Thai giả ở người có tên khoa học là Pseudocyesis, gốc từ tiếng La tinh:. Pseudo là “giả” và kyesis là “có thai”, thường gọi đơn giản là thai giả (False pregnancy). Thai giả đã được ghi nhận từ thời cổ đại. Hippocrates, hơn 300 năm trước Công Nguyên, đã mô tả 12 trường hợp có thai giả như vậy. Người ta không chỉ thấy các trường hợp có thai giả ở người mà còn có cả ở loài chó, mèo, chuột… xem tiếp …
Chăm sóc trẻ bệnh (tiếp theo)
Làm sao biết trẻ mắc bệnh?
Trẻ không biết nói, không biết diễn tả các triệu chứng của bệnh, hoặc nếu có biết thì cũng thừờng không chính xác. Lúc được khám bệnh, trẻ sợ không dám khai rõ bệnh tình. Ngược lại, có khi kể lung tung…Nhiều bé mới học được từ “ nhức đầu”, “ đau bụng” đã đem ra sủ dụng liên tục khiến cho mẹ và thầy thuốc cũng hết sức lúng túng.
Thân nhân trẻ em, cô nuôi dạy trẻ, người giúp việc… cũng không nắm rõ bệnh sử, đôi khi cũng không trung thực vì quá lo âu hoặc quá lơ đễnh.
Do vậy, phải có kinh nghiệm và một vài nguyên tắc để phân biệt trẻ khỏe, trẻ mệt và trẻ bệnh như dưới đây:
Tin vui cho các bà mẹ
Một nghiên cứu cho thấy số thai phụ bị nhiễm HIV tại Việt Nam tăng 20 lần từ năm 1994 đến 2003. Mỗi năm ở Việt Nam có từ 5000 đến 7000 bà mẹ bị nhiễm HIV, tính ra có khoảng 2000 trẻ sinh ra đã bị lây truyền HIV từ mẹ sang con. Số trẻ em vô tội này dĩ nhiên sẽ là những trẻ mồ côi và bị chết non. Có cách nào giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con không? Có đó. Vấn đề là vì không biết để sử dụng các dịch vụ này mà thôi. Thật đáng tiếc!
Hiểu thêm về “giả dược” (Placebo)!
Lý thú trong “nghệ thuật” dùng thuốc chữa bệnh là giả dược (Placebo), hay còn gọi là thuốc vờ – thuốc giống y như thật nhưng không có tác dụng dược lý- chỉ tạo ra hiệu ứng Placebo đôi khi rất thú vị. Placebo thường được dùng trong nghiên cứu Y học, thử thuốc lâm sàng có đối chứng (controlled studies) hoặc dùng để chữa một số triệu chứng đặc biệt, và cũng có khi dùng để thoả mãn đòi hỏi của người bệnh ham uống thuốc, chích thuốc dù bác sĩ thấy không cần thiết. Placebo có đủ loại, thuốc uống, thuốc thoa và thuốc chích. Tên gọi Placebo đã có từ xa xưa và đến năm 1785, Placebo đã có tên trong tự điển Y học với nghĩa là “thuốc gây niềm tin” (make – believe medicine).
Lại nói về Sốt xuất huyết
Tại sao Sốt xuất huy
ết (SXH) lại tập trung nhiều nhất ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi người dân có mức sống cao nhất trong cả nước? Một nhà báo đã hỏi như vậy. Có lẽ anh còn múôn hỏi thêm: Muỗi mà cũng kỳ thị, phân biệt đối xử vậy sao?xem tiếp …
“Ông uống bà khen”!
Khá nhiều thư gửi về mục “Gia đình vui khỏe” do tôi phu trách trên báo Phụ Nữ để hỏi về chuyện “ông uống bà khen”. Nhiều người nói đã uống tam xà tửu (rượu ngâm ba thứ rắn: hổ mang, cạp nong, lục xanh), ngũ xà tửu (năm thứ rắn), rồi rượu ngâm tắc kè, bò cạp, bửa củi, bìm bịp, rắn mối… rồi ngầu pín (dương vật của bò), ngọc dương (của dê), đến các thứ “pín” khác của hải cẩu, hải mã, ngựa… Có người còn ngâm thêm sâm, quy, thục, linh chi… các thứ cho chắc ăn .
