Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Kỳ 35: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

14/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 35: Phật Học & Đời Sống

Chùa Phật học Xá-Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Tp,HCM

Ngày thứ bảy 8.9.2018 ( 29/7 Âm lịch) từ 15-16h30

Đề tài “Sám Hối”

Ghi chú: Đợt II của Ct PH & ĐS kỳ này có Chủ đề Sám Hối theo đề nghị của một số bạn, vì vẫn còn trong tháng 7 Âm lịch, mùa Vu Lan.

Gọi là Kỳ 35 vì Đợt I đã có 31 buổi có quay Video clip và 3 buổi thảo luận suông, không ghi hình, cũng chẳng ghi âm. Các bạn bảo vậy mà hay! Ai nấy mạnh dạn phát biểu. Còn khi có ghi hình cũng thấy ngại ngại, sợ cái “dung nhan” không mấy ăn ảnh của mình! Kỳ 35 này, thử nghiệm thu âm xem sao. Thu âm chủ yếu để làm tư liệu tham khảo khi cần. Thế nhưng, nvquyen bảo vẫn có thể đưa lên youtube chia sẻ cho bạn bè ở xa theo dõi được.

Vậy thì, thử xem nhé! Thì ra, chỉ thu âm rồi chèn mấy cái hình vô sao thấy nó khô khan… cứng ngắc, trơ trơ, thiếu… cảm xúc quá!

Thôi đã lỡ. Đành “Sám Hối” vậy. Kỳ tới, sẽ lại tiếp tục ghi hình như cũ nhé. Cảm ơn nvquyen đã rất vất vả.

PH & ĐS Kỳ 36, ngày Thứ bảy, 15.9.2018 này (cũng từ 15-16.30) sẽ tiếp tục mở rộng đề tài “Sám Hối”. Ngày càng đi vào vấn đề ứng dụng, thực hành trong Đời sống hàng ngày vậy.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Vài câu chuyện với bạn trẻ…

08/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Vài câu chuyện với bạn trẻ…

Lời Ngỏ: Một hôm, nhạc sĩ Dương Thụ “chủ xị” Cafe Thứ bảy phone nhờ tôi dành một buổi sáng Chủ nhật (12.8.2018) đến trò chuyện với các bạn trẻ ở một quán Café đường NKKN, quán Cafe Thứ bảy dành riêng cho giới trẻ, đề tài: Khởi Nghiệp!

Tôi kêu Trời! Tôi mà “khởi nghiệp” cái gì ông ơi! “Khởi nghiệp” là chuyện mở mang làm ăn, kinh doanh làm giàu… chớ sao lại mời tôi. Tôi thì chỉ nói về “Thiểu dục, Tri túc”, “Từ bi hỷ xả”… mà! Ông nhầm rồi ông ơi! Nhưng Dương Thụ bảo không, “khởi nghiệp” ở Chương trình này là kể cho các bạn trẻ nghe những bước đầu đi vào nghề nghiệp của mình, những kinh nghiệm thành công thất bại để chia sẻ cùng các bạn trẻ đang loay hoay tìm kiếm. Chương trình này đã mời Tiến sĩ Bùi Trân Phượng, nguyên hiệu trưởng Đại học Hoa Sen, nói về “nghiệp” làm giáo dục của bà buổi đầu tiên và sau đó, buổi thứ hai nhạc sĩ Dương Thụ nói về cái “nghiệp” âm nhạc… Kỳ này BTC muốn các bạn trẻ được nghe Bs Đỗ Hồng Ngọc nói về con đường học Y, hành Y của mình để có thêm kinh nghiệm về lối sống, sức khỏe…

Vậy thì tôi “OK”. Tôi cũng muốn được nghe tâm tình của các bạn trẻ, tôi cũng muốn học từ các em, cách nghĩ, cách làm hiện nay của thời đại các em, thời đại 4.0, và vì tôi cũng biết Nhật bản đang đi vào Thời đại 5.0, trong đó Giáo dục “con người” là yếu tố hàng đầu…

Và, nvquyen đã dựa trên tư liệu livestream của BTC và clip của Bs Trương Trọng Hoàng để hình thành youtube dưới đây. Xin trân trọng cảm ơn tất cả.

Buổi trò chuyện khá là sôi nổi. Hơi dài.

Cứ tùy nghi. Tùy hỷ. Lai rai vậy nhé.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Thầy thuốc và bệnh nhân

Đợt II: Phật học & Đời sống

05/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thông Tin về Sinh hoạt PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG (Đợt II, ngày Thứ bảy 8.9.2018)

Tg các bạn,

Sáng nay, tôi vừa nhận được email dưới đây của cháu MPham Thi Tuyết:

 

MPhạm Thị Tuyết <…@iemh.edu.vn>

date:    Sep 5, 2018, 9:56 AM

Kính gửi BS Đỗ Hồng Ngọc!

Đầu thư, cho con kính chúc Bác luôn sức khỏe khinh an, phúc thọ trường tồn, phúc lành, an vui trong cuộc sống ạ.

Con mạo muội viết thư này gửi Bác vì con không tìm thấy cách đăng ký tham gia lớp học “Phật học với đời sống”. Con nghe tên bác từ lâu nhưng chưa có duyên lành nghe bác chia sẻ về cuộc sống, sức khỏe và tu học. Mới đây thôi, nhờ ba con giới thiệu cho con clip của Bác nói về Thiền với sức khỏe người có tuổi, nghe xong con mê luôn, lần theo tên Bác, con tìm thấy rất nhiều đề tài khác mà Bác chia sẻ và đến trang nhà của Bác, con tìm thấy cả một kho báu tinh thần mà bấy lâu nay con chưa có phúc duyên gặp được. Dù chưa đọc hết nhưng con luôn thấy vui vì từ nay con đã có bạn đồng hành. Đặc biệt, con thấy có lớp Phật học với Đời sống ý nghĩa vô cùng, con rất muốn tham gia nhưng không biết cách nào. Đợt 1 đã qua đi rồi, đợt 2 cũng qua ngày bắt đầu rồi. Con chỉ ở nhà nghe lại các bài ghi hình lại, tuy nhiên con mong muốn được đến lớp nhìn thấy bác và lắng lòng nghe mọi người chia sẻ về vấn đề tu học. Con cảm ơn Bác, xin bác cảm thông vì câu chữ hơi lủng củng của con. Mong nhận được hồi âm của Bác.

……………………………………………………….

Trả lời của Bs Đỗ Hồng Ngọc:

Bác xin phép PTTM cho bác được chia sẻ thư này của con với các bạn nhé.

Cảm ơn con. Lớp Phật Học & Đời Sống tại chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, TpHCM vẫn tiếp tục con ạ. Đợt I kết thúc với 31 buổi đã được bạn nvquyen quay video clip và chia sẻ trên youtube cho bè bạn gần xa. Đợt II, sẽ được tiếp tục, từ Thứ bảy 8.9.2018 tuần này, từ 15-16.30h tại Chùa Xá Lợi.

“Lớp” Phật học & Đời sống này không phải đăng ký ghi danh, đóng lệ phí gì cả con ạ.  Chỉ là những buổi thảo luận, chia sẻ giữa bạn bè, anh em, những lời Phật dạy, áp dụng vào đời sống hàng ngày của chúng ta sao cho an lạc hơn, hạnh phúc hơn thế thôi.

Đề tài Thứ bảy 8/9/2018 này là SÁM HỐI (vì còn trong mùa Vu Lan). Các bạn có thể tìm tài liệu đọc trước để buổi thảo luận, bàn bạc thêm sôi nổi… như thông lệ nhé.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Thầy thuốc và bệnh nhân

“Ảo Giác và Ảo Tưởng”

05/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TẠI SAO CON NGƯỜI ĐẮM CHÌM TRONG ẢO GIÁC, ẢO TƯỞNG?

Nguyễn Hữu Đức (*)

Ảo giác là tình trạng có sự hư hỏng tạm thời về mặt ý thức đưa đến sự nhận định sai lệch, méo mó về không gian, thời gian. Có những chất từ lâu là ma túy loại mạnh nhưng gây ảo giác không nhiều, như thuốc phiện, heroin (bạch phiến, hàng trắng), cocain… Nay có những thứ gây ảo giác rất mạnh đang bị lạm dụng, đó là cần sa, thuốc lắc, ma túy đá,  N-ethylpentylone – chất tương tự cathinone là chất có trong cây khat, 5FR-MDMB-PICA – là chất tổng hợp giống cannabinoid của lá cần sa, psilocybin có trong cây “nấm thần”.

Suy cho cùng, con người tìm đến và sử dụng chất gây ảo giác để đắm chìm trong ảo giác là nhằm đạt được thứ “hạnh phúc” mà cái tôi của con người tội nghiệp đó nghĩ tưởng. Cái tôi luôn luôn vận hành trong sự lo âu, sợ hãi, thất vọng, tức giận, đau khổ nên thường đồng hóa hạnh phúc là dục lạc, khoái cảm, là sự an bình giả tưởng trong cảm giác cảm xúc khi bất ổn. Thế là con người lao mình, đắm chìm trong ảo giác mà ma túy, chất gây ảo giác đưa đến. Đang nhìn cuộc đời màu xám xịt, nhờ chúng người ta nhanh chóng đạt được sảng khoái, thần kinh được kích thích, có sự rối loạn trong suy nghĩ, cười không kiểm soát để thấy cuộc đời có màu hồng thật tươi. Rồi trí não bắt đầu bị ảo giác, mất các khái niệm về thời gian, không gian để thấy bản thân không còn sầu ải, khổ não nữa. Như nói ở trên, chất gây ảo giác có gây trạng thái gọi là “giải thể nhân cách” (depersonalization): Người bị ảo giác có cảm tưởng mình thành người khác, như trở thành siêu nhân, vị thánh, đấng cứu thế, làm thầy thiên hạ . Đối với nhiều người, cảm giác “trở thành siêu nhân, vị thánh, đấng cứu thế, làm thầy thiên hạ” cũng là một thứ “hạnh phúc”.

Triết lý Phật Giáo giúp tôi hiểu biết về nguyên nhân tại sao con người tìm đến ảo giác, ảo tưởng. Đức Phật Thích Ca là bậc giác ngộ về sự khổ, Ngài khẳng định: “Mọi người bình đẳng với nhau về khổ và đều có thể tự đi, tự đến trên con đường giải thoát khỏi khổ”. Đức Phật không chỉ lý giải về nỗi khổ của chúng sinh mà còn chỉ ra con đường diệt khổ. Năm giới (ngũ giới cấm) được Đức Phật chỉ ra nhằm cho mọi người thấy các phương pháp sơ bộ cần thực hiện (cũng là sự lưa chọn cần thiết) để ngăn ngừa những điều ác phạm phải gây thiệt hại cho mình và cho người, và làm những điều thiện có lợi cho mình và cho người. Năm giới đó là: Không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Năm giới rất cụ thể và tưởng chừng đơn giản, nhưng suy đi ngẫm lại là con đường hiệu quả thoát khổ, có thể tạo nên hạnh phúc cho mỗi con người, cho gia đình và cho xã hội.

Riêng giới thứ năm, vào thời Đức Phật sống, người ta chỉ chứng kiến tệ nạn nghiện rượu tàn phá thân tâm của nhiều người, đã làm băng hoại hạnh phúc của biết bao gia đình. Khi đó chưa có các chất gây nghiện khác như ngày nay nên Đức Phật đã đề ra giới thứ năm là “Không uống rượu”. Trong thời đại ngày nay, rất cần mở rộng giới thứ năm là “Không dùng chất gây nghiện và gây  ảo giác”. Bởi vì, không chỉ có rượu là chất gây nghiện mà nhiều chất gây nghiện khác như ma túy, các chất gây ảo giác đang làm khổ sở biết bao nhiêu con người. Nếu con người thấu hiểu và thực hiện ngũ giới cấm, và nhất là thấm nhuần thuyết vô ngã của nhà Phật thì không chạy theo “hạnh phúc” mà cái tôi của con người đó nghĩ tưởng. Làm sao người ta phục tùng cái tôi chạy theo dục lạc, ảo giác khi thấu hiểu đó chỉ là ảo tưởng, và sự thật chỉ là “vô ngã”?

Ảo giác là ảo tưởng liên quan chủ yếu đến cảm giác, cảm xúc, nhất là do dùng chất gây nghiện gây ra. Nhưng xét cho cùng, ở mức độ cao hơn liên quan đến nhận thức, suy tưởng, bao trùm tâm thức con người, đó là ảo tưởng. Đang đè nặng lên con người chính là ảo tưởng trong suy nghĩ, và rồi ảo tưởng trong hành động.

Theo triết lý Phật Giáo, suy nghĩ hành động thường xuất phát từ vô minh, và nếu là vô minh sẽ chất chứa những ảo tưởng bản chất là tham sân si, chúng chỉ gây nên phiền não. Do sự tương tác không ngừng của những ảo tưởng mà tạo nên, nảy sinh quá trình tạo ra bản ngã tức “cái tôi”. Nếu bạn xem xét nó sâu hơn, bạn sẽ thấy rằng mỗi cá thể con người chỉ là những ảo tưởng tạo ra ý thức của một nhân dạng gọi là bản ngã. Bản ngã chỉ là một loạt ảo tưởng giữ chặt những hồi ức mà con người trân trọng trong quá khứ, những dự phóng, kỳ vọng tươi đẹp về tương lai. Muốn tự hiểu được con người mình, bạn phải ý thức được về quá trình xây dựng cái bản ngã đầy ảo tưởng đó.

