Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Nguyễn Hiền Đức: ĐỖ HỒNG NGỌC – TIẾNG GỌI SÂU THẲM CỦA Y VƯƠNG

16/03/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Đôi lời:

Bài viết này do anh Nguyễn Hiền Đức (5 Hiền) thực hiện vào tháng 3.2021, đến nay đã vừa đúng 2 năm. Anh nói anh đã tập hợp “nhiều nguồn tư liệu” từ những bài viết rải rác của tôi trên trang www.dohongngoc.com và trên báo chí, blog, Fb… của nhiều người, để tặng Sinh nhật Bs Đỗ Hồng Ngọc, 81 tuổi. Trong quá trình thực hiện anh cũng rất thận trọng, trao đổi với tôi qua email để chỉnh sửa đôi chi tiết khi cần. Tôi rất quý mến cách làm việc của 5 Hiền (cách gọi thân tình giữa chúng tôi) , cặm cụi, chân thành, nhiệt tình… đáng nể trọng! Thế nhưng tôi vẫn có chút ngại ngần khi bài viết về cá nhân mình, nên không đăng lên blog mình bấy lâu.

Hai năm đã trôi qua từ ngày đó. Anh Nguyễn Hiền Đức đã mất sau thời gian đau bệnh kéo dài tại Mỹ. Ngày 26.2 vừa qua, tại Bệnh Viện Nhi Đồng 1 Tp.HCM có buổi Họp Mặt nhiều thế hệ Thầy thuốc kỷ niệm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam (27.2), và cũng để kỷ niệm 67 năm thành lập Bệnh viện Nhi Đồng Saigon, tôi được mời phát biểu, đã nhắc lại những … chuyện xưa khiến các bạn thầy thuốc trẻ bất ngờ tôi có thời làm việc ở Nhi Đồng suốt 12 năm, là Trưởng phòng Cấp cứu và Trưởng Khu Phòng khám (Ngoại chẩn). Lứa tôi dần chẳng còn mấy người, chỉ còn thấy Gs Nhan Trừng Sơn chống gậy từng bước, Bs Nguyễn Hữu Hưng (PGĐ), cô Võ Kim Sa (Điều dưỡng trưởng) tóc trắng xóa, tôi cảm động được gặp lại bác sĩ Bạch Văn Cam,  Bs Tường Vy, Ds Cúc, Bs Lại Văn Tiến, Đỗ Hiệp Phố, Nguyễn Văn Sĩ, Ngươn (ngoại)… Bs Trần Tấn Trâm, Nguyễn Thị Ngọc Anh (GĐ) đã mất… Các Bs Trần Ngọc Mạnh, Trần Thành Trai, Lê Văn Tú… cả Cô Bùi Thị Gấm (ĐDT) đều không đến dự được… 

Năm nay tôi cũng đã có tuổi, 83 rồi! Nghĩ, có lẽ đã đến lúc nên đăng bài viết của Nguyễn Hiền Đức về Đỗ Hồng Ngọc như một kỷ niệm với riêng người bạn thương quý này, và nhất là cũng để trả lời các thầy thuốc trẻ hỏi thăm chuyện ngày xưa…

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(16.3.2023)

………………………………………………………………………………………………………….

 

ĐỖ HỒNG NGỌC –

TIẾNG GỌI SÂU THẲM CỦA Y VƯƠNG

 

                             * Thay Quà Tặng mừng Sinh Nhật 81của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

                                Tặng Bác sĩ Văn Công Trâm (Đức quốc)

Nguyễn Hiền Đức

 

  1. Vì sao Đỗ Hồng Ngọc chọn ngành Y?

Đậu tú tài II xong, Đỗ Hồng Ngọc băn khoăn trước ngã ba đường: Vừa muốn học y, lại muốn học sư phạm, học văn khoa. Cuối cùng thì Đỗ Hồng Ngọc quyết định thi vào trường y.

Đỗ Hồng Ngọc chỉ thi vào trường y, theo tôi từ những nguyên do sâu xa, những “ám ảnh không rời” ngay từ quãng đời tuổi thơ côi cút của anh ở quê nhà:

– Nguyện vọng của gia đình;

– Thân phụ mất ở trong rừng vì thiếu thầy, thiếu thuốc. Nỗi đau và sự mất mát to lớn đó đã “đưa”, đã “đẩy” anh chọn nghề thầy thuốc.

– Vì mang đủ thứ bệnh nên mỗi ngày, anh vẫn thường qua lại bằng đò ngang để đến nhà thương thí chích thuốc! Riết rồi anh “ghiền cái mùi nhà thương.”

Tôi tin câu này, lời này của Đỗ Hồng Ngọc: “Riết rồi tôi ghiền cái mùi nhà thương!” Vâng, anh ghiền cái “mùi nhà thương” cũng như tôi đã ghiền cái mùi nhà in, nên tôi đã theo học nhiều khóa về kỹ thuật ấn loát và quản trị nhà in; rất say mê khi nhìn ngắm, tìm hiểu các loại máy in, các loại mực in, giấy in… Tôi mê cái không khí sôi động, ồn ào ở nhà in, mê mùi mực, mùi giấy… nên nhiều buổi trưa tôi nằm chèo queo ngủ ngon lành trên đống giấy vụn tại Ấn quán Đại học Vạn Hạnh sau những giờ chấm morasse bộ Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh do Ôn Thích Minh Châu dịch từ Pali ra tiếng Việt và nhiều tác phẩm khác về Phật học, thế học do Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh xuất bản mà tôi thực hiện với trách nhiệm là Trưởng phòng Tu Thư. Đến nay, hơn bốn mươi năm sau, tôi vẫn luôn ghiền cái mùi nhà in, vẫn muốn tiếp tục học ngành in và làm thêm việc ở nhà in.

– Cuối cùng, chính lời khuyên chí lý, sáng suốt và trách nhiệm của cụ Nguyễn Hiến Lê mà Đỗ Hồng Ngọc đã quyết định thi vào trường y. Cụ Lê khuyên “nên học y để giúp đỡ cụ thể cho gia đình, nếu học giỏi sau này có thể làm “thầy giáo” và nếu có năng khiếu, cũng có thể viết lách được…!” Thế là Đỗ Hồng Ngọc học y, học thêm văn, thêm xã hội học… rồi viết lách, giảng dạy… suốt mấy chục năm nay.

Được học giả Nguyễn Hiến Lê khuyên nên anh đã nghe theo và bắt đầu dấn thân vào ngành học rất cực nhọc mà cũng rất nhân văn này.

Từ ngày tuyên thệ, đọc lời thề Hippocrates, Đỗ Hồng Ngọc trở thành một bác sĩ “mát tay”, đặc biệt ông ít dùng đến thuốc, luôn chú trọng đến việc chữa cả thân bệnh lẫn tâm bệnh nên trong các dịp lễ Tết, ông thường chúc mọi người: “Thân tâm thường an lạc!” là xuất phát từ cái thân tâm bất dị này.

  1. Học và hành nghề y

– Năm 1962, Đỗ Hồng Ngọc đậu vào trường y. Vốn là người ham đọc, ham học, có ý chí và biết tự học nên ngoài việc học y, ông cũng đã ghi danh học thêm ở Đại học Văn khoa, và xã hội học ở Đại học Vạn Hạnh.

Tóm tắt quá trình học và hành nghề y của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc như sau:

* 1962 thi đậu APM vào Đại học Y khoa Sài Gòn.

* Năm 1965 thực tập tại Bệnh viện Từ Dũ, đã đỡ được một ca đầu tiên mẹ tròn con vuông! Với lòng lâng lâng, ông lập bản “phúc trình”, viết ngay sau phần bệnh án một bài thơ nhỏ: Thư Cho Bé Sơ Sinh. Bài thơ khá nổi tiếng này được đưa vào tập thơ đầu tay của ông: Tình Người, xuất bản năm 1967. Có thể nói kể từ năm 1965, Đỗ Hồng Ngọc đã thực sự dấn thân vào lãnh vực Nhi khoa, nên có thể nói ông là một bác sĩ yêu trẻ và có nhiều kinh nghiệm về Nhi khoa.

* Năm 1968 và 1969 là Nội trú ủy nhiệm (Interne fonctionnel) của bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn.

* Năm 1969 tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn.

* Năm 1970, bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ với đề tài “Bệnh Sốt Rét Ở Trẻ Em”, Đỗ Hồng Ngọc được nhận Văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia.

* Năm 1971 là bác sĩ điều trị tại Dưỡng đường Nhi khoa Trần Bình Trọng, Chợ Lớn (GĐ Bs Trần Văn Còn).

* Năm 1972, xuất bản cuốn sách đầu tay: Những Tật Bệnh Thông Thường Trong Lứa Tuổi Học Tròdo học giả Nguyễn Hiến Lê đề Tựa. Trong tập này Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ với các bạn trẻ những kinh nghiệm về tổ chức việc học và cách học sao cho có hiệu quả ngoài các cách phòng tránh bệnh thường gặp ở lứa tuổi.

* Năm 1973, Đỗ Hồng Ngọc làm Trưởng phòng Cấp cứu Khu Ngoại chẩn Bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn

* Năm 1974, xuất bản cuốn Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng. Cuốn này được Giáo sư Phan Đình Tuân, Giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng thời Đỗ Hồng Ngọc làm việc viết Lời Tựa. Chính Giáo sư Phạm Đình Tuân cũnglà người đã đỡ đầu luận án tốt nghiệp của Đỗ Hồng Ngọc và trong Lời Tựa cho cuốn sách này ông gọi là “sách gối đầu giường cho các bà mẹ.”

* 1977 Trưởng khu Phòng Khám và Cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng I (Bv Grall thành lập bệnh viện Nhi Đồng 2).

* Từ năm 1981, là Giảng viên thỉnh giảng Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược. Trong thời gian công tác tại đây, ông đã đỡ đầu luận văn khoảng 10 đề tài cho các thầy thuốc trẻ. Ông còn viết nhiều cuốn sách y học phổ cập như Những Bệnh Nguy Hiểm Thường Gặp Ở Trẻ Em, Nuôi Con, Săn Sóc Con Ở Nơi Xa Thầy Thuốc.

* Từ những năm 1984 – 1986, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc triển khai các Chương trình “Săn Sóc Sức Khỏe Ban Đầu Cho Trẻ Em” ở Quận 6, để làm thí điểm phòng bệnh từ xa với một chiến lược mới, cần có sự tham gia của cộng đồng và sự phối hợp liên ngành. Ông được sự đồng tình ủng hộ của nhiều đồng nghiệp và trường Đại học Y Dược thành phố lúc đó đã gởi nhiều sinh viên theo học và làm luận văn về hướng Nhi khoa xã hội này. Và ông bắt đầu thực hiện các buổi nói chuyện trên Đài Truyền hình và Đài Phát thanh. Từ năm 1986 ông ở trong nhóm thực hiện Chương trình Săn sóc Sức khỏe Ban đầu cho xã Hiệp Phước, Nhà Bè

* Từ 1986, Giám đốc Trung Tâm Truyền Thông – Giáo Dục Sức Khỏe Thành phố Hồ Chí Minh.

* Ông triển khai hai bộ môn mới do ông làm chủ nhiệm là Bộ môn “Khoa học Hành vi và Giáo dục Sức khỏe” thuộc Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ Y tế Thành phố (nay là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) và Bộ môn Sức khỏe Phụ nữ của Đại học Mở. Ông còn thực hiện “Chương trình Giáo dục Sức khỏe Phòng chống AIDS, Thuốc lá” v. v…, dạy học, viết báo…

* 1993 Tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard Hoa Kỳ và 1997 Giáo dục Sức khỏe tại CFES Paris, Pháp.

* Từ năm 1989 đến năm 2000, ông giữ mục Phòng Mạch Mực Tím trên báo Mực Tím, một tờ báo dành cho lứa tuổi mới lớn để giúp các em giải tỏa những băn khoăn thắc mắc của lứa tuổi mình, những băn khoăn thắc mắc về phát triển tâm sinh lý, về bệnh tật… Trước 1975, ông đã viết cho các báo Tuổi Ngọc, Mây Hồng, rồi sau này là Khăn Quàng Đỏ, Mực Tím… những tờ báo dành cho tuổi trẻ.

Nhân dịp Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nghỉ hưu (2006), Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố đã tái bản cuốn Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng được cập nhật và bổ sung đầy đủ – gần 400 trang mà ông xem là một món quà nhỏ gởi đến các ông bố, bà mẹ trẻ mới sinh con đầu lòng…Một cuốn sách về y học mà được tái bản đến hơn 40 lần, quả là một kỷ lục. Năm 2008, cuốn sách này nhận “Giải Bạc Sách Hay”.

Trả lời câu hỏi của các học trò, trong một buổi giao lưu tại Trung tâm Truyền thông và Giáo dục sức khỏe:“Thưa thầy, kinh nghiệm của thầy khi đi nước ngoài, bài học thầy áp dụng vào ngành truyền thông – giáo dục sức khỏe của Việt Nam?”

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chân thành chia sẻ:

“Thầy có không nhiều dịp đi nước ngoài, nên mỗi dịp đều là một cơ hội để được học thêm và rút kinh nghiệm đem về áp dụng những điều hay. Lần nào thầy cũng mang về một lô sách và tài liệu để sử dụng cho ngành mình và kể cả về đào tạo y khoa, như lần đi dự hội nghị về “Đào Tạo Chuyên Viên Phát Triển Sức Khỏe” của WHO tại Ai Cập (1988), thầy được mời tham gia trong nhóm sáng lập Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ y tế thành phố, sau này là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Nhờ thời gian tu nghiệp ở Đại học Harvard (1993), thầy về triển khai Bộ môn Khoa Học Hành Vi và Giáo Dục Sức Khỏe cho trường. Lúc tu nghiệp ở CFES, Paris (1997) thầy thấy họ làm nghiên cứu về Giáo dục sức khỏe rất bài bản, dựa trên đó xây dựng các chương trình can thiệp có hiệu quả, khi về, thầy củng cố thư viện T4G, lập bộ phận tổ chức tư liệu (documentation) và đẩy mạnh các nghiên cứu khoa học trong lãnh vực giáo dục sức khỏe. Khi đi Ấn Độ dự Hội thảo quốc tế về HIV/AIDS (1996) thầy ứng dụng “truyền thông thay đổi hành vi” cho những lớp huấn luyện theo phương pháp giáo dục chủ động, tạo tham gia…

Tóm lại, học đối với thầy bao giờ cũng đi đôi với hành. Học mà không hành thì không thể nào “chín” được. Thầy cũng mong các em: đi học, nhất là du học không chỉ để lấy cái bằng cấp về treo, để “hù” thiên hạ… mà phải rút ra được bài học gì ứng dụng phù hợp vào hoàn cảnh nước ta với sự sáng tạo riêng của mình. Nhân dịp cũng nói thêm với các em rằng khi tiếp các đoàn chuyên gia quốc tế, đừng thụ động đối phó, lo trả lời những câu hỏi của họ đặt ra mà phải chủ động… đặt câu hỏi, đưa ra những ý tưởng của mình để tranh luận, từ đó mới có cơ hội học hỏi lẫn nhau…”

Đối với các bạn trẻ mong muốn chọn ngành y làm con đường nghề nghiệp, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ:

“Rất hoan nghênh các bác sĩ trẻ này. Đây là một ngành đang có nhu cầu rất lớn của xã hội. Nhưng chọn học y là chọn con đường gian nan, hằng ngày trực diện với những nỗi đau nỗi khổ của kiếp người (sanh, lão, bệnh, tử)… Phải thực sự yêu nghề và có năng lực. Nói chung, học y cần có một lý tưởng nhân đạo, một “tiếng gọi sâu thẳm” (vocation) của nghề nghiệp. Nếu học y để mong đầu tư… làm giàu trên bệnh nhân thì không nên! Thực ra học y cũng rất thú vị, nhiều thử thách đòi hỏi trách nhiệm cao. Luôn đứng trước lương tâm của mình. Hạnh phúc rất lớn khi thấy mình sống hữu ích cho gia đình, cho cộng đồng, cho xã hội. Bà con mình thường nói:“Cứu sống một mạng người bằng… lập năm bảy kiểng chùa” phải không”?

Trò chuyện, tâm tình, gởi gắm niềm tin vào các bạn trẻ đang học ngành y, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nói:

“Để thành công, phải thực sự say mê, cần phải đi chuyên sâu về một lãnh vực nào đó nhưng đồng thời không quên mở rộng kiến thức văn hóa nói chung. Phải học hỏi không ngừng. Thầy thuốc là một sinh viên y khoa suốt đời. Không học thêm thì sau vài ba năm đã lạc hậu. Nghiên cứu, giảng dạy là cơ hội học tập tốt nhất. Đừng quên chia sẻ kiến thức của mình với người bệnh và luôn tôn trọng lắng nghe họ, sẽ học được rất nhiều từ họ.”

“Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Nó gắn liền với thân và tâm của con người. Mà cái gì đã liên quan đến con người thì luôn là một “nghệ thuật’’ chứ, phải không? Cho nên ngày nào y khoa trở thành hoàn toàn máy móc thì nguy cho con người lắm! Khi máy móc hóa hay thương mại hóa mối quan hệ “thầy thuốc – bệnh nhân’’ thì có nhiều vấn đề đặt ra.

  1. Đỗ Hồng Ngọc và những “sở đắc” về ngành y

Năm 1972, tức là chỉ ba năm sau khi tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa Quốc gia, Đỗ Hồng Ngọc xuất bản cuốn Những Tật Bệnh Thông Thường Trong Lứa Tuổi Học Trò trong loại y học phổ cập. Theo Đỗ Hồng Ngọc:

“Cuốn sách đầu tay không những được các em học sinh mà cả các bậc phụ huynh cũng nồng nhiệt đón nhận. Nhà văn Trần Phong Giao – Tổng thư ký báo Văn lúc đó – đã bắt con mình học… thuộc lòng cả một chương trong sách! Nhà xuất bản Lá Bối của thầy Từ Mẫn độc quyền phát hành và chỉ vài tháng sau sách đã được tái bản”. Trong lời Tựa cuốn này, học giả Nguyễn Hiến Lê viết:

“Tập này là tác phẩm đầu tay của ông. Ông dùng kinh nghiệm bản thân khi đi học và đi dạy (vì như một số sinh viên khác, ông phải tự túc), cùng những sở đắc trong ngành y để hướng dẫn các bạn học sinh trong việc giữ gìn sức khỏe, ngừa trước những bệnh thông thường và khi bệnh đã phát thì nên làm gì. Yêu nghề và có lương tâm, ông không mách thuốc bừa bãi như thỉnh thoảng chúng ta thấy trên một số báo, ông phản đối thái độ ‘vô trách nhiệm’ đó”.

Từ đó chúng ta có thể thấy, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tuy mới ra trường 3 năm mà đã dùng kinh nghiệm bản thân khi đi học và đi dạy, cùng những sở đắc trong ngành y để hướng dẫn các bạn trẻ giữ gìn sức khỏe… Ông lại rất yêu nghề và có lương tâm. Tri thức chuyên ngành và lương tâm của người thầy thuốc ngày càng khẳng định “sở đắc”, tầm nhìn mới của ông trong ngành y.

Năm 1974, Đỗ Hồng Ngọc hoàn thành cuốn Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng, lúc ông đang làm việc tại Bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn và cũng vừa có 3 đứa con “đầu lòng”. Cuốn này được cụ Nguyễn Hiến Lê góp ý và “khen” Đỗ Hồng Ngọc là một thầy thuốc nhi khoa tốt, yêu trẻ con.

