Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Trò chuyện với Đỗ Hồng Ngọc: “Về Thu Xếp Lại…”

17/05/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Hội quán Các Bà Mẹ (CBM)

Trò chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về cuốn: “Về Thu Xếp Lại…”

Ghi chú: Buổi Trò chuyện thân mật này (ngày 11.5.2019) đã được anh Vincent Ngo thu hình và đưa lên youtube, do vậy, tôi chỉ đưa thêm vài hình ảnh bên lề và chú thích lai rai để ‘bổ sung” thôi nhé.

Thân mến,

ĐHN

 

 

Vincent Ngo… đạo diễn!

Càphê khoai bắp, chuối… theo “truyền thống” trước khi chính thức “Trò chuyện”.
Nhạc sĩ Trần Văn Quang đang hướng dẫn cho ca sĩ…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vì là một buổi trò chuyện thân mật nên… chỉ mời một ít bè bạn gần gũi…

 

 

 

 

 

 

Tuy vậy, CBM cũng chu đáo, mời một MC duyên dáng mới ngoài 20 cho thêm phần sinh động…

 

 

Họa sĩ Lê Ký Thương, tác giả bức tranh bìa rất đẹp và nhiều ý nghĩa đã bị… “quay” khá kỹ! Đôi khi phải nhờ “quyền trợ giúp” từ phu nhân Cao Kim ngồi cạnh bên!

Nhà báo ca sĩ Ngân Hà hát tặng bài “Bốn mùa thay lá” của TCS.

Một bà mẹ đến từ Nha Trang với “Phôi Pha”…

 

và… Đỗ Hồng Ngọc của 20 năm về trước trên bãi biễn Lagi…

Phần 1:

 

 

Phấn 2 (tiếp theo)

 

Cảm ơn Vincent Ngo.

(Sg 21.5.2019)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Phật Đản (PL 2563): Về thăm đất Phật, Nepal

17/05/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Phật Đản (PL 2563)

Đỗ Hồng Ngọc

Ghi chú: Bài viết này đã đăng trên Tạp chí Văn hóa Phật giáo, số 321 ngày 15.5.2019. Nhân dịp Phật Đản 15.4 Kỷ Hợi (PL 2563), xin được chia sẻ lại nơi đây (thêm vài hình ảnh riêng).

Trân trọng,

ĐHN.

 

Trong buổi kể chuyện và trình chiếu một số hình ảnh về chuyến về thăm đất Phật Nepal, Lâm-tì-ni của tôi cho nhóm bạn trong Chương trình Phật học và Đời sống ở Chùa Xá-Lợi, có một bạn trẻ đặt câu hỏi: Bác có thấy “động tâm” không khi được đến Lâm-tì-ni nơi Phật đản sanh và bác có ý định đi thăm tiếp 3 nơi nữa cho đủ “Tứ động tâm” không? Tôi trả lời là với Đức Phật lịch sử thì lúc nào tôi cũng thấy “động tâm” và ở đâu tôi cũng thấy “động tâm” cả, không nhất thiết phải đến tận Lâm-ti-ni hay đi cho đủ 4 thánh tích…

Cả chục năm nay chưa hề đi đâu xa khỏi nhà…, thế mà một ông già 80 tuổi là tôi,  bỗng nhiên bay vèo đến Himalaya (Hi-mã-lạp-sơn) ngắm núi tuyết rồi kêu lên núi tưởng là mây, mây tưởng là núi…  Thế giới có 10 đỉnh núi cao nhất thì Nepal đã có đến 8, kể cả Everest, 8848m. Chỗ tôi trú nằm trong rặng Himalaya nhưng chỉ cao hơn 2500m thôi, nghĩa là lùn tẹt, so với Everest nhưng cũng còn cao hơn Đà Lạt mình cả ngàn thước! Vậy mà đã lạnh buốt đầu tháng 3 này. Đêm 7-8 độ C, ngày 13-14 độ C. May mà có cái máy… sưởi. Đồi núi trùng trùng điệp điệp. Không khí đã nghe loãng. Thở nhẹ như bay bay.

(Một góc Nepal, Hymalaya, ảnh ĐHN 3.2019)

Chuyến đi Nepal này khá bất ngờ với tôi. Năm ngoái, hai vợ chồng bác sĩ Thủy – học trò cũ của tôi và là đệ tử của thầy Huyền Diệu – ở Úc mời thầy đi Nepal một chuyến cho biết “vì thầy là con Phật, phải về thăm xứ Phật một lần”. Rồi có thư mời của thầy Huyền Diệu nữa, nhưng tôi vẫn lần lữa mãi không đi, vì sợ lạnh, sợ độ cao, “sức khỏe không cho phép”! Lần này Thủy nói có Ba Má em đi nữa, mà ông bà đều lớn tuổi hơn thầy. Ừ, thì đi.

Phi trường Kathmandu, thủ đô Nepal là một Mandala giữa thung lũng bao bọc bởi núi là núi. Bụi khói mịt mù. Xe cộ nhớn nhác- vì lái bên trái- làm cứ giật mình đánh thót. Người Nepal lắc đầu là OK. Gật đầu là từ chối. Chủ nhật là ngày làm việc. Thứ hai mới là ngày nghỉ. Giao dịch, ăn uống bằng tay phải. Tay trái để…. vệ sinh. Đàn ông có uy tín lớn trong nhà. Ban ngày đi làm gì không biết, nhưng chiều về, vợ mang nước rửa chân cho… Giữa phố thị có khu vực… dành làm nơi thiêu xác lộ thiên. Có nhiều tiếng quạ quang quác. Nepal có 26 triệu dân, gồm 100 dân tộc và 123 ngôn ngữ, ngôn ngữ chính là Nepali. Đồng tiền là Rupee. Một USD bằng hơn trăm rupee. Năm 2015 Nepal bị một trận động đất chết đến 8000 người, bị thương 20.000 và hằng trăm ngàn ngôi nhà bị chôn vùi. Khu vực tôi đến ở – Himalayan Happiness Resort- thuộc vùng Dhulikhel, cách Kathmandu hơn 36 km, nhưng có khi phải đi 2 tiếng đồng hồ mới tới vì kẹt xe và đường đèo núi.  Nơi đây chỉ còn cách Tây Tạng ba chục cây số! Thầy Huyền Diệu (HD) đã đợi sẵn. Thầy nói thầy đã đi 27 tiếng đồng hồ bằng xe bus từ Bồ Đề đạo tràng (Bodh Gaya) về đây chờ mọi người. Chưa chi đã thử sức leo gần hai trăm bậc thang để về phòng nghỉ. Mình được ưu tiên ở một phòng… đẹp nhất, để nhìn quang cảnh thung lũng và núi tuyết của Himalaya xa xa.

Khí hậu, độ cao, với không khí khá loãng nhưng thấy dễ chịu, có lẽ nhờ khung cảnh trời đất bao la quá đẹp. Sáng sớm, mở màn cửa ra thì ôi chao, một cảnh sắc tuyệt vời, mê mẩn. Mặt trời sắp ló dạng, tươm một màu tim tím rồi vàng hườm rồi hồng đượm… ở chân trời, cắt từng nét bởi đồi núi chập chùng và những ngọn cây chới với… Đã có tiếng thầy HD đến tận phòng thăm hỏi và mời đi uống trà, cafe sáng, ngắm… mặt trời lên!

Về tuổi đời thầy HD còn ít hơn tôi đến 6 tuổi, trông… đẹp trai, cao ráo, năng động, tháo vát, rất nhiệt tâm và có đường lối tu tập riêng, gọi là “mật pháp” với những “mầu nhiệm” “phép lạ” dựa trên kinh Pháp Hoa… “nhất tự nhất bái”! Kinh Pháp Hoa không lạ với tôi, vì đã nhiều năm nghiền ngẫm và viết cuốn “Ngàn cánh sen xanh biếc” nhưng cách thực hành của thầy HD thì tôi thấy cần phải tìm hiểu và lý giải thêm.

Buổi tối, đáp lại câu hỏi của thầy, tôi trình bày nền Y học hiện đại đang gặp những khó khăn gì, tại sao có khuynh hướng tiến về một thứ Y học toàn diện (Holistic Medicine) – mà hai bác sĩ Diệu Thủy, Minh Sơn đang theo đuổi- về các thứ bệnh thời đại S.A.D (Stress, Anxiety, Depression) phải trị liệu với Thiền học, rồi gần đây, “21 Bài học cho Thế kỷ 21” của Yuval Noah Harari nêu hai vấn đề nổi cộm: Công nghệ sinh học và AI (Artificial Intelligence, trí thông minh nhân tạo). Phải chăng, rồi đây công nghệ sinh học sẽ tạo ra phần “sắc”, còn AI sẽ tạo ra “thọ, tưởng, hành, thức” để rồi sẽ có một chủng loại người với “ngũ uẩn” mới?

Sáng hôm sau, tôi đề nghị cho đi thăm làng, thăm “dân cho biết sự tình”, bởi cái máu làm Sức khỏe cộng đồng, Y tế công cộng trong tôi vẫn còn nặng lắm. Vui quá, Liz (Trúc), con của bác sĩ Thủy là người đang làm việc trong lãnh vực này. Tiếng Việt cháu không rành lắm, lại sống với người chồng Ấn độ (sanh tại Úc) nên tôi có dịp… ôn tiếng Anh lõm bõm của mình. Nào Community Diagnosis (Chẩn đoán cộng đồng); Community Involvement (tham gia cộng đồng), nào Intersectoral Cooperation (phối hợp liên ngành), nào Appropriate Technology (kỹ thuật học thích hợp)… ! Rồi đến thăm một gia đình theo đạo Phật, tiếp xúc với Hiệu trưởng một trường Tiểu học để chuẩn bị cho buổi khám sức khỏe cho bà con ngày hôm sau.

***

Từ Kathmandu đến Lumbini (Lâm-tì-ni) chỉ dài 320km mà đường bộ đi mất khoảng 16-20 tiếng đồng hồ. Đường đèo núi xuyên Himalaya rất khó đi. Buổi sáng đoàn rời Dhunlikhel để về Lumbini (Lâm-tì-ni). Mọi người cầu nguyện và đọc kinh suốt một đoạn đường. Đây là quãng đường đèo nguy hiểm nhất.

Đoàn nghỉ một đêm ở Bandipur, một điểm du lịch nổi tiếng, trên con đường Tơ Lụa ngày xưa từ thế kỷ XIV, vẫn còn dấu tích những căn nhà cổ, bằng đất và đá. Khung cảnh rất đẹp. Một khu phố cổ … nhà nghỉ, cửa hàng và khá nhiều du khách phương Tây đang thưởng thức cảnh thanh nhàn. Trưa hôm sau, đoàn rời Bandipur để về Lumbini. Tôi thử đếm có bao nhiêu đoạn quanh cùi chỏ khi xe lên xuống ngọn núi này (không kể những đoạn quanh không gắt). Trời ạ, 67 khúc quanh “cùi chỏ”! Hèn chi mà người ta nói đi đoạn đường này người chưa quen chỉ có việc… tụng kinh và nhắm mắt!

Đến Lumbini đã khá chiều. Việt Nam Phật quốc tự đây rồi. Hai con hạc vung cánh như múa và quang quác kêu lên mừng rỡ. Trời vẫn còn lạnh, nhất là về đêm, 12-13 độ C.  Muốn tắm phải xách nước nóng từ nhà bếp lên lầu, khá xa. Đã ba ngày không tắm rồi. Tôi nói với sư chú MN ở chùa như một lời… xin lỗi thì chú nói ở đây bảy ngày không tắm là thường đó bác ạ.  Các bữa cơm self-service, chay trường, rất ngon. Đêm ngủ khá nhiều muỗi. Thỉnh thoảng nghe tiếng chó sói (?) tru.

Có điều đến Việt Nam Phật quốc tự ở Lâm-ti-ni thấy như đã về đến nhà mình rồi vậy! Cũng lũy tre, ruộng lúa, bờ ao, ngọn cỏ, cũng vườn rau, cây cầu… Mái chùa cong vút trong nắng chiều. Cổng chùa thân quen quá… Tôi nghĩ phải cảm ơn thầy Huyền Diệu thôi. Đã dựng nên một ngôi chùa Việt rất sớm nơi đất Phật đản sanh, Lâm-tì-ni này vậy. Việt Nam phật quốc tự khởi công từ 1993, hoàn thành 2005. Lần lượt nhiều ngôi chùa của các quốc gia khác đã được dựng nên. Chùa Nepal, chùa Tây Tạng, chùa Trung quốc, chùa Thái, chùa Myanmar… và cả một số nước Tây phương như Đức, Thụy sĩ, Áo… Đặc biệt ngôi Tháp Hòa bình, chùa Nhật có vẻ bề thế nhất vì nối trực diện với khu thánh tích.

***

Hoàng hậu Mayadevi hôm đó vội vã lên đường về kinh đô Ka-tì-la-vệ (Kapilavastu) để kịp sanh hoàng tử nhưng vừa đến Lâm-ti-ni thì cơn đau đã rột, không thể cất bước được nữa. Ở đó đã có ao nước mát, đã có cây Bồ đề tỏa bóng râm. Trong đoàn tháp tùng Hoàng hậu hôm đó đã có các cô mụ, các ngự y. Khi Hoàng hậu vin cành Bồ đề ráng rặn sanh thì không còn kịp nữa. Người ta đã phải giúp Bà sanh bằng Cesarien. Và vì thời đó kỹ thuật vô trùng chưa tốt, Hoàng hậu đã bị nhiễm trùng hậu sản mà chết. Phật đã là một con người. Đã sanh ra. Đã khổ đau. Đã hạnh phúc. Và đã từ bỏ cung vàng điện ngọc, từ bỏ vương quyền để một mình lang thang vào rừng sâu, sống đời khổ hạnh, mong tìm con đường giải thoát cho mình và cho chúng sanh. Suốt 6 năm vất vưỡng trong rừng sâu, ngày ăn một hạt mè, đêm ngủ trong nghĩa địa hay trên cành cây, người chỉ còn xương bọc da, sờ tay vào bụng thì đụng ngay đốt sống thắt lưng, đầu óc bắt đầu choáng váng, tù mù… (Narada, Đức Phật và Phật pháp), may sao nhờ chén sữa của cô gái Sujata mà tỉnh lại, nhận rõ lối tu khổ hạnh, hành xác là sai lầm, quyết tâm đi vào con đường trung đạo để rồi giác ngộ sau 49 ngày thiền định dưới cội Bồ đề . “Thiên thượng thiên ha, duy ngã độc tôn” chỉ có nghĩa là chính Ta chớ không phải ai khác, chính ta mới có thể làm khổ ta, chính ta mới có thể làm ta an lạc, hạnh phúc. Phải quay về nương tựa chính mình thôi. Thấy biết vô thường, khổ, không, vô ngã, thực tướng vô tướng… mà vượt thoát sanh tử. Ơ hay, thì ra tất cả mọi người đều sẵn có Phật tính, không phải tìm kiếm đâu xa. Chỉ vì vô minh che khuất. Chỉ vì tham sân si, mạn nghi tà kiến… che khuất. “Vô trí diệc vô đắc”. Ta chưa từng nói một câu nào cả. Chưa từng dạy cho ai điều gì cả. Phật bảo vậy. Vẫn duyên khởi duyên sinh đó thôi.

Lâm-tì-ni rộng 774 ha. Ngang 1,8km. Dài 4,8km. Do một Kiến trúc sư nổi tiếng của Nhật là Kenzo Tange nghiên cứu thiết kế tổng thể suốt 8 năm, từ 1970 đến 1978. Theo đó, Lâm-tì-ni có 3 khu vực: khu Làng mới Lâm-tì-ni, khu Tự viện và khu Vườn thiêng, thánh địa, với nhiều di tích: Trụ đá của Vua A-dục (Ashoka), đền thờ Hoàng Hậu Mayadevi, Ao nước, Cây Bồ đề. Năm 249 TCN, Vua Ashoka đã tìm ra đúng nơi Phật đản sanh và dựng Trụ đá làm dấu tích, ghi rõ dòng chữ Pali vẫn còn đó. Huyền Trang (602-664) đi thỉnh kinh có ghé qua đây. Nhưng rồi Lâm-tì-ni rơi vào quên lãng, mãi đến năm 1896 mới được hai nhà khảo cổ người Đức là Futher và Bhuler tìm được trụ đá của vua A Dục và công bố. Ngày nay Lâm-tì-ni đã được Unesco công nhận là Di tích Văn hóa Thế giới và được trùng tu ngày càng trang nghiêm, hùng vĩ. Các vị Tổng Thư ký Liên hợp quốc từ U Than đến Ban Ki-moon đều đã đến thăm viếng Lâm-tì-ni.

Con kênh đào thẳng tắp chạy từ Tháp Hòa bình (Chùa Nhật) đến trụ đá của vua Ashoka đã thấy có thuyền máy xình xịch đưa khách hành hương. Mình đề nghị nên mang vài cái thuyền thúng (ở Phan Thiết rất đẹp) về đây sẽ thu hút du khách vì sự độc đáo. Hoặc ít ra, nơi đây cũng nên có những chiếc  “thuyền nan nhẹ lướt” chèo tay như ở Suối Yến chùa Hương!

 

 

Nhiều nhóm Tu sĩ và Phật tử thập phương đang chiêm bái Vườn thiêng Lâm-tì-ni quanh Cột đá Vua Ashoka. Họ đọc kinh, tụng niệm vô cùng thành kính.  Nhóm nhiễu quanh trụ đá, nhóm kinh hành quanh hồ nước thiêng, nhóm tụ tập dưới táng cây Bồ đề… Mọi người lần lượt xếp hàng vào viếng đền Mayadevi (cấm chụp hình).  Tôi vẫn lang thang một mình, quan sát, dòm ngó, ngơ ngác… Thực lòng, chỉ thấy một sự… náo nhiệt mà chưa thấy “động tâm” chi. Chỉ đến khi bắt gặp một chiếc lá bồ đề rơi lẻ loi trên đụn gạch xưa cũ vốn là những nấm mồ vài ngàn năm trước của các đệ tử Phật mới thấy xúc động!

Ngay buổi chiều đó, đoàn đi thăm Kapilavastu (Ca-tì-la-vệ) cách đó khoảng 30 cây số. Đường xấu, đang sửa chữa, bụi khói mù mịt. Thỉnh thoảng thấy một vài cánh đồng… khô khốc…  mùa nóng sắp tới, ở đây 49-50 độ C là bình thường!

