Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Nhân năm học mới, đọc lại “Phỏng vấn Bs Đỗ Hồng Ngọc”

25/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Ghi chú: Chiều hôm qua, 24.9.2019, là buổi học đầu năm dành cho Sinh viên Năm thứ nhất Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp HCM, do Bộ môn Y đức-Khoa học hành vi-Giáo dục sức khỏe (mà tôi nguyên là Trưởng Bộ môn và sau đó là Cố vấn) phụ trách, Bộ môn đã có nhã ý mời tôi tiếp tục giảng cho các em như mọi năm nhưng tôi đã từ chối vì biết mình tuổi tác cách biệt đã hơn 60 năm, mà khoa học y học ngày nay tiến bộ như vũ bão…

Tuy vậy, bài “phỏng vấn Bs Đỗ Hồng Ngọc” của Hà Thanh, báo Tuổi Trẻ, trong “Chuyên mục Thời tuổi trẻ của tôi” trước đây có thể “post” lại để các em tham khảo vì có những câu hỏi liên quan đến vấn đề “chọn nghiệp”, vấn đề y đức v.v…

Cảm ơn Hà Thanh.

ĐHN

…………………………………………………………………

 

Hà Thanh phỏng vấn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Chuyên mục “Thời Tuổi trẻ của tôi” 2011- tuoitre.vn)

 

Xin bác sĩ tự “phác họa” đôi dòng về mình?

Đó là một người có cái tên rất “đàn bà” nhưng lại làmột người đàn ông thứ thiệt. Hồi tôi giữ mục Phòng mạch Mực Tím trên báo Mực Tím dành cho tuổi mới lớn, nhiều em viết thư: Thưa cô, em có điều này rất bí mật, không dám nói với ai…

Thứ hai, đó là một ông già mà nhiều người tưởng hãy còn trẻ lắm, nhờ tóc chưa bạc nhiều và viết lách lăng nhăng làm cho người ta cười…

Thứ ba, đó là một bác sĩ nhà quê đến nỗi người ta không biết là bác sĩ, vì toàn nói chuyện làm sao cho người ta biết tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe mình, ít phải lệ thuộc vào thầy vào thuốc…

 

Ai là người có ảnh hưởng lớn trong quãng đời tuổi trẻ đã qua của bác sĩ? Bác sĩ kể cho nghe một chút về người đó đi ạ?

Hai người. Cậu tôi, ông Nguiễn Ngu Í (Nguyễn Hữu Ngư). Ông là một nhà báo nổi tiếng trên Bách Khoa của hơn nửa thế kỷ trước ở Saigon, nhưng cũng là một người điên nổi tiếng, điên thứ thiệt, từng nằm nhà thương Chợ Quán, dưỡng trí viện Biên Hòa nhiều lần… Lúc ở dưỡng trí viện, ông có xuất bản một tập thơ lấy tên là “Thơ điên thứ thiệt”, với sự góp mặt của Bùi Giáng và nhiều “bạn thơ” khác đang nằm ở đó… Người thứ hai là học giả Nguyễn Hiến Lê. Mặc dù không được học với ông ngày nào trên ghế nhà trường nhưng với tôi, ông vẫn là một vị thầy lớn vì ông đã dạy tôi cách sống, cách học và cách viết…

 

Bác sĩ đã trải qua tuổi thơ như thế nào ạ?

Lúc 5 tuổi thì tôi cùng gia đình tản cư lên rừng ở vùng Láng Găng, Bưng Riềng, Xuyên Mộc… Bị sốt rét triền miên, kiết lỵ, suy dinh dưỡng… đủ thứ. Khi cha tôi mất thì tôi 12 tuổi, theo mẹ về Phan Thiết tá túc trong một ngôi chùa với người cô bị tật nguyền. Tôi nhớ lúc đó cân nặng được 25kg, da xanh mét, lá lách sưng to. Mỗi ngày đi nhà thương thí để chích thuốc. Riết rồi ghiền cái mùi nhà thương. Cô tôi nghèo lắm. Sống bằng nghề chằm lá buông. Tôi phụ phơi lá trong sân chùa. Nhớ những khi trời mưa thì ào ào cuốn lá… chạy! Sáng nào mọi người cũng ăn một chén cháo trắng. Có điều cô và các chị tôi rất mê truyện Tàu, mê tiểu thuyết đủ loại. Tôi được sai đi mướn truyện nhưng cấm đọc (vì con nít mê đọc truyện không tốt). Tôi thường lén đọc trên đường đi, dưới gốc cây, nơi bệ đá cổng chùa… trước khi mang về. Đọc tuốt hết, không chừa thứ gì trong tiệm cho thuê sách đó. Tôi được dạy phải tôn trọng chữ thánh hiền, không được lấy giấy báo đi vệ sinh! Thế rồi, một hôm cậu Ngu Í điên của tôi đến thăm. Người ta nói ông điên vì ngộ chữ, vì học nhiều quá hóa điên. (Ở quê tôi ông là người hay chữ nhất, được bà con rất quý trọng. Ông là bạn học cùng tuổi cùng lớp với Trần Văn Khê, Lưu Hữu Phước… ở trường Petrus Ký thời đó). Thấy tôi 12 tuổi rồi mà học hành ấm ớ trong rừng, ông dẫn tôi tới trường tiểu học của một người bạn, gởi cho học miễn phí. Ông còn tặng tôi một đống sách báo từ Saigon mang về. Tôi mê tít.

 

Việc học ngày xưa của bác sĩ như thế nào? Bác sĩ hãy kể cho nghe những kỷ niệm khó quên ở khoảng thời gian này?

Mới đầu trường cho tôi vào học thử lớp Ba. Vài tháng sau, nói tôi học được, cho lên lớp Nhì (lớp 4 bây giờ). Vài tháng sau nữa cho tôi vào thẳng lớp Nhất (lớp 5). Trường tư, trong một ngôi chùa, điều kiện nếu học giỏi thì được miễn học phí. Tôi học giỏi. Cuối năm nhất lớp, chở phần thưởng về… chùa bằng xe xích lô! Cô tôi khen ngợi thưởng cho 10 đồng, đủ ăn 5 chén chè sâm bổ lượng với mấy người bạn thân! Nghĩ lại, tôi thấy cái hồi học tùm lum trong rừng hóa ra mình đã được “luyện nội công” mà không hay, rồi lúc ở chùa luyện cả đống truyện Tàu và tiểu thuyết nữa. Hồi 12 tuổi, tôi viết nhật ký, viết nhận xét phê bình này nọ mỗi khi đọc xong một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn nào đó… Tôi thi đậu cao vào Đệ thất (lớp 6) Phan Bội Châu… Hằng ngày vừa đi học, vừa lo cơm nước cho mẹ tôi bán hàng ngoài chợ. Thế rồi, giữa chừng lại bỏ học, vì cả gia đình dời về quê cũ Lagi, Bình Tuy. Tỉnh mới thành lập, chưa có trường trung học. Tôi lại thất học, phụ bán hàng xén với mẹ ở chợ Lagi. Ba năm sau mới có lớp Đệ thất đầu tiên trong một ngôi nhà thờ (hết chùa tới nhà thờ!). Nhớ lại chuyện học nhảy lớp tưng bừng của mình hồi nhỏ, tôi tính chuyện học nhảy tiếp để theo kịp bạn bè. Nhân một chuyến theo xe chở cá nước đá về Saigon bổ hàng cho mẹ, tôi lang thang lề đường, nơi bán sách cũ, vớ được cuốn “Kim chỉ nam của học sinh” của tác giả Nguyễn Hiến Lê. Tôi đọc, thấy trúng ý mình quá. Tôi bèn đánh bạo viết thư hỏi ý kiến ông, nói muốn học nhảy lớp, có nên không. Ông trả lời ngay: Cháu có thể học nhảy lớp được, vì đọc thư, thấy sức cháu có thể học lớp Đệ tứ (lớp 9) rồi đó. Tôi bèn lập chương trình học nhảy lớp. Thi đậu ngay Trung học đệ nhất cấp, lại nhảy tiếp, bỏ đệ tam, đậu Tú tài I rồi Tú tài II, sau đó đậu vào trường Y khoa. Y khoa thời đó học 7 năm, ra Tiến sĩ Y khoa quốc gia. Hết nhảy được nữa! Tuy vậy, tôi cũng đã ghi danh học thêm Văn khoa, Xã hội học, những ngành mà tôi thích. Tóm lại, tôi mê học và học cho đã. Tôi thấy mình hên, thi đâu đậu đó, nhưng phải nói là nhờ biết cách học, nhất là biết cách tự học. Tôi nghĩ học sinh muốn giỏi phải có chí và biết tự học. Những năm này tôi đã vào Saigon “du học”, ở nhà trọ, ăn cơm tháng trong khu ổ chuột Bàn Cờ và thường xuyên đến thăm ông Nguyễn Hiến Lê. Ông luôn động viên, khuyến khích việc học của tôi. Trong một bức thư ông viết mong sau này tôi dùng ngòi bút để mang lại lợi ích cho nhiều người hơn trong nghề nghiệp bác sĩ của mình. Khi báo Bách Khoa ra số đặc biệt kỷ niệm 100 đầu sách của ông, tôi viết bài “Ông Nguyễn Hiến Lê và tôi”. Ông nói đây là “món quà” quý nhất của ông. Ông đã coi tôi như một người học trò “chân truyền” rồi vậy.

 

Vì sao bác sĩ chọn nghề Y? Đi trên con đường này một thời gian dài, có lúc nào bác sĩ muốn rẽ sang một hướng khác hoặc thoáng nghĩ rằng mình đã không chọn đúng con đường phù hợp với mình hay không?

Trước hết có lẽ vì thấy cha mình chết trong rừng do thiếu thầy thiếu thuốc, bản thân hồi nhỏ phải vào nhà thương thí thường xuyên, nên tôi có ý muốn học Y. Thế nhưng khi đậu Tú tài toàn phần xong, tôi băn khoăn trước ngã ba đường giữa học Y, học Sư phạm hay học Văn khoa. Cái nào cũng thích. Ông Nguyễn Hiến Lê lần nữa lại khuyên nên học Y để giúp gia đình, giúp đời cụ thể hơn, nếu học giỏi có thể dạy học và nếu có tâm hồn, vẫn có thể viết lách được. Đã có nhiều nhà văn là bác sĩ như Tchekhov, Cronin, Somerset Maugham… Tôi đã làm đúng như thế thật.

Sao lại phải rẽ sang hướng khác? Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Tiếp cận với những cảnh đời, những con người, chẳng phải cũng là một nguồn cảm xúc để cầm lấy cây bút sao?

 

Kỷ niệm nào sâu sắc nhất trong công việc của bác sĩ?

Ra trường ba năm, tôi viết cuốn sách đầu tay: Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972). Cuốn sách này do ông Nguyễn Hiến Lê đề tựa. Ông viết rất trang trọng và có một câu mà tôi nhớ mãi: “Một bác sĩ mà là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”. Tôi mê văn chương, làm thơ, vẽ tranh… từ nhỏ. Khi còn là sinh viên, đã xuất bản thơ, viết báo… Nói khác đi, không phải ra trường làm bác sĩ rồi mới cầm bút. Với tôi, bác sĩ là cái “nghề”, còn văn chương là cái “nghiệp”. Tôi mê cả hai.

 

Bác sĩ có thể kể vài kỷ niệm về những lúc bị công việc cuốn hút mà quên đi sức  khỏe của mình được không ạ? Gia đình có than phiền, “rầy rà” để bác sĩ chú tâm hơn đến sức khỏe của bản thân và chăm lo gia đình nhiều hơn không?

Tôi có tật xấu: mê học cũng như mê làm việc. Cái gì mê quá cũng không tốt. Một lần bị xuất huyết tiêu hóa, ngất xỉu trong toilet lúc đang khám bệnh phải đưa đi cấp cứu. Một lần bị tai biến mạch máu não phải mổ sọ với hai lỗ thủng… Lần mổ sọ não có một kỷ niệm đáng nhớ: Lúc đang còn nằm trần truồng trong phòng hậu phẫu, chỉ đắp một tấm “ra” trắng mỏng trên người thì một em điều dưỡng tới chích thuốc, hỏi có phải là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc Phòng mạch Mực Tím không, tôi ú ớ gật thì nghe em kêu lên mừng rỡ: Các bạn ơi, lại “coi” bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nè! Bốn năm cô chạy tới quanh giường coi mình trong tình thế đó! Thì ra lâu nay đọc báo Mực Tím, các em biết tên mà chưa biết mặt… Rồi tôi còn nghe kể bạn bè mở tiệc ăn mừng. Không phải mừng tôi bệnh nặng mà mừng họ chưa bệnh. Lâu nay tôi vẫn là người thường khuyên họ đừng uống rượu, đừng hút thuốc lá mà!

Tôi may mắn được gia đình ủng hộ, vì biết tánh tôi vậy, không “rầy rà” chi cả! Tôi vẫn nhớ ông Nguyễn Hiến Lê khuyên: Đừng để nghèo túng, nhưng khi đủ ăn rồi thì đừng ham làm giàu, dành thì giờ làm chuyện khác có ích hơn…

 

Ai cũng có những lúc đau buồn, tức giận, chống chếnh… trong cuộc sống riêng. Có bao giờ tâm trạng đó làm ảnh hưởng đến công việc của bác sĩ không? Bác sĩ làm cách nào để tránh hay giảm bớt?

Có chứ. Nhưng cũng phải vượt qua thôi. Những năm có tuổi, nhất là sau đợt bị tai biến, tôi nghiên cứu sâu và thực hành thiền, thấy có nhiều hiệu quả, góp phần giải stress và giữ đời sống cân bằng hơn. Đặc biệt trong thời buổi hiện nay cuộc sống có quá nhiều căng thẳng thì ở góc độ y học, thiền đã được nghiên cứu như một liệu pháp. Thực tế, thiền không chỉ dừng ở đó.

 

Theo bác sĩ, y đức có quan trọng hơn tay nghề, kỹ thuật chuyên môn không? Bác sĩ từng trả lời trên tạp chí Sống khỏe rằng “Chuyện y đức của người thầy thuốc hôm nay – đang bị xã hội ta thán – thì không phải lỗi ở họ”. Bác sĩ có thể nói rõ hơn về điều này không ạ?

Không nên tách bạch. Hai cái là một. Có y đức suông mà không có tay nghề, kỹ thuật chuyên môn thì… hại người ta nhiều hơn, làm cho người ta “đau” nhiều hơn. Còn giỏi kỹ thuật chuyên môn mà thiếu y đức thì làm cho người ta “khổ” nhiều hơn. Người thầy thuốc phải quan tâm cả cái đau và cái khổ của con người. Tiếng Việt ta thật dễ thương: đau khổ, bệnh hoạn… luôn là những từ kép!

Y đức không đơn giản, không phải là một khẩu hiệu. Nó phải được học tập và rèn luyện xuyên suốt trong quá trình học y khoa nhiều năm và trong quá trình hành nghề. Nó phải được dạy đầy đủ ở trường, riêng và chung với các môn học khác. Rồi về tổ chức, phải có nghiệp đoàn nghề nghiệp (Bác sĩ Đoàn chẳng hạn) để quản lý chuyên ngành, với những đặc thù riêng của nó, có luật lệ riêng phải tuân thủ, đó là Nghĩa vụ luận y khoa (Déontologie médicale), quy định từng hành vi trong mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân. Nghề y là một nghề đặc biệt, đào tạo lâu dài, nặng nhọc, trách nhiệm cao, “người bệnh phó thác tánh mạng” trong tay thầy thuốc nên họ cần được xã hội tôn trọng và “đối xử” đúng mực. Hiện nay có khuynh hướng coi bác sĩ tốt nghiệp y khoa 6 năm như một cử nhân đại học 4 năm và lương hướng của một bác sĩ trẻ mới ra trường chỉ bằng… một phần ba người nuôi bệnh ở các bệnh viện! Đó là những “chuyện lạ” ngoài tầm tay của người thầy thuốc vậy.

 

Khi bắt đầu qua tuổi hưu, bác sĩ có hụt hẫng không ạ? Bác sĩ đã trải qua bước chuyển đó như thế nào?

Tôi không cảm thấy có bước chuyển nào cả! Nghề y vốn là một nghề độc lập. Người thầy thuốc có thể làm việc suốt đời nếu còn đủ sức khỏe. Nghề văn cũng vậy, là một nghề tự chủ, có thể làm việc suốt đời, nếu còn thấy hứng thú…

 

Bác sĩ có lời khuyên gì cho những bạn trẻ mong muốn chọn ngành y làm con đường đi ạ?

Rất hoan nghênh các bạn trẻ này. Đây là một ngành đang có nhu cầu rất lớn của xã hội. Nhưng chọn học y là chọn con đường gian nan, hằng ngày trực diện với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người (sanh, bệnh, lão, tử)… Phải thực sự yêu nghề và có năng lực. Nói chung, học y cần có một lý tưởng nhân đạo, một “tiếng gọi sâu thẳm” (vocation) của nghề nghiệp. Nếu học y để mong đầu tư… làm giàu trên bệnh nhân thì không nên! Thực ra học y cũng rất thú vị, nhiều thử thách, đòi hỏi trách nhiệm cao. luôn đứng trước lương tâm của mình. Hạnh phúc rất lớn khi thấy mình sống hữu ích cho gia đình, cho cộng đồng, cho xã hội. Bà con mình thường nói “Cứu sống một mạng người bằng lập… năm bảy kiểng chùa” phải không?

 

Cảm ơn bác sĩ rất nhiều ạ.

 

Hà Thanh

(thanhlth@tuoitre.com.vn)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc về chuyện “Để Làm Gì?”

20/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc

Về chuyện “Để làm gì?”

Lời thưa: Thưa anh Hai Trầu,

Tôi phải thành thật xin lỗi anh Hai:

  1. Không ngờ bài viết “tào lao” của tôi “Thư gởi bạn xa xôi” vừa rồi (Để làm gì?) đã làm anh Hai bị “tụt mood” (nói theo cách tuổi teen bây giờ) nên sanh ra chán nản mọi việc, đến nỗi dù đã sẵn bản thảo cuốn Người Đọc & Người Viết III rồi mà chẳng chịu cho in dù mấy cháu hối “Ba in mau mau để vài ba năm nữa Ba sẽ quên hết!”…
  2. Anh căn dặn bức thư này anh viết cho tôi “đọc chơi” thôi, đừng có post lên mạng, không ngờ tôi “đọc thiệt” và thấy nó rất có ích cho tôi, cho anh, cho chúng ta… và cho nhiều người khác nữa, nên xin phép anh cho tôi đăng đại lên đây, ai phiền trách gì tôi… xin chịu trách nhiệm.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(20.9.2019)

……………………………………………………………………………………………………….

Houston ngày 18 tháng 9, năm 2019

Kính gởi Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,

Nhớ mới cách nay không lâu cùng ngồi uống cà phê với bác sĩ ở Đường Sách Sài Gòn, vậy mà ngày qua ngày, nay sực nhớ lại thì đã tròn một năm rồi đó bác sĩ! “Thời giờ thắm thoát thoi đưa” thiệt mà! Và nay nhìn lại mình, tôi thấy sao mau già quá mạng, bác sĩ ơi!

Và rồi mới mấy bữa trước đọc được “Thư gởi bạn xa xôi” của bác sĩ, bác sĩ có nhắc ông André Maurois trong cuốn “Nghệ thuật già” (L’art de vieillir)  có nói rằng: “Khi nào trong đầu mình nảy ra cái ý “Để làm gì?” thì lúc đó mình đã già thiệt rồi!”; thì đúng y chang là tôi dạo này lại có ý nghĩ mỗi khi muốn làm điều gì, tôi hay tự hỏi “để làm gì?”

Chẳng hạn như vào tháng 5-2019, gặp bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều, và chị Thanh Hằng, hiền thê của ảnh, tôi nhận ra phong cách anh chị là phong cách của người Sài Gòn của mấy chục năm về trước lúc tôi còn nhỏ từ dưới làng quê lên Sài Gòn đi học, một phong cách mà tôi luôn trân quý và kính trọng! Và rồi tôi có viết một bài về Sài Gòn với cái tựa “Nhớ Sài Gòn…”; nhưng rồi bài viết xong, cứ để đó hoài, không muốn gởi cho ai đọc!

Hoặc như, có lần thấy cảnh xuồng ghe cũ mục cứ nằm lăn lóc bên lề đường hoặc trong khu vườn cây rập rạp hết tháng này qua tháng khác, rồi tôi lại nghĩ đến thân phận mình, đến một lúc nào đó tuổi già chồng chất và thế hệ mình rồi cũng hết xài như những chiếc xuồng nằm phơi nắng phơi sương bốn mùa; nên tôi ngồi xuồng viết một bài về thân phận những chiếc xuồng bị bỏ quên lăn lóc giữa nắng mưa bên lề đường với cái tựa “Lời tự sự của những chiếc xuồng cũ mục”. Vậy mà rồi, viết rồi, tôi cũng chẳng muốn gởi cho ai đọc và đọc những lời tự sự của kiếp đời tàn tạ ấy “để làm gì?”

Hoặc như mấy tháng trước trong năm nay, người ta ùn ùn kéo nhau coi chiếc cầu Vàm Cống đã bắc qua hai bờ con sông Hậu Giang khúc Lấp Vò và Thốt Nốt, tôi định viết một bài về “Nỗi niềm của bến bắc Vàm Cống”. Vậy mà rồi, tôi đã viết về một bến bắc có mặt nơi một khúc sông có gần 95 năm (từ 1925-2019) đưa rước khách qua sông, nay bến bắc ấy chỉ còn là hoài niệm của những người già mỗi lần họ có dịp đứng nơi bờ sông bên này nhìn qua bớ sông bên kia với những chiếc bắc 10, bắc 20 nay đã thui thủi dời đến một bến sông nào khác rồi! Biết đường đâu mà mò!

Hoặc như, lúc đầu năm nay, tôi dự định sẽ viêt thêm vài mùa cũ nữa rồi gộp vô các mùa trước đó đã in thành sách đâu chừng trên ba mươi mấy mùa để tái bản cuốn Mùa Màng Ngày Cũ in lại hồi 2017 mà lần đó Bác sĩ có viết lời giới thiệu, nay sách đã hết rồi; nhưng rồi tự dưng cũng thấy lòng mình bớt hăng hái về việc in lại Mùa Màng Ngày Cũ nữa rồi! Chắc cũng tại ông André Maurois nhắc cái ý nghĩ “Để làm gì?” của người già!

Hoặc như, sắp nhỏ tôi nhắc: “Ba muốn in sách gì thêm thì chuẩn bị rồi tụi con lo in, để vài ba năm nữa Ba sẽ quên!” Tôi mới coi lại còn bản thảo cuốn Người Đọc & Người Viết Quyển III, dày khoảng 600 trang, lúc đầu rồi cũng muốn in; lúc trước có hai cuốn I và II rồi, nay in cuốn III cho vui, nhưng nghĩ đi nghĩ lại rồi tôi lại thôi, không cần in thêm sách nữa và mình nghĩ in sách ra cho nhiều “để làm gì?”

