TÔI HỌC PHẬT
(Tiếp theo)





Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
TÔI HỌC PHẬT
(Tiếp theo)





Thư gởi bạn xa xôi I (6/2023)
TÔI HỌC PHẬT
(Tóm tắt)
Lúc này làm biếng, 84 rồi chớ ít gì! Phải vẽ hình, viết chữ to, cho dễ đọc, dễ thấy, dễ nhớ.
Gởi bạn… coi vui. Rảnh thì ngẫm ngợi, thắc mắc nếu có nhe.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.




Hổm rày, tôi đã soạn ra những tấm hình cũ của ông ngoại sắp nhỏ, lăn tăn mãi mà không biết bắt đầu viết về ba mình từ đâu. Tôi nhớ thường nhật, trừ giờ ăn sáng, ăn trưa, nghỉ trưa, vệ sinh cá nhân, ghi chép, xem ti vi, trò chuyện với con cháu hay tưới cây, ông sẽ cặm cụi đọc báo hay cuốn sách nào đó. Lúc Ba xuống Sài Gòn ở chơi nhà tôi hay xuống khám chữa bệnh cũng vậy, mà lúc ông sống ở quê nhà cũng vậy
![]() |
| Ba sắp xếp lại kệ sách giúp con gái |
Từ lúc sức khỏe và tuổi tác không cho phép Ba làm công việc của một kỹ sư nông nghiệp nữa, việc đọc trở thành một phần không thể thiếu trong quỹ thời gian của ông. Ông đọc đều đặn, say mê; mỏi mắt, mỏi lưng, tê chân thì tạm ngưng rồi lại đọc tiếp. Vì Ba cao tuổi, giao tiếp bạn bè ít dần, lại nói “không” với internet, nên đọc cũng là cách giúp Ba khuây khỏa. Nhờ đọc và giữ thói quen ghi chép, thể chất của ông dẫu hao mòn chứ “trí nhớ, sự minh mẫn thì còn ngon lành lắm”. Đó là lời bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc khen Ba trong dịp Ba Má tới dự buổi giao lưu với bác sĩ – nhà thơ tuổi bát tuần bút hiệu Đỗ Nghê này tại hội quán Các Bà Mẹ (quận 1, TPHCM).
Ông sinh năm 1938, ở tuổi 85, Ba tôi chính là tấm gương, là “idol” và người truyền cảm hứng cho tôi về sở thích đọc sách. Hồi tôi học phổ thông, Ba đặt báo Khăn Quàng Đỏ, Mực Tím cho tôi hằng tuần. Tôi tin rằng, việc tôi từ năm lớp Năm đã thi học sinh giỏi văn cấp thị xã Buôn Ma Thuột, có thể học lớp chuyên văn suốt cấp II-III rồi viết truyện, làm thơ đăng lung tung, từ tỉnh lẻ khăn gói xuống Sài Gòn làm sinh viên ngành báo chí rồi trở thành phóng viên – biên tập… tất cả là nhờ hưởng gen trội của Ba (và xa hơn là ông nội tôi).
![]() |
| Tác giả và Ba trước Bảo tàng Thiên Văn (Mỹ) |
Kỷ niệm tôi thích nhất hồi nhỏ là được ba chở ra nhà sách ở ngã sáu trung tâm, khi ông có thêm khoản tiền phụ cấp gì đó ngoài lương. Cái yên inox phía sau chiếc xe đạp cũ của ba luôn cẩn thận cột thêm cái áo mưa xếp gọn để tôi ngồi cho êm. Sách hồi đó ba mua cho, tôi còn giữ tới nay, dẫu cũ mèm, rách bìa hay lìa gáy.
Sau này Ba Má có cả chục đứa cháu, mỗi khi đi công tác hay du lịch, ông hay tìm tới nhà sách tại nơi đến, mua sách cho ông rồi chọn sách lịch sử, sách danh nhân, sách khám phá thiên nhiên… làm quà cho mấy đứa cháu nội, ngoại thích đọc hơn là đồ chơi. Ba không quên ghi ngày tháng và lời tặng bằng nét chữ rất đẹp của ông trên trang thứ hai của sách. Về khoản này, tôi cũng học từ ông vì tôi nhận ra, có nét chữ thân thương của người tặng, cuốn sách tự nhiên có hơi ấm và giá trị của nó sẽ càng bền bỉ theo thời gian.
![]() |
| Ba Má cùng cháu ngoại trò chuyện với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
tại hội quán Các Bà Mẹ sau buổi giao lưu về sách của bác sĩ |
Khi đi làm có tiền, tôi cũng thích gửi tặng sách cho ba đọc. Tôi nói đùa với sắp nhỏ: “Ông bà ngoại là cái máy bào chữ”. Song, phải khâm phục là Ba tôi đọc và nhớ rất kỹ chứ không phải kiểu đọc qua loa. Khi ông đọc báo hay tin tức trên ti vi cũng vậy; nên khi nói chuyện cùng ai, về vấn đề gì liên quan, ông đều có thể trích dẫn chính xác hay bình luận kèm quan điểm.
Trêu Ba là cái “máy bào” cho vui, thực sự tôi gửi trong đó cả chút hổ thẹn của đứa con từng gắn bó với nghề viết nhưng có một thời gian dù mua sách chất đầy, tôi không đọc xong cuốn nào cho ra hồn. Sau này, khi không làm công việc biên tập nữa, tôi lại đọc nhanh và thẩm thấu nhiều hơn.
Song nghĩ lại, tôi rất vui vì riêng khoản mua sách cho con cái là tôi không hà tiện. Tôi thích rủ rê, khích lệ con đọc từ lúc mới biết chữ. Tôi sẵn sàng mở hầu bao khi các con đề nghị mua sách. Tất nhiên, ngoài sách báo thì tuổi thơ của tôi còn có vô số bịch chè sương sâm, bánh cam, bắp luộc… Má mua cho mỗi khi đi chợ về hay những món tủ má thường nấu. Nhưng chè bánh của Má thì đã trở thành những ký ức tuổi thơ ngọt ngào, còn sách báo Ba mua thì trở thành một phần tư duy, tâm hồn của chính tôi hôm nay.
Ngô Thị Trâm Anh
(Phunuonline 30.5.2023)
Đôi dòng cảm nhận về
Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, 18.5.2023)

Tôi vừa nhận được cuốn Nhớ về những ngày tháng cũ của anh Hai Trầu Lương Thư Trung gởi tặng. Lướt qua, giựt mình. Dày gần sáu trăm trang sách, biết bao nhiêu chuyện đời, chuyện nhà, chuyện riêng, chuyện chung… với rất nhiều hình ảnh, đặc biệt những hình ảnh về nông thôn miền Tây Nam bộ xứ mình, gần như là một tự điển… bách khoa miệt vườn!
Nhưng với tôi, mấy dòng này của An Thu viết về cuốn sách của anh Hai Trầu là đã quá đủ:
“ … thật là ngộp thở và sảng sốt… tui đã gặp cái gì đây? Một ông thần, thổ địa… đã đưa tôi về lại quê nhà xưa yêu dấu!… Có thể nhìn lại cả một trời quê nghèo mộc mạc của tui… thiệt là muốn khóc…!”.
Nếu có thể nói gì thêm, thì, những trang ghi chép về “Vài kinh nghiệm sống ở nhà quê” (tr 514)… rất là bất ngờ và thú vị! Không biết những kinh nghiệm này bây giờ AI đã biết chưa?
*Con sùng đít đen thì mưa, đít trắng thì nắng.
*Chim khách kêu trước sân có khách gần uống trà; chim khách kêu phía sau nhà có khách xa ghé thăm và ở lại dùng cơm.
*Chỗ nào chim bồ cắt bay vòng vòng trên trời, bên dưới có chuột.
*Cá nhỏ thì ụp móng, cá lớn thì lên ngớp. Cạn đìa mới biết lóc trê, còn ụp móng biết đâu rô sặt.
*………
Và ngạc nhiên cảm động không kém với tôi là những câu thơ mộc mạc chân tình của Lương Thư Trung về kiếp người, về tuổi già, những câu thơ làm tôi nhớ Đào Tiềm: Đi về sao chẳng về đi/ Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?
Nhớ ngày ấy chồng cày vợ cấy
Dưới lung sâu nôm cá mò cua
Đường đời bao bận gió mưa
Nhớ sao là nhớ giàn dưa mới trồng…
…Bước qua vườn mít mít chào
Hương cau lan tỏa lối vào, hương cau
Chút thơm còn đọng hôm nao
Hai hàng cau lão đứng hoài lối đi
… Đá vốn có từ trong lòng đất
Đất phục sinh, đá cứng theo đời
Mới hay tạo hóa vẽ bày
Có trong trời đất mới hay mình già
… Trong trời đất vạn loài vốn quí.
Người hay quên uổng phí vô cùng.
Bông nào nở được hai lần?
Sông nào được tắm hai lần bến sông?
Tôi ngờ rằng khi anh Hai Trầu Lương Thư Trung viết xong cuốn Nhớ về những ngày tháng cũ thì anh đã tắm bến sông… không chỉ hai lần?
(ĐHN)
Nguyễn Thị Khánh Minh giới thiệu

