Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Thư gởi bạn xa xôi: Về chuyến đi Tây Nguyên

26/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Về chuyến đi Tây Nguyên

Gần mười ngày về đến nhà rồi mà mình vẫn còn chưa “nguôi ngoai” nỗi nhớ Tây Nguyên đó bạn ơi. Người bạn cùng đi chung đoàn, Nguyễn Thiên Công, dù nay đã về đến Đức quốc xa xôi buốt lạnh kia rồi nhưng chắc cũng còn ”thao thức” mãi, không thể ngủ được! Bạn biết không, mình đi đâu bây giờ cũng thành… niên trưởng. Già khú đế rồi. Nhưng đi chuyến Tây Nguyên này về thấy mình bỗng trẻ lại. Phải cảm ơn ông bà Thức-Lý, người ”tổ chức” mát tay, luôn căn dặn ”không được cảm ơn tụi tui nghe”. Thôi thì cảm ơn cháu Huệ, phụ tá của hai ông bà vậy.

Đoàn đăng ký đi 18 người, giờ chót… Nh và B phải ở lại vì Nh bệnh nặng bất ngờ. Chuyến đi này thiếu Bách-Vinh, Thủy-Cung… bù lại có Công-Châu, Cường-Hiền, Triệu Minh, Thu Việt, Thức, Hậu… và nhóm bạn mình Thân Trọng Minh-Thanh Hằng, Lê Ký Thuơng. Dĩ nhiên đoàn luôn có Phan Chánh Dưỡng rất dễ thương và uyên bác.

Bạn hỏi chuyến đi Tây Nguyên này có gì gây ấn tượng nhất cho mình ư? Nhiều đó. Ấn tượng nhất là MăngĐen, Hồ Lak, Bảo tàng văn hóa các dân tôc Tây Nguyên, Thác DrayNur và… Café Arul culture house.

Quốc lộ 14 bây giờ đẹp lắm rồi. Nhớ xưa, đi BMT đường sá vất vả cỡ nào! Xe mới đến Bình Phước, sóc Bam Bo thì đã có bạn hát ‘cắc cum cùm cum” rồi, tiếp đó là Bóng cây Kơnia… Ủa, ‘bóng ngã che ngực em/ về nhớ anh không ngủ’ là sao? Ai đó bèn giải đáp, có gì đâu, vì ‘anh’ cũng hay che ngực em hoài như vậy! Nhưng ‘bóng tròn che lưng mẹ/ về nhớ anh mẹ khóc’ là sao, thì có gì đâu, hồi nhỏ, mẹ vẫn cõng anh lên nương lên rẫy đó thôi.

Đến Đak Nông rồi!

Dak Nông

Dọc đường, đã thấy rất nhiều khu thị tứ sầm uất. Ghé cafe võng. Mọi người  nhắc Bách, Vinh, Nhân, Bình… và ‘bình luận’ sôi nổi còn hơn cả Kim Dung và Kim Thánh Thán!   

Có con đường tránh Dak Lak, đi thẳng lên Pleiku (Gia Lai). Ai đó nhắc câu thơ Bút Tre: “Anh đi chiến dịch Plây/ Ku dài dằng dặc biết ngày nào ra?”… ôi thơ đầy sáng tạo!

Trên xe có Phan Chánh Dưỡng thì không sợ đường dài. Anh kể cho nghe những thời kỳ khó khăn, những bài học kinh nghiệm thật sống động phong phú. Lại có nhà báo Nguyễn Trọng Chức, đẹp trai, thông thái, có bộ râu mới tỉa tót, hãy còn trẻ măng, chưa tới 70. Có Vũ Thế Cường, nhiếp ảnh gia, hào hoa phong nhã; lại có nhà khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu xinh đẹp, sắc sảo, biết chuyện ngàn năm trước ngàn năm sau… Cô bảo hồi nhỏ đi học, bạn trai cứ ghẹo: Hậu ơi, Trẫm nè. Hậu hỏi Trẫm nào thế? Sao nhiều Trẫm quá vậy?

Còn Triệu Minh là một bạn trẻ có nụ cười thật xinh, ở Đức về, giống hệt Triệu Minh trong Cô gái Đồ Long, người mà NTB có lời gởi gấm cho cả đoàn; Thu Việt cây ngâm thơ thứ thiệt, hóa ra là ”em kết nghĩa” của Thái Kim Lan.(Xin nói rõ, với mình, gần 80 tuổi đầu, thì những ai 60-70 đều là trẻ măng cả!). Trên xe, các bạn ca hát, ngâm thơ, kể chuyện tếu nên chẳng thấy đường xa chi mấy!

 

”cả nhà” Tây Nguyên

Xe đi một mạch đến Kontum. Nhớ năm nào ghé thăm nhà văn Trần Duy Phiên. Nay anh đã về ở luôn Saigon. Buổi sáng, nhìn dòng sông Dak Bla mùa nước cạn, lững lờ trôi. Có quán café Gió và Nước bên cạnh.  Đẹp. Café ngon. Thứ thiệt. Tuy nhiên, mình vẫn thích Gió và Nước ở Bình Dương hơn. Nó thiên nhiên hơn, gần gũi hơn, thanh thoát hơn.

Cafe Gió và Nước, Kontum
Lê Ký Thương – Đỗ Hồng Ngọc (14.3.2018)

Sớm mai, lên đường đi Măng Đen, cách Kontum 50km, ở độ cao 1200m. Ở đây là vùng 3 biên giới mà một con gà gáy thì 3 nước Việt-Lào-Kamp đều nghe. MangDen nay là khu du lịch sinh thái, rừng thông bạt ngàn, hoa sim tím rực, khí hậu tuyệt vời. Thác Pa Sỹ, có 186 bậc xuống. Nhóm trẻ (<70) thì đi,  nhóm U80 thì ngồi nghe thác đổ… sau hè và café với núi rừng. À không,  khám phá vườn tượng Măng Đen. Tuyệt vời. Những đất nước gió lửa. Những sinh trụ dị diệt…  Phải nói thêm, cung đường đèo đi Mang Den quả thật tuyệt vời!

 

Vườn tượng
(photo: Cường)

Rồi đoàn ghé thăm chùa Khánh Lâm. Mình gặp thầy Nhuận Bảo trò chuyện cũng vui.

Đường xuống thác Pa Sỹ

 

Một nhóm thanh niên sinh hoạt

Buổi trưa về lại Kontum, thăm nhà Rông và Nhà thờ gỗ 100 năm nổi tiếng nơi này. Nhóm mình ghé thăm Viện mồ côi sau nhà thờ gỗ. Viện đang nuôi 200 em từ 2 tháng đến tuổi thành niên.

Đoàn ghé thăm Nhà Rong bên chiếc cầu treo bắt qua sông Dak Bla rất đẹp. “Cả nhà” cùng chụp chung tấm hình kỷ niệm (thiếu TTThức và cháu Huệ).

 

 

Tối về lại Pleiku nghỉ đêm. Ghé tham quan Biển Hồ. Mình rất muốn thăm thầy Giác Tâm chùa Bửu Minh nhưng không còn thì giờ. Nhớ hôm nào thầy Giác Tâm về Saigon gặp mình, mang cho rất nhiều cafe. Thầy có blog đăng khá nhiều bài viết của ĐHN!

Sáng sớm hôm sau, khởi hành về Dak Lak (BMT).

pho to: DHN

Dak Lak bây giờ khác xưa nhiều. Hôm đoàn đi Buôn Đôn thì nhóm nhỏ mình ở lại vì đã biết Buôn Đôn. Mình và LKT ghé thăm Bảo Tàng văn hóa các dân tộc tỉnh Đắk Lắk nằm ngay trong khuôn viên Biệt điện Bảo Đại.

Bảo tàng nằm trong một dự án do Pháp hỗ trợ kỹ thuật nên khá bắt mắt và hoạt động rất tốt. Nhiều đoàn học sinh được nhà trường đưa đến tham quan, học tập.

Bảo tàng văn hóa các dân tôc Tây Nguyên (Internet)

Nhờ một người bạn giới thiệu cho một quán cafe ”đặc sệt Tây Nguyên”, không phải kiểu Saigon máy lạnh, nhạc ầm ỉ… Và người bạn dẫn tới Arul! Thôi đúng rồi. Buổi trò chuyện với Len chủ quán thật tuyệt vời. Không chỉ xinh đẹp, cô còn có cá tánh mạnh mẽ, đáng phục. Cô giải bày cách nào đã thoát ra khỏi những hủ tục, đã sưu tập tất cả những thứ ‘’mọi người vứt đi’’ để có một quán không chỉ bán cafe mà là một địa điểm văn hóa thực sự. Cô cho biết đã trải qua nhiều năm bị trầm cảm nặng và rồi cương quyết chọn lấy cho mình một con đường đi riêng, chỉ làm theo sở thích mình, thực hiện ý chí mình. Cô bảo làm việc thì có hai mục tiêu: một là mưu sinh và hai là hạnh phúc. Cô chọn hạnh phúc. Nên công việc dù vất vả đến đâu cô vẫn rất vui. Cô ngạc nhiên thấy nhiều người làm việc với nỗi khổ đau. Khi nói về người cha đã mất, cô nói gọn: “bạn về trước, bạn về sau thế thôi’’. Cô dạy con cũng một cách mạnh mẽ như thế, coi con là bạn, xưng hô với con là cậu với tớ, bình đẳng, không bao giờ coi điểm học tập của con mà chỉ hỏi con học môn này có thích không, khuyến khích tinh thần tự học, tự khám phá… Mình còn trở lại Arul hôm sau cùng nhà báo NTC, nhà khảo cổ NTH, Minh, Hằng. Len dành thì giờ cho nhóm mình, trò chuyện thật vui. Bên ngoài, có chút mưa đầu mùa

Arul culture house

Tây Nguyên.

 

NTH có vẻ phục lắm. Nói cách Len sống, làm việc, dạy con rất phù hợp thời đại mới. Thanh Hằng, cô họa sĩ cũng nói mình mến phục cách sống, cách dạy con của Len.

TTMinh, DHNgoc, Len (Arul), LKThuong
(BMT 15.3.2018)

 

Cafe ở Arul culture house
Từ trái: Hằng, Chức, Thương, Ngọc, Len, Hậu, Minh (16.3.2018)

Buổi tối, ‘’cả nhà’’ tụ tập ở phòng Thức-Lý, để nghe các ‘’diễn giả’’ nói chuyện (giống như lần trước đi với Bách nghe Bách nói về Phật pháp). Mình ”già làng” cho nói trước. Rồi đến NTH, sau cùng mới tới hành giả PCD. Thời gian ít nên mình đọc đôi bài thơ cho cả nhà nghe. May có mang theo 3 cuốn Thơ Ngắn Đỗ Nghê tặng cho Công, Thu Việt, Triệu Minh… những người yêu thơ. NTHậu nói về các vấn đề Khảo cổ và PCD nói về Triết lý Giáo dục. Rất hay.

Hôm sau, sau buổi cafe Trung Nguyên, xe đưa đoàn đi Hồ Lak, cách BMT 60km, về hướng Dalat.

Hồ Lak là hồ nước ngọt lớn thứ hai ở Việt Nam (sau Hồ Ba Bể), bao bọc bởi khu rừng nguyên sinh và núi non trùng điệp. Hồ Lak nối với sông Krông Ana, rộng 6km2, ở độ cao 500m,  một điểm du lịch tuyệt vời của BMT. Mình đến BMT mấy lần mà chưa có dịp đi Hồ Lak nên lần này háo hức.

