Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

“THANH THẢN, TỰ TẠI, LÀ HẠNH PHÚC”

12/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

“THANH THẢN, TỰ TẠI, LÀ HẠNH PHÚC”
Tú Lan trò chuyện với BS Đỗ Hồng Ngọc
(Báo DƯỢC & Mỹ Phẩm, BYT, Số tháng 4/2012
Thật là thú vị khi được trò chuyện với một người tinh tế, dí dỏm và yêu trẻ thơ… càng thú vị hơn khi người ấy lại là một nhà khoa học. Không những giúp cho người bệnh bớt bệnh mà còn giúp họ bớt khổ là cái tâm của vị “từ mẫu”, thầy thuốc ưu tú Đỗ Hồng Ngọc. Có lẽ không nhiều người Việt Nam có nhiều danh xưng như ông: một Đỗ Hồng Ngọc bác sĩ, nhà thơ; một Đỗ Hồng Ngọc viết văn, làm báo và một Đỗ Hồng Ngọc viết về Phật học… Thông thường mỗi nhà văn, nhà thơ có một đối tượng “fan” hâm mộ nhất định nhưng bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lại chinh phục được mọi giới, mọi lứa tuổi từ các em tuổi mực tím mộng mơ, đến các bà bầu ục ịch và cũng chẳng tha các vị sồn sồn hay qúi vị lão niên bởi ông chính là tác giả của những tác phẩm đem lại cho mọi người tiếng cười, cảm giác dễ chịu cùng những lời khuyên đời thường, dung dị và khoa học.

• Là bác sĩ nhi khoa và nhà tư vấn của tuổi mực tím, tuổi trưởng thành và cả tuổi trăng xế…. rất được yêu mến và tin tưởng, bác sĩ vui lòng chia sẻ bí quyết “lấy lòng” mỗi thế hệ khác nhau của mình được không ạ?

“Lấy lòng” ư? Sao phải “lấy lòng”? “Lấy lòng” để làm gì? Một người viết mà nhằm “lấy lòng” một ai đó thì tôi tin khó mà “lấy” được, trái lại có khi còn bị side- effect, bị sốc phản vệ nữa ấy chứ! Thực ra, nếu có “lấy lòng”, ấy là lấy lòng mình, từ lòng mình mà viết ra. Viết chân thành, từ những trải nghiệm riêng tư thì lạ thay lại gặp gỡ những tấm lòng. Khi tôi viết cho tuổi mới lớn, tôi sống ở tuổi “mới lớn”, khi tôi viết cho tuổi gió heo may, tôi đang sống với gió heo may và khi tôi viết già ơi… chào bạn, ấy là lúc tôi đang gậm nhấm, “thưởng thức” cái già của chính mình. Tôi không có khả năng hư cấu nên không viết được tiểu thuyết!

• Trong xã hội ngày nay, bác sĩ có nhận xét gì về phương châm sống của mỗi thế hệ trẻ, già và chớm già?

Xã hội nào mà chẳng có sự cách biệt của các lứa tuổi? Sự cách biệt này đến từ sinh lý, tâm lý và nhất là từ xã hội. Ngày xưa, sự cách biệt ít… cách biệt như bây giờ vì người ta sống lặng lẽ trong lũy tre làng. Ngày nay thế giới phẳng, toàn cầu hóa, trái đất nhỏ lại trong lòng bàn tay thì lạ thay sự cách biệt giữa các thế hệ càng giãn xa ra. Phương châm sống của các thế hệ ngày càng khác nhau đến nỗi gần như không hiểu nhau. Mỗi thế hệ có một thế giới riêng. Nhưng, ngộ thay, thời gian sẽ khỏa lấp sự cách biệt này. Dù kỹ thuật học có phát triển đến thế nào, đời sống vật chất, tiện nghi, tốc độ có thế nào đi nữa, thì hai ngàn năm trước và mãi mãi về sau này, con người vẫn cứ thất tình lục dục, vẫn cứ khổ đau vì… sinh lão bệnh tử phải không? Một người hai mươi tuổi hôm nay một hôm bỗng thấy mình bốn mươi rồi sáu mươi… mau lắm! Vấn đề là sống sao cho mình và mọi người được an lạc, hạnh phúc, phù hợp với tâm sinh lý của từng lứa tuổi.

• Bác sĩ thuần túy chỉ có thể chữa bệnh cho vài trăm người, nhưng làm bác sĩ viết báo thì có thể phòng bệnh và chữa bệnh cho hàng ngàn, hàng triệu người. Có phải vì “sứ mệnh” này mà bác sĩ đã viết không mệt mỏi?

Không. Chẳng có “sứ mệnh” gì cả! Tôi làm trưởng phòng Cấp cứu tại bệnh viện Nhi đồng Saigon (nay là Bệnh viện Nhi đồng 1 TP.HCM) một thời gian khá lâu. Hàng ngày trông thấy bao nhiêu là trường hợp trẻ con bị bệnh hoạn tử vong oan ức có thể phòng tránh được, vì thế mà tôi thấy phải làm gì đó để giúp các bà mẹ. Vậy là tôi viết. Khi nhớ lại những sai lầm của mình ở tuổi mới lớn, tôi lại viết để chia sẻ cùng các em. Rồi khi tuổi già bóng xế, tôi lại viết cho bạn bè cùng lứa. Thực ra, viết, trước hết là cho mình, tự “chữa bệnh” cho mình cái đã, rồi mới dám chia sẻ với người khác. Giống như người xưa tự nếm thuốc rồi mới dám… kê đơn. Không có cái “sứ mệnh” gì ở đây cả, không có sự rao giảng gì ở đây cả, mà chỉ là sự thầm thì nho nhỏ. Có lần một bé 15 tuổi ở Bến Tre viết cho tôi nói cha mẹ em thường cãi cọ, gây gổ cả ngày, em tặng họ cuốn “Gió heo may đã về” , từ đó gia đình êm ấm lại, có nhiều tiếng cười hơn… Vậy là vui rồi phải không? Nhưng như Hải Thương Lãn Ông đã từng nói: “Cho thuốc chữa bệnh thì cứu được một người còn viết sách truyền phương thì giúp đời vô tận, tác động càng lớn thì trách nhiệm càng to, nhỡ có sai sót chút gì thì tội không phải nhỏ”. Người viết sách, làm báo về y học phải luôn nhớ lời căn dặn này vậy!

• Viết về Thiền học, Phật học có phải là một sứ mệnh khác của bác sĩ không ạ?

Cũng vậy. Khi tôi bị một vố bệnh nặng – tai biến mạch máu não, phải mổ cấp cứu- sau đó tôi đã tìm cách tự chữa trị cho mình. Tôi biết trường hợp này thuốc men chỉ là phụ, cái chính là thay đổi nếp sống, thay đổi nếp nghĩ, nếp nhìn. Tôi tìm đến Thiền học, Phật học là vì thế. Mình là bác sĩ, bất quá chữa được một phần cái “đau” còn cái “khổ” mình không chữa được. Có một bậc thầy, một y vương là Phật, sao không học nhỉ? Lại có một vị Bồ Tát rất dễ thương tên là Dược Vương- vị thuốc vua- sao không học nhỉ? Vậy là tôi học. Rồi chia sẻ, bàn bạc, trao đổi lẫn nhau giữa bạn bè anh em, những người đồng bệnh tương lân.

• Bác sĩ định nghĩa thiền và yoga khác nhau thế nào?

Krishnamurti bảo cái gì có định nghĩa thì cái đó thiếu sót một cách đáng tiếc. Tại sao phải định nghĩa? Khi định nghĩa thì ta đã khái niệm hóa nó, đã cắt xén nó, khu trú nó rồi. Mà cây đời thì mãi mãi xanh tươi! Với tôi, do tuổi tác và tính cách, thấy mình hợp với Thiền hơn vì nó tĩnh lặng, giản đơn mà sâu sắc. Người nào phù hợp với phương pháp nào thì phương pháp đó là tốt nhất. Không nên so sánh. Hãy “nhúng chìm” vào nó, trải nghiệm và cảm nghiệm nó cho riêng mình.

• Người ta vẫn quảng bá các bài tập yoga tốt cho sức khỏe và sắc đẹp, sao không thấy bác sĩ giới thiệu với bạn đọc về yoga?

Tôi cũng tin yoga là tốt cho sức khỏe và sắc đẹp. Tôi nghĩ cái đẹp bên trong quý hơn cái đẹp do cắt mắt sửa mũi độn ngực… Yoga có thể làm tăng cái đẹp bên trong lên. Nhưng, trước hết phải phù hợp với tình trạng sinh lý, thể chất, tuổi tác, bệnh lý của mỗi người. Khiên cưỡng có thể nguy hiểm. Ngay cả chạy bộ, một môn thể dục đơn giản nhất mà cũng tốt cho người này không tốt cho người kia. Thấy người ta uốn dẻo thì mình uốn dẻo, không khéo lại vẹo cột sống, vẹo cổ. Mỗi người có nhịp tim, nhịp thở khác nhau, có hệ thần kinh, hệ nội tiết khác nhau. Sợ nhất là các thầy bắt mình phải làm y theo thầy! Nhớ nhắc các bạn đang học thiền, yoga, khí công… điều đó nhé!

• Bác sĩ đánh giá những vấn đề xã hội nào ảnh hưởng mạnh nhất đến sự đau ốm của con người? Theo bác sĩ, chúng ta có thể làm gì?

Môt từ bên trong, một từ bên ngoài. Bên ngoài đó là một môi trường sống ngày càng tệ hại do con người tự tạo ra để… hủy diệt chính mình. Họ sẵn sàng phá hủy môi trường sinh thái để phục vụ túi tham. Sự ô nhiễm chúng ta đã biết. Biến đổi khí hậu chúng ta đã biết. Bão lũ triền miên, động đất sóng thần chúng ta đã biết. Tất cả đều do con người làm ra. Chẳng phải tại Trời tại Đất gì cả. Còn cái từ bên trong chính là lòng tham không đáy của chúng ta. Lòng tham này tạo nên một đời sống đầy cạnh tranh, căng thẳng và gây ra vô số bệnh tật, các thứ dịch bệnh không lây như chúng ta đã biết. Nghiên cứu của Harvard cho thấy có đến 60-90% bệnh nhân đến bác sĩ là có nguồn gốc từ stress dù biểu hiện bệnh lý khác nhau. “Đau đâu chữa đó” thì không thể chữa được hết gốc bệnh là vậy. Nhưng làm sao để con người tự nguyện sống tri túc, thiểu dục? Còn lâu!

• Là một bác sĩ nhi khoa, bác sĩ nhận xét thế nào về thế hệ trẻ em ngày nay?

Trẻ em ngày nay sướng như tiên! Vì là tiên nên tốn rất nhiều tiền. Đẻ ra chưa kịp bú mẹ đã thấy sữa nhân tạo được tặng đầy phòng. Toàn các loại sữa “thông minh”! Thế mới biết các thế hệ trước đây “ngu dốt” biết chừng nào! Sữa thông minh cứ ngày một lên giá cũng phải! Trẻ em được cưng chiều hết cỡ, đồ chơi đầy nhóc, toàn đồ chơi sau một thời gian thì phát hiện có hoá chất độc hại… Bệnh nhi trở thành khách hàng, mà khách hàng là Thượng đế, muốn gì được nấy. Cha mẹ “khoán” con cho người giúp việc. Mỗi chút lên mạng tham khảo, ý kiến tùm lum, tẩu hỏa nhập ma. Trẻ được cưng chiều dễ hư. Không biêt sao bây giờ vô sinh hơi nhiều, single mom ngày càng đông. Tuy nhiên phải công nhận trẻ em bây giờ có điều kiện phát triển rất tốt, tiếp cận sớm với kỹ thuật hiện đại nên rất giỏi. Tôi chủ trương cần cho trẻ gần gũi với thiên nhiên càng nhiều càng tốt chứ không thì trẻ chỉ tiếp xúc với thiên nhiên ảo, qua vi tính.

• Một ngày bình thường của bác sĩ là những công việc gì?

Là ăn, ngủ,… À không, tôi vẫn còn dạy học, hiện là Trưởng bộ môn Khoa học hành vi- Giáo dục sức khỏe của trường Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch Tp.HCM. Sáng tập thể dục, hít thở một chút, tự pha cho mình một ly cà phê, đọc vài trang báo, lên mạng lai rai, cao hứng thì viết lách lăng nhăng cái gì đó… Hưu lâu rồi mà! Đôi khi bạn bè kêu đi cà-phê đầu đường góc phố thì đi. Bàn đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, toàn chuyên lớn… như chuyện vá tầng ozone, cử tổng thống nước này nước khác, “thường, lạc, ngã, tịnh” v.v…!

• Khi nói về lương của thầy thuốc nhiều người nói: “Muốn làm giàu thì không nên làm ngành y”. Riêng bác sĩ có ý kiến gì?

Tôi nghĩ không ai học y với ý định “làm giàu”. Thời tôi học cách đây nửa thế kỷ, y khoa phải học 7 năm, ra trường với văn bằng Tiến sĩ y khoa quốc gia, chỉ số lương là 720 (Sư phạm học 4 năm, chỉ số 480). Với đồng lương thời đó, người bác sĩ có thể yên tâm chăm sóc bệnh nhân, không cần… phong bì! Y đức ngoài việc học trong trường khi hành nghề còn có Y sĩ đoàn giám sát và bảo vệ. Nghĩa vụ luận y khoa được dạy rất kỹ từ năm thứ 5 trước khi ra trường để biết cách ứng xử với bệnh nhân, với đồng nghiệp và với cộng đồng. Hiện nay, y khoa học 6 năm, ra trường được coi tương đương với cử nhân (4 năm). Còn để được mở phòng mạch, người bác sĩ ngày nay không chỉ cần có Chứng chỉ hành nghề mà còn phải có Giấy phép đăng ký Kinh doanh! Không hiểu tại sao nghề y được coi là “kinh doanh”? Có cách nào tốt hơn chăng, thí dụ “Giấy phép đăng ký Dịch vụ…” ?

• “Người bệnh đến với thầy thuốc không chỉ tìm kiếm những thông tin liên quan đến bệnh tật, đến thuốc men, mà còn mang theo cả những nỗi băn khoăn, lo lắng và sợ hãi…” bác sĩ đã viết như vậy, nhưng bệnh nhân lại cho rằng bác sĩ Việt Nam rất không kiên nhẫn lắng nghe họ nói và thường hay mắng họ. Theo bác sĩ nhận định này có đúng hay không?

Phải coi cái mắng đó là “mắng” yêu hay “mắng” ghét. Tôi thấy có nhiều bệnh nhân bị “mắng” mà rất vui vì biết bác sĩ “mắng” vì mình, thí dụ như khi không tuân y lệnh, sử dụng thuốc men bừa bãi v.v… Mối giao tình thầy thuốc-bệnh nhân mà tốt thì những lời “mắng” này nghe dễ thương, như người thân với người thân. Một bác sĩ làm ở phòng khám nhi một bệnh viện cho biết mỗi sáng anh phải khám cho trên dưới 100 em. Mỗi bệnh nhi chỉ vài phút thôi thì anh đã phải quần quật toát mồ hôi hột, thì giờ đâu mà cười nói hỏi han? Mệt quá hóa quạu, căng thẳng. Dĩ nhiên “mắng” là không nên. Lỗi về phía bác sĩ, về phía ngành y. Cũng có vài bác sĩ thích “ra oai” với bệnh nhân, chẳng qua cũng chỉ vì chưa đủ tự tin. Điều này cũng không nên.

• Bác sĩ có phiền không nếu bạn đọc muốn biết năm nay bác sĩ đã trải qua bao nhiêu cái xuân xanh ạ? Bác sĩ đã phác họa sơ đồ cuộc sống như thế nào để có cuộc sống đẹp nhất ở độ tuổi của mình?

Trong cuốn “Gió heo may đã về” của tôi, Trịnh Công Sơn viết: “Nói với một người trẻ “Tôi già rồi em ạ!” là một điều vô lễ”! Thế nhưng nhà báo trẻ đã hỏi, tôi đành phải “vô lễ” vậy: Tôi đã 73 “xuân xanh” (tuổi ta) bạn ạ. Nhớ Nguyễn Công Trứ ngày xưa ở tuổi này đã… cưới một cô tì thiếp trẻ và: “Tân nhân lục vấn lang niên kỷ/ Ngũ thập niên tiền nhị thập tam”. Cô dâu muốn biết tuổi chàng rễ, Nguyễn tướng công trả lời: “Năm mươi năm trước ta được hai mươi ba tuổi!”. Dĩ nhiên, tôi không có ý định bắt chước Nguyễn tướng công! “Phác họa sơ đồ cuộc sống” ư? Sống thanh thản, tự tại là hạnh phúc rồi, phác họa mà chi?

Cám ơn bác sĩ và chúc bác sĩ nhiều sức khỏe.

Tú Lan

………………………..
(*) Bài đăng trên báo có cắt bớt một câu và một đoạn ngắn.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

VIỆT LINH “Xin lỗi bản thân”

11/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

VIỆT LINH “Xin lỗi bản thân”
Đỗ Hồng Ngọc
“Chuyện và truyện” của Việt Linh là một tập sách đáng đọc. Bài nào cũng đọc được nhưng với tôi, tôi chỉ chọn một bài thôi: Xin lỗi bản thân (trg 127).
Nói lời xin lỗi với ai đó thì dễ chớ xin lỗi chính mình chẳng dễ chút nào đâu! Cho nên không lạ khi Việt Linh phải bày ra cái cách viết thư cho một người nào đó mà thực ra là cho chính mình, thì thầm bên gối, vẻ như ân cần, nhỏ nhẹ mà nghe ra chì chiết, đắng cay. “Với những gì đã xảy ra, nếu là con chị đáng bị đánh đòn. Nếu là cha mẹ chị đáng bị lên án. Nếu là nguyên thủ, chị đáng bị phế truất!”.

