Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Nhân viên sức khỏe cộng đồng

16/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư đi… Tin lại

Nhân viên sức khỏe cộng đồng (Community Health Worker)
dungttytthanhthuy@gmail.com
Wed, Oct 26, 2011 at 11:31 AM
Kính gửi thầy Đỗ Hồng Ngọc.
Thưa thầy em là Nguyễn Kim Ddung, bác sĩ đa khoa hiện đang làm việc tại Trung tâm y tế huyện Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ, em đã được xem nhiều bài viết cũng như các bài báo cáo của thầy trên trang Web, nhưng có một nội dung mà em rất quan tâm đó là các thông tin về đôi ngũ nhân viên Y tế thôn bản ở trên thế giới và trong nước mà em chưa tìm thấy có ở trong tài liệu nào.
Thưa thầy, hôm nay em mạo muội gửi thư này tới thầy, trước hết em kính mong thầy thông cảm và thứ lỗi, sau là em xin thầy nếu có thể được, thầy giúp em cho em xin các thông tin ấy có được không ạ? Em cảm ơn thầy và kính chúc thầy luôn mạnh khoẻ.
Bs dung nguyen kim

Ghi chú: Nhân bức thư của một bạn đồng nghiệp trẻ không quen biết từ một tỉnh miền Bắc xa xôi đặt vấn đề Nhân viên Y tế Thôn bản, tôi nghĩ rằng vấn đề em nêu cũng có ích phần nào cho một số các bạn trẻ khác, nên xin có mấy lời “phi lộ“:
Từ các năm 1984-1986, tôi đã triển khai Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em (Primary Child Care) tại Phường 13, Quận 6, Tp. Hồ Chí Minh (nay là Phường 10), lúc đó còn là một vùng ven, nông thôn, rất nhiều khó khăn sau chiến tranh. Chương trình được sự hỗ trợ của Bệnh viện Nhi Đồng (nay là BV Nhi đồng 1 Tp.HCM) đã mang lại nhiều kết quả rất đáng khích lệ, được coi như một mô hình Săn sóc sức khỏe ban đầu “ bài bản“, gắn sức khỏe với phát triển, tạo được sự Tham gia cộng đồng (community involvement) và Phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation) tốt.

Hiệp Phước (1986)

Hạt nhân chính của sự thành công này là lớp huấn luyện Nhân viên sức khỏe cộng đồng (community health workers), thực hiện ngay tại cơ sở, trong một ngôi chùa gần Trạm y tế, gồm 24 học viên được tuyển chọn kỹ và huấn luyện theo phương pháp giáo dục chủ động. Họ đã hoạt động rất tích cực và vẫn tiếp tục gắn bó dài lâu sau khi chương trình kết thúc. Các dì Khiếm, chị Sương… và các NVSKCĐ vẫn còn tiếp tục hoạt động nhiều năm sau. Trong nhóm, vế sau có người trở thành Nhân viên Chữ thập đỏ, có người trở thành bác sĩ.. Trưởng trạm Y tế lúc đó là Y sĩ Trần Văn Thình, phụ trách mạng lưới và các thầy cô, học sinh trường cấp 2 Phú Định đã tham gia nhiệt tình. Phường 13 Quận 6 đã trở thành nơi huấn luyện cho sinh viên y khoa. Chính tại đây, tôi đã hướng dẫn 4 luận văn tốt nghiệp Sơ bộ chuyên khoa Nhi của trường Đại học Y dược Tp.HCM cho các bác sĩ Nguyễn Thị Xuyến, Lê Đình Sang, Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Quốc Việt.

Hiệp Phước (1986)

Từ năm 1986, tôi tiếp tục tham gia Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu toàn diện (chứ không chỉ cho trẻ em) tại xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè Tp.HCM. Đây là một chương trình rộng lớn, có tính thí điểm để rút kinh nghiệm mở rộng cho toàn thành phố, do BS Dương Quang Trung, lúc đó là Giám đốc Sở Y tế chủ trì. Ban thư ký 5 người gồm Đỗ Hồng Ngọc (trưởng ban), Lê Trường Giang (thường trực), Nguyễn Thanh Nguyên, Dương Đình Công, Nguyễn Ngọc Chiếu. Tại đây, nguyên lý sức khỏe gắn với phát triển được thực hiện rõ ràng hơn cả. Chương trình không chỉ chăm sóc sức khỏe, chống dịch bệnh (sốt rét/ suy dinh dưỡng/ dân số kế hoạch…), nâng cao dân trí, giáo dục sức khỏe, mà còn xây dựng cầu liên ấp, đường sá, cung cấp nước sạch và điện nông thôn…