Hoặc như, hôm tháng 7-2019, vợ chồng tôi có dịp theo con cháu về Boston tìm lại cái nôi lúc các cháu mới qua đây bắt đầu lại những ngày đi học từ những năm mà Bác sĩ cũng có mặt nơi thành phố Boston này để tu nghiệp về Y Tế Công Cộng tại  Harvard (Boston, 1993)). Tôi cũng ghé qua phố Tàu ở Boston để tìm lại cái cảm giác “gió co ro lạnh” trong Thơ Ngắn Đỗ Nghê mà anh Tô Thẩm Huy đã nhìn ra có lúc ảnh cũng đến phố Tàu ở Boston để nghe “gió co ro lạnh” như thế nào…

Anh Tô Thẩm Huy viết: “…tôi cũng một mình lang thang ở phố Tàu Boston. Tuyết không rơi, nhưng chao ơi gió lộng, và lạnh thấu trời. Hai tai muốn rụng xuống vì mũ đội không che phủ được hai tai. Chính nhờ thế nên khi viết về bài thơ Tuyết của anh Đỗ Hồng Ngọc tôi đã rất “phê”. “Gió” mà nó còn phải “co” thì Tô Thẩm Huy này làm sao mà không “ro” được.]

 Tuyết

Tuyết bay

Bay nhẹ

Phố tàu

 

Gió co

Ro lạnh

Phố

Đìu hiu

Theo…

 (Đỗ Nghê, Boston 1993).

 

Thưa bác sĩ,

Cứ tiếp tục như vậy, nhiều ý nghĩ muốn ghi lại lắm như mới đây anh Năm Hiền bên California gởi cho đọc bài viết của cô Nguyễn Thị Hậu viết về “Mùa vịt chạy đồng”; sau khi đọc xong, tôi dự định viết một bài về “mùa nuôi vịt chạy đồng” chi tiết hơn, thực tế hơn nhưng rồi lại làm biếng quá mạng, chỉ viết nửa chừng chừng năm, mười trang rồi bỏ đó và tự hỏi viết ra “để làm gì?”

Hoặc nữa, như Bác sĩ biết tính tôi là ưa nói lại cho trúng các chi tiết của bất cứ một bài viết của bất cứ tác giả nào mỗi khi họ viết về đời sống ở nhà quê mà tôi có dịp được đọc, tôi thấy chưa đúng là tôi sữa lại liền, để không khéo người đọc chưa sống ở nhà quê, họ tưởng các tác giả viết như vậy là đúng rồi, rồi từ đó cứ nghĩ lầm rằng nhổ bông súng là phải lặn xuống nước nhổ từng cọng, từng cọng; hoặc cá rô cam tích là cá rô tôm tích; hoặc một giạ là 20 lít như có các tác giả đã giải thích trong bài viết như vậy!

Thực sự thì nhổ bông súng chỉ ngồi trên xuồng đang nằm giữa cánh đồng đầy bông súng nỏ, người ta chỉ vói bàn tay cầm bông súng rồi nhổ mạnh lên thôi, không cần phải lặn hụp gì ráo trọi! Còn cá rô lúc nhỏ ở nhà quê hay gọi là cá rô non; chúng ăn bông cỏ cùng các loại phiêu sinh vật trên mặt nước làm cái bụng no óc nóc giống như trẻ nhỏ mắc bịnh cam tích; từ đó dân quê mới đặt tên cho loại cá rô non này là “cá rô cam tích” chứ hổng có “cá rô tôm tích” gì ráo trọi nhe Bác sĩ! Còn cái vụ “một giạ mà 20 lít”, nếu mình tin như tác giả bài viết này giải thích thì chắc dân quê tụi tôi bán lúa giống là cái chắc! Dốt gì thì dốt, dân quê tụi tôi dưới này từ xưa tới nay cứ theo qui định một giạ là 40 lít nhe Bác sĩ! Nửa giạ hoặc một thùng, hoặc một táo mới 20 lít.

Và còn nhiều cái trật tương tự như vậy nhiều lắm nhe Bác sĩ! Nhưng rồi, tôi lại tự hỏi mình viết ra mấy cái chưa trúng ấy “để làm gì?” Và rồi tôi lại bỏ dỡ những bài viết về những chi tiết không chính xác của nhiều tác giả mà tôi đã có dịp đọc qua như vừa kể…

Thưa Bác sĩ,

Trong thư vừa kể, Bác sĩ có nhắc Hai Trầu:

“Gởi “meo” cho anh Hai Trầu, người bạn hơi già của tôi hỏi sao lâu nay im re, anh nói già sao nhanh quá anh ơi, chả muốn làm gì cả. Thì ra, tuổi già, đúng là “Chả cần gì! Chỉ cần già!” là vậy.”

Thì ra, qua những lời tâm sự vừa rồi với Bác sĩ, nay tôi thấy mình như Bác sĩ gợi ý là “Chả cần gì! Chỉ cần già!”. Và qua một vài ý nghĩ về việc “để làm gì” ấy mà tôi muốn chi xớt cùng Bác sĩ chẳng những đó là một chọn lựa không mang một chút chán nản nào trong đời sống của tôi trong hiện tại, mà ở đó nó còn thể hiện là một nếp sống rất thiết thực, yêu đời với những công việc thân thiết mỗi ngày mà tôi đang bận rộn như làm vườn, trồng cây, nuôi cá, và đưa rước các cháu đi học mỗi ngày… Vui lắm nhe Bác sĩ!

Cá nhân tôi, xin chân thành cảm ơn tấm thạnh tình mà bác sĩ lúc nào cũng nhớ và nhắc Hai Trầu, nhiều lắm!

Thân kính,

Hai Trầu

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Thư đi tin lại, Vài đoạn hồi ký

Tựa CHỚ QUÊN MÌNH LÀ NƯỚC, Văn Công Tuấn

14/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú:

Văn Công Tuấn ở bên trời Tây, tôi ở bên Đông, cách nhau ngàn vạn dặm, chưa có dịp gặp nhau nhưng tình đã thân quen vì cùng có chung những người bạn quý: Thầy Phước An ở Nha Trang, Nguyễn Hiền Đức gốc Hội An và Nguyễn Minh Tiến ở Sông Xoài dạo trước…

Một hôm, Văn Công Tuấn gởi về tôi một bản thảo và đề nghị viết cho anh đôi dòng như một cái “Tựa” gì đó… cho cuốn sách “Chớ quên mình là nước”. Và tôi đã đọc, đã nghe, đã thấy… bèn có đôi lời cho bạn xa xôi…

ĐHN 

 

Tựa “CHỚ QUÊN MÌNH LÀ NƯỚC”

 

 

Như những lời tâm sự

Văn Công Tuấn viết trong “Chớ quên mình là nước” như sau: “Những bài viết trong tập sách này chỉ là việc đi chắt mót, ngồi xâu chuỗi lại những suy tư và nỗi niềm để tâm sự cùng bạn đọc. Nó không phải là công trình khảo cứu cũng chẳng là tác phẩm văn học. Nó chỉ là một cõi lòng…”

Một cõi lòng. Chút “thốn tâm”. Chắt mót. Xâu chuỗi. Nhưng với tôi vô cùng thú vị và đầy những bài học. Có khi nói ra, có khi không nói ra. Là một cõi lòng nên ta hãy đọc từ một cõi lòng. Một cõi lòng không phân biệt.

Có khi là một câu thơ. Có khi là một khúc hát. Khi lại là một công thức. Một bản vẽ. Mấy con số ngoằn ngoèo… Hãy đọc. Ngẫm ngợi. Đôi khi công thức cũng là thơ, bản vẽ cũng là nhạc… Hãy để cho cõi lòng tự trôi chảy.

Trôi chảy như dòng sông cát hôm nay mà ngày xưa chính nơi này là dòng nước chảy xiết, nơi Gotama đã đặt bình bát với lời đại nguyện:

“… một buổi trưa nóng cháy ở Bodh Gaya lắng tai nghe lời anh bạn Ấn Độ kể: ‘Chỗ này là ngay giữa sông Ni Liên Thuyền, ngày xưa Sa môn Gotama đã thả bình bát và phát lên một lời đại nguyện, chỗ này nước chảy xiết lắm nhưng bình bát đã trôi ngược.’

“(…) Khi anh Naresh với tất cả lòng cung kính đặt bình bát xuống cát, nơi được xem như là giữa dòng sông lúc bình bát trôi ngược.

Tôi thì đã nằm dài dưới cát nóng cầm sẵn máy ảnh để chụp hình. Tôi muốn chụp tấm hình phía trước là bình bát mà đàng sau có phông nền là hình ngôi Tháp Đại Giác Bồ Đề. Chăm chú nhìn vào ống kính, tôi giật mình tưởng mắt mình đang hoa. Hay do vì buổi trưa nắng Ấn Độ mà cát lại nóng quá nên tôi bị lóa mắt? Tôi đẩy máy ảnh qua bên và nhìn kỹ bình bát. Tôi đã nhìn thấy. Vâng, tôi thấy bình bát chuyển động trong vòng gần một phút. Có thể nào do cát lún nên bình bát “rục rịch” như vậy? Hay là một cái rùng mình của đất trời?

Nhưng sao kéo dài cả phút. Trong tôi dấy lên một niềm rung động kỳ lạ. Naresh cũng thấy như tôi và đứng ngẩn người trố mắt nhìn. Có phải có bàn tay chư Thiên hay có con rắn chuyển mình làm bình bát chuyển mình trên cát?

“Không, tôi nghe rất rõ: “hồn nước” đang nhẹ nhàng luân chuyển dưới nguồn sâu trong lòng cát nóng buổi chiều Ấn Độ.

“Hai chúng tôi đứng yên lặng tại địa điểm lịch sử này rất lâu, mỗi người đắm chìm trong suy nghĩ của mình. Sau đó mới cùng nhau chậm rãi ôm bình bát đi về hướng cây Ajapala ở Tháp Đại Giác.

Chúng tôi thỉnh bình bát về khu vực tháp và kết thúc một chuyến đi: Ôm bình bát dõi theo bước chân Sa môn Gotama ngày xưa”…

Rồi từ câu chuyện của dòng sông nay đã trở thành sa mạc cát mênh mông, Văn Công Tuấn nói về chuyện môi trường, chuyện nylon, mủ nhựa…

“Xin cùng nhau bắt tay ngay cứu hành tinh của chúng ta, trước khi nỗ lực đi chiếm hữu Sao Hỏa hay Cung Trăng. Với lòng tham và tâm bất thiện thì dù con người có sở hữu mười Sao Hỏa, trăm Cung Trăng cũng không thấy đủ. Rồi rác cũng sẽ tràn ngập ở bên đó.

Mà đúng vậy, không phải nói chơi, NASA đã xác nhận, ngay bây giờ cũng đã thấy plastic trên Sao Hỏa rồi đó. Thật hết ý!”

Rồi ngẫm ngợi chuyện xưa chuyện nay, Văn Công Tuấn… tự nhắc mình với những bài học:

Cũng tại bát nước mà Tôn giả A Nan đã gặp gỡ Ma Đăng Già hôm đó. “Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có…” để rồi Phật phải vất vả một phen. “Tựu trung cũng từ một bát nước ấy mà sinh sự. Giả sử, hôm đó Tôn giả A Nan cũng đi khất thực như mọi ngày mà không khát nước thì đâu có chuyện gì xảy ra. Hoặc giả, nếu gặp người con gái không đa tình như Ma Đăng Già thì chỉ có vài mẩu đối thoại ngắn, rồi dâng nước, rồi uống nước là xong chuyện.”

Bài học là đừng có… khát nước!

Rồi chuyện của nhà bác học Alexander Fleming (1881-1955) ân nhân vĩ đại của nhân loại đã phát minh ra Peniciline đã tuyên bố tại Hàn Lâm Viện Y Khoa Anh Quốc: “Sao người ta cứ gán cho tôi cái công phát minh ra chất Peniciline. Không ai phát minh ra được chất Peniciline, vì tạo hóa đã sinh ra nó từ thuở nào đến giờ, nhờ một loại mốc… Tôi chỉ có công làm cho mọi người chú ý tới chất đó, và đặt cho nó cái tên, thế thôi.”

Phật cũng bảo Ta chẳng nói gì, Ta chẳng dạy ai điều chi, mọi thứ đã sẵn có đó thôi!

Rồi chuyện Nhà Nho và Phật giáo. Anh nhắc học giả Cao Huy Thuần kể chuyện nhà nho, nhà khoa học Hoàng Xuân Hãn… ngày ngày đi chùa Trúc Lâm ở Paris vì rằng “Nho thì động mà Phật thì tịnh. Động rồi thì phải tịnh thôi.” Văn Công Tuấn kể chuyện cụ Phan Sào Nam, nhà Nho với “Khổng Học Đăng” sau này đã thường xuyên lui tới chùa và viết “Phật Học Đăng”. Cụ Sào Nam thường tìm đến chùa Tường Vân để hàn huyên, bàn chuyện văn thơ, chuyện thế sự và Phật pháp với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết. Hai con người uyên thâm Hán học ấy đã một thời là bạn tâm giao, chỉ khác: một người là Hòa Thượng, một người là Nho Sĩ.

Nước xuôi ra biển lại tuôn về nguồn.

***

“Chớ quên mình là nước”, Văn Công Tuấn ngậm ngùi sẽ đến lúc “dưới biển cá thôi bơi, trên trời chim hết lượn…” để rồi nhắc đến cái chết của dòng sông Cửu Long.

Anh nói, đọc cuốn ký sự Đi Dọc Dòng Sông Phật Giáo tự dưng thấy sao… nước mắt tự động chảy ra, không cầm được:

Bởi vì chiều buồn chiều về giòng sông

Bởi vì tình đời nào chỉ thù oán

Hãy cất tiếng ca cho đời thêm buồn

Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo…

(Phạm Duy)

“Vậy một con rồng của Tiền Giang đã chết. Ở Hậu Giang thì hiện nay, cửa sông Ba Lai được thay thế bằng hệ thống cống đập ngăn mặn chặn vĩnh viễn dòng chảy…”

“Cửu Long bây giờ là 7 con rồng. Nói sao nghe khó lọt lỗ tai quá.

“Hèn chi chật chội. Hèn chi sinh sự!”

Rồi cảm thán:

“Có phải vì vậy mà người Khmer gọi Mê Kông là Dòng Sông Mẹ. Tiếng Miên chữ “Mê” là “mẹ” còn “Kông” là “sông”. Tại sao? Vì những chàng, những nàng có tên gọi “Buổi chiều Lục tỉnh” hay ham vui, hay dzô dzô ba xị đế, hay hò ơ dí dầu, hay đàn ca tài tử… Nhưng khi buồn quá thì những trò vui đó không khỏa lấp hết nỗi buồn, những chàng hay nàng “Chiều” mới tìm về với Cửu Long. Tâm sự với dòng sông. Yên lặng với dòng sông. Như chàng Tất Đạt của Hermann Hese đã về với dòng sông và lắng nghe dòng sông. Chỉ có dòng sông mới nghe, mới hiểu nổi buồn của Chiều”.

Để rồi kết:

“Nhớ da diết đám lục bình trôi trên sông Tiền, sông Hậu. Không biết giờ này chúng lưu lạc ở đâu?”

Phải. Như những phận người.

Chớ quên mình là nước.

 

Đỗ Hồng Ngọc

Saigon, tháng 6.2019

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Du Tử Lê viết về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc)

10/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Nhà thơ Du Tử Lê viết về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc) kỳ 02

Xin mời các bạn xem tiếp kỳ 02 nhé.

Cảm ơn Du Tử Lê

ĐHN

…………………………………………………………..

 

Đỗ Hồng Ngọc, thơ và thiền song sinh?

Du Tử Lê

December 15, 2017

 

 

Nhà thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc. (Hình: Trang nhà của Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc – dohongngoc.com)

 

Tôi cũng không quên mới đây, nhà thơ Phạm Chu Sa đã ghi nhận một cách chi tiết, chân tình về Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc. Nhưng dù các bài viết về cõi-giới văn chương của ông, thâm trầm hay nhẹ nhàng, đơn giản thì, tự thân những bài viết ấy, cũng đã thắp sáng những thành tựu, hiểu theo nghĩa “hạnh phúc” mà Đỗ Hồng Ngọc đã đạt được.

Nhà thơ Phạm Chu Sa cho rằng, nhiều người nghĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ làm thơ, viết văn và gọi anh là bác sĩ-nhà văn (4).

Nhưng Phạm Chu Sa cho biết, ông vẫn thích gọi Đỗ Hồng Ngọc là “thi sĩ hơn là bác sĩ,” bởi vì Đỗ Hồng Ngọc có cốt cách thi sĩ trong con người bác sĩ.

Phạm Chu Sa kể rằng Đỗ Hồng Ngọc làm thơ và có thơ in từ thời sinh viên – tập “Tình Người” (xuất bản năm 1967), ký bút hiệu Đỗ Nghê. Mấy năm sau khi ra trường là “Thơ Đỗ Nghê” (in năm 1973). Tập thơ đã gây được tiếng vang trong văn đàn thuở đó. Sau này ông trích một số bài trong hai tập thơ trên in lại trong các tập thơ “Giữa Hoàng Hôn Xưa” (1993), “Thư Cho Bé Sơ Sinh và Những Bài Thơ Khác” (2010).

Bài thơ làm tựa chính “Thư Cho Bé Sơ Sinh…” Đỗ Hồng Ngọc viết năm 1965, khi còn là sinh viên y khoa thực tập tại bệnh viện Từ Dũ: “Khi em cất tiếng khóc chào đời/ Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười/ Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao kẻ cười người khóc/ Trong cùng một cảnh ngộ nghe em…/ Khi anh cắt rún cho em/ Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé/ Vì từ nay em đã phải cô đơn/ Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ… Thôi trân trọng chào em/ Mời em nhập cuộc/ Chúng mình cùng chung/ Số phận con người” (Một bài thơ đặc biệt vì dường như chưa nhà thơ nào viết về đề tài này).

Vẫn theo trí nhớ của nhà thơ Phạm Chu Sa thì đâu khoảng thời gian sau ngày ký hiệp định Paris (1973) ít lâu, họ Đỗ đã gửi tặng ông tập “Thơ Đỗ Nghê” mới xuất bản, in ronéo nhưng trình bày khá trang nhã. “Thơ Đỗ Nghê” bàng bạc khát vọng hòa bình và cả nỗi ám ảnh của chiến tranh, đã gây được tiếng vang trong văn đàn bấy giờ. Họ Đỗ ru con: “Ngủ đi con ngủ đi con/ Rồi ngày mai khôn lớn/ Cầm súng với cầm gươm.”

Và ông cũng ru người bạn đời (hay người yêu?) của mình: “Ngủ đi cưng, ngủ đi cưng/ Kề tai đây anh bảo/ Coi như mình chẳng có quê hương.”

Vẫn nhà thơ Phạm Chu Sa cho biết, hơn 20 năm sau biến cố Tháng Tư, 1975, Đỗ Nghê đã cho ra đời tập thơ “Vòng Quanh” – một “bút ký thơ” kèm những ký họa rất đặc biệt của chính tác giả vẽ lại những nơi chốn tác giả  đã đi qua như Huế, Hà Nội, Boston, Montreal, Bắc Kinh… Nhưng có lẽ ấn tượng nhất với họ Đỗ là Paris. Một tâm hồn thi sĩ như Đỗ Hồng Ngọc mà lạc lối tới Paris giống như… “trở về.” Thơ viết về Paris tựa viết về một tình yêu, sau bao chờ đợi… Có dễ vì thế mà gần phân nửa tập thơ, là những tình khúc họ Đỗ dành cho Pais?

***

Để chấm dứt bài viết của mình, nhà thơ Phạm Chu Sa khẳng định: “Tôi nghĩ sau này người ta có thể quên một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhưng người ta không quên Đỗ Hồng Ngọc thi sĩ.”

Không chỉ Nguyễn Lệ Uyên hay Phạm Chu Sa mà còn nhiều bằng hữu khác, ghi nhận về tiếng thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc như một thành tựu tốt đẹp, dẫn người đọc tới kết luận những người làm thơ, được nhiều người ưa thích, là những người có được cho họ niềm hạnh phúc tinh khiết trong cuộc sống thực tế chấp chới những khổ đau, bất toàn này.

Đa số bằng hữu của họ Đỗ cho rằng về hạnh phúc có được từ thơ, của Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc khiến tôi thấy cảm nhận của tôi về những “lao động” thi ca của những người làm thơ có phần không đúng. Ít nhất cũng đối với Đỗ Nghê.

Tôi càng thấy sự “cường điệu hóa” (?) của tôi về hành trình của thi ca của Đỗ Nghê trong quá khứ là những nhận định thiếu cơ sở – tiêu biểu là thi phẩm mới nhất, có tên “Thơ Ngắn/Đỗ Nghê” của ông.

Tôi không muốn nói về những bài thơ ngắn của họ Đỗ, có xu hướng thơ Haiku của Nhật bản: Ngợi ca thiên nhiên hoặc tương tác giữa con người và vũ trụ,… đã hiện diện khá nhiều trong thi phẩm mới nhất của ông. (5)

Người đọc sẽ rất khó tìm thấy những bày tỏ bi quan, hoặc than thở, “vật vã” trong thơ Đỗ Nghê, nhất là với thi phẩm “Thơ Ngắn/Đỗ Nghê” mới ấn hành những ngày cuối năm 2017 này. Ngay cả khi tác giả viết về phần thịt, xương đã mất, như:

“Mỗi năm
Mỗi người
Thêm một tuổi
Chỉ mình con
Mãi mãi
Tuổi đôi mươi…”

(Bài “La Ngà 3” – 1990)

Hoặc tương quan với kẻ khác:

“Khi nhìn nhau xa lạ
Là rất đỗi thân quen
Khi nói năng vô nghĩa
Là thác reo trong hồn.”

(Bài “Không Tên”)

“Lá chín vàng
Lá rụng
Về cội
Em chín vàng
Chắc rụng
Về anh.”

(Bài “Lá”)

Hay ảnh hưởng của thiên nhiên, vũ trụ lớn vào vũ trụ nhỏ là cá nhân con người:

“Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố tàu

Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo”

(Bài “Tuyết” – Boston, 1993)

“Chiều thu
Nghe tiếng quạ

Giật mình
Nỗi xa nhà

Nhớ sao
Mà nhớ
Quá!”

(Bài “Thu” – Boston, 1993)

“Đất động ta cũng động
Sóng thần ta cũng sóng
Giật mình chợt nhớ ra
Vốn xưa ta là đất”

(Bài “Đất”)

“Nước xanh như ngọc
Sâu đến tận trời
Vốc lên một vốc
Ơi mùa Xuân ơi!”

(Bài “Tuyền Lâm”)

Ngay cả khi nhớ tới và viết về đứa con đã mất của mình, một tai họa khủng khiếp, ai cũng tưởng, Đỗ Nghê sẽ không thể vượt qua được. Nhưng, tâm thái của một hành giả: Hiểu thấu sống, chết… cách gì cũng không ra khỏi lẽ vô thường, họ Đỗ đã nhìn sự việc như một bài học tự nhiên đời sống mà thôi:

“Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút

Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con

Nỗi mất!”
(Bài “La Ngà 5” – 1990)

Hoặc về người mẹ đã qua đời mình, ông vẫn có cái thanh tịnh lạc quan, của một tâm thức không còn trụ, bám vào mất còn:

“Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…”

(Bài “Bông Hồng Cho Mẹ” – 2012)

Hoặc:

“Mẹ tôi cứ vẫn cười cười như thế
suốt ba năm trên bàn thờ!”

(Trích “Nụ Cười Của Mẹ” – 2014)

Tôi cho những phong thái kể trên của Đỗ Nghê là phong thái của một hành giả đã khu trừ được cái tâm nhiễu loạn, nguồn gốc của cái “tôi,” để thong dong dạo chơi giữa vườn đời…

Tôi thấy trong Đỗ Nghê không chỉ có một thi sĩ mà, thi sĩ ấy, còn song sinh với một thiền gia nữa. Như thiên/địa, nhật/nguyệt, tuy hai mà, thực ra cũng chỉ là một thôi. (Du Tử Lê)

————

Chú thích:

(3), (4) Nguồn dutule.com

(5)Tôi nói Đỗ Nghê thơ ngắn Đỗ Nghê…“xu hướng” Haiku – Thể thơ ngắn của Nhật Bản chỉ có 17 âm tiết trong ba câu; vì, thơ ngắn của họ Đỗ không nhất thiết theo đúng quy luật này. Nhưng “thần thái” những bài thơ ngắn của ông, thì rất gần với tinh thần của thơ Haiku vậy.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Du Tử Lê viết về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc)

10/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Đang loay hoay “về thu xếp lại…” thì gặp bài viết này của nhà thơ Du Tử Lê trên dutule.com về tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc). Bèn post lại đây để sẻ chia cùng bè bạn thân quen.

