Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Mười năm… dohongngoc.com

31/05/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Mười năm… dohongngoc.com

Bạn nhắc đúng đó. Cảm ơn bạn. Mười năm… rồi chớ chơi sao. Mới thôi. Và tháng 5 này thì vừa tròn. “Mười năm chân bước trên đường dài…” mình vẫn còn thấy “sóng lao xao bờ tôi…” (TCS) đó chứ sao không?

Nhưng… quả là thời gian nhanh quá. Bóng câu qua cửa sổ. Người xưa nói vậy. Bây giờ thì phản lực qua cửa sổ. Còn có chút tình thôi. Cho nên gom góp một chút như một kỷ niệm. Chia sẻ với bạn bè thân thiết.

1.  Nhớ mới hôm nào hai bạn trẻ Phùng Minh Bảo và Lê Thị Thùy Linh bế đứa con còn nhỏ xíu trên tay đến thăm, nói các em là độc giả của “Chú Ngọc” từ hồi Mực Tím muốn giúp chú làm một trang web tập hợp các bài viết của chú để lưu trữ và chia sẻ cùng mọi người.

Ừ, thì làm. Cho vui mà. Về hưu cũng nên bày ra cái gì đó cho bận rộn chút chứ phải không? Làm trang web chắc cũng như trồng kiểng, tưới cây, nuôi gà, quét sân… vậy chớ gì. Lúc đầu mỗi mỗi đều phải nhờ các em … rồi lần mò cũng tự làm được. Vui vì có nhiều bạn bè khắp nơi chia sẻ, bình luận, hỏi đáp… cho đầu óc bớt cằn khô.

Phùng Minh Bảo bày tỏ: “Tôi biết Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc (BS ĐHN) đã hơn 20 năm, cái biết của tôi cũng là cái biết giống như hàng vạn bạn trẻ độc giả báo Mực Tím – Khăn Quàng Đỏ với Mục “Phòng mạch MỰC TÍM “ của Bs ĐHN, với nhiều câu hỏi về các vấn đề của tuổi mới lớn và các câu trả lời rất dí dỏm, hấp dẫn và khoa học, tôi đã rất khâm phục phong cách viết văn và kiến thức của ông, mong ước được gặp ông trực tiếp vào một ngày nào đó.
Khoảng 3/2009, tôi mạnh dạn đến gặp ông tại Trung Tâm Truyền Thông – Giáo dục sức khỏe TP.HCM vào đúng lúc Bs ĐHN sắp nghỉ hưu. Ngay ngày gặp mặt đầu tiên, tôi biết, tôi có thể giúp ông tiếp tục cống hiến trí tuệ cho xã hội, giúp ông tiếp tục gửi thông điệp mang tình thương tới cho bạn bè, học trò, bạn đọc mọi lứa tuổi, ở khắp mọi nơi trên thế giới từ chính ngôi nhà của ông, vào lúc phù hợp nhất của ông bằng phương thức mà tôi làm tốt nhất: máy tính, Internet va website. Tôi đề nghị thiết lập một website mang tên ông: www.dohongngoc.com/web/ và hơi ngạc nhiên một chút vì ông đã lớn tuổi rồi mà những việc này cũng dễ tiếp thu, ông đồng ý ngay… Lúc đầu chúng tôi phải giúp, nhưng về sau tự ông viết và post lên, tự chỉnh sửa lấy…”.

2.  Vài con số thống kê:

 

Tuy trang web hình thành từ tháng 5.2009 nhưng đến tháng 8.2011 Phùng Minh Bảo mới thiết lập bảng thống kê. Theo đó, đến nay đã có 1336 bài viết, với 6607 bình luận (comments).

Số người truy cập: 1.110.019

Số trang được đọc: 2.442.534 trang, trung bình 2,2 trang/ một truy cập.

 

3. Một vài “phản hồi” của bạn đọc (đã thay đổi địa chỉ email):

(Xin phép các bạn cho ghi lại nơi đây. Chân thành cảm ơn).

quancong@gmail.com

Em thich cai nhin trang nha cua website nay, cach dung “font”, “mau”, va cach trinh bay. Em de y xem anh co trang “doi thoai” khong, thi thay cach anh bay to y kien doi voi nhieu cau hoi bang cach dung mot bai viet de tom tat va huong dan. Em nghi day co le la cach hay nhat de duy tri “doi thoai” voi nguoi doc, gon gang hon cach “go roi to long” cua nhieu websites khac. (…) Gioi tre va nguoi doc co nhieu dieu hoc hoi duoc qua noi dung cua trang web: cai hon nhien, tu tai, cai nhin vo tu, tich cuc cua cuoc song…

phanthuy@yahoo.com
Khi tìm được trang web này con cảm thấy rất vui. Mỗi lần sau khi lên mạng tìm kiếm đủ thứ thông tin, trước khi offline, con lại vô đây đọc, những bài viết của thầy nhắc nhở con phải trở về. Tâm con bớt lung tung sau khi lang thang trên mạng… Àh, con còn một chuyện nữa. Đó là con đang là một sinh viên y dược. Con rất muốn được trở thành một bác sĩ như thầy…

thanhxuan@yahoo.com
Hôm nay tình cờ search trên mạng gặp được trang web của bác em rất vui mừng. Không ngờ hôm nay gặp được bác, em mừng như bắt được vàng. Em vội add vào favorite liền, em sợ bác “chạy” đi đâu mất.

trieuminh020708@hotmail.com
Web của Bác ngon lành nhá! có youtube nữa, cám ơn người giúp nó. TM sẻ nhớ họ đấy…

nhamnh@yahoo.com
Đã từng cười rúc rich khi đọc “Thư gửi người bận rộn”,”Như thị..” và nhiều nhiều lắm những tạp văn của Bác sỹ (…). Những bài viết thật duyên, những cái nhin ý nhị, thấu suốt… Thật mong Bác sỹ mạnh khỏe, có nhiều bài tạp bút nho nhỏ cho mọi người cùng thưởng lãm. Thật vui vì biết blog này. Cảm ơn Bác sỹ.

thduong@yahoo.com
… lần đầu gặp trang web này tự nhiên con thấy mừng mừng tủi tủi , vì từ này khỏi cần đi nhà sách ngó nghiêng xem bác có sách mới nào chưa để còn mua về thủ kĩ , đọc rồi để dành mai mốt già đọc tiếp . Hahaha , đừng tưởng con nói giỡn , con nói rất thiệt , tủi vì sao giờ này mình mới biết, mừng vì đã gặp ” người trong mộng ” ( mơ một lần gặp bác sĩ , ra đường lâu lâu ngó tới ngó lui coi có tình cờ gặp không). Những bài viết của bác sĩ cứ ngấm dần vào con, từng ngày từng ngày, từ khi con 16 tuổi ( lúc đó con mua tặng mẹ quyển ” Gió heo may đã về ” và đọc ké ) rồi cứ vậy, trẻ măng mà cứ suốt ngày “gió heo may ” với “già ơi ”, người nào không hiểu tưởng con không bình thường . Về sau này, những ” Như thị ” ” Bát nhã tâm kinh ” của bác vẫn theo con từng ngày, con chưa ngộ ra nhiều điều, nhưng có sao đâu, sống là trải nghiệm từng ngày mà phải không bác… Nhà con giờ rất nhiều người “nghiện” bác, có trang web này chắc sẽ rất vui, cảm ơn bác sĩ đã lập web, cảm ơn luôn người độc giả đã làm web cho bác sĩ…

huynhthi@yahoo.com
Thật là đại phước,thật là hữu duyên khi con gặp được trang web này. Cuộc sống con vốn bận rộn, ở quê (Cai Lậy), yêu thích ngành y, yêu văn chương, yêu nhạc Trịnh, thích học Phật, lúc trước rất cầu toàn, bỗng dưng như trúng được kho báu… Thế giới phẳng thật kỳ diệu!!!
Con lưu ngay vào máy và đọc say mê khi vắng khách hàng, có lẽ chư Phật mười phương đã “gửi” đến cõi ta bà này một sứ giả để trị tâm bệnh và thân bệnh cho chúng sanh chăng?!
Con kính chúc bác sĩ vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng cát tường để luôn là cầu nối giữa phật pháp – khoa học – văn học – và chúng sanh…

quynhanh@vtv.gov.vn
…Tình cờ vào được trang web của bác, con rất mừng. Cứ như được gặp lại người quen cũ. Con “quen” bác từ khi con bắt đầu mang thai cháu đầu lòng. Năm nay, cháu đã 20 tuổi. Hồi đó, đúng là con đã gối đầu giường quyến sách “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của bác…

langthang@gmail.com
…Lại tra thêm trên mạng, ra trang nè; trang mạng của bác mang vẻ fiêu du lãng tử mà cũng thâm sâu lắm^^. Cháu học ở trường, học tôn giáo…

phuthuy@yahoo.com
Gặp được chú mừng quá không biệt hỏi cái gì trươc cái gì sau nữa. Bữa nay sao mò mẫm tìm được trang web của chú. Cám ơn trời hehe.

ngquynh@gmail.com
Ngưỡng mộ chú lắm, đặc biệt là tài viết văn của chú, nhẹ nhàng mà thâm thúy. Đọc chú mới thấy tâm hồn con người trở nên đẹp với chút văn thơ. Đọc chú thấy sao tiếng Việt mình thật đẹp (đọc sách giáo khoa văn học có khi lại khó thấy!).
Cháu dốt văn số một, đọc chú cháu thấy cái ý nghĩa của văn chương. .

muitran@yahoo.com
Có “chôm” vài bài của BS đưa vào trang nhật ký của gia đình, dĩ nhiên là có ghi đủ đường link, để bạn bè và con cháu sau này có ghé mắt vào xem thì cũng theo đường link mà vào trang nhà của BS để mà suy gẫm thêm.

hodinh@yahoo.com
Cảm cúm con uống vài viên tylenol …. Còn Stress quá thì con uống ” dohongngoc.com ” bớt liền . Mang ơn Bác lắm vì lòng tử tế của Bác dành cho mọi người trong đó có con . Mong Bác luôn an vui .

rosa@yahoo.com
… Từ ngày cháu phát hiện ra trang web này, cuộc đời cháu như có thêm niềm vui mới và cháu như tìm thấy sức mạnh, niềm tin mới. Đọc những bài viết của Bác Sĩ, nhiều khi cháu muốn phá lên cười, nhiều khi lại thấy bâng khuâng ray rứt muốn rơi nước mắt. Mỗi bài viết một cảm xúc và khi đọc lại, cháu lại tìm thấy cảm xúc mới. Cháu hiểu thêm về cuộc đời và về bản thân mình.

hiep@gmail.com

Le ra trang web nay phai co mat truoc day chu khong phai den bay gio! Boi nhung dong chu ma bac si Do Hong Ngoc viet ra that su gia tri, that su huu ich, nhe nhang thoi nhung sau sac, nhu chinh cuoc doi anh, nhu chinh nep song cua anh!

 

Một lần nữa, đa tạ các bạn.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(31.5.2019)

 

 

Thuộc chủ đề:".com"... 2 năm nhìn lại!, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Khuất Đẩu đọc “NHỚ ĐẾN MỘT NGƯỜI”

15/05/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: “Ngày Sẽ Hết” là Những trang viết ngắn, tự in, 2019 của Khuất Đẩu, tập hợp những bài viết ngắn của ông trong nhiều năm qua như những kỷ niệm với bạn bè mà ông gọi là để “Tặng những bằng hữu thực và ảo”. Bằng hữu thực là những bằng hữu thỉnh thoảng gặp nhau, khề khà ly trà ly rượu, tách cà phê, nói chuyện trên trời dưới biển, thế sự, văn chương… còn bằng hữu ảo là những bằng hữu chỉ quen biết nhau qua mạng, chưa hề gặp gỡ mà… không thể nào quên (chữ KĐ).  

Ông gởi tặng tôi cuốn sách mới này, và ghi lời tặng: “Bản tặng tác giả bức chân dung dị thường” mà không ghi rõ tên người nhận. Cuốn sách vì thế mà bị “ngâm” nhiều tháng ở nhà một ngườ bạn chung của chúng tôi. May sao, một hôm, người bạn nhìn lại cái hình bìa thì biết “tác giả bức chân dung dị thường” chính là Đỗ Hồng Ngọc, đã nguệch ngoặc vẽ một Khuất Đẩu trầm tư, khắc khoải… hôm nào qua trí nhớ (par mémoire) của mình mà Khuất Đẩu đã dùng làm bìa sách!

Cuốn “Ngày Sẽ Hết” 266 trang, của Khuất Đầu với 55 bài viết ngắn, bài nào cũng hay, trong đó có bài Đọc sách “Nhớ Đến Một Người” của Đỗ Hồng Ngọc, bèn đăng lại để kỷ niệm vậy.

ĐHN

…………………………………………………………………………………..

Đọc NHỚ ĐẾN MỘT NGƯỜI của Đỗ Hồng Ngọc
Khuất Đẩu

Mượn một nửa câu hát của Trịnh Công Sơn để làm nhan đề cho tập sách mới nhất của mình, bác sĩ họ Đỗ chừng như ỡm ờ đánh lừa độc giả, nhất là những độc giả nữ lâu nay đã thầm yêu những trang sách dí dỏm nhẹ nhàng của anh.
Một người nào mà anh ưu ái vậy cà? Một Diễm của Trịnh? Một T. của Nguyên Minh?
Không! Bé cái nhầm! “ Một người” đó là những thoáng nhớ lan man từ Nguyễn Hiến Lê, Võ Hồng, Võ Phiến, Trang Thế Hy… đến Lữ Quỳnh, Lữ Kiều, Trần Hoài Thư, Phan Như, Phan Chính… Từ Nguyễn Bắc Sơn phóng dật đến cụ tổ ngành y Hải Thượng Lãn Ông nghiêm cẩn. Từ một Trịnh Công Sơn “bồ tát” đến một Dương Cẩm Chương trăm tuổi mà vẫn tài hoa.

Một người, là cả những Thầy, những Bạn mà suốt 70 năm tác giả đã có may mắn được thọ giáo, được nghe đàn hát và đọc thơ, xem tranh…

Giá như non 60 năm trước, không có một ông cậu “khùng” vì học giỏi và rành nghề học đưa đứa cháu tản cư và mồ côi cha đen đúa trong một sáng mùa thu đến trường và nếu không có một học giả như Nguyễn Hiến Lê ân cần chỉ bảo cách học thì chúng ta đã không có một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hôm nay. Những điều đó đối với những đứa trẻ “con nhà” là chuyện bình thường, nhưng với Đỗ Hồng Ngọc là khác thường. Đó là những ân sủng mà một người đã thành Nhân như Đỗ không thể không Nhớ, nếu không muốn nói là không bao giờ Quên.
Rồi những bậc thầy tuy không được học như bác sĩ Dương Cẩm Chương, Nguyễn Khắc Viện… bằng tài học và nhân cách của họ vẫn “dạy” cho chàng bác sĩ trẻ những bài học nhớ đời.
Tất cả những người anh nhớ đến, mỗi người mỗi vẻ, có những nét đáng trọng, đáng quý, đáng yêu… đáng cho độc giả thèm được một lần gặp gỡ. Họ là những người cũ, nhưng không phải muôn năm cũ, không nhất thiết phải bằng cấp đầy mình, không chỉ học ở trường ở sách mà học ở bạn, ở đời.

MỘT NGƯỜI, phải viết in hoa như thế này. Bỡi vì đó có thể là sông Cà Ty ở quê hương anh, có thể là màu sương lam ở Hà Nội trong nỗi nhớ của Nguyễn Hiến Lê, là câu đối trên mộ cha của Nguiễn Ngu Í “Mắt mở đã thấy xiềng nô lệ/ Hồn đi còn mơ gió tự do”, có thể là cách kể thơ trên xe lửa, với bài thơ Thầy còn nhớ em không của Đỗ Trung Quân đã khiến cho cô bạn Mỹ Susan Barnes hiểu được thế nào là những nhà thơ mới ở Việt Nam.
Một Người, đó là Nhân Cách, là Tài Trí và Tài Hoa. Một Người rất yêu quê hương, yêu đất nước, yêu tự do và yêu nghệ thuật. Một Người, còn là ngọn hải đăng cho con thuyền anh tìm được bến bờ giữa những con sóng dữ của lịch sử. Một Người đó bây giờ gọi là thần tượng.
Một Người đó trong suốt 70 năm “thấm” dần vào anh, làm nên một Đỗ Hồng Ngọc, vừa là một bác sĩ từ ái, vừa là một văn sĩ có ngòi bút kể chuyện duyên dáng, một thi sĩ “dễ thương nhất nước” (chữ của Du Tử Lê ) mà chúng ta được biết đến hôm nay.

 

 

Anh thường khiêm nhượng bảo mình không là nhà văn vì có truyện dài truyện ngắn nào đâu. Nhưng không là nhà văn mà mỗi dòng mỗi chữ đều là văn thì là nhà gì đây. Hãy xem anh vẽ một vài chân dung:
Với Lữ Kiều, anh viết: Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà ngập ngừng, rồi thè lưỡi thấm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắc lại như gom nội lực nhất điểm; rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhúng bút sâu vào nghiên mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán, rút nhanh ra rồi chắt vào thành nghiên, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim, phóng bút… Chàng “nho sinh” mỉm cười khoái trá, trút đi gánh nặng ngàn cân, kiệt sức, nhanh tay nhúng bút vào lọ nước trong… Những giọt mực thừa rơi lả tả… Cứ như cụ Nguyễn Tuân tả lại cái cảnh Cao Bá Quát cho chữ trong tù!
Với Trang Thế Hy, anh mê cảnh nhà văn Nam bộ hút thuốc dù anh ghét thuốc lá: Mê thiệt. Thấy cái cách ông ngậm điếu thuốc chếch qua một khóe miệng, thấy cái cách khum khum đôi bàn tay ấp ủ ngọn lửa như một bông hoa tự dưng thấy lòng xao xuyến. Một người gần 90 tuổi, ghiền thuốc lá từ ngày còn trẻ, ngồi bên cạnh mình, nhẹ nhàng rút một điếu, nâng niu đưa lên miệng, rồi ân cần xoay xoay chiếc hộp quẹt chuẩn bị bật lửa… có cái gì đó như một nghi lễ tôn giáo, khiến tôi chỉ biết ngồi im không dám hó hé.
Tả bằng cái tâm yêu tâm quý nên người đọc cũng xúc động theo.
Nhưng trong văn anh không chỉ có tả, còn có cái duyên ngầm khiến ta cười mỉm không thôi. Đó là cách nhìn người, cho dù là đạo cao đức trọng như cụ Lãn Ông hay Ngô Gia Hy, anh cũng có cách tìm ra những điểm khiến cho ta yêu kính nhưng không thấy xa cách mà là rất gần. Cụ Lãn Ông thì có chuyện tình với một người đã đính hôn nhưng không lấy đến nổi người ấy phải đi tu. Trần Văn Khê cũng lại chuyện tình và được anh mừng sinh nhật 90 bằng hai câu thơ đúng chóc Phân nửa phần trên đầy sống động/Nửa phần bên dưới có hư hao. Với Võ Hồng thì đừng sợ, con chó nó còn hiền hơn tôi.
Đó là các bậc sư phụ, đàn anh. Với bạn bè thì anh “đùa dai” hơn một chút.
Nguyễn Bắc Sơn vẽ chân dung Từ Thế Mộng- còn gọi là Tư Đình- bằng hai câu: Tư Đồ, Tư Mã, Tư Không/ Ba Tư dồn lại thành ông Tư Đình.
(Chỉ nhắc lại thôi chứ không cấm nói lái như Kiệt Tấn, kiểu cấm mà không cấm). Với Nguyễn Như Mây, anh kể Như Mây than mình bị kêu cụ Mây, rồi sau cụ Gió và giờ là cụ Ma!

MỘT NGƯỜI để nhớ của anh quả thật không quá xa, không quá kiêu kỳ, dù họ là những người thầy, những danh nhân, những thi sĩ, họa sĩ… một người mà qua cách rút tỉa những nét hay nét đẹp của anh khiến ta thấy gần, thấy yêu, Một Người, là của hơn 40 người. Một Người, qua tập sách cố ý vuông vức của anh, như một chiếc gương soi, ta có thể nhìn thấy chính anh cũng đáng yêu, đáng quý, đáng trọng và dĩ nhiên đáng nhớ đến xiết bao!

(NGÀY SẼ HẾT, Những trang viết ngắn, 2019, Khuất Đẩu, trg 232)

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (4.2019 tiếp)

20/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (4.2019 tiếp)

Về Huế…

(tiếp theo)

 

*** Ba

Về Huế nhiều lần mà chưa có dịp nào đi Phong Nha Kẻ Bàng (kỳ quan đệ nhất động) cũng ấm ách chớ phải không. Lần này, phải đi một chuyến cho biết.

Đồng Hới Quảng Bình rẽ trái khoảng 30km là đến Phong Nha Kẻ Bàng. Đường tốt. Ngày thường, vắng khách. Càng tốt.

 

tham quan Phong Nha Kẻ Bàng (Quảng Bình, 12.4.2019)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ảnh: Đỗ Hồng Ngọc

 

(DHN)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(DHN)

 

 

“cửa động đầu non đường lối cũ/ ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi” Tản Đà. (ảnh Do Hong Ngoc, Phong Nha, 12.4.2019).

 

(ảnh Do Hong Ngoc)

 

(ảnh ĐHN)

***

 

Dịp này, lần đầu tiên mình biết Quảng Trị, Quảng Bình, khúc ruột miền Trung với biết bao địa danh đi vào  sử sách, từ Sông Gianh đến Bến Hải, Hiền Lương, cửa Tùng, cửa Việt, Vĩnh Linh, Gio Linh… Triệu Phong, Ái Tử, Lũy Thầy, Thành Cổ…

dấu tích Lũy Thầy Đào Duy Từ

 

 

 

 

dấu tích Cổ thành Quảng Trị (ảnh Đỗ Hồng Ngọc 13.4.2019)

 

 

 

 

Trò chuyện với Thầy Nguyên Mãn, chùa Sắc Tứ Tịnh Quang, Quảng Trị (13.4.2019). Thầy nói trước đây Thầy đã từng tặng cho nhiều người hàng trăm cuốn Nghĩ Từ Trái Tim của ĐHN rồi đó!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*** Bốn

Chắc chắn phải có một cái “duyên kỳ ngộ” nào đó lạ lùng, chớ không thì làm sao mà gặp Camille Huyền ở cái xứ Huế đầy “huyền hoặc”… này  được? Lúc đầu, mình định thôi không kể chuyện này nữa, nhưng rồi nghĩ lại, “tào lao” một chút với “bạn xa xôi” cũng… hay!

Số là… cách đây 15 năm, có một cô ca sĩ Việt kiều ở Thụy Sĩ về Huế, nghe nói gốc Hoàng tộc, rất Huế, Công Huyền Tôn Nữ… có tên là Camille Huyền và lúc đó cô đã hát bài “Kể Chuyện Trăng Tàn” rất hay, và đã đưa vào một CD cùng một số bài khác để phổ biến. Biết thì biết vậy, nghe hát thì mê vậy, nhưng “xa xôi đường lối khó”, còn biết nói năng chi.

Kể Chuyện Trăng Tàn là tựa bản nhạc do Khúc Dương (nghe rất Tiếu ngạo giang hồ, nhưng đó chính là Đặng Ngọc Phú Hòa, giảng day âm nhạc ở Huế) đã phổ bài thơ “Nước” của mình . Một vài lần mình có dịp gặp Khúc Dương, nghe anh hát bài này, và rất thấm thía với đoạn “cảm tác” của anh: “nước từ trong mắt/ nước xuôi về tim/ em từ duyên kiếp/ trôi về đời anh…”

Bài thơ “Nước” mình viết năm 1997:

Nước từ đâu đến

Nước trôi về đâu…

 

Nước vẫn muôn đời

Không đi chẳng đến…

 

Ai người nỡ hỏi 

Nước trôi về đâu…

Chỉ đơn giản và… ngây thơ vậy, chẳng ngờ nhạc sĩ “cảm tác” thêm một khúc tình ca! Và chẳng ngờ, Camille Huyền một lần về Huế, mười lăm năm trước đã có dịp hát.

Từ đó biền biệt.

Lần này về Huế, gặp Cecile, cũng tình cờ và Thái Kim Lan ở trước Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán, bờ sông Hương. Cecile là phu nhân của bác sĩ Phạm Phi Long, một người bạn thiết, mà thời gian tu nghiệp ở Pháp mình đã tá túc nhà bạn. Cecile không biết sao lại gọi cho Camille Huyền, và nói… có anh Đỗ Hồng Ngọc đang ở Huế nè! Thế rồi Camille Huyền cùng phu quân là TĐNgộ tức khắc đến gặp mình tại Cocodo… của Cecile.

Khá đông bạn bè đang có mặt ở đó. Cecile bỗng hỏi Camille biết ai là Đỗ Hồng Ngọc không nè? Camille bước ngay đến mình và vừa bắt tay vừa hát: Nước từ đâu đến… nước trôi về đâu… khiến mình sửng sốt, định hát tiếp “nước từ trong mắt/ nước trôi về tim…” nhưng kịp ngưng lại.

Tay bắt mặt mừng như đã thân quen từ… xa xưa lắm. Ngộ, phu quân của Camille Huyền rất dễ thương, cho biết nhiều năm nay hai vợ chồng đã về hẳn Huế, lập một cái… “vương phủ” lấy tên là Bến Xuân, một địa điểm văn hóa rất nổi tiếng ở Huế ngày nay. Thằng Bờm nhà quê chính hiệu là mình có biết ất giáp gì đâu. Cecile nói ai muốn đến đó thưởng thức giọng ca của Camille Huyền phải… đăng ký trước khá lâu mới được!

Từ trái: Camille Huyền, Trương Đình Ngộ (ông xã CH); Thái Kim Lan, Đỗ Hồng Ngọc ( Cocodo, 11.4.2019).

Camille Huyền nói “Em về đây lâu rồi, chỉ biết tiếng Huế mà không biết tiếng Việt. Có mấy ca từ trong Ca Huế như “trông vòi vọi” là sao?… là sao?… là sao?”. Mình cứ giải thích… theo cái biết “trời ơi” của mình và cô… hiểu ngay! Cô nói em hát cho người nước ngoài nghe, nên phải giải thích từ ngữ cho họ hiểu họ mới cảm nhận được.

