Hồi đó, năm 1968, cách đây hơn 40 năm, tôi đang là sinh viên Y khoa năm cuối, làm việc tại Khoa 2B bệnh viện Nhi đồng Sài Gòn (nay là BV Nhi đồng 1) với tư cách nội trú ủy nhiệm. Một hôm, một bé gái khoảng 4 tháng tuổi, đang bụ bẫm, khỏe mạnh, phát triển bình thường, đột nhiên khó thở, tím tái, rên rỉ, li bì , nổi “bông” khắp người, được đưa thẳng vào phòng cấp cứu. Tôi khám kỹ, còn lúng túng trước một bệnh cảnh khá đặc biệt : trẻ như sắp rơi vào hôn mê, rên rỉ một cách kì lạ, tình trạng thiếu oxy trầm trọng, người nổi bông tím, tiếng tim nghe nhỏ, xa xăm, gan lớn, đúng là dấu hiệu suy tim cấp, mà không rõ nguyên nhân gì, có thể là ngộ độc chăng, tôi nghĩ. Bỗng một tiếng nói nhỏ rót vào tai tôi của chị L, một nữ điều dưỡng lớn tuổi đã làm việc hơn 10 năm ở khoa 2B : “ Ông thầy ơi, suy tim do thiếu B1 đó!” .Tôi như bừng tỉnh.Đúng rồi! Học rồi mà chưa gặp nên bây giờ mới lúng túng như vây! Tôi nhìn chị bằng con mắt ngạc nhiên và biết ơn. Ngạc nhiên vì không biết sao chị “ chẩn đoán “ nhanh và chính xác như vậy, mà chẳng cần khám” lôi thôi” như tôi; còn biết ơn là ngoài việc đã chỉ dẫn cho tôi lại khéo léo không làm tôi mất mặt với các bạn sinh viên trẻ y3- y4 đang theo tôi khám bệnh lúc đó. Tức thì tôi gõ phản xạ gân xương cho bé, không nhảy! Tôi mời bà mẹ đến để khám : gõ phản xạ đầu gối, không nhảy. Bé được bú sữa mẹ đơn thuẩn và chị kiêng cữ rất kỹ, chính đó là nguyên nhân làm thiếu B1 gây suy tim cho bé và bản thân chị cũng thường yếu đuối, uể oải, chân đi muốn sụm. Tôi cho em bé thử máu tìm acid pyruvic, chụp phim X quang, đo điện tim, đồng thời cho chích ngay tĩnh mạch một ống Thiamine (vitamin B1). Thuốc vitamin B1 cũng sẽ là một trắc nghiệm điều trị, nếu có hiệu quả ngay trong vòng 30 phút thì chẩn đoán chắc chắn là đúng, dĩ nhiên, không được dùng thêm thuốc nào khác.Kết quả thật kì diệu! Bé hồng hào trở lại, hết nổi bông, hết tím tái và tiếng tim nghe rõ, gan nhỏ lại! Kết quả xét nghiệm về sau đó khẳng định chẩn đoán suy tim do thiếu B1 là đúng, nhưng chỉ riêng sự phục hồi lâm sàng ngoạn mục đã cho thấy chẩn đoán là chính xác rồi. Đứa bé đựơc xuất viện trong sự vui mừng của cả gia đình.Tôi hướng dẫn thêm bà mẹ cách ăn uống sao cho đủ chất dinh dưỡng để có sữa tốt cho con bú và cho bé ăn dặm thêm đúng cách.
Con mắt thứ ba
Khi thấy Tu Bồ Đề và mọi người trong thính chúng có vẻ như hả hê vì đã đựơc chỉ dạy xong cách hàng phục tâm, thì Phật đã vội gọi: Lại nữa! Này Tu bồ Đề! khiến cho mọi người sực tỉnh. Lại nữa ư? Chưa xong, chưa hết ư? Còn nhiều chuyện quan trọng nữa ư? Đúng vậy, Phục thứ, Tu Bồ Đề. Bồ tát ư pháp, ưng vô sở trụ hành ư bố thí! Bồ tát ở trong pháp, đừng trụ vào đâu cả để làm việc bố thí!