Tôi cảm kích và vui mừng về bước khởi đầu viết lách của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc khi đọc những nhận xét về tác phẩm này của những người đồng nghiệp, những bậc đàn anh, những người Thầy của Đỗ Hồng Ngọc. Trước hết là bài Tựa của Giáo sư, Giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn Phan Đình Tuân, cũng là người đỡ đầu luận án tốt nghiệp của Đỗ Hồng Ngọc. Bài Tựa có đoạn viết:

“Đọc quyển sách Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, các bà mẹ sẽ tìm thấy những lời chỉ dẫn ân cần về những vấn đề thiết thực, để bớt những bỡ ngỡ băn khoăn, lo lắng vô ích. Thêm vào đó, tác giả còn đả phá những thành kiến sai lầm, những tập quán nguy hiểm từ lâu vẫn lan tràn ở nước ta gây nhiều tai hại cho trẻ nhỏ… (…)

Một quyển sách về y học, dù là y học phổ thông, thường thường rất khô khan, ít ai muốn đọc, nhưng quyển sách của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lại khác. Tác giả có lối hành văn trong sáng, nhẹ nhàng, thân mật, gần gũi, có chỗ dí dỏm nên thơ, đọc không biết chán.

Tôi mong rằng quyển sách này sẽ là sách gối đầu giường không những của các bà mẹ sanh con đầu lòng mà còn của tất cả các bà mẹ vậy.”

Tôi đọc 16 cuốn gọi chung là “Câu chuyện sức khỏe” từ tác phẩm đầu tay của ông xuất bản: Những Tật Bệnh Thông Thường Trong Lứa Tuổi Học Trò (1972),đến các tác phẩm mới nhất là Sức Khỏe Gia Đình, Ăn Vóc Học Hay và Thiền Và Sức Khỏe. Rồi đọc tiếp 18 bài Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trả lời phỏng vấn trên nhiều tờ báo, chung quy ông cũng đề cập đến vấn đề giữ gìn sức khỏe, nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống theo định nghĩa về sức khỏe của WHO: “Sức khỏe là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well being) về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh hay tật.”

Càng đọc nhiều sách loại này, tôi càng thấy rõ Đỗ Hồng Ngọc xem cuộc sống là một điều kỳ diệu, tôn vinh giá trị gia đình, xác quyết mối quan hệ thân – tâm không thể tách rời nhau. Ông hô hào mọi người hãy đầu tư cho chính mình để được hạnh phúc. Mỗi người hãy trở về với hải đảo của mình; hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi theo lời dạy của Đức Phật. Ông kêu gọi mọi người hãy sống tự tại hơn để hạnh phúc hơn, ông thành tâm cầu mong mọi người thân tâm thường an lạc. Ông chia sẻ những kinh nghiệm, trải nghiệm và thể nghiệm từ bản thân mình để xiển dương những lợi ích và lợi lạc của việc tập thở, tập thiền, hành thiền. Với ông tu là học và tu là hành… nhờ đó mà ông được nhiều người tin cậy và làm theo hướng dẫn của ông. Những bài trả lời phỏng vấn của ông về y học, vốn là chuyên ngành sâu, là nghề và nghiệp của ông nên ông viết luôn luôn rõ ràng, rành mạch, chính xác, với lời lẽ chân thành, thân ái, gần gũi, thấu cảm nên người đọc vừa tin yêu vừa phấn chấn. Làm được vậy chẳng dễ tí nào! Những lời ông tâm tình, trao đổi, gợi ý, chia sẻ với các bạn trẻ, với những học trò cũ vừa chân tình vừa cảm động, vừa ý nhị sâu sắc, vừa thiết thực, cụ thể, có lúc nghiêm khắc nhưng đầy lòng khoan dung và khích lệ. Hơn 50 năm trước tôi đã đọc nhiều cuốn sách, có cuốn tôi gọi là “cuốn sách cứu người”, cuốn sách “làm thay đổi cuộc đời” của cụ Nguyễn Hiến Lê, thì nay đọc sách, đọc các bài viết về y, về Phật họccủa Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tôi cũng có cảm nhận sâu sắc và chân thành như vậy. Xin hết lòng biết ơn Thầy Nguyễn Hiến Lê và Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!

Trong các bài viết về chuyên đề sức khỏe, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn cẩn trọng, khiêm tốn, vui vẻ. Ông luôn luôn dung dị mà sâu sắc, dí dỏm, hóm hỉnh, trí tuệ, thông minh, sắc sảo mà gần gũi và thân ái. Ông thể hiện tròn đầy lòng chân thành, sự thấu hiểu, thấu cảm nên mang tính thuyết phục cao đối với đông đảo người đọc. Tôi rất tâm đắc khi đọc những bài này của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và xem nó là một trong những dấu ấn sâu đậm, đáng yêu và sống lâu bền trong lòng người đọc.

Ở đây, tôi xin phép được trích dẫn một số cảm nhận chân thành của bạn đọc để làm rõ thêm ý kiến mà chúng tôi đã nêu trên:

 

Yumi.multiply.com

(…) Ở đó, tôi không chỉ nắm bắt được những kiến thức khoa học để nuôi con mà còn gặp được tấm lòng một người cha vĩ đại. Ông kể chuyện của con mình, kể về nỗi buồn lo, ân hận của mình để mà truyền kinh nghiệm cho bạn, cho tôi. Khi con mọc răng nóng sốt, khi con quấy khóc, ốm đau, khi con chán ăn, khi con biết lẫy, biết bò…ôi đều giở sách ra, đôi khi không chỉ đọc để biết phải làm gì mà còn tìm trong đó một nguồn an ủi, vỗ về.Mỗi lần nâng quyển sách ấy trên tay, tôi không nghĩ mình đang đọc sách mà đang trò chuyện với ông, ấm áp và tin tưởng lạ thường!

 

blog.dongchay.com

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc không phải viết theo phong cách của một bác sĩ cho các đồng nghiệp, không phải cho thân nhân người bệnh, cũng không phải theo khuôn mẫu của một sách giáo khoa khô khan. Bác sĩ viết như người bạn viết cho người bạn, người anh, người chú lớn tuổi nhiều kinh nghiệm viết cho những người em bắt đầu làm bố, làm mẹ. Lời lẽ thân thiện, dễ gần, hình ảnh sống động, dễ hiểu, trình bày khoa học, dễ tra cứu. Quả thực, mẹ học được rất nhiều từ cuốn sách và cũng đã nhiều lần cuốn sách đã giải tỏa cho mẹ những ưu tư , rồi cả những hủ tục, những quan niệm sai lầm khi nuôi con của các bà mẹ ngày xưa.

Mẹ rất thích cuốn sách, đọc đi đọc lại nhiều lần, ngẫm nghĩ những điều nằm ngoài chuyên môn mà bác sĩ Ngọc đã gửi gắm. Mẹ cảm thấy việc sinh con, nuôi con ý nghĩa hơn. Mẹ cũng cảm thấy trách nhiệm của bố và mẹ lớn lao hơn khi giờ đây, bố mẹ là người cha, người mẹ và trước kia, bố mẹ cũng là những người con bé bỏng và ông bà nội ngoại đã phải vất vả ra sao mới có bố mẹ, có con như bây giờ…

 

Lê Uyển Văn says

 Vẫn là phong cách của Đỗ Hồng Ngọc, con chữ của Đỗ Hồng Ngọc – lấp lánh yêu thương  – sao như lần đầu được gặp, chúng tôi đọc mải miết, những kiến thức đã từng biết bỗng trở nên gần gũi và sống động lạ thường.

Không đúc kết nào gọn gàng hơn “ BUSĂC” – phổ biến những điều căn bản nhất để nuôi con sao cho khỏe mạnh. Không cách so sánh nào cụ thể, dễ nắm bắt mà xúc động hơn cách hướng dẫn làm dung dịch như Oresol tại nhà : “…pha xong nếm thử thấy nó y như nước mắt là được / Nước mắt ở đâu mà thử?/ Thì bà mẹ nào có con tiêu chảy cấp mà không khóc chứ?”. Cũng không gì thuyết phục hơn khi khuyên mẹ tự làm thức ăn cho con: “Bây giờ có nhiều thức ăn làm sẵn / Phải, nhưng không có thứ “tình thương” làm sẵn nào cả !”….

… “ Mẹ cứ kỳ vọng vào con đi”,“ Có hiểu mới thương”, “ Thương nhớ… đòn roi”… đều là những “Bài học quý giá” mà tôi, các con tôi đang rất cần. Có những điều, tôi không sao nói được với con mình thì tác giả đã nói hộ rồi, tôi chỉ cần hỏi “con đã đọc “bài học quý giá” của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chưa?”, con đáp “dạ, rồi!”,tôi nghe như trút vài gánh đá, đọc rồi nghĩa là con hiểu con phải làm gì để đối diện với kỳ thi đang rất gần kề.

Với ông, y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Kỹ thuật y khoa càng tiến bộ thì càng cần hơn tính nhân văn trong y học vì nó đứng trước cái sống, cái chết, cái đau, cái khổ của kiếp người. Y học ngày càng tiến bộ, kỹ thuật ngày càng cao, thuốc men ngày càng nhiều thì… bệnh tật cũng ngày càng phát triển, gia tăng, đôi khi đe dọa cả hành tinh…

Vì thế, ông hô hào: “Bớt kỹ thuật – Thêm nhân văn” và hãy đầu tư cho chính mình để được hạnh phúc. Ông quan tâm tới khía cạnh tâm lý xã hội của vấn đề chứ không đơn thuần ở góc độ bệnh lý. Ông khởi xướng và đã cùng với cộng sự, học trò tập trung nhiều công sức, tâm huyết, trí lực vào việc xây dựng và phát triển ngành Truyền Thông – Giáo Dục Sức khỏe và Nâng cao sức khỏe.

Ông cảnh báo về nguy cơ lớn nhất của ngành y là đi quá sâu vào kỹ thuật và tách hẳn cái thân ra khỏi cái tâm, thậm chí trong cái thân lại chẻ nhỏ ra thành những mảnh thân nhỏ hơn nữa để đi chuyên sâu. Ông cho rằng điều đó có lợi về mặt khoa học nhưng lại làm cho con người không còn toàn vẹn nữa vì thân và tâm không thể chia chẻ được và không thể nào có cái thân mà không có cái tâm và ngược lại: Hai cái đó vốn là một. Vì thế, một người thầy thuốc khi chữa bệnh cho bệnh nhân, nếu chỉ thấy cái thân bệnh, mà không thấy cái tâm bệnh, tức là chỉ thấy cái “đau” mà không thấy được cái “khổ” của họ thì không thể chữa thành công.

Ông băn khoăn, trăn trở trước nguy cơ kỹ thuật hóa, thương mại hóa ngành y. Có cách nào làm giảm bớt nguy cơ đó không? Có cách nào phục hồi tính nhân bản của ngành y như những “ngày xưa thân ái” không? Dĩ nhiên không thể trở lại thời kỳ y khoa phù thủy, nhưng cũng không thể đẩy đến bờ vực thẳm của y khoa kỹ nghệ… Trước thực trạng, y khoa ngày càng nặng về kỹ thuật., người thầy thuốc trẻ dần dần có khuynh hướng chạy theo kỹ thuật, xa cách dần với… con người. Nó làm cho người thầy thuốc trở nên bí hiểm… chẳng khác gì các phù thủy của những bộ lạc ngày xưa! Thế nhưng con người từ xưa đến nay vẫn không thay đổi: cũng những lo âu, phiền muộn, sợ hãi, cũng những ganh tị, ghen ghét, mừng vui, cũng vẫn già nua, tuổi tác, ốm đau bệnh hoạn…

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đưa ra một số giải pháp, theo tôi là mới mẻ, thiết thực và hiệu quả:

“Chỉ có cách là phá vỡ huyền thoại (démystification) về người thầy thuốc, về nghề y và nâng cao kiến thức của người dân để họ tự bảo vệ sức khỏe của mình và hợp tác với thầy thuốc một cách có ý thức. Bên cạnh việc thay đổi chương trình giảng dạy ở các đại học y khoa sao cho ngành y vừa kỹ thuật mà cũng vừa nhân văn, đưa các môn tâm lý, xã hội, nhân chủng, quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân, y đức, nghĩa vụ luận… vào giảng dạy. Giáo dục sức khỏe là biện pháp cần thiết để nâng cao dân trí, thay đổi hành vi có hại sức khỏe của cá nhân và góp phần đề ra các chính sách nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng…”

Muốn giải quyết vấn đề bệnh ngày càng nhiều, bệnh viện quá tải…, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thấy cần “phải giải quyết cái gốc từ xã hội, tức là phải giải quyết trên vấn đề sức khỏe toàn diện chứ không chỉ là vấn đề y tế đơn thuần. Y tế chỉ cung cấp dịch vụ chữa bệnh, còn sức khỏe bao gồm cả môi trường sống, môi trường xã hội và thiên nhiên, cho đến hành vi, lối sống của mỗi cá nhân. Đã đến lúc cần giải quyết trên một bình diện rộng. Một mặt, ngành y tế tổ chức lại hệ thống chăm sóc sức khỏe tốt hơn, mang tính dự phòng tích cực từ cơ sở, nâng cao dân trí để mọi người biết tự bảo vệ sức khỏe cho cá nhân mình, gia đình và cộng đồng. Mặt khác, xã hội phải coi trọng việc đầu tư chăm sóc sức khỏe người dân hơn là tập trung mở thêm nhiều bệnh viện để hứng bệnh tật, tức là chăm lo bảo vệ môi trường, quan tâm giáo dục từ tuổi ấu thơ nhằm thay đổi hành vi, lối sống với các chương trình nâng cao sức khỏe (health promotion).

Từ kinh nghiệm bản thân, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho rằng:

“Truyền thông trị liệu”, “Truyền thông thay đổi hành vi” không dễ tí nào! Nó là một khoa học, bao gồm cả tâm lý- xã hội – nhân chủng (văn hóa) ứng dụng vào ngành y, giúp cải thiện mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân và nâng cao y đức. Làm sao người thầy thuốc thấy được nỗi khổ sau nỗi đau, để thấu cảm với người bệnh. Một lời nói, một cử chỉ của thầy thuốc có thể làm cho bệnh nặng hơn hay nhẹ đi, vơi đi. Những kỹ năng ứng dụng này phải bằng cái tâm của người thầy thuốc.” Và rằng: “Thầy thuốc không chỉ là một chuyên viên tư vấn (consultant) về y học mà còn phải là một chuyên viên tham vấn (counselor) về sức khỏe, bởi người bệnh đến với họ vì tin tưởng rằng người thầy thuốc ngoài việc chữa bệnh còn có thể an ủi, giúp đỡ họ. Người bệnh cũng rất nhạy cảm với những “truyền thông không lời” trong mối giao tiếp đặc biệt này. Chỉ cần nhìn nét mặt, cử chỉ, nghe giọng nói, cái vỗ vai, cái bắt tay… cũng được bệnh nhân hiểu bao nhiêu điều…”

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc mong muốn bản thân ngành y cần coi trọng vấn đề nhân sự của ngành, vì không chỉ cần có kỹ năng, có học thuật mà còn cần đến tấm lòng, vì đó là con đường của y đức và y đạo.” Ông cho rằng: “Nói y đức suông mà không có tay nghề thì… hại người ta nhiều hơn, làm người ta “đau” nhiều hơn. Còn giỏi kỹ thuật chuyên môn mà thiếu y đức thì làm cho người ta “khổ” nhiều hơn.

Riêng vấn đề y đức phải được quan tâm đúng mức, đặt trong hệ thống đào tạo người thầy thuốc tương lai. Rồi đây, quản lý bệnh viện dần dần sẽ là những doanh nhân chứ không phải là bác sĩ, các bác sĩ sẽ chỉ là người làm công tác ăn lương. Y đức như vậy phải được mở rộng cho giới doanh nhân “khai thác” ngành y.”

Đỗ Hồng Ngọc theo ngành Nhi khoa và thực sự “say mê” trẻ em. Vì vậy mà Đỗ Hồng Ngọc đi đến một kết luận đáng chú ý: “Tôi thấy rõ một điều là dù người thầy thuốc có “ba đầu sáu tay” cũng không thể cứu giúp được trẻ con nếu người mẹ, gia đình vẫn mắc phải những sai lầm tai hại. Từ đó tôi luôn quan tâm đến lãnh vực giáo dục sức khỏe, làm sao để giúp bà mẹ những kiến thức tối thiểu cần thiết để nuôi con khỏe mạnh, không ốm đau bệnh tật.” Ông cho rằng, bà mẹ mới thực sự là “trung tâm bảo vệ sức khỏe” của con mình chứ không phải là bệnh viện hay các Trung tâm y tế.”

Trong Lời Ngỏ cuốn Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc viết:

“… ở đây không có “ông bác sĩ” viết cho thân nhân trẻ bệnh mà chỉ có người bạn viết cho người bạn, chỉ có người trong gia đình viết cho anh chị em mình, cho nên tôi viết bằng một giọng thân mật và cố gắng tránh những lý thuyết, những danh từ chuyên môn dễ nhàm chán”. Và trong lời Viết thêm ông bày tỏ một cách chân tình với bạn đọc: “Cuốn sách là những lời tâm tình, chia sẻ của một người vừa là thầy thuốc, vừa là người cha những năm xưa, nay đã trở thành ông nội, ông ngoại của mấy nhóc nhỏ rồi! Thời gian trôi nhanh thật.”

Trong nhiều thập niên và mãi đến giờ, cuốn sách này đã trở thành cuốn “sách gối đầu giường”, là “bửu bối”, là “báu vật” theo cảm nhận chân thành của nhiều người mẹ qua nhiều thế hệ.

Đỗ Hồng Ngọc thổ lộ: “Không gì vui hơn khi các bà mẹ nói rằng nhờ cuốn đó mà họ đã nuôi con được khỏe mạnh, và đặc biệt đã làm cho họ vơi bớt nỗi lo âu. Đối với tôi, bà mẹ mới thực sự là “trung tâm bảo vệ sức khỏe” của con mình chứ không phải là bệnh viện hay các Trung tâm y tế.”

Sau hai cuốn sách chuyên ngành mang tính phổ thông, thiết thực và có ích đó được đông đảo người đọc đón nhận và yêu thích, Đỗ Hồng Ngọc vẫn luôn luôn âm thầm đọc, học, viết. Có thể nói ông đã kết hợp nhuần nhuyễn, tài tình, khéo léo, hiệu quả đối với công việc “bộ ba” của ông: truyền thông giáo dục sức khỏe – dạy học – viết lách. Ông đã nghiền ngẫm viết lách, giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm với người khác. Để làm được những điều đó ông phải đọc, học, trải nghiệm rất nhiều và ông cho rằng “Viết cũng là học”. Vào thời điểm này, ông đã có ba cuốn sách về lãnh vực nhi khoa được phổ biến khá rộng rãi và một số sách viết cho tuổi già; mảng sách viết về học… Phật.

Trong buổi giao lưu với học trò cũ, ông tâm tình và chia sẻ như sau:

“Những năm cơ cực sau 1975, thầy bận rộn suốt ngày với bệnh nhi ở phòng cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng, ở nhà trông cậy một mình cô nuôi dạy các con. Nhiều bữa thầy về nhà tối om, đem thịt cá được “Tổ đời sống” chia cho đã ôi thiu về, cô chỉ biết cười trừ…”

Tình cảnh khó khăn, bi đát như thế cộng với rất nhiều khó khăn khác chắc chắn là ông rất ít có thì giờ, sức lực, điều kiện để đọc, để học, để viết. Nhà thơ Đỗ Trung Quân cho biết:

“Một ngày của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thật không còn chỗ thở: hội họp, giảng dạy, hướng dẫn chuyên môn, khám chữa bệnh ngoài giờ cho trẻ con. Anh là bạn thân của lứa tuổi Mực tím (Phòng mạch Mực Tím), là “ông ngoại” của những đứa nhỏ đang ốm sốt trong tay người mẹ trẻ. Việc viết lách, viết sách, làm thơ khi trời hừng sáng, dậy sớm, ngồi vào bàn computer gõ, để đó, khi nào rảnh mới xem lại, sửa chữa, sắp xếp. Sức làm việc thật dữ dội và tất nhiên cũng phải… chớm già thôi!’