Đây rồi. Ca-tì-la-vệ. Kinh thành trù phú ngày xưa của Tịnh Phạn Vương, dòng dõi Sakya uy dũng, phụ vương của thái tử Tất Đạt Đa. Bây giờ chỉ còn là một khu vườn hoang vắng, trơ trụi dưới nắng hanh. Quanh co là những cổ thụ sừng sững, dáng uy nghi đường bệ… Có cái gì đó nhói lòng nơi đây. Chính là một sự “động tâm” rất lớn của riêng tôi. Chính nơi đây, thái tử Tất Đạt Đa đã nhận ra nỗi khổ đau của kiếp người … Chính nơi đây, thái tử Tất Đạt Đa đã vượt rào thoát ra khỏi cổng thành giữa đêm khuya, từ biệt vương quyền, từ biệt phú quý vinh hoa… quyết tâm tìm “đạo sáng cứu chúng sanh”… Phải, chính nơi đây, tôi mới bắt gặp sự “động tâm” thực sự trong không khí yên ắng của buổi trưa hè ngay trên đất Phật. Chỉ còn những đống gạch. Này là chỗ ăn chỗ ở, này là giếng nước, ao sen…Tôi cứ lang thang và lắng nghe một mình. Nhặt một cánh hoa lửa. Đặt vào lòng bàn tay. Nhìn gốc cổ thụ có hình dáng như một apsara đang múa hát…

(Ca-tì-la-vệ, ảnh ĐHN)

Chỗ cổng thành thái tử Tất Đạt Đa đã “trốn” đi, hiện chỉ còn hai cây cổ thụ. Bên ngoài còn có gò mộ của con ngựa đã đưa thái tử đi quanh thành, nhất định không chịu về lại chuồng cũ.

Từ thành Ca-tỳ-la-vệ về, đoàn ghé thăm Kundan nơi Phật khi thành đạo đã trở về thăm Vua cha và độ cho Vua cha, hoàng hậu cùng vợ con. Lúc này La-hầu-la đã lên 7 tuổi và xin xuất gia theo Phật. Hiện vẫn còn các ngôi tháp mộ của Vua Tịnh Phạn và hoàng hậu.

Buổi tối đó, như đã hứa, tôi nêu vấn đề thảo luận về pháp hành của thầy Huyền Diệu là lạy từng chữ Kinh Pháp Hoa như một “mật pháp” .

Dịp này tôi trình bày với thầy HD và các đệ tử về kinh Pháp Hoa dưới góc nhìn khác. Tôi nói kinh có nhiều ẩn dụ, ẩn nghĩa cần được hiểu. Pháp Hoa là kinh tối thượng thừa vì là Phật thừa, không còn chia chẽ gì nữa, nhằm “khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”. Kinh dạy các hạnh bồ tát như Tôn trọng (Thường Bất Khinh), Chân thành (Dược Vương), Thấu cảm (Quán Thế Âm) và những bài học tuyệt vời khác để thấy Thực tướng Vô tướng, thấy Pháp thân Như Lai, mà nếu học được thì đã có một đời sống an lạc, tự tại, đem lại hạnh phúc cho mình cho người trong bất cứ thời đại nào, xã hội nào… Thầy HD nói bác sĩ là nhà khoa học, nhưng cũng cần thấy phần tín ngưỡng “mật pháp” rất huyền bí…

Lý giải về hiệu quả của pháp hành lạy từng chữ  hoặc đơn thuần chỉ niệm tên kinh Pháp Hoa, thì một khi có Tín tâm cao độ sẽ có Niệm rồi dẫn tới Định, Huệ (Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ). Ở góc độ sinh học thì khi lạy (đúng cách) một lúc, cơ thể sẽ tiết ra endorphine, một thứ morphine nội sinh cho cảm giác sảng khoái, dễ chịu; và một khi liên tục niệm một câu, một chữ nào đó (trong Kinh) thì  tạp niệm không thể xen vào vỏ não, nhờ đó mà dễ “nhất tâm bất loạn”… Cuối buổi trao đổi, một đệ tử của thầy HD nói cảm ơn anh Ngọc, bây giờ thì em đã được mở rộng tầm nhìn khi học và hành kinh Pháp Hoa!

Đã đến lúc phải chia tay Lumbini rồi! Chuyền về này tôi và nhóm bạn trẻ được đi máy bay! Thiệt là thú vị. Biết thế nào là cái sân bay tí xíu của Lâm-tì-ni, với một vài chuyến bay mỗi ngày, chỉ chở được vài chục người mỗi chuyến và luôn trễ vài tiếng đồng hồ là “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhưng ai cũng nói đi máy bay thì sướng lắm vì chỉ bay 30 phút là tới Kathmandu, không phải mất cả ngày đường vất vả như đi đường bộ. Phi trường Lumbini hình như đang được sửa chữa, nâng cấp vì ngày càng có nhiều đoàn hành hương về đất Phật. May mắn, máy bay hôm nay đúng giờ và chuyến ATR 72 này khá to, lịch sự, chở đến 60-70 người.

Đến phi trường Kathmandu đã thấy có chú MĐ đón và hướng dẫn về nhà nghỉ ở Boudhanath.  Thời gian không nhiều vì trưa mai đã phải rời Kathmandu nên mọi người vội vả đi tham quan Đại bảo tháp Boudhanath nổi tiếng nơi đây.

Đây là một đại bảo tháp lớn nhất thế giới, nổi tiếng linh thiêng, không rõ có từ bao giờ, ngoài những truyền thuyết huyền bí, gốc gác từ Đức Liên Hoa Sanh Tây Tạng… Thấy có rất nhiều tu sĩ người Tây Tạng nơi đây. Tiếng đọc kinh rì rầm khắp nơi. Và du khách đông nghẹt, cả ngàn người đi nhiễu quanh bảo tháp. Đại bảo tháp chứa Pháp thân của Phật Thích Ca. Chiều cao 30m và đường kính 100m. Quanh tháp, tầng đất rất nhiều chỗ để cầu nguyện, và nhiều người khấn vái, xoay bánh xe kinh luân… Bốn mặt tháp đều có vẽ thật lớn 2 mắt Phật, chính giữa là con mắt thứ ba, mắt Tuệ và dưới 2 mắt là một dấu hiệu như một dấu hỏi, mang nhều ý nghĩa. Người người đi rất nhanh quanh tháp 9 vòng. Hàng quán bán đồ lưu niệm san sát, tạo thành một khu phố sầm uất, vòng tròn quanh chân tháp báu. Nhiều quán cafe tuyệt đẹp trên Terrace để vừa nhìn Tháp vừa nhìn Núi tuyết. Thường người bán ở đây nói thách khá cao. Phải trả giá rất kỹ… Mình thì quá quen Chợ Bến Thành xưa rồi, không có việc gì… khó, chỉ sợ “lòng không bền”. Tội nghiệp cho cô bé Liz, sống và lớn lên ở Úc, có biết gì là nói “thách, rồi “cò kè bớt một thêm hai” đâu! Lần đầu tiên cô thử… trả giá và mua được một món hàng nên thích quá! Cô kêu lên, con mua được rồi Thầy, vui quá ha! Nhưng có lẽ cô đã mua… hớ! Dù sao, nói thách, trả giá, cò kè… làm cho cả người bán lẫn người mua đều vui! Hoan hô nói thách!

Một chuyến đi còn đọng rất nhiều kỷ niệm.

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (5.2019)

16/05/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (5.2019)

Cũng khá lâu rồi phải không? Hôm nay mình lại lai rai kể vài chuyện cho bạn nghe vui, chuyện từ những bức thư bạn bè anh em thân thiết thôi nhé.

  1. Trước hết là thư của Nguyên Đạo Văn Công Tuấn, một “bạn trẻ” mới khoảng ngoài 60, ở Đức, tác giả Hạt Nắng Bồ Đề, gởi mình kèm một bài viết khá dài, kể chuyện “Tìm… Tết”

 

Bắt chước ai, đi… Tìm Tết

“Tìm Tết là chữ của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Trên trang nhà của anh, anh viết về các sinh hoạt Tết của anh ở Việt Nam đọc mà … thấy thèm và nhớ quê quá.
Nhớ trước đây một năm, tết Mậu Tuất (2018) đọc mấy bài anh viết: „Lang thang mấy ngày Tết“ mình thích vô cùng. Ăn tết cỡ vậy thì mới xứng đáng. Xứng đáng là anh đi trên các ngõ ngách quê hương để thăm bạn bè văn hữu. Mấy nhân vật anh nhắc đến cũng có nhiều tên mình nghe rất quen và kính phục. Anh viết:

“Hình như già quá rồi nên lúc này mình không có cảm giác Tết là gì cả bạn ơi. Cũng may, Mùng hai Tết (17.2.2018) đi theo gia đình làm một chuyến giang hồ vặt, từ Saigon lên Đà lạt, rồi vượt đèo… Khánh Vĩnh về Nha Trang, rồi từ Nha Trang về Phan Rang, PhanThiết, trở về Saigon tối ngày Mùng 7. Cũng có thể gọi là có du… xuân! Để kể bạn nghe vậy nhé…“

Anh Ngọc mà kể chuyện thì nghe mê luôn. Đến lúc anh về đến Nha Trang viết bài “Thăm thầy Phước An, chùa Hải Đức Nha Trang“ lại nhắc đến tên mình và cuốn sách Hạt Nắng Bồ Đề. Thật quá hân hạnh.
Bởi vậy lòng dặn lòng, cuộc đời không biết còn bao nhiêu năm, thôi mình cũng nên bắt chước anh Đỗ đi thăm những người mình mến mộ, để không chừng có ngày tiếc vì trễ quá, hết sức lực để khăn gói đi lang thang.” (…)

 

Thế rồi Văn Công Tuấn “khăn gói quả mướp” lên đường từ Đức qua Paris xa xôi “tìm… Tết” với Thầy Thiện Niệm ở chùa Khuông Việt, rồi còn ghé nhà thăm các anh Cao Huy Thuần, Hoang Phong Nguyễn Đức Tiến, được gặp gỡ trò chuyện với các vị Thiện tri thức này thật đáng quý trọng.

Văn Công Tuấn còn cho biết thêm, sắp tới đây “Tam Nguyên” còn sẽ gặp nhau ở Mỹ. Không phải Tam Nguyên Yên Đỗ đâu nhé, mà ba vị Nguyên Tánh Nguyễn Hiền (5 Hiền), Nguyên Đạo Văn Công Tuấn và Nguyên Minh Nguyễn Minh Tiến… Vui quá! Có chuyện gì hay nhớ kể nghe.

……………………………………………………………………….

 

2. Và đây, bức thư dễ thương của nhà thơ NXT. Nghe anh vừa nằm bệnh viện ra, mình gởi anh bài viết về Huế, về buổi gặp Camille Huyền ở Bến Xuân và nhắc chuyện… 15 năm trước Camille Huyền đã từng hát “Kể chuyện trăng tàn” (nhạc Khúc Dương phổ thơ Đỗ Hồng Ngọc) cho anh nghe cho mau hết bệnh. Ai ngờ anh trả lời bảo anh “mê” Camille Huyền “từ những năm xưa” và còn nói “gặp Camille Huyền là một hạnh phúc đó”!

 

ĐHNgọc ơi,

(…)

ĐHNgọc biết không, mình mê Camille Huyền từ những năm xưa. Khi xem hình Camille với gia đình, bạn bè. Nhất là trong video Huyền hát Em Mãi Là Hai Mươi tuổi Khúc Dương phổ nhạc thơ Quang Dũng:

Em mãi là hai mươi tuổi

Anh mãi là mùa xanh xưa

Những cây ổi thơm ngày ấy

Và vầng hoa ngâu mưa thưa…

Camille Huyền hát Kể Chuyện Trăng Tàn thơ ĐHNgọc cũng hay lắm. Gặp Camille Huyền là một hạnh phúc đó.

(…)

Thăm ĐHNgọc và chúc an vui.

Thân,

NXT

 

Thử nghe Em mãi là hai mươi tuổi trên blog của Phạm Cao Hoàng nhé.

 

http://phamcaohoangaudiovisual.blogspot.com/2015/11/540-camille-huyen-em-mai-la-hai-muoi.html

 

Hy vọng một ngày nào đó, đưa NXT về Huế, thăm “vương phủ” của anh và về Bến Xuân gặp Camille Huyền để nghe nàng hát nhé.

……………………………………………………………………………………

 

3. Và rồi bất ngờ hơn với lá thư của nhạc sĩ Võ Tá Hân, người đã phổ nhạc bài thơ “Bông hồng cho Mẹ” của mình và chính anh đã ôm guitar đệm cho  Thu Vàng hát trong Đêm nhạc Tình Hoài Hương vừa rồi.

 

Và Phan Tấn Hải (Nguyên Giác) đã comment:

Bông Hồng Cho Mẹ — thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhạc Võ Tá Hân — ca sĩ Thu Vàng (guitar: Võ Tá Hân). Bài thơ ngắn, chỉ 4 câu, 20 chữ, trở thành ca khúc ngắn nhất (và có lẽ được ca ngợi nhiều nhất) của nhạc sĩ Võ Tá Hân. Thơ và nhạc hay tới lạ lùng. Trong Đêm nhạc Tình Hoài Hương, Thứ Bảy 11.5.2019

 

Anh Ngọc mến,

Tôi có một lớp dạy guitar cho người cao niên mỗi tuần vào sáng thứ ba.  Học viên hầu hết chưa hề cầm cây đàn guitar bao giờ và người lớn tuổi nhất lớp vừa được 84 xuân xanh.  

Tối hôm kia có mấy học viên nghe Thu Vàng hát bài “Bông Hồng Cho Mẹ” hay quá nên họ yêu cầu tôi dạy bài này cho cả lớp. Tuần tới sau khi mọi người có thì giờ tập thì chắc chắn là sẽ hát & đàn hay hơn nhưng tôi xin gửi tạm tấm hình lớp học và file mp3 bài nhạc mới hát lần đầu sáng nay để anh xem và nghe cho vui nhé.

Thân mến

VTH

Lớp dạy đàn guitar cho người cao tuổi của nhạc sĩ Võ Tá Hân: đang học hát bài Bông Hồng Cho Mẹ.

 

Thân mến,

Hẹn thư sau,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Khuất Đẩu đọc “NHỚ ĐẾN MỘT NGƯỜI”

15/05/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: “Ngày Sẽ Hết” là Những trang viết ngắn, tự in, 2019 của Khuất Đẩu, tập hợp những bài viết ngắn của ông trong nhiều năm qua như những kỷ niệm với bạn bè mà ông gọi là để “Tặng những bằng hữu thực và ảo”. Bằng hữu thực là những bằng hữu thỉnh thoảng gặp nhau, khề khà ly trà ly rượu, tách cà phê, nói chuyện trên trời dưới biển, thế sự, văn chương… còn bằng hữu ảo là những bằng hữu chỉ quen biết nhau qua mạng, chưa hề gặp gỡ mà… không thể nào quên (chữ KĐ).  

Ông gởi tặng tôi cuốn sách mới này, và ghi lời tặng: “Bản tặng tác giả bức chân dung dị thường” mà không ghi rõ tên người nhận. Cuốn sách vì thế mà bị “ngâm” nhiều tháng ở nhà một ngườ bạn chung của chúng tôi. May sao, một hôm, người bạn nhìn lại cái hình bìa thì biết “tác giả bức chân dung dị thường” chính là Đỗ Hồng Ngọc, đã nguệch ngoặc vẽ một Khuất Đẩu trầm tư, khắc khoải… hôm nào qua trí nhớ (par mémoire) của mình mà Khuất Đẩu đã dùng làm bìa sách!

Cuốn “Ngày Sẽ Hết” 266 trang, của Khuất Đầu với 55 bài viết ngắn, bài nào cũng hay, trong đó có bài Đọc sách “Nhớ Đến Một Người” của Đỗ Hồng Ngọc, bèn đăng lại để kỷ niệm vậy.

ĐHN

…………………………………………………………………………………..

Đọc NHỚ ĐẾN MỘT NGƯỜI của Đỗ Hồng Ngọc
Khuất Đẩu

Mượn một nửa câu hát của Trịnh Công Sơn để làm nhan đề cho tập sách mới nhất của mình, bác sĩ họ Đỗ chừng như ỡm ờ đánh lừa độc giả, nhất là những độc giả nữ lâu nay đã thầm yêu những trang sách dí dỏm nhẹ nhàng của anh.
Một người nào mà anh ưu ái vậy cà? Một Diễm của Trịnh? Một T. của Nguyên Minh?
Không! Bé cái nhầm! “ Một người” đó là những thoáng nhớ lan man từ Nguyễn Hiến Lê, Võ Hồng, Võ Phiến, Trang Thế Hy… đến Lữ Quỳnh, Lữ Kiều, Trần Hoài Thư, Phan Như, Phan Chính… Từ Nguyễn Bắc Sơn phóng dật đến cụ tổ ngành y Hải Thượng Lãn Ông nghiêm cẩn. Từ một Trịnh Công Sơn “bồ tát” đến một Dương Cẩm Chương trăm tuổi mà vẫn tài hoa.

Một người, là cả những Thầy, những Bạn mà suốt 70 năm tác giả đã có may mắn được thọ giáo, được nghe đàn hát và đọc thơ, xem tranh…

Giá như non 60 năm trước, không có một ông cậu “khùng” vì học giỏi và rành nghề học đưa đứa cháu tản cư và mồ côi cha đen đúa trong một sáng mùa thu đến trường và nếu không có một học giả như Nguyễn Hiến Lê ân cần chỉ bảo cách học thì chúng ta đã không có một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hôm nay. Những điều đó đối với những đứa trẻ “con nhà” là chuyện bình thường, nhưng với Đỗ Hồng Ngọc là khác thường. Đó là những ân sủng mà một người đã thành Nhân như Đỗ không thể không Nhớ, nếu không muốn nói là không bao giờ Quên.
Rồi những bậc thầy tuy không được học như bác sĩ Dương Cẩm Chương, Nguyễn Khắc Viện… bằng tài học và nhân cách của họ vẫn “dạy” cho chàng bác sĩ trẻ những bài học nhớ đời.
Tất cả những người anh nhớ đến, mỗi người mỗi vẻ, có những nét đáng trọng, đáng quý, đáng yêu… đáng cho độc giả thèm được một lần gặp gỡ. Họ là những người cũ, nhưng không phải muôn năm cũ, không nhất thiết phải bằng cấp đầy mình, không chỉ học ở trường ở sách mà học ở bạn, ở đời.

