Anh Cao Huy Thuần ơi,
Tôi viết thư này cho anh đúng vào ngày Phật đản, cũng ngộ! Tình cờ thôi. Tôi mới nhận được cuốn Thấy Phật của anh hôm qua, đọc và viết liền cho anh vài “cảm xúc”, kẻo nguội. Nhìn lại lịch, thì ra là ngày Phật Đản!
Tôi mừng cho anh, anh Thuần à, mừng anh đã “Thấy Phật”, à mà không, anh thấy pháp thân của Phật, à mà không nữa, anh thấy Như lai. Phật là Như lai nhưng Như lai không phải Phật, Như lai là như lai. Là cánh hoa mai nở thiên thu giữa đêm trừ tịch, là cánh hoa đào “năm ngoái” vẫn còn cười với gió đông. Thật ra anh biết đó, làm gì có hoa đào năm ngoái, hoa đào thiên thu thì có, đời đời kiếp kiếp, chẳng sinh chẳng diệt thì có. Nó cứ việc nở với gió đông và ngộ thay, nó cười mỉm, cười mũi vào anh chàng thi sĩ ngờ nghệch kia cứ tưởng hoa đào năm ngoái của anh còn đó để mà than thở nhân diện đào hoa nay đã về đâu? Về đâu? Chẳng về đâu cả, bởi chẳng đến từ đâu. Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ.. Tôi khoái cái “tiếu đông phong” của hoa đào trong thơ Thôi Hộ. Cái hoa đào đó nó cười tủm tỉm anh chàng thi sĩ chưa thấy biết như lai kia. Còn người đẹp nhân diện đào hoa nọ có mất đi đâu bao giờ, có nhat phai bao giờ đâu, ngàn năm trước ngàn năm sao vẫn vậy, vẫn tương ánh hồng mãi đó thôi. Chỉ có chàng thi sĩ loay hoay trong cái ngã của mình, là ta, của ta, nên mới buồn rầu, than thở. Anh không phải là chàng thi sĩ đó, nhưng như anh nói, cũng chỉ là một người mù với chiếc gậy, tệ hơn, “mắt mở nhưng nào thấy” như phần đông chúng ta, trong đó có tôi. Nhưng vì anh là một Phật tử trí thức, tôi không tin là anh “xớ rớ uyên thâm” như người ta vẫn nói mà anh quả đã có con đường để đi, để thấy, để “ngộ” và để “nhập”. Tôi tin anh đã thỏng tay vào chợ từ lâu. Anh đã thấy hoa mai nở giữa đêm trừ tịch, anh đã lại thấy mặt trăng tròn nhất, sáng nhất giữa ngày Vu lan, và anh còn thấy được cả bầy khỉ nắm đuôi nhau mò trăng đáy nước, chẳng chịu nhìn lên một chút!
Biết là bệnh tình chị quá nặng nhưng tôi không khỏi bàng hoàng khi hay tin chị mất. Mới thứ sáu tuần trước chị hãy còn trò chuyện “rôm rả” với chúng tôi, dẫu là đang nằm trong phòng Săn sóc đặc biệt. Hình như chi có linh cảm bệnh chị khó mà qua khỏi kỳ này! Chị thấy khó thở, mệt, khác hẳn những lần trước. Chị cố vượt qua, giấu, không cho ai biết, sợ phiền mọi người. Nhưng cuối cùng vì khó thở, chị đành phải nhờ các em, các học trò đưa đi cấp cứu. Khi đựơc tin, tôi cùng các bạn y dựơc sĩ Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe tức tốc có mặt tại Hoàn Mỹ. Chị đi chụp CT chưa về. Trao đổi với bác sĩ trực, tôi biết không xong rồi! Tràn dịch màng phổi. Dich tiết. Đã rút hơn 300ml máu không đông. CT về thì đã rõ. Đã di căn. Không ai hở môi cho chị biết, nhưng chỉ cần thấy mọi người cười nói…như không có chuyện gì quan trọng thì chị đã ngờ. Tôi hỏi chị sao bệnh mà không cho chúng tôi hay? “Mới mệt nhiều tuần này thôi. Tôi vốn chẳng ưa đi nhà thương- Bày đặt lắm!” Chị nói. Tôi cười thì cũng như chi hay trách người ta giải quyết các vấn đề xã hội mà chẳng thèm tham khảo ý kiến những nhà xã hội học vậy mà, đến khi mọi chuyện trật lất hết rồi mới kêu ca! Hôm thứ hai, các bác sĩ hội chẩn, rồi chuyển chị về Chợ Rẫy có điều kiện hơn. Mọi người cũng đã chuẩn bị cho một tình huống xấu. Các học trò chị, đàn em chị, luân phiên túc trực, chăm sóc. Ai cũng thương mến chị hết lòng. Chị sống độc thân mà như có một gia đình lớn.
Lúc đó tôi đang là Trưởng phòng cấp cứu Bệnh viện Nhi đồng Sài Gòn (nay là Bệnh viện Nhi đồng 1, TPHCM). Ngày nào bệnh nhi cũng tràn ngập, toàn là bệnh nặng mà chỉ lơ đễnh, chậm trễ một chút đã có thể gây tử vong. Cả nhóm bác sĩ, điều dưỡng gần như luôn túc trực bên giường bệnh, không để ý nhiều đến những biến động bên ngoài, thế nhưng trong lòng ai cũng canh cánh nhiều nỗi lo toan. “Đại bác đêm đêm” vẫn “dội về thành phố” và những chuyến bay vẫn vần vũ trên không. Không khí như sánh lại. Nhiều tiếng thì thầm và bắt đầu vắng dần những khuôn mặt thân quen. Các hành lang trở nên hun hút.
(LĐCT) – Không chỉ giỏi chữa bệnh, viết sách, làm thơ, vẽ tranh, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn được biết đến như một nhà tâm lý tài tình, hóm hỉnh… Những cuốn sách của ông gần như là những tạp bút ý vị, giàu tính triết lý mà dí dỏm, đầy tính nhân văn.
“Đại bản doanh” của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – Giám đốc Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe – là một căn phòng chan hòa ánh sáng. Bên cạnh những tập hồ sơ, tài liệu khoa học được sắp xếp ngăn nắp là một góc bày những bình gốm nghệ thuật, tranh do ông vẽ và một bài thơ của ông viết bằng thư pháp, nét bút bay bướm trên nền giấy điệp của Trụ Vũ.”
Phong vien – Năm 1974 ông viết xong, tháng 1năm 1975, cuốn sách được in ra, cho đến nay, đã hơn 30 năm sau, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vẫn thường xuyên được tái bản lại và vẫn là cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ các bà mẹ trẻ nối tiếp nhau.