Mẹ là biểu tượng cho vẻ đẹp trường cửu. Một vẻ đẹp không thể nghĩ bàn. Chỉ có thể thẩm thấu trọn vẹn bằng cảm xúc của trái tim và hạt lệ, để biết rằng, với mẹ, ta đã được hưởng tình thương yêu, bao dung độ lượng đến ngần nào! Chỉ trong vòng tay mẹ, ta mới rung động được với nhịp giao hòa của bao la trời đất, ta mới cảm hết biên giới của ấm áp. Điều ấy, chúng ta sẽ thấy được nơi thơ của các nhà thơ Du Tử Lê, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Xuân Thiệp, Đỗ Hồng Ngọc, Pháp Hoan, Nguyễn Đức Cường, Hoàng Xuân Sơn, Vũ Hoàng Thư, Trangđai Glassey Trầnguyễn, Nguyễn thị Khánh Minh, Trịnh Y Thư. (NTKM).
DU TỬ LÊ
Cõi Mẹ Về
(Trích đoạn)
em đâu biết, tôi có những giấc mơ
tỉnh ra còn ngỡ
như có chuyến xe lửa vừa mới khởi hành
về Hà Đông
nơi mẹ tôi được sinh ra, lớn lên,
rồi theo chồng đi miết.
quê ngoại với tôi tới giờ vẫn còn là niềm bí mật
như những sợi tơ giăng khắp bầu trời
tôi từng vói, mà, chưa lần nắm được.
em đâu biết tôi có những giấc mơ
thấy rõ mẹ về
đắp lại tôi, tấm chăn
vuốt lại tôi, mái tóc…
đã bao năm mất hút sau lưng,
mà, mẹ tôi vẫn không thể tin rằng mái tóc xanh của con bà đã bạc
những đường kẻ dọc, ngang vầng trán tối
đôi mắt nay đã mờ
(đôi mắt trong veo nhìn theo mẹ tôi những ngày họp chợ)
đôi mắt giờ sụp lở nắng, mưa.
mẹ tôi hỏi sao tóc con lại trắng?
những sợi gân nào lấp ló dưới da nhăn?
tôi hỏi bà, lúc rày người có khỏe?
mẹ tôi cười
quết trầu đỏ,
đôi làn môi cắn chỉ
bà vẫn buồn như thuở bố đi luôn…
– Du Tử Lê
(Trích từ tập thơ Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu,
Văn Học Nhân Chứng xuất bản, 1989)
NGUYỄN LƯƠNG VỴ
vâng thưa mẹ con đã về bên mẹ
ngồi bên hiên nhà cũ thấm ân tình
trời xuống thấp đất lên cao nắng xế
chiều u trầm chiều êm như trang kinh
mẹ rất mỏng như không gian rất mỏng
con rất ngây như thời gian rất ngây
và đôi tay rất ấm trong đôi tay
và đôi mắt rất nồng trong đôi mắt
con nhìn mãi chiều thu xa xa lắc
nhìn rất lâu lâu lắm giữa chiều phai
chiều huyễn ảo mẹ đẹp như trăng cài
trên đỉnh núi trên đỉnh trời chói rạng
con nhìn mãi chiều thu xa xanh lắm
tiếng hát xanh xanh đất ấm trời êm
như lá nõn như cành non mướt đêm
mẹ ấp ngực ru con theo dòng sữa
vâng thưa mẹ con đã ngồi bên cửa
bên niềm vui bên nỗi nhớ đong đầy
mây trắng xóa mắt nhòa theo bóng mây
tim bỗng nhói chiều bỗng gầy heo hút
mẹ rất đẹp như đất trời bất tuyệt
như hồn quê như cánh bướm dâng mùa
bông cúc trắng bông cúc vàng đong đưa
nụ cười hiền mẹ vẫn ngồi thinh lặng
con nhìn mãi những chiều xa bay trắng
âm bay nghiêng hơi ấm mẹ trong đời
đời nghiêng ngửa đời ly tan lâu rồi
huyết âm mẹ trong con riu ríu lửa
con nhìn mãi giọt lệ khô chan chứa
biển rèm vang đồng vọng núi mênh mang
ôi thời gian thời gian ôi thời gian
con ôm mẹ giữa chiều ngân giọng sáo
vâng thưa mẹ con lần theo nếp áo
áo sờn vai hai bóng một vuông chiều
chiều rất thẳm chiều rất trầm yêu dấu
như chưa từng… thưa mẹ biết bao nhiêu.
– Nguyễn Lương Vỵ
(Trích từ trường ca Âm Tuyết Đỏ Thời Gian,
Văn Học Press ấn hành năm 2019)
NGUYỄN XUÂN THIỆP
Hỏi thầm giọt mưa. và nói giùm tôi
(Trích đoạn)
Tôi sinh ra dưới cội nghèo.
ngôi nhà ẩn trong xóm cỏ.
mẹ tôi răng đen. mắt hạt nhãn.
thời trẻ tiếng ca xanh dòng sông
mẹ lấy cha. rồi yên phận
nuôi heo. nuôi gà. nuôi con
…
Ơi em bé. hái búp sen mùa hạ
sen thì hồng. mà tay nhỏ xanh xao
em hái sen. chiều nay ra chợ bán
hương hạ nồng. cùng sợi khói nhà sau
…
mẹ già tưới cây chanh bên bờ giậu
để một mai đời ngát lộng hương chanh
mẹ còng lưng. mà trời cao vời vợi
dẫu một ngày. giọt nắng rụng xa cành
…
mai mốt. mẹ qua vùng thảo nguyên
mẹ. ánh trăng vàng trong truyện cổ
lặng soi bên mặt nước hồ gương
đi lang thang qua hàng bia mộ
khi cúi nhìn một cụm hoa lan
thương ôi. mắt nhung xưa. còn mở
– Nguyễn Xuân Thiệp
ĐỖ HỒNG NGỌC
Bông hồng cho Mẹ
Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông
– Đỗ Hồng Ngọc
(Bài thơ này nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc, ca sĩ Thu Vàng hát).
PHÁP HOAN
Mẹ tôi kể
Mẹ tôi kể
khi cỏ cây thôi xao động trong vườn
khi con chim ngủ yên trong tổ ấm.
Mẹ kể về những trái bom
giội lên những mái nhà
như táo mùa thu chín rụng.
Mẹ kể về những người lính
nằm chết trên cánh đồng
mạ non mọc ra từ cổ họng.
Mẹ kể về những dòng sông
về đất nước thời tuổi thơ của mẹ
nơi những ký ức vẫn âm thầm ngủ
như trái bom ngủ quên trong vườn
mỗi đêm nằm trên giường
tôi luôn nghe thấy tiếng đập của nó
sâu trong lòng đất đá
bốn mươi bảy năm qua
trong khu vườn những giấc mơ của mẹ.
– Pháp Hoan
(Nguồn: vanviet.info)
NGUYỄN ĐỨC CƯỜNG
Mẹ là ngôi chùa nhỏ
Con ngồi đây lặng lẽ,
Thương nhớ hoài mùa Xuân.
Con ngồi đây quạnh quẽ,
Riêng Mẹ đã bao lần.
Mẹ là ngôi Chùa nhỏ,
Đón con về nương thân.
Mẹ là đôi mắt tỏ,
Tha cho con lỗi lầm.
Mẹ là Xuân bay qua,
Nuôi đời con khôn lớn.
Mẹ là hương sen ngát,
Về trong mộng hiền lành.
Như bầu trời lồng lộng,
Là mặt đất bao la,
Là mưa rào tuôn xuống,
Cho đường con thắm hoa.
Mẹ là nắng thênh thang,
Bình minh xưa chói rạng.
Là mây chiều lãng mạn,
Những ngày Thơ huy hoàng.
Mẹ là đêm thức giấc,
Đêm xanh biếc ngàn sao.
Là vô cùng đôi mắt,
Có sương mù trên cao.
Mẹ đi suốt mùa Hè,
Qua hối hả mùa Thu,
Và mùa Đông tất tả,
Riêng cho con mùa Xuân.
– Nguyễn Đức Cường
(Trích từ tập thơ Chân Dung)
TRANGĐÀI GLASSEY TRẦNGUYỄN
Mừng tuổi con
khi yêu một người/ là ta được chiêm ngắm dung nhan của Thượng Đế/ mẹ cũng vậy/ trong phút đầu gặp con/ con chào đời/ trời đất thở ra tơ… (Mùa Yêu Con)
mừng Con chưa đầy tuổi
phúc, lộc, thọ, khang, ninh
má hồng xinh hơn mai
môi tươi hơn đào thắm
Con về ươm Xuân lạ
én xếp nhạc cành xa
tình bao kiếp giao hòa
mùa đông thôi ở giá
mùa Xuân còn ngáy ngủ
nằm lún vào má Con
cái đồng tiền thật tròn
mỗi lần con nhóp nhép
lún luôn vào tim Mẹ
tròn giếng sữa cho con
sữa chảy từ trái tim
tỏa ra hai bầu ngực
sân trời mai vàng rực
Mẹ kín một lộc non
mùa Xuân mới cho Con
Mẹ chảy vào trời đất
– TrangĐài Glassey Trầnguyễn
HOÀNG XUÂN SƠN
Tháng 7 nhớ Mẹ
tháng 7 tôi ngồi trong kệ
nghe ra trời đất tụng kinh
lung linh đại thừa bóng mẹ
nhìn vô. chỉ thấy một mình
chỉ thấy sương chiều bạc tóc
buộc một con sông mấy đò
trôi đi ngả nào không biết
chỉ biết mình ngồi co ro
chợt nhớ khi còn quyến luyến
thương làm sao khúc túy ân
say say một hồn vô ngã
chìm trong xứ mẹ ân cần
mà tôi vẫn còn lóng ngóng
lân tuất áo mẹ phương nào
giọt nước mắt chìm trong ngấn
chìm khuất
bóng mẹ
phương
nào…
– Hoàng Xuân Sơn
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Mẹ
Đầy tay mẹ dậy thơ thơm ngát
Đời hồng trong những áng văn chương
Mẹ cười, nhân ái bừng xuân sắc
Bao nỗi đau kia cũng nhẹ thường
– Nguyễn thị Khánh Minh
VŨ HOÀNG THƯ
Ngày Lễ Mẹ
Rách da bật máu thân mình
Mẹ đau quằn quại cho hình con ra
Vá trời thân một Nữ Oa
Oan khiên Mẹ chịu, hải hà Mẹ kham
Thăm Mẹ
mẹ nằm ngó biển xa xăm
trầm hương xin đốt lệ đằm tình thâm
mẹ ơi lỗi hẹn bao lần
mộ phần ngả bạc theo màu tóc phai
– Vũ Hoàng Thư
TRỊNH Y THƯ
Về Mẹ
Mẹ dòng nước mắt chia hai
Mẹ trong huyền sử mẹ ngoài trùng dương
Mẹ từ khung gác miếu đường
Mẹ qua biển lớn thịt xương nát lìa
Mẹ tân khổ
Mẹ đầm đìa
Mẹ chào tay vẫy những chia ly đời
Mẹ giam tủi nhục trong người
Mẹ ôm hơi thở thốt lời từ bi
Mẹ nhìn theo lũ con đi
Mẹ soi ký ức những khi khóc thầm.
– Trịnh Y Thư
……………………………………………….
nguồn: phovanblog. blogspot.com (14.5.2023)
Ngân Hà
(https://bsaonline.vn/nghi-he-de-lam-gi/? 10.05.2023)
tặng bạn tôi, Phạm Văn Nhàn
Đỗ Hồng Ngọc
Nghe nói có đường cao tốc mới từ Sai Gòn về Phan Thiết đi chỉ mất 2 tiếng thay vì 4, 5 tiếng như trước, tôi quyết định “trải nghiệm” cho biết. Chọn ngày Lễ 1/5 cho vắng xe. Quả thật, khởi hành từ nhà mình ở Bàn Cờ lúc 5.15 h sáng thì 7.15 h đã đến Phan Thiết. Cà phê, ăn sáng ở một quán bãi biển rợp bóng dừa quen thuộc xong, chạy vòng ra Mũi Né thăm Đá Ông Địa một chút, rồi trưa về lại Tân Hải ( Tam Tân) quê Ngoại ở La Gi (là quê của cậu Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư, cậu Lê Phương Chi… và những ông cậu khác của mình như cậu Năm Nghê Nhã Ý, cậu Năm Bánh…- nay chẳng còn ai!). Mùa này biển rất đẹp. Ngày hôm sau về Lagi farmstay, nơi yên ả, từ đó ra bãi biển Cocobeach để đi… xe bò thăm Chợ Cam Bình nhộn nhịp…!
Xin gởi vài tấm hình xem vui vậy.