Chuyện gì đó vậy? Chuyện Việt Linh làm việc như điên, hút thuốc lá như ống khói tàu, thức trắng đêm này qua đêm khác, đầu óc lúc nào cũng căng như sợi dây đàn… để rồi một hôm run rẩy đánh rơi cái ly đang cầm trên tay, gục xuống và phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện vì… tai biến mạch máu não! May mà qua khỏi, nhưng di chứng đeo đẳng…
Việt Linh bảo mình đã thực sự “thảng thốt, chao choáng” lúc bắt đầu viết bức thư này. Dễ hiểu thôi. Làm cái nghề đạo diễn, bóc tách tâm lý nhân vật, hô phong hoán vũ ở phim trường thì dễ chứ khi chính mình “bóc tách” mình quả là khó. Cho nên khi kết thúc bức thư, cô nói: “Như trả xong một món nợ”. Phải. Nợ ân tình. Nợ chính mình. Một cảm giác nhẹ nhàng như một người xưng tội và được tự mình tha thứ cho mình. Thế nhưng, Việt Linh không dừng ở đó, cô muốn làm một điều gì khác nữa, cho những ai khác nữa, mà trước hết cho những người thân, bức thư đã như “Một lời kêu gọi thiết tha”, một cảnh báo, một nhắc nhở.
“Ngoài di chứng tê đau khiến chị luôn phải cắn răng chịu đựng, trong chị còn có thêm một di chứng khác: chị hay rùng mình run sợ. Rùng mình khi nghe người thân nói đau đầu. Rùng mình khi thấy người thân thức khuya, hút thuốc, ăn mặn…”
Lần đó, sau cơn bạo bệnh, Việt Linh về Pháp, gởi tôi cái “email” hỏi cách chữa các di chứng tê đau chịu không nổi của cô. Tôi “reply” liền. Nhưng Việt Linh “đổ quạu”: “Em hỏi anh là hỏi kinh nghiệm cá nhân anh, một bệnh nhân, nếm trải và phục hồi thế nào sau cơn bệnh… chứ bên Tây này em có tới 3 bác sĩ chuyên khoa thần kinh, tim mạch, vật lý trị liệu chăm sóc cho mình rồi, đâu có cần ông bác sĩ trong anh nữa. Em cần là cần ông bệnh nhân trong anh kìa!” Vậy là tôi đành chia sẻ với Việt Linh cách khác.
Bây giờ thì Việt Linh “khôn” rồi, chẳng thèm “dại” nữa. Việt Linh biết nghe ngóng tiếng nói của từng tế bào trong cơ thể mình. Việt Linh biết đi nghiêng nghiêng kiểu của mình, dựa vào ai đó cùng đi cho khỏi ngã mà người ngoài nhìn vào tưởng cô đang có một cử chỉ… âu yếm! Việt Linh đã biết nuông chiều mình bằng cách đóng riêng một chiếc giày có đế ngang cho hợp với cái chân cà khêu…

Chia sẻ trong buổi giao lưu ở Hội sách (24.3.2012) cô nói: Tôi đã biết chấp nhận. Tôi hiểu cơ thể mình. Tôi làm quen với bệnh. Tôi sống chung với nó và “có giải pháp cho nó”. Nghĩa là đã biết thích nghi. Biết “hòa hợp”.

“Từ bi với mình” không dễ đâu! Người ta có khuynh hướng hành hạ mình, bốc lột mình, than thở phiền trách mình, thậm chí nguyền rủa, căm thù mình nữa. Viết Linh viết: “Từ nay chị sẽ không ảo tưởng sự hồi phục toàn diện, sẽ an lòng sống chung với đau, với tê, với yếu ớt, mong manh… để hiểu sự trả giá hôm nay là đích đáng. Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, rất nhiều đêm chị đã thầm rơi nước mắt, tiếc đau những sai lầm trước đó: hàng chục lần nhức đầu, hàng trăm đêm thức trắng, hàng vạn điếu thuốc trong vòng mấy mươi năm… Các mạch máu trong người chị hẳn đã vô cùng đau đớn, đã nhẫn nại kêu than, chịu đựng biết bao ngày…”

Và rồi, qua một cơn bệnh ngặt nghèo, cô còn nhận ra “biết bao nghĩa tình sâu nặng” đó đây của bè bạn, người thân, thầy thuốc… chung quanh: “Cùng với lời xin lỗi, chị cảm ơn bản thân đã giúp chị sáng mắt. Chị đã bỏ hẳn thuốc lá, sinh hoạt điều độ, bớt ăn mặn, tập yoga, đi bác sĩ thường xuyên, biết sưu tầm những bài thuốc hay cho cơ thể… Tóm lại, từ chỗ nhơn nhơn sức mạnh, chị đã biết lắng nghe tiếng nói của các “thần dân” cơ thể, biết thấu hiểu, chia sẻ. Và một lời cảm ơn quan trọng nữa: trong bấp bênh phù sinh chị đã nhận biết bao nghĩa tình sâu nặng…”.
Việt Linh tâm sự thêm: “Tôi coi như mình đã chết rồi. Tôi biết buông bỏ. Biết sống có ích. Biết làm từ thiện”. Rõ rồi. Cô không còn hò hét ở trường quay nữa mà lặng lẻ viết, dịch để chia sẻ những kinh nghiệm nghề nghiệp với đồng nghiệp, với người đi sau. Một loạt tác phẩm về điện ảnh đã ra mắt. Các tản văn ngày càng thấm đẫm yêu thương. Tôi mến Việt Linh ở đó và cô cũng tự nguyện làm một người “em gái” của tôi, không phải “người em sầu mộng của muôn đời” mà là người em biết yêu cuộc sống, biết chia sẻ và biết “Cảm ơn mình” như một bài viết của tôi trong cuốn Già ơi… Chào bạn! mươi năm về trước./.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

NHỮNG BÀI THUỐC QUÝ

06/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

“Những bài thuốc quý”
Buổi giao lưu tại Hội sách TP.HCM 24.3.2012
Buổi giao lưu chủ đề “Những bài thuốc quý” của hai bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, Đỗ Hồng Ngọc nhân dịp ra mắt tác phẩm Con người trong vòng vây của GS.BS Nguyễn Chấn Hùng sáng 24.3 tại Hội sách TP.HCM đầy kín khán giả, từ những cụ già râu tóc bạc phơ đến các sinh viên trẻ, và rất đông thân hữu trong giới trí thức, doanh nhân, nhà báo…

GS.BS Nguyễn Chấn Hùng mở lời về những suy nghĩ phảng phất trong ông khi viết Con người trong vòng vây: “Từ xưa tới giờ, chúng ta thường tỏ ra bất lực khi đối diện với căn bệnh hiểm nghèo: “Trời kêu ai nấy dạ”, nhưng tôi muốn đưa ra một thông điệp mới: “Trời kêu không dạ”, vì bệnh ấy là tại mình, không phải tại trời! Vòng vây đó không phải của trời, mà của chính con người tạo ra, từ ăn uống, 40% bệnh có thể ngừa được. Vậy làm sao cho nhẹ gánh? Ăn lành – ngủ đủ – tập đều – sống vui là bài thuốc quý trời cho. Không mất tiền mua mà phải biết dùng. Từ ngàn xưa, con người đã biết hoà hợp với trời đất. Hoàng đế nội kinh bàn về dưỡng sinh, nuôi dưỡng cái sống, chú trọng dinh dưỡng tinh thần, ăn uống điều độ, rèn luyện thân thể và ứng hợp môi trường. Trang tử Nam hoa kinh đã thắm đượm cách nuôi sự sống cho mỗi người: “Ngủ không mộng mị, thức chẳng âu lo, ăn không cầu kỳ, hít thở thâm sâu”… Nếu mỗi ngày bạn không ngủ đủ từ bảy đến tám tiếng đồng hồ, đời sống sẽ bị thun lại, óc không nở ra được. Ngủ đủ giúp cho bộ não sắp xếp lại, mềm dẻo hơn, giúp yếu tố tăng trưởng cao. Sống vui giúp bộ não làm việc tích cực, nhạy bén, không sinh ra độc tố. Cười che chở con tim, chống được bao bệnh, mình khoẻ ru thôi…”
BS Đỗ Hồng Ngọc bày tỏ sự thích thú trước tác phẩm mới của GS.BS Nguyễn Chấn Hùng: “Một vị bác sĩ say mê mổ xẻ, say mê khoa học đến giờ lại ngộ ra rằng bác sĩ tốt nhất của mỗi người là chính mình!”. Theo bác sĩ Ngọc, trong các bài thuốc quý thì “thở” là quan trọng nhất. Người ta có thể không ăn 50 ngày vẫn sống được, không uống 5 ngày vẫn có thể sống nhưng không thở 5 phút là chết. Mà thở thì không ai thay mình cả. Không phải vô cớ mà Phật dạy: “Hãy quay về nương tựa chính mình”. Đưa hơi xuống huyệt đan điền thực chất chính là phương pháp thở bụng, thở cơ hoành chứ có gì đâu. Nó giúp mình thảnh thơi đầu óc, không vướng bận. Ngủ cũng là cả một nghệ thuật, phải biết cách ngủ mới thành công. Mình chính là bác sĩ tốt nhất của mình để thay đổi lối sống. Thuốc quý không ở bác sĩ, mà ở mỗi chúng ta.

GS.TS Vũ Đình Huy bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình: “Niềm lạc quan của các bác sĩ đã truyền đến người đọc, bệnh nhân”. Còn đạo diễn Việt Linh thổ lộ: “Sau tai biến mạch máu não, nhiều bạn bè tưởng tôi không qua khỏi. Tôi thực hiện một cách xuất sắc những lời dạy của hai vị bác sĩ, biết buông bỏ những gì làm mình buồn, bắt đầu làm quen với những di chứng của bệnh, và tự tìm ra giải pháp cho mình. Lỗi là do mình đã đối xử quá tệ với bản thân. Xin lỗi bản thân, xin lỗi cơ thể cũng là cách để tôi biết sống có ích, cống hiến cho mọi người nhiều hơn…”.
Sự tung hứng dí dỏm, sâu sắc của hai vị bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng và Đỗ Hồng Ngọc làm không khí oi bức tại hội sách như dịu hẳn. Đã quá trưa, nhưng nhiều người còn vây quanh GS.BS Nguyễn Chấn Hùng với nhiều câu hỏi. Kết thúc buổi giao lưu, ông thổ lộ: “Chúng ta đều trong vòng Trời đất, kính ngưỡng Trời đất, nhưng chúng ta cũng phải biết 85% các loại bệnh không phải tại trời, mà do con người. Loại được những nguyên nhân đó để bệnh không nhập vô mình, thay đổi cách nhìn cũ là điều mà tôi suy nghĩ, để viết Con người trong vòng vây, truyền đạt cho mọi người cùng biết. Viết cho mọi người, văn phong phải giản dị, dễ hiểu, điều này tôi học được từ những người thầy như nhà văn Nguyễn Hiến Lê, nhà văn Sơn Nam, và học được từ bạn tôi, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc”.
Xuất hiện trong buổi giao lưu với tư cách vừa là người bạn thân của BS Chấn Hùng vừa như MC của chương trình, mang đến cho độc giả hai đầu sách mới Thư gửi người bận rộn (tập 2) và Nhớ đến một người, BS Đỗ Hồng Ngọc góp thêm những bài thuốc quý mà ông từng đề cập trong Sức khoẻ gia đình, cuốn sách bán chạy nhất của mình. Ông cho biết thêm: Tổ chức Y tế Thế giới có đưa ra một công thức: SAFE (an toàn), tôi thêm chữ R thành SAFER (an toàn hơn), là chữ viết tắt của các biện pháp: Smoking (không thuốc lá), Alcohol (không rượu), Food (dinh dưỡng đúng), Exercise (rèn luyện thể lực) và Respiration (thở đúng phương pháp). Thực ra nó chính là “giới” và “định” vậy. Giới và định tốt thì sẽ dẫn đến “tuệ”. Nói khác đi, giảm được “tham sân si” ta mới có được thân tâm an lạc. Nếu áp dụng SAFER đúng cách, ta ít cần phải nhờ đến bác sĩ! Cũng đừng quên rằng từ Thế kỷ XVI, Tuệ Tỉnh thiền sư, một danh y ở nước ta đã đúc kết phép Dưỡng sinh bằng 2 câu: Bế tinh dưỡng khí tồn thần/ Thanh tâm quả dục thủ chân luyện hình”.

Hương Xuân

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

“TUỔI GIÀ và SỨC KHỎE”

06/04/2012 By support2 4 Bình luận

Ngày sức khỏe thế giới 2012
TUỔI GIÀ và SỨC KHỎE

Đỗ Hồng Ngọc

Hằng năm, Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) lấy ngày 7- 4 làm “Ngày Sức Khỏe Thế Giới”, đề ra Ưu tiên về một vấn đề Sức khỏe của năm, nhằm kêu gọi sự quan tâm của cả cộng đồng từ các nhà lãnh đạo đến toàn dân, tạo nên một hành động tập thể để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người.

Ngày Sức khỏe Thế giới năm nay 2012 có Chủ đề là “Tuổi già và Sức khỏe” với khẩu hiệu: “Sức khỏe tốt góp thêm đời cho năm tháng”.(ĐHN tạm dịch).
(Ageing and health:  “Good health adds life to years”).

Thế giới già đi một cách nhanh chóng. Không bao lâu nữa, những người trên 65 tuổi sẽ đông hơn những trẻ em dưới 5 tuổi ở bất cứ quốc gia nào dù đã phát triển hay đang phát triển, đặt ra nhiều vấn đế lớn cho xã hội. Người gìa có phải là kẻ “vô tích sự” không, có phải là một gánh nặng không, hay trái lại, một nguồn lực quý giá của gia đình, của cộng đồng và xã hội, một “túi khôn muôn đời” dù khoa học kỹ thuật có tiến nhanh đến đâu! Có sức khỏe tốt, tuổi già sẽ có được chất lượng cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn, an lạc hơn, và nhờ đó đóng góp không ngừng cho gia đình và cộng đồng.

Ai rồi cũng sẽ già, dù giàu hay nghèo, dù đàn ông hay đàn bà, còn trẻ hay đã có tuổi và đang sống bất cứ ở nơi đâu. Cho nên vấn đề làm sao để có một tuổi già khỏe mạnh là mối quan tâm của tất cả chúng ta. Đó chính là chủ đề của Ngày Sức khỏe Thế giới năm nay vậy.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Ở nơi xa thầy thuốc Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, ngay suc khoe the gioi

Cảm ơn em, “Tâm si-đa”

21/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Cảm ơn em, “Tâm si-đa”

Tôi biết Tâm từ những lớp tập huấn về HIV/AIDS do Trung tâm Truyền thông –giáo dục sức khỏe Tp. HCM tổ chức. Tâm xanh xao, ốm yếu, gầy nhom, nhưng mạnh mẽ, quyết liệt, thẳng thắn và trung thực. Tôi đánh giá cao sự đóng góp tích cực của Tâm trong chương trình Phòng chống HIV/AIDS, đặc biệt trong các hoạt động giáo dục đồng đẳng. Sau này tôi quý mến Tâm hơn khi biết em đang nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc cho các bé nhiễm HIV.

Khi có những ưu tư, thất vọng, nản lòng, lại thấy Tâm… gõ cửa. Có khi Tâm hớt hải xin một cái giấy giới thiệu, một lá thư tay để kịp đưa một bé vào bệnh viện; có khi Tâm kêu cho ít tiền để mua vé xe đò cho một bé gái vừa thoát khỏi ổ mại dâm… Những lúc như thế, bao giờ trong tôi cũng có cái cảm giác mến phục cô gái nhỏ bé mà rắn rỏi này.

Tôi mừng vì nay Tâm đã có được một tập Hồi Ký. Điều rất đáng quý, Tâm viết Hồi ký như là một cơ hội để kiếm chút đỉnh tiền nuôi các “con” nheo nhóc của mình.
Từ chuyện đời thực của mình- qua lời kể chân thành của Tâm- nhiều khi làm cho chúng ta phải lặng người, phải giật mình, sửng sốt…

Như một nhắn gửi, một cảnh báo.

Đọc, thấy rưng rưng…

Tôi nghĩ như có cái gì đó – một cái “nghiệp“ – đã thúc đẩy Tâm tự đem thân mình trải nghiệm nỗi gian truân của cuộc đời để rồi từ đó mà có tấm lòng vị tha, có bàn tay nhân ái, cưu mang bao cảnh đời tối tăm, nghiệt ngã.
Nhà xuất bản muốn tôi viết đôi dòng để giới thiệu tập Hồi ký này, tôi thấy chỉ cần nói một câu: Cảm ơn em,“ Tâm si-đa”.
BS Đỗ Hồng Ngọc.

NGƯỜI MẸ ĐẦY NGHỊ LỰC

Trương Thị Hồng Tâm hay “Tâm si-đa” không phải là một cái tên xa lạ với những ai quan tâm đến công tác truyền thông phòng chống AIDS. Có rất nhiều bài báo viết về chị, đặc biệt là khoảng thời gian đen tối của quá khứ khi chị còn là một người nghiện ma túy nặng, một cô gái bán dâm luôn phập phồng lo lắng những đợt truy quét, một người với “thành tích” nhiều lần trốn trường trại…mà xuất phát điểm của cô gái ấy còn là một quá khứ đau lòng, một thân phận. Nay, bài viết này chỉ xin đề cập đến một khía cạnh khác, một phần đời khác của chị – là một người mẹ của nhiều đứa trẻ mắc bệnh AIDS.

Đoàn Kim Ngọc
(Thế giới Mới, 19.3.2012)

Ấn tượng lần gặp đầu

Tôi gặp chị Tâm vào một ngày nắng nóng. Chị chở hai đứa con đi nhận thuốc ở bệnh viện về rồi,ghé ngang chỗ hẹn luôn. Chị bảo vừa cho hai bé tự về bằng xe ôm. Tôi ngạc nhiên vì sự tự lập của những đứa trẻ, lớn nhất chỉ vừa 15 tuổi, bé nhỏ nhất cũng chỉ mới vào lớp 1. Chị nói: phải tập cho các con tự lập, chị đâu thể lúc nào cũng kè kè bên.

Gặp được chị, chị liền nói ngay lý do chị đến trễ. Vốn là chở hai đứa đi bệnh viện, khi đến đấy, chị có việc nên để hai bé tự chờ nhận thuốc, lát chị quay lại thấy ngay bé Lý (bé lớn nhất) đang khóc rưng rức. Hỏi gì cũng cứ ậm ừ không nói, sau một lúc tìm hiểu chị mới biết bé Lý “bị” tư vấn tâm lý. Dùng chữ “bị” là vì theo chị, tư vấn mà đề cập kiểu “Em có biết em bị Siđa không?” hoặc “Em có biết Siđa là gì không?” sẽ khiến những đứa con chị mất tinh thần hẳn vì sự tự ti và mặc cảm mình mắc phải một căn bệnh mà đến bây giờ xã hội vẫn còn không ít thành kiến.

Dỗ mãi cô bé mới nín khóc. Nhìn cách dỗ con của chị, cách rầy la của chị sẽ không ai biết được hai bé đều là con nuôi của chị. Chị hay nói đùa là “con ngang hông” nhưng chị coi những đứa trẻ kém may mắn ấy như con ruột. Mà chị cũng đâu có con ruột để so sánh như hay không, chỉ biết dùng hết sức mình yêu thương, lo lắng và che chở cho những số phận này.