Krishnamurti, nhà hiền triết nổi tiếng của thế kỷ 20, có thái độ rất quyết liệt với những “ảo tưởng” của con người.

Chân lý con người ước vọng đạt tới, nhưng thèm khát chân lý thường là một ảo tưởng. Krishnamurti cho rằng “Con người thèm khát chân lý, muốn vươn đến chân lý, muốn thu đạt chân lý trong tay, nhưng chân lý giống như ngọn gió, không thể bắt lấy nó, không thể cầm giữ nó trong nắm tay”. “Vậy thì đường nào đến chân lý?”, Krishnamurti lạnh lùng trả lời “Chân lý không có đường vào. Nó có ở đó cho ngài, ngài hãy nhận lấy hoặc ngài bỏ đi”.

Con người cần hy vọng, cần niềm tin, nhưng Krishnamurti lại bảo hy vọng thường là ảo tưởng của một tâm trí cùn lụt chẳng biết phải làm gì với hiện tại; còn niềm tin chỉ là sự ám thị hoang tưởng. Con người chạy tìm tình yêu, nhưng Krishnamurti lại bảo tình yêu theo nhiều kiểu hiện nay chỉ là sự dối gạt, vì con người hiện nay chỉ biết bảo toàn cho “cái tôi” của mình.

Con người hỏi vậy phải làm gì, Krishnamurti lại nói chẳng cần làm gì cả ngoài việc nhận ra và hiểu biết, chính sự nhận biết thấu hiểu đã là hành động tích cực rồi. “Chân lý không mang lại hy vọng, nó chỉ mang lại sự hiểu biết”.

Trong triết lý Phật Giáo, có phương cách nhận biết thấu hiểu ảo tưởng. Đó là tu tập chánh niệm, để có sự tỉnh giác, suy nghĩ sáng suốt, có thái độ đúng đắn trong mọi hành vi của con người.

(NHĐ)

……………………………………………

(*) GSTS Dược sĩ Nguyễn Hữu Đức còn là một họa sĩ vẽ biếm họa nổi tiếng! Bài viết này khá dài, phần đầu chuyên khảo về Y dược học, đã đăng trên tạp chí Văn hóa Phật giáo (ĐHN).

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thầy thuốc và bệnh nhân

Có một cuộc Triển Lãm…

02/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Có một cuộc triển lãm của một nhóm họa sĩ vào ngày 6.9.2018 này tại Bảo tàng Mỹ thuật Tp HCM, 97 Phó Đức Chính. Rảnh, dắt bầu đoàn thê tử và rủ rê bạn bè đến coi nhe, và có hứng thì “rinh” một bức dài cả chục thước về treo ở nhà nhé.

Hỏi Lê Triều Điển, “chủ xị”, sao gọi là “Chuyển Động”, anh nói đó là thân phận của Phù Sa… và anh đã phải trải ra cả chục thước vẽ vẫn chưa đủ để nói lên một điều gì về dòng Cửu Long thương yêu… Bỗng nhớ người bạn thầy thuốc Ngô Thế Vinh với những tác phẩm Cửu Long cạn dòng; Biển Đông dậy sóng; Cửu Long dòng sông nghẽn mạch…

Họa sĩ-Bác sĩ Thân Trọng Minh, bạn cùng lớp cùng trường hơn nửa thế kỷ trước, một người đa năng: làm thơ, viết kịch, truyện ngắn, tùy bút… từ thuở còn là một học sinh trung học bảo đáng lẽ moa phải học triết chớ không phải học y. Mình hiểu. Và dù vậy anh vẫn là một bác sĩ tim mạch khá nổi tiếng.

Hoàng Khởi Phong, Đỗ Hồng Ngọc… xem tranh tại Phòng mạch TTM (8.2018)

Một hôm, TTM phone gọi đến xem tranh anh sắp mang đi bày triển lãm với Lê Triều Điển và nhóm bạn. Anh bảo đến ngay đi, chỉ có Hoàng Khởi Phong đang chờ đây thôi… Hoàng Khởi Phong không phải ai xa lạ. Từ trước 75, chính anh đã mang tập “Thơ Đỗ Nghê” từ Đà Lạt về cho mình tại bệnh viện Nhi đồng Saigon. Thời đó, một tập thơ ronéo không phép do Thân Trọng Minh, Trần Hữu Lục và bạn bè in ấn từ Đà Lạt mang về Saigon không dễ chút nào! HKP vẫn là người bạn khoái hoạt như xưa, ha hả cả cười, nói ôi thôi đủ thứ chuyện trên đời, bè bạn bốn phương tám hướng…

Mình “phỏng vấn ” nhanh TTM: Tại sao vẽ? Tại viết không được nữa! Rồi bạn nhắc, những cuộc triển lãm trước đây với Đinh Cường, Trịnh Công Sơn, Lê Ký Thương, Trương Thìn, Trần Hoàn… Xưa lắm, những ngày đầu nhờ có Đinh Cường hướng dẫn vẽ… Mình nhớ năm 1982, Đinh Cường có một đợt triển lãm bỏ túi ngay tại phòng mạch của Thân Trọng Minh tại Chợ Lớn. Tranh bán cái vèo sạch trơn giữa thời buổi đầy khó khăn đó. Hôm đó mình cũng kịp ôm một bức nhỏ xíu Đinh Cương vẽ mấy con chim trên gộp đá ở Đèo Cả. Cũng hôm đó, mình viết bài thơ “Suzanne” tặng TTM, khi thấy một bệnh nhân nữ ôm ngực, tái xanh môi, ngồi đợi khám…

Moa vẽ sơn dầu cũng không nổi nữa rồi. Mệt, lâu lắc. Thôi thì vẽ một kiểu khác… sẵn mấy tờ lịch đầy màu sắc, tạo hình ngay trên đó, xong bức tranh như chớp… Thì ra vậy. Nhưng đẹp. Vẽ cái gì? Vẽ cái gì ẩn ức, chất chứa trong lòng… Vẽ xong, như khánh kiệt! Những mặt người và Rắn, những con cá mắt trừng thao láo, những con chim Cú nhìn xuyên đêm…

Nào Cá nào Cú… bên cạnh khay thuốc và dụng cụ y khoa…

Có một bức tranh của TTM đã được Dương Nghiễm Mậu làm sơn mài. Một bức tranh kỷ niệm, dành riêng.

Bức tranh TTM do DNM làm sơn mài.

Mình cười, ái dà, ám ảnh vườn Địa Đàng chăng, toàn Rắn với Rắn. Ai bảo ăn trái cấm rồi sinh sự!

Một lúc, thêm họa sĩ Lê Ký Thương, người bạn thiết của chúng tôi cùng đến. TTM tay không ngừng đốt thuốc lá, nâng ly bia, hào hứng tỏ bày trong chỗ tình thân…

Buổi “duyệt tranh” như vậy đã xong. Có một bức tranh Minh vẽ con mắt đen của chính mình và đầy những con mắt trắng còn lại. Mình bảo: có “Ngũ nhãn”, sao không nhìn?

 

Từ trái: Thân Trọng Minh, Đỗ Hồng Ngọc, Hoàng Khởi Phong, Lê Ký Thương
(Phòng mạch TTM, Saigon 8/2018)

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

……………………………………………………………………………

Viết thêm:

Có một bài “thơ” của Đinh Cường gởi Thân Trọng Minh, nhớ những ngày xa xưa ở Đà Lạt và những bạn bè:

 

Bài Rosée 2

Trước khi đi làm chị Nguyệt Mai nhắn
anh có hứng viết mấy hàng về hai phác
thảo chân dung Thân Trọng Minh anh
Đỗ Hồng Ngọc mới gởi. tôi đi bộ qua
Starbucks kêu ly cà phê, cái croissant
(nhớ Nguyễn Quang Chơn cũng ngồi
Starbucks ở Phú Mỹ Hưng, cũng thích
vẽ phác thảo chân dung bạn bè, khi có
chút rượu thì sắc nét hơn)

Trở lại hai chân dung Thân Trọng Minh
Đỗ Hồng Ngọc vẽ. cái thứ nhất lim dim
nét nhìn u hoài một nostalgia. điếu thuốc
chưa tàn. những nét bút dạ đen đan nhau
như tiếng kèn đồng một điệu blues nào.
cái thứ hai nét màu xanh dương tươi vui
hơn. sẽ gởi cho Rosée xem để nhớ lại
môt chàng trai si tình đứng chờ trước
Couvent des Oiseaux khi cô gái 16, 17
tuổi đôi mắt to đen như con nai ngơ ngác…
Những năm Đà Lạt đẹp như mơ. những
mối tình đẹp như mơ. chẳng hạn của
Nguyễn Xuân Hoàng và Vy. của Lộc
và Phi Anh – ôi Lê Uyên Phương với
tiếng hát cùng tiếng đàn thùng chết điếng
đêm khuya đầy sương mù bên kia Domaine
de Marie. hình như Phạm Cao Hoàng
cũng có lần hẹn người yêu đến quán
Lục Huyền Cầm. để mơ cùng tôi nhé
Cúc Hoa giấc mơ Đà lạt thời chưa biết buồn
và làm sao quên được người nhạc sĩ ấy
đã yêu Đà Lạt như cánh vạc bay. như rừng
quỳ vàng dại. còn tuổi nào cho em…
còn tuổi nào cho chúng ta hỡi Minh hỡi Ngọc.
Virginia, Aug 26, 2014
Đinh Cường

Thân Trọng Minh by Đỗ Hồng Ngọc phác thảo 2014.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Phật Học & Đời Sống: “Cảm nghĩ sau 10 tháng học Phật”

25/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

“Phật Học & Đời Sống”

Ghi chú: Chương trình Sinh hoạt “Phật học & Đời sống” tại Chùa Xá Lợi Tp HCM từ tháng 10/2017 đến nay đã được 10 tháng. Đã có 31 buổi được bạn nvquyen quay video clip để chia sẻ và có 3 buổi thảo luận không ghi hình. Các chủ đề đã được thảo luận trong lớp là những bài học rất cơ bản: Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, 12 Nhân duyên, Nghiệp, Phước và Huệ, Từ Bi Hỷ Xả, Thiểu dục Tri túc, Thấy Biết Như thật, Thở và Thiền, Ăn và Chay…

Hiện lớp tạm nghỉ sinh hoạt một thời gian và tôi vừa nhận được mấy dòng này của Tú Quyên, một “học viên” của lớp.

Xin chia sẻ cùng các bạn.
Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Cảm nghĩ sau 10 tháng học Phật

Tú Quyên

 

 

Biết cái khổ của mình, thấy cái khổ khác trong cõi Ta bà và mong muốn thoát khổ là những động lực hướng tôi đến với Phật học. Tôi ước ao được học Phật đã từ lâu. Tôi tự tìm hiểu một số sách của Thầy Thích Thanh Từ, Thầy Thích Nhật Quang, Hòa thượng Tịnh Không, các thông tin trên mạng v.v… Nhưng hiểu biết mà tôi góp nhặt khi được hiểu đúng, khi được hiểu sai và thiếu cả một căn bản sơ lược.

Mỗi lần đi ngang trường Phật học, tôi thường tự hỏi “Phật học được dạy như thế nào ở đó?”, “Không biết khi nào mình mới có cơ hội để học Phật một cách tốt hơn?”… Các câu hỏi này vẫn thường lập đi lập lại, còn tôi thì tiếp tục trôi lăn trong cuộc sống nhiều vô minh của mình.

Rồi duyên lành đã tới. Tôi tự biết mình được phước lớn khi đến lớp Phật học và Đời sống tại Chùa xá lợi do Bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc, cư sĩ Minh Ngọc và cư sĩ Tô Văn Thiện phụ trách từ tháng 11/2017.

Tham gia vào lớp học tôi rất mừng. Phương pháp có cách giải thích câu chữ cẩn thận. Nhiều lần đọc tụng kinh Phật, nhiều lần đọc tụng hai từ “chúng sanh” và nhiều lần tôi tự hỏi “chúng sanh” là gì ? Ta đang đọc tụng và cầu nguyện cho những ai, những loài nào đây? Buổi đầu tiên đến lớp tôi hoàn toàn bị thuyết phục và vui mừng vì đã có lời giải thích hai từ “chúng sanh”. Và hơn nữa, Phật học sâu xa nhiệm màu, với căn nghiệp của mình, tôi tự biết khó lòng hiểu đúng và ngộ được ý nghĩa lời Phật dạy nếu không hiểu rõ câu chữ.

Nội dung giảng dạy đơn giản nhưng không hời hợt, tập trung vào những giáo lý căn bản của Đức Phật khiến những người mới học như tôi theo được chương trình. Cách giao tiếp mở, cùng nhau thảo luận, tranh luận để lời Phật dạy được hiểu một cách đúng nhất. Tôi có cơ hội lắng nghe, học, phân tích, phản biện nhiều ý kiến uyên bác, sâu sắc, chân thành và thực tế của Thầy, Anh, Chị, Em trong lớp để hiểu lời Phật dạy. Đó cũng là lúc tôi có được ánh sáng của Phật học để nhìn lại bản thân và trải nghiệm, thấy biết được những mê, lầm thô hoặc tế của mình

31 kỳ Phật học và Đời sống dần trôi qua.  Những kiến thức ban đầu dễ hiểu nhưng là nền tảng căn bản cho các kiến thức về sau. Y học và các kiến thức sống liên quan giúp chăm sóc thân và tâm đan xen trong chương trình Phật học rất thú vị và bổ ích.

