Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Phan Chính: “Giếng Nguồn Chung” (*)

05/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Giếng Nguồn Chung” (*)

Có lẽ thời tiết trong khu vực biển này từ cuối giêng đều êm ả, dịu dàng. Mặt biển phẳng lặng không một gợn sóng và trong suốt có thể thấy được lớp cát dưới nước. Biển ngày nào hung hãn nổi sóng, tung bọt trắng xóa đập vào bờ nay lại mượt mà, phẳng lặng của “mặt nước hồ thu”. Phải thức với biển cùng lúc mặt trời vừa nhô lên ở hướng mũi điện Kê Gà mới cảm nhận được sức quyến rũ của một không gian biển trời kỳ diệu. Mặt trời đỏ hửng như chầm chậm lăn tròn không thể lẫn lộn với gam màu nào từng có ở những bức tranh tuyệt tác. Đường chân trời giữa mặt biển khơi xa với vầng mây lấp lánh sắc màu đang tan loãng vào lòng đại dương vô tận.

Từ rất sớm khi mặt trời chưa lên, nhiều người đã rải rác trên bãi cát với những động tác vươn vai, hít thở như sợ cạn đi cái không khí quý giá của ban sớm trong lành. Tôi lẩn trong tốp người dẫm lên bờ nước đang rút, hướng về ngảnh Tam Tân để nghe cái cảm giác của đôi bàn chân trần ngập bởi lớp cát mềm mát rượi. Bãi biển ở đây trải rộng phẳng phiu chạy dọc dài theo đồi cát trắng hoang sơ, đôi chỗ là bãi vỏ chang chép như tấm khảm xà cừ của thiên nhiên thời sơ nguyên còn sót lại. Từ Đồi Dương đi chừng 2 cây số, tôi nhận ra bụi dứa cô đơn đã bị cát bồi lấp đến nửa thân cây trên động cát trắng cuối dự án Khu du lịch Sài Gòn-Hàm Tân xây dở dang trông như ngôi đền cổ hoang phế. Bụi dứa vẫn còn xanh lá nhưng khe nước ngọt ngày xưa chắc chắn chỉ ngầm chảy dưới lớp cát vô tình. Tôi chợt nhớ đến câu thơ của Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư : “Nằm đây mà ngó lên trời/ Lá cây dứa đã mấy đời đong đưa/ Nằm đây mà nhớ mơ hồ/ Những xanh tóc ấy bây giờ về đâu…” Theo bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc gọi tác giả là cậu ruột, kể rằng năm 1960 cậu Ngu Í về quê Tam Tân cải táng mộ song thân, khi đến Nước Nhỉ nằm nghỉ dưới tàng cây dứa sum suê bóng mát, bên cạnh đống gạch xây giếng đã vỡ vụn mà hồi tưởng thời tuổi thơ và thân phận đời người rồi có những câu thơ lục bát đến bàng hoàng.

Bài thơ viết về Giếng “Nguồn Chung” của Nguiễn Ngu Í trong tập …”QÊ HƯƠNG”… 1969

 

Bìa tập “…QÊ HƯƠNG”…
(Saigon, 1969)

Thuở xưa, người dân La Gi đi lên Tam Tân, Tân Thành hoặc trên đường ra Phan Thiết thì bờ biển là con đường bộ duy nhất. Nguồn nước ngọt chỉ có trong đất liền rừng rú bên kia động cát có nhiều thú dữ, cho nên chỗ mạch Nước Nhỉ này trở nên quý hiếm cho khách bộ hành và họ đã tạo thành giếng nước cạn. Chỉ dùng hai bàn tay bụm nước hay dùng chiếc nón lá múc lên để uống. Được gọi là giếng từ khi nhóm thanh niên Hướng đạo các làng La Gi, Phong Điền, Tam Tân cùng nhau dùng xe bò chở gạch đi xây giếng để giữ mạch nước trong trẻo và đầy tràn hơn. Năm đó vào khoảng 1944 và được đặt tên là giếng Nguồn Chung. Cảnh quan ở đây rất đẹp bởi có đồi cát cao chập chùng đan xen những mảng xanh rau muống biển và hoa nắng cỏ long chong. Giếng nằm cuối dãy rừng dương xanh chạy dài tít tắp đến tận làng chài Tân Long.

Người xưa thấy mạch nước ngọt xuất lộ ngay bờ biển dưới chòm cây dứa um tùm là một hiện tượng lạ lùng vì cạnh đó khi moi xuống lớp cát sâu chỉ toàn là nước mặn của biển cho nên nghĩ có gì đó bí ẩn khác thường. Có người liên tưởng đến Hòn Bà đang sừng sững trên sóng biển mênh mông với huyền thoại ly kỳ lại càng thêm cảm nhận cái hồn thiêng thấp thoáng trong dòng nước ngọt ngào tuôn chảy từ chân động cát trắng. Nay với cách giải thích về địa lý, bên kia động cát có một bàu nước tên gọi Bàu Giòi, nay thuộc xã Tân Tiến (La Gi) tích tụ nguồn nước từ núi Đất, Lồ Ồ chảy xuống và tạo thành mạch nước ngầm xuyên qua động cát trổ ra, đó là giếng Nguồn Chung.

Cũng liên quan đến giếng Nước Nhỉ này, năm 1917 có một chiếc bè chở 6 người tù Côn Đảo vượt biển sau 6 ngày lênh đênh, đói khát tấp vào đây. Nhờ mạch nước ngọt trong chân động cát nhỉ ra mà lấy lại sức, tỉnh táo tìm đường ra xóm Tam Tân. Cũng tại đây họ gặp hương sư Nguyễn Hữu Hoàn, cha của Ngu Í người quê Hà Tĩnh lánh nạn vào Tam Tân và làm nghề dạy học. Nhận ra người đồng hương, ông giáo Hoàn đã cứu thoát khỏi sự truy lùng của hương chức làng, trong số đó có Hy Cao Nguyễn Đình Kiên, tức Tú Kiên là nhà cách mạng trong phong trào Đông Du có những hoạt động ảnh hưởng tốt đến phong trào cách mạng tỉnh Bình Thuận.

Ngày nay, không còn mấy ai nhớ đến con đường “bộ hành” men theo bờ biển để đi lại nữa. Nhưng địa danh Nước Nhỉ vẫn còn dù nằm lẩn khuất dưới một dự án đồ sộ với tên gọi sang trọng hơn. Cái ý nghĩa rất nhân văn khi mạch nước ngọt thiên nhiên ngày nào đã hiện diện một cách khiêm nhường trong đời thường của người dân vùng biển La Gi.

PHAN CHÍNH

(nguồn: báo Bình Thuận)

(*) Tựa www.dohongngoc.com/web/

 

Viết thêm: Đây là bài thơ Đỗ Hồng Ngọc viết tặng Nguiễn Ngu Í, 1990

 

Tác giả: Đỗ Hồng Ngọc (trong Thơ Ngắn Đỗ Nghê)

 

Bãi biển LaGi. Đi dọc biển về hướng Bắc chừng 2km là khu vực Nước Nhỉ (nơi có Giếng Nguồn Chung).
Tranh: Đỗ Hồng Ngọc (12.1997)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nhớ Nguyễn Hiến Lê

02/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nhớ Nguyễn Hiến Lê

Đỗ Hồng Ngọc

 

“Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ, nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu… Hà Nội mùa thu… Mùa thu Hà Nội…Nhớ dến một người… ”

(Hà Nội mùa thu- Trịnh Công Sơn).

Tạp chí Văn Hóa Phât Giáo, Số 300, ngày 1.7.2018

“Nhớ đến một người” đó, với tôi, là nhớ Nguyễn Hiến Lê, một người Hà Nội, một học giả, một nhà trí thức chân chính ngày nay được cả nước biết đến. Nhưng nói Nguyễn Hiến Lê người Hà Nội chỉ đúng… một phần ba, vì tuy sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, lúc mới 22 tuổi, ra trường Công chánh, ông đã khăn gói vào Nam nhận nhiệm sở để rồi sống luôn ở đó suốt nửa thế kỷ cho đến ngày mất, năm 1984, khi vừa 72 tuổi. Nửa thế kỷ dằng dặc đó của một đời người, ông đã chẳng lúc nào nguôi quên Hà Nội của tuổi thơ ông.

Còn nhớ năm 1978, tôi có dịp lần đầu tiên ra Hà Nội dự một hội nghị về y học. Hà Nội không hề xa lạ với tôi. Tôi như thuộc lòng từng ngõ ngách, từng phiến đá, từng mái tranh gốc rạ, từng phố xá thân quen… cũng nhờ từ nhỏ đã sống với tác phẩm của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nhất Linh, Khái Hưng… những buổi chiều vàng, những gánh hàng hoa, những anh phải sống… rồi với cả những người xa Hà Nội như Mai Thảo, như Vũ Bằng… Hà Nội với tôi còn là “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng…” rồi “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi, ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió chơi vơi…” …

Tôi lẻn khỏi hội nghị đến thăm Văn Miếu, lòng lâng lâng như đi giữa ngàn xưa và bỗng nhớ Nguyễn Hiến Lê, nhớ một câu ông viết từ những năm 50  rằng bằng cấp không phải là thước đo giá trị của một con người. Có những người có tên trong văn bia tiến sĩ ở Văn Miếu mà chẳng mấy ai còn nhớ, trong khi những Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Chu Manh Trinh, Tản Đà, Tú Xương… luôn được người đời nhắc đến…

Tôi đến Bưu điện Hà Nội gởi ngay cho ông một tấm bưu thiếp. Chỉ viết mấy dòng vắn tắt. Cũng chẳng hy vọng gì nó đến được trong thời buổi đầy khó khăn này. Vậy mà hơn một tháng sau, Nguyễn Hiến Lê nhận được bưu thiếp và ông trả lời:

Saigon 3/11/78
Thân gởi cháu Ngọc,
Hôm qua tôi được bưu thiếp cùa cháu gởi từ Hà Nội ngày 29/9. Cảm động nhất là câu: “Cháu đến thăm Văn miếu , nghĩ đến bác nhiều”. Tôi hiểu rồi chắc cháu nhớ một đoạn cuối tập Bí quyết thi đậu của tôi. Cảm ơn cháu nhiều lắm. Cháu hiểu tôi. Cháu làm tôi nhớ hồi trẻ tôi học ở trường Bưởi (Chu Văn An) ngoài đó quá. Cháu có xem Hồ Tây, chùa Quan Thánh, đường Cổ ngư (nay là đường Thanh Niên?) không? Trường Bưởi của tôi ở bên bờ Hồ Tây đấy. Mà trường Yên Phụ (tiểu học) của tôi ở trên bờ hồ Trúc Bạch trông ra đường Cổ ngư đấy.

Đứng trên đường này nhìn về phía Bắc sẽ thấy núi Tản Viên, quê tôi ở gần chân núi đó. Nhớ quá đi. Cháu có đi thăm đền Ngọc Sơn, đền Voi Phục, chùa Láng … không? Toàn những cảnh mà hồi trẻ tôi mê.

Mê nhất là cái sắc trời, cái không khí trong trẻo, những làn sương lam nhẹ là là mặt đât, ngọn gió hây hẩy, những lá vàng, làn nước xanh, hương lúa của mùa thu ngoài đó. Toàn là những teintes douces, gợi những tình cảm buồn buồn mà nên thơ, nên thơ lắm. (…)

Nhớ lại trước đó nữa, đầu năm 1974, tôi gởi ông bài thơ mới viết: Đi cho đỡ nhớ, ghi lại cảm xúc của mình trong ngày đầu tiên trên chuyến xe lửa nối liền Saigon- Biên Hòa mà mơ một chuyến tàu Nam-Bắc… Ông trả lời:

Saigon 30/1/74
Cháu Đỗ Hồng Ngoc,
Tôi mới ở Long Xuyên lên. Bài “Đi cho đỡ nhớ” cảm hứng mới mẻ đấy, mà thú. Đọc hoài thơ yêu nhau và nhớ nhau, với thơ chiến tranh, ngán quá rồi. Nhưng cháu làm cho tôi thèm đi quá. A, bao giờ Saigon mới được nối với Hà Nội bằng xe lửa đây? Lúc đó tôi sẽ bỏ hết các công việc, nhờ cháu làm revision générale cho bộ máy của tôi, rồi lên xe lửa thăm non sông Nam, Trung, Bắc một lần cuối cùng. Sẽ uống dừa Tam Quan, ăn cam Xã Đoài, rồi ăn nhãn Hưng Yên, hồng Bạch Hạc, cốm Vòng v.v.. Thèm không cháu?(…)

 

Ông thường nhắc trong thư cảnh núi Tản hùng vĩ, cảnh ngã ba Bạch Hạc mênh mông mùa nước lớn, cảnh đồng ruộng văng vẳng tiếng sáo diều và thoang thoảng hương lúa, cảnh chợ quê lèo tèo mấy gian cột tre mái rạ với những quán chè tươi… làm tôi cũng nhớ quá!

Cơ hội đã đến với ông. Năm 1979, ông được mời đi dự Hội nghị khoa học toàn quốc về vấn đề Giữ gìn sự trong sáng trong tiếng Việt tại Hà Nội, thế nhưng lần đó ông không đi được vì bệnh. Rồi thôi, không còn dịp nào nữa!

22.10.79
Cháu Ngọc,
Tôi đã bỏ ý ra Hà Nội rồi. Cơ hội tốt, đáng tiếc thật. Nhưng ngại chỗ ở và ăn lắm, cũng ngại cuối Oct. thời tiết lạnh đau bao tử và rhinite trở lại. Cũng còn li do: ông Trương Văn Chình không được mời ra, không hiểu tại sao. Đi một mình, buồn.

(Ghi chú: Trương Văn Chình là người cùng hợp soạn với ông cuốn Khảo luận về Ngữ pháp Việt Nam. NXB Đại học Huế, 1963).

Học giả Nguyễn Hiến Lê
(1912-1984)
ảnh: Lê Phương Chi

Rồi ông về ở hẳn Long Xuyên, quê hương thứ hai của ông ở miền Nam, ráng viết cho xong các tác phẩm triết học Trung Quốc mà ông nói là “hy vọng còn có giá trị trong vài mươi năm nữa”- và “cũng để bắt đầu óc phải làm việc” cho nó đừng sớm “lão hóa”. Cũng trong thời gian này, ông nói ông băn khoăn không biết có nên viết hồi ký hay không, và, nếu có viết thì sẽ viết những gì. Trong các thư riêng gởi tôi, ông tâm sự như thế và nghĩ rằng có lẽ cũng nên viết chút gì đó chừng vài trăm trang… Thế rồi Hồi ký Nguyễn Hiến Lê cũng như 120 tác phẩm của ông đã hình thành như ta được biết hôm nay.

Những năm cuối đời, ông thường ưu tư buồn bã, mà vẫn khôn nguôi nỗi nhớ quê xưa:

Nhớ lại hồi đó, mới đây thôi mà đã đúng như câu thơ cổ: ”Vạn sự tan như mây khói” cả rồi. Cả cái mộng đi một tua thăm Nam Trung Bắc cũng tan luôn nữa.
Tôi chưa về thăm ngoài đó….
(Long Xuyên 30.7.79)

 

Ông thường về Long Xuyên, quê hương thứ hai của ông, bùi ngùi nghe lại câu hò ngày xưa:

“… chèo vô Núi Sập lựa con cá khô sặt cho thiệt ngon,
lựa trái xoài cho thiệt giòn,
đem ra Long Xuyên lựa gạo cho thiệt trắng, thiệt thơm,
em về em dọn một bữa cơm
để cho người quân tử
hò ơ… để cho người quân tử ăn còn nhớ quê…” [1]

Với tấm lòng như vậy, dễ hiểu tại sao mặc dù ông có điều kiện để đi xa – vợ con ông ở Pháp từ nhiều năm trước– nhưng ông chọn ở quê nhà, chết ở quê nhà (ngày 22/12/1984), và được hoả táng tại Thủ Đức.