 

Bài thơ NƯỚC
(in trong tập Vòng Quanh, thơ Đỗ Hồng Ngọc, 1997)

 

Kể Chuyện Trăng Tàn (thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhạc Khúc Dương)

Giọng ca Camille Huyền (2004)

http://www.art2all.net/nhac/huyencam/kechuyentrangtan_t.mp3

 

Chiều 13.4.2019, từ Quảng Bình, Quảng Trị về lại Huế sau chuyến thăm Động Phong Nha Kẻ Bàng còn khá mệt mỏi nhưng vì hôm sau phải về lại Saigon rồi nên mình phone rủ Tịnh Thi đi thăm Camille Huyền ở Bến Xuân. Tịnh Thi kêu, anh phải đăng ký trước chứ v.v… Hay ít ra anh cũng phải phone hẹn trước đi.  Khó gặp đó! Tịnh Thy thiệt ra không ngờ mình đã gặp Camille Huyền và Ngộ hôm trước rồi, dù Tịnh Thy cũng từng biết Camille Huyền hát Kể Chuyện Trăng Tàn rất hay từ nhiều năm trước. Cứ đi đi, thử coi. Mình nói. Đến, may gặp thì tốt. Không gặp… cũng tốt. Sẽ viết mấy chữ liệng vào cổng rồi đi. Tịnh Thy và mình đến phía đường lộ, thay vì đi thuyền ghé cổng trước. Đúng là tường cao cổng kín, nhưng đây là cổng “thiền” mà! Mọi sự cứ “tùy duyên”. Mình phone. Anh Ngọc nè. Có ở nhà không hay đã “cắt đứt dây chuông” rồi? Camille Huyền mừng rỡ, anh đợi cho hai phút nhé! Hai phút? Tin nổi hông? Thì ra Ngộ, ông xã Huyền vội chạy ra đón khách, nói là đang sửa điện trong nhà… Rồi hướng dẫn bọn mình tham quan khắp nơi. Đúng là một “vương phủ” vừa cổ xưa vừa hiện đại của cặp “tình nhân” Ngộ-Camille Huyền, hơn 40 năm ở Đức, Pháp, Thụy Sĩ… mà rời bỏ tất cả để về với Huế, sáng lập điểm văn hóa đặc sắc Bến Xuân này. Thường khách đến Bến Xuân bằng ngã sông Hương, cổng chính gần chùa Thiên Mụ, thưởng thức âm nhạc, ẩm thực, tham quan phòng tranh do nữ chủ nhân sáng tác… Kỳ công là đã xây dựng Bến Xuân suốt cả 10 năm trời, với chất liệu thu gom, lượm nhặt từng hòn đá cuội, miếng gạch vỡ… từ khắp nơi ở cố đô Huế để có một “vương phủ” vừa cổ kính vừa hiện đại đáng quý này.

Trương Đình Ngộ, phu quân Camille Huyền- hai tay đang bận sửa điện- đã chạy vội ra đón Đỗ Hồng Ngọc và Nguyễn Thị Tịnh Thy! (Bến Xuân, Huế 13.4.2019)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phía trước Bến Xuân là dòng Hương giang lờ lững. Nơi cổng thuyền cặp bến!

 

Đã đến lúc nói lời… tạm biệt!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (4.2019)

18/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (4.2019)

Về Huế,

 

*** Một.

Vừa đi Nepal về, mình lại có dịp đi Đàlạt mấy hôm, và rồi bây giờ lại… về Huế nữa khiến có người bạn trẻ kêu lên sao anh nói “về thu xếp lại…” rồi kia mà! “xếp lại” gì đâu chỉ thấy càng… bung ra?

Người bạn trẻ dễ thương đó của mình đã hiểu lầm đó thôi. Rõ ràng là “thu xếp lại…” với mình bây giờ chỉ là để cho được gọn nhẹ, buông bỏ bớt… để mà “tiếu ngạo giang hồ” được chút nào hay chút đó thôi. Cứ nhớ đến Th, người bạn thiết, hẹn hò đi du ngoạn miền Trung với cả đoàn Quán Văn, giờ chót xin lỗi vì không… mặc quần được vì viêm khớp gối tái phát; lại nhớ Nh, người bạn khác, rất khỏe, đúng ngày lên đường đi Cao Nguyên thì đùng cái phải nhập viện Tim đặt 3 cái stents; rồi một bạn khác nữa mấy ngày liền đi với nhau không thấy đánh răng, chãi răng gì cả, hỏi, bảo còn cái răng mẹ nào đâu mà đánh với chãi…!

Nhưng thật ra, về Huế kỳ này chính là để dự Hội thảo về Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969), một cư sĩ Phật giáo lỗi lạc, một Bồ-tát tại gia của thế kỷ 20 của Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp văn hóa, giáo dục, đào tạo tăng tài, hoằng dương Phật pháp, xuất bản báo chí và dịch thuật kinh sách… Hội thảo tổ chức tại chùa Từ Đàm Huế.

Chùa Từ Đàm Huế vốn không xa lạ với mình. Năm 2008, mình đã có dịp trình bày đề tài “Thiền và Sức khỏe” tại đây trong Tuần lễ Văn hóa Phật Giáo. Lần đó nhớ có các anh Cao Huy Thuần, Bửu Ý, Nguyên Ngọc… và cô Ngọc Thảo. Thầy trụ trì Từ Đàm hiện nay là Hòa thượng Hải Ấn vốn cũng là một bác sĩ… đồng nghiệp!

Mình chỉ phát biểu mấy phút trong phần thảo luận về vai trò của người trí thức học Phật, và giới thiệu qua “mô hình” của Ban Phật học chùa Xá Lợi Tp.HCM (Saigon) hiện nay đã quy tụ được các cư sĩ trí thức, nghiên cứu, học tập, tổ chức thư viện, làm báo Từ Quang, thực hiện trang web, và nhiều lớp học về Phật pháp, Phật học và Đời sống v.v…

Hội thảo về Cư sĩ Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám tại Chùa Từ Đàm Huế 10 và 11-4-2019

 

Rồi cùng nhóm bạn trong Ban Phật học, ghé thăm chùa Trúc Lâm, nơi Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám đã tu tập từ năm 1928.

Chùa Trúc Lâm

 

 

 

 

 

 

 

 

Dịp này, nhóm bạn cũng đến thăm Chùa Châu Lâm, trò chuyện cùng thầy Thiện Phước trụ trì. Chùa rất đẹp. Nghe nói mỗi lần về Huế, các thầy Lê Mạnh Thát, thầy Tuệ Sỹ cũng về đây nghỉ. Thầy Thiện Phước có những cách thuyết pháp khéo léo, thuyết phục được nhiều khách  trẻ Tây phương đến viếng chùa. Tiếc không nhiều thời gian để trao đổi học hỏi thêm.

Trò chuyện cùng thầy Thiện Phước, chùa Châu Lâm, Huế

 

Buổi trưa, Thái Kim Lan mời cả nhóm đến thăm khu nhà cổ của cô nằm bên bờ sông Hương, trên đường lên chùa Thiên Mụ. Khu nhà vườn rất đẹp.  Rất nhiều hoa và cây trái… Cô khoe Nhà xuất bản Kim Đồng vừa mới in xong cho Thái Kim Lan một tập Tùy bút… có lời Tựa của Đỗ Hồng Ngọc. Hình như cô sắp ra Hà Nội “ra mắt” sách. Hỏi anh Ngọc có đi không nè? Hổng dám đâu!

Ngôi nhà vườn của Thái Kim Lan.

 

 

Bên bờ sông Hương: từ trái, Dũng, Niêm, DHNgoc, TKLan, Cecile, Thúy, TNguyen, Hùng…

 

 

 

 

 

Về Huế lần này, mình còn có dịp ghé thăm võ sư Nguyễn Văn Dũng, thăm nhà đẹp của Ngô Tiến Nhân, vườn Bội Trân, thăm khu Không gian Lê Bá Đảng đang xây dựng rất hoành tráng bên đồi Thiên An, và tiếc, chưa kịp ghé Cát Tường Quân của Út Thảo.

Càphê ở nhà Ngô Tiến Nhân. Khu vườn vừa trồng thêm nhiều cây ăn trái. Mình khuyên bạn nên cất một cái chòi lá, có sàn gác để thư giản thật sự sau khi vừa đặt mấy cái stents…

Không gian Lê Bá Đảng đang hoàn thành dần. Trong khi nhóm bạn leo lên nhà trưng bày tranh thì mình luẩn quẩn bên khe suối vì… hai chân đã mỏi đừ sau mấy ngày trèo non lội suối ở Phong Nha Kẻ Bàng, cửa Tùng, cửa Việt… !

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*** Hai

Bạn có nghe Rú bao giờ chưa? Chưa, phải không? Mình cũng vậy. Nếu hỏi Rú là gì thì người bạn xứ Huế trả lời Rú là Chá. Rú Chá. Chịu!

Vậy nên về Huế lần này phải đi Rú Chá một phen cho biết chứ! Nguyễn Thị Tịnh Thy nói. Ừ thì đi.

Có một chuyện cảm động thế này: Nguyên Minh và Hoàng Kim Oanh, đại diện tạp chí Quán Văn từ Saigon bay ra Đà Nẵng dự buổi ra mắt tập thơ của Lê Thị Ái Niệm. Ở đó đã sẵn có Trúc Hạ, Hồ Sĩ Bình, Phan Trang Hy… Cả nhóm Quán Văn Saigon, Đà Nẵng nghe có Đỗ Hồng Ngọc đang ở Huế bèn… trèo đèo, lội suối ra Huế để gặp nhau một bữa cho vui. Mấy khi. Minh Tự và Tịnh Thy bèn tổ chức cho cả nhóm đi Rú một phen… Thì ra Rú là một thứ Rừng hơn Rừng (Rừng Rú). Còn Chá là loại cây mọc ở vùng ngập mặn như cây mắm, cây đước ở Phương nam. Ở đây, Rú Chá Huế hình như nối dài  Phá Tam Giang vào đồng bằng Huế thì phải. Vẫn còn rất hoang sơ và thơ mộng, đặc biệt với ráng chiều rực rỡ đầy màu sắc kỳ thú không ngờ!

 

Rú Chá Huế (ảnh Internet)

 

Nhóm “Quán Văn” hội ngộ xứ Huế (10.4.2019).
Từ trái: Nguyên Minh, Trúc Hạ, Tịnh Thy, Đỗ Hồng Ngọc, Hoàng Kim Oanh, Hồ Sĩ Bình… (ảnh Phan Trang Hy).

 

 

Rú Chá với Ráng chiều (Huế 4.2019. ảnh Do Hong Ngoc)

Rú Chá Huế (ảnh DHN)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tịnh Thy và Trúc Hạ Buổi tối, có một buổi sinh hoạt văn nghệ “cây nhà lá vườn” tại nhà Tịnh Thy. Thêm Nguyên Cẩn vừa đến kịp. Minh Tự không ngờ là một giọng hát rất hay và là một cây guitar đáng nể. Cả nhóm thành một ban hợp ca… iPhone: Nào Tà Áo Tím một chiều lang thang bên giòng Hương giang…, nào Ngàn thu áo tím từ khi yêu anh anh bắt xa màu tím…, nào Chiều Tím chiều nhớ thương ai, rồi nào “Anh pha mực cho vừa màu áo tím” (Tuổi 13)… Cứ tím ngắt như thế. Huế mà. Thế rồi không biết ai đề nghị thôi hát Anh còn nợ em đi, nhưng cấm không được khóc. Thì ra, mọi người “chọc” Nguyên Minh, nhà văn “mít ướt” số một, người sáng lập Ý Thức trước kia và nay là Quán Văn. Cứ mỗi lần nghe hát “Anh còn nợ em” của Anh Bằng thì Nguyên Minh khóc sướt mướt. Mình tưởng đùa, ai dè Nguyên Minh khóc thiệt, khóc… rống hẳn hoi! Rõ ràng “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi” rồi đó thôi! Mình đã viết trong “Về thu xếp lại…” như vậy và anh Hai Trầu bên nớ cũng chịu là đúng với tuổi già đó thôi!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hẹn thư sau nhé,

Đỗ Hồng Ngọc.

(19.4.2019)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Phật Học & Đời Sống: Vài hình ảnh Chuyến về thăm xứ Phật, Nepal

08/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Chương trình PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp.HCM

 

 Vài hình ảnh Chuyến về thăm xứ Phật, Nepal

Đỗ Hồng Ngọc

Ghi chú: Ngày thứ Bảy 16.3.2019, trong buổi Sinh hoạt thường kỳ của Chương trình Phật Học & Đời Sống tại Chùa Phật học Xá Lợi Tp.HCM, tôi đã Nói chuyện đề tài “Chuyến về thăm xứ Phật, Nepal” để chia sẻ cùng các bạn trong lớp. Nhờ Quyền dựng cho bộ slides, rồi nhờ Trung, Trúc, Tú Quyên… các bạn trẻ cho mượn labtop, projector… để có buổi “trình chiếu” thêm phần sinh động này. Như thông lệ, sau buổi trình chiếu, tôi đã nêu lên một vài vấn đề về các pháp hành để cùng thảo luận học hỏi thêm.

Lúc đầu, tôi không định post lại ở đây bài Nói chuyện này, nhưng các bạn trẻ cho biết cũng có nhiều người không đến tham dự tại chỗ được, đang mong được xem clip.

Rất cảm ơn nvquyen.

Trân trọng,

DHN

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Vài đoạn hồi ký

Đọc “Về thu xếp lại…” của Đỗ Hồng Ngọc

04/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Đọc “Về thu xếp lại…” của Đỗ Hồng Ngọc

Nguyên Giác

 

(ảnh: kinhtethoidai)

Cảm giác đầu tiên khi đọc tác phẩm mới này của Đỗ Hồng Ngọc, có thể thấy rằng đây là những dòng chữ từ một người sắp ra đi… Chẳng phải sao, ngay trên tựa sách đã ghi là “Về thu xếp lại…” (VTXL).

Đúng là trong các tản văn có nói về tuổi già, về bệnh, về những người bạn đã ra đi – trong đó, ngay ở Lời Ngỏ là ghi lại hình ảnh tới thăm người bạn thân, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tại phòng Săn sóc đặc biệt Bệnh viện Chợ Rẫy.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc, một bác sĩ về hưu và đang giữ thói quen Thiền tập hàng ngày, tự ghi lại hình ảnh của mình, trích:

“…Thấy những bạn trẻ… trên dưới bảy mươi mà “gato”! Mới vài năm thôi mà mọi thứ đảo ngược cả rồi. Bây giờ có vẻ như tôi đang lùi dần về lại tuổi ấu thơ, tuổi chập chững, tuổi nằm nôi…” (Lời Ngỏ, VTXL)

Cần ghi nhận rằng chữ “gato” trong đoạn trên là tiếng lóng trong nước, có nghĩa “ghen ăn tức ở” dùng trong giới trẻ. Như thế, hình ảnh tuổi già dưới mắt ĐHN rất mực độc đáo: phải cao niên tới một tuổi nào đó, mới thấy mình như tuổi ấu thơ (vì trí nhớ lãng đãng rồi), thấy mình ở tuổi chập chững (vì đi lụm khụm rồi), thấy mình như tuổi nằm nôi (vì phần nhiều là nằm bệnh)…

Tuy nhiên, giọng văn không hề bi quan tí nào. Từng trang sách là những dòng chữ rất mực yêu thương trần gian này. Ông nói về già và bệnh, đồng thời đưa ra kinh nghiệm lạc quan của bản thân về Thiền tập, về quán niệm hơi thở, vể trải nghiệm những dòng chảy thời gian trên cơ thể, trên trí nhớ…

Đỗ Hồng Ngọc nói về khổ đau, nhưng chỉ xem như là chuyện hoa nở hoa tàn, như ở Chương cuối trong VTXL: “…tại vì có cái ta mà phát sanh phiền não, khổ đau. Pháp vận hành theo pháp, chẳng vì ta. Chẳng vì ta mà hoa nở hoa tàn. Nếu không can thiệp thì nó vậy là nó vậy. Sự phân biệt chính là can thiệp, dính mắc.”

Đỗ Hồng Ngọc nói về cái chết, nhưng chỉ xem như một quà tặng từ cõi trần gian, trong cùng chương vừa dẫn: “Thuốc đã sẵn có. Phật giáo nhìn cái chết là sự vận hành của pháp. Chết là sự chấm dứt tạm thời của một hiện tượng tạm thời, cái sống. Cho nên chết không phải là hết. Cái sống, một hiện tượng tạm thời và vận động không ngừng, vô thường thú vị, một bonus, nên cái chết cũng là vô thường, một bonus khác.”

Không phải là mượn lời của ai, hay dẫn lại từ sách, mà tất cả là từ kinh nghiệm của nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, cùng chương vừa dẫn: “Không phải là lý thuyết suông, mà là sự thực nghiệm, thể nghiệm ngay trên bản thân mình.  Hãy đến và nếm thử. Mô tả không được!”

Không phải nếm thử cái chết, tuy rằng Đức Phật có dạy pháp niệm tử. Nơi đây, nhà văn họ Đỗ nói rằng những thể nghiệm trong cõi trần gian tuyệt vời đó là từ bản thân ông khi sống với Kinh Phật, trích cùng chương vừa dẫn:

“Mà thấy Pháp tức là thấy Phật. Pháp nó tự vận hành. Không có người vận hành. Không có ta. Cho nên Phật dạy cách khác đơn giản hơn: Cái thấy chỉ là cái thấy. Cái nghe chỉ là cái nghe. Chỉ vậy. Khi có cái “ta” xen vào: Ta thấy, ta nghe… thì đã sinh sự. Có ta hay không có ta thì pháp nó cũng cứ vận hành như vậy. Nhưng bằng cách nào để sống được “cái thấy chỉ là cái thấy”? Vì ta không phải là gỗ đá, vô tri. Vấn đề chỉ ở chỗ không dính mắc. Cô hoa hậu xinh đẹp thì thấy là xinh đẹp, nhưng dính vào thì tiêu!”

Chỉ trong vòng mấy câu trên, chưa hết một đoạn văn, Đỗ Hồng Ngọc đã ghi lại “sự thực nghiệm, thể nghiệm ngay trên bản thân mình.  Hãy đến và nếm thử” một số bản kinh nhà Phật.

“Thấy Pháp tức là thấy Phật” là từ Kinh Tương Ưng SN 22.87, khi Đức Phật thăm ngài Vakkali đang bệnh, và nói: “Vakkali, hễ ai thấy Pháp là thấy ta; ai thấy ta là thấy Pháp.”

“Pháp nó tự vận hành. Không có người vận hành. Không có ta” là từ Luật duyên khởi, không hề có cái gì gọi là ta hay người. Trong Kinh Trung Bộ MN 115, Đức Phật nói: “Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt…” Không hề có bất kỳ ai vận hành, và cũng chẳng có cái ta nào.

Đỗ Hồng Ngọc lại tiếp rằng lời Phật dạy hãy giữ cái thấy nghe chỉ là cái thấy nghe… chính là từ Kinh Bahiya.

Họ Đỗ lại thêm rằng chỉ là ở chỗ không dính mắc… câu này là từ Kinh Kim Cương và rất nhiều kinh khác.

Đỗ Hồng Ngọc dẫn ra cội nguồn khổ là từ tham ái bằng hình ảnh cô hoa hậu xinh đẹp… cũng từ rất nhiều kinh.

Tuyệt vời cho nhà văn Đỗ Hồng Ngọc và cho bất kỳ ai đã có thể sống được như ông, khi đã “thể nghiệm ngay trên bản thân mình” những bản kinh Phật như thế.

Nhưng không khô khan hay trịnh trọng chút nào. Văn của Đỗ Hồng Ngọc không hề khô khan như các lớp toán hay vật lý chúng ta đã trải qua.

Trước tiên là cách đặt nhan đề, sách và chương sách – tất cả đều từ ngôn ngữ thơ mộng của Trịnh Công Sơn, người bạn thân của tác giả. Nhưng chính cách kể chuyện của Đỗ Hồng Ngọc mới là độc đáo, tuyệt vời, luôn luôn gây giựt mình cho độc giả.

Thí dụ, tuổi đẹp nhất của đời người? Như dường là hầu hết mọi người đều đoán sai… vì câu trả lời của Đỗ Hồng Ngọc là tuổi 65-75:

“Tôi nay ở tuổi 80. Thực lòng… đang tiếc mãi tuổi 75… Cái tuổi đẹp nhất của đời người theo tôi có lẽ ở vào lứa 65-75. Đó là lứa tuổi tuyệt vời nhất, sôi nổi nhất, hào hứng nhất… Tuổi vừa đủ chín tới, có thể rửa tay gác kiếm, tuyệt tích giang hồ…” (Lời ngỏ)

Tuổi 75 đẹp nhất? Bạn nhiều phần là sẽ đồng ý với tác giả Đỗ Hồng Ngọc, nếu bạn đọc xong tuyển tập tản văn này.

Đọc văn Đỗ Hồng Ngọc cũng cần có thái độ rất bình tỉnh… bởi vì khi kể về già và chết, ông đã gọi đó là diễn biến tuyệt vời. Như ông viết ở Chương Cát bụi tuyệt vời, trích:

“Có sinh ắt có tử, có tử ắt có sinh. Hơi vào có hơi ra và ngược lại. Cho nên người đạt đạo họ tỉnh queo, nôm na là họ… giác ngộ. Họ chẳng cần phải bối rối. Họ biết nó phải vậy. Như Thị.

Chu trình “khép kín” đó bắt đầu tăng tốc ở lứa 65-75 tuổi. Tăng tốc khô héo, tăng tốc nhăn nheo. Sự  tăng tốc của lứa tuổi này cũng làm ta há hốc, muốn kêu lên kinh ngạc… như ở tuổi dậy thì, tuổi mới lớn. Cái vòng đời nó diễn biến tuyệt vời đến vậy, liên tục đổi thay đến vậy thì có gì đáng phàn nàn đâu! Nhiều bạn cùng lứa than với tôi sao thế này sao thế khác, tôi thường chỉ nói “Ai biểu già chi?” rồi cười xòa với nhau mà không khỏi có chút … ngậm ngùi.”

Dĩ nhiên, Đỗ Hồng Ngọc khác rất nhiều với người đời thường (như tôi, chẳng hạn, một nhà văn không biết gì về y khoa). Đỗ Hồng Ngọc kể về thời sinh viên, chuyện xương người với đầu lâu là những thứ phải học kỹ, phải nhớ tên gọi và chức năng của từng hốc xương, khớp xương… Nhưng chuyện tu học thì, hiển nhiên là ai cũng có thể cảm nhận được những ghi nhận của họ Đỗ về Kinh Phật. Khi ông kể về trải nghiệm ngay trên cơ thể của ông.

Trong Chương Tôi chợt nhìn ra tôi của sách VTXL, tác giả kể về “tôi thấy tôi” – tức là thấy cái vô ngã, cái vô thường, và do vậy là cái thật tướng vô tướng, trích:

“…không phải bất ngờ vì tôi thấy tôi. Mà bất ngờ vì tôi chợt “nhìn ra” tôi. “Nhìn ra” khác với thấy. Nhìn ra là “quán”.  Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã chiếu kiến ngũ uẩn giai không… . Quán là thấy rõ (chiếu kiến). Tôi bấy giờ không còn là tôi bây giờ. Tôi bấy giờ là tứ đại, là ngũ uẩn. Và nếu quán một cách sâu sắc hơn, có thể thảng thốt kêu lên: “Bổn lai vô nhất vật”! (Lục tổ Huệ Năng)…

Có lần Phật hỏi Duy-ma-cật: Ông quán Như Lai thế nào? Duy-ma-cật đáp: Thì như quán pháp thân của Phật và của chính tôi thôi. Có gì khác nhau đâu!

Nhìn thì có thể thấy khác. Bởi nhìn thì qua mắt, nhãn căn. Quán thì không nhìn bằng mắt. Mà nhìn bằng cả năm thứ con mắt (ngũ nhãn) gồm nhục nhãn (mắt thịt), thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn.  Thú vị, khi quán thì cả Như Lai, Phật và Tôi… đều là một, không khác. Đó là đã thấy pháp thân, thật tướng vô tướng.”

Đỗ Hồng Ngọc còn dùng những hình ảnh để độc giả dễ hình dung xem thật tướng vô tướng đã héo đi thế nào, trích:

“…Trước hết tôi bây giờ già hơn tôi xưa, già thấy rõ, già tốc hành chớ không phải già lai rai như trước.

Nhiều hôm nhìn vào gương soi, tôi thấy mình như một quả táo để lâu ngày, héo dần, teo tóp, nhăn nheo. Nhưng có cái gì đó như cứng cỏi hơn, tuy quắt queo mà chỉ bay hơi nước, bay cái láng mượt, nuột nà của quả táo căng phồng, ngây thơ, tràn đầy thuở nào. Bây giờ thì co cụm lại, co rúm lại, gom tụ lại vào trong cái hột, cái lõi.”

Hình ảnh đi từ trừu tượng “cái tôi trong thật tướng vô tướng” trở về cái trước mắt, cái trên bàn của “cái tôi như quả táo héo mòn, nhăn nheo”… hình như chưa từng có nhà văn nào viết như thế. Nhưng đó cũng chính là sự thật của cõi này, khi Đức Phật tuyên thuyết về tứ diệu đế.

Trong khi phần lớn đều lo sợ già, lo sợ nhăn nheo, Đỗ Hồng Ngọc gọi đó là diễn biến tuyệt vời, và ông quan sát hàng ngày với thái độ xem chuyện lão hóa là “cũng dễ thương quá”… Họ Đỗ viết trong chương vừa dẫn:

“…Rồi đến cái tuổi gió heo may, dìu dịu, nhạt nhòa nhưng vẫn là tuổi năng nổ, hoạt động mạnh mẽ và hiệu quả nhất để rồi chuyển sang tuổi già, tạm coi là sau tuổi 65, một chu trình “khép kín” đã lại bắt đầu: tăng tốc khô héo, tăng tốc nhăn nheo, tăng tốc ngược chiều đủ làm hết hồn, làm há hốc, muốn kêu lên kinh ngạc…

Nó diễn biến tuyệt vời đến vậy, liên tục đổi thay đến vậy thì có gì đáng phàn nàn đâu, có gì mà không thể tủm tỉm cười một mình đâu. Cho nên nếu tôi có gì khác tôi xưa thì chính ở chỗ tôi có phần… khoái cái sự già nua tăng tốc đó của mình, tôi hồi hộp dõi theo nó, tôi cảm thấy nó…hợp lý, nói chung là… cũng dễ thương quá đó chớ!

Ở tuổi 70 chưa thấy già đâu. Thậm chí đến 72, 73 vẫn còn thấy trẻ chán.” (ngưng trích)

Đỗ Hồng Ngọc kể chuyện đời thường của ông, qua đó cho thấy ông quán sát thân tâm liên tục, xem các diễn biến như xem hoa bay gió thổi, không hề khởi tâm kinh hãi với vô thường, trích cùng chương dẫn trên:

“…Nhiều khi, sáng dậy, nhìn vào gương soi tôi lại thấy tức cười. Tôi đó sao? Nhăn dần từng nét ngộ nghĩnh trên mắt trên da. Đôi khi muốn lấy viết vẽ nguệch ngoặc gương mặt thay đổi từng ngày của mình, từng ngày nhưng rất nhanh, thấy rõ chứ không như ngày xưa, nhiều năm mới nhận ra nét đổi thay. Tôi tức cười nhìn mình. Nó nhìn tôi cũng cười. Ngộ nghĩnh. Cười mà ráng. Không ráng thì nó trĩu nặng. Mấy tế bào của cơ mặt hình như sinh tật làm biếng, xệ xuống cho khỏe…

…Ghi tiếp “Nhật ký rời”: Chỉ còn mấy ngày nữa, đã đầy tám chục (tuổi ta). Phải nhanh chóng ghi lại vài điều kẻo quên.Thứ nhất, ở tuổi này tôi thấy tay mình ngày càng run. Làm cái gì mà cẩn thận thì đổ vỡ. Làm cái gì không tính trước thì được. Tùy cơ ưng biến thì tốt. Tay run đến nỗi viết cũng khó mà vẽ chơi cũng khó. Tôi phải vẽ kiểu “tốc họa”, vẽ như chớp, theo một cảm xúc bất chợt, không toan tính thì tốt. Ai bắt chước được cái run?” (ngưng trích)

Trong khi tác giả Đỗ Hồng Ngọc viết để kể về những trải nghiệm riêng, độc giả hiển nhiên là không mong đợi những chuyện ly kỳ như phim 007 hay truyện Z 28. Tất cả lời kể trong VTXL chỉ là những chi tiết đời thường, dưới mắt quan sát của người có thói quen thiền tập như Đỗ Hồng Ngọc đều đột nhiên trở thành đáng chú ý.