Chùa Khải Đoan Dak Lak (BMT)

Chỉ có 4 người trong nhóm ‘’bạn trẻ’’ dám cưỡi voi… xông nước. Mình chỉ đứng nhìn. Tính chèo thuyền độc mộc chơi mà nắng gắt quá.

Rồi về ghé chùa Khải Đoan.

Chùa Sắc tứ Khải Đoan là ngôi chùa lớn nhất BMT, có tên gọi Khải Đoan là do ghép từ tên vua Khải Định và Đoan Huy hoàng thái hậu. Chùa vừa được xây dựng lại hoành tráng, có phần hào nhoáng nhưng thiếu đi chút trầm mặc ”hương xưa”, trừ tượng Phật dưới cội Bồ đề. Khải Đoan là ngôi chùa, nơi Đại đức Narada, năm 1962 đã hiến tặng Xá Lợi Phật, cùng với chùa Xá Lợi ở Saigon.

Thác Dray Nur

Trên đường về Saigon, đoàn ghé tham quan thác Dray Nur cách quốc lộ không xa. Mình chưa đến Dray Nur lần nào. Trước đây chỉ ghé Trinh Nữ, Dray Sap. Thác Dray Nur rất đẹp, cao 30m và rộng hơn 200m. Dray Nur có nghĩa là thác cái hay thác vợ. Hèn chi mà nó “yểu điệu thục nữ” chi lạ! .

Bờ thác DrayNur

Dưới chân thác Dray Nur

Về đến Bình Dương còn có bữa cháo tạm biệt.

 

Hẹn thư sau,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Giao lưu cùng Gia đình Hoa Sen Đà Lạt, 12.2017

06/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

Buổi giao lưu cùng Gia đình Hoa Sen Đà Lạt, 12.2017

Đỗ Hồng Ngọc

Bạn nói đúng, ít khi mình chịu ”đọc thơ” giữa một nhóm đông người nhưng hôm đó đành phá lệ. Bởi nhóm thì không đông mà không khí thì lại rất đầm ấm thân tình như trong một gia đình giữa những ngày Noel lạnh ngắt ở Đà Lạt. Cả nhóm ai cũng có pháp danh là ”…Nhiên”: nào Thuần Nhiên, Thảo Nhiên, Như Nhiên, Hồn Nhiên… Đó là Gia đình Hoa Sen, trong một buổi ”thiền trà” rất tình cờ để gặp gỡ cùng Bs Đỗ Hồng Ngọc. Nói là tình cờ vì không hẹn trước, không quen biết trước, chớ đa số các bạn cũng đã từng đọc ĐHN nên có thể nói là cũng đã có ”biết”. Chiều cuối năm rồi, bao nhiêu bận rộn, mình ghé thăm khá đột xuất và ngạc nhiên bất ngờ gặp gỡ anh chị em gia đình Hoa Sen, người ôm đàn, người ôm sách đến. Ngạc nhiên hơn nữa, họ cùng hát những bài thiền ca do nhạc sĩ Thuần Nhiên (Nguyễn Đức Vinh) trong nhóm sáng tác rất hay…

Trong không khí như vậy, không chỉ ký tặng sách, mình còn đáp lễ bằng cách đọc vài bài thơ… Không ngờ Thảo Nhiên dùng điện thoại thu lại và em Quyên đã đưa lên youtube. Thôi thì cũng là một kỷ niệm đẹp phải không?

Chuyện không ngờ nữa là ngay đêm Noel đó, nhạc sĩ Thuần Nhiên đã phổ bài thơ Giỗ Một Dòng Sông trong tập thơ Đỗ Nghê (sau này bài nhạc có tên là Sông Ơi Cứ Chảy, với cả lời Anh của Phan Tấn Hải) được bạn bè yêu thích.

Và vì bạn đã nhắc, nên nay mình đưa vài hình ảnh buổi giao lưu này và cả clip ”đọc thơ” lên đây để chia sẻ vậy nhé.

Thân mến,

ĐHN

 

 

Đỗ Hồng Ngọc và nhạc sĩ Thuần Nhiên

 

Ký tặng sách

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Phan Chính: đọc Thơ Ngắn Đỗ Nghê

06/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Bên bờ mây lãng đãng…

Phan Chính

(đọc Thơ Ngắn Đỗ Nghê– Nxb.Văn hóa-Văn nghệ 2018)

***

 Tập “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” là tập thơ thứ 6 của Đỗ Hồng Ngọc vừa phát hành, có thể đem đến cho người yêu thơ nhiều dự cảm ngọt ngào. Không những ngạc nhiên ở sự cố tình của anh khi chọn tựa tập thơ là “Thơ Ngắn” gắn với bút danh “Đỗ Nghê” từng đứng tên ở tập thơ đầu tay “Tình Người” xuất bản vào năm 1967, khi đó anh còn là một sinh viên Y khoa Đại học đường Sài Gòn. Trước khi có tập thơ này, Đỗ Nghê đã có những bài thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa, Mai, Tình Thương… từ những năm 1960. Nhưng sau đó bút hiệu Đỗ Nghê lại thay bằng tên thật Đỗ Hồng Ngọc trên các tập thơ và trên ba mươi đầu sách văn học, nghiên cứu về y học, thiền học mang tên Đỗ Hồng Ngọc. Sự trở lại trên tập thơ ngắn này được anh có lần giải thích, Nghê là họ mẹ, quê Tân Thuận và Đỗ là họ cha quê La Gi (Bình Thuận).

 

 

Nói như nhà phê bình văn học Huỳnh Như Phương: “Có phải vì cái tên Đỗ Hồng Ngọc quá nổi tiếng với tư cách một tiến sĩ y khoa đã phần nào che mờ tác giả như một nhà thơ?”. Còn với nhà thơ Đỗ Trung Quân lại phác họa chân dung Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc khá hình tượng, “Có một chàng thi sĩ một hôm vì lẽ gì đó bỏ đi làm thầy thuốc …”, để thấy phẩm chất thi ca thấm đẫm trong tâm hồn Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc có căn duyên với cái nghiệp thầy thuốc luôn đòi hỏi một tấm lòng.

 

Phan Chính – Đỗ Hồng Ngọc, Đường Sách Saigon 2.2018

Trong một ngày giáp Tết, cà phê với Đỗ Hồng Ngọc trên đường sách Sài Gòn, tôi mới hiểu ra tựa tập “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” là cách định hình có chủ ý, không phải theo ý nghĩ thông thường về hình thức là ngắn, dài, âm tiết hay tương tự trường phái Haiku (Nhật), Sloka (Ấn)… và lại gắn liền với bút danh Đỗ Nghê đã có cách đây từ hơn 50 năm. Khác hơn các tập thơ trước đó Giữa hoàng hôn xưa, Vòng quanh, Thư cho bé sơ sinh… xoay quanh cho một chủ đề, một chặng đời trải nghiệm, thì nay Đỗ Nghê chắt chiu lại giọt mật trong veo từ cảm xúc tận cùng, từ lãng đãng an nhiên của đất trời để có những câu thơ rất nhân văn, rất tình người.

Anh viết “Nhẹ như không có/ Có mà như không…”, hay là “Thực chẳng dễ dàng/ Sống trong cái chết/ Và chết trong cái sống…”. Chỉ có ở người ngộ được cái giá trị cuộc sống nhân sinh theo triết lý Phật giáo trong cõi vô vi tự tại. Những tập sách Nghĩ từ trái tim, Như thị, Cành mai sân trước, Gió heo mây đã về… lại liên tiếp tái bản nhiều lần mà vẫn được đón nhận, là sao? Bởi trong đó không những mang cái tư tưởng Phật học,Thiền học mà sự biểu cảm chân thực của một tâm hồn thơ nên đã dễ dàng chạm đến trái tim của con người. Cũng không thể thoát ly khỏi phiền não trong cuộc sống rộn ràng, Đỗ Nghê bất chợt nhận ra mình “Lá chín vàng/ lá rụng/ về cội/ Em chín vàng/ chắc rụng về anh”. Và cũng không khỏi những vướng bận theo vòng hệ lụy: “Hoa vàng đã rụng đầy sân vắng/ Tình cũng ngùi phai theo tháng năm…”. Khái niệm về thời gian không như là nỗi ám ảnh của con người, lại còn là sắc mà không với anh sao mà nhẹ nhàng và thanh thản “Giữa đêm/ Thức giấc/ Giữa ngày…” ở trong bài “Trái đất” chỉ có 6 âm tiết mà gợi cho người đọc đủ hình dung tâm thế của nhau, cách xa nửa vòng trái đất. Hay như bài Sóng: “Sóng/ quằn quại/ thét gào/ Không nhớ/ mình/ là nước…”. Với tên tuổi Đỗ Hồng Ngọc khó mà tách rời anh giữa cái thực của người thầy thuốc với một tâm hồn thi ca của Đỗ Nghê. Như anh từng khẳng định: “Thân và tâm đâu có tách rời, sắc thọ tưởng hành thức vẫn là một- ngũ uẩn giai Không”.

PHAN CHÍNH

( Báo Bình Thuận ngày 27.2.2018 trg 9)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 14: “Phật học & Đời sống”: DUYÊN KHỞI

05/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

 

Kỳ 14: “Phật học & Đời sống”: DUYÊN KHỞI

“Ăn Tết” cả tháng nên phải chịu khó nhắc lại một chút trong Buổi sinh hoạt “Phật học và Đời sống” kỳ 14 này để bước vào Chủ đề mới: Duyên Khởi (Thập nhị Nhân Duyên), một chủ đề hứa hẹn ‘hấp dẫn’!

Đúng là Duyên Khởi! Chùa Xá Lợi đang sửa chữa nên lớp cũ ồn không chịu nổi phải dời đến một điểm khác. May quá, hội trường còn trống, mọi người xúm vào sắp xếp lại ghế bàn đâu đó đàng hoàng.

Mình nhắc lại cái tên “Lớp Lỏng Lẻo” để mọi người an tâm: không có ghi danh, không có học phí, chẳng ai là thầy là trò chi cả, chỉ cùng nhau trao đổi, học hỏi trên tinh thần khoa học và chia sẻ kinh nghiệm, ứng dụng vào cuộc sống những lời Phật dạy sao cho an lạc, hạnh phúc, cho mình, cho người, cho thiên nhiên… Dĩ nhiên, người nào rỗi rảnh hôm nào cứ đến LLL, và bận thì cứ vắng… chả sao cả!

Nhắc lại buổi Tất Niên không chuẩn bị trước đã trở thành buổi trao đổi chân thành để “đánh giá” lại thời gian sinh hoạt vừa qua và rút kinh nghiệm. Quyền, người phụ trách quay clip đưa lên mạng thông báo đến nay đã có 700 người đăng ký theo dõi thường xuyên.

Trong phần “ôn tập”, mình nhắc lại các buổi học trước một cách tóm lược và giới thiệu chủ đề mới. Buổi thảo luận khá sôi nổi. Cư sĩ Tô Văn Thiện trình bày các nét lớn về “12 nhân duyên” và Cư sĩ Minh Ngọc phân tích chi tiết (sơ bộ) về Duyên Khởi, Duyên Sinh…

Nay mai sẽ đưa video clip do Quyền ghi để các bạn theo dõi.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GHI CHÚ:  nvquyen vừa gởi video clip buổi sinh hoạt Kỳ 14 “Phật học & Đời sống”. Xin gởi đến các bạn tham khảo.

Chiều nay Thứ bảy 10/3/2018 buổi Sinh hoạt Kỳ 15. Thân mời các bạn tham dự như thường lệ từ 15-16h30.

Rất cảm ơn nvquyen.