***

Mười lăm năm trước đây (2003), nhóm chúng tôi có Trần Văn Chánh, Đỗ Hồng Ngọc, Lê Anh Dũng, Nguyễn Duy Chính, Trần Huiền Ân, Nguyễn Hướng Dương, Lê Ký Thương… đã làm một cuốn sách về Nguyễn Hiến Lê: Nguyễn Hiến Lê, Con người và Tác phẩm. Sách đã tuyệt bản từ lâu. Mới đây, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp.HCM đã quyết định cho tái bản cuốn sách này với bổ sung từ các bài viết, phỏng vấn Nguyễn Hiến Lê của Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Châu Hải Kỳ, Lê Anh Minh…

Đã có những nghiên cứu về sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê như luận văn thạc sĩ về “Vấn đề lao động nhà văn trong các trước tác của Nguyễn Hiến Lê” của Nguyễn Ngọc Điệp,  do GS Huỳnh Như Phương hướng dẫn và gần đây luận văn nghiên cứu văn hóa, văn học của Nguyễn Hiến Lê” v.v…

Ảnh hưởng Nguyễn Hiến Lê ngày càng thấm sâu trên đất Bắc. Sáu năm trước (2012), tôi nhận được email của một bạn trẻ không quen biết từ Hà Nội, cho biết về chuyến “Hành trình Xuyên Việt vượt 2200km bằng xe máy tri ân thầy Nguyễn Hiến Lê”. Các bạn trẻ đi xuyên Việt bằng xe máy, từ Hà Nội vào thẳng chùa Phước Ân tại Lấp Vò, Đồng Tháp “để thắp hương tri ân tới thầy Nguyễn Hiến Lê”. Email viết: “sách của thầy Nguyễn Hiến Lê viết giản dị, chân thành, là thầy mà cũng như là bạn, chúng con rất vui là đã lan tỏa được sách của thầy tới anh em thanh niên, vì trước đây sách của thầy ngoài Bắc cũng hiếm ạ”. 

“…thực ra đối với thanh niên ở ngoài Bắc có thiệt thòi hơn trong Nam nhiều, là ít được tiếp xúc với sách của cụ Lê(…), chân thành mong muốn tri thức Nguyễn Hiến Lê đến gần hơn, giúp đỡ cho thanh niên được nhiều hơn (…).

Saigon, Tp HCM hiện nay cũng đã có một con đường mang tên Nguyễn Hiến Lê. Một cách ghi nhận công lao của một “người Hà Nội” đã sống và làm việc miệt mài suốt nửa thế kỷ ở miền Nam và đã để lại một di sản đáng quý góp một phần không nhỏ vào nền văn hóa nước nhà.

Và với riêng tôi, Nguyễn Hiến Lê còn để lại biết bao niềm trân trọng và trìu mến để tôi được “Nhớ đến một người” giữa “mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió” của Hà Nội hôm nay.

(ĐHN)

…………………………………………….

(1)   Hồi ký Nguyễn Hiến Lê

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi

25/06/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi: Chuyện sách,

Cảm ơn bạn đã gởi cho bài viết giới thiệu về mấy cuốn sách gần đây của mình trên VnExpress. Mình vẫn đọc tờ báo mạng VnExpress hằng ngày nhưng không để ý. Các bài viết tuy ngắn gọn, nhưng khá súc tích, nêu được những điểm cốt lõi của cuốn sách.

Xin chân thành cảm ơn.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

VnExpress Thứ hai, 3/9/2012

Đỗ Hồng Ngọc viết tùy bút về lời Phật dạy

Quyển ‘Thấp thoáng lời kinh’ vừa ra mắt của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc gửi gắm nhiều điều ông ‘ngộ’ từ Phật giáo.

Độc giả từng quen thuộc với Đỗ Hồng Ngọc qua các ấn phẩm như: Thư gửi người bận rộn, Nhớ đến một người, Gió heo may đã về, Già ơi chào bạn… Ở lần ra sách mới, vị bác sĩ viết văn tiếp tục chia sẻ với mọi người những điều ông suy nghiệm và thực hành trên chính cuộc sống của mình khi tiếp cận với Phật giáo.

 “Thấp thoáng lời kinh” viết về những lời Phật dạy dưới dạng như tùy bút. Cuốn sách thể hiện trải nghiệm của một bác sĩ thích đọc sách Phật, thích chiêm nghiệm quan sát cuộc đời dưới cái nhìn tích cực, được viết bằng lời văn nhẹ nhàng, ngôn từ giản dị. Mỗi trang sách mang đến cho bạn đọc cảm xúc về những điều giản đơn, đầy ý nghĩa trong cuộc sống.

Lý giải về việc ra mắt tác phẩm, Đỗ Hồng Ngọc kể: “Vào tuổi bảy mươi, một hôm giữa đêm khuya khoắt, loay hoay, bứt rứt, thấy phải nhanh tay ghi chép lại đôi điều thấp thoáng bấy nay… Sẵn cuốn tập bằng giấy dó trước mặt, rào rào viết không kịp thở, mỗi trang một lõm bõm, như một ghi chú cho riêng mình. Lần kia, người bạn ở tòa báo đòi bài gấp, bí quá, thử trích vài đoạn, ai ngờ bạn kêu tiếp đi, nhiều người đang đợi. Vậy là Thấp thoáng lời kinh xuất hiện… lai rai. Đôi người bạn không quen từ phương xa tình cờ đọc được, khuyên in đi, làm một món quà nhỏ…”

Chính vì sự tình cờ này, Đỗ Hồng Ngọc chỉ dám xem Thấp thoáng lời kinh như là những cảm nhận riêng tư, chủ quan về “đạo và đời” mà ông muốn chia sẻ đến mọi người.

…………………………………………………………………………………………………..

VnExpress Thứ ba, 24/6/2014

Đỗ Hồng Ngọc mỉm cười tự tại với ‘Ghi chép lang thang’

Soạn tâm thế an nhiên khi bước vào tuổi già, nhẹ nhàng đón đợi niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống… là điều mà trang viết của vị bác sĩ viết văn đem đến cho độc giả.

Đúng như tên gọi của tập sách, Ghi chép lang thang là tập hợp những bài viết ghi chép những điều mắt thấy, tai nghe, những cảm nhận chân thực, chia sẻ chân thành của Đỗ Hồng Ngọc trên đường “lang thang” với đời, với nghề.

Đó có thể chỉ là một buổi ông tìm kiếm băng đĩa ở một cửa tiệm nào đó để rồi thích thú phát hiện ra những tên gọi mới cho loại nhạc mà mình yêu thích: “Sến Già Nam”, “Sến Già Nữ”. Từ đó tác giả nói dài, nói rộng ra và hoài niệm về những bài hát, những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng một thời mà bây giờ bị giới trẻ đóng mác là “sến”.

Với góc nhìn của một bác sĩ cũng như một người nghiên cứu, người làm văn hóa, tác giả giúp người đọc hiểu được sự quan trọng của việc một sinh linh bé bỏng hình thành trong cơ thể của người mẹ. Việc thay đổi tâm lý, tu tâm dưỡng tính của người mẹ để chuẩn bị đón đứa con sắp chào đời để rồi mới có câu “Con vào dạ, mạ đi tu”.

Tác giả cũng chia sẻ về những kỷ niệm, dấu mốc quan trọng trong cuộc đời mình, về cuốn sách của Nguyễn Hiến Lê đã làm thay đổi cuộc sống ông như thế nào. Cuốn sách đó giúp một cậu bé mười lăm tuổi, thất học, phụ mẹ bán hàng xén vượt qua mọi khó khăn, quyết tâm học hành và trở thành một bác sĩ, một nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa của ngày hôm nay. Từ chia sẻ ấy, con đường văn hóa của Nguyễn Hiến Lê được nối dài, “những hạt mầm đã vươn lên”.

Hay đó chỉ là những cảm xúc về vở kịch Thiên Thiên của Việt Linh. Những cảm nhận của bạn đọc cũng như suy nghĩ của tác giả về cuốn Già ơi… Chào bạn! của ông. Hoặc những bài viết thú vị về Thiền, vận dụng “Kim Cang” vào cuộc sống hàng ngày.

Tuổi già và nhận thấy mình già có lẽ là điều không vui vẻ gì so với nhiều người. Nhưng Đỗ Hồng Ngọc lại khác. Ông nhìn trực diện vào tuổi già, viết nhiều về tuổi già, từ những ghi chép ngắn cho đến cả quyển sách về tuổi già. Những bài viết ấy cho thấy một Đỗ Hồng Ngọc chấp nhận mình đã già, hiểu luật sinh tử, phân tích về tuổi già, xét trên nhiều góc độ như y học, văn hóa, tôn giáo… nhưng với cái nhìn hoài niệm của người già nhớ lại những chuyện xưa, người cũ nhưng vẫn hài hước, lạc quan:

“Lá cứ rụng rồi lá cứ xanh. Hoa cứ nở rồi hoa cứ tàn. Trăng cứ tròn rồi trăng cứ khuyết… Cho nên, chỉ già thêm chút nữa, rồi già thêm chút nữa… nữa với mỗi người, thế thôi”.

Ông cũng bắt đầu những chuyến đi, những ghi chép lang thang về cảnh, về người, chuyện mình, chuyện người. Từ La Gi đến Phan Thiết, núi Tà Cú, xuống Vũng Tàu rồi ngược lên Đà Lạt, leo lên Bà Nà rồi về Đà Nẵng, ra Huế, đi Sa Đéc… những chuyến “giang hồ… vặt” của tác giả mang lại cho ông bao nhiêu kỷ niệm.

Cuốn sách còn ghi lại nhiều cảm xúc, suy nghĩ của tác giả về những ngày làm việc, những ngày đang sống của mình. Từ những buổi sinh hoạt văn nghệ, những ghi chép vội vã về những chuyến đi, những ngày lang thang Sài Gòn để nhớ chuyện cũ, người xưa… mới thấy tác giả đi nhiều, gặp nhiều và “cảm” nhiều chuyện mình, chuyện người.

Tác giả, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940 tại Lagi, Hàm Tân, Bình Thuận và hiện sinh sống tại Sài Gòn. Ông nguyên là bác sĩ khoa nhi, bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM, nguyên là giám đốc Trung tâm Truyền thông & Giáo dục Sức khỏe TP HCM. “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị” là lời nhận xét của cố học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết về Đỗ Hồng Ngọc.

Đỗ Hồng Ngọc viết sách dành cho độc giả mọi lứa tuổi. Một số cuốn sách đã xuất bản của ông như: Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, Thầy thuốc và bệnh nhân, Viết cho tuổi mới lớn, Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, Thư gởi người bận rộn, Nghĩ từ trái tim, Nhớ đến một người, Như thị…

…………………………………………………………………………………..

VnExpress Thứ ba, 4/8/2015

Đỗ Hồng Ngọc tiết lộ bí quyết ‘Già sao cho sướng’

Giọng văn dí dỏm của tác giả 76 tuổi mang đến cái nhìn thong dong, mới mẻ về tuổi già. Từ đó mỗi người có thể nhìn lại và mở ra trang mới cho cuộc sống.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là tác giả của nhiều đầu sách chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng và nâng cao giá trị sống. Người trẻ, người già, các bà mẹ… và nhiều đối tượng độc giả có thể tìm thấy trong trang viết của ông nhiều bài học cuộc sống thú vị. Các cuốn sách của Đỗ Hồng Ngọc như: Thấp thoáng lời kinh, Gió heo may đã về, Già ơi chào bạn, Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác, Thiền và sức khỏe… luôn khơi mở những góc nhìn mới mẻ về cuộc sống qua góc nhìn trẻ trung và trí tuệ.

Cuốn sách mới nhất – Già sao cho sướng – tiếp tục đi theo mạch chủ đề về chia sẻ kinh nghiệm sống. “Tôi nay đã 76 tuổi – tuổi ta – có lúc thấy mình cũng hơi già nhưng nhớ lại tuổi Tây thì mình mới 75, hãy còn quá trẻ. Tập sách mỏng này dành cho các bạn U80, những người đã có thể gọi nhau là ‘lão hữu’. Dĩ nhiên, những bạn trẻ dưới tuổi 70 cũng có thể đọc được. Nhưng, thỉnh thoảng mà thấy có bài này bài nọ quen quen thì cũng đừng ngạc nhiên. Già nó lẩm cẩm chút vậy thôi”, ông viết.

Những chia sẻ, trao đổi và kinh nghiệm để có được một tuổi già an nhiên, hạnh phúc của Đỗ Hồng Ngọc mang đến cho độc giả không ở đâu xa, mà chính từ bản thân ông, từ bạn bè, từ những gì ông quan sát, trải nghiệm. Sự sướng hay khổ của tuổi già thực chất là do thái độ sống và cách nhìn nhận của mỗi người. Và Đỗ Hồng Ngọc chọn niềm vui sướng để nói về độ tuổi như “ngọn đèn trước gió”.

Và để có thể thấy “sướng”, thấy hạnh phúc với tuổi tác, không gì khác hơn mỗi người phải biết chấp nhận quy luật của tạo hóa và nương theo quy luật ấy để tìm niềm vui cho cuộc sống mỗi ngày, tạo chất lượng cuộc sống cho bản thân.

Khái niệm chất lượng cuộc sống (Quality of Life) là khái niệm thường được nhắc nhiều đến trong các đầu sách của Đỗ Hồng Ngọc. Đây là một khái niệm quan trọng để mỗi người nhìn lại cuộc sống của mình đang ở thang độ cảm xúc và tình trạng thế nào. Một cuộc sống chất lượng, dù ở tuổi già hay tuổi trẻ, không chỉ phụ thuộc vào số tài sản vật chất mỗi con người sở hữu mà còn được định nghĩa là: “những cảm nhận của cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống, liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ”. (WHO, Tổ chức Sức khỏe Thế giới).

Qua những trang viết, phân tích, dẫn chứng và so sánh từ thực tế của Đỗ Hồng Ngọc, độc giả càng cảm nhận tuổi già không phải là sự chấm hết mà là sự khởi đầu cho hành trình mới trong cuộc đời mỗi con người. Tác giả luôn cảm nhận được sự trẻ trung, đầy nhiệt huyết với cuộc đời, công việc ngay cả ở những nhân vật “thất thập cổ lai hy” như: bác sĩ – họa sĩ Dương Cẩm Chương, giáo sư âm nhạc Trần Văn Khê, nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương… Ông hài hước đùa, khi nhìn vào những nhân vật này, ông thấy mình còn “quá trẻ”. Trong cuốn sách Gió heo may đã về của Đỗ Hồng Ngọc, Trịnh Công Sơn từng viết: “Không có già không có trẻ. Nói với một người trẻ tôi già rồi em ạ là vô lễ”.

Qua cuốn sách của mình, Đỗ Hồng Ngọc chỉ ra: “Nghiên cứu cho thấy tuổi già thường có được hạnh phúc khi:

Biết từ bi với mình, chấp nhận mình, hiểu luật vô thường của cuộc sống;

Có ký ức tốt về tuổi thơ và tuổi thanh xuân;

Được tự tại sắp xếp cuộc sống theo ý riêng, không bị áp đặt;

Duy trì tốt các mối quan hệ gia đình, bè bạn…;

Sức khỏe thể chất tương đối tốt, không mong lúc nào cũng như xưa được;

Tài chánh được tự chủ;

Gần gũi với thiên nhiên,

Giữ ngọn lửa nhiệt tình, niềm an lạc, thanh thản trong tâm hồn”.   

 

(Theo vnexpress.net)

……………………………………………………………………….

Cũng ở trên mạng thấy có nhà sách Khai Tâm giới thiệu một số hình ảnh bìa sách của Đỗ Hồng Ngọc. Cảm ơn nvquyen đã chuyển cho bác Ngọc.

Nghe nói bây giờ mua sách cũng không cần tới nhà sách làm chi cho mệt, chỉ cần bấm bấm mấy cái nút, tự nhiên có sách chạy tới nhà!  Thiệt lạ!

