, cam, vàng, xanh, lam… Bấy giờ, nhà vua đã già, muốn truyền ngôi lại cho một trong các con. Nhà vua lấy làm khó nghĩ vì hoàng tử nào cũng rất xứng đáng cả. Sau cùng, vua cha hẹn cho các hoàng tử trong vòng ba mùa trăng, phải tìm học cho được một nghề hay, một phép lạ, về biểu diễn ở kinh đô, trước mặt bá quan văn vỏ. Ai tài đức nhất sẽ được chọn thay vua cha trị vì trăm họ cá.
Vị hoàng tử thứ nhất, từ lâu ước mơ hóa thành rồng, càng cố công gắng sức tập luyện. Chàng nhảy qua một cái thác cao, chao mình, xòe vi lướt như bay trong không khí. Vị hoàng tử thứ nhì văn hay chữ tốt, nắn nót múa đuôi đề những dòng thơ tuyệt diệu ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, làm say mê bao công chúa cá xa gần. Vị hoàng tử thứ ba thì giỏi nghề thao lược kiếm cung, điều quân khiển tướng, bày binh bố trận… Vị hoàng tử thứ tư lại theo một đạo sĩ tu hành, ăn chay và có tài nhịn đói,… Tóm lại mỗi vị đều có một biệt tài và đều cố công rèn luyện để đợi ngày thi thố tài năng. Riêng hoàng tử út, hãy còn nhỏ bé, rất được vua cha và hoàng hậu cưng chiều. Chàng không muốn thi tài cùng các anh, nhưng nể lời mẹ, chàng cũng lên đường…
Ngày thi đã tới. Trống nổi lên. Ban giám khảo trịnh trọng đọc chiếu chỉ nhà vua. Các hoàng tử đã sẵn sàng mà chưa thấy hoàng tử út trở về. Không thể chờ lâu, vua cha cho phép tiến hành cuộc thi. Hoàng tử thứ nhất biểu diễn đường bay hóa rồng, nhưng không đạt, chỉ có mỗi cặp mắt hơi giống rồng nên được ban cho cái tên cá Long Nhãn. Hoàng tử thứ hai nhờ những bài thơ trác tuyệt được ban tên là cá Vàng. Hoàng tử thứ ba thành cá Lưỡi Kiếm và hoàng tử thứ tư chính là cá Trắm Cỏ, ăn chay trường và có tài nhịn đói… Nhà vua vẫn chưa hài lòng ai. Vừa lúc đó, hoàng tử út trở về. Chàng ra mắt vua cha, hoàng hậu, thi lễ cùng bá quan. Hoàng hậu giấu nỗi vui, nhắc: “Con đã học được phép gì hay thì mau biểu diễn đi!” Hoàng tử Út rất lúng túng. Chàng kể:
– Con chẳng học được gì hay cả! Ngày nọ, trên đường đi, con tới một nơi thật xa kia và gặp một loài hung ác, có tài biến hóa dị thường. Từ các trứng tròn nhỏ, chúng hóa thành những con sâu, ngo ngoe trong vương quốc ta, rồi bỗng chốc chắp cánh bay lên vun vút. Chúng đi đốt trẻ con loài người, hút máu, rồi truyền bịnh cho các em. Nhiều trẻ con loài người rất ngoan đã phải chết vì loài vật hung ác này. Con rất căm thù và giận không có cánh bay lên đuổi theo chúng. Cần phải cứu lấy trẻ con. Thế là con xông vào lũ sâu bọ đang ngo ngoe kia để tiêu diệt chúng. Chẳng bao lâu, chúng chết tiệt. Từ đó, trẻ con loài người lại hân hoan cắp sách đến trường.
Nghe đến đây, mọi người hoan hô nhiệt liệt. Vua cha và hoàng hậu ôm chầm lấy hoàng tử Út, vui đến chảy nước mắt. Vị giám khảo cá – một vị thông thái- giải thích cho mọi người biết hoàng tử Út đã làm một việc có ích lớn: đã tiêu diệt được loài muỗi truyền bịnh sốt xuất huyết cho trẻ em loài người. Chàng xứng đáng được kế vị vua cha. Các hoàng tử anh – khác với các vị hoàng tử trong truyện đời xưa – không hề ghen tị với em, đều hết sức mừng rỡ và công nhận hoàng tử Út xứng đáng hơn hết. Họ ôm hôn chàng và cởi phăng chiếc áo choàng đang mặc khoác lên cho hoàng tử Út. Họ cùng hứa hẹn học cách tiêu diệt loài sâu bọ kia.
Chàng hoàng tử Út từ đó khoác trên người chiếc áo mang màu sắc cầu vòng bảy màu rực rỡ nên có tên là cá Bảy Màu, kẻ sẵn sàng tiêu diệt loài muỗi nguy hiểm truyền bịnh sốt xuất huyết cho trẻ em.