ĐHN

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Thăm thầy Phước An, chùa Hải Đức Nha Trang

04/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thăm thầy Phước An, chùa Hải Đức Nha Trang

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thầy Phước An nói nghe anh đến từ chiều hôm qua nên có ý đợi, sáng nay cũng ở chùa, chưa đi đâu cả. Tôi từ Đà lạt xuống Nha Trang tối trễ quá không đến thăm thầy được như đã hẹn nên sáng nay Mùng 5 tết Mậu Tuất (2018) mới đến được đây. Ngân Hà đưa đi đường vòng phía sau chùa Long Sơn, qua Phật đài Thích Ca, ngày xưa biết bao lần đến viếng mà chưa có dịp ghé thăm Hải Đức. Ngôi chùa cổ với nhiều thế hệ các bậc tôn túc đã dày công xây dựng nên một Phật Học viện nổi tiếng của miền Trung, nơi sau này còn có Ni sư Trí Hải, thầy Tuệ Sỹ, thầy Mạnh Thác… từng trú ngụ, đặc biệt nhiều văn nhân thi sĩ như Quách Tấn, Võ Hồng, Phạm Công Thiện… thường xuyên lui tới, người tu học, người tham quan, đàm đạo… như một thuở nào xưa… giữa ‘những phương trời viễn mộng’… Nhớ thời ở Nha Trang, tôi cũng thường gặp thi sĩ Quách Tấn, nhà văn Võ Hồng nhưng chưa có lần nào đến chùa Hải Đức, hình như chưa có ‘duyên’ và còn có quá nhiều bận bịu.

 

Thầy Phước An không phải là ai xa lạ. Thầy là tác giả của tập tùy bút nổi tiếng “đường về núi cũ chùa xưa” rất hay về văn chương và thâm trầm đạo vị. Khi nói đến Thích Phước An những ai từng sống với Đại học Vạn Hạnh năm xưa không ai không nhớ: nhà báo Nguyễn Trọng Chức nhắc những kỷ niệm cũ, Nguyễn Hiền (5 Hiền) rồi Văn Công Tuấn…  đều nhắc với tất cả lòng quý trọng.

Tôi chần chừ khá lâu trước cái Hồng Chung vĩ đại. Một nhóm học sinh lớp 11 tình cờ đến và các em mở bánh ra ăn, mời tôi thiệt dễ thương. Tôi nói về tiếng chuông và ý nghĩa bài kệ khắc trên hồng chung:

 

 

 

 Bể cả triều dâng tiếng Phổ Môn

Chín tầng sen ngát hiện đồng chơn

Cam lồ giọt nước cành dương rải

Nhuần thấm sơn hà cảnh sắc xuân

 

Đó là bài tán ca tụng hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm:

 

Hải chấn triều âm thuyết Phổ Môn

Cửu liên hoa lý hiện đồng chơn

Dương chi nhất trích chơn cam lộ

Tán tác sơn hà đại địa xuân

 

Thầy Phước An vừa ra đón khách. Tôi chắp tay chào thầy và nói xin chụp cái hình kỷ niệm nhé. Thầy kêu khoan khoan chờ tôi vào thay y cho đàng hoàng đã chứ!

Rồi cùng chuyện vãn bên chén trà xuân, bên cánh mai vàng rực rỡ… Chuyên xưa chuyện nay, chuyện văn chương, chuyện đạo pháp… Dưới chân đồi thăm thẳm kia là thành phố Nha Trang dày kín, xa xa là rặng núi xanh lơ…

 

Ngân Hà, Đỗ Hồng Ngọc và thầy Phước An. (chùa Hải Đức, Nha Trang, M5 tết Mậu Tuất 2018)

 

 Nhắc Văn Công Tuấn với mấy tập sách mới, giọng văn chân thành trong sáng, “vang vọng lời kinh, lấp lánh ánh vàng” như Nguyễn Hiền Đức nhận xét. Thầy đi lấy ngay cuốn mới nhất của Văn Công Tuấn: Hạt nắng Bồ Đề, thay mặt tác giả, ghi lời tặng trang trọng.

Và tôi, cũng không quên gởi thầy tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê.

Dưới đây là vài hình ảnh buổi trò chuyện cùng thầy Thích Phước An ở chùa Hải Đức Nha Trang một sáng Mùng 5 tết Mậu Tuất (2018):

 

 

Trò chuyện với Thầy Phước An, chùa Hải Đức Nha Trang, M5 Tết Mậu Tuất 2018

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Lang thang mấy ngày Tết

01/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi:

Lang thang mấy ngày Tết

Hình như già quá rồi nên lúc này mình không có cảm giác Tết là gì cả bạn ơi. Cũng may, Mùng hai Tết (17.2.2018) đi theo gia đình làm một chuyến giang hồ vặt, từ Saigon lên Đà lạt, rồi vượt đèo… Khánh Vĩnh về Nha Trang, rồi từ Nha Trang về Phan Rang, PhanThiết, trở về Saigon tối ngày Mùng 7. Cũng có thể gọi là có du… xuân! Để kể bạn nghe vậy nhé.

Khởi hành sớm. Gần đến chân đèo Bảo Lộc thì ghé một quán ven đường quen thuộc bên bờ suối uống café và ăn… sầu riêng. Sầu riêng vườn, ngon, không phải thứ sầu riêng đáng ngại ngâm thuốc gì đó. Đường đi Đalat bây giờ tốt rồi, chỉ có cái cứ phải đóng tiền BOT hoài vậy thôi. Đalat ngày Tết đông ken, không có chỗ ở, phải vào tận nơi hẻo lánh, xa xôi, cuối hồ Tuyền Lâm, cách Thành phố hơn 10km, gần như bị ”cách ly”. Tuy là cái resort hoành tráng giữa rừng thông nhưng mình thấy không hạp cái tạng lắm. Hoành tráng quá, hùng vĩ quá, giữa rừng thông bạt ngàn và dòng nước hồ phẳng lặng. Mình mong có chút gì đó lãng mạn như căn nhà gỗ, ngọn lửa hồng, vườn hoa dại bên bờ suối…

Đà Lạt, Mùng 2 Mậu Tuất 2018

 

Ngày hôm sau thì mình… trốn ra ngoài một chút, ghé thăm nhóm bạn Thiền ca Hoa Sen, uống một tách trà thơm và ký tặng Thơ Ngắn Đỗ Nghê cho các bạn qua Thảo Nhiên. Rồi ghé nhà Thuần Nhiên Nguyễn

Nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh và Đỗ Hồng Ngọc.
Đa Lạt, Mùng 3 tết Mậu Tuất 2018

Đức Vinh, người nhạc sĩ của Gia đình Hoa Sen hôm Noel đã phổ nhạc bài thơ “Giỗ Một Dòng Sông”, nay đã có tên chính thức của bài nhạc là ”Sông ơi cứ chảy…”. Ngôi nhà thiệt xinh xắn, thơ mộng. Thời gian không nhiều nên chỉ trò chuyện ba điều bốn chuyện với Vinh và Sen, bà xã Vinh, người đêm Noel rồi đã ngồi nghe suốt cả giờ bài hát vừa được Vinh phổ nhạc. Mong có dịp nào lại đến căn nhà đầy âm nhạc này cùng các bạn thiền ca Hoa Sen. Gởi tập thơ cho Mậu Pháp (Ngũ Hành Sơn) và Nguyễn Phu. Mậu Pháp đang áo dài khăn đóng ngồi ngoài chợ Đalạt viết thư pháp cho mọi người… qua đường như một ông đồ chưa già, bày mực tàu giấy đỏ giữa chợ hoa.

Từ nhà nhạc sĩ Thuần Nhiên, mình ghé qua thăm nhà thơ Nguyễn Dương Quang. Đã lâu không gặp. Ai cũng già đi rõ. Tặng Quang tập thơ rồi anh em chụp cái hình kỷ niệm. Nghe Phan Chính nói hình đó đã được Quang đưa lên fb liền nên thời buổi bây giờ muốn giấu ai cũng không dễ nữa!

Đã đến giờ hẹn cùng gia đình đi thăm Cầu Đất, đồi trà Tea Hill Farm gì đó. Ôi bạn ơi, con đường Dalat đi Dran bây giờ cũng tốt lắm rồi, không phải như xưa bọn mình đi vất vả hồi hộp. Mùa này không còn hoa quỳ vàng.

 

Tea Hill Farm Cầu Đất Dran
Mùng 3 tết Mậu Tuất 2018

Trà xanh Cầu Đất.

Cầu Đất đây rồi. Mưa. Mưa xuân Đalat. Thoáng cái lại nắng lên. Rồi mưa nữa. Gió vù vù. Mặc, những tà áo trắng áo xanh vẫn len lỏi giữa đồi trà. Lạnh ngắt. Thiệt hạnh phúc khi vào được quán cafe bên trong. Làm một bình trà xanh đặc sản. Công nhận quá ngon. Mấy nhỏ ăn chút gì đó vì đã quá trưa. Ở đây chỉ còn cách Dran chừng vài chục km nữa thôi. Đến Dran sẽ có nem ngon nhưng ngày Tết chắc nghỉ bán.

Sáng mùng 4 tết, từ Dalat về Nha Trang. Xe cộ các nơi đổ về Đalat nườm nượp. Một cái xe khách bị cháy trên đèo Prenn làm kẹt đường thêm. Mình đến Dacasa, định ghé làm ly cafe mà đông nghẹt. Không gặp Thế Hùng, Thanh Tâm gì cả. Ai nấy chắc mệt bơ phờ vì khách quá đông. Xe đổ về Nha Trang cũng nhiều. Con đường quốc lộ 27B này rất đẹp, nhưng đèo Khánh Vĩnh thì quá ư nguy hiểm, thường có những vụ sạt lở núi. Mấy tuần trước đã có tai nạn xảy ra. Năm xưa mình đã từng đi đèo này một lần. Sương mù giăng kín không thấy đường. Tài xế chỉ nhìn vệt trắng giữa đường mà mò đi, giữa một bên là núi dựng đứng và một bên là vực sâu hun hút. Hôm nay nắng đẹp nhìn rõ mới hết hồn! Cũng còn nhiều chỗ sạt lở đang sửa. Vậy mà xe cộ cũng khá đông, nhất là xe gắn máy 2 bánh từ Nha Trang lên Đàlat ào ào…

 

Đèo Khánh Vĩnh (Internet).
Cung đèo dài nhất Việt Nam (35km, có nhiều chỗ bị sạt lở, và sương mù giăng giăng…)

Rồi cũng đến Nha Trang. Ôi ồn ào, xô bồ, nhộn nhịp, nhễ nhại… Lại phải ở một nơi xa thành phố, cách Nha Trang cũng vài chục cây số. Cũng lại là một resort đẹp, hùng vĩ, cheo leo giữa các gộp đá trên đường từ Cam Ranh về Nha Trang. Người Hoa là người Hoa! Đến nỗi một bữa nghe một nhóm người nói tiếng Việt, mình mừng rỡ: Ôi gặp đồng hương đây rồi!

Sáng mùng 5 tết, mình lại lẻn ra Nha Trang. Ôi Nha Trang ngày về! Không có bãi khuya, không có con ốc bơ vơ nằm trên cát… chỉ có người là người tấp nập ngược xuôi xí xô xí xào… Đến một góc đường, tìm cái quán cafe gia đình thấy vắng ngắt. Nghỉ Tết, chưa bán.

Phone cho một nhà báo. May quá. Quán cafe nào cũng đông nghẹt. Cảm ơn điện thoại di động nghe. Gặp Ngân Hà và mấy nhóc, Thu Trà, bác sĩ Bình… rồi Ngân Hà đưa đi thăm Thầy Phước An ở chùa Hải Đức.