Chuyện dùng các bộ phận sinh dục động vật, các loại cây con, thuốc men “nổi tiếng” để chữa thiểu năng tình dục, rối loạn dương cương đã có từ thời La Mã, Trung Hoa cổ đại nên chẳng có chi lạ. Có điều, một đồng nghiệp nổi tiếng về tình dục học trước kia – bác sĩ Trần Bồng Sơn – có lần nói với tôi nhiều trường hợp ông chỉ cho bệnh nhân ăn hột sầu riêng mà cũng khỏi “bệnh”, bởi hột sầu riêng trông giống… tinh hoàn!
Chuyện vui kể một ông già bị đưa ra tòa về tội làm cho một cô gái mang bầu. Bạn bè khuyên phải cãi cho ra lẽ, bởi ai cũng biết ông vốn không có khả năng làm chuyện đó, nhưng ông nói được “kết tội” trước tòa về chuyện này thật là một… “diễm phúc” đối với ông!
Cho nên, “ông uống bà khen” chắc chắn không chỉ là vấn đề tác dụng dược lý mà còn là tác dụng tâm lý. Khi người ta uống bửa củi, người ta nghĩ mình cũng… bửa củi không thua, khi uống tắc kè, bìm bịp thì người ta cũng bìm bịp tắc kè, còn khi hải cẩu, hải mã thì người ta cũng tràn trề hy vọng.
Tuy nhiên, tác dụng của rượu bia thì ai cũng biết. Rượu bia có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương. Chỉ cần ở mức độ 0,05% nồng độ rượu trong máu là đã bắt đầu giảm sút về suy nghĩ, phán xét và khả năng kiềm chế bản thân, bắt đầu lè nhè, kích động: rượu vào lời ra. Bà… khen vì thấy ông bỗng nhiên hoạt bát bất ngờ, dễ thương hết sức… Mức độ cao hơn một chút, mắt nhìn đã lờ đờ, đầy lãng mạn – nhìn nhau không nói – và bỗng thấy “đối tác” đẹp ra, trẻ ra lạ lùng! Khi bắt đầu đi đứng loạng quạng, cử động lung tung càng thấy dễ thương. Khi mức độ đến 0,2% nồng độ rượu trong máu thì hành vi cảm xúc của não bị ức chế, dễ xuất hiện những cơn bùng nổ. Lâu nay xụi lơ, rụt rè, bỗng vùng lên, đầy nam tính, sẵn sàng đè bẹp mọi chướng ngại. Bà không “khen” sao được? Mức độ cao hơn nữa, 0,4% – 0,5% nồng độ rượu trong máu thì đã có thể gục ngã, ngủ say hoặc rơi vào hôn mê…
Điều nguy hiểm là rượu bia dễ dẫn tới… nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. Suy giảm trí nhớ (“bỗng thấy mình… không nhớ nổi một tên đường!”..), rồi nặng hơn, nghe một giọng nói tưởng tượng (ảo thanh), rồi đến hoang tưởng, ghen tuông vô cớ hoặc cho mình bị ám hại. Sau cùng là trầm cảm, lúc nào cũng âu sầu, buồn bã, lúc nào cũng uể oải, mệt mỏi, thiếu tự tin, khó ngủ, bi quan, thậm chí muốn tự tử… Lúc này thì bà hết khen mà dễ đổ quạu. Gia đình vui khỏe hổng nổi!
Một đồng nghiệp cho biết, khi có dịp tư vấn về sức khỏe nam giới, anh đã hỏi thiệt mấy bà chị và mấy ông anh. Mấy ông anh thì nói cũng tạm được, thấy có kích thích và cũng lâu lâu hơn một tí ti (!?). Còn mấy bà chị thì chặc lưỡi, “vũ như cẩn” hà bác sĩ ơi, chỉ được cái khúc dạo đầu kha khá. Có chị rất thông cảm, “tôi thấy thương ổng nhiều hơn, cứ tối ngày tìm mua con này con nọ về ngâm rượu, thành ra khi ổng hỏi kết quả thế nào, tôi cũng làm bộ nói tốt lắm, tốt lắm, động viên tinh thần ổng là chính, nếu không ổng mặc cảm, tội nghiệp hết biết!” (Theo báo Ấp Bắc).