bãi cỏ xanh Vĩnh Thủy, Phan Thiết

Đá Ông Địa. Mũi Né

Không thể không “nhúng” nước biển



“dưới bóng dừa…”


Xe bò đi về phía Chợ Cam Bình. Ở đây hàng ngày có vài chục chiếc xe bò dọc bãi biển trang trí như xe… đám cưới!

Dĩ nhiên không thể không thăm Đập Đá Dựng, phía hữu ngạn… (ảnh Đỗ Hồng Ngọc 2/5/2023)
Vậy đó, một chuyến về thăm quê nhà Phan Thiết, La Gi.
(ĐHN)
……………………………………………………………………………………………
Nếu được, thử nghe Lời Yêu Thương bởi Ý Lan (Jamaica Farewell, lời Việt của Đức Huy).
Thư gởi bạn xa xôi
“Tôi Học Phật” và “Áo Xưa Dù Nhàu” ở… Đà Lạt (tiếp theo)
Hôm đó, mình cũng đã chuẩn bị một ít điều để trình bày với các bạn trong Gia đình Hoa Sen ở Đà Lạt (9.4.2023) về quá trình học Phật của mình để chia sẻ kinh nghiệm nhưng thời gian cập rập quá nên phải hẹn lại một dịp khác, dù Thuần Nhiên và Thảo Nhiên cũng đã chuẩn bị cho một Flipchart sẵn sàng. Xịn được chia sẻ vài hình ảnh cô đọng nơi đây.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc










ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA GIẢI THOÁT
Trần Tuấn Mẫn
Ghi chú: Cư sĩ Trần Tấn Mẫn, nguyên Phó Tổng biên tập Thường trực Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo (từ 2005 đến 2020), với gần 20 năm là giảng viên ở các Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp.HCM và tại Huế, là Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học VN. Anh nay đã ngoài tuổi 80, gởi đến tặng tôi quyển Bản thảo Tâm Sự Với Ai? và cho biết đây cũng là “tác phẩm cuối cùng của anh”.(Xin nói thêm, anh là con nhà văn Trần Thanh Mại). Tôi xin phép anh cho post lại ở đây bài Đạo đức học của Giải thoát để chia sẻ với bạn bè. Bài này đã đăng trên Tập Văn Phật Đản , số 16,1991.
Đỗ Hồng Ngọc.

