Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Thư gởi bạn xa xôi (9.3.2020): Một cuốn sách mới của Nguyễn Hiến Lê

09/03/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Một cuốn sách mới của Nguyễn Hiến Lê:

 

Sáng nay, Trần Văn Chánh phone hỏi mình có nhà không, mời càphê, để gởi tặng cuốn sách mới của Nguyễn Hiến Lê do anh Nguyễn Hiền-Đức (5 Hiền) Sưu tầm-Tuyển chọn vừa in xong (Nxb Tổng hợp Tp.HCM 442 trang, 14,5cm x 20,5cm).

Có nhà chứ, lúc này ít đi đâu, thỉnh thoảng mới ra đường sách ngồi “tào lao” với mấy bạn thân thôi mà. Rồi hai anh em kéo vào một cái quán chay góc đường.

                  Trần Văn Chánh và Đỗ Hồng Ngọc (Sg, 9.3.2020)

Trong Lời giới thiệu, Trần Văn Chánh viết:

“… người ta biết NHL không chỉ ở hơn 120 công trình biên soạn, nghiên cứu, dịch thuật có giá trị đủ loại mà vì còn biệt tài viết lời tựa sách và bài giới thiệu sách của cụ…

Nhìn chung, ông viết tựa sách cho ai thì cũng đều thâm nhập nội dung tác phẩm của người đó nữa, đặc biệt là có tính mở rộng… gợi ý suy nghĩ để người đọc còn hiểu thêm vấn đề liên quan…

Có thể nói ông Châu Hải Kỳ mới là người đầu tiên tinh tế nhận ra cái đặc tài viết Tựa của NHL…”.

Về anh 5 Hiền, Nguyễn Hiền Đức thì TVC viết: “Kiên trì sưu tập, nhẩn nha gõ lại từng chữ để in ra đầy đủ những lời tựa, bài giới thiệu sách của NHL là một việc không phải ai cũng có gan làm được, và việc làm này chắc chắn sẽ mang lại lợi không nhỏ cho các thế hệ hậu bối…”

Quả đúng là đáng phục thiệt. Không chỉ phục NHĐ mà phục cả TVC, người đã “chăm lo” từ A đến Z để cuốn sách này có mặt hôm nay. Nghe nói, tác quyền sẽ được chuyển đến chùa Phước An ở Lấp Vò, nơi đặt tháp mộ cụ NHL.

Lâu mới gặp TVC nên mình cũng hỏi thăm thêm những việc anh đang làm. Anh nói cuốn Tự điển Hán Việt khá nổi tiếng của anh trước đây vẫn còn nhiều sai sót. Từ 20 năm nay, anh đã kiên trì biên soạn gần xong bộ Hán Việt Đại Tự Điển gần 7000 trang và bộ Hán Việt Đại Từ Điển còn dày gấp 3 cuốn trên. Hỏi, anh cho biết mỗi ngày anh ngồi gõ trước máy vi tính từ 12-16 tiếng đồng hồ! Nể thiệt.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

Mời đọc thêm: TTO

https://tuoitre.vn/gap-sach-nguyen-hien-le-nho-bo-ngay-xua-20200315105046631.htm

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Đỗ Hồng Ngọc với Tạp bút ĐỂ LÀM GÌ?

09/03/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

 

Lời ngỏ

 

Tôi đặt tên cho “Tệp tuyển” này là ĐỂ LÀM GÌ bởi vì trong lúc tập hợp một số các bài viết ngắn của mình dưới đây tôi luôn tự hỏi để làm gì, để làm gì… mà vẫn không sao trả lời được!

…………

Rồi một hôm, trong buổi “về thu xếp lại”, tôi gom góp một số bài tùy duyên, tùy hứng, tùy nghi, tùy hỷ … bấy lâu mình thích mà làm thành một “Tệp”, mà tôi gọi là Tạp bút như một món quà lưu niệm dành riêng đọc vui một mình, rồi biết đâu cũng có người đồng điệu, cũng nòi tình mà cùng sẻ chia trong chốn thân quen…

Không ngờ mà khi thu xếp, gom góp lai rai như vậy, tôi đã không cầm được nước mắt khi đọc lại “nỗi cô đơn uy nghi” của Võ Hồng, “người ta ở bển” của Trần Vấn Lệ, “gọi chiều nước lên” của Trần Hoài Thư, và “lắm nỗi không đành” của Võ Tấn Khanh…

Rồi cũng không thể không cười một mình với “làm mới thơ”, với “vơ vẩn cùng Mây” với “hỏi không đáp, bèn…”

Rồi lại cũng không thể không trầm ngâm ngẫm ngợi với “để làm gì”, với “sáng, trưa, chiều, tối”…

Mít ướt. Nó vậy đó. Biết sao.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 2.2020)

 …………………………………………………………

 

ĐỌC ĐỖ HỒNG NGỌC

Trần Vấn Lệ

Tôi từng viết về Đỗ Hồng Ngọc qua tập thơ Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác. Tôi dùng từ “ấm áp” nói về cách diễn lời diễn ý của ông. Nay với tập tùy bút này, tôi thấy ông chẳng thay đổi gì, toát ra từ văn chương của ông là sự ấm áp, là lòng từ bi hỷ xả. Có lần tôi nói Đỗ Hồng Ngọc giống như Ông-Thầy-Chùa, ông Thầy ở trong Chùa giảng dạy cho người ta biết cách thích nghi với đời sống, hồn nhiên tự tại; tôi không coi ông là một Nhà Sư vì ông luôn luôn gần gũi với mọi người trong tình thân ái và nhân ái. Tập tùy bút cho tôi thấy lòng ông thản nhiên thơm ngát đạo hạnh, không có chút nào mê tín, không có chút nào dị đoan. Sự gặp gỡ giữa đời thường này là một cái duyên. Cái duyên khởi từ Thơ, miên man vào Văn, thành tâm tình, thành tâm sự.

Tôi và Đỗ Hồng Ngọc “có duyên” từ năm đệ thất, 1954 – 1955 tại Trường Phan Bội Châu, Phan Thiết. Sau đó chúng tôi lưu lạc, Đỗ Hồng Ngọc…mất tích cho đến cuối thập niên 1990, tôi thấy cái bút danh Đỗ Hồng Ngọc trên nhiều báo tôi thử đánh bạo làm quen. Thì té ra, cố nhân! Hơn hai mươi năm rồi, tình của chúng tôi thắm thiết.

Tôi có suy bụng ta ra bụng người, thật. Nhưng tôi tự tha thứ cho tôi:  mình nói tốt về một người, mình ca ngợi một người tốt mình không có tội!  Đỗ Hồng Ngọc là Bác sĩ y khoa đã có năm mươi năm hành nghề, rất mát tay và xứng đáng nhận danh hiệu Lương Y Như Từ Mẫu. Chẳng chỉ thế, với thi tài và văn tài của ông, Đỗ Hồng Ngọc đã có chỗ đứng không-đổi-dời trong lòng người đọc sách. Bạn chưa tin tôi, bạn đọc Đỗ Hồng Ngọc đi, rồi bạn thấy tôi nói về Đỗ Hồng Ngọc còn “hạn chế” lắm!

Đỗ Hồng Ngọc nói về Tùy Bút như sau:

Tôi khoái Tùy Bút.  Không biết tại sao.  Chắc là tại cái tạng. Tùy Bút nó gần với Thơ hơn. Nó không hư cấu. Nó đến từ cảm xúc hơn là từ tính toan. Nó tùy duyên mà tới. Nó tùy hứng mà nên. Nó tùy nghi mà hiện. Và nó tùy hỷ mà vui…

Đọc Tùy Bút của Đỗ Hồng Ngọc, tôi nghe lòng tôi lắng xuống. Đời còn đẹp lắm vì còn có người trang điểm cho đời bằng văn chương. Đỗ Hồng Ngọc cho ra đời đúng lúc tập Tùy bút ở tuổi tám mươi này. Chúng ta thử nghĩ rằng mình đang gặp lại cái gì đây, chuyện gì đây, người nào đây… và các bạn sẽ gặp lại chính mình.Tôi không nói Đỗ Hồng Ngọc là nhà luân lý, tôi chỉ muốn khen Đỗ Hồng Ngọc, ông là nhà văn đi theo hướng “Văn Dĩ Tái Đạo”. Đỗ Hồng Ngọc đóng góp cho đời, xây dựng giềng mối cho đời bằng văn chương điềm đạm. Hãy viết vì tình người, dịu dàng, nhẹ nhàng và ấm áp!…

* ** * *

Đọc được một cuốn sách hay, tôi nghĩ rằng có một hôm nào đó…tôi không quên những gì tác giả viết ra, miên man và lan man nhưng “hay kỳ lạ” vì nó cho mình suy nghĩ về mình, bất chợt nhìn ra cảnh đời nghe ít nhiều xao xuyến…từ đó, tôi nhủ lòng tôi: mình nên sống đằm thắm, mình nên là người tử tế.

(TVL)

 

******

MỤC LỤC

 

* 2.Lời ngỏ

* 3. Để làm gì?

* 6. An lạc

* 8. Một hôm gặp lại

* 13. “Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”

* 17. Nhớ Tiếng Thu ở Boston

* 19. Con tinh yêu thương

* 22. Cám ơn Asimo

* 25. Kể thơ trên xe lửa

* 28. Làm mới thơ

* 31. Tôi cũng tin vậy

* 35. Chỉ ngần ấy thôi

* 40. Văn hóa đọc

* 43. Khúc khích trên lưng

* 46. Trà đạo

* 50. Lãng mạn xưa và nay

* 53. Sến già nam

* 59. Một cốt cách ở đời

* 63. Gọi chiều nước lên

* 69. Võ Hồng vào tuổi 80 “và nỗi cô đơn uy nghi”

* 76. Mình

* 78. Hỏi không đáp, bèn…

* 81. Còn sữa để cho con

* 84. Bò, tại sao điên

* 86. Chuyện sanh đẻ

* 88. Bác sĩ nhà quê

* 92. Chơn mạng đế vương

* 95. Sáng mắt

* 98. Người ta ở bển

* 100. Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi

* 104. Dằng dặc khôn nguôi

* 110. Nỗi ám ảnh sen

* 112. Lắm nỗi không đành

* 116. Lẽo đẽo phương quỳ

* 118. Thy Đạo

* 123. Vơ vẩn cùng Mây

* 126. Còn thương rau đắng

* 129. Về Phan Thiết

* 132. Bãi Phan Thiết

* 135. Biết bao điều thì thầm

* 138. Một chuyến đi hụt

* 141. Arul, chốn núi rừng

* 144. Huế bao lần về

* 147. Hội An

* 150. Gia đình Hoa Sen, Đà Lạt

* 155. Năm nay người có về ăn Tết

* 158. “Ếch kêu”

* 162. Tôi thấy tôi thương những chuyến phà

* 165. Đà Lạt

* 167. Thăm thầy Phước An

* 169. Mấy ngày Tết

* 172. Hoa đào năm ngoái

* 174. Núi vẫn cứ là núi

* 177. Tôi học Phật

* 181. Ca-tì-la-vệ

* 183. Nói chuyện ở chùa Quang Minh, Melbourne

* 185. Úc du và vài bài học quý

* 187. Về Huế thăm chùa

* 193. Ngọn lửa

* 195. Có Không

* 198. Lên non hái lá

* 200. Cà kê dê ngỗng

* 202. Những nụ cười

* 205. Một mùi gió bấc quen thuộc…

* 210. Già mà sướng!

* 210. Tủm tỉm một mình

* 212. Sáng, trưa, chiều, tối

* 216. Bạt: Trần Vấn Lệ đọc Đỗ Hông Ngọc

* 218. Phụ Lục: Nguyễn Thị Khánh Minh

 

đỗ hồng ngọc: tạp bút Để Làm Gì (bản thảo 2020)

dàn trang: nguyễn hiền-đức; sửa chính tả: nguyệt mai

minh họa: đỗ hồng ngọc, đỗ trung quân, đinh cường, lê ký thương 

 

Website: www.dohongngoc.com

Email: dohongngocbs@gmail.com

Ghi chú: Dưới trang sách, góc trái, có mũi tên lên xuống để lật trang.

DHN - Nm 173 OK De Lam Gi - Final A

 

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Úc du và vài bài học quý

24/02/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Úc du và vài bài học quý

Đỗ Hồng Ngọc

  1. Đến Úc, dĩ nhiên không thể không ghé thăm vài bệnh viện, trong đó, bệnh viện gây ấn tượng nhất cho tôi là Bệnh viện Ung bướu ở Melbourne. Bệnh viện có dáng như một “con thuyền không bến” đang vượt trùng khơi! Điều đặc biệt ở đây là ta không thể phân biệt ai là bác sĩ, ai là điều dưỡng và ai là bệnh nhân. Họ đều ăn mặc như nhau, không có blouse trắng, khẩu trang, mũ miện gì cả. Và mọi thứ sinh hoạt từ ăn uống, đọc sách báo đều cùng chung với nhau. Bài học của Thường Bất Khinh, tôn trọng và không phân biệt đây rồi!
  2. Người bạn đưa tôi đi thăm khu “Tây balo” của Melbourne, với những con hẽm nhỏ đi bộ hết sức thú vị… Ở đây đầy quán cafe, quán ăn và đầy người bốn phương qua lại. Bất ngờ tôi được biết tại khu này, những người vô gia cư, lỡ độ đường, nghèo xơ xác… có thể ghé vào một quán ăn bất cứ nào đó để nhận một phần ăn miễn phí. Thì ra, có những người có lòng, đã mua sẵn các phần ăn ở quán dành cho họ. Đúng là bố-thí “ba-la-mật” đây rồi! Tôi thầm nghĩ.
  3. Rồi không thể không ghé viện Bảo Tàng Melbourne. Rất nhiều điều để học nữa ở đây. Những bộ xương khủng long… khổng lồ kia ai ngờ là con thằn lằn ngày nay! Có một câu nói của Eistein in trên vách: Look deep into nature and then you will understand everything better.
  4. Và, Great Ocean Road! Cung đường dọc biển dài hơn 200km, được xây dựng từ hơn 100 năm trước bởi những người lính Úc sống sót sau Đệ nhất thế chiến (1914-1918). Thời đó, họ khởi công xây dựng với những dụng cụ thô sơ… cuốc chim, xẻng, xe cút-kít…và đất đá các thứ… Ngày nay đây là con đường tuyệt đẹp với những bờ vực thăm thẳm… Ở khu rừng nguyên sinh, một chú Koala núp trong bụi tràm… như sợ mọi    người chọc phá. Koala chỉ ăn vài ba lá tràm rồi lim dim ngủ suốt ngày. Đúng là một “lãn ông” thứ thiệt! Kanguru thì bọc con non trong túi trước ngực để giữ ấm và tiện cho bú. Cách nuôi con này được y học bắt chước (gọi là Phương pháp Kanguru) trong chăm sóc trẻ sanh non, nhẹ ký. Còn Koala có lẽ cũng là một bài học cho… thiền giả chăng?
  5. Đây rồi! The Twelve Apostles, 12 vị Thánh tông đồ của Chúa! Một khung cảnh hùng vĩ đến mủi lòng… Tôi tự nhiên thấy mình xúc động mạnh, chắp tay xá cả không gian lẫn thời gian… xá những vị Thánh tông đồ, các vị Bồ-tát ma-ha-tat… Chưa ở đâu liễu ngộ Vô thường, Vô ngã, Thực tướng vô tướng như ở chốn này. Những cột đá thiên nhiên hùng vĩ tượng trưng cho “Mười hai vị Thánh tông đồ” đã đổ sụp nay chỉ còn 8, và rồi đây những làn sóng thức vẫn tiếp tục vỗ về cho đến khi thấy được “Thanh tịnh bản nhiên” trong cõi trăng Lăng Già huyễn mộng…

(3.2019)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Các buổi chia sẻ ở chùa Quang Minh, Melbourne

24/02/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Các buổi chia sẻ ở chùa Quang Minh, Melbourne

(3.2019)

Đỗ Hồng Ngọc

 

Chùa Quang Minh “đặt hàng” tôi 2 đề tài cho 2 buổi trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, bởi biết tôi là một thầy thuốc và lâu nay học Phật: 1) Sức khỏe thân và tâm; 2)Thiền quán, Hơi thở và Ăn chay.

Tôi nhắc lại định nghĩa Sức khỏe của WHO (1946): “SK là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well-being) về thể chất, tâm thần và xã hội chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật”. Rất nhiều người chúng ta vẫn quen nghĩ  không có bệnh hay tật là có sức khỏe rồi!

Thân với tâm không tách rời nhau. Thân tâm nhất như. Ngày nay, cần chú ý vấn đề sức khỏe tâm thần. Đời sống ngày càng cạnh tranh, đầy lo âu, đầy căng thẳng, dẫn tới bất an… Bác sĩ  lo chữa cái Đau, ít quan tâm cái Khổ. Phật giáo góp phần chữa cái Khổ, nâng cao sức khỏe cho mỗi người để đạt đến sự An lạc thân tâm. Các thứ bệnh phổ biến hiện nay không thể chữa bằng thuốc: S.A.D (Stress, Anxiety, Depression) mà phải tìm đến Thiền để chữa trị (MBSR, MBCT…) như một liệu pháp hiệu quả hơn.