Thí dụ, tác giả Đỗ Hồng Ngọc kể về chuyện ngủ, chuyện thức dậy, chuyện ghi trên giấy từ đêm trước về những gì cần làm, chuyện xem trận banh, chuyện đọc tin trên báo chỉ cần liế qua cái tựa… nghĩa là chuyện đời thường soi rọi dưới mắt ông. Phải chăng đó là từ thói quen quán sát thân tâm?

Hay là khi tác giả tự soi gương, nhận ra tóc bạc, da nhăn… rồi chuyện ngồi thiền, quán niệm hơi thở, rồi niệm từ bi, niệm hỷ xả… rồi tự pha ly cà phê, rồi ngồi vào máy tính.

Cứ tà tà kể chuyện như thế, cuốn sách cũng hoàn tất. Tuy là chuyện đời thường, là chuyện của người già, nhưng thực sự không đời thường tí nào, cũng không già cỗi tí nào. Vì nơi đây, từng khoảnh khắc được  quan sát và kể lại, đã hiển lộ lên một thế giới rất mực lạc quan. Nói về già nhưng vẫn là thơ mộng rất mực, như đùa như giỡn… Nói về cái chết nhưng vẫn dịu dàng như nói với người bạn thân sắp gặp lại.

Như cách Đỗ Hồng Ngọc viết về bệnh:

“…Nhưng bệnh cũng có cái hay của nó chứ. Nó làm cho ta nhớ lại mình. Đã đành biết bệnh tật gắn vào mình từ trong trứng nước, thậm chí trước đó nữa, ở nơi ông bà cha mẹ mình từ ngàn xưa qua các gene di truyền nhiều thế hệ, nhưng cứ mỗi lần bệnh tật, với tôi, trở thành một cái giật mình. Mà cũng lạ, đường đường là một người thầy thuốc, học hành đàng hoàng, ra trường hơn nửa thế kỷ, nghề nghiệp chín chắn, nổi tiếng là người thầy thuốc “mát tay”, luôn quan tâm chăm lo giúp đỡ cho người khác khi có ai nhờ đến, cả bệnh thân lẫn bệnh tâm, vậy mà, với mình, tôi quên tôi tuốt. May thay, nhờ có bệnh nhắc. Mà không phải là bệnh nhẹ. Bệnh nhẹ không đủ nhắc tôi đâu…”

Hay như khi Đỗ Hồng Ngọc viết về cái chết, về cách luôn nhớ về cái chết:

“…Có cách nào để người ta luôn nhớ đến cái chết để được sống hạnh phúc hơn không?

Có đó. Cứ ngồi yên đó. Lăng nghe hơi thở của mình. Thở vào… thở ra. Một hơi thở là một cuộc sống. Thở ra rồi thở vào. Lại một cuộc sống mới. Thì ra…. sống và chết là một chu kỳ hình sin. Cái gọi là sống, cái gọi là chết. Gọi vậy thôi chớ không phải vậy. Có thể đảo ngược lại. Nhìn kỹ thì thấy cái chết mới là cái sống. Thở vào như sóng. Thở ra như nước. Sóng là nước. Nước là sóng. Tùy duyên. Bày đặt vui thôi mà!”

Trong tuyển tập VTXL, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc còn viết nhiều về ăn, ăn mặn hay ăn chay, về thỉnh thoảng nấu ăn, về bốn loại thức ăn theo quan điểm nhà Phật, về thuốc đông tây nam bắc, về thời đi học mỗi sáng ăn xôi, về dạo cảnh chùa, về những buổi đi uống cà phê cùng bạn, về những người bạn vắng dần, về Internet mang theo nước mắt nụ cười…

Nói về đời thường, và rồi nói về mật nghĩa cõi này. Tới những đoạn văn như thế, chúng ta tự nhiên đọc chậm lại, và có thể phải đọc đi đọc lại rất nhiều lần, vì văn nơi đây nghe như thơ, như kệ, như nhạc, như thần chú, như mật nghĩa của pháp.

Thí dụ, như đoạn văn sau, khi Đỗ Hồng Ngọc viết:

“Phật có đến có đi. Có từ bi có hỷ xả. Có nói năng có im lặng. Có thể dùng âm thanh dùng ánh sáng dùng chuông mõ, tiếng tụng niệm mà thấy Phật. Nhưng Như Lai thì không. Không thể dùng âm thanh, ánh sáng mà thấy Như Lai. Kinh nói Như Lai thọ lượng mà không nói Phật thọ lượng vì Phật thọ lượng chỉ có hơn 80 năm! Kinh nói Như Lai thần lực mà không nói Phật thần lực vì Phật chẳng ưa chuyện thần thông. Kinh nói vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai mà không nói vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi tòa Phật… Cho nên, Phật là Như Lai, mà Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai. Nó vậy đó…”

Đọc thấy Đỗ Hồng Ngọc viết chữ “vậy  đó” rất mực dịu dàng, nhưng từng chữ một vẫn nặng rất mực, kiên cố rất mực.

Trong sách, chúng ta đọc thấy Đỗ Hồng Ngọc còn viết nhiều nữa, như về Trần Nhân Tông, về Tuệ Trung Thượng Sĩ… Tác phẩm “Về thu xếp lại..” của Đỗ Hồng Ngọc không chỉ để đọc một lần. Sách này có thể nên đưa vào túi xách, nên mang theo bên người để thỉnh thoảng đọc lại. Để không sợ già, không sợ chết, để biết cách đùa giỡn với bệnh, và cũng để biết cách Thiền tập trong những cách tự quan sát thân tâm mình không rời.

Tuy rằng Đỗ Hồng Ngọc có cẩn trọng ghi rằng sách này là “góp nhặt từ những trang nhật kỳ rời, từ những ghi chép lang thang không ngày tháng, rải rác nơi nọ nơi kia… Rất riêng tư, và rất chủ quan…” nhưng các chuyện kể trong sách cũng là chung cho mọi phận người, nơi những dòng chữ của ông có thể giúp độc giả sống bình an giữa những bất an cõi này, sống yêu thương giữa những hoang mang cõi này.

Có thể tin rằng tác phẩm “Về thu xếp lại..” sẽ có một vị trí độc đáo trong văn học Việt Nam, và cũng rất đặc biệt sẽ là một cẩm nang sống cho nhiều người học Phật tương lai.

 

(Nguyên Giác Phan Tấn Hải. April 4, 2019)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Trở về với ta: đọc “Về thu xếp lại…” của ĐHN

04/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc sách “Về thu xếp lại…” của Đỗ Hồng Ngọc:

Trở về với ta

Vũ Trung Kiên

 

Rất nhiều độc giả hẳn không xa lạ tác giả Đỗ Hồng Ngọc; bởi tác giả không chỉ là vị bác sĩ tài năng đã viết nhiều cuốn sách về chăm sóc, phòng bệnh, nhất là cho trẻ em mà còn là tác giả của nhiều cuốn sách dành cho tuổi xế chiều. “Về thu xếp lại…” là một trong những cuốn sách thuộc thể loại này, tức sách viết vì người già và cho người già. Đây có thể xem là những chỉ dẫn thu xếp hành trang cho chuyến đi cuối cùng suôn sẻ.

Chúng ta từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Đã đến đây chắc hẳn ta phải từ một nơi nào đó tới, đã đến, chắc chắn phải đi. Chỉ có điều, từ đâu đến và sẽ đi đâu thì ta không thể biết. Có đó, rồi cũng không đó, không đó, mà cũng có đó. Chẳng vậy mà Đạo Hạnh Thiền sư đã cảm tác: “Có thì có tự mảy may/ Không thì cả thế gian này cũng không/ Kìa xem bóng nguyệt lòng sông/ Ai hay không có, có không là gì ?” (Bản dịch của Huyền Quang tam tổ). Nếu không có CÓ, làm sao biết có KHÔNG. Không có KHÔNG, làm sao biết có CÓ. Có lẽ vì vậy mà những ca từ của nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã vang lên, mở đầu cho câu chuyện đầu tiên của cuốn sách có tựa đề Cát bụi tuyệt vời: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ Để một mai vươn hình hài đứng dậy? Ôi cát bụi tuyệt vời/ Mặt trời soi một kiếp rong chơi”. Nếu như trong những cuốn sách của tác giả trước đó như: Gió heo may đã về, Già ơi… chào bạn! Già sao cho sướng?…là những lời khuyên để sống sao cho “ngon” khi gió heo may đã về; thì với Về thu xếp lại, không chỉ nói về việc sống sao cho tốt khi về già mà còn phải chuẩn bị hành trang cho chuyến đi cuối cùng và mãi mãi. Đó cũng chính là nội dung cốt lõi của cuốn sách này: “Có sinh ắt có tử, có tử ắt có sinh. Hơi vào có hơi ra và ngược lại. Cho nên người đạt đạo họ tỉnh queo, nôm na là họ …giác ngộ. Họ chẳng cần phải bối rối. Họ biết nó phải vậy. Như thị”.

Cuốn sách bao gồm 10 câu chuyện nhỏ, mỗi câu chuyện đều chứa đựng trong đó những triết lý cao thâm. Để đọc cuốn sách này, độc giả phải là người từng trải – mà cũng phải thôi, sách viết cho người già, chứ đâu có giành cho người trẻ. Nói vậy, không có nghĩa người trẻ không cần đọc. Đọc mỗi câu chuyện trong cuốn sách này, mỗi người bỗng nhận ra ta, thấy ta gần gũi: Như thị chứ chẳng đâu xa lạ. Đọc rồi, mới ồ lên, giá mà như Lục tổ Huệ Năng: “Không ngờ…, Không ngờ…!”, bởi thấy được bên trong, phát hiện ra những điều thú vị vốn rất gần gũi hàng ngày nhưng bởi tâm ta luôn bận rộn nên nhìn không ra. Đọc rồi, ta sẽ thấy “hình như ngó vào bên trong nhiều hơn ngó ra bên ngoài”. Đọc rồi, để chợt nhận ra lâu nay vốn “hoang phí năng lượng vào những chuyện không đâu, cho nên cơ thể căng cứng, rã rời”. Đọc rồi, để bỗng phát hiện ra “chẳng ai có thể thở giùm được ai đâu. Chẳng ai có thể “thiền” giùm ai được. Cho nên phải quay về nương tựa chính mình “một mình tôi đi, một mình tôi về…với tôi mà thôi”. Nói như lời mở đầu của cuốn sách thì đây là những dòng viết “Rất riêng tư, rất chủ quan”. Ngay trong những dòng mở đầu, tác giả đã rào đón cẩn trọng: “Những dòng viết này góp nhặt từ những trang nhật ký rời, từ những ghi chép lang thang không ngày tháng, rải rác nơi nọ, nơi kia, chỉ để sẻ chia cùng bè bạn thân thiết, những bè bạn cùng trang lứa, cùng tâm trạng”. Thế nhưng, sẽ thật là may mắn cho những ai đọc được cuốn sách này.

Độc giả sẽ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác khi đọc cuốn sách này: Có lúc tâm ta đắm chìm trong thâm trầm, suy tưởng; có lúc bật lên cười khúc khích như vừa phát hiện ra…chính mình mà lâu nay mình không chịu nhìn nhận…nó. Hỏi hay không? Hay! Hay sao nói coi? Không nói được! Có những cái hay nằm ngoài khả năng biểu đạt của ngôn ngữ. “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn làm chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị” (Nguyễn Hiến Lê, 1972). Hãy đọc cuốn sách này bằng cái tâm an của một người từng trải để lắng nghe tiếng thì thầm của tâm ta tìm về mách bảo. “Thưa rằng: nói nữa là sai/ Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào” (Bùi Giáng). Đọc Về thu xếp lại để bắt gặp mùa xuân và sống với một mùa xuân vĩnh cửu.

(Vũ Trung Kiên)

Nguồn: http://laodongdongnai.vn/Van-hoa/Tu-sach-phim/0B8084/doc-sach-ve-thu-xep-lai-cua-do-hong-ngoc-tro-ve-voi-ta.aspx

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Mậu Pháp: CẢM NHẬN  “VỀ THU XẾP LẠI…”

03/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

CẢM NHẬN  “VỀ THU XẾP LẠI…”

Nguyễn Mậu Pháp

(Trường THPT Lang Biang, Lạc Dương, Đà Lạt)

 

Đời người là một cuộc hành trình. Tuổi thơ với những ước mơ cao đẹp lung linh, đến tuổi trung niên với những mong ước vẹn tròn cho cuộc mưu sinh, lúc về già lại mong một sự an bình. Và cuối cùng tất cả đều lắng lòng để tìm về chính mình.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc người đã từng viết “Gió heo may đã về”, ở tuổi 55, đến tuổi 60 thì viết “Già ơi… chào bạn!” bước sang tuổi 75  thì viết “Già sao cho sướng?…” Nhưng 80 tuổi thì thôi vậy. Thôi, nhưng lại không thôi… đã đến lúc phải “VỀ THU XẾP LẠI…”.

Về thu xếp lại! Một tiêu đề khá lạ lùng nhưng chứa đựng cái muôn trùng của lòng người của đất trời. Như mùa thu gom lá thu vàng để cỏ cây chuyển sang một cuộc hồi sinh mới. Và con người cũng thế, đến cái tuổi mà con người nên thu gom cái khối phân thân về một mối. Ta lại tìm ta. “Ta là ai mà yêu quá đời này!”. Và ta là ta của ngàn đời vĩnh cửu. Khổ, tập, diệt, đạo; nào: mạng, định, tư duy, tinh tiến, nghiệp, niệm, chánh kiến, ngữ ngôn của tám vạn bốn ngàn pháp môn cuối cùng gom chung về làm một.

Tản văn “Về thu xếp lại…” của Đỗ Hồng Ngọc do Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. Với trang bìa là tranh của họa sĩ Lê Ký Thương,  do Linh Vũ trình bày. Giữa họa sĩ và tác giả như đã có sự đồng cảm sâu sắc. Một vầng trăng giữa mênh mông, một con người đang phiêu bồng quẳng gánh lo đi và quảy gánh hồi hương.

Xếp lại mà không xếp. Như mở ra một bầu trời bao la tĩnh lặng!

Chút tản mạn, về y học, về cuộc sống về tâm thức được tác giả gói gọn 162 trang lọt lòng  và 10 nội dung cũng là chủ kiến của tác giả.

Trong một số nội dung tác giả mượn những câu thơ, nhạc từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, mượn không phải là để giảng giải mà mượn để dẫn lối cho những suy nghĩ của chính mình. Hình như giữa tác giả và nhạc sĩ có mối tương liên sâu sắc của một tấm lòng tri cảm thiết tha. Cái gợi mở thật độc đáo và sâu sắc. Mở đầu tác giả nói về chu trình khép kín của một đời người: sống – chết, đến – đi, vừa chân không vừa hiện hữu để tìm ra lẽ tất nhiên của chu kỳ sự sống.

Để rồi Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc/ Tri nhà tiện nhàn đãi nhà hà thời nhàn. Đủ và nhàn là điều ai cũng cần đạt đến nhưng cũng chưa phải là trọn vẹn.   Cái trọn vẹn khi nghecon tim yêu thương vô tình chợt gọi.

Gọi ta, gọi về với chính mình. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã tâm sự: tuổi già dễ xúc động, vì sao như thế? Về với yêu thương, về với lẽ hằng sống là giá trị muôn thuở của con người như nước sông Hằng ngàn năm vẫn chảy như hằng tâm của con người để không còn tự ngã.

Tiếp theo (chương 5,6,7) tác giả biện giải về quy luật sanh lão bệnh tử. Tác giả đề cập đến cái duyên của cha mẹ sinh ra ta. Chưa đủ còn có cái duyên của tạo vật và nhiều cái duyên khác nữa. Vì vậy có gì phải phân vân giữa chết và sống. Có gì phải sợ hãi. Làm quen với cái chết để sống. Nghe rất lạ nhưng cũng thật là diệu lý vô cùng. Mỉm cười với tất cả, buông xả để an bình mới là sự vĩnh sinh muôn thuở.

Để rồi trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt ( chương 8)

Nhật nguyệt ấy là minh. Trong hán tự chữ minh được ghép từ hai chữ nhật và nguyệt (nhật  nguyệt biểu tượng cho âm dương, ánh sáng tinh túy của trời đất).  Mỗi chữ có 4 nét là thái dương, thiếu dương, thái âm  và thiếu âm. Hai chữ cộng lại vừa đủ tám nét. Con số 8, theo đạo Lão con số 8 tượng trưng cho bát quái gồm : càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài biểu hiện cho sự vận chuyển vô cùng của tạo hóa gọi là Đạo. Trong Phật học, 8 là bát chánh đạo gồm: mạng, định, tư duy, tinh tiến, nghiệp, niệm, chánh kiến, ngữ ngôn. Ai nắm được cái lẽ vi diệu chuyển xoay của tạo vật, ai thông tỏ bát chánh đạo là làm chủ được chính mình. Đó mới thật sự là minh !   Lấy minh để diệt vô minh. “Vô vô minh diệc vô vô minh tận” ( Bát Nhã tâm kinh) mới quán được chân không. Chân không mà diệu hữu, diệu hữu mà chân không. Đó mới là vượt qua sinh tử luân hồi vậy. Bởi vì sinh tử luân hồi ở ngay trong ta vậy.

Để đạt điều đó: Trời cao đất rộng một mình tôi đi! (chương 9) Vượt qua không gian, thời gian để đạt tới chánh định. Sống cùng hơi thở, dõi theo hơi thở của chính mình. Đến một lúc ta không còn phân biệt mình thở ra hay hít vào không phân biệt mình đang thở hay không còn thở. Đó mới là sự sống vĩnh tồn. Bởi vì ai cũng có thể giúp cho ta nhiều thứ cả vật chất lẫn tinh thần nhưng ta không có thể giúp cho bất kỳ ai và không một ai có thể giúp ta thở giủm cho ta được. Diệu lý!

Và cuối cùng là để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười ( chương 10)

Gom bốn vạn tám ngàn pháp môn về làm một. Để hiểu cái khổ và diệt. Mỉm cười với chính mình đó là sự giác ngộ, giải thoát. “Đã thấy, biết Như lai, sống với Như Lai”.

Tóm lại “VỀ THU XẾP LẠI…”: là một kim chỉ nam cho tất cả mọi người, không phải chỉ ở tuổi già mà ở tất cả mọi lứa tuổi. Để có sự an lạc hãy về thu xếp lại hòa quyện giữa diệu hữu và chân không ấy vậy!

Xin kính mượn 4 câu thơ tuyệt tác của Hòa thượng Phước Hậu, để đúc kết cảm nghĩ khi đọc “VỀ THU XẾP LẠI…” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư,

Học hành không thiếu cũng không dư,

Năm nay tính lại chừng quên hết,

Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ.

Xin chân thành cảm ơn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã giúp cho hậu thế bài học giá trị để làm người, bài học vén bức mây đời để tìm về chân thức.

(Nguyễn Mậu Pháp, Đà Lạt)

 

Nguyễn Mậu Pháp, thầy dạy văn Trường THPT Lang Biang, Dalat, một “Ông Đồ già” thường bày mực tàu giấy đỏ giữa Chợ Đàlạt viết thư pháp cho bà con những ngày… Xuân. Trong buổi họp mặt hôm nay với Gia đình Hoa Sen (31.3.2019) thầy đã viết tặng riêng Bs Đỗ Hồng Ngọc… một bức thư pháp rất có ý nghĩa…

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Hai Trầu lai rai đọc “Về thu xếp lại…”

03/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Vài cảm nghĩ khi đọc “VỀ THU XẾP LẠI…”

của Đỗ Hồng Ngọc

Lương Thư Trung

 

(ảnh: kinhtethoidai)

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vốn dĩ là tác giả của nhiều tác phẩm viết về đạo Phật và anh còn là nhà thuyết giảng trong các lớp “Đạo Phật và Đời Sống” vào các ngày cuối tuần ở chùa Xá Lợi (Sài Gòn), nên ghi nhận trước tiên của tôi sau khi đọc tác phẩm Về Thu Xếp Lại là tư tưởng Phật Giáo gần như bàng bạc trong suốt các trang sách của tác giả.

Thật thế, ngay như ở Lời ngỏ, phần giới thiệu cuốn sách, tác giả viết:

“Người ta nói đúng. Mình đang ở tuổi nào thì đó là cái tuổi đẹp nhất, không thể có tuổi nào đẹp hơn! Một người 40 mà cứ tiếc mãi tuổi 20 của mình, một người 60 mà tiếc mãi tuổi 40 thì đến 75 họ sẽ tiếc mãi tuổi 60… thật là đáng thương!

Tôi nay ở tuổi 80. Thực lòng… đang tiếc mãi tuổi 75! Thấy những bạn trẻ… trên dưới bảy mươi mà “gato”! Mới vài năm thôi mà mọi thứ đảo ngược cả rồi. Bây giờ có vẻ như tôi đang lùi dần về lại tuổi ấu thơ, tuổi chập chững, tuổi nằm nôi…

Vòng đời rất công bằng. Chỉ còn cách tủm tỉm cười một mình mà thôi! “

Không ai có thể ở hoài một tuổi nào mà mình thích. Thời gian cứ trôi, trôi hoài và không ai có hai lần ở cái tuổi 20 hoặc tuổi 30, tuổi 40… chẳng hạn!

Vâng, người ta thường ví dòng đời như một dòng sông và có một câu ngạn ngữ rất quen thuộc của một triết gia Hy Lạp, Héraclite, mà ai ai cũng biết:”Không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông”.

Cách nay hơn nửa thế kỷ (ngày 21-11-1965), Thượng Tọa Thích Thiên Ân, trong một lần thuyết trình về đề tài “Giá Trị Triết Học Tôn Giáo Trong Truyện Kiều” nhân kỷ niệm Đệ-nhị-bách chu-niên cụ Tiên-Điền Nguyễn-Du, tại thính đường Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn, Ngài đã nói:

”Vâng, không ai có thể tắm được một dòng sông trong hai lần, vì nước sông luôn luôn lưu động di chuyển, vì các tế bào trong con người luôn luôn sinh-diệt diệt-sinh. Con người ngày hôm qua không phải là con người ngày hôm nay, dòng sông của giờ phút trước không đồng với dòng sông của giờ phút sau, thay đổi khác nhau từng tích-tắc sát-na, như thế thì làm sao mà tắm được một dòng sông trong hai lần?”(1)

Qua “Lời ngỏ” như vừa nhắc, nhất là câu: “Vòng đời rất công bằng. Chỉ còn cách tủm tỉm cười một mình mà thôi!”, là người đọc nhà quê già, tôi cảm thấy nụ cười “tủm tỉm” của tác giả  phảng phất chút gì rất hợp với tư tưởng Phật Giáo, vì : “… Thân thể trăm năm của cá nhân con người mình cũng theo định luật chung mà trôi qua như dòng nước. Đã không bám víu được vào sự vật bên ngoài, quay vào trong phản tỉnh, lòng tự hỏi lòng có chi tồn tại, không biến đổi, ngoài thời gian và không gian?” (Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử Tư tưởng Việt Nam).

Đó là phần mở đầu của cuốn sách. Bây giờ xin mời bạn thử lần tìm chút nắng, chút gió và cả chút mưa trong “Về Thu Xếp Lại” có gì vui, có gì thú vị ở đây chăng?

Vâng, thưa bạn, ngay phần một, tác giả ghi tựa “Cát bụi tuyệt vời…”. Và sao lại gọi là “Cát bụi tuyện với…” ?

“Cái hình ảnh lấy cát bụi vo thành môt cục rồi thổi vào đó một hơi dài để vươn vai lớn dậy làm người thì thật là thú vị. Thú vị ở chỗ nghĩ cho cùng, cái thân xác cát bụi kia một hôm trở về làm cát bụi thì đã là chuyện dĩ nhiên, đương nhiên, tự nhiên, sao còn sanh sự tào lao chi cho mệt. Có điều để cái “cát bụi tuyệt vời…” này trở thành “cát bụi mệt nhoài” thì lỗi tại ta. Ta có thể làm cho cát bụi trở nên “thú vị” được lắm chứ! … “

Vâng, là một người đọc nhà quê già, đôi lúc tôi cũng nghĩ như tác giả là thân phận con người chẳng khác nào là“cát bụi”, có đó rồi theo thời gian đến lúc trăm năm lại trở về với cát bụi thôi! Dù đời xưa hay đời nay, dù thời nào và ở đâu cũng vậy, hổng cách gì con người có thể vượt ra ngòai cái định luật tự nhiên của trời đất mà chối cãi được! Nhưng cái điều đáng nói ở đây là tác giả đã biết cách làm cho “cát bụi” phàm trần ấy trở thành “cát bụi tuyệt vời” ngay trong đời sống hiện tiền!

Bạn sẽ hỏi tôi, tác giả làm bằng cách nào chứ gì? Thì đây lá bí quyết mà Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chẳng hề giấu giếm dù anh  đã viết: “Nói không được. Bất khả thuyết. Không từ đâu đến/ chẳng đi về đâu. Nó Như Lai…”. Nhưng chính tác giả đã gợi mở ra cánh cửa giải thoát ngay trong phần này cho chính mình và cho người đọc: vì con người sở dĩ bị “mệt nhoài” là do những thứ như “thất tình lục dục, hỉ nộ ái ố…” đó thôi! Vậy thì theo tôi, chỉ còn cách mình phải dứt khoát buông bỏ ba cái lăng nhăng ấy thôi! Phải vậy hông?

Sau khi nhận ra được “Cát bụi tuyệt vời..“ như vậy, tác giả giới thiệu phần kế tiếp về tiến trình của tuổi già: “Tôi chợt nhìn ra tôi”:

“Chợt” là vì bất ngờ. Nhưng không phải bất ngờ vì tôi thấy tôi. Mà bất ngờ vì tôi chợt “nhìn ra” tôi. “Nhìn ra” khác với thấy. Nhìn ra là “quán”.  Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã chiếu kiến ngũ uẩn giai không… . Quán là thấy rõ (chiếu kiến). Tôi bấy giờ không còn là tôi bây giờ. Tôi bấy giờ là tứ đại, là ngũ uẩn. Và nếu quán một cách sâu sắc hơn, có thể thảng thốt kêu lên: “Bổn lai vô nhất vật”! (Lục tổ Huệ Năng).  

Cái thú vị ở đây là tác giả“chợt nhìn ra tôi” tức là nhận diện được chính mình một cách bất chợt, không có chuẩn bị gì ráo trọi! Xưa nay người ta thường nhận ra cái xấu, cái khuyết điểm, cái lỗi lầm, cái già của người khác nhưng ít khi nào có ai thấy được cái xấu, cái lỗi, cái già của chính mình! Do vậy theo tôi, tác giả bảo :“Tôi chợt nhìn ra tôi”, rồi : “Tôi thường tủm tỉm cười”, có nhiều hàm ý trong mấy từ ngắn ngủi ấy. Nó vừa là một tiếng lòng, vừa là tiếng than, vừa là một lời trách là sao tự bấy lâu nay ta không thấy ta già dần theo thời gian, mà phải đợi mãi đến hôm nay mới “chợt nhìn ra mình”? Có trễ lắm không hay vẫn còn là một may mắn là mình còn biết mình nay đã phong sương nhiều rồi để còn kịp “về thu xếp lại” nữa chứ! Phải vậy hông? Trong đời tôi chỉ sợ nhứt là mình không biết mình là ai đó thôi! Vì không biết mình lam sao biết người được! Có đúng vậy hông?

