Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Ngôn Ngữ số đặc biệt: Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc (tháng 5-2024)

23/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

 

 

NGÔN NGỮ

TẠP CHÍ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT SỐ ĐẶC BIỆT

ĐỖ NGHÊ  ĐỖ HỒNG NGỌC

THÁNG 5 NĂM 2024

 

NHÓM CHỦ TRƯƠNG:

Luân Hoán – Song Thao – Nguyễn Vy Khanh – Hồ Đình Nghiêm – Lê Hân

CỘNG TÁC TRONG SỐ NÀY:

Ban Mai, Du Tử Lê, Duyên, Đinh Cường, Đinh Trường Chinh, Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, Đỗ Thị Thanh Nga, Đỗ Trung Quân, Đỗ Trường, Elena Pucillo Truong, Hồ Đình Nghiêm, Hoàng Quốc Bảo, Huỳnh Như Phương, Huỳnh Ngọc Chiến, Khuất Đẩu, Khúc Dương, Lam Điền, Lê Chiều Giang, Lê Ký Thương, Lê Minh Quốc, Lê Ngọc Trác, Lê Uyển Văn, Luân Hoán, Lữ Kiều Thân Trọng Minh, Lương Thư Trung, Minh Lê, Ngân Hà, Ngô Nguyên Nghiễm, Nguyên Cẩn, Nguyên Giác Phan Tấn Hải, Nguyễn An Bình, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Hậu, Nguyễn Lệ Uyên, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Quang Chơn, Nguyễn Thánh Ngã, Nguyễn Thị Khánh Minh, Nguyễn Thị Ngọc Hải, Nguyễn Thị Phương Trinh, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nguyễn Thiên Nga, Nguyễn Xuân Thiệp, Phạm Bảo Kim, Phạm Chu Sa, Phạm Hiền Mây, Phan Chính, Phat’s Blog, Tâm Nhiên, Thu Thủy, Thy Ngọc, Tô Thẩm Huy, Trần Hoài Thư, Trần Thị Nguyệt Mai, Trần Vấn Lệ, Trang Châu, Trịnh Công Sơn, Trịnh Y Thư, Trương Đình Uyên, Trương Trọng Hoàng, Vĩnh Điện, Võ Tá Hân, Ý Nhi.

 

BÌA: Uyên Nguyên Trần Triết

HÌNH BÌA: Nhà thơ – Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc (Ảnh: Tăng Hưng)

ĐỌC BẢN THẢO: Trần Thị Nguyệt Mai

DÀN TRANG: Công Nguyễn

 

LIÊN LẠC:

Thư và bài vở mời gởi về:

-Luân Hoán: lebao_hoang@yahoo.com -Song Thao: tatrungson@hotmail.com

TOÀ SOẠN & TRỊ SỰ:

Lê Hân: (408) 722-5626  han.le3359@gmail.com

 

THƯ ĐẦU SÁCH 

Cuốn Tác Giả Tác Phẩm Đỗ Nghê  Đỗ Hồng Ngọc này là bước tiếp theo sau các ấn bản về Cung Tích Biền, Ngô Thế Vinh, Phạm Cao Hoàng, cùng một thể loại, do tạp chí Ngôn Ngữ tại Hoa Kỳ chăm sóc, giới thiệu.

Tác phẩm này vốn đã được tác giả và nhóm bạn viết của ông thực hiện và phổ biến dưới dạng eBook. Theo nhà văn Nguyên Giác Phan Tấn Hải tổng kết đơn giản, sách có tên gọi “Thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc  Như Không Thôi Đi Được”. Sách tập trung bài viết của chừng 30 tác giả, gồm các nhà văn, nhà thơ và sách chỉ có mục đích để tặng; không thấy ghi năm phát hành.

Chúng tôi vốn rất thích thơ và tạp bút của Nhà thơ – Bác sĩ này từ trước 1975, và được biết nhà thơ Trần Thị Nguyệt Mai, một thành viên trong Ngôn Ngữ quen thân với ông, nên đã nhờ chị bắt liên lạc xin phép, nhằm thực hiện một số đặc biệt. Và nhà thơ Đỗ Nghê đã đồng ý.

Xin được nhắc lại, một số Ngôn Ngữ đặc biệt gồm hai phần: giới thiệu về một tác giả, và sáng tác thơ văn biên khảo từ nhiều người viết gởi đến. Trong thời gian qua, chúng tôi đã phát hành được các số về họa sĩ Khánh Trường, nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh, nhà văn Trần Hoài Thư, nhà văn Nguyên Minh, nhà văn Song Thao, nhà văn Hồ Đình Nghiêm, nhà thơ Lê Hân. Các số này tư liệu của mỗi người đi phần đầu trong hơn nửa số báo. Với những tác giả vừa kể, phần tư liệu của họ cũng dồi dào, đủ để in riêng, tiếc rằng lúc đó chúng tôi chỉ nghĩ đến việc thực hiện theo khuôn báo cũ, mà cắt bớt, hạn chế số trang. Nhà văn Cung Tích Biền là người đầu tiên yêu cầu đi hết phần tư liệu của ông. Chúng tôi chấp nhận, và tiếp tục chấp nhận hình thức này cho đến nay, với số về nhà thơ Đỗ Nghê  Đỗ Hồng Ngọc. Nhưng lần thứ tư này, cũng là lúc chúng tôi quyết định trả lại tính cách sách cho tác phẩm, dẫu vẫn do tạp chí Ngôn Ngữ trực tiếp chăm sóc để in. Trong khi đó, những số Ngôn Ngữ đặc biệt gồm hai phần cũng sẽ được tiếp tục.

 

Phần I: Tiểu sử tác giả, tác phẩm đã in – chân dung tác giả qua ảnh chụp cùng phác họa của bè bạn hoặc tác giả tự họa.

Phần II: Phần thơ, văn tác giả tự chọn, đặc biệt chúng tôi đi trọn tập thơ “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”, một thi phẩm chính tác giả và đa số người đọc ưa thích, ưu ái cảm nhận.

Phần III: Phần văn xuôi đi tiếp sau thơ. Tác giả Đỗ Hồng Ngọc tự nhận không giỏi hư cấu, nên ông chỉ cho giới thiệu một truyện ngắn duy nhất viết trước 1975; đa phần sáng tác còn lại là tùy bút, tạp ghi, tản mạn… Những bài viết này thường ngắn nhưng cũng xuất sắc như thơ, bởi qua đó những nhận xét tinh tế về cuộc sống, tình người, được ông phơi bày một cách đơn giản, nhưng sâu sắc như những bức ảnh chụp đủ chân tình, giàu dí dỏm. Mỗi tạp ghi là một cảnh sống linh động, chúng ta có cảm tưởng ông thật dồi dào vốn sống đời thường. Ông là một bác sĩ cao tay nghề, một người học Phật uyên thâm lại rất thích truyền đạt hiểu biết của mình theo một cách riêng. Tính ít nói cười nhưng sự nghiêm túc, được tâm hồn phóng khoáng giúp ông chơi thêm một trò vẽ vời nữa, cũng thi vị đậm đà không kém những bộ môn kể trên.

Bên cạnh đó, với ưu điểm thơ “hay” (xin gọi ngắn gọn như vậy) lại thường ngắn ngắn nên thơ ông được các nhạc sĩ Miên Đức Thắng, Phạm Trọng Cầu, Trương Thìn, Hoàng Hiệp, Khúc Dương Đặng Ngọc Phú Hòa, Nguyễn Thanh Cảnh, Hoàng Quốc Bảo, Vĩnh Điện, Tôn Thất Lan, Võ Tá Hân, Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh… đồng cảm phổ thành ca khúc. Chuyện phổ thơ ông không nằm phong trào phổ cho có, phổ để in làm phụ bản. Thơ phổ nhạc của ông được đưa đến quần chúng thưởng ngoạn qua nhiều ca sĩ trình bày, trong đó có cả giọng ca rất được giới ưa thích nhạc thính phòng ái mộ, đó là tiếng hát của nữ ca sĩ Thu Vàng.

Phần IV: Tập trung những bài giới thiệu, cảm nhận… của rất nhiều cây viết chuyên nghiệp qua nhiều thời kỳ xuất hiện trên văn đàn.

Chân thành cảm ơn tác giả Đỗ Nghê  Đỗ Hồng Ngọc cùng tất cả nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ có tên, góp mặt trong cuốn sách này.

 

Luân Hoán

cùng nhóm chủ trương Ngôn Ngữ

…………………………………………….

Quý độc giả muốn có sách vui lòng
Liên lạc với Lê Hân: 
Cell: (408) 722-5626
eMail: han.le3359@gmail.com

 

Thuộc chủ đề:Một chút tiểu sử, Vài đoạn hồi ký

TRANG CHÂU: Chữ ‘’em’’ trong thơ Đỗ Nghê

18/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Chữ ‘’em’’ trong thơ Đỗ Nghê

Trang Châu

 

Kể từ thời Thơ Mới, hiếm nhà thơ trong đời làm thơ mà không hơn một lần dùng chữ em trong thơ của mình. Thông thường em là người yêu, người tình của một mối tình, công khai hoặc câm nín, hai chiều hay một chiều. Và hình dáng, màu sắc, âm vang của em cũng đổi thay theo thời gian, theo cảnh huống cùng nỗi lòng nhà thơ.

Tôi biết không nhiều về nhà thơ Đỗ Nghê, bút danh của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thời tôi làm trưởng ban Thơ cho tờ Nguyệt San Tình Thương của sinh viên Y khoa Sài Gòn, từ đầu năm 1964 đến hết năm 1965, là năm cuối y khoa của tôi, thỉnh thoảng tòa soạn Tình Thương nhận được thơ của anh Đỗ Nghê. Có một bài thơ đã làm tôi nặng trĩu lòng sau khi đọc. Nhân vật trong bài thơ được tác giả trìu mến gọi là em. Nhưng em ở đây không phải là người yêu, người tình mà là một em bé sơ sinh. Em bé đó là ca đỡ đẻ đầu tiên của anh sinh viên Y khoa năm thứ 3 ở bảo sanh viện Từ Dũ. Đứa bé vừa chào đời được anh bác sĩ tương lai dự đoán cho một tương lai không mấy sáng sủa, với khung cảnh máu lửa của đất nước lúc bấy giờ:

 

“ Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu

Nói là để ngừa đau mắt

Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực

Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen

 

Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh

Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa

Một ngày đã thức giấc với vội vàng, với hoang mang,

Với những danh từ đao to búa lớn

Để bịp lừa để đổ máu đó em

 

Khi niềm tin chỉ còn là nỗi đắng cay:

 

Thôi trân trọng chào em

mời em nhập cuộc

chúng mình cùng chung

số phận…

con người.’’

 

Bài thơ, ở một khía cạnh nào đó, có thể được xếp vào loại phản chiến vào thời điểm ấy.

Đỗ Nghê bước vào tuổi trẻ đầu nặng đầy thế sự, lòng nghẹn ngào, cay đắng với nỗi ám ảnh tang tóc gây nên bởi chiến tranh. Nhà thơ, xuyên qua người em, chẳng cần rõ trai hay gái, miễn là một em nhỏ, để nhắc nhở, để phụ họa cho thảm cảnh mà chính mình cùng nhân dân cả nước đang chịu đựng:

 

“ Em khóc đi em, khóc đi rồi anh dỗ

khóc nhiều hơn, khóc nhiều nữa đi nghen

Này tủi nhục với niềm đau nỗi khổ

của quê mình không đáng khóc sao em?“

 

Tuy vậy vẫn còn chút an ủi: Cái may mắn cho Đỗ Nghê, tác giả mấy bài thơ viết vào dạo đó và cả tôi, người chọn đăng mấy bài thơ ấy, không đứng ở đất phía bên kia.

Sống ở hải ngoại, sau mấy mươi năm, qua các diễn đàn, thấy thơ của Đỗ Nghê tái xuất hiện, bên cạnh những bài viết về Phật học, về thiền, về vô thường, về sắc không, về tứ khổ, diệt khổ. Về thơ, tôi tò mò muốn biết chữ em trong thơ Đỗ Nghê bây giờ đi về đâu. Em bây giờ của Đỗ Nghê có lúc là đại diện cho nhà thơ để anh gởi gắm nỗi niềm nhớ quê của mình:

 

‘’Em có về thăm Mũi Né yêu

Mười năm như một thoáng mây chiều

Mười năm vườn cũ chim bay mỏi

Áo trắng, chân mềm em hắt hiu.

Mũi Né ơi, người xưa đã xa

Mùa ơi, gió bấc nhớ không ngờ

Năm nay người có về ăn Tết

Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ?“

 

Mình xa quê hương thì mình nhớ. Người yêu xa thành phố cũ của hai người cũng làm nhà thơ cảm thấy mất mát để luyến tiếc chốn xưa:

``Thành phố nơi ta đã lớn lên

nơi ta hò hẹn buổi đầu tiên…“

“Thôi thế từ nay em sẽ xa

Nửa vòng trái đất cõi người ta

Mai sau dù có bao giờ nữa

Thành phố – lòng mẹ vẫn bao la.``

 

Tạm rời xa quê hương để đi tu nghiệp ở xứ người, em trong thơ Đỗ Nghê bây giờ là một thứ hương gây mùi nhớ. Cho nên món quà em tặng anh đầy hương vị, không phải hương vị từ em cho anh, mà hương vị qua em làm anh nhớ quê hương:

 

“Chiếc áo của em

Món quà em tặng

Chiếc áo lạ lùng

Có mùi biển mặn

Có mùi dừa xiêm

Có mùi cát trắng

Có mùi quê hương.“

 

Em trong thơ Đỗ Nghê ở đây chỉ còn là cái cớ để tác giả từ đó khơi tìm một hình ảnh khác bao la hơn:

 

“ Tôi sẽ về thăm quê em

Trìu mến tình dân miền biển

Tháng năm nghèo một con thuyền

Sóng khơi suốt đời yêu mến…“

 

Nhưng rồi cuối cùng Đỗ Nghê cũng phải đi theo lề phải với chữ em muôn thuở là người tình trong tình yêu nam nữ. Thơ tình của Đỗ Nghê thường đằm thắm, kín đáo nhưng cũng có lúc sôi nổi, bạo dạn, đôi khi pha chút lập luận có tính xác suất (probabilité) nghiêng lợi phía mình. Đây không biết có phải là cái tính hay cái tật của mấy chàng “toubib“ làm thơ:

 

“Lá chín vàng

 lá rụng về cội

Em chín vàng

chắc rụng

về anh.“

 

“Bởi em là riêng anh đó

Bởi anh là của em thôi

Như nắng là riêng của gió

Như biển là riêng của trời.“

 

Tuy vậy lập luận kiểu có tính xác suất đôi khi cũng đem lại âu lo cho nhà thơ: Nhận được thư người yêu không chịu mở ra xem ngay lại cất giữ mang về nhà mới đọc:

 

“Về nhà bó gối ngồi một mình

Sờ sờ nắn nắn thơ mong manh

Chắc chỉ đôi lời thăm hỏi vậy

Đọc chi cho thấy lòng buồn tênh.“ 

 

Cũng có đôi lúc nhà thơ nghe đời mình trống vắng, cô đơn khi tìm về chốn cũ thấy thiếu vắng người yêu:

 

“Ta về lối cũ

Nghe lòng lạnh băng

Thiếu em hoàng hậu

Ngai vàng như không.“

 

Hiếm lắm mới nhặt được một sợi buồn trên mái thơ tình của Đỗ Nghê:

 

“ Mới đó mà em đã cố nhân

Lòng đau như cắt hiểu gì không

Hoa vàng đã rụng đầy sân vắng

Tình cũng ngùi phai theo tháng năm.“

 

Nhưng nhìn chung, em mang vào cuộc đời nhà thơ niềm vui, hạnh phúc nhiều gấp bội so với nỗi buồn, nỗi khổ. Chính nhà thơ đã phải thốt lên lời cảm tạ:

 

“ Cám ơn em đến

Mùa xuân của anh

Hoa vàng nở muộn

Bên trời nắng hanh

Cám ơn em đến

Mùa xuân của anh

Nhịp đời bước chậm

Cho lòng còn xanh.“

 

“ Cám ơn em năm tháng

đã theo già cùng anh.“

 

“ Em mang biển mặn

lùa vào tay anh

Em mang rêu xanh

lùa vào ngực ấm

Em mang xuân thắm

lùa vào giá băng.’’