Khó khăn, bận rộn là thế nhưng rồi ông đã vượt lên tất cả để viết và viết hàng loạt tác phẩm về y học như: Thầy Thuốc Và Bệnh Nhân, Săn Sóc Con Em Nơi Xa Thầy Thuốc (1986), Nuôi Con (1988), Nói Chuyện Sức Khỏe Với Tuổi Mới Lớn (1989), Sức Khỏe Trẻ Em (1991), Viết Cho Tuổi Mới Lớn (1994), Bỗng Nhiên Mà Họ Lớn, Bác Sĩ Và Những Câu Hỏi Của Tuổi Mới Lớn, Câu Chuyện Sức Khỏe (Tháng 6. 1994).

Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên trong bài viết về  tác giả Đỗ Hồng Ngọc (Khói trời Phương Đông, 2012) đã viết: Câu nói “Làm thầy thuốc là để cứu người; làm nhà văn là để cứu đời” có lẽ rất đúng với trường hợp Đỗ Hồng Ngọc- với những tác phẩm đa dạng của ông trong văn thơ, y học và Phật học.

Ông quan tâm đến những chuyện mà nhiều người lo âu và chia sẻ:

“Nhắc lại, giấc ngủ rất quan trọng. Phải ngủ đủ. Khoảng 7 – 8 tiếng một đêm ở tuổi này. Khi nào buồn ngủ thì đi ngủ, không thì thôi. Bài viết Có Một Nghệ Thuật Ngủ của tôi được nhiều bạn bè chia sẻ. Nhà văn Hồ Anh Thái ở Hà Nội bảo đã photocopy ra khá nhiều để gởi cho bạn bè vì lúc này nhiều người mất ngủ quá! Trên thế giới thì thuốc ngủ vẫn là thứ thuốc bán nhiều nhất! Tuổi càng cao, càng cần ngủ, như pin điện thoại xài lâu, sạc phải càng lâu. Ăn thì rất đơn giản thôi. Có gì ăn nấy. Tôi thường tự chế biến thức ăn cho mình. Càng ngày tôi càng học tốt hơn hạnh “độc cư”, “kham nhẫn / tri túc”.

  1. Học với Y vương

Năm 1997, Đỗ Hồng Ngọc bị tai biến mạch máu não. Trong cái rủi có cái may, trong thất bại có mầm mống của thành công. Sau cơn bệnh thập tử nhất sinh này, Đỗ Hồng Ngọc đã “ngộ” ra nhiều điều. Ông đến với thiền, kết hợp phương pháp thở bụng của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện và nghiền ngẫm, “hành thâm” Bát Nhã Tâm Kinh. Rồi 5 năm sau là Kim Cang, 5 năm tiếp theo là Diệu Pháp Liên Hoa, hình thành mảng sách mới lạ, độc đáo, cuốn hút người đọc từ các vị cao tăng, Tăng Ni, Phật tử đến những người “mê” Đỗ Hồng Ngọc ở những tác phẩm: Nghĩ Từ Trái Tim, Gươm Báu Trao Tay, Thấp Thoáng Lời Kinh, Ngàn Cánh Sen Xanh Biếc, Cõi Phật Đâu Xa, Thoảng Hương Sen… mà ông đều ghi là: “Thấp thoáng lời kinh…”. Từ những “thấp thoáng” đó, ông “ngộ” ra lẽ huyền vi của “lấp lánh ánh vàng”. Những cuốn sách thuộc loại “thấp thoáng lời kinh” này thực sự là một “hiện tượng” mới lạ, sôi nổi và độc đáo trong sinh hoạt văn học nghệ thuật nước nhà và văn học Phật giáo trong nhiều năm qua. Tôi không cường điệu chút nào khi nghĩ và viết như vậy!

Tôi chợt nhớ lại, khi Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lâm trọng bệnh có thể gọi là “thập tử nhứt sinh” (năm 1997) thì có người bạn dí vào tay ông cuốn Trái Tim Hiểu Biết dạng ronéo của Nhất Hạnh. Đỗ Hồng Ngọc từ đó tìm hiểu, nghiên cứu sâu thêm, nghiền ngẫm và thực hành Tâm Kinh Bát Nhã… Sau đó ông viết cuốn Nghĩ Từ Trái Tim để chia sẻ với mọi người với phong cách và cái nhìn của một bác sĩ, mang tính “khoa học thực nghiệm”. Ông ngại ngùng, đắn đo và cân nhắc dữ lắm, nhưng rồi ông cũng viết và gởi bản thảo nhờ Ni Sư Thích Nữ Trí Hải đọc và góp ý. Đêm hôm đó chùa bị cúp điện, Ni Sư Trí Hải nói phải đốt đèn, ráng đọc “chữ bác sĩ”. Sáng sớm hôm sau, Sư gởi lại bản thảo với lời khuyên: “Bác sĩ nên cho xuất bản cuốn sách này đi vì sẽ rất có lợi lạc cho nhiều người”. Nghĩ Từ Trái Tim xuất bản lần đầu năm 2003 đến nay đã tái bản 15 lần (2020)!

Đến đây thì chúng ta có thể “đồng tình” với tạp chí Văn Hóa Phật Giáo rằng: “Có một Đỗ Hồng Ngọc là người viết văn, làm thơ, có một Đỗ Hồng Ngọc là người viết về Phật học, có một Đỗ Hồng Ngọc là bác sĩ và cũng là nhà tư vấn tâm lý và sức khỏe cho tuổi mới lớn, doanh nhân, người già… được nhiều người quý mến”.

Phương châm, phong cách của Đỗ Hồng Ngọc khi viết là chân thành, tôn trọng, thấu cảm, thấu hiểu người khác, nhất là về những nỗi mất mát, để tạo nên năng lượng hóa giải sự khổ. Đỗ Hồng Ngọc tâm sự:

“Viết cho tuổi mới lớn, thì tôi… ở tuổi mới lớn, sống cùng tuổi đó, sống với tuổi đó, nghĩ như họ, nói như họ. Tôi viết như mình đang được trò chuyện với họ, như họ đang ngồi trước mặt tôi. Khi viết cho tuổi chớm già… thì tôi đang ở tuổi chớm già… Tóm lại, phải “thấu cảm” (empathy) nghĩa là phải “sống với”, cho thấu suốt nguồn cơn…”. Ông nghĩ rằng: “Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Tiếp cận với những cảnh đời, những con người, cũng là một nguồn cảm xúc để cầm lấy cây bút”.

Đỗ Hồng Ngọc được nhiều độc giả quý mến, chắn hẳn do cách viết của mình. Ông chỉ viết những gì mình thực sự trải nghiệm. Ông viết để chia sẻ kinh nghiệm chứ không phải từ sách vở mà ra. Khi viết, ông luôn nghĩ rằng như có độc giả đang ở trước mắt mình và đang trò chuyện với mình. Có lẽ kiểu viết như thế làm cho người đọc cảm nhận được người viết và độc giả có sự gần gũi, chia sẻ, trao đổi một cách chân thành, không kiểu cách, xa lạ. Đỗ Hồng Ngọc được mọi người hiểu, cảm, yêu, mến, vì ông trải lòng mình để chia sẻ cùng người đọc. Ông cho rằng chuyện viết lách là cái tình. “Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu…” (Chu Mạnh Trinh.)

Qua cơn mổ sọ não vì tai biến mạch máu, Đỗ Hồng Ngọc đến với Thiền học, Phật học để tiếp nối hơn 40 năm gắn bó với ngành y, để “dấn thân” hết mình theo tiếng gọi sâu thẳm của Y Vương:

“Cũng vậy. Khi tôi bị một vố bệnh nặng – tai biến mạch máu não, phải mổ cấp cứu – sau đó tôi đã tìm cách tự chữa trị cho mình. Tôi biết trường hợp này thuốc men chỉ là phụ, cái chính là thay đổi nếp sống, thay đổi nếp nghĩ, nếp nhìn. Tôi tìm đến Thiền học, Phật học là vì thế. Mình là bác sĩ, bất quá chữa được một phần cái “đau” còn cái “khổ” mình không chữa được. Có một bậc thầy, một y vương là Phật, sao không học nhỉ? Lại có một Bồ tát rất dễ thương tên là Dược Vương – thuốc vua – sao không học nhỉ? Vậy là tôi học. Rồi chia sẻ, bàn bạc, trao đổi lẫn nhau giữa bạn bè anh em, những người đồng bệnh tương lân.”

Quý hóa thay và đáng kính thay cái trí, cái tài và cái tâm của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!

Trong nhiều năm ở những bước đầu tập tễnh học Phật tôi may mắn được Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chỉ dẫn, khích lệ, đặc biệt là những bài học “thân giáo” mà tôi cảm nhận được. Nhờ đó mà tôi đã làm xong Tuyển tập Tôi Học Phật. Nội dung chính của Tuyển tập này gồm 4 cuốn “cốt lõi” trải dài trong 20 năm nghiền ngẫm, “lõm bõm học Phật” mới có được của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Đó là:

  1.  Nghĩ Từ Trái Tim (Viết về Tâm Kinh Bát Nhã),
  2. Gươm Báu Trao Tay (Viết về Kim Cang),
  3. Ngàn Cánh Sen Xanh Biếc (Viết về Pháp Hoa),
  4. Cõi Phật Đâu Xa (Viết về Duy Ma Cật).

Theo Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thì cuốn Cõi Phật Đâu Xa rất “quan trọng” vì nói lên vai trò của Cư sĩ, nhất là trong thời đại hiện nay (với cái nhìn khá mới mẻ). Và, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng nói thêm rằng hai cuốn Thấp Thoáng Lời Kinh và Thoảng Hương Sen… là những bài học tự rút ra cho bản thân mình, những giải thích, nhận định… để làm sáng tỏ thêm nội dung của 4 cuốn “cốt lõi” đã nêu trên.

Tuyển tập này được các anh chị trong nhóm “Phật học và Đời sống” chùa Xá Lợi chào đón và Hòa thượng Thích Đồng Bổn, Trụ trì chùa Xá Lợi gởi tặng Trang Nhà Quảng Đức. Và sau đó là Trang nhà Thư Viện Hoa Sen, Rộng Mở Tâm Hồn, Chùa Hương Sen v.v…

Trong Lời Ngỏ tuyển tập“Tôi Học Phật” Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc viết:

“Vào tuổi 80, tôi nghĩ đã đến lúc “về thu xếp lại”, đã đến lúc “nhìn lại mình…” như người bạn nhạc sĩ họ Trịnh kia đã nói. Về thu xếp lại, bởi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”, vì rất nhanh thôi, các tế bào thân xác kia đã có vẻ rã rượi, ù lì, và cũng rất nhanh thôi các tế bào thần kinh nọ cũng mịt mờ, mỏi mệt, nhớ trước quên sau… Đầu năm 2019, tôi gom góp in cuốn Về thu xếp lại như một cột mốc, một hẹn hò, rồi cuối năm tiếp tục gom góp in thêm cuốn Biết ơn mình như một nhắc nhở… Bên cạnh đó, cũng đã tạm một tệp bản thảo Đi Để Học, Ghi Chép Lang Thang… chủ yếu là một dịp để giúp “Nhìn lại mình”… Tôi cũng mong gom góp, tập hợp được một số bài viết, một số quyển sách nhỏ những lời biên chép bấy nay trong lúc lõm bõm học Phật, thấp thoáng lời kinh, làm thành một tệp để ngẫm ngợi khi cần. Muốn thì muốn vậy, nhưng lực bất tòng tâm rồi. Duyên may lại đến…

“… Cái học y khoa, tâm lý học, xã hội học cũng đã giúp tôi thấy rõ hơn vai trò thầy thuốc, tham vấn viên của bậc Y vương qua hình tượng các vị Bồ tát Thường Bất Khinh, Dược Vương, Diệu Âm, Quán Thế Âm… để không chỉ học hiểu lời kinh mà còn vận dụng vào nghề nghiệp cho sáng tỏ hơn…  Ở Duy-ma-cật, học Bất nhị. Kinh mở ra một cách tiếp cận mới, sinh động, cho dòng chảy mênh mang rộng khắp.

“Chắc chắn Phật không muốn chỉ có các đệ tử ngồi thiền định dưới gốc cây, tới giờ đi khất thực và đợi ngày nhập Niết bàn. Phật cần có những vị Bồ-tát đem đạo vào đời, tự giác giác tha. Thế nhưng, các Bồ-tát đầu tròn áo vuông cũng khó mà “thõng tay vào chợ” giữa thời đại bát nháo này. Vì thế mà cần Duy-ma-cật. Một thế hệ cư sĩ tại gia, nhằm thực hiện lý tưởng của Phổ Hiền Bô-tát…!

“Rồi từ những điều học hỏi, nghiền ngẫm, thể nghiệm… bấy nay mà tôi mạnh dạn sẻ chia với “Thấp Thoáng Lời Kinh”,  “Thoảng Hương Sen”, “Thiền Và Sức Khỏe”, “Nếp Sống An Lạc”… như một ứng dụng Phật pháp vào đời sống. Khi được hỏi “kinh nghiệm” về học Phật, tôi nghĩ trước hết, cần nắm được các thuật ngữ, sau đó là hiểu được các ẩn dụ, ẩn nghĩa, hàm chứa trong lời Kinh và quan trọng nhất là thực hành, ứng dụng vào đời sống, ở đây và bây giờ…

“Những năm sau này, tôi có dịp cùng học với nhóm bạn tại Chùa Phật học Xá Lợi về Lăng Nghiêm, Viên Giác, Lăng Già… Con đường học Phật thênh thang như cánh rừng kia mà ta mới tiếp cận vài hạt bụi rơi từ nắm lá Simsapa dạo nọ.

Xin được thưa thêm rằng Tuyển tập “Tôi Học Phật” gồm 4 cuốn “cốt lõi” trải dài trong 20 năm nghiền ngẫm, “lõm bõm học Phật” mới có được của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Theo Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thì cuốn Cõi Phật Đâu Xa rất “quan trọng” vì nói lên vai trò của Cư sĩ, nhất là trong thời đại hiện nay (với cài nhìn khá mới mẻ).

Với tấm lòng khao khát học hỏi và trí thông minh sẵn có, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã tiếp nhận rất bén nhạy nhanh chóng giáo lý vi diệu Phật Đà. Cũng có thể những tri kiến này được tích lũy từ nhiều kiếp trước, đã tiềm ẩn đâu đó trong Tạng Thức của ông nên những kinh sách ông học đã thấu đáo nghĩa lý. Kiến thức Phật Học của ông được nhiều bậc Tôn Đức, thức giả khen ngợi.

Khi Thầy Tuệ Sỹ tặng sách HUYỀN THOẠI DUY-MA-CẬT cho Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, Thầy đã ghi ở đầu sách, như một lời xác nhận cái trí tuệ đó :“Quý tặng Duy Ma Cư Sĩ Đỗ Hồng Ngọc.”

Tôi vui mừng và hãnh diện về điều này.

Như vầy tôi nghe; thưa Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!

Nguyễn Hiền-Đức

Santa Ana, tháng 3.2021

Sửa chữa, bổ sung tháng 7/2021

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Một chút tiểu sử, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký

Bệnh viện Nhi Đồng 1: Họp mặt Thầy Cô nhân Ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27.2

10/03/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Bệnh viện Nhi Đồng 1:

Họp mặt Thầy Cô nhân Ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27.2

Ngày CN 26.2. 2023, Bệnh viện Nhi Đồng 1 tổ chức buổi Họp Mặt Thầy Cô nhân Ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27.2, cũng để kỷ niệm 67 năm Ngày thành lập Bệnh Viện Nhi Đồng Saigon (1956).

Vài hình ảnh từ Video ngắn 1.48

để tặng các bạn Bv Nhi Đồng 1 (Bệnh viện Nhi Đồng Saigon) gần xa…

Thân mến,

ĐHN

 

https://www.youtube.com/watch?v=ywaI-ZKLXSE

Thuộc chủ đề:Uncategorized

Ngô Tiến Nhân: “ Du học “ chùa Tây Trúc – Lộc ninh

04/03/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

“ Du học “ chùa Tây Trúc – Lộc Ninh

Ngô Tiến Nhân (Fb)

Theo thông lệ Nhóm Học Phật chùa Xá lợi sau những buổi “ dùi mài kinh sử “ tại Trung tâm Phật học lại tổ chức một ngày “ đi điền dã “ , “ nhập Pháp giới “ đặng coi cái Lý cái Sự có viên thông chăng ?
Kỳ này Trưởng tràng BS ĐHN chọn Tây du – Chùa Tây trúc, một ngôl chùa lá đơn sơ ở Lộc ninh một vùng quê nghèo, đất cằn cháy nắng nằm không xa biên giới Căm pu chia !
Không ngẫu nhiên ;
Sau chặng đường dài ( khởi hành từ 5.30 ) ngôi chùa giản dị hiện ra trong khung cảnh đồng quê hiền hoà. Ân cần tiếp đón đoàn là Sư cô trụ trì Thích nữ Trung Hiếu, tốt nghiệp Học viện Phật giáo K7, quê Bình định song chọn mảnh đất khô cằn, người dân lam lũ này làm nơi hoằng Pháp .
Khoan 60m đem nước phủ màu xanh, cùng dân làm 700.000 liều thuốc điều trị Covid, phổ biến giáo lý, chép kinh Pháp hoa “ nhất Tự – nhất Bái “ ( lạy mỗi chữ – một cách hành trì riêng )…
Và tâm hồn Thi sỹ trải trong 4 tập thơ tặng Đoàn.
Không thể bỏ qua buổi đàm đạo lý thú về liễu nghĩa Kinh Pháp hoa giữa Cô và Đoàn !
Thật là Trùng trùng duyên khởi .
Giờ mới hiểu tại sao Trưởng tràng Bác sỹ – Thi sỹ ĐHN chọn Tây trúc làm điểm đến hôm nay !
Thật ấm áp khi đến đây, chợt nhớ câu :
Phụng sự Chúng sinh là cúng dường Chư Phật !

……………………………………………………………………

(Vài hình ảnh và chú thích của ĐHN)

Thăm chùa Tây Trúc, Lộc Ninh ngày 1.3.2023)

 

 

 

Nhóm Học Phật chụp chung tấm hình kỷ niệm trước phòng trưng bày thư pháp “Chuyện Đạo Chuyện Đời” của chùa Tây Trúc.

trà đàm trao đổi kinh nghiệm học Phật

thăm hỏi bệnh tình phụ thân Sư cô đang nằm chữa trị tại chùa.

Trên đường về, Nhóm Học Phật ghé thăm chùa Phật Quốc Vạn Thành, có tượng Phật cao 73 m, ở Bình Long (Bình Phước).

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim

Ban Mai (QN): Mời người lên xe về miền quá khứ… với Áo Xưa Dù Nhàu…

24/02/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Mời người lên xe về miền quá khứ

BAN MAI

“Mời người lên xe, về miền quá khư” với tác phẩm Áo Xưa Dù Nhàu… của Đỗ Hồng Ngọc tại Hội quán Các Bà Mẹ Tp.HCM ngày 12.2.2023.
Ban Mai (Thanh Thúy. hàng đầu, góc trái).