Đỗ Hồng Ngọc

Giếng nước mùa xuân…

Ngày xưa, ở vùng nọ có nhiều lời đồn đại về một giếng nước mùa xuân. Cứ theo lời kể thì đó là một giếng nước rất kỳ lạ. Vài ba năm một lần, vào một ngày đẹp trời nhất giữa mùa xuân, giếng tự nhiên có mùi thơm ngào ngạt, lôi cuốn hàng ngàn chim muông đến ca hát véo von. Nước giếng lúc đó trong trẻo lạ thường, có lẫn những hạt ngọc long lanh. Ai uống được thứ nước đó thì mọi bệnh tật đều khỏi, già thì trẻ lại, xấu xí thì hóa xinh đẹp. Cạnh giếng nước là túp lều cỏ của một vị lão tiên. Lão đã rất cao tuổi mà trông vẫn còn rất khỏe. Bấy giờ trong vùng có một huyện quan khét tiếng tham lam tàn ác. Mãi lúc về già, huyện quan mới sinh được một đứa con cầu tự. Cậu ấm đã lên mười mà trí khôn chưa bằng trẻ lên bốn. Cơ thể thì suy nhược đến nỗi gió lay cũng ngã. Bao nhiêu thuốc men đổ vào đều vô ích. Có món ngon vật lạ khó mấy quan cũng tìm cho cậu ấm mà chẳng kết quả gì. Cậu ấm càng ngày càng xanh xao vàng vọt, tai mờ mắt kém, bụng ỏng da chì. Nghe nói về giếng nước mùa xuân, huyện quan mừng rỡ, cho bọn nha lại đến đòi lão tiên đến hầu. Năm lần bảy lượt cũng không gặp được lão tiên, huyện quan mang vàng ròng bạc nén đến mua chuộc cũng không kết quả. Bày kế múc trộm nước thần thì chỉ được ít nước bùn, uống vào bịnh càng nặng. Sau cùng, huyện quan đích thân dẫn con đến bái tạ lão tiên, cầu xin cứu chữa. Lão tiên ra điều kiện phải để cậu ấm lại một thời gian đợi giếng nước mùa xuân phun chất ngọc. Trong thời gian đó, cậu ấm phải nhất nhất nghe lời lão, còn huyện quan thì không được bén mảng tới, chỉ ở nhà lo tu nhân tích đức, làm điều lương thiện.