 

Để mong mỏi sự chăm sóc của người yêu, Đỗ Nghê tỏ ra hơi tham lam:

 

“Anh không có ngày sinh nhật

nên mỗi ngày

là sinh nhật của anh

Cám ơn em

nhớ đến anh

ngày sinh nhật.“

 

Nhà thơ còn táo bạo mang cả tôn giáo vào để dẫn chứng tình yêu của mình:

 

“Em tin có Chúa

ngự ở trên cao

còn anh tin Chúa

ngự ở trong nhau

 

Đưa em đi lễ

vầng trăng treo nghiêng

Em làm dấu thánh

anh làm dấu em.“

 

Bạo dạn khi cần nhưng đề cao nàng cũng đúng lúc. Viết tên nàng trên cát rồi nhờ gió cuốn đi, sóng cuốn đi để cho “tên em mênh mông đại dương“:

 

“Anh vẽ ngoằn ngoèo trên cát

không ngờ mà hóa tên em

Biển xanh, nắng vàng, sóng bạc

không ngờ cùng kéo nhau xem.“

 

Mặc dù ở đâu đó Đỗ Nghê có phát biểu chê những bài thơ sáng tác thời tuổi trẻ của mình là “nhà quê, na ná thơ tiền chiến. Thơ tình thì chẳng có gì đáng nói.“ Tôi cho đó là lời khiêm tốn của nhà thơ. Tôi nghĩ thơ hay, thì thời nào, dưới hình thức nào nó cũng vẫn hay.

Năm 1965, tôi có làm bài thơ tình ngắn:

“Nếu em không là Hồng, là Mai, là Cúc

thì xin gọi em là em

Người con gái phụng phịu trả lời: Em muốn

anh gọi em bằng… tên anh!“

Tài hoa và tên tuổi như Đỗ Nghê chắc không thiếu gì em xin gọi em bằng tên anh. Nhưng tôi tin người đầy Phật tính như Đỗ Nghê chắc chỉ cho một em lấy tên mình thôi.

 

Trang Châu

Montréal, 05/03/2024

(NGÔN NGỮ Số đặc biệt Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc, tháng 5-2024)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

NGUYỄN ĐỨC TÙNG: Đỗ Hồng Ngọc, Cuộc đời đầy kinh ngạc

17/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Đỗ Hồng Ngọc, Cuộc đời đầy kinh ngạc

NGUYỄN ĐỨC TÙNG

 

Thơ làm chúng ta gần lại với nhau. Cảm hứng thơ ca của Đỗ Hồng Ngọc sinh ra từ sự hồn nhiên, thản nhiên, có phần phóng túng, nhờ thế anh gần với người đọc. Dù nghề nghiệp hoặc thói quen làm cho một người trở nên chừng mực và nghiêm cẩn đến đâu, khi làm thơ, người ấy buộc phải buông thả. Trong giây phút buông thả ấy, các giác quan tăng cường cảm xúc, thiết lập sự thân mật giữa người quan sát và sự vật, giữa người nói và người nghe. Vì thơ là các quan hệ bên trong, cái toàn thể, cái hiện tại. Một nhà thơ đến với người đọc với tất cả ngôn ngữ của chị ấy, anh ấy, tất cả quá khứ, khuyết điểm và ưu điểm, lòng thương xót, mang theo tất cả những thứ ấy, trọn vẹn, đến với chúng ta.

Sóng

Quằn quại

Thét gào

 

Không nhớ

Mình

Là nước

Thơ Đỗ Hồng Ngọc là tiếng kêu ngạc nhiên  trước cuộc đời, trước hạnh phúc và đau khổ, trước giản dị tầm thường và phép lạ. Đó là tiếng kêu nghệ thuật, nên được nén lại, kiểm soát. Thơ anh là hiện hữu, cái bây giờ, sự dừng lại của khoảnh khắc. Đỗ Hồng Ngọc chỉ ra cho tôi thấy một khoảnh khắc, làm tôi dừng lại bên anh, tiếp tục nhìn thấy nó lâu dài. Thơ anh là một hình thức của chú ý. Sự tập trung chú ý tạo ra tác phẩm sáng tạo. Nhờ lắng nghe mà anh nhìn ra cội rễ của tồn tại. Nhờ tập trung, chú ý đến các chi tiết mà thơ Đỗ Hồng Ngọc tạo nên sự thân mật giữa người viết và người đọc. Sự thân mật trong thơ là khoảng cách, khoảng cách ấy càng gần, sự tin tưởng lẫn nhau càng tăng lên.

Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương

Thơ trữ tình, vì vậy, không phải là lời kêu gọi, bản tuyên bố, mà là lời tâm sự, lời kể bên ngọn lửa ấm, sự im lặng khi câu chuyện ấy được kể xong. Thơ anh đầy chú ý lắng nghe. Mặc dù anh không thiên về sự mô tả chi tiết, vốn cũng không phải là điểm mạnh của thơ Việt, anh đến gần sự vật bằng  quan sát và linh cảm. Bài thơ “Đinh Cường vẽ Nguyễn Xuân Hoàng” là một bài thơ lạ, gần chất văn xuôi, ít sử dụng tu từ, giọng điệu ngang tàng. Thơ chống lại sự tiếp nhận tự động mà ta thường gặp trong ngôn ngữ nói hằng ngày, nó không ngừng thiết lập tình trạng tỉnh thức bằng sự ngạc nhiên: hình ảnh mới, các ý tưởng bất ngờ, cách sắp xếp lại các chữ. Đám đông độc giả có khuynh hướng chống lại sự làm mới của nhà thơ. Một người làm thơ yếu bóng vía có thể bị khuất phục dễ dàng bởi thẩm mỹ của đám đông, thói quen suy nghĩ của họ.

ôi trời ông Đinh Cường

vẽ Nguyễn Xuân Hoàng thời 60’ Đàlạt

rõ ra là một cô gái

dịu dàng hơn cả dịu dàng

 

cái thời 60’ Đàlạt

ai ngờ Nguyễn Xuân Hoàng mà rất gái

quá dễ thương

làm mê mẩn Đinh Cường

và, có thể… nhiều người khác nữa

Một nhà thơ có bản lãnh thản nhiên sử dụng các hình ảnh, lối nói của mình với tính cách độc đáo. Trong tiếng Anh có một khái niệm khó dịch là originality, có nghĩa là nguồn gốc, bản sắc, tính độc đáo riêng biệt. Tôi nghĩ thơ Đỗ Hồng Ngọc có tính chất ấy.

 

Đêm trên biển Lagi

tặng NNI

Sóng cuốn từng luồng trăng lại trăng

Đêm Hòn Bà dỗ giấc ai nằm

Phẳng lì bãi cát buồn hiu ngóng

Cao vút hàng dương quạnh quẽ trông

Đá cũ mòn rêu hoài đá Ngảnh

Nguồn xưa cạn nước vẫn Nguồn Chung

Về đâu mái tóc xanh ngày ấy

Câu hỏi ngàn năm có chạnh lòng?

Thơ cổ điển nhưng không cũ. Không có một bài thơ nào tồn tại độc lập. Dù được viết bởi ý định nào của tác giả, bài thơ là một giao điểm của đời sống và trí tưởng tượng, hiện tại và hoài niệm, cá nhân và cộng đồng, những quan hệ liên văn bản. Ngôn ngữ của thơ ca dù được viết dễ hiểu cách nào đều không thể đoán được, vì vậy người đọc cần chú ý đến mỗi chữ, mỗi âm.

Một trong những công việc của thơ là làm thay đổi đời sống thực, chuyển hóa nó, khiến cho chúng ta có thể nhìn thấy đời sống của chúng ta dưới một cách nhìn khác, trong một màu sắc khác. Mặt trời mỗi ngày một trở lại, không thay đổi, nhưng thơ làm cho mặt trời mới lại mỗi ngày. Điều đó cũng đúng cho khuôn mặt người yêu dấu: thơ làm cho nó mới hơn.

ngoài cái chợ ồn ào

mấy dãy phố thời trang dị hợm

quán ăn đầy ngõ hẻm

vài ngôi chùa trang nghiêm

và mấy trại hòm

Tập “Thơ ngắn Đỗ Nghê” đúng như tên gọi của nó, chứa những bài thơ ngắn, đôi khi như haiku. Xét về phương diện thể loại, thơ ngắn tự do là trường hợp cần chú ý. Trong những bài thơ ấy còn có câu chuyện kể. Anh là người kể chuyện thú vị, không nhiều lời. Những câu chuyện của anh gồm quan sát tinh tế, các ký ức mà dường như ai cũng có, câu chuyện đời thường, bằng một cách nào đó chúng đã đi vào thơ anh, chiếu sáng từ góc tối: sự rung động ban đầu, niềm thương xót đối với một người, sự suy nghĩ lúc ta dừng lại, sự hối hận, sự hài lòng. Làm công việc y khoa, chắc tác giả phải đối diện với nhiều cái chết, sự mất mát, thương đau. Tôi ngạc nhiên thấy anh ít viết về điều ấy, cái chết, cái mất, vết thương. Tôi nghĩ là người Việt đã đau khổ quá nhiều vì những thứ ấy, ở mức cá nhân và ở mức tập thể. Nhưng đó có thể là một chọn lựa có ý thức, cũng có thể chỉ là vấn đề cảm hứng, bạn không chọn đề tài, chúng tự chọn lấy tiếng nói. Các chi tiết cụ thể, góc nhìn, sự liên tưởng là quan trọng đối với việc đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc. Anh có lối nói nồng nàn, say đắm, hài hước, bất ngờ:

Anh hôn đằng sau

Anh hôn đằng trước

Anh hôn phía dưới

Anh hôn phía trên

Chiếc áo của em

Thật dí dỏm, duyên dáng. Thời kỳ nào thì thơ cũng là sự trộn lẫn giữa cái mới và cái cũ, kế thừa những giá trị trong quá khứ và nói tiếng nói của hôm nay. Nhà thơ Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, có lẽ không phải là người có ý định làm mới ngôn ngữ nhưng việc anh viết từ sớm và viết liên tục chứng tỏ anh tha thiết với thơ cũng như nhiều nhà thơ khác. Thơ tạo ra một không khí riêng biệt, có phần thân mật, riêng tư, nhưng góp phần làm phong phú tiếng nói của thơ hôm nay. Mỗi nhà thơ có cách ghi nhận và phản ứng đối với đời sống khác nhau. Trong khi giọng điệu của thơ mỗi ngày một thay đổi, ngôn ngữ cũng thay đổi, thì anh vẫn giữ được tiếng nói riêng mình, chung thủy với bản tính của mình, không chịu ảnh hưởng của người khác, nhưng cũng không cũ kỹ. Thực ra, Đỗ Hồng Ngọc sống cùng thời với rất nhiều sự kiện, tỏ ra quan tâm đến đời sống văn hóa xã hội. Trong thơ cũng vậy, tôi nhìn thấy ở đó nhiều khoảnh khắc khác nhau của đời sống, công việc chuyên môn, chia ly và đoàn tụ, mất mát và hân hưởng, tình yêu và sự tha thứ. Tôi không nhìn thấy ở đó những sự kiện lớn, chiến tranh và hòa bình, các vấn đề chính trị hay dân tộc gay gắt, vì vậy thơ anh đối với tôi có tính riêng tư, thân mật, trầm lặng. Đó là một loại thơ trữ tình cá nhân, với giọng điệu êm ả, cái nhìn nhân hậu đối với cuộc đời. Tôi tin rằng ngoài đời, anh cũng thế, một người hiền lành, sâu sắc, có cá tính nhưng từ chối tham gia các cuộc tranh cãi. Anh chứng tỏ lối viết điềm đạm chắc tay, nhưng lại phóng khoáng, và đôi khi bất cần. Làm được vậy, thật rất khó.

Ơi những con đường ta đã đi

Gia Long, Đồng Khánh mượt xuân thì

Chân run rẩy cát bờ Thương Chánh

Gió ở đâu về thơm bước khuya

Thơ anh có tính âm nhạc. Trong những bài thơ ngắn ấy, tính âm nhạc tinh tế hơn, nhưng nếu bạn đọc một cách đầy chú ý, chúng cũng thể hiện trong những bài thơ không có vần.

Cái nhìn của Đỗ Hồng Ngọc là cái nhìn có tính quan sát của một thầy thuốc, tuy vậy, anh không hề nhầm lẫn giữa thơ và các bài báo khoa học, như một số người có thể nhầm lẫn. Anh không mang những kiến thức uyên thâm của mình vào thơ, theo nghĩa sống sượng mà chúng nằm bên dưới các chữ tinh khôi, lành lặn, và đôi khi siêu thực. Cũng vậy thơ thiền của anh nhẹ nhàng, ngẫu hứng, không có ý răn dạy, khuyên bảo, không sử dụng nhiều từ ngữ Phật pháp. Sự tưởng tượng của Đỗ Hồng Ngọc là những liên kết có tính nhảy vọt từ truyền thống đến hiện đại, sự liên kết hình ảnh qua các thời gian khác nhau, nhưng thường anh vẫn trở về với hiện tại của đời sống.

Thư Cho Bé Sơ Sinh

Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em!

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen.

Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ.

Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến!

Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu!

Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em…

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận…
Con người…

Cuộc trò chuyện tưởng tượng, riêng tư, bình đẳng, nhưng gởi gắm nhiều suy nghĩ về xã hội, chiến tranh, đất nước, phận người. Đó là một bài thơ trữ tình- thế sự. Những suy tư của anh chuyển hóa thành xúc cảm. Một xúc cảm mạnh, nhưng được kiềm chế trong lời đối thoại- độc thoại.

Nhiều người than phiền rằng thơ Việt đã kết thúc. Đọc một người như Đỗ Hồng Ngọc, lặng lẽ viết, tôi tin thơ vẫn sống, vì nó chính là linh hồn của ngôn ngữ hôm nay. Thơ là tiếng nói riêng tư của tác giả, nhưng cũng là sự trao đổi trò chuyện giữa người viết và người đọc, lời tâm sự, sự tranh luận, quà tặng. Thơ giữ lại cho chúng ta những di sản của một thời đại, đời sống tinh thần, các giá trị văn hóa. Thơ Đỗ Hồng Ngọc là cuốn nhật ký về những năm tháng mà anh đã sống, trong một ngôn ngữ sống động như hơi thở, như đời sống thật ngoài kia. Thơ anh làm cho sự hiện hữu con người trở nên rõ rệt trước sự bôi xóa của thời gian. Tôi tin rằng một số bài thơ xuất sắc sẽ ở lại lâu dài trong lòng người đọc, chúng không chỉ là bức tranh của đời sống hôm nay, mà còn là sự cần thiết. Đôi khi anh cũng không tránh khỏi sự dễ dãi, và có những bài thơ hoặc câu thơ lặp lại một hình ảnh nào đó, hay mang dấu ấn, của người xưa:

Về thăm quê

Lâu không về thăm quê

Những người xưa biền biệt

Lũ trẻ lớn lên

Ngơ ngác

“Ủa, chú là ai?

Làm sao chú biết…?”

 

Thơ anh sự kết hợp tự sự và trữ tình. Câu chuyện trong thơ của anh làm tăng sự hiểu biết của chúng ta đối với người khác, về những tương tác giữa người và người, cho người đọc nhìn thấy một thế giới, cho phép họ đi xuyên qua đám đông, ghi nhớ, kể lại, trong khi đó thơ trữ tình tập trung vào một tình huống, nén chặt nó lại trong thời gian, làm bộc lộ các xúc cảm về nó, nhờ vậy đọc thơ anh vừa thấy được một thế giới mà chúng ta đang trải qua, vừa là những giây phút bồn chồn của đời sống.

