Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Lõm bõm: “Du ư Ta-bà”

10/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Lõm Bõm (7)
« Du ư Ta-bà»…

Bồ tát “rong chơi » trong cõi Ta Bà ấy là nhờ có « Du hí thần thông »! Cứ bay vèo vèo coi chỗ nào chúng sanh cần gì, kêu ca gì thì ra tay cứu độ. Các nhà khoa học hiện vẫn loay hoay tìm kiếm coi có thứ gì có vận tốc nhanh hơn vận tốc ánh sáng không, nếu có thì sẽ có những thay đổi lớn, không còn thời gian không gian, không còn hạt còn sóng… Thực ra thứ đó đã có từ lâu. Đó là tâm. Tốc độ tâm. « Tâm hành”. Vô lượng vô biên a tăng tỳ kiếp… Không nắm bắt được. Bất khả đắc. Cho nên làm thế nào để hàng phục, làm thế nào để an trụ tâm vẫn ngàn đời là một câu hỏi lớn.

Nhờ nương theo cái tâm rộng lớn “không ngằn mé” đó mà Bồ tát “du ư” cõi Ta bà. Bất cứ chỗ nào và bất cứ ở đâu cũng có thể xuất hiện một ông Bụt dễ thương: Sao con khóc? Con cần gì ta giúp cho?
Vấn đề ở đây là tại sao “du hí thần thông”? Đã “du” sao còn “hí”? Rong chơi chưa đủ vui sao mà còn cười cợt, đùa giỡn, hí lộng… ? Nhưng hãy cảm thông cho Bồ tát. Ấy chẳng qua thấy nhiều chuyện “nực cười” quá không nín được. Có vị cười ha hả, cười hết ga, có vị cười tủm tỉm, có vị cười âm thầm. Không cười sao được khi lúng túng chẳng biết giúp bên nào giữa hai đội bóng: người đá phạt đền thì xin phò hộ cho đá vô, người giữ gôn thì xin phò hộ cho đá ra. Không cười sao được khi thấy oán oán chồng chất, giết hại lẫn nhau không thương tiếc rồi lập đàn xin xá tội, giải oan; không cười sao được khi thấy người ta nhét tiền vào tay mình để mong mau làm giàu, mau thăng quan tiến chức…! Cười mà thương chứ chẳng phải ghét bỏ, coi thường chi đâu. Cho nên mới có Thường Bất Khinh, mới có Quan Thế Âm…?
Bồ tát vì “bất tận hữu vi, bất trụ vô vi” nên cứ phải bay qua nhảy lại giữa bờ mê bến giác, nhưng nhờ con mắt tuệ đã có thể thong dong mà nhìn rõ tánh tướng nhân quả các thứ… . Từ đó mà có Từ có Bi.
Nhưng để có thể “du hí thần thông” như vậy Bồ tát phải tu tập tinh cần để đạt được những “đàlani”, tức những năng lực đặc biệt: chẳng hạn sao cho nhất thiết chúng sanh hỷ kiến (ai thấy cũng vui)- nhờ trung thực, chân thành – sao cho hiện nhất thiết sắc thân ( để hòa nhập với tất cả mọi người, mọi lúc, mọi nơi) – nhờ khả năng thấu cảm – và sao cho giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn để truyền thông hiệu quả bằng mọi thứ phương tiện, kể cả sự lặng thinh. Dĩ nhiên trên hết phải có sự tôn trọng. Nhờ có những đàlani, những “tam muội” thần thông đó mà Bồ tát mới rong chơi vô ngại trong cõi Ta bà…
Mới làm cho Ta bà thành cõi Tịnh Độ vậy.

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Uncategorized

Lõm bõm: “Độc cư”

10/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 13 Bình luận

Lõm Bõm (6)
Độc cư
Rốt cuộc một mình. Một mình thôi. « Trời cao đất rộng, một mình tôi đi, một mình tôi đi… Đời như vô tận, một mình tôi về, một mình tôi về… với tôi! » (TCS). Phải. Một mình đi. Một mình về. Cao rộng thế nào, vô lượng vô biên đến đâu thì cũng một mình thôi. Lạ, cái con người. Luôn thèm có nhau. Quây quần. Đàn đúm. Rồi kêu ca nào ái biệt ly nào oán tắng hội ! Ai biểu. Sao chẳng « độc cư » đi ?

Cô đơn có vẻ là nỗi khổ lớn nhất của kiếp người. Đặc biệt ở tuổi già. Mà tuổi trẻ cũng vậy thôi. Cái lỗi ở chỗ không biết sống « độc cư ». Ngay cả khi có một mình, con người sống cô độc mà cũng chẳng « độc cư ». Người già quay quắt với dĩ vãng tiếc nhớ buồn thương… Người trẻ chẳng rời được cái laptop, ear phone, di động… . Dù đang trên núi cao hay giữa vực sâu họ cũng bị quấn quít chằng chịt ngày đêm.
Cứ tưởng độc cư là một mình ăn, một mình thở, một mình đi, một mình về… nhưng không. « Độc cư » không phải độc cư nên mới gọi là độc cư !
Một hôm có kẻ đệ tử nổi tiếng sống « độc cư », một mình đi khất thực, một mình về ngồi ăn… Phật kêu bảo, đáng khen, đáng khen, nhưng độc cư không phải vậy, không phải chỉ vậy. Đó không phải độc cư thật. Ở một mình, ăn một mình, đi một mình, ngủ một mình mà đầu óc quẩn quanh biết bao hình bóng, biết bao câu chuyện, nhớ tiếc dĩ vãng, mơ tưởng tương lai thì không thật độc cư ! Dĩ vãng qua rồi. Quấn quít với nó mãi thì gánh nặng đeo mang bao giờ đặt xuống ? Tương lai chưa tới, Que sera sera. Biết ra sao ngày sau. Chuyện ngày mai của ngày mai. What will be will be. Tướng như vậy, tánh như vậy…bổn mạt cứu cánh nó như vậy…
Vậy phải chăng an trú trong hiện tại, sống “hiện sinh” xả láng? Hiện sinh kiểu đó cũng chẳng phải hiện sinh chút nào!
Độc cư không chỉ rời xa dĩ vãng, không đắm đuối tương lai mà hiện tại cũng phải nhìn bằng con mắt khác. Mắt tuệ: vô thường, khổ, không, duyên sinh, vô ngã…
Độc cư và Thiền định không hai. Độc cư thứ thiệt thì nghe ngóng được vận hành của Như Lai trong từng sát na, là sống với Như Lai, sống cùng Như Lai, sống như lai.
Và như vậy, người ta có thể sống “độc cư” bất cứ ở đâu,giữa chợ đời, trong gia đình, dưới gốc cây,nơi rừng thẩm…
Cho nên càng sớm “độc cư” thì càng không cảm thấy cô đơn…
“Đừng theo dấu quá khứ
Hay khát vọng tương lai

Còn hiện tại thì sao? Thì “Dùng tuệ giác soi chiếu”!

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Uncategorized

Lõm bõm: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”

09/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Lõm Bõm (5)
“Không nghĩ thiện
Không nghĩ ác”

“Không nghĩ thiện không nghĩ ác” không phải là không có thiện không có ác. Có thiện có ác quá đi chứ! Nếu không sao bảo “Chư ác mạc tác/ Chư thiện phụng hành” (Chớ làm điều ác/ Hãy làm điều thiện)?

Tưởng tượng đêm hôm đó, một đêm không trăng sao, thầy trò Huệ Năng lén lút ôm bọc y bát rời chùa, len lỏi giữa các rặng lau sậy, ra tận bờ sông… Khi đại chúng biết ông đã được truyền y bát trốn về phương Nam thì có đến vài trăm người rượt đuổi theo để đoạt lại, trong đó có thượng tọa Huệ Minh, vốn trước là một tướng quân, tánh tình thô bạo, dẫn đầu đi trước, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng đặt y bát lên tảng đá rồi núp vào đám sậy nói lớn: “Y bát là vật làm tin, há dùng sức mà đoạt được sao? ” Huệ Minh đến, muốn lấy y bát mà chẳng nhúc nhích, bèn kêu: “Hành giả! Hành giả! Tôi đến vì Pháp, chẳng phải vì Y!”
Huệ Năng nói: “Ông đã vì Pháp mà đến, thì nên dứt bặt trần duyên, chớ sanh một niệm. Tôi sẽ vì ông mà thuyết”. Rồi nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, đang khi ấy cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa Minh?”.
Huệ Minh ngay đó đại ngộ.
Thiệt ra Huệ Minh có định lấy y bát chi đâu. Muốn lấy thì đâu có khó gì với một ông tướng như vậy! Ngày nay còn dễ hơn nữa. Đầy dẫy ra đó. Mua đâu chẳng có. Sư phụ Hoàng Nhẫn cũng đã căn dặn: Sau này dẹp cái vụ truyền y bát hình thức đó đi cho đỡ rầy rà, tranh đoạt, giữa chốn thiền môn. Tâm truyền tâm thôi.
Thương tọa Minh thực lòng khâm phục Huệ Năng từ lâu, đã muốn được học pháp, nghe pháp từ Huệ Năng giờ mới có dịp. Trong lúc rầm rập chân người, la ó vang trời, đèn đuốc sáng choang đó, giữa sự căng thẳng sống chết chỉ mành treo chuông đó, một câu nói “dứt bặt trần duyên/ chớ sanh một niệm” của Huệ Năng đủ sức lay chuyển tận gốc rể con người Huệ Minh. Đó chính là lúc bổn lai diện mục Huệ Minh có cơ hội để xuất hiện vằng vặc giữa trời quang! Huệ Minh chỉ cần nghe một câu là đủ. Cũng như xưa Huệ Năng nghe “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là đủ. Học kinh, kệ của Phật, một câu một chữ qúy biết bao. Thưc ra câu nói “Không nghĩ thiện/ không nghĩ ác” chẳng qua là một… minh họa, làm cho rõ nghĩa thêm mà thôi, và nhất là phù hợp với hoàn cảnh căng thẳng đầy sát khí lúc đó.
“Dứt bặt trần duyên/ Chớ sanh một niệm”. Ấy chính là “Vô niệm”. Con đường phát hiện và hành thâm của Lục tổ Huệ Năng. Từ đó mà thấy biết “gió không động/ phướng không động”. Con đường trực chỉ chân tâm đó vậy.
Tóm lại, “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” chỉ có nghĩa là không hai, là bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm… !
“Đại gia” Duy Ma Cật nhờ đã trang bị pháp môn Bất Nhị này đến tận răng mà thỏng tay vào bất cứ chốn nào dù là thanh lâu, quán nhậu, karaoke ôm hay động xì ke ma túy… Vào đến chốn nào thì chốn đó trở thành đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh.
Còn ta lơ mơ “ngẫu hứng lý qua cầu” dễ lọt… xuống sông!

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học

08/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Hiến Lê
Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học
Vương Trung Hiếu
Ghi chú: Vương Trung Hiếu, bút danh Thoại Sơn, là nhà văn, nhà báo, quê gốc An Giang. Trên vanchuongviet.org, nhân 100 năm Ngày sinh Nguyễn Hiến Lê, (08.01.1912 – 08.01.2012) anh đã cho đăng bài viết này, trích từ Kỷ yếu của Hội cựu học sinh Trường trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, An Giang. Một bài viết ngắn gọn, nhưng rất có ích cho các bạn trẻ. Xin phép được đăng lại nơi đây.
Chân thành cảm ơn anh Thoại Sơn.
Đỗ Hồng Ngọc.

Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng, tên tuổi của ông gắn liền với nhiều tác phẩm, trong đó có quyển sách dịch “Đắc nhân tâm” (vẫn thuộc loại bán chạy nhất hiện nay trên Internet). Người ta biết NHL viết sách, chứ không nhiều người biết ông đã từng là nhà giáo. Tháng 11 năm 1950 NHL nhận lời mời dạy học ở trường Trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, đến năm 1952 ông xin nghỉ, lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, biên dịch sách, sáng tác và viết báo. Trong thời gian ở Long Xuyên, ông dạy môn Pháp văn, Việt văn, Đức dục, về sau thêm cả Hán văn (từ lớp 7 đến lớp 9 ngày nay). Quan điểm dạy học của ông tuy cách đây đã 60 năm, song vẫn còn hữu ích đối với thế hệ giáo viên trẻ ngày nay. Ông cho biết: “Tôi soạn bài kĩ, giảng cho rõ ràng, bắt học sinh làm nhiều bài tập,.. dù con bạn thân mà làm biếng tôi cũng rầy, dù con các người tai mắt trong tỉnh, nếu lười tôi cũng mắng nặng lời”. “Tôi cho rằng trong nghề dạy học, tư cách ông thầy quan trọng nhất: phải đứng đắn, nhất là công bằng; rồi lời giảng phải sáng sủa, có mạch lạc, muốn vậy ăn nói phải lưu loát, và soạn bài phải kĩ”.
“Trong trường học, giáo sư nên khuyến khích những học sinh chịu đọc thêm sách, chứ đừng khen những trẻ giỏi học thuộc lòng. Trong các kỳ phát phần thưởng, đừng mua sách giáo khoa để phát, mà nên lựa những sách giúp học sinh mở mang thêm kiến thức”.
Về giáo dục NHL nêu vài vấn đề mà ngày nay chúng ta cũng cần phải suy nghĩ. Trong quyển Thế hệ ngày mai, NHL cho rằng nền giáo dục trong thời đại của ông “ quá thiên về trí tuệ, xao nhãng thể dục và đức dục”. Từ bậc tiểu học đến đại học, người dạy đã nhồi nhét quá nhiều những môn “để luyện trí”. “Phương pháp dạy ở trường có tính cách quá nhồi sọ”. “Môn gì cũng cần nhớ, nhớ cho thật nhiều, tới môn toán pháp mà cũng không dạy trẻ phân tích, bắt học thuộc cách chứng minh các định lý”. Từ đầu thế kỷ 20, Nhiều giáo sư, học giả Pháp đã phê phán lối học “không tập cho suy nghĩ ấy”. Nhiều nhà doanh nghiệp phàn nằn rằng phần lớn “ những học sinh ở Trung học hay Đại học ra không hiểu chút gì về công việc, không biết kiến thiết, sáng tạo, chỉ huy”.
Một điểm đáng chú ý khác: Vì sao học sinh không thích học? Ông cho rằng học sinh có thể không thích học môn nào đó vì cảm thấy không hợp. Có người thích văn nhưng buộc phải học Toán; có người thích vẽ nhưng buộc phải học Sử. Ngoài ra, “Ta cũng có thể ghét sự học ở trường vì nhiều giáo sư giảng bài như ru ngủ chúng ta, hoặc tới lớp thì bắt ta chép lia lịa từ đầu giờ tới cuối giờ mà không hề giảng cho một chữ, chép tới tay mỏi rời ra, không đưa nổi cây viết, nguệch ngoặc không thành chữ, rồi về nhà phải cố đọc, đoán cho ra để chép lại một lần nữa cho sạch sẽ. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì có những ông giáo, suốt năm mặt lạnh như băng, vẻ quạu quọ, hờm hờm, coi học sinh như kẻ tù tội, phải hành hạ cho đến mực, làm cho học sinh gần tới giờ thì lo lắng, mặt xám xanh, như sắp bị đưa lên đoạn đầu đài. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì kỷ luật, hình phạt của nó, vì những kỳ thi liên miên bất tận..”.
Điều quan trọng nhất trong cách dạy của NHL không chỉ nằm ở chuyên môn, mà còn ở cách hướng dẫn học sinh tự học. Vì phần lớn học sinh thời ấy “không biết cách ghi chép lời giảng của thầy, không biết cách học bài, làm bài, không biết cách học ôn, cách tìm tài liệu, không có một thời dụng biểu ở nhà. Họ không hiểu rằng cách học một bài ám đọc (récitation), khác cách học một bài toán; một bài sử, địa khác một bài sinh ngữ… Họ không có cả một sổ tay ghi những điều cần nhớ để thường coi lại”.
Vâng, tự học là điều cần thiết không chỉ khi ngồi trên ghế nhà trường, mà còn là phương tiện giúp ta đi tới thành công trên đường đời. Đừng nghĩ rằng khi có bằng cấp cao là đã thành công và không cần phải tự học nữa. NHL viết: “Bạn có bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ mà không học thêm thì suốt đời cũng chỉ là một tiến sĩ, một thạc sĩ. Paul Doumer 14 tuổi đã phải thôi học, tự học lấy rồi sau thành Tổng thống nước Pháp. Louis Bertrand xuất thân làm thợ mà lên ngôi Tổng trưởng”. Ở nước ta cũng không thiếu người nhờ tự học mà có danh vọng”. Thí dụ như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Bạch Thái Bưởi và Trương Văn Bền…đã thành công lớn trong nghề nghiệp của mình.
Cách tự học
NHL viết: “trên con đường tự học, tôi chẳng có chút hiểu biết, kinh nghiệm nào cả, phương tiện thật thiếu thốn, tốn công nhiều mà kết quả rất ít. Vì nghĩ vậy mà sau này tôi viết cuốn Tự học để thành công (sau đổi tựa là Tự học, một nhu cầu của thời đại) để hướng dẫn thanh niên tránh những lỗi lầm của tôi”. Ông cho rằng “Tự học cũng là một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gắp trăm du lịch bằng chân”. “Tự học còn là một thú vui rất thanh nhã nó nâng cao tâm hồn ta lên”. Vậy, muốn tự học, trước hết phải thấy nó là một chuyến “du lịch”, là “thú vui” mới có thể kiên trì theo đuổi.
Theo NHL, người mới biết đọc, biết viết; người già cũng có thể tự học được. Quan trọng là có sức khỏe, thời gian và tin vào việc học của mình (có lợi cho bản thân, giúp ích cho người khác). “Nếu học 5-7 lần không thuộc, cũng đừng chán rồi bỏ cuộc. Học nhiều hơn nữa, có ngày sẽ thành công”.
Ông nghĩ rằng cái lợi của tự học là “tự do lựa môn học, lựa thầy học”. “Nếu chưa hiểu rõ một chương, ta có thể bỏ ra hàng tuần hàng tháng để học thêm…Nhờ vậy ta có nhiều thì giờ để suy nghĩ so sánh, tập xét đoán, giữ tư tưởng được tự do. Không ai nhồi sọ ta được, bắt ta phải lặp lại những điều mà ta không tin”. Tuy nhiên, ông cũng thấy cái hại của việc tự học là do “không ai dẫn dắt ta, nên ta không biết học cái gì”. Có người quyết học hết một bộ Bách khoa từ điển nhưng mới học khoảng một tuần thì bỏ ngang vì chán nản, không hiểu nhiều đoạn trong tự điển. “Có kẻ gặp cái gì đọc cái ấy… không tự lượng sức mình, chưa biết những sách đại cương về một môn nào đã đọc ngay những sách quá cao viết cho các nhà chuyên môn”. Đọc qua loa những điều mình thích nên không hiểu tường tận để áp dụng. “Học như vậy phí công vô ích”, do “không có một mục đích nhất định để nhắm, một chương trình hợp lý để theo”.
Ông cho rằng tự học “có mục đích gần và mục đích xa”. Học để có một chỗ làm, có cuộc sống tiện nghi là học với mục đích gần. Học để đủ tư cách làm chủ gia đình, một công dân và phần tử của nhân loại. Học để phát triển đức trí, giúp ít người khác mỗi ngày một nhiều hơn mới là mục đích xa. Nếu là giáo viên toán ta cũng nên đọc về kinh tế, chính trị; nếu là thợ thuyền cũng nên học về triết lý, luật khoa… “Nhà văn phải biết khoa học, vì khoa học giúp ta nhận xét, lý luận, hiểu vũ trụ hơn. Nhà khoa học cũng phải hiểu văn chương vì những áng văn thơ bất hủ nâng cao tâm hồn con người”… “Kẻ nào quá chuyên nghiệp, chỉ đọc những sách về ngành hoạt động của mình thì không khác chi đeo vào hai bên thái dương hai lá che mắt, không khác chi tự giam mình vào một phòng chỉ có mỗi một cửa sổ để thông ra ngoài.”
Những cách tự học
Theo NHL, có hai cách tự học: học có người dạy và tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm (theo ông, cách thứ hai “quan trọng hơn nhiều”).
Tự học (có người chỉ dẫn) là theo một lớp giảng công hay tư, một lớp hàm thụ hoặc nghe diễn thuyết.
+ Lớp giảng: Theo ông, “ở Âu, Mỹ, có rất nhiều trường công hay tư dạy những người lớn muốn học thêm” (từ tiểu học đến đại học). “Lại có những trường dạy một ngành chuyên môn như môn Tổ chức công việc, môn viết văn, làm báo, khoa nói trước công chúng, khoa nội trợ…”.
+ Lớp hàm thụ: học từ xa bằng những phương tiện thông tin đại chúng, “
học những trường này phải trả tiền vì đều là trường tư, hoặc bán công tư”.
+ Nghe diễn thuyết: nghe những diễn giả nói về đề tài mà mình muốn biết thêm.
Tự học không có người chỉ dẫn là tập nhận xét và đọc sách…
+ Nhận xét: NHL viết: “Người tự học nào cũng phải tập nhận xét. Phần đông chúng ta không nhìn bằng mắt mà bằng óc, bằng tim”. Một giáo sư đại học bảo sinh viên tập trung nhìn những ông làm rồi bắt chước làm theo. Ông nhúng một ngón tay vào một ly nước rồi đưa lên miệng nếm. Mỗi sinh viên đều làm như vậy, nhưng lại nhăn mặt vì nhận thấy nước rất hôi thối. Sau khi họ nếm xong, vị giáo sư mỉm cười, bảo: “ Các cậu không nhận thấy ngón tay tôi đưa lên miệng không phải là ngón tay đã nhúng vào nước à”. Vị giáo sư nhúng ngón tay này vào nước nhưng lại nếm ngón tay kia nên không có cảm giác hôi thối, còn sinh viên thì…. Điều này cho thấy “họ đã không nhìn bằng mắt mà bằng óc. Óc họ tưởng tượng ra sao thì họ thấy vậy”. Tóm lại, muốn học hỏi thì ta phải tập nhìn bằng mắt, chứ đừng bằng óc hoặc tim. Trước khi nhận xét, phải có một chương trình: xét những điểm nào? điểm nào trước? điểm nào sau? Thí dụ, muốn nhận xét một cây, bạn phải: quan sát từng bộ phận của nó (từ gốc rễ đến cành lá); cây này mọc ở miền nào, hợp với loại đất nào; mùa nào trổ bông, có trái; cách trồng ra sao; ích lợi thế nào… Lập sẵn chương trình như vậy thì không sợ quên những chi tiết nhiều khi quan trọng. Trong khi nhận xét phải so sánh (như cây sao với cây dầu giống nhau chỗ nào, khác nhau chỗ nào?), phân tích (như xét một bông phải xét: đài, cành, nhụy, sắc hương). “Chịu nhận xét, tập chú ý vào những điều trông thấy thì tài nhận xét sẽ tăng lên. Mỗi ngày ta nên tập nhận xét vài lần… không tốn thì giờ mà chỉ trong vài ba tháng đã thấy nhiều kết quả”.
+ Đọc sách: theo một lớp giảng hoặc một lớp hàm thụ chỉ là biện pháp nhất thời. Muốn tự học suốt đời, thì phải đọc sách, vì thế “có thể nói tự học là đọc sách”. “Khi đọc tôi luôn luôn có một cây viết chì để đánh dấu những chỗ đáng nhớ, hoặc có thể dùng tới sau này; cuốn nào thường phải đọc lại thì tôi ghi những ý quan trọng cùng số trang lên mấy trang trắng”…“sách nào thường dùng tôi để riêng, sắp theo từng loại”.
Học từ dễ đến khó
Muốn học môn gì đó, cần phải tìm đúng sách rồi học từ dễ đến nâng cao dần. Không thể ngay từ đầu học những điều quá khó, vì như thế sẽ không hiểu, một thời gian sẽ chán nản rồi bỏ cuộc. Nhìn chung, những người như thế “không thành công vì không biết cách học”. Ho chưa biết những điều thường thức đã vội đọc ngay những sách cao đẳng. Họ “chưa có một khái niệm gì rõ ràng đích xác về đạo Phật mà đọc ngay kinh Tam Tạng! Tự học mà thiếu phương pháp như vậy thì 100 người có tới 95 người thất bại”.
Cách học ngoại ngữ
Ngoài tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức, bắt buộc phải học vào thời ấy, NHL còn học thêm tiếng Hán và tiếng Anh. Hồi nhỏ ông học chữ Hán cốt để “đọc được gia phả”, “chỉ nhớ mặt chữ, hiểu nghĩa là được rồi”. Sau khi học xong ngành Công chánh, trong thời gian chờ phân công nhiệm sở, ông lại tự học chữ Hán. “Mỗi ngày, buổi chiều tôi lại thư viện Trung Ương đường Trường Thi, mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh…rồi bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và từ ngữ nào tôi đoán là thường dùng mà chưa biết thì tôi chép lại trong một tập vở. Tôi ở thư viện từ 3 đến 5-6 giờ chiều. Tối hôm đó và sáng hôm sau, tôi học hết những trang đã ghi đó; rồi chiều lại ra thư viện chép bài học sau. Mỗi tuần nghỉ một ngày để ôn lại những bài trong tuần. Học ba tháng, được độ ba ngàn từ”. Về sau NHL tự học thêm nữa để có thể viết sách về văn học Trung Quốc. Về tiếng Anh, ông học chủ yếu là hiểu nghĩa từ và văn phạm, học để đọc tài liệu nước ngoài, để viết và dịch sách chứ không chủ trương học để nói lưu loát. Theo ông, “muốn hiểu một ngoại ngữ thì phải dịch ra tiếng Việt”. “Khi dịch, bắt buộc ta phải tra tự điển; câu nào dịch rồi mà ý nghĩa không xuôi, có điểm nào vô lí hoặc mâu thuẫn với một số câu ở trên thì bắt buộc ta phải soát lại xem mình dịch sai ở chỗ nào”.
Viết sách để tự học
Từ 1949 đến 1953, NHL “làm việc rất nhiều, vừa dạy học, vừa học, vừa viết sách, không có thì giờ để hưởng nhàn”. Ông dạy học, tự học môn Tổ chức, tiếng Anh và văn học Trung Hoa. Ngoài ra ông còn ghi danh học một số lớp hàm thụ. Chính nhờ bài học từ những lớp này NHL đã có tài liệu để viết sách (quyển Nghề viết văn, Hương sắc trong vườn văn và nhiều sách Học làm người).
Theo ông, “viết sách là tự ra bài cho mình làm. Học mà không làm bài thì chỉ là mới đọc qua chứ không phải học.” Và ông cho rằng “khi viết nên nhớ mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới”.
Sức làm việc của ông thật đáng nể, theo Wikipedia, “mỗi ngày ông làm việc 13 tiếng đồng hồ (6 tiếng để đọc tài liệu và hơn 6 tiếng để viết). Thời gian biểu này được áp dụng một cách nghiêm ngặt không ai được vi phạm kể cả chính ông, nhờ vậy mà ông đã hoàn thành một khối lượng công việc, tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật đồ sộ”. NHL cho biết: “nhiều người, từ bạn bè đến độc giả bảo tôi sống như một nhà tu khổ hạnh. Tôi không biết các nhà tu khổ hạnh có thấy khổ hay không khi họ nhịn ăn, nhịn uống, nhịn ngủ, … chứ riêng tôi, chẳng tu hành gì cả, không thấy lối sống của tôi với sách vở là khổ”.
Trong lời nói đầu của quyển “Đời viết văn của tôi”, NHL viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Có lẽ, nhờ quan niệm như thế nên NHL để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm đồ sộ, có giá trị cao về học thuật, đó là mảng sách về triết học và lịch sử. Mảng sách về văn học của ông cũng khá phong phú, chủ yếu là văn học Trung Quốc, bên cạnh đó là một số quyển tiểu thuyết dịch từ tiếng Anh và Pháp. Tuy nhiên, mảng sách mà NHL được nhiều người biết đến, đem lại dang tiếng cho ông chính là loại “sách học làm người”. Ông viết và dịch nhiều sách về mảng này, trong đó có một quyển đã làm “thay đổi hẳn cuộc đời của một thanh niên hiếu học nhưng nhà nghèo”, người mà sau này đã trở thành bác sĩ và cũng khá nổi tiếng, đó là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.
Quyển sách ấy có tựa đề là Kim chỉ nam của học sinh, một quyển mà NHL muốn “giúp học sinh biết cách học”. Ông khởi sự viết quyển này vào tháng 2 năm 1951, tức giai đoạn ông còn dạy học ở trường Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên. Sau khi quyển sách ấy được phát hành, nhiều phụ huynh và giáo sư đã hết lời khen ngợi sự hữu ích của nó. Trong tờ Bách Khoa số 20-4-75, Đỗ Hồng Ngọc viết: “Kim chỉ nam đã mở cho tôi chân trời mới, đọc xong, tôi thấy gần gũi với ông (NHL) kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ thống hoá, đặt ra những nguyên tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viễn vông, nhàm chán”.
Dẫu sống ở Sài Gòn nhiều năm, song Nguyễn Hiến Lê vẫn rất nhớ cái nơi ông đã từng dạy học, nơi mà ông đã về sống những năm cuối đời. NHL tâm sự: “ Long Xuyên đúng là quê hương thứ hai của tôi, mà bây giờ tôi quyến luyến với nó hơn quê hương thứ nhất nhiều”.
Vương Trung Hiếu

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi hiện tại

07/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Ghi chú:
Những ngày đầu năm 2012 này, bác sĩ Lê Ngọc Dũng lại chịu khó đánh máy và gởi thêm một bài viết nữa của BS Nguyễn Hưu Phiếm do anh lưu giữ được, trong cuốn Mấy Lời Khuyên Sinh Viên Y Khoa (Trung tâm học liệu BGD, 1972) như “một món quà Tết”, đến với chúng ta.
Tài liệu này đã được viết từ 40 năm trước nhưng vẫn còn rất có giá trị. Mong các bạn dành chút thì giờ để đọc và rút ra cho mình những bài học từ đó.
Một lần nữa, trân trọng cảm ơn Bs Lê Ngọc Dũng.
Đỗ Hồng Ngọc.

TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI BÁC SĨ TRONG THỜI BUỔI HIỆN TẠI
BS Nguyễn Hữu Phiếm
(1910-1977)

Y học cao thượng ở chỗ trách nhiệm
Duhamel

Trách nhiệm của người bác sĩ , nói cho đúng ra, không phải là một vấn đề mới mẻ, bằng cớ là từ trên bốn ngàn năm nay, tại Babylone, vua Hammourabi đã ban hành một đạo luật mang tên ông để thưởng phạt những y sĩ trong khi hành nghề, thưởng tiền bạc nếu khỏi bệnh và chặt tay chân nếu bệnh nhân mang tật hoặc phải thiệt mạng.
Ảnh hưởng của đạo luật Hammourabi đã lan rộng ra khỏi Babylone và trong Cựu Ước kinh ,các triết gia Do Thái đã nói : “Có vay có trả, răng đền răng, mắt trả mắt”.
Tuy nhiên ta phải công nhận là cho mãi cuối thế kỷ thứ 19, quan niệm về trách nhiệm của người bác sĩ vẫn không hề thay đổi . Điều đó xét cho cùng cũng không có gì lạ, bởi y học trên hai ngàn năm , hoàn toàn gần như chỉ chuyên về miêu tả, người bác sỉ ở thế kỷ trước, tuy biết rõ cơ thể học, nhân thể sinh lý học và cách phân chia bệnh ra từng loại, nhưng đến khi chữa bệnh , thì đành phải bó tay, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân mắc bệnh sốt rét cơn (paludisme) thì mới cho uống Quinine (tìm ra năm 1820)
Đừng nói đâu xa , cách đây mới khoảng 30 năm, những tiến bộ của phép trị liệu vẫn tương đối không đáng kể, người bác sĩ có thể định bệnh được một cách chắc chắn, nhưng đến khi chữa thì không chữa nổi.
Nhưng tình thế ngày nay khác hẳn.

Ngày nay, y học đã tiến một bước rất xa, ngoài sức tưởng tượng của con người và hầu như cướp cả quyền tạo hóa, nào mổ tim, thay tim, mổ óc, cắt phổi, ghép thận, ghép mắt….vv
Nào chỉ có thế thôi !Ngày nay y học đã phát minh ra những thứ thuốc có thể thay đổi hoàn toàn tâm tính của con người ta. Ngày nay ai cũng biết nhờ y học mà phụ nữ có thể hạn chế được sinh đẻ.
Tóm lại, thật đúng như lời nhà bác học Jean Rostand đã nói:”Ngày nay khoa học đã khiến chúng ta trở nên những bậc thánh thần trước khi chúng ta xứng đáng làm người”.
Và cũng chính bởi có những tiến bộ quá mau, tới mức phi thường, huyền ảo của khoa học nên vai trò của người thày thuốc xứng với danh từ đó, ở thời đại này, cần được xét lại, nhất là những trách nhiệm của họ, càng ngày càng nhiều, càng ngày càng phức tạp và nặng nề gấp bội trước, vì thuốc càng hiệu lực bao nhiêu lại càng nguy hiểm bấy nhiêu.
********
Trước khi đề cập tới vấn đề trách nhiệm của người bác sĩ , thiết tưởng cũng nên định nghĩa trách nhiệm là gì ?
Thường thường vấn đề trách nhiệm chỉ được nêu ra khi có một biến cố nào đó xảy ra, gây thiệt hại tới tài sản hoặc tính mạng của một hay nhiều người. Khi ấy pháp luật sẽ can thiệp để phân xử và phán quyết có lỗi lầm hay không, có lỗi sẽ bị trừng phạt. Tuy nhiên đối với người thày thuốc ngoài trách nhiệm trước pháp luật ra, còn có trách nhiệm tinh thần, trách nhiệm trước tòa án lương tâm nữa. Loại trách nhiệm này, hàng ngày người thày thuốc phải lãnh trong khi hành nghề, khác hẳn trách nhiệm trước pháp luật.
Như trên vừa nói, ngày nay y học đã có một quyền lực ghê gớm, ngoài sức tưởng tượng của con người. Ngày nay hầu hết các bệnh nhiễm trùng có thể trị được, nhiều bệnh mà ngày xưa kia người bác sĩ phải bó tay, bây giờ khỏi là thường, như bệnh thương hàn, bệnh lao, bệnh phong….
Nhiều chứng suyễn nặng có thể chữa được. Nhờ tiếp máu mà hàng ngày trên chiến trường các thương binh và những người bị ngộ độc, hoặc mắc nhiều bệnh khác được thoát chết. Tuy nhiên ,ta cũng nên biết rằng thuốc càng nhiều, càng công hiệu , nhất là những loại thuốc hóa học , lại càng độc, càng nguy hiểm.
Ngày nay trong khi hành nghề , người thày thuốc bắt buộc phải có những quyết định hoặc hành động mà hậu quả cực kỳ quan trọng. Bất cứ một trụ sinh nào, dù chích, dù uống, cũng có thể gây phản ứng được, nhiều khi thật bất ngờ.Thuốc kháng đông (anticoagulant) có thể làm xuất huyết được. Ấy là chỉ nói tới một vài thứ thuốc mà bệnh nhân thường dùng hàng ngày mà không cần có toa bác sĩ.
Ngay đến những thuốc rất thông thường như Aspirine , nếu dùng quá liều hoặc dùng lâu, cũng có thể làm xuất huyết. Những thuốc để trị chứng đau nhức mà công chúng thường dùng không cần hỏi ý kiến bác sĩ như phenacetine , đã từng làm nhiều người chết vì làm cho thận đau , thuốc pyramidon có thể làm cho máu biến chất.
Nhiều tai nạn lưu thông xảy ra chỉ vì người lái xe đã lạm dụng thuốc an thần. Nhiều lực sĩ đã bỏ mạng vì dùng quá nhiều loại thuốc kích thích, chúng ta hẳn chưa quên vụ sản phụ sanh ra quái thai vì trong khi thai nghén đã dùng thalidomide.
Nhiều bệnh mới đã xuất hiện chỉ tại dùng thuốc bừa bãi, tỉ dụ cortisone đã làm cho loét bao tử, xương cốt tự nhiên gẫy, hoặc làm cho phát điên. Một vài loại sulfamide đã gây ra bệnh ngoài da chết người.
Không riêng gì thuốc trụ sinh mới gây những phản ứng bất ngờ như trên vừa nói mà bất cứ thuốc nào tuy không thuộc loại thuốc độc, dù uống hay chích (chích mạch hay chích thịt ) cũng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng dược. Có người đã chết vì chích sinh tố B1 (Bevitine)
Ấy chính vì hàng ngày người bác sĩ phải hành nghề trong những hoàn cảnh bất trắc như thế, chính vì lúc nào cũng phập phồng lo sợ mỗi khi cho bệnh nhân dùng thuốc và biết rằng thuốc càng có hiệu lực thì lại càng nguy hiểm, chính vì lúc nào cũng cảm thấy trách nhiệm của mình nặng nề nên người bác sĩ phải luôn luôn học hỏi. theo dõi những tiến triển của y khoa, phải có óc phê bình chớ đừng ham mới , chuộng lạ, nhất là phải có nhiều kinh nghiệm, nhiều từng trải, và sau hết, phải thận trọng, đầu óc lúc nào cũng phải nhớ tới câu châm ngôn cổ trong y học: primum non nocere (trước hết đừng làm hại)
********
Người bác sĩ có trách nhiệm từ khi khám bệnh, định bệnh, cho đến lúc kê toa hoặc bắt tay hành động.
Khám bệnh qua loa, khám tắc trách, quên hỏi một chi tiết để định bệnh cho chính xác là phạm lỗi.
Trách nhiệm khi sử dụng thời giờ: cần phân biệt bệnh năng nhẹ, để đi thăm trước hay thăm sau;nếu là bệnh cấp cứu thì tức tốc đi ngay, bất kể thời tiết hoặc đêm hôm, hi sinh cả giấc ngủ, bữa ăn, dù chính mình trong người không được khỏe.
Trách nhiệm khi giải thích cho bệnh nhân , sao cho cặn kẻ, rành mạch, để họ đừng hiểu lầm.
Trách nhiệm khi biên toa, biên cho rõ ràng để người dược sĩ có thể đọc được, nhất là để cho bệnh nhân đừng uống quá liều. Tôi nhớ có lần kê cho một bệnh nhân mỗi ngày uống 6 viên thuốc, và ghi rõ trong toa cách 4 giờ uống một viên. Thế mà thân chủ của tôi đã uống ngay một lúc 6 viên, nhưng may không việc gì. Căn dặn cẩn thận trên giấy tờ mà còn thế, huống hồ là không căn dặn, hoặc viết thoắng không ai đọc nổi.
Người ta thường than phiền về chữ bác sĩ khó đọc, tôi xác nhận điều đó , và cho rằng người thày thuốc nào, khi cho toa mà không biên rõ ràng, không dặn kỹ cách thức dùng thuốc- nhất là loại thuốc độc- nếu lỡ xảy ra tai nạn, thì người thày thuốc đó có lỗi.
Trách nhiệm khi khuyên bệnh nhân nghỉ ngơi, giải trí,hoặc đổi gió , đổi nghề.
Trách nhiệm khi cấp y chứng thư: phải cân nhắc từng chữ , từng câu. Một vài bác sĩ thiếu lương tâm chức nghiệp, đã bị hội đồng quốc gia Y sĩ đoàn khiển trách vì đã cấp y chứng thư mà không hề khám đương sự (như y chứng thư để lấy bằng lái xe tự động-giấy khám sức khỏe) hoặc bị truy tố trước pháp luật vì không thận trọng (cấp giấy cho phép dùng độc dược, ma túy…)
Lại còn trách nhiệm khi hành động nữa. Ngày xưa muốn định bệnh, người bác sĩ chỉ cần hai bàn tay và khối óc, nhưng ngày nay ,bởi có những tiến bộ của khoa học nên có nhiều phương pháp khám nghiệm rất chính xác, nhiều kỹ thuật cực kỳ tinh xảo, với biết bao máy móc phức tạp mà người bác sĩ không thể nào không biết được, và nếu quên không áp dụng kịp thời một phương pháp cần thiết để định bệnh rồi chữa cho thật sớm, tức là phạm lỗi vậy.
Nhưng cũng như thuốc men, không một phương pháp nào là không nguy hiểm đến tính mạng như: nhiếp ảnh động mạch, thông tim, thông ống dẫn tiểu…vv.Ngay đến chích thuốc gì vào tĩnh mạch, cũng có thể làm cho tim ngừng đập.
Ở trong bệnh viện người bác sĩ cũng có bổn phận dạy y tá không những về mặt kỹ thuật mà cón huấn luyện họ trên phương diện luân lý và đạo đức nữa.
Ngần ấy thí dụ cũng đủ cho ta thấy trách nhiệm của người thày thuốc sống ở vào thời đại này nặng nề là dường nào.
Có người sẽ bảo: nếu biết có thể nguy hiểm đến tính mạng, tốt hơn hết là đừng làm gì cả, nhưng “Nếu ai ai cũng nghĩ như vậy thì y học sẽ thụt lùi 50 năm, và hàng trăm thứ bệnh, ngày nay đáng lẽ có thể chữa khỏi, sẽ trở thành những bệnh nan y” (Hamburger)
Thành thử người bác sĩ không những phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm mà còn phải chịu trách nhiệm về những gì mình không làm nữa.
Vẫn hay rằng người bác sĩ không thể chữa được mọi bệnh, hoặc tự mình làm lấy được tất cả các công việc, nhũng họ phải làm những gì cần thiết để tìm cho ra bệnh và đẻ chữa.Và muốn tránh được phần nào những tai nạn bất ngờ, người bác sĩ, như trên vừa nói cần phải cân nhắc, đắn đo mỗi khi cho toa, và nhất là vì có những tiến bộ quá mau của y học nên người bác sĩ phải theo dõi những tiến triển của y học, phải có đủ khả năng chuyên môn để chữa bệnh, và sau hết phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình. Đây là một khía cạnh mới mẻ về trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi hiện tại.
Thật vậy! Cách đây mới khoảng 30 năm , những phương pháp thám chẩn và trị liệu rất thô sơ và ít ỏi, có thể đếm trên đầu ngón tay được và người thày thuốc chỉ cần chịu khó một chút là có thể hiểu biết hết.
Tôi nhớ hồi còn là sinh viên , được đọc cuốn sách của Ch.Fiessinger nhan đề: Trị bệnh bằng 20 thứ thuốc (La therapeutique en 20 medicaments) nhưng từ một phần tư thế kỷ nay, không có năm nào , tháng nào, có khi tuần lễ nào là không thấy xuất hiện một phương pháp định bệnh mới, hoặc một thứ thuốc mới để chữa bệnh. Ngày nay không một người bác sĩ nào có thể nhớ xuể tên các dược phẩm mà hàng ngày các cô trình dược viên đem chào tại phòng mạch, hoặc có thì giờ đọc những quảng cáo thuốc mới sản xuất. Còn nói về những bài báo mỗi tuần đăng trên các tạp chí y học đứng đắn, và những bản trần tình có giá trị do các danh sư viết rồi gửi tới các hội y học, nhiều đến nỗi giá để cả một ngày ngồi đọc nhan đề không thôi, cũng tài nào đọc hết.
Nói về sách y khoa, thời xưa , nghĩa là các đây mới vài chục năm, một cuốn sách có thể dùng được trong một thời gian tương đối khá lâu (năm mười năm là ít) nhưng ngày nay, sách đã đắt thì chớ, nhiều khi chưa đọc hết mà chỉ trong vòng 6 tháng, sách đó đã thành cổ rồi.
Bởi thế người bác sĩ suốt đời phải là một sinh viên hăng say học hỏi, và chính để bổ khuyết những thiếu sót của người bác sĩ nên ngày nay, tại các quốc gia tân tiến, y giới đã tổ chức cho bác sĩ học những lớp gọi là hậu đại học (enseignement post-universitaire) để họ biết những tiến triển của y khoa , dồng thời để đào tạo một số bác sỉ chuyên khoa , không ngoài mục đích phục vụ quần chúng, đem lại cho người ốm một bảo đảm.
Ngày nay , làm thuốc mà chỉ có lương tâm thôi chưa đủ. Có lương tâm mà không có học cũng vô ích. Có lòng nhân đạo, vị tha , bác ái, mà không có đủ khả năng chữa bệnh, cái đó rất nguy hiểm, nhất là khi gặp bệnh nặng. bởi vậy “ Bổn phận đầu tiên của người bác sĩ trong thời buổi này là phải có học thức vững chắc, phải luôn luôn đổi mới” (Jean Bernard). “Giá trị luân lý và đạo đức, theo lời giáo sư jean Gosset phải đi đôi với giá trị chức nghiệp, dốt nát và lừa bịp đều như nhau cả. Bổn phận của người bác sĩ là phải biết đến nơi đến chốn và phải khéo léo về mặt kỹ thuật.”
Vẫn hay rằng bể học mênh mông , không một ai dám tự hào là biết hết, nhưng không biết mà không nhận thấy là mình không biết, đó là điều không thể tha thứ được. Rât tiếc là từ thời Hippocrate tới nay, không có một quy luật nào ghép sự dốt nát của người thày thuốc vào một trong những tội lỗi nặng.
Ngoài những trách nhiệm nói trên ra, người bác sĩ còn phải chịu trách nhiệm khi xét đoán nữa.
Đã là thày thuốc, không ai là không mong cho bệnh nhân của mình chóng khỏi, không ai là không muốn dùng những thứ thuốc mới nhất, để được tiếng là thày thuốc giỏi, nhưng nếu những thứ thuốc kia mới chỉ được báo chí ca tụng (dù là báo y học) mà chưa được các danh sư đứng đắn thí nghiệm và công nhận là không nguy hiểm, lại hiệu nghiệm, thì người bác sĩ phải thận trọng, đắn đo, cân nhắc, không được nhắm mắt cho bệnh nhân dùng, hoặc chiều theo thị hiếu của gia đình họ, để khỏi tiền mất tật mang, và có khi làm cho bệnh nặng thêm lên.
Chúng ta hiện đang sống trong một kỹ nguyên mà kỹ thuật và tốc lực là 2 thiên thần mới nên người thày thuốc khi chữa bệnh thường gặp trở ngại này: dùng thuốc men quá hấp tấp, bừa bãi, có khi táo bạo, những thuốc đó phần lớn chưa được nghiên cứu kỹ càng trên căn bản khoa học, có khi chưa đem ra thí nghiệm (cho súc vật) và vì vậy rất nguy hiểm, dễ gây ra tai nạn .
Vậy bổn phận của người bác sĩ là phãi điều tra kỹ lưỡng để hiểu rõ dược tính của những thứ thuốc mà mình kê cho thân chủ mình, nhất là phải có óc phê bình, phải chọn lọc ,xét đoán.
********
Trên đây là những trách nhiệm cá nhân mà hàng ngày người y sĩ phải lảnh trong khi hành nghề. Tuy nhiên, không phải chỉ có trách nhiệm cá nhân mà thôi. Ở thời đại này , không riêng gì trên lãnh vực y khoa mà trong mọi hoạt động , muốn đạt được kết quả mỹ mãn, cần phải có sự tham gia , đóng góp của nhiều người, tức là phải có một ê kíp để làm việc.
Nói cho đúng ra, đây không phải là vấn đề mới mẻ. Hãy lấy thì dụ một bác sĩ làm việc trong bệnh viện: tuy rằng dưới quyền chỉ huy cũa ông có một số giảng sư, phụ tá, sinh viên nội và ngoại trú, có sự phân công rất rõ rệt, nhưng lỡ khi có tai nạn ( do một sinh viên nội trú gây ra chẳng hạn) thì người bác sĩ trưởng phòng phải chịu trách nhiệm, không những trước lương tâm của mình mà còn trước pháp luật nữa.
Nhưng hồi xưa, người ta nhận thấy trong ê kíp làm việc đó có tôn ti trật tự, và người cầm đầu ê kíp có đủ khả năng chuyên môn, có thể kiểm soát được tất cả công việc của cộng sự viên của mình, vì trước khi lên tới bậc thày người bác sĩ đó đã tốn biết bao công phu học tập rồi. Nhưng ngày nay công việc của một ê kíp trong một phòng giải phẫu chằng hạn thật vô cùng phức tạp. Chung quanh vị bác sĩ trưởng có một số rất đông chuyên viên, nào người chuyên đánh thuốc mê, nào người chuyên về hồi sinh, về sinh vật học, hóa học, bệnh lý cơ thể, tim, quang tuyến..vv Không một người nào kể trên là không cần thiết. Người cầm đầu ê kíp đó không thể nào làm lấy một mình được, không tài nào kiểm soát được công việc của từng người một, mà chỉ biết những nguyên tắc đại cương của mỗi ngành thôi. Thành thử trách nhiệm của người chỉ huy đó phức tạp vô cùng. Vẫn hay rằng trước khi quyết định đã có sự thảo luận kỹ càng giữa ông ta và các cộng sự viên rồi, nhưng dù sao, quyết định tối hậu bao giờ cũng là công việc của một người thôi. Như vậy đủ rõ trách nhiệm của người thày thuốc cầm đầu một ê kíp nặng nề là dường nào.

