Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Kỳ 23: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

25/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

                 Kỳ 23: Phật Học & Đời Sống

            tại Chùa Xá Lợi, Tp HCM, ngày Thứ bảy 19.5.2018

                         Từ Bi Với Mình

            Hô hấp và 16 hơi thở “Thân Thọ Tâm Pháp”

Rất cảm ơn nvquyen đã gởi sớm video clip này đến các bạn.

Đỗ Hồng Ngọc.

………………………………………………………………………….

Ghi chú: Thứ bảy 26.5.2018 Lớp tiếp tục sinh hoạt từ 15-16h30

tại Chùa Phật học Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp HCM

Chủ đề : “NGHIỆP”

Thân mời các bạn tham dự.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Kỳ 22: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG ngày 12.5.2018

17/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 22: Phật Học & Đời Sống

Ngày 12.5.2018 tại Chùa Xá Lơi Saigon (Tp.HCM)

                          TỪ BI VỚI MÌNH (tiếp theo):

Thực phẩm cho Thân và Tâm

(Đoàn thực; Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực)

…………………………………………………………………………………………………….

Kỳ 23:   Ngày 19.5.2018 lúc 15-16:30

tại Chùa Phật học Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3

Từ Bi Với Mình phần cuối với đề tài

Hô Hấp và 16 hơi thở Thân Thọ Tâm Pháp

Thân mời các bạn tham dự,

Trân trọng

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Cảm ơn nvquyen.

Ghi chú thêm: nvquyen cũng vừa thông báo cho biết đến nay đã có khoảng 1400 người đăng ký theo dõi ”PH & ĐS”.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Thiền và Sức khỏe

Nguyên Quang: CHÂN ĐẾ và TỤC ĐẾ

14/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

CHÂN ĐẾ và TỤC ĐẾ

Nguyên Quang

Ghi chú: Một bài viết rất căn bản để học Phật từ nhiều năm trước của Nguyên Quang trên quangduc.com và sau đó trên Tuvien.com. Xin phép tác giả cho chia sẻ nơi đây dành cho các bạn đang sinh hoạt trong Lớp Phật học & Đời sống.

Trân trọng cảm ơn,

Đỗ Hồng Ngọc. 

………………………………………………………………………………..

Trong các danh từ chuyên môn của đạo Phật, có lẽ không có từ ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai từ “Chân Đế” và “Tục Đế”.  Thật vậy, Đức Phật, vì muốn độ chúng sinh thoát khổ sinh tử nên mới nương vào thế giới Tục đế mà nói pháp, nhằm chỉ bày cho chúng sinh thấy được cái bản chất chân thật tự nhiên của Tâm vốn sẵn có, để chúng sinh, tự nỗ lực tu hành giải thoát khỏi khổ đau sinh tử, lìa khỏi thế giới Tục đế, đến thế giới Chân đế. Cũng vì thế mà ngài Long Thọ Bồ tát nói rằng “… Các Đức Phật vì chúng sinh, y vào Nhị đế mà nói pháp, thứ nhất là Thế tục đế và thứ hai là Đệ nhất nghĩa đế.  Nếu người nào không nhận thức được hai chân lý này, thì đối với Phật pháp sâu xa, không thể hiểu được chân nghĩa.  Nếu không nương tựa vào tục đế, thì không thể thấy được chân lý; nếu không thấy được chân lý, thì không thể ngộ được Niết bàn…”  Tục đế là một hợp từ: “tục” nghĩa là thế tục hay phàm tục, “đế” nghĩa là chân lý.  Tục đế có nghĩa là những cái gì mà người thế tục đồng ý với nhau, gọi là chân lý quy ước hay còn gọi là  chân lý tương đối.  Còn Chân đế, cũng là một hợp từ, có nghĩa là chân lý chân thật không hư vọng, là chân lý tuyệt đối, là chân lý tối thượng, cũng còn gọi là Đệ nhất nghĩa đế, là chân tâm, giác tánh, chân như… Chân lý tuyệt đối là gì? Không ai biết được ngoại trừ chính chư Phật và chư Tổ đã giác ngộ.  Các ngài cũng không thể nói cho chúng ta biết được.  Toàn bộ giáo điển của chư Phật là pháp phương tiện, Ngài “dùng pháp thế gian, (tức thế tục đế) để giảng nói cho chúng sinh” , cốt để chúng sinh ngộ được cái chân lý tuyệt đối như Ngài vì Ngài thấy Tâm Phật và Tâm chúng sinh vốn không khác, vốn tự đầy đủ mênh mông khắp không gian và thời gian.  Thật vậy, xuyên qua lời dạy của Phật và chư Tổ, sở dĩ có sự sai khác là vì tâm chúng sinh bị mê mờ ô nhiễm.  Cái Tâm bị bao vây bởi tham sân si, bởi vọng tưởng điên đảo, bởi tham nhiễm các pháp có không.  Ngài Sogyal Rinpoche, một đại sư Tây tạng, ví Tâm chúng ta bị vây kín trong một cái bình mà “khoảng không trong bình cũng giống như khoảng không bên ngoài.  Khi chúng ta giác ngộ, thì cũng như cái bình vỡ tan thành mảnh vụn… Ngay lúc đó và tại chỗ đó, chúng ta trực nhận được rằng chúng chưa từng bao giờ có sự ngăn cách hay sai khác…”  Vì tâm sinh diệt của chúng sinh luôn luôn dính mắc vào các pháp “có không” nơi thế giới hiện tượng tức thế giới tục đế, nên Đức Phật thấy thật là khó nói về cái mà Ngài đã chứng ngộ, chẳng hạn như nói về Phật tánh, chân tâm, vốn không hình tướng, không số lượng.  Nếu nói chúng sinh có Phật tánh là chấp trước, nói không có Phật tánh là hư vọng, nói Phật tánh cũng có cũng không là nói trái ngược nhau, nói Phật tánh chẳng có chẳng không là hý luận.  Nên Phật mới dùng các pháp thế gian phương tiện, “giả lập kệ pháp, giả lập danh tự, vốn chẳng phải Phật, nói với họ là Phật, vốn chẳng phải Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, nói với họ là Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, … Biết họ gánh trăm tạ chẳng nổi, tạm cho họ gánh một lon, một chén, biết họ khó tin giáo liễu nghĩa, tạm nói với họ giáo bất liễu nghĩa, tạm được pháp lành lưu hành còn hơn là pháp ác…”.  Cũng chính vì chân lý tuyệt đối này rất khó hiểu, khó nhận, khó nói nên đôi khi Ngài phải dùng những thí dụ bằng lời nói, như trong kinh Pháp Hoa, Phật dùng bẩy thí dụ, trong đó có hai thí dụ là cái nhà lửa và câu chuyện đứa con cùng tử mà ai cũng biết. Ngoài ra còn nhiều kinh khác như Bá Dụ Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh, Bồ Tát Bổn Sanh Kinh, …  Các thí dụ Ngài nói trong kinh dùng phương thức ngụ ngôn, hàm chứa những ý nghĩa thâm thúy, ám thị lý tuyệt đối mà chân lý tuyệt đối này không thể dùng lời trực tiếp mà giảng giải vì lời chỉ là khí cụ diễn đạt cái tư tưởng tương đối, cái có hình, có tướng trong thế giới nhị nguyên. Chư tổ chứng ngộ cũng vậy, không thể nói cho chúng ta biết được chân lý tuyệt đối là gì, mà quý ngài chỉ dùng những câu chuyện ngụ ngôn, như câu chuyện con rùa và con cá để làm thí dụ mà thôi.  Rằng con rùa từ dưới nước bò lên mặt đất, đi một vòng rồi trở về nước, bơi cạnh con cá, kể chuyện đất liền cho nó nghe.  Nhưng con cá, vì chưa bao giờ rời khỏi nước, không thể tưởng tượng nổi lại có một môi trường có thể sống được mà không có nước, không bơi lội.  Cho nên con rùa đành chịu mang tiếng là nói chuyện viển vông hoang đường, không có trong thực tế.   Cảnh giới tuyệt đối, chân tâm, giác tánh, chân như, mà Phật đã giác ngộ không thể nói cho người chưa chứng ngộ biết được.  Vì lẽ đó mà người đời đôi khi cũng phê bình: “Đạo Phật cao siêu quá, không có trong thực tế”.  Nhưng chính đó mới là cốt tủy của Phật Giáo.  Kinh Kim Cang là kinh liễu nghĩa, nói về cốt tủy của đạo Phật, về chân lý tuyệt đối, cho nên không có pháp gì để nói.  Những lời Phật dạy trong kinh chỉ giúp chúng sinh phá bỏ những hiểu biết tương đối, phá bỏ những kiến chấp sai lầm cố hữu, những vướng mắc lâu đời vốn là nhân kiên cố của vòng xích luân hồi, đã lôi kéo chúng sinh vào vòng trầm luân muôn vạn kiếp.  Ngài phá bỏ không còn một kiến chấp nào và Ngài cũng tuyên bố luôn là Ngài không thuyết pháp: “- Tu Bồ Đề! Ông chớ cho Như Lai có nghĩ rằng: “Ta có nói pháp”.  Ông chớ nghĩ như vậy.  Bởi vì sao? – Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có nói pháp, tức là chê Phật, không hiểu được lời của ta nói.  Tu Bồ Đề! Nói pháp, là không có pháp gì nói được, ấy gọi là nói pháp.”  Có nghĩa là Phật không nói về cái chân lý tuyệt đối, về cái chân tâm, Phật tánh, Chân Như, vì chân lý tuyệt đối vốn chẳng thể dùng ngôn ngữ tương đối thế tục để biểu thị.  Ngài chỉ dùng ngôn ngữ thế gian tức chân lý thế tục để chỉ bảo chúng sinh, mà ngôn ngữ thế tục, là pháp tương đối thì không có tự tánh, chỉ do nhân duyên hòa hợp, và do nhân duyên hòa hợp nên không có thật. Đến đây, chúng ta trở lại bài kệ của Bồ Tát long Thọ đã nêu trên phần mở đầụ.  Bồ Tát dạy chúng ta rằng nếu chúng ta không phân biệt được chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối, tức thế tục đế và chân đế, thì chúng ta không thể hiểu được đạo Phật.  Do sự không hiểu và không phân biệt rõ này, chúng ta lại nhập nhằng đem lời Đức Phật nói “Không thể nói pháp Tuyệt Đối”, mà cho là Đức Phật nói “Không nói pháp tương đối” là chúng ta vô tình vướng mắc vào sự hủy báng kinh, chứa đựng những lời tâm huyết của Đức Phật.  Ngài đã dùng ngôn ngữ và chân lý thế tục để dạy người thế tục biết cách mà tiến dần trên con đường từ bỏ thế tục, trở về bản thể tuyệt đối. Nếu chúng ta không hiểu được điều đó, mà tưởng rằng Đức Phật không nói pháp, thì chúng ta sẽ mất niềm tin nơi kinh, sẽ mất cơ hội có bản đồ chính xác để tìm đường trở lại bản thể chân tâm tuyệt đối.