Chỉ quanh quẩn đâu đây

Cuộc đời đầy sinh bệnh lão tử

Lòng yêu đời trong anh thật lớn, cái nhìn thanh thản đầy chất triết lý cũng sâu đậm. Thơ Đỗ Hồng Ngọc thường ở thể tự do, các ý tưởng được nén lại trong một thứ ngôn ngữ khá là phóng túng:

Còn nhớ không

Căn nhà ốm nhom khu Bàn cờ

Bạn từng trú mấy hôm

Đi coi mắt vợ

Tôi cũng rành khu Bàn Cờ. Tôi quen một thiếu nữ ở đó. Tôi thường chở nàng đi ăn trong một quán hủ tiếu đâu đó, không còn nhớ, nhưng câu thơ của anh làm tôi nghĩ ngợi.

Thơ mang cho người đọc sự tự do để nhìn thấy thế giới, để đáp ứng, để sửa lỗi, để cầu nguyện. Thơ Đỗ Nghê không có những tham vọng lớn lao, anh không đề cập đến các vấn đề thời sự, không có những đề tài nóng bỏng, đó là một loại thơ cá nhân, riêng tư và âu yếm, và suy nghĩ. Thơ anh giản dị nhưng không hoàn toàn dễ hiểu, vì anh đang cố gắng nói một điều gì không thể nói được. Đọc thơ anh cũng phải đọc giữa các hàng chữ. Thơ là xúc cảm nhưng thơ cũng là phân tích.

 

ngày đó mới thôi…

bọn mình rớt mồng tơi,

dĩa bánh cuốn ly café đã khó

tôi nằm chờ giải ngũ

bạn trốn trại về…

 

khu mình chẳng có gì vui…

ngoài mấy nhà bảo sanh

một nhà thương thí

phòng mạch bác sĩ

văn phòng luật sư…

nhà thuốc tây thuốc bắc

 

khu mình chẳng có gì vui

ngoài cái chợ ồn ào

mấy dãy phố thời trang dị hợm

quán ăn đầy ngõ hẻm

vài ngôi chùa trang nghiêm

và mấy trại hòm…

 

đâu có cần ra khỏi cổng thành

đâu có cần vượt sông anoma

chỉ quanh quẩn nơi đây

cũng đầy sanh bệnh lão tử…

 

ngày đó mới thôi,

căn nhà ốm nhom khu bàn cờ

bạn từng trú mấy hôm

đi coi mắt vợ…

rồi bảo sanh

rồi bệnh viện

rồi nursing home…

 

cuộc đời đầy kinh ngạc

phải không?

Đỗ Hồng Ngọc làm chủ giọng nói của mình, tiết kiệm chữ, chỉ nói vừa đủ, nhường lời cho sự hiểu biết và diễn dịch của người đọc. Thơ anh vì vậy khá kén người đọc. Thơ Việt Nam trong nửa thế kỷ qua viết về nhiều đề tài, nhưng giấu phía sau mình nó là chiến tranh, chia rẽ, bạo lực. Đó là một nền thơ đau khổ. Nhưng đó cũng là một nền thơ hướng tới tự do biểu hiện. Có một nỗi buồn mênh mông, kín đáo, trong thơ anh:

Mỗi năm

Mỗi người

Thêm một tuổi

Chỉ mình con

Mãi mãi

Tuổi đôi mươi

Vết thương khó nhận ra.  Trước khi đọc tập “Thơ ngắn”, tôi nghĩ rằng anh sẽ viết nhiều về công việc chuyên môn, nhưng không, anh dễ dàng tách ra khỏi công việc thực, tự cho phép mình hoàn toàn thuộc về thơ ca. Bởi vì thơ cũng như những hình thức văn chương khác, trước hết đến từ sự tưởng tượng. Sự tưởng tượng trong khi mang người đọc đi xa thì lại mang họ trở về, với cái nhìn mới mẻ. Thơ Đỗ Nghê, trong những bài xuất sắc nhất của anh, là những bài thơ có sức mạnh làm mới.

Có nhiều cách để làm mới. Có những người có ý định, với những tuyên ngôn, chủ trương, nhưng cũng có những người làm mới lặng lẽ bằng chính tác phẩm. Những bài thơ ngắn của anh là sự mô tả đời sống hàng ngày, những chi tiết bề ngoài có vẻ tầm thường, một kỷ niệm, với giọng điệu chừng mực, triết lý, hài hước.

Tìm kiếm

 Anh không sống

Anh đợi sống

Anh để dành anh

Anh chắt mót em

Anh cắt xén niềm vui

Anh gậm nhấm nỗi buồn

Anh tìm kiếm

Một điều anh chẳng biết

Chính là bằng cái nhìn của tác giả mà thế giới trở nên thân mật hơn, gần gũi hơn, đầy chiêm nghiệm. Thơ trữ tình ngày càng được mang gần tới cuộc đời thường nhật, va chạm với những tình tiết và số phận nhỏ bé, đi tìm sự cao thượng trong những thấp kém, tính chất huyền bí của đời sống trong sự quen thuộc tầm thường. Thơ vì vậy ngày càng ngoại biên, địa phương, kỳ dị, thậm chí gồm những tiếng lóng. Không có gì là vĩnh cửu, không có một lý thuyết nào là chân lý cuối cùng, không một thần tượng nào không sụp đổ, đời sống trở nên sâu sắc hơn vì vậy, vì chúng ta đối diện với cái chết. Vì chúng ta yêu mến đời sống này, ca ngợi tính chất bình thường của nó, chống lại cái vĩ đại và các đại tự sự bằng những quan tâm nhỏ nhặt, nhưng cần thiết, vừa thực vừa huyền ảo, chúng ta sống vì chúng ta nhớ lại, vì chúng ta nghĩ đến.

 

Nguyễn Đức Tùng

(NGÔN NGỮ số đặc biệt Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, tháng 5/2024)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định

Trịnh Y Thư: Cảm nhận nhân đọc “thơ ngắn đỗ nghê”

17/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Cảm nhận nhân đọc “thơ ngắn đỗ nghê”

Trịnh Y Thư

 

1.

Tôi thích đọc “thơ ngắn” của Đỗ Nghê. Những bài thơ “ý tại ngôn ngoại,” đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc đều nhận ra thêm một cái gì mới, khác, mở ra những chiều kích bát ngát hương thơm. Hãy giở trang đầu tiên của tập thơ, bài Trái đất, cả bài thơ chỉ có vẻn vẹn sáu từ:

 

Giữa đêm

Thức giấc

Giữa ngày…

Boston, 1993

 

Từ chìa khóa để hiểu bài thơ là “Boston,” mặc dù nó chỉ là phụ chú cho bài thơ. Giữa đêm thức giấc, bên kia nửa vòng trái đất là giữa ngày, chợt bàng hoàng tỉnh giấc, thao thức nỗi nhớ nhà, chợt thấy cô đơn, ôm nỗi sầu vạn cổ, thấy cái tôi bé nhỏ không một chút trọng lượng lọt thỏm giữa vũ trụ bao la.

Tứ thơ cô đúc, được nén chặt đến cực độ trong sáu từ, đột ngột phóng ra như một tia chớp lóe, để người đọc mặc tình buông ra từ trí tưởng của mình những cảm xúc bát ngát diệu kỳ.

Trên bước đường lữ thứ của cuộc hành trình đời người, chúng ta ắt hẳn phải có lúc cảm thấy cùng một tâm trạng với bài thơ. Bài thơ chỉ có sáu từ sao lại có sức mạnh truyền tải cảm xúc mạnh mẽ đến thế!

Ý thức rất rõ về sự hữu hạn của vật thể hữu hình và tính vô thường của kiếp nhân sinh, thơ Đỗ Nghê chuyển hóa bi kịch đời sống thành những cung bậc cảm xúc đẹp buồn, trữ tình. Những dấu vết của đau thương, tan rã, chia lìa gần như được xóa nhòa để cái đẹp – dù là cái đẹp bi ai – thăng hoa thành nghệ thuật, và sau cùng đạt đến cõi như nhiên, tĩnh tại.

Từ nỗi đau xót như nhát dao cứa sâu vào da thịt:

 

Mỗi năm

Mỗi người

Thêm một tuổi

Chỉ mình con

Mãi mãi

Tuổi đôi mươi…

(La Ngà 3)

 

Nỗi đau xót ấy, như được sưởi ấm bằng những đốm lửa yêu thương, biến thành nỗi buồn man mác nhưng dịu ngọt:

 

Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…

(Bông hồng cho mẹ)

 

Những câu thơ đẹp, vì được kết tinh một cách ưu ái và trang trọng từ trái tim, từ trái tim người làm thơ sang thẳng trái tim người đọc, không cần qua một lăng kính hay một bộ phận chắt lọc nào. Nếu những cụm từ như “bông hoa trắng,” “đóa hồng” được dùng như một hoán dụ, thì hoán dụ ấy cũng chẳng thể ngăn cản cảm xúc dạt dào dâng lên như sóng vỗ tràn bờ. Thực chất, thơ Đỗ Nghê ít sử dụng ẩn dụ hoặc hoán dụ, mà phần nhiều là những câu nói (vâng, thơ là tiếng nói, tiếng nói tinh tuyền nhất) rất đơn sơ, rất thật và rất đậm tính người.

Có gì “người” hơn những câu thơ này?

 

Mùa xuân mừng tuổi thơm tho áo

Nắng cũng vàng phai ngày cũng xa

Anh thương nhớ quá làm sao nói

Gọi tên em vang động gốc cây già…

(Quê nhà)

 

Nó là tiếng kêu của muôn loài sống trên mặt đất, tiếng chim gọi nhau buổi ngày nắng tắt trên đầu non, tiếng kêu trầm thống của loài cá voi dưới mặt nước đại dương sâu thẳm. Nó là chất keo sơn giữ cho cuộc sống này bền chặt. Không có nó, thế giới vỡ tung mất thôi, và có vẻ như nó đang vỡ thật. Một mai nếu để mất nó, chúng ta sẽ rơi vào hố thẳm tuyệt vọng, vô phương cứu vãn, và linh hồn chúng ta sẽ mãi mãi trầm luân trong cõi huyền tẫn mịt mù, không ai có thể chuộc tội cho chúng ta, ngay cả người đóng đinh trên núi Sọ.

Vâng, tôi xin bắt chước nhà thơ, ngày xuân “gọi tên em vang động gốc cây già.”

 

2.

 

“Nước”, “sóng”, “sông”, “biển” là những thi ảnh xuất hiện nhiều trong thơ Đỗ Nghê. Trong bài thơ Nước – gồm 20 câu, một trong những bài thơ dài toàn tập thơ – thi sĩ vẽ hành trình của nước len lỏi qua nghìn dặm nẻo đường núi non sông lạch, thậm chí “từ cơn gió thoảng, từ làn mây trôi,” chỉ để bâng khuâng buông ra một suy nghiệm có tính siêu hình:

 

Nước vẫn muôn đời

Không đi chẳng đến

Ai người nỡ hỏi

Nước đến từ đâu?

Ai người nỡ hỏi

Nước trôi về đâu?…

 

Nước, trong ngữ cảnh bài thơ, là một hoán dụ ám chỉ khái niệm Duyên khởi và tính Không trong Phật giáo. Nước “không đi chẳng đến,” phải chăng ám chỉ khái niệm “vô thỉ vô chung” vốn chủ yếu liên quan đến sự hiểu biết về thời gian, sự tồn tại và quan hệ nhân quả.

Duyên khởi khẳng định rằng mọi hiện tượng phát sinh đều phụ thuộc vào các hiện tượng khác. Nó mô tả một chuỗi nhân quả, trong đó mỗi mắt xích phụ thuộc vào mắt xích trước đó, dẫn đến sự phát sinh của các hiện tượng tiếp theo. Theo quan điểm này, không có điểm bắt đầu hay điểm kết thúc biệt lập, độc lập đối với bất cứ điều gì trong chu kỳ tồn tại. Mọi thứ đều có mối liên hệ với nhau và phụ thuộc lẫn nhau.

Còn khái niệm tính Không thì nhấn mạnh đến sự thiếu vắng của bản chất nội tại cố hữu của sự vật. Sự vật không có sự tồn tại cố hữu. Sự tồn tại của chúng phụ thuộc vào các yếu tố khác. Do đó, khởi đầu hay kết thúc của tồn tại trở nên vô nghĩa. Thay vào đó, sự tồn tại trải qua vô tận các chu kỳ lặp đi lặp lại gồm có sáng tạo, hủy diệt và tái sinh (mà ta gọi là luân hồi). Trong những chu kỳ này, không có điểm bắt đầu hay điểm kết thúc cuối cùng.

Nó chính là “nước” của Đỗ Nghê: Không đi chẳng đến.

Theo Tứ Diệu Đế, khổ đau là cố hữu do tham ái và vô minh. Tái sinh được xem là sự tiếp nối của vòng đau khổ này cho đến khi người ta đạt được giải thoát (niết bàn). Theo nghĩa này, tồn tại được xem là không có khởi đầu, với khả năng giải thoát đánh dấu sự kết thúc của vòng tái sinh.

Hiểu được bản chất của “nước” là hiểu được chu kỳ của tồn tại, là hiểu được con đường dẫn ta đến giải thoát. Tôi đồ nhà thơ Đỗ Nghê chỉ muốn nói có bấy nhiêu. Một điều vô cùng giản dị mà sao chẳng mấy ai thực hiện nổi!

Khái niệm “Sắc tức thị không, Không tức thị sắc” còn được thi sĩ nhắc lại trong bài thơ Có không:

 

Tràn vào khắp ngả

Đất trời mênh mông

Nhẹ như không có

Có mà như không…

 

Thơ Đỗ Nghê thấm đẫm mùi Thiền, rất nhiều bài trong tập thơ mang phong vị Thiền học, nhưng nó là cái Thiền giúp ta thong dong đi vào phố chợ, nhập cuộc trần ai, mà lòng an nhiên như đang thảnh thơi dạo bước trên con đường mòn giữa cánh đồng hoa lá:

 

Duyên sinh vô ngã

Ngũ uẩn giai không

Từ đó thong dong

Thõng tay vào chợ…

(Vè thiền tập)

 

Bởi thi sĩ hiểu rõ chân lý sinh diệt của vũ trụ tuần hoàn, từ cát bụi, ta là ta hôm nay, ta là “đất động” hay “sóng thần,” nhưng rồi một ngày nào đó không xa, ta lại trở về cát bụi:

 

Đất động ta cũng động

Sóng thần ta cũng sóng

Giật mình chợt nhớ ra

Vốn xưa ta là đất…

(Đất)

 

3.

 

Một người làm thơ trữ tình như Đỗ Nghê ắt hẳn không thể nào dửng dưng với đất nước quê hương mình. Quê hương của ông là biển, là sông, là hồ, là cát, là cây, là đá, tất cả hòa quyện trầm mặc trong thơ. Các địa danh xa lạ với nhiều người nhưng thân thương với thi nhân, như hòn Bà, đá Ngãnh, được đem vào thơ, tái hiện hoài hoài trong những giấc mơ, hay một ký ức không thể bào mòn.

Tôi đặc biệt yêu thích bài Hội An sớm:

 

Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương…

 

Như một khúc Đường thi. Thi ảnh, tuy cổ điển, nhưng đẹp não nùng. Và, chao ơi, tiếng chổi. Sao lại tiếng chổi từ trong sân chùa một cách mơ hồ vọng ra? Sao không là tiếng tụng kinh, tiếng chuông, tiếng mõ vào buổi sớm? Chính sự bất ngờ ấy, đánh động tâm hồn khiến thi nhân giật mình, đã làm tăng thú vị khi đọc bài thơ. Bất ngờ hơn chuyện ông Trương Kế lúc từ Phong Kiều bước xuống thuyền nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn vọng lại. Bài thơ của Đỗ Nghê là bức tranh hiện thực được vẽ bằng bốn câu thơ năm chữ.