Chương trình Hiệp Phước (1986-1988) đã trở thành mô hình, không chỉ cho TP HCM mà còn cho một số tỉnh bạn phía Nam. Sau đó mở rộng qua xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh và dần dần lan ra các điểm khác, nội ngoại thành Tp. HCM. Tại Hiệp Phước, Tân Nhật… cũng tổ chức tốt hệ thống NVSKCĐ, chính nhờ họ, là một “cầu nối“ gắn kết Y tế với cộng đồng và gắn kết “sức khỏe“ với “phát triển“.

Huấn luyện Nhân viên Sức Khỏe Cộng đồng tại Tân Nhựt (1987)

Nhân viên Y tế Thôn bản nếu được thực hiện trên tinh thần như NVSKCĐ sẽ rất có hiệu quả cho các vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Hai nguyên tắc chủ chốt: Họ phải thực sự là “cầu nối“ giữa y tế và cộng đồng, đồng thời “sức khỏe“ phải gắn với “phát triển“ của địa phương thì mới thành công. Cách chọn người, cách huấn luyện và đãi ngộ sẽ rất quan trọng.

Chúc các bạn thành công,
Đỗ Hồng Ngọc.
(16/11/2011)

NHÂN VIÊN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
BS. Đỗ Hồng Ngọc
1. Sự cần thiết
Bằng cách nào có thể mở rộng được mạng lưới săn sóc sức khỏe đến tận nơi người dân sống và lao động, tiếp cận đến từng cá nhân, gia đình, từng cộng đồng để đạt mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người” trong Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu? Bằng cách nào tạo được sự tham gia chủ động và tích cực của cộng đồng để họ tự trách nhiệm, tự giải quyết những vấn đề sức khỏe và phát triển của chính họ?
Để giải quyết các yêu cầu đặt ra là mở rộng độ bao quát, tạo nên sự tham gia cộng đồng, sự phối hợp liên ngành, cần có một “cầu nối” có vai trò xúc tác, môi giới, trung gian đó là Nhân viên Sức khỏe Cộng đồng (NVSKCĐ).

2. Nhân viên sức khỏe cộng đồng
“Để triển khai SSSKBĐ, cần có NVSKCĐ. Đó là những người sống tại cộng đồng, được huấn luyện và làm việc cùng với các nhân viên y tế khác và các nhân viên thuộc chương trình phát triển của địa phương trong một ê kíp. NVSKCĐ là nơi tiếp xúc đầu tiên giữa cá nhân và hệ thống y tế. Tùy theo nhu cầu và phương tiện của từng nơi, mỗi cộng đồng có thể có các loại NVSKCĐ khác nhau. Thường đó là những người sống tại cộng đồng, được cộng đồng chọn lựa, và làm việc ngay tại cộng đồng đó. Ở một số nước, NVSKCĐ là những người tình nguyện, làm việc toàn thời gian hay bán thời gian, được cộng đồng hay cơ quan y tế trả công bằng tiền mặt hay hiện vật” (Glossary of Terms, WHO, 1981)

NVSKCĐ là chìa khóa để thực hiện thành công SSSKBĐ. Tại nhiều nước, có những cách tổ chức mạng lưới này khác nhau tùy yêu cầu của mỗi chương trình sức khỏe, không có nơi nào hoàn toàn giống nơi nào, nhưng có một số kinh nghiệm bước đầu quý báu và một số nguyên tắc chung cần nắm chắc.

NVSKCĐ không phải là nhân viên y tế mà là “cầu nối” giữa cộng đồng với y tế, có vai trò trung gian, môi giới, xúc tác nhằm tạo chuyển biến, thay đổi có lợi cho sức khỏe và sự phát triển chung của cộng đồng.

Là cầu nối, NVSKCĐ:
– Giúp cộng đồng xác định các nhu cầu, những vấn đề sức khỏe ưu tiên, đối tượng nguy cơ; đồng thời tác động tạo tham gia, đưa cộng đồng tiếp cận với dịch vụ y tế;
– Giúp y tế lập kế hoạch quản lý có hiệu quả và đưa các dịch vụ săn sóc sức khỏe (phòng bệnh, điều trị, giáo dục sức khỏe, phục hồi) đến tận nơi người dân sống và lao động.

NVSKCĐ phải cắm rễ vào cả hai phía, Y tế và Cộng đồng. Thiếu gắn bó với cộng đồng không tạo được sự tham gia; thiếu hỗ trợ của y tế hoạt động sẽ không có hiệu quả.

Kinh nghiệm cho thấy thất bại thường là do mối quan hệ này chứ không phải do hoạt động của NVSKCĐ.

3. Chức năng nhiệm vụ
Là người của cộng đồng, NVSKCĐ biết rõ hơn ai hết những vấn đề và đặc điểm của cộng đồng, những tài nguyên đang có, những nhu cầu bức thiết cũng như cơ cấu quyền lực địa phương, cấu trúc gia đình và xã hội, các phong tục tập quán v.v… Do đó, nếu được hướng dẫn tốt cách làm họ sẽ tham gia với y tế xây dựng chương trình sức khỏe trong suốt quá trình từ chẩn đoán cộng đồng đến tổ chức thực hiện và lượng giá.
Chức năng và nhiệm vụ cụ thể tùy y tế và cộng đồng đề ra cho họ. Nói chung, dựa trên các yếu tố của SSSKBĐ bao gồm các mặt phòng bệnh, điều trị và giáo dục sức khỏe, đồng thời tham gia vào các hoạt động phát triển khác của địa phương. Họ cần thiết phải biết sơ cấp cứu, điều trị bệnh và chấn thương thông thường trong phạm vi cho phép. Đừng quên điều trị tốt có thể nâng uy tín, nhưng nếu chỉ chú trọng điều trị sẽ thất bại vì họ tự biến mình thành một “y tá dở”.

Phòng bệnh và GDSK sẽ là nhiệm vụ chính của NVSKCĐ: Vệ sinh môi trường, Vệ sinh lao động, Sức khỏe bà mẹ và trẻ em, Kế hoạch hóa gia đình, Dinh dưỡng, Tiêm chủng v.v… NVSKCĐ chịu trách nhiệm vãng gia, thu thập thông tin, lưu giữ hồ sơ, tham gia các công tác phát triển khác do cộng đồng đề ra.

Họ cần được làm trong một ê-kíp có thể kết hợp với Chữ thập đỏ, vệ sinh viên, cô mụ vườn được tái huấn luyện, thầy lang v.v…

Về tỷ lệ, tùy nơi, tùy chương trình, trung bình 1 NVSKCĐ cho 50 hộ gia đình.

4. Tuyển chọn
“NVSKCĐ là người từ cộng đồng và do cộng đồng tuyển chọn”. Tuy nhiên, như đã nêu trên, NVSKCĐ cũng có thể là người từ bên ngoài, tình nguyện làm việc toàn phần hoặc bán thời gian cho cộng đồng.

4.1. Chọn ai?
Ngưòi từ cộng đồng hay ngưòi ngoài cộng đồng, ai tốt hơn? Người ngoài cộng đồng dễ chiếm được lòng tin hơn vì thường “Bụt nhà không thiêng”; nhưng mặt khác, về lâu về dài, thì người ngoài cộng đồng sẽ tạo ra sự lệ thuộc, làm mất tính tự lực tự quyết của cộng đồng, do vậy, tốt nhất vẫn là người tại chỗ.

4.2. Ai chọn?
Cộng đồng chọn thì cộng đồng sẽ chấp nhận và trong quá trình chọn lựa này, cộng đồng đã trực tiếp tham gia. Ngoài ra NVSKCĐ được chính cộng đồng chọn sẽ cảm thấy có trách nhiệm với cộng đồng và gắn bó mật thiết hơn với cộng đồng.

4.3. Tiêu chuẩn
Chọn người tử tế, có tinh thần trách nhiệm, khiêm tốn, chín chắn, cởi mở, ham học hỏi, quan tâm đến các vấn đề sức khỏe của cộng đồng, có nếp sống lành mạnh (không rượu chè, thuốc lá…) được cộng đồng quí mến….