Nguyên Quang 

Nguồn: Tuvien.com

………………………………………………………………………

(Xin cảm ơn Anthony Huynh)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Có một ”Không Gian Đọc” ở Hội An

13/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Có một ”KHÔNG GIAN ĐỌC” ở Hội An

Thiệt ít ai ngờ ở Hội An có một Không Gian Đọc dễ thương vậy! Đó không chỉ có sách cho người lớn mà còn nhiều sách cho trẻ em. Đó là nơi thỉnh thoảng diễn ra những buổi sinh hoạt dành riêng cho trẻ rất sinh động, thú vị và hữu ích, giúp trẻ làm quen với sách… gần gũi với những cuốn sách lành mạnh thay vì cứ mãi chúi mũi vào điện thoại… bấm bấm chỉ làm cho trẻ thêm mụ người!

Không Gian Đọc còn có những buổi Giao lưu với các tác giả, các buổi trình diễn ”áo dài” cho trẻ làm quen và cho người lớn ”sực nhớ”… rồi những buổi vẽ tranh, làm bánh, ca hát…

Năm ngoái, ngày Đọc Sách Việt Nam, Không Gian Đọc ở Hội An đã tổ chức buổi trò chuyện cùng nhà văn, giáo sư triết học Thái Kim Lan ở Đức về, với tác phẩm Thư gởi con, Huệ Tím (dịch Hermann Hess), rồi với nhà thơ Trần Tiến Dũng ở Saigon ra, với tác phẩm “Ba ơi, tại sao?”, tiếp đó là buổi Trò chuyện cùng Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Một Nếp Sống An Lạc. Dịp này, Đài truyền hình Quảng Nam đã ghi lại một số hình ảnh trong Chương trình Văn hóa Văn nghệ của đài.

Dưới đây là một clip nhỏ riêng cho Không Gian Đọc, xin được chia sẻ cùng bè bạn. Mong cho Không Gian Đọc Hội An ngày càng phát triển, góp phần nâng cao sinh hoạt văn hóa của Hội An.

Xin chân thành cảm ơn các bạn,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Và đây, một clip của VTV3 cũng đã có bài giới thiệu Không Gian Đọc ở Hội An từ năm 2015:

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 21: Phật học & Đời sống, chùa Xá Lợi 21.4.2018

09/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 21: Phật học & Đời sống

Chùa Xá Lợi, Saigon (Tp.HCM) ngày Thứ bảy 21.4.2018

Đề tài:     Từ Bi Hỷ Xả

                Từ bi với minh (tiếp theo)

Do tôi bận đi Huế và Hội An nên buổi sinh hoạt kỳ 21 (Tb 21/4/2018) tiếp tục về Từ Bi Với Mình sẽ do thầy Minh Ngọc và Cư sĩ Tô Văn Thiện phụ trách, chủ đề tiếp theo ĐOÀN THỰC (thức ăn cho Thân- Sắc) là 3 nhóm Thức ăn cho Tâm (Thọ/ Tưởng/ Hành/ Thức):

“XÚC THỰC – TƯ NIỆM THỰC – THỨC THỰC”

Ngày Thứ bảy 28/4 và 5/5 LLL sẽ nghỉ… ”hè”.

…………………………………………………………

Chú ý: Lớp sẽ sinh hoạt lại vào ngày Thứ bảy 12-5-2018 lúc 15h-6h30 tại Chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3. Tp HCM.

Thân mời các bạn tham dự,

Trân trọng

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

………………………………………………..

Cảm ơn nvquyen đã gởi clip Kỳ 21.

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Ghi chép lang thang (tiếp theo 3)

08/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chép lang thang (tiếp theo 3)

Hội An

(ảnh: Đỗ Hồng Ngọc)

Từ giả các anh chị, các bạn ở chùa Từ An, hẹn sẽ trở lại một dịp khác, có nhiều thì giờ hơn để đàm đạo, trao đổi… mình vội vả ra xe về Đà Nẵng-Hội An như đã hẹn. Ni cô Thuần Thiện thân thiết đưa ra tận xe, còn tặng chút quà chùa: một hủ ruốc chay thiệt ngon!

Về Huế-Đà Nẵng nhiều lần cứ qua lại bằng cách chui đường hầm đèo Hải Vân chán ngắt, nhất là gần đây cả mấy đèo như đèo Phước Tượng, đèo Phú Gia cũng đều chui hầm! Không hiểu sao người ta thích chui hầm vậy nhỉ? Đèo Phú Gia chẳng hạn, ở trên cao mới được nhìn bao quát đầm Cầu Hai quá đẹp. Cảnh trời nước mênh mông đó không sao không nghĩ đến một đêm trăng, với chiếc thuyền con và tiếng đàn tiếng tiêu vi vút… hoặc tệ lắm cũng nhớ Phạm Lãi với Tây Thi giong giũi chiếc thuyền nan như trong thơ Tagore

“Sớm mai dậy tiếng thầm/ Ta giong chiếc thuyền nan/ Về nơi không bến hẹn/…Nào ai người biết được/ Cuộc hành hương chúng mình/ Trên cõi đời ô trọc/ Nào ai đôi mắt xanh…” (Tagore. Hành Hương. ĐHN dịch).