Nhưng kiến thức không sử dụng được thì cũng cũng giống sách vở trong tủ. Phật học liệu giúp được gì nếu tôi không vận dụng được vào cuộc sống. Căn nghiệp của mỗi người lại không giống nhau, nên cách vận dụng Phật học trong cuộc sống ít nhiều phải có sự khác. Thế là phải nương tựa chính mình. Tự mình phải quán lấy mình. Theo Tứ Niệm Xứ mà quán Thân, Thọ, Tâm, Pháp của mình. Theo Bát chánh đạo để tự thấy biết vô minh. Với tôi, điều quan trọng là biết mình còn nhiều vô minh. Tôi học lại bài, đọc thêm sách, tự thực hành. Có khi làm sai nhưng chưa biết mình sai. Phải bỏ công, phải tinh tấn. Quán đi quán lại nhiều lần rồi sẽ có ngày biết. Rồi thì hiểu tại sao một số vấn đề cứ lập đi lập lại với mình. Rồi thì nhận ra mình đã đổ lỗi cho số phận và có ít nhiều mê tín nhưng tưởng là không. Rồi biết mình chấp có, chấp không… Thấy biết rồi thì cứ theo Bát chánh đạo mà đi.

Tôi như người đang bước đi trong bóng tối nhưng được trao tay ngọn đèn Phật học. Cầm đèn trong tay tôi bước vào soi rọi kho báu của chính mình.

Không biết viết gì hơn là gởi lời cám ơn chân thành đến Bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc, cư sỹ Minh Ngọc, cư sỹ Tô Văn Thiện cùng tất cả các thành viên trong lớp học đã tặng tôi cơ hội học Phật vô cùng quý báu này. Lời cám ơn đặc biệt gởi đến hai người bạn lâu năm Quyền & Nga đã trao duyên lành để tôi được đến với lớp.

Thanh Đa – mùa Vu lan 2018

Tú Quyên

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Thiền và Sức khỏe

Ý NHI: Kỷ Niệm Không Có Mưa

24/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Ý NHI: Kỷ Niệm Không Có Mưa

Bạt cho tập “Kỷ niệm không có mưa” (trích)

Vũ Thành Sơn

(…) Kỷ niệm không có mưa ghi chép những kỷ niệm cá nhân của nhà thơ Ý Nhi với nhiều văn nghệ sĩ ở hai miền Nam-Bắc trong và sau khi chiến tranh kết thúc. Ở một khía cạnh nào đó, qua trung gian của tác giả, chúng ta được nhìn ngắm, được “tiếp xúc” với những nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ đó trong đời sống thực trần trụi ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau và tất nhiên, có cơ hội để làm một sự đối chiếu thú vị giữa con người nghệ sĩ mang tâm tình, khát vọng, băn khoăn, lo toan hằng ngày với những đứa con tinh thần của họ; Có thể nói tuy tác giả tự đóng khung hồi ức của mình như là một triển lãm chân dung dưới góc nhìn cận cảnh “để bày tỏ lòng biết ơn”, Kỷ niệm không có mưa một cách khách quan đã cung cấp không ít tư liệu văn học quý giá, lý thú cho những độc giả yêu thích văn chương và những nhà nghiên cứu văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại và cũng chính điều đó mới thực sự làm nên căn cước của tác phẩm trong tư cách là một chứng cứ của một giai đoạn lịch sử (…).

Kỷ niệm không có mưa,  tác phẩm phi hư cấu đầu tiên của nhà thơ Ý Nhi, hoàn toàn có thể được đọc như một câu chuyện dài với nhiều nhân vật, mỗi nhân vật một tính cách, một số phận, được kể bằng một giọng thì thầm của một người ngồi hồi tưởng bên khung cửa. Nó đem đến cho chúng ta một Ý Nhi khác trong một chân dung nhìn nghiêng; một Ý Nhi kín đáo, rụt rè trong quan hệ xã hội nhưng tinh tế, sắc sảo trong vai trò một độc giả-nhà thơ. Sự hòa quyện bất phân ly, hoặc đôi khi hoán đổi, giữa hai vị trí ấy được thực hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối của câu chuyện cho cảm giác người nghe cùng với người kể như đang cùng tham dự vào đời sống của chính nhân vật, tạo ra một sự sống động hấp dẫn (..).

Dưới góc nhìn đó, Kỷ niệm không có mưa có một giá trị đích thực, bền vững không thể phủ nhận qua việc cung cấp những chi tiết sống thực. Đó là lý do vì sao chúng ta, những độc giả, có thể dễ dàng bị lôi cuốn vào những câu chuyện, những suy nghĩ, cảm nhận hoàn toàn riêng tư và mang đậm tính giai thoại của một nhà thơ vốn tự nhận là “chỉ thích màu đen”, xa lánh đám đông và thường “tìm một góc để ngồi”.

(VTS)

(trích Bạt cho tập “Kỷ niệm không có mưa” của Ý Nhi, NXB Đà Nẵng 2018)

………………………………………………………………………………………..

Ghi Chú: “Kỷ niệm không có mưa” viết về những kỷ niệm rất riêng tư từ cái nhìn của Ý Nhi, một nhà thơ nữ, tinh tế mà sâu sắc, nhẹ nhàng mà trĩu nặng… Nhờ đó ta được “quen biết” khá nhiều những chuyện đời thường của những nhà văn nhà thơ, họa sĩ  ‘tiền bối’ ở cả ba Miền đất nước. Và “bỗng nhiên” có một bài viết về nhóm bạn của nhà thơ ở giữa Saigon hôm nay, qua chuyện của một “người bận rộn”: Đỗ Hồng Ngọc…

 

Người bận rộn

 

1.

Ở Sài Gòn tôi có một số nhóm bạn để thi thoảng gặp nhau, tào lao dăm điều ba chuyện. Nhóm những người bạn học từ cấp 1, cấp 2, nay đã là các bà nội bà ngoại, tuổi  trên dưới bảy mươi, thường khoe ( hay than van) về con, về cháu, bày nhau thuốc thang, tập tành, cùng nhau nhớ lại “những ngày xưa thân ái”*. Nhóm những nhà văn cùng thế hệ, thường bàn chuyện thế sự, nhóm các bạn viết trẻ để nghe họ nói, họ thông tin những gì mình không biết về đời sống văn học, trong và ngoài nước mà mình không có điều kiện cập nhật …Trong số những nhóm của tôi, có một nhóm đặc biệt là nhóm Lê Ký Thương-Kim Quy, Thân Trọng Minh, Đỗ Hồng Ngọc, Tôn Nữ Hỷ Khương, Tôn Nữ Thu Thủy. Đôi khi có thêm Nguyên Minh. Có lần, lại thêm Dương Nghiễm Mậu, Trương Thìn, Sâm Thương, Hồ Văn Thành, Vũ Trọng Quang…

Từ trái: Cao Kim Quy, Lê Ký Thương, Đỗ Hồng Ngọc, Ý Nhi, Nguyên Minh, Dương Nghiễm Mậu (tại nhà Lê Ký Thương)

 

Từ trái: Vũ Trọng Quang, Lê Ký Thương, Thân Trọng Minh, Ý Nhi, Đỗ Hồng Ngọc, Cái Trọng Ty

Tôi không nhớ tôi “gia nhập” nhóm từ bao giờ, theo cách nào. ( Nhiều anh chị ở đây đã quen thân nhau từ  hơn 40 năm trước, khi cùng tham gia nhóm Ý thức- nhóm của những người trẻ tuổi, đam mê Văn Nghệ, với tư tưởng dấn thân tích cực, chống lại văn nghệ sa-lon, viễn mơ thời ấy). Chỉ nhớ, người chăm lo cho nhóm, chịu trách nhiệm thông tin mọi việc như sức khỏe của ai đó, tin vui của ai đó và nhất là thông tin địa điểm, thời gian gặp nhau, là họa sĩ Lê Ký Thương và vợ, Cao Kim Quy-người phụ nữ Huế lịch thiệp, chu đáo, chí tình và cũng rất cởi mở, thoải mái. Thường thì Kim Quy gọi điện thoại hay gửi meo cho mọi người, thông báo một cuộc gặp. Dù đã nhiều tuổi nhưng mọi người trong nhóm đều còn bận bịu một vài công việc nào đó, ngoài việc lo cho gia đình. Thân Trọng Minh có phòng mạch riêng, chuyên khoa Tim mạch và còn dành thời gian cho việc viết văn, vẽ tranh, mở triển lãm (cùng vợ, HS Thanh Hằng hay cùng bạn bè, HS Đinh Cường), Lê Ký Thương lo phần biên tập cho một tạp chí chuyên ngành, lo vẽ bìa, trình bày sách và làm gốm, vẽ tranh, Tôn Nữ Thu Thủy viết truyện, làm thơ, chồng Thủy, nhạc sĩ Hồ Văn Thành vừa sáng tác vừa đi dạy vừa quản lý Đoàn Xiếc của thành phố…Nhưng người bận rộn nhất chắc chắn là Bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc. Trong các thư mời của Kim Quy thường có lời phân trần: em (hay mọi người) định ngày…mà ngày đó anh Ngọc phải ra Huế nói chuyện hoặc anh Ngọc phải ra mắt sách mới ở nhà sách Phương Nam hay anh Ngọc có cuộc giao lưu với thanh niên tại nhà văn hóa X…Tóm lại, Đỗ Hồng Ngọc là người bận rộn nhất trong số những người bận rộn. Và, vì vậy, cuộc nhóm họp thường phụ thuộc vào lịch của ông. Hình như vắng Đỗ Hồng Ngọc cuộc vui giảm độ vui. Chỉ liếc qua lịch tham gia các hoạt động xã hội của Đỗ Hồng Ngọc trong vòng một tháng ( 9/2013, trên trang Du Tử Lê) cũng đủ để hình dung sự bận rộn của ông:

-7/9: Nói chuyện ở chùa Xá Lợi về Vận dụng tư tưởng Kim Cang Bát Nhã trong cuộc sống

-14/9: Tọa đàm khoa học về Bùi Giáng ở Đại học KHXH&NV

-15/9: Dự ra mắt Tạp chí Quán Văn 16 ( chủ đề sông Seine)

-21/9: Dự Tọa đàm về cuốn Ngàn năm Áo Mũ của Trần Quang Đức

-22/9: Dự lễ trao giải Sách hay

-28/9:Dự lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Kim Tuấn

 

2.

Nhưng điều”kinh khủng” nằm ở chỗ khác. Đó là những cuốn sách mang tên tác giả Đỗ Hồng Ngọc. Rất nhiều lần, Kim Quy thông báo, trong cuộc gặp sẽ được người này người khác tặng sách mà người thường có sách để tặng chính là Đỗ Hồng Ngọc. Những khi ông không có sách, mọi người như bị hụt hẫng, thấy có chi đó bất thường.

Đỗ Hồng Ngọc có gần 40 đầu sách, trong đó có 15 cuốn Tạp văn, 9 cuốn viết cho tuổi mới lớn, 4 cuốn viết cho các bà mẹ và 5 tập thơ…Thử điểm qua các tựa đề sách của ông để thấy sự phong phú “không chịu nổi” của nó: Tình người( Thơ), Thơ Đỗ Nghê, Giữa hoàng hôn xưa(Thơ), Vòng quanh( Thơ), Gió heo may đã về (Tùy bút), Già ơi, chào bạn (Tùy bút), Thư cho bé sơ sinh và Những bài thơ khác (Thơ ),

Những người trẻ lạ lùng( Tạp văn), Thiền và sức khỏe( Tạp văn),Chẳng cũng khoái ru (Tạp văn), Nghĩ từ trái tim ( viết về Tâm Kinh Bát Nhã), Thư gửi người bận rộn (Tạp văn), Thầy thuốc và bệnh nhân (Tạp văn), Như ngàn thang thuốc bổ (Tạp văn), Cành mai sân trước (Tạp bút), Như thị (Tạp bút), Ăn vóc học hay(Tạp văn), Gươm báu trao tay (Tạp văn)…Ra nhà sách, thấy sách của Đỗ Hồng Ngọc bày nguyên một dãy, bên những tác giả văn học đang hot ! Nhìn và không thể không tự vấn: sao ông bác sĩ nhà thơ này có thể tạo nên một kỳ tích như vậy.