“Mời người lên xe về miền quá khứ” là buổi trò chuyện về tập sách “Áo xưa dù nhàu” của Bs. Đỗ Hồng Ngọc viết về 18 tác giả là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ mà ông có dịp hạnh ngộ.

Tập sách gồm 309 trang, in khổ nhỏ, bìa sách trang nhã, do NXB Đà Nẵng cấp giấy phép tháng 10.2022. Với những bài viết:

Nguyễn Hiến Lê, “… Để người quân tử… hò ơ…”

Võ Hồng, “Nỗi cô đơn uy nghi”

Cậu tôi, ông Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, “ người điên thứ thiệt”

Giáo sư Trần Văn Khê, “Đời thường…”

Dương Cẩm Chương, “Kẻ lữ hành không mệt mỏi của đường dài”

Thăm nhà văn Trang Thế Hy, … “thì cứ hỏi cuộc đời”

Thi sĩ Quách Tấn, Đọng bóng chiều

Gặp gỡ với nhà thơ Huyền Chi, Thuyền Viễn Xứ

Tôn Nữ Hỷ Khương, “ Chỉ có tình thương để lại cho đời”

Phạm Thiên Thư, “Như Lai thường trụ trên tà áo xuân”

Nhớ Tiếng thu giữa Boston

Một hôm, có“chàng Huy Cận”

Võ Phiến, Cuối cùng là sự Mộc mạc

Nguyễn Bắc Sơn… Thy Đạo

Trần Vấn Lệ, may mà còn nhớ thương

Du Tử Lê, “ tung cánh vàng xưa hạc vút bay”

Khánh Minh, Còn chút để dành

Cao Huy Thuần, Người khuân đá

…

Chỉ cần vài nét chấm phá ông đã vẽ nên cái thần của người đối diện, mỗi tác giả khoảng vài mười trang, đặc biệt ông dành nhiều trang sách cho Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư và Nguyễn Hiến Lê.

Đầu sách ông trang trọng giới thiệu học giả Nguyễn Hiến Lê, người ông chịu nhiều ơn như một người thầy. Bs Đỗ Hồng Ngọc từng khẳng định sách “Học làm người” của Nguyễn Hiến Lê có tầm ảnh hưởng to lớn cuộc đời của ông.. “Nhìn lại toàn bộ tác phẩm của ông, không ai chối cãi giá trị của những cuốn Đông Kinh nghĩa thục, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đại cương triết học Trung Quốc, Ngữ pháp Việt Nam… và những Chiến tranh và Hoà bình, Sử kí Tư Mã Thiên, Chiến Quốc sách… Những tác phẩm đó thực sự có ích cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên đại học và đã đóng góp một phần đáng kể cho nền văn hoá miền Nam. Nhưng theo tôi, những tác phẩm quan trọng trong đời ông, đáng cho ông hãnh diện chính là những tác phẩm nho nhỏ ông viết nhằm mục đích giáo dục thanh niên, hướng dẫn họ trong sự huấn luyện trí, đức. Đó là cuốn Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Tương lai trong tay ta, Rèn nghị lực…, và nhất là bộ Gương danh nhân của ông”.

Mấy năm trước, nhân chuyến đi về Miền Tây của các thành viên tạp chí Quán Văn ra mắt sách ở An Giang, chuyên đề “Trịnh Bửu Hoài- mùa nước nổi” Bs. Đỗ Hồng Ngọc đã đưa nhóm bạn tìm đến ngôi nhà cũ của học giả Nguyễn Hiến Lê, và đặt cuốn sách “Nguyễn Hiến lê con người và tác phẩm” được tái bản lần hai lên bàn thờ ông như một nén tâm nhang. Học giả Nguyễn Hiến Lê sống trong một ngôi nhà khá lớn, với khu vườn rộng xanh mát nằm trên mặt đường Tôn Đức Thắng, thành phố Long Xuyên. Ngày nay, ông bà đã mất chỉ còn bà Kim Liên, cháu gái vợ ông làm con nuôi gìn giữ ngôi nhà. Bà Kim Liên tiếp chúng tôi thân tình trong thư phòng làm việc của ông, cũng là nơi thờ tự di ảnh ông bà.

Nguyễn Hiến Lê sinh năm 1912, trong một gia đình nhà nho ở tỉnh Sơn Tây nay thuộc Hà Nội. Năm 1934, tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính Hà Nội ông được chuyển vào Nam làm việc và gắn bó đến cuối đời. Người vợ đầu có một con trai qua Pháp học từ nhỏ và định cư ở đó. Trước khi qua Pháp vợ ông đã đi hỏi cưới bà Nguyễn Thị Liệp là giáo viên dạy  trường nữ sinh Long Xuyên cho ông, nói là người sau nhưng thực ra bà Liệp lại là mối tình đầu khi ông vào Nam làm việc. Hai ông bà không có con, nên bà Liệp nhận cháu làm con nuôi. Năm 1984 học giả Nguyễn Hiến Lê qua đời, bà Liệp đi tu. Khi bà mất tro cốt của ông cũng được chôn cất chung trong một cái tháp cùng bà ở khu vườn riêng gia đình.

Thư phòng làm việc của Nguyễn Hiến Lê sạch mát, chỉ có một bàn nhỏ để viết, một tủ sách, một chiếc giường nhỏ để ông ngả lưng, bàn thờ ông đơn sơ. Ông là một học giả uyên bác của miền Nam Việt Nam mà tôi vô cùng kính trọng. Cũng như Bs Đỗ Hồng Ngọc, tôi chịu ơn ông rất nhiều và có lẽ rất nhiều tầng lớp hoa niên thế hệ Miền Nam chúng tôi cũng vậy khi có duyên tiếp cận tủ sách “học làm người” do ông biên soạn hoặc dịch thuật. Ông được mệnh danh là “ lương thức của thời đại”, tầm ảnh hưởng sách của ông rộng khắp các thế hệ thanh niên miền Nam. Ông xuất bản 120 tác phẩm, tác phẩm nào cũng có ích cho đời.

Với Bs Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Hiến Lê là một người thầy lớn của ông, là người khuyên ông theo học ngành Y, ông nói ngày đó nhà ông nghèo, cha mất sớm, ông học giỏi nên được nhảy lớp, và luôn đứng đầu, khi ông thi xong Tú tài II, ông vừa muốn học Văn khoa, Sư Phạm và ngành Y. Nguyễn Hiến Lê khuyên ông: Học Y, giúp gia đình và giúp đời cụ thể, nếu có tâm hồn và năng khiếu thì sau này có thể dạy học và viết Văn theo sở thích. Và về sau Bs. Đỗ Hồng Ngọcđã thực hiện được cả ba.

 “ Tôi là độc giả của ông từ ngày còn là một học trò Đệ Thất, lại được quen biết ông hơn 15 năm nay, nghĩ lại, nếu trong thời thơ ấu không được đọc những sách đó của ông, không được gặp ông, có lẽ tôi đã khác, nên tuy không được may mắn học với ông ngày nào, từ lâu tôi vẫn xem ông là một vị thâỳ của mình, hơn thế, một người thân” (1)

“Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Cuốn sách đầu tay của tôi “Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò” chỉ là một phần bổ túc cho cuốn Kim chỉ nam của học sinh. Sau đó tôi viết thêm một cuốn khác, cùng loại y học phổ thông, cũng nằm trong chiều hướng nâng cao trình độ đại chúng mà ông đã vạch. Ông nói muốn cho nước giàu, dân mạnh thì không phải chỉ một người hay một nhóm người làm được, mà phải là toàn dân cùng ý thức, cùng thực hiện. Muốn vậy phải đặt nặng vấn đề giáo dục đại chúng. Với tôi, ông là một tấm gương sáng. Tấm gương của Nghị lực, của Tự học và của Phụng sự” (1)

Chính vì học theo tấm gương của học giả Nguyễn Hiến Lê “một nhà trí thức Việt Nam, ngoài công việc chuyên môn ra, phải phổ biến những kiến thức của mình trong đại chúng thì mới có thể gọi là làm tròn nhiệm vụ trong giai đoạn này được” (2)

Bs. Đỗ Hồng Ngọc đã làm được điều đó, nhờ am hiểu ngành y ông đã phổ biến kiến thức sức khỏe cho cộng đồng với lối việc hóm hỉnh, dí dỏm , làm những vấn đề trầm trọng của người già trở nên nhẹ nhàng,người đọc thỉnh thoảng phải bật cười vì thấy mình ở đó trong những cuốn sách viết về tuổi trung niên như: “Những người trẻ lạ lùng”, “Gió heo may đã về”, “Nghĩ từ trái tim” là những bài viết như vậy.

Đôn hậu, nghiêm túc là con người của BS. Đỗ Hồng Ngọc mà bất cứ ai đã được dịp tiếp xúc đều nhận ra ngay, trãi qua bao thăng trầm của đời người ông thấm nhuần Thiền Phật, những bài ông viết cho giới trẻ, cho tuổi già là những nhắn nhủ của một người làm chuyên môn cho lời khuyên xác đáng để con người biết sống nhẹ nhàng hơn khi đối diện với tuổi xế chiều.

Ngoài học giả Nguyễn Hiến Lê với bài “Để người quân tử … hò ơ”, Bs Đỗ Hồng Ngọc còn dành nhiều trang viết cho Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, người cậu tài hoa của mình “người điên thứ thiệt” người đã thay mẹ mình dắt ông đi học ngày đầu tiên đến trường, vì khi đó ông mồ côi cha, sống trong chùa ở Phan Thiết. Cậu ông về cho ông đi học. “ Bây giờ, mỗi lần nhớ tới cậu, tôi thường tự hỏi, hồi bằng tuổi cậu, tôi có làm được điều gì đó cho ai như cậu đã làm cho tôi không và tự nhiên tôi thấy lòng mình rộng mở, thanh thản, muốn giúp đỡ, chia xẻ”. Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư nhà văn, nhà báo có nhiều bút danh trong đó bút danh Nguiễn Ngu Í (với I ngắn) được nhiều người biết với loạt bài phỏng vấn văn nghệ sĩ nổi tiếng đăng trên tạp chí Bách Khoa thập niên 1960 tài Sài Gòn. Ông có lối viết tiếng Việt riêng, gây nhiều tranh cãi. Ông là bạn cùng lớp, cùng trường Pétrua Ký với Trần Văn Khê, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng. Cuộc đời ông nhiều truân chuyên, tài hoa nhưng mắc bệnh không chữa được. Bị điên nhiều lần vào ra Dưỡng trí viện Biên Hòa, ông cùng các bạn điên ra tập thơ “Thơ điên thứ thiệt” trong đó có mấy bài góp mặt của Bùi Giáng. Thời đó, ngoài thuốc men, các bác sĩ ở Dưỡng Trí viện Biên Hòa còn khuyến khích bệnh nhân làm thơ, vẽ tranh, đánh cờ, lao động chân tay… như một liệu pháp chữa trị tâm bệnh. NguIễn Ngu Í có những bài rất cảm động như “ Má ơi con má điên rồi/ má còn trông đứng đợi ngồi mà chi?” hay ông làm câu đối trên bàn thờ ông bà “ Mắt mở đã thâý xiềng nô lệ/ Hồn đi còn mơ gió tự do”…, đọc thơ ông mà thương cho một kiếp người taì hoa, bất đắc chí.

Tập sách “Áo xưa dù nhàu” của Bs Đỗ Hồng Ngọc không phải là những bài phê bình văn học các tác giả, nó là những kỷ niệm, những tâm tình riêng của ông với bạn hữu, người thân mà ông yêu quý, kính trọng, nó như một tài liệu tham khảo trong làng Văn. Người đọc sẽ cảm được mạch văn giản dị, trong một con người đôn hậu, nghiêm túcmà bất cứ ai đã được dịp tiếp xúc đều nhận ra ngay.

Không gian trò chuyện trên căn gác nhỏ ở “Hội quán các bà mẹ” ấm áp thân tình, ông thích một không gian nhỏ để cuộc trò chuyện gần gũi hơn. Trong buổi trò chuyện tôi hỏi cuốn sách viết về những tác giả này ông có chuẩn bị trước tài liệu hay lên đề cương chi tiết cho từng tác giả, ông nói ông không chuẩn bị gì cả, cứ mỗi tác giả những kỷ niệm hình ảnh tự nhiên ùa về và thế là ông viết. Tình cảm của ông dành cho họ đã có sẵn trong tim cứ thế tuôn tràn. Đó là hạnh phúc của người viết cho từng hạnh ngộ. Địa điểm Bs Đỗ Hồng Ngọc chọn khá độc đáo nằm trong con hẻm giữa Đài truyền hình VTV và HTV, số 7 Nguyễn Thị Minh Khai Quận 1. Lọt thỏm giữa trung tâm thành phố sầm uất lại có 1 phiên chợ quê, một tuần nhóm 1 lần dưới gốc cây đa cổ thụ vào sáng chủ nhật do “Hội quán các bà mẹ” tổ chức, tái hiện một chợ quê miền Nam mà người bán mặc áo dài với những mẹt thúng, mẹt rổ, những món ăn, rau trái dân dã, củ chuối, củ mình tinh, mứt vỏ bưởi sấy khô, bánh bột lọc, bánh nậm, bánh ú, bánh thuẫn, lâu rồi mới ăn lại cái bánh cam, vỏ bánh giòn rụm rưới mè, bên trong nhân đậu xanh vừa ngọt vừa bùi, bánh dẻo thơm mùi lá dứa, chén chè đậu xanh nước dừa… Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc đã cho tôi một buổi sáng chủ nhật thú vịvới ” Mời người lên xe về miền quá khứ”.

 

BAN MAI

18.2.2023

—————-

  • “Áo xưa dù nhau”. Bs Đỗ Hồng Ngọc, NXB Đà Nẵng, 2022, tr 23, 30
  • Lời tựa của Nguyễn Hiến Lê viết cho tập sách “Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò” của Bs. Đỗ Hồng Ngọc, năm 1971.

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Tự-tại Vô-ngại

21/02/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Tự-tại Vô-ngại

(tặng Nguyên Giác Phan Tấn Hải),

Mục tiêu của Kinh Hoa Nghiêm là giúp ta có được cuộc sống an nhiên, tự tại, hạnh phúc ngay ở đây và bây giờ… Một thế giới hoa tạng, rực rỡ xinh đẹp sẽ được thành tựu tùy tâm mình. Cho nên người có khả năng làm chủ chính bản thân mình, người biết sống Tự-tại Vô-ngại là người làm chủ được cả… thế giới (Thế chủ diệu nghiêm) chớ không phải thần thánh từ phương nào!

Học Hoa Nghiêm là để thấy được Lý vô ngại, Sự vô ngại, và nhờ đó mà đạt đến “Sự Sự Vô Ngại” vậy.

Vô ngại là không bị trở ngại, không bị ngăn che, không bị chia cắt, không còn phân biệt, là được thông suốt, thông dung… vì đã thấy được cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, trong mạng lưới trùng trùng duyên khởi, duyên sinh, thấy được “hữu-hóa” (Hoa Nghiêm) đều đến từ trong tánh Không (Bát Nhã), vì không có Tự tánh riêng biệt.

“Lý” mà được hiểu vậy rồi thì cái núi Tu-di to đùng kia có thể nhét vào hạt cải, nước bốn biển mênh mông nọ có thể dung chứa trong một lỗ chân lông. Bát Nhã giúp ta thấy được chân Không, vô tướng. Nhưng Không ở đây không phải là không có. Còn cái có chỉ do duyên sinh mà có, nên được coi là “diệu hữu”, một cái có tuyệt diệu, có khi nó chỉ hiện hữu trong thoáng chốc (vô thường) rồi biến mất làm cho ta ngẩn ngơ! Phải có cái nhìn (thấy biết) “thật tướng” như Phật dạy trong kinh Pháp Hoa: thì mới “ngộ nhập tri kiến Phật”.

Ở Kinh Pháp Hoa, Phật nói có một pháp môn rất hay, có thể giúp các vị Bồ-tát mau thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Pháp môn này gọi là Vô Lượng Nghĩa. “Vô lượng nghĩa này từ một pháp sanh ra, một pháp ấy chính là Vô tướng. Vô tướng ở đây nghĩa là vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng nên gọi là thật tướng”. Cái “thật tướng” đó nó mới đẹp làm sao! Nó hiện hữu từ vô tướng, sinh trụ dị diệt trong chốc lát ở nơi “hữu vi” rồi trở  về lại với vô tướng. Kim Cang nói: “Nhất thiết hữu vi pháp/ như mộng, huyễn, bào, ảnh/ như lộ, diệc như điện. Ưng tác Như-thị quán”. Tất cả mọi sự vật hiện tượng ở đời (hữu vi) thì như giấc mộng, như huyễn, như bèo bọt, như ảo ảnh, như sương mai, như điện chớp… Hãy quan sát để thấy như thế. Đừng có bám chấp, đừng có ảo vọng.

Cánh hoa lung linh trước gió, con bướm đầy màu sắc chập chờn, con ong hút mật, con công đang múa, sư tử gầm gừ… tất cả đều từ một “Tạng” mà ra. Chính là Như Lai tạng (tathagata-garbha). Tất cả pháp giới các vị Phật cho đến Thiên, Nhân… Ngạ quỹ cũng đều từ Như Lai tạng mà ra như thế. Bồ tát Phổ Hiền ở trong Tam muội của mình thấy rõ: “Nhất thiết chư Phật tỳ-lô-giá-na Như Lai tạng thân”. Nói khác đi, Thân của các vị Phật, chính là tỳ-lô-giá-na kia , đều từ Như Lai tạng mà ra!

Một lần nọ, Phật hỏi Duy-ma-cật ông quán Như Lai thế nào? Duy-ma-cật trả lời: Tôi quán pháp thân Như Lai, cũng như quán pháp thân Phật và tôi, không khác!

Có điều Phật thì do nghiệp do duyên từ nhiều đời nhiều kiếp, nay thành Đức Phật toàn giác với 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, còn tôi… chỉ là một vị được gọi là Bồ-tát ở thành Tỳ-da-ly này, tôi phải tu hành nhiều đời nhiều kiếp nữa! Phật cười: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành! Bởi ai cũng sẵn có Phật tánh, ai cũng có Pháp thân sẵn đó rồi. “Một là tất cả và tất cả là Một” vậy.

Thú vị của Kinh Hoa Nghiêm là ở phẩm “Như Lai hiện tướng”! Như Lai vốn “vô tướng” bỗng “hiện tướng” ra Đức Phật. Để làm gì? Để “cứu khổ” cho muôn loài nên được gọi là Đạo sư, Thiên Nhân Sư.  Có một bài đồng dao của trẻ con: “Một ông Phật hiện ra, ba con Ma biến mất”! 3 con Ma là Ma tham, Ma sân và Ma si. Tham Sân Si mà… biến mất thì Niết-bàn đây rồi chớ đâu! Bằng cách nào? Dễ thôi. Tứ Diệu Đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên… từng bước cho đến khi thấy Như Lai vô tướng, thấy được Như Lai tạng, nhìn mọi thứ bằng thật tướng của nó và từ đó… sẽ Ung dung, Tự tại, Sự sự Vô ngại!

Phật lúc nào cũng ở trong Định, ít khi xuất hiện. Nhờ có hai “thị giả” là Bồ-tát Văn Thù trí tuệ cưỡi sư tử một bên và Bồ-tát Phổ Hiền từ bi cưỡi voi sáu ngà một bên thay Phật thuyết giảng. Phật chỉ ngồi yên cười… tủm tỉm, không nói năng chi. Trước khi nhập Niết-bàn Phật dặn dò đệ tử: Xưa nay, ta chẳng nói điều gì, ta chẳng dạy ai điều chi cả! Bởi Phật biết sau này có Internet, có AI các thứ thì họ sẽ nói lung tung rồi đổ thừa Phật!