Chia sẻ về kinh nghiệm học Phật, tôi nhắc 3 điều: 1) Nắm vững các thuật ngữ (terminology). Thí dụ: Khổ là gì? Giải thoát sanh tử là gì? Chúng sanh là gì? Diệt độ chúng sanh là gì? Luân hồi sanh tử là gì? Niết bàn là gì?… Có nắm được các thuật ngữ, các từ “chuyên môn” này thì mới đọc hiểu và thực hành được các kinh sách. 2) Hiểu các ẩn dụ, ẩn nghĩa. Tại sao “niệm” Quan Thế Âm Bồ-tát thì vào lửa lửa tắt, vào nước nước cạn? Lửa ở đây là sự sân hận, nước ở đây là lòng tham lam… Bồ tát Dược Vương tại sao “đốt” cháy hết thân mình rồi còn đốt cả hai cánh tay? Đây là trong Thiền định, “đốt thân” để đạt đến Vô ngã, đốt hai cánh tay để đạt đến Vô phân biệt… Hiểu vậy sẽ không còn chỗ cho Dị đoan mê tín. 3) Quan trọng nhất là phải thực hành. “Đến để mà thấy”. Không lý thuyết suông. Tu là hành. “Quay về nương tựa chính mình”. Tự chứng, tự nội.

Buổi thứ hai, về Thiền quán, Hơi thở và Ăn chay. Tôi chỉ dám chia sẻ kinh nghiệm cá nhân trong thực hành Thiền Anapanasati (An ban thủ ý, Quán niệm hơi thở, Nhập tức xuất tức niệm) theo kinh Tứ Niệm Xứ mà Phật đã dạy ” Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn”.

Câu hỏi đặt ra là Tại sao thở? Thở để làm gì? Thở cách nào? Tại sao chọn Hơi thở để “niệm” và “quán sát”? Trong hơi thở, ta thấy được đời người, thấy sự sinh diệt, thấy vô thường, vô ngã, duyên sinh… Tóm lại, sẽ học được nhiều đó. Từ thiền chỉ (samatha), thiền quán (vipassana), đến chánh định (samadhi) cũng đều có thể từ Anapanasati.

Trên thực hành, đi từng bước: 1) Thở bụng (abdominal breathing, diaphragmatic breathing) 2) Chánh niệm hơi thở, 3) Quán niệm hơi thở.

Về Ăn chay, câu hỏi đặr ra là Tại sao ăn? Ăn để làm gì? Ăn cách nào?… Chay là gì? Ngoài 4 nhóm thức ăn ta đã biết là Glucid, Protid, Lipid, Minerals cùng các vitamins… (Phật giáo gọi chung là “đoàn thực” để nuôi thân), còn có “Xúc thực”, “Tư niệm thực” và Thức thực”… những món ăn của Tâm mà nếu không để ý trong thời đại fake news này, ta sẽ khổ đau dài dài…

(2019)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

Nguyễn Hiền-Đức và Đỗ Hồng Ngọc

18/02/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Nguyễn Hiền-Đức và Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc

Sáng nay “Tệp tuyển” TÔI HỌC PHẬT của Đỗ Hồng Ngọc do Nguyễn Hiền-Đức “tổ chức bản thảo” vừa được giới thiệu trên trang tranthinguyetmai  (https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2020/02/16/nguyen-hien-duc-voi-toi-hoc-phat-cua-do-hong-ngoc/) thì đã có vài “bạn xa xôi” phone hỏi tôi thêm về mối “duyên” nào khá đặc biệt của tôi với anh 5 Hiền (Nguyễn Hiền-Đức) sao hay vậy?

Xin được nhắc lại  Lời Ngỏ trong “Tệp tuyển” TÔI HỌC PHẬT tôi đã viết:

“Càng có tuổi, hình như tôi càng nhận ra có cái gì đó ở ngoài ý chí mình, can thiệp vào mình tùy hứng khiến mình đôi lúc không khỏi chưng hửng, ngỡ ngàng, thầm nghĩ “duyên” chăng? Nhưng duyên là gì không biết. “Nghiệp” chăng? Nhưng nghiệp là gì cũng không biết. Thôi thì, cứ để nó trôi chảy, tự nhiên, bởi nó có vẻ chẳng cần đến ta, chẳng phải là ta, chẳng phải của ta…

Vào tuổi 80, tôi nghĩ đã đến lúc “về thu xếp lại”, đã đến lúc “nhìn lại mình…” như người bạn nhạc sĩ họ Trịnh kia đã nói. Về thu xếp lại, bởi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”, vì rất nhanh thôi, các tế bào thân xác kia đã có vẻ rả rượi, ù lì, và cũng rất nhanh thôi các tế bào thần kinh nọ cũng mịt mờ, mỏi mệt, nhớ trước quên sau… Đầu năm 2019, tôi gom góp in cuốn Về thu xếp lại như một cột mốc, một hẹn hò, rồi cuối năm tiếp tục gom góp in thêm cuốn Biết ơn mình như một nhắc nhở… Bên cạnh đó, cũng đã tạm một tệp bản thảo Đi để Học, Ghi chép lang thang, Như không thôi đi được!… chủ yếu là một dịp để giúp “Nhìn lại mình”… Tôi cũng mong gom góp, tập hợp được một số bài viết, một số quyển sách nhỏ những lời biên chép bấy nay trong lúc lõm bõm học Phật, thấp thoáng lời kinh, làm thành một tệp để ngẫm ngợi khi cần. Muốn thì muốn vậy, nhưng lực bất tòng tâm!

Duyên may lại đến.
Cách đây mấy năm (6.2.2015), một buổi chiều, khi đi café với một người bạn trẻ về đến nhà thì nhận được 5 cuốn bản thảo “Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc” dày hơn ngàn trang A4 của một người không quen biết gởi tặng. Giật mình. Ai vậy cà? Thấy có kẹp mảnh giấy nhỏ, ghi số điện thoại tên Nguyễn Hiền Đức. Bèn phone thăm hỏi mới biết đó là một bạn đọc quý mến mình, đã “dõi theo” hành trình viết lách của mình từ lâu, nay tỉ mẩn ghi chép lại cả một tuyển tập đồ sộ gởi tặng và nói còn sẽ gởi tiếp mấy tập nữa! Lúc đầu tưởng anh gom góp từ trên mạng, nhưng không, anh cho biết anh đã gò lưng đánh máy từ những trang sách mà anh ưa thích! Thời buổi này. Lạ thiệt.

Hẹn gặp, mới biết Nguyễn Hiền Đức, tên thật là Nguyễn Hiền (thường gọi 5 Hiền), còn Đức là tên vợ, chị Phùng Ngọc Đức, nên lấy bút danh Nguyễn Hiền-Đức, quê gốc Hội An, trước 1975 từng có thời là Thư ký Tòa soạn của tạp chí Tư Tưởng, Đại học Vạn Hạnh, thư ký riêng của HT Thích Minh Châu… Anh tốt nghiệp Báo chí và Xã hội học, rồi cao học Sử ở Đại học Vạn Hạnh. Đó là một người gầy gò, trông khắc khổ, nghiêm túc, nhưng rất nhiệt tâm và nói chung… dễ thương…”

Anh 5 Hiền đã “giải trình” cách “làm tuyển tập” khá ly kỳ của anh như sau:

Tôi bắt đầu “gõ” và “gõ”, mải mê “gõ” cuốn “TUYỂN TẬP ĐỖ HỒNG NGỌC – THẤP THOÁNG LỜI KINH” này từ năm 2010 và kết thúc năm 2018. Tôi rất thích từ “Thấp thoáng” vì nó thể hiện rất rõ, rất đúng cái chất “thấp thoáng”, “lõm bõm” của tôi khi học Phật.
Ngay trong bước đầu “tập tễnh học Phật” tôi đã chọn cách học hợp với sở thích của mình. Đó là chọn bài, chọn sách rồi… rị mọ. cặm cụi, kiên trì “gõ” vào máy. Cách làm này giúp tôi đọc chậm, đọc kỹ từng đoạn, từng trang, từng bài, rồi chú tâm sửa lỗi. Tôi đọc ít nhất 5 lần cho mỗi trang với lòng thanh thản, thư thái. Tôi không “ép” mình phải ghi, phải nhớ một điều gì cứ để nó trôi chảy như một dòng sông. Rồi biết đâu mười năm sau, hay hơn nữa những gì tôi đã đọc, đã “gõ” sẽ giúp tôi nhiều hơn, tốt hơn trên con đường học Phật. Tôi chỉ đặt ra một thứ kỷ luật tự giác mà tôi phải tuân thủ, đó là mỗi ngày “gõ” ít nhất 5 trang, mỗi tháng tối thiểu 120 trang học Phật.

* * *

Dịp này, xin post lại đây bài viết “Thử sơ phác chân dung Đỗ Hồng Ngọc” của Nguyễn Hiền-Đức (năm 2014) vậy nhé.

Thân mến.

 

 

THỬ SƠ PHÁC CHÂN DUNG

ĐỖ HỒNG NGỌC

 

Nguyễn Hiền-Đức

(Tổng hợp và giới thiệu, 2014)

 

Tôi đọc lại các tác phẩm của Đỗ Hồng Ngọc và gom góp những bài ông trả lời phỏng vấn, trò chuyện đăng trên các báo, tạp chí, kể cả trang mạng www.dohongngoc.com/web/, rồi những bài viết, những cảm nhận của nhiều tác giả, nhiều bạn đọc trong và ngoài nước… để mong sơ phác được phần nào chân dung ông. Tôi lúng túng, loay hoay mãi. Bài viết lần đầu là Sơ phác chân dung Đỗ Hồng Ngọc qua những trang văn, trang đời. Rồi bỏ. Đến Sơ phác tiểu truyện Đỗ Hồng Ngọc. Lại thấy không ổn. Và đây là bài viết lần thứ ba.

Tôi cũng đọc lại những bài của học giả Nguyễn Hiến Lê viết về những người bạn văn thân thiết như Đông Hồ, Quách Tấn, Giản Chi, Nguiễn Ngu Í…  trong Hồi ký Nguyễn Hiến Lê. Lại đọc thêm Nhớ bạn của Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc, tiếp đến là Bạn bè một thuở của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, và cả Buồn buồn Vui vui của người anh chí cốt của tôi vừa đột ngột rời cõi tạm  (13.02.2014): Anh Năm Nguyễn Quang Sáng.

Riêng Đỗ Hồng Ngọc tôi gom lại những bài tạm gọi là “ký sự nhân vật” hoặc “Phác thảo chân dung”… ông viết về Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Khắc Viện, Nguiễn Ngu Í, Dương Cẩm Chương, Ngô Gia Hy, Trương Thìn, Trần Văn Khê, Trịnh Công Sơn, Cao Huy Thuần… đến những người bạn thân thiết của ông đang hoạt động trên nhiều lãnh vực…

Tôi lại tiếp tục đọc, tiếp tục “vịn” vào người khác. Tôi đọc Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại – một số chân dung. Trong Đôi điều tâm niệm, nhà báo kỳ cựu Hàm Châu viết: “… Khi viết về cuộc đời và sự nghiệp một nhân vật cùng thời, tác giả may mắn hơn ở chỗ có thể “diện kiến, phiếm đàm” với chính nhân vật ấy. Nghề làm báo tạo thuận lợi cho việc giao tiếp. Bởi thế có nhà lý luận báo chí cho rằng, một phóng viên giỏi, với cuốn sổ tay, chiếc máy ghi âm – ghi hình và tài năng phân tích, đánh giá, rất có thể trở thành một “nhà chép sử đương đại” qua các tác phẩm ký chân xác, đáng tin về những sự kiện, con người của thời đại anh ta đang sống”.

Rồi tôi lại đọc Nguiễn Ngu Í – Cuộc đời và Văn nghiệp của Châu Hải Kỳ viết về “kỳ công” của Nguiễn Ngu Í khi đi phỏng vấn: “… Với chiếc mô-bi-lết già nua, hay chiếc xe đạp cọc cạch, anh đi sớm, về khuya, bất kỳ mưa nắng, và đôi khi bất kể cả giờ giới nghiêm nữa. Muốn gợi đúng được không khí “Sống và Viết” của người mình tìm hiểu, anh lại phải tới ăn và ngủ với người đó có khi hai ba lượt, có lần tới hai ba ngày. Rồi muốn người được phỏng vấn xác nhận điều mình đã phát biểu và thực sự yên tâm đối với bài báo nói về mình, mỗi khi viết xong, anh lại chịu khó đưa bản thảo tới cho xem lại để tùy tiện sửa chữa…” (Sđd., NXB Văn hóa Thông tin, 1993, tr. 54).

Tôi cứ nghĩ mình phải đọc nhiều như vậy để mong “cảm” được một điều gì đó, “nhập” được một điều gì đó, “ngẫm” được một điều gì đó, “ngấm” được một điều gì đó để mà sơ phác chân dung Đỗ Hồng Ngọc không đến nỗi tệ quá! Vậy mà không phải vậy!

Thưa trình dài dòng như vậy cũng chỉ để nói lên một điều rằng tôi có rất nhiều hạn chế khi sơ phác chân dung Đỗ Hồng Ngọc. Tôi “theo dõi” khá kỹ về Đỗ Hồng Ngọc ít nhất từ năm 1967, khi người bạn thân cùng lớp với tôi ở Đại học Vạn Hạnh là nhạc sĩ Miên Đức Thắng phổ nhạc thơ Đỗ Hồng Ngọc và trình diễn những nhạc phẩm “phản chiến”, nhưng mãi đến nay tôi chưa một lần gặp gỡ Đỗ Hồng Ngọc. Người anh, người bạn đồng hương khá thân với tôi là nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng có lần phone cho tôi: “Ê, Năm Hiền, 9 giờ sáng mai cà phê nghe, tại…. ngồi với Đỗ Hồng Ngọc, Trương Thìn, có cả nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương nữa, và nhiều bạn bè khác. Nói chuyện vui vẻ và thú vị lắm. Nhớ đó”. Tôi dạ vâng nhưng cuối cùng rồi không dám đến vì nghĩ mình hoàn toàn “ngoại đạo”; ngại sự có mặt ngu ngơ và lêu bêu của mình có thể làm hỏng cuộc gặp gỡ vui vẻ của những nghệ sĩ, bác sĩ nổi tiếng đó. Mãi đến nay tôi vẫn chưa một lần “diện kiến, phiếm đàm” với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – vốn là người mà tôi yêu thích và kính trọng về nhiều mặt. Không có cơ hội “diện kiến, phiếm đàm” với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, không có một cơ hội nào học hỏi trực tiếp từ ông, điều ấy có nghĩa là tôi thực sự không có bất cứ một điều kiện nào, một kỷ niệm gì, một “chất liệu” gì để mà bạo gan sơ phác chân dung Đỗ Hồng Ngọc!

Tôi chỉ còn cách là đọc một số bài viết, bài trả lời phỏng vấn của Đỗ Hồng Ngọc, một số bài viết của các tác giả viết về Đỗ Hồng Ngọc, nhặt nhạnh đây đó một số ý kiến, nhớ nhớ, ghi ghi rồi tổng hợp và chắp vá để “làm” bài này. Tất cả những gì trích dẫn sau đây đều là của Đỗ Hồng Ngọc, thỉnh thoảng tôi có nêu lên một số ý kiến cá nhân, một số nhận xét của các tác giả cùng thời Đỗ Hồng Ngọc với mong muốn làm rõ hơn chân dung đa dạng, phong phú, nhiều vẻ rất đáng yêu và đáng trọng của Đỗ Hồng Ngọc.

Vì vậy, tôi mong bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc “từ bi hỷ xả” mà tha thứ và thông cảm cho. Mong người bạn, người em thân thiết của tôi là bác sĩ Huỳnh Kim Hơn (Hội An) mạnh tay sửa chữa, bổ sung. Và, mong các bạn tôi nếu vô tình đọc bài này và bộ Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc thì rộng lòng góp ý, bổ sung và sửa chữa cho. Tôi cung kính biết ơn.

Và, bây giờ là những “ghi chép lang thang” của tôi về Đỗ Hồng Ngọc.

  1. TUỔI THƠ Ở QUÊ NHÀ

1.1. Một tuổi thơ côi cút và cơ cực…

Đỗ Hồng Ngọc, là tên thật. Khi làm thơ ký Đỗ Nghê (ghép họ cha và họ mẹ). Sinh năm Canh Thìn 1940, (không ghi ngày, tháng) tại Lagi, Hàm Tân, Bình Thuận. Ngoài ra ông còn một bút hiệu nữa là Giang Hồng Vân khi viết bài Dẫn nhập cho tập “Qê hương” của người cậu (Nguiễn Ngu Í).

Họ và tên cha: chúng tôi chỉ tìm thấy các chi tiết sau đây:

– “Cha tôi mất khi tản cư ở rừng Bàu Lời vì thiếu thầy, thiếu thuốc khi tôi mới 12 tuổi”;

– Còn nhớ năm 1960, cậu mợ [tức cậu mợ Nguiễn Ngu Í] về Hàm Tân làm mộ cho ông bà, tôi cùng cậu mợ và vài người bà con đi bộ từ Lagi lên Tam Tân (Tân Hải) dọc theo biển, con đường hồi nhỏ tôi vẫn thường đi lại, dài trên mười lăm cây số. Biển mênh mông, rừng dương vi vút. Đến Nước Nhỉ, cậu dừng chân nghỉ và nằm lim dim trên đống cát gạch vụn, dưới bóng mát của những bụi dứa gai um tùm nhìn lên trời mây… Một lúc cậu gọi tôi đến và đọc cho tôi nghe bài thơ cậu vừa làm. Tôi còn nhớ mấy câu:

Nằm đây mà ngó lên trời

Lá cây dứa đã mấy đời đong đưa

Nằm đây mà nhớ mơ hồ

Những xanh tóc ấy bây giờ về đâu…

Thì ra cậu nhớ mấy người bạn cũ, đã cùng nhau xây cái giếng Nguồn Chung này cho khách bộ hành qua đường nghỉ ngơi, uống nước ngọt nhỉ ra từ động cát, giữa trưa nắng gắt trên đường dọc biển mênh mông đầy nắng và gió. Bài thơ còn dài, tôi không nhớ hết, trong đó có câu “Ới Trì, Di, Thảo xe trâu…”. Trì là ba tôi, đã mất từ lâu (tên đầy đủ của ông là Đỗ Đơn Trì, mất năm 1952). Họ và tên mẹ: Nghê Thị Như, nhưng khi đi làm thẻ căn cước, người làm hộ tịch  ghi bừa là họ Lê. Theo Đỗ Hồng Ngọc, cụ Như “sống thọ (94 tuổi), vẫn còn sáng suốt tuy hai chân đã yếu liệt. Ngày tôi còn nhỏ, vẫn thường được nghe bà đọc Kiều và ca dao, hát ru… dù bà chỉ biết đọc biết viết”. Cụ bà Nghê Thị Như mất năm 2011.