 

Nhẹ nhàng mà thâm trầm, thông tuệ mà giản dị, nghiêm trang mà dí dỏm, bận rộn mà thanh thản.Những phẩm chất này chan hòa trong những vần thơ, những trang văn của ông, tạo nên một phong cách, một đặc sắc Đỗ Hồng Ngọc. Đọc thơ ông thấm sâu ý nghĩa nhân sinh, thấm sâu chất Thiền, thấm sâu cảm xúc tâm linh. Đọc tản văn của ông, lại như nghe thấy dư vị của thơ qua từng dòng chữ, trang viết. Huỳnh Như Phương có lý khi nhận xét:”…chính những tác phẩm bàn về Y học, Thiền học của ông, với chất thơ bàng bạc trong đó, cũng mang đủ những phẩm chất thi ca, cho nên người đọc không còn phân biệt ở ông đâu là nhà thơ, đâu là Thiền giả và đâu là bác sĩ của tuổi thơ” (Lời bạt tập thơ Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác-NXB Văn Nghệ, 2010 ). Nguyễn Hiến Lê thì cho rằng: “Một bác sĩ mà là một thi sĩ thì luôn làm cho ta ngạc nhiên một cách thú vị “( Tựa Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò-1972). Trong lúc đó, viết tựa cho cuốn sách Ăn vóc Học hay, Mai Sơn nhận xét:”…Nhưng đối với ông y khoa là một ngành học về con người toàn diện, thân tâm bất nhị, tổng hòa các mối quan hệ con người-tự nhiên-văn hóa. Sức khỏe, dưới con mắt ông, luôn gắn với môi trường sinh thái-xã hội. Ông nhìn con người trục trặc không như một cỗ máy bị trục trặc, mà nhìn trong tương quan với môi trường lớn đang có vấn đề và nó tác động bằng những con đường quanh co đến tình trạng sống của một cá thể. Và lúc đó con người/ bệnh tật hiện ra như một hiện hữu bất ổn. Giải pháp của ông là bớt kỹ thuật và thêm nhân văn khi cứu xét một hay nhiều bệnh cảnh. Có thể thấy ông không đổ hết nguyên nhân gây bệnh cho bệnh nhân của ông. Trong viễn tượng đó ông làm chúng ta nhớ đến Karl Jaspers(1883-1969), triết gia-bác sĩ tâm trị người Đức, với tuyên bố:” Tôi bệnh, vậy tôi hiện hữu”…Tôi không nghĩ rằng một bác sĩ chuyên khoa thuần túy có thể có một cái nhìn như vậy, sự thấu hiểu như vậy đối với bệnh tật của con người. Điều đó chỉ có thể có ở Đỗ Hồng Ngọc và những ai có cùng qua điểm sống, quan điểm hành nghề như ông.

Thỉnh thoảng, trước hoặc sau những trang sách của mình, Đỗ Hồng Ngọc có lời dẫn, lời tâm tình với người đọc, hoặc trực tiếp, hoặc qua các bài trả lời phỏng vấn. Đây là  một “kênh” thông tin đáng tin cậy giúp ta hiểu ông hơn, nhìn rõ “dung mạo” của ông hơn. Khi được hỏi về “sứ mạng” của người viết sách tư vấn  cách sống, cách trị bệnh…ông đã thành thực trả lời:”Không. Chẳng có sứ mệnh gì cả…Hàng ngày trông thấy bao nhiêu là trường hợp trẻ con bị bệnh hoạn tử vong oan ức có thể phòng tránh được, vì thế mà tôi thấy cần phải làm gì đó giúp các bà mẹ. Vậy là tôi viết. Khi nhớ lại những sai lầm của mình ở tuổi mới lớn, tôi viết để chia sẻ cùng các em.Rồi khi tuổi già bóng xế, tôi lại viết cho bạn bè cùng lứa. Thực ra, viết, trước hết là cho mình, tự “chữa bệnh” cho mình cái đã, rồi mới dám chia sẻ với người khác. Giống như người xưa tự nếm thuốc rồi mới dám…kê đơn. Không có cái “sứ mệnh” gì ở đây cả, không có sự rao giảng gì ở đây cả, mà chỉ là sự thì thầm nho nhỏ”( Báo Dược và Mỹ phẩm, Bộ Y tế). Vốn e ngại trước những tuyên bố lớn lối, tôi thực sự cảm phục những lời lẽ chân tình, giản dị này. Lạ thay, chính cái sự “không sứ mệnh “ này lại khiến những dòng thơ, những trang văn của ông- những lời “thì thầm nho nhỏ” của ông  có một hấp lực đặc biệt với người đọc. Đỗ Hồng Ngọc có bạn đọc đủ mọi lứa tuổi, đủ các vùng miền trong nước, ngoài nước. Thơ của ông được dịch ra tiếng Anh, được bạn bè phổ nhạc rồi một ngày nào đó họ gửi cho ông, đem cho ông một niềm vui bất ngờ, tràn đầy. Khi được hỏi vì sao ông được độc giả yêu mến nhiều đến thế, Đỗ Hồng Ngọc đáp:” Tôi chỉ viết những gì mình thực sự trải nghiệm. Viết là cách chia sẻ kinh nghiệm chứ không phải từ sách vở mà ra”. Theo ông:”Một người thầy thuốc khi chữa bệnh cho bệnh nhân, nếu chỉ thấy cái thân bệnh mà không thấy cái tâm bệnh, tức là thấy cái “đau” mà không thấy được cái” khổ” của họ thì không thể chữa thành công”( Báo Văn hóa Phật giáo, số 39, Vu lan 2007)

Trong lịch sử văn học thế giới, có nhiều nhà văn vốn là thầy thuốc, nhiều người nổi tiếng  như Lỗ Tấn, như Tsekhov nhưng khi đã viết văn, họ đoạn tuyệt với nghề cũ. Đó là một sự lựa chọn. Đỗ Hồng Ngọc vì muốn chữa được cả cái đau lẫn cái khổ, cái bệnh lẫn cái hoạn mà vừa hành nghề Y vừa làm thơ vừa viết tản văn. Các nhà xuất bản đón chờ tác phẩm của ông, người đọc đón chờ tác phẩm của ông. Giữa lúc sách chỉ được in dăm ba trăm hay một ngàn bản, sách của Đỗ Hồng Ngọc được tái bản nhiều lần, có cuốn cả chục lần, số lượng lên tới hàng vạn bản (Già ơi…chào bạn được dịch sang tiếng Nhật. Người Nhật gọi sách của Đỗ Hồng Ngọc là”long seller”), quả là một hiện tượng có phần lạ lùng nhưng hữu lý. Đỗ Hồng Ngọc từng bảo:”Sẻ chia, ấy chính là hạnh phúc”. Ông đã sẻ chia và đã được đón nhận. Hạnh phúc đã nhân đôi.

 

3.

Có những người viết văn hay nhưng gặp gỡ thì…chán. Lại có những người văn chương “ thường thường bậc trung” nhưng trò chuyện lại hấp dẫn, vui vẻ. Đỗ Hồng Ngọc là một ca khác. Đọc ông rồi gặp ông, có một cảm giác thật dễ chịu khi mọi điều như hòa quyện với nhau. Văn là người , người là văn vậy.

Đỗ Hồng Ngọc nói:” Tôi vốn ít hay cười. Không hút thuốc, không uống rượu”. Tôi chưa thấy ông hút thuốc hay uống rượu nhưng lại thường thấy ông cười, có điều đó chỉ là một nụ cười nhẹ, ít khi bật thành tiếng. Đỗ Hồng Ngọc không tạo sự cách bức. “Người bận rộn”, khi có dịp ngồi bên bạn bè, luôn là người hay chuyện, vui vẻ, thoải mái, dí dỏm. Có lần cả nhóm đến nhà tôi ăn bún ốc, Đỗ Hồng Ngọc rất khoái khi được ăn tráng miệng bằng món kẹo Dồi, đặc sản của miền Bắc. Ông còn chạy ra đầu ngõ, nơi có một lò nướng bánh tráng, mua về mấy chiếc, cùng mọi người bẻ bánh rôm rả. Lần gặp nào ông cũng nhắc tới món bánh tráng dân dã ấy. Đỗ Hồng Ngọc khiến tôi nhớ tới Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thời ông làm Bộ trưởng Bộ Y tế ở Hà Nội. Mọi người rất khoái khi truyền nhau câu chuyện ông Bộ trưởng Y tế thường ghé hàng bún Ốc, bún Riêu, bánh Cuốn…bày bán ngay trên vỉa hè.

Ngoài những lần ngồi ở quán Du Miên, Đông Hồ, Khúc ban chiều, nhóm có cái thú tụ tập tại nhà Lê Ký Thương-Kim Quy. Món chủ nhà đãi mọi người thường là xôi đậu xanh, khoai lang luộc, bắp luộc, lạc luộc.  Để hỗ trợ, tôi mang thêm món chuối sáp nấu. Ăn khoai, ăn bắp, ăn chuối, uống cà-phê, sữa đậu nành…và tán chuyện. Chuyện gì nhỉ. Thật khó khi phải nhớ lại những câu chuyện vì đề tài của nó thì mênh mông, ý kiến thì phong phú, lúc đồng thuận, khi tranh cãi. Có điều, bao giờ cũng vui, bao giờ cũng có cảm giác được thư giãn bên những người bạn chân tình.

Từ trái: Thân Trọng Minh, Nguyễn Tường Giang, Đỗ Hồng Ngọc, Ý Nhi, Thu Vàng, Thanh Hằng, Nguyệt Mai, Hoàng Quốc Bảo.

Trong một thư điện tử, Kim Quy viết: em thấy ai trong chúng ta cũng có chút suy nghĩ về tuổi tác. Riêng anh Ngọc thì hình như là không. Kim Quy đã đúng. Đỗ Hồng Ngọc, sau cơn bạo bệnh (bị tai biến, phải mổ sọ để đặt ống dẫn lưu), khi trở lại với đời sống, dường đã một lần giác ngộ. ( có lẽ đây chính là cơn bệnh cần cho mỗi con người như nhà văn N.Dumbatze từng nói đến trong tác phẩm nổi tiếng Quy luật của muôn đời). Việc nghiên cứu đạo Phật, nghiên cứu Thiền lại thêm một lần giúp ông có một cái nhìn đời sống có phần vô vi :”…Dù cuộc sống ngỡ là thực này vẫn chỉ là mộng, huyễn, bào ảnh, sương mai”. Cái khoảnh khắc được sống trở nên quý giá hơn, huyền diệu hơn, đáng trân trọng hơn:” Nhưng với tôi, tôi không hề biết mình đã có tuổi, tích tuổi, lúc nào tôi cũng thấy tôi đã già và lúc nào tôi cũng thấy tôi còn trẻ. Tôi là một thầy thuốc, một bác sĩ nhi khoa, đã hành nghề trên 30 năm. Tôi nhớ mình mới khám chữa bệnh cho một chú bé sơ sinh thì chẳng bao lâu đã thấy chú bé đó mang trên tay một chú bé sơ sinh khác là con của chú để nhờ tôi khám chữa bệnh. Thời gian trôi qua lúc nào đó vậy?…”. Đỗ Hồng Ngọc yêu tuổi trẻ của mình, của người. Ông cũng yêu tuổi già của mình, của người: “Già có cái đẹp của già…thấy mình già, như trái chín cây thấy mình đang chín trên cây, ửng đỏ, mềm mại, thơm tho…”, chẳng cũng khoái ru?. Có lẽ, không có nhiều người biết cám ơn cơn đau của mình như Đỗ Hồng Ngọc: Xin cám ơn, cám ơn/ cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc/ cho ta trở lại với mình/ ta muốn ôm hôn tất cả mọi người/ và ôm hôn ta nữa/ cái đầu trọc lóc bình vôi/ hai lỗ thủng và 18 vết khâu từ ái/ ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở/ lắng nghe sự sống cục cựa trong mình…Khi đứng được hai chân như con người/thật vô cùng hạnh phúc/ khi bước đi những bước con người/ khi còn được nghe được nói/ được cầm cây viết vẽ bâng quơ/ được đọc vài trang báo…Những hòn sỏi bỗng có linh hồn/ những lá cây đong đưa lạ lẫm/ tiếng chim và ánh nắng/ như đã lâu rồi ta mới gặp nhau/ như đã lâu rồi ta mới quen nhau…”.

Đỗ Hồng Ngọc và Ý Nhi trong buổi “Ra mắt” tập thơ “Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác…” của Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc)… với cà phê và khoai, bắp, chuối, đâu phọng, bánh tráng… tại nhà họa sĩ Lê Ký Thương (2010) trong vòng thân thiết với vài mươi bạn bè…

 

Năm 2010, khi sắp sửa in tập thơ Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác, Đỗ Hồng Ngọc rủ bạn bè góp mặt cho vui, tôi đã viết:”…Thơ Đỗ Hồng Ngọc là thơ của sự chân thành. Từ những bài thơ tình cảm viết cho cha mẹ, vợ con, bạn bè đến những bài thơ thế sự viết về đất nước, quê hương, từ những chuyện đời thường đến những chuyện cao siêu, những câu hỏi không lời đáp…Đọc anh, tôi chưa khi nào có cảm giác ngờ vực. Sau căn bệnh ngặt nghèo, Đỗ Hồng Ngọc đã viết bài thơ rất hay Xin cảm ơn. Tôi nghĩ, những độc giả của anh cũng cần nói lời cảm ơn anh, bởi chắc chắn, anh đã góp phần giúp chúng ta thanh lọc tâm hồn mình, giữa đời sống nhiều bụi bặm này”.

Một lần nữa, tôi muốn được nói lời cám ơn ông.

 

Sài Gòn 9/2014

Ý Nhi.