Cảm ơn Du Tử Lê.

ĐHN.

…………………………………………………………………

 

Đỗ Hồng Ngọc, thơ như một hạnh phúc? (Kỳ 01)

21 Tháng Mười Một 2017

Du Tử Lê

Nhiều độc giả (kể cả một số người có làm thơ), nói với tôi rằng, biết làm thơ và làm được thơ là một hạnh phúc! Tôi nghĩ khác.

Với tôi, trừ những người đến với thi ca như một thời thượng, làm dáng, hoặc, một cuộc du ngoạn ngắn hạn thì; làm thơ là một lao động (tinh thần,) vất vả. Một thao tác trí tuệ ngặt nghèo. Thường khi bất lực. Đuối sức.

Với tôi, đó là một cuộc chạy đua việt dã không đích đến. Không bạn đồng hành. Khi đối diện với bài thơ thì, chỉ có mình y, cùng lắm là… chiếc bóng.

Ngoài ra, tôi chưa thấy một cá nhân bình thường, không bị một khuyết tật tinh thần nào, lại ở được bền lâu, với thi ca. Tôi cũng chưa thấy một cá nhân thỏa mãn mọi lãnh vực trong đời thường, có thể tạo được một hôn phối tốt đẹp với thi ca. Tại sao?

Xin thưa, vì căn bản, thi ca là đỉnh ngọn chênh vênh, nhọn, sắc nhất của định mệnh bất toàn.
Vì căn bản, thi ca là cõi trú đầu tiên và, cuối cùng của những tâm hồn bất an.
Những sinh phần liu điu, cần sự cân bằng sinh-thái-tinh-thần…

Hiểu như thế, với tôi, nhà thơ trước nhất, là người thợ đào bới để làm mới những con chữ đã cũ, hoặc hình ảnh, chân dung những mảnh đời đã mất. Khi tìm được những hầm mỏ chữ, nghĩa, những “trầm tích” gặp được ở độ sâu đủ thì, tôi cho, đó là lúc nhà thơ sức thả mình, rớt xuống. Y hoàn tất cuộc đua việt-dã-trí-tuệ (một mình.) Y hoàn tất trận đánh sinh, tử (dài lâu), với địch thủ trên cơ: Định mệnh. Y san bằng mọi bất toàn. Y cân bằng sinh-thái-thân-tâm. Nhưng, đau đớn thay, đó cũng là lúc, y thấy tận cùng vẫn là thất bại, hiểu theo nghĩa nào đấy – – Để rồi y lại khởi sự một lên đường khác (?)

Trên hành trình chữ nghĩa, ở đôi ba giao lộ, tôi may mắn được gặp một số bằng hữu. Những thi sĩ. Trong đó, có Đỗ Hồng Ngọc. Thi sĩ.
Tôi không chủ quan nghĩ rằng, Đỗ Hồng Ngọc, sẽ sẵn sàng chia sẻ những quan điểm của tôi về thi ca và, đời sống: Chữ nghĩa và sự bất toàn. Khuyết tật và định mệnh.
Nhưng, là người dõi theo hành trình văn chương của Đỗ Hồng Ngọc, trên dưới sáu mươi năm qua – – Từ những bài thơ đầu đời, tới những bài thơ mới nhất trong thi phẩm “Thơ Ngắn / Đỗ Nghê” (của năm 2017), tôi nghĩ, Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, thi sĩ, không chỉ muốn hoàn tất cuộc đua việt-dã-trí-tuệ (một mình). Ông cũng không chỉ muốn hoàn tất trận đánh sinh, tử (dài lâu,) với địch thủ trên cơ, định mệnh. Mà, ông còn muốn trả ơn người, tạ ơn đời bằng chính những lao tác tinh thần, song song với những lao động đời thường, với tư cách một bác sĩ, của ông nữa.
Ở quá xa, tôi không thể tìm đến ông (như ngày nào), để ngả mũ chào ông: Một thi sĩ. Tôi viết xuống, những dòng chữ này, như một lời xin lỗi, thi sĩ.
Hôm nay, giữa thập niên 2010s của một thiên niên kỷ khác, tôi lại thấy tôi sẽ rất không phải với họ Đỗ, nếu không sớm nói với Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc rằng, cá nhân tôi, cũng rất biết ơn ông với những trang văn xuôi đẹp như thơ, ông gửi cho người, cho đời. Thí dụ “Gió heo may đã về”. Thí dụ “Già ơi…Chào bạn”. Thí dụ “Nghĩ từ trái tim”. Thí dụ “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” cùng nhiều nữa… và, mới đây: “Ghi chép lang thang”. (*)
Tôi thích lắm tựa đề của tác phẩm của họ Đỗ. Ông gọi đó là những “Ghi chép lang thang”, đúng nghĩa… lang thang – – Nơi trang 287 và 288 của tác phẩm này, khi phải trả lời câu hỏi của độc giả Lê Uyển Văn, tác giả giải thích, ghi chép lang thang, thực ra là những ghi chép không đầu không đuôi, kiểu “cà kê dê ngỗng” trong lúc lang thang nơi này hay nơi khác. Ông chợt nghĩ, chợt nghe, chợt nhớ… một điều gì đó có khi chỉ là mùi khoai nướng, có khi chỉ là mùi dĩa bánh căn, mùi cá khô đuối xúc hột vịt…, thậm chí mùi phân trâu bò trên đường làng cũ, nhưng cũng có khi là một câu nói đanh thép của nhà vua trong bảo tàng viện với hàng trăm chiếc… thuyền thúng giăng ngang bãi biển La-Gi (1) một ngày lộng gió…

Cũng trong 2 trang sách vừa kể, với bản chất khiêm cung, luôn chọn vị trí cách xa ánh đèn sân khấu tiền trường, giấu mặt trước những lời khen dù chân thật của đám đông, Đỗ Hồng Ngọc đã viết thêm:
Tác phẩm “Ghi chép lang thang” của ông, không phải là chuyện ‘văn chương chi sự’ mà, chỉ là những ghi chép riêng tư cho đừng quên với người tuổi tác.

Thế rồi thế giới bỗng nhiên phẳng, người người trong nháy mắt có thể tâm tình trao đổi cùng nhau, bèn cùng mò mẫm mà “tung” lên cho bạn bè gần xa khắng khít nhau hơn. Ghi chép lang thang như vậy cũng chỉ là những cảm xúc bất chợt, không tính toán, không… hư cấu. Mà thực ra ‘ghi chép’ cũng chẳng phải là “ghi chép”… Ông nói:
“… Có khi viết lách lăng nhăng dòm trông giống bài thơ mà không biết có phải thơ không, hoặc có khi ngoằn ngoèo như một phác thảo… mà không biết phải họa không”… (2)

Sau này, được đọc nhiều bài biết của bằng hữu về cõi giới văn chương Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, tôi thấy dường như quan điểm của tôi về văn chương của Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, có nhiều phần nghịch với quan điểm của nhiều tác giả khác.

Thí dụ nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, khi viết về thế giới thi ca Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, trong bài tựa đề “Khói trời phương đông”, đã ghi nhận rằng, Với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, từ những bài tùy bút cho đến thơ, họ Đỗ luôn trân trọng với chữ nghĩa. Ông không hề đùa cợt với chữ nghĩa, “lên gân” cho mọi sự vật… Ông cẩn thận quan sát những hiện tượng quanh mình, trong chính cuộc đời mình y như người thầy thuốc chẩn đoán căn bệnh cho bệnh nhân. Bởi vì căn bản ông là một thầy thuốc yêu nghề, có lương tâm.

Vẫn theo nhà văn Nguyễn Lệ Uyên thì, với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, gồm nhiều thể loại: Thơ, tùy bút, tạp văn, y học và cả Phật học… không biết nên xếp Đỗ Hồng Ngọc vào “hàng ghế” nào cho thật chuẩn. Nhà thơ, thầy thuốc, nhà nghiên cứu, nhà văn? Đối với họ Nguyễn, vị trí nào cũng chính xác. Bởi những gì Đỗ Hồng Ngọc viết, đã xuất bản và đến tay độc giả đều tròn đầy, khiến họ thích thú đến bất ngờ. Vì ngoài cốt cách văn chương, những suy nghĩ của họ Đỗ về các vấn đề xã hội, đời sống, không xa vời; nó gần gũi, quanh quẩn, ẩn núp đâu đó quanh ta mà ta chưa thể nhìn thấy; chỉ đợi khi ông viết lên, đọc lại, ta mới chợt thấy ra…Nó vẫn có đấy nhưng ta không nhìn thấy, không nghĩ ra được nhỉ?
Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên nhấn mạnh rằng, những điều bình thường cũ rích, trong đời sống, nhưng qua ngòi bút của Đỗ Hồng Ngọc, chúng được “hóa giải, đã giúp ta từ bỏ thói quen nhìn, nghĩ đời sống quanh ta, một cách hạn hẹp… bất cập – – Để từ đó, ta có được cái nhìn cởi mở, thênh thang, không thiên kiến…” Nđd)
Là một người sáng tác văn chương, họ Đỗ được nhà văn tên tuổi Nguyễn Lệ Uyên ngợi ca là đã “hóa giải” phần nào chướng ngại tinh thần của người đọc thì, thành quả đó, chẳng phải là một “hạnh phúc” đáng kể hay sao?

(Còn tiếp một kỳ)

________
Chú thích:

(1) Bãi biển La-Gi, thuộc tỉnh Phan Thiết (Bình Thuận), một thắng cảnh nổi tiếng ở miền Trung, nguyên quán của họ Đỗ. Được ông nhắc tới rất nhiều lần trong thơ. (Theo Wikipdia-Mở)

(2) Bài viết của DTL, tựa đề “Đỗ Hồng Ngọc, như một lời xin lỗi” – – đã đăng trên Web Site, dutule.com tháng 1 – 2015.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

LÕM BÕM HỌC PHẬT

31/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Lõm Bõm Học Phật

Đỗ Hồng Ngọc

Kinh sách khuyên học Phật dù một câu một chữ cũng… quý!
Lục tổ Huệ Năng lúc còn gánh cũi trên rừng chỉ nghe người ta tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà hoát nhiên đại ngộ. Lại nhớ chuyện một thiền sư cho đệ tử mỗi một chữ “Vô” để làm “thoại đầu” mà thiền tập…
Các bậc tôn túc tự xưa đã đúc kết những câu những chữ chẳng đáng cho ta ngẫm ngợi đó sao?
Chẳng hạn “trà Tào Khê”, “cơm Hương Tích”, “thuyền Bát Nhã”, “ trăng Lăng Già” !

 

Trà Tào Khê

Huệ Năng từ phương Nam lặn lội đến Huỳnh Mai bái Ngũ tổ Hoàng Nhẫn. Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật chi ?” Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ông người Lãnh Nam quê mùa, ít chữ, làm sao kham làm Phật ?” Huệ Năng đáp: “Người có Bắc Nam chớ Phật tánh đâu có Nam Bắc. Kẻ quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác!” Hoàng Nhẫn giật mình. Cho xuống bếp… bửa củi, nấu cơm, giã gạo!

Không lâu sau đó, Ngũ Tổ gọi riêng truyền dạy cho, rồi trao y bát, lẻn đưa Huệ Năng xuống thuyền trốn về phương Nam xa xôi nơi có dòng suối mát Tào Khê tu tập. Huệ Năng trở thành Lục Tổ từ đó, ngày ngày uống ngụm trà Tào Khê, bắt đầu truyền thụ dòng Thiền “đốn ngộ”. Tâm truyền tâm. Bất lập văn tự. Kiến tánh thành Phật. Lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc.

Huệ Năng dạy học trò nghiêm khắc. Đệ tử từ xa tìm đến tham vấn, xin ấn chứng mà chưa tỏ ngộ, chưa thấy “bổn lai vô nhất vật”, chưa nhận ra “Thức tự tâm chúng sanh/ Kiến tự tâm Phật tánh”, còn loay hoay dính mắc mãi những đâu đâu thì thường bị quở phạt, trách mắng, cảnh tỉnh.

Một hôm có người học trò Vĩnh Gia Huyền Giác đến Tào Khê. Huyền Giác xuất gia từ nhỏ, tinh thâm Thiên Thai tông, nhờ xem Duy Ma Cật Sở Thuyết mà tâm địa bừng ngộ.
Gặp Huệ Năng, ông đi quanh ba vòng rồi chống tích trượng đứng yên.
Huệ Năng trách :
– Phàm làm Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?
Huyền Giác trả lời: Sinh tử sự đại/ Vô thường tấn tốc (sinh tử việc lớn, vô thường mau chóng, lễ nghĩa làm chi!).
Huệ Năng đáp :
Sao không nhận cái lý (thể) “Vô sinh” và thấu rõ (liễu) cái nghĩa “không chóng”.
Huyền Giác đáp: “Thể” tức vô sinh, “liễu” vốn không chóng.
Huệ Năng khen: Đúng vậy! Đúng vậy!
Thế rồi Huệ Năng cùng Huyền Giác đối đáp, càng lúc càng sôi nổi.
Đoạn, Huyền Giác xin kiếu về, Huệ Năng hỏi.
Về chóng thế sao?
Rồi, mời Huyền Giác ở lại Tào Khê với mình một đêm để cùng uống trà… mà đàm đạo!
Về sau, Huyền Giác viết Chứng đạo ca:
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân,
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân ?
Vô minh thực tánh tức Phật tánh,
Ảo hoá không thân tức Pháp thân.
(…)

 

Cơm Hương Tích

Hôm đó Duy Ma Cật tiếp Bảo Tích và năm trăm vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà viên ngoại- là những Bồ-tát tại gia tương lai- tại cái thất trống trơn của ông ở thành Tỳ-da-ly.
Giữa lúc mọi người đang sôi nổi hào hứng bàn những chuyện cao xa như hữu lậu với vô lậu, hữu vi và vô vi, sinh tử và niết bàn… thì Xá-lợi-phất, vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật, lên tiếng đưa mọi người về “mặt đất”: “Sắp đến giờ ăn rồi. Các vị Bồ Tát này sẽ ăn thức gì đây?”.
Duy-ma-cật: “ Xin đợi cho giây lát, tôi sẽ khiến quý vị được thứ thức ăn chưa từng có”.
Thức ăn chưa từng có ư? Với các vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà trưởng giả này thì cao lương mỹ vị có gì là lạ, tổ yến hồng sâm, nem công chả phượng có gì là lạ.
Họ háo hức chờ đợi Duy-ma-cật mang đến thứ thức ăn “chưa từng có”!

Thì ra… Duy-ma-cật mang đến một mùi hương! Một mùi hương thơm. Thứ “thức ăn” xin được từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích! Đó là một thứ “thức ăn” chưa từng có.
Duy-ma-cật liền nhập vào Tam-muội, dùng sức thần thông khiến cho đại chúng nhìn thấy về hướng trên, cách đây nhiều cõi Phật liên tiếp nhau như số cát của bốn mươi hai con sông Hằng, có một cõi nước tên là Chúng Hương, hiện có đức Phật hiệu là Hương Tích ngự tại đó. Nước ấy có mùi thơm bậc nhất đối với các mùi thơm của người ta và chư thiên ở các thế giới chư Phật mười phương. Khắp cõi ấy, mùi thơm tạo ra lầu gác. Người ta đi trên đất bằng mùi thơm. Các cảnh hoa viên và vườn tược đều bằng mùi thơm. Từ nơi thức ăn, mùi thơm bay tỏa ra khắp vô lượng thế giới mười phương.
Duy-ma-cật chỉ xin “chút xíu thức ăn thừa” của Phật Hương Tích để đãi các vương tôn công tử tại Tỳ-da-ly hôm ấy. Chỉ một chút xíu thức ăn thừa thôi nhé. Một chút thức ăn thừa thôi cũng đã là quá đủ, bởi thứ « thức ăn chưa từng có” đó là một thứ « vô tận hương » đến từ bên trong của người có giới đức. Chính là hương giới đức. Một thứ hương có thể “bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió”!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. “Hương” thơm đó phải được “Tích” chứa từ từ mới đầy dần lên được, mới sung mãn, mới tràn trề… mới “ngát hương”!

Nhờ giới đức, cõi Chúng hương đó của Phật Hương Tích chẳng cần phải thuyết pháp bằng văn tự mà chỉ dùng các mùi hương là đủ. Mọi chúng sanh nhờ hương giới đức mà đắc nhập luật hạnh. Bồ-tát ở cõi đó mỗi vị đều ngồi nơi cội cây thơm, nghe mùi thơm vi diệu kia mà thành tựu hết thảy các phép Tam-muội Đức tạng. Chẳng cần phải nói năng cho phiền hà, gây tranh cãi, hí luận. Bởi Giới là gốc. Có Giới thì có Định, có Huệ đó vậy.

 

Thuyền Bát Nhã

“Bát Nhã” lúc nào cũng phải có… “thuyền”! Nhưng có lúc “bè” cũng được… Có lần Phật bảo các đệ tử: Qua sông rồi còn vát bè theo chi cho nặng!
Quán Tự tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã ba-la-mật-đa (Prajna Paramita) thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Bát Nhã luôn là Bát Nhã “Ba-la-mật”. Prajna paramita. Para: bờ kia, bên kia. Mita: đến. Paramita: là đến bờ kia, là “đáo bỉ ngạn”. Từ bờ mê qua bến giác.
Qua bờ kia thì “Độ nhất thiết khổ ách” được ư? Được. Với điều kiện hành thâm Bát Nhã. Thấy rõ năm uẩn đều Không. Chẳng những vậy, khi đã thấy không tướng, thực tướng vô tướng, đã sống với Bát Nhã, sống trong Bát Nhã thì… cái núi Tu Di to đùng kia có thể nhét vào hột cải, nước bốn biển mênh mông nọ có thể cho vào một lỗ chân lông… !
Một khi lý đã vô ngại thì sự vô ngại. Lý sự đã vô ngại thì sự sự vô ngại…

Nhưng, thuyền có đi thì có về, có qua thì có lại. Các vị Bồ-tát theo nguyện vì người mà nấn ná cõi Ta-bà, qua qua lại lại giữa đôi bờ. Thuyền thong dong qua lại mà cũng chỉ quanh quẩn ở lòng ta, tâm ta.

Con thuyền vẫn đi có khi trên dòng nước xuôi, có khi trên dòng nước ngược. Phải chèo phải chống. Không dễ mà lõng buông tay lái. Bố thí. Trì giới. Nhẫn nhục. Tinh tấn. Thiền định. Trí huệ.

Bát Nhã, Prajna, là cái Biết trước cái Biết. Pra là trước, Jna là biết. Cái biết trước cái biết là cái biết hiện tiền, biết “như thực”, không qua suy luận, phê phán, biện biệt. Cho nên nó đã là Trí chớ không còn là Thức nữa. Hay nói cách khác Thức đã chuyển thành Trí.

 

Trăng Lăng Già

Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…” giữa đêm trăng Lăng Già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ tát.
Ấy bởi Phật đã thuyết giảng chân lý giúp cho mọi người chuyển hóa tâm thức, vượt ngoài tri thức lý luận, vượt cả tam-ma-địa thông thường để mà an trú trong Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, cảnh giới cao nhất, nhập vào Như lai tạng, bằng tự chứng tự nội…

Giữa đỉnh núi ở trên đảo Lăng Già khi nhìn những ánh trăng bập bềnh trên sóng nước, vỡ tan, vỡ tan theo từng con sóng, Phật đã cất tiếng cười to. Ánh trăng vỡ tan và gom tụ lại. Rồi vỡ tan, rồi gom tụ lại. Hoa đốm hư không. Dấu chân chim ngang trời. Bức tranh vân cẩu. Nó vậy đó. Thế giới muôn hồng ngàn tía cũng chỉ do tâm thức tạo ra. Nó như huyễn, nó như mộng, như bào ảnh, như sương mai, như ánh chớp… Bên dưới đó, là Như Lai tạng, là A-lai-da vẫn im ả, “như như bất động”. Chỉ có cái thức tâm phân biệt của ta quậy phá chính ta. Cái tâm thanh tịnh bổn nhiên kia vẫn im ắng. Không lay động. Vẫn bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Vì thức khởi mà sự sinh. Thế giới chỉ là tâm thức của chính mình. Chúng sanh là ảo vật do ảo thuật gia là ta vẽ bày để rồi tự mình phan duyên, dính mắc, khổ đau…

Bồ tát thấy biết như vậy, thấy biết nhứt thiết duy tâm tạo, thấy chúng sanh là ảo vật do chính mình tạo ra rồi thức tâm phân biệt, chấp trước mà khổ đau bèn nói thẳng cho mọi người cùng biết. Nói thẳng ra như thế mới là “lòng từ chân thật”, không giấu giếm, che đậy, không hù dọa, gạt gẫm nhau chi! Vì như huyễn, mà có lòng Từ. “Trí chẳng đắc có không/ Mà hưng tâm đại bi”.

Tâm bất sinh thì vô sinh. Vô sinh thì vô sự. Dứt mọi phân biệt của thức tâm thì không bị quậy phá nữa. Ở đó là Như Lai tạng. Nhất thiết chủng trí. Đại viên cảnh trí.
Thấy biết Như Lai, thì sống với Như Lai, sống trong Như Lai, sống cùng Như lai vậy.

(ĐHN)
(6.2019)
………………………..

Ghi chú: các hình trong bài này từ Internet. 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Hồ Đắc Đằng: VÔ KỴ HỌC VÕ

21/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

VÔ KỴ HỌC VÕ

Ghi chú: Bác sĩ Hồ Đắc Đằng là người bạn cùng khóa với tôi tại Y khoa Đại học đường Saigon (1962-1969) vừa có bài viết rất thú vị về chuyện “Vô Kỵ Học Võ” mà anh có vài lời “phi lộ” như sau: “Tự nhiên, nổi hứng, viết cho tất cả các bạn cùng lớp của tụi mình. Tôi có một câu chuyện kể các bạn xem cho vui. Nửa bịa đặt, nửa thật. Tên thì bịa đặt, nơi chốn thì thật, phương cách dạy, quyền cước thì nửa thật, nửa tượng trưng (symbolic), kết quả thì thật…”.

Xin chia sẻ cùng các bạn.

Cảm ơn Hồ Đắc Đằng.

ĐHN

……………………………………………………………………..

VÔ KỴ HỌC VÕ

 

Vô Kỵ

Vô Kỵ là một thằng bé 11 tuổi, ở Tích Lan (Srilanca), người thì không có gì mạnh mẽ, nhanh nhẹn. Nó thì hiền lành nhưng tự nhiên lại nổi hứng muốn học đánh võ. Nó tìm được một ông thầy dạy võ già, nổi tiếng là võ nghệ cao cường, kiến thức uyên bác, đạo hạnh nghiêm túc. Bố mẹ nó cũng không vui lắm vì muốn nó trở thành một người thường, làm ăn lương thiện, thành công và cưới vợ, đẻ con như tất cả mọi người. Bố nó giận nó, nói dỗi:

–          Mầy có muốn học võ thì mầy đi ở luôn với ông thầy dạy võ đó đi. Đừng có về nhà nữa.