Và tiếng gà. À, thì ra ngôi chùa chẳng ở đâu xa mà nằm gần kề một thôn xóm quê nghèo. Nó cho ta cảm giác ám áp, gần gũi, thân thương. Cụm từ “vàng trong sương” là một thủ pháp tu từ mỹ học. Ở đây nó là điểm nhấn như điểm nhấn trong hội họa, để từ đó người đọc thơ có thể vin vào, đoạn phóng chiếu ra tổng thể một cảnh tượng lung linh bóng hình thật đẹp, gồm có cả hình ảnh lẫn ảo ảnh. Hình ảnh là ánh tinh quang nhạt nhòa trong sương sớm. Ảo ảnh là một thôn làng xa xôi rơi rớt trong mớ ký ức ngổn ngang buồn nhớ.

Ngôi chùa ở Hội An của Đỗ Nghê thân quen, gần gũi trong một tâm trạng cảm hoài nhưng một tâm thế u tĩnh, yên bình. Ngôi chùa Hàn Sơn của Trương Kế thì xa lạ, trống vắng trong một cảm giác bất an, mông lung, thậm chí bồn chồn, hoang mang, lạc lõng.

 

4.

 

Tình yêu là đề tài trong thơ của gần như mọi thi sĩ đông tây kim cổ. Tình yêu trong thơ Đỗ Nghê là một thứ tình yêu đằm thắm, nhẹ nhàng. Bạn đừng tìm kiếm những tứ thơ nồng cháy nóng bỏng, khốc liệt trong thơ ông. Ngôn ngữ tình yêu là những nét chấm phá thi vị. Và ý nhị, thâm trầm:

 

Cảm ơn em sợi bạc

Cảm ơn em sợi hung

Cảm ơn em năm tháng

Đã theo già cùng anh.

(Theo già)

 

Hay:

 

Lá chín vàng lá rụng về cội

Em chín vàng chắc rụng về anh…

(Lá)

 

Tôi thích những vần thơ tình nhẹ nhàng của Đỗ Nghê, bởi dù trong xa vắng, tình yêu của thi sĩ vẫn đẹp. Tháng năm trôi qua, đôi khi chạnh lòng nhớ lại kèm theo một chút bùi ngùi thương nhớ:

 

Hoa vàng đã rụng đầy sân vắng

Tình cũng ngùi phai theo tháng năm…

(Cố nhân)

 

Lòng còn vương vấn dù thời gian dâu biển bao mùa đã qua. Chẳng còn gì để nhớ, để thương… Không, hình như vẫn còn… Và chỉ chừng đó thôi đã đủ cho “ta” bồi hồi sung sướng:

 

Trái thông khô rớt vèo chiều tím

May mà còn ánh mắt dao cau…

(Tím)

 

Hình ảnh “bạo liệt” nhất trong thơ Đỗ Nghê là bài sau:

 

Anh đọc bài thơ tình

Em ngồi nghe lặng thinh

Anh đọc thêm bài nữa

Em vẫn ngồi lặng thinh

Anh buồn không đọc nữa

Em chồm lên hôn anh

Như dổ dầu vào lửa…

(Thơ tình)

 

Và, không kém quan trọng, tình yêu trong thơ Đỗ Nghê bao giờ cũng hòa quyện với tình yêu quê hương đất nước, với biển, cát, sóng, trời:

 

Anh… ngoằn ngoèo trên cát

Không ngờ mà hóa tên em

Biển xanh nắng vàng sóng bạc

Không ngờ cùng kéo đến xem…

 

Tình yêu trong thơ Đỗ Nghê là thứ tình yêu phổ quát, đẹp muôn đời, đáng ca tụng mãi mãi, thế hệ nào cũng có thể liên kết cá thể mình vào được. Ngôn ngữ ca ngợi tình yêu của thi sĩ giản dị, chân thành, biểu hiệu một tấm lòng thương quý dành cho món quà quý giá nhất Thượng đế ban cho loài người. Một món quà như thế mà hình như chúng ta đang đánh mất nó, đang để nó vuột khỏi tầm tay. Một mai không còn tình yêu nữa, chúng ta sống vô cảm, vô tính như một robot AI hay một con người văn minh, chỉ biết có khoái lạc nhục dục và soma gây mê, như Aldous Huxley miêu tả trong cuốn tiểu thuyết Brave New World của ông, thì liệu lúc đó con người có còn là con người nữa không? Đọc thơ tình Đỗ Nghê để giữ gìn, trân quý món quà Trời cho đó, xin bạn đừng bao giờ đánh mất.

 

5.

 

Ngôn ngữ thơ của Đỗ Nghê, nói chung, mang phong cách truyền thống. Cấu trúc và thi pháp cổ điển. Bởi thế, nhạc tính và cú điệu trong thơ du dương, trầm lắng.  Đêm trên biển Lagi là một bài thơ với niêm luật chỉn chu theo đúng tinh thần Đường thi. Ông không tìm kiếm sự cách tân trong thơ mình. Kỹ thuật được ưa chuộng bởi các nhà thơ cách tân, như thủ pháp đặt cặp phạm trù/ thi ảnh tréo ngoe liền kề, không hề thấy trong suốt thi tập. Chữ nghĩa ông thâm trầm, dung dị. Ông không nệ chữ, không chuộng sử dụng những từ lạ, hoa mỹ, không vắt dòng vô cớ, không tra tấn người đọc bằng những ký hiệu rối rắm, ngớ ngẩn. Nhưng chữ nghĩa của ông là thứ chữ nghĩa có trọng lượng và buộc người đọc thơ phải suy ngẫm, liên tưởng, để trèo từ tầng chữ nghĩa lên tầng cảm xúc của thơ, để khám phá, để đắm chìm vào những khung trời, trong đó tâm hồn mình được vuốt ve, yên ủi.

Tuy vậy, đó không phải loại thơ “khẩu khí” vốn đè nặng thi ca Việt Nam suốt mấy trăm năm qua và phần nào tiếp diễn cho đến ngày hôm nay. Thơ ông là tiếng nói, tiếng nói thầm thì nhưng trong veo và có sức mạnh chuyển tải cảm xúc, biểu hiệu cho một tâm hồn thơ giàu suy cảm.

Có thể có kẻ thấy thiếu vắng một ý thức lịch sử, xã hội hay chính trị trong thơ Đỗ Nghê, thiếu cả những thao thức, khao khát nội tâm, do đó, họ biện biệt, thơ thiếu chất sống, không tiếp cận với đời sống con người, thân phận con người, vốn là cơ bản cho tất cả các thao tác văn học nói chung, thơ nói riêng.

Tôi phản bác lập luận này. Đồng ý, thơ phải có một “đời sống thơ,” nhưng đời sống ấy không phải sinh ra để gồng gánh những trọng trách như minh họa kỷ nguyên lịch sử, miêu tả xã hội, bảo vệ ý thức hệ – dù là một ý thức hệ tốt đẹp – như Milan Kundera từng phát biểu nhiều lần. Mượn lời Kundera, tôi có thể nói là, thay vào đó, thơ tự cho nó một nhiệm vụ nói lên những điều “chỉ thơ mới nói được.” Ngôi nhà chữ nghĩa của thơ vốn ảo diệu, khó vào, thông thường chỉ mở lối cho người đọc thơ đi vào bằng con đường trực cảm hoặc linh cảm, thậm chí thần cảm. Khoác chiếc áo sứ mệnh nặng khôn kham lên thơ chỉ làm thơ thêm tội nghiệp và giết chết thơ.

Ý thức rất rõ về điều đó, nhà thơ Đỗ Nghê đã không khoác chiếc áo sứ mệnh lên thơ mình.

Nhưng “đời sống thơ” trong thơ Đỗ Nghê là gì, và ta phải hiểu như thế nào?

Nhờ thấm đẫm Thiền vị, như đã nói bên trên, thơ Đỗ Nghê thắt buộc sự hiện hữu của con người vào thế giới xung quanh, và quan trọng hơn, tìm ra được quan hệ hài hòa giữa sự hiện hữu ấy với thế giới. Con người và thế giới không là chủ thể-khách thể như được hiểu theo ý nghĩa triết học cổ điển, mà là một tương tác giao thoa. Triết học Hiện sinh đặt vấn nạn chúng ta bị ném ra ngoài thế gian này mà không biết tại sao. Chúng ta giống nhân vật thần thoại Hy Lạp Sisyphus, bị kết án vĩnh viễn lăn tảng đá lên đỉnh núi chỉ để nhìn nó lăn xuống lần nữa. Thơ Đỗ Nghê không thắc mắc chuyện đó. Thơ ông cho ta thấy khả năng con người nhận thức được thực tế của hiện tồn, để từ đó biết trực diện với khổ đau và cái chết, đối đầu với những thách đố của đời sống dựa trên sự thông hiểu sâu sắc về bản chất của hiện tồn.

Nhưng không thể gọi thơ Đỗ Nghê là thơ triết học. Đó là thơ. Thơ với tất cả những tố chất cố hữu của thơ. Bởi thơ ông không đưa ra một suy niệm tiên nghiệm nào, và bởi thơ đi thẳng từ trái tim thi nhân vào trái tim người đọc.

Đọc “thơ ngắn đỗ nghê” giữa một thế giới đảo điên như hôm nay, giữa một cuộc sống đầy gian truân, trắc trở, với tôi, là một hạnh phúc.

 

– Trịnh Y Thư

(Ngôn Ngữ số đặc biệt Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc, tháng 5/2024)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (5.2024)

15/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (5.2024)

“Nha Trang… ngày về”

Bạn biết không, bà xã mình thường “cằn nhằn” sao cứ đi hoài đi miết vậy, hết Huế tới Phú Yên, Mũi Né,  La Gi, La Gàn, rồi Long Thành, Phan Thiết… Mình bèn “phản biện” bây giờ còn không đi, đợi hết đi nổi mới đi hay sao? Vậy đó, bạn thấy có lý không?

Cao tốc Saigon – Nha Trang vừa làm xong, phải đi cho biết chớ. Nghe nói thay vì đi 9, 10 tiếng như xưa, nay đã rút ngắn còn 5 tiếng thôi. Nghe nói cao tốc mà chưa có chỗ dừng nghỉ, vệ sinh, nên người ta phải nhảy rào, nay mới được dựng tạm mấy chỗ. Phải đi cho biết chớ.

Vậy là lên đường. Đúng là cao tốc có dễ đi hơn trước, nhanh hơn trước, chui mấy đường hầm cũng ngộ, đến Nha Trang chỉ mất hơn 5 tiếng thiệt. Ghé nhà hàng “Nha Trang xưa” ăn cơm xem sao. Có mấy món Bà ngoại làm trong thực đơn. Có ao sen, có chuối, có cau, có cầu khỉ… Ôi, đông khách quá.

Nha Trang thấy lạ hoắc. Đường xá thênh thang. Cũng còn Ga xe lửa. Nhà thờ đá. Nhứt định bắt bác tài phải chạy ra biển cho mình coi một chút. Ôi, 4 mùa đã khác, không còn các ki ốt, hàng quán… nào nữa. Chỉ thấy khách sạn cao ngút chen chúc dày đặc. Nhớ năm 1960, mình từng đi xe lửa ra Nha Trang một mình, tìm người bạn học Võ Tánh không gặp bèn cỡi quần áo nhảy ùm xuống nước tắm một mình rồi leo lên xe lửa về lại Saigon. Bây giờ đèo Rù Rì cũng không còn. Cầu Đá thì vắng vẻ… Chỉ còn khu Du lịch là náo nhiệt xí xô xí xào, tây đầm, âu á… Tự nhiên thấy bơ vơ, lạc lõng. May sao, chùa Long Sơn còn đó với tượng Phật vĩ đại trên đồi cao. Phía sau là chùa Hải Đức, nơi ngày xưa có thầy Tuệ Sỹ, Ni sư Trí Hải, các văn nhân Quách Tấn, Võ Hồng, Phạm Công Thiện… thường lui tới. Nay còn có thầy Phước An.

Ra Hòn Chồng uống Cafe. May sao còn có vài chỗ như Hòn Chồng có cafe fin. Còn hiện nay ở đâu cũng thấy toàn cafe máy. Bãi Hòn Chồng đẹp, thân thiện, đông vui. Tắm cái chớ. Uống dừa ba nhát cái chớ.

Rồi thăm bạn bè. Còn chẳng mấy. Khuất Đẩu & Huyền Chiêu ở Ninh Hoà, vợ chồng Võ Tấn Khanh ở Phan Rang… Ai cũng kêu con cháu đi khắp nơi, chỉ còn hai ông bà già lui cui.

Trên đường về, mình không đi cao tốc nữa mà đi Quốc lộ 1 để qua Cam Ranh, Phan Rang, Cá Ná… quen thuộc.

Gởi bạn vài tấm hình coi vui nhe.

Chùa Long Sơn, Nha Trang mùa Phật Đản.

 

 

 

Tượng Phật Thích Ca trên đồi cao, sau chùa Long Sơn.

 

 

Bãi biển Hòn Chồng

uống dừa ba nhát

 

Tắm cái chớ! Ôi, nước thiệt ấm.

 

 

Khuất Đẩu và Đỗ Hồng Ngọc (Ninh Hoà, 9.5.2024)

Cafe với Khuất Đẩu & Huyền Chiêu ở Ninh Hoà (9.5.2024)

Võ Tấn Khanh

Ngọc, Bích, Trinh, Khanh, nhà VTK “ở một nơi nắng như Rang mà gió như Phang”, may còn mấy trái xoài xanh… (Phan Rang 11.5.2024)

Bãi biển Cà Ná: “… mình tôi phơi nắng trưa, tôi đi tìm con ốc, bơ vơ nằm trên cát…” (11.5.2024)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

15/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Minh Lê

Các tùy bút của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thường ngắn, dễ hiểu và hấp dẫn như “tiểu thuyết”. Đã đọc là không dừng được. Từ ngữ giản dị, giọng văn thân mật, dí dỏm. Nhưng đừng tưởng bở, tác giả toàn viết kiểu “ý ở ngoài lời”. Đọc lần thứ nhứt, cười ha hả. Đọc lần thứ hai, cười tủm tỉm. Đọc lần thứ ba và thứ n, gật gù “đúng hen!”.

Rồi trong tập mới nhứt “Một ngày kia… đến bờ”, tác giả đổi kiểu viết. Nói chi tiết, cụ thể, tuy giọng văn vẫn rất “Đỗ Hồng Ngọc”. Anh Ngọc viết riêng cuốn này cho bạn bè “cùng một lứa”, những người nhiều kinh nghiệm sống và có hiểu biết về Phật pháp, nên với những người còn đang “bận rộn” và những người vừa mới “gió heo may đã về”, đoc vô rất dễ “tẩu hỏa nhập ma”.

Biết mình chưa đủ trình để hiểu, tôi thử cảm bằng… trái tim. Cảm nhận luôn chủ quan, nếu có chỗ nào sai mong Anh Ngọc sẽ cười tha thứ.

Trịnh Công Sơn viết trong bài “Phôi pha”: “Về ngồi trong những ngày, nhìn từng hôm nắng ngời, nhìn từng khi mưa bay”. Để thấy được vẻ đẹp của nắng, của mưa thì tâm ta phải bình an, không chộn rộn với suy tính, lo âu. Ai sống mà không suy tính, lo âu? Anh Ngọc dặn: “Khi thấy những ý tưởng nọ kia xuất hiện cũng là chuyện bình thường thôi. Cứ để tự nhiên. Nó đến rồi nó đi.” (tr. 89 – 90) Không thèm nghĩ nữa, cho hết mấy thứ “sinh sự” đó đi rồi thì lòng ta nhẹ, tha hồ “về lại nơi cuối trời làm mây trôi”.

