Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Thư gởi bạn xa xôi 11.2018

20/11/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi 11.2018

Ghi chép lai rai…

Ghi chép lai rai là để cho đỡ quên đó thôi. Hồi này mau quên quá. Nhiều khi gặp người bạn quen lắm, tay bắt mặt mừng, mà xin lỗi, tên gì quên rồi bạn ơi? Bạn cười xòa. Tui cũng vậy.

Đó là một trong những dấu hiệu “nhạy cảm” của tuổi già!. Các rãnh trí nhớ ở vỏ não như… mòn rồi, giống đĩa hát mấy vòng hồi xưa, cứ nhảy cà lăm, cà giựt, phải thay kim mới hoặc nhắc lên bỏ qua rãnh khác! Trí nhớ giờ cũng vậy. Nhảy ra “rãnh khác” một lúc thì sẽ nhớ lại. Thôi kệ

Thứ bảy 10.11, Nguyệt Mai mới ở Mỹ về thăm mẹ già, hẹn cả nhóm gặp nhau ở Đường Sách, cafe và nói chuyện vòng quanh thế giới… nhưng Lữ Kiều cứ phone hỏi có phải hẹn ngày 14.11 không vậy? Thiệt là mệt.

Ngày Tb 10.11 này cũng là ngày có buổi ra mắt sách và giao lưu giữa tác giả, độc giả cũng rất thú vị ở Đường Sách- của Elena và Trương Văn Dân. Bọn mình cứ phải chạy qua… rồi chạy lại.

Gởi bạn vài tấm hình coi cho biết cái “không khí” vậy nhé.

Ra mắt “Vàng trên biển đá đen” của Elena và “Milano-Saigon đang về hay sang?” của Trương Văn Dân, song kiếm hợp bích. (ảnh NVD)

Phải nói đây là một hoạt động khá thành công của Đường Sách Tp.HCM. Tuy là “ông đi qua bà đi lại” có vẻ nhốn nháo nhưng nhờ vậy nó tạo nên một không khí rất… “Sài-gòn đẹp lắm Sài-gòn ơi Sài-gòn ơi…!”.

Cặp “song kiếm hợp bích’ này rất dễ thương. Không ai còn nhớ hai bạn từ bên Ý về nữa. Lâu lâu họ có việc phải chạy về Ý thăm gia đình chút xíu rồi vội chạy về Saigon, Bình Định, rồi đi khắp Việt Nam, đến nỗi không ai còn nhớ Elena là cô gái bên bờ sông Pô nữa. Phải khen “chàng Trương” ở đây, dạy vợ thiệt là khéo, biết ăn mắm ruột, bánh ít lá gai, mặc áo dài, phe phẩy quạt giấy, hát dân ca tài tử Nam bộ không thua ai, kể cả Võ Đông Sơ- Bạch Thu Hà. Còn dân ca 3 miền cũng biết tuốt. Nói tiếng Việt còn hơi khó nghe một chút nhưng ra chợ, không ai dám bán mắc, nói thách giá với Elena.

Từ trái: “yểu điệu thục nữ” Elena Pucillo Truong, cùng với Đỗ Hồng Ngọc, Quách Mạnh Kha, Nguyên Cẩn (Đường Sách SG 10.11.2018)

Có thể nói chưa bao giờ mình nghĩ Elena Pucillo Truong là một người… nước ngoài. Có 3 chuyện đáng nhớ, với mình: một lần cô từ Bình Định vào kêu anh Ngọc ơi, tụi em mang mắm ruột vào cho anh nè, ngon lắm. Mình chỉnh ngay: Mắm ruốc chớ gì mắm ruột! Nhưng trời ạ, mình lầm to. Mắm làm bằng ruột cá, nhất là ruột cá ngừ là món mắm ngon nhất xứ Bình Định, mình cứ tưởng mắm ruốc xứ Phan Thiết của mình! Chuyện đi dự đám cưới ở Bình Định quê chồng, phụ nữ ai ai cũng mặc áo đầm, váy, jupe rất hiện đại, chỉ có mình Elena diện áo dài tới dự. Cô nổi bật giữa đám đông hôm đó. Cô nói: mặc áo dài thấy mình giống một Bà hoàng! (lời kể của Tịnh Thy). Rồi hôm đi cùng đoàn Quán Văn về Bến Tre, lúc nghe diễn mục ca tài tử Nam bộ, Elena hát theo ngon lành các điệu tài tử, kể cả Võ Đông Sơ- Bạch Thu Hà…

Trương Văn Dân thì khác. Không xa lạ gì với bọn mình. Du học ở Ý từ 1971 về ngành Hóa và công nghệ Dược nhưng anh có máu… văn chương từ thuở nhỏ, dù gốc… võ Bình Định. Còn nhớ khi bán nguyệt san Văn học nghệ thuật Ý Thức của Nguyên Minh và nhóm bạn ra mắt ở Saigon 1971 thì TVD đã liên hệ bài vở, mặc dù chỉ ở mục… Hộp Thư bạn đọc. Mấy chục năm sau, anh đã là một trong những “trụ cột” sát cánh cùng Quán Văn. Anh nổi tiếng với Bàn tay nhỏ dưới mưa, Hành trang ngày trở lại… và nổi tiếng hơn với tài dịch thuật các bài viết của Elena. Những buổi sinh hoạt của Quán Văn hình như không thể thiếu TVD và Elena, một “cặp bài trùng”, “song thủ hỗ bác”, mỗi lần xuất hiện như mang đầy những niềm vui.

Một hôm TVD phone bảo nhờ anh Ngọc khi nào có cảm hứng, phác thảo cho Dân một cái chân dung bằng bút sắt như đã từng vẽ kiểu “trời ơi” cho Lữ Kiều, Khuất Đẩu… để làm cái gì đó cho vui… Được thôi. Mình nói. Vì không phải họa sĩ… thứ thiệt nên lâu lắm mình mới có được cảm hứng về TVD và nguệch ngoặc mấy nét cho anh cái “chân dung” như vầy:

Trương Văn Dân
(vẽ bởi Đỗ Hồng Ngọc, 2018)

TVD kêu trời: sao anh không vẽ bằng bút sắt. Em thích cách vẽ bằng bút sắt của anh hơn! Mình cũng kêu trời, anh có biết bút sắt, bút bi, bút chì, bút mực… gì gì đâu! Khi có hứng thì đụng gì nguệch ngoặc đó. Nhớ TVD là nhớ đôi lông mày Tây Sơn, ông tướng, còn cái miệng thì hơi… ngạo nghễ của thời @… TVD cười ha hả. Hiểu rồi. Hiểu rồi. “@ lương sơn bạc hả anh”!

Hôm ra mắt sách ở Đường Sách Saigon, TVD trao tặng mình cuốn sách mới của anh: MILANO SAIGON đang về hay sang? Thật cảm động vì cái tình của “kẻ ở người đi”, “chân bước đi mặt còn ngoãnh lại, từ cái mái nhà, cái thềm nhà, khóm cây ngọn cỏ, cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường…” (QVGKT). Cho nên không lạ với “Hành trang ngày trở lại”, rồi “đang về hay sang?”… và cô dâu Elena bây giờ.

Anh ghi lời tặng:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

“về để gặp người trị đau

sang để gặp người chữa khổ

về hay sang cũng chỉ

để gặp anh: BS Đỗ Hồng Ngọc – quý mến.” TVD.

Vậy đó, cặp “song ca hoàn hảo” Trương Văn Dân – Elena sáng ngày Thứ bảy 10.11.2018 giữa Đường Sách Sài-gòn ngày nắng ấm, với 2 cuốn sách mới: Vàng trên biển đá đen và MILANO SAIGON đang về hay sang?

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Thư gởi người bận rộn, Vài đoạn hồi ký

Hai Trầu đọc lại “Già Sao Cho Sướng?” của ĐHN.

19/11/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Hai Trầu đọc lại “Già Sao Cho Sướng?” của Đỗ Hồng Ngọc

(THỬ ĐỐI CHIẾU VÀI SỰ THẬT NGOÀI ĐỜI VỚI VÀI CHƯƠNG SÁCH “GIÀ SAO CHO SƯỚNG”…)

Hai Trầu Lương Thư Trung,

Hai Trầu Lương Thư Trung, Đường Sách Saigon 9.2018

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã sáng tác, biên soạn và cho xuất bản từ năm 1967 đến nay (2018) được khoảng 50 tác phẩm. Quyển “Già Sao Cho Sướng”  (nguyên tên sách là “Già Sao Cho Sướng? Để Có Một Tuổi Già Hạnh Phúc”)  là một trong số những tác phẩm ấy. Nay tôi ở cái tuổi mà nhiều người gọi là người gìa, tôi thử  đem sự thật ngoài đời của mình để đối chiếu với những điều tác giả ghi trong vài chương sách ấy coi có điểm nào trùng giống với mình không, nghĩa là mình có già thiệt không?

 

Tuổi già! Khi nào thì người ta nhận mình là già? Nhớ cách nay gần 50 năm, một lần về Tân Châu (Châu Đốc) thăm gia đình, gặp một bác gái lớn tuổi, hơi lẫn và dịp ấy có người cháu của bác nói:

“Con thấy Cô không có già!”

Bác ấy trả lời:

“Tôi không biết sao gọi là già?”

 

Sổ dĩ tôi nhớ là vì câu trả lời quá hay và nó mang chút nhân sinh quan của bác về thế nào là tuổi già! Và rồi nó theo tôi trong suốt 50 năm qua, nhứt là mỗi lần nhớ lại có ai đó gọi mình già! Nhưng khi nào thì gọi là tuổi già? Quả đôi lúc chính mình không biết mình già, như trong sách “Già Sao Cho Sướng”, tác giả viết:

 

“Kinh nghiệm riêng tôi thì thực ra chẳng bao giờ biết mình đã già cả! Bạn bè cùng lứa mình già thì có chứ mình thì không! Cho đến một hôm gặp người bạn cũ kể chuyện nửa thế kỷ trước đã từng đi câu cá, đi hái chùm ruột trộm… ở quê nhà với mình, rồi đột nhiên cười lỏn lẻn bảo bây giờ em đã là… bà cố thì mình mới giật mình đánh thót! Mới vài năm trước đây, ở tuổi 72, khi được mời đi nói chuyện đây đó, tôi tự giới thiệu tuổi mình, thính giả vỗ tay rào rào và nói trẻ quá, tưởng mới 60 thôi chứ. Khoái chí, năm rồi, tôi tự giới thiệu mình 74, ai nấy im re! Thì ra có một cái “cột mốc”! (…) Vậy thì có cái già đó.” (GSCS, trang 13)

Theo đó, với riêng tác giả, sự “im re” của cử tọa đánh dấu ở tuổi 74 là tác giả bắt đầu già.

Nhớ lại hồi cách nay khoảng 50 năm, ở quê tôi, vào những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, trên năm chục tuổi được xếp vào tuổi gọi là già và được nể trọng như các bậc trưởng thượng.

Rồi tôi nhớ lại trong sách Tô Đông Pha của học giả Nguyễn Hiến Lê, lúc Tô Đông Pha nhận lệnh bị dày ra đảo  Hải Nam, cụ Nguyễn viết:

“Khi nhận được lệnh, Đông Pha đã sáu chục tuổi (…) Tử Do tiễn anh tới bờ biển. Đêm đó hai anh em nằm trong thuyền ngâm thơ. Đông Pha giao cho em một bức thư gởi cho bạn thân là Vương Củng: “Tôi già rồi mà nay bị đày tới một miền man rợ. Không còn hi vọng gì sống mà về quê hương được nữa.”

 

Do vậy mình có thể suy ra hồi đời Tô Đông Pha, lúc ông sáu chục tuổi, ông nhận là mình đã già rồi! Và đặc biết ở đây, người già trên đảo Hải Nam, hồi xa xưa ấy, dù khí hậu rất khắc nghiệt, vậy mà họ sống rất thọ: “Nhưng rồi thấy trên đảo có những ông già bà cả thọ tám chín chục tuổi, trăm tuổi, ông bắt đầu hiểu rằng thuật sống chỉ là thuật thích ứng với hoàn cảnh. Trong một bức thư gửi cho bạn, ông viết:

“Con kỳ nhông có thể sống trong cát bỏng được, trứng tằm vùi dưới tuyết mà không hư; các nông dân vô học không biết gì về các bí mật của hóa công, cứ theo bản năng mà thích ứng với thời tiết như con kỳ nhông và trứng tằm, thở cái khí nóng ra mà hít cái khí mát vào, nhờ vậy mà thọ. Tránh mọi sự phí sức, thuật sống chỉ có vậy.”

Điều này cũng có thể hiểu như  bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã khuyên người già nên sống “ở đây và bây giờ” trong chương  “Sống Trong Hiện Tại” : “Sống trong hiện tại chính là cách sống tốt nhất của người già vậy.”(GSCS, trang 43)

Nhơn nhắc Tô Đông Pha về tuổi già, cũng xin nhắc trang sách của thầy Tuệ Sỹ:

“Đông Pha tiên sinh có tài làm ra vàng, có thể lấp được sông, nhưng không thể làm cho tóc của mình đừng bạc trắng.”

Điều ấy, cho ta thấy tuổi già không từ một ai và dường như mỗi đời người, ai ai cũng phải đến hồi mình nhận ra mình đã già bởi vậy mà cổ nhân mới có câu:

“Ai ôi trẻ mãi ru mà,

Càng so sánh lắm càng già mất duyên.”

(Ca dao)

Tới một lúc già thiệt thì :

“Phận già cơm hẩm rau dưa,

Già quen việc nặng già ưa nâu sồng.”

(Ca dao)

Nhưng khi nào thì già thiệt? Trong những buổi ngồi uống cà phê với nhau, đa phần là những người quen biết đều xê xích nhau vài ba tuổi; có người quen năm nay 83 tuổi, mỗi khi anh muốn nói ai già, anh thường ví: “Giống như ông già 80!” Mới đây bên Hòa Lan có một người đàn ông năm nay 69 tuổi, ông cảm thấy mình còn rất trẻ, mới như 49 tuổi, nên ông làm đơn xin tòa án cho đổi năm sinh.

Tóm lại, qua vài con số vừa nêu, có thể nói mỗi người có riêng cái mức gọi là tuổi già của mình, và hổng nhất thiết phải thực là già thì mới già, cứ vui lúc nào thì nhận ra mình già vào lúc ấy.

 

Trở lại với Già Sao Cho Sướng của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, với tư cách một người đọc nhà quê già như tôi, tôi thấy các chương sách của tác giả rất khế hợp với tuổi già của tôi vô cùng. Là một người cùng thời, nhỏ hơn tác giả một vài tuổi nhưng có lẽ vì mình không biết và cũng không lưu ý cho lắm, hoặc vô tình mà mình hổng trăn trở gì với tuổi già của mình đã âm thầm lặng lẽ gõ cữa tới nhà mình tự hồi nào mà mình đâu có hay biết gì đâu! Tuy nhiên, với 35 chương trong sách, thì có nhiều chương đối chiếu lại, tôi thấy đã có trải qua như các lời trình bày và căn dặn của tác giả.

 

Chẳng hạn như chương “Kế Hoạch Già”, thú thật tôi đâu có kế hoạch gì đâu, mà chỉ sống phất phơ, thản nhiên và bình thường thôi, không biết sắp đặt gì trước gì sao hết ráo; trong khi đó qua kinh nghiệm của mình và qua tiếp xúc với bệnh nhân trong tư cách là một bác sĩ và tiếp xúc với bạn tu học trong tư cách là một diễn giả về đời sống tu học theo ý nghĩa cao đẹp của đạo Phật, tác giả đã có duyên được tiếp xúc với nhiều giới tu hiền nên cách dẫn giải rất giản dị mà rõ ràng, dễ hiểu về những nhu cầu của người già, mà ai đọc qua cũng có thể áp dụng được như:

–          Nhu cầu sinh học.

–          Nhu cầu an toàn.

–          Nhu cầu tình cảm.

–          Nhu cầu tự khẳng định.

–          Nhu cầu tâm linh.

 

Rồi chương “Chất Lượng Cuộc Sống”, tác giả viết:

“Già không phải là bệnh nhưng già thì dễ mắc bệnh. Mà mắc nhiều thứ bệnh một lúc! Mọi thứ có vẻ như đã sẵn sàng… rệu rã nên việc chăm sóc càng khó khăn hơn. Có một khẩu hiệu : “Bác sĩ tốt nhất là chính mình!” Bởi vì lệ thuộc vào thầy thuốc triền miên thì chất lượng cuộc sống không thể nào cao được! “Tự tại” vẫn luôn là niềm hạnh phúc!”

(GSCS, trang 33)

Về chương này, tôi có anh bạn năm nay cũng tròm trèm ở tuổi 80 và ảnh lúc nào cũng cảm thấy trong người có rất nhiều bệnh. Nào máu cao, rồi cao mỡ, thường hay hảo-hảo mệt, ảnh hay đi chùa lễ Phật và đọc kinh sám hối, nhứt là sợ chết. Thật tình ra anh ấy không có bệnh gì nhiều qua các thử nghiệm và nhận xét của bác sĩ gia đình mà chỉ do là ảnh hay tưởng tượng.

Ở chương “Để Có Hạnh Phúc Tuổi Già”, tác giả tóm lược tuổi già thường có hạnh phúc khi:

–          Chấp nhận mình. Hiểu luật vô thường/ Từ bi với mình. Đừng so sánh mình với người này người kia rồi suy bì, ganh tị.

–          Gần gũi những người trẻ … dễ thương.

–          Có ký ưc tốt về tuổi thơ và tuổi thanh niên của mình.

–          Được sắp xếp cuộc sống riêng theo ý mình, không bị áp đặt.

–          Được xã hội và gia đình chấp nhận, tôn trọng.

Năm tiêu chuẩn vừa kể, tôi thấy tiêu chuẩn thứ nhứt là quan trong nhứt vì mình phải biết mình già là mình sướng nhứt. Mỗi người sinh ra và lớn lên trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, rồi trải qua những đoạn đời cũng khác nhau, nên không ai có thể giống ai trong đời sống như nhau; vì thế mình biết chấp nhận mình đã đành, mà mình còn nên rộng lượng và thông cảm với người khác cũng cùng lứa tuổi với mình mà không giống như mình nữa!

Rồi ở chương “Thiền “Quán Niệm Hơi Thở”, tác giả viết:

Thở bụng, đã là tốt. Thở bụng mà biết “quán niệm hơi thở” còn tốt hơn, vì đó chính là “thiền”. Vừa “thiền chỉ” (samatha), vừa “thiền quán” (vipassana). “Quán” là quan sát một cách sâu sắc, còn “niệm” là nhớ, nghĩ  về.” (GSCS, trang 99)

 

Nhắc đến hai chương này, tôi nhớ “Hồi ở Hàng Châu, Tô Đông Pha đã đêm đêm tập thở, nằm yên không nhúc nhích để chế ngự thể chất rồi chế ngự tinh thần. Bây giờ ở Hoàng Châu, ông luyện lại phép dưỡng sinh và cả phép trường sinh nữa.”

(…)

“Đông Pha cũng tập tham thiền, rồi tập nằm, ngồi theo những tư thế qui định để vận động khí huyết, kiểm soát sự hô hấp, tới cái mức mỗi hô hấp kéo dài được “một trăm hai mươi lần mạch nhảy”, nghĩa là khoảng hai phút. Ông lại rán luyện cho trí óc gạt hết các ý nghĩ tạp đi, tập trung vào một ý, rồi lần lần càng bớt suy nghĩ càng tốt, rốt cuộc tới trạng thái hoàn toàn tĩnh, không nghĩ ngợi gì cả. Ông thấy nhờ vậy, tâm hồn ông thật nhẹ nhàng, sảng khoái, và viết thư chỉ cho bạn bè kinh nghiệm của mình.” 

 

Rồi hồi bị đày ra Hải Nam: “Mùa thu dông tố nhiều, thuyền ở lục địa không ra, nên ông vẫn có lúc đói: hai cha con bó gối nhìn nhau trong căn nhà lạnh và rỗng, “y như nhà tu hành khổ hạnh” vậy. Có lần ông nhớ những con ếch, con rắn ở dưới ruộng hay trong hang thường ngóc cổ lên để đớp ánh nắng ban mai. Đói qua, ông bắt chước chúng, ngồi ở trước cửa, há miệng ra hớp ánh nắng, một lát thấy bớt đói, mừng quá, ghi vào nhật ký: “Giản dị như vậy mà sao người ta không biết mà thực hành? Có lẽ tại muốn vậy thì phải có đức tự chủ mà ít ai tự chủ được. Gạo ở Đam Châu này đắt quá, cha con tôi phải dùng thuật ăn nắng. Ngày 14 tháng 4 năm 1099.” 

Phải chăng Tô Đông Pha bắt chước rắn, ếch trong cách “ăn nắng” cũng là một cách thở, mà ít ai để ý và áp dụng.

Ghi lại điều này, thấy điều rất quan trọng là từ thời rất xa xôi, người xưa đã biết tập thở và tập thiền quán rồi và cũng có ý ghi chép lại để truyền bá.

Ở chương “Lãng Tai Đâu Chỉ Mình Ta”, tác giả viết:

 

“Hơn một phần ba số người bị lãng tai từ tuổi 65 trở lên. Vậy ta có lãng tai một chút thì cũng là chuyện bình thường thôi! Đâu phải chỉ mình ta. Mà lãng tai một chút cũng hay chớ. Khỏi phải nghe những lời nói xấu mình! Cái gì thích nghe thì nghe, không thì thôi.”

(…)

Kinh nghiệm là nếu bị lãng tai, đừng buồn! Ai biểu … già chi! Già thì nó vậy. Đâu phải chỉ mình ta. Tai kém mắt kém, cái gì cũng kém. Già mà tai thính, mắt tinh hoài thì ai chịu cho nổi!” (GSCS, trang 132)

Đọc mấy lời này tôi thấy sướng quá, bởi vì tôi không biết tôi bị điếc từ hồi năm nào, nhưng có lẽ cũng hơi lâu rồi. Vâng, tôi đâu có biết buồn ai! Chẳng những vậy mà tôi có nhiều cái vui nhờ bị điếc. Chẳng hạn như tôi nghe anh em ngồi uống cà phê chung lịch sự giới thiệu với người lạ là anh này hơi lãng tai. Tôi đính chánh liền, hổng phải lãng tai đâu mà là điếc, và lại điếc hơi khá nặng, nhứt là lổ tai bên trái điếc tới trên 99% và lổ tai bên mặt còn nghe được chút chút, đâu cũng điếc khoảng 70%.

Rồi có anh em lại nghi ngờ tôi giả điếc, và các anh nói Hai Trầu điếc nhưng nói lén ổng là ổng biết hết như bài ca trù “Cách Giả Điếc” của cụ Nguyễn Khuyến mà tôi thấy trong Văn Đàn Bảo Giám:

 

Cách Giả Điếc

(Bỡn ông Dương Khuê)

Trong thiên hạ có anh giả điếc
Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây

Chẳng ai ngờ sáng tai họ điếc tai cầy

Lối điếc ấy sau này em muốn học

Toạ trung đàm tiếu nhân như mộc

Dạ bán phan viên nhĩ tự hầu

Khi vườn sau khi ao trước khi điếu thuốc khi miếng trầu
khi trà chuyên năm bảy chén khi Kiều lẩy một đôi câu
Sáng một chốc lâu lâu rồi lại điếc
Điếc như thế ai không muốn điếc
Lối điếc anh dễ bắt chước ru mà
Hỏi anh anh cứ ậm à”

(Đặc biệt, bản in trong Văn Đàn Bảo Giám không có bỏ dấu chấm, phết.).

Hai Trầu… giả điếc! Kiểm tra lại pin máy điếc mất mấy lần! Anh còn cho nghe thử máy điếc nó ù ù khó chịu ra sao!

Nói thế cũng hơi oan cho tôi! Đôi lúc tôi có mang máy nghe, nhưng có khi các anh nói nhỏ mình hổng nghe rõ hoặc máy nghe hết pin, nên cũng như không. Bởi vậy Bác sĩ Đỗ Hồng có nhắc:”Nếu các cụ có mang máy nghe, phải chắc chắn là máy đã mở, còn pin, đang hoạt động tốt.” (GSCS, trang 134). Rồi tác giả còn dặn:” Nếu cần, nhờ người nhà, người chăm sóc các cụ “phiên dịch” giùm vì họ đã quen.” (GSCS, trang 135).

Ngoài ra, tôi có cái vui nữa là do bị điếc, nên tôi gởi email thông báo cho tất cả anh em quen biết là tôi bị điếc nên nghe điện thoại rất khó, nên bạn bè hổng ai muốn gọi cho tôi hết vì các anh ấy nghĩ và truyền tin cho nhau Hai Trầu nó bị điếc rồi!

Chương “Lú Lẫn Tuổi Già (Alzheimer), tác giả viết: “ Bắt đầu bằng sự sa sút trí nhớ, có khi cho là tại lão hóa, tại trầm cảm, vì những dấu hiệu lúc đầu mơ hồ nhưng dần dần rõ thêm theo thời gian: Triệu chứng chánh là thay đổi tâm trạng, thay đổi hành vi, mất khả năng ngôn ngữ, mất trí nhớ trầm trọng và suy giảm các giác quan.”(GSCS, trang 141)

Tôi thấy tôi dường như có vài triệu chứng ấy. Tôi ưa quên: bỏ gì quên nấy. Chẳng hạn đi ra xe quên chìa khóa, kiếng mang trên mắt cứ đi tìm hoài; hoặc giả hai cái máy nghe mang ở hai lỗ tai lại đi kiếm trong túi áo… Bà chị thứ Ba tôi bị lẫn gần vài ba  năm nay. Những chuyện gì mới chỉ hổng nhớ. Cứ lập đi lập lại hoài một câu hỏi nhưng có điều những chuyện cũ cách nay rất lâu, có tới sáu bảy chục năm thì chỉ nhớ. Do vậy,  Bác sĩ có nhắc: “Tránh đi lạc, nên có người trông chừng, nên cho mang bảng tên ghi địa chỉ, điện thoại v.v…”(GSCS, trang 144). Tôi thấy lời dặn này rất cần vì hổng biết lúc nào bệnh nặng thêm và có khi hổng biết đường về nhà!

Chương “Từ Bi Với Mình”, sau khi nhắc qua sự kết hợp của trên hai trăm cái xương lớn nhỏ ráp nối với nhau để thành một khung xương của cơ thể con người; rồi trái tim của con người nữa cứ co bóp hoài không ngừng nghỉ; rồi tới mạch máu của mỗi người, nhứt là người già mạch máu cứng lại nên huyết áp tăng cao; rồi tới buồng phổi nơi con người trao đổi không khí để sống, tác giả kết:“Tóm lại, thương cái bộ xương của mình một chút, thương quả tim mình, buồng phổi mình, dạ dày mình một chút… Tóm lại hãy từ bi với mình một chút.” (GSCS, trang 120)

Những lời khuyên này rất thiết thực mà, cách nào đó, nó còn hợp với lời khuyên của André Maurois trong Thư Ngỏ Gởi Tuổi Đôi Mươi, ông cũng khuyên: “Chúng ta đừng nên tàn ác với chính mình”.

Chương “Thú Cưng” và chương “Rèn Tập Não Bộ”, cả hai chương này tác giả khuyên người già nên có cái gì đó để vui chơi cho tâm hồn được thư thới như nuôi vật cưng trong nhà và rèn luyện bộ não mà hai điều trong năm điều tác giả căn dặn tôi mê là “kích thích thần kinh” và “tâm linh” như “từ bi hỷ xã”.

Về hai chương này, ở ngoài đời tôi có thực hiện được phần nào lời căn dặn của tác giả. Thay vì nuôi thú cưng, tôi lại nuôi rong và nuôi cá, rong đuôi chồn và cá he, cá sặt, rất rẻ. Nuôi cá he, cá sặt để vui chơi mà cũng để nhớ Má nữa!

Ngoài ra, trong vườn dù sân sau nhà không rộng lắm nhưng tôi thích trồng nhiều loại cây quen, nhứt là cam quít bưởi, mận, khế, xoài, những loại cây ở quê mình ưa trồng, trái nhiều lắm. Rồi tôi cũng trồng nhiều loại rau như rau càng cua, rau ngò om, quế, rau thơm vân vân… Tuổi già nghe cây trái vào mùa làm tâm hồn mình cũng vui lây với thiên nhiên trời đất.

 

 

Qua một vài đối chiếu với một vài chương sách trong tác phẩm “Già Sao Cho Sướng” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tôi thấy mình gặt hái được rất nhiều điều bổ ích, một phần vì tác giả quá già giặn kinh nghiệm trong nghề nghiệp một lương y của mình, một phần tác giả đi đây đi đó nhiều, nhứt là lại có tính tình bình dân, lúc nào cũng nhớ về thời còn nhỏ chạy giặc tản cư nơi vùng quê Lagi ăn muối vùi, nên lời văn như một lời tâm tình hơn là chỉ dạy mà lại có lòng “từ bi hỷ xả” nữa, nên văn rất hiền và thân mật. Nay tôi hơi già bộn rồi, nhưng đọc sách “Già Sao Cho Sướng” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tôi thấy vui quá là vui…

 

Hai Trầu

Houston, ngày 14 tháng 11 năm 2018.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Tô Thẩm Huy: THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

03/11/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

Tô Thẩm Huy

 

 

Thơ Ngắn Đỗ Nghê là những bài thơ ngắn mà không ngắn chút nào.  Mời đọc một bài.  Lưỡng ngôn, tam cú.  Cả bài thơ vỏn vẹn sáu chữ, tựa đề: Trái Đất.

Giữa đêm

Thức giấc

Giữa ngày…

Sáu chữ.  Thinh không bỗng vang vọng lời kinh Bát Nhã:

Sắc bất dị không, không tức thị sắc.  Thọ tưởng hành thức, thảy đều như thế…

Ngân nga lời đồng vọng:

Sáng bất dị đêm.  Ngày tức thị tối.  Viên bi vun vút, trong cõi vô cùng…

Sáu chữ.  Ngắn.  Mà dư âm ngân dài, bất tuyệt.

Đâu là điểm khởi đầu, điểm tận cùng, điểm đến, điểm đi, của vòng tròn ?

Xin thư thả chép lại bài thơ, chép dưới lên trên, chép đầu xuống bụng, chép dọc thành ngang:

Giữa ngày, trái đất, giữa đêm.

Thi sĩ Đỗ Nghê đã lấy con dao mổ của ông y sĩ Đỗ Hồng Ngọc ra rạch một đường, hé lộ cái lẽ thường hằng ở giữa nếp gấp song trùng nhị bội.  Đâu là chân diện mục của quang âm tấc bóng ? Của logos ban sơ nguyên khởi ?

Bài thơ như một công án thiền.

Cái biên giới của sáng và tối, ngày và đêm đã tan biến.  Đọc thơ đôi khi nên tắt cái máy lô gích trong đầu đi, kẻo không chỉ nhìn thấy là nửa bên này nắng gắt, nửa bên kia tối om, mà không thấy cái sự tình kỳ bí của nghìn năm mây trắng du du trên trái tinh cầu.

Thơ hay có khi là những bài thơ lớn.  Hay vì ý tưởng lớn, hỗn mang bờ bãi.  Lớn vì  cánh hạc một thoáng vụt tung đã nghìn trùng bay mất.

Thơ hay có khi lại là mấy bài thơ nhỏ.  Hay vì ý tưởng như cây kim xuyên suốt nhất điểm thông, vì nó là lát cắt nóng hổi từ đời sống, nhịp tim vẫn đang đập trong từng lát cắt.  Nó như lưỡi chuỷ thủ đâm thẳng vào hồn.  Không băn khoăn, do dự, không suy nghĩ, đắn đo.  Nó cấu điếng vào người.

Mời đọc một bài hơi dài hơn bài trước.  Những mười chữ:

Sóng

Quằn quại

Thét gào

Không nhớ

Mình

Là nước

–          Sự tình đã như vậy thì chừ phải làm răng cho sóng nhớ nó là nước ?

–          Thưa, chắc phải nhờ ông thi sĩ Đỗ Nghê chích cho nó một mũi thuốc, hay là nhờ ông y sĩ Đỗ Hồng Ngọc làm cho nó một bài thơ, rồi thả trôi trên sóng nước, ắt nó sẽ giác ngộ mà thôi quằn quại thét gào.

Lại xin mời đọc một bài dài hơn chút nữa, mười bốn chữ, sáu tám: Đông Boston

Còn cây

    trơ lại với cành

Với linh hồn lá

ngập ngừng trút qua…

–           Có cần phải bảo là còn cây hay không?  Mùa đông thì cây nó cũng đứng đấy, chứ nó đâu có chạy đi đâu như đám lá vốn thích phiêu lưu bờ bãi kia, mà phải đặt bút bảo là nó vẫn còn ?  Nước thì nó cứ lững lờ trôi, chứ sông Hương nó có bao giờ đi đâu đâu, sao lại phải bảo là:

Dạ thưa xứ Huế bây giờ,

Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương ? (BG)

–          Thưa đó là chỗ nhiệm màu của thơ, nó khiến thực tại trở về hiển hiện mỗi sát na.  Phải mượn con mắt của thiền sư Vạn Hạnh lúc lâm chung nhắm mắt mới thấy hàng cây vẫn đang đứng đó ven bờ sông Hương núi Ngự.  Thật là hạnh phúc xiết bao khi biết là núi Ngự vẫn còn đó.  Hạnh phúc thật vô vàn khi biết là lúc mùa xuân trở lại thì cây cành vẫn đứng chờ đó để hồi sinh cho linh hồn lá đầu thai trở lại trần gian.