Thiện Tài Đồng Tử được Di Lặc cho thấy lâu các Tỳ-lô-giá-na (Kinh Avatamsaka =Gandavyuha). Tranh Nepal, thế kỷ 11-12.

 

Thiện Tài đồng từ là chàng thanh niên bỡ ngỡ bước vào đời muốn học Bồ-tát đạo, may gặp Văn Thù chỉ cho con đường và chàng lang thang khắp chốn để học với tất cả mọi người, mọi giới…với lòng khiêm cung, chí thành để cuối cùng gặp Phổ Hiền, học được Tam muội Đại định (Samadhi) mà thấy biết Pháp thân Tỳ-lô-giá-na của mình, quay trở về kho tàng thân xác của chính mình để từ đó “thành Phật” vậy.

Đỗ Hồng Ngọc

(Tôi học Phật)

(2.2023)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Vài đoạn hồi ký

Vài hình ảnh buổi Trò chuyện về cuốn “ÁO XƯA DÙ NHÀU…”

18/02/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Vài hình ảnh về buổi Trò chuyện “ÁO XƯA DÙ NHÀU…”

Bạn bè nơi xa hỏi thăm buổi Trò chuyện của mình về cuốn sách mới: “Áo Xưa Dù Nhàu…” tại Hội quán Các Bà Mẹ 12.2.2023, trong đó Anh Hai Lấp Vò… cằn nhằn nhiều nhất: sao im re, chả viết “tường thuật” gì cả vậy!

Mình chọn địa điểm Hội quán CBM để thực hiện buổi Trò chuyện thân mật và ấm cúng về cuốn Áo Xưa Dù Nhàu… này vì nó còn giữ được nét quê mùa… “chật chội, nực nội” nên gần gũi và ấm cúng lắm. Nghĩ bụng chắc có chừng vài mươi người bạn thân thiết đến chơi là vui rồi, ai dè đông gấp 4-5 lần nên có người phải bực bội ra về. Rất xin lỗi nhe.

Xin gởi vài tấm hình bạn coi vui như mọi khi, vì lúc này làm biếng viết quá rồi đó.

Cô Thanh Thúy, Hội trưởng Hội quán CBM có đôi lời giới thiệu người không xa lạ là “Nhà thơ-Bac sĩ ĐHN” vốn từ xưa cùng GS Trần Văn Khê đã là “cố vấn” của Hội quán…

 

Sau đó mình phải giải thích tại sao mình chọn địa điểm “nhà quê” này -giữa thành phố có nhiều hội trường máy lạnh rộng rãi- vì ở đây còn có chợ quê, có cây đa cuối hẻm… và giải thích tại sao BTC giới thiệu mình là “nhà thơ-bác sĩ”, vì kinh nghiệm mấy lần ghi 2 chữ “Bác sĩ ĐHN”  thì thính giả chỉ hỏi miết về bệnh tật. Mình nói rõ thêm đã làm thơ từ trước khi làm bác sĩ và mình bèn đọc vài bài thơ… để làm chứng! Vậy đó.

Bạn bè đông thiệt, bất ngờ quá!

Nhạc sĩ Trần Văn Quang “phụ trách” phần âm nhạc hỗ trợ vì “Áo xưa dù nhàu…”,  và anh đã hát Phôi Pha (TCS) bằng giọng trầm ấm của một người bước vào “gió heo may…”

 

 

 

 

 

 

 

 

Đã có rất nhiều cậu hỏi… và không khí trở nên sôi động!

Thu Vân hát “Hạ Trắng”, là bài hát chủ đề của buổi hôm nay, có câu “Áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu, gọi mãi tên nhau…” của TCS… rất da diết, sâu lắng…

Ảnh Huỳnh Ly (TT)

 

Nguyễn Nhật Ánh Thy hát “Còn tuổi nào cho em” (TCS). Hát xong cô hỏi “sao con thấy bác có vẻ trầm ngâm vậy?” mình trả lời vì còn tuổi nào cho em đó mà!

 

 

 

 

 

 

 

 

Và đây là một vài comments:

  • Em cảm ơn anh đã mời em “lên xe, về miền quá khứ” của anh để thấy được những bài học giá trị, từ những con người rất đặc biệt. Họ có mặt trong cuộc đời anh, để một phần làm nên một Đỗ Hồng Ngọc hôm nay. Em cũng học được ở anh cách chia sẻ hồn nhiên và sâu sắc, tinh tế và dí dỏm. Em học được cách làm việc rất chuyên tâm của anh, mạch chuyện được viết xuống tờ giấy nhỏ, thỉnh thoảng ghi chú thêm, được anh dẫn dắt cách tự nhiên và nhạy bén. Anh cứ việc là mình vậy thôi, là vui rồi, phải không ạ? (M.Y)

 

  • Lòng biết ơn là một điều tuyệt vời trong cuộc sống. Lòng biết ơn cho ta thêm năng lượng tích cực, vừa biết yêu thương người khác, vừa biết yêu thương mình, lại thêm sức sống và yêu đời.
    Con cũng học được cách yêu thương, quý trọng, nâng niu từng phút giây sống trong hiện tại.
    “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
    Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
    Lợi danh như bóng mây chìm nổi
    Chỉ có tình thương để lại đời”
    Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương
    Con đã đến buổi hội thảo và ra về mang theo nhiều hạnh phúc và nhiều giá trị không đong đếm được.
    Cám ơn Bác.

(Tú Quyên)

Hẹn thư sau.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(18.2.2023)

…………………………………………………………………………………………………….

Áo Xưa Dù Nhàu… và lời tri ân của nhà văn Đỗ Hồng Ngọc

Huỳnh Vy

(Theo https://tuoitre.vn/)

Ở tuổi 83, nhà văn – nhà thơ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vẫn rất hóm hỉnh trong buổi trò chuyện thân tình cùng độc giả, nhân dịp giới thiệu quyển sách mới: ‘Áo xưa dù nhàu…’.

Trong không gian thân mật tại Hội quán Các bà mẹ trưa ngày 12-2-2023, nhiều bạn bè thân hữu và độc giả thân thiết đã đến chung vui cùng nhà thơ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, trong đó có những độc giả đến từ tận Tiền Giang, Đà Nẵng, Quy Nhơn…

Tri ân những người bạn lớn

Buổi trò chuyện bắt đầu bằng những ca khúc nhạc Trịnh quen thuộc. Cái tên Áo xưa dù nhàu… cũng chính là lời Bạt mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết cho quyển sách Gió heo may đã về của Đỗ Hồng Ngọc năm 1997. Đến nay, lại trở thành tên của quyển sách mới.

Áo xưa dù nhàu… là tập sách khắc họa chân dung 18 nhân vật qua góc nhìn riêng của tác giả Đỗ Hồng Ngọc. Ông cho biết mình không phải chuẩn bị lâu vì những câu chuyện, những kỷ niệm cùng các nhân vật đều nằm sẵn trong tim. Đó là những người thầy, những người bạn lớn trong cuộc đời ông.

Những gì ông kể ra chỉ là một phần nhỏ về họ. Một góc nhìn rất dung dị, gần gũi, thậm chí là hài hước. Cách sắp xếp các nhân vật trong sách cũng đơn giản đi từ già đến trẻ, từ những người đã mất đến vẫn còn sống…

Khi được hỏi về thông điệp của Áo xưa dù nhàu…, tác giả Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ giản dị: “Đó là lời tri ân và gợi nhắc những kỷ niệm xưa. Ví như tôi học cách sống, cách viết của ông Nguyễn Hiến Lê. Còn với cậu tôi, ông Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, lại là những ký ức khó quên về người đã nắm tay dắt tôi đến trường.

Có rất nhiều kỷ niệm mang đậm tính cá nhân riêng tư như thế, nên thật khó nói thông điệp hay bài học. Tôi nghĩ chỉ cần tri ân những người đã giúp đỡ ta, vậy là tốt rồi!”.

“Nhà” nào cũng quyến rũ

Trong buổi trò chuyện, nhà thơ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng đùa vui về danh xưng “nhà thơ” của mình. Ông đã làm thơ đăng báo từ lúc 16 – 17 tuổi và có bút danh Đỗ Nghê (ghép từ họ của ba và mẹ) trước khi thi vào trường y và trở thành bác sĩ.

Những ngày đi thực tập đỡ đẻ ở Bệnh viện Từ Dũ, ông viết Thư cho bé sơ sinh – một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của ông. Hay bài thơ viết cho người mẹ đã mất nhân dịp Vu Lan, một bài thơ ngắn đầy xúc động của ông – cũng từng được nhiều người chia sẻ.

Khi được độc giả hỏi “anh có nhiều nhà” quá: nhà văn, nhà thơ, nhà thiền học, nhà giáo…, sắp tới nếu viết về một “nhà”, anh chọn “nhà” nào?”; tác giả Đỗ Hồng Ngọc cười: “Chắc là Nhà tôi!”.

Nhà văn Nguyên Cẩn bày tỏ sự ngưỡng mộ: “Nhà nào cũng vậy, Đỗ Hồng Ngọc luôn có thể viết đầy dung dị, hài hước, dễ hiểu và đầy quyến rũ”.

Những chân dung được Đỗ Hồng Ngọc “vẽ” lại theo cách riêng

Áo xưa dù nhàu… là tác phẩm mới nhất của nhà văn – nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, do Phanbook và NXB Đà Nẵng ấn hành.

Cuốn sách tập hợp những ghi chép về 18 chân dung nhân vật Nguyễn Hiến Lê, Võ Hồng, Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, GS Trần Văn Khê, Dương Cẩm Chương, Trang Thế Hy, Quách Tấn, Huyền Chi, Tôn Nữ Hỷ Khương, Phạm Thiên Thư, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Võ Phiến, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Vấn Lệ, Du Tử Lê, Khánh Minh, Cao Huy Thuần.

Nhà thơ Trần Thị Nguyệt Mai bình về Áo xưa dù nhàu…: “Ngoài là bác sĩ, Đỗ Hồng Ngọc còn là một nhà thơ (Đỗ Nghê), một họa sĩ của những bức ký họa được bạn bè yêu thích.

Nên những chân dung được ông “vẽ” lại theo cách rất riêng, không giống với một ai, bằng đôi mắt của người thầy thuốc yêu nghề, chọn lọc những góc cạnh độc đáo của họa sĩ và trải lòng với tâm cảm của nhà thơ, nên có những bài viết đẹp như thơ…”.

(Tuổi Trẻ online,12.2.2023)

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Hội quán Các Bà Mẹ: THƯ MỜI

09/02/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Hội Quán Các Bà Mẹ Tp. HCM

Thư Mời:

 

 

 

 

Áo xưa dù nhàu… là tuyển tập 18 bài viết của tác giả Đỗ Hồng Ngọc về 18 chân dung văn nghệ sĩ ở những lĩnh vực chủ yếu là văn chương, âm nhạc và hội họa. Đó có thể là những tên tuổi lớn như Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Khê, Du Tử Lê, Huy Cận… hay những người trong gia đình, người bạn thân quen của tác giả. Điểm chung giữa họ đó là đều có duyên hạnh ngộ với Đỗ Hồng Ngọc trên bước đường văn chương và cuộc đời.
Bằng giọng văn mộc mạc nhưng chan chứa tình cảm và sự trân trọng, Đỗ Hồng Ngọc đã truyền được cảm xúc của mình đến người đọc. Qua cái nhìn của tác giả, ta sẽ không chỉ khám phá được cái hay, cái đẹp của các nhân vật qua từng bài viết mà còn cảm nhận được cái nghĩa, cái tình trong mối quan hệ giữa người thầy thuốc viết văn ấy với bạn bè.

………………………………………………………………………………………………………….

Thân gởi bạn,

Rảnh đến chơi nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

9.2.2023

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Thư gởi người bận rộn, Vài đoạn hồi ký

Đọc thơ Khánh Minh: tháng năm là mộng đang đi

05/02/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Đọc Thơ Khánh Minh

tháng năm là mộng đang đi

 

 

Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)

Khánh Minh tâm sự: “Với riêng tôi, Lục Bát thân thuộc như hơi thở. Cha mẹ tôi kể thường ru tôi ngủ bằng những câu thơ lục bát. Như thế thì chưa biết nói đã được nhạc Lục Bát ấp ủ trong từng hơi thở đầu đời. Cứ thế mà bén rễ, ăn sâu vào cảm thức, cho đến khi bật ra thành câu thuở chập chững làm thơ…

Và tôi đã cảm nhận rằng Lục Bát, dù mang nét chân phương như ca dao, vè, hay đầm đẫm nét sang cả của một Sáu Tám thâm viễn u u, thì ở mỗi tính cách, Lục Bát vẫn có sức quyến rũ riêng.

Tôi đã gom lại những bài Lục Bát của mình để có được một tặng phẩm nhỏ này như một tri ân Lục Bát, như quả thu được từ hoa lời ru của cha mẹ, như sợi tằm chắt chiu gửi cho Đời cho Người…”

– Nguyễn Thị Khánh Minh

(Santa Ana, một ngày Thu, 2022)

Khánh Minh có lần cho biết, trong bài phòng vấn của Lê Thị Huệ trên gio.o.com  : Tôi vẫn luôn luôn viết từ cảm xúc tức thời của mình, về những điều tôi chợt thấy, hay về những điều ám ảnh và trở đi trở lại trong ý nghĩ mình, và tôi thường diễn đạt theo một thi pháp trong sáng nhất, trong sáng với nghĩa dễ hiểu, không nhiều ẩn dụ. Tôi mong là người đọc thơ tôi cảm được cái Thơ của nó không qua suy nghĩ. Một cái hiểu và cảm tức thì. (gio.o.com).

Nhiều người cho rằng Lục bát thì “dễ làm mà khó hay”, nên phải làm mới, đưa kỹ thuật hàn lâm vào để nâng cao, để có thứ lục bát “đầm đẫm nét sang cả của một Sáu Tám thâm viễn u u” thì tôi chịu thua! Theo tôi, làm mới lục bát đúng là một chuyện không dễ  và… không cần. Nó là một thứ tiếng nói. Tiếng nói Việt. Cho nên cách tân lục bát để “hàn lâm” nó chỉ gây thêm khổ cho cả người thơ và người đọc.

Nhiều bài lục bát hàn lâm, sang cả u u, tôi ráng hiểu, thấy khâm phục, nhưng lạ, sao không thấy hay! Đành cười mình dốt đặc! Hay, với tôi là cái đọng lại, cái ngẩn ngơ sau những câu chữ buột miệng, tình cờ… kiểu như thò tay ngắt một cọng ngò, thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ… Phải, thứ lục bát của ca dao tôi, của tâm hồn tôi. Nó quê mùa, nó chơn chất. Trèo lên cây bưởi hái hoa/Bước xuống vườn cà… nó cứ trơn tuột như vậy, bước xuống vườn cà để làm gì? Để hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc/ Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay. Ai bảo nó là lục bát. Ai bảo nó không là lục bát. Ba đồng một miếng trầu cay/ Sao anh không hỏi những ngày còn không/ Bây giờ em đã có chồng… Vậy đó. Nó cứ tuồn tuột. Mà nó bứt rứt, mà nó thốn đau, mà nó đay nghiến, mà nó dằn vặt… có khi đến trọn  đời. Với tôi, còn là thứ lục bát con cò mà đi ăn đêm, trông trời trông đất trông mây… toàn là những nỗi đau, nỗi mong, nỗi đợi. Lục bát như vậy nó không cần đi vào sang cả u u, phải vật vã truy tìm, mà nó đi thẳng vào tim với rung động sáu cách…!

tháng năm là mộng đang đi… của Khánh Minh là một tập thơ lục bát lạ, nó vừa “sang cả u u” lại vừa “chơn chất thật thà”, đầy những kỷ niệm nhỏ to với bạn bè khắp chốn. Bởi nó là mộng. Mộng thấy quê nhà là nét dễ mến nhất, “khánh minh” nhất. Mộng thấy biển xanh. Thấy bóng nắng. Thấy cổ tỉnh. “Vằng vặc một tấm lòng/ Giếng xưa trăng rọi bóng” (trạm trạm nhất phiến tâm/ minh nguyệt cổ tỉnh thủy. Nguyễn Du).

Vòng tay mở rất quê nhà

Trông lên đôi mắt đã là quê hương

(2008)

Tôi biết nhà thơ muốn viết đã nhòe quê hương…

(tháng năm là mộng đang đi)

 

Và ta hiểu nỗi cô đơn dằng dặc thế nào trong cảnh sống xa quê của một người có tấm lòng “cổ tỉnh”.

Nói thầm

Gọi thầm

Hát thầm

Luôn luôn như thế

Lặng câm

Một mình

Như cơn sốt nặng làm kinh

Bật lên tiếng gọi thình lình. Giữa đêm

Thì ra vì quá lặng im

Sợ quên. Nên gọi. Để tìm mình thôi

(Nói thầm)

Bỗng nhớ Thanh Tâm Tuyền hơn nửa thế kỷ trước:

Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ

Thanh Tâm Tuyền Thanh Tâm Tuyền.

(Tôi không còn cô độc, 1956)

 

Không dừng ở đó, tháng năm là mộng đang đi lại là nỗi tìm về.

 

Về trong tiếng gọi cội nguồn

 Một tâm xao động. Một hồn tịch nhiên

Lắng vào lời của vô biên

Nghe trong ta nở một miền cỏ hoa.

(NHƯ)

Lắng vào lời của vô biên/ Nghe trong ta nở một miền cỏ hoa. Phải rồi. Đó mới chính là Khánh Minh. Là nghe tiếng gọi cội nguồn, là nghe lời nói của vô biên, là đã trở về với Như Lai thực tướng.

 

Thầy Phước Hậu năm xưa (1862-1949) đã ghi nhắc:

“Kinh điển lưu truyền tám vạn tư

Học hành không thiếu cũng không dư

Năm nay nghĩ lại chừng quên hết

Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ.”

 

*

Tôi thử đi tìm ca dao trong lục bát Khánh Minh. Có đó.

Vậy mà mình đã quên nhau

Lời ca dao cũ vọng đau tháng ngày

Sẻ chia một thoáng gừng cay

Muối tình phai giữa biển đầy lãng quên

(Gừng cay muối mặn)

Ôi, biển đã hết mặn rồi sao? Gừng đã không còn cay nữa sao?

 

Lúc đầu tôi định chỉ trích vài câu trong Bùa Quê thôi mà không cầm lòng được, đành trích nguyên bài “Lá bùa hộ mệnh” này. Và như vậy tôi mới thấy nhà thơ rõ hơn, ngôn ngữ “bùa mê thuốc lú” rõ hơn.

 

Quen hơi bóng nắng tre xanh

Cho ngơ cho ngẩn khi mình đi xa

Ếm vào chân nỗi nhớ nhà

Đường chông chênh lạ vẫn à ơi quê

Cứ như ai dắt bước về

Chợp con mắt lại bùa mê bóng làng

Hàng cau xanh biếc thời gian

Mầu hoa bí vẫn nở tràn giấc mơ

Bước non bước biển bây giờ

Mênh mông một khoảnh ao xưa, là nguồn

Lá bùa hộ mệnh – quê thơm –

Chở tim đồng nội, che rơm rạ lòng

Biển khơi, nhớ ngụm giếng trong

Nắng mười phương, vẫn hương đòng lúa hoa

Núm quê chiu chắt con xa…

 

(Bùa Quê)

2006

 

Không chỉ vậy, thấm đẫm nơi Khánh Minh còn là cõi Phật, với Nghiệp, với nhân quả, với “mũi tên nào để vết thương/ thôi thì đau, để nhẹ nhàng cái vay”.

