Nguyễn Thị Ngọc Hải
Hiện làm việc và giảng dạy ở trung tâm Đào tạo Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, bác sĩ, nhà văn hóa Đỗ Hồng Ngọc có mấy chục năm theo đuổi bộ môn khoa học hành vi giáo dục sức khỏe – bộ môn hầu như không có ở các Đại học Y khoa. Ông còn là tác giả nhiều cuốn sách được đón đọc như Cành mai sân trước, Nghĩ từ trái tim, Thư gửi người bận rộn…
1. Tâm bệnh nguy hiểm hơn nhiều
– Thưa bác sĩ, bộ môn “không cần thuốc” này có giá trị thế nào trong việc chữa bệnh?
Teen, đó là lứa tuổi từ 10 đến19 tuổi theo quy ước của Tổ chức Sức khỏe thế giới (WHO). Trong suốt 9-10 năm trời đó các em phải trải qua một giai đọan khó khăn nhất của cuộc sống với nhiều bất trắc, nguy cơ, nhưng cũng đầy tiềm năng và triển vọng. Các em như con sâu nằm trong kén, phải vặn mình chuyển hóa để trở thành một cánh bướm đầy màu sắc nhởn nhơ bay lượn giữa bầu trời xanh.
Người đặt tên hườm hườm cho lứa tuổi ngũ thập tri thiên mệnh này là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Một cái tên rất thơm mùi cây trái. Ai chưa tới tuổi thì thấy bắt thèm. Như trông thấy một trái đu đủ da xanh ngắt nhưng đã ửng những vệt vàng như nắng. Ai đã tới tuổi rồi thì thấy mình quả là đường bệ giàu sang. Bỡi cả một khối hồng đào ngọt lịm đang chờ những đôi môi ướt át và những hàm răng trắng nhỏ.
Khi thấy Tu Bồ Đề và mọi người trong thính chúng có vẻ như hả hê vì đã đựơc chỉ dạy xong cách hàng phục tâm, thì Phật đã vội gọi: Lại nữa! Này Tu bồ Đề! khiến cho mọi người sực tỉnh. Lại nữa ư? Chưa xong, chưa hết ư? Còn nhiều chuyện quan trọng nữa ư? Đúng vậy, Phục thứ, Tu Bồ Đề. Bồ tát ư pháp, ưng vô sở trụ hành ư bố thí! Bồ tát ở trong pháp, đừng trụ vào đâu cả để làm việc bố thí!
Dòng sông có còn níu mãi bờ sông? Đỗ hỏi thế. Nhưng chắc chẳng phải hỏi đâu, mà có lẽ chỉ là trót lỡ tay hạ xuống câu thơ vô cố đấy thôi. Thơ lẫn trong văn, nên văn lộn thành thơ! Dòng sông có còn níu mãi bờ sông? Một câu hỏi (cứ tạm cho như thế) ngắn ngủn mà dư chấn không ngắn ngủi. Bất chợt nó khiến xui có kẻ đành buông sách nửa chừng, để ngẫm nghĩ, để lẩn thẩn mình hỏi lấy mình: Ừ, sông là để chảy đi, chảy đi. Không chảy nữa thì sông đâu còn là sông! Nhưng chảy đi và đi mãi bởi chẳng thèm luyến lưu? Hay bởi không còn muốn ôm chầm chấp giữ? Hay bởi nước nghìn năm trước với nước nghìn năm sau vẫn như thế, cứ như thế chỉ có điều lòng dạ hôm qua không phải là gan ruột bữa nay cho nên ai đó một hôm ngẩn ngơ ra đứng bên dòng sông mà hỏi rằng bãi bờ con nước có còn nắm níu nhau chăng.
Tôi thường tự hỏi không hiểu vì sao ngày xưa trẻ con thuờng bị đòn roi mà nên người còn bây giờ cha mẹ … sợ con, lúc nào cũng ngọt ngào, tử tế với con mà con dễ bị hư? Dĩ nhiên là không vơ đũa cả nắm!
