Như thị – nghĩa là “Thấy vậy là vậy”
Cái tên “Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc” đã quá quen thuộc với tôi trong vai trò… bác sĩ (dĩ nhiên!). Mà là bác sĩ “đủ thứ khoa”, chứ không phải “đa khoa”. Nào là tư vấn tâm – sinh lý cho mấy em thiếu niên. Nào là bác sĩ lão khoa. Nào là chuyên gia dinh dưỡng. Rồi giáo sư thiền học. Nhà thơ. Nhà văn. Những chức danh ấy, có cái là người đời gọi ông, có cái do bạn bè gọi ông, có cái là tôi vừa đặt ra để gọi ông. Bởi lẽ, nếu chỉ gọi Đỗ Hồng Ngọc là bác sĩ, thì thấy vậy mà không phải vậy.
xem tiếp …
Trong ba nhà thơ bạn tôi ở Phan Thiết đó thì Nguyễn Như Mây mới là nhà thơ… ly kỳ nhất, “hấp dẫn” nhất! Không phải chỉ vì anh trẻ tuổi nhất trong nhóm mà còn bởi vì anh “sung sức” nhất. Anh mới gần 60 – nhưng với vẻ khắc khổ và mái tóc lưa thưa trơn bóng làm anh trông có vẻ già hơn tuổi khá nhiều, khiến nhiều người không đoán nổi tuổi thật của anh. Năm rồi anh mua một chiếc xe đạp cổ thời Pháp, đạp… từ Phan Thiết ra Hội An, Đà Nẵng thăm quê nội. Tôi bái phục, hỏi anh đạp xe vượt cà đèo Cả ư ? Không, thảy xe đạp lên xe đò chứ! Cũng như Từ Thế Mộng, Nguyễn Như Mây sống và lớn lên ở Phan Thiết nên mê Phan Thiết chết đi được, có điều anh không mê biển như Từ Thế Mộng mà mê sông, sông Mường Mán:
Nguyễn Khắc Viện là một bác sĩ, sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học Đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phồi nặng, điều trị ở bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó bệnh lao chưa có thuốc chữa như bây giờ. Từ năm 1943 đến năm 1948 ông phải chịu mổ 7 lần, cắt bỏ 8 cái xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống chừng hai năm nữa thôi. Trong thời gian nằm chờ chết, ông đã tìm ra một phương pháp… thở để tự chữa bệnh cho mình, và kết quả là ông đã sống đến tuổi 85 mới chết (1997), nghĩa là sống thêm được 50 năm nữa, họat động tích cực, năng nổ trong nhiều lãnh vực! Chuyện khó tin nhưng có thật!
Nhắc Nguyễn Tường Bách người ta dễ nhớ ngay đến những tác phẩm biên dịch đặc sắc của anh từ Govinda, Krishnamurti, Herrigel, Capra… mà dễ quên đi một Nguyễn Tường Bách của tuỳ bút, của ký sự rất sâu lắng, rất hàm súc. Đọc anh, nhiều khi thấy nao nao. Có khi là một nỗi ngậm ngùi. Có khi là một niềm tiếc nhớ.
Phương pháp thở bụng để chữa bệnh phải chăng là “đưa hơi xuống huyệt đan điền” như người xưa thường nói, thấy trong luyện nội công, trong kiếm hiệp?
* Tôi đọc tờ báo phụ nữ thứ sáu ra ngày 13-3-2009 của bà xả, bài “Không có bệnh, chỉ có người bệnh”.Bài viết của bác sĩ rất hay và vui.Nhưng có câu vè HA, tôi có thắc mắc “HA của người cao tuổi có thể thay đổi trong ngày từ 110/60 đến 180/110, nghĩa là có một quãng rất rộng cho sự thay đổi, trong giới hạn bình thường “ Nếu tôi không nhầm HA trong giới hạn chỉ đến 140/90, không lẽ ngừoi già được ưu tiên? namvang…@yahoo.
Hơn bốn mươi năm cầm bút, chàng “nho sinh” kia vẫn chỉ có mỗi một việc để làm , miệt mài, không mệt mỏi, ấy là thử bút. Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà ngập ngùng, rồi thè lưỡi liếm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắc lại như gom nội lực vào nhất điểm; rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhúng bút sâu vào nghiêng mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán, rút nhanh ra rồi chắt vào thành nghiên, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim, phóng bút…Chàng “nho sinh” mỉm cười khoái trá, trút đi gánh nặng ngàn cân, kiệt sức, nhanh tay nhúng bút vào lọ nước trong… Những giọt mực thừa rơi lả tả…
Với tôi, Phan Thiết không chỉ dễ thương với Mũi Né, Tà Dôn, Tà Cú…mà còn đặc biệt dễ thương với ba nhà thơ bạn mình, đó là Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn và Nguyễn Như Mây.