Quê ngoại của cậu ngay dưới chân núi Tà Cú, nơi có tượng Phật nằm, dài 49 m, xưa thuộc huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Tuy, nay là huyện Hàm Thuận Nam, Bình Thuận, cách Phan Thiết 30 km, một nơi chưa kịp đô thị hóa, nên còn mang dáng dấp “nhà quê”, rất dễ thương.

“Khi Mẹ mất, đưa bà về bên ngoại ở Hiệp Nghĩa cho gần gũi với dòng họ, ông bà, dì cậu, bà con cô bác… Còn Ba thì mất đã hơn 60 năm trước, thời 9 năm kháng chiến cũng được chôn cất nơi đây, chắc chờ đợi cũng đã lâu. Còn quê nội thì ở Lagi, nay đã là một thị xã, cách Hiệp Nghĩa chừng 15 km, đi ngang qua Tam Tân (Tân Hải) là nơi sinh quán của cậu Ngu Í – cho nên ông còn có các bút danh Tân Fong Hiệb (theo lối viết của ông), ghép từ Tam Tân, Phong Điền, Hiệp Nghĩa”.

– Lúc 5 tuổi, cậu bé Đỗ Hồng Ngọc cùng gia đình tản cư lên rừng ở vùng Láng Găng, Bưng Riềng, Xuyên Mộc… Bị sốt rét triền miên, kiết lỵ, suy dinh dưỡng… đủ thứ.

– Khi cha mất, mẹ cậu rời xóm tản cư trong rừng Bàu Lời, dẫn bốn anh em cậu về thị xã Phan Thiết tá túc ở nhà cô Hai, ngụ trong chùa Hải Nam. Cô Hai bị tật nguyền, không đi đứng được, tu ở chùa. Cô có ba người con chết trong lũ lụt năm Thìn (1952). Vào thời điểm này, Đỗ Hồng Ngọc rất ốm o, da xanh mét, lá lách sưng to. Mỗi ngày cậu vẫn thường qua lại bằng đò ngang để đến nhà thương thí chích thuốc! Riết rồi cậu ghiền cái mùi nhà thương. Cô Hai của cậu Ngọc nghèo lắm. Bà sống bằng nghề chằm lá buông, cậu Ngọc phụ phơi lá trong sân chùa và cậu phải ào ào cuốn lá… chạy khi trời mưa! Nhà nghèo nên sáng nào mọi người cũng ăn một chén cháo trắng với muối. Nhưng cô Hai và các chị của Ngọc rất mê truyện Tàu, mê tiểu thuyết đủ loại. Cậu được sai đi mướn truyện nhưng cấm đọc (vì con nít đọc truyện không tốt). Nhưng cậu bé Ngọc thường lén đọc trên đường đi, dưới gốc cây, nơi bệ đá cổng chùa, trên đò, trước khi mang về, kể cả trùm chăn đọc… lén. Cậu đọc tuốt hết, không chừa thứ gì trong tiệm cho thuê sách đó. Cậu mê sách đến nỗi: “Tôi khóc với Chiêu Quân cống Hồ, sảng khoái với Anh hùng náo, buồn bã với Tố Tâm, Anh phải sống… Rồi Tam quốc, Hán Sở tranh hùng, Đông Châu liệt quốc, Thủy Hử… Tôi được dạy phải tôn trọng chữ thánh hiền, không được lấy giấy báo đi vệ sinh! Tóm lại, bao trùm một không khí huyền hoặc trong một cái chùa Tàu với sách vở và chữ nghĩa”.

Cậu bé Đỗ Hồng Ngọc, biết yêu và yêu sớm. Rung động đầu đời lúc lên 8 và yêu, và… “mê” cô bạn cùng lớp lúc 12 tuổi!

Lúc nhỏ Đỗ Hồng Ngọc ít nói, bị cận thị gần 3 độ nên bị hiểu lầm là một kẻ… khinh người! Cậu còn bị bệnh đau bao tử, xuất huyết tiêu hóa phải đi cấp cứu rồi hơn 20 năm sau cậu đã từng được mổ cườm – cườm chấn thương sinh biến chứng. Gần đây thì mổ cườm già ở mắt còn lại… Không chỉ bị cườm già mà còn thoái hóa hoàng điểm nên mắt mổ xong cũng sẽ nhìn kém so với những trường hợp khác. Năm 1997, Đỗ Hồng Ngọc bị một cơn tai biến mạch máu não phải mổ sọ não…

Cậu lại vốn ít cười. Ngay từ nhỏ, người ta đã gọi cậu là “một ông cụ non”, vì lúc nào cũng có vẻ đạo mạo, nghiêm túc quá. Đỗ Hồng Ngọc tự họa mình như sau: “…Cái hình tôi chụp ở tiệm hình Liên Hoa lúc 12 tuổi. Xanh lè, suy dinh dưỡng, cân được 25 kg ở nhà thuốc tây Phạm Tư Tề, mắt lồi (mắt ốc bươu), mũi bự, tai vểnh, mặt quạu đeo…!”.

Đỗ Hồng Ngọc phụ mẹ bán hàng xén tại chợ Lagi (Phan Thiết). Cậu tỏ ra nhanh nhẹn tháo vát trong việc “mua bán, theo xe cá nước đá vào Sài Gòn bổ hàng và lo cơm nước cho mẹ. Khi tản cư về, cậu bị trễ học đến 3 năm và cậu bị mặc cảm vì lớn hơn bạn đồng học cùng lớp đến mấy tuổi! Cậu quyết chí lấy lại “thời gian đã mất”!

Đỗ Hồng Ngọc ngay từ nhỏ đã ham học, ham đọc nên cậu đã viết hai câu Ca dao này treo trước mặt, rồi vừa học vừa tủm tỉm cười:

Những anh mít đặc thôi thời

Ai còn mua chuộc đón mời làm chi!

“Thế rồi, một hôm cậu Ngu Í điên của tôi đến thăm. Người ta nói ông điên vì ngộ chữ, vì học nhiều quá hóa điên… Thấy tôi đã 12 tuổi rồi mà học hành ấm ớ trong rừng, ông dẫn tôi tới trường Tiểu học của một người bạn, gởi cho học. Ông còn tặng tôi một đống sách báo từ Sài Gòn mang về. Tôi mê tít”. Đỗ Hồng Ngọc nhớ lại: “Mười hai tuổi, biết đọc, biết viết, làm toán khá, còn chưa biết chữ “le, la” trong tiếng Pháp, mà hồi đó, học trò tiểu học đã học tiếng Pháp rồi. Tôi hoảng lắm”.

“Cậu Ngu Í gởi tôi vào học ở một trường tư trong chùa [Trường Bạch Vân trong Chùa Bà]. Mới đầu học thử lớp Ba, rồi chỉ bốn tháng sau, vào thẳng lớp Nhất (lớp 5), và học rất giỏi nên được miễn học phí. Năm 1954, Đỗ Hồng Ngọc thi đậu cao [hạng 7, được học bổng] vào Đệ thất (lớp 6) trường Phan Bội Châu [Phan Thiết]… Hằng ngày cậu vừa đi học vừa lo cơm nước cho mẹ và giúp mẹ bán chiếu nón ngoài chợ. Thế rồi, gia đình cậu đột ngột theo cô Hai dời về thị xã Lagi, tỉnh Bình Tuy, quê cũ của họ hàng phía nội cậu. Lúc này cậu đang học Đệ thất trường Phan Bội Châu, sắp lên lớp Đệ lục, vậy mà phải bỏ trường bỏ lớp nên cậu tiếc nuối đến nản lòng.

Tỉnh Bình Tuy mới thành lập, chưa có trường trung học. Hai năm liền không có trường học, cậu giúp mẹ bán hàng xén tại chợ Lagi. Ba năm sau mới có lớp Đệ thất đầu tiên, cậu xin học lại. Lần này trường học trong một nhà thờ xứ đạo. Hết chùa tới nhà thờ! Nhớ lại hồi Tiểu học cậu đã từng học nhảy (bỏ lớp) tưng bừng, cậu tính chuyện học nhảy tiếp để theo kịp bạn bè. Năm học lớp Đệ lục, nhân một chuyến theo xe chở cá nước đá về Sài Gòn bổ hàng cho mẹ, cậu lang thang lề đường nơi bán sách cũ, vớ được cuốn Kim chỉ nam của học sinh của Nguyễn Hiến Lê. Cậu đọc thấy trúng ý mình quá bèn đánh bạo viết thư hỏi ý kiến ông, nói muốn học nhảy, có nên không. Học giả Nguyễn Hiến Lê trả lời ngay: “Cháu có thể học nhảy được, vì đọc thư, thấy cháu có thể học lớp Đệ tứ (lớp 9) rồi đó”. Cùng với Kim chỉ nam của học sinh, chắc Đỗ Hồng Ngọc cũng đã nghiền ngẫm cuốn Bí quyết thi đậu… của Nguyễn Hiến Lê!

Thế là cậu bèn lập chương trình học nhảy (bỏ lớp đệ Tứ -lớp 9). Cậu thi thí sinh tự do Trung học đệ nhất cấp, đậu ngay. Từ “thắng lợi” đó, cậu lại “nhảy” tiếp, bỏ Đệ tam, đậu Tú tài I, được vào học lớp Đệ nhất trường Võ Trường Toản Sài Gòn. Cuối năm cậu được phần thưởng danh dự toàn trường và thi đậu Tú tài II hạng khá, [tôi nhớ thời đó các kỳ thi Trung học Đệ nhất cấp, Tú tài bán phần, Tú tài toàn phần, tùy theo số điểm sẽ được xếp các thứ hạng như sau: Tối Ưu, Ưu, Bình, Bình thứ và Thứ – NHĐ] rồi thi đậu vào Y khoa. Xin được nói thêm rằng: cụ Nguyễn Hiến Lê trong Kim chỉ nam của học sinh cực kỳ “đả phá” việc ‘học nhảy”, “học tủ”. Thế mà Cụ lại “khuyến khích” Đỗ Hồng Ngọc học nhảy và nhảy đến mấy cấp, mấy lớp. Học nhảy như thế mà Đỗ Hồng Ngọc lại học rất giỏi. Rõ là cụ Lê tinh thật!

– Từ những ngày còn học phổ thông ở quê nhà, cậu bé Đỗ Hồng Ngọc đã có những bài thơ đăng trên báo. Bài thơ đầu tiên của Đỗ Hồng Ngọc đăng trên tạp chí Bách Khoa với một cái tên tắt. Khi biết những bài thơ đó là của cháu mình, ông Ngu Í ngạc nhiên và khen ngợi. Sau đó cậu lấy bút hiệu Đỗ Nghê và đăng nhiều bài thơ trên Bách Khoa, Tình Thương… rồi ở trong nhóm chủ trương bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức.

Nhiều bài thơ được bạn bè “đánh giá cao” như Em còn sống mãi, Tâm sự Lạc Long Quân, Thư cho bé sơ sinh, Lời ru, Cổ tích về ngôn ngữ v.v… Sau này ông tập hợp in trong tập thơ đầu tay: Tình người, Ý Thức xuất bản, 1967.

Ngay từ hồi học Đệ thất, Đệ lục (lớp 6, lớp 7 bây giờ), Đỗ Hồng Ngọc đã mê văn chương, mê làm báo, làm thơ, vẽ tranh. Lúc đầu làm báo tường, sau làm báo tập, in ronéo, mỗi năm ra… hai số. Hồi 12 tuổi, cậu đã viết nhật ký, viết nhận xét phê bình này nọ mỗi khi đọc xong một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn nào đó… Cậu muốn trở thành “nhà văn”, “nhà báo” như cậu mình – ông Nguiễn Ngu Í!

Nhớ lại tuổi thơ cơ cực của mình, Đỗ Hồng Ngọc viết một câu thơ rất lạ, đau buốt vô cùng: “Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ…”.

1.2. Hai người có ảnh hưởng lớn trong quãng đời tuổi trẻ và… trong suốt cuộc đời Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc rất dè dặt, kín đáo và kiệm lời khi đề cập đến những người thân. Không thấy ông viết về ngày tháng năm sinh của Ba Mẹ ông. Ông cũng không nói gì về những kỷ niệm và ảnh hưởng của ba mẹ đối với ông và những người ruột rà của ông. Không một chi tiết nào ông viết về anh chị em ruột thịt. Thế nhưng, ông nghĩ, ông viết một cách trân trọng, tràn đầy niềm thương yêu ngưỡng mộ và kính phục đối với hai người gây ảnh hưởng lớn trong quãng đời tuổi trẻ của mình là người cậu Nguiễn Ngu Í (Nguyễn Hữu Ngư) và học giả Nguyễn Hiến Lê.

Nói là ảnh hưởng lớn trong quãng đời tuổi thơ của Đỗ Hồng Ngọc, nhưng cả Nguiễn Ngu Í và Nguyễn Hiến Lê đều là hai người để lại những dấu ấn, những tình cảm, những bài học sâu đậm và quý giá không thể nào quên trong suốt cuộc đời Đỗ Hồng Ngọc!

1.2.1. Nguiễn Ngu Í – Đỗ Hồng Ngọc

Nguyễn Hữu Ngư (1921-1979), nhà văn, nhà giáo, nhà báo có nhiều bút danh trong đó có bút danh Nguiễn Ngu Í (với I cụt). Mẹ ông họ Nghê, tên Mỹ, ở Tam Tân, Phong Điền và Hiệp Nghĩa, nay thuộc huyện Hàm Tân và Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Cha ông là nhà giáo Nguyễn Hữu Hoàn gốc Hà Tĩnh, có tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.

Đỗ Hồng Ngọc cho biết: cậu ông – Ngu Í – “là một nhà báo, một nhà văn, nhà thơ, nhà giáo… và là một người… điên thứ thiệt. Từ năm 1939, lúc 18 tuổi, đang học Pétrus Ký, ông đã vào nhà thương điên Chợ Quán mấy lần và đã có những bài thơ rất điên từ thưở đó. Nhưng mãi đến năm 1973 ông mới chịu cho in một tập thơ lấy tên là Có những bài thơ do Trí Đăng xuất bản”. Dù nhà Trí Đăng không in bìa cho ông nhưng ông vẫn tỉnh queo đem phát hành… cho bè bạn.

Nguiễn Ngu Í “dấn thân” vào nhiều lãnh vực và lãnh vực nào ông cũng khá “nổi tiếng”. Những người trong gia đình, họ hàng và bạn thân của ông đều mến cái tình, cái tài của ông, nhưng họ cũng rất … ái ngại về cái cá tính quá mạnh mẽ, quá quyết liệt của ông, nhất là cái “điên” và cái “ngông” bất chợt của ông. Đọc mục IV. – “Chân dung dưới mắt người gần, kẻ xa” trong cuốn Nguiễn Ngu Í – Cuộc đời và Văn nghiệp của Châu Hải Kỳ chúng ta sẽ thấy những điều đó qua ý kiến ngắn của những người trong gia đình, bà con và cả những người đã nổi tiếng thời đó như Nguyễn Đỗ Cung, Phạm Văn Đồng, Huỳnh Văn Tiểng, Vũ Khương Ninh, Đỗ Hồng Lan (từ năm 1947), cho đến Lê Văn Trương, Lê Ngọc Trụ, Võ Hồng, Nguyễn Hiến Lê (trong những năm 1960…).

Nghiên cứu Quan niệm sáng tác về Văn, Họa, Nhạc của Nguiễn Ngu Í, Châu Hải Kỳ viết: “Sống và Viết… là một kỳ công có một giá trị đặc sắc mà ở nước ta từ thời kỳ thành lập đến nay chưa ai thực hiện nên một công trình dài lâu về loại này như thế. Có thể nói là cuốn sách phỏng vấn đàm thoại xuất hiện đầu tiên trong Văn học sử Việt Nam đã đem lại cho người đọc sự mê say hào hứng cao độ. Tác phẩm gồm 12 bài phỏng vấn, đàm thoại với các nhà văn, thơ, kịch, biên khảo v.v… đã đăng trên tạp chí Bách Khoa được góp thành sách nhan đề “Sống và Viết với…”, xuất bản năm 1966. Lần lượt anh đưa người đọc đi chuyện trò, tâm sự cùng Nhất Linh, Lê Văn Trương, Á Nam Trần Tuấn Khải, Lê Văn Siêu, Doãn Quốc Sỹ, Đông Hồ, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Lê Ngọc Trụ, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Hữu Tường. Đi thật nhọc nhằn, vất vả, có khi mệt thở không ra hơi, bất kể trưa chiều khuya sớm… thế mà còn phải chờ phải đợi, hẹn trước, khất sau… Nhưng người đọc không chán, vẫn hăm hở, thích thú, một mực theo bám gót người dẫn đắt. Bởi mỗi nơi khung cảnh mỗi lạ, mỗi gia chủ đón tiếp chuyện trò đối đáp mỗi khác. Mà người đưa đường thì khéo quá, tài tình quá, vừa niềm nở thân mật, vừa vui vẻ dí dỏm, vừa duyên dáng dịu dàng, vừa mê mải hăng say…; người đi theo học hỏi được thật nhiều”. (Châu Hải Kỳ, Sđd., tr. 112-113).