Trò chuyện với Thầy Phước An, chùa Hải Đức Nha Trang, M5 Tết Mậu Tuất 2018

Hôm sau, Mùng 6 Tết đi Ninh Hòa, thăm cặp uyên ương Khuất Đẩu, Huyền Chiêu, kéo nhau đến quán cafe Deja Vu, nơi Thân Trọng Minh và cả Thu Vàng cũng đã đến làm show nhạc sống hôm nào. Vợ chồng chủ quán đi vắng, có bà mẹ và cô em giúp. Không biết Huyền Chiêu giới thiệu lúc nào mà cô Ngọc Anh em chủ quán xin được chụp một tấm hình với mình vì đã từng đọc sách, nhất là về Phật học… Rồi cô còn ”vấn đạo” nhờ giải đáp thắc mắc các thứ! Ông bố cho biết mới hôm qua, Ngọc Anh nói mong sao được gặp bác sĩ ĐHN, vậy mà sáng hôm nay lại gặp đây, thiệt là chuyện lạ!

Cafe DEJA VU Ninh Hòa với Khuất Đẩu/ Huyền Chiêu
(Mùng 6 tết Mậu Tuất, 2018)

Rồi vợ chồng mình cùng KĐ/HC ghé về thăm Dục Mỹ, nơi ngày xưa,  năm 1970, mình đã từng ở mấy tháng, làm việc ở Bệnh viện LTC. Lúc đó LaNgà chưa đến hai tuổi, hằng ngày mình vẫn đưa xuống suối tắm và chiều chiều chở đi lòng vòng bằng xe Lambretta quanh cái phi trường nhỏ… Mới thôi mà đã gần nửa thế kỷ. Chỗ mình ở ngày xưa hình như chỉ còn bóng dáng cây dừa vút cao. Ngôi chùa nay quá to. Nhà thờ vẫn còn đó.  Bệnh viện, phi trường nay đều đã san phẳng trồng mía… Nhớ bác sĩ Nguyễn Xuân Quang, người bạn cùng khóa, cùng về công tác nơi này một lượt…

Mùng 7 về Phan Rang. Định ghé thăm Võ Tấn Khanh mà lạc đường nên thôi. Về thẳng Phan Thiết ghé thăm nhà thơ Liên Tâm, gởi mấy tập thơ cho Nguyễn Như Mây, Lê Nguyên Ngữ, Phan Anh Dũng…

Trao đổi đầu năm ở Đường Sách với Lê Hoàng

 

 

 

 

 

 

 

 

Về lại Saigon đã thấy nhớ Đường Sách. Mùng 8 ra thăm sớm, gặp Lê Hoàng bàn chuyện tương lai, gặp lại những con người, những gương mặt lạ mà quen như tự thuở nào xa.

 

 

Hẹn thư sau nhé,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thu Vàng với Đêm Nhạc Đầu Xuân

26/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thu Vàng với Đêm Nhạc Đầu Xuân

Ghi chú: Cảm ơn anh Võ Tá Hân đã gởi sớm bài viết của Phan Tấn Hải cho đọc. Cảm ơn nhà thơ Khánh Minh đã yêu cầu Thu Vàng hát Bông Hồng Cho Mẹ trong đêm ca nhạc này và cảm ơn Thu Vàng đã không quên mời… nhạc sĩ Võ Tá Hân đích thân đệm đàn cho bài hát do chính anh phổ nhạc… Cảm ơn Sm Giao Trinh Diệu Hạnh nơi xa kia.

Xin phép Phan Tấn Hải cho trích một phần bài viết để sẻ chia nơi đây.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

…………………………………………..

Giọng Ca Thu Vàng Sâu Lắng

Trong Đêm Nhạc Đầu Xuân

Phan Tấn Hải

… Trong Đêm Nhạc Thu Vàng hôm Thứ Bảy 24/2/2018, giọng ca của chị đã chứng tỏ một sức quyến rũ độc đáo, đã thể hiện tuyệt vời những ca khúc rất khó… Giọng ca của ca sĩ Thu Vàng là một sức mạnh rất riêng.

 

 Trong chương trình đêm nhạc khoảng hai giờ đồng hồ, tôi ngồi nghe, như quên hết tháng ngày đang trôi. Có phải đây là đêm, sao giọng ca chị Thu Vàng như dường chói ngời ánh sáng của một chiều xuân? Có phải đây là ca khúc Bến Xuân của Văn Cao, sao nghe như nửa đêm có tiếng chim hót lảnh lót trong giọng ca của chị Thu Vàng? Có phải đây là sân khấu đài truyền hình 57.3 với ánh đèn màu, sao thấy như chen cánh bay vào có một đàn chim trắng vỗ cánh giữa màu nắng của ngõ vàng quỳ.

 

Và tuyệt vời là khi nghe giọng ca Thu Vàng trong ca khúc Bông Hồng Cho Mẹ, thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhạc Võ Tá Hân —  tôi ước mơ rằng phải chi tôi lùi được trở lại thời rất thơ ấu, còn nép bên chiếc bóng của mẹ… Sao lại có trên cõi này thơ nào hay như thế, nhạc nào hay như thế, và giọng ca nào hay như thế nhỉ.

 

Nhạc sĩ Võ Tá Hân đệm guitar cho Thu Vàng hát : ”Bông Hồng Cho Mẹ” (phổ thơ Đỗ Hồng Ngọc)

Đêm Nhạc Thu Vàng đã tổ chức hôm Chủ Nhật 24/2/2018 với sự góp mặt của nghệ sĩ Dương Cầm Mỹ Linh, nghệ sĩ Tây Ban Cầm Phương Thảo, MC Ngọc Diệp…

Tham dự có nhà thơ Trịnh Y Thư, anh chị thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh, anh chị nhà văn Cung Tích Biền, nhà văn Trúc Chi, anh chị họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, thi sĩ Thành Tôn, Quốc Khiêm, nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Trí…

 

 

Trong chương trình, ca sĩ Thu Vàng đã trình diễn một số ca khúc  như Xuân và Tuổi Trẻ  (Lời:  Thế Lữ; Nhạc: La Hối), Thiên Thai  (Văn Cao), Mũi Né (Thơ: Đỗ Hồng Ngọc; Nhạc: Hoàng Quốc Bảo), Kỷ Niệm Phạm Duy), Nhớ Một Chiều Xuân (Nguyễn Văn Đông), Ngõ Vàng Quỳ (Đỗ Thất Kinh), Bến Xuân (Lời:  Phạm Duy; Nhạc: Văn Cao), Tâm Sự Gửi Về Đâu (Thơ: Lê Minh Ngọc, Nhạc: Phạm Duy)…

Một ca khúc cuối chương trình, cũng là bất ngờ, ca sĩ Thu Vàng hát bản Bông Hồng Cho Mẹ. Ca khúc này do Võ Tá Hân phổ từ thơ của Đỗ Hồng Ngọc, chỉ có 4 câu ngắn, nguyên khởi được nhà thơ họ Đỗ giải thích là:

“Bài thơ nhỏ của mình viết ngày Giỗ Mẹ đầu tiên năm 2012, cũng là ngày Vu Lan, chỉ có 4 câu ngắn ngủn:

Con cài bông hoa trắng

Dành cho Mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…”

Ca sĩ Thu Vàng đã mời đích thân nhạc sĩ Võ Tá Hân lên ngồi đàn đệm cho chị hát.

Tôi đã ngồi nghe sửng sờ. Như dường trong không gian phòng thu hình của đài 57.3 có ánh nắng bên kia sông. Phải chi, mẹ mình còn sống… Có biết bao nhiêu điều “phải chi” trong đời này. Giọng ca của ca sĩ Thu Vàng như dường mang theo tiếng khóc thương mẹ của biết bao nhiêu người trần gian.

Tôi đã nghe, đã xúc động, và nơi đây xin trân trọng cảm ơn tất cả các nghệ sĩ trên đời này, những người đã chạm sâu vào tận đáy cảm xúc của cõi người.

(PTH)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thơ Trần Vấn Lệ: Nha Trang Một Chút Này

24/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Nha Trang Một Chút Này

Bạn mình đi Nha Trang không nói mình một tiếng!  Mình thì rất lười biếng chỉ nhớ Nha Trang thôi.  Nha Trang hoa muồng ơi vàng đường Trần Quý Cáp…mưa sa và gió táp, những mùa Xuân thế nào?  Tiệm nem Mỹ Hạnh sao?  Bây giờ ai đứng bán?  Ai mồ hôi trên trán…có mồ hôi trên lưng?  Thương quá má hồng hồng, thương Nha Trang thương thiệt!

Bạn mình ngang Phan Thiết. Bạn mình ngang quê mình.  Ngang qua sông Cà Ty…con sông thời thơ ấu, mình là con cò đậu thành cầu sắt ước mơ:  Một ngày thật nên thơ vườn bông hoa vông nở, mình trở về và ở trên ngôi nhà Xuân Phong…mình đuổi mây tung tăng trên vườn cau của Ngoại…mình sẽ bên Má, hỏi:  “Sao Ngoại bỏ vườn đi?”.  Chắc Má không nói gì…vì Má cũng đã mất!

Bốn ba năm nhiều thật!  Mình không còn trẻ con!  Nghe nói xe boong boong, đường bây giờ mở rộng…Bạn đi trăng soi bóng hàng dừa ở Hà Ra.  Nha Trang ơi thiết tha, hoa cà tím ở Chutt, áo dài ai phơ phất…hoa muồng dưới chân sen?  Hay bạn cứ nhìn lên bầy hải âu đang lượn, sau một thời bom đạn, bầy hải âu bay bay…

*

Vắng bạn mấy bữa nay, buồn trong lòng khôn tả.  Nhớ bạn có nhớ quá…nhớ Nha Trang nhiều hơn.  Nhớ ai…mà ai thương một người đang xa xứ…một người không chỗ trọ…vì không còn Quê Hương…một chỗ đời khói sương mờ mờ trong nghĩa địa!

Nha Trang là tình nghĩa…thơ mình bỗng khói sương!

Trần Vấn Lệ

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 13: Phật học & Đời sống: Thực hành Thiền

01/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Kỳ 13: Sinh hoạt Phật học & Đời sống

Thứ bảy, ngày 20.01.2018, từ 15-16h30 tại Chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, quận 3 Tp HCM, tiếp tục Chủ đề BÁT CHÁNH ĐẠO.

8. Chánh Định

Thực hành Thiền “Anapanasati” (Quán Niệm Hơi Thở)

do Cư sĩ Minh Ngọc giới thiệu.

Sau buổi sinh hoạt này, ” Lớp lỏng lẻo” của chúng ta sẽ nghỉ Tết theo Lịch của Ban Phật Học đến Thứ bảy ngày 03.03.2018 ( 16 tháng Giêng năm Mậu Tuất) sẽ được tiếp tục. Từ đây đến đó hình như có vài buổi họp mặt “ngoại khóa”…

Cảm ơn nvquyen.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Viết thêm: Theo lịch thì ngày 03/03/2018 mới có Sinh hoạt trở lại của Chương trình Phật học & Đời sống, nhưng thật bất ngờ và đúng theo ”truyền thống” của Lớp Lỏng Lẻo này, thứ bảy 03/02, tức ngày 18 tháng Chạp, các bạn đề nghị họp mặt Café Tất Niên.

Trung, Quyền… đứng ra tổ chức. Mọi người hoan hỷ. Tôi cũng OK ngay, và yêu cầu các bạn chọn cho một chỗ có sân rộng, thoáng đãng thay vì chui vào một quán Café máy lạnh, nhạc ầm ỉ của ngày sắp Tết. Và cũng thật bất ngờ, các bạn đến khá đông đủ. Trong buổi họp mặt ”ngoại khóa” này, tôi đề nghị mỗi người phát biểu… ”đánh giá” 13 buổi sinh hoạt vừa qua của Chương trình PH & ĐS để rút kinh nghiệm.