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Chuyến về Phan Rang với Quán Văn: Một vài hình ảnh.

04/06/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Chuyến về Phan Rang với Quán Văn: Một vài hình ảnh.

Cái xứ nắng như rang mà gió như phan đó đâu có xa lạ gì với bọn mình phải không? Xưa mình không ít lần đến Phan Rang, lên xuống Ga Tháp Chàm, thăm cụm tháp Po Klong Garai, rồi có khi từ đó qua ngã Đa Nhim leo đèo Ngoạn Mục về Đà Lạt; rồi cũng đã nhiều lần ghé Ninh Chữ tắm biển, ăn bánh căn, gặp Võ Tấn Khanh, Phan Hữu Ngọc… nhưng chưa lần nào đến Vĩnh Hy, Núi Chúa… cách thành phố Phan Rang gần 40km về hướng Đông Bắc. Lần này Nguyên Minh và các bạn Quán Văn rủ đi Phan Rang Vĩnh Hy một chuyến, thăm lại “cái nôi” xưa của một thời Gió Mai, Ý Thức ronéo, tiền thân của Ý Thức bán nguyệt san Văn học nghệ thuật ở Saigon sau này, và, có sự nối tiếp đến Quán Văn hôm nay. Nhắc “cái nôi” thì không thể quên nhóm bạn Ngy Hữu, Nguyên Minh, Lữ Kiều… những cậu học trò mê văn chương, làm báo viết tay, rồi từ đó mà tiến lên ronéo, typo, offset… Phải công nhận cái máu mê làm văn làm báo này của ‘đám nhóc’ thời đó thiệt đáng nể. Hãy đọc một đoạn Lữ Kiều viết trên Văn Chương Việt 2010:

“Vậy mà đã 35 năm qua, tưởng như đã quên tờ báo mà nhóm Gió Mai thời 1968 thực hiện. Làm sao không bồi hồi cảm động. Như thể gặp lại người bạn cũ thâm giao. Bạn thì không hề thay đổi, còn ta thì quá đỗi hư hao…

Vậy thì tôi viết về số báo này, như một cột mốc của cuộc sống, chứng nhân của một thời, với tất cả vui buồn, sum họp và chia ly của nó.

Tờ Gió Mai số 4 do Ngy Hữu chủ trương, thực hiện ruột ở Phan Rang tại Roneo Nguyễn của Nguyên Minh, stencil do Ngy Hữu và Nguyên Minh ngồi gõ trên cái máy chữ xách tay Brother của Ngy Hữu và Olympia của Nguyên Minh. Làm sao quên được.

(…) Bìa Gió Mai 4 in màu xanh lá cây. Tôi phải nhờ Mỹ Hiệp Ronéo ở đường Trần Quý Cáp Sài Gòn thực hiện. In roneo mà tưởng như in Typô. Thuở ấy, Mỹ Hiệp Ronéo là tiệm quay ronéo tân tiến nhất, chuyên in bài học cho sinh viên y khoa, mà lúc bấy giờ tôi, Nguyên Thạnh Nguyễn Mậu Hưng và Đỗ Nghê là sinh viên năm cuối, sắp ra trường! 100 trang báo, khổ 20×30, bao nhiêu công phu gõ máy đánh chữ của Ngy Hữu và Nguyên Minh, nhất là phần canh chữ cho ngay mỗi cuối hàng bên phải: thuở đó, làm một tờ báo đẹp về hình thức trong điều kiện thiếu thốn phương tiện vẫn là nỗi đam mê và hãnh diện của Nguyên Minh.

(…)”

(Lữ Kiều: Gió Mai, một thời hoang dại).

Lần này về Phan Rang ngoài các bạn Quán Văn còn có Hồ Sĩ Bình, Phan Trang Hy, Trần Thị Trúc Hạ từ Đà Nẵng và Nguyễn Thị Tịnh Thy từ Huế. Nhóm trong Nam ra có Hoàng Kim Oanh, Đoàn Đình Thạch, Nguyên Cẩn, Vũ Trọng Quang, Lương Minh, Hiếu Tân (Hiếu Tân từ Vũng Tàu), và có bạn tận Long Xuyên xa xôi… .  Riêng nhóm U80 của Ý Thức xưa thì có Nguyên Minh, Đỗ Nghê, Châu Văn Thuận, Lữ Kiều, Lê Ký Thương. Quả là bốn biển một nhà. Cái sự văn chương từ ngàn xưa vốn “thốn tâm thiên cổ” là vậy. Chưa gặp chưa biết mà đã quen nhau từ lâu! Phải khen Ngô Thị Mỹ Lệ, người “điều phối” và thiết kế chương trình vừa làm việc vừa du ngoạn cho anh chị em rất giỏi.

Hồ Sĩ Bình người phụ trách Nhà xuất bản Hội Nhà văn VN ở miền Trung, người đã giúp Quán Văn thực hiện các số báo gần đây vừa gặp mình đã kêu: Tôi đọc thơ anh Đỗ Nghê từ trước 75, lúc anh Hoàng Đăng Nhuận mang tập Thơ Đỗ Nghê từ Đà Lạt về Huế, khoảng năm 1974 chi đó, biết anh từ đó rồi!

Đúng vậy. Tập Thơ Đỗ Nghê (1973) là do Lữ Kiều, Trần Hữu Lục, Nguyễn Sông Ba… thực hiện từ Đà Lạt với tranh bìa của Nguyễn Trung, họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận trình bày, và… Hoàng Khởi Phong mang từ Đà Lạt về cho Đỗ Nghê lúc đó đang làm việc tại Bệnh viện Nhi Đồng Saigon. Thì ra Hồ Sĩ Bình đã biết nhau từ đó nên Quán Văn 55 kỳ này đăng nguyên vẹn lại bài thơ Tâm sự Lạc Long Quân không bôi xóa chữ nào!… Mình nói cảm ơn bạn, vì thú thực, khi nghe có Hồ Sĩ Bình về dự kỳ này, mình cứ ngỡ sẽ gặp một ông quan lăm lăm cây viết nhọn gạch gạch xóa xóa…

Chỉ có 3 ngày ngắn ngủi ở Phan Rang, Vĩnh Hy nhưng bè bạn đã sống với nhau như một gia đình lớn, chân tình và ấm áp. Cảm ơn Quán Văn, cảm ơn Nguyên Minh, Mỹ Lệ… và tất cả.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Đỗ Nghê)

 

Nguyên Minh và Hồ Sĩ Bình có ‘một phút tâm tình’. Và Lữ Kiều thì “dẫn chuyện gần xa”… với nhiều cảm xúc.

Họp mặt Quán Văn tại Phan Rang ngày 21.5.2018 (Photo: Thanh Hằng)

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ trái: Lữ Kiều (Thân Trọng Minh), Châu Văn Thuận, Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc). Mấy bạn… già dậy sớm đợi cà-phê Vĩnh Hy! (22.5.2018)

 

Bình minh ở Vịnh Vĩnh Hy, Phan Rang (ảnh DHN)

 

Từ Vịnh ra Cửa biển…

 

 

Đi thuyền đáy kính để xem… san hô

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuyền đáy kính: nhìn những rặng san hô rất đẹp (ảnh DHN).

 

 

 

 

Cầu treo đi suối Lồ Ồ, Núi Chúa (Đỗ Nghê và Lữ Kiều Thân Trọng Minh)

Cầu treo cao hun hút… Đoàn người vừa đi vừa run, thận trọng từng bước vì có những khoảng ván lót cầu gãy… thỉnh thoảng xe gắn máy chạy qua làm cầu rung bần bật… (ảnh ĐHN)

Suối Lồ Ồ mùa này khô nước. Mùa mưa, suối đổ ào ào như thác, rất đẹp. Bỗng dưng nhớ Văn Cao: “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước…” (ảnh ĐHN)

 

Suối Lồ Ồ. Xa xa, giữa các gộp đá, nhiều nhóm bạn trẻ đang cắm trại…

thăm vườn nho

(ảnh ĐHN)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thăm làng Gốm Bàu Trúc. Cô Ly chuẩn bị biểu diễn thực hiện một cái bình gốm cho đoàn xem. Đặc điểm ở đây là không phải bàn xoay mà người xoay quanh bàn. Mỗi ngày làm được 15 cái. Đất sét lấy từ Sông Quao về phơi khô, trộn cát (tỷ lệ giữ bí mật riêng mỗi gia đình). Mười ngày sau mới nung ở một lò lộ thiên. Các công đoạn nặn gốm đều phải do nữ giới thực hiện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chị Ly đi vòng quanh trục để nắn chiếc lọ theo ý mình.

 

 

 

 

Sản phẩm hoàn tất tuyệt vời. Chị Ly người đã có 20 năm làm nghề.                                                                      

Có một Trịnh Công Sơn… nơi đất nước gió lửa (Tứ đại)

Nét u buồn vương vương…

(Làng gốm Bàu Trúc: ảnh ĐHN)

 

 

Tháp Po Klong Garai (ảnh ĐHN)

Từ trái (ngồi) Đỗ Nghê, Hồ Sĩ Bình, Nguyên Minh, Hoài Huyền Thanh, Phan Trang Hy, Nguyên Cẩn, Nguyễn An Bình, Hiếu Tân. (Đứng): Tịnh Thy, Trúc Hạ. (Vĩnh Hy, Phan Rang 23.5.2018). Ghi chú: Lữ Kiều TTM,  Thanh Hằng, Châu Văn Thuận đã từ giả để về Ninh Hòa sớm, họp mặt cùng Lữ Quỳnh và Khuất Đẩu, Huyền Chiêu.

 

Ga Tháp Chàm: nhóm đi Đà Lạt, nhóm về Miền Trung, nhóm về phương Nam…(23.5.2018)

Từ trái: Phan Trang Hy, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Cao Kim Quy, Đỗ Hồng Ngọc, Hoàng Kim Oanh, Vũ Trọng Quang và phu nhân, Hồ Sĩ Bình. (Ga Tháp Chàm, Phan Rang 23.5.2018)

 

 

 

 

 

 

 

 

………………………………………………………………………………

Ghi chú: Lương Minh (nhiếp ảnh gia của đoàn) vừa gởi bổ sung một vài hình ảnh kỷ niệm chuyến về Phan Rang của Quán Văn và các bạn (21-23/5/2018). Cảm ơn Lương Minh.

Vườn Nho (Vĩnh Hy)
ảnh: Luong Minh

Chùa Viên Ngộ (ảnh:Lương Minh)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

‘NGƯỜI ĐỌC và NGƯỜI VIẾT,’ một tác phẩm mới của Lương Thư Trung

03/06/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

‘Người Đọc và Người Viết,’ một tác phẩm mới của Hai Trầu-Lương Thư Trung

Trần Doãn Nho

 “Người Đọc và Người Viết” là tác phẩm thứ chín của Hai Trầu-Lương Thư Trung. Hai Trầu và Lương Thư Trung là hai bút hiệu của cùng một tác giả. Khi viết về văn chương, ông lấy bút hiệu Lương Thư Trung; khi viết đời sống ruộng đồng, ông ký là Hai Trầu.

Trong “Lời Nói Đầu,” Lương Thư Trung cho biết “Người Đọc và Người Viết” là sự “gom lại tất cả các cảm tưởng về các trang văn thơ mà tôi đã đọc trong vòng hai mươi năm qua cũng như thêm nhiều cuộc trao đổi mới với các tác giả khác trong vài ba năm trở lại đây.”

Ông khẳng định, “Người Đọc và Người Viết” “không phải là một cuốn sách phê bình văn học gì hết vì tự thân tôi, tôi chỉ là một người đọc bình thường chứ không phải nhà văn nhà chương gì và tôi cũng không có khả năng để làm những công việc cao siêu ấy.”

Tác phẩm rất đa dạng, cho thấy ông là một “người đọc” thực sự, nghĩa là một người “mê” đọc, đọc nhiều, đọc đủ thể loại, đọc đủ loại tác giả, xem đọc là một thú tiêu khiển trong đời sống. Không những thế, ông còn “mê” viết. Nghĩa là thích được bày tỏ cảm nghĩ của mình sau khi đọc.

“Người Đọc và Người Viết” được viết dưới nhiều hình thức khác nhau: Đọc lại, đọc, lá thư văn nghệ, thư trao đổi, mấy ý kiến, vài ghi nhận, trao đổi ngắn, hỏi thăm, trò chuyện, thư gửi… đọc một bài thơ, một truyện ngắn, đọc một tác phẩm, vân vân.

Không chỉ là đọc thơ, đọc văn mà Lương Thư Trung còn đọc các tác phẩm phi-hư cấu như “Nhật Ký Truyền Giáo,” “Vui Đời Toán Học,” hay sách viết về ẩm thực. Không chỉ là nhận định nhiều tác phẩm của một tác giả hay một tác phẩm riêng biệt nào đó, mà còn là những lá thư trao đổi với tác giả để bàn về một vấn đề đời sống nào đó, hay bàn về văn dịch, bàn về chữ nghĩa, bàn về cách dùng chữ ngoài đời và trong tự điển, trao đổi với tác giả về một mục trên báo. Chẳng những thế, đối với một số tác giả, ông còn tìm cách đào sâu hơn bằng cách trực tiếp trò chuyện hay phỏng vấn tác giả và đặt vấn đề về những gì tác giả và tác phẩm nêu ra.

Khác với một số tác phẩm biên khảo khác, qua đó, tác giả thường chỉ viết về một số nhà văn tên tuổi hay có ảnh hưởng trong dư luận, Lương Thư Trung hào phóng và đa dạng hơn. Ông viết về bất cứ tác giả nào ông thích, từ những người rất nổi tiếng cho đến những người chưa có tiếng tăm gì, cả trong lẫn ngoài nước. Và tác giả nào cũng được ông trân trọng đọc, trân trọng nêu ra ý kiến mình. Với ông, bất cứ tác giả nào cũng có cái hay để thưởng thức.

Với một tấm lòng trải rộng như thế, tác phẩm gồm hai cuốn của ông (hơn 1,000 trang) đề cập đến một số lượng tác giả khá lớn: hơn 70 tác giả, dưới dạng này hay dạng khác, cách này hay cách khác. Từ những cây bút nổi tiếng như Hoàng Lộc, Tô Thùy Yên, Song Thao, Ngô Thế Vinh, Hoàng Xuân Sơn, Lâm Chương, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Xuân Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Ngọc Tư… cho đến khá nhiều những người chưa được biết nhiều trên văn đàn.

Mỗi tác giả, Lương Thư Trung có một nhận định riêng. Khen có, chê có, nhưng Lương Thư Trung không có kiểu đưa người này lên trời hay dập người kia xuống đất. Ông luôn luôn giữ một giọng bình văn chừng mực, chân tình, tin cậy. Xin lướt qua vài tác giả:

-Đọc thơ Phan Nhiên Hạo, Lương Thư Trung nhận xét, thơ Phan Nhiên Hạo “không phải để cảm mà để nhận, không phải để ngâm nga mà để nghiền ngẫm, không phải để ca ngợi cuộc đời mà để nhận dạng cuộc đời” (…) Đó là một “tách trà đắng” làm tê đầu lưỡi dần dần nghe cái “hậu ngọt của trà” (trang 98-101, quyển 1).

-Về Nguyễn Thanh Trúc, Lương Thư Trung cho rằng thơ của Nguyễn Thanh Trúc “không sắc sảo tài tình, không trau chuốc bóng bẩy, không văn chương thời thượng,” mà “là tiếng hót lảnh lót của loài chim chìa vôi giữ rặng tre làng. Tiếng hót ấy sẽ mang đến cho đời một chút hương nội gió đồng, một chút hoa cau hoa bưởi…” (trang 394, quyển 1).

