Với tôi, Phan Thiết không chỉ dễ thương với Mũi Né, Tà Dôn, Tà Cú…mà còn đặc biệt dễ thương với ba nhà thơ bạn mình, đó là Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn và Nguyễn Như Mây.
Hãy nói về Từ Thế Mộng trước. Không phải vì anh là nhà thơ… lớn hơn hai nhà kia nhưng bởi anh có tuổi… lớn hơn hết trong bọn chúng tôi. Năm nay anh đã 70 rồi mà tiếng cười vẫn rổn rảng, sảng khoái và sáng nào anh cũng đạp xe đạp đi tắm biển một mình, chỉ để ngắm ráng đỏ bên trời: Em ngữa mình gối sóng/ Ráng đỏ thoáng bên trời/ Anh rùng mình ngăn lại/ Một tiếng thầm đang rơi. Tôi hỏi tiếng gì thầm, anh im lặng không nói. Chắc phải gởi anh vài thứ thuốc! Anh là tác giả của các tập thơ Lời ca cỏ non, Lẽo đẽo một phương qùy, Trường ca Má thương yêu… và nhiều tùy bút, đoãn văn rất hay trên các báo. Tưởng anh mê biển mà không phải vậy, chẳng qua. Mấy hôm nay biển thở dài/ Mới hay em bệnh đã vài bốn hôm! Nhìn một cô gái đi trong mưa, anh kêu lên: Em về/ trong dịu dàng mưa/ Bước chân lửng thửng/ như chưa ướt gì…Làm ta không khỏi nhớ đến câu ca dao rất dễ thương của vùng Bình Thuận: Trời mưa ướt lá bồn bồn/…. Từ Thế Mộng tên thật là Nguyễn Đình Tư, được mọi người biết dưới tên Tư Đình, để phân biệt với những ông Tư khác ở Phan thiết. Vốn là một thầy giáo dạy văn, gốc Huế nhưng anh đã sống và lớn lên ở Phan Thiết từ thuở mới lên mười, cho nên anh mê Phan Thiết chết đi được.
Nếu như Từ Thế Mộng dễ thương vì thơ anh có sự lãng mạn chập chùng, đắm say lòng người như những đồi cát Mũi Né thì Nguyễn Bắc Sơn dễ thương ở chỗ thơ anh sừng sừng, ngạo nghễ mà cô đơn như …núi Tà Dôn. Nguyễn Bắc Sơn nổi tiếng từ đầu thập niên 70 với những bài thơ xót xa mà thời bọn tôi ít ai không biết, không thuộc lấy một vài bài, vài đoạn trong tập Chiến tranh Việt Nam và tôi (1972) của anh:
Tôi đã thử tập thở để tự chữa bệnh mình mà sao thấy khó quá! Thường người ta nói “thở vào thở ra”, tại sao ở đây lại nói “thót bụng thở ra” trước rồi mới “phình bụng thở vào” sau ? nguyenvu43@yahoo.com…
Để xác định một người nào đó có bị
Tôi đọc được những dòng này của một thiếu nữ 15 tuổi trên một tờ báo dành cho tuổi mới lớn. Em viết về mẹ của mình.
Tôi viết thư này cho anh đúng vào ngày Phật đản, cũng ngộ! Tình cờ thôi. Tôi mới nhận được cuốn Thấy Phật của anh hôm qua, đọc và viết liền cho anh vài “cảm xúc”, kẻo nguội. Nhìn lại lịch, thì ra là ngày Phật Đản!
Biết là bệnh tình chị quá nặng nhưng tôi không khỏi bàng hoàng khi hay tin chị mất. Mới thứ sáu tuần trước chị hãy còn trò chuyện “rôm rả” với chúng tôi, dẫu là đang nằm trong phòng Săn sóc đặc biệt. Hình như chi có linh cảm bệnh chị khó mà qua khỏi kỳ này! Chị thấy khó thở, mệt, khác hẳn những lần trước. Chị cố vượt qua, giấu, không cho ai biết, sợ phiền mọi người. Nhưng cuối cùng vì khó thở, chị đành phải nhờ các em, các học trò đưa đi cấp cứu. Khi đựơc tin, tôi cùng các bạn y dựơc sĩ Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe tức tốc có mặt tại Hoàn Mỹ. Chị đi chụp CT chưa về. Trao đổi với bác sĩ trực, tôi biết không xong rồi! Tràn dịch màng phổi. Dich tiết. Đã rút hơn 300ml máu không đông. CT về thì đã rõ. Đã di căn. Không ai hở môi cho chị biết, nhưng chỉ cần thấy mọi người cười nói…như không có chuyện gì quan trọng thì chị đã ngờ. Tôi hỏi chị sao bệnh mà không cho chúng tôi hay? “Mới mệt nhiều tuần này thôi. Tôi vốn chẳng ưa đi nhà thương- Bày đặt lắm!” Chị nói. Tôi cười thì cũng như chi hay trách người ta giải quyết các vấn đề xã hội mà chẳng thèm tham khảo ý kiến những nhà xã hội học vậy mà, đến khi mọi chuyện trật lất hết rồi mới kêu ca! Hôm thứ hai, các bác sĩ hội chẩn, rồi chuyển chị về Chợ Rẫy có điều kiện hơn. Mọi người cũng đã chuẩn bị cho một tình huống xấu. Các học trò chị, đàn em chị, luân phiên túc trực, chăm sóc. Ai cũng thương mến chị hết lòng. Chị sống độc thân mà như có một gia đình lớn.