Mình quyết định đi đường đèo qua Hải Vân, không đi đường hầm. Và sẽ ghé Lăng Cô, sẽ ghé Hải Vân Quan…

Lăng Cô… đẹp nín thở!

 

May vẫn còn đường xe lửa! Phía xa là đầm Cầu Hai, phần cuối của Phá Tam Giang.

Đường đèo bây giờ cũng không còn ”rùng rợn” như thuở xưa. Đường được mở rộng, đẹp, các ”cùi chỏ” cũng không còn là cùi chỏ.

Lên tới đỉnh đèo may quá, Hải Vân Quan vẫn còn đó. Đông du khách. Xưa nghe vua Lê Thánh Tông đã gọi nơi đây là ”thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Hải Vân quan là ranh giới giữa Huế và Đà Nẵng. Chỉ cách một ngọn đèo thôi mà nếp sống đã khác, ngôn ngữ, phong tục cũng đã khác rồi! Hồi xưa ”Con trai xứ Quảng ra thi/ thấy cô gái Huế chân đi không đành…”  thì nay không biết có còn cảnh bịn rịn đó không nũa!

 

Hải Vân Quan

Nhớ năm ngoái, Nguyễn Quang Chơn còn đưa Tâm (bà xã Chơn) và mình lên Hải Vân Quan ngắm… sương mù! Hôm đó sương mù dày đặc, không thấy đường, nếu không đã vọt luôn qua đèo vì có hẹn với Nguyễn Trọng Chức và Ngô Tiến Nhân, Thanh Bình dưới chân đèo bên kia. Rốt cuộc cả nhóm cũng đã gặp nhau ở Đà Nẵng và nhớ mãi 3 chàng đã cưa đứt chai Chivas lớn… (Mới thôi mà Chơn đã phải đặt một stent, Nhân đặt 3 stents… còn Chức vẫn là một chàng ”KT” hào hoa phong nhã sau chuyến đi Tây Nguyên vừa rồi).

Lần này mình không ghé Nguyễn Quang Chơn. Đà Nẵng đang ồn ả quá rồi, pháo bông ì ầm nữa. Bạn bè của Chơn từ Bắc chí Nam về đông vui. Chơn vất vả chỉ phone thăm và hẹn anh Ngọc dịp khác.

Và… Hội An đây rồi!

Cứ thấy Chùa Cầu là thấy Hội An. Nhất là khi có những nàng tiên áo trắng thấp thoáng.

 

Chùa Cầu nhìn từ bên kia sông Hoài.

Ai đã đặt tên cho dòng sông nhỏ nhắn thơ mộng tách từ sông Thu Bồn chảy vào phố cổ với cái tên rất hoài nhớ đó vậy nhỉ?

Buổi tối, nhằm ngày 14 âm lịch, sông Hoài trở nên sống động diệu kỳ với muôn màu sắc hoa đăng đằm thắm rực rỡ, với những chiếc thuyền lang thang xuôi ngược làm ta có cảm giác như được sống trong huyền sử nào xa…

Nhớ bài thơ viết về Hội An năm nào:

Hội An đêm: ”Bập bềnh con sóng rợn/ Nghìn lồng mắt chao nghiêng/ Những linh hồn thức dậy/ Thở cùng Hội An đêm…” (Thơ Ngắn Đỗ Nghê).

 

 

Tối ngày 14 âm lịch, đèn bỗng tắt ngúm hết, trong vài tiếng đồng hồ, thả cho người ta mặc sức sống về đêm dưới ánh trăng huyền ảo tuyệt đẹp. Nhưng một ông… hơi già như mình, đi lang thang chen chúc giữa đám đông chỉ càng thấy… tủi thân, cô đơn và cô độc. Trong bóng mờ thấy một người ngồi thiền bên bờ sông Hoài là có vẻ gần gũi nhất, nhưng không tiện hỏi han. Một nhóm thanh niên đàn hát quyên tiền làm từ thiện, một nhóm chơi trò chơi… đâp niêu ầm ỉ. Có một cái chợ đêm trời ơi bán đủ thứ trên đời, quà lưu niệm, thức ăn các thứ… hết sức náo nhiệt.

Mình có một buổi đi thăm làng gốm, được nắn nót chút đất sét thấy thương làm sao.

Rồi đi tắm biển ở bãi An Bàng. Rất thích. Tây ta, già trẻ lớn bé lũ lượt… Và phải nói người dân buôn bán ở đây rất đàng hoàng tử tế, không có cảnh tranh giành chèo kéo như ở một số bãi biển đông người khác.

 

Gặp bác sĩ Huỳnh Kim Hơn, dân Hội An, người tự nhận là học trò mình, dù tốt nghiệp Y khoa Huế. Hơn đến sớm, đưa mình đi một quán cafe đặc biệt: Cafe Lạc Viên. (Phải mở ngoặc nói thêm, trước đây nhà thơ Hoài Khanh đã từng sống nhiều tháng ngày cùng với bs Hơn ở Hội An).

Rồi hẹn Khiếu Thị Hoài cùng đến Lạc Viên, quán cafe của anh Minh, chị Mai. Nói quán cafe ”đặc biệt” vì đích thân hai vợ chồng chủ nhân pha chế, bưng bê… và chỉ bán đến 10g sáng là đóng cửa, trời kêu cũng không mở. Cafe thì tự chủ nhân xay lấy, tự pha chế. Bàn cafe thì đặt đâu để đó, không được di chuyển. Có ba bốn tủ sách bao quanh. Mà trời ơi, bất ngờ có hằng chục cuốn của Đỗ Hồng Ngọc. Quán Lạc Viên nằm trong cái hẽm nhỏ mà đông nghẹt. Gần như chỉ bạn bè quen biết. Không nhạc, không thuốc lá. Chủ nhân mừng gặp mình, cùng chụp chung mấy tấm hình kỷ niệm.

Từ trái: Khiếu Thị Hoài, Hường, Huỳnh Kim Hơn, ĐHN. (Quán cafe Lạc Viên, Hội An, 1.5.2018). Dĩ nhiên không quên ”phát hành” Thơ Ngắn Đỗ Nghê cho các bạn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sáng đó, Hoài còn đưa mình đi thăm chùa Bảo Châu. Chùa Ni. Thầy đi vắng. Chùa rất thanh nhã. Có một câu đối thấy Hoài ghi chép kỹ: ”Châu tự tâm sinh vô giá châu/ Bảo tùng tha đắc phi chân bảo”…

Ngày hôm sau, 2/5 đã phải bay về Saigon rồi. Mình ghé thăm thêm một ngôi chùa nhỏ ở ven Hội An nhìn ra sông Thu Bồn mênh mông: chùa An Lạc. Gặp thầy trụ trì Đồng Nguyện đàm đạo rất hay.

Chùa Bảo Châu trên đường Cửa Đại.

Chùa An Lạc

 

Đàm đạo cùng Thầy Đồng Nguyện, trụ trì chùa An Lac, (Hội An 2.5.2018)

 

Nơi sông Thu Bồn tẻ nhánh chia một sông Hoài cho Phố Cổ, Hội An (ĐHN, tháng 4.2018)

 

 

 

 

 

 

 

 

“Thanh tịnh bổn nhiên” mãi nhé Hội An!

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(8.5.2018)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Và, một cuốn tái bản: Chẳng Cũng Khoái Ru?

21/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chẳng Cũng Khoái Ru?

 

 

Tựa:  Chẳng cũng khoái ru?

Mười năm trước, gần tuồi 70, tôi gom góp một số bài viết rải rác đây đó để đọc lại cho vui, những chuyện rất đỗi “đời thường’’, chuyện ăn chuyện ngủ, chuyện hít thở, chuyện vệ sinh, ốm đau bệnh hoạn như Ai biểu già chi, Thở không chỉ là thở, Ăn không chỉ là ăn, Càng già càng dẻo, Bác sĩ nhà quê…v.v. và in chung trong một tập với tựa là Chẳng Cũng Khoái Ru?