-Đọc “Cánh Đồng Bất Tận” của Nguyễn Ngọc Tư, Lương Thư Trung cho biết, “đọc thì thấy quá xá là hay” khiến ông cảm thấy “nhói nhói bên ngực trái” vì quá thương cho số phận của chị em thằng Điền, hai nhân vật chính trong truyện. Nhưng Lương Thư Trung không chịu được cách cách chấm, phết của Nguyễn Ngọc Tư. “Ở đây tui bị ngộp thở vì mấy chữ ‘và’ và mấy cái dấu chấm phết ào ào như mưa như nắng ở vùng kênh xáng” trong “mùa áp thấp nhiệt đới Tháng Tám” (trang 192, quyển 1).

-Về truyện dài “Đời Thủy Thủ” của Vũ Thất, Lương Thư Trung nhận xét: “Phải là một thủy thủ tài tình với óc quan sát và nhận xét khá tinh xác mới có thể viết chương sách về trận chiến cách nay tròn năm mươi năm (1965) mà đọc lại như mới xảy ra bây giờ” (trang 392, quyển 2).

-Đề cập đến hai tác giả Nguyễn Hiến Lê và Vương Hồng Sển, Lương Thư Trung nêu lên một nhận xét đáng quan tâm: hai học giả Nguyễn Hiến Lê và Vương Hồng Sển có những đóng góp lớn lao cho nền văn học miền Nam, nhưng “dường như bị các nhà viết văn học sử, các nhà phê bình, các nhà diễn thuyết không biết vì vô tình hay cố ý mà thường hay bỏ quên sự có mặt của họ” (trang 374, quyển 2). Chẳng hạn như trong lần hội thảo “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam” (1954-1975) được tổ chức tại nhật báo Người Việt và nhật báo Việt Báo ở Westminster, California, trong hai ngày, 6 và 7 Tháng Mười Hai, 2014, “các diễn giả thuyết trình nhiều đề tài nhưng dường như quý vị ấy bỏ quên những đóng góp to lớn của nhị vị học giả này.” Mà ngay trong bộ Văn Học Miền Nam do Võ Phiến biên soạn, “hai vị này cũng chỉ được tác giả nhắc qua một cách rất sơ lược trong một hai trang giấy ngắn…” (trang 356, quyển 2).

Xen lẫn trong những bài viết về văn chương, Lương Thư Trung cũng có những bài viết bàn về chữ nghĩa khá thú vị. Chẳng hạn như bàn về việc dùng chữ trong sách vở và chữ ở ngoài đời trong “Giữa “Thiệt” và “Thật,” “Cái lợi của bút lục là chắc, nhưng cái hại của bút lục là quá nệ vào sách vở.” (trang 14, quyển 1).

Hay trong bài “Vài chữ dùng ngoài đời và trong tự điển,” đọc bài viết của Lê Mạnh Chiến, Lương Thư Trung nêu ra sự khác biệt của một số cách giải thích từ ngữ giữa các tự điển và giữa tự điển và ngoài đời và từ đó, nêu ra cái sai sót trong cách hiểu của một số từ như: ba đào, âm đức, bồng bột, chúng sinh, bình sinh… (trang 135-141, quyển 1).

Dù Lương Thư Trung khiêm tốn cho rằng ông chỉ ghi lại “cảm tưởng” của ông khi đọc, nhưng thực sự, với 95 bài viết về nhiều tác giả và tác phẩm, “Người Đọc và Người Viết” là một tập tiểu luận nhận định văn học. Dù không dựa trên một trường phái nào hay một quan điểm nào rõ rệt, nhưng khi phân biệt cái hay, cái dở, phê phán điểm này, khen ngợi điểm kia, tác giả cũng phải dựa vào một quan điểm nào đó. Chẳng hạn, Lương Thư Trung nhận xét rằng, văn chương hay văn học tựa hồ như “những dòng nước làm cho một dòng sông luôn đầy và chảy hoài bất tận,” không dễ gì “cắt lìa giữa cổ điển và hiện đại, giữa lãng mạn trữ tình và hiện thực tả chân, giữa triết lý và đời sống thường, giữa người đọc và tác giả.” Còn người đọc thì mê văn chương xưa hay nay miễn nó hay, cái hay tùy thuộc tâm hồn mỗi người. Mê đọc cũng tốn kém nhiều thứ. Tác giả tự nhận mình thuộc “người đọc đại chúng” và ông cho rằng đừng ai khinh thường người đọc đại chúng vì “chính họ là những người thầm lặng đã mang đến cho văn học những nhà văn tên tuổi” (trang 47-57, quyển 1).

Đó cũng có thể xem là một quan điểm văn học. Từ chỗ đứng này, Lương Thư Trung thẳng thắn phê phán sự áp đặt người đọc vào một “nhóm văn chương” nào đó, quy cho họ là không có văn chương. Nhà phê bình văn học, theo Lương Thư Trung, “chỉ là một người ngồi câu ở một bến sông,” là người  “không làm nên văn chương” mà cũng không là “vị thẩm phán cuối cùng ban phát văn chương cho mọi người” (trang 68, quyển 1).

Nhận định đó cho thấy Lương Thư Trung không chấp nhận lối phê bình văn chương độc đoán, nghĩa là chỉ đứng trên một quan điểm nào đó mà họ cho là đúng đắn, rồi sổ toẹt những cách phê bình văn chương khác hoặc là có cái nhìn thiên lệch đối với những tác phẩm không phù hợp với quan điểm mình.

 

(TDN, 25.5.2018)

………………………………………………………….

Hai Trầu-Lương Thư Trung, sinh trưởng ở Tân Bình, Sa Đéc. Ông đã xuất bản chín tác phẩm ở Hoa Kỳ: Bến Bờ Còn Lại (2005), Tình Thầy Trò (2005), Lá Thư Từ Kênh Xáng 1 (2005), !4 Tác Giả, Mỗi Người Một Vẻ (2012), Nhớ Về Những Bến Sông (2013), Lá Thư Từ Kênh Xáng 2 (2013), Mùa Màng Ngày Cũ (2011), Một Chút Tình Quê (2015) và Người Đọc và Người Viết (2017).

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Tôi học Phật

28/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Tôi học Phật

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

… Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà. Ngài lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỳ khưu:
– “Này các Tỳ khưu, cái gì là nhiều hơn, số lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay số lá trong rừng Simsapà?”.
– “Bạch Thế Tôn, số lá Simsapàmà Ngài nắm lấy trong tay thật là quá ít, còn số lá trong rừng Simsapà thật là quá nhiều”.
– “Này các Tỳ khưu, cũng giống như thế…

Cho nên, với tôi, “lõm bõm” học Phật cũng là quá đủ rồi vậy!

 

hình Internet

1. La-hầu-la là… con Phật lúc Phật còn là Thái tử. Một người con huyết thống. Trong cái đêm rời bỏ cung điện, “quyết tìm đạo sáng cứu chúng sanh” đó, Thái tử Tất-đạt-đa hẳn đã ít nhiều quyến luyến. Khi Phật thành đạo, có dịp về thăm vua cha thì La-hầu-la đã lên bảy tuổi. Và ngay dịp đó, La-hầu-la cũng xin theo Phật, xuất gia.
Hãy coi Phật đã dạy La-hầu-la những gì… để học lóm cũng hay!

Liễu Quán 14. tháng 5.2018, PL 2562

Trước hết, Phật giao La-hầu-la cho… ông “thầy dạy kèm” là Xá-lợi-phất. Sao lại Xá-lợi-phất mà không phải ai khác như Mục-kiền-liên chẳng hạn? Xá-lợi-phất thì mới đúng là một ông giáo, kiến thức uyên bác, đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật mà. Phật giao cậu bé La-hầu-la cho Xá-lợi-phất dạy dỗ là muốn La-hầu-la đi vào con đường tu tập bằng trí tuệ trước hết. Nếu Mục-kiền-liên mà làm thầy có khi La-hầu-la mê… thần thông mất! Phật không trực tiếp dạy La-hầu-la vì cha mà dạy con không dễ, nhứt là ông con có máu làm vua!
Và bài học đầu tiên Xá-lợi-phất dạy La-hầu-la là thở. Tức là dạy kỹ năng đầu tiên của thiền định. Bởi đây cũng chính là con đường khai mở trí huệ. Có chánh định rồi mới mong có chánh kiến, chánh tư duy… chớ, phải không? Cuộc sống càng căng thẳng, càng đam mê, càng nhiều  tham sân si mạn nghi tà kiến… thì người ta càng dễ quên thở. Người ta chỉ thoi thóp thở, khò khè thở, hời hợt thở, cà giựt thở, cà hước thở cho qua ngày đoạn tháng! Cho nên phải dạy thở trước hết cho La-hầu-la là đúng. Nhưng thở không chỉ là thở. Thở để thấy một kiếp người. Thở để thấy vô thường, vô ngã. Thở để thấy duyên sinh, thấy thực tướng vô tướng.

Rồi khi La-hầu-la lớn dần lên, Phật dạy những bước tiếp theo.

Hãy học hạnh của đất. Hãy như đất. Đất ở khắp nơi. Đất trong ta. Đất trong vũ trụ. Không có đất, ta không nên hình nên dạng. Không có đất, nhựa nguyên không thành nhựa luyện. Điều quan trọng: đất không hề phân biệt. Ném một thỏi vàng hay một đống rác, đất vẫn “như như bất động”…

Hãy học hạnh của nước. Hãy như nước. Nước ở khắp nơi. Nước ở trong ta chiếm đến ba phần tư thể trọng. Cũng như biển cả sông ngòi chiếm ba phần tư mặt địa cầu. “Nước trôi ra biển lại tuôn về nguồn” (Tản Đà). Chẳng thêm chẳng bớt…

Hãy học hạnh của gió. Hãy như gió. Gió ở khắp nơi. Gió trong ta. Trong bầu khí quyển. “Gió không có nhà/ Gió đi muôn phương…”. Đâu cũng là nhà của gió. “ Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…” (TCS).

Hãy học hạnh của lửa. Hãy như lửa. Lửa ở khắp nơi. Lửa trong ta. Lửa trong vũ trụ. Lửa ở mặt trời. Lửa giữa lòng đất. Lửa ở trong cây. Không có lửa sao cọ xát thì cây bốc lửa? Lửa đốt cháy hết tham sân si. Lửa tam muội ngùn ngụt trong chánh định…
Tứ đại “đất, nước, gió, lửa”, chính là những chất liệu, như Nitrogen (đất), Hydrogen (nước), Oxygen (gió), Carbon (lửa) tạo nên protein. Từ đó mà có sắc, thọ, tưởng, hành, thức…

Và Phật đã không quên nhắc đi nhắc lại với La-hầu-la: “không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta”. Giới Định Huệ chính là thuốc đặc trị cho Tham Sân Si.

 

2.“… 30 năm trước khi chưa tu thấy núi là núi, sông là sông. Sau nhân được thiện tri thức chỉ cho chỗ vào thì thấy núi chẳng phải núi, sông chẳng phải sông. Rồi nay thể nhập chốn yên vui tịch tĩnh lại thấy núi là núi, sông là sông…”
Cái thấy của 30 năm trước là cái thấy của nỗi lo âu vì vô thường:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai…
(Tú Xương)
Cái thấy của 30 năm trước là cái thấy của nỗi sợ hãi vì chấp ngã:
Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi…
(Vũ Hoàng Chương)

theo Internet

Ta sống trong vô thường vô ngã mỗi phút giây mà chẳng biết. Mỗi ngày Trái đất bay vòng quanh Mặt trời 2,5 triệu cây số; mỗi giây hàng trăm triệu tế bào hồng cầu tự hủy đi để hàng trăm triệu tế bào hồng cầu mới sanh ra… Ta vẫn cứ tưởng còn ngồi lại bên cầu để than thở: “Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ…”.  Cho đến lúc thảng thốt nhận ra: “Con sông là thuyền/ mây xa là buồm/ từng giọt sương thu hết mênh mông…” (TCS).

Người thiện tri thức đã chỉ cho chỗ vào? Vào đâu? Vào cái thấy “như thực”: thấy mọi thứ và cả cái ta nữa, luôn biến dịch, luôn đổi thay, bởi nó từ duyên mà khởi, từ duyên mà sinh. Ta thì từ đất nước gió lửa. Núi thì từ đá, đá thì từ cát, cát thì từ gió…  Nhìn cho rõ ngọn nguồn. Thấy cái thực tướng vô tướng. Rồi mừng rỡ reo lên: À, thì ra là Không.
Núi chẳng phải núi. Sông chẳng phải sông!… Nhưng  chấp Không còn tệ hơn chấp Có.

May thay, khi thể nhập vào chốn yên vui tịch tĩnh thì núi vẫn cứ là núi, sông vẫn cứ là sông. Núi là núi mà còn đẹp hơn xưa. Sông là sông mà còn đẹp hơn xưa. Chơn không mà Diệu hữu.

 

3. Làm sao nghe tiếng vỗ của một bàn tay ư? Một bàn tay làm sao vỗ cho ra tiếng được?
Phật bảo đánh một tiếng chuông. Hỏi có nghe không, Anan? Dạ, có nghe. Nghe gì? Nghe tiếng chuông. Tiếng chuông dứt, Phật hỏi có nghe không, A-nan? Dạ không. Không nghe gì? Không nghe tiếng chuông. Phật cho đánh lại tiếng chuông lần nữa. Nghe không? Dạ có nghe. Nghe gì? Nghe tiếng chuông. Phật cười: Tôi hỏi ông có nghe không chớ đâu có hỏi ông có nghe tiếng chuông không?
Giữa hai lần gióng chuông ông vẫn nghe đó chứ, ông nghe sự im lặng, nghe sự “không-có-tiếng” đó chứ. Vậy cái sự “nghe” của ông đâu có mất dù cái tiếng chuông kia khi có khi không.
Tiếng là thanh trần, từ bên ngoài, luôn thay đổi. Còn “nghe” –  “tánh nghe” – là tự bên trong, không hề thay đổi, luôn có đó.

 

4. “Ngày nào còn một chúng sanh…, thì quyết không thành Phật.”
Đó là lời thệ nguyện của một vị Bồ-tát. Mà có lẽ cũng là của tất cả các vị Bồ-tát. Ngày nào còn một chúng sanh… nghĩa là Bồ-tát muốn thành Phật thì phải “độ” cho tất cả các “loài” chúng sanh vào Niết bàn sạch trơn mới xong. Bồ-tát phải giúp cho ‘’vô lượng vô số vô biên chúng sanh được… diệt độ, mà thiệt ra chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả’’(Kim Cang). Vậy chúng sanh là gì mà ngày nào còn một chúng sanh thì Bồ-tát chưa thể thành Phật? Chúng sanh là mọi người trên hành tinh này ư? Là mọi loài sinh vật, cỏ cây, muôn thú ư? Vậy đưa hết chúng sanh vào Niết bàn thì ta… thành Phật để làm chi? Bởi ước nguyện thành Phật là để mang lại hạnh phúc, an lạc, giải thoát cho mình và cho chúng sanh kia mà! Kim Cang nói rõ: “Chúng sanh không phải là chúng sanh nên gọi là chúng sanh” (chúng sanh tức phi chúng sanh thị danh chúng sanh). Nghe thiệt điếc con ráy! Nhưng điếc con ráy là tại ta hiểu lầm thôi, chớ chúng sanh ở đây chỉ có nghĩa là những gì do nhiều (chúng) yếu tố tạo thành (sanh) thì gọi là chúng sanh. “Chúng duyên nhi sanh” thế thôi.
Cũng với 3 nguyên tố C (Carbon), H (hydrogen) và O (Oxygen), với những điều kiện nhiệt độ, áp suất nào đó và với tác dụng của một enzym nào đó thì kết hợp với nhau, khi thì cho ra dấm, khi cho ra đường, ra rượu… Đường, dấm, rượu là những “chúng sanh” do ‘’duyên’’ (điều kiện) sanh đó vậy. Một lời nói xúc phạm của ai đó, lúc đầu lời qua tiếng lại, lát sau động tay động chân, cũng sẽ tạo ra vô lượng vô số vô biên… “chúng sanh” đó thôi! Lòng tham, nỗi giận, sự si mê, tà kiến, kiêu căng, ngạo mạn…đều là những chúng sanh dắt díu nhau xuất hiện trong ta.
Chúng sanh đầy dẫy trong tâm. Nó không từ ngoài vào. Cho nên phải: Thức tự tâm chúng sanh/ Kiến tự tâm Phật tánh (Lục tổ Huệ Năng).
Và, như thế, Bồ-tát nguyện “ngày nào còn một chúng sanh… quyết không thành Phật” là có lý quá chớ!