 

Mũi tên nào để vết thương

Thôi thì đau, để nhẹ nhàng cái vay

Hạt vơi đong nỗi hạt đầy

Ơn trời, mưa bóng mưa mây thôi mà

Đi đi. Đường hãy còn xa…

(Dặm trường)

Tôi cũng nghĩ vậy. Đi đi. Đường hãy còn xa.

 

(ĐHN)

Nguyên tiêu, Quý Mão

(5.02.2023)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Mấy ngày Tết

30/01/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Mấy ngày Tết,

Thú thiệt, bây giờ mình không biết Tết là gì. Ngày nghỉ ư? Ngày nào mà chẳng là ngày nghỉ.  Giao thừa ư? Đêm nào mà chẳng là đêm giao thừa. Pháo nổ ư, có, pháo hoa, trên internet. Lời chúc Tết tràn lan trên mạng. Ai cũng giống ai. Ba cái lăng nhăng cũng không có. Ăn uống chỉ cần cơm trắng, cá khô đù một nắng, ít rau là đủ… Chưng một bình bông, trái cây lên bàn thờ. Xong.

Hết chuyện.

Ờ, mà có Tết chớ sao không! Ngủ một đêm sáng ra thấy mình thêm một tuổi. Ở đâu ra vậy? Trên cuốn lịch.  May có thằng con kêu để đến chở đi chơi một vòng. Ừ thì đi. Ba nhớ Lagi, Phan Thiết, Mũi Né… Nhớ gió bấc lắm. Xưa, chỉ cần nghe mùi gió bấc, mùi cốm hộc là biết Tết.

Sáng Mùng 2, Việt đến đưa Ba Má đi một vòng, có thằng Nguyên cháu nội cùng đi theo giúp đỡ ông bà. Ồ, có Tết rồi! Xe chạy vòng qua Bưng Riềng, khu rừng nguyên sinh thơm mùi cỏ cây tươi mát. Nhớ lúc 7-8 tuổi mình tản cư ở vùng này. Xe chạy dọc biển, ngang Láng Găng, khu rừng Tràm, rừng Khỉ, suối nước nóng Bình Châu. Xe tới làng gọi là “Làng Đồng Bào”… Thì ra đây là khu người Chăm, xưa tên là Phò Trì, mình lại nhớ từng ở đây lúc 5 tuổi, theo cha tản cư. Nhỏ xíu, sao còn nhớ được đã ở đậu nhà ông Hai Tại, có 2 thằng con cùng tuổi, tắm sông, vọc cát… Tối, mọi người đốt lửa suốt đêm, dùng củi gộc để cọp tránh xa, và un khói bằng phân trâu bò để tránh muỗi. Khoai lùi và hột đào (điều) nướng là tuyệt nhứt. Còn nhớ xưa làng có thầy Kiết hình như làm kiểm lâm, có cô vợ người Chăm lai Pháp rất đẹp (!). Hỏi thăm thì ai nấy đã không còn. Con cháu chẳng biết về đâu.

Ồ có cái quán cà phê ngộ. Có ruộng lúa, có con trâu… xa kia là động cát trắng và biển cả.

Quán cf Làng Đồng Bào trên đường về LaGi.

 

 

 

 

 

 

Từ đó, về LaGi không còn xa. Mình thích nhất là Farmstay ở đây, có tính gia đình, khung cảnh còn “quê mùa” tuyệt đẹp với thảm cỏ xanh, hồ nước đen, còn nhiều dừa chuối cây lá. Lần trước, nơi đây mình đã tổ chức một buổi họp mặt bà con, bạn bè nhân ra mắt cuốn Bông hồng cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật. (www.dohongngoc.com).

LaGi Farmstay Đỗ Nguyễn Hồng Nguyên và Đỗ Châu Việt (Mùng 2 Tết Quý Mão, 2023)

Lần nào về Phan Thiết thì không thể không ghé cái “vườn dừa” Ocean này để ngắm biển, ngắm dừa…ba nhát truyền thống. Gió bấc thổi quặt quẹo mấy ngọn dừa. Lúc này đông người quá. Cũng vui như Tết.

Gió bấc

 

 

 

 

 

 

 

Mũi Né đây rồi! Gió rất mạnh. Nhưng sáng sớm, nước rút, bãi mênh mông…

 

Đỗ Hồng Ngọc một mình trên bãi biển Mũi Né, sớm Mùng 3 Tết Quý Mão 2023 (24.01.2023, ảnh Đỗ Châu Việt).

 

Đá Ông Địa,

 

 

 

Bãi Đá Ông Địa, Mũi Né 2023

 

 

 

 

 

 

 

Chút vậy thôi nhe.

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Mùng 9 Tết Quý Mão

(30.01.2023)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Nguyên Giác: Mẹ dạy con ngồi như núi

21/01/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Mẹ dạy con ngồi như núi

Nguyên Giác

 

1

mưa bụi lướt về trong mơ

ướt sũng một thời trí nhớ

thì thầm cổ tích như thơ

bay vào trong con giấc ngủ

 

mẹ ru con lời dịu dàng

nguyện cho mưa về tốt lúa

nguyện cho khắp cõi bình an

nguyện người người xa nhà lửa

 

2

mưa xa bay khắp bạt ngàn

nhớ thương về theo muôn lối

mẹ tập cho con đánh vần

dạy con thành sông, thành núi

 

mẹ nói con phải thương người

ba cõi kiếp xa vô lượng

đếm sao kể hết ơn đời

sống từng khoảnh khắc trân trọng

 

3

mưa đêm chở ngát rừng hương

về ôm từ bi phố nhỏ

nghe mẹ dạy con yêu thương

sợi nắng, cái bông, ngọn cỏ

 

mẹ dạy tỉnh thức dịu dàng

thương cả gà con, gà mẹ

coi chừng giẫm kiến bên đàng

con nhớ bước đi rất nhẹ

 

4

mưa khuya chở lạnh vào đêm

nghe mẹ đọc con trang sách

chen tiếng mưa sa bên thềm

ngủ ngoan giữa lời tí tách

 

mẹ hát ca dao ạ ơi

nguyện con vuông tròn học chữ

nguyện con thiện pháp không rời

nguyện con lời lời pháp ngữ

 

5

mưa đêm tiền kiếp chưa qua

mẹ dạy con ngồi như núi

nghe thở hơi gần, hơi xa

nghe vắng muôn sông nghìn suối

 

mẹ dạy không ta, không người

bước đi giữa rừng công đức

mắt từ nhìn khắp nơi nơi

rỗng lặng đêm ngày tỉnh thức

 

6

mưa đêm buồn khắp Sài Gòn

ướt sũng một thời mới lớn

mẹ hát rằng có là không

khổ đế mười phương đau đớn

 

rằng con là biển, là rừng

rằng con là mây, là nắng

rằng thân chảy xiết không ngừng

rằng tâm ba thời vắng lặng

 

7

Sông Hằng tiền kiếp mưa đêm

dịu dàng lưu chảy trong con

sáng trưa chiều tối hiện tiền

bờ này, bờ kia cạn dòng

 

lời mẹ con ghi vào thơ

chữ bay lưng trời cánh nhạn

cõi này con sống như mơ

đi đứng nằm ngồi rỗng lặng.

         —– Tết Nguyên Đán Quý Mão 2023.

Nguyên Giác Phan Tấn Hải.

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim

Đọc “IM LẶNG, như lời chia tay” của Cao Huy Thuần

20/01/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Đọc “IM LẶNG, như lời chia tay” của Cao Huy Thuần

"Im lặng như lời chia tay" - sách mới của GS.Cao Huy Thuần - Ảnh: HĐ
“Im lặng như lời chia tay” – sách mới của GS.Cao Huy Thuần – Ảnh: HĐ
———————-
20/01/2023 14:41
https://giacngo.vn/doc-im-lang-nhu-loi-chia-tay-cua-cao-huy-thuan-post65521.html
Đỗ Hồng Ngọc
———————-
GNO – Anh Cao Huy Thuần thân mến, nếu thỉnh thoảng ta mà vào được Tam muội Phổ Hiền, thì ta cũng có thể nhận ra cái “thiêng liêng” đó anh à, cái thiêng liêng từ “vô tưóng” – trong Như Lai tạng – bỗng “hiện tướng”… đùa vui giữa chốn Ta-bà đó thôi.
  • Anh Cao Huy Thuần gởi tôi tập Im Lặng, như lời chia tay… dặn để đọc mấy ngày Tết. Tôi nghĩ: chắc là Im Lặng thở dài… đây rồi! “Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe im lặng đời mình” (Trịnh Công Sơn)? Nhưng không. Cao Huy Thuần không thở dài! Anh nói về “thiêng liêng” về “chia tay mà không biệt ly của cánh hoa rơi”…

Bồng đứa bé mới sanh đỏ hỏn trên tay mà không thấy “thiêng liêng” sao? Đứa bé bỗng nhoẻn miệng cười không vì đâu cả mà không thấy “thiêng liêng” sao?… Người bạn, kêu sáng Mùng Một Tết chợt thấy “thiêng liêng”? Lạ quá. Thiêng liêng đến từ đâu? Thì đến từ thiêng liêng chớ từ đâu nữa! Từ cái nhoẻn miệng cười của đất trời, từ cái đất nước gió lửa run rẩy trong ta vì già nua giữa ngày Mồng Một Tết chớ đâu nữa!

Đọc “IM LẶNG, như lời chia tay” của Cao Huy Thuần ảnh 1
Một trong những minh họa trong “Im lặng như lời chia tay” – Ảnh HĐ chụp lại từ sách

Họa sĩ Poussin (1594-1665), bàn tay run rẩy bệnh hoạn không chịu nghe lời ông nữa, ông phải từ giả bút màu với nỗi buồn chán… Nhưng, bất ngờ, những bức tranh run rẩy của ông về sau được giới phê bình tán thưởng hơn bao giờ hết. Họ phát hiện ra rằng “không phải tay họa sĩ run mà là thời gian run”.

Còn họa sĩ Cézanne (1839-1906) viết “Tôi già và bệnh, nhưng tôi thề sẽ chết trong khi vẽ…”. Danh họa Nhật, Hokusai nói từ năm 73 tuổi mới hiểu cấu trúc của thiên nhiên, bởi vậy, 80 ông sẽ, 90, 100, 110… ông sẽ…

Để rồi cuối cùng, Cao Huy Thuần và người bạn đồng ý “ly cà phê buổi sáng là thiêng liêng”, “cái má núm đồng tiền là thiêng liêng”, “cái răng khễnh là thiêng liêng”… Ôi chao!

Phật dạy có bốn thứ Ma thân thiết với ta. Phiền não ma, Ngũ ấm ma, Thiên ma, Tử ma. Tử ma chính là “thị giả” của ta, gần gũi ta và giúp đỡ ta, gắn với ta từ trong trứng nước. Tưởng là kẻ xấu mà không, hắn rất tử tế, luôn nhắc ta từng chút, nhờ vậy mà ta tránh biết bao tai ương, khổ nạn.

Nhìn lại, có hay không có tái sinh? Có hay không có “kiếp” sau? Có lần khi trò chuyện với Ni sư Trí Hải tôi hỏi một kiếp dài khoảng chừng 10 phút không cô? Cô cười, không trả lời. Có lẽ cô muốn nói… một kiếp dài cỡ một sát-na!

Thầy Tuệ Sỹ trong cuốn Tổng quan về Nghiệp viết: Có hay không có Nghiệp? Có hay không có Tự ngã? Có hay không có Thời gian?…

Nghiệp, là kinh nghiệm được tích lũy và tồn tại trong nhiều đời sống. Không có thời gian, không có ký ức thì lấy đâu cho nghiệp vận hành, tạo tác, lưu trữ, lưu xuất, dị thục, nhân quả? (Tuệ Sỹ)

Có thực không có nhiều đời sống? Một đời trước và đời sau – những đời sau- để cho ký ức gợi lại, nhân quả. Bằng chứng đâu?

Nhưng, nếu hỏi tôi tin không? Tôi tin. Tại sao tin? Không biết! Phải chăng, thỉnh thoảng ta gặp một người nào đó thấy như đã từng hẹn nhau từ muôn kiếp trước, hay một nơi chốn nào đó thấy như về mái nhà xưa?

Ký ức được lưu trữ ở đâu để tạo thành Nghiệp mà truyền đi? Khoa học não bộ trả lời: ở hippocampus (hồi hải mã) trong não. Thế nhưng, khi thân này tan rã, hippocampus và toàn bộ thể viền của não bộ cũng không còn, ký ức được tàng trữ trong thân vật lý này cũng biến mất theo. Phải chăng “ngoài cơ chế vật lý của ký ức, còn có sự tham gia của một yếu tố phi vật chất, không nhất thiết là ý thức, để lấy đó làm cơ sở tiếp cận đến vấn đề nghiệp tích lũy, cho đến trong đời sau được xử lý để cho quả dị thục của nó”? (Tuệ Sỹ).

Đức Phật dạy: Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ.

Nhà khoa học cũng bảo: “Có design nhưng không có designer”. Nhưng sao chim bồ câu thì cứ bay ngàn dặm về đưa thư, cá hồi cứ bốn năm lại quay về chốn cũ để sinh đẻ rồi chết? Ngày nay, sinh vật từ hạt đậu đến chuột bọ, khỉ vượn… cũng được can thiệp vào gène để tạo ra những “dị thục” những “quả” bất ngờ, gọi là transgenic.

“Je pense, donc je suis – Tôi tư duy, nên tôi tồn tại” (Descartes). Vậy tôi không tư duy, thì không… có tôi? Phải chăng “vô niệm” thì vô ngã? Trong Tam muội Phổ Hiền (Samadhi) thì quả thấy vô ngã khi tan biến vào vô tướng của Như Lai tạng đó thôi. Cho nên nhìn mọi sự vật bằng cái nhìn Như Thực, cái nhìn “thật tướng vô tướng” thì chân không mà diệu hữu. Từ đó mà lý vô ngại, sự vô ngại, sự sự vô ngại vậy.

Ta cũng có thể bắt chước Descartes nói: “Tôi thở, vậy có tôi”. Nghĩa là nếu tôi không thở thì không có tôi. Nhưng cái thời tôi còn trong bụng mẹ, tôi cũng không thở mà vẫn có tôi đó thôi. Từ đó, suy ra rằng cái thời tôi… hết thở, ngừng thở, thì tôi vẫn còn đó chứ, sao không? Tôi lúc đó trở lại trong bào thai Mẹ (bào thai Như Lai) chứ? Tôi mới phải mang nghiệp theo để trả quả chứ? …

Tuệ Sỹ nói: Tồn tại trong quá khứ và vị lai là những thực thể vi tế, ẩn áo, không phải tri giác thường nghiệm mà có thể bắt nắm được.

Ta biết ngày nay, thời gian sẽ chảy chậm trong con tàu vũ trụ chạy nhanh. Với một vận tốc nào đó thời gian đứng lại. Cho nên Từ Thức lạc động Thiên thai là chuyện có thực.

Đọc “IM LẶNG, như lời chia tay” của Cao Huy Thuần ảnh 2
Một trang trong “Im lặng như lời chia tay” – Ảnh HĐ chụp lại từ sách

***

Im lặng bông hoa nở. Im lặng bông hoa tàn. Hoa rụng, nhưng mỗi cánh hoa rơi, bao nhiêu chân bướm vẫn còn lưu dấu… Đâu là cách chia tay mà không biệt ly? (Im Lặng). Rồi Cao Huy Thuần dẫn bài thơ Feuille morte (lá chết) của Hermann Hess, tác giả Siddhartha (Câu chuyện dòng sông, Phùng Khánh, Phùng Thăng dịch, Saigon 1966). Anh “phát hiện” một điều thú vị: ngôn ngữ Việt không ai nói “lá chết” mà nói “lá khô”, “lá rụng”. Quét lá rụng, quét lá khô, không ai nói quét lá chết như ngôn ngữ Pháp, Đức. Bởi vì, lá không bao giờ chết. Nó khô, nó rụng, rồi nó tái sinh thành lá búp lá non (Im Lặng).

“Chân lý” ấy do hai con sên của nhà thơ Jacques Prévert trên đường đi dự đám tang một chiếc lá chết, tựa là: “Bài ca hai con sên đi dự đám tang”.

Hai con sên đi đưa

Đám tang chiếc lá chết

Hai cái vỏ thì đen

Hai sừng băng trắng hết…

Hỡi ôi khi chúng đến

Mùa xuân đã đến rồi

Bao nhiêu lá chết xong

Tất cả đều lại sống

Hai bạn sên chúng ta

Ôi buồn ôi thất vọng…

Rồi hai chú sên rủ nhau đi Paris chơi! Mùa hè đã lại đến. Nắng đã rực vàng, tưng bừng ca hát khắp nơi.

Hai chú sên trở về

Với xiết bao cảm xúc

Lòng tràn ngập hân hoan

Và vô biên hạnh phúc…

Ôi, làm sao hai chú sên đi dự đám tang chiếc lá chết buồn xo giữa mùa thu… mà nay lòng lại tràn đầy hân hoan, hạnh phúc? Ấy bởi vì chúng là sên. Chúng “bò như sên”! Bò hết cả mùa đông, chưa kịp đến nơi mà xuân đã về rồi! “Bao nhiêu lá chết xong/ Tất cả đều lại sống…”.

Tiễn mùa thu thì gặp mùa xuân. Tiễn cai chết thì gặp cái sống. Tiễn ảm đạm thì gặp tưng bừng. Hai con sên chia tay mà chẳng biết biệt ly là gì! (Im Lặng)

Cao Huy Thuần nói nhỏ: “chẳng có cả khái niệm”. Phải, chúng chẳng có cả khái niệm. Dĩ nhiên, Cao Huy Thuần đang nói về Kim Cang đó! Khi ta mà biết sống “ly niệm”, khi ta không còn bám chấp vào khái niệm… thì “trí bất đắc hữu vô”, thong dong, tự tại.

Nhớ Huy Cận xưa có 2 câu thơ: Hạnh phúc rất đơn sơ/ Nhịp đời xin bước chậm…

Bước chậm. Chậm như sên càng tốt. Cái tội nghiệp của thời đại này là cái gì cũng tốc độ. Già cũng tốc độ. Để chỉ kịp khi “nhìn lại mình đời đã xanh rêu” (Trịnh Công Sơn).

Hình như có một nhà văn Pháp nào đó nói về chuyện đi bộ (promenade): đi không phải để đến, đi lang thang, dừng lại chỗ này chỗ nọ, ngắm hạt sương mai lấp lánh, nghe tiếng chim hót líu lo, tiếng dế mèn đang gọi người yêu, những cọng cỏ non vươn mình dưới nắng sớm… Thiệt khác với…Marathon!

Anh Cao Huy Thuần thân mến, nếu thỉnh thoảng ta mà vào được Tam muội Phổ Hiền, thì ta cũng có thể nhận ra cái “thiêng liêng” đó anh à, cái thiêng liêng từ “vô tưóng” – trong Như Lai tạng – bỗng “hiện tướng”… đùa vui giữa chốn Ta-bà đó thôi.

Trước mắt, hãy nhấp một ly cà phê thiêng liêng buổi sáng đã nhé.

Năm mới. Tháng Giêng. Mồng Một Tết.

Còn nguyên vẹn cả một mùa Xuân…

(Nguyễn Bính).

