Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

“Con đường sỏi đá vẫn quanh co…”

21/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (9.17)

“Con đường sỏi đá vẫn quanh co…”

Có bao giờ bạn thấy một đám đàn ông có tuổi ngồi xúm xít ”cụng dừa” không? Chắc là không. Lứa tuổi này, cụng là cụng rượu thôi! “Một chiều ngồi say một đời thật nhẹ ngày qua…” (TCS). Vậy mà có đó. Chuyến rồi mình về Mũi Né và ngồi ”cụng dừa” với các bạn…trẻ ở đó. Bạn trẻ? Phải, tất cả đều mới ngoài 60, mới hưu đôi ba năm! Đa số mình mới gặp lần đầu! Cả bọn kéo vào một quán cafe. Một bạn ôm bình rượu thiệt to nhưng mình nói mình không biết uống rượu, vậy là mọi người chiều ý đành cụng nước dừa mới dễ thương làm sao!

 

Từ trái: Mai Chí, Đặng Văn Quân, Đỗ Hồng Ngọc, Ngô Đình Miên

Sau đó mỗi lúc mỗi thêm đông, lại tiếp tục cụng dừa, để chờ đến giờ hẹn về dốc Bà Banh, đình Khánh Thiện tụ tập ở nhà anh 7 Du ”giao lưu” với Đỗ Nghê, tác giả bài thơ Mũi Né… một bữa!

Ối trời, mình về MN nhiều lần, chưa có lần nào họp mặt đông vui và cảm động như vậy.

Bạn coi hình thôi nhe. Làm biếng viết quá rồi.

Có người tận Ma Lâm xuống, có người từ Phan Thiết ra, có vài người ở Mỹ về, tình cờ tham dự buổi họp mặt đặc biệt này.

 

 

Ngô Đình Miên, Tuyết Nhi, Võ Đình Lang (mà các bạn đùa gọi là Võ Đại Lang, anh Võ Tòng), một cây đờn đáng nể, soạn cả một bản nhạc phỏng thơ Đỗ Nghê. Hôm đó Võ Đình Lang vừa đờn vừa hát thiệt hay. Rồi Đặng Văn Quân, Hồ Nhữ Phước, Mai Chí (người tổ chức buổi họp mặt này, nhà ở Rạng, đã cương quyết bảo bài thơ Mũi Né của Đỗ Nghê thiệt ra là viết cho Rạng chớ chả dính dáng gì tới Mũi Né!). Rồi còn có Hoàng Như Bảo, Hiếu (Hàm Thuận Nam), Võ Văn Trọng, Lê Ngư, Thu Thảo (Mũi Né), anh 7 Du và Cô Tuyết… chủ nhà.

Võ Đình Lang hát Mũi Né (do anh sáng tác, phỏng theo bài thơ Mũi Né của Đỗ Nghê) Anh cho biết bài này anh viết đã từ lâu, viết đi viết lại năm lần bảy lượt mới xong…

 

Jpeg

Hôm sau, Lang gởi bản nhạc tặng mình để kỷ niệm. Hóa ra anh là một người rất thân quen.

Rồi Lang đệm đàn cho Thu Thảo hát, cho Lê Ngư hát. Rồi không chỉ Lang, Mai Chí cũng ôm đàn hát… thì ra một buổi ”văn nghệ” bỏ túi bên ”con đường sỏi đá vẫn quanh co” ngày nào… Gần 60 năm rồi còn gì!

Thu Thảo bảo bài thơ Mũi Né ra đời trước cô một năm! Cô vẫn thuộc nằm lòng. Lê Ngư bảo cô giáo Mai Nương, xưa dạy Hải Long – hiện đang ở Mỹ- là người ”truyền tụng” bài thơ này cho các em những năm 70 ! Lê Ngư vừa phone cho cô giáo nói hôm nay gặp tác giả bài thơ, cô bèn gởi lời thăm Đỗ Nghê.

Không thể không nhắc Mai Chí. Chính anh bạn trẻ này (mới 63 tuổi) nhà ở Rạng, viết một bài trên Facebook “Chợ Rạng ngày xưa” có một đoạn về bài thơ Đỗ Nghê, thú vị với những nhận xét rất riêng của anh.

Đây là bài viết của Mai Chí:

 

Chợ Rạng ngày xưa! (tt).

Đầu thập niên 70, anh Đỗ Nghê đã làm những chàng trai cô gái vùng Mũi Né phải tốn không biết bao nhiêu là giấy mực và công sức, để nắn nót chép cho nhau bài thơ của anh, bài thơ Mũi Né!

Em có về thăm Mũi Né không
Hình như trời đã sắp vào xuân
Hình như gió bấc lùa trong Tết
Những chuyến xe đò giục bước chân…
…

Dài 20 câu, chia làm 5 đoạn, mỗi đoạn 4 câu, nhưng đoạn nào cũng xuất hiện 2 chữ Mũi Né. Nếu tính cả cái tựa đề, thì có cả thảy 6 chữ Mũi Né! Chỉ có điều là đoạn nào cũng hay cả, cứ đọc qua một lần là tự nhiên thuộc lòng!

Anh Đỗ Nghê bây giờ thì ra là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, có lẽ anh có nhiều sáng tác, nhưng đối với tôi, bài thơ này là một ấn tượng quá đẹp, đọc đoạn nào cũng cảm thấy hình như có mình trong đó!
Từ khi lớn lên rồi đi đây đi đó khắp nơi, tôi đã có cái suy nghĩ cho rằng rừng dừa ở Rạng là đẹp nhất, và kỳ lạ thay, cho đến giờ cái suy nghĩ đó vẫn không thay đổi! Chính vì vậy mà bài thơ Mũi Né của Đỗ Nghê đã nghiễm nhiên đi vào và ở luôn trong tiềm thức, suy cho cùng với tôi, nó không khác gì so với truyện Kiều hay Chinh phụ ngâm học hồi nhỏ!

Dưới đây tôi có chép lại 20 câu thơ của bài thơ Mũi Né, quí vị sẽ thấy hai chữ “Mũi Né” được liên tục lặp đi lặp lại.

Thế nhưng,  suy nghĩ một lát, sẽ thấy rằng cả bài thơ đều nói về Rạng! Không thể tìm thấy Mũi Né trong bài thơ!

Không có Bãi trước bãi sau, không có Động Bà Lựa (bây giờ kêu là Đồi cát Mũi né), không có dốc Bà Banh, không có trung học Hải Long và Lục thị Đậu phụng cúng, không có hòn Cù Lao Gành đá, không có Đồi Hồng hòn Rơm! Không có và không có, đúng không?

Chẳng hạn: “… Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng. Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong…” là hình ảnh một cô gái Rạng, vừa mới uống xong một trái dừa xiêm mà đôi môi hãy còn… ngọt lịm và ngất ngây!

Xin phép thêm rằng biển Rạng đẹp quá, có mấy con thuyền bé nhỏ ngoài kia đã in hình vào đôi mắt “trong” của cô gái, đang ngồi ngắm biển mà mơ mà mộng!

Ngày Chủ nhạt, rảnh rang, viết chơi để góp vui, có gì sai sót, xin lượng thứ mà bỏ qua, một ông già lẩm cẩm!

Mai Chí (Rạng)

 

Mũi Né  


Em có về thăm Mũi Né không
Hình như trời đã sắp vào xuân
Hình như gió bấc lùa trong Tết
Những chuyến xe đò giục bước chân…

Em có về thăm Mũi Né không
Mùa xuân thương nhớ má em hồng
Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng
Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong

Em có về thăm Mũi Né xưa
Con đường sỏi đá vẫn quanh co
Hoàng hôn sóng vỗ bên trời biếc
Sóng vỗ trong hồn ta ngẩn ngơ

Em có về thăm Mũi Né yêu
Mười năm như một thoáng mây chiều
Mười năm vườn cũ chim bay mỏi
Áo trắng chân mềm em hắt hiu

Mũi Né ơi, người xưa đã xa
Mùa ơi gió bấc nhớ không ngờ
Năm nay người có về ăn Tết
Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ?

Đỗ Nghê (1970).

sent by my Samsung
(chiphanthiet@gmail)

”Con đường sỏi đá vẫn quanh co…” 

Dĩ nhiên mình vẫn không quên đi lại trên ”con đường sỏi đá vẫn quanh co…” ngày xưa, không xa lạ lắm, dẫu bước chân đã khập khiểng, đắn đo. Những ngôi nhà đơn sơ bên bờ sóng còn đó, và cả những căn nhà xưa cũ đầy dấu rêu phong…

Thôi vắn tắt, hẹn thư sau nhé,

Đỗ Hồng Ngọc

(9.2017)

với những ngày biển động…

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Hỏi–Đáp về Thở và Thiền

21/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Hỏi–Đáp về Thở và Thiền

 

Hỏi (HNTài)

Dạ kính thưa Bác sĩ, con có duyên nghe được buổi hướng dẫn về ứng dụng hơi thở bụng vào thiền của Bác sĩ. Con vô cùng cảm ơn Bác sĩ đã mở một hướng thực hành thiền cho con ạ. Con đang thực hành theo phương pháp thở bụng và có một vài câu hỏi mong được Bác sĩ tư vấn giúp con:
1. Khi ngồi thiền, mình thót bụng vào và phình bụng ra ở chừng mực nào là hợp lí? Vì con để ý khi thót bụng dường như mình đang dùng lực để đẩy cơ hoành lên. Mà nếu dùng lực vậy có đúng với quy tắc buông thư cơ bắp khi ngồi thiền không? Theo kinh nghiệm của Bác sĩ thì mình dùng lực thế nào cho hợp lí hay chỉ để tâm cho bụng thót và phình nhẹ nhàng?
2. Tầng suất thót và phình bụng như thế nào là hợp lí? Nên duy trì đều đều hay nhanh chậm khác nhau?
Con kính cảm ơn Bác sĩ và kính chúc Bác sĩ thân tâm an lạc. Con rất mong phản hồi của Bác sĩ để con tiếp tục thực hiện cho đúng.

 

Trả lời 

Cảm ơn HNTài đã đặt câu hỏi quan trọng.
1. Khi ngồi thiền, mình thót bụng vào và phình bụng ra ở chừng mực nào là hợp lí? Vì con để ý khi thót bụng dường như mình đang dùng lực để đẩy cơ hoành lên. Mà nếu dùng lực vậy có đúng với quy tắc buông thư cơ bắp khi ngồi thiền không?

Trả lời: Thở bụng là cách thở sinh lý bình thường, bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu cũng thở bụng cả, chớ không phải lúc Thiền mới thở bụng. Do đó, trong Thiền vẫn thở bình thường, không ráng sức gì cả. Ráng sức “phinh xep” là sai. Có dịp nào gặp sẽ trình bày cụ thể hơn.
2. Tầng suất thót và phình bụng như thế nào là hợp lí? Nên duy trì đều đều hay nhanh chậm khác nhau?

Trả lời: Mỗi người có “tần suất” thở khác nhau tùy tuổi tác, tùy công việc, tùy sinh học… Cũng như nhịp tim, mỗi người mỗi khác nhau ít nhiều. Ta cứ theo sinh lý bình thường của cơ thể mình là tốt. Đừng có ráng. Khi “thiền quán niệm hơi thở” thuần thục hơn sẽ có hơi thở nhẹ và đều… thậm chí không biết mình đang thở!
Thân mến,
Bs Đỗ Hồng Ngọc

 

HNTài

Dạ con rất cảm ơn Bác sĩ đã nhắc về điểm đa dạng của đặc điểm sinh lí từng cá nhân. Điều này đã giúp ích con rất nhiều trong việc ‘thoát’ ra các phương pháp hít thở với các ‘patterns’ khác nhau của mỗi vị thiền sư khác nhau. Những ‘kiểu’ hay patterns này thường làm con bị rối tung lên và ‘hoang mang’ vì không biết phải theo vị nào cho đúng nhất. Cuối cùng con lạy Phật cầu Phật gia hộ cho con thực hành được phương pháp đúng nhất. Và chắc nhờ Phật nên con quyết định quay về phương pháp thở trong lời kinh Phật dạy. Khi thực hành thì theo cách Phật dạy thì con thấy an ổn lại ngay. Con ‘ngộ’ có nhiều cách thở khác nhau mà các thiền sư dạy nhưng duy chỉ có cách Phật dạy là ‘universial’, có thể áp dụng cho tất cả chúng sinh. Có lẽ vì vậy mà Phật không đưa ra một cách thở dài ngắn hay theo nhịp này nhịp kia vì mỗi người có một đặc điểm sinh lí khác nhau. Con cám ơn Bác sĩ rất nhiều vì nhờ quan điểm của Bác con đã ‘quay về nương tựa Phật’ ạ.
Con kính chúc Bác sĩ thân tâm thường an lạc.