Nói về cậu ấm, từ ngày ở với vị lão tiên thì cho là cực khổ vô cùng, dù lão tiên chỉ giao cho cậu một việc là múc nước từ giếng lên để tưới khắp vườn rau. Mỗi khi cậu tỏ ý biếng nhác hoặc giở thói con quan thì bị phạt chạy một vòng ngoài nắng, cũng có khi bị phạt nhịn đói một ngày. Lúc đầu, cậu ì ạch kéo gàu nước mãi không nổi, nhưng càng về sau, cậu kéo dễ dàng hơn. Cậu thầm mong một hôm nào đó, nhặt được vài hạt ngọc long lanh trong nước giếng để chữa bệnh mà mãi chẳng thấy gì. Những bữa cơm rau muối của vị lão tiên dần dần cậu thấy ngon hơn, nhất là những hôm bị phạt nhịn đói. Những lúc đó, ăn lén một củ khoai lang lùi lại càng ngon tuyệt. Những buổi phạt chạy ngoài nắng làm cậu quen dần với ánh nắng mặt trời đến nổi về sau, dù không bị phạt, cậu cũng chạy vài vòng quanh sân dưới ánh nắng ban mai. Cậu tắm nước giếng cũng không thấy còn lạnh như xưa nữa. Có lần cậu đánh bạo hỏi lão tiên về thứ nước ngọc thì lão chỉ khuyên phải kiên nhẫn, thế nào cũng gặp.
Thấm thoắt cậu ấm đã trở thành một thiếu niên cường tráng, khỏe mạnh. Cậu có thể đuổi kịp một con hươu rừng, nhổ bật cả một bụi tre… Cùng lúc lại được tin quan huyện cũng đã trở thành một vị quan thanh liêm, được dân chúng gần xa mến mộ. Một hôm, lão tiên gọi cậu vào bảo:
– Đã đến lúc thầy trò ta chia tay.
Cậu sụp lạy, xin được ở nán lại ít lâu chờ lấy được thứ nước quý từ giếng mùa xuân đã. Lão tiên mỉm cười, ôn tồn nói:
– Làm gì có nước ngọc, con. Sức khỏe của con không quý hơn sao? Da con đã được tắm ánh nắng mặt trời, được tưới mát bằng những gàu nước lạnh, mũi con đã được hít thở khí trời trong sạch, miệng con được ăn những thức lành mạnh do thầy trò ta tự tạo nên. Những thứ đó còn tốt ngàn lần hơn thứ thuốc nào khác, đã làm máu con thắm lại, mắt con sáng ra… Và điều đáng quý hơn nữa là con tập được tính kiên nhẫn, biết yêu mến, quý trọng sự làm việc, con đã trở nên siêng năng cần mẫn, không ỷ lại, lười biếng như xưa…. Sức khỏe là vốn quý nhất không thể mua được bằng vàng bạc gấm vóc, bằng sức mạnh quyền uy… !

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác

Phỏng vấn BS Đỗ Hồng Ngọc

27/10/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

Ghi chú: Một hôm, tôi nhận email của một sinh viên đề nghị xin được phỏng vấn tôi để hoàn thành một “bài tập” của em. Thỉnh thoảng tôi cũng có trả lời phỏng vấn, giúp SV làm luận văn, nhưng chưa lần nào giúp làm “bài tập” như lần này. Em là Phạm Bảo Hồng, SV Quan hệ công chúng và Truyền thông của một Trường đại học. Tôi nghĩ có thể chia sẻ với bạn bè thân thiết “bài tập” này của em vậy.

Đỗ Hồng Ngọc.

PHỎNG VẤN BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

1. Đọc các bài viết của bác, lúc nào trong cháu cũng cảm thấy một nỗi niềm nhẹ nhàng, man mác. Bác thường trích dẫn những lời nhạc của Trịnh Công Sơn, những lời thơ của bạn bè bác. Những người thân quen, những mối quan hệ xung quanh có phải là nguồn cảm hứng cho bác?

Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN): Cảm ơn đã đặt một câu hỏi rất “nhẹ nhàng, man mác” như vậy, khiến tôi cũng lúng túng không biết trả lời sao. Cái “nỗi niềm nhẹ nhàng, man mác” đó -khi đọc những bài viết của tôi- hẳn là một lời khen, cho thấy bài viết đã chia sẻ được những cảm xúc, nghĩ suy cùng người đọc, ít ra trong một cuộc sống đầy bon chen, căng thẳng… hiện nay, không chỉ riêng ta mà cả một thế giới phẳng, toàn cầu hóa! Tôi thường trích dẫn những ca từ của Trịnh Công Sơn, những câu thơ của người này người khác… khi thì Bùi Giáng, khi thì Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… (không phải bạn bè tôi đâu!) chẳng qua vì nó phù hợp với tâm trạng tôi lúc đó, nó tự nhiên đến với tôi chứ không phải do tôi cố ý kiếm tìm. Và, thực ra, với người viết nào thì những mối quan hệ, những người thân quen… bao giờ chẳng là nguồn cảm hứng bất tận cho họ?