Thế là nó làm thật. Nó ở luôn với ông thầy võ đó. Thế mới đổ nợ cho bố nó, bị vợ ổng (mẹ nó) mắng cho một trận:

–          Tại ông đó, nó mới bỏ nhà đi như vậy. Phải ông để tôi dùng lời nhỏ nhẹ, tôi đã có thể giữ nó lại nhà làm người tốt như ông tính.

Bài học: Muốn cái gì thì cứ thong thả, từ từ; thẳng thừng là nó làm thật đấy.

Dạy ăn

Nó đòi học võ, ông thầy chẳng chịu dạy gì cả:

–          Vô Kỵ, trước khi học võ, phải học ăn trước. Thân thể gầy ốm thế này thì đấm với đá cái gì. Phải nuôi cho nó lớn, mạnh lên. Con thích ăn cái gì?

–          Thưa sư phụ, con thích ăn balanced diet. Mấy người thầy thuốc dặn ăn balanced diet, tinh bột, thịt mỡ, con biết hết. Nhưng con nhất định ăn chay tại con thương thú vật. Con không muốn bất cứ một con gì phải  bi chết để con được sống và học võ.

–          Nầy Vô Kỵ, nếu con nhất định như vậy thì sư phụ sẽ không còn ai để dạy nữa.

–          Sao vậy sư phụ? Có biết bao protein thực vật mà mình đâu có cần giết con gì đâu?

–          Vô ích, Vô Kỵ ạ. Con có biết một bát cơm con ăn là do biết bao triệu sâu bọ đã bị giết để con còn có lúa trên đồng không? Nếu không có mấy cái xịt thuốc rầy, thì tụi nó đã ăn hết lúa, hết hoa quả của con. Con sống được là nhờ tụi nó chết. Con hãy mang ơn tụi nó khi con nhai cơm, ăn táo trong miệng con. Đó là đời sống đó con. Xác thân con sống được như vậy là do công ơn của muôn vạn sanh linh, từ người đến thú. Đó là chưa kể đến những vật vô tri giác như nước, không khí và ánh sáng. Kết luận? Thầy sẽ cho con ăn cái gì thầy có. Lòng từ bi, thầy cũng có như con. Thầy dạy con ăn, không phải cái gì con nên ăn, mà thầy dạy con ăn trong tâm thức nào: tâm thức mang ơn.

–          Con xin nhận lãnh những lời giáo hóa nầy. Vô Kỵ cúi đầu. Hắn hiểu.

Dạy đi

Dạy ăn rồi mà vẫn chưa xong với ông thầy dạy võ nầy. Vô Kỵ nóng nảy muốn học võ mà cả năm qua, chẳng thấy thầy dạy động tác nào trước, bước đá nào sau. Nội cái đi tới đi lui trong sân mà thầy hắn cứ phải nhắc đi chậm lại. Trời đất, đi học đánh võ mà cái gì cũng phải chậm. Hắn cứ muốn học sao cho nhảy cao, đá mạnh. Vô ích, ông thầy dạy:

–          Vô Kỵ, nghe cho kỹ, cái võ thuật thầy dạy không nằm trong cái vận tốc và lượng (mass) mà là nội công của cái tĩnh lặng tuyệt đối. Nhớ 3 điều nầy:

. Một cái tâm nhanh là tâm bệnh

. Một cái tâm chậm là tâm mạnh

. Một cái tâm yên lặng là tâm thánh thần

(A mind which is fast is sick

A mind which is slow is sane

A mind which is still is divine)

Dạy thở

Ba năm đã qua mà Vô Kỵ vẫn chưa được dạy một miếng võ nào. Hắn ăn cái gì thầy hắn cho. Thật ra mấy người trong làng hắn cho thầy hắn rồi thầy trò ăn với nhau. Khi ăn thì không nói. Chỉ biết ăn là ăn cái gì, nghe mùi vị trong mũi, trên lưỡi của nó và đầy lòng biết ơn.

–          Thở mà cần gì phải dạy, thưa thầy. Con biết thở từ lúc mới sanh.

–          Con nuốt thức ăn xuống dạ dày không có nghĩa là con biết ăn. Ăn trong im lặng, ăn trong lòng mang ơn mới gọi là biết ăn. Đi cũng vậy, đặt chân xuống đất và bước đi trong cả đường dài không có nghĩa là con biết đi. Con đi từng bước chậm rãi, chú ý, quan tâm tới cái mầu nhiệm của mỗi cái ngã mà con tránh được của mỗi bước. Đó mới là con biết đi đấy.

Còn thở cũng vậy. Mũi con thở mà tâm con nóng lòng học võ để con có võ nghệ cao cường là con chưa biết thở. Con hãy buông bỏ hết tất cả ý tưởng bay nhảy, suy luận và chỉ đắm mình trong một cái thở ra, một cái thở vô nhịp nhàng, không cố gắng, không ham muốn. Một cái thở bao dung, hòa đồng, không ranh giới, trao đổi dưỡng khí với trọn thế giới quanh con. Không còn hơi thở nào là của con hay là của bạn con xung quanh. Hơi thở dịu dàng, nhịp nhàng, không ranh giới, vô tận. Đó mới thật là biết thở. Dĩ nhiên Vô Kỵ con, con không thể nào biết thở kiểu này 24/7. Mỗi ngày 15 đến 45 phút là đủ rồi. Khi nào con cảm thấy mấy cái hơi thở vô, thở ra của con là “đẹp đẽ” thì con khá lắm đó. Nhớ: The beautiful Breath .

–          Thầy có thấy hơi thở đẹp không? Vô Kỵ hỏi.

Ông thầy chỉ cười, không trả lời. Vô Kỵ cũng không có hỏi gạn.

Dạy võ

8 năm qua. Vô Kỵ bây giờ 19 tuổi. Thân thể tráng kiện, mắt sáng, tai thính, bước đi nhẹ nhàng, mỗi một bước chân xuống vững chãi như một cái máy cầy John Deere , nhấc lên nhẹ nhàng như một tai hoa sen. Miệng hắn hiền hòa, điềm đạm, hay cười. Hắn vui lắm.

–          Nầy Vô Kỵ, bao nhiêu kiến thức về võ thuật, tấn thối, ngửa đầu, cúi đầu con đều đã nằm lòng. Bây giờ thầy chỉ nhắc lại con có hai động tác là con phải quán suốt tận tường. Một là xuống tấn; hai là Tango.

Xuống tấn

–          Như kiểu phòng thủ. Chân trái gập nửa gối, phía trước. Tay trái thẳng, hạ thấp một chút. Tay phải xòe, hướng ra trước phía đối thủ, mấy ngón tay khít lại, cả ngón cái. Khuỷu tay co lại một chút. Đấy đấy, được đấy. Sư phụ của hắn vừa dạy vừa ra bộ luôn.

–          Năm ngón tay là 5 giới (Sila). 10 ngón tay cũng được. Tư thế có khác một chút: 2 bàn tay xòe về phía đối thủ như để chặn đứng một cánh cửa đang ập xuống. Đó là 10 Commandments. Cả hai động tác có một ý nghĩa tương tự: Đừng làm mấy cái đó. Vô Kỵ, con hãy chuẩn bị chân con cho vững vì mấy cái lực tấn công con nó rất mạnh. Con đỡ nó mà không vững chân thì nó đánh con ngã đó: Lực mà 5 giới (precepts) và 10 điều răn (commandments) con phải đối phó: Đừng có làm.

Tất cả các đường quyền, đường cước đều phải dựa lên cái xuống tấn phòng thủ nầy để khỏi bị địch thủ đánh ngã.

Tango

–          Vô Kỵ, bên Âu Châu tụi nó có điệu múa, hình như của Tây Ban Nha thì phải, gọi là Tango. Trong khi múa, vũ kiểu nầy, có lúc người đàn bà như bị ngã ngửa ra đằng sau, gần như lưng đụng sàn. Thì tự nhiên một cánh tay của vũ công nam ,uyển chuyển, mềm mại nhưng mạnh khỏe vô cùng đã đợi sẵn ở đó và người phụ nữ không bao giờ bị ngã đau. Đó là Tango.

Con đánh võ cũng vậy. Đánh võ là có ngã. Thầy dạy con đường quyền, đường cước để chân tay khéo léo, mạnh mẽ, không phải để làm cho người ta đau hay ngã xuống.

–          Thưa thầy, nhưng nếu đối thủ không ngã, không đau thì làm sao con thắng được?

–          Thắng? Thắng là cái gì? Con sao tối dạ thế? Vô Kỵ. Con nói con muốn học võ, thầy dạy võ. Thầy có dạy cho con thắng ai đâu? Con đủ sức thắng được, đỡ được cánh cửa nặng của 5 giới, của 10 điều răn, con còn sức đâu để thắng ai nữa. Con chẳng còn mong muốn gì hết, huống là muốn thắng.

Quyền Tango là con đỡ cho địch thủ khỏi đau đó.

Cuộc đấu thực sự

Bây giờ, Vô Kỵ đã 25, thân thể vạm vỡ, bước đi uyển chuyển, dịu dàng, nhịp nhàng, quyền cước thuộc lòng, tâm tính bao dung, trong sáng nhưng vẫn còn một cái muốn: muốn thắng.

Đối thủ có vẻ già giặn, lịch thiệp, có vẻ hơi kiêu ngạo một chút vì hắn học trường rất nổi tiếng trong vùng. Nhiều tiền lắm mới vô học được trường nầy, toàn là người thành công trong đời tranh nhau đưa con đến học, đôi khi phải hối lộ mấy người xét đơn nhập học. Trường võ của Vô Kỵ thì nghèo. Từ bi, rộng lượng nhưng nghèo và không danh tiếng bằng.

Hiệp nhất

Vô Kỵ thua te tua, ngã mấy cái đau điếng. Địch thủ mạnh lắm, Vô Kỵ xin time out vô động đá vấn kế sư phụ. Sư phụ ngồi yên, theo dõi từng quyền, từng cước. Sư phụ dạy: Con đánh rất đúng quy luật thể thức nhưng còn nhớ bài nhiều quá, theo quy luật, giáo điều quá. Quên bớt đi.

Hiệp hai

Vô Kỵ ngồi nghỉ mệt một chút, xem xét mình còn nhớ bài được bao nhiêu. Quên được 75% bài học của thầy. Thầy cho ra đánh tiếp hiệp hai. “Quái lạ, thằng này đánh khá hẳn lên” đối thủ ngạc nhiên, vất vả hơn nhiều nhưng rốt cuộc cũng đánh ngã được Vô Kỵ. Lần nầy ngã nhưng không có đau bằng lần đầu. Xin time out, vô vấn kế sư phụ lại.

Hiệp ba

–          Con còn nhớ bài nhiều quá. Nhớ 25% là quá nhiều. Con phải biết là địch thủ nầy nó rất giỏi về đoán trước động tác của con. Nó thấy được con ở đâu, con là ai, nó tấn công con ở đó. Con phải quên hết bài bản, quên con là ai, con không còn là Vô Kỵ nữa thì con sẽ thấy. Quên hết đi. Buông bỏ hết đi. Con không còn tự nhận định (self-identify) với một đơn vị nào nữa. Không còn là Vô Kỵ nữa. Nghe chưa?

Vô Kỵ làm thinh, tư tưởng trống rỗng, tâm thức trong sáng, lắng đọng, hay biết tất cả.

–          Con xin lãnh giáo.

Hắn chậm rãi trở ra, nhìn thẳng vào địch thủ, nở một nụ cười hiền từ, bao dung, không sợ thua mà cũng không muốn thắng nữa. Hắn múa may không theo bài bản gì cả. Chân hắn như đi trên mây, tay hắn múa may như Tango. Hắn khi thì ở trước địch thủ, khi thì ở sau, ở trên, ở dưới. Địch thủ không thấy một Vô Kỵ mà vố số Vô Kỵ, ở khắp nơi, như gió thổi, như mây bay. Động mà không động, không động mà động. Rốt cuộc địch thủ chịu thua không phải vì Vô Kỵ thắng mà vì địch thủ của Vô Kỵ không còn ai để mà thắng nữa.

Sư phụ cười. Hai địch thủ chậm rãi đến trước vị võ sư già cùng cúi đầu đảnh lễ. Chấm dứt một cuộc đấu võ ngoạn mục và cả hai trở thành võ sĩ tài ba, lỗi lạc mà không có ai thua ai thắng hết.

Footnote: Vô Kỵ bây giờ 62 tuổi ở Woodstock, IL., dạy thiền định thay vì dạy võ. Tôi là một học trò. Học ăn, học đi và học thở rồi. Còn học múa võ thì còn học dài dài. Không, không có Tango. Các bạn nào giỏi Tango, dancing dạy mình múa đi, múa sao cho người vũ viên của mình ít bị ngã, mà có ngã thì cũng khỏi đau.

 

Hồ Đắc Đằng

8/15/2019

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Krishnamurti: CÁI  TRỐNG  RỖNG NỘI  TÂM

16/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

CÁI  TRỐNG  RỖNG (1) NỘI  TÂM

Krishnamurti

Dịch giả: Nguyễn Tường Bách

(Cám ơn dong phan đã gởi. Đang đợi cuốn sách dịch này của NTB).

Cô đội trên đầu một chiếc giỏ to, một tay giữ cho khỏi rơi; cái giỏ hẳn phải nặng lắm nhưng trọng lượng của nó không hề làm lệch bước cô đi. Cô giữ thăng bằng một cách tuyệt vời, cô bước đi nhẹ nhàng và có nhịp. Tay cô mang vòng phát nhẹ tiếng kêu leng keng, chân mang giày xăng – đan đã cũ. Chiếc váy sari của cô đã rách và bẩn vì đã mặc quá nhiều. Thường thì cô có nhiều bạn cùng đi, ai nấy đều đội giỏ cả, nhưng hôm nay cô chỉ một mình trên con đường gập ghềnh. Mặt trời chưa đến nỗi quá nóng và trên bầu trời xanh nhiều con chim kên kên lượn những vòng rộng, cánh không hề vỗ. Dòng sông chảy yên lặng dọc bên đường. Thật là một buổi sáng rất bình an, và cô gái cô đơn với chiếc giỏ trên đầu dường như là tâm điểm của cái đẹp và ân sủng; tất cả mọi sự dường như hướng về cô và nhận cô làm một phần sự tồn tại của chính mình. Cô không phải là một đơn vị tách rời, mà là một phần của bạn và tôi, và của cây me kia. Cô không đi trước mặt tôi mà lại là tôi đang đi với chiếc giỏ trên đầu. Đây không phải là ảo giác, là cái tự nghĩ, cái mong ước và sự tự đồng hóa được bày vẽ ra – nếu có thì thật là xấu hết chỗ nói – mà là một chứng nghiệm tự nhiên và tức thì. Vài bước chân cách ly giữa chúng tôi đã biến mất; thời gian, ký ức và khoảng cách không gian, những điều do tư tưởng sinh ra, đã hoàn toàn biến mất. Chỉ còn một cô gái này chứ không có tôi đang nhìn cô. Và cũng còn một đoạn dài nữa mới đến phố chợ, chỗ mà cô sẽ bán những đồ đựng trong giỏ. Buổi tối cô sẽ về lại dọc theo con đường này, qua cầu tre nhỏ về tới làng, và sáng mai mới ra lại với chiếc giỏ đầy.

Anh rất đứng đắn, độ tuổi trung niên nhưng anh có một nụ cười vui thích và cũng còn rất khỏe mạnh. Ngồi xếp bằng trên sàn, anh nói tiếng Anh một cách ngập ngừng. Anh hơi bẽn lẽn vì đã học đại học và đậu bằng thạc sĩ nhưng đã nhiều năm nay anh không nói tiếng Anh và do đó quên đi cũng nhiều. Anh đọc một số kinh sách bằng tiếng Sanskrit, những từ Sanskrit hay được thốt ra trên môi anh. Anh cho biết tới đây để đặt vài câu hỏi về sự trống rỗng nội tâm, sự trống không của tâm. Rồi anh bắt đầu ca bằng tiếng Sanskrit và căn phòng tức khắc tràn ngập bởi một sự cộng hưởng sâu lắng, thanh tịnh và thấm đượm. Anh tiếp tục hát một hồi và thật là hân hoan khi được nghe anh hát. Khuôn mặt anh ngời sáng lên với ý nghĩa của mỗi từ trong câu hát, anh dò tìm nội dung những từ đó với một tình thương yêu. Anh không có chút giả tạo nào, anh quá đứng đắn đến nỗi không biết làm bộ tịch.

“Tôi rất vui mừng được ca những bài sloka (2) này trước mặt ông. Đối với tôi những bài ca này có ý nghĩa sâu xa và chứa đầy vẻ đẹp; tôi đã thiền định từ nhiều năm nay và những bài ca này là suối nguồn của sự hướng dẫn và sức mạnh. Tôi đã tập mình đừng dễ bị xúc động thế nhưng những bài ca Sloka này làm tôi dâng trào nước mắt. Âm hưởng của từ ngữ với nội dung phong phú của nó tràn đầy tim tôi để tôi thấy cuộc đời không còn vất vả và thống khổ nữa. Cũng như mọi người khác, tôi đã biết khổ; biết đến sinh tử và niềm đau của cuộc sống. Vợ tôi đã chết và sau đó tôi từ bỏ cuộc sống êm ấm của gia đình, và bây giờ tôi hiểu ý nghĩa của thái độ tình nguyện chấp nhận nghèo khổ. Tôi kể để cho ông hiểu thôi. Tôi không bị thất vọng, không cô đơn, hay tương tự như thế. Tâm tôi thấy vui thích trong nhiều thứ, nhưng cha tôi thường kể về các cuộc nói chuyện của ông, và một người quen khuyên tôi nên tìm gặp ông, và vì thế mà tôi đến đây”.
“Tôi muốn nghe ông nói về sự trống rỗng vô lượng”, anh nói tiếp, “tôi có cảm nhận về sự trống rỗng đó, và tôi có cảm giác đã chạm đến biên giới của nó trong những lần đi hành cước và thiền định”. Sau đó anh trích đoạn một bài ca sloka để giải thích chứng nghiệm của mình.

Krishnamurti: Cần phải nói rằng, thẩm quyền của một ai khác, dù to lớn tới mấy, cũng không chứng minh kinh nghiệm của anh là đúng hay sai. Chân lý không cần phải được chứng minh bằng hành động, nó cũng không lệ thuộc vào bất cứ thẩm quyền nào; thế nên hãy dẹp qua một bên tất cả thẩm quyền và truyền thống và hãy tự mình tìm ra chân lý cho chính mình.

“Điều đó thật là khó cho tôi vì tôi bị ngâm trong truyền thống – không phải truyền thống của thế gian mà trong giáo pháp của Gita, của Upanishad (3), vân vân… Có đúng là tôi nên bỏ cả đi hay sao? Tôi sẽ là người vô ơn bạc nghĩa không?”.

K: Trong việc này không hề có vấn đề biết ơn hay vô ơn; chúng ta đang nói về việc khám phá cái đúng hay cái sai của sự trống rỗng mà anh nói đến. Nếu anh đi theo con đường của thẩm quyền và truyền thống, những thứ đó là tri thức, thì anh chỉ chứng nghiệm những gì anh muốn chứng nghiệm, được thẩm quyền và truyền thống hổ trợ. Nó không phải là một sự phát hiện mới mẻ; thứ đó đã được biết tới, như một vật cần được anh nhận biết và chứng nghiệm. Thẩm quyền và truyền thống có thể sai lầm, chúng có thể chỉ là những ảo giác đầy tiện nghi. Muốn khám phá sự trống rỗng nọ là đích thực hay hư vọng, hay liệu nó chỉ là sự bày vẽ của tâm, tâm phải thoát khỏi mạng lưới của thẩm quyền và truyền thống.
“Liệu có lúc nào tâm thoát được khỏi mạng lưới đó không?”

K: Tâm không thể nào tự giải phóng mình, vì mỗi cố gắng tự giải phóng của nó chỉ dệt nên một mạng lưới khác mà trong đó nó lại bị ràng buộc. Sự tự tại không phải là cái đối nghịch với bất cứ cái gì, tự do không phải là tự do thoát khỏi một cái gì đó, đó không phải là tình trạng được cởi trói. Chính bản thân niềm mong ước được tự tại nuôi dưỡng cái tù ngục. Tự tại là dạng của sự tồn tại mà dạng đó không phải được sinh ra từước mong được tự tại. Khi tâm thấu hiểu được điều này và thấy cái hư vọng trong thẩm quyền lẫn truyền thống, thì cái hư vọng sẽ tự tan rã.

“Có thể tôi bị xui khiến khi đọc sách, hay khi suy tư về những điều trong sách; ngoài ra thì từ hồi còn nhỏ, tôi đã cảm nhận mơ hồ, như mơ, về một cái trống rỗng. Trong tôi luôn luôn có một sự gợi biết về nó, một cảm nhận bâng khuâng; và khi lớn lên, khi đọc các sách tôn giáo tôi cảm thấy cảm giác này còn mạnh hơn, sinh động hơn, chắc chắn hơn. Tôi cũng bắt đầu thấy những gì ông nói. Hầu như tôi hoàn toàn bị lệ thuộc vào sự miêu tả về những chứng nghiệm của người khác, như được ghi lại trong kinh sách. Tôi có thể từ bỏ sự lệ thuộc này vì thấy cần thiết phải làm, nhưng liệu tôi có thể sống lại được cái cảm nhận độc đáo, thanh tịnh nằm ngoài mọi ngôn từ được không?”.

K: Cái được làm sống lại không phải là cái sinh động, cái mới; đó chỉ là ký ức, một thứ đã chết, và anh không thể thổi sự sống vào trong cái đã chết. Sống lại và sống trong ký ức chỉ là sự nô lệ của sự tự kích thích, và một cái tâm mà lệ thuộc vào sự kích thích, dù ý thức hay không ý thức, thì chắc chắn sẽ cùn nhụt và trở thành vô cảm. Làm sống lại chỉ là kéo dài thêm sự thất vọng. Quay về quá khứ đã chết trong cơn khủng hoảng đang xảy ra là đi tìm một khuôn mẫu để sống, điều này chính là sự hủy hoại. Điều mà anh cảm nhận là tuổi thanh niên, hay chỉ mới ngày hôm qua thôi, điều đó đã qua, đã mất; nếu anh bám giữ vào quá khứ thì anh chỉ ngăn chận sự chứng nghiệm tươi tắn của cái mới mẻ.

“Như ông thấy, tôi thật sự nghiêm túc và đối với tôi có cái thôi thúc phải hiểu ngộ và hòa nhập được vào Tính Không (4) đó. Tôi cần phải làm gì?”.

K: Người ta phải xả bỏ tâm thức của những cái đã biết; tất cả tri thức mà ta đã tích lũy phải dứt bặt thì mới mong nhận được ảnh hưởng của tâm đang sống động. Tri thức luôn nói về quá khứ, nó là một quá trình của quá khứ và tâm phải thoát khỏi quá trình đó. Nhận thức là một giai đoạn của quá trình tri thức, đúng thế không?

“Thế là sao?”

K: Muốn nhận thức một vật, anh phải biết đến nó rồi hay phải kinh nghiệm về nó trước đó và những kinh nghiệm này được tích lũy thành tri thức, thành ký ức. Nhận thức xuất phát từ quá khứ. Có lẽ anh đã một lần chứng nghiệm cái trống không này; và khi đã có, anh khao khát có nữa. Cái chứng nghiệm độc đáo đó đã đến khi anh không truy tìm nó; bây giờ thì anh đang tìm và cái mà anh đang tìm không phải là Tính Không mà làsự tái diễn của một ký ức cũ. Nếu nó phải xảy ra lại lần nữa thì tất cả ký ức về nó, tất cả tri thức về nó, phải biến mất đã. Tất cả mọi sự tầm cầu phải ngưng bặt, vì sự tìm kiếm luôn luôn dựa vào mong ước được chứng nghiệm.