 

Fususu:

Con chào bác Ngọc và cả nhà,

Cảm ơn bác Ngọc đã thêm một bài rất chi tiết về Tập thở và Cơ hoành. Con chỉ xin góp ý nhỏ về cách ngắt đoạn để tiện cho theo dõi và in ấn như ở dưới. Trân trọng cảm ơn cả nhà.

====
Hỏi:

Phương pháp thở bụng để chữa bệnh phải chăng là “đưa hơi xuống huyệt đan điền” như người xưa thường nói, thấy trong luyện nội công, trong kiếm hiệp?
tt.huynh@ yahoo.com.

Trả lời:

Giống mà không giống. Một đằng là luyện nội công để trở thành thiên hạ vô địch, còn một đằng chỉ là tập thở ra thở vào để chữa bệnh cho mình, cốt sao vui khỏe, ít ốm đau bệnh họan, đỡ tốn tiền tốn bạc, tốn thì giờ chạy chữa khắp nơi, từ bác sĩ đến… lang băm!

Đọc kiếm hiệp ta thường thấy cụm từ “đua hơi xuống huyết đan điền” trong lúc luyên công hoặc chữa thương, dưỡng thương. Đan là thuốc quý, linh đan diệu dựơc, điền là rụông. Đan điền là ruộng thuốc quý. Huyệt đan điền nằm ở dưới rún chừng 3cm, còn đựơc gọi là huyệt khí hải, “biển khí”. Kiếm hiệp không bày đặt ra chuyện đó mà chỉ “phóng đại” thêm thôi.

Đưa hơi xuống huyệt đan điền là phương pháp khí công, thiền tập, đã có tự ngàn xưa, trong hệ thống huyệt đạo, kinh mạch của y lý Đông phương. Vấn đề là làm sao đưa đựơc hơi (khí) đến tận huyệt đan điền, dưới rún đến 3cm đựơc?

Ta biết cơ hoành chính là cơ chủ lực của bộ máy hô hấp, đó là một cơ lớn và mạnh, nằm vắt ngang giữa ngực và bụng. Cơ hoành như một cái pit-tông (piston) đẩy lên đẩy xuống để đua hơi vào ra 2 lá phổi.

Vì cơ hoành có khả năng di chuyển rộng đến 7-8 cm, nên có thể hạ xuống thấp đến tận rún. Do vậy, để đưa hơi xuống huyệt đan điền ta chỉ cần tập thở bụng, nghĩa là luyện tập cơ hoành, bằng cách phình bụng lên xẹp bụng xuống thế thôi. Mỗi lần cơ hoành di chuyển 1 cm, đã hút hoặc đẩy đựơc 250ml không khí, vậy nếu di chuyển 7-8 cm, thì đã hút hoặc đẩy được 1,5 lít không khí! Cơ sở sinh lý học và cơ thể học ở đó.

Ngoài ra về mặt tâm lý, những lúc căng thẳng, tức giận, lo âu, sợ hãi… cũng như những khi tập trung cao độ làm một việc gì đó, ta thường nín thở mà không hay nên dễ thấy đuối sức, hụt hơi!

Học sinh nín thở học bài, nín thở làm bài thi, nín thở chơi games… Người lớn nín thở để vẽ, để viết, để tranh luận, để… đấu đá! Một lúc đã thấy bãi hoãi cả người, bắp cơ căng cứng, đau gân, nhức mỏi, đau cột sống cổ, đau thắt lưng… và vô số các thứ bệnh khác mà y học cũng đành bó tay tìm không ra bệnh đành gán cho những cái tên mơ hồ như “mệt mỏi kinh niên”, “ rối lọan thần kinh thực vật”… càng gây thêm hoang mang. Đại học Harvard công bố có hơn 60% các bệnh nhân ở Mỹ đến bác sĩ là do stress.

Họ đau đủ thứ, chữa hoài không khỏi, chữa bệnh này sinh bệnh kia vì cái gốc stress đã không đựơc quan tâm. Stress nặng, gây mất ngủ, trầm cảm, thậm chí dẫn đến tự tử… thì đành vào bệnh viện tâm thần thôi! Những người hay “thở dài não nuột” rất có thể là những người hay…nín thở đó. Họ chìm đắm trong suy tư, quên ăn, quên ngủ… nên phải thở bù.

Các loại bệnh kiểu này bác sĩ đâu có chữa nổi nên bệnh nhân dễ đến lang băm, dễ tin tưởng vào những quảng cáo nhảm nhí. Người quen “ đưa hơi xuống huyệt đan điền”, thì có cả một “biển khí” ở đó, đủ xài trong một quãng thời gian. Ngoài ra, nếu biết tập trung chú ý vào hơi thở nữa thì sẽ quên giận, quên lo, bớt căng thẳng, giảm stress vậy.

BS Đỗ Hồng Ngọc.

 

Nói rõ thêm:

Hai ngàn sáu trăm năm trước, một nhà minh triết phương Đông – Đức Phật – bảo đừng vội tin, cứ đến nếm thử đi rồi biết! Đến là thực hành. Nếm thử là cảm nhận. Phải tự mình thực hành và tự mình cảm nhận. Không thể nhờ ai khác. Rồi Ngài vạch ra một con đường “thoát khổ” cho chúng sanh.

« Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết-bàn »…

Con đường độc nhất? Đó là thiền Tứ niệm xứ (Satipathana), thân-thọ-tâm-pháp, 4 lãnh vực để quán niệm. Rồi hình như thấy Tứ niệm xứ hãy còn có vẻ phức tạp quá, Ngài giản lược vào Thân hành niệm, rồi lại giản lược lần nữa cho phổ cập đến tất cả mọi người: Anapanasati (còn gọi là An-ban thủ ý, Nhập tức xuất tức niệm) để ai ai cũng có thể tiếp cận mà thực hành con đường “giải thoát”, bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào .

Ana là thở vào, Apana là thở ra và Sati là niệm, là nhớ, nghĩ. Nhớ nghĩ về sự thở vào và thở ra. Chỉ có vậy thôi sao ? Chỉ có vậy. Mà vô vàn. Mà “bất khả tư nghì”.
Thiền Anapanasati có cơ sở sinh y học vững chắc, dựa vào hơi thở của mỗi cá nhân, không sợ đi lạc đường dẫn đến những hậu quả không hay. Chỉ cần nắm những nguyên tắc chung rồi tự mình áp dụng riêng cho bản thân mình. Không nôn nóng. Không ráng sức. Theo tôi, thiền tập Anapanasati cần 3 giai đoạn:

1) Thở bụng.

Thở bụng đúng cách đã có thể giúp cải thiện sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống; Chánh niệm hơi thở có thể đưa đến “diệt trừ khổ ưu” và Quán niệm hơi thở thì dẫn đến “thành tựu chánh trí”!

Nói đến thở, ta nghĩ ngay đến ngực. Thiệt ra, thở ở bụng chớ không phải ở ngực. Thở bụng (abdominal breathing) hay còn gọi là thở cơ hoành (diaphragmatic breathing) là cách thở sinh lý nhất. Nhìn một em bé ngủ say thì biết. Chỉ có bụng phình lên xẹp xuống. Nhìn con ếch, con thằn lằn thì biết.

Thiền tập Anapanasati nên bắt đầu bằng thở bụng. Dĩ nhiên ở giai đoạn thiền sâu hơn thì  không còn thấy “phình xẹp” gì nữa cả!

 2.“Chánh niệm hơi thở”.

Niệm là nhớ, là nghĩ. Chánh niệm hơi thở là tâm ý chỉ “nhớ, nghĩ » đến hơi thở đang vào, đang ra chớ không để tâm ý đi lăng xăng nơi này nơi khác. Chỉ có vậy. Tưởng dễ mà không dễ. Tâm ý vốn lăng xăng trăm nghìn thứ, bay nhảy như khỉ như ngựa (tâm viên ý mã) không ngưng nghỉ. Lúc thì lòng tham nổi lên, tính tính toan toan. Lúc thì sân giận ào ào đến, rồi dằn vặt, rồi lo âu, nghi kỵ, ngờ vực, hoang mang… Tiêu tốn biết bao nhiêu năng lượng cho những chuyện vô bổ đó! Bộ não chỉ chiếm có 2% thể trọng mà tiêu hao Oxygen đến 25-30%, phần lớn cho những chuyện “nhảm nhí” vô bổ này. Nếu chánh niệm được vào hơi thở thì những thứ tham, sân, nghi, lăng xăng, bực dọc kia… sẽ âm thầm lặn đi rồi… biến mất!

Đây chính là “thiền chỉ” (samatha). “Chỉ” là ngưng. Ngưng sự lăng xăng của tâm ý. Ngưng sự bứt rứt của cơ thể.

Chánh niệm vào hơi thở cách nào? “Thở vô dài, biết thở vô dài. Thở ra dài, biết thở ra dài. Thở vô ngắn biết thở vô ngắn, thở ra ngắn biết thở ra ngắn”(Kinh Tứ niệm xứ).  Chỉ có vậy. Chữ “biết” ở đây có thể gây hiểu lầm. “Biết” ở đây không phải là “biết” mà là nhận thức được (recognize), ý thức rõ (realize), cảm nhận được (perceive) cái sự thở, cái hơi thở đang đi vào và đang đi ra, lúc dài lúc ngắn lúc sâu lúc cạn kia kìa. Nhận thức, ý thức, cảm nhận, ấy chính là niệm (nhớ) về sự thở, về hơi thở. Vỏ não ta có cái hay: vùng này được kích hoạt thì vùng khác tắt ngấm. Đã nghĩ tới điều này thì không thể cùng lúc nghĩ tới điều khác. Nhờ đó mà ta giải thoát tâm ta khỏi những vướng mắc lăng xăng, tiêu tốn năng lượng vô ích! Điều này dẫn tới  “diệt trừ khổ ưu”, giải thoát tâm vậy.

 3.“Quán niệm hơi thở”.

Quán niệm hơi thở chính là “thiền quán” (vipassana). “Quán” không còn là “dõi theo” hơi thở đơn thuần nữa mà đã có sự phân tích, soi sáng (quán chiếu) dưới nhiều góc cạnh khác nhau để nhìn cho ra những điều mà bình thường không “thấy biết”. Cái thấy biết bấy giờ đã vượt khỏi cái trình hiện, cái giả tướng bên ngoài để nhìn được cái thực tướng bên trong, bên bờ kia.

Vi, tiếp đầu ngữ có nghĩa là “một cách khác”, “một cách đặc biệt”, còn passana là “thấy”, là “biết”. Vipassana là thấy biết một cách khác, một cách đặc biệt! Một chiếc lá vàng rơi, người thi sĩ có thể thấy cả mùa thu, thấy con nai vàng ngơ ngác, nhưng người có quán chiếu lại thấy sự vô thường, vô ngã, sự bất sinh bất diệt…

Khi vào sâu trong định, hành giả sẽ không cảm nhận mình thở nữa. Hơi thở nhẹ gần như ngưng bặt. An tịnh. Hòa tan. Tan biến.  Lúc đó sẽ không còn ý niệm về không gian, thời gian, về ta, về người…

(đọc thêm: Thở để chữa bệnh, Ai có thể thờ giùm ai? Thả lỏng toàn thân… trên www.dohongngoc.com/web/).

Bs Đỗ Hồng Ngọc

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

“Quán” NHƯ LAI như thế nào?