Đạo đức học là một bộ phận của triết học nhằm dựa vào lý trí mà thiết lập một sự phân biệt giữa thiện và ác, giữa điều được làm và điều bị cấm làm, nhằm nêu ra một nguyên tắc tổng quát để xếp loại và đánh giá các hành động. Đạo đức học nhằm nêu lên cứu cánh của mọi hành động hợp lý mà con người cố vươn tới, tức mục đích, lý tưởng của cuộc đời và tìm các phương cách giúp con người tiến tới mục đích lý tưởng ấy.
Khi bàn đến đạo đức, triết học lại nổi lên câu hỏi cơ bản: “Nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức là gì và đâu là giá trị của các nguyên tắc ấy?”. Câu hỏi kép gồm hai vế ấy có vế đầu liên hệ đến tâm lý học và vế sau liên hệ đến siêu hình học. Những tranh cãi thuộc vế đầu là: Nguyên tắc đạo đức là do kinh nghiệm hay do kế thừa, hay do xã hội, do lý trí, do bẩm sinh, và chi tiết hơn liên hệ đến lòng trắc ẩn, tự kỷ, vị tha, trách nhiệm, bổn phận… Những tranh cãi thuộc vế thứ hai là: Giá trị của các nguyên tắc đạo đức có thể quy vào một không? Giá trị tuyệt đối là gì, lý tưởng, thượng đế…? Từ đó đạo đức học bị chia thành nhiều loại như đạo đức học duy nghiệm, duy lý, duy nghiệm lý, rồi lại bị chia thành các phái như chủ nghĩa hoan lạc, khoái cảm, duy dụng, duy nhiên, duy cảm v.v…
Ước vọng có một đạo đức học đúng đắn, hiệu nghiệm và phổ quát cho mọi người luôn luôn là chính đáng. Cái yêu cầu ấy còn mạnh mẽ hơn với lòng yêu tuyệt đối luôn bùng cháy trong con người và khiến con người quay tìm đạo đức học trong tôn giáo. Nhưng tôn giáo thường đầy rẫy những luận giải siêu hình; nó thiết lập các giáo điều, nó ra mệnh lệnh, nó đòi hỏi sự tuân phục, thuần tín ở đấng tối cao… Phật giáo không phải là một tôn giáo theo nghĩa ấy và đạo đức học của Phật giáo có thể là đạo đức học cho mọi người.
Đức Phật dạy: “Ví như nước biển chỉ có một vị là vị mặn, cũng vậy, này Pahàrada, Pháp và luật của ta chỉ có một vị là vị giải thoát”. Ngài còn dạy: “Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ”. Trong lần chuyển pháp luân đầu tiên tại Benares, giảng về Tứ đế Đức Phật xác định đây là khổ, nêu nguyên nhân của khổ, nói đến sự chấm dứt khổ (giải thoát, Niết bàn) và con đường diệt khổ. Thế là Ngài đã tuyên bố mục đích của mọi hành động của con người và của giáo lý của Ngài là nhằm giải thoát khỏi khổ đau. Đối chiếu ý nghĩa này với định nghĩa chung về đạo đức học đã nêu, ta có thể nói toàn bộ giáo lý của Đức Phật là một giáo lý đạo đức, hay Phật học là đạo đức học, một đạo đức học xây dựng trên giải thoát, do một người đã giải thoát truyền dạy, lấy giải thoát làm cứu cánh, lấy giải thoát làm chuẩn tắc để đánh giá các hành động. Xác định nền tảng giải thoát này là xác định toàn bộ ý nghĩa, đối tượng, mục đích, phương pháp của đạo đức học Phật giáo.
Xác định nền tảng của đạo đức học Phật giáo là giải thoát, ta có thể dễ dàng giải đáp câu hỏi cơ bản đã nêu trên: Giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức. Thực ra mệnh đề này là kết quả của sự lập luận rằng: Do khổ, do kinh nghiệm khổ mà nảy sinh ra cái nguyên tắc đạo đức cơ bản là sự diệt khổ, thoát khổ, đẩy đưa đến sự diệt khổ tuyệt đối, cứu cánh, đấy là giải thoát tối hậu, Niết bàn. Giải thoát là mặt bên kia (mặt tích cực trong ý nghĩa đạo đức) của khổ đau, giải thoát và khổ đau là hai mặt của một thực tại đang hiện hữu tại đây, giờ đây. Vậy thay vì bảo giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức, ta có thể bảo khổ cũng là nguồn gốc ấy. Từ đây vế thứ hai của câu hỏi cũng được dễ dàng giải đáp : “Giải thoát là giá trị tối hậu đích thực của các nguyên tắc đạo đức.”
Dù Phật giáo không hề muốn bị xếp như một triết thuyết như duy nghiệm, duy lý, duy cảm v.v… nhưng Phật giáo, đạo đức học Phật giáo, không thể không là đối tượng nghiên cứu cho các nhà triết học và không thể tránh khỏi sự sắp xếp phân loại của các nhà nghiên cứu đạo đức. Thế thì hãy tạm gọi đạo đức học Phật giáo là đạo đức học Duy giải thoát mà phương Tây có thể nên gọi bằng một từ triết học mới nào đó, đại loại như “Emancipisme”! Và như vậy, vấn đề muôn thuở của đạo đức học nói chung như lương tâm hay ý thức đạo đức, tức cái khả năng nhận biết giá trị đạo đức của các hành động được đạo đức học Phật giáo gọi là ý thức giải thoát, hay ở mức độ cao gọi là trí giải thoát. Trí giải thoát lại còn được xem là nguồn gốc của lương tâm, của ý thức đạo đức tức là của chính nó, hiểu theo lập luận của E.Kant khi ông gọi nguồn gốc ấy là lý trí thuần túy thực tiễn, cái nhân tố phát khởi những mệnh lệnh quyết định. Nếu Descartes đẩy ý thức đạo đức lên thành các tác phẩm của thượng đế, nếu Spencer đẩy lùi nó vào cái thói quen do di truyền thì đạo đức học Phật giáo gọi nó là dư y của ý thức giải thoát, một thiện nghiệp trong quá khứ và có thể được vun đắp thêm trong hiện tại.
Nói đến giải thoát là nói đến tự do. Thông thường giải thoát được hiểu là trạng thái được sau khi thoát khỏi sự ràng buộc, sự trở ngại, khổ đau, mất tự do; tự do là trạng thái thoải mái, có thể tự mình quyết định hành động của mình, tự mình chọn lựa… Như vậy giải thoát và tự do có thể được xem là đồng nghĩa, nhất là khi ở bình diện tuyệt đối, Giải thoát và Tự do đồng nghĩa với Niết-bàn, là Niết-bàn là Phật. Ở bình diện tương đối của thế gian, giải thoát và tự do chỉ có thể được thực hiện trong giới hạn. Một hành động như tìm nước uống để thỏa mãn cơn khát, làm một việc thiện để đạt được niềm vui tự nội… đều có giá trị giải thoát tương đối. Tự do chọn nghề, tự do nghỉ ngơi… là những tự do tương đối vì người ta không thể tự do lấy của cải của người khác, không thể tự do vượt khỏi những hạn chế của cơ thể để thực hiện những điều không tưởng, không thể tự nhiên mà thoát được sinh, già, bệnh, chết… Cái kinh nghiệm giải thoát có thể thực hiện hàng ngày, qua từng công việc bình thường hoặc sâu đậm hơn, qua thiền định. Niềm vui, niềm hạnh phúc đạt được trong khi làm việc thiện, trong khi thiền định sẽ giúp ta phát triển ý thức đạo đức, đánh giá đúng đắn các hành động và truy tìm những hành động mang lại giải thoát, hạnh phúc.
Trước khi bàn tiếp hãy nhận định về cái thuật ngữ nổi cộm trong đạo đức học, đó là từ hạnh phúc (le bonheur). Người ta dễ dàng chấp nhận rằng mọi hành động đích thực của con người là nhằm mưu cầu hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là gì? Câu trả lời cũng thường dễ dàng không kém: Hạnh phúc là sự thỏa mãn vật chất và tinh thần! Nhưng những yêu cầu vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân lại khác nhau tùy theo hoàn cảnh, cá tính, thời gian v.v… Có phải những yêu cầu ấy là tiền bạc, sức khỏe, vợ con, sự tiện nghi… và là sự được khen, được yêu, được lao động, được thực hiện lý tưởng được gần gũi Thượng đế…? Nếu thế thì ý nghĩa của hạnh phúc vẫn mãi mãi là mối trnh cãi. Đạo đức học Phật giáo nêu rõ cái kinh nghiệm cơ bản về hạnh phúc là sự lạc thọ, tức sự thọ nhận cái cảm giác an vui, cái hoan hỷ tâm vậy. Đạo đức học Phật giáo đồng nghĩa hạnh phúc với giải thoát, hiểu hạnh phúc là phù hợp với con đường giải thoát. Đến đây, giáo lý vô ngã của Đức Phật đóng vai trò quan trọng trong đạo đức học Phật giáo. Vì vô ngã là bản chất của hết thảy mọi sự vật, là chân lý nên mọi hành động trái với vô ngã (tức hành động hữu ngã) là trái với bản chất của các sự vật, là trái với chân lý, tức là gây khổ đau, trở ngại cho sự giải thoát. Khi ta thực hiện vô ngã thì ta thấy có hạnh phúc, tức thấy có giải thoát. Vậy vô ngã có thể xem là đồng nghĩa với giải thoát. Trong một nghĩa hẹp, hành động vô ngã là một hành động quên mình, vị tha, là từ bi, hỷ xả, mang tinh thần đạo đức xã hội mà mọi người đều xem là thiện hạnh.
Trở lại việc đánh giá hành động: Đạo đức học Phật giáo lấy tiêu chuẩn giải thoát, vô ngã để đánh giá một hành động và cái chủ thể đánh giá là ý thức giải thoát. Do mức độ tu tập, hành trì, ý thức này có thể cao, thấp khác nhau. Lương tâm, ý thức đạo đức hay ý thức giải thoát mang tính tự do trong chính nó và như đã nói nó có thể bị sai lầm, bị yếu kém khiến một cá nhân bị thối thất hay chịu nhận khổ đau. Cho nên sự tu tập mới được đạo đức học Phật giáo đề cao, đấy là ý nghĩa tích cực của đạo đức học Phật giáo. Chúng ta thông cảm với nhận định hơi vội vàng của J.P. Sartre: “Tự do là nguồn gốc độc nhất của giá trị” (La liberté est I’unique source de la valeur), “Kết quả là, tự do của tôi là nền tảng độc nhất của các giá trị, và không có gì. tuyệt đối không có gì khiến tôi phải chấp nhận một giá trị thế này, thế nọ, một thang giá trị thế này, thế nọ”. Hay của S. de Beauvoir: ” Con người thì tự do, nhưng con người tìm thấy luật tắc của mình trong chính sự tự do của mình nữa.” Sự tự do ấy, nếu không phải là tuyệt đối tức cứu cánh giải thoát thì ít ra cũng phải là trạng thái của một người đã đạt nhiều tiến bộ trong tu tập, đang tiến gần đến giải thoát để có thể có nền tảng vững vàng trong sự phán đoán giá trị! Đấy là sự tự do ở một bậc chân tu chứ không phải là tự do ở bất cứ người nào như Sartre và De Beauvoir quan niệm.
Đức Phật là bậc đã đạt trọn vẹn Giải thoát. Ngài vạch con đường giải thoát cho con người. Giáo lý đạo đức của Ngài không phải là tác phẩm của các văn gia đạo đức như La Rochefoucauld, La Bruyère, Vauvenarge… hay của các triết gia đạo đức như Epicure, Aristote, Kant, Max Scheler… Đạo đức học của Ngài có phần lý thuyết toàn hảo nhưng Ngài chú trọng đến phần thực hành mà Ngài đã thực hiện để đạt giải thoát. Một đạo đức học tuyên bố rằng đời là khổ, đây là khổ, tự nhiên bao hàm sự tuyên bố rằng mọi hoạt động con người là nhằm thoát khổ, giải thoát. Đạo đức học ấy là đạo đức học của giải thoát, tích cực, cụ thể và lạc quan. Tích cực vì nó kêu gọi con người lên đường diệt khổ, khuyến khích sự tinh tấn, hành thiện, cụ thể và thực tiễn vì đối tượng giải thoát là con người, là cuộc đời ngay đây và bây giờ; lạc quan vì nó tuyên bố mọi người đều có đầy đủ khả năng giải thoát tối hậu.
Trần Tuấn Mẫn
(Trích Tập Văn Phật Đản , số 16, 1991)
Thư gởi bạn xa xôi,
“Tôi Học Phật” và “Áo Xưa Dù Nhàu” ở… Đà Lạt.
Mình có chút việc riêng, đi Đà Lạt vài ba hôm. Chiều 9.4, mới đến Đà Lạt đã “tranh thủ” ghé thăm Gia đình Hoa Sen với nhóm “thiền ca” của nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh (em nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, phong trào Du ca thuở xưa), cùng Phạm Gia Cẩn, Nguyễn Mậu Pháp (Ngũ Hành Sơn), Trần Quốc Dũng, Bác sĩ Đào, Lê Viết Cảnh, bs Tuệ Hương, Diệu Cát, Thảo Nhiên v.v… Theo yêu cầu của các bạn, dịp này muốn được nghe mình nói một chút về hai cuốn sách mới xuất bản: Tôi Học Phật và Áo Xưa Dù Nhàu.
Áo Xưa Dù Nhàu… là những lời Tri Ân chân thành đến những bậc thầy, bậc đàn anh, bạn bè gần xa đã giúp mình trở thành… mình hôm nay trong việc viết lách… Thời gian trôi nhanh, trí nhớ cùn mòn nếu không ghi chép lại ít nhiều kỷ niệm với Nguyễn Hiến Lê, với Võ Hồng, Nguiễn Ngu Í, Dương Cẩm Chương, Cao Huy Thuần… thì rất đáng tiếc bởi “Áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau…” (Hạ Trắng, TCS). Cảm ơn Phanbook nhiều lắm đó nha.
Còn Tôi Học Phật, thì trước hết phải cảm ơn Anh 5 Hiền (Nguyễn Hiền Đức), người cả chục năm kiên trì rị mọ, gò lưng gõ gõ các bài viết về Phật học của mình, rồi tung lên mạng (Thư viên Hoa Sen, 2019) để chia sẻ cùng bạn đạo trong khi mình vẫn còn e dè, muốn giấu nhẹm. Thế rồi, năm 2021, mình biên soạn lại, bổ sung, rồi in nháp một ít bản thảo để “pretesting”, lắng nghe ý kiến các Thầy, các Thiện tri thức. Và sau khi hoàn chỉnh, tháng 3.2023 này, đã được Nhà xuất bản Tổng họp TP.HCM chính thức in ấn và phát hành. Cảm ơn Thanh Thủy, Thi Anh, Mai Quế Vũ… và tất cả.
Trong dịp gặp Gia đình Hoa Sen ở Đà Lạt, mình nói “Tôi Học Phật” theo một cách riêng của mình, một người bác sĩ học với bậc Y vương để tự chữa bệnh cho mình và cho bạn bè đồng bệnh tương lân. Những bài học dưới góc nhìn “khoa học thực nghiệm”, không mê tín dị đoan và chia sẻ chân thành từ những trải nghiệm, thực nghiệm trên bản thân mình suốt hơn hai mươi lăm năm qua.
Dịp này, mình nhắc 2 câu thơ của Sư Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh) tặng cho nhóm Quán Văn do mình đưa đến thăm Sư ở Huyền Không Sơn Thượng ngày 22.3.2023 vừa qua:
Nhẹ nhàng, thanh thản, tự nhiên thôi
Với cả nhân gian một nụ cười…
Và dưới đây là vài hình ảnh buổi gặp gỡ các bạn Gia đình Hoa Sen ở Đà Lạt (ngày 9.4.2023):
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh.