Một số tác phẩm đã xuất bản của Nguiễn Ngu Í: Lịch sử Việt Nam Đệ thất, Hồ Thơm-Nguyễn Huệ-Quang Trung – Giấc mộng chưa thành, Suối bùn reo, Khi người chết có mặt (tiểu thuyết), Sống và Viết với…, Qê hương, Có những bài thơ…Thơ điên… thứ thiệt (chung với Bùi Giáng và nhiều người “điên thiệt” ở Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, 1970). Riêng 2 tập Sống và Vẽ, Sống và Đàn (chưa xuất bản)…

Theo Đỗ Hồng Ngọc: “Năm 1997, gia đình có làm một cuốn Ngu Í qua ký ức người thân với nhiều bài viết của Trần Văn Khê, Huỳnh Văn Tiểng, Bà Tùng Long, Lê Ngộ Châu, Lê Phương Chi, Đỗ Đơn Chiếu, Hoàng Hương Trang, Hồ Trường An, Đỗ Hồng Ngọc, Phan Chính… vẫn chưa được in.

Đỗ Hồng Ngọc nghĩ và nhớ về cậu Nguiễn Ngu Í như sau:

– “Nhiều người biết đến ông như một nhà báo… với loạt bài phỏng vấn văn nghệ sĩ rất tài hoa trên tạp chí Bách Khoa, trên 40 năm về trước; nhiều người biết đến ông như một nhà giáo dạy văn, dạy sử ở nhiều trường tư thục Sài Gòn… Nhưng ông, trước hết là một người làm thơ, một người làm thơ đặc biệt hơn bất cứ một người làm thơ nào khác: Thơ điên. Thơ ông là cuộc đời riêng ông. Có khi là tiếng thét uất hận, có khi là một tiếng lòng thổn thức, có khi là nỗi hờn căm, khi khác là những tiếng hát dịu dàng âu yếm thiết tha, tùy lúc bài thơ được viết giữa các cơn điên hay ngay trong cơn điên, giữa những ngày tháng nằm vùi trong Bệnh viện Tâm thần Chợ Quán hay Dưỡng trí viện Biên Hòa”.

– “Thơ ông có thể người ta thích, có thể người ta không thích, nhưng đọc thơ ông bao giờ cũng có cảm giác rờn rợn. Ông làm thơ rất nhanh. Thơ như túa ra, ứa ra, chạy ra từ trong não chất. Không cầu kỳ, không đẽo gọt, nhiều bài sần sùi, đọc cứ nghe ấm ách, cũng có những bài mượt như nhung. Đọc thơ mà hiểu ông thì thấy thương, thương một con người có chí, có lòng mà không sao đạt được ước nguyện. Rồi thôi, rồi thành tro bụi như hai câu thơ ông viết sẵn cho mình:

Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi

Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi!

Nhiều bài thơ ông chép vội trên mảnh giấy gói đồ, phong bì, bao thuốc lá… Nhiều đêm ông lên cơn, đến gọi cửa nhà tôi lúc 2 giờ sáng, đọc thơ cho tôi nghe rồi “chửi cả và thiên hạ”, cả tôi và ông. Sau đó ông tắm rửa, ăn uống chút gì đó rồi khệ nệ ôm một chồng sách ra đi. Trời cản cũng không nổi! Hỏi đi đâu, ông nói không biết. Có hôm nghe ông nằm giữa xa lộ Biên Hòa cho xe Mỹ cán, họ bắt ông chở thẳng vào Dưỡng trí viện. Đến thăm thấy ông ngủ say như chết sau khi được uống thuốc an thần liều mạnh, đưa mấy ngón chân Giao chỉ to bè ra ngoài ngoáy xoắn vào nhau, tôi vẽ ngay một bức ký họa, ông thích lắm nhưng đã làm mất tiêu. Có lần tôi đưa ông vào Bệnh viện Chợ Quán, người ta chạy điện cho ông, ông giựt đùng đùng như con cá nằm trên thớt. Sau đó bất tỉnh, xụi lơ, tay chân quặt quẹo xùi bọt mép. Rồi khi tỉnh dậy ông làm những bài thơ rất quái dị, nhiều bài rất hay.

Đọc thơ ông mà thương cho một kiếp người tài hoa, bất đắc chí…”.

Đỗ Hồng Ngọc đã “đúc kết” một cách chân thành và cảm động về người cậu có ảnh hưởng lớn trong quãng đời tuổi trẻ của ông như sau:

– “Bây giờ mỗi lần nhớ tới cậu thì tôi thường tự hỏi hồi bằng tuổi cậu, tôi có làm được điều gì đó cho ai như cậu đã làm cho tôi không và tự nhiên tôi thấy lòng mình rộng mở, thanh thản, muốn giúp đỡ, chia sẻ…”.

– “Ông và tôi có tình ruột rà. Mẹ tôi và ông là hai chị em cô cậu ruột. Có lần ông nói, hồi tôi mới sanh, ông đã đưa võng và đọc thơ cho tôi nghe rồi! Có lẽ vì vậy mà khi lớn lên, sống gần gũi với ông, ông luôn luôn chia sẻ cùng tôi những bài thơ ông mới viết…”.

“… Thế nhưng cậu đã làm được nhiều việc hơn cậu tưởng, và những người thân, những bạn bè, con cháu, người quen biết… không ai là không quý mến cậu, không ai là không thấy được cái tình của cậu đằm thắm, mênh mông, thành thục, sâu lắng. Những ai đã gần gũi cậu chắc sẽ cảm nhận được cái tình đó, cái tình vượt trên những cái tình bình thường. Riêng tôi, tôi luôn nhớ cậu và nhớ những ngày còn thơ, cậu đã thay mẹ tôi, dẫn tôi đến trường học, một ngôi trường tiểu học nhỏ bên bờ sông Cà Ty, Phan Thiết. Mới đó mà đã hơn bốn mươi năm”…(1996).

Trong lời Tựa cuốn Nguiễn Ngu Í – Cuộc đời và Văn nghiệp của Châu Hải Kỳ, Nguyễn Hiến Lê viết: “Chúng ta ai cũng biết những bài Thơ điên và tài phỏng vấn của Nguyễn Hữu Ngư, nhưng ít ai chú ý tới những tác phẩm lịch sử có tính cách giáo khoa hoặc phổ thông của anh, như cuốn Lịch sử Việt Nam Đệ thất, Hồ Thơm – Nguyễn Huệ – Quang Trung… mà chính trong tác phẩm này anh mới phơi bày hết lòng yêu nước của anh, giọng luôn luôn thiết tha đôi khi “bay bướm”, rõ ràng là của một người vừa có “máu cách mạng”, vừa có “hồn nghệ sĩ” (Sđd., tr. 6).

Hồi ký Nguyễn Hiến Lê có đoạn viết về Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư: “Nguyễn Hữu Ngư quả là một kỳ nhân ở nước ta mà tập “Qê hương” của ông cũng là một kỳ thư: nội dung thật loạn, đủ các thể, đủ thứ tài liệu, không thể đặt nó vào loại nào được cả”. Và: “… nhưng riêng tôi cho nó là một kỳ thư, chưa hề thấy trong văn học Việt Nam, và tất cả những bạn của anh Nguyễn Hữu Ngư tất đều nhận như tôi rằng cuốn này biểu lộ rõ nhất – tuy chưa hết – tâm hồn khả ái và cái tình dào dạt của anh. Người sau có muốn chép lại đời anh – một đời đau khổ nhất mà cũng đặc biệt nhất trong giới văn sĩ hiện đại – tất phải dùng nó làm tài liệu chính…”.

Giới thiệu Nguyễn Hữu Ngư và tập Qê hương, Nguyễn Hiến Lê viết: “Con người của anh hoàn toàn là tình cảm: tình nước, tình nhà, tình bè bạn, tình vợ con, tình thầy trò, tình người, mà văn thơ anh cũng chứa chan những tình cảm đó”.

Nguiễn Ngu Í mất năm 1979, sau khi ở Dưỡng trí viện Biên Hòa về nhà được độ một tháng. Bạn bè ai cũng thương tiếc.

1.2.2. Nguyễn Hiến Lê – Đỗ Hồng Ngọc

Những năm tháng học Trung học ở quê nhà, Đỗ Hồng Ngọc đã nghiền ngẫm những cuốn sách của Nguyễn Hiến Lê như: Kim chỉ nam của học sinh, Bí quyết thi đậu…, Rèn nghị lực để lập thân, Tự học để thành công v.v… Trong đó Đỗ Hồng Ngọc xem Kim chỉ nam của học sinh là một “cuốn sách làm thay đổi cuộc đời” ông. Mặc dù không được học với Nguyễn Hiến Lê ngày nào trên ghế nhà trường nhưng Đỗ Hồng Ngọc luôn luôn xem cụ Lê là một vị thầy lớn, đã dạy ông cách sống, cách học và cách viết. Với Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Hiến Lê xứng đáng được gọi là “Nhà giáo dục”.

Trong bài Ngọn lửa in trong Như thị, Đỗ Hồng Ngọc viết: “Ai cũng có những người thầy trong đời mình, đã nhen cho mình ngọn lửa ấm nồng, cách này hay cách khác. Người thầy đó không nhứt thiết dạy mình trên ghế nhà trường, trên bục giảng đường. Miễn là có một tần số để nhận ra ngọn lửa truyền trao, và nhen nhóm. Đến một lúc nào đó ta bỗng nhận ra “bán tự vi sư” – nửa chữ cũng thầy! Người “đã nhen cho mình ngọn lửa ấm nồng, cách này hay cách khác”, ở đây, theo tôi (NHĐ) đó là ông thầy thuốc bắc, Bác hai Cương, đã chữa bệnh cho cậu bé Ngọc khi ở quê nhà và nhiều vị thầy khả kính khác, nhưng tôi vẫn nghĩ trước hết đó phải là Thầy Nguyễn Hiến Lê vậy!

Đỗ Hồng Ngọc cho biết: “Tôi may mắn được quen biết với ông Nguyễn Hiến Lê từ năm 1957. Tôi gặp gỡ và thư từ qua lại với ông từ năm 1960 cho đến khi ông mất, năm 1984. Đến nay tôi vẫn còn giữ nhiều thư viết tay của ông như một kỷ niệm. Tôi học được ở ông lối sống và lối viết. Ông là tấm gương nghị lực, gương tự học, chọn con đường làm văn hóa suốt đời mình. Câu “châm ngôn” của ông là “Viết để học và học để viết”. Tôi chịu lắm. Chỉ có cách đó mình mới học được nhiều hơn, học được sâu. Tôi bây giờ còn đi dạy và vẫn nghĩ: “Dạy để học và học để dạy”. Ấy là bắt chước ông đó.

Chính ông đã khuyến khích tôi học y khoa và khi trở thành bác sĩ thì tôi là người thường xuyên thăm bệnh cho ông, tư vấn cho ông những vấn đề về sức khỏe, dù ông có người bạn thân là bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm, như là một bác sĩ “riêng” từ trước. Ông mắc nhiều thứ bệnh từ lao đến bao tử, trĩ… Cứ mỗi lần tập trung viết một cuốn sách nào đó ông lại lên cơn đau bao tử…”.

Từ khởi điểm giàu ấn tượng và nhiều ý nghĩa sâu đậm mà Đỗ Hồng Ngọc đã nhận được từ Nguyễn Hiến Lê như đã nói trên, càng về sau, mối quan hệ Nguyễn Hiến Lê – Đỗ Hồng Ngọc thực sự đã là mối quan hệ thầy – trò – bạn -bè – thân – thiết – tâm – giao thực sự chân tình, cảm động. Đó chính là một quan hệ hỗ tương tác động lên nhau. Nguyễn Hiến Lê xem Đỗ Hồng Ngọc là người bạn trẻ thân thiết, một người học trò “chân truyền” của ông, và Nguyễn Hiến Lê coi bài viết “Nguyễn Hiến Lê và tôi” (của Đỗ Hồng Ngọc) nhân tạp chí Bách Khoa ra số đặc biệt kỷ niệm 100 đầu sách là một món quà quý giá nhất của ông. Thầy – trò đối xử với nhau bình đẳng, tự trọng và kính trọng nhau, bổ sung nhau như những người thầy – bạn với ý nghĩa đẹp đẽ và cao quý nhất của từ này. Nhiều chi tiết, nhiều sự kiện trong mới quan hệ thầy – trò này làm chúng ta xúc động, càng quý trọng và kính quý hai ông qua lời kể sau đây của Đỗ Hồng Ngọc:

– “ Thỉnh thoảng khi có chuyện thắc mắc, chuyện vui buồn gì mà không tiện đến thăm, tôi viết thư cho ông. Lần nào ông cũng sốt sắng trả lời, ân cần chỉ dẫn, khuyến khích tôi”.

– “… Lần này tôi cũng mang đến ông Nguyễn Hiến Lê nhờ đọc giùm [tức cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng – NHĐ]. Đọc xong, ông bảo: “Cháu đúng là một thầy thuốc nhi khoa tốt, yêu trẻ con, nhưng cuốn sách này hình như chỉ nhằm cho các bà mẹ có học ở đô thị, còn ở nông thôn, các bà mẹ ít học thì sao?”. Ông đọc kỹ, cặm cụi sửa cho tôi chỗ dùng từ sai, có thể gây hiểu lầm, nêu các thắc mắc… để tôi làm rõ thêm. Sau này tôi đã viết thêm các cuốn: Nuôi con, Chăm sóc con em ở nơi xa thầy thuốc… cũng chính từ góp ý của ông lúc đó”.

– “Với tôi, ông là một tấm gương sáng. Tấm gương của Nghị lực, của Tự học và của Phụng sự. Ông tận tụy cả đời viết sách, đem kinh nghiệm bản thân ra hướng dẫn thanh thiếu niên, mong giúp được cho người khác chút gì, lúc bỏ cây viết ra thì vớ ngay cuốn sách để đọc, để học không ngừng. Tôi đoán sở dĩ ông đã không nhận một chức vụ gì trong guồng máy công quyền là để giữ cho ngòi bút mình độc lập, để có thể đóng trọn vai trò giám sát của người trí thức mà Alain đã nói. Nhờ đó ông không có mặc cảm, thấy điều gì đáng khen thì khen, điều gì không ưa thì nói. Và ông đã nói bất cứ điều gì từ việc dịch sách, chuyển ngữ đến việc nhân mãn, ô nhiễm… Có thể đôi lúc ông cũng sai lầm, nhưng điều quan trọng là ông đã thành thực với chính ông”.

– “Tôi biết có những tác giả “sản xuất” còn mạnh hơn ông, viết mau và viết mạnh hơn ông, nhưng đọc họ người ta thấy rõ ràng là những tác phẩm máy móc, sản xuất hàng loạt. Ở ông Nguyễn Hiến Lê thì không. Ở ông là con người. Tác phẩm của ông là con người ông. Ông “dạy” cho thanh niên rèn nghị lực thì chính ông là một tấm gương nghị lực; ông viết về tổ chức thì chính nếp sống của ông là một sự tổ chức; ông viết về tự học thì chính ông đã nhờ tự học mà thành công. Nhờ viết từ những kinh nghiệm sống thực đó, người đọc thấy gần gũi với ông và những lời ông chỉ dẫn đều ứng dụng được”.

– “Và với riêng tôi, Nguyễn Hiến Lê còn để lại biết bao niềm trân trọng và trìu mến để tôi được “Nhớ đến một người” giữa “mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió” của Hà Nội hôm nay”. (Đỗ Hồng Ngọc. Nhớ đến một người, NXB Hội Nhà văn, 2010, tr. 7-11).

Đỗ Hồng Ngọc rất được Nguyễn Hiến Lê tin yêu và kỳ vọng. Điều đó thể hiện rõ ở việc Nguyễn Hiến Lê trong Hồi ký đã viết về Đỗ Hồng Ngọc ít nhất là bốn lần (Hồi ký… tr. 298, 402, 421, 438). Đây là điều quý và hiếm đối với một tác giả “trẻ” như Đỗ Hồng Ngọc.

– “Thanh niên đó [tức Đỗ Hồng Ngọc] từ mươi năm nay đã thành một người bạn thân của tôi”. (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học, 1993, tr. 298).

– “Một độc giả, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã nhận thấy điểm đó, viết trong bài Ông Nguyễn Hiến Lê và tôi (Bách Khoa số 426 ngày 20.4.1975): Và cũng nhờ vậy mà loại “Học làm người” của tôi được độc giả tin cậy nhất” (Hồi ký… Sđd., tr. 402).

Đầu năm 1974, Đỗ Hồng Ngọc gởi tặng Nguyễn Hiến Lê bài thơ mới viết: Đi cho đỡ nhớ, ghi lại cảm xúc của mình trong ngày đầu tiên trên chuyến xe lửa nối liền Sài Gòn – Biên Hòa mà mơ một chuyến tàu thống nhất… Cụ Lê liền trả lời: Bài “Đi cho đỡ nhớ” cảm hứng mới mẻ đấy, mà thú. Đọc hoài thơ yêu nhau và nhớ nhau, với thơ chiến tranh, ngán quá rồi. Nhưng cháu làm cho tôi thèm đi quá…

Bài đầu trong cuốn Nhớ đến một người, Đỗ Hồng Ngọc viết: “Nhớ đến một người” đó, với tôi, là nhớ Nguyễn Hiến Lê, một người Hà Nội, một học giả, một nhà trí thức chân chính ngày nay được cả nước biết đến”.