Hoặc một chỗ khác, tác giả cũng lại “cười” mình: “Nhiều khi, sáng dậy, nhìn vào gương soi tôi lại thấy tức cười. Tôi đó sao? Nhăn dần từng nét ngộ nghĩnh trên mắt trên da(…). Tôi tức cười nhìn mình. Nó nhìn tôi cũng cười. Ngộ nghĩnh. Cười mà ráng. Không ráng thì nó trĩu nặng.”

Với tuổi già đến nhanh và không trừ bất cứ ai, với tôi, một người bình thường, tôi biết vậy nhưng nhiều lúc lại sợ nó, sợ cái già tới mau quá nhưng vơi tác giả thì khác, anh lúc nào cũng bình thản nhận ra nó bằng nụ cười dù đôi lúc nụ cười ấy có chút gì xót xa, có chút gì ngậm ngùi…; nhưng phải công bằng nhận ra rằng tác giả là một mẫu mực của sự can đảm, của nhận thức về màu thời gian hằn lên da thịt con người qua những nếp nhăn một cách bình tĩnh và đặc biệt là anh cách để làm cho cái chút bụi, cái chút gió ấy trở nên thú vị !

Phần tiếp theo là “Về thu xếp lại… ngày trong nếp ngày”. Phần này cảm động là lúc tác giả kể lại những trường hợp chính anh bị bệnh và nhờ vậy mà tác giả lại mới nhớ lại mình:

“Nhưng bệnh cũng có cái hay của nó chứ. Nó làm cho ta nhớ lại mình…”

Và có lẽ phần dưới đây, cảm động cũng không kém:

“Cái thiếu lớn nhất của người già là thiếu bạn. “Trời cao đất rộng, một mình tôi đi/ đời như vô tận, một mình tôi về… với tôi!” (TCS). Từ ngày về hưu, bạn bè rơi rụng dần. Rơi rụng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Lâu lâu, dòm lại cái cuốn sổ danh mục ghi điện thoại đã thấy có nhiều địa chỉ chẳng biết làm sao liên lạc được nữa. Muốn xóa mà ngâp ngừng rồi không nỡ.”

Dường như ai ai mỗi khi trải qua bảy tám chục năm tuổi đời rồi vì hoàn cảnh này hoặc hoàn cảnh khác, lâu dần bạn bè “rơi rụng” nhiều, giống như tác giả tâm sự, muốn xóa đi một địa chỉ cũ, lâu rồi không còn liên lạc được nhưng trong lòng cứ “ngâp ngừng rồi không nỡ.” Riêng tôi, cũng gặp nhiều trường hợp khó xử như vậy! Dù tôi chẳng làm nên công lên chuyện xuống gì nhưng cũng có cuốn sổ điện thoại, rồi cũng ghi địa chỉ nữa; nhưng lâu quá tôi không còn liên lạc được với vài ba anh em trong cuốn sổ ghi chép ấy và đặc biệt có nhiều anh em nay các anh ấy dời chỗ nào rồi không biết hoặc có anh tôi biết chắc là nay ảnh không còn trên đời này, nhưng mỗi lần muốn lấy viết gạch bỏ số điện thoại ấy đi, tôi cũng không đành! Nghe sao cứ nao nao trong lòng!

Đến chương: “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi…”, tác giả kể về nỗi niềm trắc ẩn của chính mình mỗi khi nghe hoặc  nhìn thấy cảnh đời nhiều lúc rất quen nhưng không cầm được nước mắt cứ chực trào ra, không kềm giữ nổi:

“Tôi thấy mình càng già càng dễ xúc động. Cảm xúc rất mạnh. Mít ướt. Cảm xúc không bị bào mòn đi hay cùn nhụt đi, chai lì đi như vẫn tưởng…”

Vâng, tôi nay già cũng hơi bộn bộn rồi và tôi cũng “mít ướt” từ rất sớm, ở những năm vào tuổi 50, 60, hoặc 70 chứ đâu có già gì cho lắm như bây giờ mới mít ướt đâu! Về điều này, tôi rất đồng cảm với tác giả vì chính tôi nay chưa già bằng anh nhưng cũng đã bảy mươi mấy rồi và nhiều lúc đọc một câu chuyện kể về những đứa trẻ mồ côi rồi có người xin về nuôi, ba bốn chục năm sau, khi lớn khôn và thành nhân, thành tài rồi , đứa bé mồ côi ngày xưa ấy bỏ ra bao nhiêu năm lặn lội tìm lại được mẹ mình, cảnh sum hiệp, trùng phùng mẹ con mừng mừng tủi tủi ấy cũng làm tôi rơi nước mắt.

Hoặc nhiều năm gần đây cứ mỗi lần nghe lại một bài nhạc hợp với tâm cảnh của mình tôi cũng khóc được; khóc một cách tự nhiên không gì kềm giữ được! Chẳng hạn như khi nghe lại bản “Tám Điệp Khúc” của Anh Việt Thu tôi nhớ hồi mới quen bà xã tôi, ngày nào trước căn nhà ở đường NCC (Quận nhì, Sài Gòn), phía trước nhà có một nhà hàng xóm lúc nào cũng mở máy thu băng bản nhạc ấy, nghe riết rồi như ghiền, rồi sau này cử mỗi lần ở đâu chăng nữa hễ nghe bản nhạc ấy là nhớ những ngày yêu dấu tuyệt vời của mình; vậy mà rồi tôi cũng không cầm được nước mắt! Nhiều lắm những nhạc phẩm như thế, cảm động lắm! Nói gì nguyên bản nhạc thì vậy, đằng này chĩ vài chữ dùng thôi như chữ “tà dương” trong nhạc phẩm “Chuyến tàu hoàng hôn”, hổng biết sao cứ nghe đến hai chữ “tà dương” thôi là tôi bị như ma hút hồn mình, tôi trầm ngâm một mình và rưng rưng nước mắt!

Thêm nữa, tôi hoàn toàn đồng ý và cảm ơn tác giả về nhận định này:

“Tình yêu lãng mạn có ý nghĩa rất lớn ở người có tuổi. Như “nuôi sống” họ bằng tình yêu (…)  Thứ “romantic relationships” này là những “hỗ trợ xã hội” tuyệt vời nhất, xúc chạm, thân mật, gần gũi càng già càng thấy cần hơn, nhất là khi người ta cảm thấy cô đơn hay đau khổ vì một lý do nào đó cần chia sẻ. Người phối ngẫu lúc đó cũng đã trở thành một người bạn thiết. Tuổi trẻ, tình yêu gần gũi với tình dục, nhưng tuổi già, tình yêu trở nên đằm thắm, tình yêu của từ bi hỷ xả, của bè bạn, cùng sến già nam và sến già nữ cho nhau!”

Dù nhỏ hơn tác giả vài ba tuổi, nhưng thực sự tôi cũng biết được giá trị của lời nhận định vừa rồi của tác giả bởi một lẽ giản dị là vì “…tuổi già, tình yêu trở nên đằm thắm, tình yêu của từ bi hỷ xả, của bè bạn, cùng sến già nam và sến già nữ cho nhau!”

Đến chương: “Người đã đến và người sẽ về bên kia núi”, tác giả giúp người đọc nhận ra đâu là thật, đâu là giả trong cõi trăm năm này của một đời người.

“Đời sống sinh vật thay đổi từng sát na, không bao giờ đứng yên một chỗ, lẽ nào tái sinh lại y chang như cũ? Có điều những nguyên liệu cứ hủy, tan rã rồi lắp ráp lại nên một hình tướng mới. Cho nên mới bảo nó chỉ là “giả tướng” tạm bợ vậy thôi. Thấy “như thật” là thấy cái thực tướng vô tướng đó. Thỉnh thoảng ta gặp một ai đó thấy như đã quen từ lâu, như đã có hẹn hò từ muôn kiếp trước… thì cũng đừng có ngạc nhiên!“

Vâng, những suy tư vừa rồi của tác giả về một chu trình khép kín ấy rất hợp với tư tưởng Phật Giáo mà Thượng Tọa Thích Thiên Ân cũng có nhắc:

“Theo Phật-giáo thì vũ trụ nhân-sinh đều là do nhân-duyên hòa-hợp với nhau mà sanh, không có một vật nào thật-có cả. Nhân-duyên hòa-hợp ở đây là chỉ trạng-thái hòa-đồng tương-hợp giữa hai phần thể-chất và tinh-thần (con người), vật-thể và hình –thể (sự-vật), hay nói đúng theo danh-từ của Phật-giáo là Tứ-đại và Ngũ-uẩn hòa-hợp lại mà thành, nên tất cả đều là vô-thường, giả-huyễn, hữu-hạn và đau khổ.“(2)

Ở chương :“Chìm dưới sương thu là một đóa thơm tho…”, tác giả đã đặt ra nhiều câu hỏi thú vị về sự hiện diện của con người trong trời đất này, và dĩ nhiên, phải là người dày dạn kinh nghiệm và lịch lãm mới có những ý tưởng thâm trầm như vậy được.

Chẳng hạn, tác giả viết:  “Tôi ngờ rằng có một phần thưởng quý giá nào đó cho kiếp nhân sinh, mà thiên nhiên đã mất công tạo ra, không thể nào có một mục đích duy nhất là làm cho nó phải khổ đau từ lúc sanh đến lúc bệnh, lão và tử. Điều này hoàn toàn vô lý. Bởi nếu vậy thì thiên nhiên đã không tạo ra vạn vật, nhất là sinh vật.”

Vâng, với ý tưởng mà tác giả vừa nêu trong phần này quả đúng là chẳng lẽ hóa công tạo ra con người, ra vạn vật để rồi hành hạ nó, bắt nó khổ đau chơi cho vui hay sao? Có cha mẹ nào sanh con cái ra mà không muốn con cái khỏe mạnh, mau lớn, mau khôn, thông minh và sáng dạ đâu? Chắc chắc là có rồi! Có cha mẹ nào đành đoạn bắt con cái đói khát, ngu dốt, lang thang đầu đường xó chợ không? Chắc chắn là không rồi! Điều này nếu có, quả là rất vô lý! Bởi lẽ tạo hóa, trong đó có các đấng trời cao sở dĩ được người ta tôn thờ là vì người ta tin tưởng các đấng ấy yêu thương mọi sinh vật kể cả con người!

Để giải thích thêm cái ý hóa công có phần thưởng nào cho mọi sinh vật trong trời đất không, tác giả đặt ra nhiều câu hỏi có ý tìm hiểu mà cũng đượm chút gì trách móc hóa công:

“ Thử nhìn xem, vạn vật luôn đẹp đẽ, sinh vật luôn đẹp đẽ muôn màu muôn sắc, Hai con bọ ngựa yêu nhau, ve vãn nhau, giao hợp, xong con đực chết ngay và trở thành thức ăn cho con cái. Con cái mang cái trứng đã thụ tinh, nuôi nấng và sinh sản, xong cũng chết. Nếu chỉ làm cái việc giao hợp rồi chết như con bọ ngựa hay những con ong đực, thì nhiệm vụ duy nhất của nó chỉ là làm vật trung gian, truyền giống, khi hoàn thành nhiệm vụ thì không có lý do gì để tiếp tục tồn tại. Vậy thì ít ra phải có chút tưởng thưởng gì cho cái vất vả của nó chứ? Có lẽ vì thế mà thiên nhiên đã tặng cho nó chút khoái lạc trong lúc giao hợp. Nhưng sự giao hợp là sự truyền trao chủng tử, còn chuyện “bố thí thân mạng” kia có ý nghĩa gì không? Có được tưởng thưởng gì không?”

Còn nhiều câu hỏi khác mang tính triết học liên quan tới việc ăn, việc ngủ, về khoái lạc, về nguồn gốc con người, về cái sống, và cả về cái chết nữa. Nhưng thôi, tôi xin dành lại cho bạn để bạn tìm đọc cho vui!

Ở tiêu đề “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt”, tác giả dẫn người đọc về một chương với tính tương sanh tương hợp giữa thiên nhiên và con người qua cái nhìn của Phật Giáo. Có thể nói đây là một chương đượm màu sắc triết học Phật giáo rõ nhất trong tác phẩm “Về Thu Xếp Lại” qua kiến giải của một “hành giả” đã thấm nhuần  tư tưởng Phật giáo như tác giả, quả là một bài học rất quý báu cho những ai muốn tìm hiểu về các giá trị đích thực của đời sống hiện hữu này vậy! Chẳng hạn, tác giả bàn qua về “Minh và vô minh”, về “Những gì là hạt giống Như Lai?”, về phiền não, về bịnh, về thực tướng vô tướng, về chân không diệu hữu, về ma, về kiến tánh, về luân hồi sanh tử, về nghiệp báo oan gia, về Phật và Như Lai…

Tới chương “Trời cao đất rộng một mình tôi đi…” , tác giả lại khai triễn thêm về hơi thở và  thiền, … Quả thật đây là cả một quá trình tu tập khá lâu dài và tôi khoái nhất câu này: “Chẳng ai có thể thở giùm ai được đâu. Chẳng ai có thể “thiền” giùm ai được. Cho nên phải quay về nương tựa chính mình “một mình tôi đi, một mình tôi về… với tôi” mà thôi. “

Ở phần cuối: “Để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười… “, tác giả đã tìm ra phương pháp, tự nhận và biết mình rõ hơn qua nền tảng kiến thức y học mà tác giả đã học và kinh nghiệm mấy chục năm trong nghề bác sĩ: “Cái nền tảng kiến thức y học cũng giúp soi sáng nhiều điều, và ngược lại học Phật đã giúp tăng cường hiệu quả cho y học nhờ tiếp cận toàn diện, thân tâm, khổ đau, bệnh hoạn…”.

Và trước khi kết thúc, tác giả đã viết:

“Khi chưa hiểu thì tất cả những điều này có vẻ bất thường, kỳ cục, vô lý, khi hiểu được rồi thì thấy nó quá rõ ràng, chính xác, hoàn toàn hợp lý. Nhờ đó, có thể thấy xuyên suốt những pháp này pháp nọ, tông này tông kia chẳng qua cũng chỉ là một.

Không phải là lý thuyết suông, mà là sự thực nghiệm, thể nghiệm ngay trên bản thân mình.  Hãy đến và nếm thử. Mô tả không được! Nếm trải mới biết. “

Tóm lại, nếu quả đúng “văn là người”, thì  qua tác phẩm “Về Thu Xếp Lại”  với một bút pháp đặc biệt rất đặc thù của Đỗ Hồng Ngọc: nó giản dị mà hàm súc, chất liệu thì trữ tình, thành thật, cảm động, và đôi khi pha chút dí dỏm trong cách dùng chữ mà ý nhị, thâm trầm đã có thể cho chúng ta thấy được một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc dày dạn kinh nghiệm trong tu tập và lịch lãm trên đường đời; mặt khác, ở đây nó còn thể hiện rõ đức tính và phong cách một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn thương mình, luôn yêu người, và nhất là yêu cuộc sống này với tất cả sự đam mê, lạc quan và tha thiết! Có lẽ nhờ vậy mà ở tuổi tám mươi tác giả vẫn yêu đời và tôi chưa thấy anh già chút nào!

 

Hai Trầu, Lương Thư Trung

Houston, ngày 31 tháng 03 năm 2019

 

……………………………………………………………..

1&2/ Trích trong quyển “Giá Trị Triết Học Tôn Giáo Trong Truyện Kiều” của Thương Tọa Thích Thiên Ân, Giáo sư Tiến Sĩ Đại Học Văn Khoa và Vạn Hạnh (Sài Gòn), nhà xuất bản Đông Phương (Sài Gòn), năm 1966, các trang 32-33.

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Thị Tịnh Thy trên FB: “VỀ THU XẾP LẠI…”

03/04/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“VỀ THU XẾP LẠI…”

FB Nguyễn Thị Tịnh Thy

(Thứ sáu, 29.3.2019)

 

(ảnh: kinhtethoidai)

 

Ở tuổi 55, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc bần thần viết “Gió heo may đã về”, đến 60 thì viết “Già ơi… chào bạn!” như một reo vui, đến 75 còn… ráng viết “Già sao cho sướng?…” để sẻ chia cùng bè bạn đồng bệnh tương lân. Nhưng 80 thì thôi vậy. Đã đến lúc phải “VỀ THU XẾP LẠI”.
“Về thu xếp lại”… bởi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”…, “giật mình ôi chiếc lá thu phai”…
“Về thu xếp lại… bởi “cát bụi tuyệt vời” đã chuyển thành “cát bụi mệt nhoài”
“Về thu xếp lại…, “một ngày kia đến bờ”…, “đời người như gió qua”.
Hãy đón nhận ngày đó một cách bình thản, an nhiên như “mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi; mệt quá thân ta này, nằm xuống với đất muôn đời…” Có gì đâu! Nhẹ tênh mà!
Lấy cảm hứng từ những ca từ đầy tính triết lý phận người nhẹ nhàng mà sâu sắc của Trịnh Công Sơn, Đỗ Hồng Ngọc sẽ đưa chúng ta đến với các U80 bằng y học, tâm lý học, Phật học… trong dặt dìu của âm nhạc, thi ca.
Dí dỏm, duyên dáng, chất khoa học đan quyện trong chất nghệ thuật, sự nghiêm trọng chuyển tải qua các ngôn từ hài hước của cuốn sách nhỏ sẽ giúp những người già dễ dàng lắng nghe chính mình. Và đặc biệt, người trẻ sẽ hiểu hơn về người già.
Hiểu gì?
Hiểu rằng người già khó ăn, khó ngủ, khó tính, … nhưng lại dễ yêu: “…Có vẻ như càng già người ta càng yêu nhiều hơn, yêu vội hơn và càng yêu thì càng “sống khỏe sống vui” hơn! Khi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội” thì mới thấy còn có bao nhiêu thời gian để yêu thương và được yêu thương? Dĩ nhiên, tình yêu bấy giờ có thể chỉ là một mối tình lãng mạn, hoặc một mối tình “ngỡ đã quên đi/ bỗng về quá rộn ràng”… để rồi “như bờ xa nước cạn/ đã chìm vào cơn mơ”. Tình yêu lãng mạn có ý nghĩa rất lớn ở người có tuổi. Như “nuôi sống” họ bằng tình yêu. Hình như họ chỉ giữ được chút kích thích tố vừa đủ để “lãng mạn” cho cuộc đời đẹp ra, đáng sống hơn, sức khỏe cũng tốt hơn vì nó làm cho tim đập nhanh hơn, tuần hoàn não tốt hơn, trí tuệ minh mẫn hơn, hệ thống miễn dịch hoạt động tốt hơn, ít bệnh vặt hơn và nếu có bệnh thì rất mau lành!”
Có chắc như thế không nhỉ? Các anh chị em Tag vào Facebook của ông bà nội, ông bà ngoại xem các cụ comment thế nào nhé! ️🤣
****

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

Thư gởi bạn xa xôi (1.3.2019)

01/03/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thư gởi bạn xa xôi (1.3.2019)

“Về thu xếp lại…”

Đúng là lúc đầu, tập “tản văn” này mình lấy Tựa là “Một ngày kia đến bờ” và post lên dohongngoc.com một vài đoạn… để bạn bè mình xem thử. Không ngờ dù đã “rao trước” chỉ dành cho ” người cao tuổi”, trên dưới 70 mới nên đọc mà các bạn trẻ cũng đọc, rồi kêu bác đổi tựa đi, tựa này nghe đầy “hù dọa”, bác nghĩ coi, con để cuốn sách này trong túi xách, đặt trên bàn, hay cầm trên tay vào quán càphê thì người ta dòm con… ra sao?

Vì thế mình đã đổi Tựa là: “Về thu xếp lại…. ” cũng là một ca từ của Trịnh. Một bạn trẻ viết: Tựa này con nghe thân mật, gần gũi hơn, cũng nhắn nhủ đó, nhưng nhẹ nhàng, không “hù dọa”…

Thiệt ra, lúc đầu khi viết, nghĩ viết để mình mình đọc, để tự “nhắc nhở” mình: Gate, Gate, Paragate, Parasamgate… thôi.

Nhưng đúng là “Về thu xếp lại…” có vẻ nhẹ nhàng hơn, dù cuối cùng thì “thu xếp lại” cũng là để “đến bờ” mà, phải không?

Thế rồi, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp. HCM, nơi trước đây đã in Gió heo may đã về, Những người trẻ … lạ lùng, Già ơi… chào bạn!… đã sẵn sàng để in “Về thu xếp lại…”.

Gởi bạn cái bìa… coi trước cho vui.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay

“Về thu xếp lại…” (kỳ 5, tiếp theo và hết)

26/02/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

“Về thu xếp lại…”

(kỳ 5, tiếp theo và hết)

Đỗ Hồng Ngọc

 

tranh Lê Ký Thương

 

9.      Trời cao đất rộng một mình tôi đi…

 

“Đời như vô tận, một mình tôi về,

 Một mình tôi về với tôi…”

 (TCS).

 

Ở một nơi không có thời gian, không có không gian, không còn ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả gì nữa cả, thì nơi đó chính là Chánh định (Samadhi). Thiền là “kỹ thuật” để đạt tới chánh định.

Bí quyết thực hành căn bản nằm ở Tứ niệm xứ (Satipathana), bốn lãnh vực quán niệm. Có rất nhiều phương pháp hướng dẫn cụ thể trong Tứ niệm xứ. Nhưng tôi chỉ chọn một phương pháp đơn giản nhất nhưng cũng sâu sắc nhất, khoa học, sinh lý học đúng đắn nhất, không sợ “tẩu hỏa nhập ma” lúc thực hành. Đó là Anapanasati: Quán niệm hơi thở (Nhập tức xuất tức niệm/ An-ban thủ ý). Chỉ cần niệm (nhớ, nghĩ) hơi thở vào hơi thở ra… đủ “thấy biết” kiếp người chỉ nằm trong từng hơi thở đó. Người ta cứ sống chết mỗi phút giây như vậy mà chẳng biết. Khi niệm, tức nhớ nghĩ đến cái thở, cái sống cái chết thì thấy… thì ra ai cũng như mình, cũng hít thở như mình, rồi cũng… chết ngủm như mình. Tất cả các sinh vật đều vậy. Từ đó mà có Từ, có Bi. Từ Khí đã chuyển thành Trí. Anapanasati là đã đủ để thực hành (Ana: thở vào; Apana: thở ra; Sati: niệm), nhưng theo tôi cần để ý đến một điểm quan trọng khác nữa. Đó là khoảng trống – một quãng lặng – ở giữa lúc thở ra mà chưa thở vào. Nó thực sự là một quãng “chết” (không thở). Để cho dễ nhớ trong thực hành, tôi đặt tên nó là “Pranasati” (Pra=trước; Ana=thở vào; Sati=niệm). Trước thời thở vào có nghĩa là sau thời thở ra. Thở ra vĩnh viễn mà không thở vào nữa chính là cái chết. Đặt niệm vào quãng lặng đó để “thấy biết” (cảm nhận) một cái chết ngắn. Như là một sự “tập chết”. Trở về thời bào thai trong bụng mẹ. Ở đây là mẹ Như Lai, “bào thai Như Lai”. Loài người có trí thông minh vượt trội là nhờ vỏ não phát triển, với hàng trăm tỷ tế bào thần kinh, hàng trăm nghìn tỷ tỷ các mối nối… dày đặc nhưng sự điều hành hô hấp của ta lại không nằm ở vỏ não. Nó nằm ở hành tủy, dưới vỏ não. Các trung khu hô hấp nằm ở đó, điều hành sự thở. Vì thế mà dù vỏ não không hoạt động (ngủ, hôn mê…)  thì sự thở (hô hấp) vẫn được duy trì. Khi tập trung (sati) vào hơi thở là ta đã giải phóng cho vỏ não được nghỉ ngơi! “Tâm an” nhờ đó.

Thực ra ở giai đoạn thiền cao hơn, thì chẳng còn cần phải để ý, đặt niệm vào hơi thở vào, hơi thở ra, hay quãng lặng gì nữa cả. Thở sẽ tự động điều chỉnh theo nhu cầu năng lượng của hành giả. Nhu cầu năng lượng này rất thấp nên nhiều khi ta thấy hành giả thở như “sợi chỉ”, gần như không cần thở nữa. Cảm nhận lúc đó như tan vào hư không. Không còn ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả gì nữa.

“Quán niệm” hơi thở chính là “thiền quán” (vipassana). “Quán” là không còn “dõi theo” hơi thở đơn thuần nữa (giai đoạn chánh niệm) mà đã có sự phân tích, soi sáng (quán chiếu) dưới nhiều góc cạnh khác nhau để nhìn cho ra những điều mà bình thường không “thấy biết”. Cái thấy biết bấy giờ đã vượt khỏi cái trình hiện, cái giả tướng bên ngoài để nhìn được cái thực tướng bên trong, bờ bên kia.

Vi, tiếp đầu ngữ có nghĩa là “một cách khác”, “một cách đặc biệt”, còn passana là “thấy”, là “biết”. Vipassana là thấy biết một cách khác, một cách đặc biệt!

Một chiếc lá vàng rơi, người thi sĩ có thể thấy cả mùa thu, thấy con nai vàng ngơ ngác, thấy mùa thu không trở lại nhưng người có quán chiếu lại thấy sự vô thường, vô ngã, sự bất sinh bất diệt…

Khi vào sâu trong định, hành giả sẽ không cảm nhận mình thở nữa. Hơi thở nhẹ gần như ngưng. An tịnh. Hòa tan. Tan biến. Đó chính là quãng lặng ở cuối thì thở ra – thường kéo dài, thong dong, nhẹ nhàng, yên tĩnh, vì không tốn năng lượng. Như chim lượn bay, không phải vỗ cánh, như xe ngon trớn chạy ở số không, không tốn nhiên liệu! Đó chính là giai đoạn “Prana”. Khi cơ thể đã chùng xuống, thả lỏng toàn thân thì tiêu hao năng lượng đã giảm một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ bớt nhu cầu phải cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn! Ăn ít mà vẫn đáp ứng thì cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc. Các nghiên cứu trên sinh vật cho nhịn đói vừa phải thì thấy sống lâu hơn và trẻ hơn!

Ai có thể thở giùm ai? Ai có thể thiền giùm ai? Cho nên chỉ có thể nương tựa vào chính mình thôi. “Duy ngã độc tôn” thôi vậy!

Thiền tập là đẩy cái “thân hơi” ra khỏi cái “thân xác”. Thân xác là cát bụi, là tứ đại, đất nước gió lửa, là cái “sắc”, thô phù, còn “thân hơi” là phần “thọ tưởng hành thức” trong cái gọi là “ngũ uẩn” của cái ta .

Có lần tôi viết:

“Lắng nghe hởi thở của mình

Mới hay hơi thở của nghìn năm xưa

Một hôm hơi thở tình cờ

Dính vào hạt bụi thành ra của mình

Của mình chẳng phải của mình

Thì ra hơi thở của nghìn năm sau”...

(ĐHN)

Nói tình cờ chớ chẳng phải tình cờ chi đâu, do duyên, do nghiệp cả đó thôi. Nói cho cùng thì cái thân hơi – hơi thở – kia là của ngàn năm trước, ngàn năm sau, chớ chẳng phải của ta, riêng ta gì đâu. Đừng tưởng bở! Nó đến nó đi vô tình, ngạo nghễ. Nó Như lai. Không phân biệt.

 

Tôi ngờ rằng thiền là kết quả của một tình trạng “thiếu dưỡng khí’ tế bào. Ở một mức độ vừa phải, sự thiếu dưỡng khí đó cho phép tế bào nghỉ ngơi. Khi cơ thể không cần quá nhiều năng lượng dùng cho sự co cơ (tonus musculaire), khi trí não (vỏ não) không còn tiêu tốn quá nhiều năng lượng cho những chuyện không đâu, thì cơ thể không cần phải hấp thu nhiều Oxy nữa, thở sẽ rất nhẹ, tối thiểu, chỉ để duy trì chuyển hóa cơ bản (métabolisme basal) lúc này cũng đã giảm thiểu. Các tế bào toàn thân được “xả hơi’ không phải vất vả, hùng hục làm việc. Mitochondrie (bộ máy sản xuất năng lượng trong từng tế bào) cũng sẽ giảm hoạt động, nghỉ ngơi. Tình trạng đó có thể xem như cơ thể đang sống trong trạng thái yếm khí, co cụm lại, thành một “bào tử” (spore) để tự bảo vệ, sống dai, khó bị hủy bởi môi trường. Nhiều hành giả thích tu tập trên núi cao, ở đó Oxy rất loãng, và họ thường không sợ lạnh, có khi họ ngồi thiền giữa tuyết giá như ta từng biết.

Trạng thái “thiếu oxy” giống như bệnh nhân bị sốt rét Plasmodium falciparum, vỡ hồng cầu hàng loạt. Tôi có kinh nghiệm sốt rét rừng trong nhiều năm, ở vùng Bình Châu, Láng Găng, Bưng Riềng, Rừng khỉ… khi theo cha tản cư về sống ở đó. Khi ông mất, tôi mới về thành phố. Những cơn sốt rét nhức đầu, nóng dữ dội rồi run bần bật, toát mồ hôi lạnh ngắt… và sau đó thấy sảng khoái, thân thể nhẹ nhàng, lâng lâng như đi trên mây do thiếu máu tán huyết (!). Dĩ nhiên, đó là do không còn đủ lượng hồng cầu để chuyên chở oxy cho cơ thể. Mỗi cơn sốt rét  thường kéo dài cả tiếng đồng hồ, sau đó, cơ thể rả rời, chóng mặt thường xuyên vì thiếu máu. Nhiều năm sau, coi như sống sót, lá lách sưng to. Sau này, khi đã là bác sĩ, tôi khám bệnh cho mấy bé ở vùng sốt rét về chỉ cần nghe người nhà nói bé bị “thư” một con rùa vào bụng thì đã biết là sốt rét, lá lách sưng to, có ngằn, có cạnh, lớn độ 3, độ 4 có thể vượt qua rún, sờ thấy như mu một con rùa đang bơi trong ổ bụng vậy.

Điều muốn nói ở đây là cái cảm giác “sảng khoái” lâng lâng, bay bổng, sau cơn sốt rét như thế, do hồng cầu bị vỡ (tán huyết), do cơ thể thiếu Oxy chẳng khác hành giả ngồi thiền, có thể gọi là “thiền duyệt” chăng?

Thiền sâu sẽ không còn vướng vào hơi thở vào (ana) thở ra (apana) hay quãng lặng (prana) gì nữa. Lúc đầu có năng có sở. Năng là chủ thể (hành giả), sở là đối tượng (hơi thở). Khi vào sâu trong định, chánh định (samadhi), thì không cần để ý gì đến hơi thở nữa. Kệ nó. Nó biết phải làm gì. Nghĩa la chẳng còn “năng” còn “sở” gì nữa, gọi là “năng sở song vong”. Chẳng còn trâu chẳng còn người chăn gì nữa cả. Trâu cũng mất mà người chăn cũng mất.

“Tam-ma-địa”, phiên âm Samadhi là Chánh định trong Bát chánh đạo. Nghe cứ rờn rợn như “đất của ba con ma” nào đó vậy.  Nhưng hiểu “đất của ba con ma” cũng hay chứ! Ma tham, ma sân và ma si.  “Một ông Phật hiện ra / Ba con ma biến mất!” như một bài đồng dao trẻ con thường hát! Nơi nào ông Phật hiện ra thì “ba con ma” tham sân si phải biến mất thôi! Hay nói cách khác, nơi nào có “ba con ma” hiện ra thì lập tức có ông Phật xuất hiện. Nếu chẳng có ba con ma Tham, Sân, Si thì Phật hiện ra làm gì cho mất công! Cho nên muốn biết Phật ở đâu thì hãy tìm trong… tham sân si. Tham sân si càng lớn, Phật càng to.

Mỗi tế bào là một sinh vật. Chúng cũng sanh trụ dị diệt. Tế bào sinh vật có bộ phận tự sản xuất năng lượng để sử dụng cho mình. Oxy được mao mạch mang đến tận nơi, thức ăn dưới dạng đường glucose mang đến tận nơi, và mitochondrie lo sản xuất năng lượng. Hôm nào thiếu Oxy thì sẽ tìm cách xoay sở để có năng lượng tối thiểu cần thiết dưới một dạng chuyển hóa khác. Một vài loại vi khuẩn khi thiếu Oxy thì co cụm lại, gom tụ lại để tồn tại. Gọi là những “bào tử” (spore). Chúng sống rất dai và bền vững ở môi trường thiếu Oxy đó. Thí dụ loại vi khuẩn clostridium. Ta biết sự hô hấp thực sự xảy ra trên từng tế bào chớ không phải ở phổi. Phổi chỉ là cái ống thụt… dùng để hút khí, bơm khí, nhờ máu chuyển khí đến từng tế bào. Cho nên nói rằng trong Thiền, ta có thể đưa tâm ta, ý chí ta đến từng tế bào để an ủi, khuyến khích, chữa trị khi cần không phải là chuyện nhảm nhí.

Thú vị là thai nhi trong bụng mẹ không cần thở! Suốt chín tháng mười ngày nằm đó, lớn nhanh như thổi mà không cần thở lấy chút nào! Chỉ khi sanh ra khỏi bụng mẹ mới bắt đầu hơi thở đầu tiên bắng tiếng “khóc chào đời” đầy thi vị.

Thai nhi cũng có phổi, nhưng là một cái phổi xẹp lép, để dành đó, như người lính nhảy dù đeo trên lưng chiếc dù xếp gọn, sẵn sàng bung ra bọc gió khi tung mình ra khỏi phi cơ. Tất cả nhu cầu năng lượng để hình thành và phát triển của thai nhi được cung cấp từ bào thai của mẹ.

Vì sao Khí mà có thể trở thành Trí? Khí trong trường hợp này chỉ là một phương tiện, là công cụ để đạt đến trạng thái Vô Ngã. Chánh tri kiến, “thấy biết” ở đó. Cho nên Chánh định sẽ dẫn đến Chánh kiến. Từ đó sẽ có Chánh tư duy, nghĩ đúng và làm đúng, sống đúng với… chánh pháp, tự tại, an vui.

Nhiều hành giả chưa vượt qua được cái ngưỡng để “thấy biết” trọn vẹn các pháp. Vượt qua cái gì? Qua bờ bên kia. Paramita. Vực thẩm. Hố thẩm. Đó là điểm không đòi hỏi tốn năng lượng, là điểm giao thoa giữa âm và dương, áp suất trong hô hấp bằng không. “Thân nhẹ nhàng như mây”. Điều quan trọng, ý thức vẫn sáng suốt, không phải là hôn mê, vô thức, mà hoàn toàn tỉnh giác, thấy mình hòa vào vũ trụ, vũ trụ với mình như một. Thế, tôi có đạt tới điểm này chưa? Dạ thưa, chưa!

Đó là điểm mà Quán Tự Tại Bồ-tát đã “chiếu kiến ngũ uẩn giai không” (thấy rõ ngũ uẩn đều không có tự tánh riêng) nên đã “độ nhất thiết khổ ách” (vượt tất cả mọi khổ đau ách nạn) vậy.

Chẳng ai có thể thở giùm ai được đâu. Chẳng ai có thể “thiền” giùm ai được. Cho nên phải quay về nương tựa chính mình “một mình tôi đi, một mình tôi về… với tôi” mà thôi.

Phải “duy ngã độc tôn” thôi!

 

…………………………………………………………………………………….

 

 

10.  Để lại trong cõi thiên thu hình dáng nụ cười…

 

“Bên trời xanh mãi 
Những nụ mầm mới…” 

(TCS)

Hỏi vậy chớ học Phật mấy năm qua thì đựơc gì? Được nhiều lắm chứ. Thứ nhất là ăn được, ngủ được, tức ăn ngon, ngủ yên, làm việc, nghiên cứu giảng dạy viết lách ít mệt mỏi, suy nghĩ tập trung tốt… Sau đó biết thưởng thức cuộc sống hơn, bớt lo toan, bớt tính toán, bớt sợ hãi… Nhìn mọi sự thoáng hơn, biết con người có đến năm mắt (ngũ nhãn), biết con người có đến sáu nẻo đường (lục đạo) để mà chọn lựa tùy nghi. Biết những phương pháp thực hành, rèn luyện thân tâm, như Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Lục độ ba-la-mật các thứ và thử nghiệm trên chính bản thân mình rồi rút ra bài học thực tiễn, không lý thuyết viễn vông. Nghiền ngẩm, thể nghiệm và sau đó chia sẻ cùng người khác. Đó là một cách học tốt. Càng về sau tôi đọc các kinh sách thấy trơn tru, dễ dàng hơn, biết chỗ đúng sai, biết chỗ bày đặt, thêm thắt, phiền não, mê tín dị đoan… Kinh sách chân chính luôn có sự nối tiếp hay rộng mở một cách nhất quán, không phân biệt. Thấy tám vạn bốn ngàn pháp môn tông phái gì đó chỉ là một. Đọc kinh sách thấy thú vị như đọc truyện tình cảm, trinh thám, kiếm hiệp thuở xưa. Khi viết ra những điều ngẫm ngợi, thể nghiệm, thì đó là một cách để học hỏi sâu hơn.  Mỗi khi bí thì lạ thay như được ai đó chỉ bày, qua một sự kiện, một bài viết, một gặp gỡ ngẫu nhiên tình cờ nào đó làm tôi cũng chưng hửng.

Cái nền tảng kiến thức y học cũng giúp soi sáng nhiều điều, và ngược lại học Phật đã giúp tăng cường hiệu quả cho y học nhờ tiếp cận toàn diện, thân tâm, khổ đau, bệnh hoạn…  Các “hạnh bồ-tát” không xa lạ với tham vấn trong y học, tâm lý học. Những hình tượng Bồ-tát gần gũi biết bao! Nào trung thực, chân thành, “ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng” như Dược Vương; nào tôn trọng, không phân biệt đồi xử, như Thường Bất Khinh; nào lắng nghe, thấu cảm, ngàn mắt ngàn tay như Quán Thế Âm với nhành dương liễu, bình tịnh thủy… Rồi nào “tam Thân tứ Trí” để rèn tập cho có diệu quan sát trí, nhất thiết chủng trí, để nhìn thấy  rõ Pháp thân với tâm bình đẳng. Rồi nào Từ nào Bi nào Hỷ nào Xả… Nhìn rõ cái vô thường, khổ, không, vô ngã, duyên sinh, thực tướng vô tướng… trong mọi sự vật, hiện tượng. Các pháp vận hành tự nó tròn đầy trong cuộc sống. Điều quan trọng của học Phật là hành, là “văn tư tu”, là giới, định, huệ. Có hành thì mới nên hạnh, có hạnh mới nên…duyên.

Tôi thấy mình đến với Phật giáo không chút ngại ngần, khó khăn, mà như một sự trở về chốn thân quen. Tôi hiểu Phật vì sao phải dạy từng bước với Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên… các thứ, để rồi rốt cuộc khẳng định “Ta chưa từng nói một lời nào, chưa từng dạy một điều chi. Mọi thứ đều sẵn đó rồi!”. Vô trí diệc vô đắc (Tâm kinh). Tôi hiểu vì sao Phật tự xưng mình là Như Lai, bởi chỉ có xưng là Như Lai thì mới không còn thấy có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả gì nữa! Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai.  Nhân vô ngã và pháp vô ngã như hai cánh của một con chim hồng bay vút vào hư không. Từ đó, tôi chú ý những chuyện lặt vặt của Phật như cách ăn, cách ở, cách đi lại, nói năng… nôm na là cách sống. Nhờ nền tảng y học, tôi thấy vô thường, vô ngã, duyên sinh… không khó. Đừng tìm kiếm đâu xa cho mất công. Cứ “nương tựa chính mình” là đủ. Những môn Cơ thể học, Tế bào học, Sinh lý học, Di truyền học, Phôi thai học, Bệnh lý học… qua cái nhìn Phật học cũng đủ để giúp tôi “thấy biết” (Tri kiến).

Tôi “đặc biệt” coi kỹ cách Phật dạy con… ruột của Ngài: La-hầu-la ra sao. La-hầu-la là người con huyết thống, lúc Phật còn là Thái tử, quy y theo Phật từ lúc 7 tuổi. Phật giao ngay cho ông “thầy dạy kèm” là Xá-lợi-phất, vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Ngài. Ngài không giao cho Mục-kiền-liên, đệ tử bậc nhất về thần thông vì sợ La-hầu-la mê thần thông, quên trí tuệ.

La-hầu-la được dạy thở trước hết, sau đó mới dạy cách nhìn đời: “không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta” để từ bỏ tham sân si, đi vào Giới Định Huệ. Thở là cho thân và cách nhìn đời là cho tâm. May thay, tôi đến với Phật không có thầy. Nếu có thầy thì đã phải suy nghĩ thực hành theo thầy! Không có thầy nên tôi cứ nhởn nhơ như không. Chỉ cần nắm lấy cái cốt lõi.  Tuy vậy, tôi phục Duy-ma-cật, Huệ Năng, Tuệ trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông… Họ đúng là Bồ-tát, đem đạo vào đời, đem an lạc hạnh phúc đến cho mọi người. Tôi học Phật thấy… không khó.  Tôi học Tâm kinh và thấy mình hiểu Bát Nhã (Prajna paramita) không khó.  Không có tự tánh riêng biệt, Duyên sinh, Vô ngã, Thực tướng vô tướng… Cho nên núi Tu-di to đùng kia có thể cho vào đầu hạt cải, nước bốn biển mênh mông kia có thể cho vào một lổ chân lông, “bố thí thân mạng” mỗi ngày nhiều như cát sông Hằng… không khó hiểu. Prajna (Bát nhã) là cái thấy biết “như thật”, cái thấy biết hiện tiền, thấy tròn đầy sự vận hành của pháp, không có sự can thiệp của cái ta tích cóp, cái ta học tập, cái ta thành kiến.  Pra là trước; Jna trí thức. Prajna là một “cái biết trước cái biết”. Cái biết Prajna (Bát Nhã) kia có thể dẫn thẳng tới… vô vi, trực tâm. Cho nên “tri kiến lập tri tức vô mình bổn”: cái biết khi đã hình thành (lập tri, thành kiến) là nguồn gốc của vô minh. Chẳng phải do vì “thành kiến” (lý tưởng nọ kia, triết lý này khác… anh sai tôi đúng) mà loài người vẫn cứ đánh nhau, giết nhau với những danh từ đao to búa lớn. Cho nên mới nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (đừng có trụ (dựa) vào đâu cả để mà sanh cái tâm)!  Đừng có sinh sự, đừng có can thiệp vào cái “thanh tịnh bổn nhiên” vốn sẵn có kia!

“Cái thấy chỉ là cái thấy/ cái nghe chỉ là cái nghe”… thiệt ra chỉ muốn nhắc một điều: cái thấy nó vậy đó, do căn với trần tiếp xúc nhau. Chấm hết. Tại cái “ta” (ngã) xen vào mà sinh sự. Cái “ta” luôn phê phán, nhìn ngắm với những cặp kính màu khác nhau để rồi chí chóe, thượng cẳng tay hạ cẳng chân. Khi cái thấy do “Ta” thấy. Nó sẽ khác với người khác thấy. Nó hay hơn, giỏi hơn, tốt hơn người khác. Khi cái thấy trần trụi căn với trần, thì ai cũng như ai. Hết chuyện. Vì thế, thật đơn giản khi tách cái “tâm’ ra, tức là tách cái “của ta, là ta” ra thì nó trơ trụi, bình đẳng. Trần Nhân Tông nói “ Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” là vậy.

Tuy nhiên, vẫn phải đi từng bước, thực hành từng bước. Không cần phải phân biệt tông này phái nọ môn kia. Phải có thực hành mới “thấy” được bên trong. Mới reo lên “Không ngờ…, Khong ngờ…!” được như Huệ Năng.

Thực ra, Phật chỉ dạy có 2 điều: Khổ và Diệt khổ. Nhận diện được khổ để từ đó có phương pháp Diệt khổ tận gốc chẳng khác gì thầy thuốc chẩn đoán đúng bệnh và điều trị đúng, đem lại an vui hạnh phúc cho con người. Kinh sách nào, pháp môn nào dạy ta khiến ta… thêm khổ, thêm phiền não thì chắc chắn không phải của Phật rồi!

 

Nỗi khổ lớn nhất của kiếp người là sợ. Sợ… chết. Ta từ đâu đến, ta sẽ đi về đâu… là những câu hỏi không lời đáp từ ngàn xưa. Câu trả lời đơn giản nhất có lẽ là ta đã từ bào thai mẹ mà đến và sẽ trở về… “bào thai Như Lai”. Quả có một sự giấu nhẹm thú vị. Ta bỗng dưng mà có thì cũng sẽ bỗng dưng mà không. Nhưng có và không lại là một. Thú vị ở đó. Xà quần chút chơi vậy thôi. Nó sẽ vận hành theo pháp. Sanh trụ dị diệt. Sanh chẳng phải sanh mà diệt chẳng phải diệt. Nên mới bảo “bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm” (Tâm kinh). Hằng tỷ tinh trùng loi ngoi và một con duy nhất chui vào quả trứng. Có tình cờ không? Có xếp đặt không? Stephen Hawking nói có. Có xếp đặt đó, nhưng không có người xếp đặt. Vũ trụ còn 95% khoảng đen chưa khám phá. Nàng Hằng Nga chỉ là cục đất, chú Cuội là cục đá. Đất với đá thì cũng như nhau. “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” là vậy. Mỗi hạt cát là một vũ trụ. Cứ khám phá nữa đi. Bên dưới hạ nguyên tử sẽ là những hạt và những sóng, rồi dưới nữa thì không có gì cả: “Bổn lai vô nhất vật” (Huệ Năng). Không có gì cả mà có tất cả. Thú vị chứ. Đừng nhìn đâu xa. Nhìn vào ta thôi. Nó vậy đó. Không phút giây nào tĩnh lặng, nhưng hoàn toàn tĩnh lặng. Một thứ thanh tịnh bổn nhiên.

Vô thường dễ thấy mà vô ngã thì khó. Vì cái ngã đã được bồi đắp xây dựng từ thuở còn trong bụng mẹ cho đến lúc vào đời, được nhào nặn trong một môi trường ở bầu tròn ở ống dài, tích tụ, nhồi nhét đủ kiểu. Thoát ra thật khó. Tham ái và chấp thủ dày đặc, như cái kén bọc kín nhiều lớp. Phủi bỏ không dễ. Khi Stephen Hawking nói có sự “xếp đặt” nhưng không có người xếp đặt (có designe, nhưng không có designer) thì ông đã thấy pháp. Mà thấy Pháp tức là thấy Phật. Pháp nó tự vận hành. Không có người vận hành. Không có ta. Cho nên Phật dạy cách khác đơn giản hơn: Cái thấy chỉ là cái thấy. Cái nghe chỉ là cái nghe. Chỉ vậy. Khi có cái “ta” xen vào: Ta thấy, ta nghe… thì đã sinh sự. Có ta hay không có ta thì pháp nó cũng cứ vận hành như vậy. Nhưng bằng cách nào để sống được “cái thấy chỉ là cái thấy”? Vì ta không phải là gỗ đá, vô tri. Vấn đề chỉ ở chỗ không dính mắc. Cô hoa hậu xinh đẹp thì thấy là xinh đẹp, nhưng dính vào thì tiêu!

Tóm lại, tại vì có cái ta mà phát sanh phiền não, khổ đau. Pháp vận hành theo pháp, chẳng vì ta. Chẳng vì ta mà hoa nở hoa tàn. Nếu không can thiệp thì nó vậy là nó vậy. Sự phân biệt chính là can thiệp, dính mắc. Ta là Tâm, là lòng muốn, lòng tham dẫn đến sân mà gốc thì từ si mà ra. Thuốc đã sẵn có. Phật giáo nhìn cái chết là sự vận hành của pháp. Chết là sự chấm dứt tạm thời của một hiện tượng tạm thời, cái sống. Cho nên chết không phải là hết. Cái sống, một hiện tượng tạm thời và vận động không ngừng, vô thường thú vị, một bonus, nên cái chết cũng là vô thường, một bonus khác.

Để lại cái gì? Thiên thu là bao lâu? Nào ngã nào nhân nào chúng sanh nào thọ giả? Cái còn lại, ấy là nụ cười. Nụ cười không phải từ khóe miệng. Không phải từ ánh mắt. Mà từ trăm ngàn tỷ tế bào, nhiều như cát sông Hằng, hàng ngày vẫn bố thí. Nụ cười vừa an vui vừa từ bi.  Thôi, đừng làm phiền ta nữa nhé. Biết tỏng cả rồi. Hù dọa nhau chi. Khi đã tay bắt mặt mừng, chuyện trò rôm rả cùng Đa Bảo trong tháp báu hôm nào nơi núi Thứu.

Khi hiểu thêm về Phật, tôi tự nhiên thấy gần gũi lạ thường. Nhiều lúc tôi thấy mình cũng muốn nói: À, hoá ra là thế. Hèn chi mà không thể nói ra được, không muốn nói ra cho ai biết, không dám nói ra cho ai biết. Rồi cũng cảm nhận được là không phải chỉ một mình mình thấy, một mình mình biết mà nhiều lắm, từ xưa đến nay vô số người đã thấy, đã biết và cũng không nói ra được, chỉ có họ, khi gặp nhau mới trao đổi vài từ với nhau đã đủ thấy người kia và mình đang ở đâu. “Văn tự” hình như rất hạn chế ở đây, rất dễ gây nhầm lẫn và chính vì thế mà Phật phải dùng một cách nói gián tiếp hoặc dặn đi dặn lại nhiều lần, nói vậy mà không phải vậy “tức phi thị danh” thôi nhé.

Khi chưa hiểu thì tất cả những điều này có vẻ bất thường, kỳ cục, vô lý, khi hiểu được rồi thì thấy nó quá rõ ràng, chính xác, hoàn toàn hợp lý. Nhờ đó, có thể thấy xuyên suốt những pháp này pháp no, tông này tông kia chẳng qua cũng chỉ là một.

Không phải là lý thuyết suông, mà là sự thực nghiệm, thể nghiệm ngay trên bản thân mình.  Hãy đến và nếm thử. Mô tả không được! Xưa nay chưa ai mô tả nổi một sự “cực khoái”. Nếm trải mới biết.

Nụ cười ấy là sự giác ngộ, giải thoát. Đã thấy biết Như Lai. Đã sống cùng Như Lai. Đã là Như Lai. Ai đã thấy biết Như Lai, đã sống với Như Lai, đã là Như Lai mà không cười như vậy?

 

Đỗ Hồng Ngọc

Saigon, Kỷ Hợi, tháng 2.2019

***

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

“Về thu xếp lại…” (kỳ 4)

25/02/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

“Về thu xếp lại…”

(kỳ 4)

Đỗ Hồng Ngọc

 

tranh Lê Ký Thương

 

7. Chìm dưới sương thu là một đóa thơm tho…

“Chìm khuất trong ta

Một lời nói vu vơ

Chìm dưới sương thu

Là một đóa thơm tho…”

(TCS)

 

Tôi ngờ rằng có một phần thưởng quý giá nào đó cho kiếp nhân sinh, mà thiên nhiên đã mất công tạo ra, không thể nào có một mục đích duy nhất là làm cho nó phải khổ đau từ lúc sanh đến lúc bệnh, lão và tử. Điều này hoàn toàn vô lý. Bởi nếu vậy thì thiên nhiên đã không tạo ra vạn vật, nhất là sinh vật. Thử nhìn xem, vạn vật luôn đẹp đẽ, sinh vật luôn đẹp đẽ muôn màu muôn sắc, Hai con bọ ngựa yêu nhau, ve vãn nhau, giao hợp, xong con đực chết ngay và trở thành thức ăn cho con cái. Con cái mang cái trứng đã thụ tinh, nuôi nấng và sinh sản, xong cũng chết. Nếu chỉ làm cái việc giao hợp rồi chết như con bọ ngựa hay những con ong đực, thì nhiệm vụ duy nhất của nó chỉ là làm vật trung gian, truyền giống, khi hoàn thành nhiệm vụ thì không có lý do gì để tiếp tục tồn tại. Vậy thì ít ra phải có chút tưởng thưởng gì cho cái vất vả của nó chứ? Có lẽ vì thế mà thiên nhiên đã tặng cho nó chút khoái lạc trong lúc giao hợp. Nhưng sự giao hợp là sự truyền trao chủng tử, còn chuyện “bố thí thân mạng” kia có ý nghĩa gì không? Có được tưởng thưởng gì không?