MỘT NGƯỜI, phải viết in hoa như thế này. Bỡi vì đó có thể là sông Cà Ty ở quê hương anh, có thể là màu sương lam ở Hà Nội trong nỗi nhớ của Nguyễn Hiến Lê, là câu đối trên mộ cha của Nguiễn Ngu Í “Mắt mở đã thấy xiềng nô lệ/ Hồn đi còn mơ gió tự do”, có thể là cách kể thơ trên xe lửa, với bài thơ Thầy còn nhớ em không của Đỗ Trung Quân đã khiến cho cô bạn Mỹ Susan Barnes hiểu được thế nào là những nhà thơ mới ở Việt Nam.
Một Người, đó là Nhân Cách, là Tài Trí và Tài Hoa. Một Người rất yêu quê hương, yêu đất nước, yêu tự do và yêu nghệ thuật. Một Người, còn là ngọn hải đăng cho con thuyền anh tìm được bến bờ giữa những con sóng dữ của lịch sử. Một Người đó bây giờ gọi là thần tượng.
Một Người đó trong suốt 70 năm “thấm” dần vào anh, làm nên một Đỗ Hồng Ngọc, vừa là một bác sĩ từ ái, vừa là một văn sĩ có ngòi bút kể chuyện duyên dáng, một thi sĩ “dễ thương nhất nước” (chữ của Du Tử Lê ) mà chúng ta được biết đến hôm nay.

 

 

Anh thường khiêm nhượng bảo mình không là nhà văn vì có truyện dài truyện ngắn nào đâu. Nhưng không là nhà văn mà mỗi dòng mỗi chữ đều là văn thì là nhà gì đây. Hãy xem anh vẽ một vài chân dung:
Với Lữ Kiều, anh viết: Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà ngập ngừng, rồi thè lưỡi thấm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắc lại như gom nội lực nhất điểm; rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhúng bút sâu vào nghiên mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán, rút nhanh ra rồi chắt vào thành nghiên, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim, phóng bút… Chàng “nho sinh” mỉm cười khoái trá, trút đi gánh nặng ngàn cân, kiệt sức, nhanh tay nhúng bút vào lọ nước trong… Những giọt mực thừa rơi lả tả… Cứ như cụ Nguyễn Tuân tả lại cái cảnh Cao Bá Quát cho chữ trong tù!
Với Trang Thế Hy, anh mê cảnh nhà văn Nam bộ hút thuốc dù anh ghét thuốc lá: Mê thiệt. Thấy cái cách ông ngậm điếu thuốc chếch qua một khóe miệng, thấy cái cách khum khum đôi bàn tay ấp ủ ngọn lửa như một bông hoa tự dưng thấy lòng xao xuyến. Một người gần 90 tuổi, ghiền thuốc lá từ ngày còn trẻ, ngồi bên cạnh mình, nhẹ nhàng rút một điếu, nâng niu đưa lên miệng, rồi ân cần xoay xoay chiếc hộp quẹt chuẩn bị bật lửa… có cái gì đó như một nghi lễ tôn giáo, khiến tôi chỉ biết ngồi im không dám hó hé.
Tả bằng cái tâm yêu tâm quý nên người đọc cũng xúc động theo.
Nhưng trong văn anh không chỉ có tả, còn có cái duyên ngầm khiến ta cười mỉm không thôi. Đó là cách nhìn người, cho dù là đạo cao đức trọng như cụ Lãn Ông hay Ngô Gia Hy, anh cũng có cách tìm ra những điểm khiến cho ta yêu kính nhưng không thấy xa cách mà là rất gần. Cụ Lãn Ông thì có chuyện tình với một người đã đính hôn nhưng không lấy đến nổi người ấy phải đi tu. Trần Văn Khê cũng lại chuyện tình và được anh mừng sinh nhật 90 bằng hai câu thơ đúng chóc Phân nửa phần trên đầy sống động/Nửa phần bên dưới có hư hao. Với Võ Hồng thì đừng sợ, con chó nó còn hiền hơn tôi.
Đó là các bậc sư phụ, đàn anh. Với bạn bè thì anh “đùa dai” hơn một chút.
Nguyễn Bắc Sơn vẽ chân dung Từ Thế Mộng- còn gọi là Tư Đình- bằng hai câu: Tư Đồ, Tư Mã, Tư Không/ Ba Tư dồn lại thành ông Tư Đình.
(Chỉ nhắc lại thôi chứ không cấm nói lái như Kiệt Tấn, kiểu cấm mà không cấm). Với Nguyễn Như Mây, anh kể Như Mây than mình bị kêu cụ Mây, rồi sau cụ Gió và giờ là cụ Ma!

MỘT NGƯỜI để nhớ của anh quả thật không quá xa, không quá kiêu kỳ, dù họ là những người thầy, những danh nhân, những thi sĩ, họa sĩ… một người mà qua cách rút tỉa những nét hay nét đẹp của anh khiến ta thấy gần, thấy yêu, Một Người, là của hơn 40 người. Một Người, qua tập sách cố ý vuông vức của anh, như một chiếc gương soi, ta có thể nhìn thấy chính anh cũng đáng yêu, đáng quý, đáng trọng và dĩ nhiên đáng nhớ đến xiết bao!

(NGÀY SẼ HẾT, Những trang viết ngắn, 2019, Khuất Đẩu, trg 232)

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“Không, bệnh nhân không phải người tiêu dùng…”

07/05/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Không, bệnh nhân không phải người tiêu dùng…”
(Theo TRITHUCVN, 06.5.2019)

Dưới đây là nội dung bài phát biểu rất đáng chú ý của bác sĩ Arthur Caplan, được đăng trên trang Medscape vào tháng 4/2019, về vấn đề đạo đức y khoa, quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân trong thời đại ngày nay.

https://www.medscape.com/viewarticle/911562

Xin chào mọi người, tôi là Arthur Caplan. Tôi đang công tác tại Trường Y thuộc Đại học New York, chủ nhiệm Khoa Đạo đức Y khoa. Trong một bài báo được đăng tải gần đây của các học giả tại Trung tâm Hastings – một viện nghiên cứu về đạo đức sinh học tại Garrison, New York, các tác giả đã đưa ra một lập luận rất thú vị: bệnh nhân không nên bị xem là người tiêu dùng.

Tôi thực sự đồng tình với quan điểm này. Tôi còn muốn bổ sung thêm rằng: các bác sĩ không nên bị xem là nhà cung cấp. Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của chúng ta hiện nay, thiên hướng kinh doanh đang ngày một định hình và thay đổi khái niệm về mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân.

Các học giả tại Hastings lập luận rằng nói bệnh nhân là người tiêu dùng đồng nghĩa với việc họ có các lựa chọn và hành động [mang đặc tính của người tiêu dùng], nhưng thực chất những bệnh nhân và những người sẽ là bệnh nhân ấy không có sự lựa chọn. Ví dụ, nếu tôi là một người tiêu dùng, tôi có thể đi mua bia, hoặc tôi sẽ chọn nên đi nghỉ mát ở đâu và tại khách sạn nào. Tôi có thể tìm kiếm trên các website và nghiên cứu thông tin các sản phẩm. Tôi có thể kén cá chọn canh một chút, nếu tôi muốn vậy, và chọn cho mình sản phẩm hợp ý nhất.

Trái lại, một bệnh nhân hay người sắp là bệnh nhân ấy thường không có lựa chọn như vậy. Họ đang rơi vào một guồng máy và bị bảo phải tới bệnh viện, phòng khám hay làm thế này làm thế kia; họ không có lựa chọn sẽ làm gì. Nếu bạn đang sầu não vì một vấn đề sức khỏe từ trên trời rơi xuống, bạn sẽ không có thời gian đi mua sắm để ngắm nghía vị chuyên gia chỉnh hình này hay ông bác sĩ tiểu đường kia.

Bạn thường nhanh chóng nhận lấy những lời khuyên từ bạn bè hay bác sĩ gia đình, nhưng bạn không cư xử ở vị thế của một người tiêu dùng. Hành vi tiêu dùng không phải là một đặc tính của hệ thống chăm sóc sức khỏe, nó không thực sự là một ngành kinh doanh do thị trường dẫn dắt.

Hệ thống chăm sóc sức khỏe của chúng ta không có thông tin, và bệnh nhân không có vị thế đi mua hàng hay tìm hiểu về sản phẩm trước khi ra quyết định như trong các thị trường bình thường khác. Tôi nghĩ họ ở vào một vị thế mong manh hơn rất nhiều, phụ thuộc hơn rất nhiều; họ thường phải loay hoay trong bóng tối và không có lựa chọn nào khác. Căn phòng cấp cứu người ta đưa bạn vào ấy không phải là nơi bạn mua hàng online. Tôi nghĩ chúng ta nên dừng nói về các bệnh nhân cứ như thể họ là người tiêu dùng.

Lương y nên như từ mẫu, chứ không phải thương nhân.
Tôi biết mọi người đang cảm thấy phấn khích với thời buổi hiện đại này, khi chúng ta đưa những cách làm của các ngành khác, như ngành kinh doanh khách sạn [vào để áp dụng cho chữa bệnh], chúng ta cố gắng để bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn với những bữa ăn ngon và các tấm trải giường thơm tho sạch sẽ.

Nhưng tôi lại cảm thấy lo với xu hướng này vì tôi không nghĩ bệnh viện nên biến thành khách sạn. Chúng nên là nơi có ít sự lây nhiễm, điều trị hiệu quả, bệnh nhân bớt đau đớn, nếu xét tới những gì chúng ta đang làm tại đây. Tôi cảm thấy không yên tâm vì xu hướng tiếp thị bán hàng kiểu ấy.

Xét về tổng thế, tôi không muốn thay thế đạo đức nghề y và sự chuyên nghiệp của bác sĩ bằng những thuật ngữ và đạo đức kinh doanh. Tôi không nghĩ điều đó tốt cho bệnh nhân. Tôi nghĩ nó sẽ bắt đầu dẫn khởi những suy nghĩ để làm sao vận hành hệ thống kinh doanh [cho tốt]. Điều này không tốt cho các bác sĩ, vì nó bắt đầu khiến họ cảm thấy mình như những con tốt hoặc đại lý bán hàng và đánh mất đi vị thế chuyên nghiệp cùng sự tôn trọng và uy tín của nghề.

Tôi biết chữa bệnh là phải dính đến tiền; tôi không ngây thơ về điều đó. Nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta phải xây dựng một mô hình kinh doanh trong khi cố gắng ra quyết định phục vụ tốt nhất cho bệnh nhân.

Tôi là Arthur Caplan của Trường Y New York. Cảm ơn các vị đã theo dõi.

 

…………………………………………………

Cảm ơn Dr HKCUONG đã chuyển.(ĐHN).

Nếu có thể, xin tham khảo thêm clip “Trò chuyện đầu năm hoc” với các sinh viên ĐHYK Phạm Ngọc Thạch (10.2018) của Bs Đỗ Hồng Ngọc theo link:

Y Đức – Khoa học Hành vi & Giáo dục Sức khỏe

 

 

Thuộc chủ đề:Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân

“VỀ THU XẾP LẠI…” với Gia đình Hoa sen Đà Lạt

29/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“VỀ THU XẾP LẠI…” với Gia đình Hoa sen Đà Lạt

Thảo Nhiên

 

Đỗ Hồng Ngọc cùng Gia đình Hoa Sen và các thân hữu. (Đà Lạt 31.3.2019)

 

“ Chút nắng vàng giờ đây cũng vội..” có lẽ, ngày không dài như mình nghĩ                                   , nên nắng vội chăng? Chút nắng chiều rồi sẽ tắt ? Vâng, hẳn là như thế! Nên vội! Vội thật mà !
Vội vì lý do gì? Để gặp nhau. Để thương. Để thăm thú đó đây. Để chia sẻ chút gì đó trong hành trình đi qua từng tuổi xuân cho người cùng thế hệ, cùng nghe “chân đi nằng nặng hoang mang… ” mà về “ lắng nghe hơi thở , lắng nghe cái tứ đại nó trở nên khó bảo trong trái tim vẫn rào rạt yêu thương , dù chỉ là yêu thương “vô tình chợt gọi”
Chính vì yêu thương đó, mà có lẽ , bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã ung dung viết vội , viết lại những thoáng qua chợt ngộ để không phải cho mình, mà cho bạn bè của mình, cho hậu thế, cho những “ bé sơ sinh “ mà bác đã đón vào đời từ những thập niên 60 với lời nhắn nhủ:
“ Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ.”

Thế mà, các bé sơ sinh ngày ấy cũng đã dần hai màu tóc… Cuộc lữ vô tận tít tắp kia kết nối bao tình thương . Hạnh ngộ rồi chia xa… Sinh rồi tử. Và tử rồi sinh. Tử Sinh của Số phận Con Người ! Bác sĩ đã thấy, đã Ngộ một điều gì đó. Chỉ mình Bác biết! Cái NGỘ mà chỉ riêng cho một người. Riêng mà lại chung. Của một người nhưng lại chung cho nhiều người.
Cho nên, bác gói ghém lại. Viết lại. Ngồi gõ từng chữ. Ghép lại. Để lại thêm một cuốn sách trên kệ trong tủ… Về Thu Xếp Lại. Một thu xếp đáng trân quý.


Thu xếp xong rồi thì in ấn. Sách đã về nên mang đi tặng. Đến từng nhà những người bạn thân… mà trao tận tay…
Và hôm nay, đến những bông hoa của gia đình Hoa Sen Dalat. Cảm động quá chừng. Trân quý quá chừng . Và cũng thương quá chừng. Thương tình cảm bao la chân tình của bác, thương ngồi xe hơn 600 cây số đi về… chỉ để tận tay ký tặng Về Thu Xếp Lại! Thương quá đi chớ, cái Tình của người tuổi Tám Mươi .

 

Buổi chiều cuối tháng ba hai không mười chín, hương trà quyện hương nắng … Bên nhau là những người tuổi đã bảy mươi tám mươi… rồi năm mấy sáu mươi… Lắng nghe Hương Chiều (*) mà thương mình, thương bạn của mình quá chừng! Ở cái tuổi không còn là của năng nổ và khoẻ mạnh! Tuổi thấy “ trời cao đất rộng một mình tôi đi/ Đời như vô tận, một mình tôi về…với tôi” Biết nói gì đây?
“ Nói không được. Bất khả thuyết. Không từ đâu đến/ chẳng đi về đâu. Nó Như Lai. Khi cát bụi và hơi hướm kia không chịu nhau nữa, giận nhau, cãi nhau, hục hặc, chí choé, đòi tách nhau ra thì đủ thứ chuyện trên đời sẽ sinh sôi. Cuối cùng thì đến một lúc, cát bụi trở về cát bụi, hơi huớm trở về hơi hướm… Rã ra . Tan ra. Không thương tiếc. Có một chu kỳ, có một nhịp điệu chăng. Không biết.” ( trích Phần 1: Cát bụi tuyệt vời – Về thu xếp lại – ĐHN)

Bác viết: “ Từ ngày về hưu, bạn bè rơi rụng dần. Rơi rụng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Lâu lâu, dòm lại cái cuốn sổ danh mục ghi điện thoại đã thấy có nhiều địa chỉ chẳng biết làm sao liên lạc được nữa. Muốn xoá mà ngập ngừng rồi không nỡ “ Có chút nghẹn trong lòng. Ai cũng có những ngập ngừng như thế. Thương.

Ngồi với nhau chỉ 150’ mà nỗi lo âu nhẹ hẳn! Bởi có gì lạ đâu khi “ tôi chợt nhìn ra tôi”
Nhìn ra rằng “ Vì ta không phải là gỗ đá, vô tri. Vấn đề chỉ ở chỗ không dính mắc. Cô hoa hậu xinh đẹp thì thấy là xinh đẹp, nhưng dính vào thì tiêu! “

Bác vậy đó! Thông tuệ nhưng dí dỏm và hài hước! Hài hước dễ thương. Và dí dỏm rất thật thà : “ có vẻ như càng già người ta càng yêu nhiều hơn, yêu vội hơn, và càng yêu thì càng “ sống khoẻ sống vui” hơn với một mối tình lãng mạn hoặc một mối tình “ ngỡ đã quên đi/ bỗng về quá rộn ràng” bởi vì “ cát bụi tuyệt vời “ đã chuyển thành “ cát bụi mệt nhoài” rồi! Có lẽ, khi thoáng yêu như thế thì sẽ quên đi một nỗi sợ…

“ Nỗi sợ lớn nhất của kiếp người là sợ…chết. Ta từ đâu đến. Ta sẽ đi về đâu… là những câu hỏi không lời đáp từ ngàn xưa. Câu trả lời đơn giản nhất có lẽ là ta đã từ bào thai mẹ mà đến và sẽ trở về …”bào thai Như Lai. Quả là có một sự giấu nhẹm thú vị. Ta bỗng dưng mà có thì cũng sẽ bỗng dưng mà không. Nhưng có và không lại là một. Thú vị ở đó. Xà quần chút chơi vậy thôi. Nó sẽ vận hành theo pháp. Sanh trụ dị diệt. “
( trích phần 10 – Về thu xếp lại – ĐHN)

Thôi thì, vén khéo lại nhé, thu xếp lại nhé! Cho nhẹ hành trang! Cho ngày nào đó chỉ “ để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười” .
“ Nụ cười ấy là sự giác ngộ, giải thoát. Đã thấy biết Như Lai. Đã sống cùng Như Lai. Đã là Như Lai. Ai đã thấy biết Như Lai, đã sống với Như Lai, đã là Như Lai mà không cười như vậy? “ ( kết Về Thu Xếp Lại -bs ĐHN)

Gia đình Hoa Sen và các thân hữu chụp chung tấm hình kỷ niệm.

Trân trọng cảm ơn những chia sẻ chân thành của chị Thoại Anh, cô Quế Hương, cô Diệu Thanh, anh chi Cẩn Phạm Gia , anh chị Trình Mai, cô Nhiên Linh , cô Trần thị Thanh đã thay lời mọi người nói lên cảm nhận riêng trong một không gian chung khi nhận sách từ tay Bs Đỗ Hồng Ngọc trao tặng! Kính cảm ơn vô cùng chân tình mà bs Đỗ Hồng Ngọc đã ưu ái dành cho gia đình Hoa Sen và những bạn hữu ! Bác sĩ đã rất vui! và mọi người hôm ấy cũng rất vui! Chỉ tiếc là thời gian không đủ để chia sẻ những tâm tình và sự ngưỡng mộ! Không đủ để vừa nhâm nhi vị trà vừa tâm tình cùng người bác sĩ hiền hậu chân chất mà vô cùng thông tuệ!

(TN)

(*) Nhạc Thuần Nhiên, thơ Ngũ Hành Sơn

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (4.2019 tiếp)

20/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (4.2019 tiếp)

Về Huế…

(tiếp theo)

 

*** Ba

Về Huế nhiều lần mà chưa có dịp nào đi Phong Nha Kẻ Bàng (kỳ quan đệ nhất động) cũng ấm ách chớ phải không. Lần này, phải đi một chuyến cho biết.

Đồng Hới Quảng Bình rẽ trái khoảng 30km là đến Phong Nha Kẻ Bàng. Đường tốt. Ngày thường, vắng khách. Càng tốt.