 

Kinh Pháp Hoa khắc trên gỗ thị đỏ hơn 300 năm trước được tìm thấy tại Chùa Cát (Phật Quang), Phan Thiết. (ĐHN, 2009).

5.  Một hôm Phật nói ta sắp nhập Niết bàn rồi, ai muốn hỏi gì thì hỏi ngay đi.
Các vị Bồ-tát nhao nhao hỏi:
– Thế Tôn, có pháp môn nào giúp cho mau thành Phật không? (kinh Pháp Hoa)
Ối trời! Thành Phật đã là chuyện hy hữu, tu hành nhiều đời nhiều kiếp chưa ăn thua gì mà bây giờ còn muốn cho mau thành Phật nữa ư?
Vậy mà, Phật tủm tỉm cười:
– Có đó. Có một pháp môn giúp cho mau thành Phật. Pháp môn này gọi là Vô Lượng Nghĩa”!
– Sao gọi là Vô Lượng Nghĩa?
– Vô Lượng Nghĩa này từ một pháp sanh ra, một pháp ấy là “Vô tướng”.
– Sao gọi là Vô tướng?
– Vô tướng đây nghĩa là vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng, nên gọi là Thật tướng.
Thì ra để thấy được Thật tướng thì phải tu pháp Vô tướng. Vì còn thấy có tướng, còn dính mắc vào tướng, còn loay hoay trong tướng – cái trình hiện, cái biểu kiến bên ngoài – thì không thể thấy Tánh.

 

6. Phật hỏi Duy-ma-cật: “Như ông muốn thấy Như Lai thì quán Như Lai như thế nào?”. Duy-ma-cật thưa: “Như tự quán cái ‘thật tướng’ của thân, quán Phật cũng như vậy”.

Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật. Phật là Như Lai bởi Phật luôn sống trong Như Lai, sống với Như Lai, nói khác đi, Phật luôn sống trong pháp thân, trong thật tướng.
Thấy được cái pháp thân của Phật, cái thực tướng của Phật thì mới thấy… Như Lai. Còn nếu chỉ nhìn vào 80 vẻ đẹp hay 32 tướng tốt thì còn lâu mới thấy Như Lai. Dùng âm thanh chũm chọe, ánh sáng chớp lòe… thì chẳng những không thấy Như Lai mà còn bị Phật chê là “hành tà đạo”. Bởi Như Lai không có cái gì để thấy cả!

Phổ Hiền Bồ-tát bảo khi gặp Phật thì phải kính lễ (Lễ kính chư Phật), còn khi gặp Như Lai thì chỉ còn có cách xưng tán (Xưng tán Như Lai!), tức khen ngợi, trầm trồ, thán phục, gật gù, ú ớ, bởi vì “nói không được”!
Duy-ma-cật giải thích thêm: Như Lai thì vô danh, vô tướng; không sạch, không nhơ; không phải hữu vi cũng không phải vô vi…; không định, không loạn; không trí cũng không ngu; không đến không đi; không vẩn đục, không phiền não, không tác, không khởi, không sanh, không diệt, không sợ, không lo, không mừng, không chán…; không thể lấy trí để biết; không thể lấy thức để nhận ra; dứt tuyệt tất cả con đường ngôn thuyết; không thể bằng tất cả ngôn thuyết để hiển thị hay phân biệt…

Do vậy, muốn thấy Như Lai thì phải quán, mà trước hết là quán cái “thực tướng” của chính thân mình.  Cho nên Phật dạy: “Hãy nương tựa chính mình!”.

 

7. Rồi học hạnh Chân thành của Dược Vương, vị Bồ-tát “Nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến”, ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng. Dược Vương tự “đốt thân” (Thiền định) để vào Chánh định, đạt “nhân vô ngã”, rồi đốt cả hai cánh tay, giải trừ chấp pháp, đạt ‘’pháp vô ngã’’, từ đó mới ung dung tự tại, chân thành, trung thực… Thân khẩu ý là một. Nụ cười toát ra tự bên trong, không làm bộ làm tịch, vẽ vời, trau chuốt, không mang mặt nạ, không nói một đằng làm một nẻo…

Rồi học hạnh Thấu Cảm của Quán Thế Âm, vị Bồ-tát có khả năng “nghe được tiếng kêu của trần thế!”. Với lòng đại từ đại bi, với vô úy thí, nghìn mắt nghìn tay, nước cam lồ rưới mát cõi nhân sinh đầy thù hận, sợ hãi. Sợ gì? Sợ chết, sợ khổ, sợ nghèo, sợ xấu xí, sợ bệnh hoạn, sợ già nua… Cho nên làm cho hết sợ là đủ để mang lại an lạc, đủ để “cứu vớt chúng sanh” thoát biển trầm luân. Nhưng vì đâu mà sợ? Vì tưởng. Vô thường tưởng là thường. Vô ngã tưởng là ngã…Nuôi mộng muôn năm trường trị, nhất thống giang hồ…
Quán Thế Âm không đến từ bên ngoài mà đến từ bên trong của người “hành thâm Bát Nhã”.

Rồi học hạnh Thường Bất Khinh, vị Bồ-tát chỉ làm mỗi việc: chắp tay xá lạy mọi người, bất kể là ai và nói với họ rằng: Tôi không dám coi thường ngài. Ngài là một vị Phật tương lai. Nghe ông nói, ai cũng nổi giận. Phật ư? Giỡn chơi sao chớ. Chế giễu hả? Và người ta đánh đuổi ông, nguyền rủa ông, ném đá ông. Mặc kệ, ông vẫn kiên trì, không một chút nao lòng. Nghe một lần hai lần thì khó chịu, nghe trăm lần ngàn lần thì giật mình, ơ hay, cũng dám lắm chớ. Ai cũng có hạt giống Phật mà, chịu khó tưới tẩm có ngày dám mọc lên một cây Bồ đề lắm chớ.
Cho nên Tôn trọng, đức tính thứ nhất để thiết lập truyền thông hiệu quả. Thiếu tôn trọng thì truyền thông lập tức gẫy đổ.

Chân Thành (Genuine), Thấu Cảm (Empathy), Tôn Trọng (Respect)… là những hạnh cốt lõi của Bồ-tát đó vậy./.

theo Internet

(Đỗ Hồng Ngọc)

Phật Đản 2018

…………………………………………………………………………………..

(Tạp Chí Liễu Quán số 14, Phật Đản, PL 2562 (tháng 5.2018)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

“ Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”

26/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Một vài cảm nghĩ khi đọc Tản Văn Thi của Nguyễn Thị Khánh Minh

“ Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (*)

 

 Tôi không tin Tản Văn Thi của Khánh Minh là giấc mơ, là huyền thoại, là chiêm bao. Trái lại, nó rất hiện thực. Nó rất ở đây và bây giờ. “Đó là bức tranh sắc mầu cuộc sống”: bức tranh của một gia đình hạnh phúc, thứ hạnh phúc đơn sơ như ‘Me tôi ngồi khâu áo bên cây đèn dầu hao/ Cha tôi ngồi xem báo… Tôi nghe tiếng còi tàu… ’(Kỷ Niệm, Phạm Duy).

Phải rồi. Chỉ ở đó mới có tiếng chim trao lòng tin cậy; chỉ ở đó mới có bờ vai nương tựa sớm hôm; chỉ ở đó mới có những ánh mắt sao trời thơ trẻ; và đôi cánh bay lên những ước mơ đằm thắm ngọt ngào của người thi sĩ, luôn nhắc nhở mình “đừng như bóng mây tan”.

Phải rồi. Chỉ ở đó mới có tiếng reo vui Tát-bà-ha của Tâm kinh Bát nhã khi thấy biết ‘”ngũ uẩn giai không/ độ nhất thiết khổ ách”. Bát nhã (Prajnã) là cái nhận thức có trước nhận thức, là cái trí tuệ có trước trí tuệ, không đếm đo, toan tính,  nó vậy là nó vậy. Và chỉ ở đó, người ta mới thực sự hồn nhiên, thực sự reo vui: Tát-bà-ha!

Tiếng chim ríu rít mách tôi sự trong trẻo ban mai trao lòng tin cậy.

Bóng đêm mở nỗi sợ cho tôi tìm ra ánh sáng bờ vai nương tựa.

Những vì sao tặng tôi cách nhìn ngây thơ trong sáng.

Gió cho tôi đôi cánh và đường bay mơ ước con người.

Bóng mây tan nhắc tôi mỗi phút giây ở lại bên mình yêu dấu.

Tiếng cười bé thơ cho tôi nghe reo vui lời tâm kinh bát nhã.

(Khánh Minh, Khoảnh khắc giấc mơ)

 

Cho nên người thơ viết: Nên tôi quý những điều tôi đã nhận/ Nên tôi tận lòng với những điều đang ở.

Còn có cách nào hơn là “mở con đường trú ngụ hơi thở tịch lặng” – Anapanasati- ở đó, hiện tại là sát-na mênh mông không ngằn mé…

Và chỉ ở đó:

“Trong sáng láng ấy tôi đã gặp nhà thơ Mặt Trời. Lồng lộng nắng phương đông, chắt chiu hết tinh khôi nhân ái rắc xuống cánh đồng thơ diễm ảo. Tôi thức giấc từ lời hát của một bông cỏ dại người ban tặng và mảnh vỡ trái tim tôi thành những hạt pha lê được nuôi sáng bằng lời thơ dâng hiến…”

Phải, đã gặp một Tagore lồng lộng nắng phương đông, một Tagore viết nên những lời thơ dâng hiến! Còn phải tìm kiếm đâu xa?

Và một khi đã thấy biết (tri kiến) như thế, khi đã reo vui như thế, thì người ta sống với yêu thương, sống trong yêu thương, sống vì yêu thương:

“Yêu thương nhé” “ nói cùng lá cứ sống hết mình xanh”,

“yêu thương ơi xin thức dậy cùng người…”

“yêu thương ơi khoảnh khắc sum vầy đơn sơ thế xin một lần được cất cánh bay”.

Rồi tự dặn với lòng: “yêu thương ơi chút lòng riêng xin chắt chiu nghe…” “ Cho dẫu chiều rồi phai nắng...”

(Khánh Minh, Yêu thương ơi)

 

Rồi một hôm, người Bạn sẽ đến. Thế nào cũng sẽ đến. “ trong chiếc áo mầu nắng mang theo chân trời rất lạ của phương đông”. Phải chính là người Bạn “nơi con đường vừa mới có tên mọc đầy hoa Nguyện Ước”: ‘Lưu ly reo âm thanh trái tim. Và sẽ tặng tôi phép mầu của câu thơ đi vào cuộc sống. Tôi run rẩy chờ đợi… “. Người bạn đầy Nguyện Ước phương đông đó chính là Dược sư lưu ly quang Như Lai đó vậy!

Và dĩ nhiên người thơ sẽ đến điểm hẹn dầu giữa đêm tuyết giá. “Sẽ đem theo trái tim đầy tin cậy”. Trái tim đầy tin cậy, ấy chính là ‘Tín tâm”. Hãy giữ lấy. Dù “Ngày xám đục những mây/ đứng dưới một cây phong bay những chiếc lá khô/ Không có loài chim nào đến hót/ Cơn bão rớt đem mưa làm nước mắt…”. Cơn bão rớt sẽ đến rồi sẽ qua. Vô thường sẽ là ‘đóa hoa’ của Trịnh.

Rồi cũng có lúc “ngũ ấm xí thịnh”, người thơ hoang mang: Nếu có tìm tôi… Nếu có tìm tôi…? Ai tìm ai? Hãy nương tựa chính mình thôi nhé!

Nếu có tìm tôi. Xin trông chờ mảnh sáng sao băng.

Nếu có tìm tôi xin hát bằng nhịp tim bổng trầm lời tình tự…

Nếu có tìm tôi. Xin theo dấu sáng đom đóm quyện hương bờ giậu quê nhà. (…). Cho tôi đôi cánh hoa bay về miền đồng lúa chín vàng. Ngôi làng không bận lòng gì hơn là sống bình yên. Có con tầu đi về chở chuyên hội ngộ. Mỗi tiếng cửa mở ra là một tiếng reo sum vầy. Mỗi bếp lửa là mỗi báo tin mùa màng no đủ.

Nếu có tìm tôi…Trên bước gió mở ngàn khơi nơi cuối cùng là phương Đông ấm một mặt trời…

(Khánh Minh, Khoảnh khắc giấc mơ, 2018).

Hoang mang thế nhưng rồi, như một nhà thơ từng viết: Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy!

“Tôi đi tìm những trang bản thảo, mảnh đất tị nạn bình yên của tôi. Nơi có trò chơi trốn tìm dưới ánh chớp những chùm sao đang va vào nhau vang dội. Âm thanh ẩn mật là chiếc chìa khóa cuối cùng tôi phải mở, cõi thách thức cảm xúc phục sinh.

Tôi nhặt được một trang bản thảo lem luốc đầy vết xóa và tôi nghe tiếng tim mình còn hồi hộp đập…”.

(Khánh Minh. Trong cơn bệnh).

Phải, “Còn hồi hộp đập” nghĩa là còn sẽ nhặt nhạnh thêm.

“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” thôi mà! Phải không?

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 24.5.2018)

…………………………………………………………………..

(*) Trịnh Công Sơn

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Một Thời Để Nhớ (Quán Văn số 55)

17/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

MỘT THỜI Ý THỨC

Bán nguyệt san Văn học nghệ thuật Ý THỨC (1970-1975)

 Ghi chú: Bài này là một phần bài viết của nhà văn Nguyên Minh, chủ biên Bán nguyệt san Văn học nghệ thuật Ý Thức tại Saigon (1970-1975), đã đăng trên Vanchuongviet.org của Nguyễn Hòa vcv ngày 01 Oct 2010.

Nhân dịp Quán Văn 55 chủ đề Một Thời Để Nhớ ra mắt ngày 20.5.2018, tôi trích đăng lại một vài đoạn dưới đây như một kỷ niệm một thời tuổi trẻ của bạn bè anh em.

Đỗ Hồng Ngọc 

…………………………………………………….

(…)  Năm 1967, tại Phan Rang, khi Ngy Hữu và Nguyên Minh về dạy học tại đó, tập họp bài vở anh em trong nhóm ở xa làm một số Xuân Gió Mai, in roneo, khô 21×30. Đến năm 1969, Gió Mai mở rộng và đổi tên là Ý Thức, hai tháng ra một số báo, in ronéo. Lúc này, nhóm chủ trương có thêm Trần Hữu Lục, Lê Ký Thương, Võ Tấn Khanh, Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc). Tòa soạn : Theo chân người viết. (Thực ra là 11 Nguyễn Thái Học. Phan Rang).

Báo ra được 6 số thì dọn vào Sài Gòn, ra chính thức Bán nguyệt san văn học nghệ thuật, in Typô rồi đến Offset, phát hành rộng rãi toàn quốc. Tòa soạn đặt tại 666 Phan Thanh Giản, Sài Gòn. Chủ nhiệm trên pháp lý là Dược Sĩ Nguyễn thị Yến, một người bạn của Nguyên Minh, không biết gì về văn chương, trên thực tế là Nguyên Minh với chức danh trên giấy phép do Bộ Thông Tin cấp là Tổng Thư Ký. Tại tòa soạn, những số báo đầu tiên có Thái Ngọc San, Nguyễn Mai phụ tá, sau đó có Võ Tấn Khanh, Lê Ký Thương vào giúp sức với Nguyên Minh. Báo ra 24 số thì tạm đình bản. Đầu năm 1975, Ý Thức ra bộ mới do Lữ Kiều chủ biên. Báo vừa in xong số 2 tháng 3 năm 1975 xảy ra, chưa kịp phát hành.