15/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

“Quán” NHƯ LAI như thế nào?

 

Lúc ấy, Thế Tôn hỏi Duy-ma-cật: “Như ông muốn thấy Như Lai thì quán Như Lai như thế nào?”

Duy-ma-cật thưa: “Như tự quán cái ‘thật tướng’ của thân, quán Phật cũng như vậy”(*)

 

 Phật đã không hỏi “Như ông muốn thấy Phật thì quán Phật như thế nào?” mà hỏi “quán Như Lai như thế nào?”.

Bởi thấy Phật thì dễ quá! Phật đang đứng trước mặt đó thôi. Phật vẫn đi đứng nằm ngồi, thuyết giảng cho các đệ tử hàng ngày đó thôi.

Cho nên Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai!

Phật là Như Lai bởi vì Phật luôn sống trong Như Lai, sống với Như Lai, nói khác đi, Phật luôn sống trong pháp thân mình, trong thật tướng mình. Khi cần thì Phật mới hóa hiện, ứng hiện cho phù hợp với mỗi tình huống. Vì thế, Phật và Như Lai tuy “không một’’ mà cũng “không khác” là vậy.

Khi ‘’quán’’ thấy được cái pháp thân của Phật, cái thực tướng của Phật thì ta thấy… Như Lai. Còn nếu chỉ nhìn vào 80 vẻ đẹp hay 32 tướng tốt của Phật thì còn lâu mới thấy Như Lai. Hay dùng âm thanh chũm chọe, ánh sáng chớp lòe… thì chẳng những còn lâu mới thấy được Như Lai mà còn bị Phật chê là “hành tà đạo”.  Như Lai không có cái gì để thấy cả!

Khi Phật “thấy biết” Như Lai rồi thì Phật chỉ cười tủm tỉm, thôi nhé, đừng làm phiền ta nữa nhé. Và từ đó, với lòng từ bi, Phật “khai thị” cho chúng sanh được “ngộ nhập” như Phật, bởi  chúng sanh đều có Phật tánh.

Phật có nhiều danh hiệu: Thế Tôn, Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Điều ngự trượng phu, Vô thương sĩ, Thiên nhân sư v.v… Đó là tại chúng sanh ‘’thương kính’’ Phật nên xưng tụng vậy. Phật chỉ luôn tự xưng mình là Như Lai “vô sở tùng lai diệc vô sở khứ’’ (chẳng đền từ đâu, chẳng đi về đâu): Như Lai nói thế này, Như Lai dạy thế kia…

Phổ Hiền Bồ-tát bảo gặp Phật thì kính lễ (Lễ kính chư Phật), còn khi gặp Như Lai thì chỉ còn có cách xưng tán (Xưng tán Như Lai!), tức khen ngợi, trầm trồ, thán phục, gật gù, ú ớ, bởi vì ‘’nói không được’’! Kinh Pháp Hoa bảo muốn làm Pháp sư chân chính thì phải “vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai” chớ không nói vào nhà Phật, mặc áo Phật… cũng như nói về Như Lai thọ lượng chớ không Phật thọ lượng… Kim Cang cũng bảo muốn ‘’thấy Như Lai’’ thì phải nhìn xuyên qua bên kia cái tướng’’ (kiến tướng phi tướng tức kiến Như Lai).

Duy-ma-cật giải thích thêm cách ‘’quán’’ Như Lai. Như Lai thì “ vô danh, vô tướng; không sạch, không nhơ; không phải hữu vi cũng không phải vô vi…; không định, không loạn; không trí cũng không ngu; không thành thật cũng không lừa dối;

không đến không đi, không vào không ra; không xứng đáng cúng dường cũng không phải không xứng đáng cúng dường;

không vẩn đục, không phiền não, không tác, không khởi, không sanh, không diệt, không sợ, không lo, không mừng, không chán;

Như Lai thì “lìa mọi kết buộc, không thể định danh, không thể đo lường,  không phải lớn, không phải nhỏ; không phải cái được thấy, không phải cái được nghe, không phải cái được tri giác, không phải cái được nhận biết;đồng đẳng với trí, đồng với chúng sinh; không phân biệt với các pháp;

Như Lai thì ”không thể lấy trí để biết; không thể lấy thức để nhận thức;  dứt tuyệt tất cả con đường ngôn thuyết ; không thể bằng tất cả ngôn thuyết để hiển thị hay phân biệt.(*)

***

Thế Tôn hỏi Duy-ma-cật: “Như ông muốn thấy Như Lai thì quán Như Lai như thế nào?”

Duy-ma-cật thưa: “Như tự quán cái ‘thật tướng’ của thân, quán Phật cũng như vậy”(*)

***

Muốn thấy Như Lai thì phải quán, mà trước hết là quán cái thực tướng của chính thân mình và… ‘’quán Phật cũng như vậy’’.

Cho nên Phật day: “Hãy nương tựa chính mình!”.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(9-2017)

………………………………………………………………………………..

(*) Duy-ma-cật sở thuyết kinh, Tuệ Sỹ dịch Việt, 2008.

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Rùng mình…

15/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Rùng mình…

Tùng địa dũng xuất
(Pháp Hoa)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
vì sao núi lửa cứ phun trào?
vì sao băng tan vì sao bão táp…?
vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt
thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
vì sao và vì sao?…

 

Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát

 

Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mủi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
vì sao và vì sao?

 

Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…

 

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)

 

 

BRIVIDI !

Rabbrividendo, l’Uomo chiede :
Perche’i terremoti e gli tsunami
Continuano ad arrivare un giorno dopo l’altro?

Perche’ i vulcani continuano ad eruttare?
Perche’ i ghiacciai si sciolgono, i tifoni distruggono?
Perche’ i bambini e i vecchi vengono trascinati e inceneriti?
Le case crollano e le citta’ sono distrutte come fossero i giocattoli
di un bambino arrabbiato.
E perche’, perche’..???

Ed ora ascolta
Solo un istante……

Rabbrividendo anche la Terra chiede:
Perche’ le montagne continuano a crollare ?
Perche’ i fiumi vengono bloccati?
Perche’ si continua a perforare il fondo della terra?
Perche’ gli uccelli delle foreste, i pesci del mare non hanno un posto dove stare?
Perche’ gli alberi secolari vengono sradicati?
Perche’ il riso, il granoturco vengono modificati geneticamente?

E perche’, perche’ ?

Una volta ci si appoggiava uno all’altro
Sembra che ora non abbiamo più bisogno l’uno dell’altro
La Terra rabbrividisce
L’Uomo rabbrividisce
Ognuno per proprio conto.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Ý của Trương Văn Dân e Elena Pucillo Truong)

 

FRISSONS !

Frissonant, l’Homme demande:
Pourquoi les tremblements de terre et les tsunamis
Continuent à arriver un jour après l’autre?

Pourquoi les volcans continuent à éclater ?
Comment arrive-t-il que les glaciers fondent, les typhons détruisent?
Pourquoi les enfants et les personnes âgées
Sont entraînés et sont reduits en cendres ?

Les maisons s’effondrent et les ville sont détruites
Comme si elles étaient des jouets d’un enfant en colère.
Et pourquoi, pourquoi ?

Et maintenant écoute
Seulement un instant…..

Frissonant la Terre demande également:
Comment arrive-t-il que les montagne continuent à s’effriter ?
Pourquoi les rivières viennent bloquées?
Comment arrive-t-il qu’on continue à percer le fond de la terre?
Pourquoi les oiseaux de forêts, les poissons de la mer
n’ont plus un endroit où vivre?
Pourquoi les arbres sont déracinés?
Pourquoi le  riz , le maïs sont génétiquement modifiés?

Et pourquoi, pourquoi?
Une fois on s’appuyait l’un à l’autre
Il semble que maintenant nous n’avons plus besoin les uns des autres.
La Terre frissonne
L’Homme frissonne
Chacun pour son propre compte.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Pháp của Elena Pucillo Truong)

………………………………………………………………………………………………………………………………..

 

Ghi chú: Bão Harvey ập vào Houston,  bão Irma ập vào Florida, rồi bão số 10 Doksuri ập vào miền Trung…Việt Nam.

Đất vẫn run từng cơn của Đất, nước run từng cơn của Nước, và Gió và Lửa…

Cảm ơn Trương Văn Dân, tác giả của Bàn tay nhỏ dưới mưa, cảm ơn Elena Pucillo Trương đã… rùng mình dịch Rùng mình… 

Đỗ Hồng Ngọc

(9-2017)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Giả sử

15/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Giả sử

gởi Gvan

giả sử sóng thần ập vào Nha Trang
ập vào Mũi Né
anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng
vút qua những ngọn dừa
những đồi cát trắng

 

em nhớ mang theo đôi quả trứng
vài nắm cơm
vài hạt giống
đừng quên mấy trái ớt xanh…

 

biết đâu mai này
ta làm An Tiêm
trở về làng cũ
nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang
nơi kia gọi là Mũi Né…

 

cho nên
sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?

 

Đỗ Nghê
(2011)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

“Ăn chay và Sức khỏe”

07/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Về buổi Nói chuyện tại Tu Viện Tường Vân, Bình Chánh, 

Vu Lan 2017

 

Nói Tu viện Tường Vân Bình Chánh chắc bạn khó hình dung, nhưng nói chùa của Thầy Thích Phước Tiến thì bạn sẽ nhớ ra ngay phải không? Đi qua khỏi cầu Bình Điền, quẹo phải vào Chợ Đệm, dọc theo ”con kênh xanh xanh” đó. Hồi xưa (1987) bọn mình vẫn phải đi thuyền về xã Tân Nhựt để thực hiện Chương trình Săn sóc Sức khỏe Ban đầu (Primary Health Care) nhớ không? Xưa đây là vùng ngoại thành hẻo lánh, nay đô-thị-hóa nhìn không ra nữa!

Đề tài cũ quá phải không? Ai chẳng biết ăn chay có lợi cho sức khỏe, bảo vệ môi trường, tránh sát sanh, thực hiện ngũ giới… Nhưng nhà chùa đã ”đặt hàng” như vậy mà! Ở đây đông đảo bà con ăn chay nhưng một số bệnh tật lại nhiều, khi đi khám bác sĩ, bác sĩ bảo tại ăn chay, buộc phải “ăn mặn” trở lại mới hết bệnh! Bác sĩ nói đúng một phần. Thiệt ra không phải tại ăn chay chi đâu! Chẳng qua ăn không đúng cách. Ăn chay mà mặn quá, béo quá, nhiều đường bột quá, nhiều đạm quá… thì bệnh là phải rồi! Ăn chay mà không đúng cách thì béo phì, tim mạch, huyết áp, tiểu đường, stroke… là phải rồi. Ngược lại có người ăn chay lại thiếu chất, thiếu lượng, suy dinh dưỡng, gầy ốm tong teo, hạ đường huyết, chóng mặt, ngất xỉu… Một số các vị tu sĩ ngày nay bệnh nhiều, cũng do Phật tử…thương quá, quý trọng quá, bao nhiêu món ngon món bổ, sữa béo, sâm cao ly, nước yến… cung dưỡng cho thầy, hại thầy mà không hay!

Vì thế mà với đề tài này, mình đã đề cập ở 3 góc độ 1) Trước hết nói về sức khỏe là gì cái đã;  2) sau đó nói về tại sao ăn? ăn để làm gì? ăn cái gì? ăn bao nhiêu? ăn cách nào?... và sau cùng mới là 3) ăn chay. Chay là gì? Tại sao “chay”? Ăn chay ích lợi gì cho sức khỏe, cho tâm linh v.v…

Đại khái buổi nói chuyện kiểu ”tào lao” của mình khá… sôi nổi. Rất nhiều câu hỏi đáp. Nghe nói nhà chùa sẽ thực hiện một DVD. Hôm nào có đĩa thì mình sẽ đưa lên bạn ”xem” nhé. Hình như hôm đó còn có livestream gì đó nữa thì phải! Ái chà, kỹ thuật truyền thông bây giờ hiện đại mình… bí rồi!