2.Từ khi nào bác nhận ra trong bác có cả hai con người: một vị thầy thuốc hết lòng yêu nghề, nghiêm túc và một người cầm bút, tâm hồn nghệ sĩ? Bác làm sao để dung hòa hai tính cách trong một con người mình? Có bao giờ hai tính cách này đấu tranh lẫn nhau, buộc bác phải suy nghĩ?

ĐHN: Không. Tôi chẳng bao giờ thấy “nó” đấu đá hay tranh giành gì cả. Trái lại, nó cứ quấn quít lấy nhau, bổ sung cho nhau. Giống như đất sét thì phải có nước mới nặn nên hình được. Ai bảo người nghệ sĩ không yêu nghề, không nghiêm túc còn vị thầy thuốc sao lại không thể có tâm hồn bay bỗng… nhỉ? Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật mà! Dĩ nhiên khi trả lời y học thì phải hết sức thận trọng, chính xác và phải luôn quan tâm tới góc cạnh tâm lý xã hội của vấn đề chứ không đơn thuần chỉ ở góc độ bệnh lý. Khi làm thơ, viết tùy bút chẳng hạn thì có thể tự cho phép mình bay bỗng hơn…

3.Lượng độc giả yêu thương và dõi theo bác gồm mọi lứa tuổi, từ thanh thiếu niên, trung niên và cao niên. Viết cho mỗi lứa tuổi là một cách hành văn khác nhau, phải luôn thay đổi, làm mới cho phù hợp với nội dung. Làm sao bác có thể “phân thân” mình được như vậy?

ĐHN: Thường tôi không viết theo sách vở mà theo trải nghiệm của riêng mình. Như khi viết cho tuổi mới lớn thì vì tôi cũng vừa trải qua tuổi mới lớn; khi viết cho các bà mẹ về chăm sóc nuôi dạy con thì vì tôi đã có vài ba nhóc tì; viết cho tuổi gió heo may vì tôi đã hườm hườm, còn viết cho tuổi già vì tôi đã bắt đầu thấy mình gần… khú! Tóm lại, phải có kinh nghiệm bản thân rồi mới chia sẻ được chứ phải không? Do vậy, tôi viết với sự chân thành và thấu cảm, không “làm văn chương” nên bạn đọc của tôi khi đọc thấy có mình trong đó. Mỗi khi viết, tôi thấy mình không phải… viết mà đang trực tiếp được trò chuyện, trao đổi với người đọc của mình.

4.Có bao giờ bác cảm thấy mệt mỏi, như mình không muốn viết nữa, hay những gì viết ra chỉ để “cất cho riêng mình một chút thôi vấn vương gió mây hoài niệm”, không muốn sẻ chia, dù rằng bác đã viết “sẻ chia, ấy chính là hạnh phúc”? Trong trường hợp đó, động lực nào thúc đẩy bác vượt qua giai đoạn ấy?

ĐHN: Dĩ nhiên có lúc mệt mỏi chứ. Tôi phụ trách trang mục “Phòng mạch Mực Tím” báo Mực Tím của tuổi mới lớn hằng chục năm trời, mỗi tuần nhận cả đống thư các em gởi về (hồi đó toàn viết tay rất dễ thương). Sau tôi đầu hàng. Phải nhờ một đồng nghiệp trẻ thay thế. Vả lại, càng về sau, các em càng hỏi những điều “trời ơi” tôi không trả lời nổi. Sau đó tôi giữ mục “Thư gởi người bận rộn” trên báo Doanh nhân Saigon Cuối tuần cũng được vài ba năm, rồi mục “Gia đình vui khỏe” trên báo Phụ nữ Tp.HCM cũng được vài năm… Viết báo, với tôi là một cách giữ cho mình một “áp lực” thường xuyên, không để cho mình làm biếng. Nhưng viết hoài cũng oải chứ. Oải quá thì nghỉ. Vậy thôi. Động lực nào ư? Có người đọc là vui rồi. Vả lại, cái nghề thầy thuốc của tôi, mệt cũng phải… làm mà!