Một số phận thăng trầm

Chị là Trương Thị Hồng Tâm nhưng cái tên Tâm si-đa được nhiều người biết đến hơn sau nhiều năm gắn bó với công tác tuyên truyền và phòng chống căn bệnh thế kỷ này. Chị không giấu quá khứ từng là làm gái, nghiện ma túy và với “chiến tích” trốn trường trại mà ngay cả chị cũng không thể đếm xuể. Thế nhưng, điều chị muốn nói không phải là quá khứ “lẫy lừng” ấy hay vì đâu mà chị có thế cay nghiện sau nhiều năm hút, chích. Điều mà chị nói nhiều nhất bây giờ là các con của chị, những đứa trẻ mà số phận đã rung rủi để chị gặp chúng rồi yêu thương chúng . Cho dù khó khăn đến mấy, chị cũng không thể nào bỏ mặc được. Chị không có điều gì khác những người mẹ tảo tần, vất vả nuôi con trong điều kiện kinh tế khó khăn. Nếu có khác, có lẽ chị có nhiều nghị lực hơn để những đứa con của chị có nơi nương tựa, có chút an ủi trong cuộc đời đầy bất hạnh.

Chị hiện tại đang nuôi bốn trẻ, nếu tính thêm một bé chiều đi học về ghé nhà chị ăn cơm nữa là năm. Với mức lương hiện tại của chị đang công tác ở nhóm Nụ Cười thì chị không đủ nuôi chị, đừng nói đến nuôi bốn đứa con mắc bệnh hiểm nghèo. May nhờ có sự giúp đỡ của một linh mục đang sống tại Nhật và thỉnh thoảng có sự góp sức của các mạnh thường quân mà các con của chị có được một chế độ dinh dưỡng tương đối để có đủ sức chống chọi với bệnh tật.

Mỗi đứa trẻ là một khoảng đời, một số phận nhưng chung hết là ba mẹ chết vì nhiễm AIDS, có đứa mẹ vẫn còn sống nhưng không mảy may quan tâm đến con mình. Cũng vì thiếu tình thương từ thuở nhỏ nên chị đã yêu thương chúng, quan tâm chúng rất nhiều để những đứa trẻ ấy không có cảm giác bị bỏ rơi như chị ngày xưa. Chị kể có những lúc khó khăn tưởng như có thể buông xuôi hết tất cả nhưng rồi nghĩ đến chặng đời không lối thóat như ngày xưa đến sự giúp đỡ chân thành của những người bạn luôn muốn mình sống tốt, rồi sau này là những đứa con chị đang cưu mang mà cứ tiếp tục cố gắng. Và phần thưởng lớn nhất của chị không gì ngoài tình thương của các con dành cho chị.

Cám ơn Đời và sống
Trong những người thường xuyên giúp đỡ chị, người đầu tiên chị nhắc đến là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Chị nói : Bác sĩ Ngọc là người đầu tiên cho chị biết trên đời này vẫn còn người tốt, vẫn còn có người nói chuyện với chị như những người bạn với nhau, không hề xem chị là “dưới đáy xã hội”. Cũng chính bác sĩ Ngọc đã không ít lần giúp chị, mà đúng hơn là giúp đỡ các con chị, khi thì một giấy giới thiệu, khi thì vài trăm ngàn…

Với chị bây giờ có lẽ không gì hơn ngoài các con chị. Điều chị lo lắng bây giờ không gì ngoài các con chị. Nhất là khi sức khỏe chị không được tốt như trước nữa. Chị chia sẽ rằng chị đã chuẩn bị một ít tiền dành cho các con, mỗi đứa một tài khoản, tuy không nhiều nhưng đó là tất cả tài sản của chị. Chị không dành cho mình điều gì ngoài niềm vui sống và tình thương của các con.

Tôi hỏi chị: nhìn lại chị thấy lúc nào là lúc đau khổ nhất trong cuộc đời chị? Chị nói rằng chị không biết vì cũng có những lúc chị rất sướng, nhưng cũng có lúc không có bộ đồ mà mặc, phải đi thuê. Dường như quá khứ ấy, như ánh nắng buổi trưa nay bay vèo đâu mất chỉ còn lại những áng mây trong buổi chiều. Cuộc sống chị bây giờ, có lẽ đã có những áng mây rất xanh như nụ cười hồn nhiên của các con chị và vời vợi bầu trời tương lai mà chị cố gắng đem lại cho các con.

Đoàn Kim Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Đọc sách

Thở đúng cách để chữa bệnh

16/03/2012 By support2 60 Bình luận

Xuân Thái
(Cảm nghĩ về buổi nói chuyện THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH của BS Đỗ Hồng Ngọc)
Từ hàng ngàn năm nay, con người đã biết tự chữa bệnh cho mình qua Yoga, Khí công và Thiền học. Tuy nhiên, qua các cánh rừng lý luận bao la đầy vẻ âm u kỳ bí của các pháp môn này đã làm cho nhiều người ngán ngại, sợ hãi.
Dù vậy, tất cả các pháp môn ấy giống nhau ở một điểm chung nhất, đó là đều thấy hơi thở là trọng yếu hàng đầu, hơi thở quyết định sức khỏe và sự sống.
Có thể nhịn ăn nhiều tuần lễ cũng không sao, nhịn uống nhiều giờ vẫn chưa có gì trầm trọng nguy hiểm, nhưng chỉ ngưng thở 10 phút thì sự cố liền xảy ra và có thể gây mất mạng như chơi.
Yoga cho rằng: 99 % con người hiện nay đều KHÔNG BIẾT THỞ.
Đã sống ai mà không thở, cũng chẳng cần phải học hỏi hoặc tập tành gì nhưng ai cũng thở được.xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Ở nơi xa thầy thuốc, Thầy thuốc và bệnh nhân Tag với:Bac si Do Hong Ngoc, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập thở để chữa bệnh và sống cho hiện tại

16/03/2012 By support2 14 Bình luận

Tạ Ân Phúc
(Tường thuật buổi nói chuyện THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc)
Trong cuộc sống hàng ngày, người ta thường hỏi thăm nhau về sức khỏe, gia đình, công ăn việc làm… Có thể thấy sức khỏe là vốn quý của con người, nó liên quan đến thể chất, tinh thần và xã hội, nhưng thông thường người ta hay lưu tâm về thể chất hơn và nó thể hiện qua tình trạng có bệnh hoặc thương tật hay không. Khi sức khỏe thể chất suy giảm, chúng ta thường nghĩ đến việc ăn uống bồi bổ và chữa trị thông qua thuốc men, ít ai chăm lo hay quan tâm đến hơi thở của người bệnh. Thực ra, thở rất quan trọng đối với sức khỏe, có khi nó còn quan trọng hơn cả ăn uống. Thở liên quan đến việc cung cấp oxy nuôi dưỡng các cơ quan trong cơ thể. Không chỉ đối với người bệnh mà đối với người ở trạng thái sức khỏe bình thường, đôi khi chúng ta vẫn thiếu oxy trong cơ thể do phải sống trong môi trường khói bụi, ô nhiễm. Thật cần thiết để tập luyện hơi thở, từ đó cơ thể có đủ lượng oxy để nuôi dưỡng những tế bào đang hoạt động và làm khôi phục các tế bào bị tổn thương. Nhận biết và kiểm soát hơi thở đúng phương pháp sẽ giúp con người khỏe mạnh và là một trong những phương pháp chữa trị bệnh tật.xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Ở nơi xa thầy thuốc Tag với:Bac si Do Hong Ngoc, Đỗ Hồng Ngọc - Bác sĩ

Giảm tải bệnh viện? Không khó !

27/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Nghĩ trong Ngày Thầy Thuốc
Giảm tải bệnh viện? Không khó !
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Quá tải bệnh viện đang là một vấn nạn lớn của ngành y tế nhiều năm qua chưa giải quyết được. Thực ra, giảm tải bệnh viện không khó ! Câu hỏi cần đặt ra là : Tại sao quá tải ? Quá tải ở đâu ? Làm cách nào để giảm tải ?…
Câu trả lời đơn giản: Quá tải là bởi vì bệnh nhân quá đông, bệnh viện không đủ giường nằm, nhân viên thiếu… ; y tế cơ sở không đủ điều kiện, không tạo được niềm tin v.v…
Vậy nếu có cách nào đó làm cho dân bớt bệnh, giường dôi ra, tăng niềm tin vào y tế cơ sở, ta sẽ giải quyết được vấn đề.

Tại sao bệnh nhân đông ?

Vì dân số gia tăng. Vì giao thông thuận tiện. Vì môi trường sống ngày càng xấu đi. Vì đời sống căng thẳng, đầy lo lắng, bất an. Vì kỹ thuật y học… tiến bộ. Bệnh diễn biến thường bất ngờ, thà đi xa mà gặp thầy hay thuốc giỏi vẫn hơn đến trễ bị la sao đến trễ vậy! Kỹ thuật y học tiến bộ không ngừng. Siêu âm, CT Scan, MRI, Nội soi, Xạ hình… đầy bí hiểm. Thử máu cho kết quả mấy chục thứ một lúc, kèm những chỉ số bình thường để mặc sức so sánh, suy đoán, băn khoăn. Lên mạng tìm thông tin càng hoang mang, sợ hãi. Tốt nhất đến bệnh viện.
Bệnh nhiều cũng vì người ta sống lâu hơn xưa. Từ năm 1000 đến 1900, suốt gần một ngàn năm, tuổi thọ bình quân của con người chỉ tăng từ 24 lên 30. Trong khi từ 1900 đến 2000, một trăm năm thôi, tuổi thọ từ 30 lên 65. Ngày nay, tỷ lệ sống trên 80 tuổi ngày càng đông. Tuổi thọ tăng cao, sinh nhiều bệnh mạn tính, trầm trọng, kéo dài, khó chữa, đòi hỏi có sự chăm sóc đặc biệt.
Mặt khác, dân « bệnh » nhiều cũng do bị… hù dọa. Thông tin « y tế » tràn ngập, không kiểm soát nổi, quảng cáo đủ mánh khóe, gây tâm lý sợ hãi hoang mang. Mở TV coi sẽ thấy đầy quảng cáo thuốc, quảng cáo cơ sở khám chữa bệnh này nọ với những danh từ đao to búa lớn, hình ảnh rùng rợn, người dân muốn không bệnh cũng không được!
Có người kể chuyện cả làng đang sống yên ổn thì một hôm có đoàn « từ thiện » ở trên xuống, vác theo máy móc thuốc men, khám bệnh siêu âm các thứ phát hiện lu bù bệnh tật, cho vài ngày thuốc rồi rút êm. Từ đó cả làng nháo nhào, đi đâu cũng nghe bàn toàn chuyện bệnh hoạn, ăn không ngon ngủ không yên. Dĩ nhiên khám bệnh « từ thiện » là việc làm rất đáng khuyến khích nhưng vấn đề là nên quan tâm thế nào để giúp cho tới nơi tới chốn.
Nhiều khi chỉ cần thay đổi vài… chỉ số tham khảo thì bệnh tăng ào ạt. Thí dụ xưa bảo huyết áp trên 14/9 mới có vấn đề, nay bảo chỉ cần 13/8 là có vấn đề rồi. Xê dịch chút xíu vậy thôi đủ nhiều trăm triệu người rơi vào… bệnh lý ! Dĩ nhiên những kết luận đó đều có cơ sở khoa học cả. Thế nhưng những lời khuyên về phương pháp phòng bệnh và điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc chẳng ai thèm nghe. Nào ăn ít muối, ít đường, nào uống ít rượu, không hút thuốc lá, nào tập thể dục…. vất vả quá. Một thứ thuốc mới được tung hô ít lâu liền bị cấm… lưu hành vì gây tai biến! Có lần thậm chí người ta còn nghi ngờ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cố tình hù dọa đại dịch cúm để… giúp một công ty sản xuất thuốc chủng ngừa!

Giảm tải cách nào ?

Ai cũng biết bệnh trẻ em phần lớn tự khỏi nhờ sức đề kháng tự nhiên của cơ thể. Nhờ có nhiều bệnh « lặt vặt » thường xuyên như vậy mà sức đề kháng được phát triển, tạo « miễn dịch » suốt đời. Vấn đề là làm sao biết lúc nào bệnh nặng, lúc nào nhẹ để xứ trí cho đúng. Cái đó là nghề của bác sĩ. Bác sĩ « mát tay » hay không, giỏi hay dở là ở chỗ biết « phân biệt » này. Chính vì nhiều bệnh ở trẻ em tự khỏi nên không ngạc nhiên thấy nhiều khi chỉ cần nước lã, lang băm… cũng chữa được bệnh.
Trước tình hình quá tải ở các bệnh viện Nhi thành phố, trên báo Tuổi Trẻ trước đây tôi có đề xuất giải pháp nên có bệnh viện Nhi đồng 3. Chữ « Bệnh viện Nhi Đồng 3 » nằm trong ngoặc kép. Đó chính là nên phục hồi lại hệ thống Chăm sóc trẻ em lành mạnh sẵn có trước đó ở khắp các quận huyện đã bị « phế bỏ ». Có lẽ nhiều người cho rằng chăm sóc trẻ đang « lành mạnh » là một điều… vô lý, tốn kém ! Thực ra hệ thống chăm sóc trẻ em lành mạnh là biện pháp phòng bệnh tích cực nhất dành cho trẻ dưới 6 tuổi, do các chuyên viên nhi khoa, các chuyên viên tâm lý, nhân viên công tác xã hội… ở cơ sở, gần gũi với nơi người dân sống. Ở đó trẻ được theo dõi sức khỏe định kỳ hằng tháng, cân đo, chủng ngừa, hướng dẫn dinh dưỡng, giải đáp thắc mắc cho các bà mẹ từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ ; khi đau ốm thì có bác sĩ nhi tại chỗ khám chữa trị sớm, khi cần thì chuyển đi đúng nơi đúng lúc. Các bác sĩ nhi này được đào tạo và huấn luyện ở các bệnh viện Nhi đồng, được « quản lý » chất lượng để có đủ kiến thức và kinh nghiệm. Các bà mẹ nhờ đó sẽ rất yên tâm, tin cậy, gắn bó. Việc gì cứ mỗi mỗi phải chen chúc vào bệnh viện tuyến trên cho khổ, cho mất thì giờ, bực bội, tốn kém ? Để duy trì một hệ thống như thế phải đầu tư đúng mức. Một đồng bỏ ra cho phòng bệnh sẽ giảm tám đồng cho điều trị. Nó vừa giúp giảm tải cho tuyến trên và quan trọng hơn, mang lại hạnh phúc cho người dân.
Ta thấy thực tế quá tải không chỉ do bệnh nhiều mà còn do mất lòng tin ở y tế cơ sở. Không phải chỉ có bệnh viện tuyến trung ương, thành phố, chuyên khoa sâu… mới quá tải mà chùa Pháp Hoa ở Đồng Nai trước kia, ngôi vườn kỳ lạ ở Long An, thần y Nam Hải ngoài Bắc, thầy Bình Phước, Nước cá thần một dạo… đều bị quá tải! Đấy là vì lòng tin, niềm tin. Lòng tin tự nó chữa được 50% bệnh, ít nhất về mặt tâm lý. Còn với những bệnh tự khỏi thì nó chữa được… 100% ! Ngày nay rất nhiều bệnh do hành vi lối sống gây ra. Nghiên cứu cho thấy 60-90% bệnh nhân đến bác sĩ là có vấn đề stress đằng sau các bệnh chứng. Chữa bằng thuốc men đơn thuần không hết.
Gần đây người ta nói nhiều đến thương hiệu bệnh viện. Bệnh viện nào có « thương hiệu » thì người ta tìm đến đông. Ngành y không làm kinh doanh nên có lẽ nên gọi là « nhà thương… hiệu » thì đúng hơn. Để giải tỏa áp lực quá tải ở các bệnh viện có « nhà thương hiệu » này, sao không nhanh chóng cho mở các « đại lý », các « chi nhánh » ? Nghĩa là các cơ sở II, III… của bệnh viện đó, cùng tên, cùng chất lượng, đảm bảo quy trình quản lý, có sự liên thông giữa « mẹ-con ». Cơ sở « mẹ » chịu hoàn toàn trách nhiệm huấn luyện nhân viên, kiểm tra giám sát, hỗ trợ kỹ thuật. Với công nghệ thông tin hiện đại, việc nối kết hệ thống không khó trong chẩn đoán, điều trị, phục hồi. Các giáo sư, bác sĩ giỏi thay vì luân chuyển đi cơ sở, nay đây mai đó, không bằng ngồi tại cơ sở « mẹ » mà chỉ đạo, hướng dẫn các « đại lý » để chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm thì hiệu năng, hiệu quả sẽ cao hơn.
Các bệnh viện Ung Bướu còn có một đặc thù riêng. Bác sĩ Lê Hoàng Minh, giám đốc bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM có lần cho tôi biết hiện có đến 20% bệnh nhân đang nằm viện là ở vào giai đoạn cuối. Ta biết, ở giai đoạn này vấn đề điều trị không quan trọng bằng Chăm sóc giảm nhẹ (Palliative Care), nhằm nâng cao chất lượng cuốc sống, giải quyết các vấn đề xã hội, tâm linh. Đây là một « chuyên khoa » mới của ngành y ngày càng phát triển ở các nước tiên tiến. Việc chăm sóc không chỉ đơn thuần y khoa mà bao gồm cả tâm lý xã hội… Nếu bệnh viện có một địa điểm thuận lợi, một « chi nhánh » dành riêng cho bệnh nhân giai đoạn cuối này sẽ giảm tải đáng kể. Bệnh nhân sẽ được hướng dẫn về thiền, yoga, dinh dưỡng, được chăm sóc về tâm linh, tình cảm, được hỗ trợ về xã hội bởi các chuyên gia, bác sĩ, nhà tâm lý, nhân viên công tác xã hội, các sơ, ni cô…
Tóm lại, nếu Nhi Đồng có hệ thống Chăm sóc trẻ em lành mạnh, nếu Ung Bướu có hệ thống Chăm sóc giảm nhẹ, Chấn thương chỉnh hình, Phụ sản… có những hệ thống « chi nhánh », « đại lý » phù hợp, đảm bảo chất lượng thì giảm tải bênh viện sẽ không còn khó lắm./.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

Hà Nội Mới: “Đối thoại chủ nhật”

26/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Báo HÀ NỘI MỚI (CN 26.2.2012)
Đối Thoại Chủ Nhật với BS Đỗ Hồng Ngọc
http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Doi-thoai/539874/%C4%91au-dau-chua-do-se-khong-bao-gio-dut-benh!.htm
“Đau đâu chữa đó” sẽ không bao giờ chữa dứt bệnh!
Ở ông, tài năng y học và văn chương, con người khoa học và con người nghệ sĩ được lồng ghép và bổ trợ lẫn nhau một cách nhuần nhuyễn, dí dỏm mà uyên bác, gần gụi đến bình dị, thú vị đến mức học giả Nguyễn Hiến Lê từng nhận xét: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị!”.
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc -con người kỳ lạ đó- giờ đã ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy”. Chắt lọc được từ chính những trải nghiệm cuộc sống, ông bảo, bác sĩ chỉ biết “đau đâu chữa đó” thì không bao giờ chữa dứt được bệnh, vì cái “khổ” vẫn ẩn tàng bên trong!