Dưới đây là vài hình ảnh.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thầy Thích Phước Tiến và Bs Đỗ Hồng Ngọc (Tu viện Tường Vân 14.7, Vu Lan 2017)

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thầy thuốc và bệnh nhân, Uncategorized

Thư anh Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc

06/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư anh Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc

Kinh xáng Bốn Tổng ngày 05 tháng 9 năm 2017

 

Kính chào Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,

Xin cảm ơn Bác sĩ gởi cho đọc bài:”Yếu tố bất ngờ trong bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” của tác giả Tịnh Thy. Một bài viết được phân tích khá chặt chẽ, kinh điển.

Trong lần lên Sài Gòn hôm đầu tháng 6-2017, vợ chồng tôi ghé thăm Bác sĩ , dịp này tôi có ghi lại trong bài ký sự:”Lên Sài Gòn, Ghé Thăm Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc”, nhơn đây, xin trích phần nhắc về hai bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” và “Mũi Né” của thi sĩ Đỗ Nghê ( bác sĩ ĐHN) mà tôi rất thích để chia sẻ cùng Bác sĩ :

“Buổi chiều hôm ấy Sài Gòn trời mưa lớn. Khi chúng tôi đứng chờ dưới bóng cây trong công viên nơi của ra vào thì Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng vừa tới trong chiếc xe Uber. Dù tôi và Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chưa ai gặp ai bao giờ nhưng cả hai bên cùng nhận ra nhau liền. Nhứt là tôi không thể quên tấm lòng của anh dành cho Hai Trầu với bài viết “Còn Thương Rau Đắng” nhằm giới thiệu cuốn “Mùa Màng Ngày Cũ” của tôi dịp in lại lần thứ nhứt vào năm 2015. Thế là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc mời tui tôi đến ngồi nơi cái bàn ở chỗ góc hồ sen mà anh hay ngồi với bằng hữu của anh. Xa xa bên kia bờ hồ có cây phượng vĩ già đang mùa trổ bông đỏ rực. Có cái vui trong lần gặp đầu tiên này là cả hai chúng tôi rất thân nhau như bạn lâu ngày, trò chuyện rất tự nhiên, cởi mở, và thân ái. Dịp này tôi được Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhắc qua một chút về nếp sống an lạc. Tôi thì nhắc về thơ Đỗ Nghê với hai bài thơ mà tôi rất thích: “Bông Hồng Cho Mẹ” cùng bài “Mũi Né” của anh. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ký tặng vợ chồng tôi cuốn “Trò chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Nếp Sống An Lạc”, để đáp lại tôi thân tặng anh cuốn “Nhớ Về Những Bến Sông” của tôi trong đó có những bài như “Đám cưới trên đồi”, “Lời tự sự của rừng già, nhân ngày trái đất”, “Nỗi niềm của loài cá sặt”, “Lời tự sự của loài cá rằm”… mà tôi rất thích.

Đỗ Hồng Ngọc và Hai Trầu
(Saigon, tháng 6-2017)

Nói về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”, tôi có nói với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, bài thơ hay là do chữ dùng cùng vần điệu đã đành, nhưng cái hay ở bài thơ này chính là cái thần trong bốn câu thơ ngắn ngủi đó:

 

“Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông”

(Bông Hồng Cho Mẹ)

Đỗ Hồng Ngọc

 

Ở đó người đọc thử để lòng mình lắng xuống rồi nghĩ về Mẹ, về Ngoại rồi đọc thầm từng chữ từng câu, người đọc sẽ nhận ra trong bài thơ này không có sự chết, không có nỗi buồn, mà là tình thương yêu, là lòng hiếu thảo, là mạch sống mãi mãi nối tiếp dạt dào từ đời này sang đời khác. Con nhận cho mình bông hoa trắng, và dành cho me bông hồng và căn dặn mẹ nhớ gài lên ngực, vì Ngoại cũng đang chờ Mẹ bên kia sông… Chỉ có vỏn vẹn chừng ấy, giản dị, đơn sơ thế đó và ở đó không có thứ triết lý gì bí hiểm mà chỉ có tình yêu thương ruột thịt và một đạo lý mà thời nào cũng cần. Đó chính là đạo hiếu. Đạo làm con. Con hiếu với Mẹ. Mẹ hiếu với Ngoại… Nói rộng ra là đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ, đối với ông bà!

Sở dĩ thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc làm cho người đọc thích bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” cũng như bài thơ “Mũi Né”, và nhiều bài thơ khác của anh , theo tôi vì tác giả không dùng chữ nào mới, cao siêu, và cũng không muốn làm cho thơ khó hiểu mà chỉ muốn viết ra những vần thơ từ những rung động thật nó dâng lên tự  chính trong lòng mình!

 

Chẳng hạn như bài thơ “Mũi Né” dưới đây, buổi chiều ngồi bên hồ sen Kỳ Hòa êm đềm sau cơn mưa nặng hạt ấy, tôi có nói với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, chỉ cần anh mở đầu bài thơ bằng một câu hỏi mà chừng như không phải là câu hỏi để được chờ đợi một câu trả lời của một người mình muốn hỏi, mà nhiều lúc để tự hỏi lòng mình, thì cũng đã làm tâm hồn mỗi chúng ta, những người đọc thơ anh, đã thấy nao nao xao xuyến rồi: “Em có về thăm Mũi Né không”.

Rồi bài thơ cứ thế liên tiếp hết câu hỏi nay bắt qua câu hỏi khác:

 

“Em có về thăm Mũi Né không

Hình như trời đã sắp vào xuân

Hình như gió bấc lùa trong Tết

Những chuyến xe đò giục bước chân

 

Em có về thăm Mũi Né không

Mùa xuân thương nhớ má em hồng

Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng

Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong

 

Em có về thăm Mũi Né xưa

Con đường sỏi đá vẫn quanh co

Hoàng hôn sóng vỗ bên trời biếc

Sóng vỗ trong hồn ta ngẩn ngơ

 

Em có về thăm Mũi Né yêu

Mười năm như một thoáng mây chiều

Mười năm vườn cũ chim bay mỏi

Áo trắng chân mềm em hắt hiu

 

Mũi Né ơi người xưa đã xa

Mùa ơi gió bấc nhớ không ngờ

Năm nay người có về ăn Tết

Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ …

 

(Mũi Né)

Đỗ Nghê

(Trích trong thi phẩm “Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác”)

 

Những câu hỏi trong bài “Mũi Né”, mà thi sĩ Đỗ Nghê cố ý lập đi lập lại đó làm tôi nhớ những câu hỏi trong thơ xưa có một thời làm xao xuyến lòng người, mà tôi là người đọc nhà quê già nay vẫn còn mê mẫn dù tôi không còn nhớ tên tác giả là ai. Chẳng hạn:

“Mai chị về em gửi gì không

Mai chị về nhớ má em hồng…”

Hoặc:

“Sao anh không về thăm thôn Vỹ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên…”

 

Đó là chưa kể những chữ dùng  trong bài thơ “Mũi Né” rất quen, rất gần mà âm điệu lúc nào cũng êm đềm, tha thiết, có những chữ như  “gió bấc lùa”, “giục bước chân”, “mười năm vườn cũ”, “mùa ơi…”, theo thiển ý của tôi tác giả đã làm cho nỗi niềm nhớ nhung thêm tha thiết, dạt dào…

 

Chiều hôm ấy, trời Sài Gòn tiếp tục mưa lớn, chúng tôi chia tay sau buổi gặp dù ngắn ngủi nhưng mãi đến nay tôi vẫn nhớ trong lòng mình với niềm an lạc hiếm hoi giữa Sài Gòn đô hội. Tụi tôi không quên gởi lời cảm ơn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, dù bận rôn nhiều, thời giờ của anh rất eo hẹp, nhưng ảnh vẫn nhín chút thời giờ hẹn gặp vợ chồng người nhà quê già tụi tôi từ dưới ruộng mới lên Sài Gòn ghé thăm anh trong thân tình và lưu luyến biết bao!”

 

Hai Trầu, Lương Thư Trung

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Tịnh Thy: Yếu tố bất ngờ trong bài thơ “Bông hồng cho mẹ”

02/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

NGUYỄN THỊ TỊNH THY (*)

Yếu tố bất ngờ

trong bài thơ bông hồng cho mẹ

 

 

Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người. Hay đến mức phải gọi đó là tuyệt tác. Và tuyệt tác này xứng đáng được hiện diện trong tang lễ của những bà mẹ. Bởi vì Bông hồng cho Mẹ là một cách viếng mẹ, khóc mẹ vô cùng đặc biệt – đầy uyên áo nhưng rất đỗi giản đơn. Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.

 

“Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đoá hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…”

 

Toàn bài thơ, kể cả nhan đề, đề tài, hình ảnh đều rất đỗi thân quen đối với người dân Việt, đặc biệt là các Phật tử. Có thể nói, Mẹ, lễ Vu Lan, hoa hồng màu trắng, hoa hồng màu hồng và cả nghi thức cài hoa hồng lên ngực dường như đã trở thành những biểu tượng mang tính liên văn bản trong văn chương nghệ thuật, trở thành tập quán trong đời sống và tâm thức bao người. Vậy mà, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc vẫn tìm ra được một tứ thơ lạ làm ta sững sờ, khiến ta bất ngờ. Đúng! Bất ngờ chính là yếu tố làm nên hồn cốt của bài thơ.

 

Bất ngờ đầu tiên là nghịch lý của hai câu thơ đầu:

“Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng”

 

Lạ chưa! Con cài hoa trắng, nghĩa là con không còn mẹ. Theo lẽ thường, mẹ càng phải cài hoa trắng, vì mẹ của mẹ (bà ngoại) cũng không còn. Vậy mà, con cài bông hoa trắng – bông hoa của tang tóc, mất mát; nhường cho mẹ đóa hoa màu hồng – màu của diễm phúc, viên mãn. Hẳn bạn đọc sẽ không khỏi thắc mắc về nghịch lý này. Trong thưởng thức nghệ thuật, thắc mắc, hoài nghi, cảm thấy mâu thuẫn… là khởi đầu của mỹ học tiếp nhận. Bạn đọc chờ đón lời giải thích ở câu tiếp theo. Nhưng không. Câu thứ ba lại càng khẳng định sự vững chắc của hai câu đầu: “Mẹ nhớ gài lên ngực”. Lại thêm một tầng thắc mắc nữa: Mẹ đã mất, vậy mà có thể thực hiện động tác “gài” hoa lên ngực. Mà chắc là mẹ có thể làm được việc đó, nên con mới dặn mẹ là “nhớ gài”. Quả là nghịch lý chồng nghịch lý! Cho đến câu cuối cùng: “Ngoại chờ bên kia sông…”, tất cả mọi thắc mắc, nghịch lý đều được cởi bỏ. Cởi bỏ bằng một sự bất ngờ – bất ngờ đến mức khiến ta ngỡ ngàng, sững sờ, xúc động, rưng rưng…

 

Cấu tứ bất ngờ là nét độc đáo chuyển tải chủ đề của bài thơ. Kiểu cấu tứ này khiến cho bài thơ đảm bảo được nguyên tắc “mạch kỵ lộ” của thi pháp thơ Đường. Người làm thơ phải biết rằng, mạch thơ tối kỵ là bị để lộ, nhà thơ phải làm sao đó để đến câu cuối cùng, điều mình muốn ký thác, bộc bạch mới lộ ra, gây bất ngờ cho người đọc, thậm chí bẻ gãy được những đoán định của họ. Bất ngờ càng lớn, ý thơ càng sâu sắc, sức lay động càng mãnh liệt. Vì thế, câu cuối cùng thường là câu gánh vác nhiệm vụ thể hiện chủ đề của bài thơ. Cũng vì thế, nhiều người cho rằng, trong thơ Đường luật, những câu đầu dù nói nhiều điều, tả nhiều thứ, có thể bao quát cả không gian mênh mông vô tận và thời gian vô thủy vô chung thì vẫn chỉ là sự chuẩn bị cho sự xuất hiện của câu cuối. Làm thơ Đường, trong tâm tưởng của nhà thơ, câu cuối chính là câu khởi đầu.