 

(28 Tết Quý Mão, 2023)

Đỗ Hồng Ngọc/Báo Giác Ngộ

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Thích Phước An: GIÓ BẤC CUỐI NĂM

19/01/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

GIÓ BẤC CUỐI NĂM

Thích Phước An

(Chùa Hải Đức, Nha Trang)

 

Trong một lá thư viết cách đây hơn một năm (2021) gởi cho bác sĩ, nhà thơ

Đỗ Hồng Ngọc, GS Cao Huy Thuần đã nhắc đến Mark Epstein, là một bác sĩ

nổi tiếng của Mỹ, đã từng cộng tác trong ngành chuyên môn về phân tâm học

với Freud với Jung. Từ môi trường này, Epstein đã bắt gặp được tư tưởng Phật giáo,

ông say mê Phật giáo đến độ phải lặn lội qua Tây Tạng để học Phật. Và rồi cuối cùng

ông đã nổi tiếng cả hai, nghĩa là vừa là một bác sĩ giỏi lại vừa là một nhà Phật học uyên thâm,

và Giáo sư Cao Huy Thuần đã cho rằng, việc đó chẳng có gì lạ,

vì theo lời ông “Đức Phật của chúng ta đã chẳng phải là một thầy thuốc đó hay sao?”

Nhưng vì sao Đức Phật lại được tôn xưng là Y Vương? Và Ngài đã có

phương thuốc gì hay để chữa bệnh cho chúng sanh mà một thầy thuốc lỗi lạc như

Epstein phải rời thế giới văn minh tiến bộ của Tây Phương để lặn lội đến Tây

Tạng, một quốc gia sống biệt lập trên núi cao nhất thế giới, và gần như không bận

tậm gì mấy đến nền văn minh hiện đại của nhân loại để nghiên cứu Phật Giáo?

“Thầy thuốc chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chữa được cái

bệnh mà không chữa được cái hoạn.

Phật là bậc Y Vương, giúp chúng sanh giải thoát mọi khổ đau, ách nạn.

Tại sao ta không học Phật?”

Đó là lời bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc được đặt trang trọng nơi trang đầu của tác

phẩm, có đầu đề rất khiêm tốn là Tôi Học Phật, dày khoảng 800 trang.

Chính vì thế, chúng ta thấy trong các bộ kinh Đại Thừa thì bác sĩ Đỗ Hồng

Ngọc có vẻ đã say mê nhất là Kinh Kim Cang. Vì sao? Nơi trang 211 tác phầm Tôi Học

Phật, bác sĩ đồng thời cũng là nhà nghiên cứu Phật học đã cho biết lý do vì sao ông

lại say mê Kinh Kim Cang:

“Hơn 2600 năm trước, Tu Bồ Đề – một đại đệ tử của Đức Phật , người “Giải

Không Đệ Nhất” đã đặt một câu hỏi có lẽ còn vang vọng đến ngày nay, giữa thời

đại toàn cầu hóa, thế giới phẳng này “Làm thế nào để an trụ tâm? Làm thế nào để

hàng phục tâm?” (Vân hà ưng trụ, Vân hà hàng phục kỳ tâm?) và câu trả lời của

Đức Phật hết sức giản dị “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là “ Đừng có trụ

vào đâu cả mà sanh cái tâm”

Trong Kinh Trung A Hàm, một bộ kinh quan trọng của Phật giáo Nguyên Thủy,

Đức Phật cũng đã giải thích rõ ràng hơn cho các các Tỳ Kheo – đệ tử của Ngài về

cách an trụ và hàng phục cái Tâm:

“Này các Tỳ Kheo, Tâm dẫn thế gian đi, Tâm bị nhiễm trước, Tâm sinh khởi mà tự

tại. Này các Tỳ Kheo, chính nó dẫn thế gian đi, chính nó làm nhiễm trước và cũng

chính nó khởi tự tại. Này các Tỳ Kheo, Đa Văn Thánh đệ tử không để Tâm dẫn đi,

không để Tâm nhiễm trước, không để Tâm tự tại. Này các Tỳ Kheo, không vâng

theo sự tự tại của Tâm mà Tâm tùy theo tự tại của Đa Văn Thánh đệ tử.”

Không còn hồ nghi gì nữa, chính cái nghề thầy thuốc đã ảnh hưởng sâu sắc

đến việc nghiên cứu Phật học của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, và chính ông cũng đã thừa

nhận như vậy, nơi trang 215 trong bài Vận Dụng Kinh Kim Cang “là một thầy

thuốc, tôi đâu dám lạm bàn những chuyện “thậm thâm vi diệu khác” – nghĩa là ông

chỉ muốn mọi người đọc ông rồi đem áp dụng vào đời sống hàng ngày, như chính

bản thân ông cũng đã làm như vậy để khởi đầu “ hàng phục” cái Tâm của mình,

như bài thơ có tên là Thiền Tập ông đã cho chúng ta biết :

Thả lòng toàn thân / Như treo móc áo / Ngồi xếp bằng tròn / Vai nghiêng lưng sổ /

Dõi theo hơi thở / Như mượn từ xa / Khi vào khi ra / Khi sâu khi cạn

Nhà thơ khuyên chúng ta cứ nỗ lực như vậy, một lúc nào đó sẽ đạt được kết quả:

Thân tâm thanh tịnh / Không còn ý tưởng / Chằng có thời gian / Hạt bụi lang

thang / Dính vào hơi thở / Duyên sinh vô ngã / Ngũ uẩn giai không / Từ đó thong dong/ Thỏng tay vào chợ.

 

Trong lời ngỏ mở đầu cho tác phẩm của mình, Đỗ Hồng Ngọc đã cho biết lý

do tại sao ông phải học Phật, và đặt biệt là vì sao ông phải bỏ thời gian, công sức

ngồi ghi lại những cảm xúc của bản thân về Phật học, vì theo tác giả “thuốc men

chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên

ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa lớp lớp bên trong”. Trong khi đó,

theo Đỗ Hồng Ngọc “thời đại của chúng ta , con người dùng khối óc quá nhiều,

nhiều đến nỗi người ta luôn luôn ở trong tình trạng “muốn điên cái đầu”, và thực

vậy bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tự tử , ma túy, stress,… ngày càng gia tăng

trong xã hội mà người ta luôn luôn bị quay cuồng, luôn luôn chạy đua với tốc độ,

tuổi trẻ, nhan sắc, thành đạt… Có lẽ đã đến lúc nghe lại tiếng nói của trái tim.

Tác giả Tôi Học Phật không quên nhắc lại bài thơ nổi tiếng của Quách Thoại

ở đầu thế kỷ XX, một hôm bất chợt nghe được “lời em ca thiên thu” từ một bông

hoa dại đứng bên bờ rào đã khiến cho thi nhân phải sụp lạy cúi đầu. Theo tác giả

Tôi Học Phật, lời ca đó không phải phát xuất từ bông hoa vô tri, vô giác của đóa

hoa kia, mà nó đã được phát ra từ trái tim sâu thẳm của thi nhân.

Tập sách nghiên cứu về Phật học của ông cũng như vậy, ông đơn giản chỉ muốn

giúp chúng ta nghe lại tiếng hát thiên thu từ trái tim mà từ lâu ta đã vô tình đánh

mất giữa một xã hội chỉ biết đề cao khối óc, nghĩa là chỉ biết tính toán hơn thua mà

thôi .

Từ tiếng thở dài xót xa của ông đối với thời đại ông đang sống, thời đại của

khối óc mà bỏ quên trái tim yêu thương đó, khiến tôi chợt nhớ lại những bài thơ

mà Đỗ Hồng Ngọc đã sáng tác vào khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước, lúc ông

còn trẻ, còn hoài bão nhiều cho quê hương đất nước. Ở đây tôi chỉ đề cập đến Quê

Nhà, nơi ông đã chào đời mà thôi :

 

Anh thương nhớ quá làm sao nói

Gọi tên em vang động gốc cây già

(Quê Nhà)

 

Thi nhân ngậm ngùi nhớ lại những mùa xuân của tuổi thơ mà bây giờ đã quá xa

xôi:

 

Mùa Xuân mừng tuổi thơm tho áo 

Nắng cũng vàng phai ngày cũng xa

(Quê Nhà)

 

Khi xuân về Tết đến thì bông cúc, bông mai được trưng bày rực rỡ nơi các thành

phố giàu sang như Sài Gòn chẳng hạn, vậy mà tuyệt nhiên nhà thơ của chúng ta

không hề thấy Tết:

 

Đi giữa Sài Gòn

Phố nhà cao ngất

Hoa nở rực vàng

Mà không thấy Tết

(Gió Bấc)

 

Chỉ khi được trở lại quê nhà, nghe được gió Bấc thổi thì đối với ông mới thực sự

thấy được cái hồn của Tết :

 

Một sáng về quê

Chợt nghe gió Bấc

Ô hay Xuân về

Vỡ òa ngực biếc

(Gió Bấc)

 

Bởi vậy, cứ đến những ngày cuối tháng Chạp thì thi nhân chúng ta lại náo

nức muốn bỏ lại phố phường chật chội sau lưng lên đường trở về lại quê nhà. Nơi

đó có ngọn gió Bấc của mùa Xuân đang thổi như chờ đợi người con xa xứ:

 

Hình như gió Bấc lùa trong Tết

Những chuyến xe đò giục bước chân

 

(Mũi Né)

 

Chắc chắn có nhiều người ngạc nhiên, tại sao một bác sĩ có đời sống khuôn

thước, mẫu mực như Đỗ Hồng Ngọc mà lại có thể trở thành một nhà thơ? Điều này

đã được ông tâm sự với Ngô Nguyên Nghiễm trong tác phẩm Đồng Hành Cùng

Tôi xuất bản năm 2010. Xin được trích ra đây như lời kết cho bài viết ngắn này:

 

“Ai bảo Y khoa là cái Thực và thi ca là cái Huyễn? Y khoa vừa là khoa học vừa là

nghệ thuật! Đọc được một bài thơ hay ta chẳng phải đã rung cảm đến tận tâm cang

đó sao.”

 

(TPA)

Nha Trang, những ngày cuối năm 2022

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Minh Anh: “Mời người lên xe, về miền quá khứ…”   

09/01/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Mời người lên xe, về miền quá khứ…

 NGƯỜI ĐÔ THỊ:  11:54 | Thứ hai, 09/01/2023

https://nguoidothi.net.vn/moi-nguoi-len-xe-ve-mien-qua-khu-38056.html

Minh Anh

Đỗ Hồng Ngọc dành ra nhiều trang viết về những văn – nghệ sĩ đã lui từ lâu vào trong quá khứ, và việc ông làm như đang phủi đi lớp bụi trần gian, để làm lộ ra một thứ “vàng mười” như đúng bản chất…

Độc giả trong nước chắc hẳn đã từng quen thuộc với bác sĩ, nhà văn, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc qua số lượng tác phẩm đồ sộ. Mới đây ông đã giới thiệu tập ghi chép – chân dung về những “người hiền” của nền văn chương, thi ca, nghệ thuật nước nhà, mang tên “Áo xưa dù nhàu…”

Mượn một câu hát từ bài Hạ Trắng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Áo xưa dù nhàu/ Cũng xin bạc đầu/ Gọi mãi tên nhau…”, đây là tác phẩm điểm lại, cũng như “ôn cố tri tân” những gương mặt cũ, không chỉ của mỗi tác giả mà còn là của rất nhiều thế hệ người đọc. Có người đã khuất, có người còn đó, tựu trung lại một cuộc hành trình “gọi mãi tên nhau”.

Gồm 18 chân dung văn học trải dài từ Nguyễn Hiến Lê, Quách Tấn, Trần Văn Khê cho đến Trang Thế Hy, Cao Huy Thuần, Du Tử Lê… Đỗ Hồng Ngọc có cách ghi chép rất riêng, khai thác được những khía cạnh mà trước đến nay độc giả rất ít nhận thấy, và cũng phần nào mang tính chuyên môn của ông. Đó là, như một câu giễu trong bài Để người quân tử… hò ơ… về Nguyễn Hiến Lê, là cách phê bình “bệnh-lý-học”.

Những người thầy đầu tiên

Trong tập sách này, một Nguyễn Hiến Lê nặng lòng với Hà Nội, với sắc nước hương trời, với sương lam nhè nhẹ… đã được hiện ra. Ngoài cương vị là một học giả, Đỗ Hồng Ngọc cũng chia sẻ lại những trải nghiệm của mình khi được “đồng hành” cùng ông, lấy hình bóng ông làm động lực chính cho con đường sự nghiệp của mình.

Bác sĩ, nhà văn, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc.

Một gương mặt khác cũng đóng góp thành công lớn cho tác giả là Ngu Í Nguiễn hay Nguyễn Hữu Ngư. Nếu trong tác phẩm gần đây của Nguyễn Trương Quý người ta biết ông cũng từng có thời hoạt động sôi nổi với Lưu Hữu Phước cũng như nhóm Hoàng Mai Lưu, thì trong bài Người điên thứ thiệt, một nhà thơ “điên” với những tiếng thét uất hận, cõi lòng thổn thức và nhiều hờn căm đã được kể ra.

Cả hai chân dung đều là những người nặng lòng cùng với nghệ thuật. Bên cạnh khát khao “toàn tâm toàn lực cung cấp món ăn tinh thần cho bạn đọc”, Đỗ Hồng Ngọc cũng tiết lộ rằng với Nguyễn Hiến Lê thì “trước tác đã được xây dựng một phần trên bệnh tật của ông”, đó là căn bệnh dạ dày kinh niên liên tục tái đi tái lại, để từ đó ta thêm yêu quý một con người lớn của văn hóa nước nhà.

Những câu chuyện vãn, các chuyện “trà dư tửu hậu” cũng được ông kể vô cùng gần gũi và lắm chân thành. Đó là một Trang Thế Hy – “ông già khó tính”, “người tình thoáng chốc của văn chương”, nhưng khi đến nhà trong bộ pyjama vẫn nói với nhau về Francoise Sagan, về Cao Hành Kiện.

Đó cũng còn là họa sĩ Dương Cẩm Chương, hậu duệ của nhà yêu nước Dương Bá Trạc và “định mệnh” có phần tương đồng với chính tác giả, khi y nghiệp gắn liền học nghiệp và còn nuôi mãi khát vọng vươn tới cái đẹp thanh cao.

Hành trình tìm lại

Đỗ Hồng Ngọc cũng dành ra nhiều trang viết về những văn – nghệ sĩ đã lui từ lâu vào trong quá khứ, và việc ông làm như đang phủi đi lớp bụi trần gian, để làm lộ ra một thứ “vàng mười” như đúng bản chất. Đó là Võ Hồng, nhà văn mà mỗi lần đọc lại thấy lòng lành hẳn ra. Đó là con người với nỗi “cô đơn uy nghi”, cũng như thi sĩ Quách Tấn, người giờ đã quên những chuyện mới đây, nhưng vẫn ghi khắc lại những chuyện xưa cũ, với tính kỹ càng cũng như nghiêm khắc trong sáng tạo văn chương.

Ông cũng mải miết đi tìm những chân dung khác, những người từ bỏ hào quang để lùi vào sâu trang viết của mình. Đó là nhà thơ Huyền Chi – người đứng đằng sau bài ca phổ thơ Thuyền viễn xứ của Phạm Duy và lý do vì sao bà chưa một lần thật sự xuất hiện ra trước công chúng. Đó cũng là “nhà thơ” Võ Phiến, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn hay Cao Huy Thuần… những người mà nghệ thuật viết đã hòa cùng với thiền học, làm nên tác phẩm có nhiều chiều sâu.

Đó cũng là chân dung khác, như cuộc gặp gỡ giáo sư Trần Văn Khê ở tận nước Pháp, với dáng vẻ tự nhiên, nếp sống mộc mạc và đầy chân tình. Ở căn chung cư trên tầng 9 ấy, dù bị bao vây bởi đủ thứ bệnh nhưng ông vẫn đầy xúc cảm.

Và bởi chỉ có “tình thương để lại đời”, nên những nhà thơ như Tôn Nữ Hỷ Khương hay Khánh Minh cũng đã xuất hiện trong tập sách này, với thơ cũng như hơi thở, không cố gắng, không lên gân, không chứng tỏ, không màu mè…

Bìa cuốn Áo xưa dù nhàu…


Đỗ Hồng Ngọc với tính hóm hỉnh cũng kể những chuyện vô cùng thú vị, như cố “giải chữ” của Phạm Thiên Thư, hay tìm một Huy Cận khác trong cuộc gặp gỡ tình cờ. Rốt cuộc thì “tha” trong câu “Mười con hạc trắng về tha” là có nghĩa gì? Và liệu ta có bao giờ biết đến có một Huy Cận có lúc bẽn lẽn, có lúc quạu quọ nhưng cũng là một con người hoàn toàn khác biệt mỗi khi bình thơ, đắm mình vào trong dòng chảy thơ ca?

Những ghi chép của Đỗ Hồng Ngọc chứa đựng cả bầu thương mến dành cho người hiền trong cõi đời này. Đó là những câu chữ gần gũi mà không thiếu đi những cảm xúc riêng. Đọc Đỗ Hồng Ngọc ta còn u sầu bởi mùa thu Boston, với bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư là dùng để nghe, hay để thấy Du Tử Lê trong nhiều dáng vẻ, từ hoang mang, khắc khoải cho đến mềm yếu, đam mê và rất lãng mạn.

Tập sách cũng chứa đựng nhiều những tư liệu quý, là những bức ảnh, là những bức họa được ký họa nhanh đôi khi trên mẫu giấy ăn, đôi khi trên chiếc phong bì… nhưng lại có đủ chiều sâu để ta nhìn thấy những “con người cũ” trong góc nhìn mới, riêng tư hơn nhưng cũng độc đáo hơn.

Với Áo xưa dù nhàu…, tác giả Đỗ Hồng Ngọc đã đưa chúng ta “đi lại từ đầu” trong cuộc gặp gỡ với những yếu nhân, những con người lớn của đất nước mình. Từ đó có những câu chuyện, có những bài học cùng nhiều triết lý giản đơn trong cuộc đời này. Bởi đời như một “chiếc lá thu phai”, nên hãy thả mình để “thu xếp lại” và rồi để còn “gọi mãi tên nhau”.

Minh Anh

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Mấy ngày gần Tết… Tây!

31/12/2022 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Mấy ngày gần Tết… Tây!

Tuổi già. Sức yếu. Lâu nay vẫn nghe người ta nói vậy mà chẳng mấy tin. Bây giờ thì già thiệt, yếu thiệt rồi mới biết. Vài tháng cuối năm, trời bỗng trở lạnh bất thường, vùng nhiệt đới, đang 32-34 độ C bỗng tụt xuống 17-18 độ. Thiên hạ ho sù sù, cảm- cúm tùm lum, không biết covid hay kitvô… gì đó cứ liên tục phát triển. Mình cũng không thể không hòa nhập với mọi người.

Tuy vậy, lâu lâu cũng trốn đi nơi này nơi khác một chút và ghi nhân vài hình ảnh gởi bạn coi vui.

Thân mến,

Đỗ Hông Ngọc.

 

Ngày 23.12.2022:

 

Nhân có TS Nguyễn Tường Bách ở Đức về, cùng nhóm bạn đến thăm Thầy Viên Minh ở Chùa Bửu Long, quận 9.

Ngày 24.12.2022

Đường Sách cạnh bên Nhà Thờ Đức Bà Saigon.

 

 

Noel rồi! Đường Sách cạnh Nhà thờ Đức Bà cũng đông vui, nhộn nhịp

Với nhà thơ Lê Minh Quốc tình cờ gặp ở Đường Sách… cùng chia sẻ cái bánh nướng thơm bên vệ đường’

 

 

 

 

 

 

Ngày 26.12.2022

Một ảnh cũ trên FB của Ngô Tiến Nhân.