Và dĩ nhiên, buổi tất niên rất sôi nổi!

Xin cảm ơn tất cả các bạn. (ĐHN).

 Từ trái: Quyền, Nga, Trung, Trí, Ngô, Thanh, Diệu Hương, Diệu An, Tú, Minh Ngọc, ĐHNgoc, Thiện, Trí (web), Quyên… và Phi Hùng.

 

Thuộc chủ đề:Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Thiền và Sức khỏe

SAO LÒNG TA CHƯA NGUÔI (Đọc THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ)

01/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

SAO LÒNG TA CHƯA NGUÔI

(ĐỌC THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ)

 

Nguyễn Thị Tịnh Thy – Đại học Sư phạm Huế

 

Xưa, Vĩ Sinh yêu một người con gái. Hai người hẹn gặp nhau ở dưới chân cầu. Cô gái không đến. Vĩ Sinh vẫn cứ đứng dưới chân cầu đợi người yêu. Chiều tối, thủy triều dâng lên ngập chết Vĩ Sinh.

Câu chuyện trên là một trong những tiểu thuyết đầu tiên của văn học Trung Quốc. Tiểu thuyết – thể loại có dung lượng đồ sộ nhất – ban đầu chỉ nhỏ bé như lòng bàn tay. Vì vậy, nó được đặt tên là tiểu thuyết (tiểu là nhỏ, thuyết là lời nói, lời dạy; tiểu thuyết nghĩa là lời nói, lời dạy nhỏ không đáng coi trọng). Tên gọi đó cho thấy đây vốn là thể loại nhỏ nhất, ngắn nhất, kém giá trị nhất của văn học Trung Quốc. Vậy mà, qua trường kỳ lịch sử, tiểu thuyết dần lớn lên, vượt qua các thể loại khác, trở thành người khổng lồ của văn học.

 

 Cầm trên tay tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê, tôi chợt nghĩ đến tên gọi của tiểu thuyết. Bởi vì tác giả Đỗ Hồng Ngọc đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là Thơ ngắn. Thế nào là ngắn? Thế nào là dài? Ngắn nhất là tiểu thuyết, dài nhất cũng là tiểu thuyết. Ngôn hữu tận, ý vô cùng. Làm sao so ngắn dài khi Lý Bạch đã từng khẳng định: “Thi thành thảo thụ giai thiên cổ” (Bài thơ làm xong, cỏ cây đều đã trở thành thiên cổ). “Thiên cổ” là nghìn xưa, là quá khứ. Đối với người phương Đông, quá khứ bao giờ cũng gắn với giá trị. Con dấu thời gian mỗi khi đã chạm khắc vào một sự vật hiện tượng gì thì bản thể đó mặc nhiên có giá trị. Bài thơ làm xong, tất cả thoắt trở thành thiên cổ. Câu thơ hay thường được khen là “thiên cổ lệ cú” (câu thơ đẹp ngàn năm). Giá trị của thơ ca, của văn học không thể đo bằng sự ngắn dài của câu chữ, mà chỉ có thể đo bằng sự ngắn dài của ý nghĩa nhân sinh, của thành tựu nghệ thuật và sức sống của nó trong lòng người đọc. Tuy nhiên, khi thơ càng ngắn, độ hàm súc càng cao, ý nghĩa càng bung tỏa thì lại càng thú vị. Có lẽ đây là quan niệm về thơ mà tác giả Đỗ Hồng Ngọc tâm đắc, nên đã lấy thể thơ ngắn làm đại diện cho cả những bài thơ dài trong toàn tập.

Đề tài của Thơ Ngắn Đỗ Nghê khá rộng: vũ trụ, quê hương, tình yêu, nỗi nhớ, thiền tập… Hầu như tác giả đã “chắt mót” tất cả các cảm xúc với thiên nhiên, tôn giáo và con người để dồn vào tập thơ này. Nếu gọi tập thơ là Tạp thi thì đúng hơn. Tạp thi nghĩa là thơ lặt vặt. Lặt vặt ở đây không có nghĩa là vặt vãnh, mà là gần gũi, giản dị, quen thuộc, thô mộc… Đó có thể là một thoáng suy tư, một chút bâng khuâng, một niềm nhung nhớ, nỗi luyến tiếc hoặc một trò tinh nghịch… Tất cả đều nhẹ nhàng, hồn nhiên và rất đỗi thẳm sâu. Có những bài thơ, câu thơ ngắn như một hơi thở, một cái trở mình nhưng ý nghĩa lại cứ dài ra theo dòng suy ngẫm của người đọc:

“Giữa đêm

Thức giấc

Giữa ngày…” (Trái đất)

Đêm của nơi này là ngày của nơi kia. Một cái tỉnh giấc nơi đất khách, nhớ đến quê nhà, chợt nhận ra sự mênh mông của Trái đất và sự luân chuyển khôn cùng của thời gian. Bài thơ còn mang ý nghĩa triết lý về tính tương đối: đêm ngày, khái niệm, nhận thức, chân lý… tất cả chỉ là tương đối. Sự tương đối đó chính là cái hữu hạn của con người trước cái vô hạn của thế giới đầy bí ẩn, bao la.

Bài thơ Sóng lại nhắc nhở người đọc về quan niệm duyên khởi của Phật giáo: “Sóng/ Quằn quại/ Thét gào/ Không nhớ/ Mình/ Là nước”. Bài Nước lại mang triết lý về sự trôi chảy của thời gian, sự miên viễn của vũ trụ, sự huyền nhiệm của tính thiền:

“Nước từ đâu đến

Nước trôi về đâu

…

Nước vẫn muôn đời

Không đi chẳng đến

Ai người nỡ hỏi

Nước đến từ đâu

Ai người nỡ hỏi

Nước trôi về đâu…”

Không đi chẳng đến, vô thủy vô chung, mềm mại như sông và quằn quại thét gào như sóng, nước vẫn an nhiên trôi chảy từ ngàn năm trước đến ngàn năm sau. Khi ta cảm nhận được sự mênh mông ấy của nước, gió, trăng, sao thì tâm hồn và thể xác ta đã hòa cùng vũ trụ: “Vũ trụ chừng nhỏ lại/ Còn chút xíu trong ta!” (Vũ trụ). Ta không còn “là Một, là Riêng, là Thứ nhất” như ông hoàng Xuân Diệu nữa, ta đang “bay vù vù trong không gian” trong từng sát-na. “Mỗi ngày ta rơi rụng/ Mỗi ngày ta phục sinh/ Mà cứ tưởng không hề thay đổi…”. Đó chính là Vô thường, là sự đổi thay qua từng chớp mắt. Vô thường mà không mất mát, vô thường để thấy ta trong vạn vật và vạn vật trong ta. Sự hòa điệu giữa con người – tiểu vũ trụ và vạn vật – đại vũ trụ trong thơ Đỗ Hồng Ngọc theo quan niệm vô thường và duyên khởi mang lại cho người đọc cảm nghiệm mới về thời gian, về sự sống trong guồng quay của tạo hóa. Nó thôi thúc con người ý thức về mối quan hệ của cá nhân và vũ trụ, để kết nối, để sống hết mình trong sự sống chứ không phải để thở than nhân sinh như mộng.

Vô thường trong thơ Đỗ Hồng Ngọc nhiều khi là sự hiện hữu chứ không phải hư vô, ở cái còn chứ không phải là cái mất. Trong những bài thơ về Mẹ, về La Ngà, ta học được cách quên nỗi đau, chấp nhận lẽ tử sinh từ những hình ảnh, chi tiết bình dị nhất. Ánh mắt người mẹ luôn dõi theo con, nụ cười mẹ như thấu hiểu mọi hỷ nộ ái ố, lúng túng, lần khân, láu lỉnh… của con. Nụ cười của mẹ trên bàn thờ trở thành tấm gương soi của con. Đó là nụ cười sống động, nụ cười bất tử mang tâm trạng và tình cảm yêu thương trìu mến của người ngắm nhìn qua mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm. Đối diện với nụ cười của mẹ, hẳn rằng người con luôn phải tự sửa mình. Cũng trong mạch cảm nhận đó, đọc những bài thơ viết cho La Ngà, ta hiểu được cách vượt qua nỗi mất mát của nhà thơ khi “có một dòng sông đã qua đời”:

“Không bài học nào

Như ba đã học

Từ con

 

Nỗi mất!”

Con “mãi mãi tuổi đôi mươi” dẫu tất cả cứ già đi theo năm tháng. Mà bài học về nỗi mất thì cứ tươi nguyên, khoảng trống của nỗi mất dường như thêm sâu rộng. Có thể thanh thản được không khi xem nghiệt ngã là bài học? Có nỗi đau nào lớn hơn không, khi bài học không muốn nhớ, không muốn thuộc nhưng vẫn cứ ghim vào tâm trí? Con “mãi mãi tuổi đôi mươi”, cha vẫn day dứt nỗi đau khổ của kiếp người! Hóa ra, vô thường còn là chấp nhận, là “đành lòng vậy, dầu lòng vậy”, là gào thét trong lặng câm, là bão tố trong bình yên, là chôn chặt trong đào xới, là cồn cào trong thanh thản… Những vô thường như thế này cần phải được đọc từ phía sau câu chữ, bởi câu chữ chỉ là cái bình phong, nó che đậy cảm xúc, nó không cho người khác nhìn thấy nước mắt tuôn rơi. Trang Tử từng nói: “Ngôn giả sở tại ý, đắc ý nhi vong ngôn” (Lời là để diễn đạt ý, được ý hãy quên lời). Những bài thơ này, tôi đọc “ý”, không đọc “lời”; đọc để hiểu, cảm thông và chia sẻ…

 

 

Có một nỗi nhớ quê hương đong đầy trong tập Thơ ngắn. “Đi giữa Sài Gòn/ Phố nhà cao ngất/ Hoa nở rực vàng/ Mà không thấy Tết. Một sáng về quê/ Chợt nghe gió bấc/ Ơ hay xuân về/ Vỡ òa ngực biếc!” (Gió bấc). Xuân không đến từ hoa vàng rực rỡ, xuân chỉ đến khi người yêu quê được đi giữa trời quê.

 

 

 

Ở bài thơ Thu, Đỗ Hồng Ngọc không dùng hình ảnh, mà khuấy động lòng ta bởi một âm thanh:

“Chiều thu

Nghe tiếng quạ

 

Giật mình

Nỗi xa nhà

 

Nhớ sao

Mà nhớ

 

Quá!”