“Thật sự ông muốn nói là tôi không được phép tìm kiếm? Nghe thật là điều khó tin!”.

K: Động cơ của sự tìm kiếm thường đáng biết hơn bản thân sự tìm kiếm. Động cơ thâm nhập, dẫn dắt và hình thành sự tìm kiếm. Động cơ từ lòng sở cầu của anh là mong được chứng nghiệm cái chưa biết, được nhận thức ân sủng và tính chất vô hạn lượng của nó.Tâm sở cầu này sinh ra người chứng nghiệm, kẻ mong ước sự chứng nghiệm (5). Người chứng nghiệm đi tìm sự chứng nghiệm to lớn hơn, bao trùm hơn và quan trọng hơn. Khi tất cả mọi kinh nghiệm khác đã hết hấp dẫn, người chứng nghiệm nóng lòng tìm Tính Không; vì thế mà có người chứng nghiệm một bên và bên kia là vật được chứng nghiệm. Thế nên mối tranh chấp nhị nguyên đã hình thành giữa hai cái, người theo đuổi và vật bị theo đuổi.

“Tôi hiểu rất rõ điều này, vì nó chính là tình trạng hiện nay của tôi. Giờ thì tôi thấy mình đang bị ràng buộc trong một mạng lưới do mình tự tạo”.

K: Đó cũng là tình trạng của mọi kẻ tầm cầu khác thôi, không phải của riêng những ai đi tìm Thượng đế, Tính Không, vân vân… Mỗi ai có tham vọng và khao khát, kẻ đi tìm quyền lực, địa vị, tiếng tăm, mỗi ai yêu lý tưởng, mỗi ai sùng bái sự đạt đạo, mỗi ai xây dựng một vương quốc ảo tưởng – tất cả họ đều bị ràng buộc vào trong cùng một mạng lưới. Thế thì khi anh đã hiểu thấu toàn bộ ý nghĩa của sự tầm cầu, anh còn tiếp tục tìm kiếm Tính Không nữa không?

“Tôi hiểu nội dung sâu kín câu hỏi của ông và tôi cũng đã chấm dứt sự tìm kiếm”.

K: Nếu quả thật như thế thì tình trạng của tâm phi sở cầu như thế nào ?

“Tôi không biết, câu chuyện đối với tôi mới mẻ đến nỗi tôi phải cố tập trung hết sức mình và quan sát. Cho tôi vài phút trước khi tiếp tục”.

Sau khi nghỉ một lát, anh tiếp.

“Tôi nhận ra thật hết sức vi tế, thật khó khăn nếu không cho người chứng nghiệm, người quan sát hiện diện. Hầu như không thể cấm tư tưởng tạo tác ra người tư tưởng; thế nhưng hễ có người tư tưởng, có người chứng nghiệm thì rõ ràng phải có một sự chia cắt với cái được chứng nghiệm và như thế là có tranh chấp với nó. Và bây giờ ông lại hỏi, thế thì trạng thái của tâm vắng bóng tranh chấp nhị nguyên thì như thế nào?”.

K: Tranh chấp nhị nguyên hiện diện khi sự thèm muốn lấy dạng của người chứng nghiệm và theo đuổi cái phải được chứng nghiệm; vì cái phải được chứng nghiệm đó chẳng qua cũng do sự thèm muốn hình thành nên.

“Xin hãy kiên nhẫn với tôi, hãy từ từ để tôi hiểu những gì ông đang nói. Sự thèm muốn không những chỉ tạo nên người chứng nghiệm, người quan sát, mà còn sinh ra những cái phải được chứng nghiệm, vật bị quan sát. Thế nên ái dục là nguyên nhân của sự tách rời giữa người chứng nghiệm và cái được chứng nghiệm; và đó là sự phân biệt ngầm chứa tranh chấp nhị nguyên. Bây giờ ông hỏi trạng thái của tâm phi nhị nguyên, không bị ái dục lôi kéo thì sao? Nhưng làm sao trả lời câu hỏi này nếu bây giờ không có người quan sát chứng nghiệm cái vắng bóng ái dục này?”.

K: Khi anh ý thức về sự khiêm tốn của mình, không phải sự khiêm tốn chấm dứt ư? Có còn đạo đức nữa chăng khi anh cố tình thực hành đạo đức? Kiểu làm như thế chỉ tăng cường cho hoạt động vì tự ngã của mình, nó là kẻ chấm dứt đạo đức. Lúc mà anh ý thức mình đang hạnh phúc, lúc đó anh đã chấm dứt sự hạnh phúc. Tình trạng của tâm thế nào khi nó không bị ràng buộc bởi ái dục? Ý muốn tìm ra nó cũng là một phầncủa ái dục, nó sinh ra người chứng nghiệm và vật bị chứng nghiệm, không phải sao?

“Đúng vậy. Câu hỏi của ông là một cái bẫy cho tôi nhưng tôi cảm ơn ông đã nêu lên. Tôi thấy thêm tính chất vi tế của ái dục”.

K: Đó không phải là cái bẫy mà là câu hỏi tự nhiên và không thể tránh khỏi mà anh đã tự hỏi mình trong lúc nói chuyện. Nếu tâm không hết sức cảnh giác, tỉnh táo, thì nó sớm bị ràng buộc trong mạng lưới ái dục của chính nó.

“Câu hỏi cuối cùng: Tâm có khả năng thật sự thoát khỏi mọi ái dục tìm kiếm chứng nghiệm không, điều mà sẽ xóa bỏ ranh giới giữa người chứng nghiệm và vật được chứng nghiệm? (6 )”.

K: Anh hãy tự mình tìm ra. Nếu tâm hoàn toàn tự tại thoát khỏi mọi cấu trúc của ái dục thì tâm đâu có khác gì Tính Không?

Dịch giả : NGUYỄN TƯỜNG BÁCH

………………………………………………………………………………………………..

Ghi chú của người dịch

(1) Void. Từ này được dịch là “sự trống rỗng” hay “Tính Không” tùy theo nội dung câu chuyện.

(2) Thơ hay kệ bằng tiếng Sanskrit, thường gồm hai câu, mỗi câu 16 âm.

(3) Gita. Viết tắt của Bhagavad-Gita (Chí tôn ca) và Upanishad (Những bài thuyết giảng) là kinh sách then chốt của Ấn Độ giáo.

(4) Kể từ đây từ “Void”được dịch là Tính Không vì đã đi vào nội dung đích thực của triết học Tính Không.

( 5) “Tâm sở cầu sinh ra người chứng nghiệm” chứ không phải “người chứng nghiệm có tâm sở cầu”. Xin độc giả chú ý, đây là chỗ cần hiểu rõ: “Tâm sở cầu” tạo nên trong dòng tâm thức một chủ thể mà ta mệnh danh là “Người chứng nghiệm”. Không có tâm sở cầu thì cũng không có người chứng nghiệm.

(6) Khi ranh giới giữa người chứng nghiệm và vật được chứng nghiệm được xóa bỏ thì sẽ có tình trạng phi thường mà tác giả nói về cô bé đội giỏ trong phần đầu của bài này.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Phật học & Đời sống

Còn đó của ngày xưa…  

14/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Còn đó của ngày xưa…  

tặng Minh Trân

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

Đặc San Liễu Quán, Huế.
Vu Lan PL 2563 (2019)

Trong lúc cả “thế giới phẳng” đang đối đầu với dịch béo phì và những hệ quả của nó thì ở Nhật hình như không có hiện tượng béo phì, ít ra là ở vùng Hyogo, Kobe. Trong sân trường Đại học Sư phạm Hyogo, nơi tôi có dịp đến thăm, đầy tiếng cười đùa rộn rã  của các sinh viên nam nữ. Họ rất dễ thương. Không quen biết gì cũng cúi rạp chào mình rất lễ độ. Khi ra dấu xin chụp ảnh, họ cười rất tươi,  sửa lại cái dáng cho… nghiêm chỉnh một chút! Thỉnh thoảng tôi cũng “chộp” lén một vài tấm kỷ niệm những lúc họ đang ăn ngon lành ngoài nắng sân trường hoặc ríu rít đẩy nhau lên xe bus tay xách nách mang khi trở lại trường sau ngày nghỉ cuối tuần. Họ hồn nhiên. Họ tươi tắn. Nói chung rất dễ thương. Và đẹp. Cái đẹp của phương Đông. Kín đáo, thùy mị, dịu dàng, và… thon thả. Lạ, không thấy có hiện tượng béo phì ở đây, trong sân trường cũng như ngoài đường phố, siêu thị, sân ga. Có lẽ có một chính sánh y tế công cộng nào đó âm thầm quản lý toàn bộ chăng?  May mắn đều do…sắp đặt mà! Đúng vậy. Cái cách quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của họ khó mà có thể béo phì, khó mà có thể ngộ độc thức ăn! Món ăn nào cũng kiểm tra kỹ, bao bì, đóng gói, cân đong đo đếm cẩn thận, từ củ gừng, củ khoai, đến vài cọng hành, lá hẹ! Món ăn nào cũng có hạn, lúc nào cũng phải mới toanh. Một số sinh viên nước ngoài thường chỉ dẫn cho nhau … cách  mua thức ăn vào những ngày sắp hết hạn, giá rẻ đặc biệt. Đem về bỏ tủ lạnh có thể… tự  gia hạn khi cần! Bởi vì thức ăn ở Nhật quá đắt. Đắt gấp cả chục lần ở ta. Lại nhạt nhẽo. Thiếu  gia vị. Hình như họ không cần ăn…ngon, họ chỉ cần ăn tốt. Chất lượng thì tuyệt vời: nấm, đậu hủ, rong biển, cá… Và nhất là cá sống, trời ạ! Ăn phát sợ! Sợ là vì mình không quen ăn mà cũng vì mình vốn thường bị ăn cá ươn, cá ướp hàn the, ướp formol…  nên cũng giống như chim bị ná sợ cây cong. Nấm cũng vậy. Lần nào ăn nấm tôi cũng rờn rợn nhớ những vụ ngộ độc nấm xứ mình. Tôi có đến thăm Sở Y tế Hyogo. Ở đó người ta trình bày cho tôi xem cách quản lý chất lượng thực phẩm ra sao. Và tôi hiểu tại sao người Nhật khó mà có thể béo phì được. Ở đâu cũng thấy họ thon thả. Họ mặc kimono rất đẹp dù có vẻ hơi đơ cứng, lắc lư. Nay họ “nhập khẩu” áo dài của ta vào nữa thì lại càng thon thả, càng bay bỗng! Không bị béo phì, không thừa mỡ thừa đạm thừa bột thì người Nhật ít bị bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp các thứ như ở một số quốc gia khác. Nhưng chưa hết! Kiểm sóat thực phẩm, cân đong đo đếm calori thu nhập hằng ngày của con người chỉ là một phần của chuyện chống béo phì. Cái hệ thống  giao thông công cộng của họ mới là cái đóng góp đáng kể hơn!  Ở Âu Mỹ, ở Úc.. hệ thống tàu điện đơn giản và tiện lợi khiến người ta làm biếng, không phải đi lại, vận động nhiều . Ở  đây thì không! Người ta chạy hộc tốc, chạy có cờ. Rầm rập. Rầm rập. Ngược xuôi, phải trái, lộn qua lộn về khắp nơi. Hình như khách lạ ai cũng năm lần bảy lượt nhầm ga, nhầm giờ. Các nhà ga thì hành lang dài hun hút, thang cuộn rất ít, hoặc chỉ có một chiều lên, còn dành cho lội bộ! Lội rả giò!  Rõ ràng là có sự cố tình… sắp đặt để mọi người phải cuốc bộ năm ba cây số,  phải leo cầu thang hằng trăm bậc mỗi ngày. Tóm lại, người ta âm thầm buộc mọi người phải… vận động! Béo phì sao nổi? Ăn uống được kiểm sóat, vận động thể lực được kiểm soát. Kết quả là người Nhật muốn lười, muốn nhàn, muốn béo phì… đều không được. Họ chỉ còn có mỗi một việc phải làm: đó là cật lực làm việc, và… sống lâu. Sống lâu vì không… chết được. Bệnh đâu mà chết? Và rồi chỉ còn những người…già, ngày càng già, không biết để làm gì! Ở trường đại học Konan, bác sĩ Matsuura chỉ cho tôi xem phòng nghiên cứu đặc biệt những động tác của từng cơ bắp của con người. Nhờ đó tìm ra những khuyết điểm trong sự vận hành của từng cơ bắp để có thể phục hồi hoặc chế tác các dụng cụ hỗ trợ phù hợp cho người cao tuổi. Tóm lại, ở Nhật lười không được, nhàn không được, bệnh không được, và chết sớm…cũng không được!  Một xứ sở thần tiên? Một nơi không còn sinh lão bệnh tử? Không phải! Giáo sư Katsuno, chuyên gia Giáo dục sức khỏe nói với tôi, đây là một vấn đề lớn! Quả vậy, chừng mươi năm nay, tỷ lệ tự tử ở người Nhật ngày càng gia tăng, nhiều nơi ở Nhật ngày nay đã có… “thần” Mc Donald xuất hiện, với lọai MegaMac mà trẻ con người lớn đều ưa! Các nghiên cứu cho thấy gène “béo phì” ở người Nhật thấp hơn người Mỹ gấp 10 lần, nhưng nay tỷ lệ trẻ con Nhật béo phì ngày càng gia tăng. Một nghiên cứu cho thấy trong nhiều thập kỷ qua, tuổi thọ của người dân Okinawa  đứng vào hàng đầu thế giới, nhưng từ khi fast food kiểu Mỹ tràn vào thì tuổi thọ của dân Okinawa đã tụt xuống nhanh!

 

Buổi sáng, giáo sư Katsuno, hiệu phó trường Đại học sư phạm Hyogo đưa chúng tôi đến thăm Đại học phụ nữ Konan ở Kobe. Trường nằm trên lưng chừng một ngọn núi cao. Lồng lộng biển khơi trước mặt! Giữa sân trường đại học nữ là một… người đàn ông khỏa thân, ngồi suy tưởng! Đó là bức tượng nổi tiếng Le  Penseur của  Rodin!  Ông đang  ngẩm ngợi điều chi?   Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật? Vợ Nhật ư, tìm đâu ra bây giờ? Bây giờ các cô gái Nhật đâu có chịu lập gia đình, đâu có muốn sanh con đẻ cái. Tiếp chúng tôi là Bác sĩ Matsuura, một chuyên gia về sức khỏe cộng đồng, giáo sư của trường. Matsuura là một bác sĩ… đẹp trai, khoảng ngoài 60, nhiệt tình và cởi mở. Đúng chất người làm cộng đồng! Khi mới ra trường được 10 năm, ông  tình nguyện về một hòn đảo xa để thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe cho người dân- đa số là người già- kết hợp giữa y tế và  phát triển cộng đồng. Chương trình thành công. Người già không ai… tự tử, người trẻ chịu lập gia đình! Hiện nay chương trình này đã trở thành một mô hình tốt. Buổi trao đổi giữa chúng tôi càng trở nên tương đắc, hào hứng. Bởi riêng tôi cũng đã có khá nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực này từ năm 1984, khi thực hiện Chương trình săn sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em ở phường 13 Quận 6 và từ năm 1986, trong Chương trình Hiệp Phước, tại một xã cù lao nghèo thuộc huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh. Khác chăng là ở  mục tiêu. Ta thì hạn chế sinh đẻ còn Nhật thì khuyến khích sinh đẻ. Ta thì tập trung lo cho trẻ con suy dinh dưỡng, sốt rét, bệnh nhiễm trùng còn Nhật thì lo cho người già, tàn phế, tật nguyền, chán sống… Nhưng nói chung phương pháp vẫn là Tiếp cận dựa vào cộng đồng (community-based approach) ,dựa trên những nguyên tắc như tham gia cộng đồng (community involvement), phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation) và kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology). Chủ khách đã trở thành tri âm tri kỷ tự lúc nào! Bác sĩ Matsuura  mời chúng tôi tham quan các khoa phòng của trường, đặc biệt nơi nghiên cứu chi tiết các động tác của cơ thể con người để hỗ trợ người già khiếm khuyết. Rồi ông hào hứng mời chúng tôi về thăm nhà riêng!

Nhà bác sĩ Matsuura ở trên lưng núi, xuyên qua những con đường đầy ắp hoa đào quanh co khúc khuỷu. Một ngôi nhà tuyệt đẹp. Minh Châu, cô sinh viên cao học người Việt phiên dịch cho chúng tôi, từng sống ở Nhật nhiều năm, đã phải kêu lên: Nhà giàu lằm bác ơi! Đó có lẽ là chỗ khác nhau rõ rệt nhất giữa bác sĩ cộng đồng ở Nhật và ở ta! Nhà chỉ còn hai ông bà. Hai người con lớn đều đã đi làm xa. Tôi đùa, thế thì ông sẽ đựơc sự chăm sóc và quản lý chặt chẽ của bà! Ông cười đồng tình! Bà cười bẽn lẽn. Rồi tôi nói thêm: Chỉ có cách là xúi mấy đứa nhỏ lập gia đình để có cháu cho bà chăm sóc. Lúc đó may ra ông mới được thoát! Cả hai ông bà đều kêu lên nhưng tụi nó có chịu lập gia đình đâu! Đột nhiên bà hỏi chồng: Có mời khách uống trà không? Rồi thân mật đẩy chiếc cửa ngay bên vách phải mà tự nảy giờ tôi chẳng ngờ có một phòng trà ở đó.

Nhật mới có “trà đạo” thì phải. Một nếp sống tâm linh của cả một dân tộc. Trà đạo không phải là đạo…trà! Không dành cho những người ghiền trà. Trà đạo càng không phải là một cách uống trà,  một nghi thức uống trà, kiểu cách, xa hoa nào đó!

Một căn phòng vuông vắn và trống huếch, được trải những tấm tatami tinh tươm. Làn gân chiếu nhấp nhô như những đợt sóng ngầm. Có những đường viền đậm. Một góc lõm tokonoma sâu thăm thẳm. Một bức thư họa kakejiku … ngoằn ngoèo huyền bí. Lò lửa ngun ngút ở giữa phòng. Đốt bằng thứ than cội anh đào. Chiếc gáo. Hộp trà. Cối gỗ…    Mấy cái chén tống bậm trợn như giả vờ thô kệch mà ngạo nghễ, bay bỗng những hoa văn.  Tự dưng thấy lòng hẫng nhẹ. Bụi bặm đường xa gạt bỏ hết bên ngoài. Một không gian khác. Một thời gian khác.Lòng rỗng không. Phòng rỗng không.

Trà xanh Nhật lạ lùng. Cái màu xanh như của cốm làng Vòng. Xanh lá mạ. Xanh nếp con gái. Đòng đòng… Màu xanh không mất đi dù đựơc phơi nắng, giã nhuyễn bao lần. Có những nguyên tắc chung nào đó nhưng mỗi “trà nhân” đều có cách pha riêng của mình, phóng khoáng, tự do và đầy ngẫu hứng. Nếu không vậy, chắc họ đã chế ra các cỗ máy…cho “trà đạo” hàng lọat rồi!  Ở đây… là con người. Chính con người. Là bóng dáng người phụ nữ Nhật. Rón rén mà nghiêm trang. Thanh thoát mà miên mật. Chính xác. Thuần thục. Mỗi động tác đều mang một ý nghĩa nào đó. Một hồn Nhật lâng lâng của những kawabata, akutagawa… xa lắc xa lơ.

Khi nâng chén ngang mày, nghe thoáng mùi hương trà xanh tỏa ngát. Nếm. Không chát đắng. Tan loãng. Nghe ngóng. Ngập ngừng. Bàn tay nâng niu, bàn tay che chở. Bàn tay nào của Đức Phật mà Tôn Ngộ Không cân đẩu vân ngàn lần không thể vượt qua? Chậm rải, từ tốn, cẩn trọng. Để nghe cho hết từng tác động thân hành.  Nghi thức chỉ là tướng. Ly tướng thì thấy. Thấy gì? Thấp thoáng bóng Trương Chi dưới đáy ngọc hay Duy Ma Cật giữa trùng vây?

Hôm đi Nara, thành phố có những ngôi chùa cổ nổi tiếng, nhưng đọng lại trong tôi chính là vườn nai. Vườn mênh mông mà nai cũng mênh mông! Tự dưng tôi nghe gần gũi lạ. Như đang ở nơi Đức Phật thường cùng các đệ tử dạo chơi, đàm đạo, và… uống trà!  Những con nai bây giờ cũng hiền lành như hồi đó. Lang thang  trong khu vườn xanh mướt hoặc ngẩn ngơ bên bờ suối, rừng cây, hồ nước…  Chúng thân thiết sẻ chia những mẩu bánh cám cùng du khách, lửng thửng bước theo họ. Dịu dàng, thong dong và tĩnh lặng.  Và ơ kìa, một trà thất trên sườn đồi giữa vườn nai. Trà thất chênh vênh, bấp bênh, đơn sơ mấy cọc rào tre, chơ vơ vài bức phướng dưới ngàn hoa lá đủ sắc màu. Mùa Đông như chưa qua mà mùa Xuân chưa đến hết, vẫn còn ngập ngừng đâu đó. Gần cửa trà thất là một tảng đá lớn tạc thành cái chén đường kính cả thước. Nuớc chảy từ một máng tre, tuồn tuột, leo lẻo. Một cái gáo tre vắt ngang, mong manh. Chén trà của Trời đất mà mỗi trà thất đều phải có như một biểu tượng.  Đúng là một trà thất của ngày xưa sót lại. Trà thất lặng lẽ mà ấm cúng. Khiêm cung. Cả cái cửa vào cũng khiến ta phải gập mình xuống để nhẹ nhàng lướt qua. Trong nhà ơ hay đông đúc mà im ắng lạ! Thì ra, họ đang thuởng thức món… cháo trà! Trà đạo ở Nhật không chỉ uống mà còn… ăn. Cháo trà. Cơm trà. Và,  có thể lắm, nhai trà, xỉa trà nữa không chừng! Cái ăn, cái uống… chẳng là đạo ư?

Bỗng dưng tôi nhớ đến trà của mình! Thứ trà vua mà các cung nữ phải bơi thuyền lắng lấy những hạt sương còn đọng trên cánh lá sen mỗi sáng tinh mơ,  đến ly trà đá mát rượi đất phương Nam,  rồi chè vối của cây đa bến nước, con đò, và… cô hàng chè yếm thắm. Lại nhớ Lâm Đồng với những đồi trà tít tắp xanh rợn chân trời và những cô gái nhấp nhô gùi trên sóng, những “cô nàng về để suối tương tư” thuở  nào.  Tôi lại nhớ thừ trà nõn, trà búp, trà con nít, trà móc câu Đà Lạt nhọn hoắc, trắng xóa. Uống thấy thương! Nó có cái vị đậm đà. Càng uống càng ngây ngất. Uống trà, với tôi, là uống với ai, uống ở đâu, uống lúc nào, và uống cách nào. Uống trà mà không biết mình đang uống trà thì thật là đáng tiếc cho trà vậy!

Tôi nhớ mãi buổi đến thăm nhà bác sĩ Matsuura, thưởng thức thứ trà đạo chính thống của Nhật do bà Matsuura, một giáo sư trà đạo tự tay pha chế dành cho những người bạn phương xa của chồng. Hóa ra vẫn còn đó những người phụ nữ Nhật của ngày xưa./.