BS Đỗ Hồng Ngọc
Bà Thầy
Hồi đó, năm 1968, cách đây hơn 40 năm, tôi đang là sinh viên Y khoa năm cuối, làm việc tại Khoa 2B bệnh viện Nhi đồng Sài Gòn (nay là BV Nhi đồng 1) với tư cách nội trú ủy nhiệm. Một hôm, một bé gái khoảng 4 tháng tuổi, đang bụ bẫm, khỏe mạnh, phát triển bình thường, đột nhiên khó thở, tím tái, rên rỉ, li bì , nổi “bông” khắp người, được đưa thẳng vào phòng cấp cứu. Tôi khám kỹ, còn lúng túng trước một bệnh cảnh khá đặc biệt : trẻ như sắp rơi vào hôn mê, rên rỉ một cách kì lạ, tình trạng thiếu oxy trầm trọng, người nổi bông tím, tiếng tim nghe nhỏ, xa xăm, gan lớn, đúng là dấu hiệu suy tim cấp, mà không rõ nguyên nhân gì, có thể là ngộ độc chăng, tôi nghĩ. Bỗng một tiếng nói nhỏ rót vào tai tôi của chị L, một nữ điều dưỡng lớn tuổi đã làm việc hơn 10 năm ở khoa 2B : “ Ông thầy ơi, suy tim do thiếu B1 đó!” .Tôi như bừng tỉnh.Đúng rồi! Học rồi mà chưa gặp nên bây giờ mới lúng túng như vây! Tôi nhìn chị bằng con mắt ngạc nhiên và biết ơn. Ngạc nhiên vì không biết sao chị “ chẩn đoán “ nhanh và chính xác như vậy, mà chẳng cần khám” lôi thôi” như tôi; còn biết ơn là ngoài việc đã chỉ dẫn cho tôi lại khéo léo không làm tôi mất mặt với các bạn sinh viên trẻ y3- y4 đang theo tôi khám bệnh lúc đó. Tức thì tôi gõ phản xạ gân xương cho bé, không nhảy! Tôi mời bà mẹ đến để khám : gõ phản xạ đầu gối, không nhảy. Bé được bú sữa mẹ đơn thuẩn và chị kiêng cữ rất kỹ, chính đó là nguyên nhân làm thiếu B1 gây suy tim cho bé và bản thân chị cũng thường yếu đuối, uể oải, chân đi muốn sụm. Tôi cho em bé thử máu tìm acid pyruvic, chụp phim X quang, đo điện tim, đồng thời cho chích ngay tĩnh mạch một ống Thiamine (vitamin B1). Thuốc vitamin B1 cũng sẽ là một trắc nghiệm điều trị, nếu có hiệu quả ngay trong vòng 30 phút thì chẩn đoán chắc chắn là đúng, dĩ nhiên, không được dùng thêm thuốc nào khác.Kết quả thật kì diệu! Bé hồng hào trở lại, hết nổi bông, hết tím tái và tiếng tim nghe rõ, gan nhỏ lại! Kết quả xét nghiệm về sau đó khẳng định chẩn đoán suy tim do thiếu B1 là đúng, nhưng chỉ riêng sự phục hồi lâm sàng ngoạn mục đã cho thấy chẩn đoán là chính xác rồi. Đứa bé đựơc xuất viện trong sự vui mừng của cả gia đình.Tôi hướng dẫn thêm bà mẹ cách ăn uống sao cho đủ chất dinh dưỡng để có sữa tốt cho con bú và cho bé ăn dặm thêm đúng cách.
Bệnh viện quá tải, tại sao?