Có người hỏi, nó cứ dính mắc hoài, làm sao buông? Vì cái hiểu “đủ duyên thì hiện, hết duyên thì tan” có thể vô đầu ta mà chưa vô được trái tim ta. Ta không chịu chấp nhận “chuyện phải tới nó sẽ tới”, rằng không phải lúc nào nắng cũng hay, mưa cũng đẹp. Anh Ngọc giải cứu liền: “Chẳng vì ta mà hoa nở, hoa tàn. Chẳng vì ta mà gió mát trăng thanh. Nhưng ta biết thưởng thức. Ta enjoy cuộc sống của mình trong từng giây phút.” (tr. 43) Nếu lúc nào ta cũng biết thưởng thức và “cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy” thì ta sẽ “ung dung, tự tại, an nhiên” (tr. 43).

Nhưng chừng đó chưa đủ. Câu hỏi “ta là ai, tại sao ta sinh ra và khi chết sẽ đi về đâu” vẫn còn ám ảnh. Cả vũ trụ này là một khối năng lượng, và định luật bảo toàn năng lượng đã được các nhà khoa học khẳng định từ lâu: “Không có năng lượng nào tự sinh ra hay mất đi, chúng chỉ thay đổi từ dạng này qua dạng khác”.

Ai làm chủ sự thay đổi đó? “Stephen Hawking bảo chắc chắn phải có một design, một thiết kế vĩ đại từ trong con virus đến khủng long… nhưng không có designer, không có nhà thiết kế. Nhưng tôi tin có một cái gì đó, gọi bằng tên gì cũng được, tạo ra cái trò chơi này và ngắm nghía thú vị.” (tr. 13) Cái “trò chơi” này, nói nôm na là game, nó vô cùng vô tận, nên chúng ta, người chơi game, cũng sẽ chơi dài dài.

Mục đích của game là Chân – Thiện – Mỹ, level của thế gian là đạt thành Phật, thành Phật rồi sẽ được “chơi” cấp cao hơn. Tuy vậy có những vị Phật và Bồ Tát muốn giúp chúng sinh mau lên level, nên chịu khó dạy bảo, dẫn dắt như đàn anh trong game chỉ cho đàn em cách đánh quái vật. Và khi đàn em thua hoài thì được an ủi: “Phật cười: Ta là Phật đã thành, Ông là Phật sẽ thành!” (tr. 47) Hồi nhỏ dù ta học dốt tới đâu mà có một thầy cô tin tưởng khuyến khích, chắc chắn ta sẽ gắng học và trở nên giỏi hơn. Phật biết rõ điều đó!

“Ai nói gì không biết chớ tôi tin có kiếp trước kiếp sau. Phải có, mới tạo được sự công bằng, hoàn hảo chứ!” (tr. 105) Rốt cuộc ta là ai? Ta là một khối năng lượng có ý thức, nhờ duyên mà mượn thân xác kiếp này để học những gì cần học, học chưa xong ta lại sang kiếp sau học tiếp. Sau mỗi lần “ngủm” trong game, ta lại hồi sinh với nhiều kinh nghiệm hơn, có khả năng tới gần đích hơn. Một ngày nào đó trong tương lai, ta sẽ đạt tới level của Phật.

Vậy có gì đâu mà buồn mà sợ? Anh Ngọc nói không chỉ cần sống vui (well-being) mà còn cần chết vui (well-dying). Biết cái chết là tất yếu, nên sống hết mình từng giây phút để không tiếc nuối khi cái chết đến – đó là “chết vui”. Biết sống vui thì ta sẽ dễ dàng “chết vui”, ngược lại ngộ ra “chết vui” thì sống vui đâu có khó.

“Một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua.” Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn là cơn gió nồm nam mát rượi thổi bay sự oi bức trong đầu và trong lòng người đọc. Mọi thứ rồi sẽ “phôi pha”, nhưng những lời khai ngộ của Anh còn được nhớ hoài, như “bàn chân ai bước nhẹ, tựa hồn những năm xưa”.

Minh Lê

(Nha Trang, 05/2024)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Nguyên Giác: Mỹ Học Của Hư Vỡ

07/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Mỹ Học Của Hư Vỡ

Nguyên Giác

B1 Buddha pexels-photo-

Đức Phật ngồi trong hư vỡ, vô thường. Hình: Pexels.com.

Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.

Thân người chính là một bình gốm mong manh, dễ hư vỡ, và rồi sẽ một ngày tất nhiên phải hư vỡ. Đức Phật nói trong Kinh Pháp Cú, bài Kệ 40, qua bản dịch của Thầy Minh Châu là:

  1. “Biết thân như đồ gốm,
    Trú tâm như thành trì,
    Chống ma với gươm trí;
    Giữ chiến thắng không tham.”

Bài kệ trên nói rằng, thường trực biết thân mình, biết cơ thể mình mong manh như đồ gốm, là tâm sẽ khởi lên cái thấy của trí huệ, là tất nhiên lìa tham. Hiểu biết như thế, khi thấy đồ gốm quý tan vỡ, cũng sẽ tất nhiên không sân hận. Câu chuyện sau là dịch từ Thiền sử Nhật Bản.

Thiền sư Ikkyu, khi còn là thiếu niên đã lộ ra trí thông minh, nhanh nhẹn, và là một chú tiểu biết ứng biến. Thầy của Ikkyu có một tách trà quý giá, đó cũng là một cổ vật quý hiếm. Chú tiểu Ikkyu vô ý làm vỡ chiếc tách trà này và rất mực bối rối. Nghe tiếng bước chân của thầy, Ikkyu ôm những mảnh tách vỡ ra sau lưng. Khi thầy xuất hiện, Ikkyu hỏi: “Tại sao người ta phải chết?”

Vị thiền sư già giải thích, ““Đó là tự nhiên, vì mọi thứ có sinh thì phải có tử. Đó là luật vô thường, mọi thứ đều phải hư vỡ.”

Bấy giờ, chú tiểu Ikkyu lấy chiếc tách vỡ ra và nói với thầy: “Bạch thầy, đã đến lúc cái tách của thầy phải chết rồi.” Dĩ nhiên, vị thầy không giận.

Tất cả chúng ta trong đời đều phần nào chấp nhận mỹ học của sự hư vỡ. Nhiều người trong chúng ta, tại Việt Nam và cả tại Hoa Kỳ, đã từng đi lang thang trong các tiệm bán đồ cũ, vào các chợ trời, nhìn những thứ hư vỡ, và đôi khi mua những thứ còn có thể sử dụng được. Đôi khi, có những thứ không còn sử dụng được, nhưng mua về chỉ vì nó là đồ cũ, nó có giá trị của hư vỡ, cho dù hoàn toàn không có giá trị hiệu năng so với đời sống của thế kỷ 21 nữa, thí dụ, chiếc đèn dầu hột vịt, đồng hồ quả lắc…

Đức Phật đã lấy nhận thức về hư vỡ và thái độ sống hoan hỷ với hư vỡ thành một lộ trình giải thoát. Riêng chúng ta đã sống với hư vỡ theo một cách đơn giản đời thường, nhiều khi chỉ vì không có lựa chọn để được sống sang trọng, xa hoa. Trong khi đó, dân tộc Nhật Bản đã nâng tầm sống với hư vỡ, với sứt mẻ, với gãy đổ… thành một nghệ thuật. Đó là nghệ thuật Kintsugi, còn gọi là kintsukuroi, chữ này tiếng Anh dịch là “golden repair” – nghĩa là, sửa chữa bằng vàng.

Theo Wikipedia, Kintsugi là nghệ thuật sửa chữa đồ gốm bị nứt, bị vỡ của Nhật Bản bằng cách vá những chỗ bị vỡ bằng sơn mài urushi phủ bụi, hoặc trộn với bột vàng, bột bạc hoặc bột bạch kim. Về mặt triết lý, nghệ thuật này coi sự hư vỡ và việc sửa chữa như một phần lịch sử của một đồ vật, chứ không phải là thứ gì đó để ngụy trang, để che giấu. Phần lớn tập trung vào đồ gốm, vì dân Nhật Bản xem uống trà như một nghệ thuật.

Khi uống trà, tất nhiên là phải dùng tới những cái tách làm bằng đồ gốm. Thử hình dung, nếu uống trà bằng ly thủy tinh trong suốt, hay bình nhựa học trò… thì chẳng còn gì là nghệ thuật, và cũng không ai bận tâm sửa chữa những hư vỡ bằng bột vàng. Do vậy, uống trà phải là dùng tách làm bằng đồ gốm, hoặc với các vương triều, là tách làm bằng gốm tráng sơn mài. Kỹ thuật sơn mài, Nhật Bản gọi là maki-e, cũng là một nghệ thuật lâu đời tại Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn…

B3 kintsugi_lay vang gan chen be lai

Dùng vàng để vá đồ gốm hư vỡ là truyền thống Nhật Bản.

Nhưng các thiền sư Nhật Bản chỉ uống trà trên các tách làm bằng đồ gốm trông có vẻ như thô, nhám. Và khi nâng tách trà lên, bên cạnh hương trà, là hai bàn tay cảm nhận chất thô, nhám của đồ gốm, của đất sét nung, của đất nước gió lửa… Trà đạo đối với Thiền Tông Nhật Bản không chỉ là lá trà, bột trà, chất trà, vị trà, mà là toàn bộ thân tâm hành giả trong từng cử chỉ nâng tách trà lên, nếm chút trà, tay xúc chạm vào đồ gốm, cảm nhận thế giới và thân tâm tan trong từng cử chỉ và cảm thọ.

Theo truyền thuyết Nhật Bản ghi lại, vào thế kỷ 15, Tướng quân Ashikaga Yoshimasa từng làm vỡ một bát trà Trung Quốc. Bát trà này là của hiếm, do từ nghệ nhân thủ công Trung Quốc gửi tặng, nghĩa là không có bát trà nghệ thuật thứ nhì giống như thế. Sau đó, Tướng quân gửi bát trà về Trung Quốc để sửa chữa, nhưng nó lại bị gửi lại bằng cách vá gốm, nhìn không vừa ý Tướng quân này. Yoshimasa sau đó đã yêu cầu các nghệ nhân của mình tìm cách vá gốm cho đẹp hơn, từ đó phát minh ra nghệ thuật vá đồ gốm bằng vàng của Nhật Bản.

Lịch sử ghi rằng, hồi thế kỷ 15, Nhật Bản vẫn còn chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, nhưng sự tinh tế của văn hóa Nhật Bản vẫn tiếp tục phát triển… Dưới ảnh hưởng của Tướng quân Ashikaga Yoshimasa và những người kế vị ông, Nhật Bản đã phát minh ra một lối sống mới: văn hóa Higashiyama. Bắt nguồn từ dòng tư tưởng Thiền Tông, bầu không khí văn hóa này đã thúc đẩy sự phát triển của trà đạo, nghệ thuật cắm hoa (ikebana), kịch Nô và tranh thủy mặc vẽ bằng mực Tàu.

Trong nền văn hóa đầy Thiền vị này, nghệ thuật vá đồ gốm bằng vàng đã phát triển nhanh chóng… Đến mức một số nhà sưu tập bị thu hút bởi vẻ đẹp và triết lý của Kintsugi, đã cố tình đập vỡ một số đồ gốm cổ của nghệ thuật Nhật Bản để sửa chữa bằng vàng. Nghĩa là, làm thành một hóa thân mới, một kiếp sau của sản phẩm nghệ thuật. Thực tế, không phải ai cũng có điều kiện để sống huy hoàng như thế. Nhiều Thiền sư không cần vá gì, chỉ đơn giản sử dụng các chén, tách, tô… đã bị sứt mẻ. Và trong sứt mẻ đó, trong hư vỡ đó cũng là một thế giới mới được hình thành: sống hoan hỷ với hư vỡ. Đó cũng là ý nghĩa của Phật giáo.

Phong thái sống của các Thiền sư Nhật Bản là sống với hồn nhiên, đơn giản, khổ hạnh, tinh tế, lìa thói quen, tĩnh lặng, từ bi… Trong khi đó, giới nghệ nhân, từ nghệ thuật Kintsugi lấy vàng nấu chảy để vá gốm đã hòa lẫn với phong thái Thiền để hình thành một cách nhìn gọi là Wabi-sabi. Chữ này thịnh hành từ thế kỷ thứ 16, một chữ không còn mang ý nghĩa “lấy vàng vá gốm” nữa, mà là một nhận thức nhắc nhở chúng ta rằng tất cả chúng ta đều là những sinh vật nhất thời trên hành tinh này – rằng cơ thể chúng ta cũng như thế giới vật chất xung quanh chúng ta đang trong quá trình trở về cát bụi. Chu kỳ sinh trưởng, mục nát và xói mòn của tự nhiên được thể hiện ở các cạnh bị sờn, rỉ sét, đốm gan. Thông qua wabi-sabi, chúng ta học cách đón nhận cả niềm vui và nỗi buồn được tìm thấy trong những dấu vết của thời gian trôi qua.

Theo truyền thuyết Nhật Bản, một chàng trai trẻ tên là Sen no Rikyu đã tìm cách học hỏi những phong tục phức tạp được gọi là Trà Đạo. Anh ta đến gặp trà sư Takeeno Joo, người đã thử thách chàng trai trẻ bằng cách yêu cầu anh ta chăm sóc khu vườn. Rikyu dọn dẹp những rác vụn và cào đất cho đến khi nó thật hoàn hảo, sau đó xem xét kỹ lưỡng khu vườn sạch sẽ. Trước khi trình bày tác phẩm của mình với vị trà chủ, anh đã rung chuyển một cây anh đào khiến một vài bông hoa rơi ngẫu nhiên xuống đất. Chính cái bất toàn đó, những nụ hoa rơi trên nền cát trắng cho thấy cái đẹp của vô thường, của hư vỡ. Sách ghi rằng, cho đến ngày nay, người Nhật tôn kính Rikyu như một người hiểu rõ cốt lõi của sợi dây văn hóa sâu sắc được gọi là wabi-sabi.

Theo tự điển, Wabi là những thứ tươi mới, đơn giản và mang vẻ đẹp mộc mạc. Và Sabi là những rung động, cảm xúc trước vẻ đẹp của lớp gỉ đã cũ theo thời gian.

Chỉ có những người thấm đượm văn hóa Wabi-sabi mới hiểu được vẻ đẹp dịu dàng, nguyên sơ của những ngày tháng 12 xám xịt bao trùm lên một tòa nhà hoặc nhà kho bị bỏ hoang. Nó tôn vinh những vết nứt, kẽ hở, chỗ mục nát và tất cả những dấu vết khác mà thời gian, thời tiết và quá trình sử dụng để lại. Khám phá wabi-sabi là nhìn thấy vẻ đẹp đặc biệt ở một thứ mà thoạt nhìn có thể trông như là bất toàn và hư vỡ.

Theo dòng thời gian, tới thế kỷ 17, xuất hiện một Thiền sư được xem là sống trọn vẹn theo phong cách wabi-sabi.

Đó là Thiền sư Baisaō (1675-1763). Ông thuộc dòng thiền Ōbaku (Hoàng Bá). Thiền sử ghi rằng Hoàng Bá học từ Bách Trượng Hoài Hải. Hoàng Bá để lại một tác phẩm nổi tiếng là Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu. Trong môn đồ của Hoàng Bá, nổi tiếng nhất là Lâm Tế. Baisaō nổi tiếng như một Thiền sư học giả, một nhà thơ, một nhà thư pháp… nhưng đã từ chối tất cả các lời mời trụ trì khi các tướng quân dâng cúng chùa, rồi cuối đời lang thang, ra đời làm một ông già lang thang Kyoto để bán trả. Một đời sống cực kỳ hồn nhiên, khổ hạnh, tĩnh lặng, từ bi… Tâm không vướng một niệm, nhưng toàn bộ thân tâm sống với cõi vô thường, lặng lẽ nghe hư vỡ từng ngày.