5.Dù biết trên đời này không có gì là hoàn hảo, nhìn lại quãng thời gian đã qua, có khi nào bác cảm thấy hối tiếc vì một việc nào đó mà mình chưa hoàn thành trọn vẹn, hoặc kết quả không như ý?

ĐHN: Tôi không đặt nhiều kỳ vọng, mục tiêu gì cao vời cho mình cả. Tôi thường lửng thửng, đôi khi lang thang và chấp nhận mình như mình. Vậy vậy thôi. Ngay từ hồi trẻ, tôi vừa thích “làm bác sĩ” lại thích làm nhà văn, nhà giáo… nên vừa học y khoa lại vừa học văn khoa, vừa học xã hội học ở… 3 trường đại học khác nhau. Tôi “học cho đã” và thấy vui trong việc học. Bây giờ tôi vẫn cứ còn mê học. Có cơ hội thì học. Tôi chủ trương dạy học, viết lách cũng chính là để học. Còn thế nào là “hoàn thành trọn vẹn, kết quả như ý” thì quả thật tôi… không biết.

6.Ngày càng có nhiều cây bút trẻ xuất hiện trên Văn đàn, với nội dung tác phẩm na ná nhau về các vấn đề hiện nay trong xã hội (như đồng tính, yêu người đã có gia đình, những bế tắc, sự thất vọng, buồn bã trong cuộc sống dù họ còn khá trẻ), bác nghĩ sao về vấn đề này?

ĐHN: Tôi chấp nhận và tôn trọng điều đó. Chính vì “họ còn khá trẻ” nên họ thấy những điều mà tôi không thấy. Thời nào cũng vậy. Có người trẻ và có người già. Họ nhìn, họ thấy, họ nghĩ, họ cảm khác nhau chớ sao. Văn hoá nền cũng khác nhau, môi trường xã hội và thiên nhiên cũng đã thay đổi. Điều đó càng làm phong phú thêm cuộc sống. Các nhà văn trẻ có những vấn đề thời đại của họ. Họ phản ánh nó qua văn chương là điều đáng quý. Quan trọng là cần có giọng điệu riêng, bản sắc riêng của mỗi người. Do vậy họ phải tự đào luyện không ngừng và có một không gian để thể hiện và chia sẻ. Họ cần tự do và cô đơn.

7.Là người hiểu nhiều, đọc nhiều, bác có yêu thích vị tác giả nào không? Vì sao? Nếu có, cách viết của bác có bị ảnh hưởng bởi họ không?

ĐHN: Tôi đặc biệt qúy mến Nguyễn Hiến Lê. Dù không học trực tiếp với ông ngày nào, tôi vẫn coi ông là thầy mình. Cách viết của ông trong sáng, giản dị. Viết từ trải nghiệm, không lý thuyết viễn vông. Còn dịch, ông nói phải dịch sao cho người đọc không thấy dấu vết dịch, nghĩa là phải thật thấu hiểu, thật nhuần nhuyễn cả hai nền văn hóa, ngôn ngữ. Ông làm việc nghiêm túc, khắc kỷ, đọc sách lúc nào cũng có cây viết chì trên tay. Ông nói: viết là để học và học là để viết. Muốn “học” một điều gì cho thấu đáo thì hãy “viết” về nó. Tôi cũng thấy vậy. Viết sách hay dạy học… với tôi đều là những cơ hội tốt để học tập, rèn luyện, thể nghiệm, chia sẻ. Tôi cũng đặc biệt thích André Maurois và Lâm Ngữ Đường… Tôi thấy hình như họ hạp với cái tạng của mình. Dĩ nhiên tôi viết theo cách của riêng tôi.

8.Bác có hài lòng với cuộc sống hiện tại? Hạnh phúc vẫn luôn hiện diện xung quanh bác chứ? Bác có thể bật mí những dự định sắp tới của mình?