“Ngoại chờ bên kia sông…”

 

Vậy là không còn nghịch lý nữa. Mẹ về với ngoại. Ngoại đã đi trước, và đón chờ mẹ ở bên kia sông. Ngoại đón con gái của ngoại, mẹ về trong vòng tay của mẹ mình. Tất cả mọi việc đều thuận chiều. Và vì thuận chiều như thế nên nỗi mất mát, chia xa bỗng trở nên nhẹ nhàng hơn.

 

Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ. Tất cả hai mươi chữ trong bài thơ tứ tuyệt này đều là từ thuần Việt, cả danh từ, động từ, đại từ…; cả hình ảnh, biểu tượng… cũng đều rất đời thường và dân dã đến mức người đọc, người nghe ở trình độ nào cũng có thể hiểu, có thể cảm, có thể xúc động. Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật, như vậy là bài thơ đã đạt đến cảnh giới cao siêu của nghệ thuật: “áo của thợ trời không nhìn thấy đường may” (thiên y vô phùng). Chỉ trong hai mươi chữ, từ một tấm lòng, nhà thơ đã nói hộ muôn tấm lòng. Ước mong của tác giả là ước mong của mọi người, tiếng thơ của anh nhưng là tiếng lòng của tôi, của tất cả chúng ta.

 

“Ngoại chờ bên kia sông…” là hình ảnh mang tính biểu tượng, giàu sức gợi, chất chứa nhiều hàm nghĩa ý tại ngôn ngoại. Câu thơ tạc nên hình ảnh của người mẹ muôn thuở: yêu thương, dịu dàng, nhẫn nại, chở che, bảo bọc, hy sinh. Từ vị trí của người mẹ ở ba câu đầu, mẹ trở thành vị trí của người con ở câu cuối. Mẹ được về trong vòng tay yêu thương của ngoại, lại một lần nữa được làm con của ngoại, nghĩa là mẹ được tái sinh. Câu thơ còn toát lên một chân lý: có mẹ, dù ở bất cứ nơi đâu, dù ở cõi sống hay cõi chết, ta cũng sẽ được chở che, được bình an. Vì thế, dù “bên kia sông” là một thế giới vô cùng lạ lẫm thì mẹ cũng sẽ khỏi phải ngỡ ngàng, ngơ ngác, bơ vơ, lạc lõng. Có ngoại rồi, con yên tâm cho mẹ, con được an ủi rất nhiều khi nghĩ về bước chân cuối cùng của mẹ trong chuyến độc hành này.

 

Về với mẹ, về bên mẹ là một cách nói giảm nhẹ tuyệt vời để xua tan đi nỗi đau xé lòng, nỗi mất mát không gì bù đắp được. Câu thơ khiến ta bình tâm hơn, thanh thản hơn, thấu đạt hơn, an nhiên hơn khi đón nhận quy luật nghiệt ngã của tạo hóa. Câu thơ còn đặt ra vấn đề về cách nhìn nhận, đón nhận và lý giải những biến cố của đời sống. Trắng – hồng, sống – chết, được – mất, đi – về, sắc – không… ranh giới của những cặp đối lập ấy chỉ là tương đối. Sắc sắc không không, “có thì có tự mảy may, không thì cả thế gian này cũng không”, tất cả đều tùy thuộc vào cách chúng ta đón nhận sự việc. Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc đã chọn cách nhìn thấy niềm vui trong nỗi đau, đổi chất trẻ thơ cho sự già nua, biến chia ly thành đoàn tụ, thay mất thành được, biến ra đi thành trở về.

Từ hình ảnh và ý nghĩa đẹp đẽ của câu cuối, đối sánh với ba câu đầu theo lối đọc ngược bài thơ từ dưới lên, ta sẽ thấy mọi ẩn số của nghịch lý đều được giải đáp tường tận. Vì mẹ được về với ngoại (câu 4) nên mẹ nhớ cài hoa hồng lên ngực (câu 3), con dành cho mẹ đóa hồng là hợp lý (câu 2), con nhận phần mất mát cho riêng mình, và con vĩnh viễn không còn mẹ trên đời (câu 1). Cũng từ câu 4, đọc lại câu 3, ta sẽ thấy câu thơ – lời dặn của người con – thấm đẫm nỗi niềm. “Mẹ nhớ gài lên ngực”. “Mẹ nhớ…”, nghĩa là mẹ đừng quên làm điều đó nhé, bởi đóa hoa hồng dường như là dấu hiệu để ngoại nhận ra mẹ, là tín vật để xác nhận hạnh phúc đoàn viên của mẹ và ngoại. Và con mong như thế, mong lắm thay! “Mẹ nhớ gài lên ngực”. Lời thơ như dặn dò nhắc nhở, như van xin cầu khẩn, như vỗ về dỗ dành, như an ủi động viên… trong giờ phút bịn rịn tiễn đưa. Lời nói ấy là tấm lòng, là nỗi âu lo, là yêu thương chan chứa bật lên từ nỗi đau nén chặt trong lòng. Khóc không nước mắt, nỗi đau lớn tựa càn khôn!

 

Mở đầu bằng những nghịch lý và kết thúc bất ngờ bằng những chân lý, Bông hồng cho Mẹ đưa chúng ta ra khỏi bến mê để bước vào bờ đạt ngộ. Dẫn dắt người đọc đi từ mê muội đến tỉnh thức về lẽ tử sinh như thế, quá trình nhận thức của bài thơ mang đậm dấu ấn của Thiền tông. Bài thơ là cái nhìn khác biệt và sống động về một trong “tứ khổ” sinh lão bệnh tử, thấm đượm chân lý về tình mẹ. Nếu có mẹ, được ở bên mẹ thì cõi chết cũng là cõi bình yên. Đối diện với cái chết bằng tâm thế ấy, ta còn sợ nỗi gì? Ai rồi cũng có ngày được về với mẹ, hãy nhẹ nhàng, nhẹ gánh mà đi. Rồi ta sẽ được mẹ ta đón bên kia sông. Hiểu là giải thoát. Vẫn biết như thế, nhưng sao nước mắt vẫn cứ chảy dài khi nghĩ đến ngày ngoại đón mẹ. Ta mê muội quá chăng?

———————————-

Nguồn: Đặc san LIỄU QUÁN, số 12, tháng 8.2017. Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán-Huế

(*) Nguyễn Thị Tịnh Thy, giảng viên Đại học Sư Phạm, Huế

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi… (tiếp)

31/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi… (tiếp)

Dĩ nhiên là có. Phải thơ thẩn cho vui chớ phải không. Mình hay làm thơ kiểu ”trời ơi” như vậy mà. “Tháng” Sinh nhật này của mình, ngoài những buổi cà phê, cà pháo trò chuyện ”tào lao” với bạn bè, mình cũng có cao hứng viết một… bài thơ dài… vài câu! Chia sẻ liền với bạn… xa xôi chứ. Chẳng ngờ được đáp ứng mau lẹ, gọi là ”cảm tác” gì đó. Cũng vui quá. Đọc nhé.

 

Sinh nhật

 

anh không có ngày sinh nhật

nên mỗi ngày

là sinh nhật của anh

 

cảm ơn em

nhớ đến anh

ngày sinh nhật!

 

Đỗ Nghê

 

Ngay tức khắc có một bài cảm tác của Nguyệt Mai:

 

Mỗi ngày mỗi mới

 

(Kính tặng anh DHN)

 

Nếu mỗi ngày

đều là sinh nhật của anh

thì niềm vui không bao giờ tắt

 

để em bắt gặp
mỗi ngày
mỗi điều mới nơi anh
vẫn là anh

rất mới

 

nguyệt mai

 

Rồi một bài của duyên:

 

mừng “sinh nhật”

 

mỗi ngày tôi chọn một niềm vui (*)

nên anh chọn mỗi ngày là “sinh nhật”.

 

nhớ anh ngày sinh nhật

là nhớ anh cả đời…

 

duyên

……………………………………………………..

(*) TCS

 

Và khánh minh viết mấy dòng lúc còn đang dưỡng bệnh:

 

Niềm vui

(Mừng sinh nhật anh Ngọc)

 

Vì mỗi ngày anh chia sẻ

Quà vui cho mọi người

Nên mỗi ngày đều là

Sinh nhật của anh

 

Nên mỗi ngày

Ai cũng nhớ

Sinh nhật của niềm vui…

 

khánh minh

 

Không ngờ lại có một bài đầy thiền vị của Vũ Hoàng Thư:

 

sinh nhật

gửi bác sĩ ĐHN

anh vốn
không
có ngày sinh?
tự vòng tròn
một chỗ thình lình ra
tìm điểm mốc
em khéo đùa
sinh là khởi
cơn gió lùa về không

Vũ Hoàng Thư

 

Dĩ nhiên không thể thiếu thơ… thấm thía của ”bạn già” (vieux ami) TVL:

 

Mừng Tháng “Sinh nhật” bạn mình

 

Bạn sinh vào tháng Tám mà…chẳng có Ngày Sinh.  Hồi đó, hồi chiến tranh, làm khai sinh…khai vậy!

Cho nên bạn nói đúng:  Mình Chỉ Có Tháng Sinh!  Tháng hay ngày, long lanh của đôi vầng Nhật Nguyệt…

Dòng thời gian mải miết, coi như chẳng có ngày, chẳng có phút, có giây, chẳng có gì bận trí!

(…)

Hôm nay, cuối tháng Tám, gửi bạn một lời Mừng.  Tôi không thể dửng dưng…vì tôi yêu quý Bạn!

 

Trần Vấn Lệ

 

 

Café Đường Sách, tháng 8.2017
Từ trái: Huyền Chiêu, Thu Vàng, Kim Quy, Lê Ký Thương, Đỗ Hồng Ngọc

 

Nhóm bạn cũ Trung tâm Truyền thông & Giáo dục sức khỏe (T4G)… đang xẻ bánh…
Từ trái: Hòa Bình, Thục Đoan, Kim Phượng, Hoàng, Huệ Trinh, và Bích Thủy (chụp hình)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

VU LAN: Về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”

29/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”

Đỗ Hồng Ngọc

 

(Báo Văn hóa Phật giáo, số 280, Vu Lan 2017)

Mùa Vu lan. Thật may mắn cho những ai được cài đóa hồng trên ngực áo. Bởi họ còn Mẹ. Tôi thì cài bông trắng. Nhưng điều tôi tin chắc là mẹ tôi đã gặp… bà Ngoại, và vì thế, mẹ đã có thể gài lên ngực một đóa hồng thật tươi từ đó…

 

Bông hồng cho Mẹ

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…

Đỗ Hồng Ngọc
(Vu Lan 2012)

 

Võ Tá Hân, người nhạc sĩ đã có đến hơn 30 CD nhạc Phật giáo và hằng trăm khúc tình ca nổi tiếng, một hôm tình cờ đọc được bài thơ ngắn ngủn này đã cảm xúc viết nên khúc hát Vu Lan thật thiết tha dành cho những người con… không còn Mẹ.
Và tiếng hát da diết của ca sĩ Thu Vàng thấy trên youtube:

 

Rồi Bội Hoàng, từ Cần Thơ đã cảm tác :

Tình yêu còn mãi

 

Đọc bài thơ mà mắt lệ đoanh tròng

Ai thấu hiểu một tình yêu đã mất

Ai tự hào cài hoa hồng lên ngực

Dù đã qua cái tuổi cổ lai hi!

 

Con chỉ muốn luôn được cài hoa đỏ

Dù tuổi đời Má đã rất mong manh,

Dù con Má đã con cháu vây quanh,

Vẫn muốn được mỗi ngày chăm sóc Má.