Mùa thu gắn với nỗi buồn. Bởi vậy nên người Hán đã ghép chữ thu với chữ tâm để biểu ý thành chữ sầu (mùa thu đọng lại trong tim thành một nỗi sầu). Chiều thu là thời khắc của ngày tàn, của những nỗi buồn không tên, nỗi sầu thiên cổ bàng bạc như sương khói. Nó khiến lòng người chơi vơi, mang mang; khiến cho “Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói. Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì” (Xuân Diệu). Giữa chiều thu ấy, thơ thẩn nơi đất khách, bỗng nghe tiếng quạ, giật mình nỗi xa nhà… chợt thấy nhớ sao mà nhớ quá. Bài thơ độc đáo ở cấu tứ. Đó là cấu tứ sắc sắc không không. Không có hình ảnh nào cụ thể: chiều thu, tiếng quạ, nỗi xa nhà, nỗi nhớ đều không hiện hữu. Tất cả đều trừu tượng, lơ lửng trong không trung, vương vấn trong hồn người. Chủ thể trữ tình cũng chỉ xuất hiện trong động thái “nghe” và “giật mình”: nghe tiếng quạ và giật mình nỗi xa nhà. Nghĩa là người đọc chỉ nhận ra thi nhân qua âm thanh trên không trung và nỗi lòng kẻ tha hương. Niềm cô tịch bao trùm toàn bài thơ. Thi pháp chân không được sử dụng rất đắc địa. Và cuối cùng, tiếng quạ kêu bất ngờ kết thúc bài thơ, nhập vào làm một với đỉnh điểm của nỗi nhớ nhà: “Quá!”. Âm thanh đó vút cao, thảng thốt, xuýt xoa, khắc khoải, tê tái, quặn thắt… Từ tượng thanh trùng âm với phó từ chỉ mức độ cao trong tiếng Việt thể hiện sự hòa điệu tuyệt vời của cảnh và tình, của tiếng quạ và tiếng lòng. Nó khiến cái vô hình trở thành hữu hình, cái khó nắm bắt trở nên dễ nắm bắt. Tiếng quạ kêu lan tỏa trong thinh không, mang nỗi nhớ thả vào vũ trụ, để rồi len vào hồn người tâm thức “tư cố hương”. Cảnh nhạt mà tình nồng, bài thơ vừa có cái diệu của thi pháp chân không, của bút pháp lấy động tả tĩnh, huyền ngoại chi âm, và cả bút pháp tá thanh truyền ảnh rất hiếm ở trong thơ. Bởi, từ âm thanh xao động ở câu hai đến se thắt ở câu cuối, ta có thể hình dung được vẻ ngơ ngác ngước nhìn, kiếm tìm, trầm tư mặc tưởng của người thơ.

Thơ tình chiếm tỷ lệ khá lớn trong toàn tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê và đa số là những bài thơ không ngắn, thậm chí là khá dài. Mảng đề tài này thể hiện rõ tâm hồn thuộc “cái nòi đa tình” và tính cách dí dỏm của nhà thơ.

“Em tin có Chúa

Ngự ở trên cao

Còn anh tin Chúa

Ngự ở trong nhau” (Đi Lễ)

Với niềm tin ấy, “mỗi ngày anh chánh niệm về em chánh niệm sáng chánh niệm chiều chánh niệm đêm… em ngồi đó vô biên vô số với phép màu không có thời gian cho anh trở về tuổi hai mươi em mười tám…” (Chánh niệm).

Tình yêu như tôn giáo, tình yêu là tôn giáo của riêng anh. Và nhịp tim, hơi thở luôn thao thiết vì em:

“Ai bảo áo em vàng hoàng hậu

Cho tôi phải thở nhịp quân vương” (Đồng hương)

Và nếu thiếu em, quân vương ấy chẳng màng đến ngai vàng nữa:

“Ta về lối cũ

Nghe lòng lạnh băng

Thiếu em hoàng hậu

Ngai vàng như không…” (Giữa hoàng hôn xưa)

 

 

Anh viết tên em lên cát, cho sóng cuốn đi, cho gió cuốn đi. Để “tên em mênh mông đại dương…”, mang tình anh đi muôn phương, cho thỏa dạ kẻ si tình (Viết tên lên cát). Nỗi nhớ em trở thành căn bệnh – bệnh nhớ, khi cấp tính thì cồn cào, quặn thắt; trở thành kinh niên thì âm ỉ, triền miên (Nỗi nhớ). Mà thật lạ, hình như anh chẳng muốn chữa lành căn bệnh tương tư này. Bởi nghe trong tiếng thở than có niềm hạnh phúc, nghe trong nỗi buồn vẫn có thú đau thương.

Rồi “tình xa” sẽ biến thành “tình sầu”, “tình nhớ”, để ngày gặp lại, luyến tiếc gọi nhau bằng hai chữ Cố nhân:

“Mới đó mà em đã cố nhân

Lòng đau như cắt hiểu gì không

Hoa vàng đã rụng đầy sân vắng

Tình cũng ngùi phai theo tháng năm…”

Tình “ngùi phai theo tháng năm” nhưng lòng không ngùi phai. “Lòng đau như cắt hiểu gì không” – Câu thơ như một nhát cắt cứa vào tim nhau. Trách móc? Giận hờn? Tiếc nhớ?… Không! Chỉ thấy vẫn yêu. Và đau! Yêu ngay cả khi dùng từ ngữ có tính chất ngăn chặn, chấm dứt, thuộc về quá khứ: “cố nhân”. Vậy đó, sự trớ trêu của tình cảm thật khó mà cắt nghĩa, “cố nhân” nhiều lúc không phải là người cũ, người xưa, mà là người thân thiết, tha thiết một thời… và mãi mãi. Để rồi ta lại đêm ngày chánh niệm về em, và không ngừng cật vấn mình: “Ta làm sao mà lòng ta chưa nguôi!” (Khi gặp lại).

Giả sử là bài thơ tình rất hay ở nhiều phương diện. Nhà thơ nói với người yêu về một tình huống hủy diệt của thiên tai. “Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang/ Ập vào Mũi Né/ Anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng/ Vút qua những ngọn dừa/ Những đồi cát trắng/ Em nhớ mang theo đôi quả trứng/ Vài nắm cơm/ Vài hạt giống/ Đừng quên mấy trái ớt xanh…/ Biết đâu mai này/ Ta làm An Tiêm/ Trở về làng cũ/ Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang/ Nơi kia gọi là Mũi Né…/ Cho nên/ Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?…”. Bài thơ mở đầu bằng sự bất an và kết thúc bằng sự bình an. Tất cả hãi hùng hoang lạnh đó sẽ qua đi nếu ta biết thương nhau, và hãy thương nhau khi còn có thể, vì mấy ai lường trước được chuyện bãi bể nương dâu. Sử dụng những motif thường thấy trong văn chương: yêu trong hoạn nạn, sống sót qua hoạn nạn, cơn đại hồng thủy, tái lập Trái đất và sự sống…; tuy nhiên, trong hoảng hốt hoang hoải đi tìm sự sống, Đỗ Hồng Ngọc vẫn không quên chiếc thuyền thúng, mấy trái ớt xanh, đôi quả trứng, vài hạt giống của An Tiêm, để trở về làng cũ… Cổ tích Việt Nam, văn hóa Việt Nam thấm trong từng hình ảnh thơ khiến ta rưng rưng không phải vì nỗi sợ thiên tai, mà vì vẫn tìm thấy những gì quen thuộc trong sự mất mát. Dĩ nhiên, tất cả chỉ là giả sử, thể hiện những dự cảm bất an về môi trường và quan niệm vô thường của cuộc sống, nhưng mục đích là kết luận: “Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?” Hỏi cũng chính là trả lời, câu thơ khiến người với người xích lại gần nhau hơn như câu hát của Trịnh Công Sơn: “Hãy yêu nhau đi/ Khi rừng thay lá/ Hãy yêu nhau đi dòng nước có trôi xa… Hãy kêu tên nhau trên ghềnh dưới bãi/ Dù mai nơi này người có xa người…”

Tình yêu trong thơ Đỗ Hồng Ngọc vừa nồng nàn mãnh liệt “như đổ dầu vào lửa”, sắc bén như “ánh mắt dao cau”, dại khờ luyến tiếc khi phải “nhận bừa là đồng hương”, day dứt “khi nhìn nhau xa lạ” “nói năng vô nghĩa” mà nghe “thác reo trong hồn”, ranh mãnh mong người ta nhớ đến anh trong “ngày sinh nhật” khi mọi ngày của anh đều là sinh nhật. Và cuối cùng, vẫn chờ đợi một bến đỗ bình yên, chở che, đón nhận, ấp iu và chung thủy đến muôn đời:

“Lá chín vàng

Lá rụng

Về cội

 

Em chín vàng

Chắc rụng

Về anh” (Lá)

“Chắc” là một hư từ (vị từ tình thái) mang tính dân dã của khẩu ngữ được đặt vào trong sự biến tấu của thành ngữ “lá rụng về cội” khiến câu thơ cuối lập tức trở nên giàu ý thơ, chất thơ hơn. Nhìn từ phương diện ngôn ngữ học, “chắc” thuộc loại từ có “lực ngôn trung” gắn với “tình thái phát ngôn”. “Chắc là”, “có thể”, “có lẽ”, “hãy”, “sẽ”, “nên”…; vừa ướm hỏi vừa mời gọi; vừa mang tính khẳng định, vừa mang tính dự định. Chủ thể của lời nói vừa có thể là anh, vừa có thể là em. Tâm trạng của các chủ thể sẽ thay đổi tùy vào cách người đọc mặc định vị trí của họ và nghĩa của từ “chắc” ở trong lời nói. Cả hai chủ thể sẽ có tâm thế hoặc tự tin, yên lòng; hoặc e dè, hoài nghi, phấp phỏng. Tất cả tùy thuộc vào việc người đọc đứng ở bên nào trong tính nước đôi của từ ngữ. Vậy là người đọc có quyền quyết định nghĩa, làm tăng nghĩa, tăng tầng bậc khám phá cho văn học. Theo lý thuyết tiếp nhận, đồng sáng tạo giữa tác giả và độc giả là một trong những tiêu chí thành công của tác phẩm. Một từ thôi nhưng có thể thay chủ đổi ngôi, làm khuynh đảo những gì vững chắc nhất. Tiếng Việt là vậy đó! Hay, đẹp, đa nghĩa và đáo để đến vô cùng nếu được vào tay người nghệ sĩ ngôn từ biết cách giũa mài cho ngọc quý. Giống như Bông hồng cho Mẹ, bài thơ này toàn dùng từ thuần Việt. Mới hay, trong lĩnh vực ngôn ngữ, cái dân dã bình dị có khả năng chuyển tải văn hóa cao nhất chứ không phải cái cao sang. Một nửa của bài thơ là có sẵn, là kết tinh từ triết lý, trí tuệ dân gian, quy luật và ao ước muôn đời của muôn người. Nửa còn lại là sáng tạo của tình yêu, của thi ca; mời gọi, ướm hỏi, đợi chờ, hồi hộp, đón nhận, giao hòa… và hạnh phúc với chân lý của tình yêu.

Đề tài phong cảnh thể hiện nét bút tài hoa của nhà thơ. Đó là bút pháp thi trung hữu họa, lấy động tả tĩnh trong cảnh Hội An sớm:

“Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương”

Trăng treo nghiêng trên mái chùa, sương vàng theo ánh trăng. Chỉ cần chấm phá hai hình ảnh, một sắc màu là tạo nên bức cổ họa. Và tiếng chổi, tiếng của nhịp đời xao xác nhẹ nhàng đủ để đánh thức đàn gà ngái ngủ cất lên tiếng gáy. Sau tiếng gà gáy, cả thế giới im lìm sẽ tỉnh giấc. Tất cả mọi đường nét, mọi âm thanh đều vừa vặn, không thừa không thiếu cho việc diễn tả một Hội An trầm mặc cổ kính. Bài thơ gợi nhớ cái giật mình của loài chim núi khi nhìn thấy ánh trăng khuya trong Điểu minh giản của nhà thơ Vương Duy đời Đường. Nhưng ở đây, tiếng chổi tương hợp với ngôi chùa, tiếng gà gần gũi với đời sống. Tiếng chổi quét sân chùa sau buổi công phu sáng sẽ sớm hơn tiếng gà trong vườn nhà. Nếu ngoài đời thường, tiếng gà gáy sáng bắt đầu chuỗi hoạt động của con người, tiếng gà đánh thức tiếng chổi thì ở đây tiếng chổi đánh thức tiếng gà, bởi nhà chùa thường dậy sớm hơn. Bài thơ thể hiện sự quan sát tỉ mỉ, cách cảm nhận tinh tế của tác giả. Chất thiền không chỉ bàng bạc trong hình ảnh mà còn vang vọng trong âm thanh của bài thơ.