Diệu Cát

Thuần Nhiên, Ngũ Hành Sơn, Phạm Gia Cẩn, Anh Trình…

Lê Viết Cảnh, Tuệ Hương, Mai Bùi (Saigon), Thảo Nhiên.

Diệu Cát, Thoại Anh, Nguyệt (Mỹ), Tâm Nhiên
Sau buổi trò chuyện, Dũng (Kha Nhiên) hát cho mọi người nghe bài Khi Xa Đà Lạt (thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhạc Nguyễn Đức Vinh) với nhiều cảm xúc. Bài thơ này mình viết năm 1966, đã đăng trên tạp chí Mây Hồng thưở đó. Nhạc sĩ Vinh bảo do vậy, anh phải “phổ nhạc” với một điệu… xưa của những năm 70 cho phù hợp… Tiếc mình không biết làm sao đưa clip lên đây cho bạn nghe vui mà nhớ chút Đà Lạt xưa!

Thuần Nhiên đệm đàn cho Kha Nhiên hát… Khi Xa Đà Lạt… tặng các bạn.
Rồi cũng xa thôi những hẹn hò
Những đồi run rẩy dưới mưa tơ
Những thung lũng nắng mềm hơn tóc
Những suối tương tự chảy hững hờ…
(…)
Thôi, những người đi về phố phường
Còn nghe rưng rưng bao niềm thương
Khi xa Đà Lạt, xa Đà Lạt
Hồn cổ sơ làm sao không vương…
(ĐHN, 1966)
Thư gởi bạn xa xôi:
“Về miền trung…” (tiếp theo)
Kể tiếp hả? Lúc này mà bạn chịu đọc, lại còn đòi đọc tiếp nữa là mình mừng lắm rồi đó.
Nhưng, mình cũng chỉ có thể thêm vài hình ảnh coi vui thôi nhe.
Lâu nay mơ một chuyến đi Bạch Mã mà chưa có dịp. Có lần mình viết mấy câu:
Tháng hai hẹn về Bạch Mã
Nhìn em múa kiếm dưới trăng
Cỏ cây giật mình sửng sốt
Sương mù tứ phía giăng giăng…
(ĐN)
Lần này mình theo đoàn Quán Văn của Nguyên Minh và các bạn, với lời mời của Võ sư Nguyễn Văn Dũng và Tịnh Thy đi Bạch Mã một chuyến cho biết.

Vọng Hải Đài trên đỉnh Bạch Mã (internet)


Những bờ tường rêu phủ…

Còn chút quán lá đơn sơ…

Vọng Hải Đài, nơi cao nhất ở núi Bạch Mã (1440m).