Năm 1978, Nguyễn Hiến Lê nhận được một bưu thiếp Đỗ Hồng Ngọc gởi từ Hà Nội và cụ Lê trả lời: Cảm động nhất là câu: “Cháu đến thăm Văn Miếu, nghĩ đến bác nhiều”. Tôi hiểu rồi, chắc cháu nhớ một đoạn cuối tập Bí quyết thi đậu của tôi. Cảm ơn cháu nhiều lắm. Cháu hiểu tôi. Cháu làm tôi nhớ hồi trẻ tôi học ở trường Bưởi (trường Chu Văn An bây giờ) ngoài đó quá…

Đỗ Hồng Ngọc đã viết nhiều bài về người Thầy / người bạn thân thiết của mình là Nguyễn Hiến Lê: Nhớ đến một người, Ông Nguyễn Hiến Lê và tôi, Nguyễn Hiến Lê – một tấm gương kiên nhẫn, Cuốn sách làm thay đổi cuộc đời, Con đường văn hóa đã nối dài…

Và Đỗ Hồng Ngọc đã khái quát về ảnh hưởng lớn của Nguyễn Hiến Lê đối với quãng đời tuổi trẻ của ông như sau:

– “Cuộc đời ông quả thực là một tác phẩm lớn. Tôi ước mong trong tuổi già ông sẽ viết hồi ký, kể lại đời mình cho bọn trẻ chúng tôi đọc như André Maurois viết Un ami qui s’appelait moi vậy. Tôi là độc giả của ông từ ngày còn là một học trò Đệ thất, lại được quen biết ông hơn mười lăm năm nay, nghĩ lại, nếu trong thời thơ ấu không được đọc những sách đó của ông, không được gặp ông, có lẽ tôi đã khác; nên tuy không được may mắn học với ông ngày nào, từ lâu tôi vẫn xem ông là một vị thầy của mình, hơn thế, một người thân. Tôi đâu có cần phải nói lời cám ơn ông!”

– “Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Cuốn sách đầu tay của tôi Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, chỉ là phần bổ túc cho cuốn Kim chỉ nam của học sinh. Sau đó tôi viết thêm một cuốn khác, cũng loại y học phổ thông, cũng nằm trong chiều hướng nâng cao trình độ đại chúng mà ông đã vạch…”.

Tôi cảm nhận rằng thầy trò – bạn bè Nguyễn Hiến Lê – Đỗ Hồng Ngọc có những điểm giống nhau và khác nhau như sau:

Rất giống nhau:

– Cha mất sớm (Nguyễn Hiến Lê mất cha khi mới 8 tuổi, Đỗ Hồng Ngọc mất cha lúc 12 tuổi). Cả hai đều nhờ sự buôn bán tảo tần, đức cần kiệm, hy sinh và một tình yêu thương vô hạn của người mẹ mà được học hành và thành nhân. Nguyễn Hiến Lê dù sao cũng còn may mắn hơn Đỗ Hồng Ngọc vì còn có một bà ngoại “tuyệt vời”! Cả hai đều mắc nhiều bệnh từ nhỏ.

– Cả hai đều là tấm gương sáng của nghị lực vượt khó, tự học, tinh thần làm việc nghiêm túc. Nguyễn Hiến Lê và Đỗ Hồng Ngọc đều thể hiện nhân cách của một người trí thức chân chính.

– Tận tụy cả đời viết sách, đem kinh nghiệm bản thân ra mà cống hiến cho đời, tâm huyết với việc nâng cao trình độ đại chúng. Mê đọc sách. Cả đời thực hiện phương châm: Học để viết và Viết để học.

– Luôn luôn thành thực với chính mình trong lối sống và trong tác phẩm.

– Thực hành một triết lý sống tri túc, không ham làm giàu, không cầu chức vị, không ham danh lợi. Cuộc sống luôn đơn giản, trong sạch, khiêm cung, biết đủ. Không rượu chè, bài bạc; không thích nơi ồn ào, náo động. Cả hai thầy – trò đều yêu thích Nguyễn Công Trứ và Tô Đông Pha. “Tôi yêu Nguyễn Công Trứ, một người hào hùng mà khoáng đạt – Nguyễn Hiến Lê). Đỗ Hồng Ngọc yêu thích Nguyễn Công Trứ vì cụ Trứ “lúc làm quan to, lúc làm lính thú đều… vui cả. Cụ là một nhà nho khoáng đạt, một thi sĩ đích thực”.

– Tâm huyết, chân tình, và quan tâm một cách đầy trách nhiệm đối với việc chia sẻ, truyền đạt kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng sống cho những người cùng thời và nhất là cho thế hệ trẻ – thế hệ ngày mai.

– Tư tưởng, tâm hướng và tấm lòng hai ông rất trong sáng, rất chính trực thể hiện rất rõ qua những tác phẩm của mình. Hai ông viết đều từ kinh nghiệm bản thân, đều từ sự trải nghiệm bản thân nên lời văn giản dị, dễ hiểu, dễ gần gũi và có tính thuyết phục cao và nhất là trung thực trước hết với chính mình nên được độc giả quý trọng. Những điều hai ông viết, nói và sống đều được độc giả tin cậy, vận dụng và áp dụng được vào đời sống của mình.

Nhà xuất bản Văn Học trong Lời giới thiệu cuốn Hồi ký Nguyễn Hiến Lê đã viết: “… Chúng ta cũng nhận ra rằng Nguyễn Hiến Lê “… Mỗi tác phẩm của ông là một công trình khoa học thể hiện một sự lao động cần mẫn, một trái tim say mê nồng nàn cuộc sống, một tâm hồn nhạy cảm và một trí tuệ uyên thâm tuyệt vời. Tất cả những việc đó cho ông một chỗ đứng đầy trân trọng trong người đọc trong và ngoài nước”. Đây là một nhận xét đúng đắn và sâu sắc dành cho cụ Nguyễn, và tôi nghĩ cũng rất xứng đáng dành cho cả Đỗ Hồng Ngọc.

Có một số điều hai thầy trò Nguyễn Hiến Lê – Đỗ Hồng Ngọc không giống nhau: Khi Đỗ Hồng Ngọc tặng Nguyễn Hiến Lê một bộ kiếm hiệp Cô gái đồ long 6 cuốn của Kim Dung với mong muốn ông xả bớt stress nhưng cụ Lê cố gắng lắm chỉ đọc được một ít rồi trả lại, không sao đọc nổi, bảo phí thì giờ vô ích! Ngược lại, Đỗ Hồng Ngọc thì lại… rất thích đọc Kim Dung, đến nỗi ông bảo: “Từ ngày nghiền ngẫm kinh sách Phật, thấy cũng mê như đọc kiếm hiệp”. Nguyễn Hiến Lê hút thuốc nhiều quá, còn Đỗ Hồng Ngọc chẳng ưa thuốc lá chút nào!

Điều không giống nhau rõ nhất là cụ Nguyễn Hiến Lê không “ưa” đạo Phật, nên cụ chỉ thích nghiên cứu Khổng Tử thôi! Nguyễn Hiến Lê không viết một tác phẩm nào về Phật giáo, không trả lời những ai hỏi ông về Phật giáo, cũng không chỉ cho người khác những kinh, sách Phật học cần đọc. Ông chỉ viết có mỗi một bài Huyền Trang và công cuộc thỉnh kinh vô tiền khoáng hậu của nhân loại, in trong Ý chí sắt đá, nhưng đó lại là một bài hay nhất viết về Huyền Trang mà các vị cao tăng và nhiều độc giả trong và ngoài đạo Phật đều phải công tâm thừa nhận. Trong khi đó Đỗ Hồng Ngọc, vào năm 1997, bị tai biến mạch máu não. Sau cơn bệnh thập tử nhứt sinh này, Đỗ Hồng Ngọc đã “ngộ” ra nhiều điều:

– “Hơn 15 năm nay, tôi nghiền ngẫm và thực hành những lời Phật dạy, mong tìm trong đó phương cách chữa cái đau, cái khổ cho mình và cho người với cái nhìn khoa học, y học, hoàn toàn không mê tín dị đoan”.

– “Tôi đến với thiền, với phương pháp thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện và nghiền ngẫm “hành thâm” Bát Nhã Tâm Kinh. Rồi 5 năm sau là Kim Cang, 5 năm tiếp theo là Diệu Pháp Liên Hoa…  Phải qua trải nghiệm ranh giới giữa sống và chết như thế, tôi mới nhận ra được nhiều thứ hơn… Là một người thầy thuốc, tôi mong tìm một phương cách chữa bệnh tinh thần cho chính mình và giúp đỡ mọi người, nên sau Tâm Kinh, tôi tiếp tục học hỏi thực tập thêm nhiều kinh Phật khác”.

Viết đến đây, tôi sực nhớ đến cuốn sách vào loại độc nhất vô nhị trong Văn học sử Việt Nam. Đó là cuốn Quách Tấn – Nguyễn Hiến Lê – Những bức thư đầm ấm, sách khổ 14,5 x 20,5 cm, dày 560 trang, chọn in 170 trong 200 bức thư mà hai học giả uyên thâm đáng kính này viết cho nhau. Rồi bỗng dưng nhớ đến một đoạn rưng rưng của nhà văn Võ Hồng, lúc đã gần 80, khi nghe tin bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc bị tai biến mạch máu não, ông chân thành nguyện cầu: “Mười hai giờ khuya, moa ra sân thượng, quỳ hướng về sao Bắc Đẩu hết lòng cầu nguyện cho toa tai qua nạn khỏi”. Tình bạn sao mà thắm thiết, thiêng liêng thế. Làm sao không yêu quý cuộc đời, không yêu quý con người cho được!.

Nguiễn Ngu Í và Nguyễn Hiến Lê đã có những ảnh hưởng lớn lao và sâu sắc trong cuộc đời của Đỗ Hồng Ngọc ngay từ quãng đời tuổi trẻ của Đỗ Hồng Ngọc, làm cho tôi thèm viết bài tạm đặt nhan đề là: “Nguiễn Ngu Í – Nguyễn Hiến Lê – Đỗ Hồng Ngọc: tỏa sáng trong tôi”.

Năm nay bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã 75 tuổi ta rồi (2014). Cái tuổi đã chín muồi, đã lịch lãm, đã trải nghiệm và chiêm nghiệm được nhiều điều về bản thân, gia đình, bè bạn, nghề nghiệp. Ông cũng đã trải qua những biến thiên dữ dội của thời cuộc. Ông lại có những mối quan hệ xã hội khá rộng rãi và hiểu biết tường tận về nhiều việc, nhiều người dưới cái nhìn, cái cảm của một người giàu Phật tính, thấm nhuần triết học Phật giáo. Vì vậy, tôi kính cẩn thưa trình với ông rằng tôi mong sớm được Hồi ký của ông. Nhớ lại, ông đã nhiều lần “thúc hối” thầy mình là Nguyễn Hiến Lê viết hồi ký như André Maurois đã từng làm với Un ami qui s’appelait moi vậy! Cụ Nguyễn Hiến Lê lúc đầu băn khoăn không biết mình sẽ viết gì trong hồi ký này và chỉ mong viết được vài trăm trang thôi. Thế mà tháng 9. 1980, cụ Lê đã hoàn thành cuốn Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học in lần đầu 1993, mặc dù nhà xuất bản “xin để lại sau một thời gian nữa” các chương XXI, XXII, XXIV… nhưng sách cũng đến 800 trang. Trước nay tôi vốn thích đọc Hồi ký, và các cuốn hồi ký mà tôi thích nhất vẫn là cuốn của Nguyễn Hiến Lê, Đào Duy Anh, Quách Tấn, Trần Văn Khê…, và, chắc chắn sẽ rất thích Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc. Tôi không dám nói sai lời và cũng như nhiều độc giả “chiến hữu” chí cốt của Đỗ Hồng Ngọc nóng lòng chờ đợi Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc.

Tôi nghĩ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nhiều điều kiện thuận lợi, có nhiều cơ duyên tốt lành để khởi sự sớm hoàn thành tập hồi ký được nhiều, rất nhiều người chờ đọc, đón đọc. Xin đề nghị bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc viết, cho in báo, trên mạng từng bài, từng phần hồi ký như cụ Nguyễn Hiến Lê đã từng làm. Và bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng đã làm “lai rai” một số bài: Một chút tôi, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký… Mong lắm thay, thưa bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!

 

Nguyễn Hiền-Đức (2014)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Trần Hoài Thư: Thư gởi Đỗ Nghê

17/02/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

blog trần hoài thư

Thư gởi bạn ĐN

February 17, 2020 by tranhoaithu

Bạn của một thời trôi nổi khó quên,

Tôi vừa nhận được “Biết Ơn Mình” bạn tặng do PVN chuyển. Cầm tập sách vuông vức, mỏng, với cái bìa chữ  nổi, bông nổi, trước hết là cảm xúc dâng tràn.

Tôi tự hỏi, từ trước đến giờ có một tác giả nào viết những lời biết ơn về “mình”  như bạn.  Từ trang  đầu đến trang cuối  bạn “biết ơn mình” nhưng thật sự bạn đã truyền cảm đến người đọc những kinh nghiệm, kiến thức, những lời khuyên hữu ích cho độc giả  của một y sỹ  qua tâm hồn lai láng của một nhà thơ.
Để người đọc thấy rõ về chính bản thân mình, thân thể mình mà càng yêu càng quí.

Gần 5 năm chăm sóc Y. ở nursing home, tôi càng hiểu về sự may mắn của một con người còn lành lặn tay chân, trí não… Những người bị Alzeimer, loạn trí. Những người bị stroke, không thể đi đứng, phải ngồi xe lăn,,, Có những người còn trẻ mà phải năm liệt giường… Nhìn họ, rồi nhìn mình, rồi dâng bao nhiêu niềm cảm tạ. Cảm tạ khi buổi sáng thức dậy, tung mền, thấy đôi chân vẫn còn mạnh. Cảm tạ khi mỗi ngày được nấu nướng, đi chợ, nấu thức ăn để mang vào nursing home . Thấy những người tàn phế ngồi xe lăn, thấy những người bị Alzeimer, thấy những người còn trẻ nhưng liệt bại… Lại càng cảm tạ cái xe mình.

Nhưng ngoài “Biết ơn mình”, với tôi cần phải cám ơn một cái gì khác. Nó là sợi dây kết nối lại giữa bạn và tôi.
Đó là văn chương.

Vâng, nếu không có văn chương thì chắc chắn đến bây giờ, tôi không bao giờ nhận  được món quà văn chương đầy tình nghĩa như thế này.

THT

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

vài trang bạn bè

16/02/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

trang Pham Cao Hoàng:

 

trang tranthinguyetmai

 

Cảm ơn PCH, cảm ơn Nguyet Mai.

Do Hong Ngoc.

Thuộc chủ đề:Uncategorized

thơ Hoàng Xuân Sơn: M Ộ T  N G À Y  B Ã O  T U Y Ế T  K I N H  H Ồ N

10/02/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

 

M Ộ T  N G À Y  B Ã O  T U Y Ế T  K I N H  H Ồ N

[ Thứ sáu, 7 février 2020 ]

NgỐt  tRời  ĐấT.   nGốT  NgƯời

T U Y Ế T

Tuyết đến thế là cùng

dăm ba ngày đóng cửa

tạ lòng bạn viếng thăm

mùa đông như sợi chỉ

giăng mắc đến muôn trùng

ngồi buồn châm ngọn lửa

đốt những vòng hư không

Đ Ư Ờ N G   B A Y   C Ủ A   T U YẾ T

nắng vùng lên. băng hủy tang
cây run rẫy đứng sắp hàng đón xuân
cảnh đời nhau dễ chưa thuần
vẫn ghê cái lạnh tà huân ngút trời
vẫn trắng hồn. bông tuyết ơi
vẫn ngóc ngách gió bời rời. căm căm
mà dâu kia cứ hẹn tằm
vẫn thơ hết một mùa thăm thẳm dài
bây giờ. buồn nhỉ. hai vai
trơn tru một gánh sông hồi biển mong
vẫn là em. độ xuân nồng
mà trong hương nhớ đã mông lung thèm
nhớ ngày nào tay dịu êm
và lời mật ngọt rót mềm môi say
vẫn là tôi. tín hiệu gầy
trăm năm để một giờ bay. tuyệt mù

 

T  h Ô N g    .    TuYẾ t    .   Và    n GƯờI

mũi cây thông nhọn đâm lú tuyết

đường lên dốc thẳm sói kêu tru

một hôm lạc qua vùng cực bắc

mắt dã quầng thâm bôi trắng mù

 

 

đời vẫn ở phố lưng xương khọm

đường sá mòn năm cứ già đi

bàn ghế điệp khúc tình nhân muộn

tựa mãi vào đâu cũng gối quỳ

 

 

thông vẫn tốt tươi màu đông quạnh

tuổi người ra rả giú thâm xuyên

thèm quá chú sóc con ngồi đợi

lạnh tàn mơn mởn nhú xuân lên

 

 

dẫu gì sinh thực hàm ơn tuyết

từ đáy trầm luân khíu lại đời*

năm tháng vập vồ qua thiên khải

chập choạng vai chiều một cánh dơi

 

Hoàng Xuân Sơn

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim

Thanhthuy Nguyen: “Chiều hôm thức dậy…” (*)

10/02/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thanhthuy Nguyen

13 giờ ·

“Chiều hôm thức dậy
Ngồi ôm tóc dài
Chập chờn lau trắng trên tay”
TCS

Những ngày dài nằm nhà vì dịch corona, không gì bằng dọn lại chồng sách cũ, lên kế hoạch đọc sách mà bao lâu nay vì bận bịu cứ lần lữa mãi.