Không ngờ sách bán chạy, gần như tôm khô, in nối mấy lượt, tái bản mấy lần. Có ông bạn già ở Hà Nội gọi phone hỏi nghe nói mới có cuốn Khoái cũng chẳng ru hay Ru cũng chẳng khoái gì đó phải không, gởi gấp cho một cuốn. Ông bạn khác ở miền Tây bảo ở đâu bán Chẳng khoái cũng ru. Chẳng ru cũng khoái gì đó để… sưu tầm!

“Chẳng cũng khoái ru?” là một câu trong Luận Ngữ “bất diệc lạc hồ” nói về học với hành, về gặp lại người bạn xưa… Sau này Kim Thánh  Thán (Thế kỷ 17) viết 33 nỗi vui đơn sơ của ông như trời đang nóng bức mà ập tới cơn mưa rào, như mở cửa sổ cho con ong bị kẹt bay ra, như đốt bỏ đống giấy nợ cũ…và chuyện nào cũng kết: chẳng cũng khoái ru? Nghĩ lại, mình cũng có nhiều thứ ‘’khoái ru’’ lắm chứ mà sao chẳng hay chẳng biết?…

Hầu như chúng ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Nên chẳng có lúc nào ta khám phá được những ‘’khoái ru’’ ở đây và bây giờ. Anh ngữ có một từ hay: Present, vừa có nghĩa là hiện tại, vừa là sự có mặt, vừa là món quà tặng. Nói khác đi, “sự có mặt trong hiện tại chính là một món quà tặng” của cuộc sống. Khi ta chợt thấy ra và reo lên trong lòng: Chẳng cũng khoái ru? ấy là lúc ta sống với hiện tại, sống trong hiện tại. Và ‘’phép lạ’’ quả thật đầy dẫy quanh ta, trong từng phút giây mà ta không “thấy biết”.

Chẳng cũng khoái ru? tái bản lần này có “cập nhật” và bổ sung thêm ít bài mới. Tuy nhiên, khi đọc mà bắt gặp một vài bài nghe quen quen, hình như đã đọc đâu đó rồi, thì cũng hãy mỉm cười rằng: “chẳng cũng khoái ru?” nhé!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 1, 2018)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Có một cuốn sách mới: Thoảng Hương Sen

21/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thoảng Hương Sen

 

Tập hợp đa số các bài viết từ suy gẫm về Phật học & Đời sống trên Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo để chia sẻ cùng bè bạn thân quý gần xa.

Ngắn gọn. Chữ to. Dễ đọc cho người có tuổi.

Và dĩ nhiên, dành cho cả các bạn trẻ quan tâm đến một nếp sống an lạc, hạnh phúc…

Đỗ Hồng Ngọc.

 

T h a y l ờ i t ự a

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(Ca dao/ Quốc văn Giáo khoa thư)

Từ những ngày còn thơ dại ai mà chẳng nghêu ngao

Trong đầm gì đẹp bằng sen/

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng…

Thế rồi khi dấn bước vào đời người ta đã quên bài học
ngày xưa đó. Mải mê tìm kiếm một búp sen vàng sen bạc
rực rỡ hào quang ở tận chân trời. Cho đến một hôm giật
mình ngó lại: thì ra cái Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
kia rốt cuộc cũng chỉ là Nhị vàng bông trắng lá xanh đó thôi.
Chẳng thêm chẳng bớt.

Nó vậy đó. Nó như thị. Nó Như Lai.
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng coi lăng xăng, chen
chúc, quần quật, xanh đỏ tím vàng vậy cũng chỉ để rồi rốt
cuộc Nhị vàng bông trắng lá xanh…

Đừng tìm đâu nữa cho mất công.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích (Trần Nhân Tông).

Của báu trong nhà sẵn đó rồi! Viên ngọc trong chéo áo

người cùng tử sẵn đó rồi. Chẳng qua vì không thấy biết.

Cái đóa sen đó cứ xòe ra rồi khép lại. Khép lại rồi xòe ra.
Từ nghìn xưa cũ. Đóa sen của thiên thu vẫn lung linh giữa
gió và nước, như tủm tỉm cười, thoảng ngát hương thơm…

Mà chợt ngộ một điều cốt lõi: Gần bùn mà chẳng hôi
tanh mùi bùn!

Nó tuyệt vời bởi nó giản đơn. Nó chung thủy. Nó chẳng
vì ai để tỏa hương. Nhưng cũng đủ làm cho cái mùi bùn kia
trở nên nhu mì, yểu điệu…

Khai thị là để ngộ nhập. Nhập về đâu? Về Như Lai tạng.
Về bào thai Như Lai. Về Chơn tâm thường trú. Về Thể tánh
tịnh minh.
Nhưng, không chỉ vậy. Nhập còn là nhập thế. Đóa sen
không chỉ nhập vào cõi Phật mà còn nhập vào cõi bùn nhơ
giữa chốn Ta-bà.
Sen vậy đó. Tìm kiếm đâu xa.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 3.2018)

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Kỳ 20: Phật học & Đời sống: Từ Bi Với Mình

19/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 20:              PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Ngày 14.4.2018 tại chùa Xá Lợi , Saigon (Tp.HCM)

TỪ, BI, HỶ, XẢ (tiếp theo)

                             Từ Bi Với Mình

 

Cảm ơn nvquyen.

ĐHN

……………………………………………………………………………………

Thông báo:

Thứ bảy 21.4.2018 sinh hoạt bình thường từ 15-16h30 tại Chùa Xá Lợi 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp.HCM.

Thân mời các bạn tham dự.

Lớp nghỉ 2 buổi Thứ bảy 28.4 và 5.5.2018.

Sẽ tiếp tục sinh hoạt lại vào ngày Thứ bảy 12.5.2018.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Thư gởi bạn xa xôi: Còn Bấc

16/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Còn Bấc…

(Photo by Đỗ Hồng Ngọc)

Bạn thấy đó. Mình ngày càng lười biếng kinh khủng. Hứa rồi… quên. Phải chờ bạn nhắc đôi lần. Già nó vậy. Thôi kệ nghen!

Giữa tháng 2 âm lịch rồi mà còn Bấc bạn ạ. Còn bấc nghĩa là còn Tết phải không? Hồi nhỏ bọn mình ở Phan Thiết cứ nghe gió bấc hiu hiu về và mùi cốm thoang thoảng là biết ngay Tết đến. Được mặc bộ pyjama mới với đôi guốc xuồng mộc, lốp cốp nện trên đường Gia Long Đồng Khánh phố chợ và Trưng Nhị Trưng Trắc bờ sông đó nhớ không. Có một thứ mùi thơm đặc trưng suốt dọc con sông Cà Ty: nước mắm Phan Thiết.

Cái thứ gió bấc se se lạnh sượt qua da, mang theo cái mùi nước mắm  thoang thoảng và mùi cốm gừng đường tán nồng nàn đó đủ nghe Tết tràn đầy khắp ngã. Qua trường thấy cả bầy bướm tung bay phất phới áo dài trắng đến nỗi mình kêu lên “bấc ơi bấc thổi/ làm xuân tràn đầy” nhớ không?

Với mình, cái thứ gió bấc miền biển vùng mình nó như đánh bật khứu giác, xúc giác, thính giác, vị giác… nói chung là lục căn không sao còn thanh tịnh được nữa dù mình đang ở trong một ngôi chùa nhỏ cạnh bờ sông. Ở Saigon hơn nửa thế kỷ, vậy mà lúc nào mình cũng thấy ” đi giữa Saigon/ phố nhà cao ngất/ hoa nở rực vàng/ mà không thấy Tết” để rồi chỉ “một sáng về quê/ chợt nghe gió bấc/ ơ hay xuân về/ vỡ òa ngực biếc!” (ĐHN)…

Lần này về Mũi Né giữa tháng hai âm lịch tưởng đã hết Tết, vậy mà còn bấc. Mình vẫn thấy lâng lâng, ngơ ngác, bâng khuâng, một thứ “mùa ơi gió bấc nhớ không ngờ” nào đó đã vời vợi xa (Mũi Né, ĐHN).

Gió quần quật trên những ngọn dừa. Gió mặn. Gió rải muối trên thảm cỏ trên thềm nhà ẩm ướt không khô.