Ngô Sơn

PV: Thú thực, bác sĩ nổi tiếng trong y học với nhiều cuốn sách viết cho bà mẹ trẻ em nhưng tôi suýt nữa gọi bác sĩ là… cô?

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (BS ĐHN): Nhiều người cũng lầm như thế. Lúc tôi còn cộng tác ở báo Mực Tím, nhiều em viết thư: ”Thưa cô, em có điều này rất bí mật không dám nói với ai…”. Bây giờ nhiều ông sồn sồn vẫn tưởng tôi là một nữ bác sĩ… trẻ đẹp, đến lúc gặp mặt mới bật ngữa!
Nếu tự phác họa về mình, tôi thấy đó là một ông già mà tóc chưa bạc nhiều và thích viết lách lăng nhăng làm người ta cười… Là một bác sĩ nhà quê đến nỗi người ta không biết là bác sĩ vì toàn hướng dẫn người dân tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe của mình để ít phải lệ thuộc vào thầy vào thuốc…

PV: Tôi rất tâm đắc khi bác sĩ nói: “ Kẻ làm thầy thuốc có thể chữa được cái “đau” mà không chữa được cái “khổ”. Có thể chữa được cái “bệnh” mà không chữa được cái “hoạn”.

BS ĐHN: Tiếng Việt mình rất hay bạn ạ! Đau khổ. Bệnh hoạn. Cái đau sinh cái khổ, cái khổ đẻ cái đau… Bác sĩ được học để chữa cái đau. Mấy ai quan tâm đến cái khổ của người bệnh đằng sau cái đau đó? Nghiên cứu gần đây cho thấy 60-80% bệnh nhân đến bác sĩ là có nguyên nhân từ “stress” trong đời sống. Bác sĩ chỉ biết “đau đâu chữa đó” thì không bao giờ chữa dứt được bệnh, hết bệnh này sinh bệnh khác, vì cái “khổ” vẫn ẩn tàng bên trong! Mà cái khổ, không dễ chữa chút nào!

PV: Phải chăng bởi điều này nên bác sĩ bỏ ra 20 năm theo đuổi Bộ môn Khoa học hành vi & Giáo dục sức khỏe (trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch) – bộ môn hầu như không có ở các Đại học Y khoa?

BS ĐHN: Khi mắc bệnh người ta cứ đổ cho vi trùng, vi-rút, nhưng nhiều bệnh tật lại do hành vi lối sống gây ra. Bây giờ người ta bệnh nhiều hơn xưa vì sao? Bởi hành vi lối sống của con người đã thay đổi. Đặc biệt do môi trường thiên nhiên, không khí, nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng. Đời sống căng thẳng gây bệnh tâm thần; ăn uống bất cẩn gây bệnh béo phì, tim mạch; môi trường bê bối gây bệnh ung thư; và các thứ tai nạn, thương tích. Sức khỏe phải là sự “sảng khoái” ở cả ba mặt: thể chất, tâm thần và xã hội.
Khi ở bệnh viện Nhi Đồng, tôi làm ở khoa cấp cứu 16 năm, hàng ngày thấy trẻ con chết nhiều quá nên nghĩ cần phải đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, nâng cao dân trí để người dân tự biết bảo vệ, chăm sóc sức khỏe mình, gia đình mình. Rời bệnh viện Nhi đồng, tôi về phụ trách Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe suốt hơn 20 năm và đã hình thành Bộ môn Khoa học hành vi- Giáo dục sức khỏe này tại trường Y khoa Phạm Ngọc Thạch.

PV: Bộ môn “không cần thuốc” này có chữa được bệnh?

BS ĐHN: Không hiệu quả trước mắt như mổ xẻ, thuốc men, nhưng hiệu quả bền chặt sâu. “Truyền thông trị liệu”,”Truyền thông thay đổi hành vi” không dễ tí nào! Nó là một khoa học, bao gồm cả tâm lý- xã hội- nhân chủng (văn hóa) ứng dụng vào ngành y, giúp cải thiện mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân và nâng cao y đức. Người bệnh không chỉ “đau” mà còn “khổ”. Làm sao người bác sĩ thấy được nỗi khổ sau nỗi đau, để thấu cảm với người bệnh. Một lời nói, một cử chỉ của thầy thuốc có thể làm cho bệnh nặng hơn hay nhẹ đi, vơi đi bạn ạ. Những kỹ năng ứng dụng này phải bằng tâm của người thầy thuốc.

PV: Bác sĩ nhìn thấy gì ở 2 chữ “y đức” hiện nay?

BS ĐHN: Nói y đức suông mà không có tay nghề thì… hại người ta nhiều hơn, làm người ta “đau” nhiều hơn. Còn giỏi kỹ thuật chuyên môn mà thiếu y đức thì làm cho người ta “khổ” nhiều hơn.
Thực tế, bên cạnh những chuyện không hay, đáng tiếc về y đức, đa số các bác sĩ, nhân viên ngành y nói chung âm thầm chịu đựng gian khổ, khó khăn trong đời sống để phục vụ bệnh nhân, phục vụ cộng đồng theo lý tưởng nhân bản mà nghề nghiệp đã truyền trao từ khi khoác lên mình chiếc áo blouse trắng.
Nhưng cũng phải thẳng thắn, tại sao thầy thuốc thường bị đem ra “mổ xẻ”, “răn đe”…? Tại sao mối “quan hệ” đầm ấm ngày nào nay trở thành “cơm không lành canh không ngọt”?
Thời tôi học Y khoa ở Saigon phải học 7 năm, trình luận án với lời thề Hippocrate, được cấp bằng Tiến sĩ y khoa quốc gia. Ngay năm thứ nhất đã học môn Tâm lý- Xã hội ứng dụng. Mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân rất được chú trọng có lẽ vì thời đó chưa có nhiều máy móc kỹ thuật cao như bây giờ nên “lâm sàng” được học rất kỹ. Đến năm thứ 5, chúng tôi phải học Nghĩa vụ luận Y khoa để khi ra trường biết cách hành xử với bệnh nhân, với cộng đồng và với đồng nghiệp sao cho tốt, cho đúng. Ra trường thì vào Y sĩ đoàn- một nghiệp đoàn nghề nghiệp- để được giám sát và bảo vệ trong quá trình hành nghề. Đại khái có nhiều điều xưa cũ, nhưng cần thiết ngay cả trong thời đại hiện nay.

PV: Bác sĩ đi theo nghề y, lại bắt duyên nghiệp văn chương thì quả là…

BS ĐHN: Tôi mê làm báo từ hồi học Đệ thất, Đệ lục (lớp 6, lớp 7 bây giờ). Lúc đầu làm báo tường, sau làm báo tập, in ronéo, mỗi năm ra… hai số. Nửa thế kỷ trước, năm 1962, đậu xong Tú Tài II, tôi phân vân trước ngã ba đường: vừa muốn học Y, lại muốn học Sư phạm, học Văn khoa. Sau cùng tôi chọn y, rồi học thêm Văn, rồi viết lách, giảng dạy… lai rai mấy chục năm nay. Tôi nghĩ, y là cái nghề như kỹ sư, thầy giáo… còn “văn” thì phải có cái “máu”, cái “gien” mới được.

PV: Khi viết báo, làm thơ liệu bác sĩ có bị cản trở bởi “cây kim tiêm, con dao mổ”?

BS ĐHN: Trái lại, nó còn “hỗ trợ” quấn quít lấy nhau, bổ sung cho nhau. Giống như đất sét thì phải có nước mới nặn nên hình được. Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật mà! Ai bảo người nghệ sĩ không yêu nghề, không nghiêm túc còn vị thầy thuốc sao lại không thể có tâm hồn bay bỗng… nhỉ? Dĩ nhiên khi viết về y học thì phải hết sức thận trọng, chính xác và phải luôn quan tâm tới góc cạnh tâm lý xã hội của vấn đề chứ không đơn thuần chỉ ở góc độ bệnh lý. Khi làm thơ, viết tùy bút chẳng hạn thì có thể tự cho phép mình bay bỗng hơn… Cronin, Lỗ Tấn, Sommerset Maugham… đều là thầy thuốc cả đó chứ!

PV: Viết sách y học, bác sĩ tả việc khám, chữa bệnh với ngôn từ rất “sống” rất hình ảnh như “ nếu phân cứng, lục cục lòn hòn như cứt dê và mỗi lần đi bé phải rặn ì ạch đỏ mặt tía tai” hay “Khám chữa bệnh cho trẻ con có cái thú là chúng không… biết nói, thỉnh thoảng còn giật kiếng cận và ống nghe của mình, lúc cao hứng còn… “tè” vào mặt mình..” hoặc “ Một bà mẹ có con bị bón bao giờ cũng khổ sở bứt rứt, thấy con ì ạch mãi không ra cũng bặm môi bặm miệng rặn giùm con..” Tại sao bác sĩ không dùng thuật ngữ y khoa để “ an toàn” hơn? Phải chăng đó là sự kết hợp giữa nghệ thuật và y học?

BS ĐHN : “An toàn” hơn là sao? Tôi phải chọn thứ ngôn ngữ nào mà người đọc dễ hiểu nhất thế thôi. Tôi viết với sự chân thành và thấu cảm, nên bạn đọc của tôi khi đọc thấy có mình trong đó. Mỗi khi viết, tôi thấy mình không phải… viết mà đang trực tiếp được trò chuyện, trao đổi với người đọc của mình.
PV : Rất nhiều người bất ngờ khi trang web www.dohongngoc.com/web/ có lượng độc giả lớn (đã có 186.198 lượt người truy cập với 400.709 trang được đọc) lại của một “ông lão” đã ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy” với những ngôn từ dí dỏm mà uyên thâm. Bác sĩ nghĩ gì về thế giới phẳng?

BS ĐHN: Không lẽ thế giới phẳng chỉ dành riêng cho giới trẻ thôi sao? Nhưng dựa vào đâu để phân định già hay trẻ? Nói như André Maurois, có người mới 20 đã quá già trong khi người 80 hãy còn rất trẻ!
Thực ra tôi mù tịt công nghệ thông tin. Tôi cũng không ưa cuộc sống ảo. Nhưng rồi do nhu cầu nghiên cứu, học hỏi, tôi cũng phải mò mẫm lên mạng lai rai. Bỗng thấy ngày càng nhiều những bài viết, những sách… của mình xuất hiện. Có nhiều chỗ sai sót, nhiều chỗ khuyết danh, tam sao thất bổn! Từ đó, mơ ước có cách nào gom góp lại, phân lọai ra, bổ sung thêm… để chính thức thành một tập tư liệu “động”, có thể chia sẻ với mọi người, làm chỗ giao lưu với bạn bè, tương tác với bạn đọc gần xa. Vả lại, thêm tuổi tác, có khi cũng cần thêm chút bận rộn nào chăng?…Năm 2009, có một bạn trẻ không quen biết “meo” tôi nói em đọc tôi từ hồi còn nhỏ trên Mực Tím, sẵn sàng giúp tôi làm một trang web. Và rồi chỉ vài hôm sau, đã thấy xuất hiện www.dohongngoc.com/web/ coi cũng ngồ ngộ.

PV: 3 năm với “.com” rồi! Thế giới phẳng trong mắt của bác sĩ thế nào?

BS ĐHN: Ban ngày thấy bạn bè trong nước, ban đêm thì bè bạn khắp năm châu! Thế giới phẳng giúp mọi người gần gũi nhau một cách kỳ lạ và giúp ta có cơ hội học hỏi không ngừng, nó làm cho mình thấy có… trách nhiệm hơn với những bày tỏ, viết lách của mình. Trái đất vẫn tròn, nhưng ngày càng nhỏ lại.

Các bạn trẻ SGC (Nhà cung cấp tên miền Việt Nam và quốc tế) bảo trang web đã được cái gì đó xếp vào hạng khá, 4/7 thì phải. Tôi hoàn toàn không hiểu ý nghĩa chuyện xếp hạng này. Không cần thiết và cũng không nên xếp hạng. Có một người bạn sẻ chia, ấy đã là hạnh phúc. Đo đếm mà chi!

Có người đề nghị nên thay đổi diện mạo cho nó hấp dẫn hơn. Thay đổi chi? Nhìn vào biết ngay là “nhà” của một ông già lười. Lúc cao hứng ba bốn bài một lúc, lâu chẳng có bài nào. Có bài đăng rồi quên đăng lại! Có người khuyên nên tổ chức trang cho có bài bản, xếp đặt cho nó đàng hoàng, dễ tìm kiếm v.v… Ối trời, bừa bãi là một sự sảng khoái khó có được trong thời buổi này, ở lứa tuổi này!

PV: Xin cảm ơn bác sĩ

Ngô Sơn

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Hỏi đáp

Mùa thi!

25/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 14 Bình luận

Ghi chú: Mới đó đã lại đến Mùa thi nữa rồi!
Thanh Nien Online gởi tôi mấy câu hỏi gọi là “Tư vấn mùa thi”, xin chia sẻ nơi đây cùng các bạn.
Thanh Niên Online
Ăn uống, ngủ nghỉ như thế nào để đảm bảo sức khỏe cho thí sinh
trong kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2012.

1. Đây là thời kỳ các sĩ tử tăng tốc cho việc ôn thi ĐH-CĐ. Vấn đề sức khỏe được đặt ra. Theo bác sĩ, cần một chế độ dinh dưỡng như thế nào để đảm bảo sức khỏe ôn thi?

“Sức khỏe” đâu chỉ là chuyện có “một chế độ dinh dưỡng” như thế nào! Sức khỏe đâu chỉ nên quan tâm lúc học ôn thi ĐH-CĐ? Sức khỏe là một sự “sảng khoái” toàn diện về thể chất (physical), tâm thần (mental) và xã hội (social)!…Chế độ dinh dưỡng chỉ là một khía cạnh nhỏ của sự sảng khoái đó thôi. Trẻ không chỉ cần phải ăn đủ và ăn đúng, mà còn phải không thiếu không thừa. Ăn đầy đủ năng lượng (calori) và cân đối, tức đầy đủ các chất đạm, đường, dầu, rau trái. Trẻ còn cần không khí trong lành để hít thở. Và quan trọng hơn, cần một “không khí gia đình” êm ấm, không bị căng thẳng bởi sức ép của cha mẹ, ông bà, thầy cô giáo, buộc phải thế này thế khác. Nào phải thi cho đậu, nào phải đạt điểm cho cao, nào phải vào cho được trường này trường nọ! Để có sức khỏe ôn thi còn cần phải ngủ đầy đủ. Ngủ nhiều nữa là khác để đầu óc được thảnh thơi, tỉnh táo, tiếp nhận bài học dễ dàng. Chớ cứ ráng thức khuya mà học, cột tóc vào ghế mà học cho khỏi ngủ gục thì đầu óc càng mụ mẩm, dễ bị tâm thần về sau dù có đậu hai ba bằng tiến sĩ!

2. Theo Bác sĩ giữa việc ăn, ngủ, nghỉ có tác động như thế nào đến chuyện ôn thi của thí sinh. Đặc biệt là áp lực chọn trường, ngành dự thi?

Hai chuyện này đâu có ăn nhập gì với nhau! “Áp lực” chọn trường, ngành dự thi là một chuyện hết sức vô lý. Tại sao lại áp lực, lại ép buộc trẻ phải học ngành này ngành kia khi trẻ thích ngành khác? Có em học bác sĩ để cha mẹ vui lòng, sau đó bỏ nghề ra làm kinh doanh, giàu quá cỡ… cha mẹ vui lòng hơn! Có em học để làm luật sư, sau thành ca sỹ, tiếng tăm vang dội hơn nhiều. Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép… “ngành”? Nghề này nghề kia nhiều khi do cái nghiệp mà ra. Cha mẹ sinh con trời sinh tính! Tôi cho rằng cha mẹ ngày nay không ai dại gì gây áp lực bất lợi cho trẻ. Nhiều trẻ đã bị tâm thần, đau khổ triền miên, ân hận cả đời, oán trách cha mẹ… vì đã “chọn nghiệp” sai, vì cha mẹ cưỡng ép v.v…
Ăn, ngủ, nghỉ… trong thời gian ôn thi là rất quan trọng. Bất cứ thi ngành nào, trường nào. Cơ thể ta như con ngựa kéo xe, có cho nó ăn đầy đủ, ngủ nghỉ đầy đủ… thì nó mới có sức mà kéo, nếu không nó bỏ ta ngang xương giữa đường thôi! Nhưng, tại sao phải đợi dến thời gian học thi mới lo chuyện ăn, ngủ, nghỉ… nhỉ? Nước đến chân mới nhảy thường khi không kịp!

3. Chế độ ăn uống hàng ngày cho các thí sinh như thế nào là hợp lý?

Không cần gì đặc biệt cả. Ngày thường thế nào thì những ngày ôn thi cũng thế thôi. Đừng có bày đặt nọ kia. Cả năm không ngó ngàng, tới ngày thi bày đặt vổ về như gà đá, gà chọi! Cứ đói thì ăn, khát thì uống. Thèm thứ gì ăn thứ đó, vì nhu cầu cơ thể đang cần, miễn là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm! Học thi, cần nhất là “ăn” không khí trong lành. Sáng sớm, thể dục, tắm rửa, thở bụng- đưa hơi xuống huyệt “đan điền”- rồi ngồi vào học (nằm học, đi học, đứng học… cách nào cũng được, miễn là thấy thoải mái). Sau không khí là đường, nước và Vitamin C. Chỉ cần một vài ly chanh đường là đủ cho thí sinh ôn thi rồi vì trong chanh, cam, chuối, cóc…có nhiều viatmin C lắm. Tự pha lấy mà uống. Lại không tốn tiền. Đừng có bày đặt nhõng nhẽo, đòi mẹ phải khuấy cho, “người yêu” phải khuấy cho mới chịu uống! Mấy em bày đặt, kiểu cọ, thì thường thi rớt vì mất thì giờ, vì sinh sự. Thèm chè, cứ ăn chè; thèm trứng, cứ ăn trứng…Thịt, cá, trứng, sữa, đậu… đều có nhiều protein (chất đạm). Quen ăn món gì thì cứ ăn món đó. Lâu nay không uống sữa, học thi bày đặt uống sữa… thông minh, thế nào cũng sình bụng, đau bụng, ỉa chảy. “Thông minh” đâu không thấy chỉ thấy “ngu dốt” thêm! Các loại thuốc giúp trí nhớ nọ kia chủ yếu làm cho ỷ lại, mau quên!

4. Có nhiều trường hợp các thí sinh bị cha mẹ “ép” ăn uống quá mức cần thiết. Ngược lại, có nhiều thí sinh không được cha mẹ để ý đến chuyện ăn uống trong giai đoạn này. Vậy, lời khuyên của bác sĩ đối với cha mẹ thí sinh?