(ĐHN)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thơ & Đời TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG

11/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vừa tròn 84 tuổi, vừa ra mắt tập “Thơ & Đời Tôn Nữ Hỷ Khương“, gom góp những bài viết của thân hữu và báo chí viết về Nữ sĩ… lâu nay in thành một tập chia sẻ với mọi người cho vui.

Trong tập này có một bài của Đỗ Hồng Ngọc viết về bài thơ Còn gặp nhau… (2010).

Dịp này, xin post lại để tặng bạn bè.

Trân trọng,

ĐHN

 

“Còn gặp nhau…”

Giữa lúc nhiều nhà thơ đua nhau làm mới thơ, “lạ hóa” thơ thì mấy câu thơ rất đỗi đời thường như một sự buột miệng, một tiếng thở dài, một lời tự nhủ của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương có vẻ như… lạc điệu mà bỗng xuất hiện hằng loạt trên lịch, trên thiếp xuân, trên Agenda  và cả thư pháp các loại với đủ mọi chất liệu đá, cát, giấy, lụa… không khỏi làm cho ta phải ngạc nhiên! Có chút gì đó trái ngoe trong thi phú buổi này chăng?

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi

Lợi danh như bóng mây chìm nổi

Chỉ có tình thương để lại đời…

(Tôn Nữ Hỷ Khương)

Và cứ thế, “Còn gặp nhau…”, “Còn gặp nhau….” lặp đi lặp lại, những lời tuồn tuột tự đáy lòng, có vẻ gì đó như một giật mình, thảng thốt, bùi ngùi trong những buổi hàn huyên giữa những bạn bè gần xa. Thơ như nói,  như chẳng hề có chút đẽo gọt, dụng công…- tạm gọi là “thơ nói”- cũng đã có từ xưa xa:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người tới chốn lao xao…

(Nguyễn Bỉnh Khiêm).

Làm sao mà những câu “thơ nói” đó rung động lòng người, khiến người ta giật mình đánh thót, mà ngộ, ai cũng nhớ, cũng thuộc, và mỗi khi có dịp thì lẩm nhẩm: còn gặp nhau, còn gặp nhau…

Thì ra giữa thời buổi trái đất chỉ còn là một hòn bi xanh, một “thế giới phẳng” nhỏ xíu trong lòng bàn tay, mọi chuyện trên trời dưới biển gì cũng mồn một trước mắt,  truyền thông đa phương tiện tràn ngập đến không còn chút thong dong, người người vẫn thấy nhau, vẫn “thơn thớt nói cười” với nhau mà hình như chẳng bao giờ gặp nhau!

Rồi hình như  người ta bỗng sực nhớ, bỗng ngộ ra, bỗng cảm nhận được cái mong manh của đất trời, của thiên hà trong ngàn tỷ thiên hà trôi dạt, của kiếp người sương khói trong bối cảnh lạ lùng chiến tranh, dịch bệnh, bão lũ, sóng thần, động đất… triền miên!

Rồi hình như người ta bỗng sực nhớ, bỗng ngộ ra, bỗng cảm nhận sờ sờ trước mắt cơn đại hồng thủy sẽ ập tới vì trái đất nóng lên, con người đua nhau hủy diệt thiên nhiên, môi trường sống của mình, để rồi đâu đâu cũng thấy “những cảnh sửa sang tầm thuờng giả dối/ hoa chăm cỏ xén lối phẳng cây trồng” (Thế Lữ) với dừa giả, cau giả, hoa giả, đồi giả, núi giả… !.

Thú vị là những câu thơ dung dị đó của Hỷ Khương được nhiều người thuộc lòng, buộc miệng nói ra… đến nỗi người viết thiệp cũng viết, in lịch cũng in, đục đá cũng đục… mà chẳng cần biết tác giả là ai. Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa nó sẽ trở thành những câu ca dao như “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…” bởi thế hệ nào mà chẳng có người trèo lên cây bưởi, thế hệ nào mà chẳng có người kêu lên “Còn gặp nhau…” ?

Có lẽ Tôn Nữ Kỷ Khương mang cái gien của phụ thân, cụ Ưng Bình Thúc Giạ. Những câu hò “Chiều chiều trứơc bến Văn lâu/  ai ngồi ai câu / ai sầu ai thảm/ ai thương ai cảm/ ai nhớ ai mong.. thuyền ai thấp thoáng bên sông/ đưa câu mái đẩy chạnh lòng nứơc non…”  nhiều người vẫn thuộc mà vẫn tưởng là một khúc hát dân gian, chẳng nhớ tác giả là ai!   Cụ Ưng Bình cũng đã viết nên những câu thơ tưởng như câu nói bình nhật:

Thuở ra sân khấu không làm rộn
Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi!

để nói về một thuở làm quan của mình. Hay:

Biết đủ dầu không chi cũng đủ/
Nên lui đã có dịp thì lui…

lúc ung dung trở gót.

Do đâu mà những câu thơ của nhiều ngàn năm trước trong Kinh Thi vẫn còn làm cho lòng ta xao động? Ấy bởi vì nó nói từ nỗi lòng, “thốn tâm thiên cổ”, nên dù đựơc viết dưới bất cứ dạng ngôn ngữ nào, hình thức nào thì cái hồn của thơ vẫn là cái cảm xúc nhân tình. Hư Chu, ngàn năm trước, viết tựa cho tập truyện Kinh Thi đã hỏi: Thơ tại sao mà làm ra? ( Thi hà nhi chi tác dã?) Để rồi trả lời: vì nó là tiếng kêu của cõi lòng!

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui!…

Đỗ Hồng Ngọc

Comments trên trang www.dohongngoc.com

Giang says

30/04/2010 at 6:45 chiều
Thưa thầy, “thơ nói” nhưng cũng là “thơ hát” nữa, nó run rẩy theo từng nhịp điệu, cung bậc của cõi lòng, em rất thích nghe ngâm thơ với tiếng sáo họa theo, nhưng rất tiếc hình thức thơ biểu diễn thế này gần như đã không còn thấy nữa.

Huyền Trân says

02/05/2010 at 11:18 chiều
“Biết đủ dầu không chi cũng đủ
Nên lui đã có dịp thì lui”

Hai câu thơ của cự Ưng Bình hay quá chú Ngọc ơi! Có lẽ đó là điểm chung của nhiều “cõi lòng” . Vậy nên những “cõi lòng” cứ mãi thổn thức:

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui” ,
vì
“Chỉ có tình thương để lại đời” …

Ngọc Đài says

04/05/2010 at 11:02 chiều
Chúc bác Ngọc luôn khỏe mạnh, mỗi lần buồn hay thất vọng về cuộc sống cháu luôn nhớ đến bác với một hình ảnh người thầy thuốc sống lạc quan. Cháu luôn mong bác khỏe mạnh để còn có thể viết nhiều hơn nữa, để làm cuộc sống này đẹp hơn!

Giang says

05/05/2010 at 6:26 chiều
Thuở ra sân khấu không làm rộn
Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi!
Đọc lại bài viết này, 2 câu thơ “đời” quá.

Phương Bối says

06/05/2010 at 2:28 sáng
Xin cám ơn bác sĩ ĐHN.

Thật là vui quá khi bây giờ được “gặp” ANH thường xuyên hơn…

Đúng như anh đã …hứa “Có lẽ bây giờ mình mới có nhiều thì giờ hơn để… làm việc!” (16/04/2010 lúc 7:03 sáng ĐHN )

Bac Si Do Hong Ngoc says

06/05/2010 at 7:37 sáng
Giang thấy không, nhà thơ viết: “ra sân khấu” và “hạ vai tuồng”… chẳng phải rất “đời” đó sao? Nếu ai cũng hiểu “đời” như vậy, có lẽ sẽ bớt “cương” trên sân khấu. Em thấy không, nhà thơ viết “ít hổ ngươi” chứ chẳng phải không hổ ngươi! Đã đóng tuồng thế nào cũng có người chê kẻ khen, thế nào cũng có lúc sơ sót, nên ít hổ ngươi đã là tốt lắm rồi! Thầy cảm ơn em.

Tịnh Phan says

11/05/2010 at 3:05 chiều
Hai câu thơ đúng là rất “đời”.
“không làm rộn”, “ít hổ ngươi” thể hiện sự khiêm tốn, tự trọng, liêm khiết của “quan”, chứ đâu như:
“Thuở ra sân khấu tha hồ múa,
Hạ cánh an toàn sống khỏe re.”

Bac Si Do Hong Ngoc says

11/05/2010 at 4:00 chiều
Hay! Quan xưa khác quan nay co chút xíu đó thôi Tịnh Phan ơi!

Giang says

11/05/2010 at 4:46 chiều
Dường như càng hiện đại, càng đầy đủ về mặt vật chất thì con người lại càng thiếu thốn về mặt tinh thần… giữa người với người là sự lạnh nhạt vô cảm với “ánh mắt nhìn ráo hoảnh nhân danh áo cơm”. Trong cuộc đời xô bồ, trong cái sân khấu ấy, mỗi người vào vai một nhân vật, để rồi khi hạ vai xuống, còn lại gì 2 từ “hổ ngươi” !

hoang hoang says

13/07/2010 at 10:55 chiều
nỗi lòng cũng đang ngỗn ngang. đoc bai của BS thấy rưng rưng quá. Thanks

hoang hoang says

13/07/2010 at 10:58 chiều
Còn gặp nhau thì hãy cứ vui…..Chỉ có tình thương để lại đời…trong ”con đường đau khổ’ cung có câu rất hay : những cuộc chiến tranh rồi sẽ im ắng.. chỉ có tình yêu là còn lại

dong ha says

08/06/2011 at 6:39 chiều
“Biết đủ dầu không chi cũng đủ
Nên lui đã có dịp thì lui”

Thơ hay nhưng làm được như thơ thật khó!

Bac Si Do Hong Ngoc says

09/06/2011 at 9:01 sáng
Bạn nói đúng đó dongha ơi! Chúc sức khỏe.

dong ha says

09/06/2011 at 11:16 chiều
Chào Bác sĩ ạ.ĐH không giỏi viết chỉ thích đọc và cảm một mình thôi.Gần đây đọc trang nhà của Bác sĩ nhiều cái hay nên cao hứng bày tỏ một chút Chúc Bác sĩ sức khoẻ viết nhiều bài hay để có lúc ĐH như thấy mình trong đó…!

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

XA XÔI MÀ GẦN GŨI

10/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

XA XÔI MÀ GẦN GŨI

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

Will Durant, tác giả Nguồn gốc văn minh (bản dịch Nguyễn Hiến Lê) cho rằng đỡ đẻ là nghề Y đầu tiên của loài người. Con người tự nhiên mà biết… đẻ và đỡ đẻ, rồi kinh nghiệm cứ tích lũy dần lên. Trong một thời gian dài của lịch sử, bà mẹ tự đẻ và tự đỡ cho mình, cũng chẳng cần ai giúp. Bây giờ vẫn còn thấy ở một số nơi bà mẹ đau đẻ chạy vào rừng, ôm lấy gốc cây, lòm còm, lom khom rặn đẻ, đẻ xong, tìm tre nứa cắt rún cho con rồi bế con còn đỏ hỏn nhúng vào nước suối lạnh ngắt cho khóc thét lên càng to càng tốt…

 

Ở ta ngày xưa, không lâu lắm, dưới thời Pháp thuộc thôi, theo Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, sản phụ sau sanh khi rốn rụng còn ướt thì lấy đất vách bôi vào; cuống rốn được cất kỹ để khi bé ốm đau đem đốt cho uống… Gặp trường hợp sinh khó, rặn lâu ra thì ông chồng phải leo lên mái nhà, cởi hết các nút lạt, hoặc nhổ hết các cọc rào, hy vọng nhờ vậy mà vợ dễ sinh! Có khi ông chồng phải lội qua sông, nhảy qua ao, quậy nước trong lu cho bé được trơn, dễ ra.

 

Hơn 50 năm về trước, thời tôi còn học Y khoa, phải học đến năm thứ ba, chúng tôi mới được thực tập đỡ đẻ trên người. Mỗi sinh viên phải đỡ ít nhất 20 ca sanh thường, nghĩa là không có bệnh lý. Đêm nào chúng tôi cũng phải trực để “bắt ca”, nghĩa là chọn những ca tương đối dễ một chút theo chỉ dẫn của các cô nữ hộ sinh, rồi bám theo săn sóc, hỏi bệnh sử, làm hồ sơ bệnh án. Đưa sản phụ về phòng, thông nước tiểu, thông trực tràng, làm vệ sinh các thứ… theo dõi cơn co tử cung, tim thai, ghi vào hồ sơ thật chi tiết. Có bà lúc đau bụng sanh, chửi chồng tưng bừng, coi như ông là nguyên nhân gây ra nỗi đau khổ này! Ông chồng trốn mất, đến lúc sanh xong mới toe toét cười. Khi những cơn rặn cuối cùng đẩy được phần chỏm đầu em bé ló ra, phải làm sao khéo léo để không làm rách tầng sinh môn. Một tiếng khóc thét lên của bé. Bé khóc càng to thì chúng tôi càng cười rạng rỡ. Vì nếu bé không khóc thì nguy! Phải đét vào mông cho bé khóc, rưới alcool lạnh tạo kích thích hô hấp. Đâu đó xong xuôi, mới thở phào nhẹ nhõm. Dĩ nhiên không phải mọi lúc đều trơn tru tốt đẹp như vậy. Có khi, thai chuyển ngược, không thò đầu mà thò ra một cánh tay. Có khi cuống rốn quấn mấy vòng ở cổ làm bé nghẹt thở, có khi sót nhau, có khi đẻ xong một lúc lại xuất hiện thêm một bé nữa… (thời đó chưa có siêu âm).

 

Điều thú vị trong “khoa học” đỡ đẻ là đi lòng vòng một hồi rồi trở lại với “tự nhiên”. Trước kia tại Âu Mỹ, sanh đẻ một cách “khoa học” là được gây mê, mổ xẻ, cách ly mẹ con ngay sau sanh, nhưng từ vài chục năm nay đã trở lại phương pháp tự nhiên, cho sản phụ sanh đẻ trong khung cảnh gia đình, có mặt đức ông chồng bên cạnh, khi sanh xong thì cho bé nằm ngay với mẹ để được bú sớm và cho bà mẹ đi lại ngay. Gần đây có “ngân hàng máu cuống rốn” nhằm tồn trữ trong kho lạnh chừng 3cm cuống rốn để sử dụng sau này kh itrer mắc bệnh nặng như ung thư, suy tủy. Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng đã có ngân hàng máu cuống rốn dành để cấy chữa bệnh về máu. Lạ là không biết tại sao người xưa đã biết tồn trữ cuống rốn dành để chữa bệnh!

 

Ở Thụy Điển, một nước có tỷ lệ tử vong mẹ thấp nhất thế giới, thấp gần 4 lần của Mỹ, và 8 lần của Nhật, việc sinh đẻ hiện nay đã ngày càng gần gũi với tự nhiên. Thí dị, bà mẹ không cần phải nằm trên bàn sanh, dạng chân ra ở một tư thế khó chịu, có khi còn bị cột tay chân cho khỏi té, thì bây giờ người ta cho bà mẹ tự chọn tư thế sao cho thoải mái, bớt đau, như ngồi xổm, ôm lấy người thân, ôm ghế (như ôm gốc cây); các vụ thụt tháo trực tràng, cạo lông… đều không cần thiết vì không ích lợi gì mà còn làm sản phụ khó chịu. Lúc sanh có thể ở trong tư thế nửa nằm nửa ngồi, quỳ xổm, ngồi ghế thấp, dạng chân, nằm nghiêng, bò… miễn sao được thoải mái. Tư thế tự nhiên này còn giúp cho cổ tử cung mau nở trọn. Cắt tầng sinh môn cũng rất hạn chế. Người thân, nhất là ông chồng, được tham gia trong quá trình sanh đẻ của sản phụ, sẽ rất tốt về mặt tâm lý cho bà mẹ, chẳng khác ngày xưa ta bắt ông chồng lội qua sông, quậy nước ao… Bé sinh ra được ủ ấm ngay (như nằm lửa). Nghiên cứu ở các nước đang phát triển cho thấy chính nhờ nằm lửa đã cứu sống nhiều trẻ, do thường bị sanh non, thiếu ký, suy dinh dưỡng từ trong bụng mẹ, rất kém chịu lạnh. Chuyện đánh thuốc mê, sanh mổ… rất ít khi xảy ra. Tóm lại, họ gần như trở về với tự nhiên, chỉ khác một chút là hoàn toàn vô trùng và nhờ đó mà cuộc đẻ rất thoải mái và an toàn. Khoảng cách giữa khoa học và tự nhiên vừa xa xôi mà lại vừa gần gũi biết bao!

 

*

Nhưng “vậy mà không phải vậy”! Những tưởng cuộc sanh nở của người mẹ sẽ được hoàn toàn êm ái và nhẹ nhàng, vừa khoa học vừa gần gũi với tự nhiên, nhưng không. “Khoa học”… đã can thiệp một cách không nương tay: sanh mổ đang gia tăng một cách đáng ngại!

Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) khuyến cáo, các cuộc sanh mổ (mổ bắt con) phải có chỉ định y khoa rõ ràng và tỷ lệ phải nên nằm trong giới hạn 5-10% cho phép, không được vượt quá 15%, vì nếu vượt quá con số này sẽ mang đến những tai biến cho cả mẹ lẫn con. Theo TSBS Vũ Thị Nhung, Hội Y học Tp.HCM thì trong khoảng 3 thập kỷ gần đây, số trường hợp sanh mổ tiếp tục tăng cao trên thế giới: Ở Mỹ tăng lên đến 32,8%, ở Anh tăng gấp 5 lần so với trước; ở Trung Quốc- nếu năm 1966 tỉ lệ này là 2,4% thì đến 2010 đã tăng đến 46%, trong đó 25% là các trường hợp không vì lý do y khoa- Ở Việt Nam, tại BV Phụ Sản Trung ương, tỷ lệ này vào những năm 60 là 9%, đến năm 2005 tăng lên gần 40% và hiện nay trên 50%.

Tại Hội nghị sản phụ khoa Việt – Pháp 2019, theo PGS.TS Trần Danh Cường – Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương thì tỉ lệ “mổ đẻ” hiện nay tăng nhanh: Trung bình tại TP.HCM khoảng 30%, bệnh viện Phụ sản Trung ương 50%, nhưng có những bệnh viện con số này lên đến 60%. Theo ông, một trong những nguyên nhân là chi phí cho việc mổ đẻ với sanh thường rất khác nhau (Báo Lao Động).

*

Hy vọng tương lai không xa, có một bệnh viện sản khoa “cao cấp” nào đó quảng cáo “Nơi đây sanh đẻ tự nhiên một cách khoa học” và nhiều bà mẹ sẵn sàng trả chi phí cao để được sanh đẻ bình thường.

(Tạp chí Văn hóa Phật giáo, số 327, Vu lan, Phật lịch 2563 (2019)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

CHỌN NHỮNG NỤ CƯỜI

07/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

CHỌN NHỮNG NỤ CƯỜI 
Đỗ Hồng Ngọc

(Văn Hóa Phật Giáo số 322 ngày 01-06-2019

Thư Viện Hoa Sen)

Có câu đúc kết “Năm năm / Sáu tháng / Bảy ngày”, nghĩa là ở tuổi 50, nên có kế hoạch năm; đến tuổi 60 thì chỉ nên làm kế hoạch tháng; còn đến 70 thì tốt nhất nên có kế hoạch… ngày! Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui! Chọn những bông hoa và những nụ cười!” (TCS) là phải quá! Vấn đề là ở chỗ chọn lựa. Thiên đàng Địa ngục hai bên… Một cụ già trên trăm tuổi được nhà báo hỏi bí quyết sống lâu, sống khỏe, ông nói có gì đâu, mỗi sáng, thức dậy, tôi tự hỏi hôm nay mình nên ở thiên đàng hay địa ngục đây… rồi tôi chọn thiên đàng.

Có những vùng khí hậu lạ. Một ngày mà có đủ cả bốn mùa: xuân hạ thu đông! Còn muốn gì hơn? Ở một tuổi quá cao nào đó, không phải chỉ cần có kế hoạch ngày mà nhiều khi còn phải có kế hoạch giờ! Sáng khác, trưa khác, chiều khác, tối khác rồi. Làm được gì thì làm ngay. Lát sau mọi thứ sẽ khác. Cần có phương án hai, phương án ba. Cẩm nang để sẵn trong các túi gấm, đến đâu giở ra đến đó!

Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. Dĩ nhiên có tiểu tiện và đại tiện khi các bộ phận thải chất bả này hình thành và hoạt động. Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. Thở mà không xong thì tiêu đời! Bác sĩ sẽ xịt alcool hoặc đét vào đít cho ta khóc thét lên. Khóc càng to càng tốt. Khóc to có nghĩa là thở mạnh. Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Rồi phải bú nữa trời ạ. Bú mẹ còn đỡ, cứ vùi đầu mà nút, chả cần ai chỉ dạy! Nhưng nhiều khi phải níu lấy cái bình bú cứng ngắc, ai đó nhét vào miệng vì không có sữa mẹ. Cứ thế mà chùn chụt để nuôi thân. Rồi biết lật, biết ngồi, biết bò, biết đứng chựng, biết đi, biết chạy nhảy, leo trèo… Rồi biết nói năng, suy nghĩ. Nhớ, tiếc, giận hờn, giành giựt, đấu đá, ghen tuông, ích kỷ, thất tình lục dục đủ thứ không lúc nào ngưng. Và dĩ nhiên vẫn thở và vẫn ăn. Rồi nam tu nữ nhũ. Rồi chọn lựa. Rồi giao cấu. Rồi đẻ ra một lô một lốc chẳng biết từ đâu ra.

Đến một hôm, ta từ hùng hục chạy, ta… lững thững đi, rồi chập chững đứng, vật vựa, nghiêng ngả, rồi ngồi một chỗ, mắt lờ đờ nhìn xa xăm, rồi lồm cồm, bò lê, bò lết… Từ chùn chụt, ngấu nghiến, ừng ực, dô dô 100%… ta bỏ ăn bỏ uống, thấy cái gì cũng rệu rạo, nhóp nhép vì xệu xạo răng cỏ. Rồi thở cũng cà giật, cà hước… Ta trở lại cái hồi thai nhi trong bụng mẹ, bây giờ là “mẹ Như Lai”, một vòng khép kín. Thì ra, ta đã từ đó mà đến để rồi loay hoay một vòng về lại chốn xưa. Cứ y như đàn cá hồi, cứ bốn năm lại “hồi” về chốn cũ, đẻ xong rồi chết, sau khi đã làm xong nhiệm vụ truyền giống. Con thiêu thân thì nhào vào ánh lửa. Con bọ ngựa giao cấu xong thì chết ngay trên bụng con cái, làm thức ăn cho con… Con bọ hung hùng hục chui vào đống phân, giành giựt đấu đá để vo tròn một cục phân mang về cho bọ hung cái nuôi con. Cá ếch nhái bò sát chim đều vậy. Cây cỏ cũng vậy. Hoa nở chẳng những đẹp mà còn thơm, lôi kéo lũ bướm ong dập dìu lui tới để mang phấn đi muôn phương.