 

 

Biển vắng. Sóng lớn. Buốt lạnh dù giữa trưa nắng gắt. Thuyền bè né núp đâu hết, để lại một cái biển hoang ầm ầm sóng giận. Thỉnh thoảng mới thấy một bóng người lang thang hay túm tụm thì thầm đâu đó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Và đó là lúc ngư dân vá lại tấm lưới để sẵn sàng cho một ngày tới khi trời yên bể lặng.

 

 

 

 

 

 

 

Có vẻ như mấy cây bàng dọc biển cũng chịu không nổi gió bấc. Chúng đành khoét lỗ chỗ trong lá cho gió xuyên qua… Nhà thơ Khánh Minh bảo đó là lá bàng “rỗ hoa bóng nắng”…

 

 

 

Ơ mà đừng quên món bánh xèo bánh căn bên lò than hồng giữa mùa bấc lạnh nhé…

 

 

Đường về quê bây giờ cũng đã thoáng, đẹp, nhất là đường dọc biển.

 

Rồi lạ thay. Sáng hôm sau trời lại im phăng phắc. Bình minh lại rạng ngời. Biển lại mời gọi. Như không hề có một chút bấc nào cả đêm qua!

(Photo by Do Hong Ngoc)

 

Kể lung tung cho bạn nghe vui thôi nhé.

Hẹn một hôm nào,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Mũi Né 2.4.2018) 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 19: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG (Chùa Xá Lợi, Saigon)

13/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Kỳ 19:      PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Ngày 7-4-2018, tại Chùa Xá Lợi, Saigon (Tp.HCM)

                         TỪ, BI, HỶ, XẢ (tiếp theo)

Thân mời các anh chị, các bạn xem video clip do nvquyen vừa gởi đến.

***

Ngày mai, Thứ bảy 14.4.2018, tiếp tục Kỳ 20: Phật Học & Đời Sống, lúc 15-16h30 tại Phòng học Chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3.

Chủ đề: Từ Bi với mình!

Thân mời các anh chị, các bạn tham dự,

Cảm ơn quyen,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Đôi dòng về ”ĐƯỜNG VỀ NHÀ” của Thái Kim Lan

10/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“chẳng có nơi đâu là chốn xa nhà…” (*)

Đỗ Hồng Ngọc

Cứ tưởng tượng một phụ nữ Huế nhẹ như cây sậy mặc áo dài phất phơ như cánh bướm đứng ở giảng đường một trường Đại học nào đó ở Đức dạy triết học cho… người Đức, thì chắc là hết sức thú vị. Thái Kim Lan đó!

Hãy nghe Thái Kim Lan nói về Hegel và Thiền: ‘’Thiền dừng lại nơi cánh cửa “mở ngõ” ấy, không khép kín và dặn đừng khép kín, nên dừng lại nơi TÍNH KHÔNG như khả thể hội nhập thể tính đồng nhất (unite) giữa vô thường và tuyệt đối, như một khả năng TỰ DO sáng tạo tính nhất thể “núi nhìn ta, ta nhìn núi” nơi một chân trời đã gột rửa hết những đám mây vô minh chấp trước vào một cái ngã ảo tưởng… nơi chân trời tuôn trào sáng tạo của “vô danh thiên địa chi thủy”.

Hegel thì không! Hegel khép cánh cửa hiện tượng luận, khép tròn biện chứng thành một hệ thống khoa học khởi từ một chủ thể tuyệt đối rỗng không đã được đổ đầy nội dung khách thể, một chủ thể tuyệt đối với tính khách quan phổ quát làm nền tảng cho khoa học. Hegel chìm đắm trong tuyệt đối của duy tâm. Có phải Hegel là một Huệ Khả chưa giác ngộ?

Nhưng Hegel có thể trở về để gặp Thiền nơi một chung trà nhỏ’’

Nghe lùng bùng chưa. Nhưng triết học thì phải vậy. Điều gì đơn giản phải làm ra phức tạp… . Vì thế mà Hegel chỉ cần một chung trà nhỏ. Nếu không thì Hegel vẫn cứ là một Huệ Khả chưa giác ngộ.

Cái may lớn nhất tôi nghĩ của Thái Kim Lan là đã lớn lên ở Huế, đã thấm đẫm Phật giáo từ ngày còn thơ nên giữa một rừng triết học mênh mông, giữa một thứ ‘tánh Đức’ kỳ đặc… thì cũng không ra khỏi bàn tay Như Lai với Nhất thiết chủng trí…

Nhưng bất ngờ với tôi khi đọc Thái Kim Lan là điều quan trọng lại không phải chuyện triết học, không phải chuyện ‘’cây sậy biết suy nghĩ’’, chuyện ‘’tôi tư duy vậy có tôi’’, chuyện phi lý, duy tâm duy vật chi đâu, bởi những chuyện đó chẳng qua cũng chỉ để cãi nhau chí chóe, không ai chịu ai, không ai biết im lặng như Duy Ma Cật khi nói về Bất Nhị. Điều quan trọng ở đây lại là chiếc áo dài phất phơ như cánh bướm kia và ‘’văn phong thi vị và trong sáng’’ nọ mà Trần Văn Khê đã tấm tắc ngợi khen:

“…người phụ nữ Huế ấy vừa tài giỏi trong nghiên cứu giảng dạy triết học, vừa có cách viết  về Phật giáo giản dị và đầy thiền vị, lại có một văn phong thi vị và trong sáng’’ (Trần Văn Khê).

Hãy nghe Thái Kim Lan kể về áo dài:

‘’Năm 1965, khi tôi sang Ðức du học, “gia tài” tôi mang theo là sáu bộ áo dài bằng lụa nội hóa. Ngày khai giảng đầu tiên, tôi cùng năm nữ giáo viên khác cùng du học đến trình diện ở trường trong những chiếc áo dài. Những đồng nghiệp ngoại quốc dự khai giảng ngỡ ngàng khi thấy trang phục của chúng tôi. Họ trầm trồ trước vẻ uyển chuyển thướt tha và ngợi khen đây là một trang phục rất lạ, đẹp, lịch sự và thích hợp với dáng dấp mảnh khảnh của phụ nữ Á Ðông”.

Thì ra ‘’áo dài Việt Nam’’ đã chinh phục được xứ sở ‘’triết học’’ mà không cần phải ‘’thiệt chiến quần nho’’ chi cả, để rồi từ đó

“…ÁO DÀI giúp tôi đắc lực nhất, thể hiện sức mạnh chinh phục của nó đối với những người khách chung quanh bằng sự vững chãi và tự tin, tự chủ là người Việt giữa muôn người.”

Khi TKL gởi tôi tập sách Đường Về Nhà này kêu tôi ‘’noái’’ đôi lời, tôi bất ngờ thấy có Đường sương, Đường mưa, và cả ‘’Đường phượng bay mù không lối vào’’ (TCS) mà Đường Về Nhà thì không thấy đâu cả! Sao vậy? Vì sao mà TKL cứ loay hoay tìm kiếm đường về nhà  mà vẫn không thấy đâu? Có phải từ cái lúc bứng mình ra khỏi Huế ? hay từ cái lúc cấy mình vào một thứ thổ ngơi xa lạ kia?

Chắc không ít lần nàng kêu lên Đi về sao chẳng về đi/ Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về? (Đào Tiềm), nhưng rồi cũng không ít lần giật mình: ‘’chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà’’ (TCS). Cho nên Ôn Từ Đàm đã nói chính xác:

“Ừ răng nghe lạ! Xác bên nớ mà hồn thì ở bên ni, nói nghe như người nằm ngủ nói mê!”.

Ðôi khi… giữa hai điểm hẹn căng thẳng trong cái lưới nhện của đèn xanh đèn đỏ xứ người, trong sự hối hả quay cuồng của thời gian ngộp thở trong hệ thống máy móc công việc của Âu châu, trong sức căng thẳng trí óc với chiếc xe hơi nhấn hết ga trong thành phố viễn xứ, bỗng dưng – vâng bỗng dưng! – vì không có một định luật liên tưởng hoài niệm nào đang vận hành trong giây phút ấy – bỗng dưng vọng lại bên tai mấy câu Kiều …”

Nàng cứ loay hoay giữa đi và ở. Cứ dùng dằng như con Sông Hương không chảy trong thơ Thu Bồn.