Đường Nguyễn Huệ xưa là một con kênh đổ vào sông Saigòn. Tấp nập trên bến dưới thuyền. Gió thốc từ mặt sông mơn man những buồm những lái của một vùng đất phương Nam nắng vàng rực rỡ. Khi dòng kênh xanh đã trở thành con đường hoa – đường Charner, Nguyễn Huệ- thì vẫn còn đó nắng vàng và gió mênh mang của mùa giáp Tết, giữa muôn hồng ngàn tía từ khắp chốn đưa về. Gió lướt thướt qua những rặng cây, rì rào phố thị, tung bay các tà áo thiếu nữ Sài gòn, yểu điệu thướt tha. Đường hoa không chỉ có hương và sắc, đường hoa có hồn:
Mới đó mà đã hơn 30 năm! Thời gian trôi nhanh thật. Những chú nhóc ngày nào được các bà mẹ, ông bố trẻ lo âu thắc thỏm bế đến tôi thì nay đã lại thấy ẳm những chú nhóc khác- là con của chú- đến nữa rồi… Vẫn những âu lo đó. Vẫn những băn khoăn thắc mắc đó. Dù khoa học kỹ thuật, dù y học đã thay đổi, tiến bộ không ngừng mà tấm lòng người làm cha, làm mẹ thời nào cũng vậy, chẳng mấy chút đổi thay. Còn các bà mẹ, ông bố lúng túng lọng cọng ngày nào bây giờ đã là những ông bà nội ngoại, mà vẫn cứ còn lọng cọng lúng túng như xưa dù tóc đã bạc màu với tháng năm, vẫn tất tả lo toan thay ba mẹ bé bận bịu trăm công ngàn việc.
Hình như tôi không có một “cú hích đầu đời” mà có nhiều cú hích! Mồ côi cha lúc mới 12 tuổi, tôi rời khỏi vùng tản cư trong rừng về Phan Thíêt ở với gia đình người Cô trong một ngôi chùa Tàu nhỏ phường Đức Nghĩa. Gia đình Cô tôi rất nghèo, sống bằng nghề chằm lá buông. Tôi phụ giúp phơi lá, lượm lá. May sao, cô tôi và các chị đều rất mê truyện tàu và tiểu thuyết. Tôi có nhiệm vụ đi mướn truyện cho mọi người. Mặc dù bị cấm- trẻ con không đựơc đọc truyện- tôi cũng đã kịp “ngốn” tất cả các thứ trước khi mang về đến nhà. Chẳng bao lâu tôi có cả một bụng truyện tàu từ Tây Hớn chí, Tam Quốc, Thủy Hử, Thuyết đường, La Thông tảo bắc, Tiết Nhơn Quý chinh đông… không sót thứ gì, rồi đủ thứ tiểu thuyết từ Bồng lai hiệp khách, Bên dòng sông Trẹm…đến Tự lực văn đoàn, Giông tố, Số đỏ…đều có đủ! Tóm lại tôi lớn lên trong cái “ổ” truyện tàu và tiểu thuyết, với cơm cá khô và nước mắm Phan Thiết giữa một ngôi chùa Tàu âm u huyền bí với những gốc me, gốc phượng khổng lồ hai người ôm không xuể!