Lữ Kiều, Lê Ký Thương,(…)Trần Hữu Lục, Phạm Văn Hạng, Nguyên Minh (giữa), Đỗ Hồng Ngọc,Trần Duy Phiên, Hồ Thanh Ngạn  tại nhà Lữ Kiều

Kể từ Ý Thức thời quay ronéo đã có thường xuyên các truyện ngắn, thơ của Tần Hoài Dạ Vũ, Mường Mán, Đông Trình, Doản Dân, Nguyễn Kim Phượng, Hồ Minh Dũng, Từ Hoài Tấn, Luân Hoán, Chu Trầm Nguyên Minh, Thế Vũ, Nguyễn Lệ Tuân, Thái Ngọc San…

Ý Thức thời in Typô và offset có thêm Trần Nhựt Tân, Huỳnh Hữu Ủy, Nguyễn Ước, Huỳnh Ngọc Sơn, Bảo Cự, Trần Duy Phiên, Nguyễn Lệ Uyên, Mang Viên Long, Bùi Giáng, Huy Tưởng, Từ Kế Tường, Nguyễn Tôn Nhan, Lê Văn Thiện, Phạm Ngọc Lư, Phan Việt Thủy, Trịnh Công Sơn, Kinh Dương Vương, Nguyễn Xuân Thiệp, Huỳnh Phan Anh, Cao Hữu Huấn, Phan Tấn Uẩn, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Phan Thịnh…

Hình Thức: Chữ Ý Thức thời ronéo do Lê Ký Thương kẻ. Khổ báo là 21×30. Đánh máy trên stencil là Chị Hồ Thị Kim Phương, một người bạn gái của Nguyên Minh, rất sính văn chương, tẳn mẳn đếm từng chữ để canh hai bên lề ngay ngắn, không khác gì sắp chữ chì in typô.

Khi Ý Thức chính thức có giấy phép của Bộ Thông tin, khổ báo được đổi thành 14x2O. Số 1 bìa do Lê Ký Thương trình bày. Số 2 do Đỗ Quang Em. Số 3 do Vị Ý. Số 4 đến số 7 trở lại Lê Ký Thương. Số 8 tranh bìa Hoàng Ngọc Biên.

Bắt đầu số 9, Ý Thức lại thay đổi khổ báo, hình vuông 19×19. Bìa và ruột do Nguyễn Bom trình bày, rất mới lạ. Số 12, tranh bìa của Bửu Chỉ: Quê hương ta ngày trùng tu. Số 18, tranh bìa của Hồ Đắc Ngọc. Số 21 Ý Thức chuyển qua in offset. Lê Ký Thương trình bày và kỹ thuật in do Nguyên Minh chăm nom.

Khai trương nhà xuất bản Ý Thức thời ronéo là tập truyện Nỗi bơ vơ của bày ngựa hoang của Trần Hoài Thư.

Khi cơ sở Ý Thức dời về Sàigòn, tập truyện Cát Vàng của Lữ Quỳnh được xuất bản, bìa in offset do Nguyễn Trung trình bày, phát hành rộng rãi trên toàn quốc. Tuần tự, cũng mang tên Ý Thức, đã xuất bản: Những vì sao vĩnh biệt, tập truyện thứ hai của Trần Hoài Thư. Sau đó là Sông Sương Mù , tập truyện thứ hai của Lữ Quỳnh, Bìa của Hoàng Ngọc Biên. Sách được in tại nhà in Thanh Bình.

In tại nhà in riêng offset đặt tại Phan Rang: Bếp lửa còn thơm mùi bả mía, tập thơ của Lê Ký Thương, Thơ Đỗ Nghê (một bút hiệu khác của Đỗ Hồng Ngọc), Kẻ phá cầu, tập kịch của Lữ Kiều

Ý Thức, tủ sách Hoa Niên, dành cho thiếu niên, đã xuất bản: Đám tang đa đa, truyện dài của Nguyên Minh. Mưa qua thành phố, tập truyện của Nàng Lai (một bút hiệu khác của Lữ Kiều). Em bé bất hạnh, Anh hùng tí hon, của Trần Quang Huề. Tranh bìa bốn cuốn sách trên của họa sĩ Nguyễn Trung. Chim bay về đâu, truyện dài dành cho lứa tuổi 16, của Võ Tấn Khanh. Sách dịch có Cậu bé gỗ của Châu Lang (một bút hiệu khác của Châu văn Thuận), Trên ngọn hải đăng của Lê Ký Thương…

Mang tên nhà xuất bản Tiếng Việt, có Ngọn cỏ ngậm ngùi, tập truyện thứ ba của Trần Hoài Thư, Sông sương mù, tập truyện của Nguyễn Mai. Sách dịch có Mười hai năm bên cạnh Hitler của Nguyên Thạnh (bút hiệu của Nguyễn Mậu Hưng).

Theo Nguyên Minh (Vanchuongviet.org Oct 1.2010)

 

Nguyên Minh, Đỗ Nghê, Đinh Cường, Lữ Kiều, Chu Trầm Nguyên Minh, Elena Trương, Lữ Quỳnh, tại chuồng Bồ câu Quán Văn (2011)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Có một ”Không Gian Đọc” ở Hội An

13/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Có một ”KHÔNG GIAN ĐỌC” ở Hội An

Thiệt ít ai ngờ ở Hội An có một Không Gian Đọc dễ thương vậy! Đó không chỉ có sách cho người lớn mà còn nhiều sách cho trẻ em. Đó là nơi thỉnh thoảng diễn ra những buổi sinh hoạt dành riêng cho trẻ rất sinh động, thú vị và hữu ích, giúp trẻ làm quen với sách… gần gũi với những cuốn sách lành mạnh thay vì cứ mãi chúi mũi vào điện thoại… bấm bấm chỉ làm cho trẻ thêm mụ người!

Không Gian Đọc còn có những buổi Giao lưu với các tác giả, các buổi trình diễn ”áo dài” cho trẻ làm quen và cho người lớn ”sực nhớ”… rồi những buổi vẽ tranh, làm bánh, ca hát…

Năm ngoái, ngày Đọc Sách Việt Nam, Không Gian Đọc ở Hội An đã tổ chức buổi trò chuyện cùng nhà văn, giáo sư triết học Thái Kim Lan ở Đức về, với tác phẩm Thư gởi con, Huệ Tím (dịch Hermann Hess), rồi với nhà thơ Trần Tiến Dũng ở Saigon ra, với tác phẩm “Ba ơi, tại sao?”, tiếp đó là buổi Trò chuyện cùng Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Một Nếp Sống An Lạc. Dịp này, Đài truyền hình Quảng Nam đã ghi lại một số hình ảnh trong Chương trình Văn hóa Văn nghệ của đài.

Dưới đây là một clip nhỏ riêng cho Không Gian Đọc, xin được chia sẻ cùng bè bạn. Mong cho Không Gian Đọc Hội An ngày càng phát triển, góp phần nâng cao sinh hoạt văn hóa của Hội An.

Xin chân thành cảm ơn các bạn,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Và đây, một clip của VTV3 cũng đã có bài giới thiệu Không Gian Đọc ở Hội An từ năm 2015:

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang (tiếp theo 3)

08/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chép lang thang (tiếp theo 3)

Hội An

(ảnh: Đỗ Hồng Ngọc)

Từ giả các anh chị, các bạn ở chùa Từ An, hẹn sẽ trở lại một dịp khác, có nhiều thì giờ hơn để đàm đạo, trao đổi… mình vội vả ra xe về Đà Nẵng-Hội An như đã hẹn. Ni cô Thuần Thiện thân thiết đưa ra tận xe, còn tặng chút quà chùa: một hủ ruốc chay thiệt ngon!

Về Huế-Đà Nẵng nhiều lần cứ qua lại bằng cách chui đường hầm đèo Hải Vân chán ngắt, nhất là gần đây cả mấy đèo như đèo Phước Tượng, đèo Phú Gia cũng đều chui hầm! Không hiểu sao người ta thích chui hầm vậy nhỉ? Đèo Phú Gia chẳng hạn, ở trên cao mới được nhìn bao quát đầm Cầu Hai quá đẹp. Cảnh trời nước mênh mông đó không sao không nghĩ đến một đêm trăng, với chiếc thuyền con và tiếng đàn tiếng tiêu vi vút… hoặc tệ lắm cũng nhớ Phạm Lãi với Tây Thi giong giũi chiếc thuyền nan như trong thơ Tagore

“Sớm mai dậy tiếng thầm/ Ta giong chiếc thuyền nan/ Về nơi không bến hẹn/…Nào ai người biết được/ Cuộc hành hương chúng mình/ Trên cõi đời ô trọc/ Nào ai đôi mắt xanh…” (Tagore. Hành Hương. ĐHN dịch).

Mình quyết định đi đường đèo qua Hải Vân, không đi đường hầm. Và sẽ ghé Lăng Cô, sẽ ghé Hải Vân Quan…

Lăng Cô… đẹp nín thở!

 

May vẫn còn đường xe lửa! Phía xa là đầm Cầu Hai, phần cuối của Phá Tam Giang.

Đường đèo bây giờ cũng không còn ”rùng rợn” như thuở xưa. Đường được mở rộng, đẹp, các ”cùi chỏ” cũng không còn là cùi chỏ.

Lên tới đỉnh đèo may quá, Hải Vân Quan vẫn còn đó. Đông du khách. Xưa nghe vua Lê Thánh Tông đã gọi nơi đây là ”thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Hải Vân quan là ranh giới giữa Huế và Đà Nẵng. Chỉ cách một ngọn đèo thôi mà nếp sống đã khác, ngôn ngữ, phong tục cũng đã khác rồi! Hồi xưa ”Con trai xứ Quảng ra thi/ thấy cô gái Huế chân đi không đành…”  thì nay không biết có còn cảnh bịn rịn đó không nũa!

 

Hải Vân Quan

Nhớ năm ngoái, Nguyễn Quang Chơn còn đưa Tâm (bà xã Chơn) và mình lên Hải Vân Quan ngắm… sương mù! Hôm đó sương mù dày đặc, không thấy đường, nếu không đã vọt luôn qua đèo vì có hẹn với Nguyễn Trọng Chức và Ngô Tiến Nhân, Thanh Bình dưới chân đèo bên kia. Rốt cuộc cả nhóm cũng đã gặp nhau ở Đà Nẵng và nhớ mãi 3 chàng đã cưa đứt chai Chivas lớn… (Mới thôi mà Chơn đã phải đặt một stent, Nhân đặt 3 stents… còn Chức vẫn là một chàng ”KT” hào hoa phong nhã sau chuyến đi Tây Nguyên vừa rồi).

Lần này mình không ghé Nguyễn Quang Chơn. Đà Nẵng đang ồn ả quá rồi, pháo bông ì ầm nữa. Bạn bè của Chơn từ Bắc chí Nam về đông vui. Chơn vất vả chỉ phone thăm và hẹn anh Ngọc dịp khác.

Và… Hội An đây rồi!

Cứ thấy Chùa Cầu là thấy Hội An. Nhất là khi có những nàng tiên áo trắng thấp thoáng.

 

Chùa Cầu nhìn từ bên kia sông Hoài.

Ai đã đặt tên cho dòng sông nhỏ nhắn thơ mộng tách từ sông Thu Bồn chảy vào phố cổ với cái tên rất hoài nhớ đó vậy nhỉ?

Buổi tối, nhằm ngày 14 âm lịch, sông Hoài trở nên sống động diệu kỳ với muôn màu sắc hoa đăng đằm thắm rực rỡ, với những chiếc thuyền lang thang xuôi ngược làm ta có cảm giác như được sống trong huyền sử nào xa…

Nhớ bài thơ viết về Hội An năm nào:

Hội An đêm: ”Bập bềnh con sóng rợn/ Nghìn lồng mắt chao nghiêng/ Những linh hồn thức dậy/ Thở cùng Hội An đêm…” (Thơ Ngắn Đỗ Nghê).

 

 

Tối ngày 14 âm lịch, đèn bỗng tắt ngúm hết, trong vài tiếng đồng hồ, thả cho người ta mặc sức sống về đêm dưới ánh trăng huyền ảo tuyệt đẹp. Nhưng một ông… hơi già như mình, đi lang thang chen chúc giữa đám đông chỉ càng thấy… tủi thân, cô đơn và cô độc. Trong bóng mờ thấy một người ngồi thiền bên bờ sông Hoài là có vẻ gần gũi nhất, nhưng không tiện hỏi han. Một nhóm thanh niên đàn hát quyên tiền làm từ thiện, một nhóm chơi trò chơi… đâp niêu ầm ỉ. Có một cái chợ đêm trời ơi bán đủ thứ trên đời, quà lưu niệm, thức ăn các thứ… hết sức náo nhiệt.

Mình có một buổi đi thăm làng gốm, được nắn nót chút đất sét thấy thương làm sao.

Rồi đi tắm biển ở bãi An Bàng. Rất thích. Tây ta, già trẻ lớn bé lũ lượt… Và phải nói người dân buôn bán ở đây rất đàng hoàng tử tế, không có cảnh tranh giành chèo kéo như ở một số bãi biển đông người khác.

 

Gặp bác sĩ Huỳnh Kim Hơn, dân Hội An, người tự nhận là học trò mình, dù tốt nghiệp Y khoa Huế. Hơn đến sớm, đưa mình đi một quán cafe đặc biệt: Cafe Lạc Viên. (Phải mở ngoặc nói thêm, trước đây nhà thơ Hoài Khanh đã từng sống nhiều tháng ngày cùng với bs Hơn ở Hội An).

Rồi hẹn Khiếu Thị Hoài cùng đến Lạc Viên, quán cafe của anh Minh, chị Mai. Nói quán cafe ”đặc biệt” vì đích thân hai vợ chồng chủ nhân pha chế, bưng bê… và chỉ bán đến 10g sáng là đóng cửa, trời kêu cũng không mở. Cafe thì tự chủ nhân xay lấy, tự pha chế. Bàn cafe thì đặt đâu để đó, không được di chuyển. Có ba bốn tủ sách bao quanh. Mà trời ơi, bất ngờ có hằng chục cuốn của Đỗ Hồng Ngọc. Quán Lạc Viên nằm trong cái hẽm nhỏ mà đông nghẹt. Gần như chỉ bạn bè quen biết. Không nhạc, không thuốc lá. Chủ nhân mừng gặp mình, cùng chụp chung mấy tấm hình kỷ niệm.

Từ trái: Khiếu Thị Hoài, Hường, Huỳnh Kim Hơn, ĐHN. (Quán cafe Lạc Viên, Hội An, 1.5.2018). Dĩ nhiên không quên ”phát hành” Thơ Ngắn Đỗ Nghê cho các bạn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sáng đó, Hoài còn đưa mình đi thăm chùa Bảo Châu. Chùa Ni. Thầy đi vắng. Chùa rất thanh nhã. Có một câu đối thấy Hoài ghi chép kỹ: ”Châu tự tâm sinh vô giá châu/ Bảo tùng tha đắc phi chân bảo”…

Ngày hôm sau, 2/5 đã phải bay về Saigon rồi. Mình ghé thăm thêm một ngôi chùa nhỏ ở ven Hội An nhìn ra sông Thu Bồn mênh mông: chùa An Lạc. Gặp thầy trụ trì Đồng Nguyện đàm đạo rất hay.

Chùa Bảo Châu trên đường Cửa Đại.

Chùa An Lạc

 

Đàm đạo cùng Thầy Đồng Nguyện, trụ trì chùa An Lac, (Hội An 2.5.2018)

 

Nơi sông Thu Bồn tẻ nhánh chia một sông Hoài cho Phố Cổ, Hội An (ĐHN, tháng 4.2018)

 

 

 

 

 

 

 

 

“Thanh tịnh bổn nhiên” mãi nhé Hội An!