TRÁCH NHIỆM TẬP THỂ

Khi nói tới trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi này, không thể không đề cập đến vai trò quan trọng của y học xã hội, đã có từ 30 năm nay, nhất là ảnh hưởng của ngành đó tới nền kinh tế quốc dân.
Người bác sĩ thường phân vân khi phải dung hòa quyền lợi cá nhân của thân chủ mình và quyền lơi chung của xã hội. Tỉ dụ: một người vừa khỏi bệnh và cần nghỉ ngơi trong một thời gian để dưỡng sức, nếu người bác sĩ điều trị quá dễ dãi, cho họ nghỉ nhiều tất sẽ thiệt hại cho năng suất cũng như tài chánh của quốc gia. Tại một vài nước, cơ quan An ninh xã hội đã ngiên cứu biện pháp trừng phạt những bác sĩ thuộc vào loại vô trách nhiệm trên.

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

Ngoài trách nhiệm tinh thần, cá nhân và tập thể ra , người bác sĩ còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nữa.
Có trách nhiệm trước lương tâm thôi chưa đủ, pháp luật cần phải bệnh vực quyền lợi của người bệnh , cần đem lại một phần nào cho họ một đảm bảo, ngăn ngừa những hành động cẩu thả, sơ xuất của người bác sĩ nữa. Tuy nhiên hai loại trách nhiệm: tinh thần và pháp lý không giống nhau hẳn.
Trách nhiệm tinh thần như vừa kể trên, hàng ngày , trong khi hành nghề, người thày thuốc luôn phải gánh vác. Trái lại pháp luật chỉ can thiệp khi nào, đối với đệ tam nhân, người bác sĩ phạm lỗi thôi. Nói cho đúng ra , nhiều khi chính vì sợ bị truy tố trước pháp luật mà người bác sĩ phải thận trọng, không được dùng thuốc quá liều, không được bó bột quá chặt, đừng để quên chiếc gạc hoặc kìm, cặp, khi giải phẫu một bệnh nhân v.v… Nhưng nếu lúc nào người thày thuốc, trong khi chữa bệnh, nhất là bệnh nặng, mà tâm trí cứ mãi nghĩ đi nơi khác, lo sợ bị tù tội, phải bồi thường, họ sẽ không dám có sáng kiến nữa, họ không dám thử một phương pháp trị liệu mới trong khi thâm tâm họ, họ biết có thể làm hơn được để cho bệnh nhân mau khỏi. Trái lại nếu họ làm liều, họ có thể bị phạt vạ, vì đối với pháp luật “rủi ro bi coi như khinh tội” (Jean Guitton)
Có một số luật gia đã thông cảm những nỗi khó khăn trên của người thày thuốc và cho phép họ săn sóc bệnh nhân theo những dữ kiện đã thâu lượm được của khoa học (données acquies de la science). Những thế nào là dữ kiện đã thâu lượm được ?
Không nói ai cũng rõ ngày nay y học đã tiến rất xa , và sở dĩ tiến được là nhờ có những bác sĩ đã không theo lề lối cũ , đã dám tiên phong, áp dụng những phương pháp táo bạo mới , nghĩa là không dựa vào những dữ kiện cổ điển. Tỉ dụ: người bác sĩ đầu tiên, khi đóng chiếc đinh đầu tiên lên một chiếc xương gãy, hoặc mổ tim, ghép thận…. họ đâu có dựa vào dữ kiện đã thâu lượm nào ?
Bởi vậy, nhà làm luật đã thay thế câu: dữ kiện đã thâu lượm được bằng câu: dữ kiện hiện hữu của khoa học (donnees actuelles de la science) mập mờ hơn. Tuy nhiên công thức này cũng không làm cho y giới thỏa mản, nên một đề nghị khác –mềm dẻo hơn- đã được đưa ra: người bác sĩ tùy theo từng trường hợp, phải cố gắng hết sức mình săn sóc bệnh nhân.
Ngoài ra để trút bớt trách nhiệm của người bác sĩ , luật pháp khuyên họ nên hỏi ý kiến bệnh nhân (hay gia đình) có khi bắt họ làm cam kết sẽ không khiếu nại hoặc đòi tiền bồi thường nếu lỡ ra, sau khi giải phẫu hoặc dùng một thứ thuốc mới, bệnh nhân có mệnh hệ nào. Nhưng thử hỏi một người không hề có một kiến thức nào về y học, làm sao có thể ví với một người đã từng học thuốc lâu năm lại có nhiều kinh nghiệm , và trút trách nhiệm kiểu đó cho họ là giả dối.
Thành thử người bác sĩ không thể rũ trách nhiệm cho những người không phải là thày thuốc mà phải có can đảm, có khi khổ tâm nhận lãnh TRÁCH NHIỆM về phần mình, phải cố gắng chữa như khi chữa người thân yêu của mình.
Tóm lại; PHẢI COI TRÁCH NHIỆM TINH THẦN NĂNG HƠN TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ.

TINH THẦN TRÁCH NHIỆM

Bởi có những trách nhiệm quá nặng nề như vậy nên người bác sĩ, xứng với danh từ đó, cần được chuẩn bị để lãnh lấy. Không những không sợ, không những không trốn tránh mà còn vui lòng nhận lảnh trách nhiệm của mình, dù biết trước mình sẽ lo âu, phải hi sinh bữa ăn giấc ngủ , và có khi bị tù tội nữa.
Nhưng chính những giờ phút nguy hiểm lại là những giờ phút sung sướng nhất trong đời người thày thuốc (như khi đẻ khó mà cứu được mẹ tròn con vuông).
“Chính nhờ có trách nhiệm mà y học được coi như một nghề cao quý nhất “ (Duhamel). Nhưng tinh thần trách nhiệm không phải người nào cũng sẵn có dễ dàng. Đối với người bác sĩ, tinh thần đó được rèn rèn luyện, hun đúc từ lâu, khi còn là sinh viên y khoa, nhờ được thực tập trong 6, 7 năm liền trong bệnh viện, nhờ sống trong một bầu không khí không sao quên được, vì hàng ngày tiếp xúc với cái đau , cái buồn và …cái chết.
Chính trong thời gian làm nội trú, hoăc trong những đêm trục, gặp khó khăn, hoặc đứng trước một tai nạn bất thình lình xảy ra, mình không trông cậy được vào ai hết, phải tự mình xoay sở lấy, phải có một quyết định gấp, một hành động kịp thời, chính trong những giờ phút đó, người sinh viên mới ý thức được rõ rệt những trách nhiệm của một nghề đầy nguy hiểm, nhiều lụy hơn vinh. Bởi sau mỗi quyết định, mỗi cử chỉ kia, có một tính mạng- tính mạng của một con người- đang bị đe dọa.
Thật không gì vất vả bằng nghề thuốc, nhưng cũng không có sự huấn luyện nào cao đẹp bằng, cao đẹp ở chỗ người bác sĩ luôn luôn tôn trọng và bảo vệ sự sống còn của con người, không phân biệt giai cấp tôn giáo, chủng tộc,v.v… và đối với họ , chỉ có trách nhiệm trước lương tâm mới đáng kể thôi.
Vẫn hay rằng ở vào thời buổi này, ở trong nhiều giới, có những người trốn trách nhiệm, hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm, từ việc làm đến lời nói, có khi không hiểu trách nhiệm là gì cả, nhưng riêng đối với người bác sĩ , việc lảnh trách nhiệm là một lẽ sống của họ, và nếu không có gian nguy, nếu không có trách nhiệm tinh thần cá nhân thì không thể nào có y học được.

KẾT LUẬN

Ngày nay người bác sĩ phải là người có học thức căn bản vững chắc, hiểu rộng, biết nhiều. Khoa học càng tiến bộ, người bác sĩ càng phải được huấn luyện kỹ càng chu đáo.
Không những phải có kiến thức về khoa học, có nhiều kinh nghiệm mà phải là người có văn hóa để biết xét đoán, phê bình , bởi trong y học, không có bệnh mà chỉ có con bệnh, không bệnh nhân nào giống bệnh nhân nào cả.
Ngoài ra, người bác sĩ cũng phải là người có nhân phẩm, đạo đức, có thế mới làm trọn nhiệm vụ cao cả của mình là phục vụ đồng bào, bảo vệ sức khỏe và sinh mạng của quần chúng.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân

Năm này, Dương Cẩm Chương 102 tuổi!

02/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Năm này, Dương Cẩm Chương 102 tuổi!
Đỗ Hồng Ngọc

BS Dương Cẩm Chương chuẩn bị cắt bánh sinh nhật (19/12/2011)


Năm 2012 này, bác sĩ – họa sĩ Dương Cẩm Chương vừa lên… 102 tuổi! Nếu tính tuổi Tây thì ông cũng chỉ mới 101 thôi, còn tuổi Ta thì ông được 102. Tôi nghĩ với ông, nên tính tuổi ta bởi ông thường nói chín tháng mười ngày ở trong bụng mẹ mới là thời kỳ quan trọng nhất của con người. Thật khó tưởng tượng nổi một ông cụ 102 tuổi luôn sảng khoái, cười ha hả, đối đáp linh hoạt như một người tuổi trung niên! Thế mà chỉ trước đó ít lâu ông đã lên một cơn “rối loạn tri giác” nặng, hoàn toàn mất trí nhớ, rơi vào hôn mê sâu, bệnh viện phải cho xuất viện về lo hậu sự. Về đến nhà ông nằm mê man suốt hai tháng trời như thế rồi bỗng nhiên tỉnh lại, quát mọi người sao bày đặt tụng kinh om sòm bộ muốn cho ông chết sớm hả. Quả thật suốt hai tháng mê man đó ông đã phiêu diêu nơi miền … cực lạc, chỉ tiếc ông chẳng còn nhớ gì để kể lại cho chúng ta nghe.