Thì mới đó, mấy ngày trước tôi nhất quyết năm ni sẽ ăn Tết ở Muenchen, bộ tịch của tôi chắc mẩm, tỉnh bơ, lạnh lùng, khi rời Huế. Ấy thế mà…

Thì đi, không nên dây dưa như những lần trước, dứt khoát mà đi, đừng có nhớ nhung lôi thôi kiểu Huế, nhớ này nhớ nọ mất công, lòng dặn lòng như thế, nằm nghiêng cánh gối, như chuẩn bị một thế hờ hững với mọi ngổn ngang có thể có vài giờ sau…

Cái gì đã giữ cô lại. Thì ra mưa. Mưa Huế. Rồi nắng. Nắng Huế. Rồi thu vàng rồi lá đỏ rồi rêu xanh…’’ cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường’’ (Quốc văn giáo khoa thư).

Rồi Mạ, rồi Bà, rồi em, rồi chị… rồi Phật Đản, rồi Vu Lan, và Tết… Ăn Tết nơi mô? Ăn Tết ở nhà,  Nơi tôi ăn Tết, Tết xưa… bao nhiêu là tết  trong Đường Về Nhà này đó vậy.

Cho nên đã mấy mươi năm ăn Tết ở Muenchen, thật ra không phải “ăn” mà hoá ra “nhớ”. Nhưng về Huế, ăn Tết thì quả có ăn Tết thiệt, ấy thế mà lại thiếu chút chi cái “nhớ Tết Huế” ở nơi Muenchen, tuồng như cái nhớ đã mắc vào người, khó gỡ… Rứa là Huế – Muenchen cứ như tơ vò.

Còn cái ‘’văn phong thi vị và trong sáng’’ thì sao?

Thì, này là phượng huế: ‘’Sáng, trưa, chiều, màu hoa đỏ như môi son thiếu nữ nhoẻn nụ cười tươi nhất trên khắp các nẻo đường xứ Huế, khiến cho người Huế ở kiếp nào cũng sẵn lòng đổ mồ hôi hột, nhễ nhại trần thân chịu cơn nắng suốt cả đời người, để được một sáng ra đường gặp hoa, buổi trưa tình cờ thấy hoa và buổi chiều đi về với hoa trong những ngày hè thét lửa’’.

Thì, này là thu huế:

Huế đang vào thu! Những bước đi vào mùa của Huế thật là lạ lùng, bất chợt, làm cho mỗi giác quan của con người cứ bối rối ngẩn ngơ, không biết đón nhận buổi giao mùa bằng một thứ tình chi cho vừa lòng kẻ đến…”

Và cứ thế, cho những mai sau dù có bao giờ…

‘’Và cứ thế những ngày qua đi, không vội mà như có tiếng giục giã của thời gian đang nhuộm lần sắc nhớ… Có những khi… trong cuộc sống dồn dập ở xứ người, khoảng ngăn cách vời vợi giữa Huế và Muenchen, khoảng thời gian mấy mươi năm hun hút chia xa tuổi học trò với tuổi mai sau…

Để rồi,một mai hễ  vương gió bên này thì lại nhớ mưa bên nớ, thấy nắng bên kia mà nhớ tuyết bên này. 

Hạnh phúc ấy từ đó đọng sâu trong tiềm thức, qua năm tháng đã trở nên những xao xuyến vô hình thôi thúc trở về trong nỗi nhớ, lắm khi chẳng biết vì sao”.

 

Đọc Đường Về Nhà mà thương cho một Thái Kim Lan bơ vơ, trăn trở, mà nghe như có tiếng thời gian chạm vào ‘’đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà’’ (Nguyễn Xuân Sanh)…

 

(ĐHN)

Saigon, 8.4.2018

……………………………………………….

(*) Thái Kim Lan (Đường Về Nhà)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Linh Thoại với THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

04/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Linh Thoại (Tuổi Trẻ) có một status trên facebook, viết mấy dòng cảm nghĩ về Thơ Ngắn Đỗ Nghê vừa gởi tôi để chia sẻ cùng ”Chú Ngọc”. Cô khoe viết linh tinh vậy mà đã có hơn 100 bạn ”like”… rồi đó chú!

Dưới đây là status của Linh Thoại về Thơ Ngắn Đỗ Nghê:

 

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

(Bông hồng cho mẹ, Đỗ Hồng Ngọc, 2012)

Bài thơ này nhỏ mình biết đến lần đầu khi phỏng vấn tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong một quán café ở Quận 3, Sài Gòn. Chú và mình trò chuyện quanh quyển Thấp thoáng lời kinh, loanh quanh thế nào mà nói sang thơ ca, mình không còn nhớ rõ. Chú đọc cho mình nghe 4 câu đó, mình ấn tượng ngay. Những câu thơ nằm ngoài chủ đề câu chuyện nhưng mình vẫn tìm cách đưa vào bài viết. Trí nhớ mình đúng là thiên vị thơ, nhớ mãi 4 câu thơ từ hôm đó…

Với mình, ẩn sau “Bông hồng cho mẹ” là một ngày lễ dễ thương của văn hóa Phật giáo, văn hóa Việt: Lễ Vu Lan. Ẩn sau bài thơ giản dị đó là cả cái nhìn của phương Đông về hai cõi âm – dương. Mà thật ra, chẳng âm dương cách biệt gì cả, “ngoại”, “mẹ” và “con” đều ở đây, trong bài thơ nhỏ này, trong tâm tưởng của “con” – “con” nay đã nhìn về Còn – Mất trong cõi Ta-bà một cách nhẹ nhàng, an nhiên, dù đã bao mùa Vu Lan “con” cài hoa trắng, đóa hồng kia “con” “nhường” cho mẹ, mẹ ơi…

20 chữ thôi, mà khiến người đọc thấy cả ba “nhân vật” đều gần gũi, thấy yêu văn hóa Việt, yêu cuộc sống quá nhiều yêu thương và quá đỗi vô thường này…

Bẵng qua 5, 6 mùa Vu Lan, mình gặp lại bài thơ, lần này được in trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê (Đỗ Nghê là một bút danh khác của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc), không khỏi thấy vui, không khỏi muốn nghe chính lời tác giả vang lên, như buổi chiều năm nao…

Mình mang tập thơ về, để ở đầu giường, một hôm thức dậy, trí não còn ngái ngủ, quơ tay lên mở sách, đọc đúng một bài rồi gấp sách lại vì nước mắt chảy:

Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút

Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con

Nỗi mất!
(La Ngà 5, 1990)

Mình may mắn chưa có trải nghiệm đau đớn như vậy về nỗi mất, vậy mà 19 chữ kia cứ như một vết cắt bất thần vào con tim nhỏ…Lại một câu chuyện của sống chết vô thường, của có – không – còn – mất, của cõi đời mong manh cõi lòng mong manh…

Đâu cần dông dài, đâu cần khoác áo gấm áo lụa cho ngôn từ, đâu cần chiều kích suy tưởng, thơ, đôi khi chỉ cần là tiếng nói chân thật giản dị của khoảnh – khắc – trái – tim – cất – lời – như – không – khác – đi – được, vậy mà cứa đau, vậy mà xoa dịu…Mối tương giao và tri âm giữa người thơ với người đọc, đôi khi cũng lạ lùng như thơ vậy.

Nãy giờ mình nhắc hai lần chữ “vô thường”, với cả tập thơ, đúng là lẽ vô thường, “bài học” có – không bàng bạc khắp trong cái nhìn về đất, nước, sóng, hơi thở, tình yêu, tuổi già, về buổi ngày, buổi đêm, về sợi tóc bạc, về tấm thân tứ đại này….

Tình thương ư? Có một nỗi nhớ rất “y học” thế này:

Thôi hết cồn cào
Thôi không quặn thắt

Chỉ còn âm ỉ
Chỉ còn triền miên

Thì thôi cấp tính
Thì đành kinh niên
(Nỗi nhớ, 1995)

Vô thường ư? Cái thấy của y học đi cùng với cái thấy của thiền học:

Ta bay vù vù trong không gian
Mà cứ tưởng nằm im
Trên gối

Mỗi ngày ta rơi rụng
Mỗi ngày ta phục sinh
Mà cứ tưởng không hề thay đổi…
(Vô thường)

Có một bài mang tên “Về Thiền tập” tác giả để cuối tập thơ, mình không chép lại ở đây, thay vì vậy, mình chép “bài thơ 2 chữ” tác giả nhắn cho mình, sau khi nhìn thấy cái tựa “giựt gân” không đúng tinh thần bài điểm sách trên 1 tờ báo mạng:

Thôi kệ!

(“Thôi kệ!”, hai chữ đó, với con là “thơ ngắn Đỗ Nghê”, là “thơ Trịnh Công Sơn”, là “thơ thiền’ đó chú Ngọc ơi!  🙂 )

Trong lời đề tựa cho tập “Kinh thi” từ ngàn năm trước (mà Đỗ Hồng Ngọc có dẫn lại), Chu Hy viết rằng thơ là giọng điệu cung bực “như không thôi đi được” của “những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than”. Nghĩ về thơ như thế, cảm thơ ai, cảm thế nào ắt phải tùy tạng người, tùy khoảnh khắc, tùy không gian, tâm thế…, thật không dễ luận bàn, có phải?. Như dễ gì lại có một sớm mai, 1 bài thơ nhỏ đánh thức một đứa người lớn đang ham ngủ vùi.

(Linh Thoại)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

ĐHN: Phật dạy con (Nguyên Giác dịch Anh ngữ)

04/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Nguyên Giác Phan Tấn Hải, tác giả của nhiều cuốn sách về Thiền học có giá trị, thực hiện một Blog Phật học song ngữ Việt Anh, VietRahula nhằm giúp giới trẻ ở hải ngoại có cơ hội tiếp cận Phật học.

Anh vừa gởi tôi bản dịch bài PHẬT DẠY CON. Xin trân trọng giới thiệu đến các bạn.

Viet Rahula, A Bilingual English-Vietnamese Blog — Trang Song Ngữ Anh-Việt — Webmaster: NguyenGiac@gmail.com

 

Tuesday, April 3, 2018
Phật dạy con

By Đỗ Hồng Ngọc

Phật tử thì ai chẳng là con Phật. Thế nhưng, La Hầu La là… con Phật lúc Phật còn là Thái tử. Một người con huyết thống. Trong cái đêm rời bỏ cung điện, “quyết tìm đạo sáng cứu chúng sanh” đó, Thái tử Tất-Đạt-Đa hẳn đã ít nhiều quyến luyến. Khi Phật thành đạo, có dịp về thăm Vua cha thì La-hầu- La đã lên bảy tuổi. Và ngay dịp đó, La Hầu La cũng xin theo Phật, xuất gia.
Tò mò coi Phật đã dạy La Hầu La những gì… để học lóm cũng hay!

Trước hết, Phật giao La Hầu La cho… ông “thầy dạy kèm” là Xá Lợi Phất. Sao lại Xá Lợi Phất mà không phải ai khác như Mục Kiền Liên chẳng hạn? Xá Lợi Phất thì mới đúng là một ông giáo, kiến thức uyên bác, đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật mà. Phật giao cậu bé La Hầu La cho Xá Lợi Phất dạy dỗ là muốn La Hầu La đi vào con đường tu tập bằng trí tuệ trước hết. Nếu Mục Kiền Liên mà làm thầy có khi La Hầu La mê… thần thông mất! Phật không trực tiếp dạy La Hầu La vì cha mà dạy con không dễ, nhứt là ông con có máu làm vua!

Và bài học đầu tiên Xá Lợi Phất dạy La Hầu La là thở. Tức là dạy kỹ năng đầu tiên của thiền định. Bởi đây cũng chính là con đường khai mở trí huệ. Có chánh định rồi mới mong có chánh kiến, chánh tư duy… chớ phải không? Thở là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Ngay từ lúc sinh ra thì đã phải thiết lập ngay hơi thở đầu tiên – tiếng khóc “chào đời”- nếu không thì không có sự sống.

Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra
(Nguyễn Gia Thiều).

Mới sinh ra thì đà khóc chóe

 Trần có vui sao chẳng cười khì
(Nguyễn Công Trứ).
“Chào đời” bằng một tiếng khóc nên mới có “Khổ, Tập, Diệt, Đạo”!
Cuộc sống càng căng thẳng, càng đam mê, càng nhiều tham sân si nghi mạn tà kiến… thì người ta càng dễ quên thở. Người ta chỉ thoi thóp thở, khò khè thở, hời hợt thở, cà giựt thở, cà hước thở cho qua ngày đoạn tháng! Cho nên phải dạy thở trước hết cho La Hầu La là đúng.
Nhưng thở không chỉ là thở. Thở để thấy một kiếp người. Thở để thấy vô thường, vô ngã. Thở để thấy duyên sinh, thấy thực tướng vô tướng. Dĩ nhiên, Xá Lợi Phật sẽ dạy La Hầu La một cách đúng sư phạm, không sợ “tẩu hỏa nhập ma”!
Phật… vẫn phải theo dõi sát chuyện học hành của cậu bé La Hầu La. Khi thấy cậu đã biết thở, có chánh niệm, tỉnh giác, tinh cần rồi thì Phật mới bắt đầu dạy… đạo đức, lối sống. Nào không được nói dối – nào phải nghĩ kỹ trước mỗi ý tưởng, cử chỉ, lời nói… xem điều nào nên hay không nên làm, điều nào có hại, xấu ác thì không được làm, điều nào hay phải,  lợi mình, lợi người thì làm.
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý

Trong khi chuẩn bị làm điều chi bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu: hành động này có gây tổn hại cho mình hoặc cho kẻ khác không. Nếu, sau khi suy xét, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con hãy đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm.”
Trong các yếu tố thân khẩu ý thì “khẩu” có lẽ là quan trọng nhất để tạo nghiệp mặc dù nó được dẫn dắt bởi ý (ý dẫn các pháp) nhưng ý không bộc lộ ra để dễ nhận biết, chỉ có khẩu mới ầm ỉ, náo nhiệt, là đầu mối sinh sự, gây chiến!  “Khẩu” chính là kẻ tạo nghiệp số một vậy. Ngày nay “khẩu” không chỉ là lời nói trực tiếp mà còn là cả hệ truyền thông, cả những “status” trên mạng internet, lan truyền khắp thế giới trong nháy mắt.  Cho nên Phật dạy La Hầu La rất kỹ về “khẩu nghiệp”, bắt đầu bằng sự không nói dối. “Thập thiện” dành tới 4 món  cho riêng khẩu: Không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói lời hung ác…

Ở tuổi mới lớn, biết mình là con Phật, được mọi người vì nể, quý trọng, chắc không khỏi có lúc La Hầu La làm phiền nhiễu, buồn lòng người khác. Thậm chí, thỉnh thoảng có thể còn chạy vào méc (mách) Phật điều này điều khác… Phật sẽ mỉm cười xoa đầu dạy hạnh Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn…

khi La Hầu La lớn dần lên, Phật  dạy những bước tiếp theo.
Hãy học hạnh của Đất. Hãy như đất. Đất ở khắp nơi. Đất trong ta. Đất trong vũ trụ. Không có đất, ta không nên hình nên dạng. Không có đất, nhựa nguyên không thành nhựa luyện. Điều quan trọng: đất không hề phân biệt. Ném một thỏi vàng hay một đống rác xuống đất, đất vẫn « như như bất động »…Chẳng mừng chẳng giận.
Hãy học hạnh của Nước. Hãy như nước. Nước ở khắp nơi. Nước ở trong ta chiếm đến ba phần tư thể trọng. Cũng như biển cả sông ngòi chiếm ba phần tư mặt địa cầu. « Nước trôi ra biển lại tuôn về nguồn » (Tản Đà). Chẳng thêm chẳng bớt…
Hãy học hạnh của Gió. Hãy như gió. Gió ở khắp nơi. Gió trong ta.  Trong bầu khí quyển. « Gió không có nhà/ Gió đi muôn phương… ». Đâu cũng là nhà của gió. « Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không ? Để gió cuốn đi ! » (TCS).
Hãy học hạnh của Lửa. Hãy như lửa. Lửa ở khắp nơi. Lửa trong ta. Lửa trong vũ trụ. Lửa ở mặt trời. Lửa giữa lòng đất. Lửa ở trong cây. Không có lửa sao cọ xát thì cây bốc lửa ? Lửa đốt cháy hết tham sân si. Lửa tam muội ngùn ngụt trong chánh định…
Tứ đại « đất, nước, gió, lửa », chính là những yếu tố cơ bản, Nitrogen (đất) Hydrogen (nước) Oxygen (gió), Carbon (lửa), những nguyên tố C, H, O, N tạo nên protein, chất liệu cuộc sống. Từ đó mà có vạn vật, từ đó mà có ngũ uẩn : sắc, thọ, tưởng, hành, thức…

Và dĩ nhiên Phật đã không quên nhắc đi nhắc lại với La hầu La: « không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta ».