Bàn tròn “bỏ túi” tại nhà Ngô Tiến Nhân

 

 

 

 

……………………………………………………………………………………………..
FB của Ngô Tiến Nhân
mấy dòng về buổi “Thảo luận nhóm “,  ngày 26.12. 2022.
Thế giới Hoa nghiêm
và Thế gian lưới trời… ai dệt ?
Tam Nhân Đồng Hành bữa nay hội ngộ và mở đầu cuộc “ tao ngộ chiến” do BS ĐHN  “ đề dẫn “ với chủ đề Thế giới quan Phật giáo !
Nhập cuộc đầu tiên là TS NTB trình bày tóm tắt các luận điểm trong Lưới trời ai dệt ( cuốn tiểu luận về Triết học Phật giáo anh đã xuất bản trước đây ) nói rõ cách thức chúng ta “ nhìn “ và “ thấy “ vũ trụ và Thế gian này !
Câu chuyện dẫn tới thuyết trình của TS Lê Mạnh Thát về Thế giới Hoa nghiêm và Khoa học lượng tử, về cuốn sách cuối đời của nhà vật lý học lừng danh Stephen Hawking : Grand design without designer và trùng hợp ( không ngẫu nhiên ) Hoa nghiêm cũng là bộ kinh Nhóm học Phật Xá lợi đang học !
Thật là… trùng trùng duyên khởi !
Và không thể không bàn đến Thiền Định
Bản chất ?
Phương pháp ?
Con đường ?
Với góc độ của Phật học, Khoa học Thần kinh…
Tạm nghỉ bằng bữa cơm chiều ngon miệng .
Rồi trao đổi chia sẻ trái nghiêm cá nhân trong quá trình Tu và Học .
Thời gian cứ trôi rồi cũng phải… người về lòng chẳng muốn về …
Ôm tạm biệt NTB nói : riêng chiều nay đã xứng đáng mua vé từ Đức về !
Vậy “ lãi “ to rồi !

(Ngô Tiến Nhân)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“ÁO XƯA DÙ NHÀU…”

13/12/2022 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

“ÁO XƯA DÙ NHÀU…”

ĐỖ HỒNG NGỌC

 

“ÁO XƯA DÙ NHÀU…”
Đỗ Hồng Ngọc
(tháng 12.2022)

 

Đỗ Hồng Ngọc với Áo xưa dù nhàu…

Trần Thị Nguyệt Mai

 

Được biết những năm sau này, tác giả Đỗ Hồng Ngọc chọn “về thu xếp lại” khi một “chiều hôm thức dậy / ngồi ôm tóc dài / chập chờn lau trắng trong tay”.[1]

Áo xưa dù nhàu… là tựa tác phẩm mới nhất của ông do Phanbook xuất bản với mười tám chân dung:

 

  1. Nguyễn Hiến Lê, “… để cho người quân tử… hò ơ…”
  2. Võ Hồng, “nỗi cô đơn uy nghi”
  3. Cậu tôi, Ông Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, “người điên thứ thiệt”
  4. Giáo Sư Trần Văn Khê, “Đời thường…”
  5. Dương Cẩm Chương, “Kẻ lữ hành không mệt mỏi của đường dài”
  6. Thăm nhà văn Trang Thế Hy “… thì cứ hỏi cuộc đời”
  7. Thi sĩ Quách Tấn, “đọng bóng chiều”
  8. Gặp gỡ với Nhà thơ Huyền Chi của Thuyền viễn xứ
  9. Tôn Nữ Hỷ Khương, “Chỉ có tình thương để lại đời”
  10. Phạm Thiên Thư, “Như Lai thường trụ trên tà áo xuân”
  11. Nhớ Tiếng thu giữa Boston
  12. Một hôm, “có chàng Huy Cận”
  13. Võ Phiến, “Cuối cùng là sự Mộc mạc”
  14. Nguyễn Bắc Sơn… “Thy Đạo”
  15. Trần Vấn Lệ “may mà còn nhớ thương”
  16. Du Tử Lê “tung cánh vàng xưa hạc vút bay”
  17. Khánh Minh “còn chút để dành”
  18. Cao Huy Thuần, “Người khuân đá”

 

Ngoài là bác sĩ, Đỗ Hồng Ngọc còn là một nhà thơ (Đỗ Nghê), một họa sĩ của những bức ký họa được bạn bè yêu thích. Nên những chân dung được ông “vẽ” lại theo cách rất riêng không giống với một ai (unique), bằng đôi mắt của người thầy thuốc yêu nghề, chọn lọc những góc cạnh độc đáo của họa sĩ và trải lòng với tâm cảm của nhà thơ, nên có những bài viết đẹp như thơ mà “Nhớ Tiếng thu giữa Boston” là một.

 

Với học giả Nguyễn Hiến Lê, người đã viết nên những tác phẩm “kinh điển” làm kim chỉ nam cho tác giả từ thuở thiếu niên (Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Rèn nghị lực…) thì “Các nhà phê bình sau này nhắc đến sự nghiệp ông mà quên không nói đến sức khỏe ông là một điều thiếu sót lớn! Thực không ai ngờ rằng một người viết hàng trăm tác phẩm như vậy lại là một người đau yếu liên miên… Nhiều lúc tôi ngờ rằng sự nghiệp trước tác của ông một phần xây dựng từ những bệnh tật của ông. Mắc bệnh đau bao tử, một thứ bệnh đòi hỏi phải sống, phải làm việc có tiết độ, ông chú trọng nhiều đến tổ chức, viết Tổ chức công việc theo khoa học, Tổ chức gia đình, v.v… Để có thể tự chữa thứ bệnh tâm thể (Psychosomatique) đó của mình, ông viết Sống 365 ngày một năm, Sống theo sở thích, Chấp nhận cuộc đời, v.v… Những lúc buồn phiền, lo lắng, ông viết Quẳng gánh lo đi, Trút nỗi sợ đi, Xây dựng hạnh phúc… Những lúc bệnh bớt, thấy khỏe khoắn, hăng hái trở lại, ông viết Thẳng tiến trên đường đời, Tương lai trong tay ta… Và khi mệt mỏi, căng thẳng ông xả hơi bằng Tô Đông Pha, Sống Đẹp…”.

Nhà văn Võ Hồng được ông diễn tả: “Quạnh hiu. Hoang vắng. Cô đơn. Không muốn ‘độc cư’ mà thành độc cư. Với một tâm hồn vô cùng nhạy cảm, ông héo hắt dần với tháng năm”.

Còn “Jáo sư, kí jả kông chuiên ngiệb” (Giáo sư, ký giả không chuyên nghiệp, theo danh thiếp, viết bằng lối chữ của ông) Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, là cậu và cũng là người đã đưa tác giả lần đầu tiên đến trường học: “Tôi thấy cậu ốm nhom, tóc hớt ngắn, quần rộng thùng thình, sơ-mi sạch sẽ nhưng nhàu nhè, chỉ có đôi mắt là sáng rực sau cặp kiếng cận tròn, gọng đồi mồi. Bộ ria mép che bớt cái miệng với hàm răng hơi hô, nhưng nhờ hay cười nên cũng có duyên, mũi hơi quặp, chịu đựng cặp mắt kiếng khá nặng, tay thì ôm một chồng sách báo, đi nghiêng nghiêng tất tả”.

Giáo sư Trần Văn Khê khi 89 tuổi: “Ông hãy còn rất trẻ, nhiệt tình, năng động và làm việc không ngừng. Ông nói ông vẫn luôn rung động trước ‘cái đẹp’. Tôi chắc ông hẳn tủm tỉm cười, bắt chước Nguyễn Công Trứ: ‘Bảy mươi năm trước, qua mới… mười chín tuổi!’. Bởi ông vẫn nói cười rổn rảng, trí nhớ vẫn tuyệt vời, sẵn sàng bay đi khắp nơi để thuyết trình, để ca hát, để ngâm thơ… Thực ra thì ông có đủ các thứ bệnh trên đời, nhưng ông biết sống chung ‘hòa hợp’ với nó. Nào phổi, nào thận, nào tim, nào huyết áp, nào khớp, nào tiểu đường… thứ nào cũng có, từ hồi còn nhỏ đến bây giờ. Bệnh tật sống chung với ông làm như hai bên dựa vào nhau, cộng sinh với nhau để ‘hai bên cùng hưởng lợi’! Tôi tưởng các nhà y học có thể làm một nghiên cứu về ông, để biết thế nào là chất lượng cuộc sống của một bệnh nhân. Có lẽ nó khác xa với cách đánh giá của thầy thuốc nếu chỉ dựa vào các xét nghiệm vô hồn!”

Viết về bác sĩ / họa sĩ Dương Cẩm Chương, “Ông vẫn miệt mài đi, miệt mài vẽ, vẫn viết thư và vẫn làm thơ ở tuổi 93 như thế. Sức khỏe vẫn dẻo dai. Trí nhớ vẫn tuyệt vời. Thật lạ lùng! Như không hề có tuổi. Trái tim vẫn luôn xao động, luôn đắm đuối, say mê, luôn yêu người, yêu đời, yêu thiên nhiên”.

Còn nhà văn Trang Thế Hy thì “Ốm nhom ốm nhách trong bộ pyjama lụa lùng nhùng đặc sệt Nam bộ. Tóc bạc lênh đênh chuồi về phía sau, dồn cái trán rộng về phía trước, miệng móm mém, mũi cao, thẳng, mắt sâu và sắc như một thiền sư khổ hạnh”. Đặc biệt cách ông hút thuốc, “Nhưng lần này tôi bỗng thấy mê một người hút thuốc lá. Mê thiệt. Thấy cái cách ông ngậm điếu thuốc chếch qua một bên khóe miệng, thấy cái cách ông khum khum đôi bàn tay ấp ủ ngọn lửa như một bông hoa tự dưng thấy lòng xao xuyến. Một người gần 90 tuổi, ghiền thuốc lá từ ngày còn trẻ, ngồi bên cạnh mình, nhẹ nhàng rút một điếu, nâng niu đưa lên miệng, rồi ân cần xoay xoay chiếc hộp quẹt trong tay chuẩn bị bật lửa… có cái gì đó như một nghi lễ tôn giáo, khiến tôi chỉ biết ngồi im, lặng ngắm, không dám hó hé”.

Tả nhà thơ Quách Tấn, “Cái gọng kính trễ xuống sống mũi, đôi mắt sâu sâu như cũng mỉm cười sau hai lưỡng quyền cao, nhưng chưa cao bằng cái trán rộng và càng rộng nhờ cái đầu sói, tóc điểm sương”.

Còn với nhà thơ Huyền Chi, “Cô đẹp quá. Sao thời đó, một người phụ nữ 7 con, 35 tuổi mà dịu dàng, đoan trang, tươi mát đến vậy, khiến ngay cả nhà văn Nguyễn Đông Thức cũng kêu lên: ‘Giá mà hồi đó, sanh sớm nửa thế kỷ được gặp cô cũng không thể không mê!’”.

Đặc biệt với Nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, không một lời tả nhan sắc, nhưng tác giả đã dùng chính thơ của cô để thể hiện (thơ là người, có phải vậy không?):

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui / Chuyện đời như nước chảy hoa trôi / Lợi danh như bóng mây chìm nổi / Chỉ có tình thương để lại đời…”.

Ta có thể hình dung đó là người có nụ cười tịnh lạc, tình yêu thương luôn rộng mở với tha nhân.

***

Nhưng tôi thích nhất ông diễn tả nhà thơ Huy Cận. Khi mới gặp thì: “Bảy giờ rưỡi tối, cậu Lê Phương Chi đến với một ông già lùn mập, trông giống như Bất Giới hòa thượng, ì ạch leo lên cầu thang”. Đến khi được hỏi, “Huy Cận biết yêu vào lúc mấy tuổi”: “Một ông già Tết này đã 78, bụ bẫm, tay chân ngắn ngủn, mũi hỉnh, trán dẹt, môi dưới dài hơn môi trên, tóc lưa thưa bạc, cổ có nọng, bụng to quá cỡ, quần chật cứng, túi phình như con cá phồng mang, thắt cái cà vạt hơi chật, to bản, đánh một vòng cung quanh bụng, ngồi dựa ngửa trên ghế salon không thoải mái lắm. Ông phì cười vì câu hỏi ngộ nghĩnh của Lê Phương Chi. Và nụ cười làm ông bỗng có vẻ gì trẻ thơ ngơ ngác như chàng Huy Cận thuở nào. Tôi chăm chú nghe. “Đâu hồi tám tuổi”, ông nói. “Tám tuổi à?”. “Phải, nhưng đó chỉ là mối tình bâng quơ thôi mà”. “Nhưng người đó là ai vậy? Bây giờ người đó ở đâu?”. Lê Phương Chi tấn công tới tấp. “À, một cô gái quê, ở nông thôn…”. Tôi lại giật mình nghe Lê Phương Chi hỏi: “À, còn mối tình của Huy Cận và Xuân Diệu? Có phải là…”. “Không không, Tô Hoài viết bậy đó”. Huy Cận có vẻ quạu. “Tôi với Xuân Diệu là tình bạn thân thiết, không phải tình trai, đồng tính luyến ái chi đâu”. Tôi lại quan sát ông. Cái ông già cũng ngộ. Lúc bẽn lẽn, lúc quạu quọ khá dễ thương dù ngó bên ngoài thấy ông giống Bất Giới hòa thượng, nhưng trong ông như lại có Nghi Lâm tiểu sư muội.” Rồi khi đọc bài thơ Huế ơi của Đỗ Nghê, “ông lại ư ử. Hay. Câu này hay. ‘Một ngày Đập Đá nghiêng vai biếc người’… ‘Một ngày Vỹ Dạ trăng soi, một ngày Đập Đá nghiêng vai biếc người’. Ngày thì trăng không soi được rồi, mà tại sao lại biếc người? Không phải chỉ là cái quán cà phê bên dòng nước xanh um bóng cây kia mà chính là, à phải rồi, chính là con thuyền ai đó có ‘chở trăng về kịp tối nay’ và vườn của ai kia lá có còn mướt ‘xanh như ngọc’. Vâng, xanh nên biếc và người nên ngọc. Ông Huy Cận này ghê thiệt. Quả là danh bất hư truyền. Ông đọc và cảm nhận thơ tinh tế không thể tưởng. Mới vừa thấy ông là Bất Giới hòa thượng đó bỗng đã thành Nghi Lâm tiểu sư muội, rồi bây giờ lại là Lệnh Hồ huynh đệ, chỉ dùng kiếm ý mà không cần kiếm chiêu”.

***

Rồi còn có biết bao điều được tác giả chia sẻ rất thú vị.

Chẳng hạn: “Phong thái ông (Nguyễn Hiến Lê) là phong thái của một nhà nho, giao tình dù thật thắm thiết thì bên ngoài vẫn có vẻ hờ hững, khác xa với cái vồn vã ồn ào của người Tây phương. Chính cái ánh mắt ông và cái bắt tay chặt chẽ của ông đã bộc lộ tâm tình ông nhiều hơn… Ông không thích đổi thay… Quen biết ông mới thấy ít có ai yêu tiếng mẹ như ông. Muốn cho ông ‘thao thao bất tuyệt’ thì cứ việc nói đến tiếng Việt với ông. Ông chịu không nổi khi thấy một chữ bị dùng sai”.

Hay “Cuộc đời cậu (Nguiễn Ngu Í) nhiều truân chuyên, tài hoa nhưng mắc bệnh không thể chữa được. Tuổi lớn, cơn điên ngày càng nhặt. Có những đợt cậu nằm Dưỡng trí viện Biên Hòa dài ngày, tưởng đã không qua khỏi. Có lần cậu nằm giữa xa lộ cho xe Mỹ cán, nhưng xe chở thẳng vào Biên Hòa. Có lần trốn viện, bắt đom đóm làm đèn đi trong đêm vì thời điểm giới nghiêm. Cậu làm thơ thật nhanh, thật dễ dàng ngay trong lúc lên cơn. Cậu chủ biên tập Thơ điên thứ thiệt như để phản đối những người giả điên thời đó. Rồi xuất bản tập Qê hương để nói về quê mẹ và nơi chôn nhau cắt rún của mình ở Tam Tân…”. Với mong muốn lúc rời khỏi cõi đời: “Cậu ước ao được thả trôi trên một chiếc thuyền nhỏ, đục lủng đáy, nhét nút lại, rồi để thuyền trôi lênh đênh trên biển Thái Bình Dương, để cậu được nhìn trời mây nước cho thỏa thích, rồi rút nút cho thuyền chìm dần và chết trong bụng cá, cho ‘Ngư về với Cá’.”

Hoặc thi sĩ Quách Tấn chia sẻ: “Nhiều bài tôi ấp ủ hằng chục năm. Bài Đêm khuya nghe quạ kêu 12 năm, bài Ấp ủ 15 năm. Trong một bài mà có một chữ không đạt là tôi bỏ. Tản Đà có lần định sửa một chữ trong một bài thơ của tôi mà không tìm ra chữ nào ổn, trong ba năm, đành thôi… Tôi dịch thơ chữ Hớn của Nguyễn Du và Thái Thuận, thi sĩ đời Lê Thánh Tôn… Có ai ngờ là Nguyễn Du đã từng sống lữ thực hằng chục năm? Có ai ngờ con Nguyễn Du đói, Nguyễn Du đau trong nhiều năm mà không có thuốc men? Ngay cả vấn đề Nguyễn Du có phải là trung thần của nhà Lê không cũng cần phải đặt lại. Những điều này trong các tập thơ chữ Hớn của ông có nói rõ. Về Nguyễn Trãi và Thái Thuận cũng có lắm điều lý thú bất ngờ”.

Đặc biệt, Nhà văn Trang Thế Hy nói về “tóc bánh bèo” (mà có lẽ ngày nay hiếm người biết) trong bài thơ Đắng và Ngọt thật cảm động của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc với tựa Quán bên đường: “‘À, mà ‘tóc bánh bèo’ là tóc làm sao anh Tư? Có phải ba vá không?’. ‘Không, không phải ba vá. Tóc bánh bèo, này Tùng’ – ông bỗng gọi – ‘Tùng biết tóc bánh bèo không?’ Tùng nói: ‘Dạ có phải cạo trọc, để lại một chùm đằng sau ót, tròn tròn…’. Ông cầm cái chén lên, vo vo theo miệng chén bảo: ‘Đúng rồi, cạo trọc, để lại một miếng tròn như vầy, nhưng ở giữa phải có một chùm tóc như cái nhưn bánh bèo vậy!’”.

***

Nơi đây chỉ xin chỉ trích một số ít chân dung và chia sẻ để bạn còn tự khám phá khi đọc sách. “Mai sau dù có bao giờ…” vẫn sẽ còn đây những kỷ niệm của một thời. Như trong bài Hạ trắng của Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly thật da diết: ‘Đời xin có nhau / Dài cho mãi sau / Nắng không gọi sầu / Áo xưa dù nhàu / Cũng xin bạc đầu / Gọi mãi tên nhau…’. Vâng, một ngày áo không còn thẳng nếp, vạn vật đổi thay, nhớ thuở xưa xa, vẫn mong “của tin gọi một chút này làm ghi”…

 

Trần Thị Nguyệt Mai

Đầu Thu – 03/10/2022

[1] Trịnh Công Sơn – Chiếc lá thu phai.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 11
  • Trang 12
  • Trang 13
  • Trang 14
  • Trang 15
  • Interim pages omitted …
  • Trang 124
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết
  • SÁCH SONG NGỮ: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace & Joy”

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email