ĐHN: Tôi cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại, bởi “dĩ vãng đã qua rồi, tương lai thì chưa tới”. Hiện tại là món quà của cuộc sống. Trong tiếng Anh có một từ dễ thương, đó là “present”, cùng lúc có ba nghĩa: hiện tại, sự có mặt, và món quà. Sống trong hiện tại, ở đây và bây giờ, là sống trong hạnh phúc. “Hạnh phúc rất đơn sơ” như một nhà thơ đã nói. Đơn sơ nhưng không dễ thấy biết. Phải khám phá. Nó như một bí mật, chập chờn, khi ẩn khi hiện quanh ta, nên phải biết khám phá. Nhiều khi phải nhìn một cách khác, phải nghe một cách khác, phải nếm ngửi một cách khác… Quyết tâm tìm kiếm nó, lùng sục nó… thì nó biến mất. Nó thường gặp gỡ, vui đùa với trẻ thơ, nên “em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (TCS) là vậy.

Phạm Bảo Hồng (thực hiện)
Saigon, 25.10.2011

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi

VTV1 “Câu chuyện cuộc sống”

21/10/2011 By support2 4 Bình luận

Trò chuyện với BS Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc

TIÊU CHẢY Ở TRẺ CON

19/10/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 102 Bình luận

Ghi chú: Không ngờ bài viết “Phải làm gì khi bé bị tiêu chảy” trên trang www.dohongngoc.com/web/ này lại được đọc nhiều đến vậy! Không chỉ ở trong nước mà cả ở ngoài nước, gần như khắp nơi trên… “thế giới”. Thì ra đây là một chuyện “lớn” (đại sự) đúng nghĩa của kiếp nhân sinh, từ sơ sinh đến già lão. Rất nhiều câu hỏi đã gởi về đầy ưu tư lo lắng, đề nghị tư vấn, do vậy, xin có bài trả lời chung này vậy. Thân mến,

BS Đỗ Hồng Ngọc

Bà mẹ nào có con nhỏ bị tiêu chảy cũng thấy đắng chát cả miệng mồm, khô khốc cả cổ họng và chỉ mong sao cho bé được “cầm ỉa” ngay tức khắc, nghĩa là mong có cách nào làm dứt ngay cơn “ỉa chảy” của bé. Và đó là lý do tại sao trong phòng Cấp Cứu ở các khoa Nhi vẫn thường gặp những ca ngộ độc sái thuốc phiện, á phiện, thuốc chích thuốc uống này khác làm cho bé bị liệt ruột, bụng chướng lên, thở thoi thóp, đồng tử (con ngươi) teo nhỏ như đầu đinh ghim! Có trường hợp chết oan là vì vậy, không kể các trường hợp chết vì khô nước, mất nước trong cơ thể.