* Tên một tập thơ của nhà thơ Phạm Hổ

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Lê Ký Thương: SÀI GÒN-SÁCH

23/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Sài Gòn – Sách

Lê Ký Thương

Sài Gòn bây giờ có nhiều nhà sách lớn, luôn luôn đông khách. Sách đủ thể loại, phong phú, đa dạng. Đó là địa chỉ thường đến của những người nhận sách là bạn đồng hành của mình – từ em bé đến người già, người của thành phố hay khách vãng lai, người Việt sống ở nước ngoài về thăm quê hương, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam hay chỉ là khách du lịch… Những nhà sách lớn ở trung tâm thành phố còn là nơi dành cho khách dạo chơi một vòng, hưởng chút hơi lạnh cho thư thái tâm hồn khi bị cái nóng ở nhà hay đường phố làm mệt người, khó chịu.

Xưa nay, tôi có thú vui đến nhà sách để nhìn ngắm và chọn mua những quyển sách văn học mới xuất bản mà mình ưa thích được bày bán trang trọng trên kệ. Bắt gặp một quyển sách trình bày đẹp từ bìa đến ruột, nội dung hợp với sở thích của mình, tôi luôn có cảm giác như vừa gặp người bạn tri âm, không thể cầm lòng mà không mời về nhà để hàn huyên tâm sự.

Nhưng cái quyến rũ tôi hơn chính là mùi colophan của những trang sách mới ngày trước. Mỗi lần vào Nhà sách Khai Trí (bây giờ là Nhà sách Sài Gòn 2) hay Nhà sách Liên Châu (bên hông Nhà thờ Đức Bà, đối diện với Bưu Điện Thành phố) chuyên bán loại sách livre de poche, là tôi cầm ngay quyển sách mới đưa trước mũi hít một hơi thật sâu để tận hưởng mùi hương của sách như tận hưởng mùi hương của người tình.

Nhà xuất bản bây giờ thì nhiều và những người làm sách tư nhân hay các Công ty Văn hóa liên kết với nhà xuất bản nhiều gấp bội. Nhưng liệu có mấy nhà xuất bản (nhà nước) – nơi biên tập và cấp giấy phép xuất bản “bảo đảm bằng vàng” được thương hiệu của mình? Thỉnh thoảng báo chí lại phát hiện ra một hai quyển sách trông rất sang và rất đẹp của một nhà xuất bản tầm cỡ nhưng “hồn Trương Ba da hàng thịt”! Sách mà cũng có đồ giả, đồ dỏm như rượu bia, thuốc lá, bột giặt trong nền kinh tế thị trường thì đáng buồn nôn thật!

Trước 1975 ở miền Nam, mỗi lần bước vào hiệu sách, chỉ cần nhìn thấy tên nhà xuất bản như Yểm Yểm Thư Trang, Thanh Tâm, Nam Chi Tùng Thư, Khai Trí, Cảo Thơm, Thời Mới, Tuổi Hoa, Nguyễn Đình Vượng, Lá Bối, An Tiêm, Trình Bầy… là người mua an tâm, không sợ mua lầm hàng kém chất lượng. Mỗi nhà xuất bản đều có mục đích và tôn chỉ hoạt động, không có chuyện vàng thau lẫn lộn.

Theo tôi, hai nhà xuất bản hoạt động mạnh có tiếng vang, gây được nhiều thiện cảm và uy tín nhiều nhất với người đọc, người viết, người dịch là Lá Bối và An Tiêm. Người điều hành hai nhà xuất bản này lại là hai tu sĩ Phật giáo. Những người mê sách nào chẳng có những quyển sách giá trị như: Xứ Trầm hương (Quách Tấn), Sử ký Tư Mã Thiên(Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch), Anna Karénnine (Léon Tolstoi – Nguyễn Minh Hoàng dịch), Chiến tranh và Hòa bình (Léon Tolstoi – Nguyễn Hiến Lê dịch) và những tác phẩm khác của các nhà văn như Võ Hồng, Nguyễn Văn Xuân… của nhà Lá Bối. An Tiêm thì xuất bản “sách đời” nhiều hơn, đa số là những kiệt tác văn học nước ngoài với những dịch giả uy tín, như Anh em nhà Karamazov (Dostoievski, Trương Đình Cử dịch), Kim các tự (Yukio Mishima, Đỗ Khánh Hoan dịch), Câu chuyện dòng sông (Hermann Hesse, Phùng Khánh dịch), Người đàn bà trong cồn cát (Kobo Abé, Trùng Dương dịch), Tố Như thi (thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Quách Tấn dịch)… và những tác phẩm của Đại sư Suzuki mà nổi tiếng là bộ Thiền Luận (ba tập).

Sách thời đó xếp chữ chì, in typô. Thợ xếp chữ ở các nhà in thường chỉ có trình độ văn hóa cấp 2 bây giờ, học ở trường nửa buổi, học việc nửa buổi, nên những trang bài vỗ bản đầu tiên luôn luôn bị bỏ dòng, nhảy chữ và chi chít lỗi chính tả (morasse), vì thế nhà in nào cũng có “thầy cò” (correcteur). Thầy cò là một nghề được các nhà in trọng vọng. Nhờ vậy sách của nhà xuất bản uy tín hiếm có lỗi chính tả, nếu có thì luôn luôn có bản đính chính kèm theo lời xin lỗi tác giả và bạn đọc. Điều này không những thể hiện tính nghiêm cẩn mà còn là đạo đức của người làm sách.

Nhà in có kiểu chữ đẹp nhất hồi đó là Kim Lai Ấn quán, mà chủ nhân chẳng ai khác chính là cụ Lãng Nhân Phùng Tất Đắc. Bây giờ, tuy rất quen thuộc với những kiểu chữ vi tính, nhưng khi xem lại những quyển sách in ở nhà in này, chẳng hạn như cuốn Giai thoại làng Nho của chính cụ Lãng Nhân, tôi vẫn còn mê kiểu chữ đó.

Một trong những người nổi tiếng làm sách đẹp, sách giá trị ở Sài Gòn trước 1975 là ông Thanh Tuệ, chủ nhà xuất bản An Tiêm. Ông là một “con người chịu chơi” như chàng Alexis Zorba trong lãnh vực làm sách, là người đầu tiên xuất bản tập thơ Mưa nguồn của “trung niên thi sĩ” Bùi Giáng và Đêm nguyệt động của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (Sao Trên Rừng).

Tôi nhớ vào khoảng 1964, khi ông Thanh Tuệ đang trên đường đi đến nhà in chăm sóc tập thơ Đêm nguyệt động thì bị tai nạn xe phải nằm bệnh viện. Sau đó, xuất hiện một mẩu tin trên tạp chí Văn với cái tít thật hay: “Đêm nguyệt động… động thầy Thanh Tuệ”. Nếu ai có cơ duyên đọc tập thơ này sẽ biết thầy Thanh Tuệ “chịu chơi” đến cỡ nào!

Sau 1975 ông Thanh Tuệ hoàn tục và lập gia đình. Năm 1981 ông cùng gia đình sang Pháp định cư, nhưng cái máu mê làm sách đẹp sách hay vẫn không thay đổi được. Đầu năm 1990, sau khi ổn định cuộc sống gia đình, ông làm sách trở lại. Làm sách Việt bên Tây ít người đọc, ông sang Mỹ hợp tác với những người Việt làm sách có uy tín, in và phát hành ngay trên đất Mỹ. Mới đây, trung tuần tháng 8, ông lại sang Mỹ để gặp các thân hữu bàn việc kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Nhà xuất bản An Tiêm, không ngờ bệnh siêu vi gan C tái phát và mất ngay tại bệnh viện bang California. Vĩnh biệt một người tài hoa mê làm sách đẹp!

Tôi đã từng mê sách của An Tiêm. Cách đây hai năm, tôi và vài người bạn có dịp gặp lại ông Thanh Tuệ khi ông về Việt Nam thăm người thân. Gặp nhau, ông chỉ toàn nói chuyện sách đẹp, sách hay. Với ông, việc xuất bản một quyển sách cũng đồng nghĩa với việc tạo ra một tác phẩm mỹ thuật.

Nói đến một quyển sách đẹp, thiết nghĩ phải kể đến tài của người trình bày bìa. Câu thành ngữ “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” có lẽ không thể buộc vào một quyển sách được. Trước 1975, ở Sài Gòn có những họa sĩ trình bày bìa sách nổi tiếng như Đinh Cường, Nguyễn Trung, Hoàng Ngọc Biên, Hồ Thành Đức… Họa sĩ Đinh Cường chuyên trình bày bìa cho các nhà xuất bản Lá Bối và An Tiêm. Họa sĩ Hoàng Ngọc Biên là người đầu tiên ở miền Nam được cử đi học ngành đồ họa ở Mỹ, làm việc ở Trung tâm Học liệu, chuyên trình bày bìa sách của cơ quan này và Nhà xuất bản Trình Bầy. Mỗi họa sĩ đều có style trình bày riêng, nhìn vào bìa sách là ta biết ngay, không lẫn được.

Hơn mười năm qua, công nghệ chế bản và in thâm nhập vào nước ta, cụ thể là Sài Gòn – cái nôi của ngành này – ngày càng hiện đại hơn, nên các phương tiện này đã hỗ trợ cho các ấn phẩm mang tính mỹ thuật cao. So với một quyển sách in bây giờ với một quyển sách in trước “thời mở cửa” khác nhau khá xa. Nhiều tác phẩm, nhất là tác phẩm văn học dịch, được tái bản trông hết  sức “quyền quý cao sang”. Ngẫm ra vẫn “con người đó”, vẫn mang tâm hồn đó, nhưng được “make up” có nghề, có lương tâm, làm tôn vẻ đẹp thì dễ lay động trái tim của đối tượng hơn là “mặc áo vải thô, đi chân đất”.

Nhiều người quan tâm đến sách có tâm trạng băn khoăn chỉ sợ trong thế giới nghe nhìn ngày nay, e rằng sách in một ngày nào đó không còn chỗ đứng. Nhưng tôi không nghĩ mối lo đó sẽ thành sự thực khi mà thế giới vẫn còn có người mê sách in đẹp và những người làm sách đẹp.

Lê Ký Thương
Sài Gòn, 2004

(Nguồn: https:\\tranthinguyetmai.wordpress.com)

 

Từ phải: Lê Ký Thương, Thân Trọng Minh, Đỗ Hồng Ngọc
(Đường Sách Saigon, 2018)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Y Đức qua cái nhìn của Sinh viên y khoa

17/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Vào năm học mới

Y Đức qua cái nhìn của Sinh viên y khoa

Bs Đỗ Hồng Ngọc (*)

Một khảo sát nhanh của chúng tôi, Bộ môn Y đức – Khoa học hành vi tại trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Tp.HCM dành cho sinh viên y khoa năm thứ 6 (năm cuối) vài năm trước đây để chuẩn bị cho một Hội thảo về Y đức, được tổ chức hàng năm cho SV ở trường. Có 6 câu hỏi cho khảo sát này, và dưới đây là câu hỏi đầu tiên: “Em nghĩ gì về vấn đề Y đức của ngành Y chúng ta hiện nay?” vẫn còn rất nhiều trăn trở để suy gẫm cho một niên học mới tại các trường Y.

Trân trọng cảm ơn Bs Trương Trọng Hoàng, Bs MinhTrang, Kiều Chinh, Thanh Ngân cùng các giảng viên của Bộ môn đã nhiệt tình hỗ trợ.

Dưới đây xin trích một phần những câu trả lời của sinh viên:

 

Em nghĩ gì về vấn đề Y đức của ngành Y chúng ta hiện nay?

SV1
Không được tạo điều kiện
– Báo chí thì chờ chực soi mói
– Bác sĩ thì nhiều áp lực : bệnh nhân đông, lương, chuyên môn

SV2
Khó nói lắm. Lượng bệnh nhân phải khám quá nhiều, muốn khám kỹ, dặn dò kỹ cho bệnh nhân hiểu cũng khó khăn. Các bác sĩ hằng ngày thấy bao nhiêu ca bệnh phức tạp, hiểm nghèo, thấy người chết như cơm bữa, nếu ko hơi máu lạnh một chút thì làm sao có thể bình tinh đưa ra y lệnh được. Riết rồi chỉ số EQ cũng thấp đi.
Thêm nữa, hở cái là bị chụp hình, quay lén, rồi cánh nhà báo đưa tin để câu like. Bị thiếu tôn trọng thì làm sao có tinh thần nữa.

SV3
Rõ ràng là y đức hiện nay bị chi phối bởi quá nhiều yếu tố tác động. Sih viên ra trường đa số ai cũng mang trong mình một tiêu chí “tích cực”. Vậy đâu là yếu tố tác động, có thay đổi được không?

SV4
Theo quan điểm cá nhân của em, Y đức của ngành y chúng ta hiện nay đang bị chi phối quá nhiều bởi 4 chữ : cơm – áo – gạo – tiền. Sở dĩ như vậy vì sau khi học 6 năm ở đại học với nhiều thời gian và công sức bỏ ra, cái mà bác sĩ nhận được hiện nay là đồng lương không xứng đáng với những gì phải trải qua. Y đức chỉ thực sự đúng với tên gọi của nó khi những ng làm nghề thầy thuốc không phải lo lắng quá nhiều cho cuộc sống của họ.