Những tập sách mỏng của BS. Đỗ Hồng Ngọc nằm khiêm tốn trên giá sách với những lời đề từ cách đây hơn 6 năm, tôi đọc một mạch một ngày trời đã hết.
Từ tập thơ đầu tiên với tựa đề “Tình người” bút hiệu Đỗ Nghê, tác giả trình bày, bìa Lữ Kiều, hình cocteau, ấn hành giới hạn dành cho bạn bè anh em, Sài Gòn năm 67 đến những bài viết dành cho những người bước qua tuổi trung niên, với cái nhìn chân thực khoa học của một bác sĩ ngành y, hóm hỉnh, dí dỏm, làm người đọc thỉnh thoảng phải bật cười vì thấy mình ở đó “Những người trẻ lạ lùng”, “Gió heo may đã về”, “Nghĩ từ trái tim” là những bài viết như vậy, năm 2013 ông xuất bản tập thơ “Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác” tập hợp một chặng đường dài nữa thế kỷ làm thơ của ông, đó là một gia tài khiêm tốn của BS. Đỗ Hồng Ngọc, một con người đôn hậu, khiêm cung và nghiêm túc.
Gia tài khiêm tốn, nhưng sức chứa trong từng tác phẩm lại đáng cho ta kính nể.

Từ bài thơ “Thư cho bé sơ sinh” ông viết khi là một sinh viên trường Y 25 tuổi, chuyên khoa Nhi. Lần đầu tiên ông trực tiếp đỡ đẻ một đứa bé ra đời, nó gây cho ông một xúc động mạnh, đến nỗi không kìm chế sự thôi thúc của tâm hồn ông đã viết những vần thơ phía sau bệnh án. Lời thơ chân thực rúng động từ trái tim của một thanh niên có cái nhìn tinh tế, nhân ái và sâu sắc về thân phận làm người trong một đất nước điêu linh vì chiến tranh:

Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em!
Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen.
Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ.
…
Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em…
Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận…
Con người…
( BV Từ Dũ, Saigon,1965)

Xuyên suốt tập thơ “Tình người” xuất bản năm 67, người đọc dễ dàng bắt gặp những trăn trở, thao thức của một chàng trai trong một xã hội loạn lạc chiến tranh với những ước mơ, lời nguyện cầu, niềm tin, tâm sự Lạc Long Quân, lời ru của mẹ, Mai sau dù có bao giờ… bẵng đi một thời gian dài vì thời cuộc, bận bịu với vai trò một bác sĩ ông chuyên tâm vào chuyên môn, không làm thơ nữa, thời gian sau này ông viết lại với những vần thơ nói về quê hương đất nước, ghi lại những cảm xúc nơi chốn ông đi qua như Mũi Né, Trên đỉnh Hoài Phong, Đêm trên biển Lagi, Bảo Lộc, Đà lạt, Hà Tiên, Hội An đêm, Một ngày ở Huế, Hành hương hay Paris tháng sáu, Lục địa giận hờn, Trong một nhà giữ lão ở Montreal, Đông Boston, những bài thơ ông viết bao giờ cũng là những trăn trở của kiếp người.

Có những bài mang mang chất thiền như:
Hội An còn ngái ngủ
Mái chùa ôm vầng trăng
Giật mình nghe tiếng chổi
Gà gáy vàng trong sương
(Hội An sớm)

Có những bài đẹp như tranh thủy mạc, cô động, súc tích như thơ haiku:
Ngõ cũ
Ao xưa
Vầng trăng bạc
Lầu văn
Gác tía
Bước chân son
(Văn Miếu)

Và không thể không nhắc đến mảng thơ ông làm tặng con gái đã mất của ông, với nỗi lòng của người làm cha, làm quặn thắt trái tim người đọc.
Có tiếng thét lên
“Dừng lại”
Con dịu dàng trong mộ tối bước ra
Phủi bụi
Nhìn mọi người chưa kịp lau nước mắt
Mỉm cười
Ơi ba má với các bác các cô các chú ơi
Bà nội với các em ơi
Bạn bè ơi
Sao mà giỏi thế
Cứ đóng y như thật…
( Đạo diễn)
Ba viết trăm lần lý lịch
Cứ mỗi lần viết đến tên con
Ba lại ngẩn ngơ
Như một kẻ mất hồn
Biết trả lời sao
Câu hỏi
Hiện con đang làm gì?
Ở đâu?
(La Ngà 2)
Mỗi năm
Mỗi người
Thêm một tuổi
Chỉ mình con
Mãi mãi
Tuổi đôi mươi…
(La Ngà 3)

Đôn hậu, nghiêm túc là con người của BS. Đỗ Hồng Ngọc mà bất cứ ai đã được dịp tiếp xúc đều nhận ra ngay, trãi qua bao thăng trầm của đời người ông thấm nhuần Thiền Phật, những bài ông viết cho giới trẻ, cho tuổi trung niên là những nhắn nhủ của một người làm chuyên môn cho lời khuyên xác đáng để con người biết sống nhẹ nhàng hơn khi đối diện với tuổi xế chiều.

Tôi muốn kết thúc bài viết này bằng một bài thơ ông viết tặng mẹ, một con người hiền lương, thánh thiện trong cuộc đời và trong cả thơ văn:
Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…
(Bông hồng tặng Mẹ)

Quy Nhơn, 9/2/2020

(Ban Mai)

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người
Không có mô tả ảnh.
…………………………………………………………………………………..
(*) tựa do ĐHN. Bài viết của Thanhthuy Nguyen (Ban Mai) trên facebook này do Nguyễn Lệ Uyên chuyển đến tôi sáng nay vì biết tôi không có Facebook không đọc được. Cảm ơn NLU. Cảm ơn BM.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Trần Vấn Lệ gởi Luân Hoán

03/02/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Trần Vấn Lệ gởi Luân Hoán

kể chuyện về Đỗ Hồng Ngọc

(Ghi chú: Sáng nay mới nhận được bài này của Trần Vấn Lệ. Bài TVL viết cho website Vuông Chiếu của Luân Hoán, nhắc chuyện gặp Đỗ Hồng Ngọc ở Saigon… Bài hơi… cũ (2018) nhưng vẫn còn… hay! Đọc TVL vẫn luôn thấy được cái duyên ngầm của anh (mà Khuất Đẩu cũng đã phải khen khi TVL viết về Thơ Đỗ Nghê dạo nọ) nên tuy TVL có già hơn xưa chút đỉnh mà cũng có hằng tỷ bài thơ tình viết cho hàng tỷ người yêu thơ mình (lời TVL).

Coi vui nhé,

ĐHN 

…………………………………………………………

Ngày 19 tháng Ba năm 2018 này là ngày “chu niên” thứ Mười Chín của Vuông Chiếu – website của anh Luân Hoán, bạn cùng khóa SQTB 24 với tôi, là bạn của rất nhiều người yêu thich Thơ Luân Hoán hơn nửa Thế Kỷ rồi  (Luân Hoán làm thơ có tiếng tăm từ năm 1966…không biết đến bao giờ nữa, nhưng dù hơn Nửa Thế Kỷ, thực tế thì tài thơ của Luân Hoán chạy dài…đã qua hai Thế Kỷ, 20 và 21), anh cho tôi biết anh sẽ “ưu ái” cho một bài viết xuôi của tôi…về chuyện gì cũng “ổn”.  Tôi hứa mà cứ lê la hơn hai tuần rồi!  Hễ ngồi trước computer thì thơ nhảy ra như bầy cóc nhái để chiều hôm qua, rồi sáng hôm nay, anh lại email nhắc…Tôi thật đáng trách, đáng ghét…đáng bị trọng cấm lắm nhen!

Tôi vào đề như trên vì tôi muốn cò cưa, muốn “cân hồ”, muốn câu giờ chớ tình ngay lý gian tôi không dám làm Luân Hoán bực bội đâu.  Anh đã từng đau vì mất một chân trên chiến trường ngày xưa, đã lâu lòng anh nguội, bây giờ mà “mất niềm tin” nơi tôi nữa thí chắc anh đau thêm?

Tôi có “cù nhày”, xin anh xá tội nha, anh Luân Hoán!

*

Tôi viết về Đỗ Hồng Ngọc nè…

Đỗ Hồng Ngọc – Y khoa Bác Sĩ tốt nghiệp trường đại Học Y Khoa Sài Gòn năm 1969 , cũng là nhà thơ Đỗ Nghê (mà trong cuốn Sống Và Viết Với…của Nguiễn Ngu Í, cậu ruột của Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc, em ruột của Má ruột Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc, lại viết bút danh của cháu mình là Đỗ Ngê…)Thi sĩ Đỗ Nghê đã có nhiều tập thơ in thành sách, trước và sau biến cố Ba Mươi Tháng Bốn Năm Ngàn Chín Bảy Lăm:  Tình Người, Thơ Đỗ Nghê, Giữa Hoàng Hôn Xưa, Vòng Quanh, Thư Cho Bé Sơ Sanh & Những Bài Thơ Khác; mới nhất trong năm 2017 là tập Thơ Ngắn…mới toanh!  Văn sĩ Đỗ Hồng Ngọc không thấy có tập truyện hay cuốn tiểu thuyết nào, chỉ thấy “cái tài viết văn xuôi của chàng” là Tùy Bút.  Đỗ Hồng Ngọc ký tên thật là Đỗ Hồng Ngọc trên những tập Tùy Bút này: Gió Heo May Đã Về, Già ơi…Chào Bạn, Những Người Trẻ Lạ Lùng, Thư Gửi Người Bận Rộn, Như Thị, Cũng Chẳng Khoái Ru, Nhớ Đến Một Người, Ăn Vóc Học Hay, Ghi Chép Lang Thang…, Nghĩ Từ Trái Tim, Gươm Báu Trao Tay, Ngàn Cánh Sen Biếc, Một Hôm Gặp Lại.  Chắc chắn trong tương lai gần, Đỗ Hồng Ngọc sẽ còn ra thêm vài cuốn nữa!

Năm 2016 tôi có chuyến về thăm gia đình ở Phan Thiết, tôi có gặp Đỗ Hồng Ngọc bằng-da-bằng-thịt tại Sài Gòn ngay lúc tôi vừa rời phi trường Tân Sơn Nhứt để về khách sạn.  Ôi bạn tôi…giống tôi:  Già!  Xa nhau từ năm 1955 đến năm 2016 mới gặp lại, ai còn sống mà không già khú đế?  Tay bắt mặt mừng, và khách sáo như không khách sáo: Cả hai đều ứa nước mắt.  Cả hai đều gọi tên nhau như…hổi nhỏ:  Ồ Ngọc!  Ồ Lệ!  Rồi, trước khi cầm đũa bữa cơm trưa, hai đứa mặc kệ lu bù người khách mời của BS Đỗ Hồng Ngọc, hai đứa chúng tôi nhắc lại một vài chuyện của thời tí hon:  Trong lớp mìnhcó hai thằng trùng họ trùng tên, chỉ khác có tên lót là Đỗ Hồng Ngọc và Đỗ Hoàng Ngọc.  Đỗ Hồng Ngọc biến mất khỏi trường Trung Học Phan Bội Châu Phan Thiết từ niên khóa 1955-1956 trở đi…biền biệt.  Năm 1989, tôi mới thấy lại cái tên Đỗ Hồng Ngọc trên báo trong nước.  Đỗ Hoàng Ngọc thì chúng tôi xa nhau sau khi hết học Đệ Tứ Phan Bội Châu, Phan Thiết.  Năm 1967, tôi về nhận nhiệm vụ lính tại Tiểu Khu Bình Thuận, đeo lon Chuẩn Úy, tôi có thấy Đỗ Hoàng Ngọc mang lon Trung Úy.  Hình như nó không muốn…chào cấp dưới mà tôi cũng ngại chào cấp trên (vì phải chào đúng nghi thức nhà binh đối với tôi, anh chàng lính sữa).  Tôi có gặp lại lần nữa Đỗ Hoàng Ngọc, chúng tôi thấy nhau, không chào hỏi vì lệnh trại giam cấm mọi sự “liên hệ”.  Chuyển dịch hoài hoài, tôi không biết Đỗ Hoàng Ngọc còn sống hay ra sao, sau đó, sau này… (*)

Nay, hội ngộ Đỗ Hồng Ngọc thật tình…cứ ngỡ mình gặp ma!  Thời gian như nước chảy qua, tại sao con người hay đi ngược lại nhỉ? Tìm gì trong quá khứ?  Những nụ cười thắm tươi?  Những giọt lệ đoanh tròng?  Ôi, tìm gì cũng được…cốt là thấy cái bóng cái hình của cố nhân!

Viết tới đây, tôi sực nhớ mấy câu thơ của Hà Liên Tử trong tập Tiếng Bên Trời:

 

Mười năm xưa, mười năm sau

Một hình bóng cũ xóa màu thời gian

Cầm như đã lỡ nhip đàn

Cố nhân ôi bấy ngỡ ngàng cố nhân!

 

Giữa Đỗ Hồng Ngọc và tôi không đến nỗi nào như thế.  Tôi là một “tù binh” đã thành người ngoại quốc, Đỗ Hồng Ngọc về hưu lâu rồi, không dính dấp chính trị.  Đỗ Hồng Ngọc là một Thầy Thuốc, là một nhà văn…Tất cả “bình dị” trong cuộc tâm tình của tôi, người xa; bên các bạn, người trong cuộc bể dâu.  Chúng tôi nhắc diều tiên quyết Nguyễn Công Trứ từng dạy:  Thân còn chưa có, có chi danh?  Không nổ.  Không ai nổ.  Có cái “cục” gì mà nổ!  Lời của Thiên Chúa nói với Adam và Eva thật chí lý:  Ta tạo các ngươi từ đất, rồi các ngươi sẽ trở về với cát bụi…Cổng Vườn Địa Đàng đã khép rồi, vĩnh viễn!

Tôi đọc được trên báo Thế Giới Tiếp Thị phát hành tại Sài Gòn…mới, có bài Phỏng Vấn Bác Sĩ – Nhà Văn – Nhà Thơ Đỗ Hồng Ngọc, thấy như cái “duyên” bèn copy paste vào đây chơi cho vui:

 

Báo THẾ GIỚI TIẾP THỊ ONLINE
Thứ hai, 26/02/2018
20:10 GMT + 7

thegioitiepthi.vn

 

Y khoa là một môn khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Nó gắn liền với thân và tâm của con người. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã chia sẻ với Thế Giới Tiếp Thị Online như vậy nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2).

Thế Giới Tiếp Thị Online: Là một người làm chuyên môn về khoa học có vẻ hơi khô khan, nhưng những tác phẩm của ông lại cho thấy ông là một nghệ sĩ khoáng đạt, trẻ trung và rất nhạy cảm. Vậy thực ra ông “ưa” con người nào của mình?

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: Tôi “làm thơ” trước khi “làm bác sĩ”… Bác sĩ là một cái “nghề”, còn thơ là một cái “nghiệp”. Thời trung học, tôi đã có những bài thơ đăng báo. Nó tự nhiên mà đến. Nó gần như không học, gần như không “làm”. Khi đậu Tú tài II xong (năm 1962) thì tôi thi vào trường Y để học “làm bác sĩ’’. Vùng quê tôi nghèo, thiếu thầy thiếu thuốc, tôi nghĩ làm bác sĩ thì có thể giúp ích được cho mình và cho nhiều người hơn. Nhưng vì đam mê văn chương, tôi ghi danh học thêm bên Văn khoa, và sau đó còn học thêm bên Xã hội học. Thời đó, chỉ có y khoa, sư phạm và kỹ thuật Phú Thọ mới phải thi đầu vào, còn các ngành khác chỉ cần ghi danh học. Nên học thiệt là “sướng’’!

Chính học giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã khuyên tôi nên học bác sĩ. Ông nói, làm bác sĩ giúp ích được cụ thể cho người, rồi chừng mươi năm hành nghề, có dịp tiếp xúc với bao cảnh đời, bao con người, nếu có tâm hồn nghệ thuật thì sẽ có thể viết văn. Nhiều nhà văn xuất thân bác sĩ như Sommerset Maugham, Tchekov, Cronin…

Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Nó gắn liền với thân và tâm của con người. Mà cái gì đã liên quan đến con người thì luôn là một “nghệ thuật’’ chứ, phải không? Cho nên ngày nào y khoa trở thành hoàn toàn máy móc thì nguy cho con người lắm! Khi máy móc hóa hay thương mại hóa mối quan hệ “thầy thuốc – bệnh nhân’’ thì có nhiều vấn đề đặt ra.

Khi thực tập ca “đỡ đẻ” đầu tiên ở Bênh viện Từ Dũ (1965) tôi đã viết bài thơ “Thư cho bé sơ sinh’’. Tập thơ đầu tay của tôi, năm 1967, có tên là Tình Người, khi đang học năm thứ 5 tại Y khoa Đại học đường Saigon.

Tóm lại, y khoa không xa lạ với “một nghệ sĩ khoáng đạt, trẻ trung và nhạy cảm”.

Vậy  “Ưa con người nào của mình hơn” đâu cần phải trả lời nữa phải không?

 

Theo ông, nghề bác sĩ ở Việt Nam có thể coi là thiệt thòi không khi thu nhập và áp lực công việc chưa tương xứng?

– Tôi là một thầy thuốc già, cho phép hay nhắc chuyện xưa để “ôn cố tri tân” nhé. Thời tôi học Y phải 7 năm. Thi đầu vào không dễ, đậu chừng hơn 10%. Tôi còn nhớ ngoài những môn lý, hóa, sinh, sinh ngữ… thường lệ, còn có thêm 20 câu hỏi tổng quát về văn hóa… như âm nhạc, hội họa, sử, địa, về Biển Thước, Hoa Đà, Hải Thượng Lãn Ông, Hippocrate và những câu về đời sống xã hội như “giá gạo trên thị trường bao nhiêu một ký?”, “giá than trên thị trường bao nhiêu một ký?”… Rõ ràng là một cách thăm dò không chỉ kiến thức tổng quát của người thầy thuốc tương lai mà thăm dò cả sự hiểu biết về tình hình đời sống thực tế xung quanh.