Để có thể hiểu về cách sống của Baisaō, chúng ta có thể dẫn ra tông yếu Thiền qua lời Hoàng Bá, trích theo bản dịch của Thầy Thanh Từ:

“… Người học Đạo hễ có một niệm vọng tâm là xa Đạo, ấy là điều tối kị. Hết thảy mọi niệm đều vô tướng, đều vô vi, tức là Phật. Người học Đạo nếu muốn thành Phật thì hết thảy Phật pháp đều không cần phải học, chỉ cần học cái không mong cầu, không chấp trước là đủ. Không mong cầu thì tâm không sinh, không chấp trước thì tâm không diệt.” (ngưng trích)

Thiền sử ghi rằng Baisaō là một Thiền sư nổi tiếng khi đi du lịch khắp Kyoto để bán trà. Quán trà của ông có ảnh hưởng rất lớn ở Kyoto, đặc biệt là với các nghệ sĩ và triết gia. Baisaō có nghĩa là, ông cụ bán trà. Nhưng tên trong nhà thiền ông là Gekkai Genshō (月海元昭, Nguyệt Hải Nguyên Chiêu). Sau này, ông về đời, sử dụng tên cư sĩ là Kō Yūgai (高遊外, Cao Du Ngoại).

Baisaō là một nhà thơ và là một tu sĩ Phật giáo, nhưng đã bỏ lại đằng sau những ràng buộc của cuộc sống chùa chiền và ở tuổi 49 du hành đến Kyoto, nơi ông bắt đầu kiếm sống bằng cách bán trà trên đường phố và tại các địa điểm có danh lam thắng cảnh xung quanh thành phố. Tuy nhiên, Baisaō còn pha chế nhiều thứ hơn là trà – khách hàng của ông, bao gồm các nghệ sĩ, nhà thơ và nhà tư tưởng có ảnh hưởng vào thời đó: họ xem việc tới gánh trà của ông có tầm quan trọng về mặt tôn giáo. Những chiếc giỏ đan bằng tre lớn chứa đầy dụng cụ pha trà của ông đã mang đến cho Baisaō và các khách hàng của ông cơ hội trò chuyện và làm thơ cũng như những loại trà đặc biệt.

B4 zen master Baisao

Thiền sư Baisaō. Hình trái do Ito Jakuchu vẽ. Hình phải do Tanomura Chikuden vẽ.

Baisaō sinh năm 1675 tại đảo Kyushu phía nam Nhật Bản. Là con trai của một trong những tầng lớp trí thức ưu tú trong vùng, anh nhận được một nền giáo dục sâu rộng và khi lên 11 tuổi, trở thành tu sĩ trong thiền phái Ōbaku, lấy tên là Gekkai Genshō. Năm 1687, ông cùng sư phụ Kerin Dōryū du hành đến Mampuku-ji, trụ sở của Ōbaku Zen. Một trong những nơi hai thiền sư đến thăm là Kōzan-ji, ở ngoại ô Kyoto, nơi trồng những vườn trà đầu tiên ở Nhật Bản.

Giống như nhiều thiền tăng khác, Baisaō trải qua nhiều nhiệm vụ khác nhau tại ngôi chùa riêng của mình, Ryūshin-ji. Sự nghiệp tôn giáo Baisaō có thể chia thành ba thời kỳ: thời kỳ rèn luyện trong trường thiền hơn hai thập niên, thời kỳ thứ hai, ông quản trị tăng chúng trong chùa và sau đó trên thực tế giữ chức quyền trụ trì tại Ryushin-ji ở Hasuike; và giai đoạn thứ ba, lang thang bụi đời ở Kyoto với tư cách là Ông già bán trà. Khi sư phụ qua đời, chức vụ trụ trì được chuyển giao cho một nhà sư trẻ hơn. Khi Baisaō được hỏi tại sao không nhận được chức trụ trì này, ông khiêm tốn trả lời “vì tôi không có trí tuệ hay đức hạnh.” Mặc dù nhiều lần được đề nghị tiếp quản ngôi chùa nhưng ông đều từ chối và ông lên đường về kinh đô Kyoto, nơi ông sẽ sống phần đời còn lại của mình.

Kyoto lúc đó là nơi tự do, phóng khoáng nhất Nhật Bản, nơi cho phép sự sáng tạo và nghệ thuật phát triển. Các nhà văn, nghệ sĩ và học giả rủ nhau đến thành phố, phá vỡ chủ nghĩa bảo thủ còn bao vây nhiều nơi ở Nhật Bản. Được bao quanh ba mặt bởi những ngọn đồi phủ đầy cây xanh rất đẹp và với dân số khoảng nửa triệu người, Kyoto là một trong những thành phố đẹp nhất trên trái đất (lúc đó, và cả bây giờ, khi trở thành cố đô Nhật Bản).

Vào thời điểm xã hội Nhật Bản chuyển đổi, Baisaō nổi bật nhờ kỹ năng của mình với tư cách là một nhà thơ và nhà thư pháp với kiến thức sâu rộng về văn học Trung Quốc, những kỹ năng được đánh giá cao ở Kyoto. Baisaō được tất cả những người tiếp xúc với ông đánh giá cao vì tâm hồn rộng rãi, từ bi, dịu dàng và cuộc sống dường như vô tư của ông, như dường từ chối hệ thống cấp bậc Phật giáo đã được thiết lập. Theo thời gian, ông trở thành một trong những nhân vật nổi tiếng nhất trong một thành phố đầy những nghệ sĩ và lập dị. Có rất nhiều nhân vật độc đáo ở Kyoto vào thời điểm này đến nỗi vào năm 1788, một cuốn sách đã được xuất bản, “Eccentric Figures of Recent Times” (Những dị nhân của thời đại gần đây), trong đó Baisaō đóng một vai trò nổi bật.

Ở tuổi sáu mươi, Baisaō mở một cửa hàng nhỏ hoặc có lẽ chỉ là một quầy hàng (ông gọi nó là “ngôi nhà ốc sên”) trên một cây cầu đông đúc bắc qua sông Kamo của Kyoto. Vào thời điểm đó, những người bán trà lưu động thuộc tầng lớp thấp nhất trong xã hội và bán loại trà bột kém chất lượng. Tuy nhiên, Baisaō đã giới thiệu sencha, một loại trà lá rời được đun trong nồi và được coi là loại trà cao cấp hơn nhiều; một loại trà mà chỉ cần “một ngụm, bạn sẽ vĩnh viễn thức dậy khỏi giấc ngủ trần tục.” Ngày nay chúng ta gọi loại trà này là trà xanh Nhật Bản. Trên thực tế, Baisaō không thực sự bán trà của mình mà chỉ nhận tiền quyên góp, nguyên tắc là miễn phí, nói rằng “Giá của loại trà này là từ một trăm đồng vàng đến nửa xu. Nếu bạn muốn uống miễn phí cũng không sao. Tôi chỉ tiếc là tôi không thể để bạn có nó với giá rẻ hơn.” Sau đó, Baisaō từ bỏ ‘cửa hàng’ nhỏ của mình và đi lang thang ở Kyoto và những ngọn đồi xung quanh, mang theo dụng cụ pha trà trên một chiếc sào tre và lập nghiệp ở bất cứ nơi nào có phong cảnh thu hút ông.

Những năm cuối đời của Baisaō đầy khó khăn khi tuổi già và bệnh tật ập đến. Mùa đông lạnh giá ở Kyoto tỏ ra đặc biệt khó khăn đối với một ông già ít tiền. Đói và lạnh là bạn đồng hành. Mặc dù ông được công nhận là một thiền sư nổi tiếng, nhưng chỉ trong những năm cuối đời ông mới nhận một số ít đệ tử. Trong suốt cuộc đời dài của mình, ông vẫn tiếp tục làm thơ và sáng tạo ra những tác phẩm thư pháp được đánh giá cao. Ngay trước khi ông qua đời ở tuổi tám mươi tám, bạn bè ông đã tặng ông một tuyển tập các tác phẩm in của ông, Baisaō Gego (“Những câu thơ và văn xuôi của người bán trà già”), khẳng định tầm quan trọng của ông trong đời sống văn hóa của Kyoto thế kỷ 17-18.

Ông đã sống lang thang trên những hư vỡ của đời. Gánh trà, vừa bán, vừa tặng. Viết thư pháp để tặng người hữu duyên. Làm thơ khi vào giữa cuộc đời xôn xao để hoằng pháp. Trong cái hư vỡ của vô thường, không thấy gì để mong cầu, không thấy gì để chấp trước. Thiền sư đã lấy vàng của chánh pháp để vá những mảnh gốm hư vỡ của thân tâm chúng sinh.

Nơi đây. xin trích từ mấy dòng thơ của Baisaō:
… Đừng nghĩ tôi là một ông già
với tình yêu say đắm dành cho trà.
Mục đích của tôi là đánh thức bạn
ra khỏi giấc ngủ trần gian của bạn.

Và cũng từ mấy dòng thơ khác, cũng của ông già bán trà, người đã lấy vàng của chánh pháp để vá những mảnh đời hư vỡ ở Kyoto:

… tuyệt đối không còn gì
chỉ còn lại duy nhất
một vầng trăng sáng và lạnh
nơi cửa sổ, lúc nửa đêm
chiếu sáng rực tâm Thiền
trên đường trăng về nhà.

Thiền sư Baisaō qua một đời sống dị thường đã trở thành một hóa thân của nghệ thuật Kintsugi, tự biến cuộc đời Thiền sư của mình trở thành chất vàng để nối kết những mảnh đời người hư vỡ vào với đường trăng giải thoát.

Nguyên Giác
(4/2024).

(tranthinguyetmai.wordpress.com)

Thuộc chủ đề:Uncategorized

Thư gởi bạn xa xôi: Khoẻ Để Tu

01/05/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (04/24)

Khoẻ Để Tu

 

Thân gởi bạn,

Gởi bạn một clip nhỏ, do em Quyền vừa mới làm xong.

Đó là buổi Trò chuyện thân tình của mình với các Sư cô Thiền Viện Trí Đức Ni tai Long Thành Đồng Nai, ngày 16.04.2024 vừa rồi, theo lời mời của Ni Sư Hạnh Chiếu, Trụ trì.

Mình hỏi, “Nói chuyện gì đây Ni sư?”. Ni sư nói năm xưa bác sĩ đã đến thăm Ni viện, đọc thơ, và hứa sẽ về Trò chuyện với các Sư cô một bữa, ai cũng mong, nhưng vì dịch Covid nên phải huỷ cuộc hẹn. Mình hỏi Ni sư muốn nói về đề tài gì hôm nay. Ni sư cười bảo bác sĩ cứ “ngẫu hứng” Trò chuyện, đề tài gì cũng được, à mà lần này nói về vấn đề sức khoẻ cho các Sư cô đang tu tập thì tốt.

Vì thế mà có cái clip này.

Cảm ơn Ni sư Hạnh Chiếu, các sư cô Thiền Viện Trí Đức Ni, Long Thành

Và riêng cảm ơn Lệ Mai, Thuỷ, Quyền, Hùng và chú Đức.

Thân mến,

ĐHN

 

 

Thuộc chủ đề:Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

“Phép lạ là đi trên mặt đất” (tiếp theo)

08/04/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

“Phép lạ là đi trên mặt đất”

Như đã hứa, mình tiếp tục phần hoạt động “ngoại khoá” của mình để bạn coi cho vui nhe. Cũng xin chia sẻ với vài hình ảnh thôi. Làm biếng quá rồi!

Ngay buổi chiều đầu tiên đến Mũi Né, một vài vị đã đề nghị mình “kể chuyện học Phật”. Sc KN bảo, năm 2008, tại Huế, trong Tuần lễ Văn hoá Phật giáo, Sc có dịp dự, đã được nghe mình trình bày về Thở và Thiền rất ấn tượng.

Chị Nga, một doanh nhân có mặt kể chuyện 40 năm trước đã từng mang con gái 2 tuổi đến mình khám chữa bệnh, mình tiếp ở phòng khách chớ không có phòng mạch, và chỉ dặn cho bé ăn thêm dầu ăn để tăng cường calorie mà không cho thuốc men gì thêm. Vậy mà bé hết suy dinh dưỡng, hết bệnh, nay đã là cô giáo một ngôi trường lớn ở Sài gòn. Hồi đó mình nhớ mỗi khi khám bệnh cho một em bé`thì thường cho các bà mẹ khác bế con đứng sau lưng nghe… lóm. Đây là một phương pháp “giáo dục sức khoẻ” tốt nhất!

“Tiếng lành đồn xa”, sáng hôm sau, đã có buổi “văn nghệ” đặc biệt, khá rôm rả. Sư cô HN tặng mình cuốn “Tình Thầy” và đọc 2 bài thơ trong tập thơ “Đôi Khi” rất hay của Sư cô. Mình “đáp lễ” bằng cách đọc bài thơ “Thư cho bé sơ sinh”, viết từ năm 1965 ở Bệnh viện Từ Dũ, rồi bài “Trong một nhà giữ lão ở Montreal” viết năm 1997 ở Canada, sau cùng là bài Bông hồng cho Mẹ. Lê Bá Thông ôm đàn hát tiếp bài thơ của Đỗ Trung Quân về Mẹ thật cảm động. Rồi một vị sư cũng ôm đàn hát thêm mấy bài nữa. Buổi họp mặt tạm ngừng khi đoàn doanh nhân vừa tụ tập về đến Mũi Né, chuẩn bị cho buổi Khai mạc.

Thấy Pháp Lâm ở Darlak gởi tặng mình bản thư pháp do thầy vừa mới viết xong. Buổi trò chuyện bên lề trên bãi cỏ xanh cùng các bạn trẻ doanh nhân sau khi đi thiền hành về rất vui.

Theo yêu cầu của các bạn trẻ và cả các vị “xuất sĩ” muốn mình đọc bài thơ Mũi Né ngay tại Mũi Né này. Mình nói đây là bài thơ tình, có nên đọc ở đây không?

Càng tốt, sao không!

Vậy là mình đọc. Em có về thăm Mũi Né không? Hình như trời đã sắp vào xuân…

Một cô bé bỗng mở bài hát Mũi Né do nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo phổ nhạc với tiếng hát Thu Vàng…  da diết. Không khí trầm lắng hẳn. Năm nay người có về ăn Tết/ Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ?

Đọc bài thơ Mũi Né ở… Mũi Né.

 

Buổi tối 29.3.2024, trước buổi Toạ Đàm, mấy bạn trẻ còn yêu cầu mình nói vài điều đáng nhớ. Đang ở biển, mình nói về Sóng và Nước. Về “bổn lai vô nhất vật”. “Ta xô biển lại sóng về đâu…?” (TCS). Rồi nói chút về Năng lượng. Về điện. Về thể, tướng và dụng… vì đang ngồi trong quán Bar, đèn sáng trưng!

Trò chuyện với các doanh nhân trẻ (tối 29.3.2024 tại Mũi Né)

Chỉ có vậy. Thôi nhé,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 8.4.2024)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Uncategorized

“Phép lạ là đi trên mặt đất”

06/04/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (tháng 4. 2024)

“Phép lạ là đi trên mặt đất”

Đó là Khoá Thực hành cho Doanh nhân, lần thứ 6, tổ chức tại Mũi Né, Phan Thiết, do CLB Doanh Nhân Saigon phối hợp với các Sư Thầy Sư Cô Làng Mai từ nhiều nơi về hướng dẫn… Có các vị từ Pháp, từ Thái Lan, từ Huế, từ Ban Mê Thuộc, từ Cam Ranh, từ Đồng Nai… với hơn 20 vị và với trên 200 doanh nhân về tham dự trong 4 ngày tại một Resort rộng rãi, đẹp đẻ của khu du lịch nổi tiếng Mũi Né.