Có cái lạ là cho đến giờ này chưa hề nghe các bệnh viện tư kêu ca “quá tải”! Trái lại họ càng mong được quá tải, thậm chí quảng cáo dưới mọi hình thức để được quá tải! Thế tại sao các bệnh viện công, các cơ sở công lại luôn kêu quá tải? Và thực tế là đang quá tải! Đây thực sự là một tín hiệu đáng mừng cho các bệnh viện công. Thực ra chỉ có một số bệnh viện công lớn, chuyên khoa sâu, đầu ngành, có thương hiệu mạnh mới bị quá tải! Người bệnh sẵn sàng chen chúc dù chỉ được bác sĩ ngó qua cho một cái! Họ cần cái gì? Cần sự yên tâm. Thà cực khổ, mà yên tâm, còn hơn lo lắng băn khoăn, mất ăn mất ngủ, bán tín bán nghi!
Bác sĩ nhà quê
Tìm một bác sĩ nhà quê bây giờ hơi khó! Phòng khám nào cũng sáng choang, máy móc tân kỳ, tinh xảo, thay đổi kiểu dáng công nghiệp xoành xoạch cứ như thay điện thọai di động. Thậm chí có cả bác sĩ máy, kê toa chẩn đóan bằng “yes no” ngon lành trước màn hình. Bệnh nhân… nhà quê run lập cập trứơc hàng lọat máy móc kỹ thuật cao… Một nhà thơ bị đau cột sống cổ nói với tôi anh đã phải đi chụp cắt lớp theo chỉ định bác sĩ. Lần đầu chui vào cái máy chụp cắt lớp, thò hai chân ra ngoài lạnh ngắt, cả thân người lọt tỏm trong cái hộp kín bưng, anh nghĩ mình đang nằm trong cái lò… thiêu! Toát mồ hôi lạnh, ngột ngạt chịu không nổi, anh cứ phải cục cựa để biết mình còn đang sống. Thế là không chụp đựơc hình, bị đuổi ra. Anh chạy đến cơ sở khác. Ở đây máy đời mới, tốt hơn, rộng rãi hơn, không kín bưng kín mít, anh yên tâm vì nếu có gì cũng còn…la toáng lên đựơc cho mọi người tới cứu…. Các bác sĩ trẻ bây giờ đa số vin vào máy móc. Không có máy móc, chịu! Họ chẳng cần hỏi bệnh sử, chẳng cần thăm khám, máy làm tuốt. Một cái xét nghiệm ra mấy chục kết quả. Gõ gõ vài cái vào máy vi tính, có ngay cái chẩn đóan ngon lành.. Một cô gái đến bệnh viện xin khám… bụng. Một bác sĩ trẻ không cần hỏi, ghi ngay cái phiếu cho làm siêu âm với lý do “ U bụng chưa rõ nguyên nhân”. Kết quả, một cái thai 4 tháng tuổi, đã ngo ngoe trong bụng mẹ!
Về “Thở để chữa bệnh”
BS Đỗ Hồng Ngọc: Do có nhiều bạn đọc hỏi thêm cho rõ về phương pháp THỞ BỤNG để chữa bệnh, tôi xin nhắc lại đây là phương pháp phụ trợ cho việc điều trị của bác sĩ, không thể thay thế hoàn toàn thuốc men đựơc. Việc luyện tập phải kiên nhẫn, không nóng vội. Dưới đây xin ghi lại những nét chính của phương pháp này và ý kiến đóng góp của Kỷ sư Phạm Văn Bảy, người đã có kinh nghiệm nhiều năm trong vấn đề này và ý kiến của một độc giả- ông Phạm Đình Đễ- để bạn đọc tham khảo thêm. Trân trọng.