Tôi lại một phen chưng hửng! Bổ tát ở trong pháp? Pháp gì? Ưng vô sở trụ bố thí là bố thí làm sao? Tự dưng đang bàn chuyện diệt độ chúng sanh, chuyện thiền định vô ngã cao xa vời vợi bỗng nhảy đùng vào chuyện xin cho, chuyện cơm áo gạo tiền, chuyện bố thí này nọ?
Đọc NHƯ THỊ
Lê Anh Dũng (Huệ Khải)
Dòng sông có còn níu mãi bờ sông? Đỗ hỏi thế. Nhưng chắc chẳng phải hỏi đâu, mà có lẽ chỉ là trót lỡ tay hạ xuống câu thơ vô cố đấy thôi. Thơ lẫn trong văn, nên văn lộn thành thơ! Dòng sông có còn níu mãi bờ sông? Một câu hỏi (cứ tạm cho như thế) ngắn ngủn mà dư chấn không ngắn ngủi. Bất chợt nó khiến xui có kẻ đành buông sách nửa chừng, để ngẫm nghĩ, để lẩn thẩn mình hỏi lấy mình: Ừ, sông là để chảy đi, chảy đi. Không chảy nữa thì sông đâu còn là sông! Nhưng chảy đi và đi mãi bởi chẳng thèm luyến lưu? Hay bởi không còn muốn ôm chầm chấp giữ? Hay bởi nước nghìn năm trước với nước nghìn năm sau vẫn như thế, cứ như thế chỉ có điều lòng dạ hôm qua không phải là gan ruột bữa nay cho nên ai đó một hôm ngẩn ngơ ra đứng bên dòng sông mà hỏi rằng bãi bờ con nước có còn nắm níu nhau chăng.
Thương nhớ…” đòn roi…”!
Tôi thường tự hỏi không hiểu vì sao ngày xưa trẻ con thuờng bị đòn roi mà nên người còn bây giờ cha mẹ … sợ con, lúc nào cũng ngọt ngào, tử tế với con mà con dễ bị hư? Dĩ nhiên là không vơ đũa cả nắm!
Câu trả lời có thể là vì ngày xưa con người còn được thong dong, có nhiều thì giờ để gần gũi nhau, tình mẫu tử, tình phụ tử nhờ đó mà nẩy nở , phát triển toàn vẹn. Cha mẹ theo dõi con từng cử chỉ, lời ăn tiếng nói, để kịp thời uốn nắn. Nói cách khác là cõ sự quan tâm, dạy dổ con từng li từng tí theo lứa tuổi. Dĩ nhiên dạy con không thể không có những lúc nổi nóng, đánh vài roi. Có khi đánh thiệt, có khi chỉ doạ. Con biết ngay là cha mẹ thương mình. Đánh xong, cha mẹ còn bật khóc, vì hối hận, vì đau lòng. Lúc đó có khi chính con là người ôm lấy cha mẹ, vổ về, an ủi, hứa từ nay “không dám làm vậy nữa”! Tình cha mẹ con cái sau đó càng trở nên khắng khít, đằm thắm, như hiểu nhau hơn, như qúy nhau hơn. Cha biết rằng con đang mang trong mình hạt giống của cha mẹ, giống dòng, đánh con vài roi là đánh vào chính mình, đánh vào tương lai mình. Mẹ ít đánh con hơn mà tình thương thì trải rộng, chan hoà trong từng cử chỉ, lời nói. Đau xót khi con bị đánh, nhưng mẹ thường bình tĩnh, dịu dàng giải thích cho con thấy rõ lỗi, có khi mẹ còn bảo đánh thêm cho nó chừa- tức là không bênh con- nhưng nếu biết con bị oan thì can ngăn lằn roi của cha, đem thân mình ra mà đỡ, ôm chặt con vào lòng, bày tỏ với con sự trìu mến , dịu ngọt, dỗ dành. Dạy và dỗ như vậy luôn đi đôi với nhau. Cha dạy. Mẹ dỗ. Cha nghiêm đường. Mẹ từ mẫu. Cũng có khi ngược lại. Như là có một sự phân công của tự nhiên. Chuyện xưa kể có người con đã lớn bị cha đánh đòn đã bưng mặt khóc nức nở, người cha kinh ngạc hỏi, tại sao ngày xưa tao quất mày túi bụi, mày không khóc, bây giờ quất mấy roi mà mày lại khóc nức nở vậy hở con? Con nói rằng cha đánh con ngày càng yếu đi chứng tỏ cha đã ngày một già thêm… Nên con khóc. Những chuyện như vậy bây giờ ít được nghe kể nữa, chỉ nghe người ta kể nhiều về chuyện con cái gọi cảnh sát đến bắt cha mẹ… bỏ bóp!