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(8.5.2018)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang (tiếp theo 2)

07/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chép lang thang (tiếp theo 2)

Về Huế

  • Khi đã rủng rỉnh trong hầu bao số tiền nhuận bút bài thơ vừa mới lãnh ở tòa soạn tạp chí Sông Hương, mình hào hứng rủ cô giáo Tịnh Thy và bác sĩ Dũng đi Cầu Ngói Thanh Toàn chơi. Về Huế nhiều phen mà chưa lần nào được đi Cầu Ngói Thanh Toàn cũng đáng tiếc chớ phải không? Nhất là được đi với hai bạn… trẻ mình vốn rất quý mến, vừa văn chương vừa y học, thập bát môn đều tinh thông này.

Tuyệt đẹp. Con đường về Hương Thủy. Lúa vàng rượm. Gió mát rượi. Dũng nói thầy ơi, nay mai phân lô bán nền hết rồi đó thầy, giá đất lên vùn vụt. May quá, mình còn có dịp này để ngửi hương lúa của Thừa Thiên- Huế. Nay mai sẽ toàn là nhà cao tầng, khu biệt thự như tổ ong hết rồi!

Đây rồi. Cầu Ngói Thanh Toàn. Đang vào mùa Festival nên xanh đỏ tím vàng rực rỡ một chút đó thôi, chớ dòng nước con kênh xanh xanh vẫn trong vắt, nơi có cây cầu ngói bắt ngang. Bên cạnh là dòng sông Như Ý, tách từ sông Hương chảy về.

Dòng sông Như Ý và đồng lúa mênh mông

 

Cầu ngói Thanh Toàn trên một dòng kênh mương từ làng chảy ra sông Như ý.

Cầu do bà Trần Thị Đào xây dựng từ Thế kỷ XVIII, lợp ngói lưu ly, rộng gần 6m, dài gần 18m, chia làm 7 gian. Giữa trưa nắng gắt mà như có… máy lạnh. Nhiều người cao tuổi nằm nghỉ ngơi dọc lan can hai bên cầu, các bạn trẻ thì ngồi… bấm bấm liên tục!

 

 

 

 

Gặp O Nguyễn Thị Kình, cô hàng nước, quán cạnh chân cầu đọc thơ do cô sáng tác về cầu ngói Thanh Toàn rất hay…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  • Trưa, mình về thăm Gác Trịnh, căn nhà cũ của Trịnh Công Sơn, theo lời mời của nhà thơ Phan Như. Nghe nói đã có một họa sĩ gốc Huế hiện sống ở Cần Thơ thuê lại căn nhà này và mở lại Cafe Gác Trịnh để bạn bè thân quen đến ngắm lại chốn xưa của người nhạc sĩ. Đường Trịnh Công Sơn bên kia sông Hương thì cũng đã có Cafe Nốt Trịnh, cũng là một chốn quen thuộc của nhiều người.

 

Cô Nguyễn Thị Như Mai, phu nhân nhà thơ Phan Như, đã ngoài 70 rồi đó!

 

và… Phan Như, nhà thơ, một người bạn thân thiết của Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thiện Tống, Thân Trọng Mẫn…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  • Sáng thứ bảy 28.4, mình có dịp đến chùa Từ An của Ni cô Thuần Thiện, dự ‘ké’ một buổi Trao đổi về Phật học của nhóm bạn Liễu Quán. Hôm nay anh Cao Huy Hóa sẽ trình bày một… “tiểu luận” về Hoa Sen, nhân sắp đến Ngày Phật Đản 2562. Buổi họp mặt chừng 16 thành viên, có Ni cô Thuần Thiện, các anh Lê Văn Lợi, Thông,  Phố, Thịnh, bác sĩ Dũng, cô Tịnh Thy, cô Bích Vân…

Mình xin phép mươi phút chia sẻ vài kinh nghiệm của Ban Phật học, của Nhóm Học Phật và Lớp Phật học & Đời sống tại Chùa Xá Lợi, Tp HCM. Vì kẹt tới giờ phải đi về Đà Nẵng- Hội An nên không có nhiều thời gian cùng các anh chị, các bạn, đành hẹn lại một dịp khác.

Từ trái: Bs Dũng và phu nhân, Tịnh Thy, Đỗ Hồng Ngọc (Huế, chùa Từ An 28.4.2018)

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm các bạn Phật tử Liễu Quán.

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(còn tiếp)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang (tiếp theo)

06/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Ghi chép lang thang (tiếp theo)

Về Huế

Về Huế lần này cùng đi với Bác sĩ Thân Trọng Minh, người bạn cùng lớp cùng trường ở Y khoa Đại học đường Saigon hơn nửa thế kỷ trước, một “người Huế thứ thiệt” nên mình… học thêm, biết thêm được nhiều thứ… rất huế. TTM không chỉ là một bác sĩ, anh còn là nhà thơ, họa sĩ, kịch tác gia, là một bạn văn thân thiết từ xa xưa của thời Gió Mai, Ý Thức, Tình Thương… Anh cũng là người trình bày bìa cho tập thơ đầu tay của mình, Tình Người, năm 1967, lúc còn học dưới mái trường Y.

Việc đầu tiên ở Huế là Minh kêu cùng đi thăm nhà Từ đường cùa dòng tộc anh ở An Lỗ, qua sông Phú Ốc… cách Huế chừng 40 cây số. Chuyến đi cùng với cả gia đình anh hơn mười người, Thanh Hằng (bà xã TTM) và cô Kim Kê, người bạn. Minh kè kè cuốn gia phả dòng họ để trao cho một người em. Sau đó anh đưa đi thăm ngôi mộ cổ của ông Tổ cách đây 600 năm (Viên, người em anh bảo 400 năm chứ, nhưng Minh quả quyết 600 năm!), làm mình sực nhớ hôm nay là Mùng 10 tháng 3 Âm lịch, đang có Lễ giỗ Tổ Hùng Vương 4000 năm  ở Phú Thọ. Minh nói Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… đều có mộ ở Kim Long, gần chùa Linh Mụ.

Rồi xe đi qua Phong Điền, Quãng Điền, vựa lúa của Thừa Thiên-Huế, thấy còn bát ngát những cánh đồng vàng nhưng Viên nói đang đô thị hóa dần rồi. Qua một nơi gọi là Sịa, Minh nói Huế có câu ‘nhất Huế nhì Sịa” là ở đây, cũng là quê nhà của Hồ Thanh Ngạn, bạn chúng tôi đã mất. Mấy ngày ở Huế, Minh cùng gia đình về “làng”, có nhà tự để thăm bà con, rồi thăm bạn bè, có bạn đang hấp hối, bạn đang nằm liệt…

Nhưng đây rồi. Phá Tam Giang. Mình nhớ mấy câu thơ viết về Huế năm xưa mà Trương Thìn đã phổ nhạc, bài Một ngày ở Huế: “…Một ngày Từ Hiếu băn khoăn/ Đồi sương dốc dựng té lăn cù rồi/ Một ngày sông nước thuyền trôi/ Tam Giang sóng vỗ đâu hồi còn thơ/ Một ngày ngày xửa ngày xưa/ Một ngày ở Huế đã vừa trăm năm” (Đỗ Nghê, 1995).

“Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang” (Ca dao). Từ nhỏ vốn đã “sợ” Phá Tam Giang qua câu ca dao đó rồi, bây giờ tận mắt nhìn Phá Tam Giang mới… hết hồn! Ôi mênh mông trời nước. Tỉnh Thừa Thiên có thành phố Huế 80km2 còn riêng Phá Tam Giang đã rộng hơn 50km2 rồi và trải dài đến 24km, từ bắc vào nam, từ bến đò Vĩnh Tu đến Cầu Hai, Lăng Cô. Nhớ bài thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên với bài phổ nhạc của Trần Thiện Thanh ngày nào.

 

 

 

 

 

 

 

 

Phá Tam Giang nhìn từ Túy Vân Tự.

 

 

Lăng Cô. Đường lên đèo Hải Vân.
Phá Tam Giang kéo dài đến Đầm Cầu Hai, Lăng Cô.

Ngày hôm sau, chúng tôi đến thăm chùa Từ Đàm. Nhớ năm 2008, mình cũng đã có lần đến đây trình bày về đề tài Thiền và Sức khỏe trong Tuần lễ Văn hóa Phật giáo, lần đó có nhà văn Nguyên Ngọc, Gs Cao Huy Thuần v.v… đông vui. Sông Hương dịp đó lần đầu tiên thả bảy đóa hoa sen rất đẹp trên dòng nước, phía trên cầu Tràng Tiền. Sau này đọc Thái Kim Lan mình mới biết người ‘chủ xị’ vụ này là thầy Tâm An (Thích Không Nhiên) hiện là Phó chủ biên Tạp chí Liễu Quán. Từ Đàm nay do thầy Hải Ấn trụ trì. Thầy Hải Ấn không phải ai xa lạ, vốn là một bác sĩ y khoa, đồng nghiệp của chúng tôi. Nghe kể chuyện lúc thầy đang là tu sĩ, học y khoa, đi thực tập đỡ đẻ cũng nhiều và đều rất mát tay. Thầy đi vắng. Chúng tôi ra ngồi… dưới cội Bồ đề trước sân chùa, đợi vào thăm vị Đại sư thân với bác sĩ TTM.

 

 

Chiều đó, chúng tôi về Mỹ Lợi, thăm ‘chốn xưa’ của Nguyễn Tường Bách, Lữ Quỳnh, Lê Trọng Nguyễn… Đây chính là quê của bà Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại.

 

Đường vào làng quanh co. Các nhà thờ dòng tộc họ Hoàng, họ Nguyễn, họ Phan… còn vài người già cả trông nom. Rất nhiều mồ mả. Có những ngôi nhà tan hoang đầy vết bom đạn.

 

 

TTMinh chỉ đây là nhà bà… Từ Cung, đây là nhà Bà ngoại TS Nguyễn Tường Bách… Đây là con đường mà một người bạn rất thân hồi nhỏ, mê một cô nào đó không dám nói ra đã viết được những câu thơ rất hay… đến bây giờ Minh hãy còn nhớ! Đây cũng là con đường làng mà nhạc sĩ Lê Trong Nguyễn ghé qua đã viết nên bài Nắng Chiều ” Qua bến nước xưa lá hoa về chiều… Ngập ngừng mềm đưa trong nắng lưa thưa… khi đến cuối thôn chân bước không hồn… nhớ sao là nhớ bóng người ngày thơ”… “Nay anh về qua sân nắng/ chạnh nhớ câu thề/ tim tái tê/ chẳng biết bây giờ/ người em gái. duyên ghé về đâu…” . Minh nhắc nào DT, nào BT…ôi những người đẹp của ngàn đời xứ Huế… nay biết về đâu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Từ đó, chúng tôi về thăm Túy Vân Tự (Chùa Thánh Duyên), ngôi chùa nằm chơ vơ giữa Phá Tam Giang. Xưa muốn đến thăm phải đi thuyền. Nay nhờ có cầu Trường Hà nên có thể đi bằng xe hơi, hoặc đi từ cửa bể Thuận An.

Túy Vân là ngôi chùa được các đời vua Gia Long, Minh Mang và nhất là Thiệu Trị đặc biệt chăm sóc vì sự hùng vĩ, uy nghi và tuyệt đẹp của nó. Trên đỉnh tháp Điều Ngự, tầm mắt nhìn rộng khắp cõi trời đất mênh mông và nhìn rõ hơn tứ đại ngũ uẩn của cỏ cây mây nước và của con người mình… Ở đó đã có thể thấy biết sắc bất dị không, sắc tức thị không…

Nhóm chúng tôi trèo lên đến đỉnh tháp cao nhất để nhìn bao quát cảnh trời nước bao la…

 

 

trên Tháp Điều Ngự.

 

 

 

 

 

 

Gặp thầy Minh Chính trụ trì. Thầy đang cuốc đất dọn dẹp với các đệ tử và bà con Phật tử đến làm công quả. Lúc này, nhờ đườg sá tốt dần nên chùa đã có nhiều người đến viếng cảnh, tu tập.

Một ngày… ở Huế, được thấy được nghe được học hỏi biết bao điều!

Đỗ Hồng Ngọc

(còn tiếp)

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn

Ghi chép lang thang

05/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chép lang thang (2018)

(ảnh: Đỗ Hồng Ngọc)

Về Huế

Bạn hỏi vì sao lúc này cứ thấy mình hay đi đây đi đó phải không? Có gì đâu! Giờ không đi thì chờ đến chừng nào nữa? Mấp mé 80 rồi. Chẳng bao lâu nữa, muốn đi cũng không phải là dễ! Bạn còn thắc mắc sao bây giờ ít viết mà cứ thấy chụp hình? Có gì đâu. Chụp hình cũng là một cách viết đó chứ, một thứ ”’ghi chép lang thang” bằng hình ảnh đó chứ. Bây giờ viết chậm mà khó rồi. Còn bấm bấm thì ”như chớp”. Để đó. Lâu lâu coi lại cũng vui. Có hứng thì chọn ra vài tấm ”gởi bạn xa xôi” để cùng vui vậy.

Huế bây giờ thì cũng như Bùi Giáng nói từ xưa: Thưa em xứ Huế bây giờ/ Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương… Nhưng Thu Bồn mới thiệt thấm Huế khi nói về sông Hương: Con sông dùng dằng con sông không chảy/ sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu… 

 

 

Đó là sông Hương sáng tinh mơ, ”sương khói mờ nhân ảnh” (HMT) là vậy.

Nhưng khi sáng bưng rồi thì sông Hương vẫn dùng dằng không muốn chảy:

 

Lần này về Huế mình chỉ mang theo mươi tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê thôi bạn ạ. Chắc chắn phải tặng Tịnh Thy, cô giáo ở Đại học Sư phạm Huế, người đã viết bài : ”Sao lòng ta chưa nguôi?” về tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê đăng trên Quán Văn dạo nọ nhớ không? Tịnh Thy có thể nói là một nhà ”bình thơ” sâu sắc, thẩm thấu thơ rất độc đáo. Một cuốn cho bác sĩ Phạm Đức Thành Dũng, một đồng nghiệp trẻ mình vẫn rất quý mến, có cái nhìn về Phật học và bệnh lý rất mới mẻ. Dĩ nhiên, còn mang mấy cuốn tặng Hồ Đặng Thanh Ngọc và tạp chí Sông Hương – vừa đăng thơ mình. Rồi mấy cuốn nữa cho anh Bửu Ý, anh Lê Văn Lợi, nhà thơ Phan Như,  tạp chí Tinh Văn và… Gác Trịnh, Cafe Nốt Trịnh… theo tin nhắn của Phan Như từ trước.

Sao ”dè dặt” quá vậy ư? Thì bởi vì có câu ”ca dao” truyền tụng bởi bạn bè xứ Huế rằng “Gặp nhau tay bắt mặt mừng/ Tặng gì thì tặng xin đừng tặng thơ!”… Bởi ở xứ Huế này mỗi người đều đã là một nhà thơ, ngán thơ hết sức rồi vậy! Lại có câu dặn dò nhau: ”Vào nhà xin bỏ dép và thơ ở ngoài”. Bạn thấy đó. Làm sao mình dám mang thơ… về Huế cơ chứ!

Sáng sớm, vợ chồng Minh Tự – Tịnh Thy mời bọn mình café ở Vỹ Dạ Xưa.

Từ trái: Thân Trọng Minh, Đỗ Hồng Ngọc, Tịnh Thy, Minh Tự (ảnh :Thanh Hằng). Bên kia là Cồn Hến.

Sau buổi café, Tịnh Thy đưa mình đến Tòa soạn tạp chí Sông Hương lãnh nhuận bút!