Không phải của ta thì việc gì phải tham !
Không phải là ta thì việc gì phải sân !
Không phải là tự ngã của ta việc gì phải… si !

Vậy là đã đủ.

.
How the Buddha taught his son
By Đỗ Hồng Ngọc

Translated into English by Nguyên Giác

We are Buddhists and behave ourselves as children of the Buddha; however, Rahula had been already the son of the crown prince who later became Buddha. A biological son. In the night Prince Siddhartha left the royal palace to find the path of liberation, he somehow would have thoughts of attaching feelings. After becoming a Buddha, when he had a chance to visit his father king, his son, Rahula, was seven years old.
I am just curious to see what the Buddha taught his son. Curious to pick up something.
First, the Buddha assigned Sariputra as the tutor for Rahula. Why Sariputra? Why not somebody else? How about Mahamoggallana? Actually, Sariputra would work best as a teacher; he had vast knowledge and was foremost in wisdom among the disciples of the Buddha.
The Buddha wanted Rahula to follow his tutor Sariputra to train in wisdom first. If Rahula was a student of Mahamoggallana, he would be impassioned in psychic powers. The Buddha did not directly teach Rahula, because it was hard to teach a son, especially the one who would have wanted to become a king.
The first lesson Sariputra gave to Rahula was how to breathe. That was the first skill to practice meditation, and a way to attain wisdom. If he attain the Right Concentration first, he would easily attain later the Right View, Right Thought. Breath is life. When you were born, you started breathing – with a cry to say “Hello life”; thus, you could stay alive.

I’ve carried the first cry since the moment I was born.
(Poetry by Nguyễn Gia Thiều)

We cried when we were born! If life was joyful, why we did not laugh then?
(Poetry by Nguyễn Công Trứ)

Saying hello to life with a cry, we might feel the Four Noble Truths — suffering, the arising of suffering, the cessation of suffering, and the path leading to the cessation of suffering.
The more stress and passion we have, the more we get lost in the forest of greed, aversion, ignorance, conceit, doubt and wrong views, and the more we easily forget to breathe. People just breathe flickeringly, breathe waveringly, breathe shallowly, breathe sputteringly… and let the days and months passing by. Hence, it was right to teach Rahula first on how to breathe.
Breathing is not just for breathing. You breathe to see a life. You breathe to see the characteristics of impermanence and non-self. You breathe to see the dependent arising, the signless of the True Reality.  Sariputra, of course, would teach Rahula correctly — no reason to worry about mental disorder.
The Buddha watched closely to see how the young Rahula studied. When seeing the youth knew how to breathe and live with mindfulness, alertness and diligence, the Buddha started teaching Rahula about morality – just tell the truth, not a lie; think deeply on any idea, any gesture, and word to choose to do good over evil, to do things helpful for us and others.
Not to do evil, 
to cultivate merit, 
to purify one’s mind…

“Whenever you want to do a bodily action, you should reflect on it: ‘This bodily action I want to do — would it lead to self-affliction, to the affliction of others, or to both? Would it be an unskillful bodily action, with painful consequences, painful results?’ If, on reflection, you know that it would lead to self-affliction, to the affliction of others, or to both; it would be an unskillful bodily action with painful consequences, painful results, then any bodily action of that sort is absolutely unfit for you to do. But if on reflection you know that it would not cause affliction… it would be a skillful bodily action with pleasant consequences, pleasant results, then any bodily action of that sort is fit for you to do….(and with verbal action, and mental action…) (link: Access To Insight)
Among all the actions, the verbal actions may be the most important to create karma; even the thoughts lead them all, it is very hard to see the thoughts. The vocal spoken words start all quarrels and wars. The verbal action is the one that creates the most karma. Not online the words you speak directly, but also the words you write on the Internet and spread out globally. Thus, the Buddha taught Rahula about the karma of verbal actions, starting with not telling a lie. Thus, there are four parts for the precept on verbal action: refrain from lying, from gossip, from harsh words, and from malicious words.

As a youth, respected by everyone for being the son of Buddha, Rahula might sometimes bother somebody. Rahula might come to see the Buddha and say things behind somebody’s back. The Buddha would smile, rub Rahula’s head and tell the youth to keep the precepts, be patient and learn diligently.

When Rahula grew up gradually, the Buddha taught the next steps.
Develop the meditation in tune with Earth. Earth appears everywhere. Earth appears in you. Earth appears in the universe. Without earth, you have no shape. Without earth, the tree sap cannot transform into other useful material. The important factor: earth discriminates nothing. Throwing a gold bar or a trash stuff onto the surface of the earth, you see the earth stay in the thusness nature – e.g., motionless… Neither happy nor angry.
Develop the meditation in tune with Water. Just be like water. Water appears everywhere. Water appears in you, keeping ¾ of your weight; also, the surface of seas and rivers cover ¾ of the surface of the earth. “All streams run to the sea and return to the source.” (Poetry by Tản Đà). Neither increasing nor decreasing.
Develop the meditation in tune with Wind. Just be like wind. Wind appears everywhere. Wind appears in you, and in the sky. “The wind has no home/ the wind flies in all directions…” Everywhere is home for the wind.  “Living in life, we need a heart. For what, do you know? To let the wind float away.” (Lyrics by Trịnh Công Sơn)
Develop the meditation in tune with Fire. Just be like fire. The fire appears everywhere. The fire appears in you, in the universe, in the sun, deep inside the earth, and in the trees. Rubbing wood, you will have the fire. The fire burns all three poisons — greed, aversion, and ignorance. The fire of Samadhi starts the Right Dhyana.
The four basic elements — earth, water, fire, and wind– are the basic factors (for the forms of any existence), from which all things are built, and from which we have the five aggregates (the form, feeling, perception, volition, consciousness)…
And the Buddha, of course, always reminded Rahula that all things should be seen as, “That is not mine. That is not what I am. That is not my self.”

That is not mine; thus, why do we have greed.

That is not what I am; thus, why do we have the aversion.

That is not my self; thus, why do we have ignorance.

That’s good enough.

THE END

Image already added

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Thiền và Sức khỏe, Viết cho tuổi mới lớn

Kỳ 17: ”Phật học & Đời sống” Chùa Xá Lợi

30/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 17: “Phật học & Đời sống”

Ngày 24.3.2018 tại Chùa Xá Lợi Tp.HCM (Saigon)

Chủ đề: Tứ vô lượng Tâm: TỪ, BI, HỶ, XẢ (1)

 

Cảm ơn nvquyen,

………………………………………………………………………………

Thư Mời

”Phật học & Đời sống” kỳ 18:

Thân mời các bạn

Thứ bảy 31.3.2018 lúc 15-16.30h tại Chùa Xá Lợi,

89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp HCM.

tiếp tục chủ đề ”Từ Bi Hỷ Xả” (Ứng dụng thực tế).

Mời các bạn ”Tùy hỷ” tham dự,

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 21
  • Trang 22
  • Trang 23
  • Trang 24
  • Trang 25
  • Interim pages omitted …
  • Trang 43
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết
  • SÁCH SONG NGỮ: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace & Joy”
  • Bv Đại học Y Dược Tp HCM: Bs Đỗ Hồng Ngọc – Thiền và Sức Khỏe.
  • Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ
  • Tâm Nhiên: “DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email