4.4. Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa không cần cao, dễ hòa đồng bà con, và không bỏ cộng đồng để đi nơi khác. Họ cũng là người có khả năng thuyết phục, kể chuyện hay, hoạt bát, giỏi vận động, giỏi tổ chức và thông hiểu phong tục tập quán địa phương…Những người có uy tín ở địa phương như hội viên chữ thập đỏ, thầy lang, cô mụ vườn, thầy giáo, người về hưu… dễ dàng được chọn.

4.5. Nam nữ
Có nơi cần nữ vì tính dịu dàng, nhẫn nại, thận trọng, lại tiện cho việc chăm sóc phụ nữ và trẻ em (chiếm tỷ lệ 3/4 dân số ở địa phương), gần gũi gắn bó với xóm giềng, dễ gặp gỡ. Có nơi chọn nam vì nam giới đi lại dễ dàng hơn, xốc vác, lanh lẹ, có thể làm việc nặng v.v…

Nếu là chương trình Sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kế hoạch gia đình… thì nên chọn nữ, còn về Môi trường, Chống dịch thì có thể chọn nam. Cả hai thì tốt.

4.6. Tuổi
Tuổi tốt nhất khoảng 25-40. Trẻ quá không có được uy tín, tinh thần trách nhiệm chưa cao. Lớn quá cũng bất tiện vì bận bịu, trừ trường hợp về hưu có nhiều thời gian và sẵn sàng tham gia công tác xã hội.

5. Huấn luyện
NVSKCĐ học là để làm, chứ không phải học để biết. Do đó, thầy phải được chọn lựa kỹ, xác định rõ là dạy cái gì, dạy cách nào. Nội dung cần là:
– Một số kỹ năng thực hành;
– Những kiến thức cơ bản cần thiết;
– Các kỹ năng truyền thông, giao tiếp, vận động;
– Kỹ năng tổ chức.
Kỹ năng truyền thông và tổ chức rất quan trọng, thường hay bị bỏ qua trong lúc xây dựng chương trình huấn luyện NVSKCĐ.

5.1. Thời gian
Tuỳ mục tiêu
– Thường khoảng 3 tuần.
– Cũng có thể học 1 tuần rồi bồi dưỡng dần sau.

5.2. Nội dung
Cần có sự “Tham gia cộng đồng” ngay trong giai đoạn lập chương trình. Chương trình phải dựa trên phân tích nhu cầu sức khỏe của cộng đồng, các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội, nhiệm vụ cụ thể của NVSKCĐ, các điều kiện làm việc, từ đó liệt kê các kỹ năng, thái độ, hành động mà người NVSKCĐ cần có để lập chương trình; phải xác định rõ phương pháp, thời khóa biểu và lượng giá trước, sau lớp và về lâu dài.

5.3. Phương pháp
Phải được coi trọng như nội dung. Học cách nào sẽ ứng dụng cách đó khi công tác. Phương pháp giáo dục chủ động với thảo luận nhóm, tham quan, sắm vai, giải quyết một vấn đề cụ thể… thường có kết quả tốt. Nên đi từ một vấn đề thực tế cụ thể của địa phương để dẫn dắt vào nội dung, gần gũi và sinh động.

5.4. Học cụ
Tài liệu huấn luyện (nên tự soạn cho phù hợp, ngôn ngữ, hình ảnh, thí dụ… lấy từ thực tế ở địa phương), các phương tiện nghe nhìn… không cần kỹ thuật cao (laptop, projector…). Nên chế tạo các học cụ với phương tiện sẵn có tại chỗ để tránh tính ỷ lại của học viên sau này và giúp họ tự tin hơn khi về công tác.

5.5. Nơi học
Học ngay tại cộng đồng là tốt nhất. Dạy NVSKCĐ tại bệnh viện sẽ thất bại, vì sẽ biến họ thành y tá “dở”. Nhưng có thể tham quan bệnh viện quận huyện để có dịp tiếp xúc các bệnh thường gặp ở cộng đồng.