Chẳng hạn, ăn là một hiện tựơng để tạo năng lượng duy trì sự tồn sinh và phát triển cho đến lúc có thể “hoàn thành nhiệm vụ”, vậy mà thiên nhiện còn phải tưởng thưởng một chút khoái cảm cho cái sự ăn. Nếu không, đâu có sinh vật nào ăn làm chi cho mệt. Nó phải đổ mồ hôi sôi nước mắt để kiếm lấy cái ăn, phải tranh giành vất vả để có cái ăn và phải trăm mưu ngàn kế để tìm cách ăn… cho nhiều. Từ một con mối mù lòa, rào rào ăn cột gỗ, đến một con bọ hung, hùng hục trong đống phân, tranh giành chí chóe để vo tròn được một cục phân to gấp đôi gấp ba thân hình chúng, khuân đi, đào lỗ, chôn giấu, để dành cho con bọ hung cái đang đẻ trứng có thức ăn dư trữ mà nuôi con. Các con thú – từ loại hung dữ ăn thịt sống đến những con thú hiền lành ăn cỏ – thì mạnh được yếu thua, con này làm mồi cho con khác. Có một điều ngộ nghĩnh duy nhất là con nào cũng hết lòng hết sức vì con của mình, vì sự tồn vong của nòi giống mình. Cây cỏ cũng vậy, cũng đưa những cái vòi bạch tuộc của nó ra mà hút lấy nhựa nguyên, chuyển thành nhựa luyện nuôi lá nuôi hoa, rồi ra quả ra hạt, truyền giống. Lá cứ rào rào rơi xuống làm phân cho  lá khác vươn ra. Lá rơi có buồn không?  Chắc là không. Chuyện cây cỏ hút nước, hút phân chắc cũng phải có cái gì sảng khoái, không, dại gì hút cho mệt. Con mối nhai gỗ rào rào chắc phải có cái gì sảng khoái, không, nhai làm gì cho mệt. Rồi con bọ hung giànhh nhau cục phân cũng phải có cái gì chứ… Con người cũng không khác. Các bữa ăn phải đem lại sự sảng khoái con người mới chịu ăn, và từ chịu ăn mà chịu làm, chịu giành giựt đấu đá, chém giết nhau… lúc nào cũng muốn muôn năm trường trị, nhất thống giang hồ, trường sanh bất tử chứ. Cái ăn thì đã vậy, ngủ cũng phải có sự sảng khoái để tích lũy năng lượng, phục hồi sức sống. Con nào cũng ngủ, cách này cách khác. Có con treo ngược hai chân lên trời mà ngủ như giống dơi, có con co một chân đứng một chân để ngủ như giống chim. Và sản sinh năng lượng thì phải có thải bã. Con voi ăn cỏ hàng ngày thải hằng trăm ký phân chắc cũng phải khoái mới thải. Con người cũng phải thải vậy. Câu hỏi đặt ra là con người hay mọi sinh vật không sống mãi để hưởng thụ cái khoái đó của mình? Không, có lẽ còn có một cái khoái lớn, còn được giấu kỹ. Nói ra sợ người ta biết thì triệt tiêu mục đích tối thượng của sự sinh tồn. Đó là cái chết. Chết gần như là lẽ tất yếu sau khi đã sinh ra, đã sống, dù như con phù du ngẳn ngủi hay như con voi, con rùa nhiều trăm năm. Vậy chết hẳn phải là một sự tưởng thưởng cho kẻ có công sinh tồn. Và như vậy nó phải là một sự sảng khoái lớn nhất. Không phải như một triết gia bảo chỉ có cái chết mới làm cho con người đựơc nghỉ ngơi. Nói thế chưa thấy sự sảng khoái? Sảng khoái ư? Môt sự xuất tinh lúc giao hợp là một sự sảng khoai, nói không được, mô tả không được. Sảng khoái của sự “mất” đi. Mất đi hằng tỷ tinh trùng, hằng tỷ sự sống. May ra, có một tinh trùng gặp trứng và thụ tinh, còn thì tự hủy diệt. Nó đi đâu? Kẻ phóng tinh đã đựơc một sự sảng khoái đền bù vất vả. Kẻ nhận tinh cũng vất vả không kém, và cũng sẽ đựơc đền bù cách nào đó chứ.

Trước khi sinh ra thì con người ở đâu? Trong cõi mênh mông đó, không thể biết. Cái phần dài nhất – trong trí tưởng của ta – là phần trước và phần sau của cõi nhân sinh. Phần dài nhất đó phải có ý nghĩa gì chứ? Có thể nó lại trở lại những thành tố riêng lẻ, chờ cấu trúc lại, như những miếng hình rời chờ lắp ghép ra một cái hình thù khác, một sinh vật khác. Nhìn qua những thành tố thì thấy nó rõ ràng không mất đi, không thêm lên. Và cả năng lượng nữa, cũng được “bảo toàn”. Nó chỉ tich trữ lại, lắp ghép lại, như một đứa nhỏ chơi trò puzzle với những lắp ghép tình cờ. Khi vật chất bị hủy diệt thì thời gian và không gian cũng không còn. Thời gian và không gian là một cách nhìn tương đối của sinh vật. Khi sinh vật không là sinh vật thì không còn thời gian và không gian. Nghĩa là một hình thái bất sinh bất diệt, và dĩ nhiên bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Nó đựơc tái sử dụng một cái phù hợp vậy thôi. Vậy thì không phải không có lý khi bảo cuộc sống sinh vật – và con người – là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh, thì hẳn phải có cái thường, lạc, ngã, tịnh, cái đó chính là niết bàn rốt ráo, niết bàn vô dư, tức cái chết.

 

 

………………………………………………………

 

 

8. Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt

 

“Vừa tàn mùa xuân rồi tàn mùa hạ
Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa…”

(TCS)

 

“Nhật nguyệt”, ấy là Minh. Minh để trừ Vô minh. Vô minh dẫn tới hành rồi thức, danh sắc, lục nhập… con đường sinh sự đưa tới khổ đau, sanh tử. Bởi còn vô minh thì còn ái, thủ, hữu, còn sanh, còn lão, tử.  Tâm kinh nói “Vô vô minh diệc vô vô minh tận”. Không có vô minh mà cũng chẳng bao giờ hết vô minh!

Duy-ma-cật hỏi Bồ-tát Văn Thù:

“Những gì là hạt giống Như Lai?”

 

VănThù đáp:  Có thân này là hạt giống Như Lai.

Vô minh với ái là hạt giống Như Lai.

Tham, sân, si là hạt giống Như Lai.

Bốn điên đảo, năm triền cái, tám tà pháp, chín não xứ, mười bất thiện… đều là hạt giống Như Lai.

Rồi Văn Thù kết luận: Tất cả phiền não đều là hạt giống Như Lai.

 

Thì ra vậy. Thì ra mọi thứ phiền não khổ đau của kiếp người đều là hạt giống của Như Lai. Tham sân si là hạt giống Như Lai. Mà tấm thân tứ đại ngũ uẩn này của ta cũng là hạt giống Như Lai. Đã là hạt giống thì nó phải mọc tùm lum lên mới đúng điệu chớ phải không? Cho nên tham sân si cứ còn mãi, ngày càng nhiều thêm, tranh giành đấu đá ngày càng mạnh mẽ thêm. Cái “Ngã” của ta cũng vậy, cũng ngày càng mọc sum suê hơn, lúc nào cũng muốn muôn năm trường trị, nhất thống giang hồ, trường sanh bất tử…! Đừng quên, Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai, không từ đâu đến, chẳng đi về đâu! (vô sở tùng lai diệc vô sở khứ).

Muốn dứt phiền não thì tâm phải an. Làm sao để tâm an? Tìm tâm đâu thấy? Chỉ có cách tiếp cận qua thân. Thân tâm nhất như mà.  Cho nên « giả bệnh » là cách tốt nhất của Duy-ma-cật.

Bởi bệnh thì rất bình đẳng. Mọi người đều bình đẳng trước… bệnh! Khố rách áo ôm hay đại gia tỷ phú khi đau gan thì cũng như nhau thôi. Cũng vàng da, cũng ói mửa, cũng nhức đầu đau bụng… Hoa hậu hay cô gái bán hoa khi đau ruột thừa cũng giống nhau thôi. Cho nên Duy-ma-cật nói: “ Thân này không thể tin cậy được. Nó không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Phải thấy thân Phật, tức thấy Pháp thân.”

Phật hỏi Duy-ma-cật: Ông quán Như Lai thế nào? Tôi quán Như Lai qua pháp thân cũng như quán Phật và tôi. Không có gì khác nhau cả.

Muốn thấy Pháp thân thì phải “quán”. Phải nhìn sâu vào bên trong, nhìn xuyên qua bên kia, qua cái “giả tướng”, cái trình hiện bên ngoài may ra mới thấy.

Còn “chúng sanh” lại là những ảo vật do nhà ảo thuật là ta tạo ra. Ta tạo ra rồi ta hồng hộc chạy theo, bám lấy, giành giật, khổ đau, hạnh phúc… Chẳng qua là những bóng hình trong gương, mặt trăng đáy nước, dấu chân chim giữa hư không…

Khi thấy biết thực tướng là vô tướng, thì hòa nhập nhau có chi ngăn ngại vì cùng bản chất, pháp tánh. Cái núi Tu-di to đùng kia mà đem đặt vừa vào đầu hạt cải, nước bốn biển mênh mông nọ mà rót đầy lỗ chân lông thì có chi là lạ? Bởi núi Tu-di cũng không mà đầu hạt cải cũng không. Nước bốn biển cũng… không mà lỗ chân lông cũng không.  Không đây không phải là không có. Vẫn có chứ, nhưng không có “tự tánh riêng biệt”, thế thôi. Cho nên mới gọi là “chân không” . Chân không mà diệu hữu, diệu hữu mà chân không.

 

Nghe nói tới Ma thì ai cũng sợ. Nhưng Duy-ma-cật Bồ-tát thì “nuôi” rất nhiều ma để làm « thị giả » cho mình, luôn ở cạnh mình, “trợ lý” cho mình.

“Ma phiền não” chẳng hạn nhắc nhở ta sẵn có bốn vạn tám ngàn cách thoát ra sao chẳng thử một vài; “Ma ngũ uẩn” thì càng thân thiết, nhắc rằng mấy thứ lăng nhăng nó quấy ta chỉ là những thứ kết hợp tạm bợ, lắp ghép lai rai như trò chơi puzzle của trẻ con, phá ra lắp lại mấy hồi; “Ma trời” (thiên ma) luôn cảnh giác ta đừng tưởng bỡ, đừng tưởng muốn « làm trời » gì thì làm nhé. Rớt vào địa ngục như chơi. Lên voi xuống chó mấy hồi. Còn “Ma chết” (tử ma) lại là bạn thiết gắn bó với ta từ thuở còn trong bụng mẹ…

Cái thấy của mắt cái nghe của tai chỉ là ‘giả tướng’. Còn cái ‘tướng thiệt’ ở đâu? Ở bên kia kìa. Vượt qua cái giả tướng mới thấy được. Phải ở bên bờ kia mới thấy được. Ta chỉ bị gạt gẫm thôi. Và lâu nay ta sướng khổ với sự gạt gẫm đó mà không biết.

 

“Kiến tánh” (thấy biết Tánh) là Giác ngộ. Dễ không? Còn lâu! Nói chung thì vì cái tâm mình nó lờ mờ, nó tù mù, nó u tối nên sanh ra tham lam. Gì cũng muốn. Bao nhiêu cũng không đủ. Lòng tham không đáy. Được voi đòi tiên. Tham nên mờ mắt. À không phải. Mờ mắt mới tham. Nếu sáng mắt thấy rõ các pháp “bất tăng bất giảm”, không thêm không bớt thì tham làm chi.  Rồi cũng vì cái tâm mình nó lờ mờ, nó tù mù, nó u tối nên sanh ra sân (giận). No mất ngon. Giận mất khôn. Mà không biết chân lý dưới chân núi bên này thì không còn là chân lý ở chân núi bên kia.

Nhiều khi, ta ngồi yên đây mà quên là trái đất đang bay vù vù với tốc độ ba chục ngàn cây số một giây. Một ngày đêm đã bay được hơn 2 triệu rưỡi cây số quanh mặt trời! Nhiều khi ta ngồi đây mà quên rằng cứ mỗi giây trôi qua đã có hằng trăm triệu hồng cầu trong cơ thể mình hủy diệt đi để sinh ra trăm triệu hồng cầu mới. Các chất liệu của hồng cầu hủy hoại đó chẳng mất đi đâu, nó tích chứa vào lá lách (gọi là nghĩa địa của hồng cầu) để rồi được nối ráp lại, tạo ra những hồng cầu mới, tươi mát hơn… Cái hệ tiêu hóa, ruột non ruột già của ta dài cả 5m kia cứ mỗi tuần lễ lại thay đổi toàn bộ lớp tế bào niêm mạc. Có hàng ngàn tỷ vi khuẩn đang sống trong đường ruột đó, mỗi loại hùng cứ một phương, rất ít khi tranh chấp với nhau …

 

 

Khi tôi học y khoa, cách đây gần 60 năm, người ta khiêng ra cho mỗi nhóm 8 sinh viên một chiếc giỏ cần xé (giỏ mây to) đựng xương người. Mỗi sinh viên ôm lấy một cục xương đó, học thuộc từng đường gân sớ thịt… Có bạn còn mượn một cái đầu lâu về đặt trên bàn học, mỗi ngày học thuộc từng chiếc lỗ trên đó, có những dây thần kinh nào chạy qua, rồi học về bộ não, vùng nào chịu trách nhiệm việc gì…! Môn cơ thể học dạy cho biết bộ xương người đã hình thành như thế nào, các tế bào xương tạo xương và hủy xương ra sao… Sinh lý học dạy cho biết cơ thể vận hành cách nào, làm sao có đủ nhiên liệu để xài cả đời người ? Ấy là nhờ oxyd hóa « đốt » những thứ thức ăn để tạo ra năng lượng ra sao.

Người giác ngộ hơn người khác ở chỗ trong lúc người khác đang sống thì không ai chịu nghĩ tới cái chết, còn người giác ngộ thì coi cái chết cái sống là một. Nói người giác ngộ là người đã “vượt thoát sinh tử” là vậy. Có sinh ắt có tử, có tử ắt có sinh.

 

Luân hồi luôn đi với sanh tử. Luân hồi sanh tử. Nghe cứ rờn rợn. Nhưng… không còn sanh tử, không còn luân hồi nữa, sống đời đời kiếp kiếp thì… chán chết! Không luân hồi sanh tử nữa thì mọi thứ khựng lại. Trái đất chẳng buồn quay. Chẳng còn xuân hạ thu đông. Chẳng sáng trưa chiều tối. Chẳng vô thường. Chẳng đổi thay. Chán chết! Cho nên cứ phải luân cứ phải hồi, cứ phải sanh cứ phải tử hoài hoài. Lòng vòng  luẩn quẩn loanh quanh vậy mới công bằng, mới phải điệu. Ba cõi sáu đường phải thênh thang rộng mở cho chúng sanh lũ lượt vào ra mới phải điệu!

”Luân hồi sanh tử”, “nghiệp báo oan gia” các thứ… ở đâu mà ra? Thì ở đâu nữa. Ở ngay trong ta thôi. Ôi, cát bụi tuyệt vời! Khi vẽ được bản đồ hệ gene người, các nhà khoa học bật ngữa thấy tinh tinh, chuột bọ, cải ngồng, cổ thụ… đều có những gène y như vậy với một tỷ lệ khác nhau nhiều ít. Tinh tinh có đến 99% cấu trúc gen giống hệt bộ gen người, chuột bọ thì có đến 97,5% gen người… Ai dám bảo hôm nào đó chẳng “luân” chẳng “hồi” một phen, cho tinh tinh thành cải ngồng, cải ngồng thành chuột bọ…? Có cái nhìn xuyên suốt ngàn năm chắc thấy biết, còn ta mắt trần (nhục nhãn) chưa thấy được đâu, đành lớ ngớ, loay hoay.

Thực ra luân hồi sanh tử không chỉ vậy! Luân hồi sanh tử còn là tiến trình tâm trong mỗi sát-na. Từ sáng đến chiều, từ trưa đến tối ta đã… lang thang sáu nẻo biết bao lần. Hết thiên, nhân lại đến atula rồi ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, xà quần không ngưng nghỉ. Sáng bảnh mắt ra, tắm táp xong, người sảng khoái, lâng lâng, quần là áo lượt có thua gì… tiên đâu, vậy mà tới trưa nghe một cú điện thoại từ đâu đó bỗng đùng đùng nổi giận, đỏ mặt tía tai, bầm gan tím ruột, lọt tõm vào địa ngục… Chỉ một thoáng thôi, đã từ thiên đàng rơi xuống địa ngục, từ thiên nhân thành Atula, ngạ quỹ…

Biết rõ “cơ chế” bệnh sinh thì điều trị không khó. Có khi chỉ cần chữa triệu chứng. Có khi phải điều trị căn nguyên để không còn tái phát. Cái gì làm ta xà quần nổi trôi trong cõi luân hồi sanh tử? Cái gì có vẻ như mãi cợt đùa không mệt mỏi với ta? Chính cái “Ta” đó. Nó đó. Nó tạo nghiệp. Nghiệp từ thân, khẩu, ý mà nên. Cho nên chỉ có “ta” mới cứu được “ta” thôi! Cho nên phải quay lại với mình, phải nương tựa chính mình, còn tìm kiếm đâu xa?  Khi nhận ra “không phải của ta/ không phải là ta/ không phải là tự ngã của ta” thì có lẽ đã có một nụ cười thanh thản, an nhiên.

Phật có đến có đi. Có từ bi có hỷ xả. Có nói năng có im lặng. Có thể dùng âm thanh dùng ánh sáng dùng chuông mõ, tiếng tụng niệm mà thấy Phật. Nhưng Như Lai thì không. Không thể dùng âm thanh, ánh sáng mà thấy Như Lai. Kinh nói Như Lai thọ lượng mà không nói Phật thọ lượng vì Phật thọ lượng chỉ có hơn 80 năm! Kinh nói Như Lai thần lực mà không nói Phật thần lực vì Phật chẳng ưa chuyện thần thông. Kinh nói vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai mà không nói vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi tòa Phật… Cho nên, Phật là Như Lai, mà Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai. Nó vậy đó.

 

Đỗ Hồng Ngọc

Saigon, 2.2019

(còn tiếp)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

“Về thu xếp lại…” (kỳ 3)

22/02/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

“Về thu xếp lại…”

(kỳ 3)

Đỗ Hồng Ngọc

 

tranh Lê Ký Thương

 

5.      Người đã đến và người sẽ về bên kia núi

“Từng câu nói là từng cánh buồm giong cuối trời. 
Còn lại tiếng cười khóc giữa đời..”

(TCS). 

Người ta đã đúc kết: “Năm năm / Sáu tháng / Bảy ngày”, nghĩa là ở tuổi 50, nên có kế hoạch  năm; đến tuổi 60 thì chỉ nên làm kế hoạch tháng; còn đến 70 thì tốt nhất nên có kế hoạch… ngày! Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui! Chọn những bông hoa và những nụ cười!” (TCS) là phải quá! Vấn đề là ở chỗ chọn lựa. Thiên đàng Địa ngục hai bên… Một cụ già trên trăm tuổi được nhà báo hỏi bí quyết sống lâu, sống khỏe, ông nói có gì đâu, mỗi sáng, thức dậy, tôi tự hỏi hôm nay mình nên ở thiên đàng hay địa ngục đây… rồi tôi chọn thiên đàng.

Có những vùng khí hậu lạ. Một ngày mà có đủ cả bốn mùa: xuân hạ thu đông! Còn muốn gì hơn? Ở cái tuổi này, không phải chỉ cần có kế hoạch ngày mà nhiều khi còn phải có kế hoạch giờ! Sáng khác, trưa khác, chiều khác, tối khác rồi. Làm được gì thì làm ngay. Lát sau mọi thứ sẽ khác. Cần có phương án hai, phương án ba. Cẩm nang để sẵn trong các túi gấm, đến đâu giở ra đến đó!

Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. Dĩ nhiên có đái và ỉa khi các bộ phận thải chất bả này hình thành và hoạt động. Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. Thở mà không xong thì tiêu đời! Bác sĩ sẽ xịt alcool hoặc đét vào đít cho ta khóc thét lên. Khóc càng to càng tốt. Khóc to có nghĩa là thở mạnh. Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Rồi phải bú nữa trời ạ. Bú mẹ còn đỡ, cứ vùi đầu mà nút, chả cần ai chỉ dạy! Nhưng nhiều khi phải níu lấy cái bình bú cứng ngắc, ai đó nhét vào miệng vì không có sữa mẹ. Cứ thế mà chùn chụt để nuôi thân. Rồi biết lật, biết ngồi, biết bò, biết đứng chựng, biết đi, biết chạy nhảy, leo trèo… Rồi biết nói năng, suy nghĩ. Nhớ, tiếc, giận hờn, giành giựt, đấu đá, ghen tuông, ích kỷ, thất tình lục dục đủ thứ không lúc nào ngưng. Và dĩ nhiên vẫn thở và vẫn ăn. Rồi nam tu nữ nhũ. Rồi chọn lựa. Rồi giao cấu. Rồi đẻ ra một lô một lốc chẳng biết từ đâu ra.

Đến một hôm, ta từ hùng hục chạy, ta… lững thững đi, rồi chập chững đứng, vật vựa, nghiêng ngã, rồi ngồi một chỗ, mắt lờ đờ nhìn xa xôi, rồi lòm còm, bò lê, bò lết… Từ chùn chụt, ngấu nghiến, ừng ực, dô dô 100%… ta bỏ ăn bỏ uống, thấy cái gì cũng rệu rạo, nhóp nhép vì xệu xạo răng cỏ. Rồi thở cũng cà giật, cà hước… Ta trở lại cái hồi thai nhi trong bụng mẹ, bây giờ là mẹ Như Lai, một vòng khép kín. Thì ra, ta đã từ đó mà đến để rồi loay hoay một vòng về lại chốn xưa. Cứ y như đàn cá hồi, cứ bốn năm lại “hồi” về chốn cũ, đẻ xong rồi chết, sau khi đã làm xong nhiệm vụ truyền giống. Con thiêu thân thì nhào vào ánh lửa. Con bọ ngựa thì giao cấu xong thì chết ngay trên bụng con cái, làm thức ăn cho con… Con bọ hung hùng hục chui vào đống phân, giành giựt đấu đá để vo tròn một cục phân mang về cho bọ hung cái nuôi con. Cá ếch nhái bò sát chim đều vậy. Cây cỏ cũng vậy. Hoa nở chẳng những đẹp mà còn thơm, lôi kéo lũ bướm ong dập dìu lui tới để mang phấn đi muôn phương.

Nhìn suốt cuộc hành trình đó, có cái gì tức cười, vừa tàn nhẫn vừa thương tâm. Cái hiện hữu chỉ là thị hiện, trình hiện chút chơi vậy thôi. Nó giả. Nó tạm. Vậy mà sao ta cứ tưởng thiệt mới đáng thương làm sao. Gieo rắc và sinh sôi. Cứ vậy. Như Lai thọ lượng. Như Lai thần lực. Cứ vậy. Người tỏ ngộ tủm tỉm cười, vui vẻ chui vào tháp báu, gặp Như Lai Đa Bảo của mình ngồi đó, tay bắt mặt mừng. Schopenhauer nói cô con gái liếc mắt đưa tình, tìm kiếm chàng trai râu hùm hàm én mày ngài, oai vũ là để trao thân vì chắc hẳn sẽ là giống tốt; chàng trai thì tìm giai nhân chân dài, đáy thắt lưng ong, ngực nở, mông to để mắn đẻ. Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống là vậy. Con người thông mình hiện đại làm phiền Như Lai hết sức, vì chỉ muốn tìm vui mà quên nhiệm vụ thiêng liêng!

Đất (Nitrogen) nước (Hydrogen) gió (Oxygen) lửa (Carbon) cùng 62 nguyên tố đồng chì sắt kẽm được vo cục lại, nắn nót, thêm thắt, vẽ bày, hà hơi tiếp sức rồi thảy vào Ta-bà nhộn nhạo theo một cái duyên, cái nghiệp nào đó. Mãi mới nhận ra “bổn lai vô nhất vật”. À há, nó là không, nó là chân không diệu hữu. Nó bày trò, vờ vịt, vớ vẩn, giỡn chơi thôi. Không muốn ngộ rồi cũng ngộ. Không muốn giác rồi cũng giác.

Sanh bệnh lão tử hay sanh lão bệnh tử thì cũng vậy. Lập trình nó vậy rồi. Nhưng « tử » dễ nghe hơn « chết ». Chết khó nghe và thấy sợ. Tại sao sợ ? Không biết. Tại vì không biết cho nên sợ. Nhưng lạ, cũng là chết mà có nhiều từ khác nhau để gọi. Vua chết gọi là « băng hà ». Sư chết gọi là « viên tịch ». Phật chết gọi là nhập Niết bàn. Lính chết gọi là hy sinh… Dân chết có khi gọi là « mất » là « qua đời » là « lìa trần » v.v…

Người ta sợ chết mà không sợ sanh. Vì sanh có biết đâu mà sợ. Nhưng có phải tự nhiên mà sanh ra không? Nếu ba mẹ ta mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Nếu ông bà nội ông bà ngoại mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Vậy ta từ đâu ra? Có phải chỉ tinh cha huyết mẹ là đủ hay còn cần phải có một điều kiện nào khác? Có cái gì khác đó chui vào, can thiệp vào để có ta chứ? Cái đó gọi là “thức tái sanh” ư? Là “nghiệp” dẫn dắt ư? Chính điều nầy làm ta thấy có trách nhiệm sống, vì sống cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Ta có trách nhiệm hơn. Ta có tự do hơn. Để tự chọn lựa.

Một cặp thai song sanh sợ hãi khi sắp tới ngày sanh, muốn ở lại trong thiên đàng lòng mẹ càng lâu càng tốt. Hai cái thai tranh cãi quyết liệt không ai chịu ra đời trước, vì không biết chuyện gì chờ đón họ ngoài kia. Cuối cùng dù dằn co thế nào thì cũng có một cái thai chui ra trước. Hóa ra… đời vui quá! Người ta đón chào rôm rả. Thai kia thấy thế cũng vội vả ra theo. Rồi oa oa chào đời. Rồi hít thở, rồi bú mớm. Rồi lớn như thổi, rồi yêu thương, rồi ganh tỵ, hờn ghen, đấu đá, giành giật… rồi cuối cùng cả hai cùng một lần nữa lại bị kéo ra… khỏi cuộc đời. Cũng lại quyết liệt tranh cãi không chịu, cũng lo lắng, sợ hãi, đòi ở lại càng lâu càng tốt…

Một cái vòng luẩn quẩn. Sanh bệnh lão tử. Tử rồi lại sanh. Quanh đi quẩn lại có chừng ấy. Một vòng tròn khép kín? Khép kín mà không y chang? Mỗi lần tái sinh lại mỗi khác?

Đời sống sinh vật thay đổi từng sát na, không bao giờ đứng yên một chỗ, lẽ nào tái sinh lại y chang như cũ? Có điều những nguyên liệu cứ hủy, tan rã rồi lắp ráp lại nên một hình tướng mới. Cho nên mới bảo nó chỉ là “giả tướng” tạm bợ vậy thôi. Thấy “như thật” là thấy cái thực tướng vô tướng đó. Thỉnh thoảng ta gặp một ai đó thấy như đã quen từ lâu, như đã có hẹn hò từ muôn kiếp trước… thì cũng đừng có ngạc nhiên!

Kinh A Hàm kể: Khi tuổi đức Phật đã lớn, một hôm Ngài đi khất thực trong thành Xá Vệ trở về thọ trai xong, sau đó cảm thấy trong người hơi lạnh, nên ra ngoài hương thất ngồi phơi nắng. Ngài vén y để lộ làn da lưng nhăn nheo. Tôn giả A Nan từ xa thấy vậy, mới đến xoa lưng cho đức Phật, than: “Ôi! Da dẻ của Thế Tôn không còn láng mịn như thuở xưa nữa, lưng đã hơi khòm rồi. Ôi! Còn đâu những gì của thời trai tráng”. Phật bảo: “Đúng vậy A Nan! Cái già có sẵn trong cái trẻ, cái chết nằm trong cái sống, thân của Ta rồi đây sẽ hoại diệt, một lúc nào đó không tránh khỏi”.

Cho nên cái “Tri kiến” Phật, cái thấy biết của Phật là thấy biết Như Lai. Nó vậy đó là nó vậy đó. Nó Như thị. Như Lai Đa Bảo từ trong tháp báu tức mộ tối bước ra, tay bắt mặt mừng, ôm chầm lấy người anh em xa cách bấy nay là Phật Thích Ca đó thôi. Rồi kẻ trước người sau, chúng ta đều cùng vào tháp báu gặp Đa Bảo Như Lai của mình để chuyện trò thân mật, tay bắt mặt mừng!

Phật khuyên ai làm bạn với Thần chết thì Thần chết không… khó dễ họ. Còn ai sợ hãi trốn chạy Thần chết thì Thần chết sẽ rượt theo. Nhưng bằng cách nào làm bạn đây?