Hãy để trẻ tự nhiên. Tự nhiên thì bao giờ cũng sảng khoái hơn là bị ép buộc. Không gì khó chịu cho bằng đang học ngon trớn mà bị kêu đi ăn, đi uống. Mất thì giờ, mất “tập trung”, rất khó lặp lại “không khí học tập” lúc đó. Cha mẹ quan tâm chỉ cần tăng cường vài món trẻ vẫn ưa thích hàng ngày như trứng vịt, chè đậu… Thích ăn trứng, cứ ăn, miễn là trứng không bị H5N1. Không phải vì ăn trứng gà trứng vịt mà bị không điểm đâu! Trứng rất bổ. Cũng không phải nhờ ăn chè đậu mà đậu đâu. Đậu cũng rất bổ. Tóm lại, không nên dị đoan mê tín.

5. Bác sĩ đã gặp trường hợp nào bị sa sút tinh thần, thể chất trong thời kỳ ôn thi mà có liên quan đến chế độ ăn hàng ngày chưa ạ? Nếu có, BS có thể dẫn chứng cụ thể?

Có. Thí dụ nhịn ăn nhịn uống dễ bị hạ đường huyết (hypoglycémie), tới ngày thi té xỉu trong phòng hoặc bị co giật đùng đùng phải đưa vào bệnh viện cấp cứu, rồi cho là “xui xẻo”. Có khi gần ngày thi ăn uống linh tinh bị “Táo Tháo” đuổi, ói mửa, ôm bụng chạy ra chạy vào, không còn đầu óc đâu để thi rồi cho là tại “số trời”!
Ăn, ngủ là hai chuyện rất quan trọng trong thời gian học thi. Ăn đủ, ngủ đủ là tốt nhất. Ăn đủ thì có calori để học, ngủ đủ thì não bô được “sạc pin” tốt, không “chai”, không bị hết pin đột ngột.

6. Lời khuyên của Bác sĩ đến các sĩ tử trước áp lực thi cử sắp tới?

Thi cử? Chuyện dễ òm. Không có gì phải “ầm ỉ” cả! Đậu cũng tốt, không đậu cũng tốt. Điều quan trọng là đã thực sự cố gắng hết mình! Thua keo này bày keo khác. Không học trường này thì học trường kia. Đời còn dài. Biết ra sao ngày sau? Que sera sera. Học là chuyện suốt đời mà!
Có hai điều đáng sợ: Một là không thích học ngành này mà bị ép phải học, ép phải thi cho đậu. Thiệt là vô duyên! Có em thích làm bác sĩ, kỹ sư… nhưng cũng có em thích làm ca sĩ, họa sĩ… Nhiều em thất bại ở trường thi mà lại rất thành công ở trường đời!
Hai là cha mẹ ngày xưa thi rớt… triền miên, nay lại muốn con hay con giỏi, thi đâu đậu đó cho nở mặt nở mũi với đời! Như vậy là bất công. Cái đó là ích kỷ, là thương mình chớ không phải thương con! Cha mẹ không nên cưỡng ép con. Trong lúc học thi, cha mẹ tử tế sẽ nhắc con: Thi “chơi” thôi nha. Đậu cũng tốt, không đậu cũng tốt, miễn là con đã cố gắng hết mình thôi! Được nghe như vậy, trẻ yên tâm, chắc chắn sẽ đậu!

BS. Đỗ Hồng Ngọc trả lời Phương Nga.
(Mùa thi,2012)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Hỏi đáp, Thầy thuốc và bệnh nhân

Phỏng vấn BS Đỗ Hồng Ngọc

14/02/2012 By support2 2 Bình luận

Ghi chú: Ánh Ngọc, BTV đài PTTH Bình Dương phỏng vấn BS Đỗ Hồng Ngọc một số vấn đề nhân buổi Xuân về Tết đến.

Xin chia sẻ cùng các bạn.

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Hỏi đáp Tag với:BS Do Hong Ngoc

Trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi hiện tại

07/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Ghi chú:
Những ngày đầu năm 2012 này, bác sĩ Lê Ngọc Dũng lại chịu khó đánh máy và gởi thêm một bài viết nữa của BS Nguyễn Hưu Phiếm do anh lưu giữ được, trong cuốn Mấy Lời Khuyên Sinh Viên Y Khoa (Trung tâm học liệu BGD, 1972) như “một món quà Tết”, đến với chúng ta.
Tài liệu này đã được viết từ 40 năm trước nhưng vẫn còn rất có giá trị. Mong các bạn dành chút thì giờ để đọc và rút ra cho mình những bài học từ đó.
Một lần nữa, trân trọng cảm ơn Bs Lê Ngọc Dũng.
Đỗ Hồng Ngọc.

TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI BÁC SĨ TRONG THỜI BUỔI HIỆN TẠI
BS Nguyễn Hữu Phiếm
(1910-1977)

Y học cao thượng ở chỗ trách nhiệm
Duhamel

Trách nhiệm của người bác sĩ , nói cho đúng ra, không phải là một vấn đề mới mẻ, bằng cớ là từ trên bốn ngàn năm nay, tại Babylone, vua Hammourabi đã ban hành một đạo luật mang tên ông để thưởng phạt những y sĩ trong khi hành nghề, thưởng tiền bạc nếu khỏi bệnh và chặt tay chân nếu bệnh nhân mang tật hoặc phải thiệt mạng.
Ảnh hưởng của đạo luật Hammourabi đã lan rộng ra khỏi Babylone và trong Cựu Ước kinh ,các triết gia Do Thái đã nói : “Có vay có trả, răng đền răng, mắt trả mắt”.
Tuy nhiên ta phải công nhận là cho mãi cuối thế kỷ thứ 19, quan niệm về trách nhiệm của người bác sĩ vẫn không hề thay đổi . Điều đó xét cho cùng cũng không có gì lạ, bởi y học trên hai ngàn năm , hoàn toàn gần như chỉ chuyên về miêu tả, người bác sỉ ở thế kỷ trước, tuy biết rõ cơ thể học, nhân thể sinh lý học và cách phân chia bệnh ra từng loại, nhưng đến khi chữa bệnh , thì đành phải bó tay, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân mắc bệnh sốt rét cơn (paludisme) thì mới cho uống Quinine (tìm ra năm 1820)
Đừng nói đâu xa , cách đây mới khoảng 30 năm, những tiến bộ của phép trị liệu vẫn tương đối không đáng kể, người bác sĩ có thể định bệnh được một cách chắc chắn, nhưng đến khi chữa thì không chữa nổi.
Nhưng tình thế ngày nay khác hẳn.

Ngày nay, y học đã tiến một bước rất xa, ngoài sức tưởng tượng của con người và hầu như cướp cả quyền tạo hóa, nào mổ tim, thay tim, mổ óc, cắt phổi, ghép thận, ghép mắt….vv
Nào chỉ có thế thôi !Ngày nay y học đã phát minh ra những thứ thuốc có thể thay đổi hoàn toàn tâm tính của con người ta. Ngày nay ai cũng biết nhờ y học mà phụ nữ có thể hạn chế được sinh đẻ.
Tóm lại, thật đúng như lời nhà bác học Jean Rostand đã nói:”Ngày nay khoa học đã khiến chúng ta trở nên những bậc thánh thần trước khi chúng ta xứng đáng làm người”.
Và cũng chính bởi có những tiến bộ quá mau, tới mức phi thường, huyền ảo của khoa học nên vai trò của người thày thuốc xứng với danh từ đó, ở thời đại này, cần được xét lại, nhất là những trách nhiệm của họ, càng ngày càng nhiều, càng ngày càng phức tạp và nặng nề gấp bội trước, vì thuốc càng hiệu lực bao nhiêu lại càng nguy hiểm bấy nhiêu.
********
Trước khi đề cập tới vấn đề trách nhiệm của người bác sĩ , thiết tưởng cũng nên định nghĩa trách nhiệm là gì ?
Thường thường vấn đề trách nhiệm chỉ được nêu ra khi có một biến cố nào đó xảy ra, gây thiệt hại tới tài sản hoặc tính mạng của một hay nhiều người. Khi ấy pháp luật sẽ can thiệp để phân xử và phán quyết có lỗi lầm hay không, có lỗi sẽ bị trừng phạt. Tuy nhiên đối với người thày thuốc ngoài trách nhiệm trước pháp luật ra, còn có trách nhiệm tinh thần, trách nhiệm trước tòa án lương tâm nữa. Loại trách nhiệm này, hàng ngày người thày thuốc phải lãnh trong khi hành nghề, khác hẳn trách nhiệm trước pháp luật.
Như trên vừa nói, ngày nay y học đã có một quyền lực ghê gớm, ngoài sức tưởng tượng của con người. Ngày nay hầu hết các bệnh nhiễm trùng có thể trị được, nhiều bệnh mà ngày xưa kia người bác sĩ phải bó tay, bây giờ khỏi là thường, như bệnh thương hàn, bệnh lao, bệnh phong….
Nhiều chứng suyễn nặng có thể chữa được. Nhờ tiếp máu mà hàng ngày trên chiến trường các thương binh và những người bị ngộ độc, hoặc mắc nhiều bệnh khác được thoát chết. Tuy nhiên ,ta cũng nên biết rằng thuốc càng nhiều, càng công hiệu , nhất là những loại thuốc hóa học , lại càng độc, càng nguy hiểm.
Ngày nay trong khi hành nghề , người thày thuốc bắt buộc phải có những quyết định hoặc hành động mà hậu quả cực kỳ quan trọng. Bất cứ một trụ sinh nào, dù chích, dù uống, cũng có thể gây phản ứng được, nhiều khi thật bất ngờ.Thuốc kháng đông (anticoagulant) có thể làm xuất huyết được. Ấy là chỉ nói tới một vài thứ thuốc mà bệnh nhân thường dùng hàng ngày mà không cần có toa bác sĩ.
Ngay đến những thuốc rất thông thường như Aspirine , nếu dùng quá liều hoặc dùng lâu, cũng có thể làm xuất huyết. Những thuốc để trị chứng đau nhức mà công chúng thường dùng không cần hỏi ý kiến bác sĩ như phenacetine , đã từng làm nhiều người chết vì làm cho thận đau , thuốc pyramidon có thể làm cho máu biến chất.
Nhiều tai nạn lưu thông xảy ra chỉ vì người lái xe đã lạm dụng thuốc an thần. Nhiều lực sĩ đã bỏ mạng vì dùng quá nhiều loại thuốc kích thích, chúng ta hẳn chưa quên vụ sản phụ sanh ra quái thai vì trong khi thai nghén đã dùng thalidomide.
Nhiều bệnh mới đã xuất hiện chỉ tại dùng thuốc bừa bãi, tỉ dụ cortisone đã làm cho loét bao tử, xương cốt tự nhiên gẫy, hoặc làm cho phát điên. Một vài loại sulfamide đã gây ra bệnh ngoài da chết người.
Không riêng gì thuốc trụ sinh mới gây những phản ứng bất ngờ như trên vừa nói mà bất cứ thuốc nào tuy không thuộc loại thuốc độc, dù uống hay chích (chích mạch hay chích thịt ) cũng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng dược. Có người đã chết vì chích sinh tố B1 (Bevitine)
Ấy chính vì hàng ngày người bác sĩ phải hành nghề trong những hoàn cảnh bất trắc như thế, chính vì lúc nào cũng phập phồng lo sợ mỗi khi cho bệnh nhân dùng thuốc và biết rằng thuốc càng có hiệu lực thì lại càng nguy hiểm, chính vì lúc nào cũng cảm thấy trách nhiệm của mình nặng nề nên người bác sĩ phải luôn luôn học hỏi. theo dõi những tiến triển của y khoa, phải có óc phê bình chớ đừng ham mới , chuộng lạ, nhất là phải có nhiều kinh nghiệm, nhiều từng trải, và sau hết, phải thận trọng, đầu óc lúc nào cũng phải nhớ tới câu châm ngôn cổ trong y học: primum non nocere (trước hết đừng làm hại)
********
Người bác sĩ có trách nhiệm từ khi khám bệnh, định bệnh, cho đến lúc kê toa hoặc bắt tay hành động.
Khám bệnh qua loa, khám tắc trách, quên hỏi một chi tiết để định bệnh cho chính xác là phạm lỗi.
Trách nhiệm khi sử dụng thời giờ: cần phân biệt bệnh năng nhẹ, để đi thăm trước hay thăm sau;nếu là bệnh cấp cứu thì tức tốc đi ngay, bất kể thời tiết hoặc đêm hôm, hi sinh cả giấc ngủ, bữa ăn, dù chính mình trong người không được khỏe.
Trách nhiệm khi giải thích cho bệnh nhân , sao cho cặn kẻ, rành mạch, để họ đừng hiểu lầm.
Trách nhiệm khi biên toa, biên cho rõ ràng để người dược sĩ có thể đọc được, nhất là để cho bệnh nhân đừng uống quá liều. Tôi nhớ có lần kê cho một bệnh nhân mỗi ngày uống 6 viên thuốc, và ghi rõ trong toa cách 4 giờ uống một viên. Thế mà thân chủ của tôi đã uống ngay một lúc 6 viên, nhưng may không việc gì. Căn dặn cẩn thận trên giấy tờ mà còn thế, huống hồ là không căn dặn, hoặc viết thoắng không ai đọc nổi.
Người ta thường than phiền về chữ bác sĩ khó đọc, tôi xác nhận điều đó , và cho rằng người thày thuốc nào, khi cho toa mà không biên rõ ràng, không dặn kỹ cách thức dùng thuốc- nhất là loại thuốc độc- nếu lỡ xảy ra tai nạn, thì người thày thuốc đó có lỗi.
Trách nhiệm khi khuyên bệnh nhân nghỉ ngơi, giải trí,hoặc đổi gió , đổi nghề.
Trách nhiệm khi cấp y chứng thư: phải cân nhắc từng chữ , từng câu. Một vài bác sĩ thiếu lương tâm chức nghiệp, đã bị hội đồng quốc gia Y sĩ đoàn khiển trách vì đã cấp y chứng thư mà không hề khám đương sự (như y chứng thư để lấy bằng lái xe tự động-giấy khám sức khỏe) hoặc bị truy tố trước pháp luật vì không thận trọng (cấp giấy cho phép dùng độc dược, ma túy…)
Lại còn trách nhiệm khi hành động nữa. Ngày xưa muốn định bệnh, người bác sĩ chỉ cần hai bàn tay và khối óc, nhưng ngày nay ,bởi có những tiến bộ của khoa học nên có nhiều phương pháp khám nghiệm rất chính xác, nhiều kỹ thuật cực kỳ tinh xảo, với biết bao máy móc phức tạp mà người bác sĩ không thể nào không biết được, và nếu quên không áp dụng kịp thời một phương pháp cần thiết để định bệnh rồi chữa cho thật sớm, tức là phạm lỗi vậy.
Nhưng cũng như thuốc men, không một phương pháp nào là không nguy hiểm đến tính mạng như: nhiếp ảnh động mạch, thông tim, thông ống dẫn tiểu…vv.Ngay đến chích thuốc gì vào tĩnh mạch, cũng có thể làm cho tim ngừng đập.
Ở trong bệnh viện người bác sĩ cũng có bổn phận dạy y tá không những về mặt kỹ thuật mà cón huấn luyện họ trên phương diện luân lý và đạo đức nữa.
Ngần ấy thí dụ cũng đủ cho ta thấy trách nhiệm của người thày thuốc sống ở vào thời đại này nặng nề là dường nào.
Có người sẽ bảo: nếu biết có thể nguy hiểm đến tính mạng, tốt hơn hết là đừng làm gì cả, nhưng “Nếu ai ai cũng nghĩ như vậy thì y học sẽ thụt lùi 50 năm, và hàng trăm thứ bệnh, ngày nay đáng lẽ có thể chữa khỏi, sẽ trở thành những bệnh nan y” (Hamburger)
Thành thử người bác sĩ không những phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm mà còn phải chịu trách nhiệm về những gì mình không làm nữa.
Vẫn hay rằng người bác sĩ không thể chữa được mọi bệnh, hoặc tự mình làm lấy được tất cả các công việc, nhũng họ phải làm những gì cần thiết để tìm cho ra bệnh và đẻ chữa.Và muốn tránh được phần nào những tai nạn bất ngờ, người bác sĩ, như trên vừa nói cần phải cân nhắc, đắn đo mỗi khi cho toa, và nhất là vì có những tiến bộ quá mau của y học nên người bác sĩ phải theo dõi những tiến triển của y học, phải có đủ khả năng chuyên môn để chữa bệnh, và sau hết phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình. Đây là một khía cạnh mới mẻ về trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi hiện tại.
Thật vậy! Cách đây mới khoảng 30 năm , những phương pháp thám chẩn và trị liệu rất thô sơ và ít ỏi, có thể đếm trên đầu ngón tay được và người thày thuốc chỉ cần chịu khó một chút là có thể hiểu biết hết.
Tôi nhớ hồi còn là sinh viên , được đọc cuốn sách của Ch.Fiessinger nhan đề: Trị bệnh bằng 20 thứ thuốc (La therapeutique en 20 medicaments) nhưng từ một phần tư thế kỷ nay, không có năm nào , tháng nào, có khi tuần lễ nào là không thấy xuất hiện một phương pháp định bệnh mới, hoặc một thứ thuốc mới để chữa bệnh. Ngày nay không một người bác sĩ nào có thể nhớ xuể tên các dược phẩm mà hàng ngày các cô trình dược viên đem chào tại phòng mạch, hoặc có thì giờ đọc những quảng cáo thuốc mới sản xuất. Còn nói về những bài báo mỗi tuần đăng trên các tạp chí y học đứng đắn, và những bản trần tình có giá trị do các danh sư viết rồi gửi tới các hội y học, nhiều đến nỗi giá để cả một ngày ngồi đọc nhan đề không thôi, cũng tài nào đọc hết.
Nói về sách y khoa, thời xưa , nghĩa là các đây mới vài chục năm, một cuốn sách có thể dùng được trong một thời gian tương đối khá lâu (năm mười năm là ít) nhưng ngày nay, sách đã đắt thì chớ, nhiều khi chưa đọc hết mà chỉ trong vòng 6 tháng, sách đó đã thành cổ rồi.
Bởi thế người bác sĩ suốt đời phải là một sinh viên hăng say học hỏi, và chính để bổ khuyết những thiếu sót của người bác sĩ nên ngày nay, tại các quốc gia tân tiến, y giới đã tổ chức cho bác sĩ học những lớp gọi là hậu đại học (enseignement post-universitaire) để họ biết những tiến triển của y khoa , dồng thời để đào tạo một số bác sỉ chuyên khoa , không ngoài mục đích phục vụ quần chúng, đem lại cho người ốm một bảo đảm.
Ngày nay , làm thuốc mà chỉ có lương tâm thôi chưa đủ. Có lương tâm mà không có học cũng vô ích. Có lòng nhân đạo, vị tha , bác ái, mà không có đủ khả năng chữa bệnh, cái đó rất nguy hiểm, nhất là khi gặp bệnh nặng. bởi vậy “ Bổn phận đầu tiên của người bác sĩ trong thời buổi này là phải có học thức vững chắc, phải luôn luôn đổi mới” (Jean Bernard). “Giá trị luân lý và đạo đức, theo lời giáo sư jean Gosset phải đi đôi với giá trị chức nghiệp, dốt nát và lừa bịp đều như nhau cả. Bổn phận của người bác sĩ là phải biết đến nơi đến chốn và phải khéo léo về mặt kỹ thuật.”
Vẫn hay rằng bể học mênh mông , không một ai dám tự hào là biết hết, nhưng không biết mà không nhận thấy là mình không biết, đó là điều không thể tha thứ được. Rât tiếc là từ thời Hippocrate tới nay, không có một quy luật nào ghép sự dốt nát của người thày thuốc vào một trong những tội lỗi nặng.
Ngoài những trách nhiệm nói trên ra, người bác sĩ còn phải chịu trách nhiệm khi xét đoán nữa.
Đã là thày thuốc, không ai là không mong cho bệnh nhân của mình chóng khỏi, không ai là không muốn dùng những thứ thuốc mới nhất, để được tiếng là thày thuốc giỏi, nhưng nếu những thứ thuốc kia mới chỉ được báo chí ca tụng (dù là báo y học) mà chưa được các danh sư đứng đắn thí nghiệm và công nhận là không nguy hiểm, lại hiệu nghiệm, thì người bác sĩ phải thận trọng, đắn đo, cân nhắc, không được nhắm mắt cho bệnh nhân dùng, hoặc chiều theo thị hiếu của gia đình họ, để khỏi tiền mất tật mang, và có khi làm cho bệnh nặng thêm lên.
Chúng ta hiện đang sống trong một kỹ nguyên mà kỹ thuật và tốc lực là 2 thiên thần mới nên người thày thuốc khi chữa bệnh thường gặp trở ngại này: dùng thuốc men quá hấp tấp, bừa bãi, có khi táo bạo, những thuốc đó phần lớn chưa được nghiên cứu kỹ càng trên căn bản khoa học, có khi chưa đem ra thí nghiệm (cho súc vật) và vì vậy rất nguy hiểm, dễ gây ra tai nạn .
Vậy bổn phận của người bác sĩ là phãi điều tra kỹ lưỡng để hiểu rõ dược tính của những thứ thuốc mà mình kê cho thân chủ mình, nhất là phải có óc phê bình, phải chọn lọc ,xét đoán.
********
Trên đây là những trách nhiệm cá nhân mà hàng ngày người y sĩ phải lảnh trong khi hành nghề. Tuy nhiên, không phải chỉ có trách nhiệm cá nhân mà thôi. Ở thời đại này , không riêng gì trên lãnh vực y khoa mà trong mọi hoạt động , muốn đạt được kết quả mỹ mãn, cần phải có sự tham gia , đóng góp của nhiều người, tức là phải có một ê kíp để làm việc.
Nói cho đúng ra, đây không phải là vấn đề mới mẻ. Hãy lấy thì dụ một bác sĩ làm việc trong bệnh viện: tuy rằng dưới quyền chỉ huy cũa ông có một số giảng sư, phụ tá, sinh viên nội và ngoại trú, có sự phân công rất rõ rệt, nhưng lỡ khi có tai nạn ( do một sinh viên nội trú gây ra chẳng hạn) thì người bác sĩ trưởng phòng phải chịu trách nhiệm, không những trước lương tâm của mình mà còn trước pháp luật nữa.
Nhưng hồi xưa, người ta nhận thấy trong ê kíp làm việc đó có tôn ti trật tự, và người cầm đầu ê kíp có đủ khả năng chuyên môn, có thể kiểm soát được tất cả công việc của cộng sự viên của mình, vì trước khi lên tới bậc thày người bác sĩ đó đã tốn biết bao công phu học tập rồi. Nhưng ngày nay công việc của một ê kíp trong một phòng giải phẫu chằng hạn thật vô cùng phức tạp. Chung quanh vị bác sĩ trưởng có một số rất đông chuyên viên, nào người chuyên đánh thuốc mê, nào người chuyên về hồi sinh, về sinh vật học, hóa học, bệnh lý cơ thể, tim, quang tuyến..vv Không một người nào kể trên là không cần thiết. Người cầm đầu ê kíp đó không thể nào làm lấy một mình được, không tài nào kiểm soát được công việc của từng người một, mà chỉ biết những nguyên tắc đại cương của mỗi ngành thôi. Thành thử trách nhiệm của người chỉ huy đó phức tạp vô cùng. Vẫn hay rằng trước khi quyết định đã có sự thảo luận kỹ càng giữa ông ta và các cộng sự viên rồi, nhưng dù sao, quyết định tối hậu bao giờ cũng là công việc của một người thôi. Như vậy đủ rõ trách nhiệm của người thày thuốc cầm đầu một ê kíp nặng nề là dường nào.