Nếu như Từ Thế Mộng dễ thương vì thơ anh có sự lãng mạn chập chùng, đắm say lòng người như những đồi cát Mũi Né thì Nguyễn Bắc Sơn dễ thương ở chỗ thơ anh sừng sừng, ngạo nghễ mà cô đơn như …núi Tà Dôn. Nguyễn Bắc Sơn nổi tiếng từ đầu thập niên 70 với những bài thơ xót xa mà thời bọn tôi ít ai không biết, không thuộc lấy một vài bài, vài đoạn trong tập Chiến tranh Việt Nam và tôi (1972) của anh:
Tôi đã thử tập thở để tự chữa bệnh mình mà sao thấy khó quá! Thường người ta nói “thở vào thở ra”, tại sao ở đây lại nói “thót bụng thở ra” trước rồi mới “phình bụng thở vào” sau ? nguyenvu43@yahoo.com…
Để xác định một người nào đó có bị
Tôi đọc được những dòng này của một thiếu nữ 15 tuổi trên một tờ báo dành cho tuổi mới lớn. Em viết về mẹ của mình.
Tôi viết thư này cho anh đúng vào ngày Phật đản, cũng ngộ! Tình cờ thôi. Tôi mới nhận được cuốn Thấy Phật của anh hôm qua, đọc và viết liền cho anh vài “cảm xúc”, kẻo nguội. Nhìn lại lịch, thì ra là ngày Phật Đản!
Biết là bệnh tình chị quá nặng nhưng tôi không khỏi bàng hoàng khi hay tin chị mất. Mới thứ sáu tuần trước chị hãy còn trò chuyện “rôm rả” với chúng tôi, dẫu là đang nằm trong phòng Săn sóc đặc biệt. Hình như chi có linh cảm bệnh chị khó mà qua khỏi kỳ này! Chị thấy khó thở, mệt, khác hẳn những lần trước. Chị cố vượt qua, giấu, không cho ai biết, sợ phiền mọi người. Nhưng cuối cùng vì khó thở, chị đành phải nhờ các em, các học trò đưa đi cấp cứu. Khi đựơc tin, tôi cùng các bạn y dựơc sĩ Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe tức tốc có mặt tại Hoàn Mỹ. Chị đi chụp CT chưa về. Trao đổi với bác sĩ trực, tôi biết không xong rồi! Tràn dịch màng phổi. Dich tiết. Đã rút hơn 300ml máu không đông. CT về thì đã rõ. Đã di căn. Không ai hở môi cho chị biết, nhưng chỉ cần thấy mọi người cười nói…như không có chuyện gì quan trọng thì chị đã ngờ. Tôi hỏi chị sao bệnh mà không cho chúng tôi hay? “Mới mệt nhiều tuần này thôi. Tôi vốn chẳng ưa đi nhà thương- Bày đặt lắm!” Chị nói. Tôi cười thì cũng như chi hay trách người ta giải quyết các vấn đề xã hội mà chẳng thèm tham khảo ý kiến những nhà xã hội học vậy mà, đến khi mọi chuyện trật lất hết rồi mới kêu ca! Hôm thứ hai, các bác sĩ hội chẩn, rồi chuyển chị về Chợ Rẫy có điều kiện hơn. Mọi người cũng đã chuẩn bị cho một tình huống xấu. Các học trò chị, đàn em chị, luân phiên túc trực, chăm sóc. Ai cũng thương mến chị hết lòng. Chị sống độc thân mà như có một gia đình lớn.
Đường Nguyễn Huệ xưa là một con kênh đổ vào sông Saigòn. Tấp nập trên bến dưới thuyền. Gió thốc từ mặt sông mơn man những buồm những lái của một vùng đất phương Nam nắng vàng rực rỡ. Khi dòng kênh xanh đã trở thành con đường hoa – đường Charner, Nguyễn Huệ- thì vẫn còn đó nắng vàng và gió mênh mang của mùa giáp Tết, giữa muôn hồng ngàn tía từ khắp chốn đưa về. Gió lướt thướt qua những rặng cây, rì rào phố thị, tung bay các tà áo thiếu nữ Sài gòn, yểu điệu thướt tha. Đường hoa không chỉ có hương và sắc, đường hoa có hồn: