Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Kỳ 43 Phật Học & Đời Sống

16/11/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Kỳ 43:  PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Chủ đề: “TỨ NHIẾP PHÁP”… Cách Nào?

( Bố thí- Ái ngữ- Lợi hành- Đồng sự)

Bài 1: BỐ THÍ… Cách Nào?

Cảm ơn nvquyen đã gởi clip để các bạn tham khảo.

(ĐHN).

………………………………………………………………………

Thân mời các bạn tham dự buổi Sinh hoạt Phật Học & Đời Sống

Kỳ 44, Tứ Nhiếp Pháp (tiếp theo),

Bài 2: “ÁI NGỮ”… Cách Nào?

lúc 15-16h30 Thứ bảy 17. 11. 2018 tại Chùa Phật học Xá Lợi,

89 Bà Huyện Thanh Quan, Q3, Tp.HCM

Trân trọng,

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Kỳ 42: Phật Học & Đời Sống “TÙY DUYÊN BẤT BIẾN”

09/11/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Kỳ 42 PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Chủ đề: “Tùy Duyên Bất Biến“… thế nào?

Thứ bảy ngày 3.11.2018 tại Chùa Phật học Xá Lợi, Tp HCM

Cảm ơn nvquyen đã kịp chuyển đến để các bạn tham khảo.

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

…………………………………………………………………………………….

Thư Mời:

Kỳ thứ 43:  PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Chủ đề: “TỨ NHIẾP PHÁP”… cách nào?

(Bố thí- Ái ngữ- Lợi hành- Đồng sự)

vào Thứ bảy, 10.11.2018, lúc 15-16h30, tại chùa Phật học Xá Lợi,

89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp.HCM

Bài 1: Bố Thí… cách nào?

Thân mời các bạn tham dự.

Trân trọng,

ĐHN.

 

Viết thêm:

Rất bất ngờ, buổi sinh hoạt chủ đề “Tùy Duyên Bất Biến” chưa được post lên đã có một “học viên” từ xa gởi bài.. tham luận.

Xin trân trọng giới thiệu dưới đây để các bạn cùng tham khảo:

 

Đỗ Lê Tố Quyên,

Hội An, 5.11.2018

Quí mến chào bác Ngọc, chú Thiện, anh M.Ngọc và lớp học LL!
Con đã có mặt một lần ở lớp học vào cuối tháng bảy, là Quyên ở miền Trung, Hội An. Bác và lớp học vẫn vui, khoẻ, con mừng. Con rất muốn có những người bạn đồng thực hành phật pháp như lớp học LL của mình để được ngồi cùng nhau, nghe và chia sẻ những câu chuyện thực hành. Chủ đề nào cũng cuộc sống. Bất Biến Tùy Duyên… thật hấp dẫn! Con muốn được học thêm từ các anh chị, muốn biết sự thực tập của mình như thế nào, đúng không nhưng trang nhà thì chưa đăng tải. Thôi thì, nếu được chia sẻ thêm “câu chuyện” thực tập bên lề lớp học về chủ đề này thì con cũng đã rất vui nên con email gửi bác nhé. Con kính gửi bác đọc cho vui như là một chia sẻ từ xa và cũng như con đang được nói chuyện cùng các anh chị lớp học vậy! Gọi là cũng tham gia chia sẻ chủ đề Bất Biến Tùy Duyên với lớp nhưng “câu chuyện” của con thì “Cứ” Biến Tùy Duyên vì con còn đang học và hành mà! Xin được chia sẻ bác nghe.
Con trai của con đang ốm, con chăm nó mấy hôm nay. Cháu cũng đã lớn, sắp sang tuổi 15. Cháu sốt dữ quá. Sau khi đã cho cháu đi khám rồi về nhà theo dõi. Một, hai ngày đầu chăm con bình yên. Con luôn có mặt với nó, làm những gì cần làm với tâm trạng thoải mái. Đôi khi nhìn nó con cảm thấy hạnh phúc nữa vì có nó để yêu thương. Đến ngày thứ tư, thứ năm dù cháu đã đỡ sốt nhưng thấy con còn rất mệt, mẹ bắt đầu bất yên, cũng vì được biết thời gian này rất quan trọng và cần đặc biệt chú ý nếu là SXH nên cả ngày đến một hạt cơm con cũng chẳng muốn ăn. Vẫn có mặt bên con, vẫn làm những thứ cần làm nhưng lo lắng đã bắt đầu chiếm chỗ…(cứ thỉnh thoảng lại xem mạch có chậm, bất thường? Bụng có chướng đau, hỏi tiểu tiện đại tiện thế nào, khắp người có chỗ nào bất ổn, vân vân và vân vân…). Bình yên và hạnh phúc đã không còn có mặt! Nồi cháo nấu cho con đã có vị mặn lạt của sự bất yên! Con biết rằng lúc này những hành động và cái thấy của mình đều tệ hơn và thiếu chính xác nữa rồi. Thế mới thấy bấy lâu thực tập cái bất biến tùy duyên của mình là như vậy!!! Vỡ ra khi gặp tình huống, nhất là liên quan đến người thương yêu, bất biến tùy duyên là điều quá khó chạm tới! Con đoán rằng bác và các anh chị buổi đó đã chia sẻ nhiều cách thực tập. Ở đây con chỉ thực tập quán chiếu cuộc sống của chính mình và học phật pháp chút đỉnh qua những lời giảng giải, khai mở của các vị như bác, quý thầy khi có dịp. Thì đây là cái con thấy: dù có nhắc đi nhắc lại hàng trăm lần như câu thần chú -Nhớ nhé, bất biến tùy duyên nhé…nhưng chỉ dừng sự thực tập (là giữ cho cái tâm được yên, bớt động) ngay trên tình huống mỗi khi đối diện là điều không thể. Nói như bác Ngọc hay nói là ” còn lâu!” mới được. Phải có một chỗ nào đó sẵn sàng. Chỗ sẵn sàng đó mới dụng được mọi duyên. Chỗ đó là gì con chưa biết được nhưng con tin rằng bác, con cũng như tất cả đều thực hành đến chỗ đó thôi. Bất biến tùy duyên tức phải đã sẵn sàng! Còn bây giờ dụng được chừng nào thì dụng và tùy được bao nhiêu thì tùy, bác nhỉ! Con tin chắc lớp học cũng đã chia sẻ những con đường để thực hành tốt hơn và con sẽ đón nghe khi sắp xếp được. Con mong có duyên được gặp lại lớp.
Quý kính và chúc sức khoẻ bác cùng các anh chị!
Con
Đỗ Lê Tố Quyên

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Tô Thẩm Huy: THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

03/11/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

Tô Thẩm Huy

 

 

Thơ Ngắn Đỗ Nghê là những bài thơ ngắn mà không ngắn chút nào.  Mời đọc một bài.  Lưỡng ngôn, tam cú.  Cả bài thơ vỏn vẹn sáu chữ, tựa đề: Trái Đất.

Giữa đêm

Thức giấc

Giữa ngày…

Sáu chữ.  Thinh không bỗng vang vọng lời kinh Bát Nhã:

Sắc bất dị không, không tức thị sắc.  Thọ tưởng hành thức, thảy đều như thế…

Ngân nga lời đồng vọng:

Sáng bất dị đêm.  Ngày tức thị tối.  Viên bi vun vút, trong cõi vô cùng…

Sáu chữ.  Ngắn.  Mà dư âm ngân dài, bất tuyệt.

Đâu là điểm khởi đầu, điểm tận cùng, điểm đến, điểm đi, của vòng tròn ?

Xin thư thả chép lại bài thơ, chép dưới lên trên, chép đầu xuống bụng, chép dọc thành ngang:

Giữa ngày, trái đất, giữa đêm.

Thi sĩ Đỗ Nghê đã lấy con dao mổ của ông y sĩ Đỗ Hồng Ngọc ra rạch một đường, hé lộ cái lẽ thường hằng ở giữa nếp gấp song trùng nhị bội.  Đâu là chân diện mục của quang âm tấc bóng ? Của logos ban sơ nguyên khởi ?

Bài thơ như một công án thiền.

Cái biên giới của sáng và tối, ngày và đêm đã tan biến.  Đọc thơ đôi khi nên tắt cái máy lô gích trong đầu đi, kẻo không chỉ nhìn thấy là nửa bên này nắng gắt, nửa bên kia tối om, mà không thấy cái sự tình kỳ bí của nghìn năm mây trắng du du trên trái tinh cầu.

Thơ hay có khi là những bài thơ lớn.  Hay vì ý tưởng lớn, hỗn mang bờ bãi.  Lớn vì  cánh hạc một thoáng vụt tung đã nghìn trùng bay mất.

Thơ hay có khi lại là mấy bài thơ nhỏ.  Hay vì ý tưởng như cây kim xuyên suốt nhất điểm thông, vì nó là lát cắt nóng hổi từ đời sống, nhịp tim vẫn đang đập trong từng lát cắt.  Nó như lưỡi chuỷ thủ đâm thẳng vào hồn.  Không băn khoăn, do dự, không suy nghĩ, đắn đo.  Nó cấu điếng vào người.

Mời đọc một bài hơi dài hơn bài trước.  Những mười chữ:

Sóng

Quằn quại

Thét gào

Không nhớ

Mình

Là nước

–          Sự tình đã như vậy thì chừ phải làm răng cho sóng nhớ nó là nước ?

–          Thưa, chắc phải nhờ ông thi sĩ Đỗ Nghê chích cho nó một mũi thuốc, hay là nhờ ông y sĩ Đỗ Hồng Ngọc làm cho nó một bài thơ, rồi thả trôi trên sóng nước, ắt nó sẽ giác ngộ mà thôi quằn quại thét gào.

Lại xin mời đọc một bài dài hơn chút nữa, mười bốn chữ, sáu tám: Đông Boston

Còn cây

    trơ lại với cành

Với linh hồn lá

ngập ngừng trút qua…

–           Có cần phải bảo là còn cây hay không?  Mùa đông thì cây nó cũng đứng đấy, chứ nó đâu có chạy đi đâu như đám lá vốn thích phiêu lưu bờ bãi kia, mà phải đặt bút bảo là nó vẫn còn ?  Nước thì nó cứ lững lờ trôi, chứ sông Hương nó có bao giờ đi đâu đâu, sao lại phải bảo là:

Dạ thưa xứ Huế bây giờ,

Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương ? (BG)

–          Thưa đó là chỗ nhiệm màu của thơ, nó khiến thực tại trở về hiển hiện mỗi sát na.  Phải mượn con mắt của thiền sư Vạn Hạnh lúc lâm chung nhắm mắt mới thấy hàng cây vẫn đang đứng đó ven bờ sông Hương núi Ngự.  Thật là hạnh phúc xiết bao khi biết là núi Ngự vẫn còn đó.  Hạnh phúc thật vô vàn khi biết là lúc mùa xuân trở lại thì cây cành vẫn đứng chờ đó để hồi sinh cho linh hồn lá đầu thai trở lại trần gian.

Từ đó sẽ có thể nhậm vận thịnh suy vô bổ uý.

Không biết Đỗ thi sĩ của chúng ta làm gì, đi đâu, mà ngày nọ lại lặn lội đến miền Đông Bắc băng giá, lang thang giữa phố Tàu Boston, đứng nghe gió nó co mà ro lạnh.  Hay là thi sĩ đi ngắm tuyết ?

Tuyết bay

Bay  nhẹ

Phố Tàu

 

Gió co

Ro lạnh

Phố

Đìu hiu

Theo.

Cách ngắt câu Gió co / Ro lạnh nghe lập cập hai hàm răng.  Hay là gió nó cũng lạnh nên nó co lại ? Thật thú vị !

Hay là thi sĩ đi tìm kiếm một điều gì chăng ?

Tìm kiếm

Anh không sống

Anh đợi sống

Anh để dành anh

Anh chắt mót em

Anh cắt xén niềm vui

Anh gậm nhấm nỗi buồn

Anh tìm kiếm

Một điều anh chẳng biết

Ông không sống, mà để dành. Ông đợi.  Một điều gì ông không rõ.

Cách nay nửa thế kỷ, một bài thơ trên tờ Bách Khoa có mấy câu nó theo đuổi tôi đến tận giờ:

Tôi làm thơ để lãng quên chờ đợi

Để đánh lừa năm tháng trước hư vô

Xin yêu tôi bằng tội lỗi bất ngờ

Bằng tất cả những giờ em có mặt (Tạ Tỵ)

Ông hoạ sĩ Tạ Tỵ cũng đã chờ đợi.  Ông chờ đợi điều gì chỉ mình ông rõ.  Mà cũng có thể ông cũng không rõ.  Nhưng cái cuộc chờ đợi ấy hẳn là ông chẳng hào hứng gì với nó lắm, nên ông muốn lãng quên là mình đang chờ đợi.  Nên ông làm thơ để khỏi nghĩ đến chuyện ấy.  Để đánh lừa năm tháng trước cái hư vô sâu thẳm.  Đỗ thi sĩ thì muốn để dành anh, muốn chắt mót em.  Tạ hoạ sĩ thì năn nỉ: xin yêu tôi bằng tất cả những giờ em có mặt.  Cái cuộc chờ đợi này, cái cuộc đánh lừa này, liệu sẽ được nước Cam Lồ đền bù ngày em có mặt ?  Hay là cái ngày ấy sẽ không bao giờ đến ?  Và xin tiếp tục chờ đợi.  Và lãng quên chờ đợi.

Và say đắm với tặng phẩm của đất trời tha hồ chờ đợi:

Món quà

Anh hôn đằng sau

Anh hôn đằng trước

Anh hôn phía dưới

Anh hôn phía trên…

Đỗ thi sĩ hôn gì mà lung tung thế ?

Chiếc áo của em

Món quà em tặng

Chiếc áo lạ lùng

Có mùi biển mặn

Có mùi dừa xiêm

Có mùi cát trắng

Có mùi quê hương…

Ra là thế.

Rồi ông đưa em đi lễ:

Em tin có Chúa

Ngự ở trên cao

Còn anh tin Chúa

Ngự ở trong nhau

Đưa em đi lễ

Vầng trăng treo nghiêng

Em làm dấu thánh

Anh làm dấu em.

Thật là may mắn người con gái được ông đưa đi lễ.  Tôi mong một ngày nào được ông dạy cho cách làm dấu ấy.

Ông làm dấu xong rồi thì ông giả sử:

Giả sử

Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang

Ập vào Mũi Né

Anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng

Vút qua những ngọn dừa

Những đồi cát trắng

Em nhớ mang theo đôi quả trứng

Vài nắm cơm

Vài hạt giống

Đừng quên mấy trái ớt xanh…

 

Biết đâu mai này

Ta làm An Tiêm

Trở về làng cũ

Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang

Nơi kia gọi là Mũi Né…

 

Cho nên

Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn ?

Ông giả sử thật tuyệt vời.  Ông hỏi như thế thì đến cả sỏi đá cũng dạt dào yêu thương.

Những câu thơ cuối bài của ông thường là những cú đấm nốc ao, bất ngờ.  Ông có bài thơ tình đọc lên ắt hoả phải bốc:

Thơ tình

Anh đọc bài thơ tình

Em ngồi nghe lặng thinh

Anh đọc thêm bài nữa

Em vẫn ngồi lặng thinh

Anh buồn không đọc nữa

Em chồm lên hôn anh

Như đổ dầu vào lửa… 

Thơ của Đỗ thi sĩ vốn hay bất ngờ chồm lên như thế, lắm lúc làm ta bàng hoàng, lại lắm lúc xui ta bật cười.  Những lát cắt nóng hổi từ đời sống.

Có lúc ông như tự đặt ống nghe lên tim mình mà định bệnh: bệnh nhớ.

Nỗi nhớ

Thôi hết cồn cào

Thôi không quặn thắt

Chỉ còn âm ỉ

Chỉ còn triền miên

Thì thôi cấp tính

Thì đành kinh niên !

Ông lại còn nghe thấy cả tiếng chổi ở trên chùa ?

Hội An Sớm

Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương

Không biết ông nghe bằng lỗ tai thi sĩ hay lỗ tai y sĩ ?  Trời gần sáng, mà trăng vẫn nằm trong vòng tay ôm của mái chùa thì hẳn phải là vầng trăng rằm.  Và vì thế nên tiếng gà nó mới vàng trong sương.  Kẻ tiểu sinh này đoán thế có đúng không, thưa Đỗ thi sĩ ?

Cái lỗ tai ấy của ông nghe thật lắm điều thú vị.  Nó nghe được cả tiếng thu.  Không phải tiếng thu xào xạc của nai vàng ngơ ngác, mà là tiếng thu day dứt của bầy quạ:

Thu

Chiều thu

Nghe tiếng quạ

Giật mình

Nỗi xa nhà

Nhớ sao

Mà nhớ

Quá!

Tiếng quạ, hay tiếng “Quá”?  Hay quạ tức thị quá ?

Tôi cũng có lần nghe thấy tiếng quạ ấy cách đây bốn mươi mấy năm, cũng trong một buổi chiều thu bơ vơ bên con suối đã cạn ở Minneapolis, cũng ngập hồn nỗi thương nước nhớ nhà những năm mới tản cư.  Xin chép ra đây như mấy lời đồng thanh dị cảm vậy:

…Những viên sỏi đã nổi lên

Lộ những bộ mắt buồn như đưa đám

Tiếng quạ kêu chiều cuối thu nghe ảm đạm

Lòng hỏi lòng tiếng quạ hay tiếng mình

Tôi hỏi tôi tiếng quạ hay tiếng đồng bào tôi

Tôi hỏi tôi có bao giờ quạ khóc ?(TTH)

Đã có bao nhiêu bài thơ viết về Mẹ, cho Mẹ, nhớ Mẹ.   Những bài thơ nghe đã quá quen thuộc, đến độ chưa đọc mà như đã đọc rồi.  Nhưng không phải lúc nào cũng thế. Mời quý vị chuẩn bị tinh thần đón đỡ một cú nốc ao đầy yêu thương, vỗ về săn sóc, đầy ngỡ ngàng, ngạc nhiên, sung sướng.  Bài thơ viết về người Mẹ, mà nói thật nhiều về người con:

Nụ cười của mẹ

Mẹ tôi có nụ cười lạ lắm!

Lúc nào bà cũng nhìn tôi mà cười cười. Không nói.

Lúc tôi có vẻ vội vã chào lẻn đi đâu đó,

bà cười cười tha thứ.
Vậy hả con ?

Lúc tôi lần khân thì nụ cười như biết rồi, khỏi nói.

Những lúc tôi mang chuyện bực mình
thì như thôi đi, đừng sinh sự!

Nhột nhất là khi bà cười như châm biếm

lúc tôi loanh quanh kiếm chuyện…

Mẹ tôi cứ vẫn cười cười như thế
suốt ba năm trên bàn thờ!

Ông thật may mắn có người mẹ không bao giờ ly cách.  Hai mẹ con chẳng xa nhau ngày nào, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào.  Và Mẹ ông hẳn phải thương yêu lắm người con hiếu tử, ngoan ngoãn, ý nhị ấy.

Lại xin mời đọc một bài thơ khác về Mẹ, để kết bài viết này ở đây.  Bài thơ tuyệt diệu, dịu dàng, đẹp.  Giản dị, nhưng thừa năng lực xoá tan mọi u buồn trên trần thế:

 

Bông hồng cho mẹ

Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…

Buổi trao hoa thật ân cần, âu yếm.  Mẹ đang về với Ngoại ở bên kia sông, con gửi Mẹ đoá hồng.  Mẹ cho con hoa trắng.  Buổi vĩnh ly sao êm đềm, hạnh thục.

Ngoại chờ bên kia sông…

Thanh bình, thư thái, hân hoan.

Vì bên kia sông nơi Ngoại đang chờ là vườn tược cây trái, là khói lam chiều, là kinh nước ngọt.  Là hai miền sinh tử đang tan hoà trong cõi trời thanh tịnh, bất sinh, bất diệt.

Chỉ năm chữ,mà gói cả tư tưởng của Kim Cang Bát Nhã kinh.

Năm chữ hiền lành.  An nhiên, tự tại.  Năm chữ đã biến cái phù du ngắn ngủi của thân phận con người thành vĩnh cửu.  Đã biến Thơ Ngắn Đỗ Nghê thành tiếng thơ dằng dặc đến vô cùng.

 

Tô Thẩm Huy,

Houston, Tiết Thu Phân, 2018

…………………………………………

tho DHN fini-R

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 41 Phật Học & Đời Sống: “NHÂN QUẢ”

31/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Kỳ 41: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Chủ đề: “Nhân Quả”

Ngày 27.10. 2018 lúc 15-16h30 tại Chùa Phật học Xá Lơi Tp HCM

Rất cảm ơn nvquyen đã chia sẻ clip.

Đỗ Hồng Ngọc.

………………………………………………………………..

Ghi chú: Kỳ 42 Phật Học & Đời Sống, ngày Thứ bảy 3.11.2018

chủ đề: “TÙY DUYÊN BẤT BIẾN”… thế nào?

tại Chùa Phật học Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp HCM

từ 15-16:30h như thường lệ.

Thân mời các bạn tham dự.

Trân trọng,

Bs Đỗ Hồng Ngọc

(Ghi chú riêng: Cảm ơn các bạn đã phone thăm hỏi. Tôi chỉ bị “Ngộ độc thức ăn”, “Tào Tháo” đuổi chạy không kịp, chớ không phải sốt siêu vi như thầy Minh Ngọc nói! Nay đã khỏe rồi. Đây cũng là một cái “quả đáng đời” do ăn bậy thức ăn mua từ đường phố!

Cảm ơn anh Minh Ngọc và các anh chị, các bạn đã có một buổi thảo luận sôi nổi và rất thực tế.)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Vài hồi báo (feedback) về “Phật học & Đời sống”

23/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Vài hồi báo (feedback) về “Phật học & Đời sống”

Ghi chú: Dưới đây là vài Hồi báo của bạn đọc đã và đang dõi theo Chương trình Phật học & Đời sống. Xin phép được chia sẻ cùng các bạn nơi đây để cùng tham khảo, học tập.

Và, đừng quên Thực Hành.

Trân trọng cảm ơn các bạn,

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

……………………………………………………………………..

“Độc giả từ xa”ngày 18.10.2018

về PH & ĐS kỳ 37

Kg BS ĐH Ngọc,

Tôi là 1 độc giả ở xa, thỉnh thoảng có theo dõi trên trang nhà của BS về lớp “Phật Học và Đời Sống”. Tôi thấy cung cách thảo luận lớp học này hay và có thể giúp ích cho nhiều người muốn tìm hiểu, học hỏi thêm về PG với tinh thần tìm hiểu độc lập và thảo luận bình đẳng. Tôi thấy ở thời đại thông tin ở thế kỷ 21 này, độc lập trong suy nghĩ, và thẳng thắn vui vẻ thảo luận để tìm hiểu và học hỏi thêm có lẽ là phương pháp nên áp dụng trong học đường, sở làm, và ở cả … giáo đường.

Tháng 9 và 10/2018 tôi về VN (từ California) và đã dự định nếu có dịp sẽ ghé lớp học nhưng lai không xắp sếp được, nên đành góp 1 ít ý (từ xa) với bài 37 (Tụng Kinh, niệm Phật, trì chú, …)

Xin BS giữ cho tôi ẩn danh (Độc giả từ xa)

Xin cám ơn BS.

________________

– Vấn đề tụng niệm:

Tôi có người bạn người Mỹ gốc Ấn Độ, là giai cấp giáo sĩ Bà La Môn, có cho tôi biết trong tôn giáo của họ, kinh điển được truyền từ guru đến học trò bằng cách đọc nguyên văn theo lời kinh (Veda, Upanisad,…) cho đến thuộc lòng. Chẳng những vậy, người thầy còn kiểm tra từng tu sinh xem đọc từng chử có chính xác và có đúng giọng trầm bổng không? Họ muốn chắc chắn là bài Kinh được truyền từ đời này sang đời khác đều được đọc tụng với từ và giọng như thuở nguyên thủy. Dường như người Bà La Môn (và ngay cả người Tây Tạng) tin rằng các giọng lên xuống, trầm bổng (chử Um chẳng hạn) ẩn chứa “năng lượng của vủ trụ” (?)

Riêng với PG, dù Phật Thích Ca bước đầu cũng tu tập theo Bà La Môn, nhưng đã có 1 khuyến cáo khác biệt, như trong kinh điển PG còn lưu truyền:

___________

Tăng Chi Bộ V.209 : Thuyết Pháp với Giọng Ca

Này các Tỳ khưu, có năm điều nguy hại với người thuyết pháp với giọng ca ngân nga kéo dài. Thế nào là năm?

– Tự mình say đắm trong âm giọng ấy;

– Làm người khác say đắm trong âm giọng ấy;

– Các gia chủ phê bình: “Như chúng ta hát, cũng vậy, các Sa-môn Thích tử này ca hát!”;

– Vì vị ấy cố gắng rèn luyện cho âm thanh điêu luyện nên sự thiền định của vị ấy bị gián đoạn;

– Làm cho người khác bắt chước theo tà kiến ấy.

Này các Tỳ khưu, có năm điều nguy hại với người thuyết pháp với giọng ca ngân nga kéo dài.

_________

Có lẽ PG thời nguyên thủy chỉ đọc, lập đi lập lại để thuộc lòng để có thể truyền cho đời sau biết được lời của Đức Phật (càng chính xác càng tốt) chớ không có tụng ngân hay chuông mõ?

Mình có thể nhớ lại hành trình của ông Huyền Trang đi thỉnh Kinh trong “Tây Du Ký”. Giai đoạn đầu đầy hầm hố, chông gai, núi lửa, quỷ dữ ( Tham-Sân-Si dạng thô) đến khi gần “đạt đạo” (đến được Tây Trúc, rồi được vô tự Kinh) vẫn còn ‘dính” vào vương quốc của Tiên nử , suốt ngày vui với ca ngâm, thơ phú (dù là Tham-Si dạng tế, vẫn là Tham-Si và cũngphải bỏ đi)

Không biết qua thời gian , ảnh hưởng của đạo Hindu có thấm trở lại cung cách thực tập của PG hay không? như ông HT Thích Minh Châu nhận định trong “Lời Giới Thiệu Kinh Trung Bộ” (Trong Bản In Năm 1986) :

” … Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành …” (?)

Tôi được biết là có guru Bà La Môn hiện tai (Nithyananda) có nói rằng Phật Thích Ca là 1 trong những Bậc đạo Sĩ Bà La Môn đã giác ngộ , và tính ra Phật Thích Ca hiên nay là bậc giác ngộ cao nhất trên trái đất này , còn ở những nơi khác cũng có những bậc khác.

– Còn về vấn đề chuông mõ, dường như đó là phong cách của người Trung Hoa từ các thầy cúng tế, du nhập vào PG khi PG được truyền sang TH ? Có lẽ mình bị ảnh hưởng quá nặng từ người Tàu.

– Về vấn đề niệm, tôi thấy dường như người Việt mình có thể đã dùng lẫn lộn giửa 2 chử tùy niệm và niệm . Theo tôi được đọc từ 1 số vị biết ngôn ngữ Pali, có lẽ do phiên địch và cách xử dụng, người mình thường chỉ dùng 1 chử niệm cho cả 2 từ niệm (sati) và tùy niệm (anusati). “Niệm”, có lẽ nguyên gốc trong Kinh Điển PG muốn ám chỉ cái “ghi nhận “, “theo dõi”, “quán sát” mà không khởi tâm phân biệt, còn “tùy niệm” để ám chỉ việc đọc, đọc thầm , lập đi lập lại 1 danh hiệu, 1 hay nhiều từ nào đó.

Theo nghĩa này , trong 1 số Kinh Điển nguyên thủy lưu truyền, nếu đọc, tùy niệm Phật (hay Pháp, Tăng,…) mà đồng thời giử được tâm không tham, sân, si thì sẽ đạt được cõi tịnh, và rồi nhập pháp lưu (bất thối) dù chưa “có” trí tuệ hoàn toàn (vì đây là Thiền Định, chưa phải Thiền Tuệ)
____________________

Tương Ưng , chương 6 pháp, phẩm 1 : tùy niệm

(X) (10) Mahànàma

1. Một thời, Thế Tôn trú giữa các vị Thích – ca, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

– Vị Thánh đệ tử này, bạch Thế Tôn, đã đi đến quả, đã liễu giải giáo pháp, đời sống gì vị ấy sống một cách sung mãn?

– Này Mahànàma, Thánh đệ tử nào đã đi đến quả, đã liễu giải giáo pháp, với nếp sống này, sống một cách sung mãn.

2. Ở đây, này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai: “Ðây là Thế Tôn… Phật, Thế Tôn”. Khi nào, này Mahànàma, Thánh đệ tử niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, tâm không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực, nhờ dựa vào Như Lai. Và này Mahànàma, một Thánh đệ tử, với tâm chánh trực (nhất tâm bất loạn ?), được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người có hân hoan, nên hỷ sanh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. (Cõi Tịnh ?)

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: “Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Phật”. (Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ ?)

________________________

Còn niệm, với nghĩa là chính niệm tỉnh giác, là theo dõi, quán sát, không phê phán, mà nội dung đầy đủ trong 4 niệm xứ, khi 4 niệm xứ được sung mãn, sẽ đưa đến tam minh (rốt ráo) vì đây là “Thiền Tuệ”. Trong Kinh Điển Nguyên Thủy lưu truyền, chính bậc là A la Hán (giải thoát) cũng xử dụng thiền này.
________________________________

Kinh Trung Bộ: 10- Kinh niệm xứ:

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (kiềm-ma sắt đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
— Này các Tỷ-kheo.

Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn:
— Bạch Thế Tôn.

Thế Tôn thuyết như sau:

— Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất (direct path ?) (Ekayāna is a Sanskrit word that can mean “one path” or “one vehicle”. It is used both in the Upanishads and in the Buddhist scriptures, taking on different meanings and notions) đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm xứ.

Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

…

Tương Ưng SN-XLVI25 : Người Bà-la-môn (Diệu Pháp tồn tại)

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn ông Cấp Cô Ðộc. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Bà-la-môn ấy thưa với Thế Tôn:

–“Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không được tồn tại lâu dài? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?”

–“Do bốn niệm xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Bà-la-môn, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài. Do bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, thưa Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài. Thế nào là bốn?

Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, trú, quán thọ trên các thọ … trú, quán tâm trên tâm … trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Do không tu tập, không làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không được tồn tại lâu dài. Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.”

……………………………………………………………………………….

DieuTrong, ngày 17.10.2018

về PH & ĐS kỳ 40

Hay lam ! đinh luat Bao Ton Năng Lượng cua Lavoisier da chung minh mot cach khoa hoc co luan hoi.
Ko co gi mat di ma chi co su thay doi va chuyen hoa.

Tai sao chung ta co mat noi nay?
Tai sao con nguoi sinh ra lai khac biet nhau lam vay ?
Nguoi lanh lan, ke tat nguyen, sang/hen-giau/ngheo-thong minh/ngu dan….
Tat ca tuy theo nhan qua,nghiep bao luan hoi.
– Tu la sua.
– Tu la chuyen nghiep.

THAN luon thay doi trong tung phut giay theo cac te bao sinh diet
TAM sinh diet trong tung sat-na, niem vua mat di niem khac lien khoi len…ta ko the ngung suy nghi duoc.
Khong Tu dung ben dong song da phai than :” ngay dem chay mai the nay u ?”

Kinh KC : …hay dua tat ca chung sinh vao Vo Du Niet Ban…
Do la cac noi ket trong Tam chung ta (niem xau ac, tham lam, san si..) dua tat ca tan bien vao hu khong di !
Thuyet Luan hoi ST trong Phat phap giup ta cung co long tin la ta co the chuyen hoa,thay doi cuoc doi ta ngay BAY GIO va TAI DAY va ta la PHAT SE THANH.
Ma that ra ko co “tro thanh” ma chi nhan ra cai ta co san (hat chau trong cheo ao ) day thoi !

……………………………………………………………………………….

DieuTrong, ngày 13.10.2018

về PH & ĐS kỳ 39

Luan hoi sinh tu that ra dang xay ra trong doi song hien tai nay.Co luc ta sung suong nhu mot ong Troi con nhung cung co luc ta dau kho nhu roi xuong tan cung dia nguc.Luc bat binh tuc gian nhu mot atula, luc them khat an tuoi nuot song thuc an nhu Nga Quy, luc la Con trong 2 chu Con Nguoi , nhu loai suc sanh…
Con chuyen Sinh Tu cung dang xay ra trong tung phut giay trong co the ta dang song day, te bao nay chet di thi co te bao khac sinh ra…
Khong can doi den luc ta bo than nay moi co luan hoi sinh tu.
Chinh vi the su trai nghiem LHST ngay trong kiep nay tuc la cac canh gioi ma ta da kinh nghiem co the giup ta chung ngo duoc Phat phap.
Trong Cau Chuyên Dong Song 2 nguoi ban Thien Huu va Tat Dat da den voi Phat Phap theo 2 con duong khac nhau. Mot TH suot doi mac ao Nhu Lai, di theo NL, la cai bong cua NL ma van ko chung ngo. Mot Tat Dat muon tu minh dan than vao cuoc doi de trai nghiem .Ong da song mot cuoc doi trai qua du Sau Neo Duong, cho den luc met moi chan chuong dau kho den muon chet. Tieng AUM mau nhiem trong tiem thuc da vang len dung luc giup ong o lai va lang nghe tieng noi cua dong song. Do la tieng noi o noi tam, dong song la dong tam thuc cua chung ta chay mai ko dung, trong Kinh goi la dong Boc Luu.
Rot cuoc chinh Tat Dat moi la nguoi khai ngo cho Thien Huu khi ho gap lai nhau ben dong song.
Luan hoi 6 neo ngay trong môt kiep song nay cung co the dua ta den chung ngo.
Cung ko phai ta tan duong cuoc song duc lac ma xem nhe chiec ao ca sa.
Phien nao tuc Bo De.
Ta Ba den Niet Ban.
” Du phai kho dau oan oai, ta van yeu thuong tran gian dien dai nay ”

………………………………………………………………….

Trung William, ngày 17.9.2018

Chào Bác!

Tựu chung thì giáo lý Đức Phật chỉ xoay quanh Khổ và Diệt Khổ. Đó là cốt lõi cho tất cả những ai muốn đi trên con đường giải thoát! Giải thoát ở đây không phải là giải thoát Sinh Bệnh Lão Tử mà giải thoát ở đây chính là giải thoát phiền não khổ đau.

Phiền não khổ đau ở đây là những buồn phiền, khó chịu, bực dọc…phát sinh trong giao tiếp hàng ngày với tất cả mọi người chung quanh.

Bất cứ lúc nào. Mỗi khi phiền não khởi sinh ta đều nhận rõ là chúng sinh ra từ tâm ta. Đây cũng chính là TRỰC CHỈ CHÂN TÂM. Thấy phiền não phát sinh từ tâm ta đó mới chân thật là CHÁNH KIẾN.

Khi đã nhận biết phiền não. Lúc bấy giờ hành giả mới bắt đầu chiêm nghiệm để thấy được “ồ thì ra! Do chính cái ôm chấp của mình, do cái ngu si (vô minh) của minh, do cái truyền thống giáo dục của xã hội…. mà ra. Cái chiêm nghiệm này chính là CHÁNH TƯ DUY. Nhìn thấy được NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ ĐAU. Đó cũng là TẬP trong TỨ DIỆU ĐẾ.
(…)
Nếu ai thấy mình có khổ và muốn thoát khổ đều làm được. Cái khổ của nhân loại thì mênh mông như biển. Mới thấy rằng chúng ta có vô số những điều “bất như ý” để rồi nảy sinh ra vô số khó chịu bực bội. Chính vì vậy Đức Phật mới đề cập đến 84 ngàn pháp môn nhằm để diệt trừ phiền não!

Tất cả mọi người, nếu ai đó thấy mình có khổ và muốn diệt trừ khổ đau thì hãy nắm lấy cái khổ đau lớn nhất của mình mà chiêm niệm. Nếu sống với nó mỗi ngày. Sẽ có lúc chúng ta sẽ nhận thấy được cái vô minh trong chúng ta.

Nếu được như vậy thì từ đó về sau tu chỗ nào cũng được. Vừa ra đầu ngõ gặp chuyện không vui liền biết đó là lỗi mình. Nếu nhạy bén hơn thì liền thấy được nguyên nhân vì sao. Khi đã rõ vì sao thì không còn trách người nữa. Đây cũng là yếu chỉ của thiền tông “giáo ngoại biệt truyền” vì những gì nói ra đây không bao giờ có trong kinh điển. Cho nên có vị thiền sư khi ngộ đạo rồi, ngài đem kinh điển ra mà đốt! Vì cái tu trong cuộc sống hàng ngày đó nó không hề liên quan gì đến kinh điển hay tu hành cả! Cái hành trong cuộc sống giao tiếp hàng ngày như thế mới chính là “hành thiền trong mọi uy nghi Đi đứng nằm ngồi”.

Chắc cháu nói hơi nhiều …

…………………………………………………………………………………………….

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Vài hình ảnh “Sinh nhật” Ý THỨC và QUÁN VĂN

16/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Vài hình ảnh “Sinh nhật” Ý THỨC và QUÁN VĂN

Đỗ Hồng Ngọc ghi

Sáng nay 16.10.2018 Quán Văn số 59 tổ chức Sinh Nhật lần thứ 7 khá rôm rả tại một Quán Cafe trên đường Lam Sơn, Bình Thạnh. Dịp này cũng là số báo đặc biệt giới thiệu Nhà văn Trịnh Bửu Hoài, cũng như để chuẩn bị chuyến đi Miền Tây nhân “Mùa Nước Nổi” của nhóm Quán Văn. Rất đông bạn bè đã đến “chung vui”.

Dịp này, Quán Văn cũng đồng thời tổ chức Sinh Nhật cho Ý Thức, bán nguyệt san Văn học nghệ thuật đã có mặt trên văn đàn Saigon 47 năm về trước. Hai tờ báo cách nhau 40 năm và cùng có chung một “tay chèo” là Nguyên Minh.

Ý Thức của 47 năm trước sáng nay hiện diện chỉ có (từ trái) Nguyên Minh, Lữ Kiều Thân Trọng Minh, Châu Văn Thuận, Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc. Lê Ký Thương bận không đến. Anh em không quên nhắc Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư… nơi xa xôi. Thậm chí còn nhắc 20.10 này sẽ khui rượu mừng Sn Lữ Quỳnh nữa đó!

 

Các thân hữu và cộng tác viên của Quán Văn từ Huế, Đà Nẵng, Bình Thuận, Vũng Tàu, An Giang… về tham dự đông vui. Nguyễn Minh Nữu từ xa xôi cũng kịp về để tham gia làm MC với Hoàng Kim Oanh và Đoàn Văn Khánh… tạo nên một không khí sôi đông với lời ca tiếng hát giọng ngâm…

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

Sách “NGUYỄN HIẾN LÊ, Con Người và Tác Phẩm”

16/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Nguyễn Hiến Lê, Con Người và Tác Phẩm

Nhiều Tác Giả

vừa được Nhà xuất bản TP. HCM tái bản, bổ sung khá phong phú với nhiều bài viết của các tác giả gần gũi với học giả Nguyễn Hiến Lê từ xưa như Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Quách Tấn, Minh Quân, Lê Minh Đức, Văn Phố…

 

Nhân dịp này, xin gởi đến các bạn một bài viết của Đỗ Hồng Ngọc, trên báo Bách Khoa số 426 ngày 17.4.1975 (được in lại trong tập này). Bài báo do GS Huỳnh Chiếu Đẳng gởi về tặng (từ trong bộ báo Bách Khoa số hóa do nhà văn Phạm Xuân Đài thực hiện) và đã được Đèn Biển gõ lại dưới dạng word. Xin trân trọng cảm ơn tất cả.

Đỗ Hồng Ngọc.

Một trang báo Bách Khoa 43 năm về trước (17.4.1975)

Ông Nguyễn – Hiến – Lê và Tôi

Lời B.K.- Tác giả bài viết dưới đây, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng là nhà thơ Đỗ Nghê (*) một bút hiệu quen thuộc thường có sáng tác đăng trên Bách Khoa. Đỗ Hồng Ngọc đã có một thời niên thiếu thật khốn khó: Cha mất sớm, nhà nghèo, ông phải phụ giúp mẹ trông nom cửa hàng xén tại chợ BT. Nhờ được đọc những tác phẩm tự luyện trí đức của Nguyễn Hiến Lê, lại có chí, ông đã đạt được nhiều kết quả tốt trên đường học vấn. Ông vẫn liên lạc thường xuyên với người đã viết nên những tác phẩm dìu dắt mình từ thuở còn niên thiếu. Nhân đọc mục Thời sự Văn nghệ trên Bách Khoa loan tin nhà văn Nguyễn Hiến Lê cho xuất bản tác phẩm thứ 100 của mình, người hằng quan tâm đến sức khỏe của “lứa tuổi học trò” liền gửi đến Bách Khoa bài sau đây “gọi là để góp một món quà nhỏ” dành tặng cho người đã đem toàn tâm toàn lực cung cấp các món ăn tinh thần cho mọi lứa tuổi từ mấy chục năm qua.

…………………………………………………………..

Tác phẩm đầu tiên của ông, Tổ chức công việc theo khoa học, ra đời năm 1949 nhưng mãi đến năm 1956 tôi mới được làm quen với tên tuổi ông. Còn nhớ lần đó tôi theo xe chở cá nước đá về Saigon “bổ hàng” cho mẹ – mẹ tôi có quán hàng xén tại chợ B.T. – một buổi trưa lang thang trên vỉa hè Trần Hưng Đạo, dừng chân ngắm hàng sách “sôn” bày la liệt, tình cờ thấy cuốn “Kim chỉ nam của học-sinh” của Nguyễn Hiến Lê, một tác giả hoàn toàn xa lạ với tôi lúc đó. Đọc qua lời Tựa, tôi mua ngay.

Tản cư về, tôi bị trễ học đến 4, 5 năm, nhà nghèo, cha mất sớm, tôi phải phụ giúp mẹ trông nom cửa hàng cho nên dù hiếu học, tôi cũng không biết cách nào để tiến thân. May quá, “Kim chỉ nam” đã mở cho tôi một chân trời mới. Đọc xong, tôi thấy mình gần gũi với ông kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ-thống-hóa, đặt ra những nguyên-tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viển vông nhàm chán. Thời gian sau đó tôi lại tìm mượn được thêm các cuốn Tự học để thành công, Rèn nghị lực của ông tại nhà một anh bạn làm nghề may. (anh Chín, khi đọc những dòng này, anh có nhớ bọn mình đã góp chung tiền để mua loại sách này chăng và bây giờ, làm chủ một tiệm may nho nhỏ chắc anh đã đủ tiền mua trọn bộ sách Nguyễn Hiến Lê cho các con anh như đã từng ao ước rồi phải không?).

Với niềm tin mới, tôi bắt tay vào việc lập chương trình “học nhảy”. Tôi viết thư hỏi ý kiến ông về việc này và ông trả lời “được” vì qua bức thư thấy tôi khá già giặn và sức học đã vững. (Trong Kim chỉ nam của học sinh ông đả kích việc học nhảy lớp dữ lắm!). Lúc đó tôi đang theo học đệ thất – lớp đệ thất đầu tiên, mới mở của tỉnh – và tôi đã rất xấu hổ phải ngồi bên cạnh các học trò nhỏ hơn mình 4, 5 tuổi. Nhờ có chí và biết áp dụng những phương pháp học chỉ dẫn trong Kim chỉ nam và Bí quyết thi đậu, tôi đã rút ngắn chương trình Trung-học được ba năm, đuổi kịp các bạn bè cùng lứa. Được bà con khuyến khích, mẹ tôi bằng lòng cho tôi đi Saigon “du học”.

Đến Saigon, việc đầu tiên của tôi là tìm thăm ông, định bụng sẽ báo tin cho ông biết là đã thi đỗ và bày tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn của tôi ; nhưng khi gặp ông, tôi đã lúng túng không biết phải nói gì, chỉ ấp úng trả lời ông vài ba câu rồi ra về. Thấy ông có vẻ nghiêm nghị quá, lại đang bận sửa bản vỗ cho một tác phẩm nào đó. Như thế là lần này tôi đã hoàn toàn thất bại, cuốn Đắc nhân tâm của ông không giúp tôi được tí gì cả! Từ đó, mỗi lần đến thăm ông tôi thường rất ngần ngại, lúc nào cũng có cảm tưởng như quấy rầy ông, không để cho ông “sống đủ 24 giờ một ngày”. Nhiều người quen biết ông chắc cũng cùng cảm tưởng đó lúc ban đầu. Về sau, nhiều năm trôi qua, quen thân ông nhiều hơn, tôi biết tôi đã lầm lẫn. Phong thái ông là phong thái của một nhà nho, giao tình dù thật thắm thiết thì bên ngoài vẫn có vẻ hờ hững, khác xa với cái vồn vã ồn ào của người Tây-phương. Chính cái ánh mắt ông và cái bắt tay chặt chẽ của ông đã bộc lộ tâm tình ông nhiều hơn. Bây giờ tóc ông đã bạc nhiều, da sậm và nhăn nheo nhiều hơn, nhưng ánh mắt vẫn tinh anh và cái bắt tay vẫn nồng nhiệt như thuở đó. Những lúc đến thăm, tôi thấy ông luôn mặc bộ bà ba trắng nhạt, cũ kỹ quen thuộc, cũ kỹ quen thuộc như loại bì thư ông quen dùng trong bao nhiêu năm qua. Ông không thích đổi thay. Hình như ông hút thuốc hơi nhiều quá! Lúc nào cũng có lon thuốc rê bên mình, ông vừa trò chuyện với khách vừa vấn vấn vê vê điếu thuốc lá, liếm nhẹ rồi bật quẹt hút. Các ngón tay ông nhanh nhẹn, thuần thục đến vàng sậm màu khói. Ông khen Lâm Ngữ Đường là “cận nhân tình” có lẽ vì họ Lâm “bồ” với ông, đã không cấm ông hút thuốc dù cái bao tử của ông cứ đau đi đau lại hoài!

Thỉnh thoảng khi có chuyện thắc mắc, chuyện vui buồn gì mà không tiện đến thăm, tôi viết thư cho ông. Lần nào ông cũng sốt sắng trả lời, ân cần chỉ dẫn, khuyến khích tôi.

Quen biết ông mới thấy ít có ai yêu tiếng mẹ như ông. Muốn cho ông “thao thao bất tuyệt” thì cứ việc nói đến tiếng Việt với ông. Ông chịu không nổi khi thấy một chữ bị dùng sai. Còn nhớ khi bọn sinh viên chúng tôi vận động chuyển ngữ Việt tại trường Y-khoa, ông đã hỗ trợ bằng những bài báo nẩy lửa. Lúc đó giọng ông không còn cái vẻ nghiêm túc, hiền lành, bình đạm thường ngày nữa mà sôi nổi, gay gắt, phẫn nộ, đầy khích động ; giá có ai giật lấy bút của ông đi, tôi chắc là ông sẽ lấy dao “viết lên đá” như Trần Dần nói.

Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Cuốn sách đầu tay của tôi Những tật bệnh thông thường trong lức tuổi học trò, chỉ là một phần bổ túc cho cuốn Kim chỉ nam của học sinh. Sau đó tôi viết thêm một cuốn khác, cùng loại y-học phổ thông, cũng nằm trong chiều hướng nâng  cao trình độ đại chúng mà ông đã vạch. Ông nói muốn cho nước giàu, dân mạnh thì không phải chỉ một người hay một nhóm người làm được, mà phải là toàn dân cùng ý thức, cùng thực hiện. Muốn vậy phải đặt nặng vấn đề giáo dục đại chúng.

Với tôi, ông là một tấm gương sáng. Tấm gương của Nghị lực, của Tự học và của Phụng sự. Ông tận tụy cả đời viết sách, đem kinh nghiệm bản thân ra hướng dẫn thanh thiếu niên, mong giúp được cho người khác chút gì ; lúc bỏ cây viết ra thì vớ ngay cuốn sách để đọc, để học không ngừng. Tôi đoán sở dĩ ông đã không nhận một chức vụ gì trong guồng máy công quyền là để giữ cho ngòi bút mình độc lập, để có thể đóng trọn vai trò giám sát của người trí thức mà Alain đã nói. Nhờ đó ông không có mặc cảm, thấy điều gì đáng khen thì khen, điều gì không ưa thì nói. Và ông đã nói bất cứ điều gì từ việc dịch sách, chuyển ngữ đến việc nhân mãn, ô nhiễm… Có thể đôi lúc ông cũng sai lầm, nhưng điều quan trọng là ông đã thành thực với chính ông.

Đến nay ông đã cho ra được 100 tác phẩm, có những tác phẩm dày vài ngàn trang, có những tác phẩm 3. 4 cuốn, về đủ mọi bộ môn, từ văn chương, y-học, giáo dục, đến lịch sử, triết học… làm nhiều người kinh ngạc về sức làm việc của ông. Tôi biết có những tác giả “sản xuất” còn nhiều hơn ông, viết mau và viết mạnh hơn ông, nhưng đọc họ người ta thấy rõ ràng là những tác phẩm máy móc, sản xuất hàng loạt. Ở ông thì không. Ở ông là con người. Tác phẩm ông là con người ông. Ông “dạy” cho thanh niên rèn nghị lực thì chính ông là một tấm gương nghị lực ; ông viết về tổ chức thì chính nếp sống ông là một sự tổ chức ; ông viết về tự học thì chính ông đã nhờ tự học mà thành công. Nhờ viết từ những kinh nghiệm sống thực đó, người đọc thấy gần gũi với ông và những lời ông chỉ dẫn đều có thể ứng dụng được.

Nhìn lại toàn bộ tác phẩm ông, không ai chối cãi giá trị của những Đông kinh nghĩa thục, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đại cương Triết-học Trung-quốc, Ngữ pháp Việt-nam… và những Chiến tranh và Hòa bình, Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến quốc sách… Những tác phẩm đó thực sự có ích cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên đại học và đã đóng góp một phần đáng kể cho nền văn hóa miền Nam. Nhưng theo tôi, những tác phẩm quan trọng trong đời ông, đáng cho ông hãnh diện chính là những tác phẩm nho nhỏ, ông viết nhằm giáo dục thanh thiếu niên, hướng dẫn họ trong việc tự huấn luyện trí, đức. Đó là Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Tương lai trong tay ta, Rèn nghị lực… và nhất là bộ Gương danh nhân của ông. Mà họ là ai? Là những thiếu niên thất chí bán hàng xén như tôi thuở đó, là anh thợ may lận đận như anh Chín NS, là một giáo viên tiểu học, một y tá hương thôn, một thơ ký nghèo trong một công tư sở nào đó. Họ là những người có thiện chí, có tinh thần cầu tiến, hiếu học nhưng vì hoàn cảnh mà lỡ dở. Họ là thành phần đông đảo nhất trong xã hội ta bây giờ, một xã hội có vốn liếng hơn ba mươi năm chiến tranh. Nhờ những cuốn sách đó, trước mắt họ mở ra những cánh cửa mới, trong lòng họ nhen lên ngọn lửa nồng, và dù họ có không “thành công” nhiều thì đời sống họ cũng sẽ được nâng cao ít ra là về mặt tinh thần. Thú thực, tôi rất bực mình khi thấy chính tác giả có lần đã xếp những loại sách đó vào hàng thứ yếu. Ông nói “… nhưng chẳng qua cũng chỉ để cho thanh niên đọc (Kỷ niệm Văn-thi-sĩ hiện đại – Bàng Bá Lân). André Maurois 80 tuổi mới viết “Thư ngỏ gởi tuổi đôi mươi”!

*

Những năm gần đây ông chuyên viết về cuộc đời và tư tưởng của các triết gia Đông phương: Liệt tử và Dương tử, Khổng tử, Mạnh tử, Hàn Phi tử… Ông viết chậm và ít hứng hơn, có lẽ một phần vì tuổi đã lớn, một phần vì sức khỏe suy kém.

Các nhà phê bình sau này nhắc đến sự nghiệp ông mà quên không nói đến sức khỏe ông là một điều thiếu sót lớn! Thực không ai ngờ rằng một người viết hằng trăm tác phẩm như vậy lại là một người đau yếu liên miên. Chứng đau bao tử kinh niên của ông thỉnh thoảng trở đi trở lại. Mỗi lần gặp ông mà thấy ông có vẻ cau có thì chắc chắn là ông bị cơn đau bao tử hành rồi! Thứ bệnh đó thực là khó chịu (vì chính tôi cũng mắc phải nên hiểu lắm!) : nó làm cho ta trở thành một con người… xa lạ, không thích giao du, không chịu được đám đông. Phải ăn đúng giờ, nghỉ đúng giấc. Phải cữ món này, kiêng món nọ, không uống rượu, ít hút thuốc. Tâm hồn rán cho yên tĩnh. Nếu không vậy thì đau. Trong một bức thư, ông cho tôi biết ông vừa bị sưng bao tử (gastrite) vừa bị loét ở cuống (ulcère duodénal). Mỗi lần gặp chuyện lo lắng, buồn phiền hay gặp một chương sách khó viết, ông lại đau. Những lúc đó tay cầm viết của ông bị run rẩy. Có lần ông bị nấc cục mấy hôm liền và thường hay bị mất ngủ, bón, trĩ… Tất cả những chứng đó đều có bà con xa gần với bệnh đau bao tử. Cho đến ngày nay, y học cũng chưa có thuốc chữa dứt khoát bịnh này mà nguyên nhân một phần lớn là do tâm thần. Các thứ thuốc chữa chỉ có tính cách ngăn chận cơn đau tạm thời, lại thường gây những phản tác dụng như làm mất ngủ, bón, trĩ v.v… Bịnh có thể tự nhiên khỏi. Một tạp chí y học mới đây đăng kết quả một cuộc thí nghiệm chữa bịnh đau bao tử như sau: một nhóm bịnh nhân được chữa bằng thuốc đau bao tử, một nhóm khác được chữa bằng Placébo (1). Tỉ lệ lành bịnh gần gần như nhau. Thỉnh thoảng tôi đến thăm, nghe ông khoe một thứ thuốc trị đau bao tử mới, uống khá hiệu nghiệm ; còn tôi thì khoe với ông một phương pháp chữa đau bao từ cũng mới, là đọc truyện kiếm hiệp của Kim-Dung, để quên hết những căng thẳng, lo lắng, mệt mỏi. Rồi tôi gửi biếu ông một bộ “Cô Gái Đồ Long”. Rất tiếc là ông không đọc được kiếm hiệp. Ông thử đọc cuốn đầu rồi thôi, chịu, không đọc thêm được nữa!

Năm ngoái tự nhiên mắt ông nhìn kém đi, vẫn đọc sách được, nhưng trong khoảng cách hai thước ông nhìn thấy lờ mờ như có lớp sương mù. Tôi ngại rằng ông có thể mắc bệnh hột cườm ở người già (cataracte sénile), định giới thiệu ông đến một bác sĩ nhãn khoa, nhưng ông chưa đi thì bệnh bớt dần rồi khỏi. Những ngày gần đây ông còn bị đau răng, rồi bị thận viêm. Bịnh tuy không có gì nặng nhưng là những thứ bịnh khó chịu, và làm kém sức khỏe. Nhiều lúc tôi ngờ rằng sự nghiệp trước tác của ông một phần xây dựng từ những bịnh tật của ông.

Mắc bịnh đau bao tử, một thứ bịnh đòi hỏi phải sống, phải làm việc có tiết độ, ông chú trọng nhiều đến tổ chức, viết Tổ chức công việc theo khoa học, Tổ chức gia đình v.v… Để có thể tự chữa thứ bịnh tâm thể (Psychosomatique) đó của mình, ông viết Sống 365 ngày một năm, Sống theo sở thích, Chấp nhận cuộc đời v.v… Những lúc buồn phiền, lo lắng, ông viết Quẳng gánh lo đi, Trút nỗi sợ đi, Xây dựng hạnh phúc… Những lúc bệnh bớt, thấy khỏe khoắn, hăng hái trở lại, ông viết Thẳng tiến trên đường đời, Tương lai trong tay ta… và khi mệt mỏi, căng thẳng ông xả hơi  bằng Tô Đông Pha, Sống Đẹp… Có phải tôi đã hơi méo mó mà nghĩ ra mấy chuyện đó không? Và như vậy ta sẽ có một thứ quan điểm phê bình gọi là phê bình bịnh-lý-học chăng?

*

Mơ ước lớn nhất của đời ông bây giờ có lẽ là được thấy cảnh thanh bình, con cháu đoàn tụ, rồi lui về  sống với mảnh vườn ở miền quê. Năm kia tôi gửi ông một bài thơ, bài “Đi cho đỡ nhớ” viết từ nỗi xúc động thấy những chuyến xe lửa lại lăn trên đường sắt, dù chỉ mới lăn đến… Biên Hòa, mà mơ một chuyến tàu nam bắc. Ông trả lời:

“(…) Nhưng cháu làm cho tôi thèm đi quá! A, bao giờ Saigon mới được nối với Hà-nội bằng xe lửa đây? Lúc đó tôi sẽ bỏ hết công việc, nhờ cháu làm revision gérénale cho bộ máy của tôi, rồi lên xe lửa thăm non sông Nam Trung Bắc một lần cuối cùng. Sẽ uống dừa Tam Quan, ăn cam xã Đoài, rồi ăn nhãn Hưng Yên, hồng Bạch Hạc, cốm Vòng v.v…”

Rồi cuối năm ngoái, có lẽ đã đợi mãi, hy vọng rồi thất vọng mãi vẫn chưa thấy thanh bình về trên quê hương mà chiến tranh càng ngày càng thêm thảm khốc, ông viết “Bây giờ tôi chỉ mong được nghỉ ở thôn quê thôi. Hai mươi mấy năm viết lách liên tiếp, chưa bao giờ được nghỉ lấy một tháng (…)” Ý muốn này ông đã lập đi lập lại như một điệp khúc từ nhiều năm qua mà không sao thực hiện được. Cứ nghỉ ít lâu ông lại chịu không nổi, phải cầm viết lại. Ông đã nghiện nặng rồi chăng?

Cuộc đời ông quả thực là một tác phẩm lớn. Tôi ước mong trong tuổi già ông sẽ viết hồi ký, kể lại đời mình cho bọn trẻ chúng tôi đọc như André Maurois viết “Portrait d’un ami qui s’appelait moi” vậy. Tôi là độc giả của ông từ ngày còn là một học trò đệ thất, lại được quen biết ông hơn 15 năm nay, nghĩ lại, nếu trong thời thơ ấu không được đọc những sách đó của ông, không được gặp ông, có lẽ tôi đã khác ; nên tuy không được may mắn học với ông ngày nào, từ lâu tôi vẫn xem ông là một vị thầy của mình, hơn thế, một người thân. Tôi đâu có cần phải nói cám ơn ông!

 

ĐỖ HỒNG NGỌC

___________

(*) Lời B.K. – Những tác phẩm của tác giả mang tên Đỗ Hồng Ngọc là: Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972 – tái bản 1974), Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng (1975), những thi phẩm mang tên Đỗ Nghê là: Tình người (1967), thơ Đỗ Nghê(1974)

(1) Một loại “thuốc giả” chỉ có tác dụng tâm lý, dùng để thí nghiệm.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 40: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

16/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Kỳ 40:  Phật Học & Đời Sống

Chủ đề: “LUÂN HỒI – SANH TỬ”

Thứ bảy 13.10.2018

lúc 15-16.30h,

tại Chùa Phật học Xá Lợi

89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp.HCM

Cảm ơn nvquyen đã ưu tiên sớm gởi clip này để chia sẻ cùng các bạn.

(ĐHN)

……………………………………………………………………….

Ghi Chú: Sinh hoạt Phật Học & Đời Sống nghỉ ngày 20.10.2018.

Kỳ 41 sẽ được tiếp tục vào ngày Thứ bảy 27.10. 2018

tại Chùa Phật học Xá Lợi, 15-16.30h như thường lệ.

Chủ đề: NHÂN QUẢ

Thân mời các bạn tham dự.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Kỳ 39: Phật Học & Đời Sống

12/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Kỳ 39. PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Thứ bảy 6.10.2018 tại Chùa Phật học Xá Lợi Saigon,

Chủ đề: “TỤNG KINH, NIỆM PHẬT, TRÌ CHÚ”… thế nào (tt)

Cảm ơn nvquyen đã gởi clip chia sẻ cùng các bạn.

ĐHN.

……………………………………………………….

Kỳ 40. Phật Học & Đời Sống

15-16.30h Thứ bảy 13.10.2018 tại Chùa Xá Lợi,

89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp.HCM

Chủ đề: “Luân Hồi Sanh Tử”

Thân mời các bạn tham dự,

Trân trọng,

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Kỳ 38: Phật Học & Đời Sống

05/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 38: Phật Học & Đời Sống

Chùa Phật học Xá Lợi, Tp.HCM 29.9.2018

“TỤNG KINH, NIỆM PHẬT, TRÌ CHÚ”… Thế Nào? (tiếp theo).

Xin tham khảo video clip vừa gởi đến.

Đa tạ nvquyen.

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

……………………………………………………………………………………..

Sinh hoạt “Phật Học & Đời Sống” kỳ 39

Từ 15h-16h30 ngày Thứ bảy 6.10.2018

tại Chùa Phật học Xá Lợi Saigon,

89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp.HCM

Chủ đề: “TUNG KINH, NIỆM PHẬT, TRÌ CHÚ…” Thế Nào? (tiếp theo)

Thân mời các bạn tham dự.

Trân trọng,

ĐHN

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Kỳ 37: Phật Học & Đời Sống

27/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Kỳ 37: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Thứ bảy 22.9.2018 tại Chùa Phật học Xá Lợi, Tp.HCM

Chủ đề: Tụng Kinh, Niệm Phật, Trì Chú… nên thế nào?

Chủ đề này sẽ được tiếp tục sinh hoạt trong Chương trình “Phật học & Đời sống” các buổi tiếp theo.

Thân mời các bạn tham dự Thứ bảy 29.9.2018 từ 15-16h30

tại Chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Q3, Tp.HCM

Cảm ơn nvquyen đã gởi video clip để cùng chia sẻ!

Trân trọng,

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

27/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Hồi âm “Thư gởi bạn xa xôi” của Bs Đỗ Hồng Ngọc.

Hai Trầu Lương Thư Trung

 

Kính chào Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,

 

Hôm qua, tình cờ tôi vào trang nhà của Bác sĩ (www.dohongngoc.com/web/), thật vui và cảm động đọc được “Thư gởi bạn xa xôi” ngày 09 tháng 09 năm 2018 với tựa đề “Gặp Hai Trầu ở Đường Sách Sài Gòn.”

Không vui sao được, với mấy ngàn cây số về qua Sài Gòn lại được Bác sĩ bỏ chút thời giờ  quí báu ngồi nhâm nhi ly cà phê nóng với người nhà quê già mà nghe rất ấm lòng biết chừng nào! Nhớ buổi sáng hôm ấy, tôi thấy Bác sĩ vừa uống cà phê, vừa trò chuyện mà cũng vừa ghi ghi chép chép nữa… Tôi nghĩ chắc Bác sĩ có buổi thuyết trình về một đề tài nơi ngôi chùa nào đó mà Bác sĩ có nói là khoảng 11:30 trưa, sẽ có một cái hẹn. Nhưng nay đọc “Thư gởi bạn xa xôi” vừa rồi mới biết Bác sĩ ghi chú vài nét chính cho lá thư.

Dường như, nếu không lầm, tôi nghĩ cách làm việc của Bác sĩ rất nguyên tắc; tức là dù nói hay viết bất cứ đề tài nào, Bác sĩ đều có một dàn bài tổng quát, rồi sau đó cứ khai triển rất rộng thêm những chi tiết cần có hầu làm cho nội dung câu chuyện được rõ ràng và đầy đủ thêm mà không bị lạc đề hay thiếu sót hoặc dư thừa. Qua các tác phẩm của Bác sĩ tôi thấy thấp thoáng cách trình bày như vừa kể hoặc qua các buổi mạn đàm về Phật pháp nơi các thiền viện, tôi cũng thường thấy trên tay Bác sĩ lúc nào cũng có cây viết và những biểu đồ lúc Bác sĩ thuyết trình.

Một nét nữa mà tôi nhận ra là cái cách Bác sĩ nói hay viết, Bác sĩ rất chú tâm đến việc dùng chữ. Dù nói về một đề tài mang tính cao siêu như nói về Phật pháp, hoặc nói về cái nét rất gần trong đời sống thường ngày như cách thở, cách ăn chay, cách uống nước thôi mà chữ dùng trong các trường hợp ấy cũng là một sự chọn lựa không phải lúc nào cũng dễ dàng. Ở những trang sách của Bác sĩ không có những thai đố như người ta hay gặp những năm thập niên 50-60 hoặc những danh từ triết học mà hồi mấy năm 1960-1970 lúc tôi còn đi học thường hay nghe các giáo sư dạy môn triết học thường dùng… càng làm mình rối trí như tơ vò!

Tôi xin dẫn ra đây một thí dụ rất gần và rất thực, như trong cuốn “Nếp Sống An Lạc”, Bác sĩ viết: “ Có một lời khuyên tốt nhất về việc mình nên sống như thế nào là: Hãy sống ở đây và bây giờ. Điều đó không có nghĩa là mình tìm một cái lạc thú khơi khơi nhưng mà nếu mình biết sống ở đây và bây giờ thì mình bớt căng thẳng đi và có thể có được an lạc, hạnh phúc. Một người sống vì tương lai, vì dĩ vãng thì xem như là chẳng sống chút nào cả bởi vì tương lai thì chưa tới mà dĩ vãng thì đã qua rồi. Vậy thì tốt nhất là sống cho hiện tại.” (trang 78, Nếp Sống An Lạc). Qua đó, theo tôi đây là quan niệm của Bác sĩ chính là một quan niệm rất “hiện sinh” mà gần gũi, không cầu kỳ, cao siêu…!

Thú thật, gặp lại Bác sĩ ở “Đường Sách Sài Gòn”, dù không bao lâu, vì thời giờ bây giờ dường như qua quá mau, nhưng tôi muốn hỏi Bác sĩ nhiều việc, mà không kịp hỏi. Chẳng hạn như tôi có thưa với Bác sĩ sao trong kinh Pháp Hoa, người ta không dùng chữ “Chươn” mà lại dùng chữ “Phẩm” chẳng hạn? Hoặc, có câu hỏi khác như khi nào thì Bác sĩ thực sự “an lạc”, thực sự “hanh phúc”? Nhớ có lần, dịp Tết Nguyên Đán, Bác sĩ  có kể lúc từ Đà Lạt xuống Đơn Dương, bác sĩ đang đi ngoài trời lạnh, rồi bước vào một tiệm cà phê vùng cao nguyên này, nhiệt độ trong tiệm ấm hơn và bác sĩ bảo rằng gặp được hơi ấm giữa lúc mình đang bị lạnh là một hạnh phúc rồi vậy! Theo đó, hạnh phúc hay an lạc là do chính nơi lòng mình, không ở đâu xa. Phải thế không bác sĩ?

Nhớ hôm đó, tôi có hỏi thăm về chị TV, như trong “Thư gởi bạn xa xôi” vừa rồi bác sĩ có nhắc. Tôi chợt dưng nhớ lại hồi năm ngoái, khi vợ chồng tôi ghé thăm Bác sĩ ở hồ sen Kỳ Hòa, trên lối đi dưới tàn phượng vĩ cổ thụ, có một cái lều nhỏ ven đường, Bác sĩ có nhắc nơi chiếc lều ấy, có lần ca sĩ TV đã hát bài “Bông hồng cho Mẹ” rất cảm động.

Tôi bùi ngùi khi Bác sĩ cho biết chị ấy giờ không còn đứng hát nơi quán gió lều trăng thuở nào nữa rồi! Và tôi thốt lên với Bác sĩ, như một tiếng than: “Thiệt là quá uổng!”

Tối hôm ấy, tôi quá giang xe mấy đứa cháu về quê. Dù cố mở mắt nhưng xe chạy phon-phon trong đêm tối, tôi chẳng thấy được gì ngoài những cánh đồng tối om om bên tiếng xe chạy rào rào trong gió lạnh. Vậy mà xe về tới nhà dưới quê Tân Bình (Lấp Vò) của tôi đâu cũng vào lúc 02:00 sáng đã nghe văng vẳng trong xóm tiếng gà gáy hiệp nhứt bắt đầu…

Bận về tôi với đứa cháu chạy xuống làng Vĩnh Thạnh (Lấp Vò) ghé tìm ngôi mộ Thầy Nguyễn Hiến Lê, cách nay ba bốn năm đọc báo trên mạng nghe nói mộ phần của Thầy tọa lạc nơi ngôi chùa Phước Ân Tự nằm nơi là Vĩnh Thạnh này mà tự bấy lâu nay tôi chưa có dịp ghé chùa Phước Ân Tự lần nào.

Hôm tôi ghé lại thì có một ni sư trọng tuổi, khoảng trên tám mươi, bà bước đi phải có cây gậy trên tay, ra tiếp và tôi có hỏi thăm phần mộ của thầy Nguyễn Hiến Lê và được bà cho biết mộ phần của Thầy hồi trước nằm dưới chỗ trũng, cỏ mọc um tùm rồi sau này được bồi đấp và nâng lên cao như hiện nay.

Tôi lại hỏi thêm, con cháu của Thầy Cô có ai lui tới thăm viếng thường không? Vị ni cô cho biết, thỉnh thoảng con cháu trên Long Xuyên có về cúng bái, còn con cháu ở ngoại quốc thì chưa thấy. Tôi lại hỏi thêm, ở chùa có biết thầy Nguyễn Hiến Lê là ai không? Ni cô cho biết lúc mới đầu hổng biết nhưng mấy năm trước có người miền ngoài, và trên Sài Gòn xuống tìm mới biết Thầy là nhà văn viết sách. Tôi lại hỏi ở chùa có một tủ sách nào hoặc có một kệ chưng bày quyển sách nào của Thầy không? Ni cô nói không có.

(…)

Nhớ trong “Thư gởi bạn xa xôi: Chuyến về Cà Mau và Đồng Tháp” ( Tuesday, March 21, 2017), Bác sĩ có viết một câu làm tôi rất cảm động: “Đường từ Cao Lãnh đi Tam Nông còn gặp những căn nhà cũ kỹ bên bờ đê còn sót lại những cây cầu dịu dàng dễ thương lắm. Nhưng cầu khỉ thì không còn thấy đâu nữa! Có lẽ sau này chỉ cón thấy cầu khi ở nhà Bảo tàng (mua vé vào coi) hoặc vài khu du lịch Đất phương nam. Nhớ anh Hai Trầu quá!”

Chẳng những bây giờ tôi thấy cầu khỉ hổng còn mà xuồng ghe cũng hết chỗ dùng rồi Bác sĩ ơi! Hồi đời trước nhà nào cũng có ít nhứt là một chiếc xuồng, có nhà còn có ba bốn chiếc nữa vậy mà có khi cần chuyên chở đi lại xuồng vẫn thiếu. Nay thì đi đâu người ta cứ đi bằng xe gắn máy, hổng còn ai đi xuồng nữa rồi! Năm thuở mười thì Bác sĩ mới gặp được một chiếc xuồng bơi trong kinh rạch như xuồng mua ve chai lông vịt chẳng hạn, còn thường thì xuồng cứ nằm lăn lóc trên bờ, bên con đường tráng nhựa, hoặc nằm úp mặt trên hai cái nề ngắn nơi một góc vườn hiu quạnh mà nghe tủi phận mình nay hổng còn là thời của mình nữa rồi!!!

photo: Hai Trầu LTT

Thưa Bác sĩ, loay hoay rồi ngày cũng qua ngày, tôi lại phải theo xe đò về lại Sài Gòn. Hôm ấy, trời Sài Gòn mưa ướt quá mạng! Tôi có gọi điện thoại cho Bác sĩ hay nhưng vì mưa nên hổng gặp lại được.

Dịp này tôi cũng ghé qua nhà sách Nguyễn Huệ nằm trên đường Nguyễn Huệ, rất vui gặp được kệ sách của Bác sĩ nằm ngay lối vào, rất hấp dẫn. Tôi đếm thử, ở kệ sách này có khoảng trên 40 tựa sách của Bác sĩ đã xuất bản.

Hai Trầu Lương Thư Trung giữa Nhà sách Nguyễn Huệ Saigon (9.2018)

Tôi nay là một người nhà quê già hơi bộn-bộn rồi, mà còn thêm nhiều chứng bịnh khác nữa như mau quên, mắt mờ, tai điếc nặng nên tôi hy vọng Bác sĩ hổng chán là tôi mừng lắm rồi! Phải vậy hông Bác sĩ?

Thân mến,

Hai Trầu

(Houston, ngày 25 tháng 9 năm 2018)

 

https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/13464/

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Một bức thư của Kiều Minh Mạnh từ Đơn Dương

24/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

ĐA TẠ BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC TẶNG SÁCH THOẢNG HƯƠNG SEN

Kiều Minh Mạnh

(Đơn Dương, Lâm Đồng)

 

hình: Kiều Minh Mạnh

Cứ mỗi lúc nghĩ đến Thiền và Phật, tôi lại nhớ đến một câu chuyện kể về bác sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, đọc một lần rồi nhớ mãi: Năm 1964, Suzuki đến Honolulu dự Nghị hội Triết gia Đông Tây lần thứ tư. Các quan chức hàng không đã được lưu ý trước rằng một triết gia Nhật lỗi lạc, người đã trên 90 tuổi, sẽ đến trong một chuyến bay. Tưởng là sẽ đón một ông già lụ khụ, các nhân viên hàng không đã đặt ngay tại chân cầu thang máy bay một chiếc xe lăn. Nhìn thấy sự ưu đãi chu đáo dành cho mình, ông liền ngồi vào xe lăn để được đẩy vào phòng khách như một người… bất lực, dù ông chưa hề bất lực, vẫn đi đứng đàng hoàng trên đôi chân của mình. Hành động ân cần, tử tế, độ lượng của một bậc Thiền sư khiến bao triết gia đông tây đều kính phục tâm Tùy Hỷ của ông.

Bác sĩ Suzuki là một bậc đại tôn sư lại là người của thiên niên kỷ trước, người bình dân chỉ có thể kính nhi viễn chi đối với ông và tư tưởng của ông. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở mình thì khác, có duyên thì ai cũng có thể gặp mặt ngoài đời, còn sách của ông thì có ở mọi hiệu sách, ai cũng đọc được và học được. Học ở ông Đạo làm người, học cách chăm sóc sức khỏe cho bản thân và người thân, học Phật, học Thiền, học…viết văn, làm thơ nữa!

Tôi “gặp” bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhiều năm trước, khi đọc những giải đáp thuộc lĩnh vực y học, sức khỏe và tâm lý học khi ông cùng với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh “Gỡ rối tơ lòng thòng” trên các báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ… Rồi đọc sách ông dạy làm mẹ… Rồi phát hiện ra ngôi nhà tinh thần của ông giữa cõi Ta bà, theo ông lõm bõm Học Phật. Có lần tham gia bình luận dưới một bài giảng của ông, nói rằng cũng học cách ông chia sẻ, tập thở, tập thiền. Mà, cái tâm chẳng thể định được, cứ nhắm mắt hít thở một hồi là ý nghĩ đã bay tới cơ quan, tới những công việc cần phải làm và đủ thứ, đành phải phì cười mà bỏ cuộc. Không ngờ nhận được email hồi âm của Bác sĩ: “…Phì cười là tốt lắm!”. Một vị học giả như ông mà vẫn dành thời gian để đọc, trả lời thư và giải đáp những thắc mắc của rất nhiều người trên nhiều lĩnh vực, tôi nghĩ ông đúng là một vị Bác sĩ của tha nhân, thật giàu đức nhẫn nại, ân cần, tử tế, bao dung, rộng lượng. Bao dung là bởi có lần, đọc thấy ông nói đang bị gút hành hạ. Mặc kệ ông là Thầy thuốc, lại còn dạy cho người ta cách chữa bệnh, tôi nhớ đã email cho ông với một mớ lời khuyên bác sĩ phải biết tự chăm sóc cho bản thân. Gửi thư xong rồi mỉm cười. Cũng biết người nhận thư đọc thư cũng sẽ chỉ mỉm cười. Bởi một thân là Dược Vương, lại không khác một Đại Nhạo Thuyết, ông thừa thấu trong thư là lòng quan tâm trắc ẩn. Gặp người khác là nóng mặt rồi đây: có biết ta đây là ai không mà bày đặt “lên lớp”. Thỉnh thoảng gặp dịp nào đó lại gửi đến ông lời thăm hỏi dành cho một vị trưởng bối. Cuối tháng 8 vừa rồi, email chúc mừng sinh nhật của Bác sĩ, than vãn vài câu. Thế là được ông nhờ người gửi tặng cho cuốn sách của ông vừa xuất bản: “Thoảng Hương Sen”. Một tuần sau nhận được sách. Cũng phải giải thích vì sao lại có sự chậm trễ này, khi người chuyển sách đã gửi bằng phương tiện chuyển phát nhanh từ Đà Lạt. Cậu bưu tá gọi điện ngay khi có bưu phẩm, nhưng người nhận đang ở xa, vậy là cậu cứ mang trong túi thư suốt cả tuần, đến khi điện thoại cậu mới mang đến nhà. Rồi đó, nâng niu bưu phẩm nhận được, ngắm nghía chữ viết trên bao thư, chưa vội mở ra đã thấy… thoảng hương sen.

Tôi đọc thấy một chữ Đức và một chữ Chân Thành trong suốt 30 bài viết ngắn tập hợp trong cuốn sách Thoảng Hương Sen của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Chữ Đức toát ra từ một người nói và thực hành, cả đời đã tu tập rồi mang sự hiểu biết và tri ngộ của mình mà giác tha. Mỗi đoản văn chứa cả cái Tâm chân thành của người viết dành cho tri âm, những người đang muốn học Phật, muốn tiếp cận với Thiền. Dường như ông không định áp đặt cái biết của mình cho người đọc. Giọng văn tự sự, giản dị như tự mình nói với mình. Ta đọc, ta quan sát, ta thấy vậy và nó là như vậy đó. Còn ai thấy khác thì nó cũng là vậy đó thôi. “Nhạn quá trường không. Ảnh trầm hàn thủy. Nhạn vô di tích chi ý. Thủy vô lưu ảnh chi tâm.” (Thiên Y Nghĩa Hoài). Giữa chốn hồng trần trôi trôi, gió thổi không ngừng. Ai nhìn thấy được xa trước mắt người đó “đắc đạo” vậy.

Đến chùa trong những dịp lễ, chúng ta thấy đông đảo Phật tử. Nhiều người đến để cầu cho tâm an, người đến cầu tài cầu lộc cầu phúc đức cứ như những thứ ấy từ trên trời cao giáng xuống vậy, há miệng mà chờ sung. Có vị tỳ kheo lại bày cho Phật tử mỗi đêm trước điện Phật, cứ quỳ và tụng niệm thật to pháp danh hằng hà sa số Phật, đến nỗi đêm nào cũng khan cả tiếng. Tìm đường đến với Như Lai mà khó vậy sao? Chi bằng, có người đã đốt đuốc tìm thấy đường đi, ta cứ tin người mà đi theo vậy. Lấy Đạo Bồ-tát mà giúp chúng sinh cùng giải thoát, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc như vị Bồ-tát Đại Nhạo Thuyết cứ không ngừng đem những hiểu biết của mình mà gieo duyên lành ra khắp chốn nhân gian vậy. Ai có duyên thì gặp!

Đơn Dương 22.9.2018

(KMM)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Chút duyên với Elena Pucillo Trương

22/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Quán Văn Số 58 ra mắt 9h sáng ngày 23.9.2018 tại Cafe Lọ Lem 345 Nguyễn Trọng Tuyển như thường lệ nhưng lần này đặc biệt giới thiệu Chân dung văn học của Elena Pucillo Trương, cô dâu Ý xứ Bình Định của Trương Văn Dân.

Bài dưới đây là vài nét chấm phá “Elena” dưới cái nhìn của ĐHN, đồng thời giới thiệu một bài thơ ĐHN mà Elena đã dịch sang tiếng Ý cùng một bài viết rất cảm động của Elena “Thư viết cho Mẹ”…

 

Chút duyên với Elena Pucillo Trương

Đỗ Hồng Ngọc

Trong nhóm bạn văn chen chúc ở cái “Chuồng cu” chật chội là Tòa soạn Quán Văn của Nguyên Minh, thấy bóng một mái tóc vàng óng, một nụ cười rạng rỡ, một chút ồn ào vui nhộn… thì không ai khác đó chính là Elena giữa mọi người. Gọi Elena cho gọn, mặc dù khi viết văn thì tên cô đầy đủ là Elena Pucillo Truong. Và, cũng phải nói thêm, với tôi, không có Trương thì không có Elena và không có Elena thì không có Trương. Nhà văn Elena cứ viết tiếng Ý của cô, Trương Văn Dân “không cần đọc” cũng biết cô viết gì, và bản dịch của anh thật bóng bảy, trau chuốt, cứ tưởng như Elena viết bằng tiếng Việt! Cô dâu người Ý của xứ Bình Định, khăn gói theo chồng, nhà văn Trương Văn Dân về Việt Nam, hòa mình rất nhanh với quê hương xứ Việt, với bạn bè văn chương xứ Việt của chồng và nhanh chóng học tiếng Việt, đến nay cô nói tiếng Việt đã khá sõi rồi…

Một lần từ Bình Định vào, cô nói với tôi: Tụi em có mang “mắm ruột” vào cho anh đây!… Tôi nghĩ cô phát âm sai nên đính chánh: Mắm Ruốc chứ, sao lại “mắm ruột”! Nhưng tôi bé cái lầm. Đó là thứ mắm làm bằng ruột cá của xứ Bình Định, khác với xứ Phan Thiết của tôi chỉ có mắm ruốc!

Rồi khi tôi đăng bài thơ Loài người thật vui trên www.dohongngoc.com/web/ thì mấy ngày sau đã có bài dịch sang tiếng Ý của cặp “song thủ hỗ bác” Elena-Trương. Ít lâu sau đó, tôi viết bài thơ Rùng Mình thì Elena kêu lên: Tụi em vừa dịch vừa rùng mình đó anh ơi! Quả thật, hai bạn trẻ Trương Văn Dân và Elena đã vừa dịch bài Rùng Mình vừa rùng mình thiệt!

Gọi là “bạn trẻ” vì có lần hai bạn lật trang cuối tờ Tạp chí Bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức 1971 ra khoe với tôi: Đây nè, hồi mấy anh làm tờ báo này thì Trương Văn Dân là một độc giả trẻ… đã có tên trên mục “Trả lời bạn đọc” nè!

Gần đây, đọc bài Elena viết về Nguyên Minh rất vui. Cô có con mắt tinh đời, nhận xét sâu sắc, tinh tế về người đàn anh có tuổi này, những phút im ắng, trầm ngâm đắm mình trong dĩ vãng vời xa và những lúc sôi nổi nhiệt tình như vừa trẻ lại khi nhắc đến văn chương, báo chí, với niềm đam mê mãnh liệt, “bỏ quên cả người yêu” trên đường hẹn hò. Thú vị, cô nhắc chuyện Nguyên Minh đi Pháp, đi Roma về kiệt sức đến nỗi chị Lan, người vợ hiền cao quý của anh đã phải hầm hai con chim bồ câu cho ăn anh mới tỉnh lại. Đọc xong tôi cứ cười tủm tỉm: sao tới hai con?

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon 8.2018)  

……………………………………………………………………………………….

 

RÙNG MÌNH…

                                Tùng địa dũng xuất
                                             (Pháp Hoa)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
vì sao núi lửa cứ phun trào?
vì sao băng tan vì sao bão táp…?
vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt
thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
vì sao và vì sao?…

 

Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát

 

Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mủi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
vì sao và vì sao?