Chuyện Trang Chu một hôm nằm mộng thấy mình hóa bướm, giật mình tỉnh dậy bàng hoàng không biết mình là bướm hay bướm là mình thì ai cũng biết, nhưng không ai ngờ rằng rồi đây Trang Chu hóa bướm hay bướm hóa Trang Chu sẽ là chuyện… thường ngày! Chỉ tội nghiệp Trương Trào, một triết gia đời Thanh, hơn ba trăm năm trước, đã chua chát bào Trang Chu thấy mình hoá bướm đó là cái may của Trang Chu, còn bướm nếu nằm mộng thấy mình hóa Trang Chu thì đó là cái bất hạnh của bướm! ( U mộng ảnh, Bóng trăng gió núi, bản dịch Huỳnh Ngọc Chiến). Bởi chẳng ai ngờ ngày nay các nhà khoa học đã có thể ghép gen của… Trang Chu vào bướm rồi ghép gen của bướm vào Trang Chu để “biến hóa” qua lại như chơi!
Chưa bao giờ chuột và người lại gần gũi với nhau như bây giờ! Nhiều người đi đâu cũng kè kè con chuột. Có khi còn bỏ chuột vào túi quần. Ra quán café ngồi nhâm nhi cũng rê dắt chuột; đến công ty, xí nghiệp, cơ quan thì khỏi nói, mân mê chuột suốt ngày; về đến nhà cũng ôm cứng lấy chuột. Chuột khắp mọi nơi. Chuột trên máy bay, ô tô, tàu hỏa… Chuột có đuôi và chuột không đuôi. Chuột phát sáng và chuột không phát sáng… Chuột trắng chuột đen chuột xanh chuột đỏ…. đủ thứ! Chuột to như nắm tay hoặc chuột nhỏ như hạt đậu đều có. Nhưng, chuột nào cũng là chuột! Nó nối thế giới lại với nhau trong tich tắc, nó làm cho người ta hả hê sung sướng hay đau khổ tận cùng. Khi vổ gối khi chau mày, đêm quên ngủ ngày quên ăn cũng vì chuột! Đó là con chuột của… máy vi tính trong thế giới phẳng ngày nay vậy!
Từ năm 1946, Tổ chức sức khỏe thế giới (WHO) đã định nghĩa: Sức khoẻ là một tình trạng hoàn toàn sảng khóai (well-being; bien-être) về thể chất, tâm thần và xã hội, chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật. Một định nghĩa như thế cho thấy đánh giá sức khỏe của một con người không thể chỉ dựa vào chuyện có hay không có bệnh tật; và cũng vậy, không thể đánh giá sức khỏe của một cộng đồng mà chỉ dựa vào tỷ lệ bệnh tật, tỷ lệ tử vong, số giường bệnh, số bác sĩ… Cái khó ở đây là làm cách nào đánh giá được “tình trạng sảng khóai” về cả ba mặt, thể chất, tâm thần và xã hội như định nghĩa đã nêu? Đánh giá sự sảng khóai, sự hài lòng cũng chính là đánh giá hạnh phúc. Mà đánh giá hạnh phúc là chuyện không đơn giản chút nào vì nó nặng tính chủ quan, dễ lệch lạc. Chính vì thế mà mãi nửa thế kỷ sau, WHO mới đưa ra đựơc một bảng “Đánh giá chất lượng cuộc sống” (Quality of Life Assessement) liên quan đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe để cụ thể hóa định nghĩa đã nêu trên. Theo đó, người thầy thuốc chỉ quan tâm chữa trị bệnh tật là chưa đủ, mà phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nói khác đi, người bệnh sống không phải chỉ là sống sót, tồn tại, mà phải là sống có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ tốt nhất có thể được..WHO đề ra một bảng chỉ số gọi là WHOQOL-100 (WHO quality of life,100 đề mục) cò thể triển khai thực hiện trên nhiều nước khác nhau, nhiều nền văn hóa khác nhau, bao gồm 6 lãnh vực: 1.Sức khỏe thể chất; 2.Tâm lý; 3.Mức độ độc lập; 4.Các mối quan hệ xã hội; 5.Môi trường và 6.Niềm tin, tôn giáo, vấn đề tâm linh. Các chỉ số đo đạc này sẽ rất hữu ích cho việc cải thiện chất lượng phục vụ của ngành y trong việc chăm sóc sức khỏe người dân nói chung cũng như trong nghiên cứu khoa học, trong giám sát và cả trong họach định chính sách.