Tiêu chảy cấp thưc chất là một… phản xạ có ích cho cơ thể, nhằm tống hết chất độc ra ngoài đường ruột, một khi ruột bị rối loạn, bị nhiễm trùng, nhiễm độc, như trường hợp ngộ độc thực phẩm, dùng sữa ôi thiu… Còn trưòng hợp tiêu chảy kéo dài do sai dinh dưỡng (đưa đến suy dinh dưỡng), do dùng kháng sinh không đúng cách làm tiêu hủy những vi sinh vật vốn rất có ích trong đường ruột hoặc do trẻ “không chịu”, “không hạp” với một thứ sữa nào đó thì phải ngưng thuốc kháng sinh và điều chỉnh cách dinh dưỡng sao cho đúng. Có khi chỉ vì pha chế sữa không đúng (đặc quá hoặc loãng quá) cũng gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy hoặc bón… Nhiều bà mẹ bây giờ thích nghe bày vẻ, nghe quảng cáo, cứ thay sữa xoành xoạch. Trẻ chưa kịp làm quen với thứ sữa này đã phải làm quen sữa khác, đương nhiên phải “rối loạn tiêu hoá” thôi. Thức ăn dặm cũng vậy. Phải có thời gian cho bé quen một thứ thức ăn mới (thịt, cá, trứng, rau, đậu…), nếu thấy tốt, cứ nên tiếp tục, miễn là cân đối, đủ 4 nhóm “bột, đạm, dầu, rau” và thấy trẻ tăng cân tốt là được (Đọc thêm “Nuôi con sao cho giỏi” trong Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng). Cũng nên biết có thứ tiêu chảy không phải bệnh thường gặp ở bé bú sữa mẹ, gọi là tiêu chảy sinh lý, càng “lẹt xẹt”, “hoa cà hoa cải” càng mau lớn. Khi bắt đầu được cho ăn dặm (ăn sam) thì trẻ sẽ không còn tiêu chảy lẹt xẹt như vậy nữa.
Nhớ rằng tiêu chảy nhiễm trùng ở trẻ do siêu vi hay do E.Coli thì cũng phải 4-5 ngày mới khỏi, miễn là không bị mất nước, làm trầm trọng thêm. Nhiều bà mẹ đi khám bác sĩ vài ba hôm thấy không bớt, đến thầy “lang băm” cũng vừa đúng thời điểm dứt bệnh, thế là thầy nổi tiếng. Không kể trường hợp uống sái phiện như đã nói trên. Lỗi ở bác sĩ không chịu giải thích rõ, không hướng dẫn kỹ cho bà mẹ yên tâm.
Đa số các bà mẹ thấy con “ỉa ra nước” thì không dám cho uống nước, sợ càng uống càng ỉa thêm. Điều này sai! Bởi không cho uống, bé vẫn ỉa ra nước như thường! Nước này tứ đâu ra? Nước từ trong tế bào và từ trong máu. Do vậy, dễ dẫn tới khô máu, khô tế bào mà chết. Trên thế giới, hằng năm có vài ba triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết vì tiêu chảy mất nước như vậy, cũng chỉ vì bà mẹ không dám cho uống nước bù. Ngày nay, người ta biết rõ nguyên nhân gây tử vong của trẻ tiêu chảy không phải do nhiễm trùng mà do mất nước nên đã khuyến khích các bà mẹ cho con uống bù nước sớm khi trẻ vừa tiêu chảy. Nhờ vậy mà cứu được rất nhiều trẻ nhỏ. Nếu không cho uống nước thì bệnh sẽ nặng hơn và kéo dài hơn. Nếu không cho ăn thì trẻ sẽ đói, kiệt sức. Mặc dù ruột đang “yếu”, trẻ vẫn hấp thu được phần lớn thức ăn. Cần cho ăn nhiều bữa, ăn nhẹ, loãng, dễ tiêu… Pha sữa đúng cách và cho ăn trở lại bình thường càng sớm càng tốt, nếu cần dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ.
Nước uống bù trong tiêu chảy tốt nhất là Oresol, còn gọi là “nước biển khô”, có ở các Trạm Y tế hoặc các nhà thuốc, đem về pha vào một lít nước chín (đun sôi để nguội, phải pha với đúng một lít) cho bé uống bù ( cả người lớn bị tiêu chảy cũng vậy). Ở những nơi không tìm được Oresol thì pha nửa muỗng muối (loại muỗng cà phê 5ml) với sáu muỗng đường vào trong một lít nước chín. Nếu có chanh hay cam, nặn vào một ít càng tốt để có thêm chất muối Kali (potassium).

Điều quan trọng, không nên để trẻ tiêu chảy. Nên cho bú mẹ ít nhất 6 tháng. Bú mẹ thì yên tâm, khỏi phải lo gì cả! Nếu bú bình, thì phải giữ vệ sinh bình bú, núm vú thật tốt, pha chế đúng tỷ lệ. Biết cách cho ăn dặm. Nếu bé lỡ bị tiêu chảy thì bình tĩnh, cho uống bù nước sớm và đưa đến bác sĩ khi cần.

Thuộc chủ đề:Hỏi đáp, Ở nơi xa thầy thuốc, Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 93
  • Trang 94
  • Trang 95
  • Trang 96
  • Trang 97
  • Interim pages omitted …
  • Trang 124
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết
  • SÁCH SONG NGỮ: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace & Joy”

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email