 

tham quan Phong Nha Kẻ Bàng (Quảng Bình, 12.4.2019)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ảnh: Đỗ Hồng Ngọc

 

(DHN)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(DHN)

 

 

“cửa động đầu non đường lối cũ/ ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi” Tản Đà. (ảnh Do Hong Ngoc, Phong Nha, 12.4.2019).

 

(ảnh Do Hong Ngoc)

 

(ảnh ĐHN)

***

 

Dịp này, lần đầu tiên mình biết Quảng Trị, Quảng Bình, khúc ruột miền Trung với biết bao địa danh đi vào  sử sách, từ Sông Gianh đến Bến Hải, Hiền Lương, cửa Tùng, cửa Việt, Vĩnh Linh, Gio Linh… Triệu Phong, Ái Tử, Lũy Thầy, Thành Cổ…

dấu tích Lũy Thầy Đào Duy Từ

 

 

 

 

dấu tích Cổ thành Quảng Trị (ảnh Đỗ Hồng Ngọc 13.4.2019)

 

 

 

 

Trò chuyện với Thầy Nguyên Mãn, chùa Sắc Tứ Tịnh Quang, Quảng Trị (13.4.2019). Thầy nói trước đây Thầy đã từng tặng cho nhiều người hàng trăm cuốn Nghĩ Từ Trái Tim của ĐHN rồi đó!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*** Bốn

Chắc chắn phải có một cái “duyên kỳ ngộ” nào đó lạ lùng, chớ không thì làm sao mà gặp Camille Huyền ở cái xứ Huế đầy “huyền hoặc”… này  được? Lúc đầu, mình định thôi không kể chuyện này nữa, nhưng rồi nghĩ lại, “tào lao” một chút với “bạn xa xôi” cũng… hay!

Số là… cách đây 15 năm, có một cô ca sĩ Việt kiều ở Thụy Sĩ về Huế, nghe nói gốc Hoàng tộc, rất Huế, Công Huyền Tôn Nữ… có tên là Camille Huyền và lúc đó cô đã hát bài “Kể Chuyện Trăng Tàn” rất hay, và đã đưa vào một CD cùng một số bài khác để phổ biến. Biết thì biết vậy, nghe hát thì mê vậy, nhưng “xa xôi đường lối khó”, còn biết nói năng chi.

Kể Chuyện Trăng Tàn là tựa bản nhạc do Khúc Dương (nghe rất Tiếu ngạo giang hồ, nhưng đó chính là Đặng Ngọc Phú Hòa, giảng day âm nhạc ở Huế) đã phổ bài thơ “Nước” của mình . Một vài lần mình có dịp gặp Khúc Dương, nghe anh hát bài này, và rất thấm thía với đoạn “cảm tác” của anh: “nước từ trong mắt/ nước xuôi về tim/ em từ duyên kiếp/ trôi về đời anh…”

Bài thơ “Nước” mình viết năm 1997:

Nước từ đâu đến

Nước trôi về đâu…

 

Nước vẫn muôn đời

Không đi chẳng đến…

 

Ai người nỡ hỏi 

Nước trôi về đâu…

Chỉ đơn giản và… ngây thơ vậy, chẳng ngờ nhạc sĩ “cảm tác” thêm một khúc tình ca! Và chẳng ngờ, Camille Huyền một lần về Huế, mười lăm năm trước đã có dịp hát.

Từ đó biền biệt.

Lần này về Huế, gặp Cecile, cũng tình cờ và Thái Kim Lan ở trước Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán, bờ sông Hương. Cecile là phu nhân của bác sĩ Phạm Phi Long, một người bạn thiết, mà thời gian tu nghiệp ở Pháp mình đã tá túc nhà bạn. Cecile không biết sao lại gọi cho Camille Huyền, và nói… có anh Đỗ Hồng Ngọc đang ở Huế nè! Thế rồi Camille Huyền cùng phu quân là TĐNgộ tức khắc đến gặp mình tại Cocodo… của Cecile.

Khá đông bạn bè đang có mặt ở đó. Cecile bỗng hỏi Camille biết ai là Đỗ Hồng Ngọc không nè? Camille bước ngay đến mình và vừa bắt tay vừa hát: Nước từ đâu đến… nước trôi về đâu… khiến mình sửng sốt, định hát tiếp “nước từ trong mắt/ nước trôi về tim…” nhưng kịp ngưng lại.

Tay bắt mặt mừng như đã thân quen từ… xa xưa lắm. Ngộ, phu quân của Camille Huyền rất dễ thương, cho biết nhiều năm nay hai vợ chồng đã về hẳn Huế, lập một cái… “vương phủ” lấy tên là Bến Xuân, một địa điểm văn hóa rất nổi tiếng ở Huế ngày nay. Thằng Bờm nhà quê chính hiệu là mình có biết ất giáp gì đâu. Cecile nói ai muốn đến đó thưởng thức giọng ca của Camille Huyền phải… đăng ký trước khá lâu mới được!

Từ trái: Camille Huyền, Trương Đình Ngộ (ông xã CH); Thái Kim Lan, Đỗ Hồng Ngọc ( Cocodo, 11.4.2019).

Camille Huyền nói “Em về đây lâu rồi, chỉ biết tiếng Huế mà không biết tiếng Việt. Có mấy ca từ trong Ca Huế như “trông vòi vọi” là sao?… là sao?… là sao?”. Mình cứ giải thích… theo cái biết “trời ơi” của mình và cô… hiểu ngay! Cô nói em hát cho người nước ngoài nghe, nên phải giải thích từ ngữ cho họ hiểu họ mới cảm nhận được.

 

Bài thơ NƯỚC
(in trong tập Vòng Quanh, thơ Đỗ Hồng Ngọc, 1997)

 

Kể Chuyện Trăng Tàn (thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhạc Khúc Dương)

Giọng ca Camille Huyền (2004)

http://www.art2all.net/nhac/huyencam/kechuyentrangtan_t.mp3

 

Chiều 13.4.2019, từ Quảng Bình, Quảng Trị về lại Huế sau chuyến thăm Động Phong Nha Kẻ Bàng còn khá mệt mỏi nhưng vì hôm sau phải về lại Saigon rồi nên mình phone rủ Tịnh Thi đi thăm Camille Huyền ở Bến Xuân. Tịnh Thi kêu, anh phải đăng ký trước chứ v.v… Hay ít ra anh cũng phải phone hẹn trước đi.  Khó gặp đó! Tịnh Thy thiệt ra không ngờ mình đã gặp Camille Huyền và Ngộ hôm trước rồi, dù Tịnh Thy cũng từng biết Camille Huyền hát Kể Chuyện Trăng Tàn rất hay từ nhiều năm trước. Cứ đi đi, thử coi. Mình nói. Đến, may gặp thì tốt. Không gặp… cũng tốt. Sẽ viết mấy chữ liệng vào cổng rồi đi. Tịnh Thy và mình đến phía đường lộ, thay vì đi thuyền ghé cổng trước. Đúng là tường cao cổng kín, nhưng đây là cổng “thiền” mà! Mọi sự cứ “tùy duyên”. Mình phone. Anh Ngọc nè. Có ở nhà không hay đã “cắt đứt dây chuông” rồi? Camille Huyền mừng rỡ, anh đợi cho hai phút nhé! Hai phút? Tin nổi hông? Thì ra Ngộ, ông xã Huyền vội chạy ra đón khách, nói là đang sửa điện trong nhà… Rồi hướng dẫn bọn mình tham quan khắp nơi. Đúng là một “vương phủ” vừa cổ xưa vừa hiện đại của cặp “tình nhân” Ngộ-Camille Huyền, hơn 40 năm ở Đức, Pháp, Thụy Sĩ… mà rời bỏ tất cả để về với Huế, sáng lập điểm văn hóa đặc sắc Bến Xuân này. Thường khách đến Bến Xuân bằng ngã sông Hương, cổng chính gần chùa Thiên Mụ, thưởng thức âm nhạc, ẩm thực, tham quan phòng tranh do nữ chủ nhân sáng tác… Kỳ công là đã xây dựng Bến Xuân suốt cả 10 năm trời, với chất liệu thu gom, lượm nhặt từng hòn đá cuội, miếng gạch vỡ… từ khắp nơi ở cố đô Huế để có một “vương phủ” vừa cổ kính vừa hiện đại đáng quý này.

Trương Đình Ngộ, phu quân Camille Huyền- hai tay đang bận sửa điện- đã chạy vội ra đón Đỗ Hồng Ngọc và Nguyễn Thị Tịnh Thy! (Bến Xuân, Huế 13.4.2019)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phía trước Bến Xuân là dòng Hương giang lờ lững. Nơi cổng thuyền cặp bến!

 

Đã đến lúc nói lời… tạm biệt!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (4.2019)

18/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (4.2019)

Về Huế,

 

*** Một.

Vừa đi Nepal về, mình lại có dịp đi Đàlạt mấy hôm, và rồi bây giờ lại… về Huế nữa khiến có người bạn trẻ kêu lên sao anh nói “về thu xếp lại…” rồi kia mà! “xếp lại” gì đâu chỉ thấy càng… bung ra?

Người bạn trẻ dễ thương đó của mình đã hiểu lầm đó thôi. Rõ ràng là “thu xếp lại…” với mình bây giờ chỉ là để cho được gọn nhẹ, buông bỏ bớt… để mà “tiếu ngạo giang hồ” được chút nào hay chút đó thôi. Cứ nhớ đến Th, người bạn thiết, hẹn hò đi du ngoạn miền Trung với cả đoàn Quán Văn, giờ chót xin lỗi vì không… mặc quần được vì viêm khớp gối tái phát; lại nhớ Nh, người bạn khác, rất khỏe, đúng ngày lên đường đi Cao Nguyên thì đùng cái phải nhập viện Tim đặt 3 cái stents; rồi một bạn khác nữa mấy ngày liền đi với nhau không thấy đánh răng, chãi răng gì cả, hỏi, bảo còn cái răng mẹ nào đâu mà đánh với chãi…!

Nhưng thật ra, về Huế kỳ này chính là để dự Hội thảo về Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969), một cư sĩ Phật giáo lỗi lạc, một Bồ-tát tại gia của thế kỷ 20 của Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp văn hóa, giáo dục, đào tạo tăng tài, hoằng dương Phật pháp, xuất bản báo chí và dịch thuật kinh sách… Hội thảo tổ chức tại chùa Từ Đàm Huế.

Chùa Từ Đàm Huế vốn không xa lạ với mình. Năm 2008, mình đã có dịp trình bày đề tài “Thiền và Sức khỏe” tại đây trong Tuần lễ Văn hóa Phật Giáo. Lần đó nhớ có các anh Cao Huy Thuần, Bửu Ý, Nguyên Ngọc… và cô Ngọc Thảo. Thầy trụ trì Từ Đàm hiện nay là Hòa thượng Hải Ấn vốn cũng là một bác sĩ… đồng nghiệp!

Mình chỉ phát biểu mấy phút trong phần thảo luận về vai trò của người trí thức học Phật, và giới thiệu qua “mô hình” của Ban Phật học chùa Xá Lợi Tp.HCM (Saigon) hiện nay đã quy tụ được các cư sĩ trí thức, nghiên cứu, học tập, tổ chức thư viện, làm báo Từ Quang, thực hiện trang web, và nhiều lớp học về Phật pháp, Phật học và Đời sống v.v…

Hội thảo về Cư sĩ Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám tại Chùa Từ Đàm Huế 10 và 11-4-2019

 

Rồi cùng nhóm bạn trong Ban Phật học, ghé thăm chùa Trúc Lâm, nơi Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám đã tu tập từ năm 1928.

Chùa Trúc Lâm

 

 

 

 

 

 

 

 

Dịp này, nhóm bạn cũng đến thăm Chùa Châu Lâm, trò chuyện cùng thầy Thiện Phước trụ trì. Chùa rất đẹp. Nghe nói mỗi lần về Huế, các thầy Lê Mạnh Thát, thầy Tuệ Sỹ cũng về đây nghỉ. Thầy Thiện Phước có những cách thuyết pháp khéo léo, thuyết phục được nhiều khách  trẻ Tây phương đến viếng chùa. Tiếc không nhiều thời gian để trao đổi học hỏi thêm.

Trò chuyện cùng thầy Thiện Phước, chùa Châu Lâm, Huế

 

Buổi trưa, Thái Kim Lan mời cả nhóm đến thăm khu nhà cổ của cô nằm bên bờ sông Hương, trên đường lên chùa Thiên Mụ. Khu nhà vườn rất đẹp.  Rất nhiều hoa và cây trái… Cô khoe Nhà xuất bản Kim Đồng vừa mới in xong cho Thái Kim Lan một tập Tùy bút… có lời Tựa của Đỗ Hồng Ngọc. Hình như cô sắp ra Hà Nội “ra mắt” sách. Hỏi anh Ngọc có đi không nè? Hổng dám đâu!

Ngôi nhà vườn của Thái Kim Lan.

 

 

Bên bờ sông Hương: từ trái, Dũng, Niêm, DHNgoc, TKLan, Cecile, Thúy, TNguyen, Hùng…

 

 

 

 

 

Về Huế lần này, mình còn có dịp ghé thăm võ sư Nguyễn Văn Dũng, thăm nhà đẹp của Ngô Tiến Nhân, vườn Bội Trân, thăm khu Không gian Lê Bá Đảng đang xây dựng rất hoành tráng bên đồi Thiên An, và tiếc, chưa kịp ghé Cát Tường Quân của Út Thảo.

Càphê ở nhà Ngô Tiến Nhân. Khu vườn vừa trồng thêm nhiều cây ăn trái. Mình khuyên bạn nên cất một cái chòi lá, có sàn gác để thư giản thật sự sau khi vừa đặt mấy cái stents…

Không gian Lê Bá Đảng đang hoàn thành dần. Trong khi nhóm bạn leo lên nhà trưng bày tranh thì mình luẩn quẩn bên khe suối vì… hai chân đã mỏi đừ sau mấy ngày trèo non lội suối ở Phong Nha Kẻ Bàng, cửa Tùng, cửa Việt… !

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*** Hai

Bạn có nghe Rú bao giờ chưa? Chưa, phải không? Mình cũng vậy. Nếu hỏi Rú là gì thì người bạn xứ Huế trả lời Rú là Chá. Rú Chá. Chịu!

Vậy nên về Huế lần này phải đi Rú Chá một phen cho biết chứ! Nguyễn Thị Tịnh Thy nói. Ừ thì đi.

Có một chuyện cảm động thế này: Nguyên Minh và Hoàng Kim Oanh, đại diện tạp chí Quán Văn từ Saigon bay ra Đà Nẵng dự buổi ra mắt tập thơ của Lê Thị Ái Niệm. Ở đó đã sẵn có Trúc Hạ, Hồ Sĩ Bình, Phan Trang Hy… Cả nhóm Quán Văn Saigon, Đà Nẵng nghe có Đỗ Hồng Ngọc đang ở Huế bèn… trèo đèo, lội suối ra Huế để gặp nhau một bữa cho vui. Mấy khi. Minh Tự và Tịnh Thy bèn tổ chức cho cả nhóm đi Rú một phen… Thì ra Rú là một thứ Rừng hơn Rừng (Rừng Rú). Còn Chá là loại cây mọc ở vùng ngập mặn như cây mắm, cây đước ở Phương nam. Ở đây, Rú Chá Huế hình như nối dài  Phá Tam Giang vào đồng bằng Huế thì phải. Vẫn còn rất hoang sơ và thơ mộng, đặc biệt với ráng chiều rực rỡ đầy màu sắc kỳ thú không ngờ!

 

Rú Chá Huế (ảnh Internet)

 

Nhóm “Quán Văn” hội ngộ xứ Huế (10.4.2019).
Từ trái: Nguyên Minh, Trúc Hạ, Tịnh Thy, Đỗ Hồng Ngọc, Hoàng Kim Oanh, Hồ Sĩ Bình… (ảnh Phan Trang Hy).

 

 

Rú Chá với Ráng chiều (Huế 4.2019. ảnh Do Hong Ngoc)

Rú Chá Huế (ảnh DHN)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tịnh Thy và Trúc Hạ Buổi tối, có một buổi sinh hoạt văn nghệ “cây nhà lá vườn” tại nhà Tịnh Thy. Thêm Nguyên Cẩn vừa đến kịp. Minh Tự không ngờ là một giọng hát rất hay và là một cây guitar đáng nể. Cả nhóm thành một ban hợp ca… iPhone: Nào Tà Áo Tím một chiều lang thang bên giòng Hương giang…, nào Ngàn thu áo tím từ khi yêu anh anh bắt xa màu tím…, nào Chiều Tím chiều nhớ thương ai, rồi nào “Anh pha mực cho vừa màu áo tím” (Tuổi 13)… Cứ tím ngắt như thế. Huế mà. Thế rồi không biết ai đề nghị thôi hát Anh còn nợ em đi, nhưng cấm không được khóc. Thì ra, mọi người “chọc” Nguyên Minh, nhà văn “mít ướt” số một, người sáng lập Ý Thức trước kia và nay là Quán Văn. Cứ mỗi lần nghe hát “Anh còn nợ em” của Anh Bằng thì Nguyên Minh khóc sướt mướt. Mình tưởng đùa, ai dè Nguyên Minh khóc thiệt, khóc… rống hẳn hoi! Rõ ràng “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi” rồi đó thôi! Mình đã viết trong “Về thu xếp lại…” như vậy và anh Hai Trầu bên nớ cũng chịu là đúng với tuổi già đó thôi!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hẹn thư sau nhé,

Đỗ Hồng Ngọc.

(19.4.2019)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Khánh Minh: BÓNG BAY GIÓ ƠI (tái bản)

09/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

BÓNG BAY GIÓ ƠI tái bản

Chúc mừng Khánh Minh vừa tái bản BÓNG BAY GIÓ ƠI có bổ sung và chỉnh sửa…

Nhà thơ viết như thơ!

ĐHN

… Ngày xưa, có lần “tập đoàn” yêu tinh họp nhau lại tìm cách làm hại con người. Một yêu tinh nói: – Nên giấu một thứ gì đó quý giá của con người đi, nhưng giấu cái gì bây giờ? Một yêu tinh đáp: – Hãy lấy đi hạnh phúc của họ, họ sẽ ngày đêm phải khổ sở u uất. Nhưng, giấu nó ở đâu? Sau một hồi bàn bạc, cuối cùng một yêu tinh già lụ khụ đưa ra ý kiến: – Tôi biết ta nên giấu hạnh phúc ở đâu rồi, Hãy giấu nó ở chính bên trong con người. Họ luôn cố gắng lùng sục hạnh phúc ở khắp nơi khắp chốn và bao giờ cũng thấy người khác hạnh phúc hơn mình. Kể từ đó, người mải mê đi kiếm hạnh phúc mà không biết nó đã được giấu ngay trong tâm hồn mình… (cob.cdcs.selu.edu)

………………………………………………

Khánh Minh ơi,

“Không phải đâu là không phải đâu”, con tinh già lụ khụ sau đó rỉ tai rằng “Thiệt ra ta nên giấu trong Bóng Bay Gió Ơi của nhà thơ Khánh Minh thì mới… khó tìm cho loài người!