 

Được bón cơm, được đút cháo, châm trà

Được tắm rửa, được thay quần áo mới

Được ngồi bên nghe những lời Má nói

Mà dậy lên niềm thương cảm riêng tư

 

Má bỏ con năm Má chín mươi tư

Rời cõi tạm, Má lên đường thanh thản

Con cài hoa cho màu áo Má đỏ

Để Má về gặp Ngoại vui đoàn viên

(Bội Hoàng, 2014)

 

Nguyễn Thị Khánh Minh từ Santa Ana, mùa Vu Lan 2016 viết trong bài “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”:

“Lại đến mùa Vu Lan. Những đóa hồng đỏ hạnh phúc bung nở vành môi vẽ một vòng xum vầy thỏ thẻ Mẹ Ơi. Những đóa hồng trắng ngân đọng nước mắt lung linh đôi bờ xa vắng âm vang tiếng gọi Mẹ Ơi. Trong niềm, vừa hân hoan vừa cảm động, tôi nhớ đến bài thơ về Mẹ mà khi đọc nhịp tim tôi như bị nghẹn,

Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông

(Bông Hồng Cho Mẹ, Đỗ Hồng Ngọc)

Thử xem. Đọc. Nghe. Rồi hít vào một hơi thở sâu, im vắng, thì mình như nghe được tiếng nước mắt đang vỡ ra… Vỡ bung như ngọn sóng xanh lấp lánh biển pha lê. Vỡ tung như ngọn pháo hoa rơi vô vàn sợi ánh sáng trong đêm. Những cái vỡ, không tan mà thăng hoa, phải chăng đó là tận cùng của Đẹp? Như hạt nước mắt này, nó bung bung. Ánh lên bóng của Ngoại đang đứng bên kia sông, bên kia là bên của miên viễn không còn sinh tử? Và Mẹ, Mẹ đang từ cõi chết đi vào cõi sống ấy để lọt vào vòng ôm ấm áp của Ngoại. Mẹ đi từ nụ hồng đỏ nở duyên trùng phùng Ngoại. Ý thơ mầu nhiệm làm sao.

Tôi thấy không nói nên lời được để tả cho chính xác cảm giác của mình về sự mênh mang “ý tại ngôn ngoại” trong sâu thẳm bài thơ này. Về cái rất không nghĩa của Mất Còn. Đến với tôi là ý niệm con đường sinh tử đang xóa đi dưới cảm xúc của đứa con, -là Đỗ Hồng Ngọc đây-, người chiêm nghiệm sống chết thật là như không, đóa hồng trắng người đang đeo là một thực tại, đóa hồng đỏ đang rưng rưng trên áo Mẹ kia, là áo nghĩa của thực. Tất cả đều ở thì đang, không còn hôm qua ngày mai phút tàn giây tới. Sinh mệnh không khởi đi và chấm hết bằng hai đầu tiếng khóc nữa. Là Đây. Là Đang. Một thực tại sống động xóa hết biên giới không gian và thời gian. Hình dung Mẹ, trong hơi thở hắt ra bỗng trong suốt nhẹ nhàng đứng lên, trong ngày hội tưng bừng của Tình Mẫu Tử, cúi nhìn bàn tay đứa con run run cài lên ngực áo mình một đóa hồng đỏ, và Mẹ phất phới đi trong nôn nao cho kịp giờ hẹn với Ngoại. Ôi ta mất mẹ và ôi Mẹ vừa có Ngoại. Vô biên lâng lâng nỗi Còn Mất… Huyễn ảo vô cùng khiến những giây tơ vi tế nhất trong cảm xúc ta bị đánh động.

Ngoại Chờ Bên Kia Sông, tôi viết hoa vì mỗi mỗi chữ của câu thơ này là khởi đề dẫn đến chiêm nghiệm ảo hóa về sinh tử. Và toàn bài thơ là tấm tình trong vắt ban sơ của người con, rất nhỏ, mà cũng đã rất già. Bởi rất nhỏ thì mới yêu thương Mẹ được hồn nhiên như thế. Và phải chăng, rất già mới có thể biến yêu thương ngây thơ thành một tình yêu vượt qua được đau đớn của chia lìa sinh tử, như thế.

Cảm ơn Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, cho tôi biết thêm một nhịp đập thương yêu nữa của Hiếu Tử, cho tôi từ bây giờ đã có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một lúc nào đó phải xa Mẹ. Không phải là một cái xa hẳn rồi, mất hẳn rồi như tôi vẫn thường nghĩ nữa. Trong hạt nước mắt rơi lại thấp thoáng nụ cười, nhìn Mẹ của ta lại cài hoa hồng đỏ về bên Ngoại. Ôi! Cái không nói của Ngoại Chờ Bên Kia Sông đã lấp đầy cảm xúc và ý nghĩ của tôi đến thế!

Và lúc này đây, còn được thấy mẹ ra vào thì hãy thỏ thẻ bên vai mẹ rằng,

… mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (thơ Đỗ Trung Quân)

Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình, gửi đến các con tôi,

… tận cùng hạt lệ mẹ

là nước mắt con rơi

tận cùng tiếng cười mẹ

là nụ cười con vừa mở

và con ơi

tận cùng hư vô mẹ

sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại 

(thơ NTKM)

Thưa có phải cũng có chút gặp gỡ giữa “sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại” và “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”?

NTKM

Santa Ana, Mùa Vu Lan

mà nhà phê bình Tô Thẩm Huy cảm thán:

“Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 20 chữ, mà thâm thúy, ảo diệu vô cùng. Đọc lên điếng cả hồn.

Phải chép lại ra đây.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho Mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực,
Ngoại chờ bên kia sông

Rõ ràng Nguyễn Thị Khánh Minh đã cảm bài thơ đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Thật là may mắn có được người đồng điệu như thế.

Bài phổ nhạc hay, hai giai điệu khác nhau mà hòa hợp, hỗ tương lẫn nhau. Tuy thế, cảm xúc khi đọc bài thơ nó đến ào ạt, như cùng một lúc nó trào dâng, bủa vây tứ phía, làm bàng hoàng, run rẩy khắp cả châu thân. Cảm xúc từ bài nhạc nó đến khoan thai, từ tốn, êm đềm”.

 

Lê Uyển Văn từ Trà Vinh viêt: Bài viết tuyệt vời được khơi nguồn từ bài thơ đẹp. May mắn cho chúng ta được thưởng thức những tuyệt phẩm này. Xin đa tạ!

Còn Trieu Minh (Úc) ghi cảm nhận khi nghe bài hát từ giọng ca Thu Vàng: “ Doc va nghe Nhac, nghe Nghen o nguc, nuoc tu lan tren Ma”.

ton  t thì comment: “Nghe nhức xương, thấm tới tủy”;

chrslam thì ghi: Đã nghe đi nghe lại cả chục lần bài hát này. “…Mẹ nhớ gài lên ngực. Ngoại chờ bên kia sông…” Một cảm giác khó tả. Cám ơn thi sĩ và nhạc sĩ.

Và E-Temple ghi nhận: “ Chỉ có 4 câu ngắn ngủn thôi mà thành lời ca, và hát mãi không muốn dừng.  Con dập đầu lạy Phật, xin Mẹ được vãng sinh ‘ Nam mô Đại Từ Đại Bi A-Di-Đà Phật….’”

 

Nguyễn Thị Tịnh Thy từ Huế viết trong “Yếu tố bất ngờ trong bài thơ bông hồng cho mẹ”:

“Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người… Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.

(…)

Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ.  Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật…”

(đặc san Liễu Quán, số 12, Vu Lan 2017).

 

Mùa Vu Lan này, xin gởi bạn đôi dòng về bài thơ Bông Hồng Cho Mẹ như một lời chúc mừng đến bạn, người đã rất sướng vui, tự hào, khi còn được cài một bông hồng đỏ thắm trên ngực áo của mình! “Rồi một chiều nào đó anh về, nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu… rồi nói nói với Mẹ rằng…Me ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?…” (Phạm Thế Mỹ).

ĐHN

(Văn hóa Phật giáo, số 280, Vu Lan)

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Lõm bõm học Phật: “Con mắt còn lại”…

22/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

“Con mắt còn lại”

Đỗ Hồng Ngọc

Phật bỗng hỏi Tu-bồ-đề, ông nghĩ sao? Như Lai có “mắt thịt” không? Dạ có! Như Lai có mắt thịt! Tu-bồ-đề vội đáp. Hỏi ta, chắc ta ấp úng, không dám trả lời. Ta dễ nghĩ rằng Phật hẳn chỉ có Phật nhãn (mắt Phật) còn phàm phu chúng ta mới có nhục nhãn (mắt thịt) chứ, ai dè kinh Kim Cang nói Phật cũng có nhục nhãn như phàm phu, chẳng cũng khoái ru?  Thế rồi Tu -bồ-đề dạ có, dạ có, năm lần cả thảy! Thì ra Phật có đủ cả năm thứ con mắt: nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn… Những 5 thứ con mắt ư, có nhiều quá không?

Dĩ nhiên “mắt” là để nhìn, để “thấy”! Và, nhiều loại con mắt là để thấy nhiều … kiểu khác nhau – nói khác đi là để nhìn dưới nhiều “quan điểm”- chứ không khư khư bám chặt lấy quan điểm của mình,  khư khư cho rằng mình đúng người sai để chí chóe hoặc để thượng cẳng tay hạ cẳng chân! “Thấy” như thế nào là một chuyện hệ trọng. Thấy thế nào sẽ dẫn tới nghĩ suy, nói năng, hành động thế đó! Cho nên Quán Thế Âm bồ tát mới có nghìn mắt nghìn tay mà trên mỗi bàn tay đều có một con mắt!

Trong Bát chánh đạo thì Chánh kiến ở vị trí số một! “Kiến” mà không chánh thì dễ lệch lạc! Có chánh kiến rồi mới có chánh tư duy được! Không thì cứ loay hoay không lối thoát hoặc hý luận chẳng tới đâu!

Thấy và biết có khi xa lơ xa lắc dù cũng căn đó cũng trần đó! Chuyên kể hai vợ chồng nhà kia đang xem xiếc trong rạp. Cô diễn viên trẻ đẹp mặc một bộ đồ biểu diễn rất hấp dẫn đang treo toòng teng trên chiếc đu bay! Người vợ bỗng kêu lên: Bên dưới không có gì hết!Anh chồng gật đầu đồng ý. Nhưng sau một lúc nhìn kỹ lại, anh nói: Không phải! Bên dưới có lớp vải màu da người đó chứ! “Tôi muốn nói không có lưới bảo đảm dưới cái đu bay, còn ông đang nói về cái gì vậy hử?”! Thì ra, yêu nhau là cùng nhìn về một hướng nhưng thấy…  khác nhau! Người vợ thì… từ bi,  ông chồng thì… từ ái!

Chỉ riêng nhục nhãn, mắt thịt, đủ lôi thôi rồi!  Nhãn cầu to hơn một chút đã sinh tật cận thị, trông gà hóa cuốc  Giác mạc cong không đều một chút, đã sinh loạn thị, nhìn cái gì cũng méo mó. Rồi loạn sắc, quáng gà… đủ thứ! Rồi cườm nước, cườm khô, bong võng mạc,  thoái hóa hoàng điểm,  hoa đốm hư không. Cứ tưởng tại không gian ai ngờ mắt mình lão hóa! Khi mất dao thì cái mắt thịt đó thấy người nào cũng giống kẻ ăn cắp dao. Mắt thịt chỉ là một cấu trúc của “tứ đại” giúp ta thấy –  mà không giúp ta biết. Cái  biết nằm ở đằng sau kìa. Nằm ở  vỏ não, ở thùy chẩm kìa. Mắt thịt chỉ tiếp thu ánh sáng, hình thể, màu sắc… rồi dẫn truyền  về cho não phân tích, tổng hợp, so sánh…  Tâm thức thế nào thì vạn pháp thế đó. Mặc sức mà vẽ vời. Mặc sức mà diễn dịch, mà phê phán, nhận xét, rồi chí chóe, rồi  sứt càng mẻ gọng vì những “nhỡn quan” khác nhau! Mắt thịt không có lỗi!  Căn trần gặp nhau tạo ra  “tướng” thì cái tướng không có lỗi! Chính cái tâm nhiễu sự, “dán” vào cái tướng đó mới thành cái “tưởng”, mới sinh sự. Mà sinh sự thì sự sinh!