SV7
Eem nghĩ rằng một số bác sĩ còn rất kém về vấn đề này. Theo em do cách cư xử của bác sĩ đối với người bệnh kém khiến người dân bức xúc mà dẫn đến việc không tôn trọng bác sĩ nữa. Bản thân em khi đi lâm sàng cũng rất bức xúc với cách mà một số bác sĩ đối xử với bệnh nhân, xem mình như kẻ bề trên và ban ơn cho người bệnh chứ không phải xem bệnh nhân như những “người thầy” nữa.

SV8
Theo em vấn đề Y đức hiện nay có nhiều điểm cần phải lưu tâm, sự vô cảm trước bệnh nhân, khôg còn xem bệnh nhân như người nhà, thiếu tôn trọng đồng nghiệp, thiếu sự đoàn kết trong y giới. Nếu nhìn một cách bi quan thì hầu hết, những điều trong lời thề Hyppocrate chúng ta đều đang lãng quên hay thậm chí là vi phạm nặng nề.

SV11
Dạ thưa thầy, theo em nghĩ, con người ta sống và làm việc ai cũng cần có đạo đức. Đạo đức con người không bị ràng buộc bởi các chuẩn mực xã hội mà phụ thuộc vào chính bản thân của mỗi người. Vì vậy, dù là ai, làm gì, bất cứ ngành nghề nào, cũng cần có cái “đức” của chính mình chứ không phải chỉ ngành Y. Do đó, “Y đức” cũng chỉ là một phần của đạo đức con người, đối với những người làm ngành y và đạo đức con người là điều ai cũng cần phải có để có thế làm điều tốt cho mình, cho người khác. Sở dĩ em đặt việc làm điều tốt cho mình lên trước là vì em nghĩ rằng, chúng ta ai cũng rất ích kỉ, luôn coi trọng bản thân hơn người khác nên đa phần làm gì cũng đều là vì mình trước khi vì người khác. Nhưng điều đó không có nghĩa là mình là người xấu. Đôi khi mình giúp đỡ một ai đó, người ta vui mình cũng vui theo thì đó có phải chăng cũng là những việc mình có thể làm vì bản thân mình, để sống được nhẹ nhàng, thanh thản, vui vẻ. Những người làm ngành Y cũng vậy, không ai trong chúng ta muốn bệnh nhân của mình trở nặng, hay có biến chứng hay thậm chí là mất đi bệnh nhân. Khi có những tình huống đó xảy ra, người ta hay đổ lỗi cho y đức, thực tế dù có hay không có y đức thì em nghĩ cũng không một nhân viên y tế nào muốn điều đó xảy ra cả, vì đó hoàn toàn không phải là điều tốt gì cho bản thân ai hết. Còn nếu muốn nói về đạo đức của con người nói chung và người nhân viên y tế nói riêng thì em nghĩ, điều chung nhất mà tất cả chúng ta ai cũng phải làm, ai cũng phải có đó là không làm hại tới người khác. Thực tế, em nghĩ y đức hay đạo đức có phạm vi rất rộng, đó còn là cách mình cư xử với người khác như thế nào, cách mình đối mặt với những điều sai trái ra sao, … nhưng chung quy, tất cả chúng ta ai cũng vậy, con người ai cũng có điều tốt và điều xấu, và nếu đòi hỏi y đức thì cần phải đòi hỏi đạo đức của cả xã hội như thế nào. Còn con người, thì chúng ta nên tự ý thức về đạo đức và trách nhiệm của mình, chứ đó không phải là thứ có thể kêu gọi hay hô hào mà có thể thay đổi được.

SV13
Rất tệ, nhưng căn nguyên không phải ở từng bác sĩ mà là cách quản lý của lãnh đạo khoa phòng, bệnh viện … đến cả ngành y tế. Em nghĩ rằng hầu hết con người (không nói riêng nhân viên Y tế) đều hướng thiện, và bản thân em nhận thấy rằng sự suy đồi đạo đức ngành Y thường có tính hệ thống (trong cùng 1 khoa hay 1 BV)

SV14
… em muốn nói rằng  người bác sĩ ngày nay ở VN phải lo toan quá nhiều, trước tiên là bệnh nhận, rồi phải lo cho gia đình với đồng lương ít ỏi, rồi phải lo làm sao cho phù hợp qui chế phức tạp của BV của Bộ Y tế,..

Chưa hết, bác sĩ ở Vn còn phải dè chừng các nhà báo không hiểu chuyện và những cá nhân hung dữ sẵn sàng đánh bác sĩ -người đang ra sức cứu người nhà họ. Trong vô vàn khó khăn, em nghĩ sẽ là vô cùng khó khăn cho bất cứ bác sĩ nào có thể giữ trọn vẹn lời thề Y đức được bất chấp lòng họ không xấu.

Em tin rằng hầu như tất cả bác sĩ đều muốn cứu được người bệnh mình dù có ai dạy họ về y đức hay không đi nữa…Có quá nhiều thứ ảnh hưởng đến người bác sĩ, giữ được cái tâm trong sáng như hồi còn là sinh viên là rất khó.

SV15
– Hành hung bác sĩ, không tôn trọng bác sĩ. Bác sĩ ngày càng bị mất giá, bị xúc phạm nhân phẩm.
– Xã hội đối đãi không công bằng với bác sĩ, lương thấp, trách nhiệm nặng nề.
– Không ai đứng ra bảo vệ bác sĩ.

SV16
Bên cạnh sự suy đồi về đạo đức con người của xã hội ngày nay, vấn đề đạo đức trong các ngành nghề đòi hỏi chữ đức hàng đầu như ngành Y, nghề Giáo đang được quần chúng nhân dân theo dõi sát sao, soi mói đủ điều mà thiếu kiến thức chuyên môn cũng như cái nhìn khách quan và sự quan tâm, giúp đỡ 1 cách thực tế từ cộng đồng cũng như sự thấu cảm dành cho những người phải gánh trên vai những áp lực nặng nề của việc cứu người lẫn nuôi sống gia đình.

SV20
Theo em Y đức của ngành Y chúng ta hiện nay đã bị chi phối nhiều mặt ví dụ: tiền lương, các nguyên tắc làm việc trong cộng đồng, tính an toàn của bác sĩ trong ngành Y, bạo hành Y tế. Về nguyên tắc là bác sĩ phải có tâm chữa bệnh hết mình như câu lương y như từ mẫu. Tuy nhiên hiện tại xã hội lên án nhiều vì Bác sĩ làm việc vì tiền, có tiền mới chữa bệnh, nhưng e nghĩ mỗi người đều có lương tâm và ai cũng muốn mình giúp người chẳng ai muốn hại người cả nhưng tại sao bác sị không được quyền kiếm tiền. Sinh viên ra trường ai cũng mong muốn có được lương bổng tốt như những bạn không theo ngành y (…).

SV21
Theo em, Y đức là đạo đức của người thầy thuốc. Y đức biểu hiện bằng quan hệ của thầy thuốc- bệnh nhân
Rắc rối của quan hệ thầy thuốc và bệnh nhân đến từ sự phòng thủ của cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân. Thật ra, bản thân e từng là 1 bệnh nhân, và cũng là 1 người đi hỏi bệnh nhiều lần nên e hiểu được cảm xúc của 2 đối tượng.
Với thầy thuốc, họ sợ phải đưa cái dở trong giao tiếp và chuyên môn của mình ra, biện hộ dưới dạng không có thời gian, môi trường không phù hợp mà qua loa cho xong chuyện.
Với bệnh nhân, họ sợ phải gặp lang băm, không được tôn trọng, bị lừa lấy tiền.

SV25
em nghĩ y đức giống như môn giáo dục công dân của cấp 2,3. tính lý thuyết cao, nhưng thực tiễn lại thấp. nhưng xét cho cùng, y đức cũng là đạo đức, phải đào tạo từ nhỏ, nếu như đạo đức kém thì học y đức cũng như học giáo dục công dân… vô ích!

SV26
Thưa Thầy, theo em Y đức của ngành Y chúng ta hiện nay đang bị xuống cấp trầm trọng! Bác sĩ, Điều dưỡng ngày nay đa phần đã không còn quan tâm đến Bệnh nhân bằng cái tâm chân thành nữa! Họ chỉ đặt mình vào vai trò người ra các chỉ định cận lâm sàng, ra toa thuốc mà không nghĩ đến hoàn cảnh mỗi người mỗi khác, và còn rất nhiều sự bất công trong cách đối xử giữa nhân viên y tế và bệnh nhân… Và cả khu vực khám Dịch vụ trong các BV đó là một biểu hiện của sự không công bằng cho bệnh nhân rồi!

SV27
_ Trước hết em xin kính chào Thầy ạ. Sau 5 năm học ở trường y, quan nệm về y đức của em thay đổi nhiều lắm Thầy ạ. Em xin lỗi thầy, nhưng em xin viết vài dòng cảm xúc của em nếu
_ Từ năm lớp 12 em quan niệm một bác sĩ là người sẽ biết hy sinh luôn cố gắng giúp đỡ bệnh nhân, khoác lên mình áo blouse trắng là mục tiêu của em lúc đó, em nỗ lực hết mình để thi đậu trường y.
_ Bước vào năm nhất gia đình em rất hãnh diện về em, em được tiếp xúc với một môi trường học tập mới hoàn toàn khác với gì 12 năm học trước đó, từ cách học đến cách thi cử. Bây giờ em ước rằng lúc đó có ai đó hướng dẫn sinh viên Y1 cách học đại học như thế nào, cảnh báo tụi em về những gian nan trong 6 năm tới như thế nào, thay vào đó là để các bộ môn như giải phẫu, mô phôi di truyền vùi dập tụi em trong ngỡ ngàng, đến bây giờ nghĩ lại thật kinh hoàng…
_ Ngày trước em có tìm hiểu về hệ thống dạy học ngành y ở các nước phát triển, em rất thắc mắc tại sao họ phải bắt tất cả các sinh viên ngành y phải học 4 năm khoa học cơ sở, em nghĩ 4 năm đó là bước đệm để họ chín chắn hơn trong suy nghĩ và thay đổi cách học tự học ở bậc đại học. Chúng em mới 18 tuổi đầu còn bỡ ngỡ ở ngôi trường đại học còn đang hãnh diện tự hào về bản thân, bị vùi dập như thế ? thì liệu có sang chấn tâm lí không? Em không biết các bạn như thế nào nhưng em thì em bị hụt hơi, chỉ ráng theo kịp các bạn theo kịp lịch trình học của nhà trường. Như vậy em có đủ năng lực không? Em cũng không dám chắc sau khi ra trường em có phạm sai lầm nào không? Rồi em có giữ được Y đức không?…
_ Lúc trước học trung học em không nghĩ gì về tiền bạc đâu… vì gia đình em chu cấp đầy đủ, lên bậc Đại Học chi tiêu nhiều hơn nên bắt đầu em nghĩ về tiền bạc nhiều hơn, lúc đi thực tập bệnh viện nhiều anh chị đàn anh chia sẽ kinh nghiệm, em nhớ có anh Bác sĩ nội trú vừa làm giảng viên vừa làm bác sĩ thu nhập khoảng 10tr/ tháng, ảnh tính sơ sơ nếu trừ khoảng 3-4tr chi tiêu hàng tháng dư khoảng 6tr/tháng thì sau 20 năm ảnh mới mua nổi nhà vùng ven thành phố, ảnh kể bạn ảnh nhiều người bỏ ngành đi làm trình dược viên, làm bệnh viện tư với mức lương cao hơn… Nếu em nói em ko quan tâm tới tiền bạc thì em nói dối rồi, ai mà không phải lo kinh tế xây dựng gia đình phải không thầy, nếu lương bác sĩ Việt Nam mà cứ đà này thì các bác sĩ giỏi đều bỏ bv công đi làm bv tư hết quá!
_ Việc chia 2 loại khám dịch vụ và khám bảo hiểm là em thấy vi phạm Y Đức rồi chứ nói chi xa, tại sao phân biệt đối xử bệnh nhân? Vẫn là bài toán bệnh nhân đông bv thiếu chỗ, thiếu bác sĩ…Giờ thì xây 2 bv Nhi đồng và ung bướu tp, rồi tuyển sinh đại trà cho đủ chỉ tiêu Bác sĩ, mà không cần quan tâm năng lực, ngày xưa chỉ tiêu bs là 400 ở PNT giờ đã gần 1000, chất lượng có đảm bảo? …
_ Bác sĩ thì cũng có người này người kia, có người điềm tĩnh có người nóng nảy, bệnh nhân đông, 1 ngày ở phòng khám ung bướu có thể lên vài trăm bệnh nhân mỗi phòng khám mỗi bệnh nhân chưa được hỏi bệnh đến 3p đã viết cho giấy đi xét nghiệm các loại, không một lời giải thích, đã vậy nhiều xét nghiệm không cần thiết…. bệnh nhân hỏi thì người bác sĩ điềm tĩnh thì cũng trả lời 1-2 câu, bác sĩ nóng tính thì cọc cằn quát tháo,…. chắc em làm trong môi trường đó e cũng sẽ stress như vậy quá thầy ơi!
_ Còn nhiều nhiều điều e cũng muốn nói lắm… nhưng em xin kết ở đây. Đối với em Y Đức của ngành Y chúng ta hiện nay đang xuống cấp,… cần cải cách việc giáo dục đào tạo sinh viên Y hiện nay,…

SV30
Theo em ngành y là ngành đặc biệt, vì công việc của chúng ta liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người. Không ai có thể sống hết đời mà chưa từng vài lần mắc bệnh, k nhiều thì ít, ai cũng có nhu cầu được chăm sóc sức khỏe. Do đó, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ y tế hay y đức như mình vẫn gọi là điều không thể thiếu. Không những vậy, giữa đời thường bộn bề nỗi lo của cuộc sống, chúng ta cần hết sức tỉnh táo và nghị lực để giữ gìn cái tâm của người thầy thuốc trước những cám dỗ của tiền bạc, quyền lực. Nói cách khác, làm sao trọn lòng với bệnh nhân mới là điều hay!