Già thì mắt kém, tai lãng, đi lại khó khăn, mọi thứ lệ thuộc… nên dễ phiền lòng! Chút thì giận hờn. Chút thì trách cứ. Con cháu hiếu thảo cũng ba điều bốn chuyện rồi vội vả … trốn ngay! Người già cô độc càng cô độc. Lúc nào cũng đang như “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt”… Lẩm cẩm, lặp đi lặp lại hoài một chuyện. Chuyện mới thì quên. Chuyện xưa thì nhớ. Dưới đây là một vài kỹ năng để truyền thông tốt với người cao tuổi:
Đúng rồi đó, “Anh chưa thi đỗ thì chưa… động phòng?”. Chuyện gì vậy? Thi cử sao lại dính tới chuyện “động phòng” ở đây? Ngày xưa, thi cử rất khó khăn, cứ mỗi 3 năm nhà vua mới mở khoa thi một lần để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước. Người thi đỗ được vinh quy bái tổ, “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”, vinh dự không chỉ cho gia đình, dòng tộc mà còn cho cả xóm làng. Sĩ tử ngày xưa thường đã lớn tuổi, nhiều người thi hết đợt này tới đợt khác! Nguyễn Công Trứ chẳng hạn, đến 42 tuổi mới đỗ tiến sĩ, ra làm quan. Do vậy chuyện…có vợ trước khi đi thi là chuyện thường (Đừng bắt chước nha!). Không những có vợ mà có người còn con cái đùm đề nữa. Như Tú Xương trước ngày thi đã căn dặn vơ con: Phen này tớ hỏng tớ đi ngay/ Cúng giỗ từ đây nhớ lấy ngày… Dĩ nhiên Tú Xương…hỏng. Nhờ vậy mà sau này ta có…nhà thơ Tú Xương đi vào văn học sử! Nói cách khác, thi rớt cũng chả làm sao! Thua keo này, bày keo khác! Học không phải một ngày, một tháng, mà phải học suốt đời. Có người không thành công trong trường ốc mà lại thành công trong trường đời. Nhất nghệ tinh nhất thân vinh! Trở lại chuyện ngày xưa. Có những sĩ tử may mắn có được người vợ đảm đang, tảo tần, nuôi cho ăn học, nên dành hết thì giờ cho chuyện “dùi mài kinh sử”, không chễnh mãng, rượu chè, bài bạc, đắm mê nhan sắc để phải làm lỡ sự nghiệp công danh. Vì vậy mà có câu vợ khuyên chồng: “Anh chưa thi đỗ thì chưa… động phòng”! Nghĩa là trong lúc học thi, ôn thi, không đươc gần gũi, ăn nằm với nhau, nói theo bây giờ là phải kiêng nhịn tình dục, lo tập trung cho chuyện học hành. Thi đỗ xong…rồi tính! Người xưa gọi thi đỗ là “đại đăng khoa” còn lập gia đình là “tiểu đăng khoa”. Phải lo “đại” trước rồi mới tới “tiểu” sau. Kẻ đắm mê nhan sắc sớm thì dễ… hư đời, công danh sự nghiệp lỡ dỡ!