Cách đây vài tuần, ông phone gọi tôi nhắc sắp sinh nhật ông, nhớ đến và phát biểu đôi câu đấy nhé! Tôi nhớ năm ngoái đến dự sinh nhật ông đã hỏi ông cảm thấy thế nào về ngày mừng đại thọ trăm tuổi này, ông cười “thấy già thêm chút nữa”! Năm nay tôi “tranh thủ” thăm ông sớm chớ đợi tới ngày sinh nhật thì đông đúc quá!
Vừa thấy tôi, ông đã từ trên giường lồm cồm ngồi dậy, hất tay người cháu đang định đỡ lưng mình, và “tấn công” ngay:
– Cuốn sách mới của anh có bài viết về tôi mà tôi chưa được đó nhé!
– Dạ, có phải chú muốn nói cuốn Nhớ đến một người không?
– Đúng rồi. Nhưng không sao! Tôi cũng đã có rồi. Một đứa cháu đã mua tặng cho. Anh viết về mọi người mà chẳng “kết luận” cái gì cả! Như ông Trần Văn Khê, anh viết về nhiều thời kỳ của ông mà cũng chẳng có kết luận nào cả? Vì thế mà trong giấy mời anh, tôi gởi theo mấy bức thư…
Thì ra vậy. Tôi đã hơi ngạc nhiên sao trong giấy mời của ông, tôi thấy có kèm thư của Ni sư Trí Hải, GS Trần Văn Khê và ông Cao Bá Ninh… . Thì ra ai nấy viết cho ông đều có “kết luận” rất rõ ràng.
Giáo sư Tần Văn Khê viết:
Thưa Dương Cẩm Chương đại huynh,
Kính nể đại huynh, một nghệ sĩ trong y khoa
Ngưỡng mộ đại huynh trong nghệ thuật hội họa
Khâm phục đại huynh, một nghệ sĩ trong nghệ thuật sống.
(02/01/2006)

Ni sư Trí Hải thì viết:
(…) các nhà báo nói Bác trông như một bá tước, họ nói cũng đúng, nhưng tôi thấy Bác như một nghệ sĩ và một thiền sư, ở tính bình dị hồn nhiên của Bác. Nhờ vậy mà Bác giữ mãi được sức khỏe và tâm hồn trẻ trung (Tuê uyển, 12.10.2000).

Còn ông Cao Bá Ninh viết trong một email gần đây:
Thư gởi một người thật quen
Mercredi 6 avril 2011 18h47
(…) Ông đã vẽ cho đời để đời đẹp hơn. Để có được đời sống vui và thoải mái, tôi rất thích lối sống, cách sống và thái độ thật rõ với ĐỜI của ông…(…).

– Thưa, ông Cao Bá Ninh này chắc cũng lớn tuổi rồi hả chú?
– Đâu! Hãy còn trẻ! Nhỏ hơn tôi đến 8, 9 tuổi! (nghĩa là cũng đã ngoài 90 rồi!). Ông đang ở Chicago.
Tôi tìm cách chuyển đề tài:
– Chú thấy… sống lâu có gì hay hông chú?
– Có chứ. Mình được thấy…
– Thấy cái gì?
Ông ngần ngừ: Thấy nhiều thế hệ…
– Còn cái chết?
– Chết là một giải thoát…
– Sau cái chết là gì?
– Không biết ! Chỉ nhớ một câu hình như của Lão Tử: sống sao cho khi sinh ra mình khóc thì mọi người cười, còn khi chết thì mọi người khóc mà mình cười…
– Mình biết gì đâu mà cười hở chú?
Ông làm thinh. Rồi thủng thẳng:
– Nghĩa là mình đã sống một đời sống trọn vẹn, hữu ích. Thời kỳ nằm trong bụng mẹ rất quan trọng…
– Còn trước hồi nằm trong bụng mẹ ?
– Không biết !
– Làm thế nào để có cuộc sống vui khỏe và… trường thọ như chú ?
– Cần 3 điều: Sức khỏe là một, việc làm là hai và tình yêu là ba.
Rồi ông nhìn tôi: Đây là thứ tình yêu rộng lớn… Nhưng mỗi ngày phải nhớ sám hối đó nhé! Cuộc đời nhiều vui khổ…
– Chú tập luyện, ăn ngủ thế nào ?
– Mỗi ngày tập thể dục đều 20 phút, ăn uống vừa đủ, ngủ nhiều.
– Chú còn vẽ không ?
– Hết vẽ được. Mấy ngón tay này…
Rồi ông đưa mấy ngón tay cho tôi coi…
…………………
Trong buổi họp mặt mừng Sinh nhật ông ở Chez Nous, tôi nói, khi tôi sinh ra thì ông đã là bác sĩ, khi tôi là bác sĩ thì ông đã về hưu… Sau này người ta có thể quên đi một Dương Cẩm Chương bác sĩ nhưng người ta sẽ còn nhớ Dương Cẩm Chương họa sĩ… Ông đã sống một đời sống tròn đầy, lao động và sáng tạo, đem lại niềm vui cho mình, cho đời. Ông sống hồn nhiên và hạnh phúc. Tôi vẫn luôn coi ông là « đại sư phụ » của mình…

……………………………..
Đọc thêm trên www.dohongngoc.com/web/
“Ke lu hanh khong met moi cua duong dai”

Nhà yêu nước Dương Bá Trạc là thân phụ của BS Dương Cẩm Chương

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang

01/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

“Thơm bàn tay nhỏ”…

Đỗ Hồng Ngọc
Không biết sao mỗi lần ra Hà Nội tôi đều muốn đi lang thang ngoài đường phố quanh Hồ Gươm và thực sự mừng rỡ khi nhìn thấy một gánh hàng rong có món cốm vòng xanh thơm ủ kín trên cánh lá sen với mấy quả chuối tiêu vàng rượm… Tất cả như gắn với một dĩ vãng mơ hồ nào đó trong ký ức của một người chỉ biết Hà Nội qua những trang sách cũ. Cái mùi hồ gươm, mùi trời thu, mùi cốm vòng… như quyện lấy nhau khiến cho người xa lạ là tôi bỗng quen thân đến sửng sờ.
Hình như cốm vòng chỉ thực sự là vòng khi nó nằm nhẹ tênh trên chiếc mẹt, trên quang gánh. Nó không còn là cốm vòng nữa khi nó được đóng gói, bao bì công nghiệp, ghi ngày sản xuất, hạn sử dụng đâu đó đàng hoàng… Chấm miếng chuối tiêu lên nắm cốm vòng có mùi sen tỏa nhẹ, rụng rơi lả tả những hạt ngọc xanh thơm cho bầy chím ríu rít… giữa Hồ Gươm chẳng khoái lắm ru?

Ăn hàng rong, thực ra, không phải ăn hàng mà là ăn rong. Cho nên tôi nghĩ dẫu thế nào đi nữa thì hàng rong vẫn sẽ cứ còn mãi, vẫn “cốm sữa vỉa hè thơm bước chân qua…” (TCS)!
Ở Saigon phồn hoa đô hội này cũng vậy. Sáng sáng, cứ đến một góc đường, mua một gói xôi đậu phọng, đậu xanh núp quen thuộc. Khi kêu không lấy dừa nạo, không lấy đường cát thì bà bán xôi lập tức xúc thêm một muỗng xôi đầy để bù ngay cho, với một nụ cười cảm thông… cùng người kiêng đường kiêng béo! Bà đã nuôi hai đứa con vào đại học chỉ nhờ cái thúng xôi núp bên hè phố đó hàng chục năm qua rồi!
Chắc không ai đếm xuể Saigon HàNội và các thành phố lớn nhỏ trong cả nước có bao nhiêu gánh hàng rong, bao nhiêu người sống nhờ hàng rong… Gần đây người nhập cư ngày càng đông, hàng rong không chỉ là thức ăn mà cả cây cảnh, hoa trái các loại… trở nên nhộn nhịp nhếch nhác hơn bao giờ hết, kém hẳn vẻ mỹ quan đô thị!
Tuy vậy, hàng rong vẫn tồn tại vì bao giờ cũng… rẻ, cũng ngon, giá nào cũng có, hợp với túi tiền của mọi người. Nó lại sà đến bên mình, lại đon đả mời mọc, cung cấp một dịch vụ thân thiện, gần gũi, giá rẻ, chiều khách hết lòng… Sợ rằng các nhà kinh doanh tầm cỡ khó mà nghĩ ra cách nào tiếp cận hay hơn! Với hàng rong, người ta được mời chào, được chọn lựa, được thương thảo… thỏa thích, luôn có sự tương tác người bán người mua. Khác xa với cảnh lạnh lùng đăm chiêu láo liêng cảnh giác lúc đẩy xe giữa các hành lang hun hút của siêu thị, để rồi khi sắp hàng trả tiền thì đối diện với vẻ lạnh nhạt, mệt mỏi, cau có của nhân viên đồng phục… không kể ánh mắt lườm lườm ngờ vực của những tay bảo vệ đằng đằng và những camera đặt khắp nơi quan sát từng cử chỉ…
Ngày xưa khi Saigon còn vắng, trưa nào cũng nghe tiếng rao lãnh lót ai bột khoai nước dừa bún tàu đường cát … hôn? Phải nói nghe riết thành ghiền. Trưa nào không nghe cũng cảm thấy bứt rứt không biết hôm nay chị bán chè tàu thưng đó có đau ốm gì chăng? Cũng có người nhờ nghe tiếng rao đó mà đi học kịp lúc! Bây giờ ít còn nghe tiếng rao nào như vậy mà thay vào đó là tiếng rè rè hết pin bánh mì saigon đặc biệt thơm ngon một ngàn một ổ hoặc keo dính chuột… Tiếng rao cũng đã công nghiệp hóa mất rồi!
Người ta đã bàn nhiều cách để dẹp hàng rong. Dẹp không được. Người ta đã bàn nhiều cách để gom hàng rong. Gom không được. Chẳng lẽ ở Bàn Cờ cần mua cục xôi mà phải chạy lên tận Văn Thánh? Cũng đã có người có sáng kiến hay, gom một số hàng rong vào trong một cái quán, bày biện trang hoàng bắt mắt, nhưng giá đắt, chờ lâu và lại xuất hiện cửa quyền… Hàng rong ở đó cũng chỉ là hàng mà hết rong!
Mục đích của việc muốn “quản lý” hàng rong là vấn đề mỹ quan đô thị và an toàn vệ sinh thực phẩm. Quả thật hàng rong ngày càng nhếch nhác trong một đô thị ngày càng chật chội. Hàng rong la liệt trước cổng trường, cơ quan, xí nghiệp… thường không đảm bảo vệ sinh. Làm cách nào đây? Cũng đã thử mở vài lớp tập huấn về an toàn vệ sinh thực phẩm. Chẳng mấy người học. Cho kiểm tra tận nhà? Người đâu cho xuể? Kêu gọi tự giác? Còn lâu!
Vậy làm sao? Chỉ còn có cách chính người mua chủ động “đòi hỏi” ở người bán, buộc họ phải “thay đổi hành vi”. Khách hàng là “Thượng đế” mà! Một khi thượng đế đòi người bán phải mang găng tay, phải che khẩu trang, phải vệ sinh các vật dụng mới chịu mua thì… người bán đành chiều, nếu không muốn bị ế! Phụ huynh chỉ mua cho con em mình những món ăn hợp vệ sinh, người bán biết giữ vệ sinh. Chỉ cần “Ăn chín uống sôi” là đủ để phòng ngừa nhiều dịch bệnh, kể cả dịch tả. Dần dần các hàng rong nào không quan tâm “an toàn vệ sinh thực phẩm” sẽ bị ế dài dài và buộc phải thay đổi để tồn tại. Chỗ nào ngon, rẻ, tử tế và vệ sinh sẽ tự nhiên đông khách.
Ý thức an toàn vệ sinh thực phẩm hiện nay có vẻ đã dần khá lên. Bắt đầu thấy người bán hàng rong có đậy đệm, có mang găng, có muỗng vá múc riêng… khác với ngày xưa vừa bốc thức ăn vừa quẹt quẹt vào áo vừa thối tiền…
Lại nhớ “Mùa cốm xanh về/ thơm bàn tay nhỏ/ cốm sữa vỉa hè/ thơm bước chân qua…”.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

“NNN”

23/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Từ trái sang: DS Hồ thị Tường Vân, GS Trần Văn Khê, Lâm Duy Anh Kiệt, Đỗ Hồng Ngọc


Một hôm tôi nhận được một cú phone mời đi ăn trưa cùng với Chú Trần Văn Khê và Cô Tường Vân. Tưởng ai, hóa ra là Lâm Duy Anh Kiệt, con thầy Lâm Tô Bông và cô Hồ thị Tiểu Sính, cô giáo tiểu học của tôi hồi nhỏ ở Phan Thiết. Cô Tiểu Sính không chỉ là cô giáo , cô còn là một người ơn của tôi vì đã cho tôi học miễn phí ở ngôi trường Tiểu học của cô thời đó bên bờ sông Cà Ty (Mường Mán). Cô là con của Cụ Hồ Tá Bang, nhà ở kế bên trường Dục Thanh bây giờ. Khi tôi vào đệ thất Phan Bội Châu (1954) thì Anh Kiệt mới sinh nên tôi không được biết em. Thế nhưng, nghe em nhắc đến mẹ là Cô Tiểu Sính thì tôi đã vô cùng cảm động, nhớ buổi mai hôm đó, cậu Ngu Í của tôi đã dẫn tôi từ chùa HN đến gởi gấm cho cô- bạn thân của cậu- để tôi được đi học như bao trẻ em khác. Anh Kiệt đi Pháp từ nhỏ, rồi sang Canada, bây giờ ở Hồng Kông. Thỉnh thoảng em về thăm người dì ruột là Dì Sáu, dược sĩ Hồ thị Tường Vân và người bạn của mẹ là GS Trần Văn Khê.

Trong buổi ăn trưa bên bờ sông Saigon hôm đó, Kiệt kể một câu chuyện thú vị: em thường thấy mẹ đeo một tấm “lắc” có khắc 3 chữ “NNN” trên cổ tay mà không hiểu ý nghĩa. Người lạ thì tưởng là tên họ gì đó của mẹ. Sau này thì Kiệt đã hiểu rõ: Thì ra “dân” Phan Thiết không biết sao thường hay “ăn to nói lớn” nên khi cô Tiểu Sính sang sống ở Pháp, cái tật “nói lớn” đó không bỏ được. Thầy Lâm Tô Bông bèn làm cho cô một tấm “lắc” bằng vàng tây, khắc ba chữ NNN để nhắc nhở cô: “Nói Nho Nhỏ”! Khi cô mất, không biết các con cô có còn ai giữ để kỷ niệm không. Quả thật chỉ có thầy Lâm Tô Bông, vốn là trưởng hướng đạo mới nghĩ ra cách nhắc nhở vợ mình thú vị như thế, và chỉ có cô Tiểu Sính mới chịu mang cái tấm lắc với 3 chữ “NNN” như thế. Tôi nói với Kiệt, có lẽ dân Phan Thiết mình từ xưa sở dĩ thường nói lớn tiếng thành thói quen là do sống ở vùng biển, quen nói giữa “sóng to gió lớn” đó thôi. Thế nên nhiều khi nghe người ta nói chuyện tưởng như gây gổ mà thật ra là rất bình thường. Hôm nào về Phan Thiết để ý thử xem nhé.
Tôi cũng Phan Thiết nên có khi phải cần nhắc mình với 3 chữ “NNN” như vậy!