Thời của “tùy chọn”
Chuyện Trang Chu một hôm nằm mộng thấy mình hóa bướm, giật mình tỉnh dậy bàng hoàng không biết mình là bướm hay bướm là mình thì ai cũng biết, nhưng không ai ngờ rằng rồi đây Trang Chu hóa bướm hay bướm hóa Trang Chu sẽ là chuyện… thường ngày! Chỉ tội nghiệp Trương Trào, một triết gia đời Thanh, hơn ba trăm năm trước, đã chua chát bào Trang Chu thấy mình hoá bướm đó là cái may của Trang Chu, còn bướm nếu nằm mộng thấy mình hóa Trang Chu thì đó là cái bất hạnh của bướm! ( U mộng ảnh, Bóng trăng gió núi, bản dịch Huỳnh Ngọc Chiến). Bởi chẳng ai ngờ ngày nay các nhà khoa học đã có thể ghép gen của… Trang Chu vào bướm rồi ghép gen của bướm vào Trang Chu để “biến hóa” qua lại như chơi!
“Của chuột và người…”
Chưa bao giờ chuột và người lại gần gũi với nhau như bây giờ! Nhiều người đi đâu cũng kè kè con chuột. Có khi còn bỏ chuột vào túi quần. Ra quán café ngồi nhâm nhi cũng rê dắt chuột; đến công ty, xí nghiệp, cơ quan thì khỏi nói, mân mê chuột suốt ngày; về đến nhà cũng ôm cứng lấy chuột. Chuột khắp mọi nơi. Chuột trên máy bay, ô tô, tàu hỏa… Chuột có đuôi và chuột không đuôi. Chuột phát sáng và chuột không phát sáng… Chuột trắng chuột đen chuột xanh chuột đỏ…. đủ thứ! Chuột to như nắm tay hoặc chuột nhỏ như hạt đậu đều có. Nhưng, chuột nào cũng là chuột! Nó nối thế giới lại với nhau trong tich tắc, nó làm cho người ta hả hê sung sướng hay đau khổ tận cùng. Khi vổ gối khi chau mày, đêm quên ngủ ngày quên ăn cũng vì chuột! Đó là con chuột của… máy vi tính trong thế giới phẳng ngày nay vậy!
Hóa ra hạnh phúc có thể đo đạc được!