Sướng chưa? Và lạ chưa? Thời buổi bây giờ thơ được báo đăng là … vui rồi, có đâu lại còn được lãnh nhuận bút nữa mới lạ. Nhưng Sông Hương thì vẫn giữ truyền thống đáng quý này. Làm mình nhớ lại năm mươi năm trước, báo Bách Khoa đăng thơ cũng trả nhuận bút đàng hoàng như thế. Và không ít lần mình cũng đã đến Toà soạn Bách Khoa ở 160 Phan Đình Phùng (trước 1975) lãnh nhuận bút! Chỉ có khác, lần này, đích thân Tịnh Thy đưa một nhà thơ… trẻ là mình,… rụt rè đến tòa báo Sông Hương ở Huế lãnh nhuận bút mới thú vị làm sao!

Rồi còn ký tặng Thơ Ngắn Đỗ Nghê cho các bạn ngay tại Tòa soạn.

ĐHN ký tên lãnh nhuận bút một bài thơ đăng trên tạp chí Sông Hương số 350, tháng 4.2018

 

Đỗ Nghê ký tặng thơ cho Hồ Đặng Thanh Ngọc, TBT và Lê Vĩnh Thái, phó TBT tạp chí Sông Hương.
(Huế, 26.4.2018).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thiệt ra, trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê này có tới 3 bài thơ về Huế: Đồng Hương, Nước, Giữa Hoàng Hôn Xưa và tình cờ là cả 3 bài đều được các nhạc sĩ phổ nhạc.

Giữa Hoàng Hôn Xưa viết khoảng năm 1995, được nhạc sĩ Tôn Thất Lan phổ nhạc, và ca sĩ Hồng Nhung đã hát trong một CD; Nước, là bài thơ viết ở Paris, 1997, được Khúc Dương (Đặng Ngọc Phú Hòa) phổ nhạc (cảm tác thêm một đoạn) với tựa là Kể chuyện trăng tàn, do Camille Huyền hát; bài Đồng Hương thì do nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ… chưa thấy ai hát cả!

Bạn thử nghe cho vui nhé.

Kể chuyện trăng tàn.

Thơ: Đỗ Hồng Ngọc (Nước) / Nhạc: Đặng Ngọc Phú Hòa (Khúc Dương) / Tiếng hát: Camille Huyền.

 

http://www.art2all.net/nhac/huyencam/kechuyentrangtan_t.mp3

 

Giữa hoàng hôn xưa.

Thơ: Đỗ Hồng Ngọc/ Nhạc: Tôn Thất Lan/ Tiếng hát: Hồng Nhung

 

http://www.dohongngoc.com/web/storage/2018/05/Giữa-hoàng-hôn-xưa-2.mp3

 

Thân mến

Đỗ Hồng Ngọc.

(còn tiếp)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Và, một cuốn tái bản: Chẳng Cũng Khoái Ru?

21/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chẳng Cũng Khoái Ru?

 

 

Tựa:  Chẳng cũng khoái ru?

Mười năm trước, gần tuồi 70, tôi gom góp một số bài viết rải rác đây đó để đọc lại cho vui, những chuyện rất đỗi “đời thường’’, chuyện ăn chuyện ngủ, chuyện hít thở, chuyện vệ sinh, ốm đau bệnh hoạn như Ai biểu già chi, Thở không chỉ là thở, Ăn không chỉ là ăn, Càng già càng dẻo, Bác sĩ nhà quê…v.v. và in chung trong một tập với tựa là Chẳng Cũng Khoái Ru?

Không ngờ sách bán chạy, gần như tôm khô, in nối mấy lượt, tái bản mấy lần. Có ông bạn già ở Hà Nội gọi phone hỏi nghe nói mới có cuốn Khoái cũng chẳng ru hay Ru cũng chẳng khoái gì đó phải không, gởi gấp cho một cuốn. Ông bạn khác ở miền Tây bảo ở đâu bán Chẳng khoái cũng ru. Chẳng ru cũng khoái gì đó để… sưu tầm!

“Chẳng cũng khoái ru?” là một câu trong Luận Ngữ “bất diệc lạc hồ” nói về học với hành, về gặp lại người bạn xưa… Sau này Kim Thánh  Thán (Thế kỷ 17) viết 33 nỗi vui đơn sơ của ông như trời đang nóng bức mà ập tới cơn mưa rào, như mở cửa sổ cho con ong bị kẹt bay ra, như đốt bỏ đống giấy nợ cũ…và chuyện nào cũng kết: chẳng cũng khoái ru? Nghĩ lại, mình cũng có nhiều thứ ‘’khoái ru’’ lắm chứ mà sao chẳng hay chẳng biết?…

Hầu như chúng ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Nên chẳng có lúc nào ta khám phá được những ‘’khoái ru’’ ở đây và bây giờ. Anh ngữ có một từ hay: Present, vừa có nghĩa là hiện tại, vừa là sự có mặt, vừa là món quà tặng. Nói khác đi, “sự có mặt trong hiện tại chính là một món quà tặng” của cuộc sống. Khi ta chợt thấy ra và reo lên trong lòng: Chẳng cũng khoái ru? ấy là lúc ta sống với hiện tại, sống trong hiện tại. Và ‘’phép lạ’’ quả thật đầy dẫy quanh ta, trong từng phút giây mà ta không “thấy biết”.

Chẳng cũng khoái ru? tái bản lần này có “cập nhật” và bổ sung thêm ít bài mới. Tuy nhiên, khi đọc mà bắt gặp một vài bài nghe quen quen, hình như đã đọc đâu đó rồi, thì cũng hãy mỉm cười rằng: “chẳng cũng khoái ru?” nhé!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 1, 2018)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nghĩ quanh khi đọc “cao huy thuần người khuân đá”

18/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nghĩ quanh khi đọc “cao huy thuần người khuân đá”

Đỗ Hồng Ngọc

Cao Huy Thuần, vẽ bởi Đỗ Hồng Ngọc, 2014, tại tòa soạn báo Giác Ngộ, Saigon.

Có khi nào nâng một bình trà uống đến giọt cuối cùng tưởng đã cạn sach rồi nhưng đợi một lúc thì trà lại như tự chắt ra thêm mấy giọt rồi lại tươm thêm vài giọt nữa, càng lúc càng đậm đặc càng ngất ngây không?

Đọc Cao Huy Thuần cũng vậy đó. Cứ tưởng anh nói lung tung đầu ngô mình sở đến lúc nghĩ lại mới giật mình. Cho nên đọc Cao Huy Thuần phải chậm rải, phải ‘cảnh giác’ coi anh có giấu giếm cái gì trong mỗi chữ mỗi câu đó không?

Tôi đọc Người Khuân Đá của anh với một thứ cảnh giác cao độ như thế. Cái ông Giáo sư đại học kiêm ‘’thầy giáo làng’’ này tính cái gì đây với Người Khuân Đá nhỉ? Ai khuân, khuân đi đâu, khuân để làm gì? Dã tràng xe cát biển đông/ Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì ư? Sao biết? Chỉ có dã tràng mới biết. Cũng như chỉ có Phật với Phật mới biết nhau, không cần phải nói ra lời. Ông Bồ-tát Duy Ma Cật làm thinh, tưởng bí, mà Văn Thù vỗ tay ca ngợi hết lời. Cái sự làm thinh đó mới đáng sợ. Dã tràng có nói gì đâu. Thiên  hà ngôn tai. Ai biết Dã tràng kia đã làm cái trò gì, xe cát hẳn phải có lý do gì chớ, cũng như con bọ hung kia hùng hục chui vào đống phân trâu bò vo tròn từng cục lớn cục nhỏ, hì hục lăn về ổ là để chuẩn bị thức ăn cho vợ đẻ con đó thôi. Nó vậy là nó vậy. Cứ hỏi Như Lai thì biết.

Tự dưng một ông giáo hơn 80 tuổi đầu, bỗng cao hứng nói về tình yêu, về hạnh phúc, về cái chết về lẽ sống… và về Phật pháp chẳng đáng đọc sao?

Và ông ‘’nói’’ gì về Tình yêu? Ông khẳng định tình yêu là tương quan: cái này sinh thì cái kia sinh. ‘’Đó là bước đầu. Bước thứ hai: hãy mất cái ‘’tôi’’ đi, vì ‘’tôi’’ đã nằm trong tương quan’’ (tr 48). Ý ông muốn nói duyên sinh, nói vô ngã đó thôi. Dĩ nhiên rồi. Tình yêu mà đến cao trào thì đâu còn cái ngã nào nữa! Thây kệ thiên đường và địa ngục/ Không hề mặc cả họ yêu nhau. Ghê chưa? Ấy là Cao Huy Thuần trích Huy Cận.

‘’Ôi vui! Ôi hạnh phúc! Ôi ngất ngây! Trong một phút, trong một giây, ta quên ta, tôi quên tôi, tôi ra khỏi tôi, tôi mất tôi…”. Ai vậy? Cao Huy Thuần đó. Nhưng, nói vậy mà không phải vậy. Ông đang nói về trạng thái vô ngã, niết bàn tịch diệt.

Tỉnh lại, ông can: Đâu hề có một tình yêu sung sướng!

Có tình yêu nào mà không đau khổ

Có tình yêu nào mà chẳng xót xa

Thì ra vậy. Ông dẫn bằng một bài thơ của Aragon. ’’Il n’y a pas d’amour heureux’’  (tr 49)

Rồi ông mượn cả Platon, Aristote, Spinoza… Rồi kết: tình yêu cần phải ‘’thiếu’’ mới hạnh phúc. Hèn chi mà Mỹ nói: I miss you nghĩa là I love you! ‘’Phải nhìn thấy cái khổ của thiếu để biết hạnh phúc của cái đủ (tr 54). Thì ra ‘’khổ, tập, diệt, đạo’’ đó mà!

Ông nói về cái chết. Khi chết đến (tr 70): “… chỉ ở đây thôi. Sẵn sàng gặp bất cứ cái gì kế tiếp, không mong chờ, không thiên kiến, không định kiến. Chỉ hỏi: cái gì đây? Cái gì đây? Kỳ lạ thế?’’ “Tôi nhìn mọi vật và thời gian chẳng qua chỉ là một ý nghĩ’’. Phải, một Niệm.

Cao Huy Thuần đọc thơ cả với Freud (tr 76 ). Hình như ông ráng moi bên dưới tiềm thức của Freud còn có cái gì khác nữa không? Có đó. A-lại-gia-thức hay Tàng thức đó. Chỉ cần A-lại-gia thức chuyển thành Đại viên cảnh trí hay Nhất thiết chủng trí thì xong… Mạt-na thức lúc đó đã chuyển thành Bình đẳng tánh trí, không cần phải đắn đo, toan tính, phân biệt chi nữa!

Nhưng trước hết, có lẽ nên nghiền ngẫm thử cái bìa sách. Ông vẽ một con bướm phấp phớp cánh bay, và viết cùng một font, một size: cao huy thuần người khuân đá. Rõ ràng ông cố ý nói Cao Huy Thuần vốn là một người khuân đá… suốt cả đời! Khuân để làm gì vậy anh Cao? Thì ra để tìm hạnh phúc. Như Sisyphe hạnh phúc (tr 342), từ Le mythe de Sisyphe của Camus.

 

 

Không phải bỗng dưng ông nhớ Camus đâu. Câu hỏi đó ông hỏi hồi còn trẻ, còn say sưa với ‘’hiện sinh’’ của Sartre, của Camus lận. Nhưng bây giờ ’’lúc xế chiều, câu hỏi về ý nghĩa của cuộc đời thường lảng vảng trong đầu’’. Khuân đá lên rồi khuân đá xuống, cứ mãi vậy cho đến chết, có phi lý không cơ chứ? Rồi Camus nói ‘’phải tưởng tượng Sisyphe sung sướng’’ (tr 343). Tại sao lại phải tưởng tượng? Chắc chắn là sung sướng quá rồi đó chớ, chẳng qua vì không ‘’thấy biết’’ (tri kiến) đó thôi: ‘’Thanh tịnh bản nhiên/ Tùy chúng sanh tâm/ Chu biến pháp giới/ Tùng nghiệp phát hiện’’ mà. Mắc mớ gì ông Camus phải thắc mắc nọ kia.

“Sisyphe là thân phận của chúng ta: Chính chúng ta vác trên vai gánh nặng của cuộc đời, lên núi, xuống núi, lặp đi lặp lại ngày này qua ngày khác, xuân nọ đến xuân kia, rồi chết’’ (tr 345). Camus viết: “Cứ khinh bỉ nó, số phận nào cũng thua’’. Sisyphe khinh bỉ cái số phận của anh ta. Và chiến thắng. Nếu anh ta biết nghiệp báo, luân hồi, duyên khởi, vô thường, vô ngã… thì mọi chuyện đã khác mà không cần phải ‘’khinh bỉ cái số phận’’ để thấy mình ‘’chiến thắng’’ kiểu AQ.

Nhưng bởi Cao Huy Thuần không phải là Camus. Anh là một người học Phật, một người hành thiền. Anh biết Vô minh, anh biết Ái, Thủ, Hữu… tại sao, thế nào, nên anh… thoát: “Tôi không đối kháng tôi với cuộc đời. Tôi không vướng bận gì với Thượng đế như Camus” ông nói. ‘’Không còn ý thức về vô lý nữa mà ý thức về vô thường’’(tr 355). Và ý thức về vô thường cũng có nghĩa là ý thức về vô ngã. Niết bàn ở đó. Sisyphe cứ khuân đá, vừa đi vừa thở vào thì biết mình thở vào, thở ra thì biết mình thở ra. Một người thiền hành. Một khi ’’Sisyphe cứ bước như một người thiền hành’’ (tr 355) thì Sisyphe hết càu nhàu, Sisyphe trở nên tếu. Cười chứ. ‘’Để lại thiên thu hình dáng nụ cười’’ (Trịnh Công Sơn) mà! Nụ cười này không phải giả bộ cười, ráng cười, gượng cười, mà là cái cười từ trong từng tế bào cơ thể! Bây giờ nhiều tượng Phật ráng cười, toe toét cười đầy giả tạo… Không phải vậy đâu. Cái cười đó phải từ bên trong. Từ trong Từ bi hỷ xả. Từ trong ở đây và bây giờ. Từ trong hạnh phúc, an lạc.

Và đến một lúc, con nhộng hóa bướm. Lúc nhộng nằm trong kén, thì cứ nhả tơ đi. Rồi khi nhộng hóa bướm thì cứ nhởn nhơ bay lượn cùng trời xanh nắng ấm đi.

Cho nên ‘’cao huy thuần người khuân đá’’ bỗng bay lượn như cánh bướm. Ấy là lý do cái bìa  bí hiểm của anh.

Trong “Khoảnh khắc và vô tận” (tr 117) ông dẫn Nietzsche: “Tình yêu không muốn một quãng thời gian, nó muốn khoảnh khắc và vô tận’’. Và đây là một câu rất hay của Cao Huy Thuần, một câu như thơ: “Tôi thấy vô tận trong khoảnh khắc muốn khóc ấy”. Có không một khoảnh khắc muốn khóc ấy? Có đó. Nó chính là một sát-na của Phật. Nơi không có thời gian lẫn không gian. Một sát-na là một khoảnh khắc? Hay là vô tận? Hay vừa khoảnh khắc vừa vô tận. Phải ‘sống’ trong sát-na đó thì mới biết.

Như đã nói, tôi rất  “cảnh giác” khi đọc Cao Huy Thuần. Chắc chắn không phải tình cờ mà anh đưa bài Bếp xưa (tr 14) làm bài mở đầu cho tập sách này và để kết thúc với bài “Sisyphe hạnh phúc” (tr 342) sau khi vác đá lên đồi xuống đèo suốt cả một đời người. Hóa ra có một đường dây. Đường dây nối từ quá khứ đến hiện tại đến tương lai của một kiếp người.

ĐHN.

(Saigon 4.2018)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 23
  • Trang 24
  • Trang 25
  • Trang 26
  • Trang 27
  • Interim pages omitted …
  • Trang 63
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email