SV33
Hiện nay,thông qua các kênh thông tin truyền thông đại chúng, hình ảnh 1 người Bác sĩ dần xấu đi trong suy nghĩ người dân. Trước khi em học Y và tới tận năm 3 thì vấn đề Y đức mới nổi cộm lên và vẫn là đề tài nóng bỏng cho các trang báo hiện nay với 1 số vấn đề như : Chuyên môn BS kém để xảy ra tử vong,…Bác sĩ khám sơ sài để xảy ra sự cố….. rồi tác phong Bác sĩ khi khám bệnh…rồi Bác sĩ không có y đức khi không chữa bệnh cho bệnh nhân không có tiền….. Chẳng lẻ Y đức của các BS đi xuống? thật khó để kết luận vì thật sự là một phần do nhân viên một phần rất nhiều yếu tố còn lại như : qui định, quy chế, tiền lương, thưởng, áp lực công việc, công sức bỏ ra so với thành quả có được….

SV35
– vấn đề muôn thuở, đặc biệt khi mà đồng tiền càng ngày càng mất giá (lạm phát -> giá cả, chi phí tăng + lương không cao -> cuộc sống khó khăn -> phát sinh vấn đề)

– Một vấn đề nhức nhối khác mới xuất hiện: góc nhìn phiến diện, tiêu cực, muốn giật tít, … của 1 số nhà báo, phóng viên lợi dụng công nghệ, đưa thông tin tràn ngập và không chọn lọc … ảnh hưởng ít nhiều đến nhân viên  y tế nói riêng và ngành y tế nói chung.

– Sự kiểm soát an ninh lỏng lẽo, biện pháp xử phạt chưa đủ nặng để răn đe những thành phần gây rối, phá hoại, đe dọa thiệt hại về người và của, làm gián đoạn trong công tác khám chữa bệnh của các nhân viên y tế (…) Ví dụ: sau những sự việc nhân viên y tế bị đuổi đánh, xúc phạm hay thậm chí bị trả thù thì việc thực hành chữa bệnh cho những đối tượng có liên quan trong các cuộc ẩu đả, thanh toán đang gặp khó khăn.

Tóm lại, vần đề y đức luôn là đề tài muôn thuở và hơn lúc nào hết thì trong giai đoạn hiện nay, vấn đề này lại càng trở nên nhạy cảm hơn và đáng báo động hơn !

(ĐHN)

………………………………………………………….

(*) Nguyên Trưởng Bô môn Y đức- Khoa học hành vi, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM.

Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo, số 303, ngày 15.8.2018

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân

Kỳ 31: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

09/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 Kỳ 31: Phật Học & Đời Sống

“Thấy biết Như Thật” (tiếp theo)

Ngày thứ Bảy 4.8.2018 từ 15-16h30

tại Chùa Phật học Xá Lơi, Saigon

89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp HCM.

………………………………………………………………

Thông báo: Sắp đến Lễ Vu Lan, cùng lúc có các ngày Lễ trong năm 19.8; 2.9. cũng như Niên học mới sắp khai giảng…, mọi người đều rất là bận rộn… Do vây, sinh hoạt PH & ĐS của chúng ta sẽ tạm nghỉ đến Thứ bảy 8.9.2018 và sẽ có thông báo cụ thể sau.

Trân trọng,

Đỗ Hông Ngọc.

TB: Thời gian này, tất cả chúng ta có dịp coi lại các clip cũ, đọc thêm tài liệu, kinh sách… và đừng quên… thực hành để rút kinh nghiệm nhé!

Thân mến,

……………………………………………………………………………..

Cảm ơn nvquyen,

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

“Sách nói” : CÕI PHẬT ĐÂU XA (về kinh Duy Ma Cật)

06/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Có một cuốn “Sách nói”:

CÕI PHẬT ĐÂU XA

(Đỗ Hồng Ngọc viết về Kinh Duy Ma Cật)

 

Thiệt là ngạc nhiên! Tôi vừa nhận được sáng nay, cuốn sách nói “Cõi Phật Đâu Xa” của Thảo Nhiên Nguyễn Ngọc Trinh, một thành viên trong Gia đình Hoa Sen Đà Lạt gởi tặng. Thảo Nhiên nói đọc xong Cõi Phật Đâu Xa thấy nên chia sẻ với mọi người, nhất là những người cao tuổi, những người đọc chữ in đã khó, coi trên Internet cũng không dễ, muốn mang theo mình không biết tính sao, nên tốt nhất… “nghe” lai rai! Vậy là cô tranh thủ những lúc rỗi rảnh, đọc rồi tự thu vào điện thoại, tạp âm tùm lum… May sao, tình cờ gặp em Hoàng Tuyến, ở tận Thái Nguyên, một lần gặp nhau ở Đà Lạt – là người từng có kinh nghiệm làm PTTH, biết chuyện, đã tình nguyện chỉnh âm giùm và… post lên mạng.

Vậy là bỗng nhiên có một cuốn sách nói “trời ơi” thật dễ thương như vậy.

Lẽ nào không chia sẻ nơi đây?

Đa tạ Thảo Nhiên, đa tạ Hoàng Tuyến.

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 6.8.2018)

TB: Tôi cũng không biết làm sao đưa lên www.dohongngoc.com/web/, đành copy rồi đưa nguyên một cụm như vậy. Cứ tùy nghi nhé. Thân mến.

……………………………………………………………………………………….

Sách Nói: CÕI PHẬT ĐÂU XA

Đỗ Hồng Ngọc (viết về kinh Duy Ma Cật)

Giọng đọc: Thảo Nhiên (2018).

https://youtu.be/Dm3EsQmGsO4 ( PHẦN 1)
https://youtu.be/jVPpzeDFoUw ( PHẦN 2)
https://youtu.be/R5lDemtkHfU (PHẦN 3)
https://youtu.be/7Op075g3dS4 (PHẦN 4)
https://youtu.be/An6h3Oxbkz4 (PHẦN 5)
https://youtu.be/KKdwc4ni8gQ (PHẦN 6)
https://youtu.be/syDMmRaWZMw (PHẦN 7)
https://youtu.be/Vgw8OHariMo (PHẦN 8)
https://youtu.be/VRQQQwvIHWI (PHẦN 9)
https://youtu.be/xeE5xy8X8NA (PHẦN 10)
https://youtu.be/nm_nBVUomVM (PHẦN 11)
https://youtu.be/xuKHM-SHWAs( PHẦN 12)
https://youtu.be/KPX-RMO_jsQ ( ĐÔI DÒNG)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Phật học & Đời sống, Đọc sách

Kỳ 30: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

03/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 30:  Chương trình  PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Ngày 28.7.2018, chùa Phật học Xá Lợi Saigon,

89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp.HCM

Chủ đề: “Thấy Biết Như Thật”

Cảm ơn nvquyen.

Đỗ Hồng Ngọc.

Thư Mời:

Thân mời các bạn tiếp tục dự buổi Sinh hoạt Phật Học & Đời Sống kỳ 31 ngày 4.8.2018, tại Chùa Phật học Xá Lợi từ 15-16h30

Chủ đề: “Thấy Biết Như Thật” (tiếp theo)

Trân trọng,

ĐHN

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Tu viện Khánh An: “ĂN & CHAY”

02/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Buổi nói chuyện tại Tu viện Khánh An về: “ĂN & CHAY”

Sáng Chủ nhật 22.7.2018, tôi được mời đến Tu viện Khánh An, Q12, Tp HCM để có buổi Trò chuyện thân mật với các Phật tử trong khóa Tu một ngày “Sống Tỉnh Thức” được tổ chức vào CN mỗi cuối tháng. Đề tài BTC đề nghị tôi tự chon và tôi đã chọn: “Ăn & Chay” (không phải “Ăn Chay” như thường lệ).

Tôi nghĩ, chuyện “Ăn & Chay” ngày nay là một vấn đề “lớn”, có khá nhiều sai lệch trong cách nghĩ, cách làm, vì thế cũng cần thiết có buổi trao đổi cho một ngày “Sống Tỉnh Thức” như dịp này tại Tu viện Khánh An.

Và hôm nay, Tu viện đã post bài này lên mạng, tôi nghĩ nên chia sẻ cùng các bạn thân thiết của mình nơi đây.

Rất cảm ơn nvquyen.

Rảnh, cùng nghe nhé.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thầy thuốc và bệnh nhân

Hồ Hoàng Thanh: THƯ GỬI ĐỖ HỒNG NGỌC

28/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 Ghi chú: Gần đây trong lúc lục soạn đống sách vở cũ, tôi bắt gặp cuốn Về Cái Chân Thật Nghệ Thuật của Hồ Hoàng Thanh, NXB Đà Nẵng 2002, trong đó có Thư Gửi Đỗ Hồng Ngọc, tr 352-360, là những cảm nhận của tác giả về tập thơ Giữa Hoàng Hôn Xưa của tôi, NXB Trẻ Tp HCM 1993 ấn hành, với hình bìa Trịnh Công Sơn, tựa Đỗ Trung Quân và Lữ Quỳnh trình bày. May sao, tôi gặp Đèn Biển và Trần Ngọc Hưởng tình cờ ở Đường Sách Saigon ngày hôm kia (26.7.2018), Đèn Biển đã chịu khó gõ lại giùm bức thư sang word, và nhờ vậy mà hôm nay tôi có dịp chia sẻ bài viết này cùng bè bạn thân quen, như một kỷ niệm. Bức thư đã viết từ hơn 20 năm trước rồi chớ ít gì!

Đa tạ Đèn Biển.

(ĐHN)

THƯ GỬI ĐỖ HỒNG NGỌC

Hồ Hoàng Thanh

 

Đà Nẵng, 20/8/1997

Anh Đỗ Hồng Ngọc quý mến,

 

Hôm nhận được thư và sách anh Châu Anh gửi cho, tôi rất ngạc nhiên nhận được tập thơ Giữa hoàng hôn xưa do chính tay tác giả đề tặng. Chỉ có điều xin thưa lại ngay để anh rõ: tôi chẳng phải là nhà văn mà chỉ là một “lều văn”, có biết chút ít gì chỉ là theo kiểu không chuyên mà thôi. Đến hôm nay, nhẩn nha đọc vừa xong lần đầu tập thơ, tôi cầm bút viết cho anh nhằm bày tỏ lời cảm ơn chân thành của một bạn đọc chưa từng quen biết và cũng xin gửi đến anh mấy cảm nhận bước đầu về tập thơ như một món quà đền ơn tri ngộ.

Đọc từng bài, cứ đọc dần, tôi càng cảm thấy ngạc nhiên, một thứ ngạc nhiên đầy thú vị, có phần giống với ý kiến Nguyễn Hiến Lê. Ngạc nhiên về những tứ thơ khá mới lạ từ những sự kiện đời thường, về những mạch thơ, lời thơ dung dị gần như lời nói thường, về những bài thơ hay, về điều gì như một sắc thái riêng của tác giả.

Hình như không phải bất cứ một bác sĩ – thi sĩ nào cũng viết nên được một bức “Thư cho bé sơ sinh” ngộ nghĩnh, ngược đời mà ngậm ngùi, chua xót đến thế. Tứ thơ mới lạ, đầy nghịch lý giữa đời thường. Hầu hết các đoạn thơ đều rất thực mà cũng rất trớ trêu. “Thư cho bé sơ sinh” là một giả tưởng rất phi lý nhằm làm nổi bật lên những điều ngang trái, rất thực trong cái xã hội đảo điên này. Tôi thiết nghĩ, đây là một bài thơ hay.

 

Cũng được viết từ 1965, bài “Lời ru” cũng mang tứ thơ mới vì khá phi lý. Phải chăng những lời ru, lời thủ thỉ ấy chỉ dám ghi vào trang giấy giấu kín (cũng đã “gan góc” lắm rồi) để tự giải thoát cho “hả” bớt phần nào tâm trạng dồn nén, bức bối, câm lặng mà ngay việc thổ lộ ra với vợ con cũng là mạo hiểm. Bởi cái tâm lý không quê hương ấy, cái nỗi lo “gà nhà bôi mặt” giết nhau ấy, nó ngược đời quá quắt lắm, nhưng tiếc thay nó lại là rất thực. Thật mỉa mai, chua xót.

 

Nhà xuất bản TRẺ, 1993. Tranh bìa Trịnh Công Sơn, tựa Đỗ Trung Quân, trình bày Lữ Quỳnh.