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi các bác sĩ trẻ

15/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 17 Bình luận

Vài dòng gởi đến các bác sĩ trẻ khóa 2005-2011,

Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM.

Ngày 9/12/2011 vừa qua, thầy biết các em đã trải qua biết bao cảm xúc, biết bao lo lắng và hy vọng trong buổi Lễ Tốt nghiệp truyền thống được tổ chức trang trọng hằng năm dưới mái trường này. Thầy rất tiếc đã bận việc không đến dự được như mọi năm để cùng chia sẻ với các em. Thầy cũng cảm ơn các em về buổi họp mặt thân mật giữa các thầy trò buổi tối đó tại Đông Hồ. Vậy là kể từ hôm nay, các em đã trở thành bác sĩ, người thầy thuốc, đồng nghiệp của các thầy cô, là người mà gia đình và xã hội đang kỳ vọng góp tay góp sức cứu giúp bệnh nhân, nâng cao sức khỏe cộng đồng.


Ra trường, ấy là lúc lòng lâng lâng bao cảm xúc, niềm hãnh diện, mối lo toan, nỗi ngại ngần… Từ nay rời xa mái trường thân yêu, xa thầy xa bạn, dấn bước vào đời với bao nhiêu nhọc nhằn khổ vui thách thức đợi chờ, ở một thời buổi mà ngành y có thể nói đầy sóng gió, “dầu sôi lửa bỏng”, khác xa với thời của thầy, hơn 40 năm về trước. Thầy thấy thương và qúy các em biết bao!

Cho nên dịp này, thầy muốn gởi đến các em một món quà nho nhỏ. Đó là bài nói chuyện của BS Nguyễn Hữu Phiếm, một người đàn anh, một bậc thầy của thầy đã trò chuyện cùng sinh viên y khoa Saigon ngày 29/6/1968. Bài nói chuyện sau đó được in thành sách do Trung tâm Học liệu BGD xuất bản năm 1972. BS Nguyễn Hữu Phiếm sinh năm 1910, là một bác sĩ nổi tiếng ở Saigon trước đây, bạn của nhà văn Nhất Linh (Tự lực văn đoàn), của học giả Nguyễn Hiến Lê… Ông nguyên là giảng viên môn Nghĩa vụ luận y khoa (Déontologie médicale) tại Đại học Y khoa Huế. Ông mất năm 1977 tại Paris. Thầy muốn gởi nguyên văn bài nói chuyện này đến các em dù giọng văn và từ ngữ, nội dung đôi chỗ xưa cũ, nhưng tình người, tính nhân bản của y khoa vẫn dạt dào.

Xin chân thành cảm ơn bác sĩ Lê Ngọc Dũng người đã sưu tầm và phổ biến bài này trên Ykhoanet.com gần đây.

Hy vọng món quà nhỏ này làm các em vui, và học được đôi điều từ người đi trước. Vậy cũng đủ rồi cho truyền thống y khoa chúng ta phải không?

Thân mến,

Thầy Đỗ Hồng Ngọc.
xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Đọc sách

“Đối thoại với Lê Hoàng”

06/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Trao đổi về vấn đề Giáo Dục Giới Tính
Ghi chú: Gởi bạn đường link này để có thể theo dõi buổi “Đối thoại với Lê Hoàng” về Giáo Dục Giới Tính của mình mà bạn đã không kịp xem trên VTV1 Chủ nhật 4/12 vừa qua.
Chương trình hoàn toàn không có kịch bản trước.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Tuổi mới lớn

Với Ngô Nguyên Nghiễm

03/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Phút tâm giao với nhà thơ-
bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC

Ngô Nguyên Nghiễm
Ghi chú: Ngô Nguyên Nghiễm, sinh 1944 tại Châu Đốc, tốt nghiệp Đại học Dược khoa Saigon nhưng người ta ít biết đến anh như một dược sĩ mà biết đến anh như một nhà thơ, nhà văn nhiều hơn. Anh đã có 12 tác phẩm văn học được xuất bản trước và sau 75, với hơn 40 tuyển tập thơ văn in chung, và đã từng là người chủ trương tạp chí Khai Phá. Một hôm anh phone tôi, nói muốn gặp gấp để làm một cuộc phòng vấn “bỏ túi” cho bộ sách mới của anh: Người Đồng Hành Quanh Tôi, Tác giả Tác phẩm. Tôi không có cách nào khác hơn là hẹn anh “bạn đồng nghiệp” quý mến của mình ra một quán cà phê góc phố… cùng với Trần Yên Thảo, giữa cái nắng Saigon…

Ngô Nguyên Nghiễm (NNN): Nhà thơ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc, đã góp mặt với nền văn học nghệ thuật thập niên 60 – 70 thế kỷ qua. Lúc đó, tác phẩm Thơ đầu tay được ấn hành là tập Tình Người (1967), và sau đó Thơ Đỗ Nghê (1973) là một dấu ấn đặc biệt. Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt y học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc? Ý kiến về cái thực của đời (Y học), và cái huyễn của Thi ca?

Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN): Không phải “rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê” đâu. Chỉ là “rửa tay gác kiếm” tạm thời thôi! Thời đó có quá nhiều “Ông Đồ xứ Nghệ”, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi. Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao? Ai bảo y khoa là cái thực và thi ca là cái huyễn? Y khoa vừa là khoa học vừa là nghệ thuật! Thuốc “giả” vẫn chữa được nhiều thứ bệnh thật đó chứ! Còn thi ca? Đọc được một bài thơ hay ta chẳng phải đã “sảng khoái” còn hơn ngàn thang thuốc bổ ư?

NNN: Hình như tản văn viết về y học dưới bút pháp Đỗ Hồng Ngọc lại là những tác phẩm văn chương tuyệt diệu. Anh có xem cả hai như một khối duy nhất? Vì sao?

ĐHN: Hình như trong tôi có sự lẫn lộn nào đó. Tôi không hề nghĩ rằng lúc này ta đang làm thơ và lúc này ta đang viết về y học. Thân và tâm đâu có tách rời, sắc thọ tưởng hành thức vẫn là một, ngũ uẩn vẫn “giai Không” mà! Viết, chỉ biết viết. Khi viết một bài về y học, thì hình như tôi đang làm thơ và khi viết một bài thơ thì hình như tôi đang làm… y học! Tôi không biết cách nào phân biệt rạch ròi hai lãnh vực nầy. Tại cái tạng nó vậy. Người đọc thơ tôi bảo “đời thường” quá, không có gì bay bỗng tuyệt vời cả, ngưới đọc tạp văn lại bảo như thơ… Thôi thì, nó sao kệ nó. “Phân biệt trí” đã làm ta khổ lâu rồi!

NNN: Sự hiện thực được bày tỏ trong tác phẩm thi ca mới nhất của Đỗ Hồng Ngọc, là Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác, càng đọc càng làm rúng động lòng người. Anh có thể tâm sự phút giây về những cảm xúc được ghi lại trong loạt thơ đầy nhân bản này?

ĐHN: Bạn vừa dùng một cụm từ lạ: “loạt thơ đầy nhân bản”. Chẳng lẽ có những loạt thơ không đầy nhân bản hay sao? Tôi nghĩ thơ, bản chất đã là nhân bản, dù được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác, ở thời đại này hay thời đại khác. “Người ta đẻ ra mà tỉnh, ấy là tính Giời cho nguyên như thế, cảm ở vật ngoài mà động thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn thời phải có nghĩ, đã có nghĩ thời phải có nói, đã có nói thời những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu cung bực, như không thôi đi được. Ấy tại thế mà sinh ra có thơ!”. Chu Hy đã viết như thế ngàn năm trước khi đề tựa cho tập Kinh Thi, khi có người hỏi ông: Thơ tại sao mà làm ra? (Tản Đà địch). “Như không thôi đi được”, bạn thấy không? Những người làm thơ… trên cõi nhân gian đều vậy đó, “như không thôi đi được”. Vậy nên lại có tập “Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác”…!

NNN: Thỉnh thoảng đọc các bài viết về Phật pháp của Đỗ Hồng Ngọc trên các tạp chí Phật giáo. Và tôi còn chiêm nghiệm về số vốn cao thâm của anh ở những ý kiến về Phật học. Tất cả tư tưởng trên có ảnh hưởng sâu sắc vào những sáng tác hơn 30 năm nay? Nếu phải, thì hé mở chút duyên ngộ mà nhà thơ, nhà văn hóa Đỗ Hồng Ngọc có được?

ĐHN: Hồi nhỏ tôi sống mấy năm trong một ngôi chùa ở Phan Thiết với người cô vì sớm mồ côi cha. Cô bị tai nạn xe lửa, không đi lại được nhưng rất mê sách. Tôi có nhiệm vụ đi mướn sách cho cô đọc. Mặc dù bị cấm con nít không được đọc, tôi đã ngốn hết… toàn bộ sách trong tiệm cho thuê sách đó. Lớn, đi học ở Saigon, dành tiền mua sách, mỗi sáng chỉ ăn một cục xôi. Sách đầy nhà. Tôi nhớ Tôn Hành Giả với 72 phép thần thông và cân đẩu vân tuyệt vời vậy mà cũng không nhảy qua khỏi bàn tay Phật, đành “tè” bậy dưới ngón tay. Thế nhưng, mãi đến năm 1997, sau cơn bệnh thập tử nhất sanh, tôi mới lại tìm đến với Tâm kinh, Kim cang… một cách khác. Học cách khác, hành cách khác. Cho nên như bạn thấy đó, những bài viết có chút hơi hướm, mà tôi nghĩ mình đang lõm bõm học từng chút, từng chút… rồi chia sẻ với bạn bè gần xa.

NNN: Tác phẩm Đỗ Hồng Ngọc nghiêm túc, hình như anh có một phương pháp và lộ trình sắp đặt cho hướng khai phá trong văn chương, dù đó là Nghệ thuật hay Y học. Nếu có dự trù nào cho tương lai, đề nghị hé mở những đóng góp quý giá này?

ĐHN: Tại cái tạng nó vậy. Tôi nghĩ khó có ai sắp đặt một lộ trình, một phương pháp… trong cõi văn chương! Tại cái tạng thôi. Có người nói tôi nghiêm túc lại có người nói tôi hài hước, dí dỏm; có người bảo tôi sơ sài quá, có người lại bảo thâm thúy… Vậy thì không phải “lỗi” ở người viết mà tại người đọc. Người đọc cũng “đồng tác giả” mà! Bạn thấy không, “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ”!
Còn “dự trù” gì đó ư? Sau Tâm kinh, Kim cang, tôi đang “nghiền ngẫm” kinh Pháp Hoa, và giật mình thấy nó đã được gói gọn trong bốn câu ca dao mà người Việt mình ai cũng thuộc: “Trong đầm gì đẹp bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh/ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”…

NNN: Cảm ơn Đỗ Hồng Ngọc, chúc thân tâm an lạc.
ĐHN: Cảm ơn bạn, Ngô Nguyên Nghiễm.

NGÔ NGUYÊN NGHIỄM thực hiện.
Mùa thu 2010.
……………………………………………
(*) Người đồng hành quanh tôi, Tác giả tác phẩm, tập II, NXB Thanh Niên, 12/2010

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Đọc sách

Thiền và Quán

29/11/2011 By support2 1 Bình luận

Kinh Kim Cang bắt đầu bằng một chuyện rất đỗi đời thường là “ăn ngủ, đi đứng nằm ngồi, hít thở…” và kết thúc cũng bằng một chuyện rất đỗi đời thường là nhìn mọi sự như “mộng, huyễn, bào ảnh, sấm chớp…”. Thì ra những cái sờ sờ đó, những cái tầm thường đó mới là sự sống, mới là cụôc sống. Những “thực tại hiện tiền” đó mới là kiếp người. Phật từ chối nói về những chuyện siêu hình cao xa, những chuyện thần thông quái lạ. Hãy cứu lấy người đang bị trúng tên. Rút mũi tên ra, làm sạch vết thương, khử độc, băng bó. . cái đã! Hạnh phúc không ở đâu xa, không từ trên trời rơi xuống, cũng không phải do ai ban phát. Hạnh phúc ở trong ta và ở quanh ta. Hạnh phúc hay khổ đau, thiên đàng hay địa ngục là những cái do ta tự… tạo ra cho mình, nên cũng phải do ta tự xoay chuyển lấy. “Phiền não vô tận” kia thực ra cũng chính là bồ đề vô lượng nọ!

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Lõm bõm học Phật

Thơ Đỗ Nghê

23/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi…

Đúng là năm 1973 tôi có in tập Thơ Đỗ Nghê, Ý thức xuất bản, dưới dạng ronéo để tặng bạn bè, anh em. Một số bài trong đó đã đươc tuyển lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa (Nxb TRẺ 1993) và tập Thư cho bé sơ sinh & Những bài thơ khác (Nxb Văn Nghệ 2010). Nhưng cũng có một ít bài tạm gác…!
Gởi bạn bài viết của Thu Thủy trên báo Chính Luận ngày 20.11.1974 về Thơ Đỗ Nghê, đọc vui giữa thu xa.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc

Thơ Đỗ Nghêxem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Nhân viên sức khỏe cộng đồng

16/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư đi… Tin lại

Nhân viên sức khỏe cộng đồng (Community Health Worker)
dungttytthanhthuy@gmail.com
Wed, Oct 26, 2011 at 11:31 AM
Kính gửi thầy Đỗ Hồng Ngọc.
Thưa thầy em là Nguyễn Kim Ddung, bác sĩ đa khoa hiện đang làm việc tại Trung tâm y tế huyện Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ, em đã được xem nhiều bài viết cũng như các bài báo cáo của thầy trên trang Web, nhưng có một nội dung mà em rất quan tâm đó là các thông tin về đôi ngũ nhân viên Y tế thôn bản ở trên thế giới và trong nước mà em chưa tìm thấy có ở trong tài liệu nào.
Thưa thầy, hôm nay em mạo muội gửi thư này tới thầy, trước hết em kính mong thầy thông cảm và thứ lỗi, sau là em xin thầy nếu có thể được, thầy giúp em cho em xin các thông tin ấy có được không ạ? Em cảm ơn thầy và kính chúc thầy luôn mạnh khoẻ.
Bs dung nguyen kim

Ghi chú: Nhân bức thư của một bạn đồng nghiệp trẻ không quen biết từ một tỉnh miền Bắc xa xôi đặt vấn đề Nhân viên Y tế Thôn bản, tôi nghĩ rằng vấn đề em nêu cũng có ích phần nào cho một số các bạn trẻ khác, nên xin có mấy lời “phi lộ“:
Từ các năm 1984-1986, tôi đã triển khai Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em (Primary Child Care) tại Phường 13, Quận 6, Tp. Hồ Chí Minh (nay là Phường 10), lúc đó còn là một vùng ven, nông thôn, rất nhiều khó khăn sau chiến tranh. Chương trình được sự hỗ trợ của Bệnh viện Nhi Đồng (nay là BV Nhi đồng 1 Tp.HCM) đã mang lại nhiều kết quả rất đáng khích lệ, được coi như một mô hình Săn sóc sức khỏe ban đầu “ bài bản“, gắn sức khỏe với phát triển, tạo được sự Tham gia cộng đồng (community involvement) và Phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation) tốt.