Tuyền Lâm mang vẻ đẹp trong trẻo của mùa xuân qua thủ pháp gương soi và tiếng gọi mùa xuân tha thiết, đắm say:

“Nước xanh như ngọc

Sâu đến tận trời

Vốc lên một vốc

Ơi mùa xuân ơi!”

Trời soi bóng nước, nước sâu tận trời, “sâu chót vót” như Tràng giang của Huy Cận, nhưng không cô liêu, tịch liêu mà đong đầy cảm xúc yêu cảnh, yêu mùa, yêu đời của nhà thơ.

Ta sẽ còn có thể nghe hơi thở người xưa, “Nghe thì thầm, Đẽo gọt/ Nét Đường thi” trong bài thơ Văn Miếu; ngắm làn mưa giăng mờ trong Hà Tiên mưa, cảm nhận “sóng lăn tăn gợn vỗ quanh ghế ngồi” Ở Montmartre… Mỗi bước chân trải nghiệm của tác giả đều được ghi dấu bằng hồn thơ.

Tư tưởng Phật giáo thấm đượm trong toàn tập Thơ ngắn. Đỗ Hồng Ngọc đã chuyển tải tư tưởng một cách nhẹ nhàng, giản dị như chính triết lý nhà Phật qua những bài thơ như Thiền, Vè thiền tập… Và đặc biệt, bài thơ Mới hôm qua thôi còn mang nỗi buồn của bi kịch nhân sinh: “Họ ngồi đó/ Hói đầu/ Bạc trắng/ Móm sọm/ Nhăn nheo/ Mới hôm qua thôi/ Nào vương/ Nào tướng/ Nào tài tử/ Nào giai nhân/ Ngựa xe/ Võng lọng/ Mới hôm qua thôi/ Nào lọc lừa/ Nào thủ đoạn/ Khoác lác/ Huênh hoang/… Nói nói/ Cười cười/ Ghen tuông/ Hờn giận/… Ngoài kia/ Tuyết bay/ Trắng xóa/ Ngoài kia/ Dòng sông/ Mênh mông/ Mênh mông…”. Đúng! Mới hôm qua thôi… mà bây giờ đã… Tham hận sân si sẽ tan đi hoặc vơi bớt khi ngẫm lại sự phù du của kiếp người, và sẽ “Giật mình chợt nhớ ra/ Vốn xưa ta là đất” (Đất), mai này ta cũng là đất. Ta cần ngộ ra điều đó, để có thể chứng nghiệm Niết Bàn trong cõi ta bà này, ngay ở đây, lúc này, hiện sinh chứ không phải là huyễn tưởng:

“Tham chẳng còn

Sân cũng hết

Si đã tuyệt

 

Niết Bàn

Tịch diệt

Để làm chi?” (Ngộ)

 Rũ bỏ tất cả, an nhiên tự tại, Niết Bàn trong ta, tùy vào ta. Niết Bàn là lúc ta thõng tay vào chợ, trở về với tâm tướng con người như nó vốn sinh ra…

Thơ Ngắn Đỗ Nghê có 59 bài, đa phần là thơ ngắn như tên gọi của toàn tập. Nhan đề của mỗi bài thơ cũng ngắn: Sóng, Nước, Đất, Thiền, Thở, Lá, Ngộ, Trái đất, Chân Không… Có bài chỉ 6 âm tiết, 10 âm tiết. Xem ra, so với Haiku của người Nhật (17 âm tiết), Sloka của người Ấn Độ (32 âm tiết), Lục bát của người Việt (14 âm tiết), Tứ tuyệt của người Trung Quốc (20 – 28 âm tiết) thì quả là Đỗ Nghê đã có những bài thơ ngắn độc đáo. Tuy nhiên, sức cuốn hút của tập thơ không phải ở độ dài ngắn, mà ở sự sôi nổi của lòng yêu cuộc sống, sự chiêm nghiệm về cõi nhân sinh, sự cảm ngộ triết lý nhà Phật đầy mới mẻ, nỗi niềm đau đáu với lẽ được mất và thi pháp thơ đầy sáng tạo. Tất cả như thể hiện nỗi vướng bận của nhà thơ với cuộc đời: “Ta làm sao mà lòng ta chưa nguôi”. Nguôi sao được khi trái tim và tâm hồn thi nhân vốn dĩ đã bị cầm tù trong bể đời ngọt ngào pha lẫn với chua cay mặn đắng. Lòng chưa nguôi, và sẽ mãi mãi không nguôi, sẽ dễ dàng rung lên như những sợi dây đàn mẫn cảm, để cho đời thêm những tiếng thơ hay.

Nếu cần góp ý cho tập thơ, tôi chỉ mong tác giả gạt bớt những bài chưa chín tới về cảm xúc cũng như bút pháp, hoặc không phù hợp với toàn tập như To Edith (vì là thơ dịch), Về quê (vì trùng với danh tác Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương), Đông Boston (vì không điệp vần), Theo già, Tuyết (vì thiếu thi ý), Món quà, Quấn quýt (vì cấu tứ non tay)… Vẫn biết, cắt bài sửa chữ là đề nghị lạnh lùng làm đau lòng người sáng tác. Bởi vì mỗi câu, mỗi bài đều gắn với kỷ niệm, vết xước, nỗi đau và những rung cảm chân thành. Tuy nhiên, nếu không làm điều đó, tác phẩm sẽ thiếu chắt lọc, sa vào ôm đồm và nhạt mất khí cốt. Trong nghệ thuật, có sự trưởng thành nào mà không trả giá bằng nỗi đau, có sự vẹn nguyên nào mà không khởi đầu bằng mất mát? Thiển ý này của người viết cũng thể hiện nỗi niềm “sao lòng ta chưa nguôi”, mong mỏi mỗi bài thơ đều hướng đến cảnh giới “Bút lạc kinh phong vũ. Thi thành khấp quỷ thần” (Hạ bút làm kinh hoàng cả mưa gió. Thơ làm xong khiến quỷ thần phải khóc – Đỗ Phủ).

 

Xứ Huế, Mùa Đông năm 2017

……………………………………………………………………………………………

[Bài đã đăng ở Tập san Quán Văn số 52 – Xuân Mậu Tuất (01/2018)]

* Đã có chỉnh sửa bởi Tịnh Thy (31.01.2018)

** Minh họa của Đỗ Hồng Ngọc (trong Thơ Ngắn Đỗ Nghê).

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

”Sông Ơi Cứ Chảy…”

31/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Nhạc sĩ Thuần Nhiên (Nguyễn Đức Vinh) Đà Lạt, trong dịp Noel 2017 vừa qua đã phổ nhạc bài thơ “Giỗ một dòng sông” trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê và ôm guitar hát ngay trong đêm với đầy xúc cảm, đã được chia sẻ cho bè bạn trên trang này… (xem Giỗ một dòng sông).

Tối qua, nhạc sĩ Thuần Nhiên và anh Nguyễn Phu vừa gởi tôi bản nhạc hoàn chỉnh, với tựa mới (cho phù hợp hơn với bài hát) là Sông ơi cứ chảy… cùng với lời Anh của Phan Tấn Hải Flowing forever dear river, xin gởi đến các bạn.

Trân trọng cảm ơn,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Uncategorized, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Thị Khánh Minh, Người Nối Đường Tơ…

21/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nguyễn Thị Khánh Minh, Người Nối Đường Tơ…

Trần Thị Nguyệt Mai

 

Ở cuối mỗi điện thư, chị thường ký tắt km, chữ nhỏ, không hoa. Là “khánh minh”. Ai cũng hiểu như vậy. Nhưng bỗng một hôm anh Đỗ Hồng Ngọc khám phá ra: km là kí-lô mét.

khánh minh viết tên mình
km khiêm tốn 
thư từ bè bạn
nhiều lúc đọc nhầm 
thành kilomet
nhiều lúc hỏi thầm 
từ đây đến đó
bao nhiêu khánh minh?

(km – đỗ hồng ngọc)

Khám phá này thật hay và cũng thật đúng với “tên” của chị nữa. Vì, bằng trái tim mẫn cảm và ngòi bút thơ mộng, chị đã như một gạch nối đưa thơ văn vào trong tim người đọc với những bài giới thiệu thật đặc sắc. Và, hẳn nhiên, tác giả rất cảm động vì được chia sẻ. Như là: “Nguyễn Lương Vỵ, người thơ hát âm”, “Bất chợt thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Và gió…”, “Du Tử Lê, dòng sông hẹn hò biển cả”, “Lữ Quỳnh, Thơ. Và con mắt của giấc mơ”, “Lữ Kiều, chàng lãng tử của thời gian”, “Khuất Đẩu. Và cõi đẹp”, “Phan Tấn Hải. Người Tới Như Mộng”, “Lê Giang Trần. Chiếc vòng kim cô nhớ”, “Vũ Hoàng Thư. Hạt Nắng Phiêu Du”, “Hoàng Xuân Sơn. Quỳnh ơi, hồn nhiên một đóa…”, “Ngoại chờ bên kia sông”, “Trịnh Y Thư, lắng nghe hài cỏ”, “Nguyên Minh, chân kiến dặm trường”, … [1]

Nhớ có lần anh Khuất Đẩu nhờ giới thiệu sách của anh trên blog TTNM theo mẫu do Tương Tri thực hiện, nhưng tôi đi bằng một bài viết của chị như sau:

Sau khi đọc bài điểm sách “Khuất Đẩu. Và Cõi Đẹp” của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, một số bạn muốn tìm đọc nên viết thư hỏi địa chỉ mua sách… [2]

E nhà văn không hài lòng, tôi hỏi lại cho chắc: “Nếu cần sửa đổi gì xin anh cho em hay…”
Tôi đã thật vui khi nhận thư trả lời:
Nguyệt Mai ơi,
Như vầy là quá chu đáo rồi. Bài viết của KM có bút lực rất lôi cuốn, không cần thêm lời giới thiệu của TT.
(trích điện thư ngày 12/2/2016)

Anh Tô Thẩm Huy (người giữ mục “Đùa Với Đường Thi” trên tạp chí Văn Học trước đây, ký tên là Đàn Bách Kiếm) đã nhận xét về bài viết “Ngoại chờ bên kia sông”của chị, cảm nhận từ bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” của Đỗ Hồng Ngọc, như sau:

Tôi không biết Nguyễn Thị Khánh Minh thân, sơ với anh thế nào, nhưng rõ ràng là chị đã cảm bài thơ của anh đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Anh thật là người may mắn có được người đồng điệu như thế.
(trích điện thư của anh Tô Thẩm Huy gửi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc) [3]

Vì chị cũng là thi sĩ, nên văn chị đẹp tựa thơ. Tôi yêu từ những trang đầu tiên của “Bóng bay gió ơi”, tập tản văn gần đây nhất của chị,

Nhắm mắt lại, phút này đây.
… nghe được hương trâm trâm bên vệ đường rầy xe lửa về quê nội, ai biết được mầu lấm tấm ngũ sắc kia đã cấy trong tôi mùi quyến luyến quê nhà đến vậy. Hễ chìm vào là nghe tiếng xe lửa xập xình, ánh nhìn cô gái nhỏ chạy lùi theo những hình ảnh vụt qua, bụi cây, ngọn núi, chiếc cầu nhỏ, những ô lúa xanh và con mương ốm chạy ngoằn ngoèo theo bờ ruộng…

Tôi đã theo chị “Bồng bềnh quê nhà” để cảm nhận được:

… mùi đất bùn khô dưới nắng, phải là nắng buổi trưa oi nồng, mùi lá tre, mùi cỏ bên vệ đường, mùi đống rơm trong sân gạch nhà và đặc biệt mùi phân trâu bò trên đường đất, quyện vào trong gió tre, bạn ơi tôi mong là bạn cũng đã từng ngửi thấy để có thể chia sẻ cùng tôi vì tôi không biết diễn tả thế nào, tôi gọi đó là mùi nhà quê, với tất cả thương yêu gắn bó mà tôi có được với nó…

Rồi đi vào “Mái ấm”:

Chỉ cần cúi xuống bên cái võng thong thả theo nắng buổi sáng là có thể hái trong tay chiếc lá nham nhám, hương ngái của lá và hoa như chiếc thuyền thả tôi trôi về quê nội, hai bên đường hoa chùm bao phủ trắng xen lẫn sắc trâm trâm…

Đến “Mưa nắng thềm nhà”:

Buổi sớm, trong yên lặng trầm, mọi thứ chuyển động nhẹ nhàng theo từng nhịp ánh sáng, lòng tôi cũng vậy, nhẹ bẫng, và như bay cao, không phải cái vụt lên ngẩn ngơ của một trái bóng tuột khỏi tay cầm, mà là cái lồng lộng của con diều còn có một sợi dây nối với một bàn tay. Có phải đó là cảm giác của lâng lâng trong khí trời chưa rối bởi muôn thứ âm thanh?