Ai dè, đã tái bản rồi!

ĐHN

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Phật Học & Đời Sống: Vài hình ảnh Chuyến về thăm xứ Phật, Nepal

08/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Chương trình PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp.HCM

 

 Vài hình ảnh Chuyến về thăm xứ Phật, Nepal

Đỗ Hồng Ngọc

Ghi chú: Ngày thứ Bảy 16.3.2019, trong buổi Sinh hoạt thường kỳ của Chương trình Phật Học & Đời Sống tại Chùa Phật học Xá Lợi Tp.HCM, tôi đã Nói chuyện đề tài “Chuyến về thăm xứ Phật, Nepal” để chia sẻ cùng các bạn trong lớp. Nhờ Quyền dựng cho bộ slides, rồi nhờ Trung, Trúc, Tú Quyên… các bạn trẻ cho mượn labtop, projector… để có buổi “trình chiếu” thêm phần sinh động này. Như thông lệ, sau buổi trình chiếu, tôi đã nêu lên một vài vấn đề về các pháp hành để cùng thảo luận học hỏi thêm.

Lúc đầu, tôi không định post lại ở đây bài Nói chuyện này, nhưng các bạn trẻ cho biết cũng có nhiều người không đến tham dự tại chỗ được, đang mong được xem clip.

Rất cảm ơn nvquyen.

Trân trọng,

DHN

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Vài đoạn hồi ký

Thư, từ một người bạn không quen biết

08/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Thư, từ một người bạn không quen biết

 

Ghi chú: Đi Nepal về, tôi nhận được một email của một người không quen biết, một bạn đồng nghiệp (cùng nghề Y) từ Mỹ, cô PV, pháp danh Tâm Danh ở Oklahoma.

Thư viết rất cảm động. Có vẻ đã lâu, cô không dùng tiếng Việt nên viết tiếng Viết lẫn tiếng Anh, dấu hỏi ngã thì be bét, nhưng có những từ ngữ sử dụng khiến tôi không khỏi giật mình. thí dụ tiếng Việt mình hay nói “Mừng hết lớn!” thì cô viết “Mừng.. hết già!”. Dĩ nhiên là một lối chơi chữ, chứng tỏ cái humurous rất độc đáo. Cô dùng từ “dharma… hiccup” (hiccup là nức cụt) cũng rất ngộ nghĩnh. Tôi xin phép cô cho chia sẻ với bè bạn thân quen nơi đây, cô đã đồng ý và dặn giấu giùm cái địa chỉ email thôi.

Một lần nữa, cảm ơn cô Tâm Danh.

Đỗ Hồng Ngọc.

……………………………………………………………………………

Email độc giả PV (USA)

PV <…@gmail.com>
Mar 12, 2019, 11:45 PM (15 hours ago)

to me

Kính thưa bác sỉ Đổ Hồng Ngọc,

Tôi tên là PV, pháp danh Tâm Danh , năm nay 67t , ở  tiểu bang Oklahoma hôm nay mạo muội  làm gan  ” nín thở”  bạo dạn  viết vài lời kính thăm bs . Do duyên lành cách đây hơn 1 tháng tôi ” khám phá ” các video của bs trên youtube.  Cái clip đầu tiên tôi coi là buổi nói chuyện của bs ở chùa Hoằng Pháp .
Thưa bs , tôi làm y tá ( Registered Nurse ) ở ICU  và PACU ( recovery room) hơn 30 năm  cho nên khi biết speaker là một bs  thì tôi rất tò mò lắng nghe và sau đó thì tôi bị ….hooked vô luôn !!!
Kính thưa  bs, tôi ở Mỹ 44 năm nhưng chỉ có 1lần  về nước VN cách đây trên 10 năm  chừng mười ngày để chủ đích là thăm cố Ni Sư Thích Nữ Trí Hải và tôi có duyên gặp được NS ( trước đó tôi hoàn toàn không biết NS….)
Sau đó NS viên tịch thì cái duyên của tôi với nước VN kể như là ….ngàn trùng xa cách !
Chính tôi không thể tưởng tượng được là ngày hôm nay tôi ngồi đây viết email để thăm, để connect với  một người ở bên VN mà tôi hoàn toàn không biết  ! Lành thay !
có lẻ luật vô thường nó works really well trong trường hợp nầy vậy !
Thua bs, tôi biết được email của bs là do coi cái clip GƯƠNG SÁNG KỲ 7 do chùa Giác ngộ tổ chức….trong đó có đề email của bs.
Hy vọng bs vẩn còn dùng cái email nầy ….
tuy tay tôi viết như thế nầy chứ trong tim rất hồi hộp vì không sure có tới tay bs hay không nên tôi không dám viết nhiều . Thật ra tôi cũng không nên dài dòng tán thán bs làm gì vì những lời đó bs đã nghe quá nhiều trong đời rồi, tôi có nói thêm cũng không hay bằng các chư vị đó đâu …Lòng ngưỡng mộ của tôi đối với bs, đối với universe nầy không thể nào diển tã bằng lời được .  tôi chỉ biết nói một cách rất simple , very simple là sau khi coi, nghe, thấy bs  qua  một số clips ở Youtube nó đã cũng cố đức tin tôi vào con đường bồ tát đạo, hành bồ tát hạnh mà xưa nay tôi chỉ biết qua phương diện mơ hồ ở bình diện của cái brain nhưng không lọt được xuống trái tim  .
Sự hiện diện physically và cuộc sống spiritually  của bs là bài kinh sống về bồ tát đạo. Một bài kinh rất dể hiểu, down to earth …không có gì rắc rối phải nặn óc suy nghỉ hoài cũng …không hiểu!
Khi tôi click vô chử send gởi thơ nầy  thì  tôi chỉ biết chấp tay cầu nguyện nó ” bay ” vào mắt bs  chứ tôi hoàn toàn không còn control được bất cứ một cái gì trong …pháp giới, nếu tôi  đây ” phước dầy nghiệp mỏng” thì tôi sẻ được bs hồi âm còn bằng không tôi cũng rất hoan hỷ là tôi đả gởi ra một grateful energy đi vào vủ trụ là tôi may mắn ” sống dai” để có duyên thấy nước VN quá còn may mắn có những bồ tát chịu khó  reincarnated độ đời  và tôi cũng biết thế nào là cái cảnh..” phàm thánh đồng cư ”  hay  nghe trong kinh ….
nguyện đem công đức viết thơ nầy hồi hướng về cho bs trường thọ , an vui tự tại trong hạnh nguyện dìu dắt tha nhân từ bóng tối ra ánh sáng.

Cuối đông

Kính thư
Tâm Danh

………………………………………………………………………………………………………….

 

Ngọc Đỗ
13.03.2019
2:47 PM (0 minutes ago)

Thân gởi Cô Tâm Danh

Tôi là Đỗ Hồng Ngọc đây. Tôi vừa đi Nepal thăm Lumbini – nơi Đức Phật đản sanh- về trưa hôm qua thì tối đã nhận được email này của cô Tâm Danh. Tôi rất vui và cảm động, có người đồng nghiệp ở nơi xa xôi mà gần gũi.

Tính về tuổi đời, thì tôi có lẽ hơn Cô một con giáp (?). Tôi sinh 1940. Vậy coi như anh em trong nhà thôi.

Tôi làm ở ICU bệnh viện Nhi đồng Saigon hơn 15 năm. Sau về làm Health Education-Promotion, giờ thì già, nghỉ việc.

Hiện có trang web www.dohongngoc.com của tôi, lúc nào cô rảnh rỗi vào coi cho vui.

Tôi cũng chỉ học Phật lõm bõm thôi. Có dịp trao đổi với Cô cũng rất hay vậy.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

………………………………………………………………………………………..

Fri, Mar 15, 12:10 AM
Bác sỉ Đỗ Hồng Ngọc kính mến,
Nhận được hồi âm của bs làm tôi thấy có một niềm vui dâng lên trong lòng. bs rất là từ bi , tuy mới đi hành hương về , giờ giấc chưa lấy lại thăng bằng vậy mà chịu khó viết ngay lại cho tôi.  Cám ơn bs nhiều lắm. BS đi thăm Lumbini có vui ( và mệt ) không vậy ? Ở cái tuổi 79 mà còn đầy đủ sức khoẻ  leo lên máy và  hội  đủ nhân duyên phúc đức đi về thăm  xứ Phật như vậy quả là bất khả bàn. Thấy  bs như vậy tôi đây phát nguyện cho chính cá nhân tôi và tất cả mọi người đều được  cái phước đằng vân chu du pháp hỷ an nhiên tự tại ở cái tuổi golden age như bs vậy .
Đúng như bs đoán  là bs hơn tôi 1 con giáp, tôi sanh 1952. Khi bs được 12t thì tôi mới tà tà ” đăng ký”  hội nhập cỏi human realm , vậy tôi tự hỏi trong vòng 12 năm đó  hay trước đó đó nửa thì tôi là ai ?  ở đâu ? và làm cái gì ?! Thắc mắc cho vui vậy thôi chứ cái đó không mấy quan trọng  với tôi lắm đâu vì dầu cho có biết được tôi là Ai trong quá khứ thì cũng không make được gì difference cho cái TÔI  hiện tại nầy, chỉ có cái …” tui ” trong present moment nầy, giờ phút nầy, trong cái physical body nầy mới đáng cần đáng chú ý và cần take good care nó mà thôi….
Hôm nay tôi có một chuyện rất interesting muốn share với bs: tôi không có coi youtube xưa nay (nhất là youtube nói tiếng VN) , tôi  RẤT YÊU thích đọc sách ( tiếng Anh). Sách vở là người bạn dể thương nhất.  ngoài ra tôi thich trồng hoa làm vườn, nó rất là relaxing and very zen ! cứ nhìn một bông hoa nở  rồi tàn ra từ một cái hột nhỏ xíu hay mùa xuân thấy hoa trổ ra từ cái củ nằm trong lòng đất nhiều năm làm cho tôi nghỉ đến quá trình sanh trụ dị diệt  hay sanh lảo bịnh tử mà mình thường nghe nói …..Tôi không coi phim bộ lê thê tình cảm như các người VN, tôi không nghe hay coi TV hay đài VN … ( nghe tới đây chắc bs lắc đầu chắc lưởi nói sao con nhỏ nầy nó ….mất gốc dữ vậy cà?) Tóm lại cuộc sống của tôi rất simple. Chổ tôi ở rất ít người VN …đi làm thì tiếp xúc với người Mỹ cho nên tiếng VN của tôi nó lung tung và bỏ dấu hỏi ngã sai be bét….
Tôi không có vô youtube nghe các thầy cô VN giảng vì tôi không hiểu các danh từ đặc sệt phiên âm từ tiếng phạn hay tiếng Tàu rất lạ ….., nghe rất là lùng bùng lổ tai  và cao xa bí mật  quá…., ngoài ra tôi củng không thấy nói là các giáo lý đó được đem ra áp dụng vào đời sống (daily life) như thế nào ? HOW?
Nghe bác sỉ nói :” có người đồng nghiệp ở nơi xa xôi mà gần gủi” làm cho tôi cám ơn sự rộng lượng cùa bs. Tôi chỉ là  hậu sanh , đáng hàng em út ….Về mặt thế gian pháp thì tôi và bs rất khác nhau: tuổi tác, kinh nghiệm, tài năng….( bác sỉ, thi sỉ, hoạ sỉ …) còn tôi đây biểu vẻ cái vòng tròn cũng …không được tròn cho mấy !!! Ngoài ra chưa kể nơi ” trụ xứ & y báo” của bs thì nó hoàn toàn khác biệt….On the scale from 1 to 10 thì bs ở mức 8, còn tôi thì chừng 3 là cùng …nhưng nhờ bs rất compassionate dơ tay cuối xuống nên tôi được encouraged  thoài mái viết thư cho bs mà không…” sợ”  hay bị mấy cái  ” multiple  Sỉ “… kia nó intimidate. Lần đầu nhìn bs nói ở chùa HP, tôi thấy bs là một người có thực chất an lạc hài hoà, rất humble và cũng có tánh rất là humorous. sau khi nghe hết buổi nói chuyện đó tôi có thể nói bs đã digest được những gì bs tìm học trong Phật pháp. Đa số biết rất nhiều về Phất pháp nhưng kẹt ở trong bình diện intelligence chứ không áp dụng hay pracice vào đời sống …( hay không biết áp dụng như thế nào ?!)… và đó là một hiện tượng gọi là…là…undigested dharma  hay là dharma bị….hiccup !  :-))
về phương diện spirituality thì tôi đây xin được xếp hàng lấy thẻ làm ….” đồng NGHIỆP”  ( same karma)  với  bs vì sự suy tư của tôi về đời và ĐẠO rất giống bs. Vì tôi luôn tự hỏi HOW? hay WHY?  ect….ect…..
xưa nay tôi không thấy có ai mấy quan tâm hay suy tư về đạo phật như tôi nên tôi rất là … “độc hành độc bộ ”  lang thang trong cái path nầy , cho đến cái ngày ….” nghiệp mòn phước  tăng”  ? thì đùng 1 cái …..chủng tử “bs Đỗ Hồng Ngọc”   trong Alaya thức hiện hành lên trên bình diện tâm thức của tôi !  WOW! WOW! như vậy là tôi được…” giải oan”. Tôi mừng ….” hết  già ” luôn . 🙂
Khi nghe bs kể lại kinh nghiệm sau khi ca mổ craniotomy để removed hematoma…, bs nằm trong phòng nhà thương nhìn ra cửa sổ thấy cái gì CŨNG KHÁC, CŨNG ĐẸP lạ lùng như chưa từng thấy bao giờ… sau đó tuộc xuống giường đi được thì thấy đó là MIRACLE…., nhìn cái đầu troc trong gương cũng thấy bs ….ĐẸP TRAI  quá xá , VUI quá xá…..và sau đó cái life của bs làm 1 phùa U TURN quay lại và turn on cái GPS đời mình .
Lúc nghe như vậy tôi ” khoái chí” mĩm cười nói bs ĐHN là “loai ngựa thứ nhất” mà trong kinh thường đưa ra làm ví dụ đây! Mới bị ông chủ “suffering” liếc nhẹ qua 1 cái là tự biết mình phải làm gì rồi chứ không phải như hàng ngựa thứ ba phải đợi  karma nó quất cho chảy máu rách da  thì mới bắt đầu nhất chân cất bước !
Tôi vô cùng thán phục và kính quý bs  rất lợi căn & phước báu .

Bác sỉ đã dùng chính những khó khăn trở ngại của đời bs làm cái ( spiritual )  PATH. bs đã taking the unfavorable circumstances như illness, loss và used it as a spiritual path , the path to nirvana, to pure land, to the great awakening… nhờ following that path mà ngày nay bs đã tìm được happiness – not from outside, but from inside !
Tóm lại, tôi là người ít dùng hay search internet… nay tôi quá ngạc nhiên tôi lại “chun vô youtube” một cách ngon lành ! Bs ít nhiều đã change cuộc sống trầm lặng boring của tôi!

Thưa bs, thơ quá dài và tôi nói lung tung len ten quá… nhưng không dùng ngôn từ thì làm sao bs biết được tôi nghỉ gì bên kia bờ Thái bình dương?
cuối thơ tôi chỉ biết chấp tay cám ơn tam bảo, đất trời đã bơm pure oxygen vào tâm tôi, đã truyền new blood vào tim tôi . Tôi chỉ biết mỉm cưởi bắc chước ngài Huệ Năng thốt lên 5 lần câu ĐÂU NGỜ…&  ĐÂU NGỜ….để kết thúc lá thơ nầy.
chúc bs mau lấy lại giờ giấc & sức khoẻ sau chuyến hành hương.

Thân kính
Tâm Danh

PS: cám ơn bs cho biết cái web, tôi có vào xem rất là hay

…………………………………………………………………………………..

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Nghĩ từ trái tim, Thư đi tin lại, Vài đoạn hồi ký

Đọc “Về thu xếp lại…” của Đỗ Hồng Ngọc

04/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Đọc “Về thu xếp lại…” của Đỗ Hồng Ngọc

Nguyên Giác

 

(ảnh: kinhtethoidai)

Cảm giác đầu tiên khi đọc tác phẩm mới này của Đỗ Hồng Ngọc, có thể thấy rằng đây là những dòng chữ từ một người sắp ra đi… Chẳng phải sao, ngay trên tựa sách đã ghi là “Về thu xếp lại…” (VTXL).

Đúng là trong các tản văn có nói về tuổi già, về bệnh, về những người bạn đã ra đi – trong đó, ngay ở Lời Ngỏ là ghi lại hình ảnh tới thăm người bạn thân, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tại phòng Săn sóc đặc biệt Bệnh viện Chợ Rẫy.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc, một bác sĩ về hưu và đang giữ thói quen Thiền tập hàng ngày, tự ghi lại hình ảnh của mình, trích:

“…Thấy những bạn trẻ… trên dưới bảy mươi mà “gato”! Mới vài năm thôi mà mọi thứ đảo ngược cả rồi. Bây giờ có vẻ như tôi đang lùi dần về lại tuổi ấu thơ, tuổi chập chững, tuổi nằm nôi…” (Lời Ngỏ, VTXL)

Cần ghi nhận rằng chữ “gato” trong đoạn trên là tiếng lóng trong nước, có nghĩa “ghen ăn tức ở” dùng trong giới trẻ. Như thế, hình ảnh tuổi già dưới mắt ĐHN rất mực độc đáo: phải cao niên tới một tuổi nào đó, mới thấy mình như tuổi ấu thơ (vì trí nhớ lãng đãng rồi), thấy mình ở tuổi chập chững (vì đi lụm khụm rồi), thấy mình như tuổi nằm nôi (vì phần nhiều là nằm bệnh)…

Tuy nhiên, giọng văn không hề bi quan tí nào. Từng trang sách là những dòng chữ rất mực yêu thương trần gian này. Ông nói về già và bệnh, đồng thời đưa ra kinh nghiệm lạc quan của bản thân về Thiền tập, về quán niệm hơi thở, vể trải nghiệm những dòng chảy thời gian trên cơ thể, trên trí nhớ…

Đỗ Hồng Ngọc nói về khổ đau, nhưng chỉ xem như là chuyện hoa nở hoa tàn, như ở Chương cuối trong VTXL: “…tại vì có cái ta mà phát sanh phiền não, khổ đau. Pháp vận hành theo pháp, chẳng vì ta. Chẳng vì ta mà hoa nở hoa tàn. Nếu không can thiệp thì nó vậy là nó vậy. Sự phân biệt chính là can thiệp, dính mắc.”