Võ sư Nguyễn Văn Dũng và Đỗ Hồng Ngọc bên gốc anh đào. (Bạch Mã, 20.3.2023)

Võ sư Nguyễn Văn Dũng, Đỗ Hồng Ngọc và Tịnh Thy.
Ngày nay Bạch Mã đã có năm ba khách sạn mới chỉnh trang, nhiều điểm tham quan rất đẹp như Thác Đỗ Quyên, Ngũ Hồ… và du khách đã bắt đầu về thăm Bạch Mã.
……………………………………………………………………………….
Thêm vài hình ảnh ở Huyền Không Sơn Thượng
Lần nào đến Huyền Không Sơn Thượng, ngoài được gặp Sư Giới Đức để học hỏi, bao giờ mình cũng ghé thăm một nhà sư trẻ, sư Chơn Quán, ở trong một cái cốc nhỏ giữa hồ, có một cái cầu tre lắc lẻo bắc qua. Sư Chơn Quán trước đây là người phụ trách trang web của HKST giúp Thầy Giới Đức – đã đăng một số bài viết của mình nên đã quen biết nhau – nhưng nay trang web tạm ngưng để tập trung cho Facebook, rộng mở và phù hợp hơn. Facebook ngắn gọn, tương tác nhanh nên tiện lợi hơn Website.
Lần này mình cùng vài người bạn ghé cốc thăm sư Chơn Quán, uống ly trà thơm do chính tay Sư pha chế. Phải nói mình rất thích cách bài trí ở đây, có cái gì đó vừa xa lạ vừa thân quen từ xa xưa lắm…
Xin chia sẻ vài hình ảnh cùng bạn xa xôi nhé.
Thân mến,
Hẹn thư sau.
Đỗ Hồng Ngọc.



Nguyễn Thị Tịnh Thy:
Tác giả Bửu Ý đặt nhan đề cho cuốn sách là BÙI GIÁNG, MỘT ĐỜI THƠ. Tuy nhiên, những gì mà cuốn sách thể hiện còn hơn cả thế. Bởi vì, qua trang viết của Bửu Ý, Bùi Giáng không chỉ là một nhà thơ, một đời thơ; mà còn là một dịch giả, nhà phê bình văn học, một triết gia.
Ra mắt sách Bùi Giáng, Một Dời Thơ của Bửu Ý, (ảnh ĐHN, Huế 22.3.2023)


Từ trái Nguyễn Thị Tịnh Thy, Bửu Ý, Nguyễn Khoa Diệu Hà
Thư gởi bạn xa xôi
Thăm Sư Giới Đức ở HUYỀN KHÔNG SƠN THƯỢNG
Mình vừa làm một chuyến “du hành” khá thú vị “Về Miền Trung…” với nhóm bạn Quán Văn. Không phải Về Miền Trung với miền thùy dương bóng dừa ngàn thông thuyền ngược xuôi… gì đó đâu nhe, lần này… leo núi. Nhờ có Võ Sư Nguyễn Văn Dũng nên mình được leo lên tận đỉnh Bạch Mã, lâu nay ao ước mà chưa được đến. Ôi đường núi cheo leo, ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, quanh co, cùi chỏ, thấy mà ớn với một ông già “khú đế” như mình!
Ngày hôm sau, lại có dịp lên Huyền Không Sơn Thượng thăm Sư Giới Đức, tức Minh Đức Triều Tâm Ảnh, một nhà thơ, nhà văn, nhà thư pháp nổi tiếng một thời.
Mình không hẹn trước với Sư. Xưa nay vẫn quen vậy. Cho nên khi gặp Sư, mình nói “Tôi không hẹn trước với Thầy, vì “có duyên” thì gặp cũng tốt, mà không gặp cũng… tốt”. Sư cười. Tay bắt mặt mừng. Sư khác hẳn xưa. Xưa, là hơn 3 năm trước, thấy Sư nghiêm nghị, có vẻ luôn “căng thẳng”. Đó là trước khi Sư nhập thất 3 năm ẩn cư, “để coi có thấy được gì hay không”, có đạt được “quả” gì không. Hôm nay sau 3 năm tu thiền nghiêm nhặt, Sư thấy được chỗ sai chỗ đúng, của Định, của Tuệ, thấy Thiền Định mà không khéo, bước vào đời sống dễ bị 8 ngọn bát phong đập tơi tả. Bây giờ nhìn Sư mình mừng, thấy Thầy thảnh thơi, an nhàn, ung dung, tự tại…
Sư nắm chặt tay mình, bảo tay mình sao cứng chắc vậy, và nói với mọi người Bs Đỗ Hồng Ngọc còn lớn hơn Sư một tuổi! Trong đoàn còn có Nguyên Minh, cùng 82 tuổi với thầy, vốn xưa đã cùng học Khóa 1 Sư phạm Quy Nhơn 60 năm trước!
Mình hỏi thăm Sư về sức khỏe, mừng vì thấy Sư nay an lạc, hạnh phúc, vì mình biết khi Sư ra khỏi thất sau 3 năm đã suy kiệt đến nỗi phải vào bệnh viện “cấp cứu” để được truyền đạm, truyền dịch, phục hồi dinh dưỡng… Bây giờ thấy Sư tủm tỉm cười, mắt sáng , ung dung. Sư thẳng thắn cho biết những “sai lầm” của mình ở năm thứ nhứt, lúc “ham hố” (chữ của Sư) mỗi ngày thức dậy từ 1 giờ sáng, tu tập sai lầm 6 tháng đến nỗi cơ thể bất an, bệnh lý phát triển, sau Sư phải thay đổi, suốt 6 tháng sau mới bình ổn lại. Vào 6 tháng cuối của năm thứ 3, khi Xả thất, sư bắt đầu… “sống” thiền, buông thả, thảnh thơi, Sư thấy đã có được “Nụ cười”.
Sư bảo “ngồi quá nhiều”, “ăn ít quá”. Và Sư có lời khuyên mọi người khi Thiền tập rất dễ đi lạc, nhiều cạm bẫy, không nên đi sâu vào các tầng Định theo sách vở. Kinh điển nhiều khi chỉ là ước lệ, phổ quát, quá vắn tắt nên dễ gây lầm lạc. Mỗi người phải tự thực hành, tự chứng nghiệm, và phải thực hành trong đời sống hàng ngày.
Sư đọc hai câu thơ tặng đoàn:
Nhẹ nhàng, Thanh thản, Tự nhiên thôi
Với cả nhân gian một Nụ Cười…
Vả mình đã thấy được Nụ Cười đó ở Sư Giới Đức hôm nay, giữa Huyền Không Sơn Thượng!
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc
(22.3.2023)
Vài hình ảnh:

Sư Giới Đức và Đỗ Hồng Ngọc tại Huyền Không Sơn Thượng, (22.3.2023)




Tuyển Tập TÔI HỌC PHẬT của Đỗ Hồng Ngọc
do Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh ấn hành (2023)