Xin cám ơn, cám ơn
Xin cám ơn, cám ơn
Cơn bệnh ngặt nghèo quật ta gục ngã
Như cỏ cây trước cơn bão dữ
Như con thuyền tung hê lên vách núi cao
Cho ta trở về làm con thú hoang sơ
Trần truồng như nhộng
Kẻ cạo đầu người lột da
Kẻ đục sọ người giúp thở
Nên có một “Y bạ”…
Cũng như học bạ ghi quá trình và thành tích học tập của một cá nhân, y bạ ghi quá trình và thành tích… bệnh họan của một người nào đó! Có một y bạ, nó giúp ta mỗi khi đau ốm đi khám bác sĩ không quên tình tiết bệnh sử, tiền căn ( bệnh cũ) các thứ, giúp bác sĩ nắm đựơc bệnh tình, chẩn đoán và điều trị hiệu quả; y bạ còn giúp ta thỉnh thoảng nhìn lại để “ôn cố tri tân”, biết đường mà phòng tránh, mà thay đổi hành vi lối sống để nâng cao sức khỏe của bản thân mình….
Cần một “bác sĩ riêng”!
Ta thường nghĩ chỉ những ông lớn, bà lớn mới có thể có bác sĩ riêng hay chỉ các đại gia mới “sắm” nổi cho mình một bác sĩ riêng. Thực ra, không hẳn vậy. Ai cũng nên có một bác sĩ riêng của mình, của cả gia đình mình nữa. Bác sĩ “riêng” ở đây là muốn nói đến mối quan hệ gần gũi, thân thiết, gắn bó lâu dài của vị bác sĩ đó với gia đình – có khi qua nhiều thế hệ- đựơc sự tin cậy của cả gia đình. Vị bác sĩ đó không chỉ hiểu rõ bệnh tật mà còn hiểu rõ tâm tính, hoàn cảnh… của từng người trong gia đình, không chỉ chữa trị các bệnh thông thường ( đến 90% các trường hợp) mà còn quan tâm đến sức khỏe toàn diện về thể chất, tâm thần, cảm xúc, xã hội…. của từng thành viên, và khi cần thì chính họ sẽ giúp ta có những quyết định đúng đắn hoặc gởi ta đến chữa trị ở một chuyên khoa sâu nào đó để tránh tình trạng “tiền mất tật mang”!
Thấu cảm
Thấu cảm không phải là thông cảm, cũng không phải là đồng cảm. Tiếng Việt ta có nhiều từ “thấu” rất hay như thấu hiểu, thấu đáo, thấu… xương ( lạnh thấu xương! ) và… bò bóp thấu! Cho nên thấu cảm (empathy) không dễ chút nào! Thấu cảm đòi hỏi phải có khả năng đặt mình vào vị trí người khác để hiểu, và có hiểu mới thương! Đối với thầy thúôc thì thấu cảm là hiểu được đằng sau nỗi đau kia còn có nỗi khổ nào, đằng sau cái bệnh kia là cái hoạn nào của người bệnh. Nhờ vậy mà mối tương giao thầy thúôc bệnh nhân trở nên “đằm thắm” hơn. Y khoa bây giờ ngày càng nặng về kỹ thuật. Người thầy thuốc trẻ đựơc dạy để biết sử dụng các máy móc tân kỳ, thay đổi mẫu mã xoành xoạch, dần dần có khuynh hướng chạy theo kỹ thuật, lệ thụôc máy móc và qua đó cũng lạnh lùng, máy móc, “khoa học”, xa cách dần với…con người. Nó làm cho người thầy thuốc trở nên bí hiểm… chẳng khác gì các phù thủy của những bộ lạc ngày xưa! Thế nhưng con người từ xưa đến nay vẫn không thay đổi: cũng những âu lo, phiền muộn, sợ hãi, cũng những ganh tị, ghen ghét, mừng vui, cũng vẫn già nua, tuổi tác, ốm đau bệnh họan …
Vì sao “cơm không lành, canh không ngọt”?
Khi tìm hiểu mối “giao tình” giữa thầy thuốc- bệnh nhân ngày nay sao cứ trục trặc, cơm không lành canh không ngọt hoài thì người ta mới ngạc nhiên phát hiện ra rằng sở dĩ có chuyện đó là do thầy thuốc và bệnh nhân có cái thấy và cái nghĩ khác nhau, tuy cùng gặp gỡ, cùng giải quyết chung một vấn đề với nhau!