Từ đó sẽ có thể nhậm vận thịnh suy vô bổ uý.

Không biết Đỗ thi sĩ của chúng ta làm gì, đi đâu, mà ngày nọ lại lặn lội đến miền Đông Bắc băng giá, lang thang giữa phố Tàu Boston, đứng nghe gió nó co mà ro lạnh.  Hay là thi sĩ đi ngắm tuyết ?

Tuyết bay

Bay  nhẹ

Phố Tàu

 

Gió co

Ro lạnh

Phố

Đìu hiu

Theo.

Cách ngắt câu Gió co / Ro lạnh nghe lập cập hai hàm răng.  Hay là gió nó cũng lạnh nên nó co lại ? Thật thú vị !

Hay là thi sĩ đi tìm kiếm một điều gì chăng ?

Tìm kiếm

Anh không sống

Anh đợi sống

Anh để dành anh

Anh chắt mót em

Anh cắt xén niềm vui

Anh gậm nhấm nỗi buồn

Anh tìm kiếm

Một điều anh chẳng biết

Ông không sống, mà để dành. Ông đợi.  Một điều gì ông không rõ.

Cách nay nửa thế kỷ, một bài thơ trên tờ Bách Khoa có mấy câu nó theo đuổi tôi đến tận giờ:

Tôi làm thơ để lãng quên chờ đợi

Để đánh lừa năm tháng trước hư vô

Xin yêu tôi bằng tội lỗi bất ngờ

Bằng tất cả những giờ em có mặt (Tạ Tỵ)

Ông hoạ sĩ Tạ Tỵ cũng đã chờ đợi.  Ông chờ đợi điều gì chỉ mình ông rõ.  Mà cũng có thể ông cũng không rõ.  Nhưng cái cuộc chờ đợi ấy hẳn là ông chẳng hào hứng gì với nó lắm, nên ông muốn lãng quên là mình đang chờ đợi.  Nên ông làm thơ để khỏi nghĩ đến chuyện ấy.  Để đánh lừa năm tháng trước cái hư vô sâu thẳm.  Đỗ thi sĩ thì muốn để dành anh, muốn chắt mót em.  Tạ hoạ sĩ thì năn nỉ: xin yêu tôi bằng tất cả những giờ em có mặt.  Cái cuộc chờ đợi này, cái cuộc đánh lừa này, liệu sẽ được nước Cam Lồ đền bù ngày em có mặt ?  Hay là cái ngày ấy sẽ không bao giờ đến ?  Và xin tiếp tục chờ đợi.  Và lãng quên chờ đợi.

Và say đắm với tặng phẩm của đất trời tha hồ chờ đợi:

Món quà

Anh hôn đằng sau

Anh hôn đằng trước

Anh hôn phía dưới

Anh hôn phía trên…

Đỗ thi sĩ hôn gì mà lung tung thế ?

Chiếc áo của em

Món quà em tặng

Chiếc áo lạ lùng

Có mùi biển mặn

Có mùi dừa xiêm

Có mùi cát trắng

Có mùi quê hương…

Ra là thế.

Rồi ông đưa em đi lễ:

Em tin có Chúa

Ngự ở trên cao

Còn anh tin Chúa

Ngự ở trong nhau

Đưa em đi lễ

Vầng trăng treo nghiêng

Em làm dấu thánh

Anh làm dấu em.

Thật là may mắn người con gái được ông đưa đi lễ.  Tôi mong một ngày nào được ông dạy cho cách làm dấu ấy.

Ông làm dấu xong rồi thì ông giả sử:

Giả sử

Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang

Ập vào Mũi Né

Anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng

Vút qua những ngọn dừa

Những đồi cát trắng

Em nhớ mang theo đôi quả trứng

Vài nắm cơm

Vài hạt giống

Đừng quên mấy trái ớt xanh…

 

Biết đâu mai này

Ta làm An Tiêm

Trở về làng cũ

Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang

Nơi kia gọi là Mũi Né…

 

Cho nên

Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn ?

Ông giả sử thật tuyệt vời.  Ông hỏi như thế thì đến cả sỏi đá cũng dạt dào yêu thương.

Những câu thơ cuối bài của ông thường là những cú đấm nốc ao, bất ngờ.  Ông có bài thơ tình đọc lên ắt hoả phải bốc:

Thơ tình

Anh đọc bài thơ tình

Em ngồi nghe lặng thinh

Anh đọc thêm bài nữa

Em vẫn ngồi lặng thinh

Anh buồn không đọc nữa

Em chồm lên hôn anh

Như đổ dầu vào lửa… 

Thơ của Đỗ thi sĩ vốn hay bất ngờ chồm lên như thế, lắm lúc làm ta bàng hoàng, lại lắm lúc xui ta bật cười.  Những lát cắt nóng hổi từ đời sống.

Có lúc ông như tự đặt ống nghe lên tim mình mà định bệnh: bệnh nhớ.

Nỗi nhớ

Thôi hết cồn cào

Thôi không quặn thắt

Chỉ còn âm ỉ

Chỉ còn triền miên

Thì thôi cấp tính

Thì đành kinh niên !

Ông lại còn nghe thấy cả tiếng chổi ở trên chùa ?

Hội An Sớm

Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương

Không biết ông nghe bằng lỗ tai thi sĩ hay lỗ tai y sĩ ?  Trời gần sáng, mà trăng vẫn nằm trong vòng tay ôm của mái chùa thì hẳn phải là vầng trăng rằm.  Và vì thế nên tiếng gà nó mới vàng trong sương.  Kẻ tiểu sinh này đoán thế có đúng không, thưa Đỗ thi sĩ ?

Cái lỗ tai ấy của ông nghe thật lắm điều thú vị.  Nó nghe được cả tiếng thu.  Không phải tiếng thu xào xạc của nai vàng ngơ ngác, mà là tiếng thu day dứt của bầy quạ:

Thu

Chiều thu

Nghe tiếng quạ

Giật mình

Nỗi xa nhà

Nhớ sao

Mà nhớ

Quá!

Tiếng quạ, hay tiếng “Quá”?  Hay quạ tức thị quá ?

Tôi cũng có lần nghe thấy tiếng quạ ấy cách đây bốn mươi mấy năm, cũng trong một buổi chiều thu bơ vơ bên con suối đã cạn ở Minneapolis, cũng ngập hồn nỗi thương nước nhớ nhà những năm mới tản cư.  Xin chép ra đây như mấy lời đồng thanh dị cảm vậy:

…Những viên sỏi đã nổi lên

Lộ những bộ mắt buồn như đưa đám

Tiếng quạ kêu chiều cuối thu nghe ảm đạm

Lòng hỏi lòng tiếng quạ hay tiếng mình

Tôi hỏi tôi tiếng quạ hay tiếng đồng bào tôi

Tôi hỏi tôi có bao giờ quạ khóc ?(TTH)

Đã có bao nhiêu bài thơ viết về Mẹ, cho Mẹ, nhớ Mẹ.   Những bài thơ nghe đã quá quen thuộc, đến độ chưa đọc mà như đã đọc rồi.  Nhưng không phải lúc nào cũng thế. Mời quý vị chuẩn bị tinh thần đón đỡ một cú nốc ao đầy yêu thương, vỗ về săn sóc, đầy ngỡ ngàng, ngạc nhiên, sung sướng.  Bài thơ viết về người Mẹ, mà nói thật nhiều về người con:

Nụ cười của mẹ

Mẹ tôi có nụ cười lạ lắm!

Lúc nào bà cũng nhìn tôi mà cười cười. Không nói.

Lúc tôi có vẻ vội vã chào lẻn đi đâu đó,

bà cười cười tha thứ.
Vậy hả con ?

Lúc tôi lần khân thì nụ cười như biết rồi, khỏi nói.

Những lúc tôi mang chuyện bực mình
thì như thôi đi, đừng sinh sự!

Nhột nhất là khi bà cười như châm biếm

lúc tôi loanh quanh kiếm chuyện…

Mẹ tôi cứ vẫn cười cười như thế
suốt ba năm trên bàn thờ!

Ông thật may mắn có người mẹ không bao giờ ly cách.  Hai mẹ con chẳng xa nhau ngày nào, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào.  Và Mẹ ông hẳn phải thương yêu lắm người con hiếu tử, ngoan ngoãn, ý nhị ấy.

Lại xin mời đọc một bài thơ khác về Mẹ, để kết bài viết này ở đây.  Bài thơ tuyệt diệu, dịu dàng, đẹp.  Giản dị, nhưng thừa năng lực xoá tan mọi u buồn trên trần thế:

 

Bông hồng cho mẹ

Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…

Buổi trao hoa thật ân cần, âu yếm.  Mẹ đang về với Ngoại ở bên kia sông, con gửi Mẹ đoá hồng.  Mẹ cho con hoa trắng.  Buổi vĩnh ly sao êm đềm, hạnh thục.

Ngoại chờ bên kia sông…

Thanh bình, thư thái, hân hoan.

Vì bên kia sông nơi Ngoại đang chờ là vườn tược cây trái, là khói lam chiều, là kinh nước ngọt.  Là hai miền sinh tử đang tan hoà trong cõi trời thanh tịnh, bất sinh, bất diệt.

Chỉ năm chữ,mà gói cả tư tưởng của Kim Cang Bát Nhã kinh.

Năm chữ hiền lành.  An nhiên, tự tại.  Năm chữ đã biến cái phù du ngắn ngủi của thân phận con người thành vĩnh cửu.  Đã biến Thơ Ngắn Đỗ Nghê thành tiếng thơ dằng dặc đến vô cùng.

 

Tô Thẩm Huy,

Houston, Tiết Thu Phân, 2018

…………………………………………

tho DHN fini-R

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Y Đức – Khoa học Hành vi & Giáo dục Sức khỏe

26/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Bài giảng cho Sinh viên Y khoa năm thứ nhất:

Y Đức – Khoa học Hành vi & Giáo dục Sức khỏe

Bài giảng đầu niên học cho Sinh viên Y khoa năm thứ I, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM (Saigon), ngày 9.10.2018.

Bs Đỗ Hồng Ngọc

Nguyên Trưởng Bộ môn Y đức –

Khoa học hành vi & Giáo dục sức khỏe.

……………………………………………………….

Ghi chú: Từ nhiều năm nay, năm nào cũng vậy, buổi học đầu tiên của các em sinh viên mới bước vào Trường y, ĐHYK Phạm Ngọc Thạch, Sài-Gòn (Tp.HCM), tôi cũng được mời giảng bài học đầu tiên này. Với tôi, đây là một bài giảng quan trọng. Nói cho đúng, cũng không phải là một bài giảng mà chỉ là những lời tâm tình thân mật của người đàn anh với đàn em dưới mái trường Y khoa, vốn có truyền thống tốt đẹp như một “gia đình lớn” từ xa xưa.

Các em mới vào trường còn rất nhiều bỡ ngỡ, nên cách tiếp cận thân tình, gần gũi sẽ giúp các em nhiều hơn là bài giảng triết lý cao siêu. Do vậy tuy đã về hưu, tôi vẫn được Bô môn và Nhà trường mời “Nói chuyện” cùng các em buổi đầu tiên như vậy. Sinh viên năm nay hơn 900 em, ngồi rải rác 4 giảng đường, chỉ hy vọng các em có thể nghe và nhìn thấy bài giảng,và chỉ riêng có một giảng đường chính này các em mới trực tiếp được với giảng viên.

Năm nay nhờ có nvquyen ghi lại được video clip này để chia sẻ cùng các sinh viên. Cảm ơn nvquyen nhiều nhé.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký

Nhạc và giọng ca Hoàng Quốc Bảo: “CÓ KHÔNG”

26/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

CÓ KHÔNG

Thơ Đỗ Hồng Ngọc – Nhạc và giọng hát: Hoàng Quốc Bảo

Nhac sĩ Hoàng Quốc Bảo tức Tỳ kheo Đăng Châu vừa phổ nhạc bài thơ “Có Không” trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê và gởi về tặng tôi với Thân Trọng Minh. Đã vậy còn thiết kế một trang nhạc rất đẹp và tự mình hát với giọng khào khào của một Thiền sư rất dễ thương.

“Chắt ra cho hết/ Giọt hơi cuối cùng/ Thả mình như lá/ Rơi vào hư không/ Tràn vào khắp nẽo/ Đất trời mênh mông/ Nhẹ như không có/ Có mà như không…” (ĐHN).

Mấy dòng ngắn ngủi vậy. Phổ nhạc đã khó, hát còn khó hơn.

Chỉ nên nghe trong tĩnh lặng, chánh niệm, tĩnh giác…

Cảm ơn Tỳ kheo Đăng Châu, cảm ơn nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo.

Và, xin chia sẻ cùng các bạn,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Hoang-Quoc-Bao-Do-Hong-Ngoc-Co-Khong

Hoang Quoc Bao- Do Hong Ngoc (Co Khong)

(Dạng PDF, gồm 4 trang. Vui lòng nhấn vào mũi tên bên trái và phóng to thu nhỏ bằng dấu cộng hoặc trừ để xem rõ).

Nghe nhạc:

https://www.dohongngoc.com/web/storage/2018/10/Hoang-Quoc-Bao-pho-tho-Do-Nghe.mp3

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Vài hình ảnh “về Miền Tây” (tiếp theo)

25/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi: Vài hình ảnh chuyến “Về Miền Tây” (tt)

Đỗ Hồng Ngọc

Đến Châu Đốc thì đã quá tối. Mình và Châu Văn Thuận, Lê Ký Thương ở chung một phòng khá tệ, đầy mùi thuốc lá… Hai bạn mình cũng nòi tình hay nhớ nhà, cứ lúc lúc lại ra ngồi chỗ vắng. Làm gì vậy? Nhớ nhà! Thì ra “nhớ nhà châm điếu thuốc”… mà còn chịu không nổi mùi thuốc lá trong phòng do khách trước để dành lại.

Dầu vậy, sáng sớm, mình và LKT ra ngồi cafe ngoài đường với nhà thơ Vũ Trọng Quang. Có một chiếc xe vua trờ đến. Thì đi.

Lụm cụm cả rồi! Vũ Trọng Quang trẻ nhất, tự xưng mình tuy là Vũ Trọng Quang mà “không quan trọng” đỡ giùm hai bạn già lên xe…

Xe vua dư sức chở 4 người, nên khi 3 anh em ổn định xong, người bạn đạp xe một vòng Châu Đốc… ra tận công viên, phố chợ… cho Quang mua được tờ báo sáng theo thói quen của chàng!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nắng lên, buổi ăn sáng ở bờ sông Hậu êm ả, nước về mênh mông, cả đoàn ghé vào thắp nhang đền Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh rồi qua Châu Giang, thăm vùng người Chăm …

Trong lúc mọi người mua sắm quà lưu niệm thì mình tìm chụp vài hình ảnh đời sống, con người…

Châu Giang, Châu Đốc 18.10.2018 (photo: Do Hong Ngoc)

Đoàn bắt đầu đi thăm Trà Sư, rừng tràm nổi tiếng mùa nước nổi, trên đường đi Tịnh Biên.

 

mùa nước nổi (photo ĐHN)

 

“mệnh mông rừng tràm” (LNV), và lục bình cám cũng mênh mông không kém ở Trà Sư (photo Do Hong Ngoc).

thuyền nhỏ chèo tay len lỏi giữa rừng tràm và… những ổ chim (photo ĐHN)

 

 

 

 

 

 

 

 

Chiều tối đó, đoàn quay về Cần Thơ. Đã hẹn các bạn Cần Thơ lúc 17g mà đến 19g30 mới đến nơi! Đường xa vời vợi. Mưa mênh mông.

LKT bỗng lên cơn đau, xe dằn xóc chịu hổng nổi, lạnh toát, nôn mửa… làm mình và TTM một phen vất vả, đành phải ngủ lại Cần Thơ đêm đó, trong khi đoàn Quán Văn giao lưu với Hội văn nghệ Cần Thơ xong thì về thẳng Trà Vinh lúc nửa đêm. Sáng hôm sau nghe nói đoàn đã đi thăm Ao Bà Om, chùa Âng, chùa Hang.

Sau một đêm ‘thuốc thang” với sự trợ giúp của vợ chồng Bác sĩ Trần Văn Tốt – bạn cùng khóa với mình và TTM sống ở Cần Thơ – LKT ngủ thẳng một giấc sâu, sáng khỏe hẳn. Anh em lại ra bến Ninh Kiều chụp tấm hình kỷ niệm, nhắc chuyện xưa của chàng thiệt vui.