TRÁCH NHIỆM TẬP THỂ

Khi nói tới trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi này, không thể không đề cập đến vai trò quan trọng của y học xã hội, đã có từ 30 năm nay, nhất là ảnh hưởng của ngành đó tới nền kinh tế quốc dân.
Người bác sĩ thường phân vân khi phải dung hòa quyền lợi cá nhân của thân chủ mình và quyền lơi chung của xã hội. Tỉ dụ: một người vừa khỏi bệnh và cần nghỉ ngơi trong một thời gian để dưỡng sức, nếu người bác sĩ điều trị quá dễ dãi, cho họ nghỉ nhiều tất sẽ thiệt hại cho năng suất cũng như tài chánh của quốc gia. Tại một vài nước, cơ quan An ninh xã hội đã ngiên cứu biện pháp trừng phạt những bác sĩ thuộc vào loại vô trách nhiệm trên.

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

Ngoài trách nhiệm tinh thần, cá nhân và tập thể ra , người bác sĩ còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nữa.
Có trách nhiệm trước lương tâm thôi chưa đủ, pháp luật cần phải bệnh vực quyền lợi của người bệnh , cần đem lại một phần nào cho họ một đảm bảo, ngăn ngừa những hành động cẩu thả, sơ xuất của người bác sĩ nữa. Tuy nhiên hai loại trách nhiệm: tinh thần và pháp lý không giống nhau hẳn.
Trách nhiệm tinh thần như vừa kể trên, hàng ngày , trong khi hành nghề, người thày thuốc luôn phải gánh vác. Trái lại pháp luật chỉ can thiệp khi nào, đối với đệ tam nhân, người bác sĩ phạm lỗi thôi. Nói cho đúng ra , nhiều khi chính vì sợ bị truy tố trước pháp luật mà người bác sĩ phải thận trọng, không được dùng thuốc quá liều, không được bó bột quá chặt, đừng để quên chiếc gạc hoặc kìm, cặp, khi giải phẫu một bệnh nhân v.v… Nhưng nếu lúc nào người thày thuốc, trong khi chữa bệnh, nhất là bệnh nặng, mà tâm trí cứ mãi nghĩ đi nơi khác, lo sợ bị tù tội, phải bồi thường, họ sẽ không dám có sáng kiến nữa, họ không dám thử một phương pháp trị liệu mới trong khi thâm tâm họ, họ biết có thể làm hơn được để cho bệnh nhân mau khỏi. Trái lại nếu họ làm liều, họ có thể bị phạt vạ, vì đối với pháp luật “rủi ro bi coi như khinh tội” (Jean Guitton)
Có một số luật gia đã thông cảm những nỗi khó khăn trên của người thày thuốc và cho phép họ săn sóc bệnh nhân theo những dữ kiện đã thâu lượm được của khoa học (données acquies de la science). Những thế nào là dữ kiện đã thâu lượm được ?
Không nói ai cũng rõ ngày nay y học đã tiến rất xa , và sở dĩ tiến được là nhờ có những bác sĩ đã không theo lề lối cũ , đã dám tiên phong, áp dụng những phương pháp táo bạo mới , nghĩa là không dựa vào những dữ kiện cổ điển. Tỉ dụ: người bác sĩ đầu tiên, khi đóng chiếc đinh đầu tiên lên một chiếc xương gãy, hoặc mổ tim, ghép thận…. họ đâu có dựa vào dữ kiện đã thâu lượm nào ?
Bởi vậy, nhà làm luật đã thay thế câu: dữ kiện đã thâu lượm được bằng câu: dữ kiện hiện hữu của khoa học (donnees actuelles de la science) mập mờ hơn. Tuy nhiên công thức này cũng không làm cho y giới thỏa mản, nên một đề nghị khác –mềm dẻo hơn- đã được đưa ra: người bác sĩ tùy theo từng trường hợp, phải cố gắng hết sức mình săn sóc bệnh nhân.
Ngoài ra để trút bớt trách nhiệm của người bác sĩ , luật pháp khuyên họ nên hỏi ý kiến bệnh nhân (hay gia đình) có khi bắt họ làm cam kết sẽ không khiếu nại hoặc đòi tiền bồi thường nếu lỡ ra, sau khi giải phẫu hoặc dùng một thứ thuốc mới, bệnh nhân có mệnh hệ nào. Nhưng thử hỏi một người không hề có một kiến thức nào về y học, làm sao có thể ví với một người đã từng học thuốc lâu năm lại có nhiều kinh nghiệm , và trút trách nhiệm kiểu đó cho họ là giả dối.
Thành thử người bác sĩ không thể rũ trách nhiệm cho những người không phải là thày thuốc mà phải có can đảm, có khi khổ tâm nhận lãnh TRÁCH NHIỆM về phần mình, phải cố gắng chữa như khi chữa người thân yêu của mình.
Tóm lại; PHẢI COI TRÁCH NHIỆM TINH THẦN NĂNG HƠN TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ.

TINH THẦN TRÁCH NHIỆM

Bởi có những trách nhiệm quá nặng nề như vậy nên người bác sĩ, xứng với danh từ đó, cần được chuẩn bị để lãnh lấy. Không những không sợ, không những không trốn tránh mà còn vui lòng nhận lảnh trách nhiệm của mình, dù biết trước mình sẽ lo âu, phải hi sinh bữa ăn giấc ngủ , và có khi bị tù tội nữa.
Nhưng chính những giờ phút nguy hiểm lại là những giờ phút sung sướng nhất trong đời người thày thuốc (như khi đẻ khó mà cứu được mẹ tròn con vuông).
“Chính nhờ có trách nhiệm mà y học được coi như một nghề cao quý nhất “ (Duhamel). Nhưng tinh thần trách nhiệm không phải người nào cũng sẵn có dễ dàng. Đối với người bác sĩ, tinh thần đó được rèn rèn luyện, hun đúc từ lâu, khi còn là sinh viên y khoa, nhờ được thực tập trong 6, 7 năm liền trong bệnh viện, nhờ sống trong một bầu không khí không sao quên được, vì hàng ngày tiếp xúc với cái đau , cái buồn và …cái chết.
Chính trong thời gian làm nội trú, hoăc trong những đêm trục, gặp khó khăn, hoặc đứng trước một tai nạn bất thình lình xảy ra, mình không trông cậy được vào ai hết, phải tự mình xoay sở lấy, phải có một quyết định gấp, một hành động kịp thời, chính trong những giờ phút đó, người sinh viên mới ý thức được rõ rệt những trách nhiệm của một nghề đầy nguy hiểm, nhiều lụy hơn vinh. Bởi sau mỗi quyết định, mỗi cử chỉ kia, có một tính mạng- tính mạng của một con người- đang bị đe dọa.
Thật không gì vất vả bằng nghề thuốc, nhưng cũng không có sự huấn luyện nào cao đẹp bằng, cao đẹp ở chỗ người bác sĩ luôn luôn tôn trọng và bảo vệ sự sống còn của con người, không phân biệt giai cấp tôn giáo, chủng tộc,v.v… và đối với họ , chỉ có trách nhiệm trước lương tâm mới đáng kể thôi.
Vẫn hay rằng ở vào thời buổi này, ở trong nhiều giới, có những người trốn trách nhiệm, hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm, từ việc làm đến lời nói, có khi không hiểu trách nhiệm là gì cả, nhưng riêng đối với người bác sĩ , việc lảnh trách nhiệm là một lẽ sống của họ, và nếu không có gian nguy, nếu không có trách nhiệm tinh thần cá nhân thì không thể nào có y học được.

KẾT LUẬN

Ngày nay người bác sĩ phải là người có học thức căn bản vững chắc, hiểu rộng, biết nhiều. Khoa học càng tiến bộ, người bác sĩ càng phải được huấn luyện kỹ càng chu đáo.
Không những phải có kiến thức về khoa học, có nhiều kinh nghiệm mà phải là người có văn hóa để biết xét đoán, phê bình , bởi trong y học, không có bệnh mà chỉ có con bệnh, không bệnh nhân nào giống bệnh nhân nào cả.
Ngoài ra, người bác sĩ cũng phải là người có nhân phẩm, đạo đức, có thế mới làm trọn nhiệm vụ cao cả của mình là phục vụ đồng bào, bảo vệ sức khỏe và sinh mạng của quần chúng.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân

Nhân viên sức khỏe cộng đồng

16/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư đi… Tin lại

Nhân viên sức khỏe cộng đồng (Community Health Worker)
dungttytthanhthuy@gmail.com
Wed, Oct 26, 2011 at 11:31 AM
Kính gửi thầy Đỗ Hồng Ngọc.
Thưa thầy em là Nguyễn Kim Ddung, bác sĩ đa khoa hiện đang làm việc tại Trung tâm y tế huyện Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ, em đã được xem nhiều bài viết cũng như các bài báo cáo của thầy trên trang Web, nhưng có một nội dung mà em rất quan tâm đó là các thông tin về đôi ngũ nhân viên Y tế thôn bản ở trên thế giới và trong nước mà em chưa tìm thấy có ở trong tài liệu nào.
Thưa thầy, hôm nay em mạo muội gửi thư này tới thầy, trước hết em kính mong thầy thông cảm và thứ lỗi, sau là em xin thầy nếu có thể được, thầy giúp em cho em xin các thông tin ấy có được không ạ? Em cảm ơn thầy và kính chúc thầy luôn mạnh khoẻ.
Bs dung nguyen kim

Ghi chú: Nhân bức thư của một bạn đồng nghiệp trẻ không quen biết từ một tỉnh miền Bắc xa xôi đặt vấn đề Nhân viên Y tế Thôn bản, tôi nghĩ rằng vấn đề em nêu cũng có ích phần nào cho một số các bạn trẻ khác, nên xin có mấy lời “phi lộ“:
Từ các năm 1984-1986, tôi đã triển khai Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em (Primary Child Care) tại Phường 13, Quận 6, Tp. Hồ Chí Minh (nay là Phường 10), lúc đó còn là một vùng ven, nông thôn, rất nhiều khó khăn sau chiến tranh. Chương trình được sự hỗ trợ của Bệnh viện Nhi Đồng (nay là BV Nhi đồng 1 Tp.HCM) đã mang lại nhiều kết quả rất đáng khích lệ, được coi như một mô hình Săn sóc sức khỏe ban đầu “ bài bản“, gắn sức khỏe với phát triển, tạo được sự Tham gia cộng đồng (community involvement) và Phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation) tốt.

Hiệp Phước (1986)

Hạt nhân chính của sự thành công này là lớp huấn luyện Nhân viên sức khỏe cộng đồng (community health workers), thực hiện ngay tại cơ sở, trong một ngôi chùa gần Trạm y tế, gồm 24 học viên được tuyển chọn kỹ và huấn luyện theo phương pháp giáo dục chủ động. Họ đã hoạt động rất tích cực và vẫn tiếp tục gắn bó dài lâu sau khi chương trình kết thúc. Các dì Khiếm, chị Sương… và các NVSKCĐ vẫn còn tiếp tục hoạt động nhiều năm sau. Trong nhóm, vế sau có người trở thành Nhân viên Chữ thập đỏ, có người trở thành bác sĩ.. Trưởng trạm Y tế lúc đó là Y sĩ Trần Văn Thình, phụ trách mạng lưới và các thầy cô, học sinh trường cấp 2 Phú Định đã tham gia nhiệt tình. Phường 13 Quận 6 đã trở thành nơi huấn luyện cho sinh viên y khoa. Chính tại đây, tôi đã hướng dẫn 4 luận văn tốt nghiệp Sơ bộ chuyên khoa Nhi của trường Đại học Y dược Tp.HCM cho các bác sĩ Nguyễn Thị Xuyến, Lê Đình Sang, Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Quốc Việt.

Hiệp Phước (1986)

Từ năm 1986, tôi tiếp tục tham gia Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu toàn diện (chứ không chỉ cho trẻ em) tại xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè Tp.HCM. Đây là một chương trình rộng lớn, có tính thí điểm để rút kinh nghiệm mở rộng cho toàn thành phố, do BS Dương Quang Trung, lúc đó là Giám đốc Sở Y tế chủ trì. Ban thư ký 5 người gồm Đỗ Hồng Ngọc (trưởng ban), Lê Trường Giang (thường trực), Nguyễn Thanh Nguyên, Dương Đình Công, Nguyễn Ngọc Chiếu. Tại đây, nguyên lý sức khỏe gắn với phát triển được thực hiện rõ ràng hơn cả. Chương trình không chỉ chăm sóc sức khỏe, chống dịch bệnh (sốt rét/ suy dinh dưỡng/ dân số kế hoạch…), nâng cao dân trí, giáo dục sức khỏe, mà còn xây dựng cầu liên ấp, đường sá, cung cấp nước sạch và điện nông thôn…

Chương trình Hiệp Phước (1986-1988) đã trở thành mô hình, không chỉ cho TP HCM mà còn cho một số tỉnh bạn phía Nam. Sau đó mở rộng qua xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh và dần dần lan ra các điểm khác, nội ngoại thành Tp. HCM. Tại Hiệp Phước, Tân Nhật… cũng tổ chức tốt hệ thống NVSKCĐ, chính nhờ họ, là một “cầu nối“ gắn kết Y tế với cộng đồng và gắn kết “sức khỏe“ với “phát triển“.

Huấn luyện Nhân viên Sức Khỏe Cộng đồng tại Tân Nhựt (1987)

Nhân viên Y tế Thôn bản nếu được thực hiện trên tinh thần như NVSKCĐ sẽ rất có hiệu quả cho các vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Hai nguyên tắc chủ chốt: Họ phải thực sự là “cầu nối“ giữa y tế và cộng đồng, đồng thời “sức khỏe“ phải gắn với “phát triển“ của địa phương thì mới thành công. Cách chọn người, cách huấn luyện và đãi ngộ sẽ rất quan trọng.

Chúc các bạn thành công,
Đỗ Hồng Ngọc.
(16/11/2011)

NHÂN VIÊN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
BS. Đỗ Hồng Ngọc
1. Sự cần thiết
Bằng cách nào có thể mở rộng được mạng lưới săn sóc sức khỏe đến tận nơi người dân sống và lao động, tiếp cận đến từng cá nhân, gia đình, từng cộng đồng để đạt mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người” trong Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu? Bằng cách nào tạo được sự tham gia chủ động và tích cực của cộng đồng để họ tự trách nhiệm, tự giải quyết những vấn đề sức khỏe và phát triển của chính họ?
Để giải quyết các yêu cầu đặt ra là mở rộng độ bao quát, tạo nên sự tham gia cộng đồng, sự phối hợp liên ngành, cần có một “cầu nối” có vai trò xúc tác, môi giới, trung gian đó là Nhân viên Sức khỏe Cộng đồng (NVSKCĐ).