Mới chế tạo được người máy Asimo, con ngươì đã mừng húm, tự hào đã tạo ra được một người máy thông minh nhất thế giới, mang đi trình diễn khắp nơi: nào đến Thái Lan bắt tay Thủ tướng, rồi đến Úc, Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines, Ấn độ, Mỹ, Canada và bây giờ là… Việt Nam. Không chừng sắp tơí có thể còn đến Hỏa tinh nữa! Mừng húm cũng phải vì phải mất hơn 14 năm, cải tiến qua nhiều thế hệ, đến nay loài người mới có được Asimo – có nghĩa là nguyên thủy… Asimo, người máy nguyên thủy thông minh nhất thế giới này trang phục như một nhà du hành vũ trụ, đi những bước đi tự nhiên kèm tiếng vo vo của các bánh răng cưa, biết bước chéo, nhảy múa, leo cầu thang, đứng một chân… gọi là “bước đi đa dạng”; Asimo còn biết chào, biết nói ( biết nói cả tiếng Việt ), biết xưng tên “Tôi là Asimo”, biết bye bye và biết cả…khóc cười, tức giận, mừng vui, ngạc nhiên, khoái trá…! Asimo có con mắt màu mini-cam, có bàn tay…5 ngón, nặng 52 ký và cao 1,2m, đủ để với tới công tắc đèn, khoá cửa, lau chùi bàn ghế…
Người ta phỏng vấn một bà gìa gần 90 tuổi rằng nếu được sống lại cuộc đời đã qua một lần nữa, bà sẽ sống như thế nào?
Hình như ta chẳng bao giờ thực sống trong hiện tại cả! Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có đựơc cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú! Tóm lại, ta chẳng biết quý những phút giây hiện tại. Từ ngày “thế giới phẳng”, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với bạn nhưng trò chuyện với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện thì nhiều khi đã lỡ nhịp! Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết qúy thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn.
Tiếng Việt ta thiệt hay! Khi nói một bữa ăn “ngon lành” chẳng hạn thì đã hàm nghĩa vừa “ngon” vừa “lành” rồi! Bởi có những bữa ăn ngon mà không lành và có những bữa ăn lành mà không ngon! Để có một bữa ăn “ngon lành” thì nhất thiết phải có khoa học và … nghệ thuật! Có những món không ngon nhờ người nấu ngon mà thành ngon. Có những món không ngon nhờ người cùng ngồi ăn ngon mà thành ngon! Có những món không lành mà biết chế biến thì trở nên lành như món măng, món cá nóc! Thầy thuốc giỏi phải biết chữa bệnh bằng thức ăn và không ép người bệnh phải theo một thực đơn duy nhất. Hỏi bệnh nhân thích ăn món gì thì hay hơn là buộc họ phải kiêng cử món gì! Có những đứa trẻ thật tội nghiệp vì bị ép ăn theo một thực đơn ngặt nghèo đến nỗi lớn không nổi! Tôi biết một bà mẹ có tiệm vàng nên đã dùng cân tiểu ly để cân đong đo đếm thực đơn hết sức chính xác theo lời bác sĩ chỉ dẫn.
Bón là một cực hình đối với người có tuổi. Khi bị bón, ta trở nên cau có, quạu quọ, khó chịu… Hết bón thì tươi cười, vui vẻ, cởi mở ngay! Lâm Ngữ Đường bảo: “Hạnh phúc ư? Rất đơn giản. Nó nằm ở ruột già! Ruột ta mà điều hòa thì ta hạnh phúc, còn không thì ta khổ sở. Chỉ có vậy thôi!” (Sống đẹp, bản dịch Nguyễn Hiến Lê). Như vậy mới biết họ Lâm từng khổ sở ra sao với cái ruột già của mình! Tôi nhớ hồi nhỏ có đọc một truyện ngắn có tên là “Chuột khâu đít” đăng trên báo Bách Khoa. Chuyện kể ở một nhà kia, chuột nhiều vô kể và phá phách quá lắm, chịu không nổi. Nuôi mèo, đặt bẫy chẳng ăn thua! Thế rồi gia chủ (chắc có kinh nghiệm, suy bụng ta ra bụng… chuột) bắt lấy một con chuột to, khâu đít nó lại, rồi thả nó ra. Mới đầu chẳng có chuyện gì xảy ra nhưng chỉ mấy hôm sau, con chuột bị khâu đít bắt đầu cắn phá lung tung. Chúng cứ lựa các con chuột… nhởn nhơ, vui vẻ… mà cắn! Bởi vì nó đang khổ vì bón mà những con chuột khác cứ phây phây, chí chóe, cắn cho bõ ghét! Thế là từ đó không còn một con chuột nào dám lai vãng nhà ông ta nữa! Sau này, mỗi khi thấy mình có vẻ quạu quọ, cau có quá đáng tôi bèn tự hỏi hay ta cũng chính là con chuột đó ?