 

Mấy bài liền viết về nỗi đau quay quắt mất con, nhất là hai bài “Con đã lớn” và “Tình yêu” chân thực bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. “Con đã lớn” hay vì tứ thơ đã xoáy vào một nghịch huống: đến khi mất con rồi. mới nhận ra được rằng thật sự con đã lớn khôn (không mãi “trẻ nít” như cha mẹ vẫn tưởng). Điều “Ý ngôn tại ngoại” là vì thế, nỗi tiếc nuối con càng cháy lòng! Các kỷ niệm về con sao bình dị mà sống động, mà thiêng liêng! Bài “Tình yêu” lại hay một cách khác. Phải chăng ở đây đã có sự vượt lên trên những kỷ niệm cụ thể, tình cảm ở đây trở thành một hoài bão về một tình yêu bộc lộ tràn đầy, một tình yêu “không bao giờ cũ” và “chẳng sợ dư thừa” bù đắp cho sai lầm về một tình yêu quá kín đáo. Ở đây không chỉ là tình yêu con mà là cái tình yêu (nói chung) đã được khái quát hóa và trừu tượng hóa. Tôi nghĩ đây là bài thơ hay nhất trong cả tập thơ, nếu còn thận trọng, chưa dám gọi là tuyệt tác. Thực ra, đó chính là nỗi lòng đích thực, là sự suy tư về một tình yêu đích đáng nảy ra từ một sai lầm cụ thể về một tình yêu quá kín đáo. Điều đó diễn ra trong tâm tư một nhà thơ nên đã trở thành một bài thơ hay, một bài thơ đích thực.

Viết đến đây, gặp lúc bà xã nhà tôi (vốn là một giáo viên) mang nước sôi lên đổ vào phích xong, tôi thử đưa hai bài thơ này cho đọc và hỏi ngay cảm tưởng. Đọc xong, nhà tôi thốt lên ngắn gọn mà súc tích cảm tưởng của mình: “Hay, hay thật. Rất thật và rất hay!” (nói thêm: vợ chồng tôi đều trải qua nỗi đau mất con).

Bài “Đạo diễn” lại góp thêm một tứ thơ mới lạ. Phải chăng từng chứng kiến nhiều cảnh đóng phim dưới bàn tay đạo diễn, mà sẵn nỗi đau mất con, tác giả lại nảy ra được thứ ao ước đầy giả tưởng mà lại thật lòng, cháy bỏng như vậy.

Bài “Đâu có phải tự nhiên” ở cuối tập thơ mộc mạc và “tự nhiên” đến “dễ thương”. Thú thật với anh, thường khi đến khám bệnh ở Bệnh viện C Đà Nẵng, nhìn thấy các sân cỏ xanh rờn, tôi từng nghĩ bụng: “sao chẳng ai nghĩ đến việc nuôi ít con dê, con bò ở đây vừa để dọn cỏ cho sạch, vừa để lấy sữa cho bệnh nhân nhỉ”. Chỉ thoáng nghĩ vậy thôi chứ chẳng từ đó nảy ra được tứ thơ như anh. Mạch diễn đạt và lời lẽ bài thơ giản dị, hồn nhiên mà rất thi vị. Qua đó nổi bật lên một tâm hồn đẹp: bình dị, hồn hậu, thanh thản, yêu đời, yêu nghề, yêu bệnh nhân, yêu gia đình bởi khéo biết chấp nhận, tự bằng lòng với vị trí xã hội bình thường mà rất cao đạo (nhân đạo) của mình.

Phải chăng mảng thơ trên đây là mảnh đất thân thuộc, phong phú, đầy hấp dẫn mà tác giả càng đi sâu khám phá càng dễ thu hái được nhiều thơ hay? Và phải chăng từ mảng thơ này và các mảng thơ sau, ta có thể nghĩ rằng hầu như phong cách riêng của tác giả là khéo biết khai thác, trộn lẫn cái thực cái hư, cái chân cái giả, cái hợp lý cái phi lý, cái bình dị cái mới lạ tân kỳ, nhờ khéo biết khai thác các nghịch lý, nghịch cảnh ngay từ trong xã hội?

Đương nhiên còn có các mảng thơ khác. Một mảng thơ gần gũi với mảng thơ trên cho thấy thêm đời sống nội tâm của tác giả, một công dân, một trí thức trước thời cuộc. Có thể xếp vào đây các bài “Buổi tiễn đưa”, “Dỗ em”, “Tôi còn nợ”, “Biển xa”, “Mai sau dù có bao giờ”, “Giờ mới nên quen”, “Giới tuyến”, “Gặp lại người bạn cũ”, “Đi cho đỡ nhớ”…

“Buổi tiễn đưa” như một dạng “Tống biệt hành” (Thâm Tâm) mới, mang tâm trạng u uất mới: “Người hành trang nỗi tuyệt vọng rã rời Và khí phách thôi một thời trẻ dại”. Hai đoạn thơ cuối bài hay, nhất là đoạn cuối, câu cuối. “Dỗ em” khá ray rứt. “Đi cho đỡ nhớ” ánh lên một niềm vui, một nguồn hy vọng. Nguồn hy vọng ấy, sau giải phóng ít lâu, lại là một thời điểm đầy thử thách. “Tôi còn nợ” là lời hạ quyết tâm “ở lại” bởi những món nợ khó lòng trả xong. Trong “Mai sau dù có bao giờ”, tôi thích hai câu: “Cái nắng Sài Gòn hanh đôi má. Giọt mồ hôi mặn thấy thương ghê”…

Ở mảng thơ “quê nhà”, với những “Mũi Né”, “Trên sông khói sóng”, “Gió bấc”, “Đêm trên biển Lagi”, không hiểu sao tôi thích nhất “Gió bấc”. Ngắn gọn mà súc tích, ý vị. Cũng không hiểu sao tôi lại chú ý bắt gặp thứ gió bấc ấy trong một đoạn thơ “Quê nhà”: “Hái đóa hoa màu biển biếc… Bâng khuâng một mái nhà”, lại thoáng thấy nó trong đoạn đầu “Mũi Né”: “Hình như gió bấc lùa trong tết Những chuyến xe đò giục bước chân”. Ở đoạn 2 bài “Trên sông khói sóng” lại thấy hơi gió đó: “Gió ở đâu về thơm bước khuya”.

Đến mảng thơ tình yêu, gồm hầu hết những bài còn lại, nổi bật lên bài “Có một vì sao”. Tôi thích những câu mặn mòi vị biển Bình Thuận: “Nhưng đêm ở đây… Đêm rất mặn vì đêm xanh bát ngát” và đặc biệt là câu kết “Để anh được làm kẻ chăn cừu khờ dại…”. Bài “Viết tên lên cát” đưa đến “Tên em mênh mông đại dương” mang dáng vẻ khoa trương nhằm nói lên cái rất thực của ý tình. Bài “Giữa hoàng hôn xưa” hay ở đoạn kết “Thiếu em hoàng hậu ngai vàng như không”. Có những bài tứ tuyệt đáng chú ý như “Võ vàng”, “Cố nhân”. “Võ vàng” nhận ra sự tàn phai trong lòng người. Đến “Cố nhân”, sự e ngại đó đã trở thành sự khẳng định một hiện thực đáng buồn. Bài “Lục địa giận hờn” hay ở tứ thơ vũ trụ. “Hành hương” nói lên ước vọng đạt đến một nơi “chỉ có anh và em” lý tưởng…

Cố gắng điểm hết các mảng thơ như vậy cũng chỉ nhằm muốn tìm hiểu được những dáng vẻ đa dạng khác nhau của hồn thơ tác giả và tìm hiểu được phần nào sắc thái riêng của tác giả. Nhưng đương nhiên, chỉ qua lần tiếp xúc buổi đầu, khó mà hiểu được điều gì sâu sắc.

Về mặt hình thức nghệ thuật, qua tập thơ này, tôi cảm nhận được rằng anh vốn am hiểu các thể loại thơ trước nay. Và có những tứ thơ được thể hiện qua những thể quen thuộc, cũng có không ít bài được thể hiện bằng thơ tự do. Nói thật với anh, tôi cũng vốn am hiểu ít nhiều các thể loại thơ lâu nay, nhất là từ cao trào “thơ mới”, tôi cũng có làm thơ và cũng nhận ra được xu thế tiến tới thơ tự do là điều tất yếu. Tôi đã từng viết bài “Xu thế tự do hóa hình thức thơ” đăng trên tạp chí Văn học năm 1978. Nhưng trong thực tế sáng tác, do ảnh hưởng của thói quen, tuy vẫn thường viết theo thể thơ tự do, tôi vẫn chưa dứt khỏi những âm điệu quen thuộc. Tuy về nhận thức tôi vẫn cho rằng thơ tự do là sự chuyển biến nội tại cả về nội dung lẫn hình thức trong quá trình tiến triển của thơ ca Việt Nam (chứ không phải là sự bắt chước thơ tự do của nước ngoài hoặc là sự du nhập máy móc).

Đọc thơ anh, tôi cảm thấy anh làm thơ tự do một cách hồn nhiên phóng khoáng hơn, hầu như không bị ảnh hưởng nặng nề của thói quen cũ trong diễn đạt như tôi, hoặc anh Châu Anh chẳng hạn. Nói rộng ra một chút. Tôi có theo dõi bước tiến trong diễn đạt của một bạn thơ. Đến tập thơ tôi rất thích bởi nhận ra được một bước tiến mạnh bạo theo thơ tự do ở tác giả, khiến tôi muốn viết bài giới thiệu. Nhưng sau đó, qua những tập thơ kế tiếp, tôi lại thấy xu thế đó không được mạnh bạo tiếp tục. Cho hay, ngay với một nhà thơ tài năng, khuynh hướng tự đổi mới đó vẫn chưa thật nhất quán, chắc cũng do ảnh hưởng của thói quen nghiêng về những âm điệu thông dụng. Trong thâm tâm, tôi vẫn nghĩ rằng, còn phải đợi thêm ít lâu nữa, lớp nhà thơ mới ít chịu ảnh hưởng của thói quen sáng tác theo những thể điệu cũ, mới làm cho thơ tự do hồn nhiên, bình dị, phóng khoáng hơn nữa.

Đọc anh qua những bài thơ hay như “Tình yêu”, “Con đã lớn” v.v… tôi càng cảm thấy hầu như anh đã vượt qua được cái ngưỡng cửa khá tai hại của thói quen về âm điệu cũ, viết một cách dễ dàng, tự nhiên, gần như lời nói thường, chẳng ngại dùng đến những từ ngữ “nôm na” mà người  ta thường kiêng kỵ trong thơ: “Trước mộ con còn ướt Ba nói với bè bạn ba rằng…” hoặc không sợ trùng lặp: “Hãy tỏ bày đi Vồ vập đi Âu yếm ồn ào đi” bởi là sự trùng lặp cố ý. Hoặc nói năng chẳng khác gì lời nói thường: “Đút cho con ăn Gạt gẫm cho con há miệng Hù con ông kẹ bà già” (vậy mà rất hay) Hoặc nữa: “Mới ngày nào dẫn con đến trường Bỏ đi không nỡ Những lúc con ốm đau Cả nhà run sợ Con ho mà ba ran lồng ngực Con sốt mà má đắng chát môi”. Ở “Thư cho bé sơ sinh” cũng như vậy, với những đoạn thơ 2, 3, 5 chẳng hạn “Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em” Hoặc nữa ở bài “Tôi còn nợ”: “A! Ông thầy về! Tưởng đi luôn rồi chớ!… Có gì đâu em vì tôi còn nhiều nợ… “. Ở bài “Đạo Diễn” cũng vậy. Tưởng như đó là lời nói thường, viết chữ lại xuống hàng: “Bạn bè ơi sao mà giỏi thế Cứ đóng y như thiệt”.

Người quen với thơ đường luật sẽ khó lòng cho đó là thơ được. Vậy mà “rất thơ” mới lạ chứ. Đương nhiên cũng không nên quá dễ dãi.

Đến đây mới thấy thư viết đã quá dài, mong anh miễn thứ cho, bởi tôi có phần “sa đà” quá. Chẳng qua tôi như người trèo cây, gặp được cây lắm quả, tôi mải mê “khèo” xuống, “khèo” trái chín lẫn trái xanh. Chỉ mong anh thấy dùng được chút ít nào cũng đã thỏa lòng rồi!

Chúc anh và gia quyến mọi sự tốt lành. Mong được trao đổi thư từ với anh những khi anh rảnh rỗi.

 

Kính thơ,

Thanh

 

 BC: Quên nói thêm với anh rằng tập thơ trình bày rất đẹp, tranh bìa của Trịnh Công Sơn rất thơ vừa rất hoàng hôn đẫm màu tím khế, vừa có bóng dáng nữ nhân, chim chóc, đuôi ngựa v.v… mà như một bào thai để tha hồ tưởng tượng.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 29: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

27/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Kỳ 29: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

“AN & CHAY” (tiếp theo)

 

 

Cảm ơn nvquyen,

ĐHN.

………………………………………………………………….

Phật Học & Đời Sống: kỳ 30, luc 15h ngày Thứ bảy 28.7.2018

tại Chùa Phật học Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Q3 Tp HCM.

Mời các bạn tham dự.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 24
  • Trang 25
  • Trang 26
  • Trang 27
  • Trang 28
  • Interim pages omitted …
  • Trang 58
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email