(Bìa Mai Quế Vũ)
Lời thưa,
Càng có tuổi, hình như tôi càng nhận ra có cái gì đó ở ngoài ý chí mình, can thiệp vào mình tùy hứng khiến mình đôi lúc không khỏi chưng hửng, ngỡ ngàng, thầm nghĩ “duyên” chăng? Nhưng duyên là gì thì không biết. “Nghiệp” chăng? Nhưng nghiệp là gì cũng không biết. Thôi thì, cứ để nó trôi chảy, tự nhiên, bởi nó có vẻ chẳng cần đến ta, chẳng phải là ta, chẳng phải của ta…
Ngoài tuổi 80, tôi nghĩ đã đến lúc “về thu xếp lại”, đã đến lúc “nhìn lại mình…” như người bạn nhạc sĩ họ Trịnh kia đã nói.
Về thu xếp lại, bởi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”, vì rất nhanh thôi, các tế bào thân xác kia đã có vẻ rả rượi, ù lì, và cũng rất nhanh thôi các tế bào thần kinh nọ cũng mịt mờ, mỏi mệt… Đầu năm 2019, tôi gom góp in cuốn Về thu xếp lại như một cột mốc, một hẹn hò, rồi cuối năm tiếp tục gom góp in thêm cuốn Biết ơn mình như một nhắc nhở, rồi đến 2022, in tiếp cuốn Buông…
Tôi mong gom góp, tập hợp một số bài viết, một số biên chép bấy nay trong lúc lõm bõm học Phật, thấp thoáng lời kinh, làm thành một tập tư liệu để ngẫm ngợi khi cần và chia sẻ cùng bè bạn thân quen. Muốn thì muốn vậy, nhưng lực bất tòng tâm rồi.
Duyên may lại đến.
Cách đây mấy năm, một buổi chiều, khi đi café với một người bạn trẻ về đến nhà thì nhận được 3 cuốn bản thảo “Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc” dày cả ngàn trang A4 của một người không quen biết gởi tặng. Giật mình. Ai vậy cà? Thấy có kẹp mảnh giấy nhỏ, ghi số điện thoại tên Nguyễn Hiền Đức. Bèn phone thăm hỏi mới biết đó là một bạn đọc quý mến mình, đã “dõi theo” hành trình viết lách của mình từ lâu, nay tỉ mẩn ghi chép lại cả một tuyển tập đồ sộ gởi tặng và nói còn sẽ gởi tiếp mấy tập nữa! Lúc đầu tưởng anh gom góp từ trên mạng, nhưng không, anh cho biết anh đã gò lưng đánh máy từ những trang sách mà anh ưa thích! Thời buổi này. Lạ thiệt.
Rồi hẹn gặp, mới biết Nguyễn Hiền Đức (thường gọi anh 5 Hiền), trước 1975 từng có thời là Thư ký Tòa soạn Tạp chí Tư Tưởng, Trưởng phòng Tu Thư Đại học Vạn Hạnh, thư ký của Thầy Thích Minh Châu. Một hôm, một người bạn bên kia nửa vòng trái đất cho hay thấy có Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc “Thấp Thoáng Lời Kinh” trên Thư Viện Hoa Sen (30/11/2019) tôi khá bất ngờ…
Sau đó, được thư anh 5 Hiền “trần tình”:
Tôi bắt đầu “gõ” và “gõ”, mải mê “gõ” cuốn “TUYỂN TẬP ĐỖ HỒNG NGỌC – THẤP THOÁNG LỜI KINH” này từ năm 2010 và kết thúc năm 2018. Tôi rất thích từ “Thấp thoáng” vì nó thể hiện rất rõ, rất đúng cái chất “thấp thoáng”, “lõm bõm” của tôi khi học Phật.
Ngay trong bước đầu “tập tễnh học Phật” tôi đã chọn cách học hợp với sở thích của mình. Đó là chọn bài, chọn sách rồi… rị mọ. cặm cụi, kiên trì “gõ” vào máy. Cách làm này giúp tôi đọc chậm, đọc kỹ từng đoạn, từng trang, từng bài, rồi chú tâm sửa lỗi. Tôi đọc ít nhất 5 lần cho mỗi trang với lòng thanh thản, thư thái. Tôi không “ép” mình phải ghi, phải nhớ một điều gì cứ để nó trôi chảy như một dòng sông. Rồi biết đâu mười năm sau, hay hơn nữa những gì tôi đã đọc, đã “gõ” sẽ giúp tôi nhiều hơn, tốt hơn trên con đường học Phật. Tôi chỉ đặt ra một thứ kỷ luật tự giác mà tôi phải tuân thủ, đó là mỗi ngày “gõ” ít nhất 5 trang, mỗi tháng tối thiểu 120 trang học Phật (…).
Làm sao không cảm động với một người bạn không quen biết chí tình như vậy. Cho nên tôi đã gởi thêm cho anh cuốn Cõi Phật Đâu Xa viết về kinh Duy-ma-cật. Vậy là tập sơ thảo Tôi Học Phật hình thành dưới sự trợ giúp của Nguyễn Hiền Đức. Tôi nghĩ không có anh 5 Hiền mải mê rị mọ “gõ” và “gõ” như vậy suốt tám năm những trang tôi viết về chuyện “học Phật” của mình rồi mạnh dạn tung lên mạng thì tôi vẫn cứ còn mãi ngần ngại, đắn đo, chưa dám phổ biến. Cho tôi nói lời cảm tạ chân thành đến Nguyễn Hiền Đức (5 Hiền) nơi đây. Thật lạ, hôm qua Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM vừa gởi tặng tôi bản chính thức Tôi học Phật (2023) vừa in xong này cũng chính là dịp Kỷ niệm 100 ngày Nguyễn Hiền Đức đã đi xa.
Tôi nhớ thuở xưa, nơi rừng Simsapa nọ, Phật nắm trong tay một nhúm lá và hỏi các đệ tử rằng nhúm lá trong tay ta nhiều hay lá trong rừng Simsapa kia nhiều hơn? Rồi ân cần giải thích “Ta chỉ dạy các ông những điều như nhúm lá trong tay này, còn cái ta biết thì như lá trong khu rừng kia…”.
Tôi hiểu nhúm là trong tay Phật chỉ là những “key words”, còn Phật dành nguyên cả khu rừng mênh mông kia cho ta tự tìm lấy, tự học lấy trong chính mình, quay về nương tựa chính mình, “đến để mà thấy”.
Tôi người thầy thuốc, tìm học Phật- bậc Y vương- là để tự chữa bệnh thân – tâm cho chính mình và chia sẻ cho những bạn bè đồng bệnh tương lân. Tôi chưa từng tụng kinh gõ mõ. Tôi chỉ lõm bõm tự học, tự hành, tự lần mò tìm kiếm trong khu rừng bí mật – “Con người, kẻ xa lạ” (L’homme cet inconnu, Alexis Carrel) trong tự bản thân mình đây, một con đường tu tâm dưỡng tánh theo lời bậc “đạo sư” và thấy có nhiều phúc lạc.
Trong tuyển tập Tôi học Phật này, tôi chân thành sẻ chia những điều mình đã học và đã hành suốt mấy chục năm qua. Có thể bạn thấy hạp, có thể bạn thấy không hạp, thậm chí dị ứng. Điều đó là rất bình thường, bởi khi học Phật, bậc đạo sư đã chỉ dạy cho ta mỗi người mỗi khác, tùy “căn cơ”, tùy bối cảnh. Phật là một nhà khoa học, một “thầy thuốc vĩ đại”, không chỉ chữa nỗi đau mà chữa nỗi khổ của kiếp người nên vẫn được xưng tụng là bậc Y vương .
Phật từng dặn dò “Đừng vội tin ta, hãy đến nếm thử đi rồi biết”. Thử là thực hành, nếm là cảm nhận. Nói khác đi là hãy tự mình thể nghiệm, trải nghiệm, tự chứng, tự nội.
Chân thành,
Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon tháng 3, 2023)
***
Vài nhận xét:
Ngô Tiến Nhân, người bạn trong Nhóm Học Phật tại chùa Xá Lợi cùng tôi hơn mười năm qua đã có nhưng nhận xét:
(…) Hãy xem cách “lõm bõm” học Phật của Đỗ Hồng Ngọc:
Trước rừng thiên kinh vạn quyển Phật học Anh chọn cho mình chỗ đột phá: Tâm kinh. Đây là cốt tủy của Bộ kinh Bát nhã 600 quyển rút còn 260 từ rồi rút nữa còn 4 từ (ngũ uẩn giai không) rồi kết tinh trong một chữ Không. Đây cũng là liễu nghĩa của Trung quán luận, là hạt nhân của Phật học, ai ngộ nhập được sẽ mở lối vào Phật đạo thênh thang, sẽ đến vô trí vô đắc vô ngã… thật dũng mãnh mà cũng thật sảng khoái!
Nhưng không “túc duyên” thì dễ gì ngộ nhập!
Rồi Anh tấn công vào kinh Kim Cang để giải phóng mình ra khỏi mọi hệ quy chiếu (ưng vô sở trụ), mọi mô thức tư duy, mọi hình thái của não trạng để tự do trực nhận chân lý!
Anh chọn Kinh Pháp Hoa với tinh thần “khai thị chúng sinh – ngộ nhập trí kiến Phật”
Thế là tạm đủ để Anh xây dựng một nền tảng vững chắc cho việc đi hết con đường Phật học!
Rồi nữa Anh chọn kinh Duy Ma Cật để thống nhất Đạo – Đời để xây cầu Bất nhị để thấy đời không chỉ khổ đau mà còn phúc lạc để thấy cõi Phật đâu xa…
Khi “công phá” một công án Anh tiếp cận đa ngành có hệ thống. Anh vừa có tư duy khoa học phân tích mổ xẻ của một bác sĩ y khoa vừa mở con mắt trực giác của một thiền giả cộng thêm sự nhạy cảm của một thi sĩ Đỗ Nghê. Đừng quên Anh có sự mẫn cảm về sinh tử qua các bài thơ viết từ hồi 1965(Thư cho bé sơ sinh) hay “Mới hôm qua thôi”(1993) ở Montreal Canada, có kinh nghiệm cận tử nghiệp và tái sinh sau cơn bạo bệnh cùng kinh nghiệm làm truyền thông với kiến thức tâm lý học và xã hội học. Anh tiếp cận một vấn đề bài bản cả về bản thể luận lẫn phương pháp luận, thấy cả Thể – Tướng đặc biệt là Dụng của nó. Anh đào từ hai đầu theo cách nói của Harari tác giả Lược sử loài người.
(…) Thế nên vẫn phải miên mật văn tư tu, miên mật giới định tuệ, không phải chỉ tọa thiền mà sống thiền, không phải tụng Tâm Kinh mà phải sống Tâm Kinh trong từng sát na để rồi Gate gate paragate parasamgate…
(14-8-2021)
***
Nguyên Giác Phan Tấn Hải:
“(…) nhưng tận cùng thích nhất của tôi vẫn là đọc Đỗ Hồng Ngọc viết về kinh Phật. Và tôi tin, nhiều thế hệ sau sẽ nhớ tới một Đỗ Hồng Ngọc viết về lĩnh vực này, đó là những gì anh đã đọc, đã hiểu, đã sống và đã ghi xuống các trang giấy trọn một pháp giới học Phật của anh.
Làm thế nào Đỗ Hồng Ngọc viết được như thế? Phước đức, học lực của một đời hẳn là không đủ. Hẳn phải là nhiều đời. Tôi suy nghĩ về câu hỏi đó, khi đọc Tôi học Phật
(…) Tuyệt vời nơi Đỗ Hồng Ngọc là “chúng sinh” muốn nghe chuyện gì thì anh nói chuyện đó. Muốn nghe chuyện ứng dụng thế gian, họ Đỗ trở thành một bác sĩ phân tích về sức khỏe thân và tâm. Muốn nghe chuyện giải thoát, họ Đỗ liền trở thành một người kể lại các kinh nghiệm học Phật mà ai cũng có thể học theo và tự chứng ngộ được.
(…) Có thể tin rằng, những gì tác giả Đỗ Hồng Ngọc viết về học Phật sẽ lưu giữ rất lâu trong nền văn học Phật giáo quê nhà, vì toàn văn tuy rời rạc, nhiều chủ đề, nhưng vẫn xuyên suốt là một tập luận thư để chú giải kinh Phật. Điều rất khác giữa Đỗ Hồng Ngọc và nhiều vị tiền bối là từ chỗ rất lơ mơ trong 6 thập niên, chứ không phải vào chùa học Phật từ thời thơ ấu, cho nên văn phong của anh là một pháp giới xen lẫn của một nhà văn, một nhà thơ, và là một nhà khoa học. Đây cũng là chỗ độc đáo không chỉ của anh, mà là của rất nhiều người từ một thế hệ học Phật cùng thời (….).
Một điểm đặc biệt trong Tôi học Phật của Đỗ Hồng Ngọc, và cũng hiếm thấy nơi các tác giả khác: bạn có thể ngưng ở bất kỳ trang nào, ở bất kỳ dòng chữ nào, để tự nghiệm những lời kinh được chú giải ngay trên thân và tâm của bạn. Bạn hãy đọc rất chậm và hãy nghiệm như thế, nơi từng hơi thở của bạn, nơi từng niệm và nơi từng cảm thọ của bạn. Những dòng chữ Đỗ Hồng Ngọc viết xuống trong sách cũng là từ các thể nghiệm thực chứng của tác giả. Đó là những dòng trực giải kinh Phật rất mực trang nghiêm, nơi đó từng dòng chữ đã trở thành những trận mưa hoa để cúng dường chư Phật. Nơi đó là hạnh phúc, là an lạc và là vô lượng công đức.
(Giác Ngộ Online 20.9.2021)
***
Giáo sư Cao Huy Thuần,
trong một thư riêng:
« (…) bây giờ tôi hỏi anh câu này nhé: Anh “học Phật” trước hay học Y trước? Chắc anh sẽ trả lời: hiển nhiên là học Y. Nhưng mà, nghĩ thêm chút nữa, cái gì xúi anh học Y? Cái gì xúi anh thích Y? Cái gì xúi anh thành ông bác sĩ như thế, lúi húi hành nghề rồi lúi húi dùi mài kinh kệ? “Cái đó”, tôi chắc là anh có trước khi học Y. “Cái đó”, tôi cũng chắc là ông Epstein có trước khi thành danh với bác sĩ tâm thần. “Cái đó”, chính là cái xúi anh đến với Phật mà anh không biết đó thôi, anh đến với Phật trước khi học Y. Anh “học Phật” từ lâu rồi, từ kiếp nảo kiếp nao, để bây giờ thành danh với… Đỗ Hồng Ngọc. Cho nên tôi nói: “Tiên học Phật, hậu học…”. Hậu học cái gì cũng được, cái gì cũng thành danh, ít nhất là thành danh con người.
Nhưng tôi chưa nói hết: anh đâu phải chỉ là ông thầy thuốc, cái danh của Đỗ Hồng Ngọc còn là con người thơ. Thơ đến với anh từ trước khi anh làm thơ. Thơ là tiếng nói trong tận cùng thâm cung bí sử của tư tưởng. Cái gì mà tư tưởng không nói nên lời được thì phải diễn tả bằng thơ. Thơ đời Lý đời Trần là như vậy. Và thơ đó, chắc anh đã đọc không phải chỉ ở trong kiếp này. Cho nên bây giờ hồn anh nhập vào thơ của Thầy Tuệ Sỹ. Cho nên bây giờ anh thấy Phật trong thơ. Cho nên bây giờ một tay anh bốc thuốc, một tay anh viết thơ, thuốc thơm mùi thơ, thơ thơm mùi thuốc»…
(Paris 29.10.2021)
***
Năm 2010, tôi nhận được một bức thư từ Canada của một Ni sư:
Xin chân thành cảm ơn Bác Sĩ đã gởi Gươm Báu Trao Tay. Nhận được tập sách tự dưng cảm động. In xuống đọc xong, mới hiểu mình cảm động vì nhận một tấm lòng. Bác sĩ chữa bệnh cho người đời rồi, lại nghĩ làm sao giúp họ bớt khổ. Chúng tôi nghĩ Gươm Báu Trao Tay hay Nghĩ Từ Trái Tim là những lá Thư nối tiếp bài thơ Thư Cho Bé Sơ Sinh của bác sĩ ngày xưa.
Cách viết của bác sĩ thật vui, uyên bác nhưng lại rất nhẹ nhàng, dí dỏm, giúp người đọc – nhất là người trẻ – đi vào Phật Pháp một cách nhẹ nhàng, hứng khởi. Viết về Phật Pháp mà viết như vậy là cả một nghệ thuật. Hiện nay ít người làm được. Xin phép bác sĩ cho chúng tôi được trích đăng & sử dụng tập sách mới này.(…)
GN (Chùa Diệu Không)
***
Nhưng cảm động nhất với tôi là bức thư viết tay của một bé 15 tuổi ở Bình Chánh (Saigon) kể rằng Bà em rất thích cuốn Nghĩ Từ Trái Tim, bắt em đọc mỗi ngày, đọc đi đọc lại cho Bà nghe nên khi bà mất, em đã đốt cuốn sách đó theo Bà…