5.6. Người dạy
Thường không đạt yêu cầu vì người dạy không biết cách dạy, coi NVSKCĐ là NV Y tế! Nếu bác sĩ hay y tá dạy thì cần phải được tập huấn kỹ trước. Một chương trình đào tạo ngắn ngày, nhiều đợt, nâng cao dần, có lợi hơn là học tập trung nhiều ngày. Vừa học vừa hành để rút kinh nghiệm. Đào tạo theo phương pháp giáo dục chủ động sẽ phát huy được tính tự chủ cao của học viên.

Nên có nhiều thầy, có thể là những NVSKCĐ khóa trước, có kinh nghiệm thực tế, nhân viên phát triển cộng đồng, cán bộ y tế và các ngành liên quan khác (tâm lý, xã hội…)

6. Thù lao
Đây là một vấn đề rất quan trọng để có thể duy trì hoạt động của mạng lưới NVSKCĐ. Nguyên tắc chung là tùy hoàn cảnh kinh tế xã hội của cộng đồng. Chính họ sẽ là người trả công cho NVSKCĐ bằng tiền, bằng hiện vật hay cách nào khác một cách xứng đáng mới có thể duy trì được hoạt động bền lâu. Điều không kém quan trọng là họ phải được tôn vinh đúng mực, được địa phương đánh giá trong các buổi sinh hoạt để động viên khuyến khích. (Một miếng giữa làng bằng một sàng trong bếp!)

7. Tương lai nghề nghiệp
Cần quan tâm đến tương lai nghề nghiệp của người NVSKCĐ. Ở Tây Ấn, 62% NVSKCĐ muốn thăng tiến trong ngành y. Tuy nhiên, nghiêng hẳn về y là làm lệch mối quan hệ và không còn hiệu quả nữa vì họ sẽ trở thành một nhân viên y tế mất rồi!

Do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ bỏ cuộc khoảng 20% sau 1-2 năm. Có nơi, như chương trình dinh dưỡng ở Ấn (Kasa Palghar) bỏ cuộc 60% sau 2 năm. Nam giới bỏ cuộc nhiều hơn nữ giới. Lý do: trả công thấp, làm việc nặng, kiếm được việc khác hoặc lập gia đình.

8. Hỗ trợ
Thiếu sự hỗ trợ của hệ thống y tế, NVSKCĐ sẽ không thể hoạt động có hiệu quả.

8.1. Hỗ trợ thuốc men – trang bị
Phát triển mạng lưới, mở rộng độ bao quát để có thể tiếp cận đến từng người dân thì không thể không tăng cường thuốc men và trang bị, đặc biệt ở nông thôn, bà con rất hy vọng ở mạng lưới NVSKCĐ. Cần cấp đủ thuốc thông thường – theo danh mục cho phép NVSKCĐ sử dụng – và phải là thuốc tốt về chất lượng, bổ sung kịp thời. Điều này giúp tăng uy tín của mạng lưới. NVSKCĐ cần biết sử dụng thông thạo thuốc nam và các biện pháp chữa trị không cần thuốc. Ngoài thuốc, cần trang bị ống nhiệt kế, cân trẻ con, biểu đồ tăng trưởng, ORS, và các phương tiện Giáo dục sức khỏe (tranh ảnh, sổ tay, sách lật, bướm…).

8.2. Giám sát
Sinh hoạt hàng tháng với Trạm y tế là cách giám sát tốt nhất, đồng thời nâng cao trình độ, bồi dưỡng ”nghiệp vụ”. Cần chú ý một lần nữa “nghiệp vụ” đây không phải là ”chữa bệnh”. Ở nơi xa xôi cần bố trí một “điểm” hướng trợ, giúp đỡ cho NVSKCĐ khi cần tham khảo, có thể là một NVSKCĐ khóa đàn anh, một nhân viên y tế, một người trong Ban chỉ đạo chương trình sức khỏe. Có sự hỗ trợ này, người NVSKCĐ vững tâm hơn.

Giám sát tốt dễ thành công hơn. Giám sát là nhằm hỗ trợ và giúp đỡ hơn là kiểm tra, thanh tra. Nên có Check-list để đánh giá chính xác NVSKCĐ nên có đại diện trong Ban chỉ đạo chương trình sức khỏe. Tiếng nói của họ phải có trọng lượng như các thành viên khác.