Qua “Đáy đĩa mùa đi”, từ Hạ:

… Lộng ngát trời hè xứ lạ những đám mây ngày cũ êm đềm trôi về, làm tôi thấy yên lòng, lẫn một chút nôn nao của những gắn bó vừa nhú sợi rễ non…

tới Thu:

Trời ạ, gió và lá vàng, nó góp thêm vào ký ức hai mùa nắng mưa ngày xưa của tôi tiếng lăn giòn của lá khô, màu lá ruộm vàng nắng thu. Cái se lạnh chiều Calif. lăn tăn da thịt làm tôi tơ tưởng tiếng gió heo may Hà Nội và vốc cốm xanh rức trên tấm lá sen, chênh vênh những con đường phố cổ đang chờ tôi gõ bước chân hẹn hò, dường như mình đã có một ước hẹn với mùa thu nơi ấy?

rồi Đông:

Mùa Đông là một dấu chấm lửng lơ quyến rũ, từng bước đi đến điểm khép lại, cùng lúc mở ra lung linh nhịp hội hè cuối năm. Và cứ rơi vào điểm kết sổ này là ký ức lại đẩy đưa… Và, có phải người, trong bất ngờ một nhịp lẫy của thời gian, gửi tới mùa đông này vạt gió tơ lụa, ẩn mật một lời hẹn?

và vào Xuân:

Có một niềm vui mà tôi phải chia để thấm hết nỗi đầy, cuối năm của tôi đã được khép lại trong tiếng khóc đầu tiên của bé cháu gái, cái chớp mắt chào đời của bé như thể tôi vừa được mở ra một tấm thiệp đẹp đẽ nhất của đất trời với những lời chúc phúc, một trang mới tinh khôi, tràn trề nhịp chảy sinh động của dòng sống, rồi tôi sẽ có những chữ lần theo cái lật cái bò cái lẫm chẫm bước đi non tơ ấy… Tiếng oa oa như nắng trên cao đang vỡ ra trong ban mai tín hiệu của ấm áp, có phải cả hải hà đang tao nôi hạnh phúc ta không, bé bỏng ơi…

Hãy đọc đi bạn ơi, đọc cho hết cuốn tản văn này, theo cùng tác giả lần về những kỷ niệm, những ngày tháng cũ quá đỗi dấu yêu, có khúc vui, khúc buồn, khúc cô quạnh, khúc sâu lắng… Nhưng, dù như thế nào, đến cuối đất cùng trời ta cũng chẳng thể quên:

Đã hẹn đã hò, cũng ước cũng thề, thì dẫu con đường có dài, thời gian có mịt mù thế nào đi nữa thì cũng có lúc chúng mình sẽ gặp lại, nói cho sâu lắng đá vàng hơn, thì chúng mình sẽ tái ngộ, nối lại một đường tơ lơ lửng…

Cám ơn người thơ Nguyễn Thị Khánh Minh đã nối giùm một đường tơ mong manh hư ảo đẹp tuyệt vời để cho tôi có những phút giây tao ngộ hạnh phúc với kỷ niệm, với đất trời biển cả mưa nắng thuở nào ở quê nhà…

(TTNM)
December 5, 2016

………………………………………………………………………………

Ghi chú:
[1] Những bài này đã đi hoặc trong tản văn “Bóng bay gió ơi” hoặc trên các trang mạng văn chương.
Những chữ in nghiêng trong bài, nếu không dẫn nguồn, đều trích từ tập tản văn “Bóng bay gió ơi” của Nguyễn Thị Khánh Minh, nhà xuất bản Sống phát hành năm 2015 tại Hoa Kỳ.
[2] Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2016/02/12/sach-truyen-cua-nha-van-khuat-dau/#more-17118
[3] Nguồn: http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/ngoai-cho-ben-kia-song/

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Cafe Thứ Bảy: 20/1/2018 Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở”

18/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở”

(Anapanasati dưới góc độ khoa học)

 

Thư gởi bạn,

Cà-phê Thứ Bảy do nhạc sĩ Dương Thụ làm ”chủ xị” khá nổi tiếng từ nhiều năm nay ở Saigon (và nay ở cả Hà Nội), không chỉ là một nơi có những buổi Giao lưu văn hóa, gặp gỡ và đối thoại thân tình giữa bạn bè anh em bên tách café sáng về nhiều vấn đề từ triết học, văn hóa, xã hôi, tôn giáo…  mà còn thường xuyên có những buổi trình diễn Âm nhạc thính phòng hấp dẫn.

Nơi đó, ta có thể gặp nhiều bạn bè thân quen, Gs Nguyễn Văn Trọng, nhà văn Nhật Chiêu, luật gia Ngô Tiến Nhân, Gs Nguyễn Đăng Hưng, Bs Nguyễn Chấn Hùng…

Và chính mình cũng đã đến ”làm diễn giả” mấy buổi nơi đây về Nếp sống An lạc, về Thiền và Sức khỏe v.v…

Lần này nhạc sĩ Dương Thụ mời chia sẻ về Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở” (Anapanasati), còn gọi là ”Nhập tức xuất tức niệm” hay ”An-ban Thủ ý”, một thứ thiền rất cơ bản, rất khoa học, mà Đức Phật đã truyền đạt cho các đệ tử từ xa xưa trong kinh Tứ Niệm Xứ (Satipathana) sau này thành một kinh riêng Anapanasatisutta (bản dịch HT Thích Minh Châu).

Vậy thứ bảy 20.1 này nếu rảnh, đến chơi nhé.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thư Mời của Càphê thứ 7:

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe, Thư gởi người bận rộn

Kỳ 11: Phật Học & Đời Sống

11/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Kỳ 11: Sinh hoạt Phật Học & Đời Sống

tại Chùa Xá Lợi Sài-gòn (Tp.HCM)

Thứ bảy, ngày 6.01.2018 từ 15-16h30.

Ngày Thứ bảy 13.01.18 tiếp tục bàn về Chánh Định trong Bát Chánh Đạo, chia sẻ về Thiền Anapanasati (Quán Niệm Hơi Thở/ An Ban Thủ Ý hay Nhập tức xuất tức niệm).

Thân mời các anh chị, các bạn tham dự để cùng thảo luận và trao đổi kinh nghiệm.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Thiền và Sức khỏe

nghĩ về ”GIỖ MỘT DÒNG SÔNG”

08/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Thầy giáo Nguyễn Mậu Pháp (nguhanhson) dạy ở Lạc Dương, một ngôi trường ngoại thành Dalat, dưới chân núi Langbian. Một hôm, nghe Thuần Nhiên hát “Giỗ Một Dòng Sông’’ từ thơ Đỗ Hồng Ngọc mà không sao cầm lòng được, phóng bút viết nhanh mươi phút những cảm nghĩ của riêng mình rồi gởi ngay cho tác giả thơ và nhạc để cùng chia sẻ…

Vẫn còn đó những tâm hồn đồng điệu, những tấm lòng bè bạn, chưa từng gặp gỡ nhau, mà đã như cùng nghe tiếng vỗ của một bàn tay…

Đa tạ Nguyễn Mậu Pháp,

ĐHN.

(7.01.2018)

 

nghĩ về

”GIỖ MỘT DÒNG SÔNG”

Thơ Đỗ Hồng Ngọc. Nhạc: Thuần Nhiên

 

Nguyễn Mậu Pháp  (Đà Lạt)

Cuộc hành trình để tìm về vô tận mênh mông, về với khoảng không vô cùng của ngàn trùng bao la hằng tại. Chảy mãi và chảy mãi đến muôn nơi…
Sông ơi! Đừng ngừng trôi “ cứ chảy về trời, cứ về biển
khơi”. Dòng sông là dòng chảy từ suối ngọt, làm thác cao, làm gió nổi,
làm mây trôi…. Như dòng đời chảy hoài đến trùng khơi bất tận. Cuối
cùng là “chảy khắp châu thân” trong ngần khối nguyên chân vĩnh trường
muôn thuở.
Bài thơ là một nỗi niềm, hoài vọng thương nhớ nhưng không bi lụy
não nề, mà là tiếng vỗ về, đánh thức giấc mê , tìm về cội quê của chân
tâm bổn tánh.
Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc đã suy nghiệm và chắt lọc những ngôn từ nhẹ nhàng
tha thiết như lời dỗ dành thiêng liêng của người Cha với người con
trong khối vuông tròn sự sống. Nhịp thơ vang vọng như đánh thức vào
tâm mình của tiếng gọi hư linh   – hãy như dòng sông tìm về với lẽ hóa
sinh của ánh sáng Phật pháp quang minh vi diệu.
“ Giỗ một dòng sông” như lời nâng niu, dỗ dành gót chân phiêu bồng của
người xa xứ, như bước hành trình của một khách lữ tỉnh mộng chốn mê
trần. Tựa đề bài thơ không phải là lời phân vân hay bâng khuâng hoài
mộng mà là thắp lên sự sống của hằng tâm.
Như một dòng sông chảy hoài có khi lặng thầm, có lúc như tiếng thét
gào của thác cao đổ dồn vào hư không nơi rạng ngời ánh hồng của tâm
thức. Nhạc sĩ Thuần Nhiên đồng cảm với lời thơ chân thực mà ý nghĩa
kín đáo sâu xa để hòa tiếng ca cùng “Giỗ một dòng sông”, hòa cùng
tiếng lòng của nhà thơ đang ung dung chèo thuyền để sang bờ chánh
giác.
Dòng sông ơi! Dòng sông ơi!
Chảy đi ….chảy mãi về nơi vô cùng
Cho trăm bến đỗ tương phùng
Trở về vô tận muôn trùng hư không
Vỗ về  “Giỗ một dòng sông”
Mà nghe lời vọng ….tiếng lòng ….thênh thang….

Nguyễn Mậu Pháp (nguhanhsondalat)

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 22
  • Trang 23
  • Trang 24
  • Trang 25
  • Trang 26
  • Interim pages omitted …
  • Trang 43
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết
  • SÁCH SONG NGỮ: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace & Joy”
  • Bv Đại học Y Dược Tp HCM: Bs Đỗ Hồng Ngọc – Thiền và Sức Khỏe.
  • Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ
  • Tâm Nhiên: “DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email