Đỗ Hồng Ngọc nói về cái chết, nhưng chỉ xem như một quà tặng từ cõi trần gian, trong cùng chương vừa dẫn: “Thuốc đã sẵn có. Phật giáo nhìn cái chết là sự vận hành của pháp. Chết là sự chấm dứt tạm thời của một hiện tượng tạm thời, cái sống. Cho nên chết không phải là hết. Cái sống, một hiện tượng tạm thời và vận động không ngừng, vô thường thú vị, một bonus, nên cái chết cũng là vô thường, một bonus khác.”

Không phải là mượn lời của ai, hay dẫn lại từ sách, mà tất cả là từ kinh nghiệm của nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, cùng chương vừa dẫn: “Không phải là lý thuyết suông, mà là sự thực nghiệm, thể nghiệm ngay trên bản thân mình.  Hãy đến và nếm thử. Mô tả không được!”

Không phải nếm thử cái chết, tuy rằng Đức Phật có dạy pháp niệm tử. Nơi đây, nhà văn họ Đỗ nói rằng những thể nghiệm trong cõi trần gian tuyệt vời đó là từ bản thân ông khi sống với Kinh Phật, trích cùng chương vừa dẫn:

“Mà thấy Pháp tức là thấy Phật. Pháp nó tự vận hành. Không có người vận hành. Không có ta. Cho nên Phật dạy cách khác đơn giản hơn: Cái thấy chỉ là cái thấy. Cái nghe chỉ là cái nghe. Chỉ vậy. Khi có cái “ta” xen vào: Ta thấy, ta nghe… thì đã sinh sự. Có ta hay không có ta thì pháp nó cũng cứ vận hành như vậy. Nhưng bằng cách nào để sống được “cái thấy chỉ là cái thấy”? Vì ta không phải là gỗ đá, vô tri. Vấn đề chỉ ở chỗ không dính mắc. Cô hoa hậu xinh đẹp thì thấy là xinh đẹp, nhưng dính vào thì tiêu!”

Chỉ trong vòng mấy câu trên, chưa hết một đoạn văn, Đỗ Hồng Ngọc đã ghi lại “sự thực nghiệm, thể nghiệm ngay trên bản thân mình.  Hãy đến và nếm thử” một số bản kinh nhà Phật.

“Thấy Pháp tức là thấy Phật” là từ Kinh Tương Ưng SN 22.87, khi Đức Phật thăm ngài Vakkali đang bệnh, và nói: “Vakkali, hễ ai thấy Pháp là thấy ta; ai thấy ta là thấy Pháp.”

“Pháp nó tự vận hành. Không có người vận hành. Không có ta” là từ Luật duyên khởi, không hề có cái gì gọi là ta hay người. Trong Kinh Trung Bộ MN 115, Đức Phật nói: “Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt…” Không hề có bất kỳ ai vận hành, và cũng chẳng có cái ta nào.

Đỗ Hồng Ngọc lại tiếp rằng lời Phật dạy hãy giữ cái thấy nghe chỉ là cái thấy nghe… chính là từ Kinh Bahiya.

Họ Đỗ lại thêm rằng chỉ là ở chỗ không dính mắc… câu này là từ Kinh Kim Cương và rất nhiều kinh khác.

Đỗ Hồng Ngọc dẫn ra cội nguồn khổ là từ tham ái bằng hình ảnh cô hoa hậu xinh đẹp… cũng từ rất nhiều kinh.

Tuyệt vời cho nhà văn Đỗ Hồng Ngọc và cho bất kỳ ai đã có thể sống được như ông, khi đã “thể nghiệm ngay trên bản thân mình” những bản kinh Phật như thế.

Nhưng không khô khan hay trịnh trọng chút nào. Văn của Đỗ Hồng Ngọc không hề khô khan như các lớp toán hay vật lý chúng ta đã trải qua.

Trước tiên là cách đặt nhan đề, sách và chương sách – tất cả đều từ ngôn ngữ thơ mộng của Trịnh Công Sơn, người bạn thân của tác giả. Nhưng chính cách kể chuyện của Đỗ Hồng Ngọc mới là độc đáo, tuyệt vời, luôn luôn gây giựt mình cho độc giả.

Thí dụ, tuổi đẹp nhất của đời người? Như dường là hầu hết mọi người đều đoán sai… vì câu trả lời của Đỗ Hồng Ngọc là tuổi 65-75:

“Tôi nay ở tuổi 80. Thực lòng… đang tiếc mãi tuổi 75… Cái tuổi đẹp nhất của đời người theo tôi có lẽ ở vào lứa 65-75. Đó là lứa tuổi tuyệt vời nhất, sôi nổi nhất, hào hứng nhất… Tuổi vừa đủ chín tới, có thể rửa tay gác kiếm, tuyệt tích giang hồ…” (Lời ngỏ)

Tuổi 75 đẹp nhất? Bạn nhiều phần là sẽ đồng ý với tác giả Đỗ Hồng Ngọc, nếu bạn đọc xong tuyển tập tản văn này.

Đọc văn Đỗ Hồng Ngọc cũng cần có thái độ rất bình tỉnh… bởi vì khi kể về già và chết, ông đã gọi đó là diễn biến tuyệt vời. Như ông viết ở Chương Cát bụi tuyệt vời, trích:

“Có sinh ắt có tử, có tử ắt có sinh. Hơi vào có hơi ra và ngược lại. Cho nên người đạt đạo họ tỉnh queo, nôm na là họ… giác ngộ. Họ chẳng cần phải bối rối. Họ biết nó phải vậy. Như Thị.

Chu trình “khép kín” đó bắt đầu tăng tốc ở lứa 65-75 tuổi. Tăng tốc khô héo, tăng tốc nhăn nheo. Sự  tăng tốc của lứa tuổi này cũng làm ta há hốc, muốn kêu lên kinh ngạc… như ở tuổi dậy thì, tuổi mới lớn. Cái vòng đời nó diễn biến tuyệt vời đến vậy, liên tục đổi thay đến vậy thì có gì đáng phàn nàn đâu! Nhiều bạn cùng lứa than với tôi sao thế này sao thế khác, tôi thường chỉ nói “Ai biểu già chi?” rồi cười xòa với nhau mà không khỏi có chút … ngậm ngùi.”

Dĩ nhiên, Đỗ Hồng Ngọc khác rất nhiều với người đời thường (như tôi, chẳng hạn, một nhà văn không biết gì về y khoa). Đỗ Hồng Ngọc kể về thời sinh viên, chuyện xương người với đầu lâu là những thứ phải học kỹ, phải nhớ tên gọi và chức năng của từng hốc xương, khớp xương… Nhưng chuyện tu học thì, hiển nhiên là ai cũng có thể cảm nhận được những ghi nhận của họ Đỗ về Kinh Phật. Khi ông kể về trải nghiệm ngay trên cơ thể của ông.

Trong Chương Tôi chợt nhìn ra tôi của sách VTXL, tác giả kể về “tôi thấy tôi” – tức là thấy cái vô ngã, cái vô thường, và do vậy là cái thật tướng vô tướng, trích:

“…không phải bất ngờ vì tôi thấy tôi. Mà bất ngờ vì tôi chợt “nhìn ra” tôi. “Nhìn ra” khác với thấy. Nhìn ra là “quán”.  Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã chiếu kiến ngũ uẩn giai không… . Quán là thấy rõ (chiếu kiến). Tôi bấy giờ không còn là tôi bây giờ. Tôi bấy giờ là tứ đại, là ngũ uẩn. Và nếu quán một cách sâu sắc hơn, có thể thảng thốt kêu lên: “Bổn lai vô nhất vật”! (Lục tổ Huệ Năng)…

Có lần Phật hỏi Duy-ma-cật: Ông quán Như Lai thế nào? Duy-ma-cật đáp: Thì như quán pháp thân của Phật và của chính tôi thôi. Có gì khác nhau đâu!

Nhìn thì có thể thấy khác. Bởi nhìn thì qua mắt, nhãn căn. Quán thì không nhìn bằng mắt. Mà nhìn bằng cả năm thứ con mắt (ngũ nhãn) gồm nhục nhãn (mắt thịt), thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn.  Thú vị, khi quán thì cả Như Lai, Phật và Tôi… đều là một, không khác. Đó là đã thấy pháp thân, thật tướng vô tướng.”

Đỗ Hồng Ngọc còn dùng những hình ảnh để độc giả dễ hình dung xem thật tướng vô tướng đã héo đi thế nào, trích:

“…Trước hết tôi bây giờ già hơn tôi xưa, già thấy rõ, già tốc hành chớ không phải già lai rai như trước.

Nhiều hôm nhìn vào gương soi, tôi thấy mình như một quả táo để lâu ngày, héo dần, teo tóp, nhăn nheo. Nhưng có cái gì đó như cứng cỏi hơn, tuy quắt queo mà chỉ bay hơi nước, bay cái láng mượt, nuột nà của quả táo căng phồng, ngây thơ, tràn đầy thuở nào. Bây giờ thì co cụm lại, co rúm lại, gom tụ lại vào trong cái hột, cái lõi.”

Hình ảnh đi từ trừu tượng “cái tôi trong thật tướng vô tướng” trở về cái trước mắt, cái trên bàn của “cái tôi như quả táo héo mòn, nhăn nheo”… hình như chưa từng có nhà văn nào viết như thế. Nhưng đó cũng chính là sự thật của cõi này, khi Đức Phật tuyên thuyết về tứ diệu đế.

Trong khi phần lớn đều lo sợ già, lo sợ nhăn nheo, Đỗ Hồng Ngọc gọi đó là diễn biến tuyệt vời, và ông quan sát hàng ngày với thái độ xem chuyện lão hóa là “cũng dễ thương quá”… Họ Đỗ viết trong chương vừa dẫn:

“…Rồi đến cái tuổi gió heo may, dìu dịu, nhạt nhòa nhưng vẫn là tuổi năng nổ, hoạt động mạnh mẽ và hiệu quả nhất để rồi chuyển sang tuổi già, tạm coi là sau tuổi 65, một chu trình “khép kín” đã lại bắt đầu: tăng tốc khô héo, tăng tốc nhăn nheo, tăng tốc ngược chiều đủ làm hết hồn, làm há hốc, muốn kêu lên kinh ngạc…

Nó diễn biến tuyệt vời đến vậy, liên tục đổi thay đến vậy thì có gì đáng phàn nàn đâu, có gì mà không thể tủm tỉm cười một mình đâu. Cho nên nếu tôi có gì khác tôi xưa thì chính ở chỗ tôi có phần… khoái cái sự già nua tăng tốc đó của mình, tôi hồi hộp dõi theo nó, tôi cảm thấy nó…hợp lý, nói chung là… cũng dễ thương quá đó chớ!

Ở tuổi 70 chưa thấy già đâu. Thậm chí đến 72, 73 vẫn còn thấy trẻ chán.” (ngưng trích)

Đỗ Hồng Ngọc kể chuyện đời thường của ông, qua đó cho thấy ông quán sát thân tâm liên tục, xem các diễn biến như xem hoa bay gió thổi, không hề khởi tâm kinh hãi với vô thường, trích cùng chương dẫn trên:

“…Nhiều khi, sáng dậy, nhìn vào gương soi tôi lại thấy tức cười. Tôi đó sao? Nhăn dần từng nét ngộ nghĩnh trên mắt trên da. Đôi khi muốn lấy viết vẽ nguệch ngoặc gương mặt thay đổi từng ngày của mình, từng ngày nhưng rất nhanh, thấy rõ chứ không như ngày xưa, nhiều năm mới nhận ra nét đổi thay. Tôi tức cười nhìn mình. Nó nhìn tôi cũng cười. Ngộ nghĩnh. Cười mà ráng. Không ráng thì nó trĩu nặng. Mấy tế bào của cơ mặt hình như sinh tật làm biếng, xệ xuống cho khỏe…

…Ghi tiếp “Nhật ký rời”: Chỉ còn mấy ngày nữa, đã đầy tám chục (tuổi ta). Phải nhanh chóng ghi lại vài điều kẻo quên.Thứ nhất, ở tuổi này tôi thấy tay mình ngày càng run. Làm cái gì mà cẩn thận thì đổ vỡ. Làm cái gì không tính trước thì được. Tùy cơ ưng biến thì tốt. Tay run đến nỗi viết cũng khó mà vẽ chơi cũng khó. Tôi phải vẽ kiểu “tốc họa”, vẽ như chớp, theo một cảm xúc bất chợt, không toan tính thì tốt. Ai bắt chước được cái run?” (ngưng trích)

Trong khi tác giả Đỗ Hồng Ngọc viết để kể về những trải nghiệm riêng, độc giả hiển nhiên là không mong đợi những chuyện ly kỳ như phim 007 hay truyện Z 28. Tất cả lời kể trong VTXL chỉ là những chi tiết đời thường, dưới mắt quan sát của người có thói quen thiền tập như Đỗ Hồng Ngọc đều đột nhiên trở thành đáng chú ý.

Thí dụ, tác giả Đỗ Hồng Ngọc kể về chuyện ngủ, chuyện thức dậy, chuyện ghi trên giấy từ đêm trước về những gì cần làm, chuyện xem trận banh, chuyện đọc tin trên báo chỉ cần liế qua cái tựa… nghĩa là chuyện đời thường soi rọi dưới mắt ông. Phải chăng đó là từ thói quen quán sát thân tâm?

Hay là khi tác giả tự soi gương, nhận ra tóc bạc, da nhăn… rồi chuyện ngồi thiền, quán niệm hơi thở, rồi niệm từ bi, niệm hỷ xả… rồi tự pha ly cà phê, rồi ngồi vào máy tính.

Cứ tà tà kể chuyện như thế, cuốn sách cũng hoàn tất. Tuy là chuyện đời thường, là chuyện của người già, nhưng thực sự không đời thường tí nào, cũng không già cỗi tí nào. Vì nơi đây, từng khoảnh khắc được  quan sát và kể lại, đã hiển lộ lên một thế giới rất mực lạc quan. Nói về già nhưng vẫn là thơ mộng rất mực, như đùa như giỡn… Nói về cái chết nhưng vẫn dịu dàng như nói với người bạn thân sắp gặp lại.

Như cách Đỗ Hồng Ngọc viết về bệnh:

“…Nhưng bệnh cũng có cái hay của nó chứ. Nó làm cho ta nhớ lại mình. Đã đành biết bệnh tật gắn vào mình từ trong trứng nước, thậm chí trước đó nữa, ở nơi ông bà cha mẹ mình từ ngàn xưa qua các gene di truyền nhiều thế hệ, nhưng cứ mỗi lần bệnh tật, với tôi, trở thành một cái giật mình. Mà cũng lạ, đường đường là một người thầy thuốc, học hành đàng hoàng, ra trường hơn nửa thế kỷ, nghề nghiệp chín chắn, nổi tiếng là người thầy thuốc “mát tay”, luôn quan tâm chăm lo giúp đỡ cho người khác khi có ai nhờ đến, cả bệnh thân lẫn bệnh tâm, vậy mà, với mình, tôi quên tôi tuốt. May thay, nhờ có bệnh nhắc. Mà không phải là bệnh nhẹ. Bệnh nhẹ không đủ nhắc tôi đâu…”

Hay như khi Đỗ Hồng Ngọc viết về cái chết, về cách luôn nhớ về cái chết:

“…Có cách nào để người ta luôn nhớ đến cái chết để được sống hạnh phúc hơn không?

Có đó. Cứ ngồi yên đó. Lăng nghe hơi thở của mình. Thở vào… thở ra. Một hơi thở là một cuộc sống. Thở ra rồi thở vào. Lại một cuộc sống mới. Thì ra…. sống và chết là một chu kỳ hình sin. Cái gọi là sống, cái gọi là chết. Gọi vậy thôi chớ không phải vậy. Có thể đảo ngược lại. Nhìn kỹ thì thấy cái chết mới là cái sống. Thở vào như sóng. Thở ra như nước. Sóng là nước. Nước là sóng. Tùy duyên. Bày đặt vui thôi mà!”

Trong tuyển tập VTXL, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc còn viết nhiều về ăn, ăn mặn hay ăn chay, về thỉnh thoảng nấu ăn, về bốn loại thức ăn theo quan điểm nhà Phật, về thuốc đông tây nam bắc, về thời đi học mỗi sáng ăn xôi, về dạo cảnh chùa, về những buổi đi uống cà phê cùng bạn, về những người bạn vắng dần, về Internet mang theo nước mắt nụ cười…

Nói về đời thường, và rồi nói về mật nghĩa cõi này. Tới những đoạn văn như thế, chúng ta tự nhiên đọc chậm lại, và có thể phải đọc đi đọc lại rất nhiều lần, vì văn nơi đây nghe như thơ, như kệ, như nhạc, như thần chú, như mật nghĩa của pháp.

Thí dụ, như đoạn văn sau, khi Đỗ Hồng Ngọc viết:

“Phật có đến có đi. Có từ bi có hỷ xả. Có nói năng có im lặng. Có thể dùng âm thanh dùng ánh sáng dùng chuông mõ, tiếng tụng niệm mà thấy Phật. Nhưng Như Lai thì không. Không thể dùng âm thanh, ánh sáng mà thấy Như Lai. Kinh nói Như Lai thọ lượng mà không nói Phật thọ lượng vì Phật thọ lượng chỉ có hơn 80 năm! Kinh nói Như Lai thần lực mà không nói Phật thần lực vì Phật chẳng ưa chuyện thần thông. Kinh nói vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai mà không nói vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi tòa Phật… Cho nên, Phật là Như Lai, mà Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai. Nó vậy đó…”

Đọc thấy Đỗ Hồng Ngọc viết chữ “vậy  đó” rất mực dịu dàng, nhưng từng chữ một vẫn nặng rất mực, kiên cố rất mực.

Trong sách, chúng ta đọc thấy Đỗ Hồng Ngọc còn viết nhiều nữa, như về Trần Nhân Tông, về Tuệ Trung Thượng Sĩ… Tác phẩm “Về thu xếp lại..” của Đỗ Hồng Ngọc không chỉ để đọc một lần. Sách này có thể nên đưa vào túi xách, nên mang theo bên người để thỉnh thoảng đọc lại. Để không sợ già, không sợ chết, để biết cách đùa giỡn với bệnh, và cũng để biết cách Thiền tập trong những cách tự quan sát thân tâm mình không rời.

Tuy rằng Đỗ Hồng Ngọc có cẩn trọng ghi rằng sách này là “góp nhặt từ những trang nhật kỳ rời, từ những ghi chép lang thang không ngày tháng, rải rác nơi nọ nơi kia… Rất riêng tư, và rất chủ quan…” nhưng các chuyện kể trong sách cũng là chung cho mọi phận người, nơi những dòng chữ của ông có thể giúp độc giả sống bình an giữa những bất an cõi này, sống yêu thương giữa những hoang mang cõi này.

Có thể tin rằng tác phẩm “Về thu xếp lại..” sẽ có một vị trí độc đáo trong văn học Việt Nam, và cũng rất đặc biệt sẽ là một cẩm nang sống cho nhiều người học Phật tương lai.

 

(Nguyên Giác Phan Tấn Hải. April 4, 2019)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Trở về với ta: đọc “Về thu xếp lại…” của ĐHN

04/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc sách “Về thu xếp lại…” của Đỗ Hồng Ngọc:

Trở về với ta

Vũ Trung Kiên

 

Rất nhiều độc giả hẳn không xa lạ tác giả Đỗ Hồng Ngọc; bởi tác giả không chỉ là vị bác sĩ tài năng đã viết nhiều cuốn sách về chăm sóc, phòng bệnh, nhất là cho trẻ em mà còn là tác giả của nhiều cuốn sách dành cho tuổi xế chiều. “Về thu xếp lại…” là một trong những cuốn sách thuộc thể loại này, tức sách viết vì người già và cho người già. Đây có thể xem là những chỉ dẫn thu xếp hành trang cho chuyến đi cuối cùng suôn sẻ.

Chúng ta từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Đã đến đây chắc hẳn ta phải từ một nơi nào đó tới, đã đến, chắc chắn phải đi. Chỉ có điều, từ đâu đến và sẽ đi đâu thì ta không thể biết. Có đó, rồi cũng không đó, không đó, mà cũng có đó. Chẳng vậy mà Đạo Hạnh Thiền sư đã cảm tác: “Có thì có tự mảy may/ Không thì cả thế gian này cũng không/ Kìa xem bóng nguyệt lòng sông/ Ai hay không có, có không là gì ?” (Bản dịch của Huyền Quang tam tổ). Nếu không có CÓ, làm sao biết có KHÔNG. Không có KHÔNG, làm sao biết có CÓ. Có lẽ vì vậy mà những ca từ của nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã vang lên, mở đầu cho câu chuyện đầu tiên của cuốn sách có tựa đề Cát bụi tuyệt vời: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ Để một mai vươn hình hài đứng dậy? Ôi cát bụi tuyệt vời/ Mặt trời soi một kiếp rong chơi”. Nếu như trong những cuốn sách của tác giả trước đó như: Gió heo may đã về, Già ơi… chào bạn! Già sao cho sướng?…là những lời khuyên để sống sao cho “ngon” khi gió heo may đã về; thì với Về thu xếp lại, không chỉ nói về việc sống sao cho tốt khi về già mà còn phải chuẩn bị hành trang cho chuyến đi cuối cùng và mãi mãi. Đó cũng chính là nội dung cốt lõi của cuốn sách này: “Có sinh ắt có tử, có tử ắt có sinh. Hơi vào có hơi ra và ngược lại. Cho nên người đạt đạo họ tỉnh queo, nôm na là họ …giác ngộ. Họ chẳng cần phải bối rối. Họ biết nó phải vậy. Như thị”.

Cuốn sách bao gồm 10 câu chuyện nhỏ, mỗi câu chuyện đều chứa đựng trong đó những triết lý cao thâm. Để đọc cuốn sách này, độc giả phải là người từng trải – mà cũng phải thôi, sách viết cho người già, chứ đâu có giành cho người trẻ. Nói vậy, không có nghĩa người trẻ không cần đọc. Đọc mỗi câu chuyện trong cuốn sách này, mỗi người bỗng nhận ra ta, thấy ta gần gũi: Như thị chứ chẳng đâu xa lạ. Đọc rồi, mới ồ lên, giá mà như Lục tổ Huệ Năng: “Không ngờ…, Không ngờ…!”, bởi thấy được bên trong, phát hiện ra những điều thú vị vốn rất gần gũi hàng ngày nhưng bởi tâm ta luôn bận rộn nên nhìn không ra. Đọc rồi, ta sẽ thấy “hình như ngó vào bên trong nhiều hơn ngó ra bên ngoài”. Đọc rồi, để chợt nhận ra lâu nay vốn “hoang phí năng lượng vào những chuyện không đâu, cho nên cơ thể căng cứng, rã rời”. Đọc rồi, để bỗng phát hiện ra “chẳng ai có thể thở giùm được ai đâu. Chẳng ai có thể “thiền” giùm ai được. Cho nên phải quay về nương tựa chính mình “một mình tôi đi, một mình tôi về…với tôi mà thôi”. Nói như lời mở đầu của cuốn sách thì đây là những dòng viết “Rất riêng tư, rất chủ quan”. Ngay trong những dòng mở đầu, tác giả đã rào đón cẩn trọng: “Những dòng viết này góp nhặt từ những trang nhật ký rời, từ những ghi chép lang thang không ngày tháng, rải rác nơi nọ, nơi kia, chỉ để sẻ chia cùng bè bạn thân thiết, những bè bạn cùng trang lứa, cùng tâm trạng”. Thế nhưng, sẽ thật là may mắn cho những ai đọc được cuốn sách này.

Độc giả sẽ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác khi đọc cuốn sách này: Có lúc tâm ta đắm chìm trong thâm trầm, suy tưởng; có lúc bật lên cười khúc khích như vừa phát hiện ra…chính mình mà lâu nay mình không chịu nhìn nhận…nó. Hỏi hay không? Hay! Hay sao nói coi? Không nói được! Có những cái hay nằm ngoài khả năng biểu đạt của ngôn ngữ. “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn làm chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị” (Nguyễn Hiến Lê, 1972). Hãy đọc cuốn sách này bằng cái tâm an của một người từng trải để lắng nghe tiếng thì thầm của tâm ta tìm về mách bảo. “Thưa rằng: nói nữa là sai/ Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào” (Bùi Giáng). Đọc Về thu xếp lại để bắt gặp mùa xuân và sống với một mùa xuân vĩnh cửu.

(Vũ Trung Kiên)

Nguồn: http://laodongdongnai.vn/Van-hoa/Tu-sach-phim/0B8084/doc-sach-ve-thu-xep-lai-cua-do-hong-ngoc-tro-ve-voi-ta.aspx

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Mậu Pháp: CẢM NHẬN  “VỀ THU XẾP LẠI…”

03/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

CẢM NHẬN  “VỀ THU XẾP LẠI…”

Nguyễn Mậu Pháp

(Trường THPT Lang Biang, Lạc Dương, Đà Lạt)

 

Đời người là một cuộc hành trình. Tuổi thơ với những ước mơ cao đẹp lung linh, đến tuổi trung niên với những mong ước vẹn tròn cho cuộc mưu sinh, lúc về già lại mong một sự an bình. Và cuối cùng tất cả đều lắng lòng để tìm về chính mình.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc người đã từng viết “Gió heo may đã về”, ở tuổi 55, đến tuổi 60 thì viết “Già ơi… chào bạn!” bước sang tuổi 75  thì viết “Già sao cho sướng?…” Nhưng 80 tuổi thì thôi vậy. Thôi, nhưng lại không thôi… đã đến lúc phải “VỀ THU XẾP LẠI…”.

Về thu xếp lại! Một tiêu đề khá lạ lùng nhưng chứa đựng cái muôn trùng của lòng người của đất trời. Như mùa thu gom lá thu vàng để cỏ cây chuyển sang một cuộc hồi sinh mới. Và con người cũng thế, đến cái tuổi mà con người nên thu gom cái khối phân thân về một mối. Ta lại tìm ta. “Ta là ai mà yêu quá đời này!”. Và ta là ta của ngàn đời vĩnh cửu. Khổ, tập, diệt, đạo; nào: mạng, định, tư duy, tinh tiến, nghiệp, niệm, chánh kiến, ngữ ngôn của tám vạn bốn ngàn pháp môn cuối cùng gom chung về làm một.

Tản văn “Về thu xếp lại…” của Đỗ Hồng Ngọc do Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. Với trang bìa là tranh của họa sĩ Lê Ký Thương,  do Linh Vũ trình bày. Giữa họa sĩ và tác giả như đã có sự đồng cảm sâu sắc. Một vầng trăng giữa mênh mông, một con người đang phiêu bồng quẳng gánh lo đi và quảy gánh hồi hương.

Xếp lại mà không xếp. Như mở ra một bầu trời bao la tĩnh lặng!

Chút tản mạn, về y học, về cuộc sống về tâm thức được tác giả gói gọn 162 trang lọt lòng  và 10 nội dung cũng là chủ kiến của tác giả.

Trong một số nội dung tác giả mượn những câu thơ, nhạc từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, mượn không phải là để giảng giải mà mượn để dẫn lối cho những suy nghĩ của chính mình. Hình như giữa tác giả và nhạc sĩ có mối tương liên sâu sắc của một tấm lòng tri cảm thiết tha. Cái gợi mở thật độc đáo và sâu sắc. Mở đầu tác giả nói về chu trình khép kín của một đời người: sống – chết, đến – đi, vừa chân không vừa hiện hữu để tìm ra lẽ tất nhiên của chu kỳ sự sống.

Để rồi Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc/ Tri nhà tiện nhàn đãi nhà hà thời nhàn. Đủ và nhàn là điều ai cũng cần đạt đến nhưng cũng chưa phải là trọn vẹn.   Cái trọn vẹn khi nghecon tim yêu thương vô tình chợt gọi.

Gọi ta, gọi về với chính mình. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã tâm sự: tuổi già dễ xúc động, vì sao như thế? Về với yêu thương, về với lẽ hằng sống là giá trị muôn thuở của con người như nước sông Hằng ngàn năm vẫn chảy như hằng tâm của con người để không còn tự ngã.

Tiếp theo (chương 5,6,7) tác giả biện giải về quy luật sanh lão bệnh tử. Tác giả đề cập đến cái duyên của cha mẹ sinh ra ta. Chưa đủ còn có cái duyên của tạo vật và nhiều cái duyên khác nữa. Vì vậy có gì phải phân vân giữa chết và sống. Có gì phải sợ hãi. Làm quen với cái chết để sống. Nghe rất lạ nhưng cũng thật là diệu lý vô cùng. Mỉm cười với tất cả, buông xả để an bình mới là sự vĩnh sinh muôn thuở.

Để rồi trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt ( chương 8)

Nhật nguyệt ấy là minh. Trong hán tự chữ minh được ghép từ hai chữ nhật và nguyệt (nhật  nguyệt biểu tượng cho âm dương, ánh sáng tinh túy của trời đất).  Mỗi chữ có 4 nét là thái dương, thiếu dương, thái âm  và thiếu âm. Hai chữ cộng lại vừa đủ tám nét. Con số 8, theo đạo Lão con số 8 tượng trưng cho bát quái gồm : càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài biểu hiện cho sự vận chuyển vô cùng của tạo hóa gọi là Đạo. Trong Phật học, 8 là bát chánh đạo gồm: mạng, định, tư duy, tinh tiến, nghiệp, niệm, chánh kiến, ngữ ngôn. Ai nắm được cái lẽ vi diệu chuyển xoay của tạo vật, ai thông tỏ bát chánh đạo là làm chủ được chính mình. Đó mới thật sự là minh !   Lấy minh để diệt vô minh. “Vô vô minh diệc vô vô minh tận” ( Bát Nhã tâm kinh) mới quán được chân không. Chân không mà diệu hữu, diệu hữu mà chân không. Đó mới là vượt qua sinh tử luân hồi vậy. Bởi vì sinh tử luân hồi ở ngay trong ta vậy.

Để đạt điều đó: Trời cao đất rộng một mình tôi đi! (chương 9) Vượt qua không gian, thời gian để đạt tới chánh định. Sống cùng hơi thở, dõi theo hơi thở của chính mình. Đến một lúc ta không còn phân biệt mình thở ra hay hít vào không phân biệt mình đang thở hay không còn thở. Đó mới là sự sống vĩnh tồn. Bởi vì ai cũng có thể giúp cho ta nhiều thứ cả vật chất lẫn tinh thần nhưng ta không có thể giúp cho bất kỳ ai và không một ai có thể giúp ta thở giủm cho ta được. Diệu lý!

Và cuối cùng là để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười ( chương 10)

Gom bốn vạn tám ngàn pháp môn về làm một. Để hiểu cái khổ và diệt. Mỉm cười với chính mình đó là sự giác ngộ, giải thoát. “Đã thấy, biết Như lai, sống với Như Lai”.

Tóm lại “VỀ THU XẾP LẠI…”: là một kim chỉ nam cho tất cả mọi người, không phải chỉ ở tuổi già mà ở tất cả mọi lứa tuổi. Để có sự an lạc hãy về thu xếp lại hòa quyện giữa diệu hữu và chân không ấy vậy!

Xin kính mượn 4 câu thơ tuyệt tác của Hòa thượng Phước Hậu, để đúc kết cảm nghĩ khi đọc “VỀ THU XẾP LẠI…” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư,

Học hành không thiếu cũng không dư,

Năm nay tính lại chừng quên hết,

Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ.

Xin chân thành cảm ơn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã giúp cho hậu thế bài học giá trị để làm người, bài học vén bức mây đời để tìm về chân thức.

(Nguyễn Mậu Pháp, Đà Lạt)

 

Nguyễn Mậu Pháp, thầy dạy văn Trường THPT Lang Biang, Dalat, một “Ông Đồ già” thường bày mực tàu giấy đỏ giữa Chợ Đàlạt viết thư pháp cho bà con những ngày… Xuân. Trong buổi họp mặt hôm nay với Gia đình Hoa Sen (31.3.2019) thầy đã viết tặng riêng Bs Đỗ Hồng Ngọc… một bức thư pháp rất có ý nghĩa…

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Hai Trầu lai rai đọc “Về thu xếp lại…”

03/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Vài cảm nghĩ khi đọc “VỀ THU XẾP LẠI…”

của Đỗ Hồng Ngọc

Lương Thư Trung

 

(ảnh: kinhtethoidai)

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vốn dĩ là tác giả của nhiều tác phẩm viết về đạo Phật và anh còn là nhà thuyết giảng trong các lớp “Đạo Phật và Đời Sống” vào các ngày cuối tuần ở chùa Xá Lợi (Sài Gòn), nên ghi nhận trước tiên của tôi sau khi đọc tác phẩm Về Thu Xếp Lại là tư tưởng Phật Giáo gần như bàng bạc trong suốt các trang sách của tác giả.

Thật thế, ngay như ở Lời ngỏ, phần giới thiệu cuốn sách, tác giả viết:

“Người ta nói đúng. Mình đang ở tuổi nào thì đó là cái tuổi đẹp nhất, không thể có tuổi nào đẹp hơn! Một người 40 mà cứ tiếc mãi tuổi 20 của mình, một người 60 mà tiếc mãi tuổi 40 thì đến 75 họ sẽ tiếc mãi tuổi 60… thật là đáng thương!

Tôi nay ở tuổi 80. Thực lòng… đang tiếc mãi tuổi 75! Thấy những bạn trẻ… trên dưới bảy mươi mà “gato”! Mới vài năm thôi mà mọi thứ đảo ngược cả rồi. Bây giờ có vẻ như tôi đang lùi dần về lại tuổi ấu thơ, tuổi chập chững, tuổi nằm nôi…

Vòng đời rất công bằng. Chỉ còn cách tủm tỉm cười một mình mà thôi! “

Không ai có thể ở hoài một tuổi nào mà mình thích. Thời gian cứ trôi, trôi hoài và không ai có hai lần ở cái tuổi 20 hoặc tuổi 30, tuổi 40… chẳng hạn!

Vâng, người ta thường ví dòng đời như một dòng sông và có một câu ngạn ngữ rất quen thuộc của một triết gia Hy Lạp, Héraclite, mà ai ai cũng biết:”Không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông”.

Cách nay hơn nửa thế kỷ (ngày 21-11-1965), Thượng Tọa Thích Thiên Ân, trong một lần thuyết trình về đề tài “Giá Trị Triết Học Tôn Giáo Trong Truyện Kiều” nhân kỷ niệm Đệ-nhị-bách chu-niên cụ Tiên-Điền Nguyễn-Du, tại thính đường Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn, Ngài đã nói:

”Vâng, không ai có thể tắm được một dòng sông trong hai lần, vì nước sông luôn luôn lưu động di chuyển, vì các tế bào trong con người luôn luôn sinh-diệt diệt-sinh. Con người ngày hôm qua không phải là con người ngày hôm nay, dòng sông của giờ phút trước không đồng với dòng sông của giờ phút sau, thay đổi khác nhau từng tích-tắc sát-na, như thế thì làm sao mà tắm được một dòng sông trong hai lần?”(1)

Qua “Lời ngỏ” như vừa nhắc, nhất là câu: “Vòng đời rất công bằng. Chỉ còn cách tủm tỉm cười một mình mà thôi!”, là người đọc nhà quê già, tôi cảm thấy nụ cười “tủm tỉm” của tác giả  phảng phất chút gì rất hợp với tư tưởng Phật Giáo, vì : “… Thân thể trăm năm của cá nhân con người mình cũng theo định luật chung mà trôi qua như dòng nước. Đã không bám víu được vào sự vật bên ngoài, quay vào trong phản tỉnh, lòng tự hỏi lòng có chi tồn tại, không biến đổi, ngoài thời gian và không gian?” (Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử Tư tưởng Việt Nam).

Đó là phần mở đầu của cuốn sách. Bây giờ xin mời bạn thử lần tìm chút nắng, chút gió và cả chút mưa trong “Về Thu Xếp Lại” có gì vui, có gì thú vị ở đây chăng?

Vâng, thưa bạn, ngay phần một, tác giả ghi tựa “Cát bụi tuyệt vời…”. Và sao lại gọi là “Cát bụi tuyện với…” ?

“Cái hình ảnh lấy cát bụi vo thành môt cục rồi thổi vào đó một hơi dài để vươn vai lớn dậy làm người thì thật là thú vị. Thú vị ở chỗ nghĩ cho cùng, cái thân xác cát bụi kia một hôm trở về làm cát bụi thì đã là chuyện dĩ nhiên, đương nhiên, tự nhiên, sao còn sanh sự tào lao chi cho mệt. Có điều để cái “cát bụi tuyệt vời…” này trở thành “cát bụi mệt nhoài” thì lỗi tại ta. Ta có thể làm cho cát bụi trở nên “thú vị” được lắm chứ! … “

Vâng, là một người đọc nhà quê già, đôi lúc tôi cũng nghĩ như tác giả là thân phận con người chẳng khác nào là“cát bụi”, có đó rồi theo thời gian đến lúc trăm năm lại trở về với cát bụi thôi! Dù đời xưa hay đời nay, dù thời nào và ở đâu cũng vậy, hổng cách gì con người có thể vượt ra ngòai cái định luật tự nhiên của trời đất mà chối cãi được! Nhưng cái điều đáng nói ở đây là tác giả đã biết cách làm cho “cát bụi” phàm trần ấy trở thành “cát bụi tuyệt vời” ngay trong đời sống hiện tiền!

Bạn sẽ hỏi tôi, tác giả làm bằng cách nào chứ gì? Thì đây lá bí quyết mà Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chẳng hề giấu giếm dù anh  đã viết: “Nói không được. Bất khả thuyết. Không từ đâu đến/ chẳng đi về đâu. Nó Như Lai…”. Nhưng chính tác giả đã gợi mở ra cánh cửa giải thoát ngay trong phần này cho chính mình và cho người đọc: vì con người sở dĩ bị “mệt nhoài” là do những thứ như “thất tình lục dục, hỉ nộ ái ố…” đó thôi! Vậy thì theo tôi, chỉ còn cách mình phải dứt khoát buông bỏ ba cái lăng nhăng ấy thôi! Phải vậy hông?

Sau khi nhận ra được “Cát bụi tuyệt vời..“ như vậy, tác giả giới thiệu phần kế tiếp về tiến trình của tuổi già: “Tôi chợt nhìn ra tôi”:

“Chợt” là vì bất ngờ. Nhưng không phải bất ngờ vì tôi thấy tôi. Mà bất ngờ vì tôi chợt “nhìn ra” tôi. “Nhìn ra” khác với thấy. Nhìn ra là “quán”.  Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã chiếu kiến ngũ uẩn giai không… . Quán là thấy rõ (chiếu kiến). Tôi bấy giờ không còn là tôi bây giờ. Tôi bấy giờ là tứ đại, là ngũ uẩn. Và nếu quán một cách sâu sắc hơn, có thể thảng thốt kêu lên: “Bổn lai vô nhất vật”! (Lục tổ Huệ Năng).  

Cái thú vị ở đây là tác giả“chợt nhìn ra tôi” tức là nhận diện được chính mình một cách bất chợt, không có chuẩn bị gì ráo trọi! Xưa nay người ta thường nhận ra cái xấu, cái khuyết điểm, cái lỗi lầm, cái già của người khác nhưng ít khi nào có ai thấy được cái xấu, cái lỗi, cái già của chính mình! Do vậy theo tôi, tác giả bảo :“Tôi chợt nhìn ra tôi”, rồi : “Tôi thường tủm tỉm cười”, có nhiều hàm ý trong mấy từ ngắn ngủi ấy. Nó vừa là một tiếng lòng, vừa là tiếng than, vừa là một lời trách là sao tự bấy lâu nay ta không thấy ta già dần theo thời gian, mà phải đợi mãi đến hôm nay mới “chợt nhìn ra mình”? Có trễ lắm không hay vẫn còn là một may mắn là mình còn biết mình nay đã phong sương nhiều rồi để còn kịp “về thu xếp lại” nữa chứ! Phải vậy hông? Trong đời tôi chỉ sợ nhứt là mình không biết mình là ai đó thôi! Vì không biết mình lam sao biết người được! Có đúng vậy hông?

Hoặc một chỗ khác, tác giả cũng lại “cười” mình: “Nhiều khi, sáng dậy, nhìn vào gương soi tôi lại thấy tức cười. Tôi đó sao? Nhăn dần từng nét ngộ nghĩnh trên mắt trên da(…). Tôi tức cười nhìn mình. Nó nhìn tôi cũng cười. Ngộ nghĩnh. Cười mà ráng. Không ráng thì nó trĩu nặng.”

Với tuổi già đến nhanh và không trừ bất cứ ai, với tôi, một người bình thường, tôi biết vậy nhưng nhiều lúc lại sợ nó, sợ cái già tới mau quá nhưng vơi tác giả thì khác, anh lúc nào cũng bình thản nhận ra nó bằng nụ cười dù đôi lúc nụ cười ấy có chút gì xót xa, có chút gì ngậm ngùi…; nhưng phải công bằng nhận ra rằng tác giả là một mẫu mực của sự can đảm, của nhận thức về màu thời gian hằn lên da thịt con người qua những nếp nhăn một cách bình tĩnh và đặc biệt là anh cách để làm cho cái chút bụi, cái chút gió ấy trở nên thú vị !

Phần tiếp theo là “Về thu xếp lại… ngày trong nếp ngày”. Phần này cảm động là lúc tác giả kể lại những trường hợp chính anh bị bệnh và nhờ vậy mà tác giả lại mới nhớ lại mình:

“Nhưng bệnh cũng có cái hay của nó chứ. Nó làm cho ta nhớ lại mình…”

Và có lẽ phần dưới đây, cảm động cũng không kém:

“Cái thiếu lớn nhất của người già là thiếu bạn. “Trời cao đất rộng, một mình tôi đi/ đời như vô tận, một mình tôi về… với tôi!” (TCS). Từ ngày về hưu, bạn bè rơi rụng dần. Rơi rụng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Lâu lâu, dòm lại cái cuốn sổ danh mục ghi điện thoại đã thấy có nhiều địa chỉ chẳng biết làm sao liên lạc được nữa. Muốn xóa mà ngâp ngừng rồi không nỡ.”

Dường như ai ai mỗi khi trải qua bảy tám chục năm tuổi đời rồi vì hoàn cảnh này hoặc hoàn cảnh khác, lâu dần bạn bè “rơi rụng” nhiều, giống như tác giả tâm sự, muốn xóa đi một địa chỉ cũ, lâu rồi không còn liên lạc được nhưng trong lòng cứ “ngâp ngừng rồi không nỡ.” Riêng tôi, cũng gặp nhiều trường hợp khó xử như vậy! Dù tôi chẳng làm nên công lên chuyện xuống gì nhưng cũng có cuốn sổ điện thoại, rồi cũng ghi địa chỉ nữa; nhưng lâu quá tôi không còn liên lạc được với vài ba anh em trong cuốn sổ ghi chép ấy và đặc biệt có nhiều anh em nay các anh ấy dời chỗ nào rồi không biết hoặc có anh tôi biết chắc là nay ảnh không còn trên đời này, nhưng mỗi lần muốn lấy viết gạch bỏ số điện thoại ấy đi, tôi cũng không đành! Nghe sao cứ nao nao trong lòng!

Đến chương: “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi…”, tác giả kể về nỗi niềm trắc ẩn của chính mình mỗi khi nghe hoặc  nhìn thấy cảnh đời nhiều lúc rất quen nhưng không cầm được nước mắt cứ chực trào ra, không kềm giữ nổi:

“Tôi thấy mình càng già càng dễ xúc động. Cảm xúc rất mạnh. Mít ướt. Cảm xúc không bị bào mòn đi hay cùn nhụt đi, chai lì đi như vẫn tưởng…”

Vâng, tôi nay già cũng hơi bộn bộn rồi và tôi cũng “mít ướt” từ rất sớm, ở những năm vào tuổi 50, 60, hoặc 70 chứ đâu có già gì cho lắm như bây giờ mới mít ướt đâu! Về điều này, tôi rất đồng cảm với tác giả vì chính tôi nay chưa già bằng anh nhưng cũng đã bảy mươi mấy rồi và nhiều lúc đọc một câu chuyện kể về những đứa trẻ mồ côi rồi có người xin về nuôi, ba bốn chục năm sau, khi lớn khôn và thành nhân, thành tài rồi , đứa bé mồ côi ngày xưa ấy bỏ ra bao nhiêu năm lặn lội tìm lại được mẹ mình, cảnh sum hiệp, trùng phùng mẹ con mừng mừng tủi tủi ấy cũng làm tôi rơi nước mắt.

Hoặc nhiều năm gần đây cứ mỗi lần nghe lại một bài nhạc hợp với tâm cảnh của mình tôi cũng khóc được; khóc một cách tự nhiên không gì kềm giữ được! Chẳng hạn như khi nghe lại bản “Tám Điệp Khúc” của Anh Việt Thu tôi nhớ hồi mới quen bà xã tôi, ngày nào trước căn nhà ở đường NCC (Quận nhì, Sài Gòn), phía trước nhà có một nhà hàng xóm lúc nào cũng mở máy thu băng bản nhạc ấy, nghe riết rồi như ghiền, rồi sau này cử mỗi lần ở đâu chăng nữa hễ nghe bản nhạc ấy là nhớ những ngày yêu dấu tuyệt vời của mình; vậy mà rồi tôi cũng không cầm được nước mắt! Nhiều lắm những nhạc phẩm như thế, cảm động lắm! Nói gì nguyên bản nhạc thì vậy, đằng này chĩ vài chữ dùng thôi như chữ “tà dương” trong nhạc phẩm “Chuyến tàu hoàng hôn”, hổng biết sao cứ nghe đến hai chữ “tà dương” thôi là tôi bị như ma hút hồn mình, tôi trầm ngâm một mình và rưng rưng nước mắt!

Thêm nữa, tôi hoàn toàn đồng ý và cảm ơn tác giả về nhận định này:

“Tình yêu lãng mạn có ý nghĩa rất lớn ở người có tuổi. Như “nuôi sống” họ bằng tình yêu (…)  Thứ “romantic relationships” này là những “hỗ trợ xã hội” tuyệt vời nhất, xúc chạm, thân mật, gần gũi càng già càng thấy cần hơn, nhất là khi người ta cảm thấy cô đơn hay đau khổ vì một lý do nào đó cần chia sẻ. Người phối ngẫu lúc đó cũng đã trở thành một người bạn thiết. Tuổi trẻ, tình yêu gần gũi với tình dục, nhưng tuổi già, tình yêu trở nên đằm thắm, tình yêu của từ bi hỷ xả, của bè bạn, cùng sến già nam và sến già nữ cho nhau!”

Dù nhỏ hơn tác giả vài ba tuổi, nhưng thực sự tôi cũng biết được giá trị của lời nhận định vừa rồi của tác giả bởi một lẽ giản dị là vì “…tuổi già, tình yêu trở nên đằm thắm, tình yêu của từ bi hỷ xả, của bè bạn, cùng sến già nam và sến già nữ cho nhau!”

Đến chương: “Người đã đến và người sẽ về bên kia núi”, tác giả giúp người đọc nhận ra đâu là thật, đâu là giả trong cõi trăm năm này của một đời người.

“Đời sống sinh vật thay đổi từng sát na, không bao giờ đứng yên một chỗ, lẽ nào tái sinh lại y chang như cũ? Có điều những nguyên liệu cứ hủy, tan rã rồi lắp ráp lại nên một hình tướng mới. Cho nên mới bảo nó chỉ là “giả tướng” tạm bợ vậy thôi. Thấy “như thật” là thấy cái thực tướng vô tướng đó. Thỉnh thoảng ta gặp một ai đó thấy như đã quen từ lâu, như đã có hẹn hò từ muôn kiếp trước… thì cũng đừng có ngạc nhiên!“

Vâng, những suy tư vừa rồi của tác giả về một chu trình khép kín ấy rất hợp với tư tưởng Phật Giáo mà Thượng Tọa Thích Thiên Ân cũng có nhắc:

“Theo Phật-giáo thì vũ trụ nhân-sinh đều là do nhân-duyên hòa-hợp với nhau mà sanh, không có một vật nào thật-có cả. Nhân-duyên hòa-hợp ở đây là chỉ trạng-thái hòa-đồng tương-hợp giữa hai phần thể-chất và tinh-thần (con người), vật-thể và hình –thể (sự-vật), hay nói đúng theo danh-từ của Phật-giáo là Tứ-đại và Ngũ-uẩn hòa-hợp lại mà thành, nên tất cả đều là vô-thường, giả-huyễn, hữu-hạn và đau khổ.“(2)

Ở chương :“Chìm dưới sương thu là một đóa thơm tho…”, tác giả đã đặt ra nhiều câu hỏi thú vị về sự hiện diện của con người trong trời đất này, và dĩ nhiên, phải là người dày dạn kinh nghiệm và lịch lãm mới có những ý tưởng thâm trầm như vậy được.

Chẳng hạn, tác giả viết:  “Tôi ngờ rằng có một phần thưởng quý giá nào đó cho kiếp nhân sinh, mà thiên nhiên đã mất công tạo ra, không thể nào có một mục đích duy nhất là làm cho nó phải khổ đau từ lúc sanh đến lúc bệnh, lão và tử. Điều này hoàn toàn vô lý. Bởi nếu vậy thì thiên nhiên đã không tạo ra vạn vật, nhất là sinh vật.”

Vâng, với ý tưởng mà tác giả vừa nêu trong phần này quả đúng là chẳng lẽ hóa công tạo ra con người, ra vạn vật để rồi hành hạ nó, bắt nó khổ đau chơi cho vui hay sao? Có cha mẹ nào sanh con cái ra mà không muốn con cái khỏe mạnh, mau lớn, mau khôn, thông minh và sáng dạ đâu? Chắc chắc là có rồi! Có cha mẹ nào đành đoạn bắt con cái đói khát, ngu dốt, lang thang đầu đường xó chợ không? Chắc chắn là không rồi! Điều này nếu có, quả là rất vô lý! Bởi lẽ tạo hóa, trong đó có các đấng trời cao sở dĩ được người ta tôn thờ là vì người ta tin tưởng các đấng ấy yêu thương mọi sinh vật kể cả con người!

Để giải thích thêm cái ý hóa công có phần thưởng nào cho mọi sinh vật trong trời đất không, tác giả đặt ra nhiều câu hỏi có ý tìm hiểu mà cũng đượm chút gì trách móc hóa công:

“ Thử nhìn xem, vạn vật luôn đẹp đẽ, sinh vật luôn đẹp đẽ muôn màu muôn sắc, Hai con bọ ngựa yêu nhau, ve vãn nhau, giao hợp, xong con đực chết ngay và trở thành thức ăn cho con cái. Con cái mang cái trứng đã thụ tinh, nuôi nấng và sinh sản, xong cũng chết. Nếu chỉ làm cái việc giao hợp rồi chết như con bọ ngựa hay những con ong đực, thì nhiệm vụ duy nhất của nó chỉ là làm vật trung gian, truyền giống, khi hoàn thành nhiệm vụ thì không có lý do gì để tiếp tục tồn tại. Vậy thì ít ra phải có chút tưởng thưởng gì cho cái vất vả của nó chứ? Có lẽ vì thế mà thiên nhiên đã tặng cho nó chút khoái lạc trong lúc giao hợp. Nhưng sự giao hợp là sự truyền trao chủng tử, còn chuyện “bố thí thân mạng” kia có ý nghĩa gì không? Có được tưởng thưởng gì không?”

Còn nhiều câu hỏi khác mang tính triết học liên quan tới việc ăn, việc ngủ, về khoái lạc, về nguồn gốc con người, về cái sống, và cả về cái chết nữa. Nhưng thôi, tôi xin dành lại cho bạn để bạn tìm đọc cho vui!

Ở tiêu đề “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt”, tác giả dẫn người đọc về một chương với tính tương sanh tương hợp giữa thiên nhiên và con người qua cái nhìn của Phật Giáo. Có thể nói đây là một chương đượm màu sắc triết học Phật giáo rõ nhất trong tác phẩm “Về Thu Xếp Lại” qua kiến giải của một “hành giả” đã thấm nhuần  tư tưởng Phật giáo như tác giả, quả là một bài học rất quý báu cho những ai muốn tìm hiểu về các giá trị đích thực của đời sống hiện hữu này vậy! Chẳng hạn, tác giả bàn qua về “Minh và vô minh”, về “Những gì là hạt giống Như Lai?”, về phiền não, về bịnh, về thực tướng vô tướng, về chân không diệu hữu, về ma, về kiến tánh, về luân hồi sanh tử, về nghiệp báo oan gia, về Phật và Như Lai…

Tới chương “Trời cao đất rộng một mình tôi đi…” , tác giả lại khai triễn thêm về hơi thở và  thiền, … Quả thật đây là cả một quá trình tu tập khá lâu dài và tôi khoái nhất câu này: “Chẳng ai có thể thở giùm ai được đâu. Chẳng ai có thể “thiền” giùm ai được. Cho nên phải quay về nương tựa chính mình “một mình tôi đi, một mình tôi về… với tôi” mà thôi. “

Ở phần cuối: “Để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười… “, tác giả đã tìm ra phương pháp, tự nhận và biết mình rõ hơn qua nền tảng kiến thức y học mà tác giả đã học và kinh nghiệm mấy chục năm trong nghề bác sĩ: “Cái nền tảng kiến thức y học cũng giúp soi sáng nhiều điều, và ngược lại học Phật đã giúp tăng cường hiệu quả cho y học nhờ tiếp cận toàn diện, thân tâm, khổ đau, bệnh hoạn…”.

Và trước khi kết thúc, tác giả đã viết:

“Khi chưa hiểu thì tất cả những điều này có vẻ bất thường, kỳ cục, vô lý, khi hiểu được rồi thì thấy nó quá rõ ràng, chính xác, hoàn toàn hợp lý. Nhờ đó, có thể thấy xuyên suốt những pháp này pháp nọ, tông này tông kia chẳng qua cũng chỉ là một.

Không phải là lý thuyết suông, mà là sự thực nghiệm, thể nghiệm ngay trên bản thân mình.  Hãy đến và nếm thử. Mô tả không được! Nếm trải mới biết. “

Tóm lại, nếu quả đúng “văn là người”, thì  qua tác phẩm “Về Thu Xếp Lại”  với một bút pháp đặc biệt rất đặc thù của Đỗ Hồng Ngọc: nó giản dị mà hàm súc, chất liệu thì trữ tình, thành thật, cảm động, và đôi khi pha chút dí dỏm trong cách dùng chữ mà ý nhị, thâm trầm đã có thể cho chúng ta thấy được một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc dày dạn kinh nghiệm trong tu tập và lịch lãm trên đường đời; mặt khác, ở đây nó còn thể hiện rõ đức tính và phong cách một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn thương mình, luôn yêu người, và nhất là yêu cuộc sống này với tất cả sự đam mê, lạc quan và tha thiết! Có lẽ nhờ vậy mà ở tuổi tám mươi tác giả vẫn yêu đời và tôi chưa thấy anh già chút nào!

 

Hai Trầu, Lương Thư Trung

Houston, ngày 31 tháng 03 năm 2019

 

……………………………………………………………..

1&2/ Trích trong quyển “Giá Trị Triết Học Tôn Giáo Trong Truyện Kiều” của Thương Tọa Thích Thiên Ân, Giáo sư Tiến Sĩ Đại Học Văn Khoa và Vạn Hạnh (Sài Gòn), nhà xuất bản Đông Phương (Sài Gòn), năm 1966, các trang 32-33.

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 33
  • Trang 34
  • Trang 35
  • Trang 36
  • Trang 37
  • Interim pages omitted …
  • Trang 124
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email