Nhìn suốt cuộc hành trình đó, có cái gì tức cười, vừa tàn nhẫn vừa thương tâm. Cái hiện hữu chỉ là thị hiện, trình hiện chút chơi vậy thôi. Nó giả. Nó tạm. Vậy mà sao ta cứ tưởng thiệt mới đáng thương làm sao. Gieo rắc và sinh sôi. Cứ vậy. Như Lai thọ lượng. Như Lai thần lực. Cứ vậy. Người tỏ ngộ tủm tỉm cười, vui vẻ chui vào tháp báu, gặp Như Lai Đa Bảo của mình ngồi đó, tay bắt mặt mừng. Schopenhauer nói cô con gái liếc mắt đưa tình, tìm kiếm chàng trai râu hùm hàm én mày ngài, oai vũ là để trao thân vì chắc hẳn sẽ là giống tốt; chàng trai thì tìm giai nhân chân dài, đáy thắt lưng ong, ngực nở, mông to để mắn đẻ. Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống là vậy. Con người thông minh hiện đạilàm phiền Như Lai hết sức, vì chỉ muốn tìm vui mà quên nhiệm vụ thiêng liêng!

Đất (Nitrogen) nước (Hydrogen) gió (Oxygen) lửa (Carbon) cùng 62 nguyên tố đồng chì sắt kẽm được vo cục lại, nắn nót, thêm thắt, vẽ bày, hà hơi tiếp sức rồi thảy vào Ta-bà nhộn nhạo theo một cái duyên, cái nghiệp nào đó. Mãi mới nhận ra “bổn lai vô nhất vật”. À há, nó là không, nó là chân không diệu hữu. Nó bày trò, vờ vịt, vớ vẩn, giỡn chơi thôi. Không muốn ngộ rồi cũng ngộ. Không muốn giác rồi cũng giác.

Sanh bệnh lão tử hay sanh lão bệnh tử thì cũng vậy. Lập trình nó vậy rồi. Nhưng “tử” dễ nghe hơn “chết”. Chết khó nghe và thấy sợ. Tại sao sợ? Không biết. Tại vì không biết cho nên sợ. Nhưng lạ, cũng là chết mà có nhiều từ khác nhau để gọi. Vua chết gọi là “băng hà”. Sư chết gọi là “viên tịch”. Phật chết gọi là nhập Niết-bàn. Lính chết gọi là “hy sinh”… Dân chết có khi gọi là “mất” là “qua đời” là “lìa trần”, v.v…

Người ta sợ chết mà không sợ sanh. Vì sanh có biết đâu mà sợ. Nhưng có phải tự nhiên mà sanh ra không? Nếu ba mẹ ta mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Nếu ông bà nội ông bà ngoại mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Vậy ta từ đâu ra? Có phải chỉ tinh cha huyết mẹ là đủ hay còn cần phải có một điều kiện nào khác? Có cái gì khác đó chui vào, can thiệp vào để có ta chứ? Cái đó gọi là “thức tái sanh” ư? Là “nghiệp” dẫn dắt ư? Chính điều nầy làm ta thấy có trách nhiệm sống, vì sống cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Ta có trách nhiệm hơn. Ta có tự do hơn. Để tự chọn lựa.

Một cặp thai song sanh sợ hãi khi sắp tới ngày sanh, muốn ở lại trong thiên đàng lòng mẹ càng lâu càng tốt. Hai cái thai tranh cãi quyết liệt không ai chịu ra đời trước, vì không biết chuyện gì chờ đón họ ngoài kia. Cuối cùng dù giằng co thế nào thì cũng có một cái thai chui ra trước. Hóa ra… đời vui quá! Người ta đón chào rôm rả. Thai kia thấy thế cũng vội vã ra theo. Rồi oa oa chào đời. Rồi hít thở, rồi bú mớm. Rồi lớn như thổi, rồi yêu thương, rồi ganh tỵ, hờn ghen, đấu đá, giành giật… rồi cuối cùng cả hai cùng một lần nữa lại bị kéo ra… khỏi cuộc đời. Cũng lại quyết liệt tranh cãi không chịu, cũng lo lắng, sợ hãi, đòi ở lại càng lâu càng tốt… Không có sự khác biệt giữa cái chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cái chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy.

Rồi cùng mà mỉm cười. Nụ cười của Phật. Của Bayon. Của La Joconde…

Đỗ Hồng Ngọc

……………………………………………………………

Ghi chú: Chắc ít ai không biết câu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui/ Chọn những bông hoa và những nụ cười…” của Trịnh Công Sơn. Trong cuốn “Về Thu Xếp Lại…” tôi có hẳn một chương với câu hát này. Hôm rồi, bạn tôi, anh Trần Tuấn Mẫn, phó Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Phật giáo hối thúc gởi bài gấp, tôi đang cảm cúm, đành phải “biên tập” một đoạn trong chương sách của Về Thu Xếp Lại… gởi cho báo với cái tựa là “Chọn Những Nụ Cười”…

Nghĩ lại, làm vậy cũng là không nên. Có lỗi với các bạn đã có trong tay quyển sách. Không ngờ bài “viết lại” này được nhiều bạn đọc ưa thích, có lẽ do nó ngắn gọn, khúc chiết hơn. Thư Viện Hoa Sen cũng đưa ngay lên online và đã có vài ngàn người vào đọc. Thì ra, sách thì ế, bán lai rai, trong khi lên mạng thì dễ đến với độc giả hơn. Sáng nay, một người bạn lại chuyển tôi hình ảnh của một Facebook đăng lại bài này để chia sẻ cùng bè bạn và thấy có cả những “bình luận” rất dễ thương.

Có bạn còn làm mấy câu thơ nữa, thật thú vị. Tôi không có Fb, lâu lâu có bạn gởi cho một “thông tin” thì cảm động lắm, bèn “hào hứng” đưa lên trang nhà này vừa chia sẻ vừa để lưu trữ. Rất mong được thông cảm.

Cảm ơn T.A nhiều nhé.

(ĐHN).

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Tuệ Sỹ: PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH (viết từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của ĐHN)

03/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Thư Đỗ Hồng Ngọc kính gởi Thầy Tuệ Sỹ

Vườn Chuối, 21.7.2019

Mới thôi mà đã hơn 2 năm, từ ngày Thầy gởi tôi bài  PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH “viêt từ cảm hứng Cõi Phật Đâu Xa của Đỗ Hồng Ngọc” và bảo để in vào sách khi tái bản.

Vừa rồi, máy vi tính của tôi bị hỏng toàn bộ ổ cứng, mất hết các dữ liệu. May sao người cháu “cứu” được một ít trong đó giữ lại được bản này. Tôi đọc lại mà rưng rứt, nhớ Tết nào cùng Thân Trọng Minh đến thăm thầy ở Thư quán Hương Tích, trò chuyện thật vui, đặc biệt về vở “nhạc kịch Duy-ma-cật”  vốn đầy kịch tính, từ những nhân vật “phản diện” cho đến bối cảnh, với những cao trào có thể mang tính nghệ thuật cao, với vai “Người dẫn truyện” của Văn Thù, vai Thiên nữ tán hoa cùng tiếng đàn hát dìu dặt, thanh thoát…

Tôi hiểu từ lâu thầy đã ấp ủ “kịch bản” này đâu đó sẵn rồi. Thân Trọng Minh và tôi chỉ đóng góp thêm vài ba ý cho thêm phần “hấp dẫn”. Thầy biết đó, Thân Trọng Minh vốn là người viết kịch! Cao Huy Thuần bên trời Tây nghe được cũng hết lòng ủng hộ và nói sẵn sàng sắm một vai…

Tôi nay đã 80 tuổi, già nhanh rồi, mà vừa trải qua những ngày không vui vì mất hết dữ liệu trong ổ cứng máy tính. Nhờ người cháu tậu cho cái ổ cứng mới nên nay vội viết thư này xin phép thầy hoan hỉ cho phép tôi đưa bài “Phương nào cõi tịnh” lên dohongngoc.com. Đây là trang web của riêng tôi, chỉ nhằm lưu trữ bài vở, và cũng in ra giấy để giữ.

Vừa rồi tôi nóng ruột, đã thử phone thầy và nhắn tin xin phép, mới hay Thầy và cả thầy Hạnh Viên đều đang nhập thất mùa An Cư Kiết Hạ.

Tôi hoàn toàn đồng ý với thầy:

“trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn”…

Mong Thầy hoan hỷ nhấp một chung trà lão Triệu, với nụ cười rất tuệ sỹ vậy nhe.

Thân kính,

Đỗ Hồng Ngọc.

Đỗ Hồng Ngọc, Thân Trọng Minh và Thầy Tuệ Sỹ (Thư quán Hương Tích).

………………………………………………………………………………..

 

 

PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH

Tuệ Sỹ

(viêt từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của Đỗ Hồng Ngọc)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh,

Ngoài hư không có dấu chim bay?

Từ tiếng gọi màu đêm đất khổ,

Thắp tâm tư thay ánh mặt trời.

 

Lần đầu tiên tôi tình cờ gặp bản dịch Duy-ma-cật sở thuyết của ngài Huệ Hưng; hành tung ly kỳ và chuổi lý luận của Duy-ma-cật khiến đọc say mê, nhiều đoạn học thuộc lòng. Có thể không “choáng ngợp” như anh Cao Huy Thuần vì trình dộ nhận thức của tôi bấy giờ chỉ là của một cậu bé 14 tuổi, không thể sâu sắc như  vị giáo sư trẻ tốt nghiệp Đại học Luật khoa Huế. Một chú tiểu tu chùa Việt nhưng học kinh điển theo hệ Theravāda với các Sư người Lào, do đó cực kỳ kính trọng các A-la-hán, và vì vậy không có cảm giác Duy-ma-cật đã có thể triệt hạ địa vị các Đại Thanh văn. Lớn lên chút nữa, qua nhiều năm học thêm nhiều kinh luận Đại thừa, đọc thêm các nhà luận giải Trung hoa chê bai tư tưởng các vị Thanh văn thấp kêm, tâm tư nhỏ hẹp, và kêt án khá nặng là “hạng tiêu nha bại chủng”, hủy diệt mọi thứ mầm non và hạt giống tốt của giác ngộ.

Cùng với sự phát triển của loại “khẩu đầu Thiền”, thuyết lý Thiền tông trên đầu môi chót lưỡi, phát sinh một lớp sư tăng “cuồng thiền”: thỏng tay vào chợ, thanh lâu, hý viện, đâu chẳng là thanh tịnh đạo tràng. Nhưng với sự huân tập từ hồi còn là tiểu nhóc, tôi chưa hề cảm thấy, mặc dầu với lý luận biện tài vô ngại, Duy-ma-cật đã lấn lướt vượt qua các vị Thanh văn như thế nào. Tuy nhiều vị luận giải Trung hoa quả có chế diễu ngài Xá-lợi-phất, và nhiều vị Đại Thanh văn khác nữa, như khi ngài hỏi Duy-ma-cật các Thánh giả sẽ ăn cơm ở đâu, sẽ ngồi chỗ nào; dù vậy, tôi vẫn cảm thấy trong đó có ẩn ngữ mình chưa hiểu.

Cho tới một lúc, lớn thêm chút nữa, giữa xã hội xô bồ đảo điên, tăng đồ như một cộng đồng ô hợp, riêng Phật riêng thầy, riêng tông môn pháp phái, bấy giờ bỗng xuất hiện những cư sỹ lão thành cự phách, mà trình độ thâm hiểu giáo lý không nhường các bậc trưởng lão trong sơn môn. Bên trong, hiểu và hành sâu xa nội điển; bên ngoài nhạy bén trước các biến cố đảo điên của xã hội; hiểu đạo sâu mà hiểu đời rộng, tài và trí ấy, hiểu và hành ấy, đã góp phần rất lớn trong những đoạn đường khơi lạc nguồn mạch tư duy.

Không chỉ một Duy-ma-cật, mà có rất nhiều Duy-ma-cật, khoác nhiều hành trạng khác nhau trong nhiều địa vị xã hội khác nhau, đã từng xuất hiện ở đây, sống giữa chúng ta. Họ lăn lóc trong bụi đời, nếm đủ thứ “mùi tục lụy” nhưng vẫn không ngừng vươn lên theo chiều cao của Đạo Pháp. Trong một thời đại mà không còn tìm thấy thấp thoáng bóng dáng của Duy-ma-cật, Phật pháp đạo lý có thể chỉ như món hàng trong siêu thị; có lúc chỉ như gánh hàng rong trên hè phố.

Duy-ma-cật là ai mà được ví von như thế? Một nhân vật nửa lịch sử, nửa huyền thoại. Nhân cách ấy là tập hợp tất cả phẩm tính để được gọi là “đích tử”, con chân thật, của các đấng Giác Ngộ. Mỗi nhân cách nổi lên trong một thời đại lịch sử riêng biệt, trong mỗi thời đại ấy là những nhân cách từ phẩm chất và phẩm trật trong từng xã hội cá biệt. Nhân cách ấy ẩn mình đơn độc trong rừng sâu, hoặc hiện diện giữa chợ đời huyên náo, mà không gian bao trùm bởi trực tâm và thâm tâm. Trực tâm, mà Huyền Trang gọi là “thuần ý lạc (āśaya)”, đó chính là ý chí hướng thượng, nhìn đời bằng con mắt yêu thương, định hướng cho cuộc đời của mình và cùng với tất cả cùng đi lên bằng tình yêu và trí tuệ. Từ trực tâm ấy, với ý chí quyết định, kiên trì mục đích, đó gọi là thâm tâm, cũng nói là tăng thượng ý lạc (adhy-āśaya). Đó là nhân vật mà ta có thể gặp đâu đó.

Bằng thuần ý lạc địa, từ cơ sở đó mà bảy bước phát khởi tâm bồ đề, khởi từ tình yêu thâm thiết đối với Mẹ thân sinh, vì sự an lạc của Mẹ mà phát nguyện hành bồ-đề. Rồi với tình Mẹ bao la mà tâm nguyện bồ-đề cũng theo đó mà rộng lớn lên, theo một đường thẳng như tấm lòng ngay thẳng. Từ tâm tư thuần ý lạc địa ấy mà kiên định chí hướng, in sâu trong tận cũng tâm khảm, trong thâm tâm.

Thế nhưng có thể chúng ta dễ bị choáng ngợp bởi những từ ngữ mang tính triết học, do đó mà thấy Duy-ma-cật là một nhân vật cao diệu, xa vời. Vậy, chúng ta bắt đầu từ diễn tả bằng ngôn ngữ đời thường, như Đỗ Hồng Ngọc viết trong Cõi Phật Đâu Xa: anh viêt Kinh dễ dàng và cũng rất thận trọng cân nhắc, y như bác sỹ viết toa thuốc:

“Lòng ngay thẳng – trực tâm – chính là sự bình đẳng, không phân biệt, không kỳ thị … Không kỳ thị, không phân biệt đối xử mới có lòng tôn trọng như Thường Bất Khinh, mới có lòng Từ bi, Thấu cảm như Quán Thế Âm, mới có lòng Chân thành để “ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng” như Dược Vương. Tôn trọng, chân thành, thấu cảm phải dựa trên điều kiện tiên quyết không phân biệt, là Bình đẳng. Đó chính là Bất nhị.”

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa cũng sợ; chúng ta lại gặp một từ ngữ triết học rắc rối hơn nữa: “bất nhị.” Đó là nguyên lý chỉ đạo cho tư duy và hành động của Duy-ma-cật, khi ông nói với ngài Xá-lợi-phất: “Hiện các oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) mà vẫn không xuất tưởng thọ diệt định, đó mới chính là tĩnh tọa.” Hoặc khi ông chào đón Bồ-tát Văn-thù đến thăm bệnh, và ở đó, trong “Cõi Phật Đâu Xa”,  ta cũng nghe rõ như lời bệnh nhân chào đón y sỹ: “Lành thay, Văn-thù mới đến! Tướng chẳng đến mà đến. Tướng chẳng thấy mà thấy.” Bệnh chứng, bệnh nguyên, tất cả các tướng ấy, chẳng đến mà đến, chẳng thấy mà thấy; bệnh nhân không tìm đến y sỹ, và y sỹ không đi đến bệnh nhân.

Trong đối thoại này, Duy-ma-cật cũng chào đón Văn-thù bằng ngôn ngữ thông thường: svāgatam: nghĩa đen được hiểu đã đến một cách khéo léo, tốt đẹp; đây là một từ chào hỏi tương đương chính xác với lời chào tiếng Anh: “Welcom!” Từ chào hỏi này liên hệ đến từ Tathāgata: Như Lai, mà Kinh Kim cang định nghĩa: “Như Lai, vị khéo đến, vì không từ đâu đến, cũng không đi đến đâu.”  Nó cũng liên hệ các từ  Phạn gata, āgata, anāgata: đã đi, đã đến, không đến, chưa đến, đó là những từ mà chúng ta đọc hằng ngày trong Tâm Kinh: gate gate paragate parasaṃgate bodhi svāha. Đến mà không đến, đi mà không đi, là thể tính Như Lai: Tathāgata: tathā gata/āgata. Các vị Thánh giả chào nhau bằng ngôn ngữ đời thường mà trong đó vẫn bao hàm thế giới siêu việt.

Nhưng, tư tưởng bất nhị là căn nguyên tư tưởng của một nhánh trong triết học Vedānta, tiếng Phạn nói là advaita-vāda, dịch theo ngôn ngữ triết học quen dùng ngày nay, đó là chủ thuyết lý “Nhất nguyên Tuyệt đối”. Đạt đến nhất nguyên tuyệt đối, là đạt đến giải thoát, bấy giờ Phạm-Ngã đồng nhất, Tiểu ngã và Đại Ngã hiệp thành nhất thể tuyệt đối. Nói cách khác, Linh hồn và Thượng đế là Nhất thể Tuyệt đối. Kinh Phật không nhận có Thật Ngã tồn tại, dó đó không thừa nhận thuyết Nhất nguyên tuyệt đối này.

Để khỏi phái bối rối, choáng ngợp trước những từ ngữ và lý luận biện chứng siêu nghiệm, từ nhất nguyên tuyệt đối của Phạm-Ngã nhất thể, cho đến “Như Lai đến mà không đến, đi mà không đi”, chúng ta cũng có thể bắt đầu với nhận thức đơn giản hơn từ dẫn giải bởi Đỗ Hồng Ngọc, hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh:

“Ở tại nơi sanh tử mà chẳng làm việc ô trược, trụ nơi Niết-bàn mà chẳng diệt độ mãi; hành tánh không mà vẫn trồng các cội công đức; hành vô tướng mà vẫn độ chúng sanh; hành vô khởi mà khởi tất cả thiện hạnh…”

Đây là đoạn dẫn tóm tắt khi Duy-ma-cật nói với Văn-thù về sở hành cảnh giới của Bồ-tát, môi trường hành đạo và đối tượng quán sát của Bồ-tát; trong đó nói hành tánh không (śūnyatā-gocara), hành vô tướng (animitta-gocara), là hai trong ba giải thoát môn mà một vị Thanh văn lập làm đối tượng quán sát để chứng nghiệm Niết-bàn. Ba giải thoát này là Không, Vô tướng, Vô nguyện (apraṇihita), hay nói là  Vô tác theo La-thập.  Chưa thấy và chưa biết Niết-bàn là gì thì chớ vội nói sinh tử và Niết-bàn là một, không hai. Thế nhưng, đây là những lời người bệnh nói với người thăm bệnh. Bệnh hay vô bệnh, sinh tử hay Niết-bàn, đây và đó qua lại trong ba ngõ: người bệnh vốn không, hiện tượng bệnh cũng không, cho nên không có gì để nói hy vọng hay tuyết vọng.

Những điều như vậy cũng không phải dễ hiểu; do đó chúng ta nên nghe lời dẫn từ Cõi Phật Đâu xa:

“Bồ-tát luôn đứng giữa hai bờ…” và tại đây ông giới thiệu lời trong ca khúc của Trịnh Công Sơn: trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyêt/ Rọi suốt trăm năm một cõi đi về. Nếu đưa thẳng vào tư duy triết học thì lời nhạc của Trịnh Công Sơn không liên hệ gì đến pháp môn bất nhị. Nhưng nó cũng khiến chúng ta nhớ đến câu chuyện một nhạc công của Thiên đế Indra thất tình với một thiên nữ, bèn tìm đến đức Phât, hát lên “bản tình ca dâng Phật”, với đoạn tả tình thắm thiết: “Tôi yêu nàng như A-la-hán yêu Chánh Pháp”. Có lẽ chẳng có ca từ mô tả tình yêu chung thủy nào chân tình hơn thế. Lời nhạc đã lạ lùng với đôi tai người đọc kinh Phật nghiêm túc, mà câu trả lời của Phât cũng thất lạ lùng khó hiểu: “Hay lắm, nhạc hòa hợp với lời, lời hòa hợp với nhạc; trong đó có ái dục mà cũng có Niết-bàn,” Ái dục là tình yêu hệ lụy sắc dục, và Niết-bàn là cảnh giới ly dục. Há lại có nghĩa, từ trong ái dục mà thấy Niết-bàn, từ Niết-bàn mà thấy rõ thể tính của ái dục? Đơn giản hơn, từ bùn lầy hôi thối mà tìm thấy hoa sen?

Rốt cục, cửa dẫn vào pháp bất nhị này là đâu, là cái gì?

Chuyện tình nhạc công của Thiên đế diễn thành kịch bản để nói những điều không thể nói, vì tính chẩt phản diện được cấu trúc trong đó. Cũng thế đó, người đọc Duy-ma-cật sở thuyết có thể dễ dàng nhận ra bản văn này được cấu trúc theo thể loại kịch. Trong kịch bản, tính phản diện của các nhân vật được sử dụng để diễn tả nội dung theo ý nghĩa muốn nói.

Trong đoạn dẫn của Đỗ Hống Ngọc nêu trên, chúng ta thấy Bồ-tát tu tâm như một Thánh giả Thanh văn xuất thế, nhưng hành đạo như một phàm phu trong sinh tử: trong bùn mà chằng hôi tanh mùi bùn. Đó là căn bản của tư duy bất nhị. Thánh nhân xuất thế, và phàm phu sinh tử, hai mặt phàn diện mà lại đồng nhất thể tính. Người đọc nếu không nhìn ra những cặp phản diện trong Sở thuyết này tất sẽ thấy Duy-cật-đã đã “lấn lướt” các Thánh giả Thanh văn, đã “dồn ví” các ngài vào ngõ bí.

Trong kịch bản Duy-ma-cật sở thuyết, người ta nghe được những đối đáp tương xứng giữa Văn-thù và Duy-ma-cật, nhưng đây không phải là cặp nhân vật phản diện; mà trong đây Văn-thù chính là vai người dẫn kịch. Không có người dẫn kịch thì khó có thể hiểu nội dung của kịch bản. Đây là cấu trúc cổ điển của kịch. Như trong khi Văn-thù nói và hỏi, Duy-ma-cật im lặng; nếu không có Văn-thù như là vị dẫn kịch, thì sự im lăng của Duy-ma-cật chẳng có ý nghĩa gì; do đó đây không phải là cặp đối đáp phản diện.

Thực ra, Duy-ma-cật xuất hiện trong nhiều lớp áo khác nhau, nên đồng thời thủ vai phản diện cho nhiều vị Thánh giả, từ các A-la-hán cho đến các Bồ-tát. Khi ngài Xá-lợi-phất tĩnh tọa trong rừng vắng, Duy-ma-cật xuất hiện với lý luận sắc bén khiến cho vị Đại Thanh văn này không còn lời đối đáp. Dễ chừng người ta chỉ thấy một Tôn giả Xá-lợi-phất trong rừng vắng nhập tưởng thọ diệt tận định, thân tâm bất động, có thể lưu thọ hành để giữ cho thân thể tồn tại không mục rã qua một đại kiếp, hằng triệu năm của mặt trời; ấy thế nhưng lại không thấy ngài ôm bát lang thang trong hang cùng ngõ hẻm với cái bụng đói. Nếu để thọ hưởng an lạc tịch tĩnh chính mình qua hằng nghìn năm cho đến khi thân ấy mục rã nếu muôn, thế thì cần gì phải ăn để mà sống. Vậy ôm bát đi khất thực vì lẽ gì?  Vì cơn đói sẽ hành hạ bản thân, hay vì để thức tỉnh thế gian đang trầm luân trong khổ lụy? Thế thì Duy-ma-cật đi vào đời để xây dựng cho đời an vui có cao quý hơn ngài Xá-lợi-phất ngồi trong tịch nhiên bất động? Phải chăng tượng Phật ngồi bất động trên bàn chẳng ích lợi gì cho ai, chẳng bằng sư trụ trì tụng kinh cầu siêu, cầu an cho bá tánh? Đấy là cặp phản diện làm hiện rõ bản chất của tồn tại.