9. Kết luận
Để thực hiện SSSKBĐ, cần thiết phải có mạng lưới NVSKCĐ. Đó là những người được tuyển chọn từ cộng đồng, được huấn luyện để thực hiện một hay nhiều chương trình sức khỏe, có mối quan hệ mật thiết với cộng đồng, và được sự hỗ trợ tích cực của y tế. Cần xác định rõ vai trò “cầu nối”, ”người trung gian”, “người xúc tác” của NVSKCĐ – mà nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục sức khỏe, nâng cao sức khỏe của cá nhân và cộng đồng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Đừng biến NVSKCĐ thành một người y tá “dở” của Trạm y tế hay người “sai vặt” cho y tế. Cần nuôi dưỡng mạng lưới tương xứng với công lao đóng góp của họ. Để có thể duy trì hoạt động, cần có nội dung cụ thể, có hệ thống hỗ trợ và lượng giá. NVSKCĐ là nơi thực hiện lồng ghép tốt nhất cho các Chương trình sức khỏe có mục tiêu. Không nên đào tạo quá nhiều NVSKCĐ mà nên tổ chức làm việc có ê-kíp, có lồng ghép ngay từ đầu. Nhờ vậy đỡ tốn kém hơn.

Nhiệm vụ Trưởng Trạm y tế là nắm rõ chức năng nhiệm vụ của mạng lưới NVSKCĐ để tham gia trong tuyển chọn, huấn luyện, hỗ trợ và giám sát; tổ chức sinh hoạt định kỳ, thường xuyên chăm lo bồi dưỡng để duy trì hoạt động tốt cho mạng lưới NVSKCĐ.

(Chỉnh sửa: 11/2011)
Tài liệu tham khảo (lược)
………………………………………………………………………………………………………………………
Nguồn: BS Đỗ Hông Ngọc
Tài liệu huấn luyện Giáo dục sức khỏe & Nâng cao sức khỏe
Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe TP. HCM ấn hành, 1999,tái bản 2003.
Website: www.dohongngoc.com/web/
Email: dohongngocbs@gmail.com

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Ở nơi xa thầy thuốc

Bình luận

  1. Thanh Thúy viết

    23/11/2011 lúc 8:57 chiều

    Cám ơn Thầy rất nhiều, bài viết có giá trị vô cùng đối với các thành viên của Hội Quán Các Bà Mẹ trong việc triển khai các dự án về GD giới tính, Thai giáo….

    Kính chúc Thầy sức khỏe, bình an và chia sẻ thêm nhiều cẩm nang bổ ích cho những ngừời làm công tác phát triển cộng đồng

    Thanh Thúy

  2. Hiền viết

    27/11/2011 lúc 6:18 chiều

    Cám ơn bác sĩ – Người Thầy truyền lửa, bài viết thật sự rất hữu ích cho nhiều người.

    Kính chúc Thầy và gia đình luôn khỏe mạnh , nhiều niềm vui và hạnh phúc trong việc làm lợi lạc cho cộng đồng từ kinh nghiệm làm việc và cuộc sống chân thành bình dị của mình.

  3. THắm viết

    26/03/2012 lúc 4:28 chiều

    Chào Bs Ngọc, em rất muốn tham khảo về phần văn hóa và sức khỏe mong Bs Ngọc hồi đáp

  4. Bac Si Do Hong Ngoc viết

    29/03/2012 lúc 8:23 sáng

    Em lien lạc với thầy Truong Trong Hoang nhe. Email: truongtronghoang@gmail.com

  5. Thuy Di viết

    16/02/2014 lúc 12:18 chiều

    em chao thay, hien em dang dang lam luan van ve su hai long cua nhan vien suc khoe cong dong ve cong viec. nhung em khong tim thay tai lieu nao viet ve nhan vien suc khoe cong dong ngoai bai viet tren cua thay… thay co nhung bai viet lien quan khong a?

  6. Bac Si Do Hong Ngoc viết

    16/02/2014 lúc 7:14 chiều

    Rõ ràng là em cần giới thiệu một chút về em để tôi biết em là ai? ở đâu? đang học cái gì? tại sao lại làm luận văn về NVSKCĐ?… Nơi em học, làm việc có hệ thông NVSKCĐ không? (để hỏi về “sự hài lòng” của họ?).

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email