Nhiều con đường lắm. Thiền chẳng hạn, là một. Ở trong thiền, trong một trạng thái an nhiên, không có ngã, là đã sống trong cái chết, làm quen với cái chết.

Niệm nam mô A Di Đà Phật chẳng hạn. Nam mô là nhớ, nghĩ. A Di Đà Phật là vị Phật ở Tây phương cực lạc để đón rước ta về chốn ấy, từ biệt chốn “cực khổ” Ta-bà này! Nhưng phải sao mới được tiếp dẫn chớ? Phải giới định huệ, phải tín hạnh nguyện chớ. Cho nên một người đi đứng nằm ngồi đều nhớ, nghĩ A Di Đà chính là một người đang làm quen với cái chết, luôn nhắc nhở mình sẽ chết, đang chết hay nói cách khác, đang sống trong cái chết. Biết sắp chết, sẽ chết, đang chết mà còn khổ được ư? Cũng vậy, một người mang thánh giá trên cổ là để luôn nhắc nhở mình về cái chết của chính mình. Khi sắp gây gỗ, sắp đánh nhau, bỗng dưng nhớ lại cây thánh giá đang mang, cũng như nhớ tới Phật A Di Đà đang đợi hẳn là… thôi chứ! Và cái thôi chứ, thôi kệ đó đã làm hạ hỏa, đã giải stress rất hiệu nghiệm. Tức khắc ta quay về. Tức khắc ta buông xả.

Milarepa nói: “Vì sợ chết tôi đi vào trong núi, liên tục trầm tư về tính chất bất định của giờ chết. Bỗng bắt gặp thành trì bất tử vô tận của tâm bản nhiên. Bây giờ tất cả nỗi sợ hãi đều tan biến, và trong sanh tử mở cái thấy trí tuệ vô sanh”.

Trong cái vô niệm, vô sanh đó, không có chỗ cho thần chết bày trò hù dọa. Bởi vì họ đã là bạn của nhau. Cái tâm bản nhiên đó không có chỗ cho ai hù dọa ai. Nó trống vắng. Lặng lẽ Thanh tịnh. Nó bất sanh cho nên nó bất diệt. Chẳng nhơ chẳng sạch. Chẳng thêm chẳng bớt.

Khi thấy được “ngũ uẩn giai không” thì người thợ làm nhà kia bỏ đi. Rui kèo cột vẫn cứ là rui kèo cột, nhưng thôi, huề cả làng, chẳng ai còn hù dọa được ai.

Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói nếu ta luôn nghĩ tưởng về cái chết và sự vô thường, thì sẽ bắt đầu làm cho cuộc đời có ý nghĩa. Sự tỉnh giác về cái chết và lẽ vô thường có thể có những lợi lạc to lớn.

Nhiều người tránh đề cập cái chết. Vì vậy khi nó xảy tới thì họ bị bất ngờ và hoàn toàn không sẵn sàng.

Không có sự khác biệt giữa cái chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cái chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy.

Rồi cùng mà mỉm cười. Nụ cười của Phật. Của Bayon. Của La Joconde. Của ta.

 

 

 

……………………………………………………………………………………………….

 

6.      Đôi khi thấy trên lá khô một dòng suối…

 

“Đôi khi bước qua phố xưa lòng tôi nhớ

Đôi khi thấy trăm vết thương rồi như đá ngây ngô…”

            (TCS)

 

Simone de Beauvoir nói mẹ của bà đã ngoài chín chục, đã biết trước sau gì cũng chết, nhưng khi bà chết thì ai nấy đều kinh ngạc, bất ngờ. Simone de Beauvoir nói lạ, cái chết lúc nào cũng là một tai nạn, đều mang yếu tố bất ngờ!

Ở xứ mình, có những gia đình hai ông bà ngoài 60 đã mua sẵn hòm ván, xây sẵn kim tĩnh. Có người thỉnh thoảng còn vào nằm trong hòm ván đặt sẵn trong nhà như một cách làm quen. Có cụ bà xây kim tĩnh hai ông bà ngay trước cạnh cửa chính ngôi nhà của họ, khi ông mất, chôn một bên và còn một bên dành cho bà. Có cả khung để hình sẵn. Họ coi cái chết là chuyện dĩ nhiên nên họ sống rất hạnh phúc. Mỗi ngày sống đều có ý nghĩa!

Cho nên một trong những cách quán của thiền là quán xác chết của chính mình, làm quen với nó. Chính Đức Phật cũng có một thời gian ra ngủ ở bãi tha ma. Con người đang chết từng ngày, từng phút giây mà không nhận biết. TCS nói: “dưới vành nôi là từng nấm mộ”. Sanh ra thì nằm nôi, chết thì lật úp cái nôi xuống, thành nấm mộ, có thế thôi. Vậy nguyên tắc là làm quen với cái chết ngay khi sống. Tập chết hằng ngày, ý thức cái chết hằng ngày của chính mình. Có lẽ nhờ thế mà bớt hung hăng, bớt tham lam, sân hận, giành giựt, đấu đá! Hình ảnh “nhập niết bàn” của Phật là một hình ảnh rất đẹp, thường được đúc tượng ở khắp nơi. Tôi thấy trên một ngọn đồi ở cung điện hoàng gia Campuchia có một bức tượng Phật ngồi thiền, trước mặt là một tượng Phật nằm, tức nhập Niết bàn. Ta cũng nên chánh niệm như vậy. Cái đó gọi là “niệm tử”. Còn cư sĩ Duy Ma Cật thì bảo “Tử ma” là một trong các “thị giả” thân thiết của ông, nghĩa là lúc nào cũng bên cạnh ông, giúp đỡ ông mọi lúc mọi nơi, ân cần, chu đáo.

Thiên nhiên hẳn đã tính toán kỹ, làm giảm nhẹ nỗi đau khi có một người già sắp chết. Người già đó phải rất… chướng, rất kỳ cục, để ai cũng ghét, cũng muốn họ sớm “vắng” đi cho rảnh! Nếu là một cặp vợ chồng thì về già thường hay gây gỗ, để chán nhau. Sẽ rất có ích khi một người chết trước đi thì người còn lại đỡ buồn đau chăng?

Thiên nhiên cũng tử tế, sắp đặt cho về già thì mắt mờ tai kém, đầu óc lú lẫn… Hạnh phúc sẽ đến từ từ với những hiệu ứng của những sự kiện này. Bớt sắc sảo, bớt nghe những lời khó nghe, bớt thấy những điều không nên thấy và nhờ lú lẫn mà biết quên lãng, trở nên dễ thương, buồn cười dưới mắt người trẻ. Một người già mãi sáng suốt luôn làm cho người trẻ khó chịu.

Phật có một thời gian sống trong nghĩa địa, nghiền ngẫm về cái chết, cho nên cái chết không xa lạ với Phật, không làm Phật sợ hãi. Phật dạy quán bất tịnh, quán nghĩa địa để tập làm quen, cứ y như những người thầy thuốc chăm sóc bệnh nhân thì không còn sợ bệnh, sợ máu me, đàm mủ… nhờ tiếp xúc bệnh nhân hằng ngày. Tuyệt vời là các ông vua Việt Nam, ông nào cũng xây sẵn cho mình một cái lăng… ngay khi mình còn sống. Vậy là vua đã làm quen với cái chết từ lúc còn đầy uy quyền tối thượng trong tay. Đã vậy còn chiều chiều dẫn các cung tần mỹ nữ ra lăng ngắm sen nở, xem ca kịch, như ở một xứ thần tiên. Chính ở đó là lúc vượt qua bờ bên kia của bao nhiêu phiền luỵ. Tôi chắc mỗi lần ra lăng… chơi, vị vua nào cũng thấy mình được giải thoát, sung sướng, an lạc, hạnh phúc so với lúc ngồi trên ngai vàng, trị vì thiên hạ.

Các nhà tâm lý học ngày nay nhận định cái chết trong thế giới hiện đại thường kéo dài sự đau khổ vô ích với kỹ thuật y khoa cầu kỳ tốn kém và cách ly với gia đình người thân, cộng đồng, trong khi đa số bệnh nhân thích được chết an bình tại nhà, trên giường mình xung quanh là những người thân. Dĩ nhiên đây là kết quả nghiên cứu ở phương Tây còn bên ta, may mắn đa số vẫn còn được chết ở nhà, thậm chí bệnh viện thường cho phép «hấp hối xin về » để tránh tỷ lệ tử vong cao trong bệnh viện.

Chết là một tất yếu, không thể tránh được, không nên che đậy, cấm kỵ. Sống thì không biết chắc, nhưng chết thì biết chắc. Tây Tạng có một cuốn sánh nổi tiếng: Tử Thư. (Tạng thư sống chết, Ni sư Trí Hải dịch). Sách viết về sự chết. Mỗi người nên nghiền ngẫm cuốn này từ lúc hãy còn trẻ thì tốt hơn. Hình như thiên nhiên cũng có bày đặt một « kế hoạch » gì đó, khiến những người quá già thường thay đổi tánh nết, « chướng » không chịu được, hành hạ con cháu quá lắm, chắc có mục đích là làm sao cho khi mình chết thì con cháu… mừng, mình giải thoát mà con cháu cũng được… giải thoát. Đặc biệt cái sống già quá cỡ sẽ giúp con cháu sợ già, muốn chết sớm hơn, lúc hãy còn hiểu biết, còn hạnh phúc. Họ sẽ nhận rõ điều Phật dạy : Chư hành vô thường/ Thị sinh diệt pháp/ Sinh diệt diệt dĩ/ Tịch diệt vi lạc! 

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện khi bị lao phổi nặng ở Pháp, thời kỳ chưa có thuốc chữa, đã phải cắt bỏ một lá phổi bên phải, rồi lại phải cắt thêm một phần ba lá phổi trái sau 7 đợt mổ lồng ngực. Các bác sĩ lúc đó nói ông chỉ có thể sống nhiều lắm là hai năm nữa thôi, thế mà bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã sống thêm đến 50 năm, làm được bao nhiêu việc, cho đến 85 tuổi. Lúc gần giã từ cõi đời ông viết di chúc yêu cầu các đồng nghiệp đừng làm hồi sức cấp cứu gì cả, cứ để cho ông được chết tự nhiên! Nhiều nhà sư biết rõ ngày giờ của cái chết chính mình, họ báo trước và thanh thản ngồi thiền, chuyển từ cảnh giới này sang một cảnh giới khác. Vậy thì có cần phải can thiệp y tế không? Tùy trường hợp. Ở một người trẻ, nhắm rằng có thể cứu sống được thì y tế sẽ cố gắng để cứu, “còn nước còn tát”, nhưng với một người đã quá già, đã nhiều bệnh mạn tính từ lâu, biết không thể cứu vãn gì mà vẫn làm những thao tác hồi sinh cấp cứu chỉ làm khổ đau thêm thân xác họ. Những thủ thuật hồi sinh như thở máy, xoa bóp tim, chích adrenaline vào tim… đều không mang lại lợi ích gì trừ làm cho gia đình bớt “khổ đau”!

Ngày xưa người già thường chết ở nhà, xung quanh là người thân, nhẹ nhàng coi như “sống gởi thác về”. Bây giờ nhiều người già chết cô đơn ở bệnh viện nhờ kỹ thuật cao, dây nhợ đầy người, hô hấp nhân tạo đủ trò kéo dài cái chết lâm sàng nhiều ngày có khi nhiều tháng, có trường hợp năm này qua năm khác!

Sanh lão bệnh tử, hoặc sanh bệnh lão tử gì cũng được, nhưng chắc chắn có “tử”! Phật nói ai làm quen, kết bạn với Thần Chết thì không thấy mình chết. Thầy thuốc giỏi có thể thảo luận với bệnh nhân về ngày cuối cùng của mình càng sớm thì bệnh nhân càng thanh thản. Không chỉ thầy thuốc, đây là lúc có thể có những vị lo về tâm linh kề cận, hướng dẫn đâu đó đàng hoàng tử tế. Người chết sẽ nhẹ nhàng yên tâm mà ra đi!

Một số lớn bác sĩ ngại, không tiện thảo luận chuyện này với bệnh nhân giai đoạn cuối, nhất là các bệnh mạn tính, bệnh nan y không còn khả năng điềutrị, hồi phục. Bàn bạc sớm sẽ có ích cho cả gia đình và cả người bệnh, người già.

Có trường hợp cần điều trị giảm nhẹ (palliative care), giúp người bệnh bớt đau đớn trong giai đoạn cuối. Có thể phải sử dụng thuốc chống đau,  thuốc ngủ…; đặc biệt hỗ trợ về cảm xúc tứ các chuyên viên tham vấn tâm lý và hỗ trợ về tâm linh nếu có một tôn giáo nào đó, hoặc chọn lựa một tôn giáo nào đó.  Nguyên tắc là làm sao đảm bảo chất lượng cuộc sống và nhân phẩm trong thời gian cuối cùng này.

Gần đây, do tuổi thọ ngày càng cao, nhiều nước có người già sống trên 120 tuổi, cô độc,  tàn phế, nhưng “khoa học” vẫn không để họ ra đi yên ổn, ráng giữ lại và sử dụng máy móc chăm sóc như máy đút ăn, máy xoa bóp… Họ sống không còn ý nghĩa, thậm chí không còn trí nhớ, chỉ còn cái tứ đại mà không có ngũ uẩn, vậy mà vẫn cứ lây lất cái gọi là sống. Có trường hợp chết trong nhà nhiều tháng hàng xóm mới hay như gần đây có mấy vụ xảy ra ở Nhật. Cho nên, người già, để có một cái chết “tốt”, một cái chết đầy “chất lượng” (Có chất lượng cuộc sống hẳn phải có chết lượng cuộc chết chứ phải không?) cần lên kế hoạch cho cái chết đương nhiên sẽ gặp của mình càng sớm càng tốt. Các “chuyên gia” về lãnh vực này khuyên: Ta nên nghĩ xem ta chết cách nào cho tốt? Ta muốn gì khi chết? Ai sẽ thực hiện điều này? Phải chắc chắn người đó hiểu ý ta, làm theo ý ta. Nếu bệnh nhiều, hỏi bác sĩ… còn sống được bao lâu để chuẩn bị? “Hộ tử” phải được chuẩn bị tốt như “hộ sinh” chứ. Biết trước khoảng sống còn, khả năng chữa trị.  Giai đoạn cuối chỉ là giảm thiểu đau đớn, tránh những thứ điều trị gây hại!

BS Collins nói phải bắt đầu bàn chuyện “hộ tử” ngay từ bây giờ đi, dù bạn 25 hay 95.

Không có bạn thiết nào gần gũi luôn luôn gắn bó với ta như là cái chết. Nó gắn với ta từ trong gene. Nó gắn với ta như một cặp song sanh thai, không tách ra được. Nó cũng chẳng bao giờ hù dọa ta, chẳng bao giờ mè nheo đòi hỏi gì ta. Thiệt ra nó gắn bó, thân cận, gần gũi, ấp ủ, âu yếm ta từng phút từng giây. Lỗi không phải ở nó. Lỗi ở ta. Khi ta sanh ra thì nó mới theo ta. Nếu ta không sanh ra thì không có nó theo. Nó không ở ngoài ta. Nó chẳng hề đến với ta. Nó sẵn có trong ta. Vì có sanh nên có tử, có sống nên có chết. Tuy tên gọi cái chết có khác nhau tùy văn hóa, nhưng tất cả cái chết đều giống nhau y hệt. Cũng là ngưng thở, hết thở. Trả hơi thở về cho không khí, thứ hơi thở đã mượn tạm xài từ hồi sanh ra. Chỉ mượn tạm mà không nhớ, không biết.  Cũng là tan rã. Cát bụi lại hoàn cát bụi. Tứ đại đất nước gió lửa lại hoàn đất nước gió lửa. Cái gì cũng mượn tạm mà không nhớ không biết. Nên Phật dạy phải luôn nhớ cái chết. Người anh em song sinh thai trong thai này luôn là bạn thiết, cùng đắt díu nhau cùng chia sẻ lúc buồn lúc vui suốt cả cuộc đời giả tạm này. Giả nó không thật, vì nó “hư vọng”. Tạm vì nó vô thường, thay đổi từng phút giây, từng sát na.

Nhưng sống mà chỉ đợi chờ chết thì… ? Thì càng vui sống chớ sao. Sống mà biết mình sắp chết, mình sẽ chết thì càng phải sống có ý nghĩa, có hạnh phúc. Những ai tưởng mình không bao giờ chết thì vất vả trăm chiều. Họ vất vả vì lo giành dân chiếm đất, nhất thống giang hồ, muôn năm trường trị và đi tìm thuốc trường sinh bất tử… Cuối cùng thì họ cũng ngủm!

Còn người biết mình sẽ chết thì sống hạnh phức trong từng phút giây. Thậm chí họ tập chết từng ngày. Làm bạn với Thần chết. Bạn của Thần chết thì Thần chết không nỡ làm phiền đâu. Họ đã chuẩn bị cả rồi. Khi nào « dưới vực sâu lời mời đã dậy » thì vác ba lô lên đường thôi, ủa mà cũng chẳng cần ba-lô nữa.

Giải thoát sanh tử không phải là không còn sanh tử nữa mà chỉ là không còn phải sợ hãi cái sự chết đang đến dần nữa. Cái sanh dù gì thì cũng đã lỡ rồi, lỡ sanh ra rồi, dù muốn hay không muốn, ta cũng lỡ… chào đời, lỡ lang thang một kiếp nhân sinh rồi nên vấn đề còn lại là tử. Nhưng sanh ta không sợ cớ sao tử lại sợ? Bởi vì ta ham sống. Ham sống sao cứ kêu than sống là khổ? Khổ mà không muốn thoát là sao?

Có cách nào để người ta luôn nhớ đến cái chết để được sống hạnh phúc hơn không?

Có đó. Cứ ngồi yên đó. Lắng nghe hơi thở của mình. Thở vào… thở ra. Một hơi thở là một cuộc sống. Thở ra rồi thở vào. Lại một cuộc sống mới. Thì ra…. sống và chết là một chu kỳ hình sin. Cái gọi là sống, cái gọi là chết. Gọi vậy thôi chớ không phải vậy. Có thể đảo ngược lại. Nhìn kỹ thì thấy cái chết mới là cái sống. Thở vào như sóng. Thở ra như nước. Sóng là nước. Nước là sóng. Tùy duyên. Bày đặt vui thôi mà!

Không có hơi thở nào của hôm qua. Không có hơi thở của ngày mai. Hơi thở chỉ có hôm nay. Ở đây và bây giờ. Cho nên biết thở là biết sống ở đây và bây giờ.

Người nào luôn nhớ cái chết thì sống hạnh phúc.

 

 

Đỗ Hồng Ngọc, Saigon 2.2019

(Còn tiếp)

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

“Về thu xếp lại…” (kỳ 2)

20/02/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

“Về thu xếp lại…” (kỳ 2)

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

3. Về thu xếp lại… ngày trong nếp ngày

 

“Về đây đứng ngồi 
đường xa quá ngại 
để lòng theo chút nắng bên ngoài…”

(TCS) 

 

Bây giờ muốn ngủ lúc nào ngủ. Muốn dậy lúc nào dậy. Chỉ khi nào có đi đâu xa mới phải để đồng hồ báo thức mà luôn dậy trước giờ, vói tay tắt đồng hồ reo rồi… ngủ tiếp. Thức dậy nhìn đồng hồ coi thử mấy giờ rồi, nhớ hôm nay sẽ có những việc gì phải làm. Có khi phải ghi trên giấy từ đêm trước. Bây giờ “ mỗi ngày tôi chọn một niềm vui… đường đến anh em, đường đến bạn bè” là đủ. Nếu có đi dạy học, đi nói chuyện ở đâu đó thì phải đúng giờ giấc còn thì cứ theo cái đồng hồ sinh học của mình. Xưa thức khuya dây sớm theo dõi trận đá banh hay. Nay thôi. Ban tổ chức dành cho tôi một sân riêng, có mái che, máy lạnh. Coi được bao lâu thì coi. Muốn thì cho ngưng trận đấu, sớm mai đấu tiếp. Đọc tin tức các đài báo phần lớn cũng chỉ đọc cái tựa là biết đủ rồi. Thì giờ đâu mà dài dòng văn tự. Nếu là một đề tài hay, cần thêm chi tiết thì đọc nhanh, kiểu câu đầu câu cuối, dòng dọc dòng ngang là xong. Bài nào thấm thía lắm mới đọc từng chữ. Dừng lại, nhâm nhi, ngẫm ngợi, rồi đọc tiếp. Cười khà một mình. Thích những bài bình luận sâu sắc, châm biếm nhẹ nhàng. Mấy chục năm nay quen giờ giấc  chính xác, thấy ai trễ giờ thì bực mình do làm ở khoa cấp cứu bệnh viện nhiều năm, chậm trễ một phút có thể chết người. Bây giờ phấn đấu đi trễ cho quen vì đi đúng giờ, đến sớm làm cho người ta ngượng. Thăm hỏi một vài bạn đau ốm. Thư từ cho người này người kia. Nay vắng người này mai vắng người khác. Đến một lúc, thấy vắng cũng như có mặt. Không khác. Vài ba thư mời dự chỗ này chỗ khác. Thử chọn xem nên đi đâu không? Đa số đành từ chối. Ăn uống khó khăn. Mặt mày khó ưa. Ăn nói dễ ghét. Từ chối viết bài cho báo, xuất hiện trên truyền hình, trả lời phỏng vấn này nọ vì biết mình đến lúc nên lánh mặt, nên đi chỗ khác chơi. “Biết đủ dầu không chi cũng đủ/ Nên lui đã có dịp thời lui” (Ưng Bình). Thỉnh thoảng có bài này bài kia viết sai , trích sai… cũng thôi kệ. Nhiều bài không phải của mình, không phải mình viết, người ta cũng gắn tên mình là tác giả, thậm chí kèm cái hình chân dung cho… chắc ăn. Lúc đầu bực mình, đính chánh nọ kia. Sau, thôi, tùy hỷ. Tự dưng rồi người ta cũng biết. Kẻ cố tình làm sai chắc cũng thấy không vui.

 

Vào phòng tắm nhìn vào gương soi để thấy cái “bổn lai diện mục” của mình. Tức cười. Thấy nó ngày càng nhăn nhúm, da mồi tóc bạc tăng tốc, cứng ngắc, rụng gần sạch. Mỉm một nụ cười… tươi trước gương.  Nấu một bình nước để pha trà, pha café.  Có lúc quên cắm điện. Chờ hoài không thấy nước sôi. À há. Vệ sinh các thứ xong thì… ngồi thiền. Con người vốn khổ vì làm việc với cái đầu nhiều quá, đến nỗi ‘điên cái đầu”.  Khôn hơn chút thì làm việc với trái tim. Nhưng với trái tim cũng vẫn khổ, có khi còn khổ hơn. Có nhà minh triết khuyên nên làm việc với cái… rún. Làm việc với cái rún nghĩa là trở về với hơi thở. Đưa hơi xuống huyệt đan điền. Tôi nghĩ, rún thì đã tốt, nhưng tốt hơn nữa là làm việc với… ruột già, xuống thấp hơn cái rún nữa càng tốt.

 

Ngồi thiền 30-40 phút là đủ. Lúc đầu chưa quen, còn đau chân đau cẳng, sau quen dần.  Thiền Anapanasati (quán niệm hơi thở) trong kinh Tứ Niệm Xứ. Theo tôi, đó là một phương pháp thiền có cơ sở khoa học, sinh lý học tốt nhất, không sợ “tẩu hỏa nhập ma”. Thiền tập là cách tập sống trong cái chết. “Xả thiền” là giai đoạn tốt nhất để thể dục. Tỉnh rồi phải động chứ. Nhịp điệu mà. Tập tất cả các cơ khớp và mỗi động tác có thể gắn với một tên gọi tùy nghi. Này là từ bi. Này là hỷ xả. Này là tham, này là sân, là si, nghi, kiến, mạn… Này là từ bi, này là trí tuệ, này là bình đẵng, là trực tâm. Học và hành lai rai quấn quít nhau. Sau buổi ngồi thiền và tập thể dục kiểu đó, chừng một tiếng, cơ thể như được sạc pin, sảng khoái hơn. Tắm xong thì tự làm cho mình một ly café- yaourt. Sáng có gì ăn nấy, không ăn cũng được. Ngồi vào máy tính. Ngày càng mất nhiều giờ cho máy tính. Điện thoại smartphone thì ngày càng ngu. Tin mình đợi thì chẳng bao giờ đến. Người mình mong thì chẳng bao giờ gọi. Nhỏ mà không học lớn mò sao ra. Máy tính cứ lò mò, ngày càng chậm chạp. Phải chi như Tô Đông Pha có một nàng Vân, pha mực, rót trà, gõ cho mình cái meo, post cho mình cái bài lên web… thì hay quá!

 

Là thầy thuốc nhưng tôi rất không ưa thuốc men. Kể cả cho bệnh nhân. Người ta quảng cáo cho cố để bán thuốc. Hù dọa cho cố để bán thuốc. Lâu lâu lại công bố thứ thuốc này thuốc kia phải thu hồi, phải cấm vì gây nhiều tác hại hơn mang lại lợi ích.

Đối với bản thân mình, tôi nghĩ cần ăn uống vừa đủ, vận động vừa đủ, thiền định, giữ tâm hồn thanh thản, an nhiên tự tại, không bị lệ thuộc vào thầy (thầy thuốc, thầy tu, thấy bói, thầy phong thủy…), không bị lệ thuộc vào thuốc, dù là thuốc đông tây nam bắc. Trừ trường hợp có bệnh lý thực sự cần phải can thiệp thì phải tuân thủ. Khi phải mổ cấp cứu… thì đành mổ thôi. Nhưng khi bạn bè đồng nghiệp thương tình cho cả một bụm thuốc để uống hàng ngày thì tôi chọn một vài món, còn thì… liệng hết. Các thứ thuốc tương tác lẫn nhau, gây nhiều rắc rối phiền hà. Thuốc nào cũng đầy phản ứng phụ (side effects). Tội gì biến mình thành con chuột bạch thử hết thuốc này đến thuốc kia!

 

Ăn không chỉ là ăn. Tôi ăn uống đơn giản, mà con cháu lúc nào cũng kêu khó. Bởi không ăn giống mọi người. Đòi cá khô, rau luộc, bún, nước mắm me. Cá kho mặn thì đem đi chiên. Ăn chay không ra ăn chay. Ăn mặn không ra ăn mặn. Không biết uống rượu. Không hút thuốc lá. Có dịp cùng bè bạn vào bữa tiệc tùng luôn thấy lạc lõng. Mọi người nhìn mình cũng dè chừng. Mình cũng ngượng ngập. Đã vậy, lúc nào cũng đòi… ớt. Cả một bàn tiệc thịnh soạn công phu của gia chủ, có khi chỉ khen món ngon nhất là ớt! Vì thế, dần dần ai cũng tránh mà mình cũng khỏe. Suy dinh dưỡng từ nhỏ. Tản cư, ở rừng ăn uống thiếu thốn đã quen. Khoai, bắp, đậu, mè là món khoái khẩu.  Lúc về thành thì cũng ở trong chùa. Lúc 12 tuổi cân nặng 25kg. Sáng sáng đi học ăn một chén cháo muối. Trưa làm tô bún nước mắm cay xè. Bánh căn bao bụng với nước cá mòi. Xôi là món tuyệt vời nhất vì rẻ tiền mà no lâu. Suốt thời gian ở Saigon đi học, mỗi sáng đều xôi và xôi. Khoái khẩu hơn nữa là cơm cháy, cá khô nướng.