Mặt khác, trong phong thái Thánh giả xuất trần Xá-lợi-phất lại xuất hiện trước một phản diện là cô thiên nữ cực kỳ diễm lệ. Với sắc đẹp vượt lên cả hàng thiên hương quốc sắc ây, với vũ điệu thiên nữ tán hoa kỳ ảo hơn cả vũ khúc nghê thường ấy, cũng rất dễ khiến cho Đường Mimh Hoàng mất ngôi mất nước. Nhưng sao nàng sống chung trong một căn phòng trống trải với lão cư sỹ Duy-ma-cật; rồi lại xuất hiện múa hát trước các Thánh nhân xuất thế, những vị mà tâm tư lắng đọng không hề gợn sóng dục tình; hiện diện với ý nghĩa gì? Đối đáp giữa thiên nữ và Xá-lợi-phất đã dẫn cặp phản diện ô nhiễm và thanh tịnh lên đến kịch tính gay cấn, khiến cho Xá-lợi-phất biến hình thành thiên nữ kiều diễm, và thiên nữ biến hình thành Thánh giả Xá-lợi-phất nghiêm trang.

Nhận diện được những cặp nhân vật phản diện trong Kinh thì cũng có thể bằng hình ảnh ấy mà chiêm nghiệm thế nào là ý nghĩa bất nhị, bằng cánh cửa nào để đi vào cảnh giới bất nhị ấy.

Thêm nữa, ngoài những nhân vật phản diện, cũng nên đi sâu vào những bối cảnh phản diện. Khu vườn xoài, sở hữu của kỹ nữ Am-la-bà-lị, nơi các vương tôn công tử buông mình thả trôi trong dục vọng, lại trở thành nơi tịnh tu của các Thanh văn xuất thế, trong ô nhiễm mà không ô nhiễm. Tư gia của Duy-ma-cật, nơi ông tiếp những chính khách đang lao mình trong đấu trường quyền lực, những thương gia đang cạnh tranh ráo riết trên thương trường, mhưng chỗ ấy lại cũng là nơi lai vãng của các Thánh giả xuất trần, Thanh văn và Bồ tát. Tư gia của trưởng giả Duy-ma-cật, khu vườn xoài của kỹ nữ Am-la-bà-lị: cặp phản diện của náo nhiệt và tịch tĩnh, của ô nhiễm và thanh tịnh.

Giữa thế giới Ta-bà và cõi Phật Chúng Hương, tòa sư tử và thành Tì-la-da, cái vô cùng lớn đến trong cái vô cùng nhỏ, và cái nhỏ đi vào trong cái lớn: đây cũng là cặp phản diện bối cảnh làm lộ rõ thể tính tồn tại của thế gian, vũ trụ. Bằng hình ảnh đó mà tập luyện cho tư duy vượt ngoài khuôn sáo ước lệ, vượt qua thế giới thường nghiệm để vươn lên cảnh giới siêu nghiệm, bất khả tư nghị.

Như thế, đọc Duy-ma-cật sở thuyết như đang xem một kịch bản, với những nhân vật và bối cảnh phản diện, với những biến cố mang đầy kịch tính, đó là cách tự huấn luyện và tự trang bị cho mình một công cụ định hướng tự duy để vươn lên chiều cao của giác ngộ.

Trong khi chúng tôi cùng tìm hiểu ý nghĩa phản diện và kịch tính trong Duy-ma-cật sở thuyết, hai ông bạn cư sỹ Đỗ Hồng Ngọc và Thân Trong Minh tỏ ra tâm đắc và cao hứng, cố ý muốn viết lại một kịch bản và dàn dựng sân khấu như thế nào đó để có thể hiểu rõ hơn điều mà Kinh muốn chỉ điểm; vì trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn.

Hy vọng các bạn cư sỹ thành tựu như ý. Riêng tôi, trở về thảo am thơ thẩn, gởi lại hai bạn cư sỹ hai câu thơ:

Nhà tranh mái cũ quen chừng,

Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn.

 

Thị ngạn am, tiết Lập xuân, Đinh dậu

Tuệ Sỹ

(3.2017)

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Nhạc sĩ Dương Thụ: “Café” với Đỗ Hồng Ngọc

23/07/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nhạc sĩ Dương Thụ: “Café” với Đỗ Hồng Ngọc 13.7.2019

 

nvquyen vừa gởi clip ghi buổi “Tâm tình” của Đỗ Hồng Ngọc với Dương Thụ và các bạn tại CAFE THỨ BẢY ngày 13.7.2019 vừa qua. Xin chia sẻ.

Đa tạ nvquyen.

ĐHN.

 

Viết thêm:

Có vài bạn “phàn nàn” rằng nghe nhạc sĩ Dương Thụ hỏi về thơ tình Đỗ Nghê mà tôi cứ như “né” đi. Nay xin gởi bài thơ Mũi Né này (đã đăng trên Bách Khoa, 1970) và nay nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đã phổ nhạc với tiếng hát Thu Vàng để tặng các bạn vậy nhé.

Bài này nvquyen cũng đã chuẩn bị để trình chiếu hôm đó nhưng thấy ít thời gian nên ngưng.

Cảm ơn nvquyen.

Trân trọng.

(ĐHN)

 

 

Và đây là bài thơ Xin Cám ơn, cám ơn tôi viết ngày còn nằm ở BV mà bạn Quách Mạnh Kha đã đặt câu hỏi trong buổi Giao lưu 13.7.2019 tại Cafe Dương Thụ:

Xin Cám ơn, cám ơn

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Như cỏ cây trước cơn bão dữ
Như con thuyền tung hê lên vách núi cao

Cho ta trở về làm con thú hoang sơ
Trần truồng như nhộng
Kẻ cạo đầu người lột da
Kẻ đục sọ người giúp thở

Kẻ đặt ống sonde vào đường tiểu
Người bơm thuốc qua dịch truyền
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Không lý trí không nghĩ suy không toan tính.

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo như cơn bão dữ
Bản tin thời tiết chưa kịp loan truyền
Quất qua đời ta cây cỏ
Để khi tỉnh dậy ta nhìn ra em
Nhớ tiếng người này nhìn ra người nọ
Gọi tên người này nhớ mặt người kia
Như đã qua một kiếp khác
Bao năm xa vắng quê nhà!

Nhớ bước chân trâu nhớ giàn bông bí
Nhớ cây khế ngọt nhớ trái dừa xanh
Nhớ tiếng mẹ già nhớ đàn con trẻ,
Nhớ người hàng xóm lâu nay còn lạ
Nhớ những người thương nhớ luôn người ghét
Thấy ai cũng tôi nghiệp
Như ta
Đã bao lâu ta không sống với mình
Ta có ta mà quên ta phứt.

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc
Cho ta trở lại với mình
Ta muốn ôm hôn tất cả mọi người
Và ôm hôn ta nữa
Cái đầu trọc lóc bình vôi
Hai lỗ thủng và 18 vết khâu từ ái
Ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở
Lắng nghe sự sống cục cựa trong mình.

Xin cám ơn, cám ơn
Những cơn đau vật vã toát mồ hôi
Những nhức buốt thiệt thà thú vật
Khi đứng được hai chân như con người
Thật vô cùng hạnh phúc
Khi bước đi những bước con người
Khi còn được nghe được nói
Được cầm cây viết vẽ bâng quơ
Được đọc vài trang báo
Ôi phép lạ nhiệm mầu!

Những hòn sỏi bỗng có linh hồn
Những lá cây đong đưa lạ lẫm
Tiếng chim và ánh nắng
Như đã lâu rồi ta mới gặp nhau
Như đã lâu rồi ta mới quen nhau…

Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Cho ta trở về làm con thú trinh nguyên
Cho ta trở về làm em bé sơ sinh
Tràn đầy hạnh phúc
Để ta biết chắc một điều có thực
Tình yêu
Đã giúp ta tìm lại chính mình
Đã giúp ta vượt thoát!

Đỗ Hồng Ngọc
(Bệnh viện AB 12/1997)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Vài đoạn hồi ký

Một hôm gặp lại Nguyễn Xuân Thiệp

22/07/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (7.2019)…

Một hôm gặp lại Nguyễn Xuân Thiệp

Bạn biết đó, mình vừa mất toàn bộ các bài viết, draft, hình ảnh… trong cái “ổ cứng” kỳ cục gì đó của máy vi tính… Đứa cháu nói để con ráng “cứu” dữ liệu xem sao. Thất bại. Mà như bạn biết, “Thất bại là mẹ đẻ của… đại bại” nên không có gì đáng ngạc nhiên.

Lò mò thế nào, lượm được bài Nguyễn Xuân Thiệp đọc “Một Hôm Gặp Lại” của Đỗ Hồng Ngọc. Trời ơi, xưa giờ chưa thấy một bài “đọc sách” nào trời ơi đất hỡi như vậy. Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, chủ xị phovanblog bạn nhớ chứ? Mình chưa gặp anh lần nào mà đã thân thiết lắm. Anh lứa lớn, bạn với anh Cao Huy Thuần mà. Cao Huy Thuần bảo ngay từ hồi còn bé, chơi với nhau chỉ thấy Nguyễn Xuân Thiệp làm thơ! Và thơ anh ngay từ thời xa xưa đó không chỉ có từ có tứ có âm có vận mà còn rất “tân hình thức” nữa. Những dấu chấm đột ngột, những ngắt dòng đột ngột… đã khiến câu thơ sửng sốt thành vô số tứ thơ, bài thơ…

Và như thế, Nguyễn Xuân Thiệp đã “đọc sách” Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc. Một bài đọc sách kỳ cục, một bài rất thơ nguyễn xuân thiệp… Rảnh đọc lai rai vậy nhé.

Ta sẽ giật mình “gặp lại” biết bao người, biết bao nỗi niềm từ Bồ Tùng Linh đến Nguyễn Du, Saint Exupery, rồi Bùi Giáng, Mai Thảo, Quách Thoại, Hoàng Ngọc Biên, Diễm Châu, Trịnh Công Sơn, Đỗ Trung Quân, Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn, rồi Đinh Cường, Bửu Ý, Nguyễn Đức Sơn, Hà Thanh, rồi Võ Phiến, Trang Thế Hy, Thận Nhiên, Diễm Tú, Hoàng Chu, Xuân Phước, Kim Phượng, rồi Trần Hoài Thư và Yến, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương…

Và vì thế, không có lý do gì ta chẳng “gặp lại” Nguyễn Xuân Thiệp “một hôm”,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Sg 22.7.2019)

 

 

MỘT HÔM GẶP LẠI*

Nguyễn Xuân Thiệp

 

 

Bạn từ quê nhà gởi cho cuốn sách

ôi. món quà quý giá biết bao

và tôi gặp lại

chàng hoàng tử bé

với hình con trăn nuốt con voi. đang nằm nghỉ. như chiếc nón úp

đơn giản vậy. mà người lớn không ai hiểu cả

và cậu đã trồng. một cây hồng. trên hành tinh bé xíu

saint-exupéry ơi. ông sẽ sống mãi. với cây hoa hồng. và chàng hoàng tử bé này

tôi cũng thấy. mình là người đi chia lửa. như lời phật nói
ghi trong sách đỗ hồng ngọc

tôi đi chia. hơi ấm. của một mối tình đã chết. với làn hương. mê

tôi cũng chia. ánh đèn của một sân ga nhỏ. tiếng chuông xe điện leng keng. bên bờ sông vắng

cùng những cánh môi khô

của cánh đồng gai

và cả mùi hôi. của một vùng biển quê nhà

ôi ngọn lửa của tôi

không được như lời phật dạy

thơ tôi. rồi sẽ tắt. cùng đời tôi

may thay. tôi gặp lại. dòng sông thuở bé, như thanh kiếm dựng giữa trời. trong thơ cao bá quát

sông hương đó anh ngọc ơi
dòng sông đã theo tôi. trên khắp chặng đường tôi qua

qua nắng. qua mưa. và tuyết phủ

trận thunderstorm

và mùa thu. trên quảng trường harvard square. của boston

trên chuyến xe lửa ngày nào

tôi cũng làm người kể thơ

cho cô susan nghe

những câu thơ bụi. có mùi thơm của cánh hoa khô. trên vỉa hè

tôi gặp lại. trịnh công sơn. với miệng cười khúc khích trên lưng

và con tinh yêu thương. vô tình chợt gọi**

mặt trăng. nằm ngủ trên đồng cỏ khô

 

Khi ở thành phố Garland, June 2016

*Tuyển tập Tùy Bút Đỗ Hồng Ngọc

**Ca từ Trịnh Công Sơn

(http://phovanblog.blogspot.com/2016/06/mot-hom-gap-lai.html)

………………………………………………………….

MỘT HÔM GẶP LẠI. TIẾP TỤC…

nguyễn xuân thiệp

 

anh đỗ hồng ngọc ơi

hôm nay thấy có hứng chút chút

nên muốn được cùng anh

trở lại với mùa thu boston

cùng anh đi trên chuyến bus. có cô susan

ngồi kể thơ

vẫn là thơ của anh chàng đỗ trung quân

nhưng không phải. chùm khế ngọt. hay giỏ xe chở đầy hoa phượng.

đỏ

những thứ ấy là của tuổi học trò. xưa rồi

mình già đầu

chơi thứ khác

có chút xì ke. đế. và thêm chút gái. càng phê

vâng. ta sẽ kể cho susan nghe. chuyện cùng với chàng thi sĩ họ đỗ. gầy còm

ngồi trong garage để xe. nhưng không có xe

xe nằm ngoài đường

đây là nhà hoàng ngọc biên

người tôi quen thân

ngồi ở đây. nhé susan. ta vừa uống bia. vừa hút thuốc lá. nói chuyện văn chương. thời thế. cả chuyện cá chết. và biển thúi

chuyện cô học trò hát rap

và obama núp mưa. trong quán chiều. hà nội

chung quanh chỗ chúng ta ngồi. có hơi sương mù. và chú sóc giỡn chơi

ô. anh và susan. có ngửi thấy mùi của những bông khuynh diệp vàng cháy khét. diễm châu đang dùng quẹt ga đốt. trên đường chiều trương định. có tiếng chuông nhà thờ xa

diễm châu giờ đã chết

anh ngọc ơi

còn tôi đây, muốn kiếm một bà già dẫn mình ra bờ sông tình tự. nhưng hỡi ơi. bà ấy chỉ thích đi kéo máy casino

chán không. chung quanh tôi cũng có dăm cô sồn sồn. nhưng mấy cô này chỉ muốn đi với kép trẻ. tiên sư cái sự đời

thôi thì ta trở về với cô bé có mái tóc bánh bèo. nhớ lại thời mình chăn trâu. đầu húi cua. khét nắng

đời đơn sơ vậy mà vui. lại được cùng cô bé cạp chung củ khoai lang nướng. có mùi sùng. như tôi với cô bé thỏ. thời vương phủ

đêm qua. tôi đi bụi ở nhà diễm tú. cùng với nghĩa và thận nhiên hát quán bên đường. tôi chỉ hát ké thôi, vì sợ hư bè như nhật hoàng nói

ôi. mình gặp lại cô bé mái tóc bánh bèo trong một quán bar khuya. hình như là the house of the rising sun

em bây giờ. bẹo hình hài. đem thân xác hiến cho phường tục tử. kiếm tiền

còn tôi làm nghề viết mướn

em hỏi đời buồn hay vui

tôi đáp. buồn hay vui. thì cứ hỏi cuộc đời

tới đây. tôi cầm ly rượu đập xuống bàn. đánh rầm

khiến  hoàng chu đứng gần đó. giật mình. trợn mắt. ngạc nhiên

(còn tiếp)

NXT

…………………………………………………………………

 

Lần nữa. MỘT HÔM GẶP LẠI

Nguyễn Xuân Thiệp

 

anh đỗ hồng ngọc thân

đêm qua. một trận thunderstorm. kéo qua bầu trời

tỉnh giấc. ba giờ sáng

tôi nghe như tiếng không lộ thiền sư. hú rền. lạnh thái hư

nhìn ra. thấy bóng đinh cường. bạn chúng ta. mặc áo tím. đi trong mưa. qua rừng natick. có tiếng còi tàu

vọng lại

và tôi muốn khóc

gọi thầm tên nhau. như sơn. gọi thầm. gọi thầm tên nhau. đừng bỏ tôi đi*

ơi hà thanh. … xứ huế bây giờ / vẫn còn núi ngự bên bờ sông hương**. bùi giáng ngày nào đã hạ bút.

vậy mà hà bỏ đi sao. huế và hà thanh. chưa ai hát hải ngoại thương ca hay bằng hà. cả mình và nguyễn

xuân phước đều mê. đêm qua nhân giỗ đầu của hắn mình vừa nghe lại. đêm trên trời có một vầng trăng.

trăng của dòng sông xanh đó. hà ạ.

vừa dẫn thơ. bỗng thấy bùi giáng chợt hiện

đứng múa. trên ngã ba đường bà lê chân. tân định

bùi giáng. lưng đeo đầy túi cói. và lon cóng

cầm chiếc quạt

đưa cao. hát

em ơi. em đẹp vô cùng

vì em có cái lạ lùng bên trong**

a. cái lạ lùng bên trong là gì. đọc một hôm gặp lại của đỗ hồng ngọc. chỉ thấy anh ỡm ờ. không chỉ đích

xác

tức quá. bèn tìm cho ra

và rồi chợt ngộ

đúng rồi. cái chỗ đặt của mai thảo*** đó mà. thảo nào

nhiều người mê

như mê sến già nam. ý. đừng. mê sến nữ trẻ thôi

bỗng dưng. thèm đi ra bãi biển phan thiết của anh đỗ hồng ngọc. ăn cái bánh căn. rồi tắm biển. không sợ

cá chết. nước nhiễm độc

ở đây tôi gặp. từ thế mộng và nguyễn bắc sơn. ngồi nhậu trong một quán lá bên đường. đọc thơ

tôi nghe. mấy hôm nay biển thở dài / thì ra em bệnh đã vài bốn hôm…**** và nghe. ta vốn ghét đàn bà

như ghét cứt / nhưng vì sao ta lại yêu em…*****

ôi. ghét đàn bà ư. ở đó mà tin mấy ông nhà thơ. tui thì đàn bà nào cũng mê và còn dại gái nữa. như một

chị bạn xinh đẹp ở đây từng nhận xét

hơn thế nữa. muốn làm chàng trai ở rể được người yêu cẩn thận dặn dò. chuột kêu chút chít trong rương

/ anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay

và làm chàng thư sinh mặt trắng của bồ tùng linh gặp cô ma nữ hỏi không đáp bèn giao hoan

thôi. nói chuyện bậy bạ quá trời. đó là do ông đỗ hồng ngọc đầu têu. xin người yêu đứng đắn của tôi ở

bên bờ tây đừng rầy la. tội nghiệp

thôi. chuyện nghiêm chỉnh vậy

trước hết là chuyện ông võ phiến. cùng bạn. ngồi nhìn bồ câu bay. lâu lâu con mái xòe đuôi để con đực

“lắp ráp”. rồi lại bay đi. trưa nào cũng bay******

trời ơi. lại nói bậy rồi. cho dù nói theo hai ông đỗ hồng ngọc và võ phiến. xin trở về với các bạn ta. chắc

ăn hơn

đinh cường chẳng hạn. không bao giờ nói bậy. chỉ nói những lời có cánh dễ thương. nên được bạn bè

yêu mến. xin kể ra đây tựa đề những đoạn ghi của cường theo sách đỗ hồng ngọc. đoạn ghi ngắn nhớ

ngày 15 tháng 3 sinh nhật cháu. cho con dốc sâu xuống thân trọng điền trang. thăm những nhà ga sắp

hồi sinh. thức dậy ngồi im trong đêm khuya. tạm biệt sài gòn lần nào cũng mưa chiều nặng hạt. từ đà lạt

thuê xe tắc xi cùng bửy ý về thăm sơn núi. v.v…

cường ơi. tôi muốn một hôm nào đó. xin trở lại thăm cái basement của bạn. ngắm các bức tranh. những

chân dung bạn bè. và nhìn hình chụp bạn cùng tôn nữ kim phượng. thời còn trẻ. nắm tay nhau chạy

xuống đồi. với tôi tấm hình này là đẹp nhất trong những trang đẹp của đời bạn

và lữ kiều. người chủ dễ thương của thân trọng điền trang ở đà lạt. chàng yêu thơ từ lúc trẻ. không hề

coi thơ là thứ để trang sức. chàng viết. con dế mèn có thể hát để mà hát nhưng tôi không thể viết để mà

viết

còn lê ký thương nữa. người luôn bị ám ảnh bởi bông sen. mải mê vẽ nó. để rồi cuối cùng thị được và

sụp lạy cúi đầu như quách thoại trước bông thược dược…

lại nữa. tôi từng đọc và mê chiếc piano treo ngược và những giấc mơ của lữ quỳnh có bạn bè cười nói

đông vui, ấm áp. lữ quỳnh từ bao lâu nay vẫn là người thiết tha, thủy chung với bạn. những niềm vui, nỗi

buồn của anh hầu như lúc nào cũng có bóng người bạn bên mình. nhưng theo đỗ hồng ngọc, thơ lữ

quỳnh gần đây đọng một nỗi sầu dằng dặc đến phải kêu lên “đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi”!

với trần hoài thư. người chủ thư quán bản thảo và thư ấn quán. vẫn là con bìm bịp gọi chiều nước lên.

anh và chị yến đã bỏ bao công sức và thì giờ cho những công trình văn học miền nam. có hôm trên

đường tới thư viện tìm tài liệu. giữa tiểu bang mênh mông. anh và chị yến dừng xe thổn thức. chị yến giờ

này nằm một chỗ trong nursing home. anh một mình ra báo in sách. ôi. văn chương vô mệnh lụy phần

dư. là nguyễn du hay là anh đó. hả anh thư. son phấn có thần chôn vẫn hận. văn chương không mệnh

đốt đi lụy vẫn còn*******. ôi. tôi vẫn mong tới thăm anh và chị yến một lần mà không có ai cùng đi.

anh đỗ hồng ngọc ơi. bây giờ cho nổ sảng chút chơi nha

trong dư vang tiếng sấm. đọc lại thơ mình tôi thấy hiện lên cây sequoia ngàn tuổi. sừng sững giữa đại

ngàn. ngọn vươn tới trăng sao

 

Khi ở Garland. Đêm 17 tháng 6. 2016

Nguyễn Xuân Thiệp

(nguồn: Thư Quán Bản Thảo số 71, tháng 7. 2016)

………………………………………………………………………….

*Ca từ Trịnh Công Sơn

**Thơ Bùi Giáng

***Đặt tay vào chỗ không thể đặt…

(Chỗ Đặt. Mai Thảo)

****Thơ Từ Thế Mộng

*****Thơ Nguyễn Bắc Sơn

******Văn Võ Phiến

*******Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

          Văn chương vô mệnh lụy phần dư.

(Nguyễn Du. Độc Tiểu Thanh Ký)

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 19
  • Trang 20
  • Trang 21
  • Trang 22
  • Trang 23
  • Interim pages omitted …
  • Trang 58
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email