Từ năm 1946, Tổ chức sức khỏe thế giới (WHO) đã định nghĩa: Sức khoẻ là một tình trạng hoàn toàn sảng khóai (well-being; bien-être) về thể chất, tâm thần và xã hội, chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật. Một định nghĩa như thế cho thấy đánh giá sức khỏe của một con người không thể chỉ dựa vào chuyện có hay không có bệnh tật; và cũng vậy, không thể đánh giá sức khỏe của một cộng đồng mà chỉ dựa vào tỷ lệ bệnh tật, tỷ lệ tử vong, số giường bệnh, số bác sĩ… Cái khó ở đây là làm cách nào đánh giá được “tình trạng sảng khóai” về cả ba mặt, thể chất, tâm thần và xã hội như định nghĩa đã nêu? Đánh giá sự sảng khóai, sự hài lòng cũng chính là đánh giá hạnh phúc. Mà đánh giá hạnh phúc là chuyện không đơn giản chút nào vì nó nặng tính chủ quan, dễ lệch lạc. Chính vì thế mà mãi nửa thế kỷ sau, WHO mới đưa ra đựơc một bảng “Đánh giá chất lượng cuộc sống” (Quality of Life Assessement) liên quan đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe để cụ thể hóa định nghĩa đã nêu trên. Theo đó, người thầy thuốc chỉ quan tâm chữa trị bệnh tật là chưa đủ, mà phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nói khác đi, người bệnh sống không phải chỉ là sống sót, tồn tại, mà phải là sống có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ tốt nhất có thể được..WHO đề ra một bảng chỉ số gọi là WHOQOL-100 (WHO quality of life,100 đề mục) cò thể triển khai thực hiện trên nhiều nước khác nhau, nhiều nền văn hóa khác nhau, bao gồm 6 lãnh vực: 1.Sức khỏe thể chất; 2.Tâm lý; 3.Mức độ độc lập; 4.Các mối quan hệ xã hội; 5.Môi trường và 6.Niềm tin, tôn giáo, vấn đề tâm linh. Các chỉ số đo đạc này sẽ rất hữu ích cho việc cải thiện chất lượng phục vụ của ngành y trong việc chăm sóc sức khỏe người dân nói chung cũng như trong nghiên cứu khoa học, trong giám sát và cả trong họach định chính sách.
“Làm thế nào để cải thiện mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân?”
Trong dịp kỷ niệm ngày thầy thuốc VN 27-2. BS Đỗ Hồng Ngọc, nguyên Giám đốc Trung tâm Truyền thông- Giáo dục sức khỏe Tp.HCM có buổi nói chuyện về đề tài “Làm thế nào để cải thiện mối quan hệ thấy thuốc – bệnh nhân?”. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn bác sĩ.
1. Xin bác sĩ cho biết: dựa vào cơ sở nào để bác sĩ thực hiện đề tài “Làm thế nào để cải thiện mối quan hệ thấy thuốc – bệnh nhân?”.
Chăm sóc người cao tuổi!
Già thì mắt kém, tai lãng, đi lại khó khăn, mọi thứ lệ thuộc… nên dễ phiền lòng! Chút thì giận hờn. Chút thì trách cứ. Con cháu hiếu thảo cũng ba điều bốn chuyện rồi vội vả … trốn ngay! Người già cô độc càng cô độc. Lúc nào cũng đang như “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt”… Lẩm cẩm, lặp đi lặp lại hoài một chuyện. Chuyện mới thì quên. Chuyện xưa thì nhớ. Dưới đây là một vài kỹ năng để truyền thông tốt với người cao tuổi:
Một hôm gặp lại…
Hồi lên sáu tuổi, có lần tác giả vẽ một bức phác thảo như thế này

rồi đem khoe kiệt tác của mình với những người lớn và hỏi nó có làm cho họ khiếp hãi không, họ đều trả lời: “Sao lại phải khiếp hãi với một cái mũ chứ?” .Điều này khiến ông vô cùng thất vọng. Ông đâu có vẽ cái mũ – mà là vẽ một con trăn vừa nuốt chững một con voi đang nằm chờ tiêu hoá! Vậy là ông phải vẽ thêm một phác thảo thứ hai có hình con voi trong bụng trăn để người lớn có thể hiểu. Người lớn lúc nào cũng cần phải có giải thích mới hiểu đựơc! Ông nghĩ.