Vấn đề là chuyển hóa cái tâm đó cách nào, huấn luyện cái tâm đó ra sao, để thấy cho đúng và biết cho đúng. Từ cái tâm “điên đảo mộng tưởng”, cái tâm luôn sinh sự, xuyên tạc, lăng xăng, căng thẳng, mệt mỏi đến cái tâm “vô sinh”, vô sự, vô hành… thảnh thơi vui thú có khó lắm không? Khó, nhưng có thể. Miễn là phải tinh tấn, phải thiền định… để đạt đến trí huệ.  Khi rèn tập như vậy, dần dà ta có những con mắt… mới!

Thiên nhãn- mắt thần – là những loại… siêu âm, nội soi, chụp cắt lớp (MRI) bây giờ! Nó cũng là… kính hiển vi điện tử, phóng lớn hằng triệu lần, là viễn vọng kính khổng lồ… nhìn xa hằng triệu năm ánh sáng! Thời Phật chưa có  hiển vi điện tử, chưa có viễn vọng kính, chưa có siêu âm, chụp cắt lớp… vậy mà Phật  vẫn thấy đựơc trong ly nước kia có vô số những vi sinh vật, thấy đựơc tam thiên đại thiên thế giới chớ không phải chỉ mình ta cô độc trên quả địa cầu! Các nhà khoa học thường dừng lại ở thiên nhãn. Bởi họ chỉ lo tìm kiếm, phát hiện những thứ ở bên ngoài mà quên nhìn vào bên trong. Gần đây có vẻ các nhà vật lý học, các nhà y sinh học, với những tiến bộ khoa học kỹ thuật của mình đã có thể “thấy” ra nhiều chuyện lạ, khiến họ giật mình không ít. Huệ nhãn là con mắt thứ ba, con mắt bất nhị, con mắt nhìn rõ chân không mà diệu hữu, vô thường, vô ngã. Huệ nhãn có khi là đã đủ. Đủ để dừng chân, Đủ để đặt gánh nặng xuống. Đủ để tủm tỉm cười một mình. Ung dung. Tự tại.

Thế nhưng, nếu chỉ vậy thì đức Phật có lẽ sẽ quanh quẩn dưới gốc cây Bồ đề việc gì phải lặn lội gió mưa đi khất thực và truyền trao giáo pháp suốt cả cụôc đời? Cho nên cần có “Pháp nhãn”! Con mắt pháp (pháp nhãn)  là một “con mắt” lý tưởng, hoài bão cao đẹp, có phần “lãng mạn” nữa! Muốn vậy họ phải xả thân, phải chí nguyện, và trước hết phải… “chủng ngừa” đầy đủ cho chính mình trước khi xuống núi! Không chủng ngừa đầy đủ, họ dễ bị nhiễm ô, mắc bệnh!  Có pháp nhãn rồi mới có thể tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên, thõng tay vào chợ!

Tu-bồ-đề! Ư ý vân hà? Như lai hữu Phật nhãn phủ? Tu-bồ-đề, ông nghĩ sao? Như Lai có Phật nhãn không? Phật mà không có Phật nhãn thì ai có? Nhưng Phật nhãn là gì? Là cái thấy cái biết của Phật, là “tri kiến Phật”.  Nhưng đừng quên rằng Phật thì có đủ cả “ngũ nhãn” cùng lúc.

“Gươm báu trao tay” viết về kinh Kim Cang của Đỗ Hồng Ngọc, bản dịch tiếng Anh của Diệu Hạnh Giao Trinh, Thiện Tri Thức xb, 2015

Bùi Giáng, một thi sĩ thấm đẫm Kim Cang thường hạ những câu “hà dĩ cố” trong thơ có lần viết “ Còn hai con mắt khóc người một con…” mà Trịnh Công Sơn đã nối theo: Còn hai con mắt một con khóc người! Con mắt còn lại…? Ừ, con mắt còn lại thì sao? Con mắt còn lại… nhìn một thành hai, nhìn em yêu thương nhìn em thú dữ…(TCS). Phải rồi, cái con mắt còn lại quả thực là con mắt gây phiền hà! Nó bị diplobie, nhìn một thành hai! Nhưng người bị diplobie thì nhìn một thành hai giống hệt nhau còn đầu này nó nhìn em…  yêu thương thành em thú dữ, rồi còn “ nhìn tôi lên cao nhìn tôi xuống thấp…”, nghĩa là cái nhìn đầy “phân biệt đối xử”! Nó như của ai khác- nó quan sát ta, nhìn ngắm ta  và rồi nó …thở dài thấy mà ghét (Con mắt còn lại là con mắt ai? Con mắt còn lại nhìn tôi thở dài! TCS)! Thở dài, bởi nó thấy ta tội nghiệp! Thấy ta đáng đời! “… đời tôi ngốc dại, tự làm khô héo tôi đây…” (TCS). Đó chính là con mắt của “Thức”. Của biện biệt, so sánh, đếm đo. Khi “thức” biến thành “trí” thì mọi chuyện đã khác! Lúc đó,

Con mắt còn lại

 nhìn đời là không

 nhìn em hư vô

 nhìn em bóng nắng!  

Là không, chứ không phải bằng không! Là không, đó là cái không của có, cái có của không… Tóm lại, còn hai con mắt…  “khóc người một con” kia là con mắt của Bi! “Con mắt còn lại nhìn đời là không” này chính là con mắt của Trí. Bi mà không Trí thì cứ sẽ khóc hoài, dỗ không nín!

(báo Văn hóa Phật giáo, số 279 ngày 15-8-2017)

 

Buổi nói chuyện đề tài: “Vận dụng tư tưởng Kim Cang Bát Nhã trong cuộc sống” tại Chùa Xá Lợi Tp.HCM, tháng 9/2013.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (tiêp): Tháng “Sinh Nhật”

22/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (tiêp):

Tháng “Sinh Nhật”

Đỗ Hồng Ngọc

Kể bạn nghe những chuyện ”tào lao” ngày Sinh nhật mình ư? Thì kể. Nghe qua rồi bỏ nhe. Năm ngoái, bạn biết đó, blog Nguyệt Mai làm một ”surprised” bất ngờ, cảm động và thú vị với tranh vẽ của duyên, bài của TVL, NM, km v.v… Trời, lần đầu mới thấy chuyện đó. Nhưng thiệt ra, mình đâu có ngày SN, cho nên mình tạm gọi là “Tháng” SN thôi. Số là ông già mất sớm, bà già đưa đám con nheo  nhóc trên rừng về Phan Thiết tạm trú nhà Cô Hai trong chùa HN. Khi được đi học lại, cần giấy khai sanh, không có. Hỏi, Má nói sanh tháng Tám, lúc khuya, còn ngày thì không nhớ. Làm cái ”Thế vì khai sinh” ghi đại ngày 15, sụt 3 tuổi để đi học như đa số bạn bè trong thời chiến tranh buổi đó.

Cho nên bây giờ mình coi tháng Tám là ”tháng sinh nhật” đó vậy. làm gì ư? Đi về Lagi, Phan Thiết, Mũi Né một vòng. ”Đi cho đỡ nhớ” như tựa bài thơ mình viết năm 1973, mơ một chuyến tàu Nam Bắc. Ông Nguyễn Hiến Lê đọc, khen hay, và nói ông cũng mơ như vậy để được uống nước dừa Tam Quan, ăn Cam Xã Đoài, cốm làng Vòng rồi về thăm mùa nước lũ Bạch Hạc quê hương ông dưới chân núi Tản sông Đà… Mình về Lagi thì thăm Đập Đá Dựng như thư trước đã viết cho bạn, rồi đi Mũi Né. Gặp Khoa, MuiNe Bay trò chuyện rất vui. Khoa nói mơ ước làm cái gì đó bảo vệ môi trường thật tốt, nâng cao văn hóa cho vùng biển nghèo, mặc dù resorts mọc lên như nấm, chủ yếu cho du khách và người giàu! Mình có nhắc làng chài Tam Thanh ở Tam Kỳ, Quảng Nam, nhờ các bức bích họa do một nhóm họa sĩ Hàn Quốc vẽ mà nay trông sạch sẻ, dân vui. Khoa nói cũng đã có nghĩ đến và định phát triển ở khu Thạch Long, có nhiều di tích…

Rồi có một bữa cơm chay với một nửa ”gánh hát”: Lê Ký Thương, Kim Quy, Thu Vàng. Rồi một buổi cafe với Thân Trọng Minh, Huyền Chiêu. Tóm lại, chỉ còn thiếu Tùng Duyên, Nguyệt Mai, Khánh Minh, Ngọc Vân… Dĩ nhiên không thể thiếu ông Thầy Hoàng Quốc Bảo.

À, bài Mũi Né, ngoài clip rất đẹp do Thuý Vy Trần-kiêm làm trước đây với giọng ca Thu Vàng, ban nhạc Randy Ames Orchestry với nhiều cảnh Mũi Né tuyệt vời thì nay có thêm một clip mới rất đẹp nữa của Hoàng Khai Nhan. Phải nói Thúy Vy là cảnh, nhiều cảnh cảm động…  thì Hoàng Khai Nhan là tình dằng dặc mênh mông! Văn Sơn Trường, nhóm bạn y khoa cùng khóa với mình đã gởi về, kêu rất hay, rất hay đó Ngọc ơi! Rồi Trần Vấn Lệ, Thúy Vy cùng lúc cũng gởi về. Bạn thử nghe xem nhé.

Rồi mình ra Đường Sách, tình cờ gặp lại ông bạn già Nguyễn Văn Ích, năm nay mới 89 tuổi, thường xuyên mang labtop ra quán cafe viết lách.

 

Chuyện trò cùng ông Nguyễn Văn ích 89 tuổi ở Đường Sách Saigon 8.2017

 

Mình ‘phòng vấn’: Tuổi này, có chút nuối tiếc gì chăng? Có. Đó là lúc nhỏ muốn học văn mà bị học khoa học (kỹ sư hóa). Và một mối tình? Đó là lúc 17 tuổi nằm dưới hầm tránh bom, ngu dễ sợ. Rồi khi đi du học về gặp lại cũng ngu dễ sơ!…

Mấy ngày này, bỗng nhiên nhận được thư rất quý của Kiều Minh Mạnh từ Dran, nói về tuổi già, rồi bài viết của Nguyễn Thị Tịnh Thy từ Huế về bài thơ Bông hồng cho Mẹ, một bài viết rất hay, từ góc nhìn của người dạy Văn học ở Đại học Sư phạm Huế. Nguyên Minh, Quán Văn phone khoe ngay và gởi cho mình đọc qua, dặn, chưa được phổ biến, để báo in ra trước đã nhé.

Một buổi cafe SN cùng Bs Trương Trọng Hoàng, Bs Mai Ngọc Thanh Ngân ở Bộ môn và mấy em SV trường Phạm Ngọc Thạch. Mái lá đơn sơ, bên bờ hồ quen thuộc, yên ả, đầy chim và sóc…

 

 

Nhưng có lẽ phải nói thêm một kỷ niệm đẹp khác nữa: đó là buổi ”bế giảng” của một khóa học đặc biệt dành cho các vị tu sĩ trẻ đang vào mùa ”An cư kiết hạ” ở Chùa Xá Lợi. Nói ”đặc biệt” vì đó là những buổi trao đổi thân mật giữa nhóm cư sĩ gồm có Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn, cư sĩ Minh Ngọc và bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc với các vị tu sĩ trẻ, mỗi tuần 2 buổi, suốt hơn 2 tháng. Buổi đầu còn có chút bỡ ngỡ của các thầy, nhưng càng về sau càng thân thiết vì đã cùng nhau chia sẻ, trao đổi, thảo luận… khá sôi nổi về nhiều vần đề thiết yếu như về lịch sử Phật giáo, về Thiền lâm bảo huấn, về Phật học ứng dụng trong đời sống… Đây là một sáng kiến khá độc đáo của Thầy Đồng Bổn, trụ trì chùa, mà khóa đầu tiên đã thực hiện từ 2 năm trước với kết quả tốt đẹp.