Bến Ninh Kiều sau cơn mưa đêm. Bên kia là Cồn Ấu. Trần Hoài Thư có nhớ gì không bạn ơi? Khi thương trái ấu cũng tròn…

Trước khu mộ Cụ Nguyễn Đình Chiểu.

Nhóm mình bắt kịp đoàn ở Trà Vinh rồi cùng về Bến Tre. Chương trình sẽ viếng mộ cụ Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản và Võ Trường Toản nhưng rốt cuộc chỉ thăm được mộ Nguyễn Đình Chiểu vì xe không vào được đường cấm tải trọng. Tuy vậy, TTM cũng hướng dẫn Ban Mai và Tịnh Thy, Thanh Hằng đi xe ôm vào tận nơi. Một kỷ niệm đáng nhớ ở Bến Tre là người học trò cũ của Ngọc Anh (vợ nhà văn Nguyên Cẩn) nay là một người “ăn nên làm ra” ở Bến Tre nhớ ơn thầy cô đã làm một bữa tiệc khoản đãi cả đoàn chu đáo. Lại có buổi giao lưu văn nghệ thân tình, ấm áp. Thời buổi này có một trường hợp học trò xưa còn nhớ ơn thầy cô cũng đã là quý hiếm, cảm động.

 

Rồi hôm sau, đoàn tham quan các khu thủ công làm kẹo dừa Bến Tre, nghe đàn ca Tài Tử rồi đi thuyền nhỏ trên rạch dừa nước để ra thuyền lớn, đưa mọi người đi thăm cả 4 cù lao Long, Lân, Quy, Phụng, chỗ của ông Đạo Dừa.

Trên đường về, qua cầu Rạch Miễu, ghé thăm nhà lưu niệm Sơn Nam.

Một chuyến đi đọng nhiều kỷ niệm đẹp. Anh chị em Quán Văn ngày càng hiểu nhau, thương quý nhau, gắn bó nhau hơn. Phải nói cảm ơn BTC, cảm ơn Mỹ Lệ, Nguyễn Đình An, Đoàn Văn Khánh cùng “già làng” Nguyên Minh đã tổ chức rất thành công.

Buổi sáng hôm sau (22.10.2018) mọi người chia tay nhau tại Đường Sách cũng là một kỷ niệm khó quên.

Với chúng tôi, những người bạn thiết của một thời Ý Thức, nay đều đã U80 cũng thấy mình trẻ lại qua chuyến đi này. Chỉ tiếc đoàn không ghé thăm nhà cũ vườn xưa của nhà văn Trang thế Hy.

Buổi chia tay bùi ngui ở Đường Sách Tp HCM sáng sớm ngày 22.10.2018 để rồi người về Huế, người về Đà Nẵng, Quy Nhơn… Hình như họ đều hẹn nhau tái ngộ một ngày nào đó không xa.

 

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Vài hình ảnh chuyến “về miền Tây”

25/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi: Vài hình ảnh chuyến “về miền Tây”

Đỗ Hồng Ngọc

Buổi họp mặt bạn bè kỷ niệm Sinh nhật Quán Văn lên 7 (ngày 16.10.2018), đồng thời cũng là Sinh nhật của bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức, ra đời cách đây 47 năm. Số Quán Văn 59 này giới thiệu một khuôn mặt văn học miền Tây là Trịnh Bửu Hoài ở Châu Đốc, vì thế ngày hôm sau, 17.10. 2018 bạn bè đã làm một chuyến Tây du, “về Long Xuyên Châu Đốc…” cùng Trịnh Bửu Hoài, không chỉ thăm bạn bè văn nghệ mà còn thăm vùng đất phương Nam mùa nước nổi xứ của Núi Sam, của rừng tràm Trà Sư, của Bà Chúa Xứ rồi còn ghé qua Cần Thơ, Trà Vinh, Bến Tre…

Không chỉ anh chị em Quán Văn mà còn có cả anh em Ý Thức, chuyến này chỉ có 5 bạn già có mặt, vắng những Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư… Dù sao thì cũng có Nguyên Minh, người chèo đò cho cả hai tờ báo văn nghệ này, có Thân Trọng Minh (Lữ Kiều), Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê), Châu Văn Thuận, Lê Ký Thương, năm anh em của “mùa thu cũ”, của “gió heo may”…

từ trái: Châu Văn Thuận, Nguyên Minh, Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê), Thân Trọng Minh (Lữ Kiều), Lê Ký Thương (cafe Vườn Hồng, Bến Tre 20.10.2018)

Chuyến đi khá đông, gần 50 người, toàn là những bạn bè và cộng tác viên thân thiết của Quán Văn, từ Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Phan Thiết, Vũng Tàu… và Saigon. Đa số là những người “bạn trẻ”, những cây viết sung sức, rất hòa đồng, dễ thương. Phải nói thêm có “lạc” một người từ phương xa là Nguyễn Minh Nữu, từ Mỹ về, rất vui nhộn, hoạt bát, một MC bất ngờ!

Ghé qua Sadec cho mọi người thăm nhà “Người Tình” Huỳnh Thủy Lê một chút. Mình và mấy người bạn tạt qua thăm Kiến An Cung, ngôi chùa cổ gần đó. Không có nhiều thì giờ nên không ghé thăm chùa Kim Huê và thăm nhà ông Tư Khánh, nhân vật gắn bó với “Bột Bích Chi” nổi tiếng một thời, vừa qua đời.

Qua phà Vàm Cống thì đã vào Long Xuyên. Tưởng kỳ này được đi cầu mới bắc ngang sông Hậu, nhưng nghe nói cầu đang sửa, đành chờ kẹt phà cả tiếng đồng hồ!  Đến Long Xuyên rồi đây. Mới mấy năm mà xa lạ quá. Đường phố rộng rải, sầm uất, nhộn nhịp rồi. Mọi người ăn bún mắm đặc sản. Mình chỉ ăn cơm với cá linh rang mùa nước nổi… và dự định làm một chuyện riêng: thăm ngôi nhà cũ Nguyễn Hiến Lê. Cả đoàn chuẩn bị buổi giao lưu giữa anh chị em Quán Văn và bạn bè văn nghê An Giang Châu Đốc, còn nhóm mình tách riêng một lúc. Không ngờ mới nêu ý kiến đi thăm nhà cũ NHL với TTM, LKT, CVT (nhóm Ý Thức) thì đã được sự đồng tình của Hoàng Kim Oanh (Đại học Saigon); Nguyễn Thị Tịnh Thy (Đại học Sư phạm Huế); Ban Mai (Đại học Quy Nhơn) và cả nhà văn Hiếu Tân (Vũng Tàu), họa sĩ Thanh Hằng, và Pham Thành Hiền (An Giang)…

trước phòng làm việc của học giả Nguyễn Hiến Lê, 92 Tôn Đức Thắng, Long Xuyên.

 

Đỗ Hồng Ngọc thắp nén nhang và đặt cuốn sách vừa tái bản “Nguyễn Hiến Lê, con người và tác phẩm” của một nhóm tác giả gồm Trần văn Chánh, Đỗ Hồng Ngọc, Lê Anh Dũng, Nguyễn Duy Chính, Nguyễn Chấn Hùng… lên bàn thờ ông.

 

Các bạn dành một phút tưởng niệm NHL. Các cô giáo Kim Oanh, Tịnh Thy, Ban Mai… đều nói từ tuổi thơ đã đọc, đã học nhiều từ NHL nên hôm nay như được đến thăm người thầy cũ của mình, với nếp sống giản đơn, thanh bạch, để lại đời nhiều bài học đáng quý trọng.(hình TTM).

Sau đó nhóm bạn kịp thời về dự buổi giao lưu tại một quán cafe sân vườn rất đẹp ở Long Xuyên. Cảm động vì các bạn trẻ trong Hội văn học nghệ thuật An Giang nói về người đàn anh, người thầy đi trước của mình: nhà văn Trịnh Bửu Hoài. Dịp này nhiều bài thơ, bài hát, vọng cổ đã được trình bày rất hay. Trong đoàn Quán Văn có Elena, người Ý, vợ nhà văn Trương Văn Dân tiếng Việt chưa rành mà điệu ca cổ nào cũng thuộc! Đáng khen TVD!

 

Kim Oanh nói đôi lời về việc vừa ghé thăm nhà cũ NHL. Phạm Thành Hiền cho biết ở Long Xuyên cũng đã có con đường mang tên Nguyễn Hiến Lê. (còn tiếp).

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Những người trẻ lạ lùng, Thư gởi người bận rộn, Vài đoạn hồi ký

Vài hình ảnh “Sinh nhật” Ý THỨC và QUÁN VĂN

16/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Vài hình ảnh “Sinh nhật” Ý THỨC và QUÁN VĂN

Đỗ Hồng Ngọc ghi

Sáng nay 16.10.2018 Quán Văn số 59 tổ chức Sinh Nhật lần thứ 7 khá rôm rả tại một Quán Cafe trên đường Lam Sơn, Bình Thạnh. Dịp này cũng là số báo đặc biệt giới thiệu Nhà văn Trịnh Bửu Hoài, cũng như để chuẩn bị chuyến đi Miền Tây nhân “Mùa Nước Nổi” của nhóm Quán Văn. Rất đông bạn bè đã đến “chung vui”.

Dịp này, Quán Văn cũng đồng thời tổ chức Sinh Nhật cho Ý Thức, bán nguyệt san Văn học nghệ thuật đã có mặt trên văn đàn Saigon 47 năm về trước. Hai tờ báo cách nhau 40 năm và cùng có chung một “tay chèo” là Nguyên Minh.

Ý Thức của 47 năm trước sáng nay hiện diện chỉ có (từ trái) Nguyên Minh, Lữ Kiều Thân Trọng Minh, Châu Văn Thuận, Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc. Lê Ký Thương bận không đến. Anh em không quên nhắc Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư… nơi xa xôi. Thậm chí còn nhắc 20.10 này sẽ khui rượu mừng Sn Lữ Quỳnh nữa đó!

 

Các thân hữu và cộng tác viên của Quán Văn từ Huế, Đà Nẵng, Bình Thuận, Vũng Tàu, An Giang… về tham dự đông vui. Nguyễn Minh Nữu từ xa xôi cũng kịp về để tham gia làm MC với Hoàng Kim Oanh và Đoàn Văn Khánh… tạo nên một không khí sôi đông với lời ca tiếng hát giọng ngâm…

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

Sách “NGUYỄN HIẾN LÊ, Con Người và Tác Phẩm”

16/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Nguyễn Hiến Lê, Con Người và Tác Phẩm

Nhiều Tác Giả

vừa được Nhà xuất bản TP. HCM tái bản, bổ sung khá phong phú với nhiều bài viết của các tác giả gần gũi với học giả Nguyễn Hiến Lê từ xưa như Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Quách Tấn, Minh Quân, Lê Minh Đức, Văn Phố…

 

Nhân dịp này, xin gởi đến các bạn một bài viết của Đỗ Hồng Ngọc, trên báo Bách Khoa số 426 ngày 17.4.1975 (được in lại trong tập này). Bài báo do GS Huỳnh Chiếu Đẳng gởi về tặng (từ trong bộ báo Bách Khoa số hóa do nhà văn Phạm Xuân Đài thực hiện) và đã được Đèn Biển gõ lại dưới dạng word. Xin trân trọng cảm ơn tất cả.

Đỗ Hồng Ngọc.

Một trang báo Bách Khoa 43 năm về trước (17.4.1975)

Ông Nguyễn – Hiến – Lê và Tôi

Lời B.K.- Tác giả bài viết dưới đây, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng là nhà thơ Đỗ Nghê (*) một bút hiệu quen thuộc thường có sáng tác đăng trên Bách Khoa. Đỗ Hồng Ngọc đã có một thời niên thiếu thật khốn khó: Cha mất sớm, nhà nghèo, ông phải phụ giúp mẹ trông nom cửa hàng xén tại chợ BT. Nhờ được đọc những tác phẩm tự luyện trí đức của Nguyễn Hiến Lê, lại có chí, ông đã đạt được nhiều kết quả tốt trên đường học vấn. Ông vẫn liên lạc thường xuyên với người đã viết nên những tác phẩm dìu dắt mình từ thuở còn niên thiếu. Nhân đọc mục Thời sự Văn nghệ trên Bách Khoa loan tin nhà văn Nguyễn Hiến Lê cho xuất bản tác phẩm thứ 100 của mình, người hằng quan tâm đến sức khỏe của “lứa tuổi học trò” liền gửi đến Bách Khoa bài sau đây “gọi là để góp một món quà nhỏ” dành tặng cho người đã đem toàn tâm toàn lực cung cấp các món ăn tinh thần cho mọi lứa tuổi từ mấy chục năm qua.

…………………………………………………………..

Tác phẩm đầu tiên của ông, Tổ chức công việc theo khoa học, ra đời năm 1949 nhưng mãi đến năm 1956 tôi mới được làm quen với tên tuổi ông. Còn nhớ lần đó tôi theo xe chở cá nước đá về Saigon “bổ hàng” cho mẹ – mẹ tôi có quán hàng xén tại chợ B.T. – một buổi trưa lang thang trên vỉa hè Trần Hưng Đạo, dừng chân ngắm hàng sách “sôn” bày la liệt, tình cờ thấy cuốn “Kim chỉ nam của học-sinh” của Nguyễn Hiến Lê, một tác giả hoàn toàn xa lạ với tôi lúc đó. Đọc qua lời Tựa, tôi mua ngay.

Tản cư về, tôi bị trễ học đến 4, 5 năm, nhà nghèo, cha mất sớm, tôi phải phụ giúp mẹ trông nom cửa hàng cho nên dù hiếu học, tôi cũng không biết cách nào để tiến thân. May quá, “Kim chỉ nam” đã mở cho tôi một chân trời mới. Đọc xong, tôi thấy mình gần gũi với ông kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ-thống-hóa, đặt ra những nguyên-tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viển vông nhàm chán. Thời gian sau đó tôi lại tìm mượn được thêm các cuốn Tự học để thành công, Rèn nghị lực của ông tại nhà một anh bạn làm nghề may. (anh Chín, khi đọc những dòng này, anh có nhớ bọn mình đã góp chung tiền để mua loại sách này chăng và bây giờ, làm chủ một tiệm may nho nhỏ chắc anh đã đủ tiền mua trọn bộ sách Nguyễn Hiến Lê cho các con anh như đã từng ao ước rồi phải không?).

Với niềm tin mới, tôi bắt tay vào việc lập chương trình “học nhảy”. Tôi viết thư hỏi ý kiến ông về việc này và ông trả lời “được” vì qua bức thư thấy tôi khá già giặn và sức học đã vững. (Trong Kim chỉ nam của học sinh ông đả kích việc học nhảy lớp dữ lắm!). Lúc đó tôi đang theo học đệ thất – lớp đệ thất đầu tiên, mới mở của tỉnh – và tôi đã rất xấu hổ phải ngồi bên cạnh các học trò nhỏ hơn mình 4, 5 tuổi. Nhờ có chí và biết áp dụng những phương pháp học chỉ dẫn trong Kim chỉ nam và Bí quyết thi đậu, tôi đã rút ngắn chương trình Trung-học được ba năm, đuổi kịp các bạn bè cùng lứa. Được bà con khuyến khích, mẹ tôi bằng lòng cho tôi đi Saigon “du học”.

Đến Saigon, việc đầu tiên của tôi là tìm thăm ông, định bụng sẽ báo tin cho ông biết là đã thi đỗ và bày tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn của tôi ; nhưng khi gặp ông, tôi đã lúng túng không biết phải nói gì, chỉ ấp úng trả lời ông vài ba câu rồi ra về. Thấy ông có vẻ nghiêm nghị quá, lại đang bận sửa bản vỗ cho một tác phẩm nào đó. Như thế là lần này tôi đã hoàn toàn thất bại, cuốn Đắc nhân tâm của ông không giúp tôi được tí gì cả! Từ đó, mỗi lần đến thăm ông tôi thường rất ngần ngại, lúc nào cũng có cảm tưởng như quấy rầy ông, không để cho ông “sống đủ 24 giờ một ngày”. Nhiều người quen biết ông chắc cũng cùng cảm tưởng đó lúc ban đầu. Về sau, nhiều năm trôi qua, quen thân ông nhiều hơn, tôi biết tôi đã lầm lẫn. Phong thái ông là phong thái của một nhà nho, giao tình dù thật thắm thiết thì bên ngoài vẫn có vẻ hờ hững, khác xa với cái vồn vã ồn ào của người Tây-phương. Chính cái ánh mắt ông và cái bắt tay chặt chẽ của ông đã bộc lộ tâm tình ông nhiều hơn. Bây giờ tóc ông đã bạc nhiều, da sậm và nhăn nheo nhiều hơn, nhưng ánh mắt vẫn tinh anh và cái bắt tay vẫn nồng nhiệt như thuở đó. Những lúc đến thăm, tôi thấy ông luôn mặc bộ bà ba trắng nhạt, cũ kỹ quen thuộc, cũ kỹ quen thuộc như loại bì thư ông quen dùng trong bao nhiêu năm qua. Ông không thích đổi thay. Hình như ông hút thuốc hơi nhiều quá! Lúc nào cũng có lon thuốc rê bên mình, ông vừa trò chuyện với khách vừa vấn vấn vê vê điếu thuốc lá, liếm nhẹ rồi bật quẹt hút. Các ngón tay ông nhanh nhẹn, thuần thục đến vàng sậm màu khói. Ông khen Lâm Ngữ Đường là “cận nhân tình” có lẽ vì họ Lâm “bồ” với ông, đã không cấm ông hút thuốc dù cái bao tử của ông cứ đau đi đau lại hoài!