Mình không phải doanh nhân, cũng không xa lạ với các phương pháp tu tập của Làng Mai, nhưng vừa học xong Phẩm “Nhập Pháp Giới” của Kinh Hoa Nghiêm với Nhóm Học Phật ở chùa Xá Lợi nên  muốn trực tiếp “nhập” một phen xem sao. May mắn là Ban Tổ chức có các bạn Lê Bá Thông, chị Yến Ngọc (dân Phan Thiết) nên các bạn “hoan hỷ” cho mình đi ké, bên lề, không bị “dính” gì với Chương trình thực tập nghiêm túc, mình chỉ quan sát, ghi nhận, ngẫm nghĩ, phù hợp với sức khỏe, tuổi tác, cùng thói quen “tuỳ nghi, tự tại… vô ngại” của minh. Đã vậy mình chỉ tham dự được vài hôm thôi, vì phải về quê ở La Gi dự Họp Mặt bà con họ Đỗ mà mình nay đã gần là… Trưởng lão, với tuổi 85 rồi (Tuổi ta!).  Dù vậy, BTC đã không quên mời mình tham gia vào buổi Toạ đàm ở ngày thứ hai, về 5 Phương pháp Thực tập Chánh niệm, sẽ là nền tảng vững bền cho Doanh nghiệp, trên Chủ đề chung của Khoá thực hành này: “Phép lạ là đi trên mặt đất”…

Phải nói là BTC đã khéo léo sắp xếp một Chương trình “thực hành” vô cùng phong phú.  Có thiền tập, thiền ca, có pháp thoai, pháp đàm, tham vấn, lửa trại, đọc thơ, thiền hành… Mình chỉ hơi tiếc, giá thời gian kéo dài được vài tuần hẳn mọi người sẽ “thấm” sâu hơn. Nhưng không lo. Những người đến đây đều đã học Phật từ lâu, nay muốn có dịp trải nghiêm thực hành với những phương pháp cụ thể ra sao và dĩ nhiên sau đó sẽ thực hành dài lâu trong đời sống hàng ngày. Phần mình dĩ nhiên cũng có nhiều buổi “ngoại khoá’ với Chương trình kể chuyện, đọc thơ, ca hát, trao đổi… cũng không kém phần thú vị, sẽ kể riêng bạn sau nhe.

Như thường lệ, mình chỉ đưa lên đây một ít hình ảnh để chia sẻ cùng bạn xa xôi.

 

 

 

 

Hoàng hôn trên bãi biển Mũi Né (27.3.2024)

Bình minh trên bãi biển Mũi Né (28.3.2024)

Đi dạo quanh vườn.

 

 

 

 

 

 

 

Toạ đàm tối 29.3.2024 (từ trái: Thầy Linh Thứu, Doanh nhân Thuỳ Dương, Sư cô Khải Nghiêm, Doanh nhân Lê Bá Thông, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc).

 

Mỗi ngày đều có buổi thiền hành trên bãi biển Mũi Né.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon 6.4.2024)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

GS Trần Văn Khê nói về cuốn “Nghĩ từ trái tim” của Đỗ Hồng Ngọc

19/03/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

GS Trần Văn Khê nói về cuốn “Nghĩ từ trái tim” của Đỗ Hồng Ngọc

( Ghi theo băng audio-cassette do chị Lý Thị Lý thu tại bệnh viện Triều An, ngày 17.10.2003. Chị Lý Thị Lý là phu nhân nhà báo Trần Trọng Thức, cũng là người đã thực hiện bộ Hồi ký Trần Văn Khê, NXB Trẻ, 2002).

Lời của Giáo sư Nhạc sĩ Trần Văn Khê:

Tôi đọc “Nghĩ từ trái tim” của Đỗ Hồng Ngọc trong lúc đang ở bệnh viện một cách say mê liên tục từ đầu tới cuối, vừa đọc vừa ghi chú bên lề những cảm giác có tại chỗ hoặc những ý gợi lại những chuyện xưa. Trước hết là con đường đi tới Tâm Kinh của tôi.

Thuở nhỏ tôi đã từng nghe đọc kinh, trong đó có Tâm Kinh. Khi đó tôi chỉ biết:

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá lợi tử! Sắc bất dị không. Không bất dị Sắc. Sắc tức thị Không. Không tức thị Sắc.

Đến năm 8 tuổi tôi theo gánh hát cải lương của cô Ba. Trong màn Võ Đông Sơ tưởng Bạch Thu Hà chết rồi nên tổ chức đàn làm chay, cậu Năm tôi đưa cả thầy tu lên sân khấu đọc kinh, tụng kinh, tán và có thay đổi một số vần điệu để có tính chất cải lương. Từ một bài Tâm Kinh cậu Năm phổ nhạc ra thành hai bài gồm “Phật y phổ niệm” là đoạn đầu cho tới “diệc vô vô minh tận nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận”, phần sau mang hơi buồn là “Bạch hạc minh bi” (Con chim hạc trắng kêu lên một tiếng buồn thảm). Hồi đó tôi bị nhạc của cậu Năm làm cho có một quan điểm sai về Tâm Kinh vì cậu Năm vốn không phải là người hiểu rõ về Phật học mà chỉ phổ nhạc Tâm Kinh theo tư tưởng của người không nắm được Phật giáo.

Đến năm 1965 tôi viết về nhạc của Phật giáo nên thường xuyên được thầy Nhất Hạnh giảng cho nghe những bài kinh, bài tán, nhờ đó tôi hiểu được với từng nội dung có những nét nhạc khác nhau. Thầy chỉ nói một câu rằng Tâm Kinh chính là bản tóm tắt hầu hết những điều Phật dạy. Điều quan trọng đối với tôi lúc đó không phải là giáo lý Phật giáo mà là nhạc Phật giáo, có mấy cách tán, khi nào thì tán rơi, tán sấp hay tán trạo, nhạc đánh làm sao… Sau đó tôi học qua với thầy Viên Châu về những cách niệm hương, khai kinh.

Năm 1995 khi qua Mỹ tôi tình cờ đọc được bài viết của thầy Nhất Hạnh nói về Trái tim hiểu biết. Thầy dịch rất sát nghĩa, tuy tôi hiểu được chữ Hán một phần nhưng chỉ theo cách hiểu của bản thân. Quyển sách chủ yếu mang tính chất giáo khoa.

Con đường đi tới Tâm Kinh của tôi vòng vo như vậy, mãi cho tới khi gặp bà Karfung tôi mới hiểu rõ hơn. Bà Karfung là một thầy thúôc châm cứu, dạy khí công của tôi. Suốt một năm rưỡi bà chỉ chuyên tâm cắt nghĩa Tâm Kinh bằng tiếng Pháp..

Bà Karfung đọc và giảng từng câu cũng như Đỗ Hồng Ngọc đã đề cập trong cuốn sách của mình. Bà Karfung cho rằng không dịch ra mà để nguyên chữ Phạn, chỉ đọc ra âm thanh thôi. Âm thanh đó nhắc nhở con người phải hành, phải đi tìm chân lý, bến giác. Đến chữ “Yết đế” trong câu Yết đế, Yết đế, Bala yết đế, Bala tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha!, bà dịch là avant, encore en avant, toujours en avant et plus loin en avant (đi tới, đi tới, còn đi tới nữa và luôn luôn đi xa tới hơn nữa) để tới đáo bĩ ngạn, tới Paramita.

Thêm một cái may nữa là lần này về Việt Nam được đọc cuốn sách Nghĩ từ trái tim của Đỗ Hồng Ngọc, những điều tôi biết về Tâm kinh từ bà Karfung đều được Đỗ Hồng Ngọc nói rõ ràng bằng tiếng Việt, văn phong chẳng những giản dị mà còn dí dỏm, kèm thêm những thí dụ trong cuộc đời, lâu lâu lại chêm vài câu Kiều, thơ của Xuân Diệu hay lời ca của Trịnh Công Sơn. Càng đọc tôi càng thấy thấm thía và có phần gần gũi. Tôi đọc mà vô cùng thú vị, qua đó cho thấy hiểu biết của tác giả rất sâu sắc. Có những điều tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả. Mọi người cho rằng trong Tâm Kinh, đức Phật phủ định tất cả những gì mình đã dạy. Nhưng Đỗ Hồng Ngọc lại nghĩ ngài không phủ định mà chỉ khẳng định lại những điều mình đã dạy một cách rõ ràng hơn. Điều đó đúng quá, Đức Phật nói lần lần cho người ta hiểu.

Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, làm như phải có khoa học thì mới tìm được những chi tiết trong Tâm Kinh. Người bác sĩ này có cả tâm hồn hướng về con người nên đã viết cho trẻ con, cho những người già, người sản phụ, tìm hiểu căn bệnh để trừ bệnh, để giúp cho người ta bớt bệnh bớt khổ. Tâm tư đó là tâm từ đi tới bi. Người bác sĩ đó có được một tinh thần phóng khoáng, một tâm từ, còn là một nhà văn dí dỏm, một nhà thơ mộc mạc dễ thương nên hiểu được Tâm Kinh như thế. Phải trải qua một trận đau, một lần bị giải phẫu, khi đó cả một cơ thể mình chuyển động thay đổi, tâm tư thay đổi thì tự tìm lấy cách để trị bệnh cho mình. Trong khi học trị bệnh tức là đã hành. Tâm Kinh không chỉ đọc hiểu không thôi mà phải hành. Đỗ Hồng Ngọc nhờ tổng hợp được những yếu tố đó mà viết ra được quyển Nghĩ từ trái tim như thế này thì tôi cho đây là một tuyệt tác, nắm được tinh hoa của đạo Phật giảng ra một cách dễ hiểu, dễ dàng để cho người ta tìm thấy được mỗi chuyện làm ở trong đời….

Theo bà Karfung, Tâm kinh tuy gồm 260 chữ nhưng gút lại có bốn chữ vô cùng quan trọng là “ngũ uẩn giai không”, tôi thấy Đỗ Hồng Ngọc cũng nói về ngũ uẩn giai không như thế. Đỗ Hồng Ngọc còn đi xa hơn một chút. Bà Karfung cắt nghĩa chữ Không là vacuité, tức là không mà có rồi lần lần đi tới chỗ không mà không có là đi tới chữ vô. Đỗ Hồng Ngọc cắt nghĩa rõ ràng từ chữ không đi tới chữ vô. Cái vô đó không phải phủ nhận nhưng phải một người như Đức Phật mới dám nói tới chữ vô vì ông đưa ra Tứ diệu đế, đưa ra cái khổ của con người ai cũng phải có mà bây giờ ông nói là không khổ gì hết. Không khổ như thế mới là vô quái ngại, không sợ sệt, vượt ra khỏi vòng sanh tử rồi mới thanh thản đi tới chỗ đời sống. Đọc Tâm Kinh này mà mình thưởng thức và hành được thì mới thành công. Trong cái hành đó có cái thiền. Cái thiền đó tác giả nói cũng rõ ràng lắm. Thiền đó không phải học chơi mà phải làm. Trong đó có nhiều chuyện làm cho mình thích lắm. Người bác sĩ như Đỗ Hồng Ngọc không phải chỉ có cái nhìn của nhà khoa học không mà còn có cái nhìn từ bi của con người thương con người, thấu hiểu được tâm kinh, hiểu được biết bao nhiêu chuyện đời, chắt lọc được tất cả những cái gì hay, đưa ra một cách giản dị, làm cho người mới đọc lần đầu sơ sơ đã thấy có cái gì như ánh sáng loé lên, càng đọc càng thấy rõ. Tôi cho rằng quyển sách này tuyệt vời.

Trong trang 37 Đỗ Hồng Ngọc nói người nào kiểm soát được hơi thở thì kiểm soát được cái tâm của mình.Khi kiểm soát hơi thở mình kiểm soát được cái tâm, cái tình cảm của mình rất là đúng. Đó là kinh nghiệm bản thân của tôi.

Ngoài ra đến trang 102, Đỗ Hồng Ngọc nói rằng: “Biết sống hôm nay, ở đây và bây giờ”. Đó cũng là kinh nghiệm của tôi theo một câu kinh. “Không nên hối tiếc quá khứ, đừng quá bận tương lai vì quá khứ đã qua rồi mà tương lai thì chưa tới. Hãy biết sống trong hiện tại”.

Trang 80 Hồng Ngọc có ghi rằng: “Mây lang thang vô định, xây thành rồi tan biến rồi lại xây. Mây thành mưa. Mưa thành suối, sông hồ, biển cả rồi lại bốc hơi thành mây”. Tôi đọc câu đó mà nhớ đến thời điểm năm 1952, tôi đang ở bịnh viện thì người ta nói rằng ráng một tháng nữa sẽ được ra viện. Tôi chờ đợi cho hết tháng rồi tới gặp bác sĩ, ông  nói chưa ra được ráng thêm ba tháng nữa. Từ tưởng tượng mình được ra viện bỗng cũng như mình được lên trời lại phải trở về chỗ cũ. Bữa đó buồn quá nên tôi ngồi viết bài “Mưa”. Lúc ấy tôi đang nghiên cứu về nhạc miền Trung nên bài Mưa mang hơi hướm của Nam bình Huế:

Hôm nay suối lạc dòng
Hôm nay suối lạc dòng
Dưới ánh nắng vàng nước tan thành hơi
Nước lên trời, lên trời thành mây, mây ơi!
Khi bay theo đám mây lành, bỗng gặp cơn gió lạnh
Hồn nước biến thành mưa trở về trần gian chảy kiếp thừa.

Đọc cuốn sách của Đỗ Hồng Ngọc, từng đoạn từng đoạn vừa hiểu được Tâm Kinh mà thấy rằng cách diễn tả đó nếu người nào chịu khó đọc rồi cũng sẽ hiểu được Tâm Kinh. Mà nếu chịu khó hành Tâm Kinh, trước nhứt là kiểm tra hơi thở của mình lần lần kiểm tra được tình cảm của mình, tìm thấy được mọi việc. Cái mà mình tưởng là có thì chỉ là ảo ảnh của chuyện đó. Từ đó mà cái mất cái còn đối với mình không còn quan trọng. Mất thì mình tiếc chuyện đó vì tưởng nó có hình thức nhưng thực ra nó không có gì hết, nó có mà không có, mất rồi thì sẽ có cái khác. Trong tất cả những chuyện đó mình đi lần tới chỗ vô ngã thì chừng đó người ta chửi thì mình cũng không giận. Mình giận là tại sao họ dám động tới “ta”. Làm sao đi tới chỗ mình thấy ngã không còn là quan trọng nữa. Thầy Thiện Siêu có nói vô ngã là niết bàn. Điều đó khi tôi đọc quyển sách hiểu thấu được như vậy, tôi vô cùng hoan nghênh.

Trang 54 Đỗ Hồng Ngọc có nói rằng khi có cảm gió thì thưởng thức lá xông, tô cháo hành. Cảm gió tùy theo loại cảm gió, nếu đó là gió luồng, gió mưa hay gió tuyết thì khi bị cảm thì khí âm nhập vào người mặc dầu nó làm mình nóng sốt nhưng trong cái sốt đó âm rất nhiều. Vì vậy mà khi cảm lạnh thì người Việt Nam mình ăn một chén cháo gừng vì gừng đem dương vô chế ngự khí âm. Nhưng nếu bị cảm nắng thì phải ăn cháo hành vì cảm nắng dương vô nhiều quá phải đem hành là cái âm vô để chế ngự lại. Cái đó chứng tỏ người Việt Nam mình trong cách ăn là đã trị bịnh phù hợp âm dương rồi. Cho nên có những câu cách ngôn thông thường mà suy nghĩ kỹ mình mới thấy hay thí dụ: “Mùa hè ăn cá sông mùa đông ăn cá biển”. Mùa hè thì chung quanh ta là khí dương mà cá sông có nước ngọt thấm vào có nhiều khí âm để chế ngự trong khi mùa đông khí âm tràn lan, cá biển thấm nước mặn và thấm cả khí dương nên ăn vô trị cái âm của trời đất.

Đọc cuốn sách của Đỗ Hồng Ngọc có nhiều cái suy tư, nhớ lại, trùng hợp nhiều cái thành ra thú vị vô cùng. Mỗi trang sách có sự thú vị khác nhau. Nhưng cảm giác này mãnh liệt dồi dào và xảy ra trong lúc đang bịnh nằm trong bịnh viện mà đọc đựơc Nghĩ Từ Trái Tim. Nhờ có cuốn sách mấy ngày đó tôi quên bịnh, chỉ đọc cái đó mà thú vị, đọc vô thấy khỏe trong người và ghi trở lại một vài điều hôm nay.