 

Kỷ niệm Lớp An cư kiết hạ tại chùa Phật học Xá Lợi, 18.8.2017.
Nhóm cư sĩ: Minh Ngọc, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Đình Sơn.

 

 

 

 

 

 

”Thảo luận nhóm”

 

Dưới đây là clip Mũi Né của Hoàng Khai Nhan với tiếng hát Thu Vàng. Rảnh nghe thử nhé.

Đa tạ Thúy Vy, Hoàng Khai Nhan, Thu Vàng… và dĩ nhiên nhạc sĩ, Thầy Đăng Châu Hoàng Quốc Bảo!

Thân mến,

ĐHN

(22/8/2017)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

thư gởi bạn xa xôi 8.17 (tiếp)

15/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp)

Về Phan Thiết

 

Với mình thì ”Phan Thiết” luôn bao gồm cả Lagi và Mũi Né, cả Ma Lâm và Mương Mán.  Vậy là đông tây nam bắc có đủ cả. Cái vùng đó thật lạ. Ngoài địa danh Lagi (đọc là La Di, giọng Nam bộ) thì còn có La Gàn, La Ngâu, La Ngà… Núi thì có Tà Cú, Tà Dôn, Tà Đặng, Tà Lài, Tà Mon… Hàm thì có Hàm Tân, Hàm Thuận, Hàm Đức, Hàm Tiến… Có người bảo La là sông, Tà là núi và Hàm là ruộng. Mình chỉ biết vậy.  Mương Mán nổi tiếng với Ga Mương Mán, trên tuyến đường xe lửa Bắc Nam hàng trăm năm, bỗng dưng sau 75 bị đổi tên thành Ga Bình Thuận, chẳng hiểu tại sao. Có lẽ rồi đây Ga Tháp Chàm sẽ đổi thành Ga Ninh Thuận… và rồi ga Diêu Trì, ga, ga… tiếp tục đổi tên.

Về Phan Thiết, lúc nào cũng ghé Lagi. Thế nào cũng ghé Đập Đá Dựng. Một ly cà phê. Nhìn dòng nước chảy xiết. Ngày nào, mới đó mà đã hơn 60 năm, cùng bạn bè đạp xe vượt đồi, qua các trảng cỏ cao hơn đầu người, lên Đá Dựng tắm sông. Trần truồng như nhộng. Đến khi Bình Tuy làm cái đập nước, có cái nhà một cột giữa dòng, có những con lân đá mang tên mới là Đập Đá Dựng thì vẫn trần truồng như nhộng tắm sông cả bọn. Mới thôi.

 

 

Về Mũi Né lúc này muốn ngắm dừa “xứ Rạng” thì phải vào các resort may ra. Mà rừng dừa cũng già quá đỗi rồi.

 

 

Vườn dừa Rạng.

 

 

 

 

Thuyền thúng (Thúng chai) bây giờ cũng lạ. Xanh xanh đỏ đỏ cũng khá tươi.

 

 

Bàu Trắng, Bàu Sen xưa là một vùng tuyệt đẹp với đồi cát mênh mông, hồ nước mênh mông xanh ngút ngàn mà nay dấu xe đặc chủng du lịch cày xới không thương tiếc… Nhớ ngày nào đưa đoàn T4G đến thăm còn hoang sơ lắm.

 

 

May còn một chút làng chài ở Hòa Thắng, nơi có cái đảo nhỏ trông giống như một con Rùa biển gọi là Hòn Đú (Rùa biển vùng mình gọi là con Đú, nhớ không? Đú lên cát đẻ trứng hằng trăm quả, như trái bóng bàn, mềm mềm và vỏ dai chắc, vùi trong cát để ấp, khi nở ra hằng trăm con đú con đua nhau bò xuống biến…).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lần này về Phan Thiết mình còn ghé lên Ma Lâm. Tính gặp Ngô Đình Miên thăm mà bạn đi Saigon. Thôi ghé chụp cái hình chiếc ga xép nhỏ, ngày nào 12 tuổi, đi theo Chị Ba Oanh từ chùa HN lên thăm bác Năm H, anh Lìn, chị Nhạn… bằng xe lửa. Nay anh Lìn (Lâm Hồng Lân cũng vừa mới mất). Ma Lâm chỉ cách Phan Thiết 15km, thuộc Hàm Thuận Bắc, có đường đi thẳng lên Di Linh Đà Lạt, quốc lộ 28, ngang qua khu rừng nguyên sinh mênh mông đượm vẻ huyền bí nên từ xưa đã được gọi là Ma Lâm chăng? Ở đó có Đập Sông Quao hùng vĩ. Sông Quao đổ về Lương Sơn, Phan Rì, còn nhớ chứ? Lần này mình cũng có ghé thăm Đập Sông Quao. Năm xưa, còn Má, đã đưa Má đến đây.

 

Đập sông Quao

 

Ga xép Ma Lâm

Rồi ghé tạt ngang Chùa HN, nơi mình ở mấy năm tuổi thơ đi học Trường tiểu học Bạch Vân của cô Tiểu Sính (Hồ Thị Tiểu Sính, con Út cụ Hồ Tá Bang) rồi vào đệ thất trường Phan Bội Châu năm đó (1954)… Mấy cây điệp (phượng) to đỏ rực mùa hè và cây me khổng lồ ba người ôm không xuể trong sân chùa đã bị đốn chặt tự bao giờ, may còn sót lại một cây dừa ngơ ngác. Mới thôi.

 

 

 

 

 

Nhưng không thể không kể thêm rằng mỗi lần về Phan Thiết thế nào cũng phải ăn Bánh Căn và ăn chè “Mộng Cầm”, rồi uống trà Lipton đặc biệt chỉ thấy có ở Phan Thiết, quán cafe BM bên bờ biển Vĩnh Thủy (Thương Chánh).

 

 

Trà lipton nóng, tự pha chế. tự vắt trái quất, chanh, cam vào tách trà, có sẵn táo tàu, xí muội, cam thảo… các thứ! Rất ngon. Chỉ thấy có ở Phan Thiết.,

 

Vậy đó, vài chuyến về Phan Thiết gần đây của mình. Phải kể cho bạn nhớ quay quắt chơi!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Gío heo may đã về ...., Uncategorized

thư gởi bạn xa xôi 8.17

13/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Đã bắt đầu làm biếng tổ rồi! Phải đợi bạn nhắc vài lần mới chịu ngồi gõ đây. Tay chân cũng lọng cọng hơn rồi đó.

Thấy thời đại internet có gì hay ư? Có đó.

Chẳng hạn một bài viết của ai đó, bỗng nhiên thấy tên mình là tác giả, phát tán tùm lum. Một cô giáo hỏi ”đọc không thấy giọng của Ngọc?” và  ”sao lạ vậy? hay là bị ức chế lâu quá nên bây giờ mới xổ ra?”… Rồi hai vợ chồng người bạn cũng khá thân tình, e dè hỏi: lâu nay có chút thắc mắc, nếu anh cho phép… có phải anh vừa mới viết bài nọ bài kia không? Ối trời. Đính chính cả chục lần chẳng ai thèm để ý!

Rồi có bài thì bị cắt khúc giữa, giữ đoạn đầu đoạn cuối của mình, thêm hẳn một khúc theo ý chủ quan của người sửa, chẳng biết để làm gì…!

Có người tử tế hơn, giữ nguyên bài mình viết, giữ nguyên tên tác giả, chỉ có Bold đậm chỗ này chỗ khác theo ý riêng, rồi thêm hình ảnh minh họa, thêm video, thậm chí… quảng cáo cái gì đó nữa. Thật vui.

Mới đây, ngày CN 18/6/2017 mình có buổi Nói chuyện tại Pháp viện Minh Đăng Quang cho khoảng 500 sinh viên. Đề tài cho mình tự chọn. Mình chọn: Tại sao tôi học Phật? Vì nói với các bạn trẻ, sinh viên nên có lẽ tốt nhất là giải đáp cái thắc mắc của họ: Học Phật để làm gì? Tại sao lại học Phật?…

Các Sư ở pháp viện có thu hình, thu âm. Hôm nọ, Sư ML phone nói bác sĩ ơi, video có đoạn đầu bị rè, khó nghe, nhóm thực hiện đề nghị bác sĩ nói lại giùm đoạn này được không? Làm sao nói lại được? Nói là nói với ai, nói lúc nào, nói cái gì… nữa chứ! Rồi Sư bảo hay là, bên nhóm quay clip đề nghị bác sĩ cho họ chọn một giọng nói của ai đó giống giọng bác sĩ nói lại đoạn này vậy nhé? Lại càng tệ! Mình phải từ chối ngay.

Thôi thà nghe rè rè một đoạn (vài chục phút) rồi nghe tốt đoạn sau còn có lý hơn.

Vậy đó, thời buổi của Internet, của truyền thông… đa phương tiện hiện nay.

Bạn nghe thử vậy nhé,

 

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Thầy thuốc và bệnh nhân

thơ Trần Vấn Lệ: Mùa Vu Lan…

12/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Trải Chiếu Nhìn Trăng

 

Cũng muốn lắm làm bài thơ thật êm, một bài thơ thật dịu, thật mềm…như tóc thề em hồi em mười bảy, như cành soan hoa nở và chim…

Cũng muốn lắm để hồn dang cánh và thơ bay trong cảnh thanh bình, lướt qua tai em những lời nhỏ nhẹ, lướt qua vai em hơi thở của anh…

Cũng muốn lắm đại dương hẹp lại như con sông Hương uốn lượn giữa hai bờ, thấy ai đó như là dáng Ngoại giữa vườn cau bay bay sáng mưa…

Cũng muốn lắm mình là tảng đá nằm bên đường gội nắng giầm sương, em tan học về ngồi nghỉ mệt…có đôi khi chợt thấy em buồn…

*

Cũng muốn lắm che đầu nón lá có bài thơ cho Huế bốn câu mà cây bút cầm lên để xuống tưởng quê nhà có lẽ đang Thu…

Đừng nói nhé một lời đau đớn!  Đừng thở dài, Non Nước đã dài!  Đừng hỏi sao mặt trời tắt muộn?  Ngôi sao chiều lấp lánh chờ ai…

Một bài thơ mở lời không có, nói vu vơ không điệu không vần.  Đợi nắng tắt và đêm rồi sẽ trải chiếu nằm nhìn tha thiết ánh trăng…

Trần Vấn Lệ

 

Khói Quyện Trầm Hương

Hôm nay em nói em đi Chùa, em sẽ ăn trưa ở đó trưa, ăn cho được nhẹ lòng ham muốn, cho thấy đời không có thiếu, thừa…

Em muốn hồn nhiên như lúc nhỏ níu tà áo Mạ nép lưng Ba, em quỳ tay chắp Nam Mô Phật…lòng tự nhiên bừng một đóa hoa…

Em nói dễ thương như tiểu thuyết để anh mặc sức diễn thành thơ.  Chúng ta rồi sẽ như chim sẻ ríu rít bên nhau trước bệ thờ…

Em nói líu lo như chim rừng hôm nào về đậu ở Dran, áng mây Ngoạn Mục trùm Eo Gió, hoa anh đào nở rực sáng Xuân…

Em nói như là chuông thánh thót, ờ em hôm nay em đi Chùa, Sư Ông sẽ tặng phong bì đỏ, em cúi đầu, em ấp úng thưa…

Ôi em, em vẫn là cô bé, vẫn nhé như trăng tháng Bảy Rằm, xá tội vong nhân, đời hạnh phúc với người kề cạnh kẻ xa xăm…

*

Hồi tối anh mơ thấy dọc đường, một o xinh lắm áo mù sương, anh đưa tay hứng vầng trăng bạc rồi gọi âm thầm em-cố-hương…

Em nói nữa đi, em cố quận, con đò, bến cũ, bóng cây đa…Mái tranh quán lá ngày mưa bão, khói quyện trầm hương anh thiết tha!

 

Trần Vấn Lệ

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Già ơi....chào bạn

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 48
  • Trang 49
  • Trang 50
  • Trang 51
  • Trang 52
  • Interim pages omitted …
  • Trang 124
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email