Thỉnh thoảng khi có chuyện thắc mắc, chuyện vui buồn gì mà không tiện đến thăm, tôi viết thư cho ông. Lần nào ông cũng sốt sắng trả lời, ân cần chỉ dẫn, khuyến khích tôi.

Quen biết ông mới thấy ít có ai yêu tiếng mẹ như ông. Muốn cho ông “thao thao bất tuyệt” thì cứ việc nói đến tiếng Việt với ông. Ông chịu không nổi khi thấy một chữ bị dùng sai. Còn nhớ khi bọn sinh viên chúng tôi vận động chuyển ngữ Việt tại trường Y-khoa, ông đã hỗ trợ bằng những bài báo nẩy lửa. Lúc đó giọng ông không còn cái vẻ nghiêm túc, hiền lành, bình đạm thường ngày nữa mà sôi nổi, gay gắt, phẫn nộ, đầy khích động ; giá có ai giật lấy bút của ông đi, tôi chắc là ông sẽ lấy dao “viết lên đá” như Trần Dần nói.

Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Cuốn sách đầu tay của tôi Những tật bệnh thông thường trong lức tuổi học trò, chỉ là một phần bổ túc cho cuốn Kim chỉ nam của học sinh. Sau đó tôi viết thêm một cuốn khác, cùng loại y-học phổ thông, cũng nằm trong chiều hướng nâng  cao trình độ đại chúng mà ông đã vạch. Ông nói muốn cho nước giàu, dân mạnh thì không phải chỉ một người hay một nhóm người làm được, mà phải là toàn dân cùng ý thức, cùng thực hiện. Muốn vậy phải đặt nặng vấn đề giáo dục đại chúng.

Với tôi, ông là một tấm gương sáng. Tấm gương của Nghị lực, của Tự học và của Phụng sự. Ông tận tụy cả đời viết sách, đem kinh nghiệm bản thân ra hướng dẫn thanh thiếu niên, mong giúp được cho người khác chút gì ; lúc bỏ cây viết ra thì vớ ngay cuốn sách để đọc, để học không ngừng. Tôi đoán sở dĩ ông đã không nhận một chức vụ gì trong guồng máy công quyền là để giữ cho ngòi bút mình độc lập, để có thể đóng trọn vai trò giám sát của người trí thức mà Alain đã nói. Nhờ đó ông không có mặc cảm, thấy điều gì đáng khen thì khen, điều gì không ưa thì nói. Và ông đã nói bất cứ điều gì từ việc dịch sách, chuyển ngữ đến việc nhân mãn, ô nhiễm… Có thể đôi lúc ông cũng sai lầm, nhưng điều quan trọng là ông đã thành thực với chính ông.

Đến nay ông đã cho ra được 100 tác phẩm, có những tác phẩm dày vài ngàn trang, có những tác phẩm 3. 4 cuốn, về đủ mọi bộ môn, từ văn chương, y-học, giáo dục, đến lịch sử, triết học… làm nhiều người kinh ngạc về sức làm việc của ông. Tôi biết có những tác giả “sản xuất” còn nhiều hơn ông, viết mau và viết mạnh hơn ông, nhưng đọc họ người ta thấy rõ ràng là những tác phẩm máy móc, sản xuất hàng loạt. Ở ông thì không. Ở ông là con người. Tác phẩm ông là con người ông. Ông “dạy” cho thanh niên rèn nghị lực thì chính ông là một tấm gương nghị lực ; ông viết về tổ chức thì chính nếp sống ông là một sự tổ chức ; ông viết về tự học thì chính ông đã nhờ tự học mà thành công. Nhờ viết từ những kinh nghiệm sống thực đó, người đọc thấy gần gũi với ông và những lời ông chỉ dẫn đều có thể ứng dụng được.

Nhìn lại toàn bộ tác phẩm ông, không ai chối cãi giá trị của những Đông kinh nghĩa thục, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đại cương Triết-học Trung-quốc, Ngữ pháp Việt-nam… và những Chiến tranh và Hòa bình, Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến quốc sách… Những tác phẩm đó thực sự có ích cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên đại học và đã đóng góp một phần đáng kể cho nền văn hóa miền Nam. Nhưng theo tôi, những tác phẩm quan trọng trong đời ông, đáng cho ông hãnh diện chính là những tác phẩm nho nhỏ, ông viết nhằm giáo dục thanh thiếu niên, hướng dẫn họ trong việc tự huấn luyện trí, đức. Đó là Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Tương lai trong tay ta, Rèn nghị lực… và nhất là bộ Gương danh nhân của ông. Mà họ là ai? Là những thiếu niên thất chí bán hàng xén như tôi thuở đó, là anh thợ may lận đận như anh Chín NS, là một giáo viên tiểu học, một y tá hương thôn, một thơ ký nghèo trong một công tư sở nào đó. Họ là những người có thiện chí, có tinh thần cầu tiến, hiếu học nhưng vì hoàn cảnh mà lỡ dở. Họ là thành phần đông đảo nhất trong xã hội ta bây giờ, một xã hội có vốn liếng hơn ba mươi năm chiến tranh. Nhờ những cuốn sách đó, trước mắt họ mở ra những cánh cửa mới, trong lòng họ nhen lên ngọn lửa nồng, và dù họ có không “thành công” nhiều thì đời sống họ cũng sẽ được nâng cao ít ra là về mặt tinh thần. Thú thực, tôi rất bực mình khi thấy chính tác giả có lần đã xếp những loại sách đó vào hàng thứ yếu. Ông nói “… nhưng chẳng qua cũng chỉ để cho thanh niên đọc (Kỷ niệm Văn-thi-sĩ hiện đại – Bàng Bá Lân). André Maurois 80 tuổi mới viết “Thư ngỏ gởi tuổi đôi mươi”!

*

Những năm gần đây ông chuyên viết về cuộc đời và tư tưởng của các triết gia Đông phương: Liệt tử và Dương tử, Khổng tử, Mạnh tử, Hàn Phi tử… Ông viết chậm và ít hứng hơn, có lẽ một phần vì tuổi đã lớn, một phần vì sức khỏe suy kém.

Các nhà phê bình sau này nhắc đến sự nghiệp ông mà quên không nói đến sức khỏe ông là một điều thiếu sót lớn! Thực không ai ngờ rằng một người viết hằng trăm tác phẩm như vậy lại là một người đau yếu liên miên. Chứng đau bao tử kinh niên của ông thỉnh thoảng trở đi trở lại. Mỗi lần gặp ông mà thấy ông có vẻ cau có thì chắc chắn là ông bị cơn đau bao tử hành rồi! Thứ bệnh đó thực là khó chịu (vì chính tôi cũng mắc phải nên hiểu lắm!) : nó làm cho ta trở thành một con người… xa lạ, không thích giao du, không chịu được đám đông. Phải ăn đúng giờ, nghỉ đúng giấc. Phải cữ món này, kiêng món nọ, không uống rượu, ít hút thuốc. Tâm hồn rán cho yên tĩnh. Nếu không vậy thì đau. Trong một bức thư, ông cho tôi biết ông vừa bị sưng bao tử (gastrite) vừa bị loét ở cuống (ulcère duodénal). Mỗi lần gặp chuyện lo lắng, buồn phiền hay gặp một chương sách khó viết, ông lại đau. Những lúc đó tay cầm viết của ông bị run rẩy. Có lần ông bị nấc cục mấy hôm liền và thường hay bị mất ngủ, bón, trĩ… Tất cả những chứng đó đều có bà con xa gần với bệnh đau bao tử. Cho đến ngày nay, y học cũng chưa có thuốc chữa dứt khoát bịnh này mà nguyên nhân một phần lớn là do tâm thần. Các thứ thuốc chữa chỉ có tính cách ngăn chận cơn đau tạm thời, lại thường gây những phản tác dụng như làm mất ngủ, bón, trĩ v.v… Bịnh có thể tự nhiên khỏi. Một tạp chí y học mới đây đăng kết quả một cuộc thí nghiệm chữa bịnh đau bao tử như sau: một nhóm bịnh nhân được chữa bằng thuốc đau bao tử, một nhóm khác được chữa bằng Placébo (1). Tỉ lệ lành bịnh gần gần như nhau. Thỉnh thoảng tôi đến thăm, nghe ông khoe một thứ thuốc trị đau bao tử mới, uống khá hiệu nghiệm ; còn tôi thì khoe với ông một phương pháp chữa đau bao từ cũng mới, là đọc truyện kiếm hiệp của Kim-Dung, để quên hết những căng thẳng, lo lắng, mệt mỏi. Rồi tôi gửi biếu ông một bộ “Cô Gái Đồ Long”. Rất tiếc là ông không đọc được kiếm hiệp. Ông thử đọc cuốn đầu rồi thôi, chịu, không đọc thêm được nữa!

Năm ngoái tự nhiên mắt ông nhìn kém đi, vẫn đọc sách được, nhưng trong khoảng cách hai thước ông nhìn thấy lờ mờ như có lớp sương mù. Tôi ngại rằng ông có thể mắc bệnh hột cườm ở người già (cataracte sénile), định giới thiệu ông đến một bác sĩ nhãn khoa, nhưng ông chưa đi thì bệnh bớt dần rồi khỏi. Những ngày gần đây ông còn bị đau răng, rồi bị thận viêm. Bịnh tuy không có gì nặng nhưng là những thứ bịnh khó chịu, và làm kém sức khỏe. Nhiều lúc tôi ngờ rằng sự nghiệp trước tác của ông một phần xây dựng từ những bịnh tật của ông.

Mắc bịnh đau bao tử, một thứ bịnh đòi hỏi phải sống, phải làm việc có tiết độ, ông chú trọng nhiều đến tổ chức, viết Tổ chức công việc theo khoa học, Tổ chức gia đình v.v… Để có thể tự chữa thứ bịnh tâm thể (Psychosomatique) đó của mình, ông viết Sống 365 ngày một năm, Sống theo sở thích, Chấp nhận cuộc đời v.v… Những lúc buồn phiền, lo lắng, ông viết Quẳng gánh lo đi, Trút nỗi sợ đi, Xây dựng hạnh phúc… Những lúc bệnh bớt, thấy khỏe khoắn, hăng hái trở lại, ông viết Thẳng tiến trên đường đời, Tương lai trong tay ta… và khi mệt mỏi, căng thẳng ông xả hơi  bằng Tô Đông Pha, Sống Đẹp… Có phải tôi đã hơi méo mó mà nghĩ ra mấy chuyện đó không? Và như vậy ta sẽ có một thứ quan điểm phê bình gọi là phê bình bịnh-lý-học chăng?

*

Mơ ước lớn nhất của đời ông bây giờ có lẽ là được thấy cảnh thanh bình, con cháu đoàn tụ, rồi lui về  sống với mảnh vườn ở miền quê. Năm kia tôi gửi ông một bài thơ, bài “Đi cho đỡ nhớ” viết từ nỗi xúc động thấy những chuyến xe lửa lại lăn trên đường sắt, dù chỉ mới lăn đến… Biên Hòa, mà mơ một chuyến tàu nam bắc. Ông trả lời:

“(…) Nhưng cháu làm cho tôi thèm đi quá! A, bao giờ Saigon mới được nối với Hà-nội bằng xe lửa đây? Lúc đó tôi sẽ bỏ hết công việc, nhờ cháu làm revision gérénale cho bộ máy của tôi, rồi lên xe lửa thăm non sông Nam Trung Bắc một lần cuối cùng. Sẽ uống dừa Tam Quan, ăn cam xã Đoài, rồi ăn nhãn Hưng Yên, hồng Bạch Hạc, cốm Vòng v.v…”

Rồi cuối năm ngoái, có lẽ đã đợi mãi, hy vọng rồi thất vọng mãi vẫn chưa thấy thanh bình về trên quê hương mà chiến tranh càng ngày càng thêm thảm khốc, ông viết “Bây giờ tôi chỉ mong được nghỉ ở thôn quê thôi. Hai mươi mấy năm viết lách liên tiếp, chưa bao giờ được nghỉ lấy một tháng (…)” Ý muốn này ông đã lập đi lập lại như một điệp khúc từ nhiều năm qua mà không sao thực hiện được. Cứ nghỉ ít lâu ông lại chịu không nổi, phải cầm viết lại. Ông đã nghiện nặng rồi chăng?

Cuộc đời ông quả thực là một tác phẩm lớn. Tôi ước mong trong tuổi già ông sẽ viết hồi ký, kể lại đời mình cho bọn trẻ chúng tôi đọc như André Maurois viết “Portrait d’un ami qui s’appelait moi” vậy. Tôi là độc giả của ông từ ngày còn là một học trò đệ thất, lại được quen biết ông hơn 15 năm nay, nghĩ lại, nếu trong thời thơ ấu không được đọc những sách đó của ông, không được gặp ông, có lẽ tôi đã khác ; nên tuy không được may mắn học với ông ngày nào, từ lâu tôi vẫn xem ông là một vị thầy của mình, hơn thế, một người thân. Tôi đâu có cần phải nói cám ơn ông!

 

ĐỖ HỒNG NGỌC

___________

(*) Lời B.K. – Những tác phẩm của tác giả mang tên Đỗ Hồng Ngọc là: Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972 – tái bản 1974), Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng (1975), những thi phẩm mang tên Đỗ Nghê là: Tình người (1967), thơ Đỗ Nghê(1974)

(1) Một loại “thuốc giả” chỉ có tác dụng tâm lý, dùng để thí nghiệm.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (9.2018)

12/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Một chuyến đi hụt… về Lagi, Mũi Né

Không định viết lá thư này nhưng chung quy cũng tại bài thơ có mấy câu bí hiểm khiến bạn thắc mắc nên đành “giải trình” thôi.

Bài thơ “trời ơi” nó như vầy:

Sáng nay dậy sớm

Chuẩn bị lên đường

Sực nhớ

Quên!

(ĐHN)

“Quên” là quên chuyến đi đã bị “cencel” rồi vậy mà sao cứ vấn vương trong bụng. Tu hành bấy lâu mà sao tệ quá bạn ơi. Gởi cho mấy bạn trong “gánh hát” thì có bạn kêu trời ơi, già cả lẩm cẩm đến vậy sao?

Lỗi tại mình. Đáng lẽ bài thơ “rất hay” này chỉ nên chia sẻ trong nhóm dự định đi Lagi-Mũi Né một chuyến rồi giờ chót không đi được vì một lý do bất khả kháng, ai dè gởi nhầm cho mấy bạn xa xôi…

Số là T,D về có mấy hôm, đã cùng nhau sắp xếp từ cả tháng trước một chuyến đi Lagi Mũi Né với mấy bạn “gánh hát” mình ở đây, giờ chót người bận người bệnh, thế là bỏ cuộc. Phải cancel khách sạn, xe cộ các thứ. Mình là tourguide nên đã lên “đường dây” rất kỹ, sắp xếp đâu đó sẵn sàng…

Dù sao cũng nên ghi lại “đường dây” ở đây, biết đâu có dịp nào rồi lại đi khi có bạn xa về. Dĩ nhiên mình thiết kế một tour rất “nhà quê” để bù cho bạn bè có khi quên cả lỗ chân trâu, bờ cỏ dại, chiếc thúng chai, đồi cát bỏng…

Phải khởi hành sớm. Đi cao tốc đến Long Thành, lên quốc lộ 51 (đi Vũng Tàu), quẹo trái vào xã Tóc Tiên, ghé thăm Thiền viện Viên Không của thầy Viên Minh. Con đường quanh co len chân núi Dinh, lát đá thô rất đẹp, thỉnh thoảng có ao bông súng. Những ngôi tịnh xá mọc rải rác, len lỏi giữa rừng cây thưa. Có thì giờ thì leo dốc, đến một hồ nước ngọt trên lưng chừng đồi.

Rời thiền viện, đi ngang qua cánh đồng cỏ có những bầy cừu trắng rất dễ thương.  Mấy bạn cưỡi ngựa giữ cừu làm nhớ cảnh “thả ngựa chăn dê” thuở nào xưa.