Hiệp Phước (1986)

Hạt nhân chính của sự thành công này là lớp huấn luyện Nhân viên sức khỏe cộng đồng (community health workers), thực hiện ngay tại cơ sở, trong một ngôi chùa gần Trạm y tế, gồm 24 học viên được tuyển chọn kỹ và huấn luyện theo phương pháp giáo dục chủ động. Họ đã hoạt động rất tích cực và vẫn tiếp tục gắn bó dài lâu sau khi chương trình kết thúc. Các dì Khiếm, chị Sương… và các NVSKCĐ vẫn còn tiếp tục hoạt động nhiều năm sau. Trong nhóm, vế sau có người trở thành Nhân viên Chữ thập đỏ, có người trở thành bác sĩ.. Trưởng trạm Y tế lúc đó là Y sĩ Trần Văn Thình, phụ trách mạng lưới và các thầy cô, học sinh trường cấp 2 Phú Định đã tham gia nhiệt tình. Phường 13 Quận 6 đã trở thành nơi huấn luyện cho sinh viên y khoa. Chính tại đây, tôi đã hướng dẫn 4 luận văn tốt nghiệp Sơ bộ chuyên khoa Nhi của trường Đại học Y dược Tp.HCM cho các bác sĩ Nguyễn Thị Xuyến, Lê Đình Sang, Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Quốc Việt.

Hiệp Phước (1986)

Từ năm 1986, tôi tiếp tục tham gia Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu toàn diện (chứ không chỉ cho trẻ em) tại xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè Tp.HCM. Đây là một chương trình rộng lớn, có tính thí điểm để rút kinh nghiệm mở rộng cho toàn thành phố, do BS Dương Quang Trung, lúc đó là Giám đốc Sở Y tế chủ trì. Ban thư ký 5 người gồm Đỗ Hồng Ngọc (trưởng ban), Lê Trường Giang (thường trực), Nguyễn Thanh Nguyên, Dương Đình Công, Nguyễn Ngọc Chiếu. Tại đây, nguyên lý sức khỏe gắn với phát triển được thực hiện rõ ràng hơn cả. Chương trình không chỉ chăm sóc sức khỏe, chống dịch bệnh (sốt rét/ suy dinh dưỡng/ dân số kế hoạch…), nâng cao dân trí, giáo dục sức khỏe, mà còn xây dựng cầu liên ấp, đường sá, cung cấp nước sạch và điện nông thôn…

Chương trình Hiệp Phước (1986-1988) đã trở thành mô hình, không chỉ cho TP HCM mà còn cho một số tỉnh bạn phía Nam. Sau đó mở rộng qua xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh và dần dần lan ra các điểm khác, nội ngoại thành Tp. HCM. Tại Hiệp Phước, Tân Nhật… cũng tổ chức tốt hệ thống NVSKCĐ, chính nhờ họ, là một “cầu nối“ gắn kết Y tế với cộng đồng và gắn kết “sức khỏe“ với “phát triển“.

Huấn luyện Nhân viên Sức Khỏe Cộng đồng tại Tân Nhựt (1987)

Nhân viên Y tế Thôn bản nếu được thực hiện trên tinh thần như NVSKCĐ sẽ rất có hiệu quả cho các vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Hai nguyên tắc chủ chốt: Họ phải thực sự là “cầu nối“ giữa y tế và cộng đồng, đồng thời “sức khỏe“ phải gắn với “phát triển“ của địa phương thì mới thành công. Cách chọn người, cách huấn luyện và đãi ngộ sẽ rất quan trọng.

Chúc các bạn thành công,
Đỗ Hồng Ngọc.
(16/11/2011)

NHÂN VIÊN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
BS. Đỗ Hồng Ngọc
1. Sự cần thiết
Bằng cách nào có thể mở rộng được mạng lưới săn sóc sức khỏe đến tận nơi người dân sống và lao động, tiếp cận đến từng cá nhân, gia đình, từng cộng đồng để đạt mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người” trong Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu? Bằng cách nào tạo được sự tham gia chủ động và tích cực của cộng đồng để họ tự trách nhiệm, tự giải quyết những vấn đề sức khỏe và phát triển của chính họ?
Để giải quyết các yêu cầu đặt ra là mở rộng độ bao quát, tạo nên sự tham gia cộng đồng, sự phối hợp liên ngành, cần có một “cầu nối” có vai trò xúc tác, môi giới, trung gian đó là Nhân viên Sức khỏe Cộng đồng (NVSKCĐ).

2. Nhân viên sức khỏe cộng đồng
“Để triển khai SSSKBĐ, cần có NVSKCĐ. Đó là những người sống tại cộng đồng, được huấn luyện và làm việc cùng với các nhân viên y tế khác và các nhân viên thuộc chương trình phát triển của địa phương trong một ê kíp. NVSKCĐ là nơi tiếp xúc đầu tiên giữa cá nhân và hệ thống y tế. Tùy theo nhu cầu và phương tiện của từng nơi, mỗi cộng đồng có thể có các loại NVSKCĐ khác nhau. Thường đó là những người sống tại cộng đồng, được cộng đồng chọn lựa, và làm việc ngay tại cộng đồng đó. Ở một số nước, NVSKCĐ là những người tình nguyện, làm việc toàn thời gian hay bán thời gian, được cộng đồng hay cơ quan y tế trả công bằng tiền mặt hay hiện vật” (Glossary of Terms, WHO, 1981)

NVSKCĐ là chìa khóa để thực hiện thành công SSSKBĐ. Tại nhiều nước, có những cách tổ chức mạng lưới này khác nhau tùy yêu cầu của mỗi chương trình sức khỏe, không có nơi nào hoàn toàn giống nơi nào, nhưng có một số kinh nghiệm bước đầu quý báu và một số nguyên tắc chung cần nắm chắc.

NVSKCĐ không phải là nhân viên y tế mà là “cầu nối” giữa cộng đồng với y tế, có vai trò trung gian, môi giới, xúc tác nhằm tạo chuyển biến, thay đổi có lợi cho sức khỏe và sự phát triển chung của cộng đồng.

Là cầu nối, NVSKCĐ:
– Giúp cộng đồng xác định các nhu cầu, những vấn đề sức khỏe ưu tiên, đối tượng nguy cơ; đồng thời tác động tạo tham gia, đưa cộng đồng tiếp cận với dịch vụ y tế;
– Giúp y tế lập kế hoạch quản lý có hiệu quả và đưa các dịch vụ săn sóc sức khỏe (phòng bệnh, điều trị, giáo dục sức khỏe, phục hồi) đến tận nơi người dân sống và lao động.

NVSKCĐ phải cắm rễ vào cả hai phía, Y tế và Cộng đồng. Thiếu gắn bó với cộng đồng không tạo được sự tham gia; thiếu hỗ trợ của y tế hoạt động sẽ không có hiệu quả.

Kinh nghiệm cho thấy thất bại thường là do mối quan hệ này chứ không phải do hoạt động của NVSKCĐ.

3. Chức năng nhiệm vụ
Là người của cộng đồng, NVSKCĐ biết rõ hơn ai hết những vấn đề và đặc điểm của cộng đồng, những tài nguyên đang có, những nhu cầu bức thiết cũng như cơ cấu quyền lực địa phương, cấu trúc gia đình và xã hội, các phong tục tập quán v.v… Do đó, nếu được hướng dẫn tốt cách làm họ sẽ tham gia với y tế xây dựng chương trình sức khỏe trong suốt quá trình từ chẩn đoán cộng đồng đến tổ chức thực hiện và lượng giá.
Chức năng và nhiệm vụ cụ thể tùy y tế và cộng đồng đề ra cho họ. Nói chung, dựa trên các yếu tố của SSSKBĐ bao gồm các mặt phòng bệnh, điều trị và giáo dục sức khỏe, đồng thời tham gia vào các hoạt động phát triển khác của địa phương. Họ cần thiết phải biết sơ cấp cứu, điều trị bệnh và chấn thương thông thường trong phạm vi cho phép. Đừng quên điều trị tốt có thể nâng uy tín, nhưng nếu chỉ chú trọng điều trị sẽ thất bại vì họ tự biến mình thành một “y tá dở”.

Phòng bệnh và GDSK sẽ là nhiệm vụ chính của NVSKCĐ: Vệ sinh môi trường, Vệ sinh lao động, Sức khỏe bà mẹ và trẻ em, Kế hoạch hóa gia đình, Dinh dưỡng, Tiêm chủng v.v… NVSKCĐ chịu trách nhiệm vãng gia, thu thập thông tin, lưu giữ hồ sơ, tham gia các công tác phát triển khác do cộng đồng đề ra.

Họ cần được làm trong một ê-kíp có thể kết hợp với Chữ thập đỏ, vệ sinh viên, cô mụ vườn được tái huấn luyện, thầy lang v.v…

Về tỷ lệ, tùy nơi, tùy chương trình, trung bình 1 NVSKCĐ cho 50 hộ gia đình.

4. Tuyển chọn
“NVSKCĐ là người từ cộng đồng và do cộng đồng tuyển chọn”. Tuy nhiên, như đã nêu trên, NVSKCĐ cũng có thể là người từ bên ngoài, tình nguyện làm việc toàn phần hoặc bán thời gian cho cộng đồng.

4.1. Chọn ai?
Ngưòi từ cộng đồng hay ngưòi ngoài cộng đồng, ai tốt hơn? Người ngoài cộng đồng dễ chiếm được lòng tin hơn vì thường “Bụt nhà không thiêng”; nhưng mặt khác, về lâu về dài, thì người ngoài cộng đồng sẽ tạo ra sự lệ thuộc, làm mất tính tự lực tự quyết của cộng đồng, do vậy, tốt nhất vẫn là người tại chỗ.

4.2. Ai chọn?
Cộng đồng chọn thì cộng đồng sẽ chấp nhận và trong quá trình chọn lựa này, cộng đồng đã trực tiếp tham gia. Ngoài ra NVSKCĐ được chính cộng đồng chọn sẽ cảm thấy có trách nhiệm với cộng đồng và gắn bó mật thiết hơn với cộng đồng.

4.3. Tiêu chuẩn
Chọn người tử tế, có tinh thần trách nhiệm, khiêm tốn, chín chắn, cởi mở, ham học hỏi, quan tâm đến các vấn đề sức khỏe của cộng đồng, có nếp sống lành mạnh (không rượu chè, thuốc lá…) được cộng đồng quí mến….

4.4. Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa không cần cao, dễ hòa đồng bà con, và không bỏ cộng đồng để đi nơi khác. Họ cũng là người có khả năng thuyết phục, kể chuyện hay, hoạt bát, giỏi vận động, giỏi tổ chức và thông hiểu phong tục tập quán địa phương…Những người có uy tín ở địa phương như hội viên chữ thập đỏ, thầy lang, cô mụ vườn, thầy giáo, người về hưu… dễ dàng được chọn.

4.5. Nam nữ
Có nơi cần nữ vì tính dịu dàng, nhẫn nại, thận trọng, lại tiện cho việc chăm sóc phụ nữ và trẻ em (chiếm tỷ lệ 3/4 dân số ở địa phương), gần gũi gắn bó với xóm giềng, dễ gặp gỡ. Có nơi chọn nam vì nam giới đi lại dễ dàng hơn, xốc vác, lanh lẹ, có thể làm việc nặng v.v…

Nếu là chương trình Sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kế hoạch gia đình… thì nên chọn nữ, còn về Môi trường, Chống dịch thì có thể chọn nam. Cả hai thì tốt.

4.6. Tuổi
Tuổi tốt nhất khoảng 25-40. Trẻ quá không có được uy tín, tinh thần trách nhiệm chưa cao. Lớn quá cũng bất tiện vì bận bịu, trừ trường hợp về hưu có nhiều thời gian và sẵn sàng tham gia công tác xã hội.

5. Huấn luyện
NVSKCĐ học là để làm, chứ không phải học để biết. Do đó, thầy phải được chọn lựa kỹ, xác định rõ là dạy cái gì, dạy cách nào. Nội dung cần là:
– Một số kỹ năng thực hành;
– Những kiến thức cơ bản cần thiết;
– Các kỹ năng truyền thông, giao tiếp, vận động;
– Kỹ năng tổ chức.
Kỹ năng truyền thông và tổ chức rất quan trọng, thường hay bị bỏ qua trong lúc xây dựng chương trình huấn luyện NVSKCĐ.

5.1. Thời gian
Tuỳ mục tiêu
– Thường khoảng 3 tuần.
– Cũng có thể học 1 tuần rồi bồi dưỡng dần sau.

5.2. Nội dung
Cần có sự “Tham gia cộng đồng” ngay trong giai đoạn lập chương trình. Chương trình phải dựa trên phân tích nhu cầu sức khỏe của cộng đồng, các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội, nhiệm vụ cụ thể của NVSKCĐ, các điều kiện làm việc, từ đó liệt kê các kỹ năng, thái độ, hành động mà người NVSKCĐ cần có để lập chương trình; phải xác định rõ phương pháp, thời khóa biểu và lượng giá trước, sau lớp và về lâu dài.

5.3. Phương pháp
Phải được coi trọng như nội dung. Học cách nào sẽ ứng dụng cách đó khi công tác. Phương pháp giáo dục chủ động với thảo luận nhóm, tham quan, sắm vai, giải quyết một vấn đề cụ thể… thường có kết quả tốt. Nên đi từ một vấn đề thực tế cụ thể của địa phương để dẫn dắt vào nội dung, gần gũi và sinh động.

5.4. Học cụ
Tài liệu huấn luyện (nên tự soạn cho phù hợp, ngôn ngữ, hình ảnh, thí dụ… lấy từ thực tế ở địa phương), các phương tiện nghe nhìn… không cần kỹ thuật cao (laptop, projector…). Nên chế tạo các học cụ với phương tiện sẵn có tại chỗ để tránh tính ỷ lại của học viên sau này và giúp họ tự tin hơn khi về công tác.

5.5. Nơi học
Học ngay tại cộng đồng là tốt nhất. Dạy NVSKCĐ tại bệnh viện sẽ thất bại, vì sẽ biến họ thành y tá “dở”. Nhưng có thể tham quan bệnh viện quận huyện để có dịp tiếp xúc các bệnh thường gặp ở cộng đồng.