Càng có tuổi, càng ăn đơn giản. Lại thêm bệnh Gout. Hải sản hết dám ăn. Nhiều bạn tưởng tôi ăn chay trường. Không. Tôi không phân biệt chay mặn gì đâu. Có gì ăn ấy. Nhưng không ăn thịt. Chỉ ăn cá, rau. Nhớ thời Phật đi khất thực, cũng cho gì ăn nấy. Thức ăn nào với Phật cũng thành chay tịnh. Vì tâm đã chay. Thấy sợ khi người ta “ăn chay” mà thức ăn có tên rất “mặn”.

Ăn không chỉ là ăn! Ăn làm ra hạnh phúc hay khổ đau. Ăn làm ra người hiền hay kẻ ác. Ăn làm mau già hay làm chậm tiến trình lão hóa. Kẻ thù ta cũng thường vây quanh ta trong bữa ăn bằng lời nói cử chỉ. Nhưng kẻ thù còn đầu độc ta bằng những món ngon. Ngày càng có nhiều món ăn chế biến sẵn, thức ăn nhanh… rất đáng ngại.

Thỉnh thoảng nên tự tay nấu ăn một bữa! Yan can cook, huống chi ta? Bảo đảm bữa ăn đó là một bữa ăn ngon nhất! Đừng ngại. Thiên tài đầu bếp thường là những lúc lỡ tay, chế ra một thứ thức ăn không giống ai, không theo một thứ sách vở nào, công thức nào… Các vua đầu bếp đều là những người dám nghĩ dám làm, dám sai mà không sửa.

Món ăn nào do tôi chế biến đều là món ăn…ngon cả! Kể cả “xà bần” các thứ, tưởng như phải bỏ đi. Đó là những món ăn chưa có tên trong bất cứ thực đơn nào của các khách sạn hạng đầu trên thế giới. Những món đó có tên chung là món…trời ơi, vì ai cũng kêu lên như vậy, nhưng khi ăn thì quả thật là ngon! Các thức ăn đều là thuốc, chẳng qua ta không để ý mà thôi! Thức ăn càng gần với thiên nhiên thì càng tốt. Mỗi ngày tôi tự “khất thực” lấy phần mình, thường thì ăn một mình dễ “chánh niệm” hơn.

Lâm ngữ Đường nói những sinh vật ăn rau cỏ luôn hiền lành như trâu bò, dê, ngựa, nai, cừu… còn những sinh vật ăn thịt luôn hiếu sát như cọp, beo, sư tử, cá sấu… Có một câu nói rất quen: Hãy nói cho tôi biết anh ăn gì, tôi sẽ nói anh là ai. “You become what you eat”.!

 

Giả Bình Ao viết một bức thư cho bạn để từ chối đi ăn cỗ. Xin trích một đoạn như sau: “…Muốn ăn cỗ thì ngồi với người quen sẽ ăn ngon, thích thì ăn nhìều, không thích thì ăn ít, có thể nấc, có thể đánh rắm, có thể nói đùa, chửi bậy… Ăn với người lạ mà làm thế đựơc ư? Người biết thì có thể thông cảm mình lười nhác tản mạn đã quen, người không biết sẽ cho mình lếu láo không tôn trọng họ…! Trên mâm cỗ, chúc rượu ai trước ai sau cũng không được lộn xộn, không được sót người nào, mà mình đâu nhớ được vị nào làm lớn làm nhỏ… Mình lại không hay cười mà trên mâm cỗ đương nhiên phải cười, cái cười ấy dễ trở thành nhếch mép, cười ruồi, đâm ra tẻ nhạt bầu không khí… Mình ngần này tuổi đầu rồi, tùy tiện ở ngoài đã quen, ở nhà càng quen, bảo mình khúm na khúm núm, ân cần chiều chuộng như gái làm tiền thì khó mà học nổi trong chốc lát. Cho nên hãy tha thứ cho mình, miễn cho mình nhé…!”. (Tản Văn, Giả Bình Ao, Vũ Công Hoan dịch)…

 

Phật dạy có 4 “nhóm” thức ăn khác gồm: Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực… Thức ăn ta nói ở trên chỉ mới là đoàn thực. Đoàn thực là thức ăn được vo lại thành nắm như nắm xôi, nắm cơm vắt, có thể có đủ bột, đạm, dầu, rau… để nuôi thân. Khi ăn một nắm cơm như thế, ta thấy cả “ngũ uẩn” trong đó. Lấy ngũ uẩn nuôi cái ngũ uẩn thân ta là vậy. Còn Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực là những thức ăn của tâm hồn. Những loại này không cẩn thận thì nó quấy ta, khó mà an lạc được. Chỉ cần bấm một cái nút, chúng đã sanh ào ạt…

 

Khi còn trẻ, ta thấy cái “ăn” là quan trọng, khi về già mới biết cái “chuyện lớn” kia còn quan trọng hơn! Lâm Ngữ Đường bảo: “Hạnh phúc ư? Rất đơn giản. Nó nằm ở ruột già! Ruột già mà điều hòa thì ta hạnh phúc, còn không thì ta khổ sở. Chỉ có vậy thôi!” (Sống đẹp, bản dịch Nguyễn Hiến Lê).

Bón là một cực hình đối với người có tuổi. Khi bị bón, ta trở nên cau có, quạu quọ, khó chịu… Chuyện kể ở một nhà kia, chuột nhiều vô kể và phá phách quá lắm, chịu không nổi. Nuôi mèo, đặt bẫy chẳng ăn thua! Thế rồi có người bày bắt lấy một con chuột to, khâu đít nó lại, rồi thả nó ra. Mới đầu chẳng có chuyện gì xảy ra nhưng chỉ ba hôm sau, con chuột bị khâu đít bắt đầu cắn phá lung tung. Chúng cứ lựa các con chuột… nhởn nhơ, vui vẻ… thấy ghét mà cắn, cắn cho bõ ghét! Thế là từ đó không còn một con chuột nào dám lai vãng nữa!

Thần kinh chịu trách nhiệm chuyện lớn này là “thần kinh thẹn”. Do đó, nếu cứ “thẹn” hoài thì sẽ thành bón kinh niên thôi. Khổ nỗi, thời đại toàn cầu hóa bây giờ người ta toàn lo chuyện hội họp, thương thảo, tranh luận căng thẳng, dễ “vượt qua” chuyện lớn lúc nào không hay!

Ta thấy ở những nơi văn minh, lịch sự – những tòa cao ốc lớn, nhà hàng, khách sạn 5 sao – bao giờ hệ thống toilet cũng đặt ngay ở cửa ra vào, sạch đẹp, thơm tho, có tiếng nhạc dìu dịu, êm nhẹ, đầy quyến rũ…

Tóm lại,  chuyện không nhỏ. Nên mới gọi là “Đại”. Còn tôi thì sao? Nói chung vẫn cứ nhăn nhó, quạu quọ và cau có…!

 

Càng già có vẻ càng cần ngủ nhiều như pin cũ cần sạc lâu hơn. Lại cần phải sạc nhiều lần  nên ngoài ngủ tối còn phải ngủ trưa, ngủ… tùy hỷ nữa! Pin cũ lại dễ chai. Nên nhiều khi không dễ mà ngủ. Ngủ đầy đủ thấy sảng khoái, thảnh thơi, trí nhớ tốt. Ngủ thiếu như hết pin, cà khịa. cà giựt. Tắm nước ấm kích thích thần kinh, gây cảm giác dễ ngủ và bóng tối giúp tuyến tùng tiết melatonine, kích thích tố giúp dễ ngủ.  Một chỗ quen thuộc. Yên tĩnh. Mặc thoáng mát. Ăn nhẹ dễ tiêu. Hồi nhỏ, tối tối ra giếng múc nước gàu mo dội ào ào, nay thì thôi, đừng dại. Dỗ giấc ngủ tốt nhất là dõi theo hơi thở. Hơi thở trung tính và sẵn có.

Khi nào buồn ngủ thì đi ngủ ngay. Không ráng. Ráng thì không dễ dỗ lại. “Cơ tắc xan hề không tắc miên” (Trần Nhân Tông): đói đến thì ăn mệt ngủ liền chắc là vậy. Tiếng mình hay. Buồn ngủ. Chưa buồn thì kệ nó, việc gì phải ngủ.  Cơ thể sẽ biết cách ngủ bù, việc gì mình phải lo cho nó! Vui khó ngủ. Vui là kích thích, hào hứng, rộn rã, thở gấp, tim đập nhanh, huyết áp căng. Buồn, mọi thứ xìu xuống, giảm kích thích, thở chậm lại, tim đập chậm và huyết áp cũng giảm.

Có thể nói cơ thể ta gồm 2 phần, thân xác và thân hơi! “Nghệ thuật” ngủ là làm sao tách “thân xác” ra khỏi “thân hơi”. Dỗ giấc ngủ dễ là tách thân xác ra khỏi thân hơi. Tức là buông xả toàn bộ thân xác, rả nó ra, cho nó xẹp xuống, hết căng, xì cho nó xẹp lép, tay chân trong tư thế không gò ép, dễ chịu là được. Khi thân xác xẹp lép, lửng lờ như vậy rồi, thì chú ý “dõi theo” thân hơi. Thân hơi nó trung tính, nó tự động, nó cóc cần thân xác hỗ trợ. Nó phình xẹp theo ý nó, không cần phải điều khiển nó, không cần phải điều hòa gì cả. Vậy là ta rơi vào… giấc ngủ lúc nào không hay.

 

Mấy năm nay tôi không còn trực tiếp khám bệnh, đã “rửa tay gác kiếm”, chỉ thỉnh thoảng tư vấn hoặc tham vấn cho mấy cas đặc biệt. Chẳng bao lâu nữa, tôi nghĩ mình cũng sẽ như người bắn cung thiện xạ nọ không còn biết cây cung, mũi tên là cái chi chi! Ưu tiên bây giờ là đi đây đi đó theo lời mời “nói chuyện sức khỏe” (health talk) cho bà con. Mỗi buổi đi nói chuyện như vậy, với tôi, là một cơ hội để giao lưu và học hỏi. Ở trường cũng vậy. Từ bỏ làm chủ nhiệm bộ môn. Dạy ít dần. Dạy, chủ yếu cũng kể chuyện “đời xưa” cho sinh viên nghe, không dạy kiến thức, kỹ năng mà dạy về thái độ, về mối quan hệ thầy thuốc bệnh nhân, về y nghiệp, y đức. Đó là cách tôi “chọn ưu tiên” và “tối ưu hóa” việc của mình ở tuổi già này.

Thỉnh thoảng dạo cảnh chùa. Lang thang đây đó. Tán gẫu với bạn bè ở các quán café vắng vẻ, nơi bờ ao, bờ hồ, dòng nước… để có chút thiên nhiên…

Định làm gì trong ngày thì ghi ra đi, vì chút xíu sẽ quên. Do vậy, mỗi góc, mỗi nơi trong nhà có xấp giấy nhỏ, có cây viết sẵn chờ đó.

 

Bây giờ tôi cũng trở thành chuyên gia dự báo thời tiết lúc nào không hay. Một trận động đất ở Indo, ở Nhật, một cơn bão sắp ập vào Philippines, vào Caribee tôi biết trước khi TV lên tiếng. Mới hôm nọ, đùng cái, chóng mặt, xây xẩm, nôn mửa… tăng huyết áp. Không cần học hành y khoa nhiều ai cũng biết đó là một cơn choáng, stroke, mức độ thế nào chưa biết. May mà chỉ là một cơn thoáng thiếu máu não, do một số mạch máu li ti nào đó ở não đã bị nghẽn, tắc.  Từ đó sẽ dẫn dần dần tới tình trạng nặng hơn. Già có cái mốc. Trước đó mấy ngày, già ngon. Qua cái mốc, eo sèo, suy sụp. Đứa cháu nội nói “Ông Nội lì quá, kêu đi Bệnh viện không đi”. Một ngưòi không phải là thầy thuốc, sẽ phải tìm ngay đến bác sĩ. Còn ta? Trăm chẩn đoán hiện ra trước mắt. Ngàn câu hỏi đặt ra. Dù sao cũng phải đi khám tim mạch. Phải rà toàn bộ. Rồi phải khám não nữa chứ. Chắc là một thứ microemboli rồi đó thôi. Tuổi này thì các cơ quan “đầu não” bắt đầu sinh sự! Sắp hết thời hạn sử dụng rồi. Siêu âm tim. Điện tâm đồ. Xquang tim phổi, xét nghiệm máu, sinh hóa… các thứ. Lâu nay cứ hẹn mãi, ngần ngại mãi. Có thực sự cần thiết không. Bói ra ma quét nhà ra rác! Nhưng thôi, lần này đành phải bói, phải quét thôi. Đến bác sĩ thế nào cũng tìm ra cho mình một cái bệnh gì đó để lo âu và để sống khổ đau với nó. Họ sẽ bắt mình làm đủ thứ xét nghiệm và dựa trên những con số này nọ để phán mình phải thế này phải thế khác.

Nhưng bệnh cũng có cái hay của nó chứ. Nó làm cho ta nhớ lại mình. Đã đành biết bệnh tật gắn vào mình từ trong trứng nước, thậm chí trước đó nữa, ở nơi ông bà cha mẹ mình từ ngàn xưa qua các gen di truyền nhiều thế hệ, nhưng cứ mỗi lần bệnh tật, với tôi, trở thành một cái giật mình. Mà cũng lạ, đường đường là một người thầy thuốc, học hành đàng hoàng, ra trường hơn nửa thế kỷ, nghề nghiệp chín chắn, nổi tiếng là người thầy thuốc “mát tay”, luôn quan tâm chăm lo giúp đỡ cho người khác khi có ai nhờ đến, cả bệnh thân lẫn bệnh tâm, vậy mà, với mình, tôi quên tôi tuốt. May thay, nhờ có bệnh nhắc. Mà không phải là bệnh nhẹ. Bệnh nhẹ không đủ nhắc tôi đâu. Một chuyến té gục trong cầu tiêu mê man vì xuất huyết tiêu hóa. Nhắc đó. Phá cửa, chở vào bệnh viện truyền máu. Một chuyến nhức đầu nôn mửa, cườm mắt muốn nổ, từ cườm khô sang cườm ướt. Nhắc đó. Mổ cấp cứu. Thiên hạ mổ mắt xong về. Tôi mổ sanh biến chứng. Các bạn giúp đỡ, lo lắng, đo tới đo lui, mắt bị nhiễm trùng thứ phát, tưởng tiêu, nhưng còn dùng được chút xíu. Thôi, kệ nó. Lần khác nữa, chuyến tai biến mạch máu não, đục sọ 2 lỗ, dẫn lưu. Nhắc đó. Những ngày nằm viện, tỉnh lại, tôi viết bài thơ cám ơn: Cám ơn cơn bệnh ngặt nghèo, quật ta kịp lúc!… Sức khỏe của người già chủ yếu đưa vấn đề “tâm thần” lên hàng đầu: làm sao phát triển và duy trì được sự sảng khoái và hoạt động chức năng tốt nhất về tâm thần (mental), rồi mới đến xã hội (social) và thể chất (physical), bởi thể chất đã tới hồi rệu rã, yếu tố chính sẽ chỉ là vấn đề tâm thần vậy.

 

Cái thiếu lớn nhất của người già là thiếu bạn. “trời cao đất rộng, một mình tôi đi/ đời như vô tận, một mình tôi về… với tôi”. Từ ngày về hưu, bạn bè rơi rụng dần. Rơi rụng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Lâu lâu, dòm lại cái cuốn sổ danh mục ghi điện thoại (sau này ghi thẳng vào trong điện thoại) đã thấy có nhiều địa chỉ chẳng biết làm sao liên lạc được nữa. Muốn xóa mà ngâp ngừng rồi không nỡ.

Cảm ơn internet. Nhờ có internet mà nối kết được cả thế giới vào trong lòng bàn tay. Cảm ơn cả những ký hiệu diễn cảm bằng những hình ảnh gì đó là nụ cười là nước mắt là yêu thương là hờn giận…cả những từ lạ như hihi haha huhu trên tin nhắn, trên email! Riết rồi không cần nói chẳng cần nghe, chỉ xài mấy cái ký hiệu là đủ rồi vậy.

 

 

  

……………………………………………………………………………………………..

 

4. Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi…

 

“Mây che trên đầu và nắng trên vai
Đôi chân ta đi sông còn ở lại
Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hiện bóng con người…”

(TCS)

 

Đúng như Carl Rogers nói, càng già càng dễ xúc động. Già không phải là khô khan cằn cỗi chi đâu! Tôi thấy mình càng già càng dễ xúc động. Cảm xúc rất mạnh. Mít ướt. Cảm xúc không bị bào mòn đi hay cùn nhụt đi, chai lì đi như vẫn tưởng.

Tôi chảy nước mắt dễ dàng trước một hoàn cảnh cảm động, ngay cả trong phim ảnh mà tôi biết là diễn xuất. Coi đi coi lại một phim cũ, đến chỗ cảm động đó tôi vẫn cứ không cầm được nước mắt. Nó tự động trào ra, ngoài sự kiểm soát của tôi. Chuyện không có gì cũng khóc được. Cũng chừng đó chuyện mà tới đoạn đó, biết là giả, là kịch, là phim mà nước mắt vẫn cứ chảy ra, cầm không được. Có khi khóc nức nở. Nhiều khi không can đảm coi tiếp. Chờ qua cơn, nguôi dần mới coi, rồi lại khóc. Cái gì làm mình trở nên “mít ướt” lạ lùng mà hồi nhỏ, lúc trẻ không đến nỗi vậy?

Đọc chuyện anh em nhà họ Điền định chặt cái cây cổ thụ trong vườn để chia nhau thì bất ngờ thấy cây đã chết, chuyện tình bạn của Lưu Bình Dương Lễ… và những chuyện khác trong Quốc văn Giáo khoa thư cũng lại làm tôi rơm rớm nước mắt. Có khi nghe một bài hát cũ, tôi thấy mình xúc động. Bài hát có thể bạn trẻ gọi là nhạc sến. Sến chảy nước là vậy chăng?  Có khi nhớ đến một người bạn từ tuổi nào xa, tôi cũng thấy lòng mềm nhũn.  Mít ướt quá rồi đó.  Tôi phải vội vàng nghĩ đến một điều gì khác để đánh trống lãng, để lừa gạt mình. “Bất thủ ư tướng, như như bất động” ư? Còn lâu!

Cái tính dễ xúc cảm như vậy là một thứ stress, thường xuyên, liên tục, thật không hay cho sức khỏe. Nhưng biết làm sao được?

 

Có phải “con tinh yêu thương vô tình chợt gọi” rồi chăng? “Lại thấy trong ta hình bóng con người” rồi chăng? Để rồi tự dằn vặt mình “Ta là ai mà còn khi giấu lệ? Ta là ai mà còn trần gian thế?” chăng.

Nghĩa là không thể rời xa. Nghĩa là không thể “thôi chia ly từ đây”. Cửa động đầu non đường lối cũ. Ngàn năm thơ thẩn ánh trăng chơi ư (Tản Đà). Vì sao mà “yêu quá đời này” mặc cho “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”.

Thiệt ra chẳng “vô tình” đâu. Có tạo tác đó. Có nghiệp báo đó. Chỉ có con tinh mới biết yêu thương đó mà. Con người thì mịt mù cát bụi. Loay hoay với điên đảo mộng tưởng. Con tinh mới đứng bên ngoài. Nhìn rõ. Và yêu thương. Những A-tu-la, những Ba-la-sat mới biết yêu thương.

 

Nghiên cứu cho thấy có vẻ như càng già người ta càng yêu nhiều hơn, yêu vội hơn và càng yêu thì càng “sống khỏe sống vui” hơn! Khi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội” thì mới thấy còn có bao nhiêu thời gian để yêu thương và được yêu thương? Dĩ nhiên, tình yêu bấy giờ có thể chỉ là một mối tình lãng mạn, hoặc một mối tình “ngỡ đã quên đi/ bỗng về quá rộn ràng”… để rồi “như bờ xa nước cạn/ đã chìm vào cơn mơ”. Tình yêu lãng mạn có ý nghĩa rất lớn ở người có tuổi. Như “nuôi sống” họ bằng tình yêu. Hình như họ chỉ giữ được chút kích thích tố vừa đủ để “lãng mạn” cho cuộc đời đẹp ra, đáng sống hơn, sức khỏe cũng tốt hơn vì nó làm cho tim đập nhanh hơn, tuần hoàn não tốt hơn, trí tuệ minh mẫn hơn, hệ thống miễn dịch hoạt động tốt hơn, ít bệnh vặt hơn và nếu có bệnh thì rất mau lành!  Thứ “romantic relationships” này là những “hỗ trợ xã hội” tuyệt vời nhất, xúc chạm, thân mật, gần gũi càng già càng thấy cần hơn, nhất là khi người ta cảm thấy cô đơn hay đau khổ vì một lý do nào đó cần chia sẻ. Người phối ngẫu lúc đó cũng đã trở thành một người bạn thiết. Tuổi trẻ, tình yêu gần gũi với tình dục, nhưng tuổi già, tình yêu trở nên đằm thắm, tình yêu của từ bi hỷ xả, của bè bạn, cùng sến già nam và sến già nữ cho nhau! Một “hồng nhan tri kỷ” tuyệt vời như nàng Vân của Tô Đông Pha? Để ông Tô riêng một thú thanh tao? Nguyễn tướng công mà còn phải “gato” đến vậy! “Tao ở nhà tao tao nhớ  mi/ Nhớ mi nên phải bước chân đi/ Không đi mi bảo rằng không đến/ Đến thì mi hỏi đến làm chi/ Làm chi tao có làm chi được/ Làm được tao làm đã lắm khi…” (NCT).

 

Không có cách nào khác. Phải “về thu thu xếp lại” thôi. Không muốn cũng không được. Nó đã chuyển lượng thành chất rồi! Đã khác rồi, “cát bụi tuyệt vời” đã chuyển thành “cát bụi mệt nhoài” rồi. Dĩ nhiên cốt lõi vẫn là cát bụi. Cái nhánh nhóc tuyệt vời và mệt nhoài kia mới cần phải thu xếp. Mệt nhoài mà tưởng tuyệt vời thì nguy to! Thu xếp lại là gom phân thân các nơi về một mối, thành hạt cát sông Hằng, nơi có tám vạn bốn ngàn sông Hằng mà mỗi hạt cát là một vũ trụ. Gom các phân thân lại, gom những món hóa thân ứng thân gì gì đó lại, ta sẽ nhìn ra ta, để thấy cái không-ta. Không phải của ta, không phải là ta, và xa thêm chút nữa, không phải là tự ngã của ta.

Không có tự ngã của ta nên ta mới thong dong và tự do tuyệt đối, ta có thể hoán chuyển, bay nhảy luân hồi khắp nẽo tùy chọn lựa, khổ đau hay hạnh phúc, thiên đường hay điạ ngục, niềm vui hay nỗi buồn. Ta trách nhiệm với chính mình. Không ai can thiệp vào được đâu! Cho nên mới bảo “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Cho nên mới bảo “Ta là đường đi, là lẽ thật, là sự sống…”. Chớ còn ai vào đó nữa. Cái chân không mà thành diệu hữu, cũng chẳng vui sao? Không phải của ta vì việc gì phải tham, phải tom góp, phải giữ “của”? Không phải là ta thì việc gì phải sân hận, phải giận hờn, phải oán trách? Không phải là tự ngã của ta thì việc gì phải lo âu, phải sợ hãi? Nó là nó thôi. Nó ở ngoài ta. Nó đùa vui chút thôi mà ta phiền muộn, sợ hãi lo âu chẳng phải làm cho nó càng khoái chí chọc ghẹo ta thêm ư? Khi biết ra ngôi nhà ta được kết tập bởi những cột kèo, vôi vữa các thứ, Phật cười bảo thôi nhé, đừng hòng mà bày đặt nữa nhé. Ta biết tỏng cả rồi. Từ đó, Ngài có nụ cười từ bi rất dễ thương.

 

Điều chỉnh mình theo dòng nước buông trôi về biển cả. Chuyện sau đó có bốc hơi thành mây thành mưa, hẹn hò từ muôn kiếp trước không thì không biết vì còn nghiệp còn duyên. Nó vậy đó. Nó trôi. Ta bềnh bồng trôi theo. Nhưng bây giờ nó gia tốc, nó ào ạt, không lửng lơ như ngày xưa còn bé nữa! Ta phải điều chỉnh thôi. Điều chỉnh để trôi cho nó êm xuôi thôi. Không cần quằn quại, không cần khổ đau. Ở tuổi này như đã qua một con dốc, đường trơn tuột, không còn cái hăm hở hì hục leo trèo nhảy nhót ganh đua, nhìn “thế sự” nhẹ hẫng đi và không mấy quan tâm nữa. “Mặc ai hỏi mặc ai không hỏi tới/ Gẫm chuyện đời mà ngắm kẻ trọc thanh” (NCT). Những người nhìn xa trông rộng, đã có thể chuẩn bị thu xếp từ lâu để không bị ngỡ ngàng, đột ngột, sững sờ. Chẳng hạn người ta sẽ phải chọn lựa ưu tiên.  Gom không hết được phân thân tản mạn mệt mỏi thập phương cùng lúc thì gom từ từ. Chọn thế mạnh, chọn thứ mình thuần thục nhất và ưa thích nhất. Lực bất tòng tâm rồi. Sức khỏe đã cạn dần, đã hỏng hóc chỗ này chỗ khác. Có thứ có sẵn phụ tùng thay thế được, có thứ chịu thua. Mắt đã có thể mua thêm kính, đổi kính, thay thủy tinh thể nhân tạo, tai kém có thể mang trợ thính, chân kém có thể kèm cái ba-toong! Nhưng những cục máu đông li ti từ những xơ vữa trong động mạch làm tắc nghẽn rải rác mấy cái mao mạch ở não thì đành chịu. Trí nhớ sẽ giảm dần, quên trước quên sau. Chuyện cần nhớ thì quên, chuyện cần quên thì nhớ. Bước đi lửng thửng, lệt bệt như chân đã mọc dài ra, trong khi lưng thì còm xuống cho gần với đất hơn chút, hơn chút nữa.  Chọn cái gì phù hợp nhất với tâm lý và thể chất mình. Những ưu tiên này rồi cũng phải thay đổi theo thời gian, theo sức khỏe. Khi đã chọn ưu tiên rồi thì cố gắng hoàn thiện với kỹ năng, kiến thức tốt nhất có thể, như vậy sẽ duy trì được niềm vui, cái đó gọi là “tối ưu hóa”. Chẳng hạn không còn chơi được tennis nữa thì chơi bóng bàn, chơi cờ tướng, đánh đàn, làm thơ… Và dĩ nhiên, luôn tìm kiếm một sự “bù đắp” để những ngày tháng lặng trôi này không buồn tẻ.   Như chàng Tư mã Giang Châu ngày ngày vẫn nắn mấy trái bầu xanh trên giàn mà nghĩ tới một nậm rượu ngon cùng bè bạn của Nguyễn Tuân ngày nào!

 

Đỗ Hồng Ngọc

(còn tiếp)

…………………………………………………………………………………….

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 21
  • Trang 22
  • Trang 23
  • Trang 24
  • Trang 25
  • Interim pages omitted …
  • Trang 58
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU
  • Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Minh Lê NT trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Đỗ Tú Quyên trong Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email