Đi theo quốc lộ 52, qua Bưng Riềng, vượt khu rừng Nguyên sinh xưa từng có voi, cọp… thong dong qua lại. Ghé ăn sáng, cafe ở quán Vên Vên nhiều cây cao bóng cả, suối róc rách, gặp Tr chủ nhân ngồi thiền mòn cục đá bên bờ suối…

Rồi dọc theo đường biển vùng Hồ Tràm, Suối Nước Nóng Bình Châu, Láng Găng, Rừng Khỉ, đi ngang Tân Thắng (Phò Trì, vùng tản cư xưa quen thuộc lúc nhỏ của mình). Cách Lagi 7km có biển Cam Bình, khu du lịch nhộn nhịp hiện nay, có nhiều món hải sản tươi ngon và giá rẻ nên đông khách. Ở đó, nếu có thì giờ, đi xe bò dạo biển, đến Cocobeach tham quan.

Đi xe bò ở bãi biển Cam Bình LaGi

Về Lagi thì phải ghé qua nhà mình một chút. Năm xưa, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh đã từng ghé, ngủ lại vài đêm. Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo thì tạt ngang chỉ kịp ghé uống trái dừa xiêm ngọt lịm hơn mười năm trước. Ca sĩ Thu Vàng vừa rồi, trước khi “ra đi” cũng đã có dịp ghé lại một lần cùng với TTM-TH, LKT-KQ. Dĩ nhiên, phải tạt qua Đập Đá Dựng để biết tại sao đá lại dựng. Ngồi đó, nhấm nháp cafe và nghe mình kể chuyện hồi nhỏ tắm truồng cùng bè bạn trên dòng sông này vậy.

Căn nhà tuềnh toàng xưa có giàn bông giấy ở Lagi của ĐHN

Từ đó, có thể đi ngang Bàu Giòi về Dinh Thầy Thím hoặc đi dọc biển, ngang khu vực Nước Nhỉ, nơi có Giếng Nguồn Chung xưa của nhóm hướng đạo Lagi (giờ chẳng còn dấu vết!). Ghé Dốc Trâu. Ôi vô số là thuyến thúng. Trước kia gọi là thúng chai. Nay sơn xanh đỏ coi cũng ngộ. Xa xa là Hòn Bà.

Dốc Trâu (Bàu Giòi) LaGi.
Xa xa trên biển là Hòn Bà.

Ở Dốc Trâu ăn cơm trưa cũng tốt. Nếu không, ghé qua Ngãnh, có quán cơm quen. Gần đó là ngôi mộ của nhà văn Nguiễn Ngu Í, ông cậu mình, gốc Tam Tân (nay là Tân hải) ở đây. Resort Mõm Đá Chim, có những gọp đá cũng khá đẹp. Vùng này là quê ngoại của mình mà!

Có thể ghé nhà xưa của ngoại, giờ con cháu toàn trồng thanh long, phá hết cả vườn trầu cau, dừa chuối, bưởi cam… xinh đẹp ngày xưa, lấp cả giếng nước thiệt là quá uổng. Không xa là núi Tà Cú với chùa Linh sơn Trường thọ tự, nổi tiếng với tượng Phật nằm dài 49m.

Từ đó, đi về hướng Kê Gà, ngôi Hải đăng xưa nhất, cao nhất vùng nam Trung bộ này. Trước đây có thể đi thuyền thúng ra thăm, leo lên tận nóc được. Rồi đi dọc biển qua vùng Đá Nhảy. Đá cứ chồm chồm lên khá lạ lùng!

Đá Nhảy (Kê Gà, Lagi)

Đến Phan Thiết rồi đó. Nhớ ăn bánh căn, nhớ ăn chè Mộng Cầm, nhớ món trà lipton tự pha ở một quán nước ven biển với cam, chanh, quất, xí muội, táo tàu, cam thảo khá lạ, và rất ngon không thấy đâu có.

Bánh căn nghèo mà rất ngon Phan Thiết!

Đường về Mũi Né giờ đã rất tốt, vượt những rặng đồi cao, lũng sâu, từ đó, nhìn thấy cả một vùng Rạng, Mũi Né xưa, vũng an bình cho thuyền bè núp gió, nay đầy nhưng resorts khu nghỉ dưỡng nổi tiếng.

Từ Mũi Né sẽ đi thăm Bàu Trắng, Bàu Sen. Sẽ ghé quán cơm NC, nhìn những chiếc lá bàng thủng nắng… Sẽ thấy cảnh hoang sơ của biển, của đồi, của thảo nguyên mênh mông. Sẽ thấy đảo Rùa bơ vơ…

Trên đường về lại Saigon, thì nên đi theo Quốc lộ 1 để ghé thăm núi Chứa Chan, ghé chùa Lan Nhã ở Suối Tre Long Khánh, có thì giờ nữa thì nằm võng uống nước dừa ở hồ Suối Tre…

Một chuyến đi lang thang như vậy mà chỉ để thấy núi, thấy rừng, thấy biển, thấy sông, thấy suối, thấy hồ… vậy thôi sao?

Chỉ vậy thôi vậy.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Thư đi tin lại: vài bìa sách cũ gởi anh Hai Trầu

01/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Thư đi tin lại

Vài bìa sách cũ gởi anh Hai Trầu

30.9.2018

Anh Hai Trầu ơi,

Tôi xin mạn phép anh “trích đoạn” lá thư văn nghệ đầy tình cảm của anh gởi “hồi âm Thư gởi bạn xa xôi” của tôi để đưa lên dohongngoc.com chia sẻ cùng bạn bè nhé. Nhiều chuyện hơi riêng tư tụi mình, tôi xin phép anh lược bớt như chuyện đi thăm mộ Thầy Nguyễn Hiến Lê, chuyện anh tìm về địa chỉ bán sách ngày xưa của chị HT… một chiều mưa Saigon tầm tả.

Tôi thấy anh có hỏi các tác phẩm đã in của tôi, thật tình đến nay khá là nhiều, có khi quên cả tựa, quên cả năm xuất bản… Tựu trung gồm 3 nhóm: 1) Thơ văn; 2) Y học phổ cập; 3) Phật học. Thôi thì cũng ráng lục tìm gởi anh cho vui.

Sẵn dịp kèm thêm ít thông tin “cập nhật” trong Một Chút Tôi nữa đây nhé. Để làm kỷ niệm.

Thân mến,

ĐHN

……………………………………………………………………………..

30.9.2018

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thân mến,

Cảm ơn Bác sĩ giới thiệu thư hồi âm vừa rồi. Vâng, mình có thể bỏ bớt vài chỗ cho gọn vì người già thường hay kể chuyện lòng vòng, kể hoài hổng hết Bác sĩ ơi! Rồi tới một lúc, như trong Già Sao Cho Sướng, bác sĩ có nói người già sẽ tới thời kỳ bị lú lẫn nữa…

hai trầu

……………………………………………………………………………

1.10.2018

Kính chào Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,

Tôi vừa tóm lược lại, bổ túc thêm vài cuốn bác sĩ còn bỏ sót  như “Có Một Con Mọt Sách”, “Chuyện trò về Nếp Sống An Lạc” và sắp lại theo thứ tự thời gian xuất bản và gởi lại Bác sĩ để tiện dụng.

Với 50 cuốn sách như vừa lược kết , trong đó có nhiều cuốn tái bản rất nhiều kỳ, như cuốn  Nghĩ Từ Trái Tim viết về Tâm Kinh Bát Nhã (2003) đã tái bản đến lần thứ 14 (hôm tôi thấy ở nhà sách Nguyễn Huệ), và cuốn “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng” – tái bản hàng năm từ 1974 đến nay- là biết bao tâm huyết và công sức mà Bác sĩ đã để vào chẳng những là công trình nghiên cứu, tìm tòi của Bác sĩ qua 50/60 năm kinh nghiệm trong nghề, trong đời sống chính mình mà còn là những bài học rất cần yếu cho hết thảy bạn đọc đã từng đọc và sẽ đọc sách của Bác sĩ sau này nữa.

(…).

Thân mến,

 

Hai Trầu

 

TÁC PHẨM CỦA BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

(Lương Thư Trung ghi nhận, 2018)

 

Thơ:

1/ Tình Người (1967)

2/ Thơ Đỗ Nghê (1973)

3/ Giữa hoàng hôn xưa (1993)

4/ Vòng quanh (1997)

5/ Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010)

6/ Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017)

 

 

Tạp văn, Tùy bút:

 

1/ Gió heo may đã về (1997)

2/ Già ơi…Chào bạn! (1999)

3/ Những người trẻ lạ lùng (2001)

4/ Thầy thuốc & Bệnh nhân (2001)

5/ Như ngàn thang thuốc bổ (2001)

6/ Cành mai sân trước (tuyển tập, 2003)

7/ Thư gởi người bận rộn (2005)

8/ Khi người ta lớn (2007)

9/ Như thị (2007)

10/ Chẳng cũng khoái ru?(2008)

11/ Nhớ đến một người (2011)

12/ Thư gởi người bận rộn 2 (2011)

13/ Ăn vóc học hay (2011)

14/ Ghi chép lang thang (2014)

15/ Già sao cho sướng? (2015)

16/ Có một con mọt sách (2015)

17/ Một hôm gặp lại (2016)

18/ Chuyện trò với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Nếp Sống An Lạc (2016)

 

Phật Học:

 

1/ Nghĩ từ trái tim (về Tâm Kinh Bát Nhã, 2003)

2/ Gươm báu trao tay (về kinh Kim Cang, 2008)

3/ Handing down precious sword (bản dịch tiếng Anh, 2015)

4/ Thấp thoáng lời Kinh (2012)

5/ Thiền và Sức khỏe (2013)

6/ Ngàn cánh sen xanh biếc (về kinh Pháp Hoa, 2014)

7/ Cõi Phật đâu xa (về kinh Duy Ma Cật, 2016)

8/ Thoảng Hương Sen (2018)

 

Y học phổ cập:

 

1/ Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972)

2/ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng (1974)

3/ Chăm sóc Trẻ từ sơ sinh đến 3 tuổi (1978)

4/ Những bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ em (1980)

5/ Săn sóc Trẻ bệnh (1980)

6 /Làm sao để bé được khỏe mạnh và sáng dạ?(1985)

7/ Săn sóc con em nơi xa thầy thuốc (1986)

8/ Nuôi con (1988)

9/ Nói chuyện sức khỏe với tuổi mới lớn (1989)

10/ Bệnh ở tuổi hoc trò (1990)

11/ Sức khỏe trẻ em (1991)

12/ Viết cho Tuổi mới lớn (1995)

13/ Câu chuyện Sức khỏe (1996)

14/ Với tuổi mười lăm (1997)

15/ Bỗng nhiên mà họ lớn (2000)

16/ Bác sĩ và những câu hỏi của tuổi mới lớn (2003)

17/ Tuổi mới lớn (tuyển tập, 2005)

18/ Khi người ta lớn (2011)

 

Ghi chú (1.10.2018):

Anh Hai Trầu ơi,

Cảm ơn anh Hai đã chịu khó ngồi tập hợp và sắp xếp lại giùm các tựa sách của tôi theo thứ tự thời gian cho dễ tìm chớ tôi lâu nay bỏ bê tùm lum, “có mới nới cũ” anh ơi! Sẵn dịp này, tôi tìm lại được một ít cuốn xưa xưa và chụp hình bìa gởi anh coi chơi đây, như một kỷ niệm.

Chuyện vui là thời “xa xưa” đó, như cuốn  Những bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ em (1980); Săn sóc Trẻ bệnh (1980)…  mỗi lần KHPT in cả 80.000 cuốn, giá 7đ/cuốn. Tái bản khá nhiều lần, có lẽ đến nửa triệu bản anh à! Còn cuốn Làm sao để bé được khỏe mạnh và sáng dạ?(1985) Nxb in lần đầu đã 55.200 cuốn, giá 25đ/cuốn,tái bản mấy đợt. Cuốn Bệnh ở tuổi hoc trò (1990) mỗi lần in cả 10.100 cuốn, giá 60đ/cuốn!

Thời bây giờ thì in vài ba ngàn là quý rồi! Sách tôi được các Nhà xuất bản gọi là “long seller”, có nghĩa là bán… dài dài, thỉnh thoảng mới có một cuốn “best seller” như Gió heo may đã về, Nghĩ từ trái tim… anh à! Nếu mà tác quyền “ngon lành” thì mình khá rồi!

Thôi, người già mình nói chuyện xưa, vui thôi vậy.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký

27/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Hồi âm “Thư gởi bạn xa xôi” của Bs Đỗ Hồng Ngọc.

Hai Trầu Lương Thư Trung

 

Kính chào Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,

 

Hôm qua, tình cờ tôi vào trang nhà của Bác sĩ (www.dohongngoc.com/web/), thật vui và cảm động đọc được “Thư gởi bạn xa xôi” ngày 09 tháng 09 năm 2018 với tựa đề “Gặp Hai Trầu ở Đường Sách Sài Gòn.”

Không vui sao được, với mấy ngàn cây số về qua Sài Gòn lại được Bác sĩ bỏ chút thời giờ  quí báu ngồi nhâm nhi ly cà phê nóng với người nhà quê già mà nghe rất ấm lòng biết chừng nào! Nhớ buổi sáng hôm ấy, tôi thấy Bác sĩ vừa uống cà phê, vừa trò chuyện mà cũng vừa ghi ghi chép chép nữa… Tôi nghĩ chắc Bác sĩ có buổi thuyết trình về một đề tài nơi ngôi chùa nào đó mà Bác sĩ có nói là khoảng 11:30 trưa, sẽ có một cái hẹn. Nhưng nay đọc “Thư gởi bạn xa xôi” vừa rồi mới biết Bác sĩ ghi chú vài nét chính cho lá thư.

Dường như, nếu không lầm, tôi nghĩ cách làm việc của Bác sĩ rất nguyên tắc; tức là dù nói hay viết bất cứ đề tài nào, Bác sĩ đều có một dàn bài tổng quát, rồi sau đó cứ khai triển rất rộng thêm những chi tiết cần có hầu làm cho nội dung câu chuyện được rõ ràng và đầy đủ thêm mà không bị lạc đề hay thiếu sót hoặc dư thừa. Qua các tác phẩm của Bác sĩ tôi thấy thấp thoáng cách trình bày như vừa kể hoặc qua các buổi mạn đàm về Phật pháp nơi các thiền viện, tôi cũng thường thấy trên tay Bác sĩ lúc nào cũng có cây viết và những biểu đồ lúc Bác sĩ thuyết trình.

Một nét nữa mà tôi nhận ra là cái cách Bác sĩ nói hay viết, Bác sĩ rất chú tâm đến việc dùng chữ. Dù nói về một đề tài mang tính cao siêu như nói về Phật pháp, hoặc nói về cái nét rất gần trong đời sống thường ngày như cách thở, cách ăn chay, cách uống nước thôi mà chữ dùng trong các trường hợp ấy cũng là một sự chọn lựa không phải lúc nào cũng dễ dàng. Ở những trang sách của Bác sĩ không có những thai đố như người ta hay gặp những năm thập niên 50-60 hoặc những danh từ triết học mà hồi mấy năm 1960-1970 lúc tôi còn đi học thường hay nghe các giáo sư dạy môn triết học thường dùng… càng làm mình rối trí như tơ vò!

Tôi xin dẫn ra đây một thí dụ rất gần và rất thực, như trong cuốn “Nếp Sống An Lạc”, Bác sĩ viết: “ Có một lời khuyên tốt nhất về việc mình nên sống như thế nào là: Hãy sống ở đây và bây giờ. Điều đó không có nghĩa là mình tìm một cái lạc thú khơi khơi nhưng mà nếu mình biết sống ở đây và bây giờ thì mình bớt căng thẳng đi và có thể có được an lạc, hạnh phúc. Một người sống vì tương lai, vì dĩ vãng thì xem như là chẳng sống chút nào cả bởi vì tương lai thì chưa tới mà dĩ vãng thì đã qua rồi. Vậy thì tốt nhất là sống cho hiện tại.” (trang 78, Nếp Sống An Lạc). Qua đó, theo tôi đây là quan niệm của Bác sĩ chính là một quan niệm rất “hiện sinh” mà gần gũi, không cầu kỳ, cao siêu…!