Từ trái: Đỗ Hồng Ngọc, Thu Trà, Ngân Hà, Kim Quy, Lê Ký Thương. Đường Sách, TP. HCM (25.3.2023).

“Ra mắt sách” Tôi học Phật rất tình cờ ở Đường Sách TP.HCM 25.3.2023
Thư gởi bạn xa xôi (3.2023)
Vài hình ảnh
Bhante Sujatha (Sri Lanka) thăm chùa Xá Lợi (Tp.HCM-Saigon)
Bác sĩ Hồ Đắc Đằng ở Mỹ về thăm, cùng đi với Bhante Sujatha, Sư người Sri Lanka (Tích Lan), 53 tuổi, và mươi Cư sĩ người Việt và Mỹ ghé thăm Nhóm Học Phật tại chùa Xá Lợi Tp. HCM (Saigon) ngày 16.3 2023.
Sư Sujatha trụ trì chùa Blue Lotus ở Illinois, dạy Thiền Từ bi (metta-bhavana), Loving-Kindness Meditation, ông cũng là tác giả các chương trình Morning Coffee, đàm đạo mỗi ngày về Pháp (dharma) trên Zoom. Sư cũng góp sức thực hiện các Chương trình giúp y tế và giáo dục tại Sri Lanka, nên tuy là vị Sư truyền thống Nguyên thủy nhưng hành Bồ-tát đạo có tiếng (www.bhantesujatha.org).
Bs Hồ Đắc Đắng là bạn cùng lớp với Đỗ Hồng Ngọc và Thân Trọng Minh tại Y khoa Đại học đường Saigon (1962-1969), sống ở Mỹ 40 năm nay, mới về thăm lại Saigon lần đầu cùng nhóm bạn đạo. Cha anh là người đã phiên dịch cho Sư Narada (Sri-Lanka) tại chùa Xá Lợi năm 1953, nay anh làm phiên dịch cho chúng mình cũng ngộ thiệt.
Vài hình ảnh về buổi gặp gỡ, trao đổi về Phật pháp với Sư Sujatha.

Từ trái: Hồ Đắc Đằng, Đỗ Hồng Ngọc, Bhante Sujatha, Thân Trọng Minh tại Chánh điện chùa Phật học Xá Lợi (Saigon, 16.3.2023).


Thảo luận tại Phòng họp.

Một tấm hình chụp chung kỷ niệm trước Chùa Xá Lợi.
Những ngày sau đoàn tiếp tục đi thăm Thiền Viện Thường Chiếu, Chơn Không (Vũng Táu), rồi đi Đalat, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế… trong chuyến du hành lần đầu đến thăm Việt Nam.
Thân mến,
Hẹn thư sau.
Đỗ Hồng Ngọc.