2. Nhân viên sức khỏe cộng đồng
“Để triển khai SSSKBĐ, cần có NVSKCĐ. Đó là những người sống tại cộng đồng, được huấn luyện và làm việc cùng với các nhân viên y tế khác và các nhân viên thuộc chương trình phát triển của địa phương trong một ê kíp. NVSKCĐ là nơi tiếp xúc đầu tiên giữa cá nhân và hệ thống y tế. Tùy theo nhu cầu và phương tiện của từng nơi, mỗi cộng đồng có thể có các loại NVSKCĐ khác nhau. Thường đó là những người sống tại cộng đồng, được cộng đồng chọn lựa, và làm việc ngay tại cộng đồng đó. Ở một số nước, NVSKCĐ là những người tình nguyện, làm việc toàn thời gian hay bán thời gian, được cộng đồng hay cơ quan y tế trả công bằng tiền mặt hay hiện vật” (Glossary of Terms, WHO, 1981)

NVSKCĐ là chìa khóa để thực hiện thành công SSSKBĐ. Tại nhiều nước, có những cách tổ chức mạng lưới này khác nhau tùy yêu cầu của mỗi chương trình sức khỏe, không có nơi nào hoàn toàn giống nơi nào, nhưng có một số kinh nghiệm bước đầu quý báu và một số nguyên tắc chung cần nắm chắc.

NVSKCĐ không phải là nhân viên y tế mà là “cầu nối” giữa cộng đồng với y tế, có vai trò trung gian, môi giới, xúc tác nhằm tạo chuyển biến, thay đổi có lợi cho sức khỏe và sự phát triển chung của cộng đồng.

Là cầu nối, NVSKCĐ:
– Giúp cộng đồng xác định các nhu cầu, những vấn đề sức khỏe ưu tiên, đối tượng nguy cơ; đồng thời tác động tạo tham gia, đưa cộng đồng tiếp cận với dịch vụ y tế;
– Giúp y tế lập kế hoạch quản lý có hiệu quả và đưa các dịch vụ săn sóc sức khỏe (phòng bệnh, điều trị, giáo dục sức khỏe, phục hồi) đến tận nơi người dân sống và lao động.

NVSKCĐ phải cắm rễ vào cả hai phía, Y tế và Cộng đồng. Thiếu gắn bó với cộng đồng không tạo được sự tham gia; thiếu hỗ trợ của y tế hoạt động sẽ không có hiệu quả.

Kinh nghiệm cho thấy thất bại thường là do mối quan hệ này chứ không phải do hoạt động của NVSKCĐ.

3. Chức năng nhiệm vụ
Là người của cộng đồng, NVSKCĐ biết rõ hơn ai hết những vấn đề và đặc điểm của cộng đồng, những tài nguyên đang có, những nhu cầu bức thiết cũng như cơ cấu quyền lực địa phương, cấu trúc gia đình và xã hội, các phong tục tập quán v.v… Do đó, nếu được hướng dẫn tốt cách làm họ sẽ tham gia với y tế xây dựng chương trình sức khỏe trong suốt quá trình từ chẩn đoán cộng đồng đến tổ chức thực hiện và lượng giá.
Chức năng và nhiệm vụ cụ thể tùy y tế và cộng đồng đề ra cho họ. Nói chung, dựa trên các yếu tố của SSSKBĐ bao gồm các mặt phòng bệnh, điều trị và giáo dục sức khỏe, đồng thời tham gia vào các hoạt động phát triển khác của địa phương. Họ cần thiết phải biết sơ cấp cứu, điều trị bệnh và chấn thương thông thường trong phạm vi cho phép. Đừng quên điều trị tốt có thể nâng uy tín, nhưng nếu chỉ chú trọng điều trị sẽ thất bại vì họ tự biến mình thành một “y tá dở”.

Phòng bệnh và GDSK sẽ là nhiệm vụ chính của NVSKCĐ: Vệ sinh môi trường, Vệ sinh lao động, Sức khỏe bà mẹ và trẻ em, Kế hoạch hóa gia đình, Dinh dưỡng, Tiêm chủng v.v… NVSKCĐ chịu trách nhiệm vãng gia, thu thập thông tin, lưu giữ hồ sơ, tham gia các công tác phát triển khác do cộng đồng đề ra.

Họ cần được làm trong một ê-kíp có thể kết hợp với Chữ thập đỏ, vệ sinh viên, cô mụ vườn được tái huấn luyện, thầy lang v.v…

Về tỷ lệ, tùy nơi, tùy chương trình, trung bình 1 NVSKCĐ cho 50 hộ gia đình.

4. Tuyển chọn
“NVSKCĐ là người từ cộng đồng và do cộng đồng tuyển chọn”. Tuy nhiên, như đã nêu trên, NVSKCĐ cũng có thể là người từ bên ngoài, tình nguyện làm việc toàn phần hoặc bán thời gian cho cộng đồng.

4.1. Chọn ai?
Ngưòi từ cộng đồng hay ngưòi ngoài cộng đồng, ai tốt hơn? Người ngoài cộng đồng dễ chiếm được lòng tin hơn vì thường “Bụt nhà không thiêng”; nhưng mặt khác, về lâu về dài, thì người ngoài cộng đồng sẽ tạo ra sự lệ thuộc, làm mất tính tự lực tự quyết của cộng đồng, do vậy, tốt nhất vẫn là người tại chỗ.

4.2. Ai chọn?
Cộng đồng chọn thì cộng đồng sẽ chấp nhận và trong quá trình chọn lựa này, cộng đồng đã trực tiếp tham gia. Ngoài ra NVSKCĐ được chính cộng đồng chọn sẽ cảm thấy có trách nhiệm với cộng đồng và gắn bó mật thiết hơn với cộng đồng.

4.3. Tiêu chuẩn
Chọn người tử tế, có tinh thần trách nhiệm, khiêm tốn, chín chắn, cởi mở, ham học hỏi, quan tâm đến các vấn đề sức khỏe của cộng đồng, có nếp sống lành mạnh (không rượu chè, thuốc lá…) được cộng đồng quí mến….

4.4. Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa không cần cao, dễ hòa đồng bà con, và không bỏ cộng đồng để đi nơi khác. Họ cũng là người có khả năng thuyết phục, kể chuyện hay, hoạt bát, giỏi vận động, giỏi tổ chức và thông hiểu phong tục tập quán địa phương…Những người có uy tín ở địa phương như hội viên chữ thập đỏ, thầy lang, cô mụ vườn, thầy giáo, người về hưu… dễ dàng được chọn.

4.5. Nam nữ
Có nơi cần nữ vì tính dịu dàng, nhẫn nại, thận trọng, lại tiện cho việc chăm sóc phụ nữ và trẻ em (chiếm tỷ lệ 3/4 dân số ở địa phương), gần gũi gắn bó với xóm giềng, dễ gặp gỡ. Có nơi chọn nam vì nam giới đi lại dễ dàng hơn, xốc vác, lanh lẹ, có thể làm việc nặng v.v…

Nếu là chương trình Sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kế hoạch gia đình… thì nên chọn nữ, còn về Môi trường, Chống dịch thì có thể chọn nam. Cả hai thì tốt.

4.6. Tuổi
Tuổi tốt nhất khoảng 25-40. Trẻ quá không có được uy tín, tinh thần trách nhiệm chưa cao. Lớn quá cũng bất tiện vì bận bịu, trừ trường hợp về hưu có nhiều thời gian và sẵn sàng tham gia công tác xã hội.

5. Huấn luyện
NVSKCĐ học là để làm, chứ không phải học để biết. Do đó, thầy phải được chọn lựa kỹ, xác định rõ là dạy cái gì, dạy cách nào. Nội dung cần là:
– Một số kỹ năng thực hành;
– Những kiến thức cơ bản cần thiết;
– Các kỹ năng truyền thông, giao tiếp, vận động;
– Kỹ năng tổ chức.
Kỹ năng truyền thông và tổ chức rất quan trọng, thường hay bị bỏ qua trong lúc xây dựng chương trình huấn luyện NVSKCĐ.

5.1. Thời gian
Tuỳ mục tiêu
– Thường khoảng 3 tuần.
– Cũng có thể học 1 tuần rồi bồi dưỡng dần sau.

5.2. Nội dung
Cần có sự “Tham gia cộng đồng” ngay trong giai đoạn lập chương trình. Chương trình phải dựa trên phân tích nhu cầu sức khỏe của cộng đồng, các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội, nhiệm vụ cụ thể của NVSKCĐ, các điều kiện làm việc, từ đó liệt kê các kỹ năng, thái độ, hành động mà người NVSKCĐ cần có để lập chương trình; phải xác định rõ phương pháp, thời khóa biểu và lượng giá trước, sau lớp và về lâu dài.

5.3. Phương pháp
Phải được coi trọng như nội dung. Học cách nào sẽ ứng dụng cách đó khi công tác. Phương pháp giáo dục chủ động với thảo luận nhóm, tham quan, sắm vai, giải quyết một vấn đề cụ thể… thường có kết quả tốt. Nên đi từ một vấn đề thực tế cụ thể của địa phương để dẫn dắt vào nội dung, gần gũi và sinh động.

5.4. Học cụ
Tài liệu huấn luyện (nên tự soạn cho phù hợp, ngôn ngữ, hình ảnh, thí dụ… lấy từ thực tế ở địa phương), các phương tiện nghe nhìn… không cần kỹ thuật cao (laptop, projector…). Nên chế tạo các học cụ với phương tiện sẵn có tại chỗ để tránh tính ỷ lại của học viên sau này và giúp họ tự tin hơn khi về công tác.

5.5. Nơi học
Học ngay tại cộng đồng là tốt nhất. Dạy NVSKCĐ tại bệnh viện sẽ thất bại, vì sẽ biến họ thành y tá “dở”. Nhưng có thể tham quan bệnh viện quận huyện để có dịp tiếp xúc các bệnh thường gặp ở cộng đồng.

5.6. Người dạy
Thường không đạt yêu cầu vì người dạy không biết cách dạy, coi NVSKCĐ là NV Y tế! Nếu bác sĩ hay y tá dạy thì cần phải được tập huấn kỹ trước. Một chương trình đào tạo ngắn ngày, nhiều đợt, nâng cao dần, có lợi hơn là học tập trung nhiều ngày. Vừa học vừa hành để rút kinh nghiệm. Đào tạo theo phương pháp giáo dục chủ động sẽ phát huy được tính tự chủ cao của học viên.

Nên có nhiều thầy, có thể là những NVSKCĐ khóa trước, có kinh nghiệm thực tế, nhân viên phát triển cộng đồng, cán bộ y tế và các ngành liên quan khác (tâm lý, xã hội…)

6. Thù lao
Đây là một vấn đề rất quan trọng để có thể duy trì hoạt động của mạng lưới NVSKCĐ. Nguyên tắc chung là tùy hoàn cảnh kinh tế xã hội của cộng đồng. Chính họ sẽ là người trả công cho NVSKCĐ bằng tiền, bằng hiện vật hay cách nào khác một cách xứng đáng mới có thể duy trì được hoạt động bền lâu. Điều không kém quan trọng là họ phải được tôn vinh đúng mực, được địa phương đánh giá trong các buổi sinh hoạt để động viên khuyến khích. (Một miếng giữa làng bằng một sàng trong bếp!)

7. Tương lai nghề nghiệp
Cần quan tâm đến tương lai nghề nghiệp của người NVSKCĐ. Ở Tây Ấn, 62% NVSKCĐ muốn thăng tiến trong ngành y. Tuy nhiên, nghiêng hẳn về y là làm lệch mối quan hệ và không còn hiệu quả nữa vì họ sẽ trở thành một nhân viên y tế mất rồi!

Do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ bỏ cuộc khoảng 20% sau 1-2 năm. Có nơi, như chương trình dinh dưỡng ở Ấn (Kasa Palghar) bỏ cuộc 60% sau 2 năm. Nam giới bỏ cuộc nhiều hơn nữ giới. Lý do: trả công thấp, làm việc nặng, kiếm được việc khác hoặc lập gia đình.

8. Hỗ trợ
Thiếu sự hỗ trợ của hệ thống y tế, NVSKCĐ sẽ không thể hoạt động có hiệu quả.

8.1. Hỗ trợ thuốc men – trang bị
Phát triển mạng lưới, mở rộng độ bao quát để có thể tiếp cận đến từng người dân thì không thể không tăng cường thuốc men và trang bị, đặc biệt ở nông thôn, bà con rất hy vọng ở mạng lưới NVSKCĐ. Cần cấp đủ thuốc thông thường – theo danh mục cho phép NVSKCĐ sử dụng – và phải là thuốc tốt về chất lượng, bổ sung kịp thời. Điều này giúp tăng uy tín của mạng lưới. NVSKCĐ cần biết sử dụng thông thạo thuốc nam và các biện pháp chữa trị không cần thuốc. Ngoài thuốc, cần trang bị ống nhiệt kế, cân trẻ con, biểu đồ tăng trưởng, ORS, và các phương tiện Giáo dục sức khỏe (tranh ảnh, sổ tay, sách lật, bướm…).

8.2. Giám sát
Sinh hoạt hàng tháng với Trạm y tế là cách giám sát tốt nhất, đồng thời nâng cao trình độ, bồi dưỡng ”nghiệp vụ”. Cần chú ý một lần nữa “nghiệp vụ” đây không phải là ”chữa bệnh”. Ở nơi xa xôi cần bố trí một “điểm” hướng trợ, giúp đỡ cho NVSKCĐ khi cần tham khảo, có thể là một NVSKCĐ khóa đàn anh, một nhân viên y tế, một người trong Ban chỉ đạo chương trình sức khỏe. Có sự hỗ trợ này, người NVSKCĐ vững tâm hơn.

Giám sát tốt dễ thành công hơn. Giám sát là nhằm hỗ trợ và giúp đỡ hơn là kiểm tra, thanh tra. Nên có Check-list để đánh giá chính xác NVSKCĐ nên có đại diện trong Ban chỉ đạo chương trình sức khỏe. Tiếng nói của họ phải có trọng lượng như các thành viên khác.

9. Kết luận
Để thực hiện SSSKBĐ, cần thiết phải có mạng lưới NVSKCĐ. Đó là những người được tuyển chọn từ cộng đồng, được huấn luyện để thực hiện một hay nhiều chương trình sức khỏe, có mối quan hệ mật thiết với cộng đồng, và được sự hỗ trợ tích cực của y tế. Cần xác định rõ vai trò “cầu nối”, ”người trung gian”, “người xúc tác” của NVSKCĐ – mà nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục sức khỏe, nâng cao sức khỏe của cá nhân và cộng đồng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Đừng biến NVSKCĐ thành một người y tá “dở” của Trạm y tế hay người “sai vặt” cho y tế. Cần nuôi dưỡng mạng lưới tương xứng với công lao đóng góp của họ. Để có thể duy trì hoạt động, cần có nội dung cụ thể, có hệ thống hỗ trợ và lượng giá. NVSKCĐ là nơi thực hiện lồng ghép tốt nhất cho các Chương trình sức khỏe có mục tiêu. Không nên đào tạo quá nhiều NVSKCĐ mà nên tổ chức làm việc có ê-kíp, có lồng ghép ngay từ đầu. Nhờ vậy đỡ tốn kém hơn.

Nhiệm vụ Trưởng Trạm y tế là nắm rõ chức năng nhiệm vụ của mạng lưới NVSKCĐ để tham gia trong tuyển chọn, huấn luyện, hỗ trợ và giám sát; tổ chức sinh hoạt định kỳ, thường xuyên chăm lo bồi dưỡng để duy trì hoạt động tốt cho mạng lưới NVSKCĐ.

(Chỉnh sửa: 11/2011)
Tài liệu tham khảo (lược)
………………………………………………………………………………………………………………………
Nguồn: BS Đỗ Hông Ngọc
Tài liệu huấn luyện Giáo dục sức khỏe & Nâng cao sức khỏe
Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe TP. HCM ấn hành, 1999,tái bản 2003.
Website: www.dohongngoc.com/web/
Email: dohongngocbs@gmail.com

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Ở nơi xa thầy thuốc

Truyện kể cho các bé (tiếp theo)

03/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 17 Bình luận

Một cuộc du lịch kỳ quái

Ra khỏi cơ thể người, trứng lãi đũa bỗng co rúm lại vì bị chói nắng ( vì thế mà vỏ trứng lãi đũa bao giờ cũng nhăn nheo)… Rồi một trận mưa rào đổ ập đến, kéo trứng lãi trôi phăng đi. Hốt hoảng, trứng lãi cố ngoài mình bám chặt vào một nhánh lá rau đang đong đưa trước gió. Trứng lãi bám rất chắc vì sợ một trận mưa nữa lôi đi thì nguy mất!