(tặng Thức-Lý)

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe, Vài đoạn hồi ký

Sư Giới Đức: Vài Lời Về Dịch Phẩm “Vị Thánh Tăng Cận Đại”

23/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú:

Mùng 4 Tết Giáp Thìn (13. 02. 2024), tại Huyền Không Sơn Thượng, Huế, Sư Giới Đức trao cho tôi cuốn sách này, và dặn dò, bác sĩ nhớ đọc kỹ nhe.  Và, tôi đọc kỹ, ngạc nhiên, thì ra có một vị Sư đã “học” và đã “hành” Phật pháp theo “một lộ trình tu tập” như vậy đó…

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Vài Lời Về Dịch Phẩm

“Vị Thánh Tăng Cận Đại”

 

Tỳ-khưu Giới Đức

(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)         

Sư Tường Phát, đệ tử của ngài Pháp Tông, chùa Huyền Không-Huế, trao tôi một tập bản thảo dày hơn một trăm năm mươi trang khổ giấy A4, nói đây là bản dịch của một nhóm Phật tử chùa Bửu Long, đệ tử của thiền sư Viên Minh, về cuộc đời của một vị Thánh, nhờ tôi xem và nhuận sắc.

Nghĩ là cần một vài lời giới thiệu để độc giả nắm bắt khái lược những chi tiết nội dung mà tôi cho là hay, là độc đáo, là cần thiết cho mọi người tu Phật.

 

1- Đại đức Mahn Bhūridatta, sinh năm 1870 và mất năm 1949 tại Thái Lan, ngài khởi tâm tu và xuất gia từ nhỏ, học hành không được nhiều. Sau khi thọ giới tỳ-khưu năm 22 tuổi rồi theo thầy là đại đức Sao cùng vào núi rừng tu hạnh đầu-đà, và thọ trì được bảy trong mười ba chi pháp của đời sống khổ hạnh này.

2- Nhờ đại đức Sao hướng dẫn vài cách thức tập thiền ban đầu, sau đó ngài phải tự mày mò hành trì một mình. Khi gặp những hoài nghi hoặc bế tắc nào đó, đại đức hỏi thầy thì thầy đáp, đại lược là: “Tâm của ông khác tâm của tôi, vậy ông hãy tự tìm ra phương pháp, giải pháp cho mình”. Nghĩa là, bắt đầu từ đó, đại đức không còn ai là thầy nữa trên lộ trình đầy cam go, gian khổ để giải quyết những tham sân, phiền não của chính mình.

3- Không bao lăm chữ nghĩa, không trang bị kinh điển, không có thầy trực tiếp hướng dẫn, đời sống hoàn toàn cơ cực, thiếu thốn nhưng đại đức đã quyết tâm tự tu tập một cách kiên trì và bất khuất. Đối diện với cọp dữ, voi rừng, ma thiêng, chướng khí, đói rét… đại đức không hề thối chí, ngả lòng. Những khi ốm đau, nhất là bị bệnh sốt rét hành hạ, đại đức không dùng thuốc men, chỉ sử dụng “pháp dược” tự chữa trị cho mình. Và suốt đời, đại đức đã dùng “pháp” để đánh bại tất cả chướng ma ngoại giới cũng như nội tâm.

4- Lộ trình tu tập của đại đức ban đầu là thiền định; có định sâu, thành tựu một vài thắng trí, có thể cảm hóa hung thần, có thể đi thăm thiên đường, địa ngục. Sau, đại đức chuyển sang tu tập vipassanā, tuệ quán cho đến lúc giải thoát tất thảy mọi tham sân phiền não. Từ đó, đại đức tuyên bố định-tuệ song tu, không có tuệ thì định có thể bị lầm lạc, dính mắc.

5- Đại đức có giới luật nghiêm minh, suốt đời thân giáo, giáo giới nghiêm khắc, không mệt mỏi đến chúng đệ tử, nhất là chư sư đầu-đà khổ hạnh. Đại đức đã làm sống lại bảy trong mười ba pháp hạnh đầu-đà, đồng thời thổi vào nếp sống thiền môn không khí tu tập cổ xưa thời đức Phật, đấy là giới, định, tuệ một cách rất điển hình, mẫu mực và nghiêm túc. Các vị thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan đương đại, đều là lớp đệ tử thế hệ thứ hai, thứ ba, thứ tư… nối tiếp được truyền thừa này và hiện đang phổ cập trên thế giới.

Tuy nhiên, điều tôi tâm đắc để giới thiệu cuộc đời đại đức không chỉ do tất thảy các tiêu biểu kể trên mà còn chính là “lộ trình tu tập”! Đa phần người ta thường nghiên cứu kinh điển, tìm nghĩa lý, nắm rõ giáo pháp rồi mới hạ thủ công phu. Lộ trình ấy tạm đúc kết theo tiến trình thứ tự là giáo, lý, hành và quả. Trường hợp này là phổ thông trên thế giới, xưa và nay vì dựa vào kinh điển. Tuy nhiên, nếu điểm tựa kinh giáo (giáo) chỉ cần bị “khúc xạ một ly” thì ý nghĩa (lý) trong đó đã “lệch lạc một dặm”; do đó, việc tu tập (hành) không biết đắc được cái đạo (quả) nào? Người dựa vào kinh điển hoặc chưa chứng nghiệm, giác ngộ, giải thoát mà đã dạy đạo, dạy thiền thường rơi vào trường hợp “sai một ly, đi một dặm” nêu trên.

Đại đức Mahn Bhūridatta không đi theo công thức ấy, vì có điều thật lạ lùng là ngài chẳng có giai đoạn giáo và lý; tuy có hành nhưng không có kinh điển, không có thầy, thế là tự mình mầy mò cho đến lúc giác ngộ (quả) giải thoát luôn. Sau đó mới xuống non hoằng pháp. Vậy thì đại đức đã đi ngược lại tiến trình do chư “học giả Phật giáo” thiết định. Đại đức đã đi thẳng, trực tiếp từ tâm, học “cái thực” từ nơi tâm, miệt mài đối trị, chuyển hóa, phấn đấu, lắng nghe, nhìn ngắm, “điều tra” cái bộ mặt thực của tham sân si nó ra sao – hoàn toàn trong cô liêu, đơn độc và thầm lặng. Sau khi giác ngộ, giải thoát (đạo) rồi, đại đức mới hướng dẫn đệ tử tu tập (hành) từ “cái thực” mà ngài đã chứng nghiệm. Lý và giáo như thực cũng từ đó mà sinh ra. Thật không ngạc nhiên gì, khi sau này, đại đức đọc kinh điển rồi giải thích nghĩa lý (lý, giáo) cho chư đệ tử nghe mặc dầu ngài không rành thông hoặc kinh qua kinh điển. Trường hợp này là đại đức chỉ lấy kinh điển để so sánh, đối chiếu với tâm và tuệ của mình thôi.

Con đường tu tập được bắt đầu học “cái thực” từ nội tâm là đúng đắn, là chơn chánh. Tứ đế nằm ở đấy. Chân lý, Sự Thật, Thắng Nghĩa, Tự Tánh, Bản Lai Diện Mục, Vô Vị Chân Nhân, Đạo, Niết-bàn, Bờ Kia, Tuyệt Đối, Bất Tử, Vô Sanh, Chân Phúc… ở đây và bây giờ trong mỗi chúng ta, trong tương quan vận hành duyên khởi. Nó không có biên ranh giữa tiểu thừa, nguyên thủy, đại thừa, kim cương thừa, Zen, thiền tông…

Viết đến đây, tôi sực nhớ cách đây khoảng mười mấy năm về trước, thiền sư Viên Minh đã thuyết giảng “cái thực” này tại Huế, sau đó, Phật tử ở Pháp xin in và họ lấy tên là “Thực tại hiện tiền”. Thiền sư Viên Minh là người đã bác lãm chư kinh điển Đại Thừa, đã nghiên cứu thấu đáo tinh hoa của Khổng, Lão; lại còn suốt thông các Nikāya và Abhidhamma, nhưng khi tu tập, ngài không trụ, không ly chư kinh giáo, lắng nghe “cái thực” trong tâm mà xử lý mọi vấn đề vi tế ở nội tâm. Khi đã nắm chắc, thấy rõ “cái thực” là gì rồi, nhiều năm nay, thiền về “cái thực” này đã được ngài giảng nói qua cả hằng chục khóa thiền ở Bửu Long, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, Úc, Malaysia, Mỹ quốc, Châu Âu… Ngài đã chỉ bày, gợi mở cho mọi người nắm “cái nguyên lý” mà lên đường chứ không đi qua “pháp môn phương tiện” nào cả! Và đã giúp cho rất nhiều hành giả giải thoát khỏi những vướng mắc về kinh giáo, lạc định, ước lệ, phạm trù của tâm trí cùng những bản ngã sở đắc! Trả vô thường lại cho vô thường, trả dukkha lại cho dukkha, trả vô ngã lại cho vô ngã! Và rồi, chư kinh giáo, nếu có nói đến cũng chỉ để nhằm đối chiếu, so sánh với “cái thực” này mà thôi!

Pháp đang hiện tiền, “cái thực đang hiện tiền” và nó luôn thuyết pháp không ngưng nghỉ, ngày cũng như đêm. Ai có tai hãy nghe, có trí hãy tìm hiểu!

 

Huyền Không Sơn Thượng, 

Mai Trúc Am, Sơ Xuân Giáp Ngọ

Tỳ-khưu Giới Đức

(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

 

Ảnh: Tịnh Thy

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Lõm bõm học Phật

Họp mặt “bỏ túi” ở Lan Viên Cố Tích

20/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi ( M5 Tết Giáp Thìn, 2024)

Họp mặt “bỏ túi” ở Lan Viên Cố Tích

 

Cứ tưởng là cổ tích, nhưng không. Cố Tích. Vết xưa. Dấu xưa. Lối xưa. “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo…” (BHTQ).

Chiều Mùng 5, (ngày 14.2), có một buổi Họp mặt “bỏ túi” thân tình ở vườn nhà Thái Kim Lan, khu Kim Long, Huế.

Gọi là “bỏ túi” vì đó là một buổi họp mặt nho nhỏ, thân tình, đầu năm, giữa vài bạn bè thân quen với Đỗ Hồng Ngọc vừa từ phương Nam mang chút nắng vàng về… Kinh.

Thái Kim Lan “chủ xị”, lúc đầu tính mời rộng qua FB nhưng mình can, Tết nhứt, ai cũng bận bịu. Vậy mà cũng hơn vài ba mươi người chớ không ít.

Gởi bạn vài tấm hình coi chơi thôi nhe.

Khu vực vườn nhà Thái Kim Lan rất rộng, có cả bảo tàng cổ vật sông Hương, thư viện, hội trường…

 

 

bạn bè đến khá đông vui… nhiều người tóc đã trắng phau, vẫn áo dài truyền thống thướt tha đầy màu sắc…

Một… hội trường mở rộng vào không gian vườn vừa cổ xưa vừa hiện đại… Mình được mời nói một chút về chuyện Thơ văn, chuyện học Phật…

Và bắt đầu sôi nổi với những câu hỏi của nhà báo Nguyễn Khoa Diệu Hà, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy, của bác sĩ Pham Đức Thành Dũng, của nhà Phật học Nguyễn Phố…

D

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

19/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (Tết, tiếp theo)

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Lần nào về Huế, mình cũng ghé Huyền Không Sơn Thượng thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh. Một nhà thơ, một nhà thư pháp có tiếng từ thuở xa xưa và là một vị thiền sư bên cạnh các Thiền sư Viên Minh, Pháp Tông, Tuệ Tâm của Phật giáo Nguyên Thuỷ…

Năm ngoái, cùng với các bạn Tạp chí Quán Văn ghé thăm (trong đó, có nhà văn Nguyên Minh vốn là đồng môn Sư phạm Quy Nhơn hơn nửa thế kỷ trước với Sư Giới Đức), mình hỏi thầy về kinh nghiệm sau 3 năm nhập thất… Thầy kể rất chi tiết cái được cái không, cái thấy cái biết và kết: Bây giờ thì đã rõ “Bình thường. Thanh thản. Tự nhiên thôi/ Với cả nhân gian một nụ cười”.

`Thầy nói về cây hoa thuỷ tiên,

 

 

Và thật vậy, hôm nay gặp lại, đúng là thầy cười rất tươi, không còn chút gì căng thẳng, vất vả tìm kiếm như những ngày xa xưa nữa.

 

Từ trái: Nguyễn Thị Tịnh Thy, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Văn Dũng (Dũng Võ), Ngô Tiến Nhân và nhà báo Minh Tự. (Mùng 4 Tết Giáp Thìn, 13.2. 2024). Sư đều tặng cho mỗi người 3 cuốn sách to đùng về Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, một tập Thơ. Ngoài ra còn có cuốn sách của Thầy Chơn Tín về chuyến hành hương Ấn Độ.

 

 

 

 

Sư gọi đệ tử gởi ngay 10 tập Thơ riêng cho “Nữ sĩ”, khi biết Tịnh Thy là người đã viết rất hay về Thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh trước đây.

 

 

 

Với Đỗ Hồng Ngọc, Sư tặng cuốn sách mới dịch: Cuộc Đời & Hành Trạng Ngài Ajahn Mun (1870-1949), một Tỳ Khưu độc đáo, Vị Thánh Tăng cận đại, có những cách học và hành Phật pháp rất đặc sắc.

 

 

 

T

Thuộc chủ đề:Gươm báu trao tay, Phật học & Đời sống, Vài đoạn hồi ký

HUẾ: Ni xá Diệu Trạm (Làng Mai)

17/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (Tết)

Thăm Ni xá Diệu Trạm, Huế

 

Lê Bá Thông dặn đến Huế, muốn ghé thăm Ni xá Diệu Trạm Làng Mai thì gặp các Sư cô Như Hiếu, Tịnh Hằng, Trí Nghiêm…

Mùng 3 Tết Giáp Thìn, mình sợ các Ni xá đều “cắt đứt dây chuông” thì thật đáng tiếc. Bởi mình và Lê Bá Thông vẫn thường đến thăm Ni xá Trạm Tịch ở Đồng Nai (nay đổi tên là Đạo tràng Phùng Xuân?) gặp các Sư cô Đức Nguyên, Trực Nghiêm…. Các vị còn mời có buổi Trao đổi, Trò chuyện cùng các Sư cô và Thiền sinh, còn viết tặng thư pháp các thứ v.v… May quá, Diệu Trạm, Huế ngay Mùng 3 Tết Giáp Thìn 2024 còn “nhộn nhịp” hơn.

Gởi bạn vài tấm hình như thường lệ thôi nhé.

Ni xa Diệu Trạm, Làng Mai, Huế

Ni xá Diệu Trạm Huế (ảnh ĐHN, 12.2.2024)

Các Sư cô trẻ bên bếp lửa hồng ngày Xuân

 

 

Sưởi ké chút đông xứ Huế. Bếp hồng đang chờ khoai bắp.

 

 

Các Sư cô đang dạy hát tiếng Anh cho các cháu bé… Hai vị khách cùng tham gia..

 

 

Mùng 3 Tết, ở Diệu Trạm là ngày bà con viếng thăm.

 

 

 

 

 

 

 

 

Các Sư cô gởi phong bao “lì xì” cho khách. 

 

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Uncategorized

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 5
  • Trang 6
  • Trang 7
  • Trang 8
  • Trang 9
  • Interim pages omitted …
  • Trang 123
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

“MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ” Tuỳ bút Đỗ Hồng Ngọc

Từ góc nhìn “Phê bình sinh thái” về bài thơ “Rùng mình” của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Tu viện Khánh An và Tôi
  • Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!
  • Thư gởi bạn xa xôi (Noel 2025)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Nguyễn Thời Trang trong “Có một con Mọt Sách”
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thở để chữa bệnh!
  • Huỳnh thị Mai Hương (đồng Xuân) trong Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!
  • Ngọc Nguyễn Thị trong Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email