Thú thật, gặp lại Bác sĩ ở “Đường Sách Sài Gòn”, dù không bao lâu, vì thời giờ bây giờ dường như qua quá mau, nhưng tôi muốn hỏi Bác sĩ nhiều việc, mà không kịp hỏi. Chẳng hạn như tôi có thưa với Bác sĩ sao trong kinh Pháp Hoa, người ta không dùng chữ “Chươn” mà lại dùng chữ “Phẩm” chẳng hạn? Hoặc, có câu hỏi khác như khi nào thì Bác sĩ thực sự “an lạc”, thực sự “hanh phúc”? Nhớ có lần, dịp Tết Nguyên Đán, Bác sĩ  có kể lúc từ Đà Lạt xuống Đơn Dương, bác sĩ đang đi ngoài trời lạnh, rồi bước vào một tiệm cà phê vùng cao nguyên này, nhiệt độ trong tiệm ấm hơn và bác sĩ bảo rằng gặp được hơi ấm giữa lúc mình đang bị lạnh là một hạnh phúc rồi vậy! Theo đó, hạnh phúc hay an lạc là do chính nơi lòng mình, không ở đâu xa. Phải thế không bác sĩ?

Nhớ hôm đó, tôi có hỏi thăm về chị TV, như trong “Thư gởi bạn xa xôi” vừa rồi bác sĩ có nhắc. Tôi chợt dưng nhớ lại hồi năm ngoái, khi vợ chồng tôi ghé thăm Bác sĩ ở hồ sen Kỳ Hòa, trên lối đi dưới tàn phượng vĩ cổ thụ, có một cái lều nhỏ ven đường, Bác sĩ có nhắc nơi chiếc lều ấy, có lần ca sĩ TV đã hát bài “Bông hồng cho Mẹ” rất cảm động.

Tôi bùi ngùi khi Bác sĩ cho biết chị ấy giờ không còn đứng hát nơi quán gió lều trăng thuở nào nữa rồi! Và tôi thốt lên với Bác sĩ, như một tiếng than: “Thiệt là quá uổng!”

Tối hôm ấy, tôi quá giang xe mấy đứa cháu về quê. Dù cố mở mắt nhưng xe chạy phon-phon trong đêm tối, tôi chẳng thấy được gì ngoài những cánh đồng tối om om bên tiếng xe chạy rào rào trong gió lạnh. Vậy mà xe về tới nhà dưới quê Tân Bình (Lấp Vò) của tôi đâu cũng vào lúc 02:00 sáng đã nghe văng vẳng trong xóm tiếng gà gáy hiệp nhứt bắt đầu…

Bận về tôi với đứa cháu chạy xuống làng Vĩnh Thạnh (Lấp Vò) ghé tìm ngôi mộ Thầy Nguyễn Hiến Lê, cách nay ba bốn năm đọc báo trên mạng nghe nói mộ phần của Thầy tọa lạc nơi ngôi chùa Phước Ân Tự nằm nơi là Vĩnh Thạnh này mà tự bấy lâu nay tôi chưa có dịp ghé chùa Phước Ân Tự lần nào.

Hôm tôi ghé lại thì có một ni sư trọng tuổi, khoảng trên tám mươi, bà bước đi phải có cây gậy trên tay, ra tiếp và tôi có hỏi thăm phần mộ của thầy Nguyễn Hiến Lê và được bà cho biết mộ phần của Thầy hồi trước nằm dưới chỗ trũng, cỏ mọc um tùm rồi sau này được bồi đấp và nâng lên cao như hiện nay.

Tôi lại hỏi thêm, con cháu của Thầy Cô có ai lui tới thăm viếng thường không? Vị ni cô cho biết, thỉnh thoảng con cháu trên Long Xuyên có về cúng bái, còn con cháu ở ngoại quốc thì chưa thấy. Tôi lại hỏi thêm, ở chùa có biết thầy Nguyễn Hiến Lê là ai không? Ni cô cho biết lúc mới đầu hổng biết nhưng mấy năm trước có người miền ngoài, và trên Sài Gòn xuống tìm mới biết Thầy là nhà văn viết sách. Tôi lại hỏi ở chùa có một tủ sách nào hoặc có một kệ chưng bày quyển sách nào của Thầy không? Ni cô nói không có.

(…)

Nhớ trong “Thư gởi bạn xa xôi: Chuyến về Cà Mau và Đồng Tháp” ( Tuesday, March 21, 2017), Bác sĩ có viết một câu làm tôi rất cảm động: “Đường từ Cao Lãnh đi Tam Nông còn gặp những căn nhà cũ kỹ bên bờ đê còn sót lại những cây cầu dịu dàng dễ thương lắm. Nhưng cầu khỉ thì không còn thấy đâu nữa! Có lẽ sau này chỉ cón thấy cầu khi ở nhà Bảo tàng (mua vé vào coi) hoặc vài khu du lịch Đất phương nam. Nhớ anh Hai Trầu quá!”

Chẳng những bây giờ tôi thấy cầu khỉ hổng còn mà xuồng ghe cũng hết chỗ dùng rồi Bác sĩ ơi! Hồi đời trước nhà nào cũng có ít nhứt là một chiếc xuồng, có nhà còn có ba bốn chiếc nữa vậy mà có khi cần chuyên chở đi lại xuồng vẫn thiếu. Nay thì đi đâu người ta cứ đi bằng xe gắn máy, hổng còn ai đi xuồng nữa rồi! Năm thuở mười thì Bác sĩ mới gặp được một chiếc xuồng bơi trong kinh rạch như xuồng mua ve chai lông vịt chẳng hạn, còn thường thì xuồng cứ nằm lăn lóc trên bờ, bên con đường tráng nhựa, hoặc nằm úp mặt trên hai cái nề ngắn nơi một góc vườn hiu quạnh mà nghe tủi phận mình nay hổng còn là thời của mình nữa rồi!!!

photo: Hai Trầu LTT

Thưa Bác sĩ, loay hoay rồi ngày cũng qua ngày, tôi lại phải theo xe đò về lại Sài Gòn. Hôm ấy, trời Sài Gòn mưa ướt quá mạng! Tôi có gọi điện thoại cho Bác sĩ hay nhưng vì mưa nên hổng gặp lại được.

Dịp này tôi cũng ghé qua nhà sách Nguyễn Huệ nằm trên đường Nguyễn Huệ, rất vui gặp được kệ sách của Bác sĩ nằm ngay lối vào, rất hấp dẫn. Tôi đếm thử, ở kệ sách này có khoảng trên 40 tựa sách của Bác sĩ đã xuất bản.

Hai Trầu Lương Thư Trung giữa Nhà sách Nguyễn Huệ Saigon (9.2018)

Tôi nay là một người nhà quê già hơi bộn-bộn rồi, mà còn thêm nhiều chứng bịnh khác nữa như mau quên, mắt mờ, tai điếc nặng nên tôi hy vọng Bác sĩ hổng chán là tôi mừng lắm rồi! Phải vậy hông Bác sĩ?

Thân mến,

Hai Trầu

(Houston, ngày 25 tháng 9 năm 2018)

 

https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/13464/

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Một bức thư của Kiều Minh Mạnh từ Đơn Dương

24/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

ĐA TẠ BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC TẶNG SÁCH THOẢNG HƯƠNG SEN

Kiều Minh Mạnh

(Đơn Dương, Lâm Đồng)

 

hình: Kiều Minh Mạnh

Cứ mỗi lúc nghĩ đến Thiền và Phật, tôi lại nhớ đến một câu chuyện kể về bác sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, đọc một lần rồi nhớ mãi: Năm 1964, Suzuki đến Honolulu dự Nghị hội Triết gia Đông Tây lần thứ tư. Các quan chức hàng không đã được lưu ý trước rằng một triết gia Nhật lỗi lạc, người đã trên 90 tuổi, sẽ đến trong một chuyến bay. Tưởng là sẽ đón một ông già lụ khụ, các nhân viên hàng không đã đặt ngay tại chân cầu thang máy bay một chiếc xe lăn. Nhìn thấy sự ưu đãi chu đáo dành cho mình, ông liền ngồi vào xe lăn để được đẩy vào phòng khách như một người… bất lực, dù ông chưa hề bất lực, vẫn đi đứng đàng hoàng trên đôi chân của mình. Hành động ân cần, tử tế, độ lượng của một bậc Thiền sư khiến bao triết gia đông tây đều kính phục tâm Tùy Hỷ của ông.

Bác sĩ Suzuki là một bậc đại tôn sư lại là người của thiên niên kỷ trước, người bình dân chỉ có thể kính nhi viễn chi đối với ông và tư tưởng của ông. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở mình thì khác, có duyên thì ai cũng có thể gặp mặt ngoài đời, còn sách của ông thì có ở mọi hiệu sách, ai cũng đọc được và học được. Học ở ông Đạo làm người, học cách chăm sóc sức khỏe cho bản thân và người thân, học Phật, học Thiền, học…viết văn, làm thơ nữa!

Tôi “gặp” bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhiều năm trước, khi đọc những giải đáp thuộc lĩnh vực y học, sức khỏe và tâm lý học khi ông cùng với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh “Gỡ rối tơ lòng thòng” trên các báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ… Rồi đọc sách ông dạy làm mẹ… Rồi phát hiện ra ngôi nhà tinh thần của ông giữa cõi Ta bà, theo ông lõm bõm Học Phật. Có lần tham gia bình luận dưới một bài giảng của ông, nói rằng cũng học cách ông chia sẻ, tập thở, tập thiền. Mà, cái tâm chẳng thể định được, cứ nhắm mắt hít thở một hồi là ý nghĩ đã bay tới cơ quan, tới những công việc cần phải làm và đủ thứ, đành phải phì cười mà bỏ cuộc. Không ngờ nhận được email hồi âm của Bác sĩ: “…Phì cười là tốt lắm!”. Một vị học giả như ông mà vẫn dành thời gian để đọc, trả lời thư và giải đáp những thắc mắc của rất nhiều người trên nhiều lĩnh vực, tôi nghĩ ông đúng là một vị Bác sĩ của tha nhân, thật giàu đức nhẫn nại, ân cần, tử tế, bao dung, rộng lượng. Bao dung là bởi có lần, đọc thấy ông nói đang bị gút hành hạ. Mặc kệ ông là Thầy thuốc, lại còn dạy cho người ta cách chữa bệnh, tôi nhớ đã email cho ông với một mớ lời khuyên bác sĩ phải biết tự chăm sóc cho bản thân. Gửi thư xong rồi mỉm cười. Cũng biết người nhận thư đọc thư cũng sẽ chỉ mỉm cười. Bởi một thân là Dược Vương, lại không khác một Đại Nhạo Thuyết, ông thừa thấu trong thư là lòng quan tâm trắc ẩn. Gặp người khác là nóng mặt rồi đây: có biết ta đây là ai không mà bày đặt “lên lớp”. Thỉnh thoảng gặp dịp nào đó lại gửi đến ông lời thăm hỏi dành cho một vị trưởng bối. Cuối tháng 8 vừa rồi, email chúc mừng sinh nhật của Bác sĩ, than vãn vài câu. Thế là được ông nhờ người gửi tặng cho cuốn sách của ông vừa xuất bản: “Thoảng Hương Sen”. Một tuần sau nhận được sách. Cũng phải giải thích vì sao lại có sự chậm trễ này, khi người chuyển sách đã gửi bằng phương tiện chuyển phát nhanh từ Đà Lạt. Cậu bưu tá gọi điện ngay khi có bưu phẩm, nhưng người nhận đang ở xa, vậy là cậu cứ mang trong túi thư suốt cả tuần, đến khi điện thoại cậu mới mang đến nhà. Rồi đó, nâng niu bưu phẩm nhận được, ngắm nghía chữ viết trên bao thư, chưa vội mở ra đã thấy… thoảng hương sen.

Tôi đọc thấy một chữ Đức và một chữ Chân Thành trong suốt 30 bài viết ngắn tập hợp trong cuốn sách Thoảng Hương Sen của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Chữ Đức toát ra từ một người nói và thực hành, cả đời đã tu tập rồi mang sự hiểu biết và tri ngộ của mình mà giác tha. Mỗi đoản văn chứa cả cái Tâm chân thành của người viết dành cho tri âm, những người đang muốn học Phật, muốn tiếp cận với Thiền. Dường như ông không định áp đặt cái biết của mình cho người đọc. Giọng văn tự sự, giản dị như tự mình nói với mình. Ta đọc, ta quan sát, ta thấy vậy và nó là như vậy đó. Còn ai thấy khác thì nó cũng là vậy đó thôi. “Nhạn quá trường không. Ảnh trầm hàn thủy. Nhạn vô di tích chi ý. Thủy vô lưu ảnh chi tâm.” (Thiên Y Nghĩa Hoài). Giữa chốn hồng trần trôi trôi, gió thổi không ngừng. Ai nhìn thấy được xa trước mắt người đó “đắc đạo” vậy.

Đến chùa trong những dịp lễ, chúng ta thấy đông đảo Phật tử. Nhiều người đến để cầu cho tâm an, người đến cầu tài cầu lộc cầu phúc đức cứ như những thứ ấy từ trên trời cao giáng xuống vậy, há miệng mà chờ sung. Có vị tỳ kheo lại bày cho Phật tử mỗi đêm trước điện Phật, cứ quỳ và tụng niệm thật to pháp danh hằng hà sa số Phật, đến nỗi đêm nào cũng khan cả tiếng. Tìm đường đến với Như Lai mà khó vậy sao? Chi bằng, có người đã đốt đuốc tìm thấy đường đi, ta cứ tin người mà đi theo vậy. Lấy Đạo Bồ-tát mà giúp chúng sinh cùng giải thoát, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc như vị Bồ-tát Đại Nhạo Thuyết cứ không ngừng đem những hiểu biết của mình mà gieo duyên lành ra khắp chốn nhân gian vậy. Ai có duyên thì gặp!

Đơn Dương 22.9.2018

(KMM)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Chút duyên với Elena Pucillo Trương

22/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Quán Văn Số 58 ra mắt 9h sáng ngày 23.9.2018 tại Cafe Lọ Lem 345 Nguyễn Trọng Tuyển như thường lệ nhưng lần này đặc biệt giới thiệu Chân dung văn học của Elena Pucillo Trương, cô dâu Ý xứ Bình Định của Trương Văn Dân.

Bài dưới đây là vài nét chấm phá “Elena” dưới cái nhìn của ĐHN, đồng thời giới thiệu một bài thơ ĐHN mà Elena đã dịch sang tiếng Ý cùng một bài viết rất cảm động của Elena “Thư viết cho Mẹ”…

 

Chút duyên với Elena Pucillo Trương

Đỗ Hồng Ngọc

Trong nhóm bạn văn chen chúc ở cái “Chuồng cu” chật chội là Tòa soạn Quán Văn của Nguyên Minh, thấy bóng một mái tóc vàng óng, một nụ cười rạng rỡ, một chút ồn ào vui nhộn… thì không ai khác đó chính là Elena giữa mọi người. Gọi Elena cho gọn, mặc dù khi viết văn thì tên cô đầy đủ là Elena Pucillo Truong. Và, cũng phải nói thêm, với tôi, không có Trương thì không có Elena và không có Elena thì không có Trương. Nhà văn Elena cứ viết tiếng Ý của cô, Trương Văn Dân “không cần đọc” cũng biết cô viết gì, và bản dịch của anh thật bóng bảy, trau chuốt, cứ tưởng như Elena viết bằng tiếng Việt! Cô dâu người Ý của xứ Bình Định, khăn gói theo chồng, nhà văn Trương Văn Dân về Việt Nam, hòa mình rất nhanh với quê hương xứ Việt, với bạn bè văn chương xứ Việt của chồng và nhanh chóng học tiếng Việt, đến nay cô nói tiếng Việt đã khá sõi rồi…

Một lần từ Bình Định vào, cô nói với tôi: Tụi em có mang “mắm ruột” vào cho anh đây!… Tôi nghĩ cô phát âm sai nên đính chánh: Mắm Ruốc chứ, sao lại “mắm ruột”! Nhưng tôi bé cái lầm. Đó là thứ mắm làm bằng ruột cá của xứ Bình Định, khác với xứ Phan Thiết của tôi chỉ có mắm ruốc!

Rồi khi tôi đăng bài thơ Loài người thật vui trên www.dohongngoc.com/web/ thì mấy ngày sau đã có bài dịch sang tiếng Ý của cặp “song thủ hỗ bác” Elena-Trương. Ít lâu sau đó, tôi viết bài thơ Rùng Mình thì Elena kêu lên: Tụi em vừa dịch vừa rùng mình đó anh ơi! Quả thật, hai bạn trẻ Trương Văn Dân và Elena đã vừa dịch bài Rùng Mình vừa rùng mình thiệt!

Gọi là “bạn trẻ” vì có lần hai bạn lật trang cuối tờ Tạp chí Bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức 1971 ra khoe với tôi: Đây nè, hồi mấy anh làm tờ báo này thì Trương Văn Dân là một độc giả trẻ… đã có tên trên mục “Trả lời bạn đọc” nè!