Chẳng bao lâu, bên trong cái vỏ đã loi nhoi một con lãi đũa con mới nở. Nó được đặt cho một cái tên khá thi vị: ấu trùng!
Một hôm, ấu trùng (vẫn nằm cuộn mình trong vỏ trứng) bị nhấc bổng lên làm chú khiếp vía, càng bám chặt vào lá rau cho khỏi té. Thì ra chú bị mang ra chợ bán cùng với lá rau chú đang trú ngụ. Chú nghĩ có lẽ đây chỉ là một sự nhầm lẫn thôi chứ người ta không cố ý đem chú đi bán. Tuy vậy, chú cũng hồi hộp hết sức vì sợ người ta cho vào nồi nước sôi. Nhưng may quá, vì là một loại rau ăn sống nên chỉ được rửa qua loa rồi dọn lên bàn ăn! Ấu trùng chưa kịp nghĩ ngợi gì nhiều thì đã bị ai đó nuốt tọt vào dạ dày. Tiếp đó, ấu trùng bị đẩy xuống ruột non. Ở đây, khí hậu nóng ấm, chú vội vàng chui ra khỏi vỏ. Chú ngỡ ngàng một chút trước khung cảnh lạ. Và rồi như có di truyền một dòng máu giang hồ trong người, chú lập tức làm ngay một cuộc phiêu lưu mới, thăm dò nơi ăn chốn ở. Chú vượt qua thành ruột non, theo dòng máu tĩnh mạch đến gan. Vượt gan, chú bơi một mạch lên phổi. Sau một cuộc hành trình dài đầy mệt mỏi và hứng thú, chú trông rắn rỏi hẳn lên. Gặp không khí tốt lành ở phổi, chú quyết định ở lại đó nghỉ ngơi một thời gian. Chỉ trong ba tuần lễ, chú đã thay đổi hẳn: lớn ra, trông bảnh trai không thua bất cứ một con lãi đũa nào khác!
Thế rồi, tiếp tục cuộc hành trình, chú chui vào cuống phổi, leo đến tận cổ họng của “khổ chủ” để được một lần nữa, nuốt tọt vào dạ dày. Sau một cuộc du lịch kỳ thú như thế, nay chú nghiễm nhiên là một chú lãi đũa trưởng thành ở ruột non. Không còn ai dám gọi chú bằng cái tên “ấu trùng” như xưa kia nữa. Chú bèn lập gia đình và tiếp tục đẻ mỗi ngày hai trăm ngàn trứng lãi.
Ra khỏi cơ thể người, trứng lãi đũa bỗng co rúm lại vì bị chói nắng…

Như vậy đó, lãi đũa đã đi “chu du” trong cơ thể của chúng ta. Cuộc du lịch rất thú vị đối với chúng, nhưng đối với ta thì chẳng “khoái” tí nào. Thời gian ba tuần lễ lãi con ở phổi làm cho ta bị nóng sốt, ho hen, khó thở. Và thời gian lãi ở ruột thì ta luôn bị đau bụng, ói mửa, gầy còm, xanh xao vì chúng đã hút mất khá nhiều chất bổ dưỡng của ta. Thỉnh thoảng, có chú lãi đũa tinh nghịch còn chui vào ống dẫn mật, vào ruột thừa, hay ôm nhau khiêu vũ thành từng cuộn lãi to gây nghẹt ống mật, tắc ruột…
Để cơ thể ta không trở thành nơi “lý tưởng” cho lãi du lịch, ta phải giữ vệ sinh tốt. Rửa tay trước mỗi bữa ăn, cắt sạch móng tay. Không ăn rau cải sống sít, rửa không kỹ. Không đi tiêu bừa bãi ngoài đồng… Nhưng nếu rủi chúng đã lọt vào cơ thể ta, thầy thuốc cũng sẽ giúp ta trục xuất chúng ra bằng các loại thuốc xổ lãi… Hột bí (bí ngô, bí rợ) cũng chữa được lãi. Rang hột bí, ăn chừng nửa chén cũng đủ hết lãi!
Đỗ Hồng Ngọc

Có “Chí” thì… hư!

Gia đình nhà Chí gồm có Chí đực, Chí mén… và trứng. Chí đực to nhất nhà, dài đến 3mm, màu xám lợt, có sáu chân rắn chắc, nở nang, giỏi leo trèo. Cuối chân chí có móng cong tạo thành một cái kẹp bám chắc vào tóc. Khác với các loài khác, Chí đực có nhiệm vụ… sinh đẻ! Còn Chí mén là những chí bé tí mới nở, thân hình mảnh khảnh, nhỏ nhắn, da trắng trẻo, có vẻ hơi ngơ ngác một tí nhưng khi cắn thì… ngứa kinh khủng!
Dòng họ nhà Chí làm nghề… sống bám (ký sinh), chuyên hút máu người. Chí được trang bị một cái vòi khá tối tân, có thể co ra thụt vào. Mỗi lần Chí thò vòi ra hút máu xong, liền co rụt vòi vào thân một cách tỉnh bơ như chẳng có việc gì xảy ra, trong khi “thân chủ” thì bị ngứa không chịu nổi. Tai hại nhất là Chí có thói quen chích hút máu xong bèn… ị ngay tại chỗ. Phân chí chứa nhiều siêu vi trùng có thể gây bệnh làm chết người. Trong lịch sử y học, đã có những trận dịch chí giết chết hằng triệu người, đó là các bệnh sốt ban nhiệt chí, bệnh sốt hồi quy chí do siêu vi trùng Rickettsia prowazekii và ký sinh trùng Spirocheta recurrentis gây ra.
Mỗi con chí đẻ mỗi ngày từ 5 đến 7 trứng. Đẻ xong, Chí đực phết cho trứng một chất keo dán chặt vào tóc, nhờ tóc giữ giùm.
Một tuần sau trứng nở thành ấu trùng và sau ba lần lột xác, biến hóa, một chú chí bảnh bao xuất hiện: ấy là Chí mén.
Bà con gần gũi nhất của Chí là Rận, nhưng ít khi họ chơi chung với nhau. Họ nhà Chí rất tự hào về dòng dõi “quý tộc”… cao cả của mình vì chúng chỉ sống trên đầu người ta! Họa hoằn lắm Chí mới chịu bám vào râu hay lông mày. Chí khinh bọn rận là bọn… thấp hèn, sống ở những chỗ không mấy lịch sự (trong quần áo đầy mồ hôi hay trong mùng mền).
Tóc càng dài, Chí càng khoái vì dễ ẩn náu kiếm ăn. Có những bạn gái, Chí nhiều đến nỗi chỉ cần vuốt tóc một cái cũng tóm được vài “trự” Chí. Có người… “yêu” chí đến nỗi “cắn” chí lụp bụp ngon lành, có người lại thích bóp chí lách tách giữa hai móng tay. Các trò tiêu khiển không lành mạnh này gây tai hại: có thể tạo thành bệnh dịch ở người.
“Nuôi”… Chí không ích lợi gì cả, chỉ chứng tỏ mình là kẻ… ở dơ. Bạn nào để đầu tóc có Chí là hư đó. Muốn diệt trừ Chí các bạn phải cắt tóc ngắn, gội đầu thường xuyên bằng xà bông. Có thể dùng lược dầy để chải chí một cách liên tục, hoặc ra nhà thuốc hỏi mua một thứ thuốc xức chí. Ở nhà quê có thể dùng hột mãng cầu (na) rang vàng, tán nhuyễn, trộn với dầu dừa xức chí. Không được dùng thuốc rầy hoặc dung dịch DDT dễ gây ngộ độc… Khi diệt chí, hãy nhớ diệt chí cho cả nhà cùng lúc, để tránh lây Chí qua lại lẫn nhau. Tóm lại, có “Chí” thì…hư!
Đỗ Hồng Ngọc

Cái mũi

“Ngày xưa… có một chú voi con…”. Câu chuyện cháu biết rồi đó. Chú voi con tinh nghịch, đánh nhau với cá sấu, bị cá sấu ngoạm lấy cái mũi của chú kéo xuống nước, chú ráng sức kéo lên. Giằng co mãi, sau cùng chú voi thắng cuộc, nhưng từ đó loài voi có cái mũi dài ngoằn ra thành một cái vòi… Nhiều cháu bé cũng có… vòi như voi ấy, nghĩa là mũi cứ lòng thòng, đặc quánh làm cho bé không thở được bằng mũi, phải há miệng để thở, lâu ngày răng hô ra và lồng ngực dẹp lại, không phát triển được.
Cái mũi, dĩ nhiên là dùng để… thở. Ta cũng có thể thở bằng miệng, nhưng miệng chỉ để dành “sơ cua” khi cần thiết, vì thở bằng miệng không tốt như thở bằng mũi. Mũi giúp ta thở nhẹ mà sâu. Thử bịt mũi rồi thở miệng xem. Rõ ràng là chỉ hời hợt phơn phớt bên ngoài, không sâu tận đáy phổi được. Lâu ngày, phần đáy phổi ít dùng tới sẽ bị xẹp xuống làm “ổ” cho vi trùng lao nữa!
Mũi chúng ta được trang bị khá tốt: Lông mũi dùng làm chổi quét bụi khói, nhất là ở thành phố nhiều khói bụi, ít cây xanh. Lông mũi có bổn phận chặn bụi từ bên ngoài… tạo thành “cứt mũi”. Niêm mạc mũi có nhiều mạch máu, sưởi ấm và làm ẩm không khí trước khi không khí đi vào phổi. Khi trời lạnh đột ngột, niêm mạc mũi phồng lên để… nhanh chóng sưởi ấm không khí, nhưng phồng to quá lại làm ta bị nghẹt mũi! Xuất tiết gia tăng, làm ta bị chảy nước mũi. Có người quá nhạy cảm còn ách xì lia lịa, rồi tưởng có ai đó nhắc mình! Hai bên mũi còn có xoang mũi giúp cho sự phát âm được tốt. Khi nghẹt mũi, xoang bị bít lại, ta nói bằng “giọng mũi” nghe rất lạ tai.
Đừng lạm dụng thuốc nhỏ mũi. Thuốc sẽ làm co mạch máu ở mũi, làm bớt nghẹt nhưng sau đó lại phồng to hơn. Về sau sẽ bị viêm mũi do thuốc. Niêm mạc mũi hư đi mà lông thì rụng hết!
Nên thở bằng mũi, thở sâu, đều và nhẹ nhàng.
Đỗ Hồng Ngọc

Nghỉ hè, nên làm gì?

Gặp chú Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở hành lang bệnh viện Nhi Đồng, phóng viên tí hon liền tranh thủ mở ngay một cuộc phỏng vấn “bỏ túi”:
– Thưa chú, nghỉ hè rồi! Để có một mùa hè vui khỏe, chú khuyên cháu và các bạn nên làm gì?
– Lời khuyên đầu tiên của chú là nên nghỉ. Có vậy mới gọi là nghỉ hè chứ, phải không? Nhưng nghỉ thế nào là chuyện phải bàn! Muốn làm việc có năng suất thì phải biết nghỉ ngơi. Nhưng nghỉ ngơi không có nghĩa là chỉ ngồi một chỗ, hay là không hoạt động gì cả. Nghỉ hè! Đó là thời gian tốt nhất để chúng ta về quê, lên núi, xuống biển, tiếp xúc với thiên nhiên, lao động chân tay, hoạt động thể dục thể thao, tham gia sinh hoạt tập thể và các hoạt động xã hội bổ ích khác…
– Sau nghỉ ngơi là gì hở chú?
– Là ngủ. Tuổi đang lớn rất cần ngủ. Trong lúc ngủ, cơ thể tiết ra kích thích tố tăng trưởng, lại giảm tiêu hao năng lượng, để dành năng lượng cho sự phát triển. Dĩ nhiên, ngủ nhiều quá cũng không tốt, “mụ” người đi. Bình quân mỗi ngày 8-10 giờ là đủ.
– Sau ngủ là…
– Sau ngủ là ăn! Ăn cũng phải học cháu ạ! Phải biết cách ăn. Chả cần cao lương mỹ vị gì đâu! Tuổi đang lớn cần nhiều chất đạm, sinh tố, khoáng chất: thịt cá tôm cua, đậu nành, rau củ, trái cây, trứng, sữa v.v… đều rất cần thiết. Chú ý đừng để bị… Tào Tháo đuổi do thiếu “vệ sinh an toàn thực phẩm” là được!
– Một số bạn bè cháu tính trong dịp hè sẽ đi chữa bệnh?
– Đúng đó.
– Và sau đó?
– Sau đó là học.
– Chú nói không học mà!
– Đâu có! Chú chỉ nói hè nên nghỉ, ngủ, ăn, chữa bệnh… chứ đâu bảo không học. Trong mấy tháng hè, các cháu lớn có thể học lấy một “nghề” có ích để giúp đỡ gia đình được thì tốt. Ba má sẽ rất ngạc nhiên và vui sướng khi thấy cậu con trai “bỗng nhiên” biết sửa cái bàn, chữa được cái tủ; cô con gái biết may, vá, đan, thêu, v.v… Rồi còn phải học bơi, học hát, học đàn, vẽ, chụp hình… Ngoài ra, đừng quên ôn tập, chuẩn bị bài vở cho năm học mới!
– Còn vấn đề phòng bệnh? Cháu và các bạn cháu có thể làm được gì?
– Nhiều thứ lắm. Cần lưu ý tránh các tai nạn trong dịp hè. Vui chơi điều độ và cảnh giác! Các tai nạn hay gặp là té gãy tay, gãy chân, bị rắn cắn, trúng nắng, nhất là chết đuối… Cần học cách sơ cấp cứu tốt khi có tai nạn xảy ra. Đặc biệt, về bệnh cần đề phòng sốt xuất huyết, sốt rét, tiêu chảy… Cháu và các bạn nên giữ cho nhà cửa thoáng đãng, sạch sẽ, không treo quần áo lung tung làm chỗ cho muỗi trú ấn, lấp các vũng nước đọng và nên ngủ mùng.
– Cảm ơn chú! Bọn cháu “dư sức” làm các điều chú dặn.

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc, Tuổi mới lớn, Uncategorized

TIÊU CHẢY Ở TRẺ CON

19/10/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 102 Bình luận

Ghi chú: Không ngờ bài viết “Phải làm gì khi bé bị tiêu chảy” trên trang www.dohongngoc.com/web/ này lại được đọc nhiều đến vậy! Không chỉ ở trong nước mà cả ở ngoài nước, gần như khắp nơi trên… “thế giới”. Thì ra đây là một chuyện “lớn” (đại sự) đúng nghĩa của kiếp nhân sinh, từ sơ sinh đến già lão. Rất nhiều câu hỏi đã gởi về đầy ưu tư lo lắng, đề nghị tư vấn, do vậy, xin có bài trả lời chung này vậy. Thân mến,

BS Đỗ Hồng Ngọc

Bà mẹ nào có con nhỏ bị tiêu chảy cũng thấy đắng chát cả miệng mồm, khô khốc cả cổ họng và chỉ mong sao cho bé được “cầm ỉa” ngay tức khắc, nghĩa là mong có cách nào làm dứt ngay cơn “ỉa chảy” của bé. Và đó là lý do tại sao trong phòng Cấp Cứu ở các khoa Nhi vẫn thường gặp những ca ngộ độc sái thuốc phiện, á phiện, thuốc chích thuốc uống này khác làm cho bé bị liệt ruột, bụng chướng lên, thở thoi thóp, đồng tử (con ngươi) teo nhỏ như đầu đinh ghim! Có trường hợp chết oan là vì vậy, không kể các trường hợp chết vì khô nước, mất nước trong cơ thể.

Tiêu chảy cấp thưc chất là một… phản xạ có ích cho cơ thể, nhằm tống hết chất độc ra ngoài đường ruột, một khi ruột bị rối loạn, bị nhiễm trùng, nhiễm độc, như trường hợp ngộ độc thực phẩm, dùng sữa ôi thiu… Còn trưòng hợp tiêu chảy kéo dài do sai dinh dưỡng (đưa đến suy dinh dưỡng), do dùng kháng sinh không đúng cách làm tiêu hủy những vi sinh vật vốn rất có ích trong đường ruột hoặc do trẻ “không chịu”, “không hạp” với một thứ sữa nào đó thì phải ngưng thuốc kháng sinh và điều chỉnh cách dinh dưỡng sao cho đúng. Có khi chỉ vì pha chế sữa không đúng (đặc quá hoặc loãng quá) cũng gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy hoặc bón… Nhiều bà mẹ bây giờ thích nghe bày vẻ, nghe quảng cáo, cứ thay sữa xoành xoạch. Trẻ chưa kịp làm quen với thứ sữa này đã phải làm quen sữa khác, đương nhiên phải “rối loạn tiêu hoá” thôi. Thức ăn dặm cũng vậy. Phải có thời gian cho bé quen một thứ thức ăn mới (thịt, cá, trứng, rau, đậu…), nếu thấy tốt, cứ nên tiếp tục, miễn là cân đối, đủ 4 nhóm “bột, đạm, dầu, rau” và thấy trẻ tăng cân tốt là được (Đọc thêm “Nuôi con sao cho giỏi” trong Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng). Cũng nên biết có thứ tiêu chảy không phải bệnh thường gặp ở bé bú sữa mẹ, gọi là tiêu chảy sinh lý, càng “lẹt xẹt”, “hoa cà hoa cải” càng mau lớn. Khi bắt đầu được cho ăn dặm (ăn sam) thì trẻ sẽ không còn tiêu chảy lẹt xẹt như vậy nữa.
Nhớ rằng tiêu chảy nhiễm trùng ở trẻ do siêu vi hay do E.Coli thì cũng phải 4-5 ngày mới khỏi, miễn là không bị mất nước, làm trầm trọng thêm. Nhiều bà mẹ đi khám bác sĩ vài ba hôm thấy không bớt, đến thầy “lang băm” cũng vừa đúng thời điểm dứt bệnh, thế là thầy nổi tiếng. Không kể trường hợp uống sái phiện như đã nói trên. Lỗi ở bác sĩ không chịu giải thích rõ, không hướng dẫn kỹ cho bà mẹ yên tâm.
Đa số các bà mẹ thấy con “ỉa ra nước” thì không dám cho uống nước, sợ càng uống càng ỉa thêm. Điều này sai! Bởi không cho uống, bé vẫn ỉa ra nước như thường! Nước này tứ đâu ra? Nước từ trong tế bào và từ trong máu. Do vậy, dễ dẫn tới khô máu, khô tế bào mà chết. Trên thế giới, hằng năm có vài ba triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết vì tiêu chảy mất nước như vậy, cũng chỉ vì bà mẹ không dám cho uống nước bù. Ngày nay, người ta biết rõ nguyên nhân gây tử vong của trẻ tiêu chảy không phải do nhiễm trùng mà do mất nước nên đã khuyến khích các bà mẹ cho con uống bù nước sớm khi trẻ vừa tiêu chảy. Nhờ vậy mà cứu được rất nhiều trẻ nhỏ. Nếu không cho uống nước thì bệnh sẽ nặng hơn và kéo dài hơn. Nếu không cho ăn thì trẻ sẽ đói, kiệt sức. Mặc dù ruột đang “yếu”, trẻ vẫn hấp thu được phần lớn thức ăn. Cần cho ăn nhiều bữa, ăn nhẹ, loãng, dễ tiêu… Pha sữa đúng cách và cho ăn trở lại bình thường càng sớm càng tốt, nếu cần dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ.
Nước uống bù trong tiêu chảy tốt nhất là Oresol, còn gọi là “nước biển khô”, có ở các Trạm Y tế hoặc các nhà thuốc, đem về pha vào một lít nước chín (đun sôi để nguội, phải pha với đúng một lít) cho bé uống bù ( cả người lớn bị tiêu chảy cũng vậy). Ở những nơi không tìm được Oresol thì pha nửa muỗng muối (loại muỗng cà phê 5ml) với sáu muỗng đường vào trong một lít nước chín. Nếu có chanh hay cam, nặn vào một ít càng tốt để có thêm chất muối Kali (potassium).

Điều quan trọng, không nên để trẻ tiêu chảy. Nên cho bú mẹ ít nhất 6 tháng. Bú mẹ thì yên tâm, khỏi phải lo gì cả! Nếu bú bình, thì phải giữ vệ sinh bình bú, núm vú thật tốt, pha chế đúng tỷ lệ. Biết cách cho ăn dặm. Nếu bé lỡ bị tiêu chảy thì bình tĩnh, cho uống bù nước sớm và đưa đến bác sĩ khi cần.

Thuộc chủ đề:Hỏi đáp, Ở nơi xa thầy thuốc, Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 10
  • Trang 11
  • Trang 12
  • Trang 13
  • Trang 14
  • Interim pages omitted …
  • Trang 19
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email