Ra trường phải trình luận án để được cấp bằng Tiến sĩ Y khoa quốc gia (Doctorat en Medecine, Diplôme d’’Etat) và phải ghi danh vào Y sĩ đoàn (Chữ Y sĩ ở đây để chỉ người làm nghề y chớ không phải một cấp bực trung cấp trong ngành y như sau năm 1975). Y sĩ đoàn (nghiệp đoàn nghề nghiệp của bác sĩ) sẽ quản lý, giám sát nghề nghiệp cho bác sĩ, đảm bảo hành nghề đúng nghĩa vụ và lời thề Hippocrate khi tốt nghiệp, xử phạt khi có sai phạm, bênh vực khi bị oan khuất, hành hung… Nhờ hệ thống này, nghề y được tôn trọng vì họ luôn xử lý công bằng, tránh những ảnh hưởng tác động từ bên ngoài, đỡ gánh nặng cho quản lý nhà nước, hành chánh. Tiếc thay, sau này không còn nữa nên nhiều vụ kiện tụng xảy ra, nhiều vụ bạo lực hành hung bác sĩ đáng tiếc!

Về đời sống bác sĩ, thì lương hướng khi ra trường với chỉ số 720 (học 7 năm) được khoảng 12 ngàn đồng (giá vàng thị trường là 9 ngàn) nên họ chỉ phải lo tập trung cho nghề nghiệp, sao cho giỏi, cho có đạo đức tốt, thăng tiến trong nghề nghiệp. Dĩ nhiên cũng có những vụ không hay… nhưng đều được Y sĩ đoàn xử lý thỏa đáng.

Ngày nay, bác sĩ học 6 năm, cũng “trầy vi tróc vẩy” nhưng ra trường được coi như ngang cấp cử nhân 4 năm, hệ số lương 2.34… gì đó nên nơi nào, người nào cũng phải lo “cải thiện đời sống”…  Dĩ nhiên bác sĩ thời nay nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, khoa học y học nên tài năng hơn chúng tôi ngày xưa nhiều. Sự vô lý ở chỗ một cử nhân 4 năm, học thêm 2 năm thì đã là “thạc sĩ” còn bác sĩ 6 năm thì coi như cử nhân!

Rõ ràng với nghề y ở Việt Nam ngày nay “thu nhập và áp lực công việc chưa tương xứng”, nhưng đáng ngại hơn là ngày càng nhiều vụ vi phạm đạo đức, càng nhiều vụ hành hung thầy thuốc không được giải quyết rốt ráo. Có cái gì đó bất thường ở đây trong mối tương quan thầy thuốc – bệnh nhân vốn đầm ấm từ ngày xa xưa.

Mối tương quan thầy thuốc – bệnh nhân đã có nhiều thay đổi, thưa bác sĩ?

– Thời xa xưa, thầy thuốc là “phù thủy”, mối quan hệ là bất bình đẳng, cha chú, gọi dạ bảo vâng. Rồi khi ngành y bị thương mại hóa, bệnh nhân trở thành khách hàng, người tiêu thụ (consumer) còn thầy thuốc thành người cung cấp dịch vụ (health care provider) thì “khách hàng là Thượng đế”, nên phải chiều chuộng bệnh nhân, cung cấp càng nhiều dịch vụ càng tốt để làm… kinh tế!

Mới đây, ở Mỹ đã có một phim báo động: Một nền y học vì đồng tiền (Money-driven Medicine). Cả hai mối tương quan đó đều không tốt, không phải. Ngày nay khuynh hướng là cần có sự hợp tác, đồng thuận hai chiều và cần tôn trọng tính tự chủ của hai bên (autonomy). Vì thế vai trò truyền thông giữa thầy thuốc bệnh nhân trở nên rất quyết định, nên đã có khái niệm “truyền thông trị liệu” (therapeutic communication).

Người thầy thuốc hôm nay cần có nền tảng văn hóa rộng. Học về truyền thông, về khoa học hành vi (tâm lý, xã hội, nhân chủng…), về giáo dục sức khỏe, nâng cao sức khỏe, quan tâm tới chất lượng cuộc sống chứ không chỉ biết chữa bệnh tật. Mô hình bệnh tật nay cũng đã thay đổi. Bệnh nhân ngày càng trở thành “thầy thuốc” cho chính mình, không bị lệ thuộc vào thầy vào thuốc như xưa. Thế nhưng cũng có những nguy cơ như dựa vào thông tin trên Internet bệnh nhân tự chẩn đoán, tự điều trị dẫn đến những hậu quả đáng tiếc khác.

Một cuộc sống hạnh phúc, một cá nhân hạnh phúc, theo quan điểm của ông là gì?

– Có thứ hạnh phúc bền bỉ, lâu dài và có thứ hạnh phúc mong manh, chốc lát. Một người trúng số độc đắc sẽ rất hạnh phúc, một người đoạt vương miện hoa hậu sẽ rất hạnh phúc… Nhưng đó thường là hạnh phúc trong chốc lát, vì chẳng bao lâu nó bay biến… Hạnh phúc lâu dài thì đó chính là sự an lạc trong thân tâm. Có thể tóm trong mấy chữ là từ bi hỷ xả. Có tâm Từ ái thì tâm hồn luôn rộng mở, biết yêu mình, yêu người, yêu thiên nhiên, biết bảo về môi trường sống, môi trường văn hóa tốt đẹp; có tâm Bi mẫn thì biết sẻ chia, đùm bọc, giúp đỡ… Có tâm Hỷ thì xóa bỏ được lòng ghen ghét, ganh tỵ, hận thù và có tâm Xả thì biết đủ, kham nhẫn tri túc…Thứ hạnh phúc đó có thể sẻ chia, lan tỏa.

Hiện nay trong thời đại đầy bất trắc, lo âu, một số quốc gia đã đi tìm một thứ hạnh phúc bền bỉ lâu dài cho quốc dân qua khái niệm GNH (Gross National Happiness = Tổng hạnh phúc quốc gia) thay vì GNP (Gross National Product = Tổng sản phẩm quốc nội) là chỉ dựa trên tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Người ta nhận ra nhiều quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao mà người dân không có được hạnh phúc. GNH dựa trên 4 yếu tố chính: bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa, sức khỏe và tuổi thọ, chánh quyền vì dân…

Tóm lại, hạnh phúc cá nhân quyện trong hạnh phúc tổng thể.

Trân trọng cảm ơn bác sĩ đã chia sẻ với bạn đọc Thế Giới Tiếp Thị Online.

HOA ĐINH

…………………………………………………………………………………..

 

Đấy, các bạn biết ít nhiều về ” sanh hoạt” của Đỗ Hồng Ngọc rồi nhé.  Gọi Đỗ Hồng Ngọc là Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc hay nhà thơ, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, cũng “duyên” thôi.  Trong chuyến về của tôi sau hai mươi bảy năm “trời ơi đất hỡi”, Đỗ Hồng Ngọc ký tặng cho tôi tập Tùy Bút mới nhất, Một Hôm Gặp Lại xuất bản bởi Nhà Xuất Bản Văn Hóa – Văn Nghệ TP HCM VN.

Đây là một cuốn sách khá dày của Đỗ Hồng Ngọc, 300 trang, khổ sách, vuông vắn, dễ thương.  Đọc tùy bút của Đỗ Hồng Ngọc, nếu nhà văn Duyên Anh mà còn, chắc chắn Duyên Anh chỉ phán một câu:  “Sướng Rên Mé Đìu Hiu!”.

Tôi từng “mê” tùy bút của Nguyễn Tuân, Vũ Bằng.  Có nhiều năm rất chờ mong tác phẩm mới của Võ Phiến viết về Tùy Bút.  Nay đọc Một Hôm Gặp Lại…tôi thấy Tùy Bút là một thể văn đẹp, mềm mại, tao nhã không khác gì Thơ!  Xưa, xưa lắm Phạm Đình Hổ có cuốn Vũ Trung Tùy Bút…mô tả, cô đọng, hâm nóng chỉ vài ba giọt mưa trên tàu lá chuối mà đã ấm cả lòng người.  Bậy giờ đọc Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc, xếp sách mấy lần, gần hai năm tròn trịa, vẫn nghe lòng nao nao, êm ru và diệu vợi…Té ra bạn tôi là Khách-Đa-Tài!

*

Tôi muốn viết một bài “nhận định” về cuốn Tùy Bút Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc, nhưng không thể rồi!  Một là tôi đang nghe trong người mình có chuyển biến không ưng bụng.  Nhìn qua những lọ thuốc bên cạnh nhớ sáng nay chưa uống thứ nào, hèn chi mà nó rêm mình! Là tôi phải đi uống thuốc vậy!  Hai là…giữ lời hứa với anh Luân Hoán, viết một bài và gửi qua Canada liền liền tú xuỵt, hẹn lâu quá nhen…Ôi chuyện gì cũng dang đở!  Hồ Dzếnh có bài thơ Ngập Ngừng, có hai câu như sấm…sét:  “Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở, tình mất vui khi đã vẹn câu thề!”.

Bạn đọc yêu quý ơi, hãy tìm cuốn Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc đọc đi…rồi đọc lại.  Nếu những lời tôi “mạ kền mạ bạc” về một “ông Bác Sĩ Viết Văn” là không đúng sự thật, xin nói cho tôi biết.  Và…cái câu “Biết Chết Liền” nghe thơm thảo cả một miền Nam yêu dấu!

Vậy nha…anh Luân Hoán!

Trần Vấn Lệ

…………………………………….

(*) TVL ơi, mới đây mình có gặp lại Đỗ Hoàng Ngọc cùng nhóm bạn Phan Bội Châu ngày xưa. Cũng trên 60 năm rồi mới gặp nhau. Đỗ Hoàng Ngọc học về ngành Hóa ở Bách Khoa thời đó. Nay thấy khỏe vui. Mừng. (ĐHN)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

thơ Phan Bá Thụy Dương: Nói Với Thiền Khách

03/02/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

THƯ CỦA BẠN XA XÔI


On Feb 3, 2020, at 09:44, Phan Ba Thuy Duong

Ngọc thân,

Gởi toa bài thơ Nói Với Thiền Khách mình làm tặng bạn và anh Trần Thiện Hiệp.

2 tuần nữa mình sẽ rời Kobe để về Thuỵ sĩ. Vẫn luôn ghi nhớ những ngày ngao du cùng Ngọc ở Saigon.

Ráng giữ gìn sức khoẻ để thường xuyên đi làm những điều tâm nguyện và hữu ích cho đời, cho người…

Cầu cho bạn thân tâm luôn an lạc.

Tình thân,

Phan Bá Thụy Dương

 

 

………………………………………………………..

 

PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG

Nói Với Thiền Khách

Gởi ĐỗHồngNgọc, TrầnThiệnHiệp

 

Cánh vạc nào bay trong triền nắng sớm

Tiếng hót xa xăm như tận cõi trời

Sao u trầm chất ngất khách thiền ơi

Xin nhẹ bước trên lối mòn tỉnh lặng

 

Rừng cô tịch có gì đâu tra vấn

Lửa Chân Như có đủ ấm linh hồn

Đất bùn nào còn ghi lại dấu chân

Tâm vô niệm đường xa gần đi mãi

 

Có phải người đang quay về bến đợi

Gom lá vàng gỗ mục dưới trăng trong

Về đi thôi, đêm lạnh giá mênh mông

Áo nâu mỏng sao che mưa đở gió

 

Chim thức giấc cất lời ru thanh nhã

Người phong trần qua mấy độ truân chuyên

Thấy gì chưa tự ngã với uyên nguyên

Hay ngần ngại chia xa lòng thung lũng

 

Từ tiềm thức đã lạc quên long trượng

Đâu đây chừng thấp thoáng ánh vô ưu

Thiền khách này, thiền khách đã về chưa

Xin trả lại cho ta quê, tình cũ.

 

PHAN BÁ THUỴ  DƯƠNG

…………………………………………………………………….

Phan Bá Thụy Dương tên thật là Phan Bá Dương. Sinh năm 1940 tại quận Tuy Phong, Bình Thuận.
Khởi viết từ 1958 với các bút hiệu Thùy Dương, Người Áo Xanh, Vương Hầu… và từ năm 1966 về sau là Phan Bá Thụy Dương.

“Chủ nhân” trang Văn Hữu Vườn Tao Ngộ. Viết rất nhiều báo, làm Nhà xuất bản in sách cho thiên hạ, và thiên hạ in giùm lại cho một tập thơ duy nhất: Lời Gọi Cỏ May (2012).

(ĐHN)

……………………………………………………………………..

 

Lời Gọi Cỏ May của Phan Bá Thụy Dương

Đỗ Hồng Ngọc

Phan Bá Thụy Dương, tên thật Phan Bá Dương, sinh năm 1940 tại Tuy Phong, Bình Thuận, cùng học chung lớp Đệ thất A1 trường Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1954 với Trần Vấn Lệ, Phan Đổng Lý, Huỳnh Ngọc Hùng, Huỳnh Tấn Thời, Đỗ Hồng Ngọc…

Bọn tôi “thất lạc” nhau mấy chục năm, người góc biển kẻ chân trời, năm nay bỗng gặp lại nhau- tình cờ cũng là dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường Phan Bội Châu, Phan Thiết – đứa nào đứa nấy ngớ ra, đầu bạc răng long, ú ú ớ ớ rồi mày mày tao tao tíu tít như những cậu học trò nhỏ nghich ngợm ngày xưa bên bờ sông Cà Ty và bãi biển Thương Chánh!

Phan Bá Thụy Dương viết văn làm báo sớm, từ năm 1958 với nhiều bút hiệu, thân quen  nhiều người trong giới văn nghệ sĩ. Anh là một người “khoái hoạt”, vui tính, náo nhiệt, chuyện trên trời dưới đất gì cũng biết nên ai gặp cũng vui. Anh làm sách cho nhiều tác giả mà quên làm cho mình cuốn nào. Mãi nay bạn bè hối thúc quá mới in một cuốn “tuyển tập thơ văn Lời Gọi Cỏ May” cho vui. Lời gọi cỏ may có nhiều bài thơ cảm động, anh em bè bạn viết cho nhau.

Thơ Phan Bá Thụy Dương phải nói là hay, khoái hoạt mà khinh bạt, trầm lắng… Thử đọc một đoạn trong liên khúc vô thường:

 

liên khúc vô thường

 

ném công án, vất kinh thư bất ngộ

theo đường trăng-

trăng khi tỏ khi lu

tìm người hiền nơi thâm cốc âm u

thõng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ

giòng sinh mệnh

chừng nhuộm màu chướng khí

bến nhân gian ai quán niệm vô thường

hành trình xa ngựa đà lỏng dây cương

trên vách núi chân dung in mờ tỏ

…….

(LGCM, tr 4)

 

Phan Đổng Lý “vẽ” PBTD:

Nhớ Phan Bá Thụy Dương

 

Nhớ đến bạn già mà lòng ta ngán ngẩm

Nặng nhẹ bao lần như đàn khảy tai trâu

Miệng phập phì phèo, nặc nồng mùi khói tỏa

Mắt mở mơ màng, trầm mặc cuộc bể dâu!

Mải miết rong chơi trăm đường thành ngỏ cụt

(…)

Trời xanh chơi ác

Tuổi thơ ngổ ngáo, già lại ngu ngơ

Trầm thân vào chốn bụi mờ

Bạc đầu lưu lãng làm thơ gọi tình

(…)

 

Trần Vấn Lệ

Gửi Theo Phan Bá Thụy Dương

 

Bạn đã về chưa? Bạn đã về?

Đến nơi chưa vậy mà im khe!

Hỏi ai, chẳng biết ai han hỏi

Đợi bạn, không nghe bạn nói gì…

Tôi độ rày sao hay tức thở

Bạn hồn nhiên nhỉ vẫn ham đi

Tuổi người, chớp mắt, tôi thường chớp

Chắc khó có ngày ngó lại quê…

 

 

Đỗ Hồng Ngọc

Gửi Trần Vấn Lệ

(họa lại mấy vần)

 

Về đi! Sao bạn chẳng đi về?

Khế ngọt sim rừng đợi: nín khe

Bè bạn ấu thời còn mấy đứa

Người thơ cơm áo chớ lo gì!

Ruộng vườn hoang rậm thôi, đừng nhắc

Sông nước gập ghềnh mặc, bỏ đi

Áo ngoại vẫn phơi ngoài giậu trúc

Cơi trầu thơm mãi chút hồn quê…

 

Sg 16.9.2012

………………………………………….

Bạn nhớ hái ăn chùm khế ngọt

Tôi quên để héo trái sim còi…

 (thơ TVL)

 

(Nguồn: https://www.dohongngoc.com/web/huom-huom/gia-oi-chao-ban/loi-goi-co-may/)

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Thư đi tin lại, Vài đoạn hồi ký

Xá-lợi-phất và Duy-ma-cật

27/01/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Xá-lợi-phất và Duy-ma-cật

Đỗ Hồng Ngọc

 

(Internet)

Hôm đó ở thành Tỳ-da-ly,  Duy-ma-cật tiếp Bảo Tích và năm trăm vị vương tôn công tử, thiếu gia con nhà viên ngoại, là những “Bồ-tát tại gia” tương lai, đối tượng đích của buổi “huấn luyện đặc biệt” tại cái thất trống trơn của ông, có mặt Xá-lợi-phất, đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật và có cả Bồ tát Văn Thù cùng một số lớn các vị Đại đệ tử khác.

Lúc bấy giờ, Xá-lợi-phất thấy trong thất của Duy-ma-cật trống huơ trống hoắc không có giường ghế chi cả, liền đặt câu hỏi:

“Chư vị Bồ Tát và các Đại đệ tử này rồi sẽ ngồi ở đâu?”