 

Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…

 

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)

 

 

BRIVIDI !

Rabbrividendo, l’Uomo chiede :
Perche’i terremoti e gli tsunami
Continuano ad arrivare un giorno dopo l’altro?

Perche’ i vulcani continuano ad eruttare?
Perche’ i ghiacciai si sciolgono, i tifoni distruggono?
Perche’ i bambini e i vecchi vengono trascinati e inceneriti?
Le case crollano e le citta’ sono distrutte come fossero i giocattoli
di un bambino arrabbiato.
E perche’, perche’..???

Ed ora ascolta
Solo un istante……

Rabbrividendo anche la Terra chiede:
Perche’ le montagne continuano a crollare ?
Perche’ i fiumi vengono bloccati?
Perche’ si continua a perforare il fondo della terra?
Perche’ gli uccelli delle foreste, i pesci del mare non hanno un posto dove stare?
Perche’ gli alberi secolari vengono sradicati?
Perche’ il riso, il granoturco vengono modificati geneticamente?

E perche’, perche’ ?

Una volta ci si appoggiava uno all’altro
Sembra che ora non abbiamo più bisogno l’uno dell’altro
La Terra rabbrividisce
L’Uomo rabbrividisce
Ognuno per proprio conto.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Ý của Trương Văn Dân & Elena Pucillo Truong)

……………………………………………………………

 

 Elena Pucillo Truong

Thư viết cho mẹ.

(Nguyên tác : lettera alla madre)

Bản dịch của Trương Văn Dân

Mẹ thương  yêu,

Con thường nghĩ về mẹ nhưng trước đây con chưa viết được gì cho mẹ. Con muốn kể cho mẹ nghe rất nhiều điều, tất cả những gì đã xảy ra với con, về cuộc đời mà con đang sống, dù đôi khi con có cảm giác là mẹ đã biết tất cả rồi. Mẹ luôn có một thứ giác quan thứ sáu, một thứ trực giác bén nhạy để linh cảm về những điều sắp sửa xảy ra. Chỉ tiếc là những linh cảm ấy không giúp mẹ tránh khỏi những khổ đau. Và trong đời, mẹ đã đau khổ biết bao!

Ngay từ lúc còn bé, một cơn sưng màng não đột phát trong vài giờ đã cướp đi người em gái, và sau đó, vì quá đau đớn bà ngoại cũng ra đi.

Kể từ ngày đó mẹ luôn luôn mang theo cái bóp đầm trong đó có hai bức hình đen trắng.

Từ nhiều năm nay trong chiếc ví của con cũng có bức hình trắng đen của mẹ: khuôn mặt mẹ thật đẹp nằm giữa những lọn tóc gợn sóng, hai mắt to màu đen và nụ cười chớm nở trên môi. Lúc đó mẹ chỉ vừa 19 tuổi, trước khi lập gia đình với người yêu và cũng là mối tình đầu và duy nhất của mình. Suốt một đời mẹ chỉ muốn tận tình chăm sóc chồng, thế mà sau ngày cưới chẳng bao lâu, người chồng đã bắt đầu làm khổ mẹ. Niềm an ủi duy nhất của mẹ chính là những đứa con : anh trai và con, đứa con gái mà mẹ muốn giữ, chống lại ước muốn của chồng. Tám năm sau lần sinh nở đầu tiên, chính mẹ đã quyết liệt chống đối để con có thể tiếp tục lớn lên trong bụng mẹ. Thật là khó khăn vì ba muốn mẹ phải phá thai để khỏi bị ràng buộc, nhưng mẹ nhất định không. Mẹ muốn giữ con, và biết chắc là sẽ sinh con gái. Mẹ đã  nhiều lần kể lại cho con nghe là ba đã giận dữ như thế nào: Nếu phải có con, ba chỉ muốn tất cả đều phải là trai!

Thế nhưng, rất nhiều năm về sau, chính ba đã lớn tiếng tuyên bố là người duy nhất mà ba có thể trông cậy và tin tưởng là con, đứa con gái của ba mà trước đây ông muốn bỏ đi !

Thỉnh thoảng con cũng có nghĩ về ba, nhưng trong những giấc mơ, con chỉ mơ thấy mẹ.

Trong những giấc mơ ấy con luôn luôn mơ thấy ngôi nhà mình từng sống. Dường như có lần con từ trường đại học trở về và thấy mẹ đang ngồi cạnh cửa sổ, đôi mắt kính xệ xuống sống mũi, cuí đầu cặm cụi khâu lại ống quần hay kết lại viền khăn trải bàn bị đứt chỉ. Những lần khác con nhìn thấy mẹ đang làm nước sốt cho món mì đút lò. Bao nhiêu lần con đã phụ mẹ để nấu những món mà gia đình thích, thường là ngày chủ nhật vì những ngày khác ba đi làm còn mẹ cũng đi dạy nên có ít thời gian. Nhắc lại, con như nghe trên đầu lưỡi của mình mùi vị thơm ngon của thứ nước sốt rất đặc biệt đó.

Trong các giấc mơ khác con cũng nhìn thấy mẹ, mà là những lúc thật buồn, thật đau khổ, rồi con thức giấc như vừa tỉnh một cơn ác mộng và lòng sầu đau khôn tả. Phải cần vài giây sau con mới định thần được rồi lòng chợt thấy vui vì con được ở  gần bên mẹ. Dù chỉ trong một giấc mơ.

Mẹ ơi, trong những ngày cuối, chao ôi, con thấy mẹ dịu ngọt và mỏng mảnh làm sao! Con biết không phải mẹ khóc vì mình sẽ lìa bỏ cõi đời mà khóc cho những đứa con mà mẹ phải rời xa. Đó không phải là  ý muốn của mẹ, mà là do cái khối u tàn nhẫn đang lớn dần bên trong và  từng ngày cướp đi sức sống.

Sau khi mẹ mất, con luôn giữ những tấm hình của mẹ, lần này là hình màu, trong ảnh mẹ tươi cười và hình như không có nhiều lo âu. Có lẽ chỉ có một chút  màu đen nơi vành mắt là dấu vết của nỗi buồn vì cô độc. Mẹ quá cô độc, nhưng có lẽ tất cả mấy mẹ con mình đều cô độc. Cho đến tận bây giờ con vẫn còn nhớ cái cảm giác bị ruồng bỏ, bị bỏ rơi. Suốt buổi tối cả nhà ngồi quây quần quanh chiếc bàn cơm đã dọn sẵn, im lặng đợi chờ. Nhưng  ba con đã không về trong đêm đó. Và sau đó thì không bao giờ về nữa.

Con không bao giờ muốn nghĩ về những ngày tháng ấy. Ngược lại, con muốn nghĩ rằng giờ này mẹ đang bình an, không còn đau đớn và cuối cùng thanh thản ở một cõi giới khác.

Bây giờ thì con xin báo cho mẹ biết là trong những ngày tới, mẹ sẽ có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Đến gặp mẹ là một người đàn bà mà mẹ đã từng gặp rất nhiều năm trước: mẹ của chồng con. Con tin  chắc rằng hai người sẽ trở thành bạn, sẽ kể cho nhau nghe nhiều rất chuyện, về những cuộc đời ở mãi tận phía bên kia trái đất. Bà ấy hay cười và thích nói đùa. Đây là điều mà con đang tưởng tượng: hai người ngồi bên nhau như thể là hai người bạn lâu năm, vui đùa, cười nói. Mẹ chồng của con sẽ nói về Việt Nam, sẽ giải thích về lễ Vu Lan, một ngày lễ Phật Giáo rất đặc biệt dành cho các bà mẹ vì họ giữ một vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Ngày lễ đó cũng là một cơ hội để các con có thể nói lên tình yêu thương và báo đáp lòng hiếu thảo với mẹ, người đã chịu đựng biết  bao đau đớn để sinh con, nuôi dưỡng và dạy dỗ chúng  nên người. Bao nhiêu khó khăn thường nhật mà người mẹ phải vượt qua, kiên nhẫn, hy sinh và xem nhẹ những đớn đau hiện tại  để nuôi hy vọng về một tương lai tốt đẹp.

Mẹ biết không? Sau khi mẹ mất, hằng năm vào lễ Vu Lan con thường đi đến chùa để thắp nhang và  cầu nguyện. Lần nào trước cửa thiền con cũng được chào đón bởi các em học sinh, để gây quỹ giúp chùa hay để làm từ thiện, họ gắn lên áo quan khách những chiếc bông hồng làm bằng vải hay bằng giấy lụa:  Bông hồng màu đỏ tượng trưng cho những ai còn mẹ và màu trắng cho những ai có mẹ đã qua đời. Nhờ màu của những hoa hồng trên áo nên mọi người dễ dàng nhận biết ai là  kẻ may mắn còn mẹ để chúc mừng, ai là người không còn mẹ để chia buồn với họ.

Ngày hôm đó con có bỏ  một ít tiền vào chiếc hộp giấy mà các em mang theo và yêu cầu họ gắn lên áo mình một bông hồng màu trắng và một bông hồng màu đỏ. Cô bé học trò, đã ngạc nhiên khi nhìn thấy một người ngoại quốc đi chùa, nói chút ít tiếng việt, và lại có yêu cầu khác thường nên hơi bối rối. Con vội giải thích với cô ta rằng chiếc hoa hồng màu trắng là cho mẹ ruột của cô, còn hoa hồng màu đỏ là dành cho mẹ của chồng, mà con xem là bà mẹ thứ hai. Ý nghĩ này đến với con thật tự nhiên, vì bà mẹ chồng gầy gò nhưng tính cách rất mạnh mẽ kia luôn quan tâm đến con; Còn đứa con dâu ngoại quốc, có dáng vẻ bên ngoài có lẽ rất khác với những gì bà chờ đợi, nhưng luôn dành cho bà một tình thương và lòng kính mến như chính là con gái. Kính mến và yêu thương thật sự, đến nỗi con thường tránh chữ mẹ chồng ( vì những ý nghĩa mà thông thường người ta hay đem ra chế diễu); Có khi con xem gọi thế là một sự xúc phạm. Mẹ. Là mẹ, thế thôi.

Con không thể nào quên được là sau ngày mẹ mất, người mẹ thứ hai của con đã đem hình của mẹ đặt lên bàn thờ của gia đình và in ra nhiều tấm để gởi đến rất nhiều chùa để cầu nguyện. Đối với con, đó là một  cử chỉ  thân thương có nhiều ý nghĩa mà không lời lẽ nào nói lên được. Mẹ biết không, cho đến hôm nay trong các chùa từ Sài Gòn đến tận miền quê xa như Tây Sơn, Bình Định, mỗi lần tụng kinh các sư thầy đều có cầu nguyện cho mẹ.

xx

Bây giờ thì mẹ và mẹ của chồng con đang ở bên nhau và  ý nghĩ là cả hai đều bình yên đã cho con rất nhiều an ủi. Con sẽ luôn nghĩ đến hai người mẹ và mùa Vu Lan này, giữa các nghi thức cúng kiến, con muốn được đốt một chiếc điện thoại di động bằng giấy theo truyền thống của người Việt Nam để có thể nghe được giọng nói thân thương của mẹ.

Và bắt đầu từ nay, các em bé sẽ gắn lên trên ngực áo của con hai bông hồng trắng.

Con ôm hôn mẹ, thật mạnh.

Con gái của mẹ

Sài gòn 4-2015

 

Elena Pucillo Truong cùng các bạn ở “Chuồng cu” Tòa soạn Quán Văn.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Uncategorized, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 36: Phật Học & Đời Sống

20/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Kỳ 36: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Thứ bảy 15.9.2018 tại Chùa Phật học Xá Lợi, Tp HCM

Đề tài: Sám Hối (tiếp theo)

Cảm ơn nvquyen đã gởi clip để các bạn tham khảo.

……………………………………………………………………….

Thông tin: Kỳ 37, vào ngày Thứ bảy 22.9.2018

Lúc 15-16h30 tại Chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Q3, Tp.HCM

Đề tài:

“Tụng Kinh, Niệm Phật, Trì Chú…” thế nào? 

Xin mời các bạn tham dự.
Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 23
  • Trang 24
  • Trang 25
  • Trang 26
  • Trang 27
  • Interim pages omitted …
  • Trang 58
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email