“Làm thầy thuốc chữa bệnh cho người, làm thơ chữa bệnh cho mình”
Bài viết về sách Đỗ Hồng Ngọc trên blog “uyên_tonnu):
Friday, 5. October 2007, 02:36:21
Personal
Tôi tình cờ đọc tác phẩm của ông lúc tôi chỉ mới là cô bé học lớp 5, đó không phải là sách dành cho thiếu nhi mà là một cuốn sách về Y khoa, tựa là “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” . Sự tình cờ này đến trong một lần tôi bị ốm, nằm nhà. Không hiểu sao hồi đó bame có thể yên tâm để tôi một mình ở nhà, buồn không biết làm gì nên chỉ biết đọc sách. Cũng không nhớ vì sao tôi “vớ” được cuốn sách đó trong kệ sách của ba để rồi đọc say sưa dù có những điều mà trí tuệ của 1 đứa trẻ 10 tuổi chưa thể hiểu được. Tôi vẫn còn nhớ cuốn sách đó được xuất bản trước năm 75 khá dày, giấy đen thui nhưng có minh hoạ khá đẹp trong con mắt trẻ thơ của tôi ngày đó. Nhưng phải công nhận là ông viết với một giọng văn rất dí dỏm, dễ hiểu. Tôi nhớ mình đã rất thích những hình minh hoạ mô tả những hoạt động cũng như tính cách của trẻ của từng giai đoạn, từ lúc lọt lòng cho đến 1 tuổi, từ 1-2 tuổi, từ 2-4 tuổi…Cũng trong tác phẩm đó, ông kể nhiều về những trường hợp trẻ bị tử vong vì gia đình thiếu kiến thức sơ đẳng về y học, rất đau lòng. Sau này tôi thấy tác phẩm này được xuất bản lại, giấy đẹp hơn, bìa sách được thiết kế đẹp hơn nhưng hình như những hình minh hoạ như cuốn cũ thì không còn, tiếc thật.
“Anh chưa thi đỗ…”
Đúng rồi đó, “Anh chưa thi đỗ thì chưa… động phòng?”. Chuyện gì vậy? Thi cử sao lại dính tới chuyện “động phòng” ở đây? Ngày xưa, thi cử rất khó khăn, cứ mỗi 3 năm nhà vua mới mở khoa thi một lần để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước. Người thi đỗ được vinh quy bái tổ, “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”, vinh dự không chỉ cho gia đình, dòng tộc mà còn cho cả xóm làng. Sĩ tử ngày xưa thường đã lớn tuổi, nhiều người thi hết đợt này tới đợt khác! Nguyễn Công Trứ chẳng hạn, đến 42 tuổi mới đỗ tiến sĩ, ra làm quan. Do vậy chuyện…có vợ trước khi đi thi là chuyện thường (Đừng bắt chước nha!). Không những có vợ mà có người còn con cái đùm đề nữa. Như Tú Xương trước ngày thi đã căn dặn vơ con: Phen này tớ hỏng tớ đi ngay/ Cúng giỗ từ đây nhớ lấy ngày… Dĩ nhiên Tú Xương…hỏng. Nhờ vậy mà sau này ta có…nhà thơ Tú Xương đi vào văn học sử! Nói cách khác, thi rớt cũng chả làm sao! Thua keo này, bày keo khác! Học không phải một ngày, một tháng, mà phải học suốt đời. Có người không thành công trong trường ốc mà lại thành công trong trường đời. Nhất nghệ tinh nhất thân vinh! Trở lại chuyện ngày xưa. Có những sĩ tử may mắn có được người vợ đảm đang, tảo tần, nuôi cho ăn học, nên dành hết thì giờ cho chuyện “dùi mài kinh sử”, không chễnh mãng, rượu chè, bài bạc, đắm mê nhan sắc để phải làm lỡ sự nghiệp công danh. Vì vậy mà có câu vợ khuyên chồng: “Anh chưa thi đỗ thì chưa… động phòng”! Nghĩa là trong lúc học thi, ôn thi, không đươc gần gũi, ăn nằm với nhau, nói theo bây giờ là phải kiêng nhịn tình dục, lo tập trung cho chuyện học hành. Thi đỗ xong…rồi tính! Người xưa gọi thi đỗ là “đại đăng khoa” còn lập gia đình là “tiểu đăng khoa”. Phải lo “đại” trước rồi mới tới “tiểu” sau. Kẻ đắm mê nhan sắc sớm thì dễ… hư đời, công danh sự nghiệp lỡ dỡ!