Ai nấy chưng hửng. Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi và Duy-ma-cật đang thuyết giảng về con đường tu tập: “Bồ-tát phải có nội lực (trí huệ), phải có chiêu thức (phương tiện), biết dùng «sức phương tiện». Rồi nào Vô sở trụ, Vô sở đắc… rồi nào sống trong  thực tướng vô tướng mà vẫn thấy chân không diệu hữu… nào chuyện lớn như bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bố thí, trì giới, nhẫn nhục… thì một vị Đại đệ tử trí tuệ bật nhất của Đức Phật đặt một câu hỏi trớt quớt, tầm thường vậy sao?

Nhưng không. “ Rồi sẽ ngồi ở đâu?” rõ ràng là một vấn đề mấu chốt của buổi huấn luyện nhằm đào tạo các vị Bồ-tát tương lai này. “Rồi sẽ ngồi đâu?” phải đặt ra để xác định vai trò, vị trí, nhiệm vụ của một Bồ tát tại gia cũng như các Đại đệ tử muốn đi vào con đường Bồ tát đạo.

Từ đó, một câu hỏi tiếp theo sẽ là họ có đủ sức “ngồi” chưa? Họ có lòng đại bi, không “ái kiến” chưa? Có nhu hòa nhẫn nhục chưa? Có thấy biết và sống với “nhất thiết Không” chưa?

Nhiệm vụ trước hết của một vị Bồ-tát có lẽ phải là một vị Pháp sư chân chánh, truyền bá được giáo pháp của Phật để “thành tựu chúng sanh”. Những lời dạy của Phật trong kinh sách không chỉ để “thọ trì, đọc tụng” mà còn phải “biên chép, giảng nói”. Phải hiểu rõ ẩn nghĩa từng câu từng chữ trong kinh, phải biết diễn giải tùy tình huống, tùy đối tượng. Phật “khai thị”, nhưng chúng sanh phải tự mình “ngộ nhập” mới xong. Không chỉ vậy, không chỉ thuyết giảng bằng lời mà còn phải là một tấm gương “tự chứng, tự nội” của một thiền giả.

Để có thể làm một Pháp sư chân chánh thì phải đáp ứng 3 điều kiện: “Vào nhà Như Lai; Mặc áo Như Lai; Ngồi tòa Như Lai.. Vào nhà Như Lai là có lòng từ bi rộng lớn, thấy chúng sanh đều như cùng “chung một mái nhà”; mặc áo Như Lai là có đức nhu hòa nhẫn nhục; và quan trọng nhất là thấu triệt tánh Không, duyên sinh, vô ngã, thực tướng vô tướng…

Duy-ma-cật liền quay sang hỏi Bồ-tát Văn-thù: “Nhân giả  có biết cõi Phật nào có những tòa sư tử đủ các công đức, đẹp đẽ cao trọng, mầu nhiệm hơn hết?” dĩ nhiên là để mượn về làm chỗ ngồi cho các vị.
”Tòa sư tử đủ các công đức, đẹp đẽ cao trọng, mầu nhiệm hơn hết ” ư? Phải, tòa sư tử chính là nơi chư Phật, chư Bồ-tát ngồi thuyết pháp. Lời thuyết pháp như sư tử hống, như tiếng rống của sư tử. Trên thực tế, “tòa sư tử” đó có khi chỉ là một vệ cỏ, một gốc cây, một tọa cụ đơn sơ… nhưng nó đã trở thành “tòa sư tử” bởi chính vị Pháp sư chân chánh ngồi thuyết pháp trên đó.

Văn-thù đáp: “Cư sĩ, từ đây đi về phương đông, vượt qua số cõi nước nhiều như số cát ba mươi sáu sông Hằng, có một thế giới tên là Tu-di Tướng. Đức Phật cõi ấy hiện nay hiệu là Tu-di Đăng Vương, thân cao đến tám mươi bốn ngàn do-tuần. Tòa sư tử của ngài cũng cao đến tám mươi bốn ngàn do-tuần, nghiêm sức bậc nhất.”

Tức khắc, ba mươi hai ngàn tòa sư tử cao rộng nghiêm tịnh cao đến tám mươi bốn ngàn do-tuần đó bay vèo đến thất của Duy-ma-cật mà không hề gây chướng ngại chi cả, bốn cõi thiên hạ cũng không có sự dồn ép chật chội, vẫn y nguyên như cũ…

Duy-ma-cật bảo Xá-lợi-phất: “Thỉnh ngài lên ngồi tòa sư tử.”
Xá-lợi-phất đáp: “Cư sĩ! Tòa ấy cao rộng quá, tôi không thể lên ngồi.”
Duy-ma-cật nói: “Thưa ngài Xá-lợi-phất! Ngài hãy lễ bái đức Như Lai Tu-di Đăng Vương, rồi sẽ ngồi được thôi!”

Lúc ấy, những vị Bồ Tát mới phát tâm cùng các Đại đệ tử liền “lễ bái” đức Như Lai Tu-di Đăng Vương. Các vị liền được ngồi lên các tòa sư tử.

“Lễ bái” là thực hành, là rèn luyện để có trí huệ sáng suốt, rộng lớn (Tu di Đăng vương), để thấy biết, để sống trong Như Lai thì mới có thể lên tòa sư tử đó mà ngồi để thuyết pháp, để làm một Pháp sư chân chánh.

Bấy giờ đã gần giờ ngọ, Xá-lợi-phất lại hỏi: “Sắp đến giờ thọ thực rồi. Các vị Bồ-tát này sẽ ăn thức gì đây?”.

Nữa. Vừa mới đòi hỏi chỗ ngồi giờ đến đòi hỏi chuyện ăn. Cứ đến lúc mọi người đang bay bổng trên chín từng mây với những lý luận cao vời thì Xá-lợi-phất lại kéo ngay xuống mặt đất!

Ăn không phải là chuyện hệ trọng sao? Đức Phật tới giờ ăn mà còn phải khoác y, trì bát vào thành khất thực, mang về đạo tràng ăn uống xong xuôi đâu đó rồi mới rửa chân lên ngồi… nhập định trước khi thuyết giảng Kim Cang Bát Nhã đó sao?

Dĩ nhiên, Xá-lợi-phất hỏi “các vị Bồ Tát này sẽ ăn thức gì đây” mang một ý nghĩa khác: các vị Bồ tát tại gia tương lai này sẽ được nuôi dưỡng bằng “thức ăn”gì đây  để có thể trưởng thưởng tâm Bồ đề mà thực hiện tốt các hoạt động của một vị Bồ-tát chân chánh nhằm “thành tựu chúng sanh”?

Duy-ma-cật lên tiếng: “ Xin đợi cho giây lát, tôi sẽ khiến quý vị được thứ thức ăn chưa từng có.”.

Thứ thức ăn chưa từng có ư? Với các vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà trưởng giả này thì cao lương mỹ vị có gì là lạ, tổ yến hồng sâm, nem công chả phượng có gì là lạ.

Họ háo hức chờ đợi Duy-ma-cật mang lại thứ thức ăn “chưa từng có” là gì đây!

Thì ra… Duy-ma-cật mang đến một mùi hương! Một mùi hương thơm. Thứ “thức ăn” xin được từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích!

Duy-ma-cật liền nhập vào Tam-muội, dùng sức thần thông khiến cho đại chúng nhìn thấy về hướng trên, cách đây nhiều cõi Phật liên tiếp nhau như số cát của bốn mươi hai con sông Hằng, có một cõi nước tên là Chúng Hương, hiện có đức Phật hiệu là Hương Tích ngự tại đó….

Phật dạy có bốn loại thức ăn để nuôi dưỡng thân và tâm. Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực. Đoàn thực là thứ thức ăn để nuôi thân được nói trước tiên. Không có thân sao có tâm? Không có sắc sao có thọ tưởng hành thức ? Tứ đại ngũ uẩn quan trọng quá chứ! Thân là một « bảo tháp » để tâm quay về nương tựa!  Nhìn 32 tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của Phật mà coi, chắc chắn khác hẳn cái thời lang thang khổ hạnh, suýt chết, tâm thần lãng đãng, thân thể chỉ còn xương bọc da, sờ tay vào bụng thì đụng phải cột sống ! Nhờ một chén sữa mà tỉnh giấc dưới cội Bồ đề. Từ đó, Thành đạo. Từ đó, Chuyển pháp luân. Nhưng suốt đời Phật, ba y một bát, tiết độ, kham nhẫn, tri túc. Ngày nay người ta dễ chạy theo lợi dưỡng, món ngon vật lạ, để rồi béo phì, tiểu đường, tăng huyết áp, tim mạch, gút… khổ thân!

Mỗi khi gặp một vị Phật, sau khi cung kính đảnh lễ, thì câu chào hỏi đầu tiên bao giờ cũng là: “Việc ăn uống thức ngủ của Ngài ra sao ? Ngài ít bệnh ít não chăng? Khí lực được an ổn chăng?” Nghĩa là luôn luôn thăm hỏi một vị Phật, một vị Như Lai về những nhu cầu tồn tại của cuộc sống (physical needs): Ăn, uống, ngủ, nghỉ, bệnh đau, phiền não, hít thở…

Còn xúc thực, tư niệm thực… ngày nay mới thật đáng ngại. Sách báo, phim ảnh, truyền hình, công nghệ thông tin ngày càng phát triển càng mang đến những nguy cơ cao về đời sống tinh thần của con người. Dĩ nhiên không phải lỗi tại sự tiến bộ của khoa học.

Trở lại với thứ thức ăn chưa từng có của Duy-ma-cật mang về là một mùi hương! Một thứ hương thơm đủ để nuôi cả thân và tâm bất tận. Đó chính là Giới đức. Thứ hương thơm có thể bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. Phải được huân tập lâu ngày chày tháng. Giới từ luật nghi mà có nhưng giới cũng từ định, từ huệ. Hương thơm đó phải tích lũy từ từ mới đầy dần lên, mới sung mãn, tràn trề…

Cho nên Phật Hương Tích xuất hiện. Các vị Phật thật dễ thương. Lúc nào cũng sẵn sàng xuất hiện khi có ai đó cần đến ! Đức Phật Hương Tích lấy cái bát ở cõi Chúng Hương, đơm đầy cơm thơm, trao cho vị hóa Bồ Tát mang về cho Duy-ma-cật làm « Phật sự ». Phải đích thân Phật Hương Tích san sẻ món « cơm thơm » đó trao cho vị hóa Bồ-tát. Một pháp thí.

Duy-ma-cật mời: “Các nhân giả, hãy dùng món cơm cam-lộ của Như Lai, do lòng đại bi hun đúc mà thành”. Thứ « thức ăn chưa từng có” đó không sợ thiếu, luôn đủ cho tất cả mọi người, vì đó là một thứ « vô tận hương »…

Rõ ràng Xá-lợi-phất và Duy-ma-cật đã dựng nên một màn sắm vai (role playing) “tung hứng” làm cho buổi giảng trở nên hào hứng và sinh động…

(ĐHN)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

“NHƯ KHÔNG THÔI ĐI ĐƯỢC!…”

25/01/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

NHIỀU TÁC GIẢ

“NHƯ KHÔNG THÔI ĐI ĐƯỢC…!”

NHỮNG BÀI VIẾT VỀ THƠ 

ĐỖ HỒNG NGỌC (ĐỖ NGHÊ)

 

NGÔ NGUYÊN NGHIỄM * ĐỖ TRUNG QUÂN

TRẦN VẤN LỆ *  Ý NHI *  LAM ĐIỀN

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG * THU THỦY (VÕ PHIẾN)

THÂN TRỌNG MINH

NGUYỄN THÁNH NGÃ * PHAT’S BLOG

ĐỖ HỒNG NGỌC

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

NGUYỄN THỊ TỊNH THY

LÊ UYỂN VĂN * THY NGỌC

LƯƠNG THƯ TRUNG

TÔ THẨM HUY * HUỲNH NGỌC CHIẾN

HỒ ĐÌNH NGHIÊM

PHAN CHÍNH * LÊ NGỌC TRÁC

DU TỬ LÊ * ELENA PUCILLO TRUONG

PHAN TẤN HẢI

LUÂN HOÁN

Phụ bản nhạc: Hoàng Quốc Bảo, Vĩnh Điện, Võ Tá Hân, Khúc Dương

 

“Như Không Thôi Đi Được…!” những bài viết về Thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê) do tôi tuyển chọn, gom góp thành một “Tệp tuyển” đọc vui trong những ngày tháng “Về thu xếp lại” này, như một kỷ niệm rất riêng tư và mong được chia sẻ cùng những bạn bè thân thiết…

Tuyển chọn: Đỗ Hồng Ngọc

Dàn trang: Nguyễn Hiền – Đức

(Saigon, tháng 1. 2020)

 

Tho DHN Ok NKTDD

Ghi chú: Cuối mỗi trang sách có mũi tên trắng để lật trang lên xuống tùy nghi.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thư đi tin lại, Vài đoạn hồi ký

Phật cười dưới trăng…

24/01/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Phật cười dưới trăng…

(Internet)

Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…” giữa đêm trăng Lăng Già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ tát.

Giữa đỉnh núi ở trên đảo Lăng Già đêm trăng đó khi nhìn những ánh vàng bập bềnh trên sóng nước, vỡ tan, vỡ tan theo từng con sóng, Phật đã cất tiếng cười to. Ánh trăng vỡ tan rồi gom tụ lại. Rồi vỡ tan, rồi gom tụ lại. Thế giới muôn hồng ngàn tía cũng chỉ do Thức tâm tạo ra. Nó như huyễn, nó như mộng, như bào ảnh, như sương mai, như ánh chớp… Bên dưới đó, là Như Lai tạng, là A-lại-da vẫn im ả, “như như bất động”. Chỉ có cái thức tâm phân biệt của ta quậy phá chính ta. Cái tâm thanh tịnh bổn nhiên kia thì vẫn im ắng. Không lay động. Vẫn bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Vì thức khởi mà sự sinh. Thế giới chỉ là tâm thức của chính mình. Chúng sanh là ảo vật do ảo thuật gia là ta vẽ bày để rồi tự mình phan duyên, dính mắc, khổ đau…

Bồ tát thấy biết như vậy, thấy biết nhứt thiết duy tâm tạo, thấy chúng sanh là ảo vật do chính mình tạo ra rồi thức tâm phân biệt, chấp trước mà khổ đau bèn nói thẳng cho mọi người cùng biết. Nói thẳng ra như thế mới là “lòng Từ chân thật”, không giấu giếm, che đậy, không hù dọa, gạt gẫm nhau chi! “Trí chẳng đắc có không/ Mà hưng tâm đại bi”.

“Sao gọi là Từ? Bồ-tát nhờ hành Từ phương tiện nên thị hiện tất cả. Nhờ hành Từ không uẩn khúc nên lòng dạ trong sạch. Nhờ hành Từ không dối trá nên không có việc hư giả. Nhờ hành Từ an lạc nên được cái vui…

Sao gọi là Bi? Có được bao nhiêu công đức đều chia sẻ hết cho chúng sinh.

Sao gọi là Hỷ? Làm lợi ích cho chúng sinh thì vui vẻ không hối tiếc.

Sao gọi là Xả? Làm những việc phước đức mà không hề mong nhận được phước báo”. (Duy-ma-cật).

Tâm bất sinh thì vô sinh. Vô sinh thì vô sự.  Dứt mọi phân biệt của thức tâm thì không bị quậy phá nữa. Ở đó là Như Lai tạng. Nhất thiết chủng trí. Đại viên cảnh trí. Bởi cái thế giới đối tượng bên ngoài kia không gì khác hơn là chính cái Tâm.

Thấy biết Như Lai, thì sống với Như Lai, sống trong Như Lai, sống cùng Như lai. Cho nên Phật cười thật sảng khoái!

Đỗ Hồng Ngọc

(Đặc san Liễu Quán, Huế. Xuân Canh Tý 2020) 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Thư gởi bạn xa xôi: Chợ quê NgàyTết

21/01/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Chợ quê NgàyTết

Bạn biết rồi đó. Giữa Saigon “hoa lệ” này mà tìm được một góc Chợ quê Ngày Tết không phải dễ đâu nhe! Hôm nay đã là 25 Tết Canh Tý 2020 rồi đó.

Vây mà có một góc phố chật hẹp đủ cho một cây đa cổ thụ um tùm, đã có các bà mẹ, em thơ áo dài xanh đỏ lại qua, có người xúm xít “tranh thủ” mua sắm rau củ quả, bánh trái các thứ cho ngày Tết… có kẻ xì xụp mấy món nóng hổi nào cháo lòng, bánh canh, bún bò huế rồi gỏi bò khô, rồi bánh cam, bánh ú, rồi chuối chiên, bánh thuẩn… không thiếu thứ gì. Toàn “nhà làm” mới quý chớ phải không? Có nhóm bày trò chơi cho trẻ thơ để các mẹ an tâm đi “chợ”… Đặc biệt có nhóm đang gói bánh chưng cho các  bệnh nhi đang nằm bệnh viện…

Coi mấy tấm hình cho vui thôi nhe. Làm biếng tổ rồi.

 

nhóm gói bánh chưng cho các bệnh nhi

 

nhóm “tranh thủ” mua sắm chút rau trái

 

nhóm xì xụp mấy món ăn nóng hổi

 

trẻ thơ xúm xít nghe kể chuyện hình

 

Có một… ông lão ngồi bán rỗ khoai… ế!  

 

Rồi bèn bày trò: một ông (ĐHN) thì coi bói, coi chỉ tay; còn một ông (LKT) thì lắc Bầu Cua Cá Cọp… Vậy mà chẳng mấy chốc khách tụ lại rất đông!

Thân mến,

ĐHN

(Cảm ơn Hội quán Các Bà Mẹ).

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 27
  • Trang 28
  • Trang 29
  • Trang 30
  • Trang 31
  • Interim pages omitted …
  • Trang 96
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ
  • Tâm Nhiên: “DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Sách song ngữ Việt Anh: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HANH PHÚC
  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email