5.6. Người dạy
Thường không đạt yêu cầu vì người dạy không biết cách dạy, coi NVSKCĐ là NV Y tế! Nếu bác sĩ hay y tá dạy thì cần phải được tập huấn kỹ trước. Một chương trình đào tạo ngắn ngày, nhiều đợt, nâng cao dần, có lợi hơn là học tập trung nhiều ngày. Vừa học vừa hành để rút kinh nghiệm. Đào tạo theo phương pháp giáo dục chủ động sẽ phát huy được tính tự chủ cao của học viên.

Nên có nhiều thầy, có thể là những NVSKCĐ khóa trước, có kinh nghiệm thực tế, nhân viên phát triển cộng đồng, cán bộ y tế và các ngành liên quan khác (tâm lý, xã hội…)

6. Thù lao
Đây là một vấn đề rất quan trọng để có thể duy trì hoạt động của mạng lưới NVSKCĐ. Nguyên tắc chung là tùy hoàn cảnh kinh tế xã hội của cộng đồng. Chính họ sẽ là người trả công cho NVSKCĐ bằng tiền, bằng hiện vật hay cách nào khác một cách xứng đáng mới có thể duy trì được hoạt động bền lâu. Điều không kém quan trọng là họ phải được tôn vinh đúng mực, được địa phương đánh giá trong các buổi sinh hoạt để động viên khuyến khích. (Một miếng giữa làng bằng một sàng trong bếp!)

7. Tương lai nghề nghiệp
Cần quan tâm đến tương lai nghề nghiệp của người NVSKCĐ. Ở Tây Ấn, 62% NVSKCĐ muốn thăng tiến trong ngành y. Tuy nhiên, nghiêng hẳn về y là làm lệch mối quan hệ và không còn hiệu quả nữa vì họ sẽ trở thành một nhân viên y tế mất rồi!

Do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ bỏ cuộc khoảng 20% sau 1-2 năm. Có nơi, như chương trình dinh dưỡng ở Ấn (Kasa Palghar) bỏ cuộc 60% sau 2 năm. Nam giới bỏ cuộc nhiều hơn nữ giới. Lý do: trả công thấp, làm việc nặng, kiếm được việc khác hoặc lập gia đình.

8. Hỗ trợ
Thiếu sự hỗ trợ của hệ thống y tế, NVSKCĐ sẽ không thể hoạt động có hiệu quả.

8.1. Hỗ trợ thuốc men – trang bị
Phát triển mạng lưới, mở rộng độ bao quát để có thể tiếp cận đến từng người dân thì không thể không tăng cường thuốc men và trang bị, đặc biệt ở nông thôn, bà con rất hy vọng ở mạng lưới NVSKCĐ. Cần cấp đủ thuốc thông thường – theo danh mục cho phép NVSKCĐ sử dụng – và phải là thuốc tốt về chất lượng, bổ sung kịp thời. Điều này giúp tăng uy tín của mạng lưới. NVSKCĐ cần biết sử dụng thông thạo thuốc nam và các biện pháp chữa trị không cần thuốc. Ngoài thuốc, cần trang bị ống nhiệt kế, cân trẻ con, biểu đồ tăng trưởng, ORS, và các phương tiện Giáo dục sức khỏe (tranh ảnh, sổ tay, sách lật, bướm…).

8.2. Giám sát
Sinh hoạt hàng tháng với Trạm y tế là cách giám sát tốt nhất, đồng thời nâng cao trình độ, bồi dưỡng ”nghiệp vụ”. Cần chú ý một lần nữa “nghiệp vụ” đây không phải là ”chữa bệnh”. Ở nơi xa xôi cần bố trí một “điểm” hướng trợ, giúp đỡ cho NVSKCĐ khi cần tham khảo, có thể là một NVSKCĐ khóa đàn anh, một nhân viên y tế, một người trong Ban chỉ đạo chương trình sức khỏe. Có sự hỗ trợ này, người NVSKCĐ vững tâm hơn.

Giám sát tốt dễ thành công hơn. Giám sát là nhằm hỗ trợ và giúp đỡ hơn là kiểm tra, thanh tra. Nên có Check-list để đánh giá chính xác NVSKCĐ nên có đại diện trong Ban chỉ đạo chương trình sức khỏe. Tiếng nói của họ phải có trọng lượng như các thành viên khác.

9. Kết luận
Để thực hiện SSSKBĐ, cần thiết phải có mạng lưới NVSKCĐ. Đó là những người được tuyển chọn từ cộng đồng, được huấn luyện để thực hiện một hay nhiều chương trình sức khỏe, có mối quan hệ mật thiết với cộng đồng, và được sự hỗ trợ tích cực của y tế. Cần xác định rõ vai trò “cầu nối”, ”người trung gian”, “người xúc tác” của NVSKCĐ – mà nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục sức khỏe, nâng cao sức khỏe của cá nhân và cộng đồng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Đừng biến NVSKCĐ thành một người y tá “dở” của Trạm y tế hay người “sai vặt” cho y tế. Cần nuôi dưỡng mạng lưới tương xứng với công lao đóng góp của họ. Để có thể duy trì hoạt động, cần có nội dung cụ thể, có hệ thống hỗ trợ và lượng giá. NVSKCĐ là nơi thực hiện lồng ghép tốt nhất cho các Chương trình sức khỏe có mục tiêu. Không nên đào tạo quá nhiều NVSKCĐ mà nên tổ chức làm việc có ê-kíp, có lồng ghép ngay từ đầu. Nhờ vậy đỡ tốn kém hơn.

Nhiệm vụ Trưởng Trạm y tế là nắm rõ chức năng nhiệm vụ của mạng lưới NVSKCĐ để tham gia trong tuyển chọn, huấn luyện, hỗ trợ và giám sát; tổ chức sinh hoạt định kỳ, thường xuyên chăm lo bồi dưỡng để duy trì hoạt động tốt cho mạng lưới NVSKCĐ.

(Chỉnh sửa: 11/2011)
Tài liệu tham khảo (lược)
………………………………………………………………………………………………………………………
Nguồn: BS Đỗ Hông Ngọc
Tài liệu huấn luyện Giáo dục sức khỏe & Nâng cao sức khỏe
Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe TP. HCM ấn hành, 1999,tái bản 2003.
Website: www.dohongngoc.com/web/
Email: dohongngocbs@gmail.com

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Ở nơi xa thầy thuốc

GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

13/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

Cần có một chương trình toàn diện
Đỗ Hồng Ngọc
Ghi chú: Chương trình Mỗi tuần một chuyện (Đối thoại với Lê Hoàng) của VTV vừa qua có mời tôi trao đổi một vấn đề khá nóng bỏng: Giáo dục giới tính. Tôi thích những “talkshow” sống động – không có kịch bản – như vậy, nhất là với Lê Hoàng- đạo diễn, nhà văn, vốn nổi tiếng rất sắc sảo trong những cuộc đối thoại- và dưới sự đạo diễn của Nguyễn Quang Dũng. Vấn đề đặt ra của Lê Hoàng là tại sao ở Việt Nam ta tỷ lệ phá thai quá cao ở trẻ vị thành niên, phải chăng do ta làm Giáo dục giới tính không tốt?

Thực ra Giáo dục giới tính không phải nhằm để làm giảm tỷ lệ phá thai! Giáo dục giới tính không phải là dạy cách phòng tránh thai mà là một chương trình “học làm người” để có cuộc sống hạnh phúc. Nhưng thực tế thì cho đến nay ta làm GDGT chưa tốt vì chưa có hẳn một Chương trình GDGT toàn diện. Do thời lượng hạn chế của chương trình truyền hình, tôi nghĩ có lẽ nên chia sẻ với bạn bè bài viết dưới đây, đã đăng trên Saigon Tiếp Thị ngày 11.11.2011. (ĐHN).

Giáo dục giới tính là một tiến trình suốt cả đời người, là chuyện phải làm hằng ngày, trước hết là ở gia đình nhằm trang bị kiến thức, hình thành nhân cách, tạo nên một nền tảng vững chắc cho sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản sau này. Nó bao gồm những hỉêu biết về phát triển tính dục, các mối quan hệ, hình ảnh về thể chất và vai trò giới, tình bạn, tình yêu, tình dục.

Giáo dục giới tính đề cập đến các khía cạnh về sinh học, văn hóa xã hội, tâm lý và tâm linh của vấn đề giới tính, từ lĩnh vực nhận thức (thông tin) đến lĩnh vực tình cảm (cảm xúc, giá trị, thái độ) và lĩnh vực hành vi (kỹ năng truyền thông, giao tiếp và kỹ năng quyết định) của mỗi cá nhân.

Tính dục gắn với con người từ trong trứng nước. Khi thụ tinh thì đã sẵn các nhiễm sắc thể X,Y, phân định giới tính cho đứa trẻ, dù đến 3 tháng trong bụng mẹ, thai nhi mới có đầy đủ các bộ phận sinh dục nam hay nữ! Bên cạnh đó, thiên nhiên còn trang bị sẵn một hệ thống các tuyến sinh dục, để tới tuổi nào đó thì sẽ cho kích hoạt… tạo ra các kích thích tố cần thiết để phát triển giới tính! Chờ đến lúc đó mới “dạy” thì nhiều khi đã muộn!

Cha mẹ có bổn phận phải dạy con cái ngay từ trong gia đình, không thể “khoán” cho ai khác. Và phải dạy rất sớm vì đây là vấn đề liên quan đến nếp sống của mỗi gia đình, đến giá trị, lòng tin, thái độ và nhất là hành vi, hình thành nhân cách của mỗi con người để có một cuộc sống hạnh phúc về sau. Ngay từ lúc mới sinh, trẻ đã được học về tình yêu thương, trìu mến, vuốt ve, cưng nựng, học về những mối quan hệ anh chị em, cha mẹ, ông bà… Trẻ học về giới tính khi cha mẹ chăm sóc, chuyện trò hằng ngày, lúc vui chơi với chúng, lúc thay quần đổi áo cho chúng, dạy chúng biết các bộ phận của cơ thể từ mắt mũi, tai miệng, đến bộ phận sinh dục… Ngay từ lúc đó, trẻ đã học “không phân biệt đối xử” với các bộ phận trong cơ thể mình, và có trách nhiệm gìn giữ vệ sinh đâu đó đàng hoàng. Trẻ lớn dần lên thì hiểu biết sẽ mở rộng thêm về sinh lý học, về các hành vi, thái độ, giá trị liên quan giới tính của gia đình cũng như môi trường văn hóa xã hội chúng đang sống.

Thẳng thắn, chân tình, cởi mở và khoa học trong trao đổi là cách tốt nhất để truyền thông giữa cha mẹ và con cái suốt giai đoạn tuổi thơ cũng như ở tuổi tiền dậy thì và dậy thì, tuổi thanh niên, nhờ đó tạo nên một phương cách xử thế khi trẻ trưởng thành cho vấn đề sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản. Do vậy, cha mẹ cũng phải trang bị cho mình đủ kiến thức để tự tin và có phương pháp tiếp cận phù hợp với từng lứa tuổi theo sự tăng trưởng và phát triển của trẻ.

Thế nhưng do từ trước người lớn chúng ta cũng chưa hề được “giáo dục giới tính” bao giờ nên không tránh khỏi lúng túng và lấn cấn trong tư tưởng. Do vậy, để có thể “vượt qua chính mình” cần xem xét lại một số nhận thức, quan điểm của bản thân mình về giới tính, về tình dục để có thái độ thích hợp. Trang bị kiến thức về cơ thể học, sinh lý học tuy vậy không khó bằng cách nhìn nhận vấn đề, tức “quan điểm” – cũng gọi là các “giá trị” – của chính bản thân. Cần thấy rằng khi nói đến tình dục, không thể chỉ nói đến chuyện giao hợp mà phải bao gồm toàn bộ các khía cạnh liên quan như thể chất, đạo đức, xã hội, tâm linh, tâm lý và cảm xúc. Như vậy, giáo dục giới tính là giáo dục toàn diện về các khía cạnh đó, chứ không phải chỉ dạy cách dùng bao cao su hay sử dụng thuốc ngừa thai.

Vì thế cần có một chương trình giáo dục giới tính toàn diện, không manh mún, lẻ tẻ, mà có hệ thống, được soạn thảo không bởi một vài cá nhân “có thẩm quyền” nào đó theo quan điểm riêng của họ rồi áp đặt cho mọi người mà phải do một nhóm chuyên viên về y học, giáo dục, tâm lý xã hội v.v… ngồi lại với nhau để thống nhất trước trên một số nguyên tắc cơ bản – các giá trị- để có tiếng nói chung. Chẳng hạn tính dục là một phần tự nhiên và lành mạnh của đời sống con người. Mọi người ai cũng có tính dục. Tính dục không đơn thuần là chuyện giao hợp. Với con người, tính dục bao hàm sinh học, đạo đức, xã hội, tâm linh, tâm lý, cảm xúc…

Mọi người ai cũng có nhân phẩm, mỗi người là một cá thể độc đáo trong bối cảnh văn hóa chung. Đừng vì thấy người ta khác mình mà cho là sai lạc, bệnh hoạn rồi đối xử kỳ thị, bất công. Mỗi cá nhân có kiểu hành xử tình dục riêng, miễn là không mang lại bệnh hoạn, tai họa cho mình hay cho người và không trái thuần phong mỹ tục, văn hóa chung của cộng đồng.

Mỗi người tự quyết định và chịu trách nhiệm về hành vi tính dục của mình và về những hậu quả của nó nếu có. Do vậy, cần có đủ kiến thức và kỹ năng để tự bảo vệ. Cũng cần nhớ rằng trẻ con thích “khám phá” và luôn tò mò học hỏi về tính dục là một tiến trình tự nhiên để phát triển.

Chương trình này sẽ không chỉ dành riêng cho các nhà giáo dục, cho nhà trường – từ nhà trẻ đến sau đại học- mà còn cho truyền thông đại chúng, cho các tổ chức xã hội, tôn giáo, và cho các bậc phụ huynh- kể cả người giúp việc trong gia đình… để nói cùng thứ tiếng, tránh “ông nói gà bà nói vịt”.

Về nội dung ít nhất phải đề cập về sự phát triển của con người- từ trong bụng mẹ đến tuổi trưởng thành, mối tương quan giữa các yếu tố thể chất, tâm lý, các mối quan hệ, tương tác, các kỹ năng cá nhân – đối với bản thân mình cũng như giữa người với người- đến các hành vi tính dục- dựa trên nền tảng văn hoá của mỗi cộng đồng- rồi mới đến các vấn đề về sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản với các bệnh lây truyền qua đường tình dục v.v… Trong mỗi nội dung đó, phải dạy cả về kiến thức, thái độ, về các giá trị, về hành vi, lối sống, cách ứng xử phù hợp trong môi trường văn hoá của cộng đồng./.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Tuổi mới lớn, Viết cho tuổi mới lớn

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 92
  • Trang 93
  • Trang 94
  • Trang 95
  • Trang 96
  • Interim pages omitted …
  • Trang 124
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email