Gần đây, đọc bài Elena viết về Nguyên Minh rất vui. Cô có con mắt tinh đời, nhận xét sâu sắc, tinh tế về người đàn anh có tuổi này, những phút im ắng, trầm ngâm đắm mình trong dĩ vãng vời xa và những lúc sôi nổi nhiệt tình như vừa trẻ lại khi nhắc đến văn chương, báo chí, với niềm đam mê mãnh liệt, “bỏ quên cả người yêu” trên đường hẹn hò. Thú vị, cô nhắc chuyện Nguyên Minh đi Pháp, đi Roma về kiệt sức đến nỗi chị Lan, người vợ hiền cao quý của anh đã phải hầm hai con chim bồ câu cho ăn anh mới tỉnh lại. Đọc xong tôi cứ cười tủm tỉm: sao tới hai con?

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon 8.2018)  

……………………………………………………………………………………….

 

RÙNG MÌNH…

                                Tùng địa dũng xuất
                                             (Pháp Hoa)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
vì sao núi lửa cứ phun trào?
vì sao băng tan vì sao bão táp…?
vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt
thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
vì sao và vì sao?…

 

Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát

 

Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mủi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
vì sao và vì sao?

 

Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…

 

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)

 

 

BRIVIDI !

Rabbrividendo, l’Uomo chiede :
Perche’i terremoti e gli tsunami
Continuano ad arrivare un giorno dopo l’altro?

Perche’ i vulcani continuano ad eruttare?
Perche’ i ghiacciai si sciolgono, i tifoni distruggono?
Perche’ i bambini e i vecchi vengono trascinati e inceneriti?
Le case crollano e le citta’ sono distrutte come fossero i giocattoli
di un bambino arrabbiato.
E perche’, perche’..???

Ed ora ascolta
Solo un istante……

Rabbrividendo anche la Terra chiede:
Perche’ le montagne continuano a crollare ?
Perche’ i fiumi vengono bloccati?
Perche’ si continua a perforare il fondo della terra?
Perche’ gli uccelli delle foreste, i pesci del mare non hanno un posto dove stare?
Perche’ gli alberi secolari vengono sradicati?
Perche’ il riso, il granoturco vengono modificati geneticamente?

E perche’, perche’ ?

Una volta ci si appoggiava uno all’altro
Sembra che ora non abbiamo più bisogno l’uno dell’altro
La Terra rabbrividisce
L’Uomo rabbrividisce
Ognuno per proprio conto.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Ý của Trương Văn Dân & Elena Pucillo Truong)

……………………………………………………………

 

 Elena Pucillo Truong

Thư viết cho mẹ.

(Nguyên tác : lettera alla madre)

Bản dịch của Trương Văn Dân

Mẹ thương  yêu,

Con thường nghĩ về mẹ nhưng trước đây con chưa viết được gì cho mẹ. Con muốn kể cho mẹ nghe rất nhiều điều, tất cả những gì đã xảy ra với con, về cuộc đời mà con đang sống, dù đôi khi con có cảm giác là mẹ đã biết tất cả rồi. Mẹ luôn có một thứ giác quan thứ sáu, một thứ trực giác bén nhạy để linh cảm về những điều sắp sửa xảy ra. Chỉ tiếc là những linh cảm ấy không giúp mẹ tránh khỏi những khổ đau. Và trong đời, mẹ đã đau khổ biết bao!

Ngay từ lúc còn bé, một cơn sưng màng não đột phát trong vài giờ đã cướp đi người em gái, và sau đó, vì quá đau đớn bà ngoại cũng ra đi.

Kể từ ngày đó mẹ luôn luôn mang theo cái bóp đầm trong đó có hai bức hình đen trắng.

Từ nhiều năm nay trong chiếc ví của con cũng có bức hình trắng đen của mẹ: khuôn mặt mẹ thật đẹp nằm giữa những lọn tóc gợn sóng, hai mắt to màu đen và nụ cười chớm nở trên môi. Lúc đó mẹ chỉ vừa 19 tuổi, trước khi lập gia đình với người yêu và cũng là mối tình đầu và duy nhất của mình. Suốt một đời mẹ chỉ muốn tận tình chăm sóc chồng, thế mà sau ngày cưới chẳng bao lâu, người chồng đã bắt đầu làm khổ mẹ. Niềm an ủi duy nhất của mẹ chính là những đứa con : anh trai và con, đứa con gái mà mẹ muốn giữ, chống lại ước muốn của chồng. Tám năm sau lần sinh nở đầu tiên, chính mẹ đã quyết liệt chống đối để con có thể tiếp tục lớn lên trong bụng mẹ. Thật là khó khăn vì ba muốn mẹ phải phá thai để khỏi bị ràng buộc, nhưng mẹ nhất định không. Mẹ muốn giữ con, và biết chắc là sẽ sinh con gái. Mẹ đã  nhiều lần kể lại cho con nghe là ba đã giận dữ như thế nào: Nếu phải có con, ba chỉ muốn tất cả đều phải là trai!

Thế nhưng, rất nhiều năm về sau, chính ba đã lớn tiếng tuyên bố là người duy nhất mà ba có thể trông cậy và tin tưởng là con, đứa con gái của ba mà trước đây ông muốn bỏ đi !

Thỉnh thoảng con cũng có nghĩ về ba, nhưng trong những giấc mơ, con chỉ mơ thấy mẹ.

Trong những giấc mơ ấy con luôn luôn mơ thấy ngôi nhà mình từng sống. Dường như có lần con từ trường đại học trở về và thấy mẹ đang ngồi cạnh cửa sổ, đôi mắt kính xệ xuống sống mũi, cuí đầu cặm cụi khâu lại ống quần hay kết lại viền khăn trải bàn bị đứt chỉ. Những lần khác con nhìn thấy mẹ đang làm nước sốt cho món mì đút lò. Bao nhiêu lần con đã phụ mẹ để nấu những món mà gia đình thích, thường là ngày chủ nhật vì những ngày khác ba đi làm còn mẹ cũng đi dạy nên có ít thời gian. Nhắc lại, con như nghe trên đầu lưỡi của mình mùi vị thơm ngon của thứ nước sốt rất đặc biệt đó.

Trong các giấc mơ khác con cũng nhìn thấy mẹ, mà là những lúc thật buồn, thật đau khổ, rồi con thức giấc như vừa tỉnh một cơn ác mộng và lòng sầu đau khôn tả. Phải cần vài giây sau con mới định thần được rồi lòng chợt thấy vui vì con được ở  gần bên mẹ. Dù chỉ trong một giấc mơ.

Mẹ ơi, trong những ngày cuối, chao ôi, con thấy mẹ dịu ngọt và mỏng mảnh làm sao! Con biết không phải mẹ khóc vì mình sẽ lìa bỏ cõi đời mà khóc cho những đứa con mà mẹ phải rời xa. Đó không phải là  ý muốn của mẹ, mà là do cái khối u tàn nhẫn đang lớn dần bên trong và  từng ngày cướp đi sức sống.

Sau khi mẹ mất, con luôn giữ những tấm hình của mẹ, lần này là hình màu, trong ảnh mẹ tươi cười và hình như không có nhiều lo âu. Có lẽ chỉ có một chút  màu đen nơi vành mắt là dấu vết của nỗi buồn vì cô độc. Mẹ quá cô độc, nhưng có lẽ tất cả mấy mẹ con mình đều cô độc. Cho đến tận bây giờ con vẫn còn nhớ cái cảm giác bị ruồng bỏ, bị bỏ rơi. Suốt buổi tối cả nhà ngồi quây quần quanh chiếc bàn cơm đã dọn sẵn, im lặng đợi chờ. Nhưng  ba con đã không về trong đêm đó. Và sau đó thì không bao giờ về nữa.

Con không bao giờ muốn nghĩ về những ngày tháng ấy. Ngược lại, con muốn nghĩ rằng giờ này mẹ đang bình an, không còn đau đớn và cuối cùng thanh thản ở một cõi giới khác.

Bây giờ thì con xin báo cho mẹ biết là trong những ngày tới, mẹ sẽ có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Đến gặp mẹ là một người đàn bà mà mẹ đã từng gặp rất nhiều năm trước: mẹ của chồng con. Con tin  chắc rằng hai người sẽ trở thành bạn, sẽ kể cho nhau nghe nhiều rất chuyện, về những cuộc đời ở mãi tận phía bên kia trái đất. Bà ấy hay cười và thích nói đùa. Đây là điều mà con đang tưởng tượng: hai người ngồi bên nhau như thể là hai người bạn lâu năm, vui đùa, cười nói. Mẹ chồng của con sẽ nói về Việt Nam, sẽ giải thích về lễ Vu Lan, một ngày lễ Phật Giáo rất đặc biệt dành cho các bà mẹ vì họ giữ một vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Ngày lễ đó cũng là một cơ hội để các con có thể nói lên tình yêu thương và báo đáp lòng hiếu thảo với mẹ, người đã chịu đựng biết  bao đau đớn để sinh con, nuôi dưỡng và dạy dỗ chúng  nên người. Bao nhiêu khó khăn thường nhật mà người mẹ phải vượt qua, kiên nhẫn, hy sinh và xem nhẹ những đớn đau hiện tại  để nuôi hy vọng về một tương lai tốt đẹp.

Mẹ biết không? Sau khi mẹ mất, hằng năm vào lễ Vu Lan con thường đi đến chùa để thắp nhang và  cầu nguyện. Lần nào trước cửa thiền con cũng được chào đón bởi các em học sinh, để gây quỹ giúp chùa hay để làm từ thiện, họ gắn lên áo quan khách những chiếc bông hồng làm bằng vải hay bằng giấy lụa:  Bông hồng màu đỏ tượng trưng cho những ai còn mẹ và màu trắng cho những ai có mẹ đã qua đời. Nhờ màu của những hoa hồng trên áo nên mọi người dễ dàng nhận biết ai là  kẻ may mắn còn mẹ để chúc mừng, ai là người không còn mẹ để chia buồn với họ.

Ngày hôm đó con có bỏ  một ít tiền vào chiếc hộp giấy mà các em mang theo và yêu cầu họ gắn lên áo mình một bông hồng màu trắng và một bông hồng màu đỏ. Cô bé học trò, đã ngạc nhiên khi nhìn thấy một người ngoại quốc đi chùa, nói chút ít tiếng việt, và lại có yêu cầu khác thường nên hơi bối rối. Con vội giải thích với cô ta rằng chiếc hoa hồng màu trắng là cho mẹ ruột của cô, còn hoa hồng màu đỏ là dành cho mẹ của chồng, mà con xem là bà mẹ thứ hai. Ý nghĩ này đến với con thật tự nhiên, vì bà mẹ chồng gầy gò nhưng tính cách rất mạnh mẽ kia luôn quan tâm đến con; Còn đứa con dâu ngoại quốc, có dáng vẻ bên ngoài có lẽ rất khác với những gì bà chờ đợi, nhưng luôn dành cho bà một tình thương và lòng kính mến như chính là con gái. Kính mến và yêu thương thật sự, đến nỗi con thường tránh chữ mẹ chồng ( vì những ý nghĩa mà thông thường người ta hay đem ra chế diễu); Có khi con xem gọi thế là một sự xúc phạm. Mẹ. Là mẹ, thế thôi.

Con không thể nào quên được là sau ngày mẹ mất, người mẹ thứ hai của con đã đem hình của mẹ đặt lên bàn thờ của gia đình và in ra nhiều tấm để gởi đến rất nhiều chùa để cầu nguyện. Đối với con, đó là một  cử chỉ  thân thương có nhiều ý nghĩa mà không lời lẽ nào nói lên được. Mẹ biết không, cho đến hôm nay trong các chùa từ Sài Gòn đến tận miền quê xa như Tây Sơn, Bình Định, mỗi lần tụng kinh các sư thầy đều có cầu nguyện cho mẹ.

xx

Bây giờ thì mẹ và mẹ của chồng con đang ở bên nhau và  ý nghĩ là cả hai đều bình yên đã cho con rất nhiều an ủi. Con sẽ luôn nghĩ đến hai người mẹ và mùa Vu Lan này, giữa các nghi thức cúng kiến, con muốn được đốt một chiếc điện thoại di động bằng giấy theo truyền thống của người Việt Nam để có thể nghe được giọng nói thân thương của mẹ.

Và bắt đầu từ nay, các em bé sẽ gắn lên trên ngực áo của con hai bông hồng trắng.

Con ôm hôn mẹ, thật mạnh.

Con gái của mẹ

Sài gòn 4-2015

 

Elena Pucillo Truong cùng các bạn ở “Chuồng cu” Tòa soạn Quán Văn.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Uncategorized, Vài đoạn hồi ký

Gặp Hai Trầu ở Đường Sách

09/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Gặp Hai Trầu ở Đường Sách Saigon

“Hai Trầu” là bút danh của Lương Thư Trung, một “độc giả” mà cũng là một “tác giả” rất dễ thương với nhiều tác phẩm miệt vườn Nam bộ mà mới nhất lại là cuốn nhận định văn học “Người đọc và Người viết” lý thú – mà nhà phê bình Trần Doãn Nho đã nhận xét (mình nhớ đại khái) rằng Hai Trầu “người đọc” này như một người câu cá thả phất phơ cái phao trên mặt nước mà bên dưới là một lưỡi câu nhọn hoắc… chớ chẳng chơi!

Sáng sớm Hai Trầu phone gọi mình cafe, đi đâu cũng được và mình đề nghị ra Đường Sách, chắc chắn ở đó Hai trầu sẽ được đắm chìm với sách. Anh nói anh về vội, thậm chí chưa cho Phạm Văn Nhàn – người bạn thân thiết gần gũi – biết, dù hôm qua mới gặp nhau. Rồi anh kêu chụp cái hình “hai đứa mình” gởi PVN coi cho giựt mình chơi! Nhàn kêu trời, “cái ông Huyện này trốn đi chơi, chẳng cho ai hay cả!”. Cái ‘xóm’ của Hai Trầu có nhưng người hàng xóm mà anh rất quý mến: Phạm Văn Nhàn, Tô Thẩm Huy, Cái Trọng Ty, và cả nhà thơ Tô Thùy Yên…

 

Hai Trầu Lương Thư Trung và Đỗ Hồng Ngọc (Đường Sách Saigon, 7.9.2018)

Hai Trầu lắc lắc cái máy hình nhỏ xíu trong tay. Đi mấy ngàn cây số mới chụp được cái hình chớ chơi đâu. Anh nói. Rồi nhờ mấy bạn trẻ chung quanh bấm cho mấy cái. Lúc này già quá mạng, hay quên, không biết tại sao.  chắc cũng giống máy vi tính, điện thoại thông minh hết bộ nhớ. Mình nói hình như ta có thể mua thêm bộ nhớ trên đám mây (iCloud) gì đó để mở rộng sức chứa. Cả hai chả ai rành những thứ hiện đại này… nói chuyện trớt quớt. Rồi bỗng nhiên anh gật gù “gặp người hợp thì nói chuyện hoài không thấy chán… “. Chắc anh muốn nói bọn mình cùng lứa, cùng quê mùa với nhau. Dĩ nhiên rồi.

Anh bỗng hỏi thăm Thu Vàng. Mình nói Thu Vàng qua Mỹ ở luôn rồi. “Uổng quá há!” anh kêu lên. Mình giựt mình sao lại “uổng”? Anh nói TV hát hay mà ở đây mình không còn được nghe nữa! Rồi giải thích thêm như về đây mà không gặp được bác sĩ (thỉnh thoảng anh gọi mình là bác sĩ) để đi cafe như vầy thì tôi cũng sẽ thấy uổng hết sức! Nghe cười, thấy cười là an lạc liền! Ôi trời, cái anh Hai này. Hèn chi mà ảnh mê “từ cái mái nhà cái thềm nhà, khóm cây ngọn cỏ, cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường” (Quốc văn Giáo khoa thư)… Mai đi Châu Đốc, Tân Châu, Long Xuyên… về thăm nhà tôi, nhà bà xã, bà con…

Anh nói Nguyệt Mai dễ thương nha bác sĩ. Cuốn thơ NKD do cô sửa morasse giùm cho đó! Thơ NKD mỉa mai, cười cợt nhưng mà cười hiền à! Lúc này bác sĩ hay đi chùa cũng là dịp để gặp những người hiền đó. Mình gật.

Rồi cùng nói chuyện tai điếc, mắt mờ, chuyện trí nhớ giảm sút, chuyện những bạn bè chung quanh…

Mình gởi tặng anh cuốn Già sao cho sướng. Gởi mấy cuốn Thơ Ngắn Đỗ Nghê cho Phạm Văn Nhàn, Tô Thẩm Huy…

Rồi hẹn hôm khác. Hai Trầu tuổi Ngọ, nhỏ hơn mình vài tuổi bạn ơi.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Cn 9.9.2018)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 21
  • Trang 22
  • Trang 23
  • Trang 24
  • Trang 25
  • Interim pages omitted …
  • Trang 63
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email