AIDS ? Chuyện của… Phụ nữ!
Cái nguy lớn nhất của AIDS chính là sự “giấu mặt”- nghĩa là lan truyền một cách âm thầm, không thấy không biết- khác với dịch tả, dịch hạch, SARS, cúm gia cầm H5N1…- khiến người ta dễ chủ quan, mất cảnh giác! Người ta ví AIDS như những con mối ăn luồn trong căn nhà gỗ, bên ngoài không trông thấy gì, đến khi căn nhà sụp đổ ập xuống mới hay!
AIDS do đó nguy hiểm hơn ta tưởng! AIDS âm thầm đe dọa sự sụp đổ của từng gia đình, từng cộng đồng, từng quốc gia… nếu không có biện pháp ngăn chặn thích đáng từ sớm. Một vài nơi trên thế giới hiện nay người ta đã nói tới nạn diệt chủng do AIDS. Nhiều làng mạc chỉ còn trẻ mồ côi và người già không nơi nương tựa. Không còn đủ thầy giáo, thầy thuốc, không còn cả người làm nông, người chăn nuôi, xây dựng… gây tác hại trực tiếp đến tòan bộ kinh tế, chính trị, quân sự của một quốc gia!
Cứu lấy… Cầu Khỉ!
Cứ mỗi lần thấy một bức ảnh trúng giải thưởng quốc tế của các nghệ sĩ nhiếp ảnh nước ta có liên quan đến cây cầu khỉ – khi thì một cô giáo dẫn học sinh qua cầu, khi thì một đôi thanh niên nam nữ âu yếm dắt tay nhau, khi thì một đám cưới miệt vườn… tôi lại lo ngay ngáy đến một ngày nào đó không còn tìm thấy bóng dáng chiếc cầu khỉ thơ mộng bắc qua những con kênh rạch chằng chịt khắp các nẻo đường đồng bằng Nam bộ, khi mà chương trình “xoá cầu khỉ” hoàn tất trong thời gian tới! Lúc đó có lẽ chúng ta chỉ còn có dịp đi trên những chiếc cầu bê-tông to bè, cứng nhắc hoặc cầu nhựa tổng hợp láng o, láng coóng… Dĩ nhiên là giao thông sẽ thuận tiện hơn, xe cộ chạy ào ào, tấp nập, người đi lại trùm đầu kín mít với chiếc nón bảo hiểm, che mũi miệng với khẩu trang hai lớp, chỉ lộ hai con mắt lom lom nhìn qua mica như người ngoài hành tinh, trang bị điện thoại di động đa chức năng và máy thăm dò tình cảm, sẳn sàng kêu bíp bíp báo tin khi có người đi ngược chiều cùng tần số để làm quen.
Bệnh viện quá tải, tại sao?
Có cái lạ là cho đến giờ này chưa hề nghe các bệnh viện tư kêu ca “quá tải”! Trái lại họ càng mong được quá tải, thậm chí quảng cáo dưới mọi hình thức để được quá tải! Thế tại sao các bệnh viện công, các cơ sở công lại luôn kêu quá tải? Và thực tế là đang quá tải! Đây thực sự là một tín hiệu đáng mừng cho các bệnh viện công. Thực ra chỉ có một số bệnh viện công lớn, chuyên khoa sâu, đầu ngành, có thương hiệu mạnh mới bị quá tải! Người bệnh sẵn sàng chen chúc dù chỉ được bác sĩ ngó qua cho một cái! Họ cần cái gì? Cần sự yên tâm. Thà cực khổ, mà yên tâm, còn hơn lo lắng băn khoăn, mất ăn mất ngủ, bán tín bán nghi!
